K1 Bắc Cali San Jose dự cúng 100 ngày Đổ Thám

Thưa Qúy bạn.    Sáng nay, Chủ nhật/ 17/5/15  luc 11.30 đai diện các k1/ Vùng Bắc CA gồm :

     -K1 Phan quang Nghiệp  -K1 Phạm văn Bổn  -K1 Nguyễn Hoài Ân  K1Võ Lâu  K1 B.Hồng  K1 ĐVHạp đã tới  tư thất của Gia Đình  K1 Đỗ Thám tại  Gilroy nam Sạnjose để cúng 100 ngày cho  K1 ĐỖ THÁM. Chị Thám còn khỏe mạnh, ở với  gia đình con trai lớn, chị vẫn còn đi làm cho một hãng điện . Chi vui với công việc đang làm, chăm lo các cháu . Cúng 100 ngày cho Thám, tất cả con , cháu dâu ,rể thân tộc, ban be đều tề tựu đông đủ..  Sau khi cúng mọi người  dùng cơm gia đình do chính các con gái . con dâu nấu rất ngon các món chay và mặn…!!..Môt điều đặc biệt là…các con, dâu , rể cháu đã tiếp khách rất ân cần…vui vẻ , thoải mái…!!..Bố Thám mất…chúng quây quần bên  Mẹ…chăm lo cho Mẹ…!

    Con gái lớn nói :  ” Bác Hạp, có sinh hoạt gì của Cảnh Sát…nhớ cho con biết….ở đâu con cũng chở Mẹ con đi…!!..”

      Thắp nhang cho Thám…. thương Bạn vô vàn…!!..bao năm chiến tranh…tù đày…tỵ nạn…định cư…khó khăn nào rồi cũng qua đi…!!  Đúng lý ra , thời gian này…là lúc  Bạn được hưởng…những gì đang có…!! Nhưng không..!! bỏ lại tất cả…lặng lẽ ra đi…cho tới nay đã 100 ngày….!!  Mưu sự tại nhân….nhưng,..thành sự tại …Thiên..!!  Đinh mệnh đã an bài…!!…Phái đoàn K1/ BắcCA  dời Gilroy lúc 2pm.

Cám ơn GiaĐình K1/ Thám  đã dành cho phái đoàn sự tiếp đãi thân tình, vui vẻ..!!

       Đinh văn Hạp tường trình:

This slideshow requires JavaScript.

 

Posted in Tin Tuc Nội Bộ | Để lại bình luận

Đời Học Sinh_ NCV

image001

TQC Nguyễn Công Vinh

IMG_0001Học xong lớp đệ tứ tại trường trung học Trần Cao Vân – Tam Kỳ thì đám học trò nhà quê chúng tôi được ra trường tỉnh học. Năm đó ở Tam Kỳ chưa có đệ nhị cấp nên một số phải ra Đà Nẵng hay theo cha mẹ dời đi các tỉnh khác, còn lại đa số chúng tôi đều ra học tại trường Trung Học Trần Quí Cáp Hội An.

Từ nhỏ đến lớn, tôi chưa bao giờ đặt chân đến Phố Hội nên không biết nó ra sao. Trước khi vào năm học mới, vài thằng bạn cùng lớp ở quê tôi rủ nhau ra Hội An chơi cho biết. Từ Hà Lam Thăng Bình, bọn tôi đi xe đạp dọc theo Quốc lộ số 1 ra Vĩnh Điện rồi rẽ phải xuống Hội An. Đến chùa Cầu, chúng tôi dừng lại ngắm nhìn tượng mấy chú Chó và Khỉ ngồi giữ hai bên đầu cầu. Sau đó, chúng tôi đạp xe đi thẳng xuống đường Cường Để. Điểm lôi cuốn chúng tôi nhất là hai tiệm sách Bình Minh và Nhất Tiếu. Đứa nào cũng mua vài quyển sách Toán Lý Hóa lớp đệ Tam đem về học trước (dân học gạo mà). Đạp lanh quanh mấy đường phố, cái gì đối với chúng tôi cũng đều mới lạ. Thấy mấy anh thanh niên đánh bóng bàn chúng tôi dừng lại xem. Mê quá, trong quê tôi chưa bao giờ có trò chơi nầy. Tôi bèn nảy ra ý nghĩ mua vài trái banh mang về, rồi lấy gỗ hay bìa cứng làm vợt rủ mấy đứa bạn đánh trên bộ ván mít cũng được. Thế là tôi đem về quê tôi cái trò chơi đó cho tụi con nít chúng tôi chơi. Sau nầy, môn bóng bàn được phổ biến rộng rãi, nhưng có ai biết chính thằng Vinh tui là người đầu tiên đem môn thể thao nầy về quê hương Thăng Bình.

