Tâm sự của Người Cảnh Sát Già- tiếp theo_ Lâm minh Sơn

                                              

                                                                                                    Tâm sự của Người Cảnh Sát Già hay là Người cảnh Sát Già ôn Lại chuyện cũ của Lâm Minh Sơn (tiếp theo và hết)

PHẦN II: 1975- 1992: Chút hãnh diện đời tù.

            1) Hãnh diện đầu tiên: Trên đường ra Bắc.

            Một đêm đầu năm 1976, tôi đang ngủ tại trại giam Long Thành thì được dựng dậy một cách âm thầm cùng một số đông anh em khác để lên xe về trại giam Thủ Đức. Ở đây, chúng tôi bị giữ biệt lập trong một phòng giam thêm 24 giờ nữa, tức là vào đêm sau thì được xe bus chở ra phi trường Tân Sơn Nhất. Chúng tôi ngầm hiểu mình sẽ bị chuyển đi đến một địa điểm khác và chắc chắn là sẽ xa Sài-Gòn vì VC phải dùng phi cơ C.130 để chở.

            Khi đã an vị, chúng tôi được còng từng hai người một (người này còng chung một còng với người ngồi kế bên) và luôn có công an lui tới canh chừng. Lúc phi cơ cất cánh, nhìn chung quanh tôi thấy hầu hết mọi người, nếu không phải âu lo thì cũng hoang mang. Riêng tôi, tính hiếu kỳ đã xóa mất nỗi sợ trong lòng. Hơn nữa, tôi quá “ngây thơ” tin vào chính sách 12 điểm đăng trên công báo do Thủ Tướng VC Huỳnh Tấn Phát ký là sẽ bị giam tối đa 3 năm, mà nghiệp vụ của tôi trong quá khứ gây tổn hại cho chúng cũng nhiều, nên chĩ mình có xa nhà 3 năm cũng chẳng hề gì. Với tâm trạng này, tôi bình tỉnh tiếp tục theo dõi hướng bay để đoán mình sẽ đi về đau. Lúc ở phi trường, phần đông nghĩ là sẽ được đưa ra Phú Quốc hoặc Côn Đảo, nhưng đến khi trời hừng sáng, nhìn qua cửa sổ tôi thấy hình dạng của con sông Thu Bồn quen thuộc, thì tôi biết mình sẽ được chở ra Bắc! Tôi thầm báo cho một số bạn tù của tôi biết, rồi thay vì lo lắng như các vị lớn tuổi, tôi lại cảm thấy “hãnh diện tếu” nghĩ rằng sau khi mất nước, có lẽ ngoài bọn tôi ra không một ai của miền Nam Việt Nam được đi ra Bắc bằng phi cơ Mỹ C.130!

            2) Hãnh diện tiếp theo: Người tù có giá.

            Không rõ VC xem trọng chúng tôi hay có mục đích gì khác, khi chúng cho Thứ Trưởng Bộ Nội Vụ cùng một số nhân viên, cán bộ đứng đón chúng tôi.

            Tên Thứ Trưởng VC cầm loa tự giới thiệu mình rồi cho chúng tôi hay là chúng tôi đã tới phi trường “quốc tế” Gia Lâm và sẽ được di chuyển tới một nơi rất thuận lợi cho việc “học tập” ở vùng đồng bằng không xa thành phố lắm. Chúng tôi được nhanh chóng đưa lên xe bus để đi về trại giam Hà Tây và bắt đầu sống cuộc đời lưu đày trong nhà tù cộng sản ở miền Bắc tổ quốc!

