Thắng Thua _ Thơ TPK

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bình luận về bài viết này

Một sự hổ thẹn không thể bào chữa_Lâm Bình Duy Nhiên

MỘT SỰ HỔ THẸN KHÔNG THỂ BÀO CHỮA

Lâm Bình Duy Nhiên

https://www.youtube.com/watch?app=desktop&v=76hS_WgP4Ww…

This image has an empty alt attribute; its file name is pmc.pngDẫn cả một phái đoàn chính phủ đi công du tại quốc gia được cho là cường quốc số một thế giới mà lại không hề ý tứ, cẩn thận trong phát ngôn. Tại thủ đô của Hoa Kỳ, trong phòng họp của họ, mà lại ăn nói một cách vô giáo dục, lịch sự tối thiểu cũng cóc cần. Ông Phạm Minh Chính và thuộc cấp bình luận vô tư vể các quan chức Mỹ, gọi phái đoàn người ta là “nó” mà quên hẳn việc có thể bị ghi âm và ghi hình, một cách công khai hay bí mật (Hoa Kỳ cũng thuộc loại chúa ghi âm, nghe lén, thậm chí cả đồng minh châu Âu). Một sự điên rồ, ấu trĩ về ngoại giao của Hà Nội.

Rõ ràng, sòng phẳng. Mẹ nó, có sợ gì đâu!, câu nói mang tính thân mật với thuộc cấp trong phòng họp khi ông Chính đang chờ hội kiến với ông Ngoại trưởng Hoa Kỳ, Antony Blinken, chứng tỏ phong cách xem thường đối tác, dẫu mình chẳng là cái thá gì, từ tư cách, lẫn chuyên môn đến tri thức khi so với người ta.

Ông Chính cũng ra vẻ tự tin khi cười bảo: “Nó đang trong phòng nó nghe đấy … Sợ gì đâu …”

Ông Đại sứ Việt Nam tại Mỹ, Nguyễn Quốc Dũng, cũng “vô tư” bốc phét: “Mình nói nó, nó cũng phải ngại … Ngay cái đoạn mà cuối cùng cậu cũng bí cậu cũng phải nói … là cuối cùng cũng phải tin Nga”, trong tiếng cười to của cả phái đoàn…

Cả ông tướng Tô Lâm của bò dát vàng cũng “thằng” này, “thằng” nọ khi nhắc về ông Matt Pottinger!

Ngôn ngữ thân mật của họ, của những đồng chí trong phái đoàn cao cấp, đại diện cho cả một đất nước là thế này nữa, khi ông Thủ tướng Chính kết luận, trong sự lắng nghe của đoàn tuỳ tùng: “Ông này (Matt Pottinger) đáng nhẽ phải nhắc tổng thống… lúc ngồi ấy… nó nhiều quá… thế là bỏ mẹ nó tất cả … lúc đợi khách…”.

Suy cho cùng, cũng chẳng có gì ngạc nhiên về bản chất vô học, ỷ quyền cậy thế, ăn cháo đá bát và hèn hạ của cộng sản Việt Nam. Trước mặt đối phương thì nhỏ nhẹ, xin xỏ. Sau lưng thì sử dụng cả một hệ thống truyền thông để tuyên truyền, lên án, chê bai, chỉ trích đối phương.

Đi xin xỏ viện trợ nhưng vẫn dùng những mỹ từ như thể thế giới đang xếp hàng chờ đợi được tiếp kiến lãnh đạo Việt Nam.

Chợt nhớ đến lời tâm sự của ông Tiến sĩ Nguyễn Xuân Oánh (cựu phó thủ tướng kiêm thống đốc ngân hàng Việt Nam Cộng Hòa) với người viết: “Tôi dẫn họ đi để cho họ biết thế giới bên ngoài, chứ họ cứ như là con ếch ngồi đáy giếng!”

Ông Oánh, khi đó là cố vấn kinh tế cho nguyên thủ tướng cộng sản Võ Văn Kiệt. Vào giữa những năm 1990, ông Oánh đã dẫn một phái đoàn của chính phủ cộng sản, do ông thủ tướng Võ Văn Kiệt cầm đầu để đi thăm các nước Châu Âu. Mang tiếng đi thăm nhưng thực chất là đi xin tiền viện trợ. Thế thôi.

Trung Cộng, Pháp hay Mỹ cũng là nạn nhân của cái phong cách ngoại giao rừng rú, lợi dụng và vô ơn của cộng sản Việt Nam.

Tiếc rằng, phương Tây chắc thừa biết bản chất tồi tệ của Hà Nội nhưng họ vẫn “làm ngơ”!

Tất cả chỉ vì bài toán quyền lợi của nhau mà thôi, nên cộng sản Việt Nam vẫn cứ tiếp tục hành xử một cách “đầu đường, xó chợ” mỗi khi đi công du, ngoại giao tại phương Tây!

Chỉ có người dân Việt Nam mới cảm thấy ngượng và hổ thẹn khi thấy quan chức cao cấp của họ hành xử một cách vô ý tứ và vô ý thức như thế. Ếch ngồi đáy giếng là vậy!

Chẳng có đối lập chính trị, tự do ngôn luận và tự do báo chí nên cả một chế độ cứ mặc nhiên hành xử một cách tuỳ tiện, bất chấp thể diện quốc gia.

Đó chẳng khác nào một sự hổ thẹn cho đất nước và con người Việt Nam./.

(LBDN)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bình luận về bài viết này

CÁI THẤY BIẾT CỦA THIỀN_Tâm Hoàn (Hồ Đắc Biên)

Cái Thấy Biết của Thiền

Thị giả Tâm Hoàn (K1 Hồ Đắc Biên)

This image has an empty alt attribute; its file name is thien.jpgChúng ta phải biết rằng NGÃ CHẤP thuộc về thức của Ý. Đối tượng của Ý là ngã tướng. Hình thái nhận thức của Ý là một hình thái nhận thức sai lầm. Ngã tham, ngã sân, ngã kiến, ngã ái tạo thành một cái THẤY BIẾT không còn BÌNH ĐẲNG nữa vì do pháp chấp và ngã chấp chúng nằm sâu bên trong chúng ta, cho nên những hoạt động hàng ngày phải được QUÁN CHIẾU vể VÔ THƯỜNG, VÔ NGÃ và KHÔNG của mọi hiện tượng để NGÃ và PHÁP CHẤP cùng sanh ra một lượt với chúng ta lần lần tan rã theo năm tháng. Điều này có nghĩa là TÂM-Ý-THỨC lệ thuộc vào dòng TÂM – TƯƠNG – TỤC đi liền trước đó nó bao gồm hết thẩy mọi thứ của Sắc Tưởng, Thanh Tưởng, Hương Tưởng, Vị Tưởng, Xúc Tưởng,v.v… của 5 thức GIÁC QUAN vốn dĩ là chưa tạo NGHIỆP, và để cho 5 thức GIÁC QUAN được an trụ chúng ta phải nương vào KIẾN PHẦN của TÀNG THỨC mà tạo ra một đối tượng là CHÂN NHƯ và KHÔNG của thế giới bản thể mà chúng ta ví dụ như là “NƯỚC”. 5 Thức Giác Quan gồm nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức chỉ có thể tiếp xúc với thế giới biểu hiện mà thôi mà chúng ta thường ví dụ là “SÓNG” tức thực tại của sanh diệt. Cái ví dụ về “SÓNG” và “NƯỚC” rất hay vì NƯỚC chưa từng rời SÓNG và SÓNG cũng chưa từng rời NƯỚC. Nó cho phép chúng ta quán chiếu thấy thực tại của CHÂN NHƯ và KHÔNG (“Nước”) biểu hiện thành thực tại SANH DIỆT (“Sóng”). Khi 5 thức GIÁC QUAN bị mê mờ đầy phiền não thì cái nhận thức về “SÓNG” nó sai lầm nhưng khi đã trừ khử được những kiến hoặc sai lầm đó rồi thì 5 Thức có thể nhận thức rõ bản thân thực tại, nhưng thực tại mà 1 trong 5 thức GIÁC QUAN đó nhận thức cũng vẫn là “SÓNG” tuy nhiên không còn sai lầm nữa. Ở đây chính là lúc trở về được trong cái thấy chỉ là THẤY , trong cái NGHE chỉ là cái nghe, trong cái thọ tưởng chỉ là Thọ Tưởng, trong cái thức tri chỉ là Thức Tri, thanh tịnh trong sáng như nó đang là một cách mới mẻ tinh khôi không có cái bản ngã ở trong, ở ngoài, ở chặng giữa. Vì vậy khi mà Quán về Chân Như và về Không qua phương diện hiện tượng bằng Thiền Minh Sát (Vi-passana) thì những đợt “SÓNG” này trình diện cái không sanh, không diệt, không tới, không đi, không một, không khác, không còn, không mất; ngay lúc đó đạt được TÁNH BIẾT thấy Pháp; cái thấy đúng thực tại gồm KIẾN PHẦN và Tướng Phần nó tương tức, tương nhập không còn chủ thể đối tượng, chúng gần như đã bốc khói trong cái Thấy Biết của Thiền, của Sát na hiện hữu. Do vậy mà Krisnamurti mới bảo CHÂN LÝ là cái mà ta có thể sờ đụng được; Riêng các Thiền Sư thì bảo: “Xúc mục vô phi thị ĐẠO”, nghĩa là bất cứ gì mà ta chạm mắt vào đều hết thảy là ĐẠO. Vậy thì từ cái thực tại sanh diệt là “SÓNG” mà trở lại với cái thực tại BẢN THỂ CHƠN NHƯ là “NƯỚC” tịch nhiên bất động thúc đẩy ngăn ngừa không cho THỨC của Ý tham gia vào 5 Thức GIÁC QUAN thì đó là cái THẤY của Thiền Sư Bạch Ẩn. Ngài động thân phát ngữ từ CHÂN NHƯ khởi niệm “Thế À” rất nổi tiếng. Câu chuyện được truyền tụng: Vào thời đại của Thiền Sư Bạch Ẩn, trong vùng có một gia đình phú hộ ở gần am thất của Ngài. Người con gái trong gia đình này lén lút mang thai bởi cậu giúp việc, cha mẹ gạn hỏi cô thì cô bảo là do gần gũi hầu hạ Thiền Sư Bạch Ẩn. Cô nghĩ chỉ còn cách vu oan giá họa cho một nhân vật nổi tiếng thì may ra mới thoát được sự rầy la của cha mẹ. Khi bào thai gần đến kỳ sinh nở, cha mẹ cô tới am thất mà nói rằng “Ông” là chủ nhân của cái bào thai trong bụng con gái ông!. Thiền Sư yên lặng trả lời “Thế À” và khi đem đứa con đến giao cho Bạch Ẩn, Ngài cũng nói “Thế À” mà nhận con. Nhưng thái độ kỳ lạ nhất của Thiền Sư Bạch Ẩn là ôm đứa con trong lòng ra chợ xin sữa cho bé khỏi chết là do ở đâu khởi niệm? Khởi niệm từ đâu? Chính là từ Chân Như mà khởi niệm nên vẫn còn thanh tịnh! Đến khi người con gái là mẹ của đứa nhỏ không còn chịu đựng được nữa bèn đến Bạch Ẩn xin lại đứa con thì Ngài trao đứa bé với vỏn vẹn hai chữ “Thế À”. Và “Thế À” ở giai đoạn này rất là mới mẻ tinh khôi, không có sự dính dáng hay lập lại của “Thế À” ở chặng đầu, ở chặng giữa. Ngài Bạch Ẩn luôn luôn sống trọn vẹn trong khoảnh khắc hiện hữu tinh khôi mới mẻ nên gọi là người Đạt Đạo: “Nhập lâm bất động thảo”, “Nhập thủy bất động ba” (Vào rừng không đạp cỏ – Vào nước không dậy sóng). Nhập Đạo chính là tất cả các pháp mình thấy, mình nghe, v.v… đều như thật (paramattha). Do vậy, thường ngày ta hãy thực tập cái “NGHE RÕ” mỗi khi có ai đến nói gì với mình, ví dụ họ đến nói: “Tôi ghét chị lắm” hoặc “Cái đồ con nhà mất dạy” hoặc “Anh mà tu được cái gì!” thì mình một mực “Nghe Rõ” vậy thôi. Nghe rõ từng chữ, từng lời, đó là áp dụng trong cái NGHE chỉ là NGHE không để nghiệp thức xen vào chủ động. Ở chỗ này ông Bàng Long Uẩn nói “khó khó khó mười tạ dầu mè leo cây vuột”. Bà Bàng Long Uẩn lại nói “dễ dễ dễ trên đầu trăm cỏ ý tổ sư” còn cô con gái Linh Chiếu thì nói “Không khó cũng không dễ, đói đến thì ăn, mệt ngủ liền”. Cái Thực Hữu CHÂN ĐẾ (paramattha) phải vượt qua hình tướng, tên gọi. “Pháp bổn pháp vô pháp…” như trên hội Linh Khứu Sơn khi Đức Phật đưa cành hoa sen lên trước đại chúng được gọi là “Niêm hoa vi tiếu” để đáng thức TÁNH THẤY luôn mới mẻ tinh khôi nơi những đệ tử của Ngài mà đừng bị kẹt cứng bởi cành hoa. Khi Đức Phật nhìn đến Ca Diếp thì Ca Diếp chúm chím cười. Ngài cười cái gì? Cười với Phật (?) hay cười với cành hoa hồi nãy (?!) Kẹt gì cũng mang lại khổ thôi.

TÂM HOÀN (HĐB)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bình luận về bài viết này

DÂU HIỀN CẢNH SÁT_Thơ: Lệ Khanh

This image has an empty alt attribute; its file name is nu-csqg.jpgDâu Hiền Cảnh Sát

Lệ Khanh

Thường giàu vì bạn sang vì vợ,

Cảnh Sát Dâu Hiền góp lắm công.

Vận nước thăng trầm luôn vững chí,

Giúp chồng cuộc sống được hanh thông.

Nay dù luân lạc thân lưu xứ,

Vì Hội cùng nhau mãi dốc lòng.

Hoan hỷ tiếp tay trong mọi việc,

Khó khăn ! Nhờ đến thảy đều xong.

Cám ơn các chị đã dầy công,

Mấy chục năm qua vẫn một lòng.

Góp sức chung lời xây dựng Hội,

Chẳng nể nắng Hạ với mưa Đông.

Người ta thường bảo muôn trăm việc,

Nếu muốn hanh thông phải bóng hồng.

Thuận vợ đặng chồng sông tát cạn,

Dâu Hiền Cảnh Sát đẹp hay không?

LỆ-KHANH

– Bông hồng xin kính tặng các Dâu Hiền Cảnh Sát nhân Ngày Từ Mẫu (Mother’s Day)

– Thân gửi nhị vị hiền huynh Nhữ-Đình-Toán & Thái-Văn-Hòa

Kính chúc nhị vị luôn dồi dào sức khỏe,

Mến,

Trần-Bửu-Giao

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bình luận về bài viết này

BÀ PHAN THỊ MINH YẾN LÀ AI?

Bà PHAN THỊ MINH YẾN Là Ai?

Từ một nữ sinh trường đầm kiêu sa, thành bà Tướng đầy uy quyền, rồi thế thời đổi thay thành thợ hớt tóc 30 năm dài để nuôi 4 người con nên người mang tên QUANG, MINH, CHÍNH, ĐẠI, đặt tên theo tâm niệm của người chồng chiến binh một đời anh dũng.

This image has an empty alt attribute; its file name is tuong-le-nguyen-vy.jpgĐó là Bà Phan Thị Minh Yến, phu nhân Tướng Lê Nguyên Vỹ, vị tướng tư lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh Quân Lực VNCH, một trong 5 vị tướng Miền Nam đã tuẫn tiết để nêu cao khí phách anh dũng và để gìn giữ danh dự của một quân đội vừa mới thua trận trong biến cố 30/4/1975…

…Vào năm 1954, cô Phan Thị Minh Yến còn rất nhỏ, nhà ở Cầu Đất, Hải Phòng bắt đầu theo cha mẹ di cư vào Nam. Cô gái Bắc Kỳ nhỏ nhỏ được gia đình cho học chương trình Pháp tại Sài Gòn và đã có câu chuyện tình từ năm 17 tuổi. Khi được 19 xuân xanh thì chính thức lập gia đình với một anh Đại Úy Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

Lúc đó là mùa Xuân năm 1964. Chàng hơn nàng 10 tuổi. Nhưng trước sau cô Yến chỉ có một mối tình từ khi biết yêu cho đén lúc thành hôn. Tiếp theo là 10 năm làm vợ lính thời chinh chiến. Rồi bắt đầu làm mẹ. Những đứa con lần lượt ra đời. Các cháu Quang, Minh, Chính, Đại. Ba đứa con trai đầu lòng đặt tên với niềm tự hào của người cha cương trực sống trong một hoàn cảnh đất nước nghiêng ngả. Nhưng cô Út bé bỏng, xinh đẹp chỉ được gọi là em Đại ở trong gia đình. Khi ở ngoài lớp học thì đây là cô nhỏ Tường Vi của bà mẹ Hải Phòng.

Suốt thời gian thơ ấu, người cha đi chinh chiến đêm ngày. Các con phần lớn sống gần gũi và trông cậy vào mẹ. Tuy nhiên, hình ảnh người cha quân đội vẫn là chỗ dựa tinh thần mạnh mẽ cho cả mẹ con.

Tháng 4 năm 1975, bà mẹ 29 tuổi dẫn 4 con từ 6 tuổi đến 10 tuổi di tản qua Hoa Kỳ. Người chồng chỉ huy đơn vị nên không có cơ hội tiễn chân vợ con. Lần chia tay sau cùng mà vợ chồng không biết là lần vĩnh biệt. Anh đã ra đi vào miền vĩnh cửu khi quân đội tan hàng. Không một mảnh khăn tang. Không một giọt nước mắt. Vợ con cũng không hề biết tin về cái chết của người thân yêu. Năm đó chưa 30 tuổi, cô Phan Thị Minh Yến trở thành góa phụ ở vậy nuôi con cho đến năm nay 2008 vừa đúng 33 năm.

Qua Hoa Kỳ, một mẹ và 4 con nhỏ, Minh Yến bắt đầu bằng nghề cắt tóc. Cố gắng tự lập nuôi con. Vừa làm mẹ, vừa làm cha. Từ nữ sinh trường đầm ở Sài Gòn, trở thành vợ lính sống cảnh gia binh, rồi trở thành góa phụ.

Sau bằng ấy năm trời, các con đã trưởng thành, tốt nghiệp đại học, có cháu nội cháu ngoại. Hỏi rằng bây giờ chị làm gì” Còn làm gì nữa. Trước sau cũng chỉ làm một việc cắt tóc chải đầu.

Nhưng nghề chính là vừa làm cha vừa làm mẹ.

Làm mẹ thì cũng dễ vì đã làm mẹ từ Việt Nam. Nhưng làm cha cho những đứa con trai ở Hoa Kỳ mới thật khó. Tất cả đều phải quyết định một mình. Không bàn với ai được. Ba đứa con trai ở tuổi niên thiếu tại miền đất lạ. Biết bao nhiêu là khó khăn. Chuyện học hành, chuyện sinh sống, chuyện yêu đương của các cháu rồi đến chuyện hôn nhân. Cái gì cũng là chuyện của các con.

Khi được hỏi rằng thế chị làm ở tiệm tóc thì làm chủ hay làm thợ. Được trả lời rằng trước sau chỉ làm công mà thôi. Đã bảo rằng nghề chính là làm mẹ, nếu bôn ba mở tiệm, e rằng không có đủ thì giờ trông nom lũ nhỏ.

Hỏi rằng đi làm như vậy có gặp những điều gì khó chịu không. Trả lời rằng lúc đầu cũng thấy tủi thân lắm. Nhưng rồi thì cũng phải nhịn nhục cho quen đi. Vả lại, ở đây cũng không ai biết hoàn cảnh mình ra sao nên cứ việc mình, mình làm. Cũng thi lái xe, cũng lấy bằng, cũng tìm đường đi học nghề, đi làm và nuôi con. Vâng, việc chính là nuôi con.

Chị có buồn giận về chuyện anh nhà đã không đi được vào năm 1975 hay không” Trả lời rằng thì anh nghĩ coi, ai mà chả muốn có vợ có chồng. Các con muốn có đủ cha mẹ. Nhưng phần số đã như vậy thì mẹ con phải sống sao cho phải đạo với sự hy sinh của ông nhà tôi. Ông ấy mà còn thì cũng chỉ muốn cho các con của chúng tôi được học hành tốt nghiệp đại học, rồi dựng vợ gả chồng cho các cháu như bây giờ gia đình tôi đã được như vậy.

Ngoài việc hãnh diện về chuyện con cái, bà mẹ gốc Hải Phòng còn kể thêm với niềm hào hứng đặc biệt. Đó là mối liên hệ với mẹ chồng.

Số là ngay sau khi di tản qua Hoa Kỳ, gia đình được tin chồng chết nên đã tìm cách báo về Bắc cho bà mẹ già biết tin. Tội nghiệp chưa. Ông nhà tôi, lời chị Yến, cũng di cư vào Nam từ 54, mẹ con xa nhau 21 năm không liên lạc. Bây giờ bà cụ mới biết tin con dâu và các cháu ở Mỹ thì đồng thời cũng biết tin con trai đã qua đời.

Những năm đầu ở Hoa Kỳ cũng rất chật vật nên không tiếp tế được nhiều. Những năm sau này bắt đầu gửi tiền về miền Bắc cho bà cụ. Chính tôi là con dâu mà chưa hề biết mặt mẹ chồng. Đến khi liên lạc được thì chồng đã chết. Gia đình tôi và các cháu tiếp tục liên lạc về Bắc. Mấy năm gần đây cụ vào Nam gặp các bà chị tôi rồi thu xếp cải táng đưa di hài nhà tôi về Bắc. Xong công việc quan trọng, cụ mới qua đời mấy năm gần đây.

••••

Vâng, thưa quý vị, tôi vừa kể hầu quý vị một câu chuyện của bà mẹ Việt Nam trong nghĩa vụ thay chồng làm cha thời hậu chiến kéo dài hơn 30 năm tại Hoa Kỳ. Một người thiếu nữ 10 năm làm vợ nhưng đã có đến 30 năm vừa làm cha, làm mẹ, và làm dâu hàm thụ qua thư tín.

Cũng suốt 33 năm tại Hoa Kỳ, với vốn liếng Pháp văn và Anh ngữ của trường Đầm Sài Gòn, trước sau bà cũng vẫn chỉ là cô Yến làm tóc tại Hoa Kỳ. Bởi vì, người phụ nữ Việt Nam đơn giản này đã có một nghề cao quý vô cùng mà bà phải hết lòng theo đuổi. Đó là nghề làm mẹ. Do đó Ngày Của Mẹ hàng năm sẽ là ngày đặc biệt đối với những đứa con của bà.

Và mỗi năm, ngày tang 30 tháng 4 cũng là ngày giỗ bố của đám nhỏ. Bà mẹ Việt Nam tổ chức giỗ chồng bằng âm lịch những vẫn dặn con vào ngày cuối tháng 4, dù ở đâu cũng phải dành cho bố những giây phút tưởng niệm.

Bởi vì thân phụ của các cháu đã chết đúng ngày 30 tháng 4 năm 1975. Tên ông là Lê Nguyên Vỹ, người Sơn Tây, Bắc Việt, chết tại Lai Khê miền Đông Nam Phần.

Ngày nay, tại ngôi đình làng cũ tỉnh Sơn Tây có thờ bài vị của tướng công Lê Nguyên Vỹ, Tư Lệnh Binh Đoàn Số 5 của quân đội Sài Gòn. Ông đã tự sát vào ngày đất nước thống nhất và hòa bình.

 Đó là cách ghi nhận của người đồng hương Sơn Tây với một chút tự hào. Và hình ảnh của ông vẫn trong lòng các con Lê Nguyên Quang, Lê Nguyên Minh, Lê Nguyên Chính và con gái út Lê Nguyên Đại Tường Vi tại miền Virginia Hoa Kỳ.

Đối với lũ trẻ Quang Minh Chính Đại, ba trăm sáu mươi lăm ngày, ngày nào cũng là Ngày Của Mẹ./-

(Nguồn: Fb Kim Anh)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bình luận về bài viết này

Chiếc Xe Hơi Màu Đỏ (ST)

Chiếc xe hơi màu đỏ

(Bài do Võ Thiệu chuyển)

This image has an empty alt attribute; its file name is red-car.jpgTrong chiến tranh, có nhiều chuyện lạ lùng đến khó tin, và đây là câu chuyện được kể lại hôm qua từ một cư dân Kyiv.

Khi rời hầm tránh bom, tôi nhìn thấy ngay một chiếc ô tô màu đỏ còn gắn chìa khóa đậu gần cửa hàng đang bốc cháy. Tôi quan sát nó suốt hai tiếng, nhưng không thấy chủ nhân chiếc xe xuất hiện – gia đình tôi không thể đợi quá lâu…

Tôi  quyết định trộm chiếc xe, khẩn cấp đưa gia đình mình đến Vinnitsa, nơi có nhà của họ hàng để lánh khỏi làn lửa bom đạn. Sau đó, tôi tìm thấy một số điện thoại trong ngăn đựng găng tay nên lập tức gọi vào số ấy với hy vọng gặp được chủ nhân của chiếc xe.

– “Tôi vô cùng xin lỗi vì đã lấy trộm xe hơi của Ông. Chiếc xe đã cứu gia đình tôi!”

 – “Ôi, tốt quá! Bạn hãy thôi lo lắng đi nhé. Tôi có những 4 chiếc xe hơi, chiếc Jeep đã đưa gia đình tôi khỏi Kyiv. Trước khi thoát đi, tôi kịp đổ đầy xăng cho 3 chiếc còn lại, để ở những nơi khác nhau với chìa khóa gắn sẵn trong ổ điện và số điện thoại liên lạc trong ngăn đựng găng tay. Cám ơn Chúa lòng lành, như vậy là tôi đã nhận được đủ cuộc gọi lại từ tất cả các xe, rằng gia đình các Bạn đều bình yên – hẹn gặp lại mọi người. Bảo trọng Bạn nhé!”

Vẫn còn đó nhiều lắm lòng tốt trên đời này. Và trong số đó là từ những con người của đất nước Ukraine anh hùng!

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bình luận về bài viết này

Vòng nguyệt quế cho phố núi cao – tg Trương đình Tuấn

Vòng nguyệt quế cho phố núi cao

       Trương Đình Tuấn

Thi sĩ Vũ Hữu Định làm bài thơ “Còn Chút Gì Để Nhớ” vào năm 1970 khi bị đày lên Pleiku để làm Lao công đào binh. Bài thơ sau đó được nhạc sĩ Phạm Duy – “ông vua” phổ nhạc của Việt Nam đã lấy nguyên bài thơ làm ca từ không bỏ hoặc thêm bớt một từ nào cả. Bản nhạc nhanh chóng được công chúng đón nhận:

unnamed (6)

phố núi cao phố núi đầy sương
phố núi cây xanh trời thấp thật buồn
anh khách lạ đi lên đi xuống
may mà có em đời còn dễ thương

phố núi cao phố núi trời gần
phố xá không xa nên phố tình thân
đi dăm phút đã về chốn cũ
một buổi chiều nào lòng bỗng bâng khuâng

em Pleiku má đỏ môi hồng
ở đây buổi chiều quanh năm mùa đông
nên mắt em ướt và tóc em ướt
da em mềm như mây chiều trong

xin cảm ơn thành phố có em
xin cảm ơn một mái tóc mềm
mai xa lắc bên đồn biên giới
còn một chút gì để nhớ để quê

Vũ Hữu Định đã tiết lộ với bạn bè là “em” trong bài thơ này chỉ là nhân vật mà anh đã… nhặt được trong tưởng tượng trong giây phút linh hiển nhất của mình là khi làm thơ.

Khi Phạm Duy “chắp cánh” cho bài thơ bằng một bài hát bất tử, cả nhà thơ và nhạc sĩ đã đội vòng nguyệt quế cho Pleiku, một miền cao nguyên trung phần quanh năm sương phủ núi đồi, một vùng thủ phủ của quân khu 2 nên lính đóng quân nhiều hơn thường dân ở. Nếu không có bài thơ này thì ít ai biết đến một thành phố xa xôi “quanh năm mùa đông” và những người yêu thơ không thuộc nằm lòng câu: May mà có em đời còn dễ thương.

Bài thơ gắn liền với tên tuổi của Vũ Hữu Định, nhắc đến tác giả là người ta nhớ Còn Chút Gì Để Nhớ và ngược lại. Thi sĩ Kim Tuấn là lính đóng quân gắn bó nhiều năm ở Pleiku, từng làm nhiều bài thơ cho phố núi sương mù này đã thốt lên về Vũ Hữu Định: “Mình từng ăn dầm ở dề ở đây mà chẳng làm được tích sự gì, vậy mà bỗng dưng một gã giang hồ từ đâu đó ghé chơi đã làm bài thơ nổi đình nổi đám cho Pleiku!”

Như vậy mới biết là một địa danh nào đó để cho nhiều người biết đến phải nhờ đến âm nhạc và thi ca. Những cung bậc tài hoa của nghệ thuật đã gây cảm xúc và lưu lại “chút gì để nhớ” để thôi thúc độc giả một ngày nào đó sẽ làm du khách được ghé thăm.

.unnamed (9)

Pleiku thập niên 1960

Bài thơ được đăng trong báo Khởi Hành năm 1970, được lọt vào mắt của Phạm Duy, và nhạc sĩ đã tìm lên đến Pleiku để gặp Vũ Hữu Định, người lính đào ngũ hai năm rồi bị bắt đày lên cao nguyên để phục dịch chiến trường.

Trong một buổi chiều họp mặt nhiều văn nghệ sĩ của Pleiku, trong đó có tác giả của “Còn Chút Gì Để Nhớ” – Vũ Hữu Định. Anh mặc cái áo màu xám khắc sau lưng bốn chữ LCĐB (Lao công đào binh). Trong giới văn nghệ, người ta quí trọng tài năng của nhau chứ không phân biệt người đương thời quan cách và kẻ làm tội nhân.

Phạm Duy đã rút giấy bút ra từ túi áo và kẻ rất nhanh những dòng nhạc, rồi hát thử cho mọi người nghe bài Còn Chút Gì Để Nhớ và sau đó bài hát đã nổi tiếng ngay sau khi phát hành.

Thi sĩ Vũ Hữu Định tên thật là Lê Quang Trung (1942- 1981) sinh tại Thừa Thiên. Đã từng sống nhiều nơi ở Cao nguyên và Đà Nẵng, anh sống nghèo túng trong khoảng đời ngắn ngủi của mình, có tật mê rượu và thường giang hồ lang bạt đi đây đi đó.

unnamed (10)

Anh đã có nhiều thơ đang rải rác ở các báo với nhiều bút hiệu khác nhau và cuối cùng tên Vũ Hữu Định mới được nhiều người biết đến sau khi bản nhạc Còn Chút Gì Để Nhớ ra đời.

“Giang hồ đâu cần ai phong ấn”

Chỉ trong chuỗi ngày giang hồ của mình, Vũ Hữu Định để lại cho đời một bài thơ làm nhiều người biết và để ý đến phố núi Pleiku. Tác phẩm đôi khi do ghi lại tình tiết của đời tư của nghệ sĩ, và nghệ phẩm không phải xuất xứ từ salon, từ chăn êm nệm ấm, mà từ nỗi đày ải nhân gian mà tác giả đã trải qua.

Một địa danh vốn ở ngoài đời đã đẹp, khi đi vào thi ca và âm nhạc sẽ trở thành nên thơ hơn, làm du khách muốn đến thăm hơn. Như bài thơ Đây Thôn Vỹ Dạ của Hàn Mặc Tử và bài nhạc Ai Lên Xứ Hoa Đào của Hoàng Nguyên.

Tôi đã có một đôi lần ghé lại Pleiku, từ con dốc cao đổ vào trung tâm, đã thấy “quanh năm mùa đông” ở trên từng màn sương ướt màu thông xứ sở cao nguyên. Không thể không nhớ đến một gã giang hồ làm thơ Vũ Hữu Định tài hoa bạc mệnh đã từ giã cuộc chơi trần thế vào năm 39 tuổi.

Tôi đi trong hoài tưởng về một Pleiku ngày ấy đã được Vũ Hữu Định khoác lên cho chiếc áo thi ca, đi loanh quanh hết mấy con đường không còn mù bụi đỏ như xưa để có đúng là “đi dăm phút đã về chốn cũ” không?

“Xin cảm ơn một mái tóc mềm” nào đó của Vũ Hữu Định đã cho chúng ta những hình dung về một phố núi cao nguyên Pleiku ngoài đời và một miền sương mù bất tận trong thơ. Một mái tóc mềm dẫu không có thật ở ngoài đời cũng kệ, cũng đủ làm cho May Mà Có Em Đời Còn Dễ Thương.

Sinh thời Vũ Hữu Định không có thi phẩm nào được xuất bản. Phải tới năm 1996, thi phẩm Còn Một Chút Gì Để Nhớ của anh, gồm 45 bài, mới được ấn hành, do sự đóng góp (công và của) của bằng hữu, nhất là của Trần Từ Duy.

Một đêm thơ Vũ Hữu Định được tổ chức tại Phú Nhuận để ra mắt thi phẩm, qui tụ rất đông bạn hữu và người hâm mộ, và nhờ đó, bà Kim Vân, vợ nhà thơ, đã tu sửa được cho chồng một nấm mồ khang trang tại nghĩa địa Gò Cà, Đà Nẵng. Bà là nhân vật trong bài thơ Cảm Ân Người Vợ Khổ của Vũ Hữu Định:

Lần nào em sinh nở
Anh cũng trên đường xa
Lần này em sinh nở
Anh cũng không có nhà.

Vũ Hữu Định tên thật là Lê Quang Trung, sinh tại Thừa Thiên, 1942, mất 16 tháng 1 Tân Dậu (1981) bên bờ Sông Hàn, Đà Nẵng.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bình luận về bài viết này

Lịch sử Phi Trường Tân Sơn Nhất

ĐÔI ĐIỀU THÚ VỊ
VỀ PHI TRƯỜNG TÂN SƠN NHẤT

Phi trường Tân Sơn Nhứt là một trong những sân bay nhộn nhịp hàng đầu thế giới vào khoảng hơn 50 năm trước.

“Ngày đó, cứ trung bình mỗi phút, sẽ có một chuyến máy bay cất cánh hoặc hạ cánh ở phi trường này. Thậm chí, những giờ cao điểm, mật độ cất cánh và hạ cách của các chuyến bay chỉ còn có 30 giây”.

Sân bay Tân Sơn Nhứt là sân bay dân sự và quân sự. Hầu như các chuyên cơ chở người dân và các máy bay phục vụ quân sự đều tập trung về đây, từ trực thăng đến các chiến đấu cơ siêu thanh, từ những phi cơ phản lực tân tiến nhất đến những chiếc máy bay với cánh quạt cũ kỹ…

Ông Huỳnh Minh Bon – cựu phi công sống tại Sài Gòn hơn 40 năm trước vẫn còn nhớ như in cái thời Tân Sơn Nhứt nhộn nhịp và được mệnh danh là phi trường bận rộn nhất trên thế giới. Không chỉ những phi công Việt Nam, các chuyên gia Hoa Kỳ với nhiệm vụ trợ giúp việc điều hành sân bay thời kỳ này cũng không thể phủ nhận rằng: nhân viên Việt Nam ở sân bay Tân Sơn Nhứt, đặc biệt là bộ phận không lưu là những người xuất sắc, kỹ năng tốt, chuyên môn giỏi mới có thể đảm đương nổi khối lượng phi suất khổng lồ đó.

Mỗi phút một chuyến bay

Số báo 134 của tờ báo Sài Gòn xuất bản vào ngày 2-4-2967 có một bài báo viết rằng: “45,000 phi cơ lên xuống Tân Sơn Nhứt trong một tháng”.

Bài báo thông tin rằng phi trường đang chuẩn bị hoàn thành đường băng hạng A thứ hai. Bài báo còn nói thêm rằng: Chiến tranh tại Việt Nam đã làm phi trường Tân Sơn Nhứt trở thành một trong những phi trường bận rộn nhất trên thế giới với trung bình 45,000 phi cơ đủ loại cất và đáp mỗi tháng”.

unnamed (1) (1)

Theo số liệu đó, ước tính mỗi ngày, sân bay Tân Sơn Nhứt có 1500 chuyến bay cất cánh và hạ cánh, nghĩa là chưa đầy 1 phút, có một lượt máy bay hoặc bay hoặc đáp tại phi trường này.

Một số tài liệu quý hiếm được lưu trữ còn khẳng định rằng, sự phát triển của sân bay Tân Sơn Nhứt còn nhanh hơn dự tính và hoạch định của các nhà cầm quyền miền Nam Việt Nam và cả những kỹ sư hàng không giỏi.

unnamed (2) (1)

Sự phát triển nhanh chóng của sân bay Tân Sơn Nhứt được thể hiện rõ nét từ năm 1959, phi trường chỉ mới đón nhận 104,000 hành khách. Vậy mà chỉ 8 năm sau, tức năm 1967, số lượng hành khách đã tăng lên đến 1,150,000 người. Không dừng lại ở đó, chỉ 2 năm sau đó, tức vào năm 1969, số lượng người thuyên chuyển tại phi trường này tăng lên gấp đôi tương đương 2,312,000 người.

Số liệu này tuy không thể hiện rõ sự nhộn nhịp của máy bay hạ cánh và cất cánh ở sân bay thế nào, nhưng những con số đó cũng một phần cho thấy sự gia tăng nhanh chóng số lượng hành khách, kéo theo đó là số lượng phi cơ phải tăng lên đáng kể.

unnamed (3) (1)

Hơn nữa, giai đoạn những năm 60-70 là giai đoạn miền Nam Việt Nam đang trong thời kỳ chiến tranh, bên cạnh các chuyến bay thương mại, số lượng và tần suất hoạt động các máy bay quân sự, các chiến đấu cơ cũng cất cánh và hạ cánh ở phi trường này cao hơn gấp nhiều lần.

Năm 1960, số lượt máy bay cất-hạ cánh ở Tân Sơn Nhứt là 40,000. Vậy mà đến năm 1962, con số này tăng kỷ lục lên đến 862,000 chuyến – đứng thứ nhất trong các sân bay Châu Á và nằm trong top đầu của thế giới.

unnamed (4) (1)

Ông Hàn Khải Nguyên, một nhân viên an ninh sân bay thời kỳ này cho hay: “Các vòng an ninh chung bên ngoài thuộc trách nhiệm của quân đội.”

Lý do là từ năm 1955, phi trường Tân Sơn Nhứt thuộc yếu khu Tân Sơn Nhứt – khu vực quân sự thuộc kiểm soát của lực lượng không quân.

Ông Hàn Khải Nguyên cho biết thêm: “chúng tôi thuộc bộ phận kiểm soát các cổng ra vào máy bay và thường ở trong tình trạng căng thẳng do công việc quá tải. Ngày đó nhân viên phục vụ hàng không dân sự còn rất ít người so với bây giờ nhưng người dân đến các tỉnh xa toàn đi bằng máy bay, bởi nó vừa nhanh lại vừa an toàn với tình hình chiến sự lúc bấy giờ”.

Đến năm 1970, dưới thời Việt Nam cộng hòa, ở miền Nam có số lượng phi trường nhiều nhất thế giới với tất cả 500 phi trường lớn nhỏ phục vụ dân sự và quân sự. Trong số đó có 8 phi trường lớn với đường bằng dài hơn 2500 mét như Tân Sơn Nhứt, Đà Nẵng, Nha Trang… Những đường băng lớn này có thể tiếp nhận các loại máy bay lớn như Boeing 727, 707, và DC8…

Ngoài những phi trường lớn ra, miền Nam còn có 4 phi trường với đường bằng dài 1800-2500m, 3 đường băng dài 1280-1800, 60 phi trường có đường băng dài 1060m, 15 phi trường có đường bằng dài gần 1000m và các sân bay trực thăng.

Những lần nâng cấp nhà ga

Bởi lượng khách ngày càng gia tăng, để nâng cao chất lượng phục vụ, sân bay Tân Sơn Nhứt được nâng cấp tổng cộng 4 lần kể từ năm 1954 đến năm 1975. Diện tích sân bay đầu tiên khi Pháp để lại là 1800m2, đến năm 1956 -1957, sân bay được mở rộng với diện tích lên đến 2500m2. 3 năm sau, diện tích lại được nâng lên đến 2800m2. Đặc biệt, đến năm 1964, sân bay tiếp tục mở rộng diện tích lên thành 6000m2. Ngoài diện tích Ty Hành Dịch, văи phòng các hãng, sảnh đời của hành khách có diện tích dài 72m, rộng 15m. Ngoài ra, sân ba còn có cả một sân thượng để người Sài Gòn có thể ngắm cảnh máy bay cất cánh – hạ cánh.

unnamed (5) (1)

Mặc dù vậy, chỉ một thời gian sau, nhà ga lại bị quá tải. Chính quyền miền Nam Việt Nam lại tiếp tục mở rộng diện tích đến 10.800m2. Trong đó, nhà ga dành cho hành khách Quốc Tế chiếm 6000m2, nhà ga cho khách nội địa chiếm 3000m2 và một nhà ga riêng biệt rộng đến 1800m2 chuyên dành cho quân nhân bay những chuyến bay quốc tế. Dự án mở rộng sân bay được thực hiện từ năm 1969 – 1972 với số tiền đầu tư là 1 triệu USD do Mỹ viện trợ.

Ước tính từ năm 1960 đến năm 1972, sân bay Tân Sơn Nhứt đã được đầu tư nâng cấp và mở rộng với số vốn 35 triệu USD.

unnamed (7) (1)

Đặc biệt, sau khi nâng cấp sân bay lên đến 10,800m2 vừa được đưa vào sử dụng. Một kế hoạch nâng cấp mới lại được trình lên Phủ Tổng Thống Việt Nam cộng hòa. Bởi khu vực hành khách quốc tế chỉ có thể nhận được 250 hành khách từ một chuyens bay. Trong khi đó, máy bay Boeing 747 với lượng hành khách trên 500 người. Dự án nâng cấp nhà ga với tổng diện tích lên đến 30,000m2, nằm trong dự án quy hoạch tổng thể phát triển Sài Gòn – Hòn Ngọc Viễn Đông.

Ngày 7/1/1971, Nguyễn Đức Súy – giám đốc Nha Căи Cứ Hàng Không đã tổ chức một cuộc họp đặc biệt với các phái đoàn viện trợ Mỹ, tổng cục tiếp vận của bộ tổng tham mưu, Nha hàng không dân sự, bộ tự lệnh không quân,… để họp bàn về dự án nghiên cứu và phát triển Tân Sơn Nhứt thời hậu chiến.

Mục tiêu và nhiệm vụ đặc ra là quy hoạch phi trường cho đến năm 1990, hoạt động máy bay Boeing 747.

unnamed (10)

Trong cuộc họp quan trọng này, bên cạnh các ý kiến về việc mở rộng thêm quy mô phi trường, Tổng cục tiếp vận – đại tá Nguyễn Văn Tám cũng đã đưa ra đề xuất xây thêm một sân bay mới ở vùng Dĩ An, ngay cửa ngõ Sài Gòn – Biên Hòa – Bình Dương để hạn chế việc sân bay Tân Sơn Nhứt bị quá tải. Thế nhưng, tình hình chiến sự và những thay đổi lịch sử khiến cho dự án này không thể thành hiện thực.

Những vị hành khách thời chiến

Bà Trần Thị Phượng là một hành khách thường xuyên của đường bay Sài Gòn – Pleiku từ những năm tháng ấy. Bà chia sẻ rằng, cha bà hồi đó là công chức Sài Gòn, được lệnh biệt phái lên Pleiku hỗ trợ. Vì vậy, mẹ con bà thỉnh thoảng lại bay lên Pleiku để thăm ba. Hồi đó, mẹ và bà đón xe của Air Việt Nam ở khách sạn Rex. Chiếc xe này đến đón hành khách tại cổng khách sạn rồi chở trực tiếp đến khu an ninh chung chứ không được ra vào tự do như bây giờ.

unnamed (11)

Bà vẫn còn nhớ những cô tiếp viên mặc áo màu xanh da trời, đầu đội mũ ca lô, đeo găиg tay trắng với cung cách phục vụ rất lịch sự.

Những chuyến bay thời đó chỉ là loại máy bay nhỏ với cánh quạt DC4, DC6, có thể chở được vài chục người mỗi chuyến. Hành khách trên chuyến bay được phát cho bông gòn để nhét tai, tránh bị ù tai.

Tình trạng trễ chuyến bay cũng xảy ra rất nhiều lần. Bà Phương nhớ lại, có lần, lịch trình bay khởi hành từ Pleiku về Sài Gòn vào buổi sáng, vậy mà bà và mẹ phải chờ đến tận 4h chiều mới được lên máy bay. Về đến Sài Gòn thì thành phố cũng đã lên đèn từ lâu.

unnamed (12)

“Hồi đó máy bay đi nước ngoài có nhiều hảng lắm. Nḥưng bay nội địa thì chỉ có mỗi hàng Air Việt Nam” – bà nói thêm.

Trước năm 1975, phi trường Tân Sơn Nhứt có 16 công ty hàng không nước ngoài hợp tác và khai thác đường bay quốc tế. Trong đó có các hãng hàng không nổi tiếng đến tận ngày nay như Cathay, PANAM, Air France… Ngoài vận chuyển hành khách dân sự, các hãng hàng không quốc tế còn chở quân nhân Mỹ đến Việt Nam trong cuộc chiến và cả đồng minh.

unnamed (13)

Máy bay AC-119G bay phía trên căn cứ không quân Tân Sơn Nhứt vào năm 1969. Con đường thẳng trước mặt là đường Quang Trung Gò Vấp. Khu vực được phủ bởi một màu xanh, có nhiều cây cối là sân Golf. Bên góc trái là giao lộ Ngã 5 Chuồng Chó, ngày nay là ngã 6 Gò Vấp.

unnamed (6)

Trực thăиg quân sự trong sân bay

unnamed (1) (2)

 Máy bay chiến đấu AC-47 đang đỗ tại Sân Bay

unnamed (2) (2)

Trực thăиg vận tải

unnamed (3) (2)

Nữ tiếp viên 

Sưu tầm

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bình luận về bài viết này

Chỉ Có Mẹ và Chỉ Có Mẹ Mà Thôi_Huỳnh Quốc Bình

CHỈ CÓ MẸ VÀ CHỈ CÓ MẸ MÀ THÔI

Huỳnh Quốc Bình

(Bài do Bửu Hồng chuyển)

This image has an empty alt attribute; its file name is chi-co-me.jpg… Chỉ có mẹ ruột mới dám chết cho con mình chứ không một người đàn bà nào dám chết thay cho con của người khác…

 Có những ông chồng cái gì cũng đùn cho vợ làm, cái gì cũng để vợ lo, còn mình cứ ỳ ra đó không làm gì cả, mà chỉ chờ ngày Mother’s Day hằng năm của người Mỹ, vội vã ra chợ mua một bó hoa và tấm thiệp về tặng vợ để chứng tỏ tình yêu của mình đối với nàng. Có những người con hay nói, “Mom, I love you”, nhưng Mom, hằng ngày phải làm việc theo kiểu “Đầu tắt mặt tối”, hay “Đầu bù tóc rối” mà con không hề bận tâm. Ngoài giờ học hay đi làm, con chỉ lo vui chơi, riêng Mom cực nhọc muốn “Chết Mom của Mom” luôn, mà con không biết. Có những người con chỉ chờ ngày Mother’s Day hằng năm, mua một bó hoa hay tấm thiệp có in sẵn vài câu tiếng Anh từ tiền của Mom, và cứ nói như cái máy, “I love you, Mom” là xong, chờ năm sau nói tiếp hay viết tiếp.