Rồi năm học đến, tôi từ giã mẹ và mấy em để ra tỉnh học. Cha tôi mất khi tôi vừa học xong lớp đệ Ngũ, ông để lại cho tôi một cái cặp da và bây giờ nó là vật quý giá đối với tôi. Sách vở và vài bộ đồ bỏ vào trong cặp theo tôi suốt cuộc đời học sinh. Nhà tôi ở chợ Hà Lam, từ đó xuống bến xe chừng nửa cây số, tôi xách chiếc cặp da đi trước, mẹ tôi đội nón lá đi theo sau miệng lúc nào cũng cười tươi, nhất là khi có người hỏi, “Đi đâu đó chị Dinh”; mẹ tôi trả lời, “Đưa thằng Dinh đi học” (quê tôi thường gọi tên người cha hay mẹ bằng tên của đứa con đầu. Tôi tên Vinh nên bà con gọi cha tôi là anh Vinh, gọi mẹ tôi là chị Vinh). Mẹ tôi vui lắm, mà không vui sao được khi con của bà là một trong số mấy đứa học trò đầu tiên ở quê ra tỉnh học.

Hành trang của tôi gồm vài ký gạo và 5- 10 đồng mẹ cho đem theo đi học. Đến Hội An việc đầu tiên là kiếm chỗ ở trọ. Tôi may mắn được một chị nhà ở gần khu Công Chánh cho trọ học. Tôi gởi chị hết số gạo và tiền để nhờ chị lo cơm nước. Nhà chị rất nghèo nhưng chị lúc nào cũng vui vẻ lo giúp cho chúng tôi như người chị lo cho mấy đứa em. Chúng tôi không phải trả tiền nhà hay bất cứ tiền gì khác.
Học sinh con trai chúng tôi phần lớn có khiếu về toán nên tôi chọn học ban B. Học Ban B oai lắm, đi lúc nào ngực cũng ưỡn lên vì trên túi áo có thêu bảng tên “Đệ Tam B2” màu xanh rất nổi. Có lẽ nhờ học ban B mà ba bốn tháng sau tôi được người quen giới thiệu đi làm gia sư, một nghề không khác chi làm đầy tớ, kẻ giúp việc để trông coi, nhắc nhở mấy đứa nhỏ học bài, giúp mấy đứa nhỏ làm bài tập, dạy cho tụi nhỏ làm toán….Có vài đứa bạn gia đình khá giả nhưng cũng chịu khó đi làm gia sư như chúng tôi để kiếm them tiền. Các bạn ấy chỉ đến dạy mỗi tối vài giờ xong rồi về, cuối tháng chủ nhà cho ít tiền. Còn tôi thì được ăn ở lại luôn trong nhà người chủ, nên hàng tháng về quê không phải cõng gạo ra nữa. Làm gia sư là thế đó, bỏ công sức và kiến thức ra, đổi lấy miếng cơm, để đi học. Nghề gia sư lý tưởng, cao đẹp lắm chứ, nhưng bọn tôi ít khi chịu nhận hai chữ gia sư, gọi thế nghe cổ lỗ sĩ quá, nhà quê quá. Chúng tôi thường gọi là Précepteur cho nó oai, cho ra vẻ Tây một chút. Làm gia sư, nếu gặp được chủ nhà tử tế nhân hậu coi mình như con em thì được thoải mái hơn. Nhiều bạn có phước gặp được gia đình quý mến, được trò yêu nhất là học trò gái, nên có nhiều trường hợp gia sư sau nầy trở thành con rể trong gia đình mới hay chứ. Còn bạn nào vô phước gặp được chủ nhà khó khăn, coi mình như người làm, thì cuộc sống quả là vất vả. Nhưng thành thật mà nói bọn học trò nghèo chúng tôi rất biết ơn những gia đình nầy, dầu sao cũng nhờ có họ mà cha mẹ chúng tôi đỡ vất vả, việc học hành của chúng tôi mới được thăng tiến. Năm Đệ Tam, tôi dạy kèm cho hai cậu bé nhỏ hơn tôi 5-6 tuổi, ở với bà nội. Bà già làm nghề trồng hoa nên bận rộn suốt ngày, còn cha mẹ hai cậu nhỏ đi làm công chức tận ngoài Huế lâu lâu mới về. Mỗi đêm, cơm tối xong tôi bắt đầu kèm cho hai em học từ 2 đến 3 tiếng đồng hồ, chờ cho chúng thuộc bài mới cho đi ngủ, sau đó tôi mới có thì giờ lo cho mình. Tôi được bà chủ dành cho một chỗ ngủ, sâu trong một góc nhà đủ chỗ để nằm, nên rất chật vật. Hội An lúc bấy giờ điện đóm còn hạn chế, gặp mấy ngày trời nóng mà nằm trong góc tối om nầy với ngọn đèn dầu leo lắt thì làm sao mà học đây. Mấy đứa bạn cùng trang lứa với tôi rủ nhau ra ngoài nhờ ánh đèn đường để học. Đường khuya vắng vẻ, không xe cộ, không người qua lại, ngoài trời về đêm mát dễ chịu, và ánh đèn đường sáng trưng. Đó chính là nơi học tập lý tưởng của chúng tôi. Bầy thiêu thân bay đầy trên đầu, thỉnh thoảng vài con cà cuống xẹt qua xẹt lại và đâu đây tiếng gõ lốc cốc của người bán phở dạo vọng lại, làm cho buổi học của chúng tôi thêm vui. Thường thì bọn tôi chia nhau mỗi đứa một trụ điện. Đứa nào cũng có sẵn trong túi vài ba viên phấn trắng, phấn màu và lấy mặt đường nhựa làm bảng đen để viết, để vẻ, để làm bài. Nhiều bài học, bài toán, hình học được vẽ trên mặt đường trông rất đẹp mắt. Sáng hôm sau xe cộ và khách bộ hành đi qua đi lại xóa mờ đi, để rồi tối hôm sau chúng tôi có chỗ học tiếp . . .
Lấy kinh nghiệm từ năm trước, qua năm Đệ Nhị, trước ngày khai giảng chúng tôi qua trường Nam Tiểu học sát bên trường Trần Quý Cáp nhờ giáo viên ở đó hỏi xem có gia đình nào cần người dạy kèm không. Ngày hôm sau tôi được một gia đình nhà trên đường Trần Hưng Đạo nhờ tôi đến dạy kèm cho một em học sinh lớp Nhứt. Gần đó có bạn Lê Bá Mỹ và Trần văn Đằng người cùng quê cũng đang làm gia sư nên anh em chúng tôi thường lui tới chơi thân với nhau. Cố gắng thi lấycho được bằng Tú Tài I nên chúng tôi học hành rất căng. Tôi không có đủ tiền mua sách nên thường đến các bạn mượn về học. Trong số đó có bạn Trần văn Phát (tên Phát, nhưng họ thì có thể đã quên) người Hoa. Nhà của ba mẹ Phát một mặt hướng ra đường Bạch Đằng (bờ sông), một mặt mở ra đường Nguyễn Thái Học. Những gia đình nầy mỗi năm đến mùa mưa lụt, nước sông dâng lên ngập đến ba con đường, nên phải dùng ghe đi lại trong nhà.
Trong lớp, tôi là cậu học trò nhà quê, rụt rè ít nói, không giống như thằng Vạng, thằng Viết (dân Bắc Kỳ) phá trời không sợ thiên lôi. Một hôm trong giờ toán, thầy Tuệ ra một bài phương trình bậc hai. Nhiều đứa còn ngậm bút thì tôi làm xong rồi. Thằng bạn ngồi bên thúc, “Mầy lên đi, mầy lên đi”. Thầy Tuệ thấy thế bèn gọi tôi lên và tôi đã giải bài toán đó một cách gọn ghẽ. Thầy biết tôi thiếu sách vở nên vài tháng sau thầy về thăm gia đình ở Saigòn rồi đem ra cho tôi một chồng sách cũ của thầy. Nhờ những quyển sách nầy mà tôi đậu Tú tài I ngay trong lần thi đầu tiên. Ơn nầy tôi không bao giờ quên. Đầu năm 1989, cựu học sinh Trần Quý Cáp Hội An tổ chức họp mặt lần đầu tiên (tôi nghĩ thế) tại Sàigòn. Vừa ở tù cải tạo ra nên tôi chỉ đứng từ xa nhìn vào chứ không dám lại gần. Tôi cố đến gặp thầy, lòng tôi rất mừng, nhưng thầy thì đã quên tôi, vì sau 26 năm lìa xa trường củ và với 13 năm trong lao tù cộng sản, cậu học trò ngày xưa nay đã tàn tạ rồi.