            Đến tại, chúng tôi được mở còng và được cho ăn uống phủ phê ngay. Cơm thịt ê hề đầy bàn, ăn không hết. Tuy ở trại giam Long Thành trong Nam, chúng tôi cả năm không được ăn thịt, nhưng lúc đó vì muốn giữ “thể diện” nên cũng chỉ ăn vừa phải và để thức ăn dư lại rất nhiều. Tôi lại “ngây thơ” nghĩ rằng phần ăn ở đây chắc khá hơn trong Nam, vì trại giam gần Thủ Đô Hà Nội, tức là gần ”mặt trời”, cải tạo viên sẽ được chăm sóc kỹ càng hơn. Có điều làm tôi ngạc nhiên là khi chúng tôi đứng dậy rời bàn ăn, một tên vũ trang VC đến nói nhỏ bên tai tôi: “…các anh có gì chứa không? Nếu có, thì lấy thức ăn dư cất vào, để dành hâm lại mà ăn, mai mốt không có nữa đâu….”! Tôi có nói lại điều này cho vài người nghe, nhưng họ cũng như tôi, đều tỏ vẻ lạc quan, nghĩ rằng dù thức ăn có giảm xuống gấp mười lần hôm nay, chúng tôi cũng dư sức chịu đựng được 3 năm để trở về.

            Ăn xong, chúng tôi được đưa vào ở 2 buồng, mỗi buồng trên dưới 60 người. Tối đến, phần mệt, phần no đủ, chúng tôi ngủ một giấc tới sáng thì có người tới mở cửa buồng rồi bỏ đi. Chúng tôi có thể ra sân chơi, nhưng không được ra khỏi tường rào. Tôi thấy tất cả đều có vẻ an tâm, không lo lắng như lúc di chuyển nữa, có lẽ, một phần cũng nhờ bữa ăn và giấc ngủ đêm qua.

            Khoảng 9 giờ hơn, một trung úy VC vào buồng tôi tập hợp anh em lại và cho biết chúng tôi được “biên chế” làm hai buồng, 1 và 2. Buồng 1 do tên trung úy vừa kể phụ trách, còn buồng 2 do một cán bộ khác. Rồi như để trấn an chúng tôi, y kể hết chuyện này đến chuyện khác, toàn là chuyện “tốt đẹp” của miền Bắc Xã Hội Chủ Nghĩa, cho chúng tôi nghe, đến khoảng 12 giờ thì ngưng lại và bảo chúng tôi sửa soạn đi ăn. Chúng  tôi xuống nhà ăn, 4 người ngồi vào một bàn. Trên bàn đặt sẵn một dĩa dựng 4 cái bánh bột, mỗi cái nhỏ hơn nắm tay một chút. Không thấy thức ăn, nhưng chúng tôi không hỏi vì nghĩ đây là bữa ăn điểm tâm, vì miễn có điểm tâm là đã hơn miền nam rồi. Nhưng sau đó, chờ mãi cũng không thấy gọi xuống nhà để ăn trưa, chúng tôi bèn hỏi tên cán bộ thì y cho biết, cái bánh bột vừa ăn là phần ăn trưa đó, còn ăn sáng thì không có, vì chúng tôi chưa đi lao động! Đến chiều, chúng tôi cũng được cục bột như buổi sáng nhưng không ai ngạc nhiên gì thêm nữa.