Xin thú thật, tôi không có thói quen mua bông hoa hay thiệp để tặng vợ vào ngày nêu trên, nhưng hằng ngày tôi luôn tiếp Nhà Tôi một tay cho bất kỳ công việc lớn hay nhỏ và luôn chú ý đến việc săn sóc nhau. Ngày lễ dành cho các Bà Mẹ, bài viết này là món quà tôi dành để trân trọng tặng Nhà Tôi, hầu nói lên sự cảm ơn của tôi đối với nàng, và cũng để các bà mẹ Việt Nam đọc cho vui hay cho “đời bớt khổ”.

Tại Hoa Kỳ, hằng năm vào Chúa Nhật thứ nhì của Tháng 5, nguời bản xứ chọn làm ngày đặc biệt dành cho mẹ, gọi là Mother’s Day. Người Việt Nam tại hải ngoại chỉ mới chú ý ngày này về mặt hình thức sau ngày 30-4-75. Đối với một số người con có hiếu phía người Việt, trọn năm, ngày nào cũng đều đặc biệt dành cho Mẹ hết cả. Tôi tin người Việt Nam nào cũng đều biết đến ý tình của nhạc phẩm Lòng Mẹ do nhạc sĩ Y Vân sáng tác. Những câu độc đáo và ý nghĩa như, “Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào. Tình mẹ tha thiết như dòng suối hiền ngọt ngào. Lời ru êm ái như đồng lúa chiều rì rào. Tiếng ru bên thềm trăng tà soi bóng mẹ yêu.”

Nếu có bà mẹ nào vừa sanh con ra, bị người khác áp bức phải chia lìa tình mẫu tử, hoặc những bà mẹ không bình thường, quyết định vứt bỏ con mình, không tính; chứ không một bà mẹ nào muốn lìa xa con mình vĩnh viễn. Hầu hết các bà mẹ trên thế giới, nhất là bà mẹ Việt Nam đều có thể chết thay cho con mình một cách không cần đắn đo suy nghĩ. Ngay cả các loài vật cũng thương con. Bằng chứng, hổ không ăn thịt con. Riêng hình ảnh con gà mái túc con là gần gũi với loài người nhất.

 Trong xã hội, tôi thấy không ít người mơ hồ về tình mẫu tử thiêng liêng, nên cứ tưởng, một người đàn bà nào khác có thể thương mình hơn mẹ ruột mình, nên mới xảy ra tình trạng người con quay lưng với mẹ. Tôi có thể nói mà không sợ sai, chỉ có mẹ ruột mới dám chết cho con mình, chứ không một người đàn bà nào dám chết thay cho con người khác dù họ cũng có lòng thương người. Loài vật có hình ảnh con gà mái hiền hòa, xoè đôi cánh nhỏ bé để che chở cho đàn gà con trước móng vuốt diều hâu. Gà mẹ sẵn sàng sống chết với kẻ địch hung tợn để bảo vệ sự sống cho còn mình là một hình ảnh chứng minh hùng hồn nhất về tình mẹ thương con của loài vật. Loài vật mà còn sống chết với con mình như thế, loài người chắc chắc phải trội hơn nhiều. Thiết nghĩ, tôi không cần phải liệt kê một trường hợp nào về phía người Việt Nam bởi ai cũng biết nhiều câu chuyện sống động khác nhau về, “Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình”.

Mẹ mừng đến trào nước mắt khi con chào đời. Mẹ lo đến khóc khi ngày đầu con vào trường.  Mẹ khóc khi con trai nhập ngủ vào quân đội. Mẹ khóc khi con gái về nhà chồng, và khi con trai có vợ đòi ra riêng. Mẹ buồn khổ khi hay tin con mình dang dở tình yêu. Me đau lòng khi con bị chồng phụ bạc hay vợ quay lưng. Mẹ thương con, không muốn xa con, nhưng vì tương lai của con nên đành phải gửi con đi vượt biển tìm tự do cho một tương lai chói lọi sau này. Mẹ cắn răng nuốt vào lòng điều sỉ nhục từ nàng dâu hỗn hào để duy trì hạnh phúc cho con trai. Mẹ nhẫn nhịn thằng rể thiếu lễ độ để hạnh phúc con gái mình tồn tại. Mẹ nuốt những u uất vào lòng để các con không biết cha chúng nó phản bội mình, hầu con cái an tâm học hành đổ đạt. Mẹ chịu khổ để nhịn cho con ăn và nhường cho con mặc. (Vì sự giới hạn của bài viết, tôi không thể liệt kê hết về tình cảm bao la của mẹ dành cho con cái. Xin quý độc giả vui lòng suy nghĩ tiếp giùm người viết.)

Không phải vô lý mà người xưa có những lời nói trở thành tục ngữ hay ca dao, “Mẹ nuôi con như biển Hồ lai láng, con nuôi mẹ, tính tháng tính ngày.” Có những câu khác rất thực tế ngoài đời, “Một bà mẹ nuôi nổi mười đứa con, nhưng mười người con không nuôi nổi một bà mẹ.”

Có những bà mẹ chồng hay mẹ vợ thuộc thành phần có tánh tình khó khăn, nên không muốn sống chung với con cái đã lập gia đình, không nói làm chi. Những người con trai hoặc con gái sống trong nhà cao, cửa rộng với chồng con, hay vợ con mà không có được cái phòng hay cái giường cho mẹ mình trong căn nhà to lớn, hay biệt thự sang trọng của mình, còn gì phũ phàng hơn? Tại hải ngoại này, không thiếu cảnh, “Mẹ già hết gạo treo niêu, mà anh khăn đỏ khăn điều vắt vai.” (CD)

Hình ảnh người con ung dung sống trong nhung lụa với vợ con hay chồng con của mình, để mặc cho cha mẹ sống trong túng quẫn, cô đơn, cả năm không thăm viếng được một lần, không thiếu trong xã hội ngày nay. Nhiều trường hợp cho thấy có những người từng xem thường cha mẹ, nhưng sau khi cha mẹ qua đời, mới thi nhau xây mồ cho thật lớn để báo hiếu theo kiểu theo kiểu, “Sống nhà lá, chết nhà lầu.” Đúng là, “Mẹ già ở chốn lều tranh. Đói no chẳng biết, rách lành không hay.” (CD)

Ai được cơ hội phụng dưỡng cha mẹ, nhất là người mẹ, đối với tôi là một đại phước. Bổn phận làm con phải tuyệt đối cư xử với mẹ mình giống như câu ca dao, “Mẹ già đầu bạc như tơ. Lưng đau con đỡ, mắt lờ con nuôi.” Anh nào, chị nào thấy chồng mình hay vợ mình vì muốn chìu ý mình bằng cách đẩy cha mẹ ra ở riêng cho nhà cửa không còn mùi dầu cù là, mùi dầu xanh, mùi của thuốc dán “salonpas”, hoặc không còn nghe tiếng ngáy lớn, hay tiếng ho hen v.v… Các bạn nên chuẩn bị tinh thần, khi các bạn chẳng may đau yếu hay trở nên tàn phế, các bạn cũng sẽ lãnh hậu quả tương tự. Tôi dám bảo đảm điều đó bởi “Quả báo nhãn tiền”.

Có những người con không ý thức là nhờ ai mà họ học hành đổ đạt để ngày nay có địa vị quan trọng trong xã hội với đời sống vật chất hơn người. Đại đa số bạn trẻ được thành công là nhờ công ơn cha mẹ, nhất là người mẹ. Tiếc thay, trong xã hội không thiếu những người con có thái độ khinh thường cha mẹ. Có người không dám giới thiệu cha mẹ mình với bạn hay người khác bởi vì cha mẹ người ta sang trọng, còn cha mẹ mình quê mùa, thất học nếu để người ta biết sẽ mất mặt. Loại con này nếu ai dám làm bạn hay chọn làm người phối ngẫu, quả thật là một cuộc phiêu lưu tình cảm. Cha mẹ của họ mà họ còn không dám nhìn nhận, còn mình sẽ ra sao nếu chẳng may sa cơ thất thế? Thánh Kinh Cựu Ước khuyến cáo phận làm con như sau, “Chớ khinh bỉ mẹ con khi người trở nên già yếu” (Châm-Ngôn 23: 22b).

Có nhiều trường hợp, con cái không vâng lời mẹ, tin tưởng người yêu rồi bụng mang dạ chửa và tàn tệ hơn khi tác giả bào thai “Xa chạy cao bay”. Trước hoàn cảnh này, mẹ là người lãnh đủ những cai đắng, tủi nhục đến từ chồng, từ gia đình nội ngoại hai bên và xã hội. Chỉ có mẹ và chỉ có mẹ mới chịu đựng nỗi những khó khăn này mà thôi. Bạn trẻ nào dù không phải là Cơ Đốc Nhân, nếu muốn nên người, các bạn cũng nên nhớ nằm lòng lời khuyến cáo của Thánh Kinh, “Hỡi con, hãy giữ lời răn bảo của cha, chớ lìa bỏ các phép tắc của mẹ con” (Châm-Ngôn 6: 20).

 Tại hải ngoại, nhiều bà mẹ hay bà chị trong một số gia đình Việt Nam đã tình nguyện “mù chữ” để con mình hay em mình trở thành người khoa bảng, học rộng hiểu cao. Có người may mắn được con hay em trân quý công lao của họ, nhưng có người bạc phước nên bị lãng quên vì cái tội “mù chữ”.

Nhắc đến tấm lòng người mẹ, tôi không thể quên “Khúc Xương Sườn” của tôi. Tình thương của Nhà Tôi dành cho con cái, vô bờ bến. Nàng làm việc siêng năng, cực nhọc và luôn “hà tiện” cho nàng, nhưng rộng rãi với chồng con và cư xử hết lòng với ông bà, cha mẹ, anh chị em, họ hàng hai bên, và bằng hữu. Trong đời sống hằng ngày, nàng thường sử dụng các đồ vật thuộc loại “second hand” từ chồng con. Nàng không màng đến các loại nữ trang đắc giá hay phải có sự trang sức diêm dúa để hơn người. Nàng chỉ có “khuyết điểm” là không giỏi nói yêu thương, hoặc ra vẻ yêu thương người khác bằng những lời hoa mỹ. Đề cập đến điều này, tôi có thể bị mang tiếng là ca ngợi vợ, nhưng tôi không ngại. Thà tôi bị mang tiếng là người thích khen vợ, hơn là trở thành “thằng chồng” bất nghĩa, chuyên nói xấu vợ mình. Đối với tôi, ông nào thuộc thành phần “văn người, vợ mình”, tôi mới phục.

Kết luận

Lòng mẹ thật sự bao la như Biển Thái Bình. Chỉ có loại “mẹ mìn” mới cư xử xấu với con mình, chứ không bà mẹ hiền nào lại có thể ruồng bỏ con cái và có hành động “ruột bỏ ra, da bỏ vào”. Chỉ có những đứa con bất hiếu mới cư xử tệ bạc với mẹ mình. Đừng ai vì quá tin tưởng hay mơ hồ về tâm địa của chồng hay vợ mà ruồng bỏ mẹ mình. Đừng vì quá đơn giản trong suy nghĩ, mà vô tình biến mẹ mình thành một thứ nô lệ không lương, hoặc “Mụ già” mang tiếng là ăn nhờ ở đậu để được hưởng chút “Canh thừa cá cặn”. Đừng bao giờ nói yêu mẹ bằng cái miệng, mà hãy để tâm chăm sóc mẹ mình hay mẹ của người phối ngẫu một cách hết lòng. Đừng vì quá u mê đến nỗi không thấy những hành động, lời nói ngon ngọt theo kiểu giả dối của người phối ngẫu đối với mẹ mình. Hãy coi chừng về tình trạng khi có sự hiện diện của mình mọi chuyện đều tốt đẹp, nhưng khi khuất mắt mình, bao nhiêu ê chề mẹ phải cắn răng cam chịu vì hạnh phúc của mình. Đừng ai ngu xuẩn để có thái độ thiếu tôn trọng mẹ của mình. Mình không biết tôn trọng mẹ mình, đừng hòng người phối ngẫu trọng mẹ của chúng ta.

Huỳnh Quốc Bình

Mother’s Day 2022

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bình luận về bài viết này

Giấc Mơ Xanh của TT Biden đối diện với thực tế

This image has an empty alt attribute; its file name is blue-dream.jpgGIẤC MƠ XANH CỦA TỔNG THỐNG BIDEN

ĐỐI DIỆN VỚI THỰC TẾ

Đại-Dương

Đã có biết bao trường hợp cả thành phố chìm trong lòng biển, hoặc núi lửa phun trào quét sạch xóm làng dù lúc ấy chưa ai biết dầu hoả là cái chi chi. Tai trời, ách nước xảy ra khi nhân loại chỉ biết dùng củi, rơm để sưởi ấm và nấu nướng để khỏi phải ăn tươi, nuốt sống.

Cuộc sống của nhân loại đã bước vào thời đại văn minh, hiện đại hơn khi dầu hỏa được tìm thấy. Nó đã đưa cuộc sống loài người vào giai đoạn phát triển cao hơn bao giờ hết.

Các lời tiên đoán, tiên tri “chính xác về ngày giờ” Bắc Cực không còn khối băng nữa, hoặc các quốc gia duyên hải sẽ chìm dưới mực nước qua nhiều thời đại khác nhau vẫn chưa xảy ra mà chỉ có một số hoạt động lấn biển để mở mang bờ cõi.

Quả thực đã có một số quốc gia bị chìm trong lòng biển vào lúc mà nhân loại chưa biết khai thác và sử dụng nhiên liệu hóa thạch!

Ngay bây giờ, khối băng ở Bắc Cực vẫn còn đó, chưa có quốc gia duyên hải nào chìm vào lòng biển mà sao chưa thấy các “nhà tiên tri” công khai thừa nhận đã tiên đoán sai và lầm giữa hiện tượng và bản chất?

Lý thuyết “hâm nóng toàn cầu” hiện thời đã buộc tội nhiên liệu hóa thạch là tác nhân chính làm mất sự an toàn của nhân loại. Họ cố tình quên rằng chính nhiên liệu hóa thạch đã tạo điều kiện thuận lợi cho nhân loại thực hiện những bước nhảy vọt đã từng mong ước từ ngàn xưa.

Cơ quan thông tin năng lượng Hoa Kỳ (EIA) ước tính năm 2006 rằng nguồn năng lượng nguyên thủy bao gồm 37% dầu mỏ, 26% than (bao gồm than nâu và than đá), 23% khí thiên nhiên, chiếm 86% nhiên liệu nguyên thủy được sản xuất trên thế giới. Các nguồn nhiên liệu không hóa thạch bao gồm thủy điện 6%, năng lượng hạt nhân 6% trong khi năng lượng địa nhiệt, năng lượng mặt trời, năng lượng gió, nhiên liệu gỗ, tái chế chất thải chiếm 0.9%. Việc tiêu thụ năng lượng trên thế giới tăng 2.3%/năm.

Nền văn minh nhân loại hiện nay không thể thiếu sự hỗ trợ của nhiên liệu hóa thạch vì chẳng có ai muốn trở lại thời kỳ hái lượm, ăn lông ở lỗ như thuở xa xưa.

Con người vừa dùng năng lượng hóa thạch để tìm kiếm các biện pháp giảm thiểu sự tác hại của nó vừa cố gắng sáng tạo ra một loại nhiên liệu có thể thay thế toàn bộ năng lượng hoá thạch mà không cản trở hoặc làm chậm tiến trình văn minh của nhân loại.

Tổng thống Joe Biden tin tưởng tuyệt đối vào biện pháp trừng phạt kinh tế nước Nga khi sau Tổng thống Vladimir Putin mở cuộc xâm lăng Ukraine từ ngày 24/02/2022, đặc biệt cắt đứt nguồn tài chính từ dầu khí của Nga.

Joe Biden tin tưởng mù quáng vào Lý thuyết Hâm nóng Toàn cầu nên ban hành các biện pháp “cấm dầu nghiêm ngặt” mà chỉ vài tháng sau đã gặp phản ứng bất lợi cho nền kinh tế toàn cầu.

Giá dầu hoả từ 45 USD/thùng vọt lên 110 USD/thùng làm hồi sinh Tổ chức Các nước Xuất cảng Dầu hoả (OPEC) để tiếp tục cầm trịch giá dầu hỏa trên thế giới. Tổng thống Biden liền tháo khoán 80 triệu thùng dầu trong Kho dầu Dự trữ Chiến lược 638 tỷ thùng. Nhưng, giá dầu thô Brent hôm 22/4/2022 tăng lên 109 USD/thùng.

Tổng thống Biden tin tưởng vào biện pháp cấm vận nhiên liệu hóa thạch sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng tới nền kinh tế nước Nga mà không cần dùng tới các biện pháp quân sự đối đầu với cuộc xâm lăng Ukraine.

Nền kinh tế Nga vẫn đứng vững sau chút dao động ban đầu nhờ: (1) Tổng thống Putin đã tồn trữ một số vàng nhiều nhất thế giới sau các cuộc xâm lăng Gruzia năm 2008 và cướp đoạt trắng trợn Bán đảo Crimea năm 2014, chuẩn bị cho cuộc xâm lược Ukraine năm 2022. (2) Sản lượng dầu khí xuất cảng của Nga không suy giảm và hệ thống cung cấp dầu hỏa để đối phó với các biện pháp cấm vận của Biden vẫn được duy trì.

Trong bài “Who is buying bargain Russian oil in Asia?” trên tờ Nikkei ngày 22/04/2022 ghi nhận từ ngày 24 tháng 2 cho đến 18 tháng 4/2022 đã có 380 tàu chở dầu rời Nga so với 357 trong cùng kỳ vào năm ngoái. Sau vụ lính Nga sát hại thường dân Ukraine ở thị trấn Bucha ngày 2 tới 4 tới 18/4 đã có 119 tàu chở dầu Nga rời bến so với 109 cùng kỳ năm ngoái.

Trong số 380 tàu chở dầu xuất phát đã có 115 chiếc hướng về Châu Á: Trung Quốc 52 (tăng 33%), Đại Hàn 28, Ấn Độ 25 (gấp 8 lần), Nhật Bản 9 và Mã Lai Á 1 (cùng giảm 16%).

380 tàu chở dầu này đã có 41 chiếc đến Hoà Lan, 36 đến Ý, 9 đến Đức.

Nhân loại hiểu rất rõ, thiếu nhiên liệu hóa thạch thì nền kinh tế thế giới sẽ sụp đổ nếu không tìm được một loại nhiên liệu tốt và dồi dào hơn.

Các quốc gia Châu Á biện minh cho việc mua dầu hoả của Nga: (1) Vì không có đoàn tàu chở dầu và các hãng bảo hiểm từ chối bảo kê cho các tàu chở dầu đến Nga. (2) Tỉ lệ mua dầu của Nga thấp hơn các quốc gia Châu Âu. (3) Giá dầu của Nga rẽ hơn là dịp tốt để tiết kiệm ngân sách quốc gia. Mạc Tư Khoa đồng ý bán đồng rúp (ruble) cho các nước mua dầu dễ thanh toán theo điều kiện mới của Putin.

Hoa Kỳ cấm các nước dùng đô la Mỹ để mua dầu hoả của Nga trong khi Mạc Tư Khoa đòi các nước mua dầu hoả phải trả bằng đồng Rúp (Ruble) của Nga.

Biden đã thua keo này!

Do áp lực của dân Mỹ và nhu cầu sản xuất của thế giới nên Hôm 15/4/2022, Chính quyền Biden phải nối lại việc cho thuê 144,000 đất của Liên bang, giảm 80% so với dự trù, và đánh thuế tài nguyên cao hơn đối với dầu hoả và khí đốt. Biden cho ra bằng tay trái và cướp lại bằng tay phải có thể không đủ bảo đảm cho các nhà khai thác nhiên liệu hoá thạch hành nghề.

Đại diện cho Các nhà Sản xuất Độc lập, Anne Bradbury khuyến cáo Chính phủ làm nhiều hơn nữa.

Ứng cử viên Biden muốn dừng các hoạt động khoan dầu và khí đốt trên các vùng đất Liên bang như một biện pháp cắt giảm lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính, có khả năng góp phần vào sự nóng lên toàn cầu.

Thực tế, biện pháp chống hâm nóng toàn cầu được đúc kết trong Thỏa ước Khí hậu Paris (PCA) do Tổng thống Barack Obama sử dụng quyền Hành pháp để ký dù có ba khuyết điểm chết người: (1) Khối kinh tế đang phát triển, kể cả Trung Quốc và Ấn Độ có lượng khí phát thải số 1 và số 3 toàn cầu được phép sử dụng than đá tới năm 2030, tức góp phần làm cho Quả đất nóng hơn. (2) Không có biện pháp chế tài đối với kẻ vi phạm. (3) Trung Quốc hưởng lợi nhiều nhất trong khi Quả Địa Cầu vẫn nóng lên.

Thiệt hại của nhân loại: (1) Nhiệt độ Địa cầu chưa có dấu hiệu giảm. (2) Trung Quốc đòi Hoa Kỳ và Châu Âu phải chuyển giao công nghệ làm sạch môi trường để chế tạo các sản phẩm thân thiện với con người trong khi đó chuyển giao kỹ nghệ bẩn cho các nước đang phát triển và chậm tiến, lạc hậu nên làm cho môi trường ô nhiễm nhiều hơn.

Từ một quốc gia công kỹ nghệ, Hoa Kỳ phải mua nguyên liệu hóa thạch để sản xuất mà chỉ sau hai năm cầm quyền, Tổng thống thứ 45, Donald Trump đã biến Hoa Kỳ thành quốc gia đứng đầu về nhiên liệu hóa thạch trên thế giới. Năm 2020, Liên Hiệp Quốc đã khen Hoa Kỳ có tỉ lệ khí phát thải thấp hơn Ấn Độ và Trung Quốc.

So sánh khả năng lãnh đạo hữu hiệu giữa Donald Trump và Joe Biden rỏ ràng là một tấm gương tương phản về tài trí và nhân cách.

Đại-Dương

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bình luận về bài viết này

Người Phi Công Liều Mạng_ST

NGƯỜI PHI CÔNG LIỀU MẠNG

This image has an empty alt attribute; its file name is pilot-1.pngNếu chỉ nhìn thoáng ông ta trong đám đông tối hôm đó, có thể người ta sẽ không bận tâm nhìn lại lần thứ hai.

Đó là một ông già gầy yếu ngồi xe lăn, đội mũ len đen, cổ đeo cà vạt đỏ sậm, cái áo khoác bằng vải thô mầu xám phủ bên ngoài một thân hình nặng chừng 140 lbs.

Nguyễn văn Ba không nói được và cử động khó khăn, một ông già nhỏ thó trong căn phòng chật cứng những cựu binh Mỹ đang đứng nhắc chuyện cũ với nhau – những mẩu chuyện thời chiến.
Nhưng nếu kéo ngược thời gian lùi lại 40 năm, thêm khẩu súng lục nằm trong bao đeo trễ bên vai, chừng 10 lbs vào các bắp thịt suông đuột, đặt ông ta vào ghế lái chiếc trực thăng gắn đại liên M-60, ta sẽ thấy được một con người khác.