Trở lại câu chuyện gia sư. Tôi ở nhà nầy được ba bốn tháng thì bỗng dưng xuất hiện hai đứa con gái, một đứa lớn hơn tôi mấy tuổi, còn đứa kia thì nhỏ hơn năm sáu tuổi. Hai đứa con gái nầy chắc là chị em với nhau, cháu con của bà chủ quê ngoài Quảng Trị, bả đem tụi nó về để lo cơm nước trong nhà. Mỗi khi tôi học bài hay dạy cho cậu học trò của tôi thì hai đứa thường lần mò đến hỏi han chuyện nầy chuyện nọ, trêu ghẹo . . . Chết, tôi nghĩ, thế nầy thì không học hành gì được rồi, mà tôi cũng không thể nói cho ông bà chủ biết. Thôi thì tự tìm cách lánh xa là thượng sách. Tôi nhờ mấy đứa bạn tìm cho chỗ khác, tụi bạn cười chê tôi ngu, đồ nhác gan, mèo chê mỡ . . . Nhưng thấy tôi quyết tâm nên tụi nó thông cảm nên cố gắng tìm cho tôi một chỗ mới. Giữa năm học mà tìm một chỗ để dạy quả thật là khó, nhưng ở hiền gặp lành, cuối cùng bạn bè cũng giới thiệu cho tôi một chỗ gần Ty Công Chánh, cách chỗ tôi dạy năm trước chừng 100 mét. Trước khi về quê ăn đón Xuân cùng gia đình, tôi nói dối với ông bà chủ sau Tết tôi không trở lại, vì mẹ tôi bảo để thời gian học thi . Ông bà chủ cứ nài nỉ tôi trở lại, nhưng tôi nói cám ơn và giới thiệu cho một người bạn khác đến thay tôi.