            Tối đến, trong buồng không yên lặng ngủ như hôm đầu mà xầm xì với nhau tới khuya, đến đổi võ trang VC đi tuần bên ngoài phải lên tiếng cấm nói chuyện! Chúng tôi xầm xì với nhau vì ai nấy cũng ưu tư cho tương lai. Ai cũng thắc mắc là ăn như vậy làm sao sống được, rồi tự đặt nhiều câu hỏi và cũng tự trả lời. Lạc quan thì cho rằng, nếu không đủ ngân khoản cho tù ăn, có lẽ VC sẽ cho liên lạc với gia đình để gia đình tiếp tế. Bi quan thì cho rằng nó muốn mình chết nhưng không giết bằng dao, súng… mà bỏ đói để chết lần, chết mòn. Thật ra cách nghĩ nào cũng đúng. Từ 1976 đến 1979, VC muốn bỏ đói cho chúng tôi chết thật. Tù vừa đói, vừa không có thuốc uống, bất cứ bệnh gì dù nặng hay nhẹ, cũng đều cho uống “xuyên tâm liên” mà thôi. Nhưng đến năm 1979 thì cho liên lạc gia đình, cho nhận quà và nếu bệnh nặng thì được chở ra bệnh viện tỉnh để chữa trị. Lý do: năm 1979, Mỹ bắt đầu họp với VC về “tù cải tạo”, nếu để mất tù thì mất tiền! Sở dĩ chúng tôi biết được điều này vì trong một ngày đầu năm 1979, một phóng viên người Thụy Điển đã qua mặt được VC và báo trực tiếp với chúng tôi. Lúc đó tuy đói khổ, nhưng chúng tôi rất sợ phái đoàn nước ngoài đến thăm, vì ngày họ đến là ngày chúng tôi bị dẫn đi trốn thật xa và mãi tới chiều, khi nào phái đoàn rời khỏi trại, trại cho đánh kẻng báo, chúng tôi mới được dẫn về. Anh phóng viên này, có lẽ đã nghiên cứu trước, nên lái xe đến trại, cũng giả bộ thăm hỏi những người tù đóng kịch (dĩ nhiên không phải chúng tôi) rồi lái xe ra về. Khi nghe tiếng kẻng, anh ta lại dùng xe vespa chạy ngược trở lại và bắt gặp chúng tôi trên đường về trại. Anh ta chạy xe song song với đoàn người chúng tôi và lớn tiếng nói bằng Anh ngữ: “…các bạn yên tâm, ráng giữ gìn sức khỏe, chính phủ Mỹ và Hà Nội đã bắt đầu gặp nhau để thảo luận về chuyện của các bạn”.

            3) Hãnh diện thật sự: Chức phận của bạn đồng tù và tư cách của bạn đồng nghiệp.

            Thành thật mà nói, có hơi hỗn láo khi gọi những người cùng cảnh ngộ là bạn đồng tù, nhưng vì cùng sống với nhau trong hoàn cảnh khỗ cực một thời gian khá lâu, nên chúng tôi, nếu không xem nhau như người trong nhà thì cũng là bạn. Đây là một điều làm tôi rất hãnh diện vì chung quanh tôi, hầu hết là những viên chức cao cấp của chính phủ cũng như có một số Tướng Lãnh của VNCH. Tôi không thể nhớ hết nhưng cũng có thể kể sơ như:

            – Ngoại giao có Nguyễn Xuân Phong, Trưởng phái đoàn Hòa Đàm Ba- Lê
– Kinh tế có Phan Tường Vân, Ph.D Kinh Tế, phụ tá Thủ Tướng chính phủ.
– Tài chánh có Nguyễn Quang Trường, Tổng Trưởng.
– Tư Pháp có Lê Văn Thu, Bộ Trưởng,
– Giáo dục có Nguyễn Duy Xuân, Viện Trưởng Đại Học (chết tại trại giam Nam Hà)
– Chiêu hồi có Nguyễn Quốc Thụy, Triệu Huỳnh Võ, Phụ Tá Tổng Trưởng
– Dân cử có Nguyễn Khoa Phước (Thượng Nghị Sĩ), Trần Văn Tuyên, Đặng văn Tiếp, Trần Cảnh Chung, Nguyễn Kim Phùng, Nguyễn Lý Tưởng, Nguyễn Đức Cung (Dân Biểu), Võ Quốc Thanh (HĐ Đô Thành).
– Thẩm phán có Ngô Bút, Chánh án tòa Quân sự vùng 2
– Đảng phái có Vũ Hồng Khanh (VN Quốc Dân Đảng), Nguyễn Đình Lương, Nguyễn Đình Huy (Đại Việt)….
– Tướng lãnh Quân Đội có: Trung Tướng Nguyễn Hữu Có, Trung Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, Thiếu Tướng Đỗ Kế Giai, Thiếu Tướng Lê Minh Đảo, Thiếu Tướng Lý Tòng Bá, Thiếu Tướng Trần Bá Di, Thiếu Tướng Lâm Văn Phát, Thiếu Tướng Huỳnh Văn Cao, Thiếu Tướng Văn Thành Cao, Chuẩn Tướng Mạch Văn Trường, Chuẩn Tướng Lê văn Thân, Chuẩn Tướng Lam Sơn Phan Đình Thứ, Chuẩn Tướng Đoàn Văn Quảng (chết tại trại giam Nam Hà năm 1984), Chuẩn Tướng Phạm Duy Tất, Chuẩn Tướng Trần Quang Khôi …

            Còn bạn đồng nghiệp, tức là các chiến hữu CSQG cùng chịu cảnh tù đày với tôi thì gồm đủ loại cấp bậc, từ Trung Sĩ (anh Thọ…) đến Tướng (Chuẩn Tướng Bùi Văn Nhu), mà nhiều nhất là cấp Úy và Tá.