Quá sức liều mạng

Ngày 29-4-1975, ông Nguyễn – giống như trong mẩu truyện được xé ra từ kịch bản quay một cuốn phim loại “Mission imposible” – đã cùng với vợ và ba đứa con tìm cách đào thoát trong khi quân Bắc Việt đang tiến qua những cửa ngõ vào Sài Gòn.

Sau 20 phút bay căng thẳng, chiếc trực thăng của Nguyễn lượn vòng trên biển Nam hải trong tình trạng một sống một chết, và những thủy thủ Hoa Kỳ trên chiếc tàu gần đó chỉ còn biết đứng ngó sửng.
“Không thể nào hiểu được anh ta đã làm cách nào. Đúng là một phù thủy Ấn Độ”, lời của Hugh Doyle, sĩ quan trưởng cơ khí trên một tàu hải quân gần chỗ chiếc trực thăng của ông Nguyễn đang quần trên trời.

“Tôi biết thế nào cha tôi cũng tới”

Trong ngày 29-4-1975 đó, Nguyễn không phải là một anh hùng mà đang ở trong tình thế cực kỳ tuyệt vọng. Ông là một trong hàng ngàn người lính miền Nam đang cố tìm cách thoát ra khỏi nước trong khi đại quân Bắc Việt đang ào ạt tiến tới Sài Gòn.

Sự can thiệp quân sự của Hoa Kỳ đã chính thức chấm dứt từ 2 năm trước với hiệp định hòa bình ký tại Paris, nhưng vào thời điểm đó vẫn còn các nhân viên ngoại giao và dân sự Mỹ cần được di tản, đàng sau đó là đám thường dân Việt Nam cố bám theo để tìm đường thoát. Nhiều người trong số đó là quân nhân giống như Nguyễn – một thiếu tá Không quân VNCH – nếu kẹt lại, có thể họ sẽ lãnh án nặng và cả gia đình sẽ tan tác trong những trại tập trung chết người.

Nhưng Nguyễn đã có sẵn một kế hoạch. Ông cho vợ con về ở nhờ họ hàng bên vợ trong một khu dân cư Sài Gòn, và dặn vợ ông – bà Nho – chuẩn bị mọi thứ, ông sẽ lái chiếc Chinook CH-47 đến bốc đi – đó là một loại trực thăng cỡ lớn của Không quân VNCH mà tiếng động cơ không nhầm lẫn của nó có thể nhận ra được từ mấy cây số.

“Khi nghe được tiếng Chinook, phải sẵn sàng”, Nguyễn dặn vợ như thế.

Miki, đứa con trai lớn, nằm dưới gầm giường để tránh đạn từ đêm trước. Suốt đêm nó nghe súng nổ ran khắp nơi lẫn tiếng rít hỏa tiễn. Quân cộng sản đã quá gần. Nhưng nó vẫn bình tĩnh và tin chắc cha nó thế nào cũng tới!

Miki nghe được tiếng động cơ Chinook vào lúc sáng sớm. Nó chụp vội túi quần áo, luôn cả bình sữa cho đứa em gái 10 tháng – Mina – cùng với cả gia đình lao nhanh ra chiếc Chinook, trên đó đã có sẵn vài người bạn của cha nó.

Lên được chiếc máy bay, nó nghe ông Nguyễn nói thấy có nhiều trực thăng Mỹ bay ra khơi, chắc chắn họ sẽ đáp xuống ở đâu đó.

“Coi thử ra sao”, Nguyễn nói như thế trong khi đưa chiếc trực thăng hướng ra biển, vừa lúc đèn đỏ nhấp nháy báo bình xăng sắp cạn.

Ra tới biển, Nguyễn bật qua tần số cấp cứu và nghe được âm thanh trao đổi giữa các tàu Mỹ. Có người ngó xuống thấy một chiếc tàu đang ở ngay dưới bụng trực thăng. Đó là chiếc USS Kirk với một sân đáp nhỏ. Nguyễn cho trực thăng sà xuống.

Chỉ huy chiếc USS Kirk là Đại úy Paul Jacobs – thuộc cấp vẫn gọi ông ta là “Big Jake”. Dân New England, cao 6.3 ft, bộc trực và thẳng tính, ông ta được lệnh bắn hạ bất cứ phi cơ nào không xác định được danh tính và nhắm mòi đe dọa đến cuộc di tản đang diễn ra ồ ạt từ Sài Gòn.
Lẽ ra Jacobs đã cho bắn rơi chiếc trực thăng của Nguyễn nhưng ông đã không làm như vậy. Ông ta độ chừng Nguyễn là một người lính miền Nam đang tìm đường thoát. Bầu trời ngày hôm đó dầy đặc những phi công Việt Nam đưa gia đình và đồng đội bay ra biển trên những chiếc trực thăng cuối cùng còn sót lại.

“Chỉ khi nào nó bắn xuống, không thì mình sẽ không khai hỏa trước”, Jacobs ra lệnh.
Nguyễn liên lạc với chiếc Kirk. Tiếng Anh của ông ta chỉ tạm đủ, trên tàu cũng có một thủy thủ bập bẹ được chút ít tiếng Việt.

Sau nầy trong quyển The lucky few, tác giả Jan Herman đã tả lại nỗi thất vọng của Nguyễn. Ông ta bảo với những người dưới tàu rằng chiếc Chinook có chở theo đàn bà và con nít. Và máy bay ông ta sắp cạn xăng.

“Hoặc là tôi hạ cánh trên tàu hoặc sẽ rớt xuống biển”, Nguyễn nói. “Hãy cứu chúng tôi!”
Nhưng đám thủy thủ trên chiếc USS Kirk giơ tay làm hiệu xua Nguyễn bay đi chỗ khác. Sân đáp quá nhỏ mà chiếc Chinook lại quá cồng kềnh. Nếu xuống thấp, cánh quạt có thể va đụng gây nguy hiểm cho đám hành khách, luôn cả đám thủy thủ trên tàu.

Nguyễn bỗng nảy ra một ý và lập tức cho dưới tàu biết. Ông sẽ lái chiếc Chinook quần trên boong. Vợ con ông ta sẽ liều mạng nhảy đại xuống đám người giăng tay chờ bên dưới…

***
Kent Chipman là một trong số những người đứng chờ sẵn dưới đó. Dân Texas, có một hàng ria quặp, được đồng đội gọi bằng cái tên “Chippy”. Anh ta chỉ nặng có 130 lbs và đang đánh lô tô trong bụng. Biết đủ sức hứng đám người nhảy ra từ chiếc trực thăng hay không đây. Trong lúc căng hai tay chờ đợi, một ý nghĩ cứ quẩn quanh trong đầu anh chàng: “Chắc chết cả đám!”
Nguyễn lái chiếc Chinook tới phần đuôi của chiếc tàu, cố tránh không cho cánh quạt tới gần những chỗ quan trọng. Chỉ cần một luồng gió hay một sơ sẩy, chong chóng trực thăng sẽ chém trúng tàu, giết chết cả vợ con ông lẫn đám người dưới kia đang dang tay chờ đợi.

Người co-pilot mở cửa, ra hiệu cho vợ Nguyễn, “Nghe đây! Chị và mấy đứa nhỏ sẽ nhảy xuống trước!”
Miki nhảy ra. Kế đến là thằng em nó. Bà Nho bồng đứa con gái nhỏ, nhoài người thả nó xuống cho đám thủy thủ trước khi chính mình cũng nhảy xuống. Đám người chờ sẵn bên dưới hứng được hết.
Bây giờ trên chiếc Chinook chỉ còn lại một mình Nguyễn.

Làm cách nào đáp khối sắt 12 tấn nầy xuống chiếc tàu ? Ông ta chợt nghĩ ra cách khác – một cách chưa ai từng thử qua: Đâm xuống biển!

Ông ta bay ra xa chiếc tàu cách một khoảng an toàn và giữ cho chiếc trực thăng đứng yên chừng 10 phút với giàn bánh đáp nhấp nhô trên mặt sóng.

Chipman đứng chết lặng trên boong, ngó theo. “Cái thằng điên ! Nó đang cởi bộ đồ bay”, Chipman nghĩ thầm, trong lúc mắt không rời chiếc trực thăng.

Nguyễn cởi bỏ cái áo bay và tháo dây súng trong khi vẫn giữ cần lái cho chiếc trực thăng đứng yên.
Một phi công trông thấy cảnh đó sau nầy đã nói rằng, không thể hiểu sao Nguyễn có thể trút bỏ bộ đồ bay trong khi vẫn kềm cho chiếc trực thăng đứng yên một chỗ.

Xong xuôi Nguyễn nhấc cánh quạt bay về phía bên phải, xa khỏi chiếc tàu.

Khi chiếc trực thăng vừa chạm mặt nước, ông ta nhảy ùm xuống biển.

Âm thanh cú va chạm nghe giống như cả một toa xe lửa bị lật. Mảnh vụn từ cánh quạt chiếc trực thăng bay veo véo qua chiếc USS Kirk. Chiếc trực thăng nằm lật ngửa trên mặt biển, mấy bánh xe chổng lên trời.

Một khoảng im lặng nghẹt thở khi cả bọn ngó xuống một vùng màu đỏ loang rộng ra chỗ Nguyễn nhảy xuống. Không ai thấy ông ta đâu. Đột nhiên một cái đầu nhô lên khỏi mặt biển. Nguyễn còn sống ! Ông ta đã cố lặn thật sâu khi chiếc Chinook vừa chạm mặt nước. Còn khoảng màu đỏ loang trên biển là dầu thủy điều của chiếc trực thăng.

Đám người trên chiếc Kirk òa vỡ trong niềm vui lẫn thán phục. Ai nấy huýt sáo vang lừng.
“Cừ quá !” một người hét to.

“Một cú tài tình”, người khác phụ họa theo.

Chiếc Kirk cho xuồng máy vớt Nguyễn lên. Ông ta lên tới boong tàu chỉ mặc độc một quần đùi màu đỏ của vợ may và một sơ mi trắng in hình hoa hòe. Mấy miếng vàng nhét trong túi đã rớt đâu mất.
“Anh ta đòi được gặp vợ con ngay”, Doyle cơ khí trưởng trên tàu sau nầy nhắc lại.

***
Chiếc USS Kirk sau đó đã vớt thêm nhiều đợt người tị nạn tả tơi đào thoát trên những tàu hải quân VNCH, tàu buôn và cả tàu đánh cá. Jacobs cùng thủy thủ đoàn đã vớt tổng cộng 30,000 người đào nạn từ Nam Việt Nam.

Sau nầy Jacobs nhắc lại rằng các thủy thủ của ông ta khá lành nghề nhưng đồng thời cũng rất may mắn. Biển Nam hải vốn có tiếng không hiền hòa, những đợt sóng cao 20 ft và gió giật rất mạnh là chuyện thường ngày. Vậy mà hôm đó mặt biển lại lặng yên.

“Thượng đế đã ngó xuống. Mấy ngày đó mặt biển phẳng lì như lưng con cá bơn”, ông ta nói.
Còn Chipman không bao giờ quên được thái độ trầm tĩnh của Nguyễn trong tình thế cấp bách và nhớ rõ mình đã vui mừng thế nào khi hứng được đứa con gái nhỏ cùng người vợ của viên phi công.
“Một kết thúc tốt đẹp cho một cuộc chiến khốn nạn”, anh ta nói.

“Ông ta khá khiêm tốn”

Đó cũng là một kết cục pha trộn giữa vui mừng và cay đắng cho Nguyễn. Ông ta cứu được vợ con nhưng mất hết mọi thứ khác – tiền bạc, sự nghiệp, thân bằng quyến thuộc và luôn cả tổ quốc.
Gia đình ông về sống ở Seattle, sau đó ông tìm được việc làm trong hãng Boeing. Ông ta đi tiếp cuộc đời mới, vẫn bằng sự bền bĩ tháo vát mà ông đã có lúc vội vã bay ra biển để tìm đường sống.
Một gia đình trong hội nhà thờ Lutheran bảo trợ cho gia đình ông. Ông chăm chỉ học thêm tiếng Anh. Ban đầu làm công việc lau dọn ban đêm và học thêm điện tử vào ban ngày. Sau khi được nhận vào làm cho hãng Boeing, ông thức dậy lúc 4 giờ sáng và rời nhà nửa tiếng sau đó.

Sáu tháng sau khi tới Mỹ, gia đình Nguyễn không cần tới sự trợ giúp của chính phủ nữa, ông bảo rằng xứ nầy là mảnh đất của rất nhiều cơ hội. Ông không muốn nhận, nhưng luôn luôn muốn cho. Ông bảo với vợ con, trong vòng 5 năm tới chúng ta sẽ phải là công dân Mỹ để được đóng thuế và đi bầu.

Đối với con cái, ông muốn chúng phải học thật giỏi, rằng đại học là ngưỡng cửa không gì thay thế được và ông sẽ giúp trả học phí nếu chúng học khá. Nhiều lúc, có thể nói, ông huấn luyện con cái giống như chúng là nhân viên phi hành của mình trên chiếc Chinook ngày nào.
Mỗi sáng chúa nhựt ông đánh thức các con, giao cho một bảng liệt kê các công việc phải làm. Nếu xong bài làm ở trường, chúng sẽ được cho thêm một số đề toán để… suy nghĩ tiếp!
“Nếu tụi cháu làm lộn một con số, ba cháu sẽ xóa cả bài và bắt làm lại từ đầu”, Mina – đứa bé gái năm xưa được thả xuống từ chiếc trực thăng Chinook – nói như thế.

Ông đặc biệt chăm lo cho đứa con gái út giống như cái ngày ông đem cô theo trong chuyến bay vượt thoát. Khi Mina bắt đầu hẹn hò với một anh nhạc sĩ – người sau nầy sẽ trở thành chồng cô – ông đã lựa dịp để ngồi nói chuyện tay đôi với anh chàng.

“Cháu chưa bằng được con gái bác”, ông nói với anh ta. “Sao cháu không có bằng tiến sĩ ? Con nhỏ nó có rồi đấy!”

Nhưng Nguyễn không phải là một người cứng nhắc. Ông thích vui đùa. Mấy đứa con ông thường bảo ông thích tận hưởng đời sống đến nơi đến chốn vì biết rằng đời ông đã được ban ơn lần thứ hai. Ông thích đi câu, chơi dương cầm và tụ tập bạn bè về nhà hát karaoke. Ông cũng nhảy đầm rất giỏi, giống như ngày xưa đã từng bay thật cừ. Ông thích nhất điệu rumba và cha cha cha.
Mỗi khi các con ông phàn nàn điều gì, chúng sẽ nghe được cả một bài thuyết trình: “Má tụi bây và ba khi tới đất Mỹ nầy trên người chỉ có độc cái quần lót… Nhìn lại mình bây giờ đi. Không giàu. Nhưng chúng ta không nghèo!”

***
Chuyến vượt thoát tới đất Mỹ của cả gia đình đã trở thành một cái gì gần như huyền thoại. Nó không còn là câu chuyện trao đổi trên bàn ăn mà đã được cô đọng lại thành những giá trị được hết thảy mọi người nâng niu gìn giữ. “Nó là câu chuyện về cái đảo Ellis của gia đình chúng tôi”, Miki nói.
Sau khi ông thôi việc ở Boeing và về hưu năm 2000, Miki biết sẽ tặng cha mình món gì. Đó là một hộp kính thật đẹp bên trong có cái quần đùi màu đỏ mà ông đã mặc trong chuyến bay vượt thoát của gia đình.

Nguyễn nhận món quà đó với một thái độ nhẹ nhàng. Ông nhận nó mà không nói lời nào.
Có lần ông đã viết về chuyến hành trình gian nan của gia đình ông trên một tờ báo Việt ngữ nhưng bằng lời kể của ngôi thứ ba. Ông không nhận mình chính là người phi công đó.
“Ba tôi không thích khoe khoang”, Miki nói. “Nhưng ông biết chắc ông đã làm một chuyện quá sức liều mạng”

Tháo mặt nạ để nhìn người anh hùng

Nhiều người khác cũng nghĩ thế, và họ quyết định tháo gỡ lớp vỏ bọc để thấy rõ mặt người anh hùng khiêm tốn nầy.

Suốt trong nhiều năm, viên chỉ huy tàu USS Kirk đã nhiều lần dò hỏi tung tích cái anh chàng pilot Việt Nam đã lái chiếc Chinook đâm xuống biển.

Câu hỏi lúc ban đầu dần trở nên một công cuộc tìm kiếm khá dai dẳng. Năm 2009, Jacobs xuất hiện trong một chương trình TV Việt ngữ, hỏi xem có ai biết gì về người phi công nầy.
Công việc dò tìm vẫn tiến hành với ít nhiều hi vọng vì cộng đồng Việt Nam trên đất Mỹ cũng chẳng to lớn gì.

Một ngày nọ, Miki nhận được một e-mail trong đó có lời rao của Jacobs. Anh trả lời: “Nếu ông đang tìm người phi công lái chiếc Chinook ấy, thì có thể đó là cha tôi”

Sau đó là những cú điện thoại gọi về tới tấp…

***
Jacobs và những thuộc cấp cũ của ông trên chiếc USS Kirk tổ chức một buổi họp mặt đoàn tụ vào ngày 10-7-2010 tại Springfield, Virginia, và họ đã gởi thư mời ông Nguyễn. Ông không còn là người phi công trực thăng ngày nào trong tháng 4 năm 1975. Ông đã mất đứa con trai giữa – Mika – chết vì xuất huyết não năm 2003. Phần ông thì mắc bệnh Alzheimer sau khi về hưu. Bây giờ ông ngồi trong xe lăn. Không nói chuyện được, chỉ ú ớ qua cổ họng.

Tới dự buổi họp mặt với thủy thủ đoàn chiếc tàu USS Kirk, lần nầy bà vợ đẩy xe cho ông. Chiếc xe lăn được đẩy vô phòng tiếp tân, có con trai và con gái cùng đi với cha mẹ. Người đầu tiên mà bà thấy trong hành lang là “Chippy” Chipman, anh chàng thủy thủ đã hứng được bà và cô bé gái con bà khi cả hai nhảy ra khỏi chiếc trực thăng mấy chục năm về trước.

Nguyễn cũng nhận ra Chipman. Mắt ông ứa những giọt lệ.

“Ông ấy ngó tôi và tôi cũng ngó ông ấy trân trân. Ông ấy nhận ra tôi, và tôi cũng thế”, Chipman kể lại. Chipman tới bên Nguyễn đưa tay chào. Tự giới thiệu mình và nhắc lại chuyện xưa.
Anh ngó qua Miki, giờ đã là một gã trung niên. “Tôi là người đã chụp được cậu lúc cậu nhảy xuống tàu”, anh nói bằng giọng Texas đặc sệt, trong lúc Miki không thốt được lời nào vì quá xúc động.
Đoạn anh ngó qua Mina. Trông cô tươi tắn như một bông hoa. Anh bảo với cô rằng lúc đó anh đã nhủ mình phải cố chụp cho được lúc cô rớt khỏi chiếc trực thăng cho dù phải đánh đổi bằng chính sinh mạng mình đi nữa…

“Tôi hãnh diện lắm”, Chipman kể lại tâm trạng mình lúc gặp Mina. “Tôi không có con, nhưng có một cái gì giống như bất ngờ mình gặp lại đứa con gái thất lạc đã lâu, nay gặp lại lúc nó khôn lớn. Cô ấy đã trưởng thành một cách hết sức tốt đẹp”

Buổi họp mặt biến thành buổi tuyên dương ông Nguyễn. Người ta chiếu lại khúc phim màu ghi lại những pha gian nan của chiếc Chinook. Nhiều thủy thủ trên tàu ngày hôm đó đã chụp ảnh và quay được cảnh tượng xảy ra trên mặt biển.

Mina nhìn vào tấm hình lúc cô đang dán khuôn mặt bé thơ của mình lên lớp kính chiếc Chinook khi nó bay vòng trên chiếc tàu. Cô cũng thấy được tấm hình lúc cô rớt xuống đôi tay của Chipman. “Tôi lạnh cả sống lưng”, cô nói.

Cô cũng được xem lại khúc phim cha cô nhào ra khỏi trực thăng lúc đâm xuống biển.

“Giống như Tom Cruise”, cô bảo. “Nghĩ rằng người đó là cha tôi. Nghĩ rằng đó là cảnh gia đình tôi đang nhảy khỏi máy bay từng người một. Những ý nghĩ đó làm tôi choáng cả người”
Còn Miki có ý nghĩ riêng của anh. Trong nhiều năm, anh vẫn thán phục cha mình ở cái tính khiêm tốn của ông. Anh có thể hiểu được thái độ đó. Nhiều người tị nạn Việt Nam chỉ muốn quên đi những đau đớn trong quá khứ. Họ đã mất đi bao nhiêu thứ, thân phận, địa vị, gia đình, tiền của… Họ chỉ muốn nhắm vào tương lai. Kết quả là những người nầy có nguy cơ đánh mất quá khứ. Lũ con rồi đây khôn lớn sẽ không biết gì về chuyện vượt thoát tìm tự do của cha mẹ. Và mọi chuyện sẽ nhạt nhòa dần khi thế hệ của những bậc cha mẹ lần lượt mất hút.

“Chỉ có một điều khác nhau giữa gia đình chúng tôi và những gia đình khác, đó là những tấm hình và những khúc phim nầy”, Miki nói. “Mỗi người tị nạn Việt Nam tới xứ sở nầy đều có hàng vạn những câu chuyện đáng được kể ra, và chắc chắn có những câu chuyện còn gian nan hơn nhiều”
***
Miki ngó Jacobs khi ông nầy tới trước đám quan khách trong phòng tiếp tân.
“Chúng tôi dành phần sau chót cho điều đáng kể nhất”, ông ta vừa nói vừa nhìn ông Nguyễn.
Jacobs đọc một đoạn tuyên dương Nguyễn về hành động gan dạ của người sĩ quan phi hành.
“Với tài ba của một phi công, thái độ trầm tĩnh trong lúc nguy cấp, hành động của ông Nguyễn đã mang về một hình ảnh tốt đẹp cho đất nước ông và đã nói lên được một truyền thống cao đẹp nhất của Hải quân Hoa Kỳ”

Nguyễn không nói được lời nào khi ngồi yên ngó lên từ chiếc xe lăn. Một sĩ quan Hải quân cúi xuống gắn huy chương Không quân biểu dương lòng can đảm lên ve áo của ông.
Trong chiếc xe lăn Nguyễn vặn vẹo cử động thân mình.

Miki, đứng sau ông, không hiểu cha mình muốn gì.

Ông cựa quậy hai chân, rồi thẳng người lên trong cái áo khoác màu xám tro. Ông nhìn thẳng vào Jacobs. Và, ông chào bằng cách run rẩy đưa bàn tay mặt của mình lên trán…

***
Nguyễn qua đời vì bệnh Alzheimer 3 năm sau ở cái tuổi 73, ông đã vĩnh viễn ngủ luôn một giấc dài vào một đêm mùa hè. Nhưng trong cái buổi họp mặt đáng ghi nhớ đó, lúc thời gian quay ngược trở về một ngày khó quên của tháng 4, 1975, Miki đã thấy cha mình phác một cử chỉ dường như để nhắc với anh rằng, “Dù thân thể ông không thể cử động được nữa, nhưng ông – người cha mà anh đã tin chắc thế nào cũng tới để đưa anh và cả gia đình ra đi – ông vẫn mãi còn đó…”

Crew members of the USS Kirk try to wave off a CH-47 Chinook carrying South Vietnamese refugees on April 29, 1975. But the helicopter’s pilot, Ba Nguyen, was determined to unload his passengers, who included his wife and three young children.