Về quê ăn Tết, Nội giao cho tôi lau bộ lư đồng, dọn dẹp sữa soạn bàn thờ Tổ tiên , lo nhang khói trang nghiêm ba ngày Tết. Có tôi, không khí trong nhà trở nên ấm cúng hơn. Ngày Xuân bà con tới thăm, thấy tôi ai cũng hỏi, “Thằng Dinh học đâu con?”, tôi chưa kịp trả lời thì cô tôi, thím tôi đã dành nhau nói, “ Hén hẹc ở Hội En chứ hẹc ở mô”. Mấy đứa con gái lấy cớ đến chơi với em gái tôi, cũng thập thò e thẹn bắt chước gọi tôi bằng anh Hai . Còn tôi thì quá u mê, chỉ biết có học với hành mà không biết để ý đến đứa nào. Hết Tết, trước khi trở lại trường, Bà Nội cho vài cái bánh tổ, vài hộc bánh nổ, Bà dặn đem theo làm quà cho chủ nhà. Mẹ tôi lại đội chiếc nón lá đi bộ theo sau tôi, đưa tôi xuống tận bến xe và chờ cho đến khi xe lăn bánh bà mới lủi thủi quay về. Nhìn bóng dáng mẹ xa dần mà lòng thương mẹ vô ngần . Và đây chính là động lực để tôi trở thành đứa học trò chăm chỉ.

Từ bến xe Hội An, tôi đi bộ ngang qua Khổng Miếu để tới nơi ở mới. Nắng Xuân chan hòa khắp nơi, những con chim sẻ nhảy tung tăng trên các cành cây trứng cá. Những chậu hoa vạn thọ vàng rực, hoa thược dược đủ màu còn nguyên trước mỗi căn nhà sau ba ngày Tết. Con đường nầy tôi vẫn thường đi qua nhưng hôm nay hình như dài hơn, bước chân tôi trở nên líu quýu vì trong tôi hình như đang có sự nôn nao, hồi hộp đợi chờ. Trước Tết tôi đã có đến để làm quen, nên khi vừa tới thì cô học trò chờ sẵn mời tôi vào. Năm nay, học trò của tôi không phải là các cậu con trai ngủ gà ngủ gật mỗi khi học bài, mà là hai cô gái xinh đẹp. Cô chị học lớp Đệ Ngũ, đứa em học lớp Đệ Thất. Cả hai rất quý mến tôi, coi tôi như người anh có lẽ vì trong nhà chỉ có ba mẹ con, không có con trai. Việc dạy kèm của tôi không bị gò bó, không nhất thiết mỗi đêm 2 giờ như những chỗ khác mà chỉ khi nào cần thì các em hỏi, tuy vậy cũng rất bận. Cô chị nhan sắc rất dễ thương nên ong bướm thường lui tới. Nhiều khi đang dạy nửa chừng thì phải ngưng vì có bạn trai đến…. Xin được tạm gọi tên em là Hội để nhớ về Phố Hội. Trong số ong bướm lui tới có thằng bạn cùng lớp, hắn là người giới thiệu tôi đến đây, hắn thường dặn tôi: “ Mầy canh chừng giùm tau, có đứa nào ngắm nghía Hội thì cho tau biết”. Bạn bè chơi độc thiệt, ý hắn muốn ám chỉ mình chứ gì. Nhưng tôi không giận hắn vì tâm trí tôi đâu có nghĩ đến chuyện gái trai lúc nầy. Cứ mỗi lần thằng bạn mò đến thì tôi tìm cách rút lui, nhường không gian ấm cúng ấy lại cho hắn cùng cô học trò xinh xắn của tôi, còn tôi ôm sách ra cột đèn ngoài đường làm bạn với mấy con thiêu thân.