            Suốt thời gian 17 năm, tôi đã chứng kiến các Chiến Hữu ra đi vĩnh viễn, như Chuẩn Tướng Bùi Văn Nhu (1985), Đại Tá Đàm Trung Mộc (năm 1982), Đại Tá Nguyễn Phúc (1985), Đại Tá Dương Quang Tiếp (1986) (chết tại Nam Hà), Trung Tá Phạm Trọng Tú, Trung Tá Đỗ Kiến Nâu, Trung Tá Nguyễn Văn Cung, Thiếu Tá Nguyễn Văn Nguơn, Thiếu Tá Hồ Văn Thắng (trại Z.30D).

            Số còn lại, tuy đời sống “kinh tế” có khác nhau, người được thăm nuôi đầy đủ, kẻ thì “xi cà que” (không quá cáp, không thăm nuôi), mỗi người một hoàn cảnh, nhưng có chung một điều phải hãnh diện là không một ai “bán cái” (nghĩa là làm ăn-ten) hoặc có gì lấn cấn trong quá khứ để được về sớm hơn những người đồng cảnh ngộ.

            Đặc biệt, một điều xác đáng để chứng minh Cảnh Sát Quốc Gia là một lực lượng hoạt động hữu hiệu trong những công tác đánh phá kẻ thù là trong số nguòi tù cuối cùng có không ít các Chiến Hữu CSQG mà tôi còn nhớ: Trung Tá Nguyễn Hữu Hải (E/ĐB Khu 2), Trung Tá Trần Văn Xoàn (Giám Đốc Trường Tình Báo Trung Ương), Thiếu Tá Phan Tấn Ngưu (ĐB Tây Ninh), Thiếu Tá Phạm Tấn Ngọc (ĐB Bộ Tư Lệnh), Thiếu Tá Lê Hữu Tống (Long An), Thiếu Tá Lê Thới Nguơn, Thiếu Tá Trương Vĩnh Thụy, Thiếu Tá Huỳnh Lam Điền (ĐB Khu 3), Thiếu Tá Lâm Minh Sơn (người viết bài, ĐB/Quảng Nam), Thiếu Tá Nguyễn Tâm (ĐB Phú Yên), Thiếu Tá Lê Văn Hoan (ĐB Ban Mê Thuộc), Thiếu Tá Phan Quang Nghiệp (ĐB Bình Định), , Thiếu Tá Nguyễn Hữu Trân (ĐB Long Khánh), Thiếu Tá Trần Xuân Nhường (ĐB Kiến Phong), Thiếu Tá Lương Trọng Lạc (ĐB Vĩnh Long), Thiếu Tá Lữ Kim Ba, Đại Úy Trần Quang trường (ĐB Sóc Trăng), Thiếu Tá Phan Hữu Nghi, Thiếu Tá Phan Kỷ Niệm, Thiếu Tá Đào Thanh Phong (Khối Đặc Biệt), Thiếu Tá Huỳnh Ngọc Thịnh (ĐB Sa Đéc), Thiếu Tá Nguyễn Công Quan (ĐB Chương Thiện), Đại úy Vũ Văn Nhựt, Đại Úy Nguyễn Văn Nghiêm (ĐB Đô Thành).…

 PHẦN III: 1993- 2011:  Niềm Tự hào còn lại.