Craig Compiano

(Theo Bauxite Việt Nam)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bình luận về bài viết này

Happy Mother’s Day

CHÚC MỪNG NGÀY TỪ MẪU
Mến chúc quý phu nhân K1 một ngày Mother’s Day thật hạnh phúc bên người thân

giphy (2)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bình luận về bài viết này

Người đi không muốn lưu lại bằng chứng

Đại sứ Pháp gắng sức cứu miền nam Vietnam giây phút cuối cùng.

Jean-Marie Mérillon:

NGƯỜI ĐI
KHÔNG MUỐN LƯU LẠI BẰNG CHỨNG

Đã đến lúc Đại Sứ Martin phải nói thật với tôi: Nước Mỹ cần phải làm gì vào những ngày sắp tới khi Phan Rang thất thủ? Và Mỹ cần xác minh thái độ đối với Dương văn Minh mới hôm qua vừa đòi Nguyễn văn Thiệu từ chức.

Ông Martin đã lưỡng lự rất nhiều rồi mới nói cho nước Pháp hay rằng Hoa Kỳ sẽ bỏ rơi Miền Nam. Còn nước Pháp thì muốn cố giữ Miền Nam bằng một chánh phủ trung lập giả định, biết rằng đó chưa hẳn là một liều thuốc hồi sinh cho toàn thể chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa một cách công hiệu, nhưng chẳng còn phương thức cấp cứu nào phù hợp với tình thế lúc đó.

TỐI 18/4/75:

Qua điện thoại, lần thứ nhất Ông Martin mới nói ra ý định của Hoa Kỳ. Đối với chính trường nước Mỹ thì chiến tranh Việt Nam đã chấm dứt sau Hiệp Định Paris năm 1973. Vấn đề còn lại là giải thể Hoa Kỳ tại Đông Dương.

Ông Martin muốn nhờ tôi làm trung gian chuyển đạt ý muốn của Mỹ cho phía Việt Cộng. Tôi bèn trả lời:

– “Điều mà ông yêu cầu, tôi sẽ thõa mãn cho ông 5 tiếng nữa nếu không có gì trở ngại trong việc liên lạc. Tuy nhiên tôi phải phúc trình lên chánh phủ của tôi, vậy ông Đại Sứ gởi cho tôi một công hàm ủy thác làm việc này.”

– “Không thể được” người ta không muốn lưu lại bằng chứng.

– “Như thế từ giờ phút này nước Pháp sẽ đãm nhận vai trò hòa bình cho Việt Nam theo chủ thuyết của Pháp.”

– “Chúng tôi cám ơn nước Pháp. Với tư cách cá nhơn tôi hoàn toàn chống lại chủ trương của Hoa Kỳ dành trọn quyền thắng trận cho Việt Cộng.”

Sau đó chúng tôi chuyển sang phần tâm sự gia đình, hỏi thăm sức khỏe bà Đại Sứ v.v… Đại Sứ Martin cho biết nước Mỹ quá chán ngấy những vụ đão chánh trước kia nên để cho ông Thiệu từ chức rồi ra đi hơn là đão chánh. Vai trò của Nguyễn cao Kỳ không còn cần thiết sau khi Hoa Kỳ đã tặng phần thắng cho Việt Cộng.

Ngày 30/4, trước 3 tiếng đồng hồ hạ cờ Hoa Kỳ sau 20 năm bay trên vòm trời Việt Nam, Đại Sứ Martin gọi điện thoại vấn an, chúc tôi ở lại xứ sở này tiếp tục sứ mạng hòa bình, đồng thời khuyến khích tôi “còn nước còn tát.”

Công việc đầu tiên của tôi là liên lạc với Phan Hiền trong trại Davis (Tân sơn Nhất) cho biết chánh phủ Cách Mạng Lâm Thời Miền Nam Việt Nam của Huỳnh tấn Phát muốn ấn định rõ thời hạn Mỹ rút quân khỏi Việt Nam. Phan Hiền bèn hỏi lại tôi là nên ấn định vào ngày nào? Sự giàn xếp người Mỹ ra đi cũng làm phiền phức tôi không ít. Ông trưởng phòng CIA xúi ông Tổng Giám Đốc Liên Đoàn Lao Công Việt Nam kiếm khoảng 20.000 người mặc quần áo nông dân biểu tình trước Tòa Đại Sứ Mỹ đòi Mỹ phải ở lại giúp Việt Nam. Ông Trần quốc Bửu hứa sẽ làm được, nhưng rồi chẳng thấy biểu tình chi cả. CIA chưa muốn đi vội, có vẻ muốn ở lại để tổ chức phá rối cộng sản như họ đã từng làm ở ngoài Bắc sau Hiệp định Genève 1954. Trưởng phòng thương mại Mỹ xin gia hạn đến tháng 6 để giúp các hảng thầu,ngân hàng, các nhà kinh doanh di tản các dụng cụ xí nghiệp, cơ xưởng máy móc về Mỹ. Nhưng rồi Đại Sứ Martin nhận được lệnh của Tòa Bạch Ốc là người Mỹ và tất cả những gì liên hệ đến Mỹ phải rời khỏi Việt Nam chậm lắm là cuối tháng 4/75.

Đại tướng Pháp Vanuxem chạy chỗ này chỗ kia với thiện chí cố vấn cho ông Thiệu phản công, nhưng vô ích. Tôi được thông báo Mỹ đã sắp xếp ngày đi cho ông Thiệu đâu vào đó cả rồi. Tướng Vanuxem, người từng chỉ huy ông Thiệu, than thở với tôi: “Thiệu “lủy” không nghe “moa”, đánh giặc theo kiểu Mỹ sẽ thua không còn một mảnh đất để thương thuyết với Việt Cộng.”

Ngày 18 tháng 4 chúng tôi xác nhận ngày di tản của Hoa Kỳ với Phan Hiền.

Trước khi lập chánh phủ giả định, tôi xét phản ứng của Nga Sô và Trung Cộng. Nước nhiệt thành đầu tiên là Trung Cộng. Thủ Tướng Chu ân Lai điện cho Bộ Ngoại Giao Pháp là sẵn sàng hợp tác với Pháp để xây dựng một chánh thể trung lập tại Miền Nam nếu có thành phần MTGPMNVN tham dự.

Tại Hànội, cuộc vận động với Đại Sứ Nga được xem là mấu chốt của vấn đề. Nhưng Đại Sứ Nga, ông Malichev từ chối, nói rằng: “Chủ quyền xây dựng chính thể Việt Nam do đãng cộng sản Bắc Việt quyết định. Ngoài tình hữu nghị cũng như các sự giúp đở Việt Nam, Nga chẳng có quyền hạn gì cả.” Lời tuyên bố đó giống như một kẻ ăn trộm nho bị bắt quả tang rành rành mà vẫn cứ chối bai bải là mình chỉ đi dạo mát trong vườn nho mà thôi. Chẳng là vì chúng tôi có đủ tin tức tình báo nói rõ có 5 vị tướng lãnh Nga có mặt trong Bộ Chỉ Huy chiến dịch Hồ chí Minh tại chiến trường Long Khánh. Không lẽ các vị ấy chỉ ngồi uống trà nói chuyện chơi với Văn tiến Dũng hay sao?

Toàn thể các nước Đông Nam Á lo ngại một nước Việt Nam độc lập dù dưới một chánh thể nào trong tương lai. Đối với họ, Việt Nam mãi mãi có chiến tranh bao giờ cũng có lợi hơn một Việt Nam hòa bình thống nhất. Theo quan điểm đó, khối Đông Nam Á tán thành Việt Nam được đình chiến trong trung lập hơn là thống nhất trong độc lập. Quan niệm này lan rộng cả Á Châu, đặc biệt là Nhật Bản, nước Nhật sẽ hết mình đóng góp cho Đông Dương trung lập. Duy có Nam Dương cực lực phản đối. Nam Dương chưa nguôi mối thù Trung Cộng đạo diễn cuộc đão chánh hụt năm 1965, nên bác bỏ giải pháp đình chiến tại Việt Nam có Trung Cộng tham dự.

(Mãi đến năm 1978, tướng Suharto có gởi cho tôi một bức thơ tỏ ý hối tiếc là lúc đó chánh phủ ông đã có nhận xét sai lầm về những ý kiến của chúng tôi).

Mao thì ghét cay ghét đắng Lê Duẫn thân Nga, thành thử những điều kiện Bắc Kinh đặt ra là phải hạ bệ đảng viên thân Nga, cầm chân quân Bắc Việt để dành cho MTGPMN tiến vô Sài Gòn.

Thực ra nền trung lập đối với chúng tôi chỉ coi như tạm thời ngăn cản dòng nước lũ, cho Việt Nam Cộng Hòa tạm dung thân.

Lời giao ước chánh trị khác hẳn với lời giao ước ngoại giao. Bắc Kinh chỉ giao ước bằng miệng là sẽ tìm cách cản trở Bắc Việt chậm nuốt Miền Nam, biện pháp quân sự coi như yếu tố cần phải có. (Rất tiếc chờ mãi đến năm 1978 Trung Cộng mới dùng biện pháp này để dằn mặt Việt Nam).

Phần chúng tôi là phải đáp lời hứa là thành lập chánh phủ liên hiệp gồm 3 thành phần: Quốc gia, Đối lập, và MTGPMN. Chu Ân Lai đưa ra một danh sách: Trương như Tảng, Nguyễn thị Bình, Đinh bá Thi, thiếu tướng Lê quang Ba, trung tướng Trần văn Trà, ngỏ hầu làm lực lượng nồng cốt thân Tàu trong chánh phủ hòa hợp hòa giải dân tộc Việt Nam. Điều kiện họ đưa ra thoạt nhìn thì không thấy có gì trở ngại, nhưng thực hiện lại vô cùng khó khăn. Vì những người này không có thực lực hay quyền hành gì cả. Toàn thể quyền hòa hay chiến đều do Lê Duẫn nắm cả. Trên Lê Duẫn một bực là Mạc tư Khoa. “Dường như đã từ lâu phe quốc gia lẫn phe cộng sản Việt Nam đều đã không có quyết định gì về số phận đất nước của họ”.

Móc nối với Trung Cộng thỏa thuận đâu vào đó cả rồi, sáng ngày 22/4 tôi mời phái đoàn Dương văn Minh vào tòa Đại Sứ tiếp xúc với chúng tôi. Phái đoàn này có nhiều nhân vật đang tập sự làm chánh trị, những kẻ chuyên sống nhờ xác chết của đồng bào họ: Huỳnh tấn Mẫm, Hoàng phủ Ngọc Tường, Ngô bá Thành, Ni sư Huỳnh Liên, Lý quý Chung, Vũ văn Mẫu, Hồ ngọc Cứ v.v… Tôi thấy ông Dương văn Minh đã liên lạc quá vội với một thành phần vô ích. Những khuôn mặt này Bắc Việt chưa biết họ, còn hao công giúp Bắc Việt thì chỉ có việc chưởi tầm bậy chế độ Việt Nam Cộng Hòa.

Tôi đi ngay vào vấn đề hỏi chung trước mặt mọi người là: “Chúng tôi hết sức ủng hộ người Việt Nam thành lập một chánh phủ hòa hợp hòa giải dân tộc. Vậy trong những ngày sắp tới có những cuộc thương thuyết xảy ra, quí vị có đồng ý nhận quí vị là đại biểu các khuynh hướng chánh trị ở Miền Nam không? Chiến tranh đang đến hồi dứt khoát phải có kẻ thua người thắng. Hãy cho chúng tôi biết, chánh phủ quí vị tới đây sẽ thua hay Việt Nam Cộng Hòa thua, hoặc MTGPMN thua? “

Huỳng tấn Mẫm cướp lời Dương văn Minh nói trước:

– “Thưa ông Đại Sứ Pháp, cuộc chiến này Mỹ đã thua, tất cả người Việt Nam chúng tôi thắng trận.”

Căn cứ theo lời của Huỳnh tấn Mẫm, tôi đoán ngay hắn là một thứ bung xung trước thời cuộc, háo danh, sẵn sàng làm tôi mọi cho bất cứ chế độ nào chịu cấp phát tước quyền cho hắn. Nếu biết khôn và khách quan nhận định thì hắn phải nói như vầy: “Bọn phản chiến Mỹ thua trận, và tất cả người Việt Nam thắng trận trong một nền hòa bình rơi nước mắt.”

Bà ni sư Huỳnh Liên nói nhiều lắm. Bà kể lể “tín đồ Phật Giáo bị kềm kẹp từ 20 năm qua, nếu cộng sản thắng thì đó là lời cầu nguyện của hàng triệu phật tử Việt Nam.”

Luật sư kiêm chánh trị gia Vũ văn Mẫu có vẻ già dặn hơn. Ông đặt tiếng “nếu” ở mỗi mệnh đề để thảo luận. “Nếu” chính phủ tương lai mà trong đó có ông làm thủ tướng thì viễn ảnh hòa bình sẽ nằm trong tầm tay dân tộc Việt Nam v.v..” Ông cũng ngỏ lời cám ơn tôi dàn xếp thời cuộc để lập ván bài trung lập tại Việt Nam.

Đây là buổi thăm dò quan niệm, nhưng những con cờ quốc tế đã gởi cho tôi từ trước không có Huỳnh tấn Mẫm, Ngô bá Thành, Huỳnh Liên, Vũ văn Mẫu và Lý quý Chung. Tôi lễ phép mời họ ra về, ngoại trừ đại tướng Dương văn Minh để thu xếp nhiều công việc khác.

Tiển ra tận thềm sứ quán, tôi có nói mấy lời để họ khỏi thất vọng sau này:

– “Thưa quí vị, thiện chí thành lập tân chánh phủ, điều đó không ai chối cải công lao của quí vị. Tuy nhiên thẩm quyền tối hậu giờ phút này nằm trong tay Hànội. Nước Pháp chỉ làm một việc có tính cách trung gian hơn là chủ động’.

Mọi người trợn ngược tròng mắt nhìn tôi hết sức ngạc nhiên. Ông Vũ văn Mẫu nói nhỏ với tôi một câu bằng tiếng Latinh; “Tôi muốn đi Pháp nếu tân chánh phủ không được Hànội nhìn nhận.”

Khi trở vào, Đại tướng Dương văn Minh ngồi đó chờ tôi, nét mặt sung mãn, tự hào là đã nắm vững thời cuộc. Vừa nghe chuông điện thoại reo, tùy viên giao tế của chúng tôi giới thiệu người bên kia là Võ đông Giang. Đường dây điên thoại viễn liên này kêu qua tòa Đại Sứ Pháp ở Tân gia Ba rồi cũng dùng đường dây này chuyển về Bộ Ngoại Giao Hànội. Tại Hànội họ sẽ móc đường dây tiếp vận vô Nam để tiếp xúc với vị Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh, vì ông này muốn gặp tôi có chuyện gấp. Tôi đồng ý nhưng phải chờ hai tiếng đồng hồ nữa mới bắt xong đường dây như thế.

KẾ HOẠCH THỨ NHẤT:

Thành phần chánh phủ hòa hợp hòa giải dân tộc, đồng chủ tịch là hai ông Dương văn Minh và Trần văn Trà. Ba phó chủ tịch là Vũ văn Mẫu, Trịnh đình Thảo và Cao văn Bổng. Tổng trưởng quốc phòng Phạm văn Phú. Tổng trưởng ngoại giao Nguyễn thị Bình. Tổng trưởng tư pháp Trương như Tảng. Tổng trưởng nội vụ Vũ quốc Thúc. Tổng trưởng kinh tế Nguyễn văn Hảo. Tổng trưởng thương mại Lê quang Uyễn. Tổng trưởng tài chánh Trần ngọc Liễng. Xen kẻ nhau nếu tổng trưởng quốc gia thì Đổng lý văn phòng là người của MTGPMN, và ngược lại. Hội đồng cố vấn chánh phủ có: Nguyễn hữu Thọ, Huỳnh tấn Phát, Thích trí Quang, Lương trọng Tường, Hồ tấn Khoa, Linh mục Chân Tín, Cựu thủ tướng Trần văn Hữu.

Hai mươi bốn giờ sau khi công bố thành phần chánh phủ, nước Pháp sẽ vận động các nước Âu Châu, Á Châu và các nước phi liên kết công nhận tân chánh phủ hòa giải Việt Nam, làm chậm lại bước tiến xe thiết giáp Liên Xô mưu toan đè bẹp Sài Gòn.

KẾ HOẠCH THỨ HAI:

– “Thưa Đại tướng, ông Nguyễn văn Thiệu để lại quân đội này còn bao nhiêu người? Hoa Kỳ để lại vũ khí nếu dùng được ở mức độ phòng thủ thì đuợc bao lâu?

Đại tướng Dương văn Minh trả lời là ông chưa nắm vững quân số vì hơn chín năm ông không có dịp biết các bí mật quốc phòng.

– “Thưa Đại tướng, đại tá tùy viên quân sự của chúng tôi sẽ phúc trình cho đại tướng biết sau. Theo chúng tôi, quân lực Việt Nam Cộng Hòa còn đủ khả năng chiến đấu thêm 10 tháng nữa, nếu các nhà quân sự chịu thay đổi chiến thuật từ quy ước sang du kích chiến. Ngay từ bây giờ Đại tướng còn 2 Quân đoàn. Phải dùng hai Quân đoàn này mặc cả cho thế đứng của phía quốc gia. Tôi tung liền giải pháp trung lập đồng thời tạo áp lực ngoại giao ngừng bắn 7 tiếng đồng hồ. Trong khi đó Đại tướng kịp thời chỉnh đốn quân đội và chọn các tướng lãnh có khả năng trường kỳ phản công. Tôi tin tuởng Việt Nam Cộng Hòa chưa thể thua và đích thực Bắc Việt đang lúng túng chưa biết họ sẽ chiến thắng bằng cách nào đây.

KẾ HOẠCH THỨ BA:

Cùng lúc mời thành viên MTGPMN hợp tác trong chánh phủ trung lập, Đại Tướng tuyên bố sẵn sàng bang giao với Trung Quốc và các nước theo chủ nghĩa xã hội, dĩ nhiên trong đó có cả Liên Xô.

Trung Quốc sẽ chụp lấy cơ hội này để cử Đại Sứ đến Sài Gòn ngay sau 24 giờ cùng với tiền viện trợ 420 triệu Mỹ kim là tiền sẽ trao cho Hànội mà nay trao cho chánh phủ hòa hợp hòa giải dân tộc. Kế hoạch này đánh phủ đầu Hànội bằng cách đưa đứa con nuôi của họ là MTGPMN lên nắm chính quyền (một lực lượng mà từ trước đến nay Hànội vẫn ra rã trước dư luận là dân Miền Nam đứng lên chống Mỹ, chớ Hànội không có dính dáng gì hết).

Đi từng bước, lần lượt tân chánh phủ sẽ lật lại từng trang giấy ký ngưng bắn trong Hiệp Định Paris, giao cho Trung Quốc cưỡng ép Hànội vào bàn hội nghị nói chuyện ngưng bắn tức khắc.

Quả thật Trung Quốc muốn cứu sống MTGPMN để xây dựng ảnh hưởng của mình tại Đông Dương. Phe quốc gia cũng muốn cứu cấp Sài Gòn đừng lọt vào tay cộng sản. Như vậy hai quan niệm cùng có một mục đích, còn có thể dàn xếp được là tốt hơn cả, vì đừng để cho bên nào thắng.

Tôi cũng thông báo cho ông Minh hay là tôi đã liên lạc với thành viên MTGPMN. Hầu hết đều tán thành giải pháp giúp họ thoát khỏi vòng quỷ đạo của Bắc Việt. Họ chạy theo HàNội là muốn tiến thân sự nghiệp chánh trị bằng con đường hợp tác với cộng sản, nếu giúp họ nắm được chánh quyền Miền Nam thì phương tiện dùng cộng sản Bắc Việt đã quá lỗi thời.

Bà Bình từ đầu đến cuối đã hợp tác chặt chẻ với chúng tôi. Thêm một bằng chứng: 17 ngày sau khi Sài Gòn mất, bà Bình còn tuyên bố trước Liên Hiệp Quốc dụng ý tống khứ đạo quân Bắc Việt về bên kia Bến Hải: “Miền Nam Việt Nam sẽ sinh hoạt trong điều kiện trung lập 5 năm trước khi thống nhất hai miền Nam Bắc.” Các nhà phân tích thời cuộc nói chỉ cần 5 tháng Miền Nam sống dưới chánh phủ trung lập thay vì có diễm phúc 5 năm, có lẽ hòa bình Việt Nam sẽ ở trong hoàn cảnh thơ mộng tươi đẹp rồi. Bà Bình bị thất sủng sau lời tuyên bố đó.

Nước Pháp sẽ trao 300 triệu quan chuyển tiếp từ chế độ Việt Nam Cộng Hòa giao cho tân chánh phủ để nuôi sống giải pháp trung lập. Chúng tôi sẽ quyên góp các nước bạn đồng minh Âu Châu một ngân khoảng độ 290 triệu mỹ kim cho các chương trình viện trợ kinh tế, văn hóa, phát triển nông nghiệp, nhân đạo v.v… tổng cộng cũng gần bằng viện trợ của Hoa Kỳ trước đây.

Bấy nhiêu đó cũng đủ nuôi dưỡng tạm thời chánh phủ Dương văn Minh Trần văn Trà, để rồi người quốc gia tranh thủ với cộng sản duy trì một Miền Nam không nhuộm đỏ màu cờ.

Đại tướng Dương văn Minh không nói chi nhiều, ông lắng nghe tôi trình bày cặn kẻ từng kế hoạch, và nói ông sẵn sàng thực hiện theo quan điểm của chúng tôi. Ông chỉ nêu một câu hỏi duy nhất:

– “Dưới hình thức nào tôi thay thế cụ Trần văn Hương để thành lập nội các để thương thuyết với phía bên kia?”

– “Thưa Đại tướng, cụ Trần văn Hương hôm qua vừa thảo luận với chúng tôi là sẽ trao quyền chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa lại cho Đại tướng, nếu Đại tướng có một kế hoạch không để mất Sài Gòn.”

Sự thực từ lúc ông Thiệu tuyên bố từ chức, ông Minh đã nhiều lần thúc hối chúng tôi tiến dẫn ông nắm chánh quyền ngay lúc ấy.

Chúng tôi chưa nhận lời yêu cầu này. Chúng tôi chưa nhận lời yêu cầu đó vì chưa tiếp xúc được với thành phần MTGPMN. Hơn nữa ông Minh ra lãnh đạo guồng máy quốc gia không mang điều mà thế giới mong đợi sau khi Hoa Kỳ rút đi. Khi chúng tôi giới thiệu tướng Minh sẽ là nhân vật cho ván bài trung lập của Pháp tại Việt Nam thì cụ Trần văn Hương sửng sốt và tỏ vẻ phiền trách: “Nước Pháp luôn luôn bẻ nho trái mùa! Tưởng chọn ai chớ chọn Dương văn Minh, nó là học trò tôi, tôi biết nó quá mà. Nó không phải là hạng người dùng trong lúc dầu sôi lửa bỏng… Tôi sẽ trao quyền lại cho nó nhưng nó phải hứa là đừng để Sài Gòn thua cộng sản.” Có sự hiện diện của ông Trần chánh Thành là người rất am tường thực chất cộng sản, chúng tôi giải thích với cụ là Bắc Việt rất sợ MTGPMN đoạt phần chiến thắng, công khai ra mặt nắm chánh quyền. Chúng ta nên nắm ngay nhược điểm của họ mà xoay chuyển tình thế. Nếu để một nhân vật diều hâu lãnh đạo, Bắc Việt sẽ viện cớ Việt Nam Cộng Hòa không muốn hòa bình rồi thúc quân đánh mạnh trong lúc quân đội chưa kịp vãn hồi tư thế phản công. Tạm thời dùng công thức hòa hoãn thôi.