Hè 1962 tôi thi đậu Tú tài I, bà chủ nhà và hai em mừng lắm muốn tôi ở lại luôn ba tháng hè để kèm thêm vì năm tới Hội vào đệ Tứ rồi. Nhưng tôi đã hứa với em gái tôi sẽ về quê mở lớp luyện thi đệ Thất cho nó và bạn của nó. Nói đến lớp dạy hè nầy, tôi không thể nào quên được những kỷ niệm đẹp và thơ ngây hồi đó. Có khoảng 18-19 đứa học trò, đa số là con gái, mà con gái ở tuổi này thì thích làm dáng, nũng nịu hơn là học. Đứa nào cũng hỏi, “Anh Hai, học phí bao nhiêu anh Hai?” thú thật tôi ngu lắm, hay xấu hổ khi ai hỏi đến tiền, thích dạy cho vui thôi mặc dù gia đình tôi không khá giả gì. Tôi nói, “chưa học mà đòi trả tiền, rủi rớt hết thì sao.” Tụi nó cười và càng hỏi tới. . .Gần 20 đứa học trò đều thi đậu vào đệ Thất. cha mẹ mấy em vui mừng lắm khen tôi dạy giỏi ( nhưng thực ra các em đã giỏi sẳn rồi). Họ đến nhà cám ơn tôi, cho tôi tiền, có người cho mấy cặp đường bát, có người đem cho cặp gà. Tôi mắc cở không nhận. Mẹ tôi cười nói: Mấy cô Chú cho, con nhận đi để mua sách mà học.
Mấy tháng hè ở quê thật là vui, vì vừa được làm người lớn đối với bọn con gái, vừa được mẹ cưng chiều. Cha tôi mất sớm để lại cho mẹ tôi gánh nặng vì phải tảo tần nuôi sáu đứa con. Tôi là đứa lớn nhất, là anh Hai của năm em. Tôi chưa giúp được gì cho mẹ và các em mà lại được mẹ thương nhiều hơn. Ngày nào mẹ cũng mua hàng cho ăn như thịt heo luộc ăn với bánh tráng đập, cá nục hấp quấn bánh tráng, hoặc một bát nước hến bóp bánh tráng nướng bỏ vào . . . các món ăn dân dã không cầu kỳ nhưng ngon làm sao, bây giờ nhắc lại vẫn còn thấy nhớ và thèm.

Có bằng Tú tài I, bạn bè nhiều đứa nghỉ học để chọn cho mình con đường binh nghiệp. Trong số các bạn từ Tam Kỳ ra có bạn Hà Như Tốn, người bạn rất thân với tôi. Tốn gia nhập vào trường Sĩ Quan Thủ Đức. Ra trường, mang cấp bậc Chuẩn úy và được đưa về một đơn vị tác chiến. Năm, sáu tháng sau tôi được tin như sét đánh, Cố Thiếu úy Hà Như Tốn đã hy sinh trong một cuộc hành quân đụng độ với Việt Cộng tại một tỉnh miền Trung, bỏ lại vợ và đứa con gái. Mẹ con chị Tốn hiên nay đang định cự tại một tiểu bang miền Đông Hoa Kỳ.

Mùa hè qua mau, mẹ tôi cũng với chiếc nón lá đó dịu dàng đi sau tôi đưa tôi đi như mọi lần. Nhờ có tiền dạy hè nên sách vở cho năm đệ Nhất tôi sắm cũng đầy đủ hơn. Năm nay tôi dạy kèm cho một gia đình người quen trước đây khi tôi học ở Tam Kỳ. Gia đình nầy được thuyên chuyển ra làm việc ở Tòa Hành Chánh tỉnh Quảng Nam, thuê nhà ở đường Nguyễn Thái Học gần Chùa Cầu. Ông bà biểu mấy thằng con lớn rủ tôi về ở trong nhà để tiếp tục làm gia sư cho mấy đứa vì trước đây đã dạy cho mấy em ở Tam Kỳ rồi. Ông bà thương tôi như con trong gia đình, lo cho tôi cái ăn cái mặc, còn cho tiền tiêu và tiền dẫn mấy em đi ciné. Tôi nhớ mỗi bữa ăn, đến chén cơm thứ ba thì bà chủ đơm thật đầy đưa cho tôi và dặn “ăn cho no có sức mà học, sắp là Ông Tú rồi đó”. Nhà có cả thảy 7 đứa nhưng dạy 5 đứa nhỏ là chính, còn hai thằng lớn khi nào bí thì mới nhờ đến tôi. Bọn nhỏ rất quý tôi coi tôi như người anh trong gia đình. Nhờ đó việc học của tôi rất thuận lợi. Bạn cùng lớp có thằng tên Trương Duy Hào. Hắn lùn hơn tôi một chút. Tôi ở đầu trên, hắn ở đầu cuối đường Nguyễn Thái Học . Mỗi buổi sáng, hai đứa hẹn gặp nhau rồi cùng đi thật nhanh tới trường không ai theo kịp. Ngày nào cũng vậy vui ơi là vui. Năm nay chúng tôi không học với thầy Tuệ mà học toán với thầy Kiên người Hội An. Sau khi chúng tôi xa Hội An một thời gian thì được tin thầy Lưu Chí Kiên (lúc bấy giờ là Giám đốc Sở Học Chánh tỉnh Quảng Nam) đã bị tử nạn máy may trên đường công tác vào Sài Gòn.