            Tôi cùng gia đình đến Mỹ với hành trang trống rổng. Những ngày đầu dù tất bật với mọi thủ tục định cư, tôi vẫn thấy lòng tiếc nuối. Tiếc nuối những tấm lòng thân thương còn ở lại, tiếc nuối những ngày tự do mà cả miền Nam cùng vui hưởng, tiếc nuối từng rặng núi, cánh rừng, từng con sông, ngọn suối, từng mảnh vườn, thửa ruộng. Quê hương ơi, đã mất hết rồi sao!

            Thời gian trôi qua,tự do của xứ người giúp gia đình tôi hòa nhập nhanh chóng vào cuộc sống mới. Tôi cứ ngỡ những gì mình nuối tiếc chỉ còn là kỷ niệm, và ở nơi xa xôi này, mỗi người có một phương cách riêng để hoài niệm về quá khứ.

            Nhưng không, sau khi cuộc sống tạm ổn định, năm 2000 gia đình tôi từ Oklahoma dời về Dallas, Texas, vì ở đây ít thiên tai mà lại có nhiều đồng hương Việt Nam hơn. Chính ở đây, tôi biết được kỷ niệm không phải chỉ để hoài niệm một cách tiêu cực, mà mình có thể gợi lại một cách tích cực để dạy dỗ con cháu cũng như để cho kẻ thù biết là họ chỉ cướp đoạt được vật ngoài thân chớ không thể chiếm được những tấm lòng đã một thời trung thành với Tổ Quốc VNCH.

            Qua chiến hữu Lê Văn Bon, lần đầu tiên vợ chồng tôi đến với Hội CSQG Dallas Fortworth để dự tiệc Tất Niên của gia đình Cảnh Sát. Đúng là “tha hương ngộ cố tri”, chúng tôi gặp lại khá đông những khuôn mặt thân quen ngày xưa. Cấp chỉ huy có, đồng cấp có và thuộc cấp cũng không ít.

            Sau khi tay bắt mặt mừng và hàn huyên thăm hỏi, vợ chồng tôi chẵng những không thấy bỡ ngỡ, vì là người mới, mà còn tưởng như mình đã cùng anh em, bạn bè sinh hoạt chung với nhau từ trước.

            Rồi từ Hội CSQG Dallas-Fw và qua cuốn Đặc San Phượng Hoàng, tôi mới biết sinh hoạt của anh em Cảnh Sát ở các Tiểu Bang khác, đặc biệt nhất là hoạt động của Tổng Hội Cảnh Sát Quốc Gia, mà văn phòng hiện đặt ở Tiểu Bang California.

            Không biết tương lai ra sao, nhưng hiện tại thì người Cảnh Sát của VNCH chưa bị lãng quên. Tại đây, người Việt hải ngoại không những đã thấy lại màu cờ, sắc áo của CSQG ở các buổi họp mặt và ngày lễ Truyền Thống Cảnh Sát 1 tháng 6 hàng năm, do các Ban Chấp Hành CSQG địa phương tổ chức, mà còn chứng kiến được tinh thần đoàn kết của các chiến hữu Cảnh Sát đã năng nổ cùng đồng hương thực hiện nhiều sự kiện có ý nghĩa như các chương trình “Đại Nhạc Hội Cám Ơn Anh” ở California để giúp Thương Phế Binh VNCH nơi quê nhà, hoặc biểu tình đòi hạ cờ VC tại các trường học.v.v… Nhưng một công tác rất quan trọng không thể không nhắc tới mà khắp nơi đã làm trong bao năm qua, đó là xin Thành phố, Quận Hạt hoặc Tiểu Bang vinh danh cờ vàng VNCH và được treo lá cờ này trong những ngày lễ hội của cộng đồng Việt chúng ta.

            Sau vài lần họp mặt với Hội Cảnh Sát địa phương, tôi đã nhận ra CSQG không phải chỉ là một cái gì để thương, để nhớ, mà còn là một ấn tượng sâu sắc trong mỗi gia đình Cảnh sát VNCH ở hải ngoại. Nhận thức này đã khiến tôi đến với Đặc San Phượng Hoàng, đồng thời tìm cách cho gia đình ngày càng gần với hoạt động của Hội Cảnh Sát Dallas- Fwt.