Cụ Trần văn Hương thông cảm kèm theo lời thở dài tỏ ra mất tin tưởng. Kế hoạch của chúng tôi vô tình đã đè bẹp tin thần chống cộng sắt đá của cụ. Theo cụ thì giải pháp hữu hiệu là bỏ ngỏ Sài Gòn, tổng động viên những vùng đất còn lại để tiếp tục đánh cộng sản. Chọn giải pháp này sẽ đổ máu thêm, nhưng chiến tranh nào mà không đổ máu, ít nhất Việt Nam Cộng Hòa không thua một cách mất mặt.

Mười năm sau tôi thấy kế hoạch của cụ Trần văn Hương đúng. Nếu lúc bấy giờ các nhà lãnh đạo quân sự Miền Nam đừng bỏ chạy quá sớm, yểm trợ cụ, thì có thể gở gạc được thể diện người Quốc gia Miền Nam. Tôi kính mến cụ Trần văn Hương, người Việt Nam nhận xét cụ bất tài, già nua lẩm cẫm, song chúng tôi thấy cụ là một người Việt Nam trung tín, sống chết cho lý tưởng, can đãm trước mọi tình huống. Năm 1976, nghe cụ bị bệnh nặng, thiếu thốn phương tiện chữa trị, chúng tôi yêu cầu Tổng lảnh sự Pháp ở Sài Gòn vận động với nhà cầm quyền HàNội cho cụ sang Pháp chữa bệnh. HàNội còn cần Pháp làm giao điểm tuyên truyền chủ nghĩa xã hội, sẽ không làm khó dễ trong việc cấp giấy xuất cảnh, nhưng cụ từ chối, quyết định ở lại chết tại Việt Nam. Chúng tôi vẫn nhớ lời cụ nói năm 1975: “Ông Đại Sứ à, tui đâu có ngán Việt Cộng, nó muốn đánh tui đánh tới cùng. Tui chỉ sợ mất nước, sống lưu đày ở xứ người ta. Nếu trời hại nước tui mất, tui xin thề ở lại đây và mất theo nước mình.” Cụ Trần văn Hương đã giữ lời hứa.

Đại tướng Dương văn Minh ra về, chúng tôi hẹn gặp lại nhau. Trong lúc này, về phía Việt Nam Cộng Hòa, chúng tôi không quên nhắc nhở đại tướng Dương văn Minh gấp rút tổ chức lại quân đội, liên lạc thường xuyên với tướng Nguyễn khoa Nam, khuyến khích vị tướng này giữ vững các vị trí phòng thủ để còn một mảnh đất làm địa bàn ăn nói khi thương thuyết với phía bên kia. Ngay lúc đó tôi biết ông Dương văn Minh cách đây hai ngày đã liên lạc với người em ruột là thiếu tướng Dương văn Nhật, nhờ môi giới để nói chuyện thẳng với Bắc Việt. Vì hấp tấp, nông cạn, ông tưởng em ông có đủ tư cách đại diện cộng sản ngưng bắn tại Miền Nam. Từ chỗ móc nối sai lệch, tình thế đã xỏ mũi ông đến chỗ phá nát bấy hết kế hoạch hòa bình Việt Nam.

(GHI CHÚ của dịch giả DHN: Dương văn Nhật không phải là một thiếu tướng mà chỉ là một thiếu tá thường, trực thuộc MTGPMN nên không phải là một nhân vật quan trọng. Cộng sản đã cho về liên lạc thường xuyên với Dương văn Minh trước đó như là một liên lạc viên xoàng để săn tin mà thôi, và đã được lệnh kín đáo nằm luôn tại nhà Dương văn Minh từ khi chúng tiến chiếm tỉnh Banméthuột. Có lẽ ông Dương văn Minh muốn đưa em ông lên hàng tướng vì lý do thể diện chăng? Sau 30/4/75 mới là trung tá).

LÊ ĐỨC THỌ THÓA MẠ TÔI:

Chuông điện thoại reo. Đầu dây bên kia tự giới thiệu:

– “Chào ông Đại Sứ, tôi là B trưởng B2 đây.”

Tôi chào lại và rất ngạc nhiên không biết B trưởng B2 là nhân vật nào. Thái độ thiếu lịch sự xã giao qua lời giới thiệu tên họ chức phận bằng bí danh của đầu dây bên kia chứng tỏ họ coi thường chúng tôi. Tôi gằn mạnh từng tiếng:

– “Nếu đầu dây bên kia muốn trao đổi câu chuyện với tôi thì nên tỏ ra lịch sự một chút. Khi tiếp xúc với một nhà ngoại giao thì dù thù hay bạn cũng vậy. Thưa ông B trưởng B2, chắc ông thừa hiểu ông đang nói chuyện với Đại sứ nước Pháp, và bắt buộc tôi phải cúp nếu ông không nói tên họ, chức phận. Nguyên tắc của ngành ngoại giao đối lập với ngành gián điệp là không tiếp xúc với hạng người bí mật.”

B2 xin lỗi tôi liền khi đó, bảo rằng ông ta sợ CIA phát hiện sự có mặt của ông ở Miền Nam trong lúc hoàn cảnh chưa cho phép ông xuất đầu lộ diện. Ông cũng rất phiền khi bị ép buộc nói tên họ:

– “Thưa ông Đại sứ, tôi là Lê đức Thọ, Tổng tư lệnh chiến dịch Hồ chí Minh.”

Thì ra là Lê đức Thọ, con người khuynh đão trong các cuộc hòa đàm Paris. Tiểu sử Thọ từ năm 1937 chúng tôi có đầy đủ trong tay, duy tôi chưa gặp mặt nên không nhận được giọng nói qua điện thoại. Sau Tết Mậu Thân, Phòng nhì Pháp đã có đủ tài liệu để biết Lê đức Thọ là Tổng chỉ huy bộ máy chiến tranh tại Miền Nam. Y từ Nga trở về hồi tháng giêng 1975, và đi thẳng vào Nam trực tiếp chỉ huy tổng tấn công Sài Gòn. Mà Phòng nhì biết thì CIA cũng biết.

Tôi nói:

– “Chào ông Tổng tư lệnh, qua vai trò trung gian và với thiện chí lớn lao nhất, nước Pháp hết lòng đứng ra hòa giải các phe tranh chấp để sớm đạt được một nền hòa bình tại Việt Nam. Ông Tổng tư lệnh có cần gởi đến chúng tôi những quyết định gì từ phía Bắc Việt nhằm tức khắc giải quyết chiến tranh không? Chúng tôi sẽ chào mừng quyết định của quí vị.’

Thấy mình là kẻ chiến thắng trong canh bạc về sáng, Lê đức Thọ tố xả láng, không cần che đậy bề trái của sự thật nữa:

– “Quyết định của đãng cộng sản chúng tôi là đánh gục Mỹ, thống nhất hai miền Nam Bắc, xây dựng nước Việt Nam theo con đường Mác xít Lê nin nít”.

– “Thưa ông Tổng tư lệnh, đó là mục đích. Còn quyết định chấm dứt cảnh cốt nhục tương tàn của người Việt, chưa thấy đãng cộng sản Việt Nam nói tới?”

Lê đức Thọ hùng hồn giảng thuyết (chỗ này ông Mérillon không cho biết Lê đức Thọ nói bằng tiếng gì, vì y nói tiếng Pháp còn kém lắm):

– “Thưa ông Đại sứ, tôi xin nói về chính danh và ý nghĩa cuộc chiến đấu của chúng tôi. Sau khi đánh bại bọn đế quốc Pháp, đãng và nhân dân chúng tôi tiếp tục sự nghiệp đánh bọn ngoại xăm đế quốc Mỹ. Cuộc chiến đấu này từ lâu đã được nhân dân thống nhất thành một phong trào chống Mỹ. Từ ngữ “cốt nhục tương tàn” tôi bảo đãm với ông đại sứ là do bọn tay sai ngụy quyền Sài Gòn khơi lên để kêu gọi lòng thương hại của chúng tôi, chớ không phải lời oán than từ phía nhân dân. Xác nhận như vậy để ông đại sứ thấy rằng chúng tôi chưa hề chính thức hóa một nghị trình hòa giải nào với bất cứ đãng phái nào tay sai trong Miền Nam với quyết định của chúng tôi là để thắng chớ không phải để hòa giải.”

– “Thưa ông Tổng tư lệnh, trường hợp này thì vị trí của MTGPMN ở đâu?”

– “Nó sẽ đứng ở chỗ giải tán khi: một là Đại sứ Mỹ bị bắt, hai là cuốn cờ bỏ chạy trước khi người cộng sản yêu nước tiếp thu Sài Gòn”.

– “Nếu đúng như thế, MTGPMN không phải là một thực thể riêng biệt, tách rời quyền lực HàNội đứng lên chống Mỹ từ 15 năm qua, và các ông đã lừa gạt dư luận quốc tế.”

– “Thưa ông Đại sứ, dư luận quốc tế hả? Mà dư luận nào mới được chớ? Nếu dư luận quốc tế thuộc khối tư bản thì không xứng đáng để phẩm bình. Đối với nước Pháp chúng tôi xem là bạn. Thưa ông Đại sứ, chúng ta sẽ bang giao trong tình hữu nghị giữa hai nước.”

– “Trung Quốc đang yêu cầu chúng tôi dàn xếp một cuộc đình chiến tại Việt Nam, ông nghĩ sao?

– “Trung Quốc thuộc bọn xét lại, đã biến thể và phản bội nghĩa vụ giải phóng nhân loại qua chủ nghĩa Lênin. Mọi việc nhúng tay vào của Trung Quốc chúng tôi xem đó là hành động thù nghịch. Riêng ông Đại sứ, ngay bây giờ xin ông nhận lời cảnh cáo của chúng tôi. Nếu ông Đại sứ còn tiếp tay với Trung Quốc và các thế lực ngoại bang khác ngăn cản đà chiến thắng chống đế quốc Mỹ ở Miền Nam, thì 24 giờ sau khi tôi đặt chân vào Sài Gòn tôi sẽ trục xuất ông Đại sứ ra khỏi Việt Nam.”

– “Làm như vậy ông không ngại gây sự hiềm khích giữa hai nước sao?”

– “Không, Chánh trị và quyền lợi không chú ý tới những vấn đề nhỏ nhặt giữa hai nước. Pháp còn quyền lợi tại Việt Nam. Pháp đừng nên gây hấn với Việt Nam bằng giải pháp trung lập này nọ, cũng đừng nên chen vào nội bộ của chúng tôi.”

– “Thưa ông Tổng tư lệnh, ông nên nhớ Pháp ngày hôm nay không phải là Pháp đô hộ ngày hôm qua. Pháp chẳng có quyền lợi gì nếu phải bang giao với một nước Việt Nam cộng sản. Nếu ông cảnh cáo chúng tôi, bù lại xin ông và đãng cộng sản Việt Nam tiếp nhận lời cảnh cáo của chúng tôi là số tiền 300 triệu hằng năm viện trợ Miền Nam và 200 triệu viện trợ nhân đạo cho Bắc Việt sẽ không được chuyển giao nếu giải pháp trung lập bị bác bỏ một cách vô nhân đạo.”

Lê đức Thọ có vẻ căm tức, nhưng lần này vì lịch sự, y nói vài lời cáo lỗi rồi cúp điện thoại, đúng với ý muốn của tôi.

Thật ra chúng tôi cũng vẫn biết cuộc chiến tranh này do tập đoàn HàNội quản lý từ đầu đến cuối, nhưng không trắc nghiệm được phản ứng ngang tàng của họ mà đại biểu chánh thức là Lê đức Thọ, nhất định nuốt Miền Nam bằng lá bài quân sự.

Sự kiện này đã khuyến khích tôi tìm kiếm những phương pháp cấp thời chỉnh đốn lại quân đội Việt Nam Cộng Hòa giữ vững phòng tuyến để kéo dài thời gian mặc cả.

Tôi rất ghét người cộng sản thiếu quân tử (đó là cái chắc!) khi họ thắng trận. Lê đức Thọ là một điển hình. Năm 1964 Thọ đã từng xin chúng tôi giúp y nói chuyện trực tiếp với Hoa Kỳ, chúng tôi không hề từ chối. Bất cứ điều gì cần đến, nếu thỏa mãn được thì chúng tôi cho ngay. Họ có mang ơn nước Pháp chớ nước Pháp chưa hề chịu ơn họ. Đến khi nước Pháp muốn Việt Nam có hòa bình trên nền tảng trung lập có thành phần quốc gia tham dự, HàNội đã bạc ơn từ chối.

Khi xe tăng Nga vượt hàng rào Dinh Độc Lập lúc 11 giờ sáng thì tới 3 giờ chiều Lê đức Thọ ngồi trên xe Falcon đến tòa Đại Sứ Pháp xấc xược đi thẳng vô phòng tôi nói:

– “Mérillon, tôi đến đây tống cổ ông rời khỏi Sài Gòn trước 9 giờ sáng mai”.

Tôi gật đầu. Sáng hôm sau ngày 1-5-75, Thọ còn hạ nhục tôi bằng cách cho công an xét va li và bắt tôi phải ra HàNội trước khi về Pháp. Tôi phản đối. Khi phi cơ cất cánh, tôi ra lệnh cho phi công bay luôn sang Bangkok thay vì ra HàNội.

Hành động sỉ nhục một Đại sứ, Lê đức Thọ và công an Việt Nam phải trả một giá rất đắt. Tổng số ngân quỹ viện trợ nhân đạo hằng năm nước Pháp quyết định để dành mua sinh mạng người Miền Nam Việt Nam không hề cho HàNội một cắt nào suốt 10 năm sau.

Ngày 27 tháng 4/1975

Chiều ngày 27/4/75, tôi nhận được tin rất phấn khởi: Tướng Trần văn Trà bắn tin nhờ tôi cấp tốc thành lập chánh phủ trung lập và ông gởi gấp hai nhân vật thân tín của ông vào chánh phủ, là bà Nguyễn thị Bình và ông Đinh bá Thi (ông này bị HàNội giết vài năm sau bằng tai nạn xe hơi tại vùng Rừng Lá Phan Thiết, sau khi bị Hoa Kỳ trục xuất về tội mua tài liệu tình báo kỹ thuật cho Liên Xô – Lời dịch giả). Tùy viên quân sự của chúng tôi cũng xác nhận là 2 sư đoàn tập kết của Trần văn Trà sẽ vào tiếp thu Sài Gòn, phỏng tay trên của đạo quân Văn tiến Dũng.

CÁC TƯỚNG LÃNH BỊ NHỐT TẠI BỘ TỔNG THAM MƯU:

Chứng cớ mà Trần văn Trà lấn quyền HàNội trong mưu đồ Miền Nam tự trị được thể hiện ngay sau ngày 30/4/75. Trần văn Trà chạy nước rút, tự ý thành lập Ủy Ban Quân Quản Sài Gòn Gia Định hầu làm bàn đạp cho MTGPMN nhảy lên nắm chánh quyền trước khi Bắc Việt an bài chế độ cộng sản. Chung một mục đích: Bắc Việt đoạt chánh quyền để bành trướng chủ nghĩa cộng sản, còn MTGPMN cướp chánh quyền với thâm ý tạo sự nghiệp danh vọng cá nhân. HàNội có Nga Sô làm điểm tựa, có toan tính theo từng sách lược, còn MT là những chánh trị gia thời cuộc có tính cách giai đoạn nên cuối cùng bị thua trắng tay, bị cưỡng bức phải giải tán, cán bộ bị hạ từng công tác (hay thanh trừng) trong thầm lặng.

Dựa theo quan niệm “còn nước còn tát”, chúng tôi không bỏ lở một cơ hội nào có thể duy trì nhịp thở của Việt Nam Cộng Hòa đang hấp hối vào giờ cuối của cuộc chiến. Lúc 9 giờ tối ngày 27/4/75, chúng tôi họp với các tướng lãnh De Séguins, Pazzi, Bigeard, Langlais, Vanuxem, Gilles, Pierre Bodet. Các tướng này đến Sài Gòn ngày 16/4 trong hảo ý phối hợp với các tướng lãnh Việt Nam từng được Pháp đào tạo trước kia để phản công lại Bắc Việt. Họ đến với tư cách cá nhân.

Qua lời xác nhận của tướng Gilles, chỉ huy quân đoàn nhảy dù Pháp trong trận Điện biên Phủ, thì thiếu tuớng Phạm văn Phú không phải thuộc hàng tướng lãnh bỏ lính khi thua trận và chạy dễ dàng như vậy. Tướng Gilles yêu cầu tôi can thiệp với chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa trả tự do cho tướng Phú lúc đó đang bị ông Thiệu nhốt chung với các tướng lãnh khác trong Bộ Tổng Tham Mưu. Ông Thiệu đã làm một việc quá nguy hiểm. Đang lúc quân đội cần tướng mà tướng lãnh bị tống giam, như vậy là có ác ý đập tan nát Bộ Tham Mưu Hành Quân của Việt Nam Cộng Hòa.

Ngày 29/4, tướng Phú nằm trong bệnh viện Grall. Tôi điện thoại trấn an ông, yêu cầu ông đừng bỏ đi sẽ tạo thêm tình trạng hỗn loạn hoang mang cho binh sĩ. Ông hứa sẽ không bỏ chạy, nếu không phản công giữ được Sài Gòn thì ông thề bỏ xác tại bệnh viện này. Tướng Phú đã giữ lời hứa. Ông là một tướng lãnh mà chúng tôi hết sức tin tưởng trong ván bài trung lập sau Dương văn Minh. Tối 29/4, được tin Dương văn Minh sẽ đầu hàng cộng sản vào sáng mai, ông đã dùng độc dược tự sát.

Các tướng lãnh Pháp cũng đề nghị tôi thực hiện kế hoạch bỏ trống Sài Gòn qua 2 giai đoạn:

– Giai đoạn 1.- Rút phân nữa quân gồm lực lượng tự vệ, an ninh, cảnh sát, những binh đoàn nhảy dù, thủy quân lục chiến, biệt động quân, và các binh chủng thuộc bộ binh, lén di chuyển lúc nửa đêm, sau lưng cộng sản đi lên các tỉnh Bình Dương, Tây Ninh, Phước Long, với nhiệm vụ tái phối trí lực lượng và bồi dưỡng tinh thần binh sĩ.

Phân nữa kia, gồm Hải quân và Không quân di chuyển về miền Tây để dùng cho các trận chiến sông ngòi, cắt đường tiến của cộng sản tràn xuống Quân khu 4. Mời hai tướng Dương văn Minh và Trần văn Trà công bố chánh phủ trung lập. Sài Gòn là vùng phi quân sự nơi chỉ nói chuyện, thương thuyết bằng giải pháp chánh trị. Sài Gòn không có quân, cộng sản không có cớ đễ tàn phá.

– Giai đoạn 2.- Phản công trên cơ sở du kích, chiếm lại lần hồi đất đai đã mất và chờ quân viện mới. Thay thế chánh phủ trung lập bằng một chánh phủ lưu vong Việt Nam Cộng Hòa. Vai trò Dương văn Minh đến đây coi như chấm dứt. Các tướng Phạm văn Phú, Nguyễn khoa Nam, Lê nguyên Vỹ, Ngô quang Trưởng được xem là thành phần chủ lực cho chiến trường tương lai.

Các tướng lãnh hồi hưu Pháp quả quyết sẽ tìm được nguồn quân viện chẳng mấy khó khăn, qua sự đóng góp của các cựu quân nhân Anh, Pháp, Hoa Kỳ, Do Thái… nếu có lời kêu gọi của Hiệp Hội Cựu Quân Nhân Thế Giới Tự Do.

Sáng ngày 28/4/75, tôi chuyển hết kế hoạch này cho Dương văn Minh và định tối 28 thì sẽ hoàn tất kế hoạch.

KẾ HOẠCH CHƯA ĐƯỢC THỰC HIỆN?

Đại tá tùy viên quân sự của chúng tôi trình bày tỉ mỉ về quân số của đôi bên.

– Quân cộng sản Bắc Việt hiện đang bao vây Sài Gòn gồm các sư đoàn 304, 308, 312, 320, 322, 325 và 2 sư đoàn MTGPMN, 300 thiết giáp, 600 đại bác đủ loại. Tổng cộng quân số khoảng 70.000, tính cả lực lượng trừ bị. Đúng như lời Trung Quốc thông báo, HàNội tung hết quân, bỏ ngỏ HàNội. Giá lúc ấy Trung Quốc chỉ cần cho một vài sư đoàn diễn binh trên biên giới Hoa Việt thì lập tức HàNội sẽ tự ý ngưng chiến và tán thành chánh phủ trung lập rất mau lẹ. Rất tiếc.

– Quân số Biệt khu Thủ đô có khả năng tác chiến, có vũ khí trong tay ước được 100.000. Căn cứ vào vũ khí đạn dược, hỏa lực nặng, tiếp liệu, và tinh thần chấp nhận chiến đấu thì Sài Gòn có thể phòng thủ, cầm cự được chừng 7 tháng.

Trong 7 tháng đó biết đâu tình hình lại chẳng thay đổi theo chiều hướng khác? Chúng tôi đưa ra sự kiện này nhằm bác bỏ lập luận nói rằng cộng sản Việt Nam sẽ thiêu hủy Sài Gòn với số quân gấp 5 lần.

Kinh nghiệm bọn Khmer Đỏ chiếm Phnom Penh ngày 17 tháng 4/75, đã xảy ra tình trạng chém giết hỗn loạn nguy hiểm đến sinh mạng Pháp kiều và các phóng viên ngoại quốc, cần Tòa Đại sứ Pháp che chở. Vì vậy ngày 19/4/75 tôi đã yêu cầu Bộ Ngoại Giao Pháp tăng phái cho chúng tôi một trung đội thủy quân lục chiến từ Nouvelle Calédonia đến Sài Gòn để bảo vệ sứ quán. Lại yêu cầu các vị Lãnh Sự ở Đà Nẵng, Cần Thơ, Đà Lạt, Huế gấp rút kiểm tra lại tổng số Pháp kiều, và phải tiếp tục ở lại nhiệm sở để trấn an dư luận. Khi đó có 722 người là người Pháp chính gốc, 9500 người có quốc tịch Pháp, 11.000 trẻ em lai Pháp sống tại các cơ quan từ thiện. Tất cả 21.000 người này sẽ được đưa về Pháp định cư. Tuy nhiên để cứu thêm mạng người, chúng tôi sẽ gởi cho HàNội danh sách đăng ký cho hồi hương thêm những người hồi tịch Pháp, cựu quân nhân tham dự bên cạnh quân đội Pháp trong hai thế chiến, công chức thời Pháp và nhân viên làm việc trong các cơ sở tư nhân Pháp trên lãnh thổ Việt Nam. Mỗi người hội đủ điều kiện như vừa quy định có thể kéo thêm gia đình anh em ruột thịt, con cháu dâu rể bên ngoại cũng như bên nội. Kết quả chúng tôi đem về Pháp tất cả 80.000 người. Để mua thêm người cộng tác với Pháp, mỗi năm chánh phủ Pháp phải trả cho cộng sản máy cày, dược phẩm, các bộ phận bảo trì công ty nhà đèn, thủy cục, nông phẩm v.v…

Chiều 28/4, tướng Pazzi xuống Cần Thơ gặp tướng Nguyễn khoa Nam. Sau đó khi trở về tướng Pazzi cho biết miền Tây rất khả quan, chỉ có quốc lộ 4 tạm thời bị cắt đứt. Tướng Nguyễn khoa Nam đã hai lần yêu cầu ông Dương văn Minh cho phép ông đem quân giải tỏa Quốc lộ 4, phản công, nhưng Dương văn Minh dặn đi dặn lại mấy lần là đừng phản công mạnh, tạm thời ở tư thế chờ, để ông tìm giải pháp chánh trị tại Sài Gòn. Tướng Nam than thở với tướng Pazzi: “Nếu tôi đánh mạnh là bất tuân thượng lệnh, nếu tôi đánh nhẹ thì tinh thần binh sĩ mất hết. Đến giờ này mà bức màng chánh trị còn bịt mắt quân đội. Ông nói lại với tướng Minh giùm là nước tràn bờ mà không cho đắp đê ngăn lại! Ông làm chứng giùm tôi: Quân đoàn 4 chúng tôi không thua. Chính trị Sài Gòn đã trói tay chúng tôi bắt buộc chúng tôi phải thua.”