Đúng là ông bà ta đã dạy “có công mài sắt, có ngày nên kim”. Mùa hè 1963 tôi đã lấy được mảnh bằng Tú Tài II. Có được kết quả nầy, ngoài sự chịu khó học hành của bản thân, tôi cũng phải tri ân các bậc làm cha mẹ có tấm lòng nhân hậu đã giúp đỡ cho tôi suốt gần 3 năm trời ở tại cái thành phố cổ kính và hiếu học Hội An nầy.

Sau đó tôi ra Huế học. Lúc bấy giờ tình hình chiến sự từ Bến Hải đến Cà Mâu càng ngày càng khốc liệt, ngày nào cũng có người thương vong. Quốc lộ 1 từ Hà Lam ra Vĩnh Điện, Đà Nẵng, luôn bị VC đào bới tan nát, đặt mìn, đắp mô, hằng ngày giết chết biết bao sinh linh của người dân vô tội. Thấy không thể tiếp tục học được nữa nên mấy năm sau tôi và vài người bạn như Nguyễn Đức Xứng , Võ Lâu, đều là học sinh Trần Quý Cáp… thi vào lớp Sĩ quan Khóa I Biên Tập Viên Học Viện CSQG. Ra trường, tôi chọn ở lại trong Nam làm việc, nên ít khi về quê. … Có một lần mẹ viết thư báo cho tôi biết tin tức về Hội, cô học trò xinh đẹp của tôi ngày nào. Mẹ nói Hội có vô nhà thăm mẹ mấy lần, lần nào cũng ở lại chơi ba bốn hôm. Hồi tôi còn ở nhà, có vài lần tôi dẫn Hội về Hà Lam chơi nên Hội và mẹ tôi quen biết nhau. Mẹ nói Hội có chồng Sĩ quan Thiếu Úy Trung Úy gì đó ( không phải anh bạn cũ của tôi) nhưng không may chồng của Hội đã hy sinh, mồ chôn trong nầy nên thỉnh thoảng Hội vào thăm mộ chồng, và ghé lại thăm mẹ tôi, ở chơi ba bốn ngày. Hội thấy mẹ tôi đơn chiếc, các em tôi còn nhỏ nên xin với mẹ tôi được ở lại để chăm sóc bà thay cho tôi. Nhưng . .. .

Từ ngày vào Nam làm việc cho đến ngày đen tối 30 tháng Tư 1975, tôi chưa có dịp nào trở lại thăm Phố Hội, cũng như chưa có lần nào trở về để nhìn lại mái trường xưa, ngôi trường Trần Quí Cáp thân yêu của tôi ngày nào, cũng không được thêm tin tức gì về Hội. Mỗi khi nhắc đến Hội An hay nói đến tên trường Trần Quí Cáp là như gợi dậy trong tôi những nơi chốn thân thương, những con người thân thiện đã cho tôi nhiều ân tình và kỷ niệm êm đềm của một thời từng là một cậu học sinh nghèo đệ nhị cấp.
TQC Nguyễn Công Vinh

Ghi chú: Tất cả tên các nhân vật trong truyện là thật, ngoại trừ tên Hội là ảo.