            Lấy cớ địa điểm tổ chức các buổi họp mặt của Hội Cảnh Sát địa phương khá xa với gia đình, tôi nhờ các con đưa vợ chồng tôi đi dự, mục đích cho chúng thấy sinh hoạt của các Chú Bác ngày nào. Ban đầu chúng đi vì hiếu kỳ và muốn làm vừa lòng cha mẹ, nhưng dần dần, chúng nhận ra được thế nào là tình đồng đội, thế nào là danh dự của màu cờ sắc áo, cùng niềm vui hội ngộ của gia đình CSQG, nên chúng cũng muốn được trở thành là một thành viên của Hội.

            Thế rồi từ năm 2008, con gái tôi Khánh Dung và con rễ Hứa Kính, cứ đến ngày truyền thống Cảnh Sát 1 tháng 6 là mặc Cảnh phục cùng vợ chồng tôi đi dự lễ. Chúng tình nguyện gia nhập toán dàn chào và rất nghiêm chỉnh trong chào kính theo nghi lễ. Năm tiếp theo, cháu ngoại tôi, Kathy cũng theo chúng tôi dự hội. Cháu mới 13 tuổi, sinh ở Mỹ, nói tiếng Việt không rành, nhưng vẫn cố gắng tập hát cho bằng được bài CSQG Hành Khúc để lên sân khấu hát theo sự sắp xếp của Ban Tổ Chức.. Khi cất tiếng hát, niềm vui của cháu là niềm vui được ngưỡng mộ, nhưng niềm vui của tôi là thấy được sự hiện hữu của Lực Lượng CSQG ở thế hệ thứ 3 trên quê hương thứ hai này. Đã 36 năm rồi, 4 chữ Cảnh Sát Quốc Gia tưởng đã tan biến theo thờ gian, nhưng nó vẫn còn đậm nét từ thế hệ này qua thế hệ khác!

            Nói biết ơn thì hơi quá, nhưng cảm kích thì không thừa. Bốn chữ Cảnh Sát Quốc Gia ngày thêm đậm nét là nhờ công của tất cả Ban Chấp Hành CSQG từ Tổng Hội đến các Hội địa phương tại Hoa Kỳ và trên khắp thế giới. Tuổi thì ngày càng già mà “ngà voi” ngày càng nặng. Những chiếc lưng còm vẫn cố chống chọi với thời gian, chờ đợi nhưng bờ vai của thế hệ kế tiếp đủ cứng cáp và tiếp tục gánh vác ngà voi mới, sẽ nặng hơn vì được bám thêm những phức tạp của thời đại!

            Năm nay (2011), một trùng hợp ngẫu nhiên giữa Tổng Hội và Hội CSQG Dallas-Fwt khiến lòng tôi không khỏi bùi ngùi. Là thư Phượng Hoàng của Tổng Hội hồi đầu năm và “Lễ Trao gươm” của Hội CSQG Dallas-Fwt trong ngày truyền thống 1/6 lúc giữa năm đã ngầm ngụ ý đến tuổi già của thế hệ 1.

            Vâng, ở nơi xa xôi này, thế hệ của chúng tôi đã trên dưới 7 “bó” rồi. Ôn lại quá khứ của chính mình, 21 tuổi vào đời, 9 năm làm Cảnh Sát, 17 năm tù đày, 1 năm sống dưới chế độ Cộng Sản, 19 năm sống tha hương, công lại đã là 67, một đoạn đường đời cũng đủ dài để nhìn thế sự thăng trầm.

            Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã nói: “Đất nước còn, tất cả còn – đất nước mất, mất tất cả”. Đúng là mất tất cả, nhưng dù sao, người Cảnh Sát VNCH vẫn còn lại niềm tự hào là không thẹn với lòng khi cất tiếng hát bài Cảnh Sát Quốc Gia Hành Khúc:

       “TỔ QUỐC CHÚNG TA LUÔN LUÔN TA TRUNG THÀNH…”

 Dallas cuối năm 1011
Lâm Minh Sơn

 

Bài này đã được đăng trong Tin Tuc Nội Bộ. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.