Sáng ngày 30/4/75, sau khi nghe Dương văn Minh đọc bản “trao nước cho giặc”, tướng Nguyễn khoa Nam cùng nhiều tướng lãnh liêm sĩ khác đã chọn câu nói của Voltaire để giữ danh dự của người làm tướng; “Còn giữ được danh dự là chưa mất mát nhiều.”

Trời đã vào đêm rồi. Đại bác, súng liên thanh nổ gần hơn. Làn sóng người ngơ ngác tìm đường chạy trốn cộng sản nghẹt cứng cả thành phố. Ông Đại tướng Dương văn Minh đâu? Tướng Trần văn Trà đâu? Tại sao những người này không xuất hiện để thành lập chánh phủ liên hiệp? Tôi tự hỏi như thế.

Tôi lo lắng, gọi điện thoại về nhà ông Dương văn Minh. Người trả lời là trung tá Đẩu, chánh văn phòng: “Dạ thưa ông Đại sứ, Đại tướng chúng tôi hiện đi lên Xuân Lộc thương thuyết với người phía bên kia.”

Bỗng nhiên đầu óc tôi căng cứng từng mạch máu, tay chân bủn rủn. Ông Minh lên Xuân Lộc có nghĩa là gặp trực tiếp thượng tướng Lê đức Anh, phụ tá Văn tiến Dũng, nơi đây đang có mặt Lê đức Thọ. Tức là ông Đại tướng đi thẳng với phe Bắc Việt. Ông Minh đi trên tư thế nào? Quân không có, quan cũng không, chánh phủ chưa có gì hết. Như vậy chỉ là đi đầu hàng Bắc Việt. Công việc này không cần đến một Đại tướng! Trao cho một em bé đánh giầy 10 tuổi cũng làm được.

Cái hướng mà ông Minh cần đi là hướng Củ Chi, nơi thượng tướng Trần văn Trà đang chờ… Chờ đến kiếp sau!

Những gì mà ông Minh hứa với chúng tôi đã như nước đổ lá khoai. Bao nhiêu kế hoạch, bao nhiêu công trình vận động, phút chốc ông Minh làm tiêu tan hết. Lại còn dối gạt các tướng lãnh yêu nước khác, gây ra sự chậm trễ phản công giờ chót, bởi đa số đều tưởng ông Đại tướng có phép lạ, sáng chế được công thức ngưng bắn tại chỗ để phe quốc gia không bị thua trong nhục nhã.

Thâm ý của ông Minh là muốn đầu hàng, sau đó ngồi ăn, hưởng cho đến già.

(Lời dịch giả D.H.N.: Thật đúng như ông Mérillon đã nói, từ ngày 30/4/1975 cho đến ngày nay 1996, Dinh Hoa Lan của ông Minh không mất một chiếc đũa, không mất một cành hoa, một bụi cỏ nào.

Khi ông rời Việt Nam để đi định cư ở Pháp với toàn bộ gia đình, ông được tự do mang theo bất cứ thứ gì ông muốn, từ những món đồ cổ đến những kỹ vật, thượng vàng hạ cám… cộng sản phải dùng mấy xe vận tải đưa các thùng tài sản của gia đình ông xuống bến tàu cho ông. Dinh Hoa Lan ở đường Testard, bất động sản riêng của ông được ông giao cho trung tá Khử giữ gìn và quản lý, đến giờ này không một tên cộng sản nào dám đụng đến. Trung tá Khử hiện là chủ một vườn trồng lan tại Thủ Đức, cuối thập niên 80 là tổng thơ ký của Hội Hoa Lan Việt Nam).

Ngày 29/4/1975, 8:00 giờ tối, sau khi nhận lãnh chức Tổng Thống do cụ Trần văn Hương bàn giao lại, ông Minh điện thoại xin lỗi chúng tôi, bày tỏ sự hối tiếc đã không hợp tác được với chánh phủ Pháp. Cách duy nhất mà ông phải chọn là đầu hàng Bắc Việt mới mong cứu sống được thủ đô Sài Gòn.

Tôi lạnh lùng trả lời một câu duy nhất:

– “Thưa Đại tướng, chúng tôi cũng rất lấy làm tiếc. Giờ cuối cùng của chiến tranh Việt Nam cần có một người lãnh đạo cương quyết, dám dấn thân, nhưng chúng tôi lại đi chọn lầm một bại tướng.”

Tôi cúp điện thoại ngay, và từ 10 năm qua tôi không hề và cũng không muốn liên lạc với ông ta nữa.

NGÀY 1 THÁNG 5:

Lúc phi cơ xoay qua một độ nghiêng, lấy hướng qua Bangkok, tôi nhìn xuống Sài Gòn lần chót. Tự nhiên trong lòng tôi dâng lên một niềm ngậm ngùi thương tiếc tất cả những gì đang xảy ra dưới đất. Tôi như người bại trận, hay nói cách khác, tôi xin được làm bạn với người bại trận, một người bạn đã không chia xẽ mà còn bắt buộc Việt Nam Cộng Hòa phải gánh chịu hết tất cả… trong những ngày sắp tới.

Việt Nam và tôi có rất nhiều kỹ niệm, có quá nhiều quan hệ mật thiết suốt đời không phai lạt. Sống ở Việt Nam lâu năm, tôi cảm thấy thương xứ sở này. Tội nghiệp cho họ, họ có thừa khả năng dựng nước, nhưng cái quyền làm chủ quê hương đã bị các cường quốc chuyền tay nhau định đoạt. Tôi xin lỗi người Việt Nam. Tôi đã làm hết sức mình nhưng không cứu vãn được nền hòa bình cho dân tộc Việt. Vĩnh biệt Sài Gòn, Sài Gòn vẫn hồn nhiên với những mạch sống dạt dào ơn nghĩa, một khi đã chọn bạn hữu thâm giao.

Năm 1979, Đại sứ Võ văn Sung có thư mời tôi trở lại thăm Sài Gòn. Tôi từ chối với lý do không quen với cái tên Hồ chí Minh. Sài Gòn đã mất, tôi trở lại đó thăm ai? Ở đời có khéo lắm cũng chỉ gạt được người ta lần thứ hai, làm sao lừa dối được người ta lần thứ ba?

Người cộng sản giả bộ ngây thơ (ở một khía cạnh nào đó) nên tưởng nhân loại cũng đều ngây thơ như họ. Liên tục nói dối hàng bao nhiêu năm, tưởng như vậy quần chúng sẽ nhập tâm tin là thật. Họ lầm. Nói láo để tuyên truyền chỉ có lợi trong chốc lát, nhưng về lâu về dài thì chân lý của loài người sẽ đè bẹp họ. Ngày xưa Liên Xô đã xiết chặt sai khiến họ, dùng Việt Nam làm phương tiện đóng góp cho Nga. Họ có muốn thoát ly, có muốn nhờ Tây Phương tháo gở cho họ cũng không được nữa, vì đã từng phạm lỗi lớn là đã lường gạt Tây Phương…

Sau hết, chế độ Việt Nam Cộng Hòa thua, nhưng thật ra người Việt Nam chưa thua cộng sản. Trận chiến chưa chấm dứt vào ngày 30 tháng 4 năm 1975.

Mỗi năm, vợ chồng chúng tôi đều đi xuống Lourdes để kính lễ Đức Mẹ Lộ Đức. Luôn luôn tôi nhắc nhở nhà tôi, chúng tôi cùng cầu nguyện cho người Việt Nam đạt được nền hòa bình theo sở nguyện của họ. Tôi tin rằng Đức Chúa Trời và Đức Mẹ không bỏ rơi dân tộc Việt Nam.

Jean-Marie MÉRILLON

Cựu Đại Sứ Pháp tại Việt Nam

Share từ FB anh Vinh X Diep

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Người đi không muốn lưu lại bằng chứng

GỞI TIỀN CHO MẸ_Thơ: Nguyễn Minh Thanh

Gởi tiền cho Mẹ

This image has an empty alt attribute; its file name is tranvanhai.jpg

* Ngậm ngùi tưởng niệm Tướng quân Trần Văn Hai !!

Con bất hiếu chút tiền xin dâng Mẹ

Và, Mẹ ơi vĩnh biệt kể từ đây

Ngóng tin con, Mẹ vò võ từng ngày

Mắt thăm thẳm nơi con đang đồn trú..!!

Đạo làm Tướng nhìn non sông thất thủ

Mà, với con không biết tính làm sao

Ngày qua ngày ăm ắp quặn lòng đau

Trước tình thế biển trào làn Sóng Đỏ..!!

Hỡi chiến hữu, đệ huynh hằng gắn bó

Cùng tử sanh dày dạn gội phong sương

Để bây giờ trước ngưỡng cửa thê lương

Xin vĩnh biệt, cảm ơn, chào tất cả..!!

Sông Nuí ơi! Nghẹn ngào ta từ giã

Nghe thẹn lòng không giữ được Núi Sông

Bao năm ròng chiến đấu để bại vong

Tiếc xương máu thấm vào lòng mạch đất..!!

Bao: quả phụ, cô nhi, và thương tật

Những mảnh đời lây lất lắm tai ương

Dòng sông dài lênh láng máu Quê Hương

Đang oằn oại dưới tà dương đẫm lệ..!!

Cờ Vàng ơi! Tung bay, từng ngạo nghễ

(Máu anh hùng tô điểm thắm Cờ Nam)

Rồi bây giờ Cờ rũ nhuốm màu tang

Màu ảm đạm lan tràn lên Tổ Quốc..!!

Núi Sông ơi! Ngậm ngùi ngươi đã mất

Thì ta còn sống nhục để làm chi

Xót phần mình chưa trọn phận nam nhi

Hận đành phải vĩnh ly vì đại cuộc..!!

Kính lạy Mẹ, cho con đền nợ nước

Nhớ Me nhiều, nhiều lắm trước lâm chung

Chút tiền lương kính gởi Mẹ chi dùng

Trong những lúc con không còn lo cho Mẹ..!!

Cúi lạy Mẹ, nguôi ngoai về con trẻ

Gắng giữ gìn sức khỏe Mẹ hiền ơi

Phần Em, giùm nuôi dạy lũ con côi

Vĩnh biệt nhé, Mẹ ôi, con vĩnh biệt!!

Tổ Quốc ôi! Nỗi đau gào thống thiết

Dòng Cửu Long sóng biếc… vỗ thiên thu

Hỡi những người gieo lửa máu âm mưu

Để lịch sử đời đời sau phê phán..!!

NGUYỄN MINH THANH

(Mùa Quốc Hận)

 *Tướng Trần Văn Hai (1929 – 1975), người Cần Thơ, tốt nghiệp khoá 7 trường VBQGVN, cu Tư lệnh SĐ 7/ BB.

Ngày 30 – 4 – 1975  trước khi uống độc dược, Ô. đã tận tay trao tùy viên Tr.Úy Hh v Hoa 70.000$ nhờ đưa Mẹ già đang ở SG !! Được hung tin, ngay sáng sớm hôm sau, bà Mẹ già mưu trí, cùng Tr/Úy Hoa tìm cách cấp tốc đưa thi hài Ông về an táng tại Gò Vấp, SàiGòn..!!

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở GỞI TIỀN CHO MẸ_Thơ: Nguyễn Minh Thanh

MỪNG NGÀY CHIẾN THẮNG (Truyện vui)

                                    Mừng Ngày Chiến Thắng

                                                Lộc Dương

This image has an empty alt attribute; its file name is mung-ngay-chien-thang.jpgNhư mọi ngày, cứ vào lúc tờ mờ sáng, bà mẹ Việt Nam anh hùng có tên là Ngu Thị Muội lại mò mẫm xuống con rạch bên nhà để mong kiếm con cua, con tép cho hai bữa ăn của mình. Hồi trước lúc mẹ còn làm biếng, mẹ chỉ ngồi nhà ăn cơm với muối, mấy ngày liền mẹ đi cầu không được, bụng sình lên, mẹ sợ lắm rồi. Cho nên bây giờ dù mưa hay nắng, mẹ vẫn phải làm siêng lặn lội thân cò, kiếm chút chất dinh dưỡng nuôi cái thân già không ai ưa của mẹ.

Sáng nay mới bắt được hai con tép con lận vào cạp quần thì có một đoàn cán bộ xã tới kêu mẹ lên để có phái đoàn quay phim, phỏng vấn, sau đó sẽ trao tặng quà tượng trưng cho mẹ nhân ngày “giải phóng” 30/4. Nghe có quà, mẹ lóp ngóp leo lên, lòng mừng khấp khởi. Về tới nhà mẹ, họ yêu cầu mẹ thay đồ mới để lên phim. Mẹ nói:

Tao đâu còn đồ nào mà thay ? Có cái quần khác, phơi từ hồi hôm tới giờ còn ướt, làm sao giờ?

– Thôi kệ đi, tay phóng viên tỏ vẻ sốt ruột. Tôi chỉ quay nửa phía trên của bả thôi, không ai thấy đâu.

Ông trưởng đoàn bèn nhanh nhẩu bày ra trên mặt bàn gỗ xiêu vẹo vài cái tách uống trà lấy từ trong túi đồ nghề ra, lại thêm đĩa trái cây là vài trái thanh long và một bó nhãn. Thấy trái cây, mắt mẹ sáng quắc lên, cái bụng đói sôi lên sùng sục. Mẹ bèn thò tay ra toan lấy ăn nhưng chị cán bộ giữ tay mẹ lại:

– Cái này là để quay phim, không phải để cho mẹ ăn. Tụi tui còn đi quay mấy nhà khác nữa, mẹ cứ làm như chết đói tới nơi.

Mẹ rụt tay lại một cách hết sức tội nghiệp. Nhưng thật ra đã có mấy trái nhãn nằm gọn trong lòng bàn tay mẹ, và chỉ 2 giây sau số nhãn này đã yên vị trong cạp quần của mẹ. Cái trò dấu giếm qua mặt thiên hạ này mẹ thạo. Ngày xưa mẹ còn dấu được cả đống du kích trong nhà, mấy trái nhãn chỉ là chuyện muỗi.

Ông trưởng đoàn ngồi xuống cái ghế đối diện với mẹ, cầm máy thu âm lên và bắt đầu cuộc phỏng vấn:

– Đảng và nhà nước ta luôn tri ân những người có công với cách mạng. Hôm nay thay mặt chính quyền địa phương, chúng con đến để thăm hỏi xem cuộc sống hàng ngày của mẹ ra sao?

Đói! Tao đói dữ lắm. Bộ bây không thấy người tao xanh lả xanh lướt ra đây sao?

Ông trưởng đoàn trừng mắt :

– Mẹ không được nói đói, nghe kỳ lắm. Mẹ phải nói là no. Mẹ nói lại đi.

Ừa, no, no dữ lắm Bây không thấy người tao xanh mét đây sao?

Ông trưởng đoàn phấn khởi nhìn thẳng vào ống kính máy quay phim, cái miệng hô hốc há to ra trước micro:

– Ngày trước, trong kháng chiến chống Mỹ, mẹ Ngu Thị Muội rất kiên cường. Dù thiếu thốn đến mấy, mẹ vẫn hàng ngày rót cơm nước xuống hầm nuôi sống cán bộ. Nay cách mạng đã thành công, chắc niềm vui của mẹ sẽ nhân đôi?

Vui cái đầu mày. Tao mà biết vầy, hồi đó tao rót nước sôi xuống hầm cho không thằng nào còn trồi đầu lên được.

Ông trưởng đoàn làm mặt giận:

– Mẹ nói gì kỳ quá. Đang quay phim mà. Yêu cầu mẹ nói cho đúng chính sách. Giờ xin mẹ cho biết: Dưới sự chỉ đạo của đảng, cuộc sống của mẹ luôn được chính quyền xã quan tâm, chăm sóc. Mẹ có thấy vui không?

Quan tâm chăm sóc bà nội tao. Cả năm có đứa nào ngó ngàng tới tao đâu. Lâu lâu tao cần chuyện lên xã, gặp mấy con cán bộ mặt mày hung dữ như mấy con mụ phù thủy.

Ông trưởng đoàn nổi cáu:

– Mẹ không được nói xấu cán bộ. Mẹ phải nói cán bộ chúng con rất hiền lành, rất thương dân, nghe chưa? Hay là mẹ muốn ăn bạt tai?

Sợ bị đòn, mẹ Việt Nam anh hùng bèn leo lẻo cái miệng:

Ừa thì có chuyện cần lên xã, mấy cô cán bộ mẹ gặp đều hiền lành dễ thương như mấy con mụ phù thủy….

Ông trưởng đoàn nhoẻn miệng cười thỏa mãn:

– Xin hỏi mẹ câu chót: Trước chính sách lo cho dân của đảng và nhà nước ta, mẹ có ước mơ gì không?

Có! Có chớ. Mẹ đang ước mong thằng Mỹ quay trở lại như ngày xưa để mẹ khỏi phải lo đói như bây giờ. Hồi đó ai nói nó ác, chứ mẹ thấy tụi Mỹ dễ thương thấy mồ. Đi hành quân về, tụi nó làm biếng vác nặng, gặp mấy người già già như mẹ là nó kêu lại, cho hết đồ hộp còn dư trong ba lô của tụi nó. Mẹ ăn đâu có hết. Mà sao lúc đó mẹ ngu gì đâu, mẹ chuyển xuống hầm cho mấy thằng chó đẻ ăn….

Nghe tới đây, ông trưởng đoàn gào lên:

– Thôi. Cúp máy. Dọn đồ nghề đi qua nhà khác. Láng cháng ở đây một hồi nữa là tù cả đám bây giờ.

Loc Duong

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở MỪNG NGÀY CHIẾN THẮNG (Truyện vui)

Một bài học về Quốc Kỳ Mỹ

Một cô ở Utah được người lấy rác
dạy cho ‘bài học’ về quốc kỳ Mỹ

5f0d7dd54a0b1cd0031a5dc5_co-nuoc-my-co-lich-su-ra-doi-nhu-the-naoHUNTINGDON, Utah (NV) – Một nhân viên lấy rác ở Utah được người khác quay phim cảnh ông ta lượm quốc kỳ Mỹ trong đống rác ra, rồi gấp lại gọn gàng, mà ông ta nghĩ không ai nhìn thấy, theo đài Fox 13 hôm Thứ Ba, 26 Tháng Tư.

Ông Don “Munch” Gardner, cựu chiến binh Thủy Quân Lục Chiến, được cô Brooke Cowley, cư dân Huntingdon, bí mật quay phim cảnh ông đang tôn vinh quốc kỳ Mỹ tuần trước.

TS-mot-co-o-utahHướng đạo sinh chào quốc kỳ Mỹ đang được đốt trong buổi lễ bỏ quốc kỳ không còn sử dụng tại Ramstein Air Base, Đức, hôm 14 Tháng Sáu, 2017. (Hình minh họa: Senior Airman Elizabeth Baker)

“Tôi đúng là ngốc nghếch! Hôm đó, tôi đang dọn dẹp sân trong lúc mấy đứa nhỏ chơi lượm trứng Phục Sinh. Tôi quăng cây cờ đi vì lá cờ bị rách và cây cờ bị gãy,” cô Cowley viết trên Facebook. “Sau đó, tôi nhìn thấy ‘ông lấy rác’ dừng lại, xuống xe, gỡ lá cờ ra xếp lại cẩn thận!”

Cô Cowley cho biết hành động của ông Gardner khiến cô xấu hổ vì không bỏ quốc kỳ không còn sử dụng một cách đàng hoàng, đặc biệt vì chồng cô là cựu chiến binh.

“Lúc này, tôi rất biết ơn ông ấy đã làm như vậy cũng như cảm kích lòng yêu nước và quốc kỳ của ông ấy! Cảm ơn ông ấy đã dạy tôi bài học không bao giờ quên,” cô Cowley viết về ông Gardner.

Ông Gardner lấy rác 8 đến 12 giờ một ngày khắp hai quận hạt Emery và Carbon ở Utah.

Ông cho báo địa phương hay ông lượm lại ít nhất 12 lá cờ Mỹ từ bãi rác trong 11 năm qua. Ông nói ông tức giận khi nhìn thấy người ta vứt bỏ quốc kỳ.

“Đôi khi chỉ là lỗi lầm. Còn hầu hết là cố ý. Tôi khó chịu với chuyện đó, cho nên tôi lượm lại để xếp đàng hoàng,” ông nói.

“Tôi từng thề bảo vệ đất nước này và quốc kỳ của chúng ta, và giờ vẫn vậy,” ông Gardner nói. “Nhiều người phải chết để bảo vệ lá cờ này cũng như chiến đấu dưới lá cờ này. Máu đổ rất nhiều để chúng ta có được tự do như hôm nay.”

Theo Bộ Quốc Phòng, nhiều văn phòng chính quyền tiểu bang và quận hạt cũng như Hội Cựu Chiến Binh Hoa Kỳ (VWF) có đặt thùng nhận quốc kỳ không còn sử dụng phía trước trụ sở của họ. Sở Cảnh Sát cũng nhận những lá cờ này. Nếu những thùng này đầy, nhiều tổ chức như American Legions và Hướng Đạo cũng nhận những lá cờ này và làm lễ từ bỏ trang trọng.

(Th.Long) [qd]

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Một bài học về Quốc Kỳ Mỹ

HÚY NHẬT TRUNG TÁ LONG_Trần Pháp & Trần Quốc Nại

This image has an empty alt attribute; its file name is trung-ta-long.jpg

HUÝ NHẬT TRUNG TÁ LONG

Huý nhật thường niên Trung Tá Long
Ba mươi ngày cuối tháng tư đen
Xẻ chia gia tộc cơn gia biến
Tưởng nhớ anh hùng vị quốc vong
Phú quý chẳng màng khi nước đục
Cơ hàn cam chịu để lòng trong
Quyết đem an lạc tô đời sống
Gãy cánh giữa đường mộng vỡ tan

TP

Bài Họa của TQN:

NGƯỜI KHÔNG BAO GIỜ CHẾT

Cảnh Sát Quốc Gia Trung Tá Long
Anh hùng tuẫn tiết tháng tư đen
Vinh danh xứng đáng khi nằm xuống
Hào kiệt hy sinh vận nước vong
Lưu lại tiếng thơm cho hậu thế
Mang theo khí phách giữ lòng trong
Ngàn năm bia đá hằng ghi dấu
Trang sử Việt Nam mãi chẳng tan./-
TQN.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở HÚY NHẬT TRUNG TÁ LONG_Trần Pháp & Trần Quốc Nại

MẤY VẦN THƠ THÁNG TƯ_Tuệ Nga & Lê Phương Lan

Mấy Vần Thơ Tháng Tư

Tháng Tư, người viễn xứ gửi nỗi buồn về bên kia bờ Thái Bình Dương nơi một phần đời đã lưu lại để phần đời còn lại vẫn mãi nhớ thương.

KHOANG ĐẦY

Cách nửa bán cầu đất nước tôi,

Đường về sương tuyết cách ngăn rồi.

Con thuyền ngược gió neo bờ lạ.

Chất một khoang đầy …thương nhớ ơi!