Posted in Tin Tuc Nội Bộ | Để lại bình luận

Happy Mother Day K1

Mother Day

Hình ảnh | Posted on by

Mừng Sinh Nhật Tháng 5

Happy Birthday tháng 5

Hình ảnh | Posted on by

Lễ Tưởng Niệm và Vinh Danh CSQG Quảng Ngãi

Kỷ niệm tháng Tư đen, kính mời quý NT và các bạn xem video lễ tưởng niệm và Vinh Danh các Chiến sĩ CSQG tại Quảng Ngãi đã hy sinh trong cuộc chiến chống công tổ chức tại Houston Texas

Posted in Tin Tuc Nội Bộ

Hận Tháng Tư Đen_ Thơ Trần Pháp

image001

Tháng Tư là tháng hoang tàn,
Cộng quân tràn xuống, xóm làng khổ đau
Cha con chồng vợ xa nhau
Người kinh tế mới, kẻ sau bức tường

Tháng tư tan nát phố phường
Mất nhà mất cửa ruộng nương không còn
Con thơ nằm khóc nỉ non
Bo bo không đủ mẹ còn sữa đâu

Tháng tư cha nhỏ lệ sầu
Đứa ra biển cả đứa sâu trong rừng
Mẹ già vợ yếu con cưng
Không nơi nương tựa ghé lưng chỗ nào

Tháng tư mẹ phải kiếm rau
Cha đi mót sắn chia nhau đở đần
Còn dư cho cháu một phần
Phần kia còn lại để dành ngày mai

Tháng tư dân chúng thở dài
Cơm ăn phải độn sắn khoai đa phần
Áo quần thiếu vải che thân
Thuốc men chẳng có bệnh nhân lìa đời

Tháng tư xác nỗi ngoài khơi
Thân đã nuôi cá mẹ thời chẳng hay
Đêm đêm mẹ nguyện mong thay
Cho con tui được có ngày tự do

Tháng tư Việt Cộng ăn no
Đồng hồ cửa sổ radio rò rè
Của cải chúng chất đầy xe
Nối đuôi từng tốp chạy về Bắc phương

Tháng tư ngoài Bắc bỏ vườn
Từng đoàn lũ lượt tìm đường vô Nam
Bỡi vì nghe tiếng đồn ran
Miền Nam giàu có gấp ngàn quê ta

Tháng tư tù đi Bắc xa
Xuống bến Tân Cảng quê cha bỏ lìa
Bo bo cả võ mấy thìa
Mỗi ngày ba lạng phải chia cho đồng

Tháng tư vợ phải nuôi chồng
Từ Nam ra Bắc bế bồng nhau đi
Xa xôi cách trở sơn khê
Lâu lâu một chuyến khó bề thường xuyên

Tháng tư lao động đảo điên
Non cao Bắc Việt leo triền đẳn cây
Có kẻ thay trâu kéo cày
Người thì phát rẩy mai rày trồng rau

Tháng tư đày đọa gian lao
Bạn bè bỏ xác đồi cao mộ phần
Nhắm mắt chẳng có người thân
Cô đơn một xó trong phòng cách ly
Mẹ cha con vợ biết gì
Thân tù đày đọa đến khi hơi tàn
Xác nằm chuột bọ lang thang
Mắt không ai vuốt khăn tang ai thờ

Tháng tư nước mắt tràn bờ
Dân Việt xa giờ biết mẹ đau thương
Ly hương bốn chục năm trường
Lối mòn phục Quốc con đường tự do
Trần Pháp

                 

Posted in Tin Tuc Nội Bộ

Việc Đến Phải Đến _ TQN

VIỆC ĐẾN PHẢI ĐẾN

Cuồng phong nỗi dậy khắp quê hương,
Tức nước cùng nhau ào xuống đường,
Dân chúng bom xăng quăng tứ phía,
Công an té khói chạy vô phương,
Vĩnh Tân rượt đuổi loài gian ác,
Móng Cái phản công bọn bạo cường,
Ám khí tà quyền gây oán hận,
Hào quang chính nghĩa dựng tình thương./-
Trần Quốc Nại

Posted in Tin Tuc Nội Bộ