Tuệ Nga

VÌ ĐÂU?

Gần nửa đời người xa quê tôi,

Gian ác làm nên vách ngăn rồi.

Đồng bào xử tệ hơn người lạ!

Vì đâu nên nỗi, mẹ Việt ơi!

Lê Phương Lan

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở MẤY VẦN THƠ THÁNG TƯ_Tuệ Nga & Lê Phương Lan

Tản Mạn Ngày 30/4 – Tác giả Đặng Chí Hùng

TẢN MẠN NGÀY 30/4

ĐẶNG CHÍ HÙNG

PHẦN 1: 30/4- NGƯỜI VUI VÀ NGƯỜI BUỒN

Trong một cuộc họp với Mao Trạch Đông hồi năm 1970, Lê Duẩn đã cho Mao Trạch Đông biết, Việt Nam đang trường kỳ kháng chiến chống Mỹ là vì Trung Quốc. Lê Duẩn đã nói, nguyên văn như sau: “Tại sao chúng tôi giữ lập trường bền bỉ chiến đấu cho một cuộc chiến kéo dài, đặc biệt trường kỳ kháng chiến ở miền Nam? Tại sao chúng tôi dám trường kỳ kháng chiến? Chủ yếu là vì chúng tôi phụ thuộc vào công việc của Mao Chủ tịch… Chúng tôi có thể tiếp tục chiến đấu, đó là vì Mao Chủ tịch đã nói rằng 700 triệu người Trung Quốc đang ủng hộ nhân dân Việt Nam một cách vững chắc”.

Còn cuốn sách “MAO: The Unknown Story” – viết: “Có một nơi gần Trung Quốc, nơi đã có người Mỹ, đó là Việt Nam. Cuối năm 1963, miền Nam Việt Nam có khoảng 15,000 cố vấn quân sự Mỹ. Kế hoạch của Mao là tạo tình huống làm cho Mỹ phải gởi thêm quân đội vào miền Nam, ngay cả có thể xâm chiếm miền Bắc giáp giới với Trung quốc.”. Và Lê Duẩn sau này cũng đã khẳng định “Ta đánh Miền Nam là đánh cho Liên Xô, cho Trung Quốc, cho các nước xã hội chủ nghĩa”.

Trong khi đó, bà Dương Thu Hương, một đảng viên đương thời lúc CSVN chiếm được Miền Nam đã khóc trong ngày 30 tháng 4 năm 1975, khi bà theo chân đoàn quân chiến thắng vào tiếp thu Sài Gòn, và bà đã “Ngồi xuống vỉa hè ôm mặt khóc như cha chết, vì nhận ra rằng, kẻ thắng trận là một chế độ man rợ hơn người thua”. Bà đã mô tả lại sau này rằng trong bà lúc đó có “Một cảm giác vô cùng hoang mang và cay đắng  vì cái đẹp phải tan nát, và nền văn minh phải quy hàng”. Còn ông cựu thủ tướng CSVN – Võ Văn Kiệt thì bảo ngày 30/4 là ngày mà “Triệu người vui, cũng có triệu người buồn”.

Đó là thống nhất ư? Không, nước Đức không cần T54 húc đổ dinh tổng thống. Nước Thái không cần đảng cộng sản lãnh đạo, nước Sinh chẳng cần sự “đỉnh cao trí tuệ loài người”. Nhưng họ vẫn có tự do và thống nhất, vươn lên mạnh mẽ. Có gì mà tự hào với cái gọi là thống nhất khi mấy chục triệu người dân hai miền đã phải ngã xuống vì chiến tranh phi nghĩa? Dân tộc VN là một, thống nhất không cần phải xua xe tăng và đại pháo tới bắn giết đồng bào Miền Nam. Cái gọi là thống nhất chỉ là bức bình phong cho một sự tham quyền, tham của và làm tôi mọi cho chủ nghĩa cộng sản của những Hồ, Đồng, Chinh Giáp. Bằng chứng tuyệt vời về cái gọi là thống nhất chỉ là trò lừa bịp đó là Hà nội đã mặc nhiên dâng Hoàng – Trường Sa cho Tàu thông qua sự kiện công hàm 1958 của Phạm Văn Đồng và vụ ủng hộ Tàu “đánh giúp lấy Hoàng Sa” năm 1974. Bằng chứng đó cho thấy CSVN không hề muốn thống nhất lãnh thổ, mà nó chỉ muốn tuân lệnh Mao một cách tuyệt đối mà thôi!

Miền Nam cũng không cần giải phóng bởi Sài Gòn hòn ngọc Viễn Đông không cần một thứ kim khí thô ráp nào để mài rũa, để bỏ tù, để đánh tư sản, để đầy đi kinh tế mới. Sài Gòn lúc đó đã đi trước Soul, Singapor, Bangkok rất xa thì Hà Nội có gì để mà “giải phóng”? Miền Nam cũng không hề đói nghèo như họ Hồ bôi bác thông qua những lần phát ngôn và thông qua đội ngũ bồi bút. Dân Nam thanh bình và yên ấm đã chẳng cần giải phóng bởi họ thừa thuốc, thừa gạo, thừa vải đến mức các con tàu, đoàn xe “giải phóng” phải chạy hết công suất để đem ra Miền Bắc sau ngày CS chiếm được Miền Nam. Cái mà bà Dương Thu Hương đã nói rất hợp lý với thực tế lịch sử và hiện tại. Và một điều minh chứng rõ nhất cho cái gọi “giải phóng Miền Nam” chỉ là một điều láo khoét:  Chẳng có một đất nước nào được giải phóng mà dân lại phải tìm đường đi trốn quân giải phóng, và dân nước đó lại luôn nhớ ơn kẻ bị gọi là “đô hộ”…Quan thì có có thể nói dóc, nhất là quan cộng sản, chứ dân thì luôn thật và luôn thể hiện thái độ đúng những gì lịch sử đã xảy ra…

Khi mà Thống nhất hay giải phóng chỉ là lừa gạt và dối trá thì cái khái niệm triệu người vui, cũng có triệu người buồn nó cũng có một phần lớn đúng. Cái người vui là người đã thỏa mãn được sự ăn cướp, thỏa được sự đổi đời nhờ đánh giết chính người cùng dòng giống với mình. Đó là đảng CS Hà Nội, là những kẻ nằm vùng tại Miền Nam. Từ đây họ đổi đời, được nhà đất, chức tước, tiền tài, thậm chí cả vợ con của những người thuộc chế độ VNCH. Như vậy, nói cho đúng thì những kẻ vui là những tên cướp được may mắn thành công nhờ sự phản bội của đồng minh đối với nạn nhân.

Còn người buồn ư? Nhiều lắm, họ là công chức, binh lính, thân nhân những người thuộc chế độ độ VNCH. Họ là dân Miền Nam từ sau 30/4/1975 sẽ phải sống cúi đầu trong lầm than, khổ đau, mất tự do. Họ là cả người Miền Bắc mất thân nhân vì cái gọi là “Sinh bắc tử nam”. 90% dân tộc VN là người buồn, chỉ có một lũ ăn cướp trong đó có Võ Văn Kiệt là kẻ vui. Đó là một kết cục cay đắng của cái gọi là giải phóng, là thống nhất.

Ngày 30/4/1975, ngày mà kẻ vui chỉ là số ít mà người buồn là số đông thì ngày đó sẽ là ngày của những nỗi xót xa và đọa đầy…

PHẦN 2: NHỮNG NỖI XÓT XA ĐỌA ĐẦY

Trong cuộc phỏng vấn tạp chí George năm 1998, chính tướng William Childs Westmoreland – Tư lệnh Bộ chỉ huy cố vấn quân sự Mỹ tại miền Nam Việt Nam- về tướng Võ Nguyên Giáp của quân đội cộng sản như sau: “Of course, he was a formidable adversary…. By his own admission, by early 1969, I think, he had lost, what, a half million soldiers? He reported this. Now such a disregard for human life may make a formidable adversary, but it does not make a military genius. An American commander losing men like that would hardly have lasted more than a few weeks”. Xin được tạm dịch là: “Dĩ nhiên, ông ta là một đối thủ ghê gớm…. Với sự thừa nhận của chính ông ta, đến đầu năm 1969, tôi nghĩ, ông ta đã mất nửa triệu lính? Ông ta đã báo cáo điều này. Hiện tại, một sự coi thường mạng người như thế có lẽ sẽ tạo nên một đối thủ ghê gớm, nhưng nó không tạo nên một thiên tài quân sự. Với một người chỉ huy người Mỹ mà làm thiệt mạng nhiều binh sĩ thì vị chỉ huy đó sẽ bị cách chức sau vài tuần lễ”.

Một cuộc chiến tranh phi nghĩa với danh xưng giải phóng và thống nhất bằng vũ lực quân sự mà ở đó, các lãnh đạo Hà Nội không coi cuộc sống của dân lành, của thanh niên là gì. Các lãnh đạo cộng sản coi thường sinh mạng của mình để đổi lấy sự vinh quang cho riêng lãnh đạo. Các bà mẹ miền Bắc chỉ biết đến “Các con không về mình mẹ lặng yên” (trích “Đất nước” – Nhạc: Phạm Minh Tuấn – Thơ: Tạ Hữu Yên). Trong khi đó, các con của các mẹ đã bị đẩy vào chiến trường cho cái gọi là sinh bắc tử nam. Một sự xót xa đọa đầy cho người miền bắc.

Những nỗi xót xa và đắng cay của những số phận nghiệt ngã đi tìm cái chết để đem lại giàu sang tột cùng cho con cháu Hồ, Giáp, Duẩn, Chinh, Đồng vv…đã được nhà văn cộng sản hồi chánh Xuân Vũ mô tả chính xác “mạng người lá rụng”. Những đứa con của các bà mẹ Miền Bắc như thể những chiếc lá trên rừng Trường Sơn rơi vào quên lãng, rơi vào mục nát, rơi vào quên lãng để cho bác và đảng vinh quang trong chiến thắng ồn ào…

1650936505742blobNhưng ngày 30/4 lại còn đem đến những nỗi xót xa hơn cho cả Miền Nam và chung quy là cho cả dân tộc trừ 10% bọn cộng sản, nằm vùng và mafia đỏ. Nhà báo James Taranto đã trích dẫn cuộc điều tra quy mô của nhật báo Orange County Register được phổ biến trong năm 2001 về “học tập cải tạo” tại Việt Nam và đã kết luận rằng: “Ngay sau khi xâm chiếm VNCH, cộng sản đã đưa một triệu quân dân cán chính VNCH vào tù vô thời hạn – dưới cái nguỵ danh học tập cải tạo – trong ít nhất là 150 trại tù được thiết lập trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam kể cả những nơi rừng thiêng nước độc với khí hậu khắc nghiệt. Theo Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, đại đa số những người này đã bị giam cầm từ 3 tới 10 năm và có một số người đã bị giam giữ tới 17 năm. Nếu lấy con số trung bình là bẩy năm tù cho mỗi người, số năm tù của một triệu người là 7,000,000 năm… Cứ mỗi ba gia đình tại Miền Nam, có một gia đình có người phải đi tù cải tạo. Và trong số một triệu người tù kể trên, đã có 165,000 người chết vì bị hành hạ, tra tấn, đánh đập, bỏ đói, lao động kiệt sức, chết vì bệnh không được chữa trị, bị hành quyết… Cho tới nay, hài cốt của 165,000 nạn nhân này vẫn còn bị Việt Cộng chôn giấu trong rừng núi, không trả lại cho gia đình họ. Hiện nay chỉ có Việt Cộng mới biết rõ tên tuổi các nạn nhân cùng nơi chôn giấu hài cốt của họ. Đây là tội ác thủ tiêu mất tích người, một tội ác chống loài người đã và đang diễn ra tại Việt Nam suốt 35 năm nay mà thủ phạm là Lê Duẩn…”.

Còn theo tài liệu của Viện Bảo Tàng Việt Nam tại San Jose ghi nhận số lượng tù cải tạo thực sự đều là tù chính trị như sau: “Năm 1975 QLVNCH có 980.000 quân nhân gồm 1/10 cấp Tá và cấp Tướng tổng cộng 9.600, cấp úy là 80.000, còn lại là hạ sỹ quan và binh sĩ . Binh sĩ VNCH bị bắt đi cải tạo sau ngày 30 tháng 4, 1975.AFP/Getty Images – Cấp Tướng tại ngũ đến 30 tháng 4 năm 75 là 112; bị tù cải tạo: 32 vị, 80 tướng lãnh di tản và 1 số nhỏ không bị bắt giam. – Ðại tá có 600, bị tù 366. – Trung tá có 2.500, bị tù 1.700. – Thiếu tá có 6.500, bị tù 5.500. – Cấp úy có 80.000, bị tù 72.000. Trong số này bao gồm cả nữ quân nhân cũng như thành viên đảng phái và các cấp chính quyền. Ðây là con số ghi nhận được từ phía Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa, không có tài liệu của các trại giam phía cộng sản để đối chiếu; và không có con số chính xác tù cải tạo bị chết trong khi giam cầm”.

Hàng triệu người quân dân cán chính VNCH phải đi tù, vợ con họ bị hãm hiếp, lao động cưỡng bức, đầy đi vùng kinh tế mới. Gia sản, nhà cửa bị cướp mất để làm giàu cho quan to của đảng cộng sản hay đám sâu bọ nằm vùng trước 1975. Hàng trăm nghìn người đã bỏ mạng trên biển chỉ bởi muốn thoát khỏi nhà tù lớn, muốn có được hai chữ tự do. Cảnh tù đầy sau 1975 đã được miêu tả qua nhiều hồi ký như Tôi Phải Sống, Đại Học Máu, Đáy địa ngục, Tôi đi cải tạo vv…xin đọc một đoạn để thấy sự thật đau lòng cho người dân Miền Nam sau 30/4/1975: “Đã hơn hai tháng nay, chúng tôi không được ăn miếng thịt nào. Lao động mỗi ngày 8 tiếng, toàn việc nặng. Cơm không có, mỗi ngày lãnh hai chiếc bánh mì luộc, mỗi cái khoảng 200 gram và một nửa chiếc bánh buổi sáng 50gram, như vậy chúng tôi chỉ được ăn 450 gram chất bột với muối, không có chất béo, chất rau và chất đạm nào! Do đó, ai nấy đều gầy rộc hẳn, da khô khốc. Trên nguyên tắc theo giấy tờ chúng tôi được ăn 18 kí lô chất bột, 300 gram thịt mỗi tháng, nhưng thực tế chúng tôi chỉ được ăn 13 kí 500 chất bột”, (Đáy Địa Ngục -Tạ Tỵ trang 378- 379.).

Lý do ư? Đảng CSVN phải sắt máu để làm khiếp sợ quân dân cán chính VNCH, phải trả thù cho được những người đã bảo vệ miền nam đến cùng. Lê Duẩn đã khẳng định trong sách “Lê Duẩn, Nội dung cơ bản của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam”, xuất bản lần 1 tại trang 482 có viết: “Sức mạnh vô địch của cách mạng Việt Nam được tích luỹ qua gần nửa thế kỷ đấu tranh dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, kết tinh cả truyền thống chiến đấu và tài thao lược của tổ tiên ta. Bằng ý chí của chúng ta, những kẻ một thời lầm đường lạc lối theo Mỹ – Ngụy đã được lao động cải tạo để trở thành những công dân có ích cho xã hội mới…”. Trong khi đó Đỗ Mười thì tuyên bố trắng trợn hơn “Giải phóng rồi, nhà cửa của bọn nó là của chúng ta, vợ con của bọn chúng thì chúng ta dùng”…

Một miền nam tươi đẹp đã ra đi, một miền nam tươi đẹp đã băng hà sau ngày 30/4/1975 để đến nỗi tiêu điều, khổ cực như Huy Đức đã viết là một ví dụ dù Huy Đức chưa viết hết những sự thật kinh hoàng về những kẻ cướp ngày “Tối 10-9-1975, “tin chiến thắng” liên tục được báo về “Đại bản doanh” của Trung ương Cục đóng tại Dinh Độc Lập. Con số bị bắt cho đến khi ấy vẫn tăng lên. Các đoàn đưa ra những con số chi tiết: hàng chục triệu tiền mặt, hàng chục ký vàng, cả “kho” kim cương, hàng vạn mét vải và cả một cơ sở chăn nuôi gồm “7. 000 con gà, thu hoạch 4. 000 trứng mỗi ngày”120 ở Thủ Đức. Một nhà tư sản đang nằm viện bị yêu cầu kiểm tra xem ốm thật hay cáo bệnh, trong khi đó con trai ông ta bị bắt để buộc phải khai ra nơi cất giấu tiền, vàng. Do tin tức bị lọt ra, một số nhà tư sản đã kịp cao chạy xa bay, có người bị bắt khi đang chuẩn bị trốn.”

Thảm kịch của miền nam chưa dừng lại ở cướp ngày mà nó trực tiếp đẩy người dân vào một thảm kịch khác: trên biển đông. Tập tài liệu ấn hành vào năm 2000, mang tựa đề “The State of the World’s Refugees 2000, 50 yearsof Humanitarian Action,” viết về tình trạng tị nạn thế giới, để đánh dấu 50 năm hoạt động nhân đạo của Liên Hiệp Quốc, Bà Sadako Ogata, Cao Ủy Trưởng Tị Nạn Liên Hiệp Quốc, đã nói về lòng can trường của hàng triệu người tị nạn và lánh nạn trên thế giới đã mất tất cả, ngoại trừ niềm hy vọng, và đã vượt qua biết bao thử thách và chông gai để đi tìm con đường sống. Bà Ogata đã tuyên dương những người này là “Những người sống sót vĩ đại của Thế Kỷ 20”. Cuốn sách cho biết:

“Ngay từ cuối năm 1975, những đợt người tị nạn Việt Nam đã bắt đầu đến lánh nạn tại các nước lân bang. Vào những ngày đó, Thái Lan đã đón nhận 5. 000 người tỵ nạn từ Việt Nam qua, tại Hồng Kông cũng đã có 4. 000 tị nạn, Tân Gia Ba 1, 800 người, và có khoảng 1. 250 người cũng đã đến Phi Luật Tân. Vào tháng 7 năm 1976, khi chế độ Hà Nội loại trừ bộ máy quản chế miền Nam của Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam để thực hiện việc thống nhất hai miền, cưỡng chế người dân đi vùng kinh tế mới, và tập trung trên một triệu người miền Nam vào các trại tù cải tạo, những làn sóng di tản bằng đường biển bắt đầu gia tăng. Và đến cuối năm 1977, đã có trên 15. 000 người Việt sang tị nạn tại các nước trong vùng Đông Nam Á. Cho đến năm 1978, khi nhà cầm quyền Cộng Sản phát động chính sách cải tạo tư sản, và tiếp theo đó là việc xua quân xâm chiếm Cam Bốt, và phải đương đầu với cuộc chiến biên giới với Trung Quốc, làn sóng tị nạn bằng đường biển đã tăng lên gấp bốn lần, với đa số người ra đi thuộc khối người Việt gốc Hoa, để sau đó được đưa sang định cư tại các tỉnh phía Nam Trung Quốc.

Vào cuối năm 1978, đã có 62. 000 thuyền nhân người Việt tị nạn tại các nước Đông Nam Á. Riêng trong tháng 6 năm 1979, đã có trên 54. 000 thuyền nhân Việt Nam đến tị nạn tại các nước nói trên. Những làn sóng tị nạn này đã khiến cho các nước trong khối Đông Nam Á, như Mã Lai Á, Thái Lan, Phi Luật Tân, Tân Gia Ba và Nam Dương tuyên bố không nhận thêm người tị nạn từ Việt Nam, khiến cho những đợt thuyền nhân đến sau đã bị xua đuổi cấm không cho lên bờ. Cũng kể từ đó, con số thuyền nhân tử vong trên biển cả cũng đã gia tăng.

Sau những cuộc hành trình hãi hùng lênh đênh trên đại dương, một số thuyền nhân cũng đã đến được bến bờ tạm dụng. Những lớp người này đã đem cho thế giới bên ngoài những mẫu chuyện về người cha, người mẹ, đã phải chia nhau những hạt cơm rơi từ miệng những đứa con; đến chuyện chia nhau từng giọt nước quý hơn vàng được vắt ra từmiếng vải thấm mưa, để đánh lừa những cơn đói khát triền miên. Hay là những chuyện thương tâm về người chết đã cứu được người sống với thịt máu của chính mình. Hoặc nữa là những chuyện nói nhỏ, kể về những trường hợp phải đương đầu với hải tặc. Ngoài những mối đe dọa do sự đầy đọa của con người đối với con người, những thuyền nhân này còn phải đương đầu với những cơn thịnh nộ của thiên nhiên. Những cơn phong ba bão táp đã khiến cho không biết bao nhiêu thuyền nhân làm mồi cho biển cả. Không ai dám phỏng đoán với mỗi người có cơ may đặt chân lên bến bờ tự do, đã có bao nhiêu người hy sinh trên đại dương.

Cuối cùng, làn sóng người tị nạn Việt Nam bằng đường biển đã viết lê thiên bi sử của thuyền nhân, và những câu chuyện hãi hùng của các cuộc vượt biển của người tị nạn Việt Nam đã đánh động được lương tâm thế giới. Vào tháng Ba 1979, chương trình Ra Đi Có Trật Tự ra đời để cố gắng ngăn chặn những làn sóng vượt biển. Ngoài ra, cũng vào thời gian này, các chương trình cứu người vượt biển đã được một số tổ chức thiện nguyện quốc tế phát động hai chiếc tầu cứu vớt thuyền nhân ngoài biển là Anamur do một tổ chức từ thiện Đức Quốc vận động vào năm 1979 L’Ile deLumiere của tổ chức từ thiện Pháp Medecins du Monde điều hành vào năm 1980 đã cứu mạng được nhiều thuyền nhân Việt Nam lênh đênh ngoài biển cả trong khoảng thời gian từ 1979 cho đến 1990.”

…Tất cả sự đau thương thống khổ của người dân hai miền nam bắc chỉ đổi lấy sự hào nhoáng giả tạo, sự chiến thắng viển vông và sự giàu có cho chỉ tầng lớp lãnh đạo đảng, nằm vùng và cơ hội. Còn toàn thể dân hai miền thì đau thương không xiết. Những nỗi đau thương cứ đầy theo năm tháng mãi không thể xóa nhòa bởi từ ngày 30/4 thống hận đó, lịch sử toàn bộ đất nước VN lại bước vào một kỷ nguyên mới: Kỷ nguyên của đau khổ, cùm kẹp và đầy rẫy trái ngang…Nguyên nhân thì có nhiều, nhưng không thể nào quên những kẻ phản bội miền nam.

Đặng Chí Hùng

24/04/2022

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Tản Mạn Ngày 30/4 – Tác giả Đặng Chí Hùng

Mấy Vần Thơ Tháng Tư – Tuệ Nga & Lê Phương Lan

MẤY VẦN THƠ THÁNG TƯ

Tháng Tư, người viễn xứ gửi nỗi buồn về bên kia bờ Thái Bình Dương nơi một phần đời đã lưu lại để phần đời còn lại vẫn mãi nhớ thương.

KHOANG ĐẦY


Cách nửa bán cầu đất nước tôi,
Đường về sương tuyết cách ngăn rồi.
Con thuyền ngược gió neo bờ lạ.
Chất một khoang đầy …thương nhớ ơi!
Tuệ Nga

VÌ ĐÂU

Gần nửa đời người xa quê tôi,
Gian ác làm nên vách ngăn rồi.
Đồng bào xử tệ hơn người lạ!
Vì đâu nên nỗi, mẹ Việt ơi!

Lê Phương Lan

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Mấy Vần Thơ Tháng Tư – Tuệ Nga & Lê Phương Lan