Tiểu Sử Bà Nguyễn Thị Mai Anh

TIỂU SỬ BÀ NGUYỄN THỊ MAI ANH
ĐỆ NHỨT PHU NHÂN VNCH

(Copy từ Website Cochinchine- Saigon  –  QUÊ H ƯƠNG TA NHỚ )
Người viết: David Trần

Bà Nguyễn Thị Mai Anh, phu Nhân Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu sinh năm 1931, là con gái thứ bảy (nên còn có biệt danh Cô Bảy Mỹ Tho) trong một gia đình Công giáo ở Mỹ Tho có mười anh chị em.

https://youtu.be/UksNVKeVVz0

Lúc còn niên thiếu, Phu Nhân Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cùng người em gái Tám Hảo thường xuyên lên Sài Gòn để đi học và thăm thân nhân. Do gia đình quen biết với dược sĩ Huỳnh Văn Xuân, làm việc ở viện bào chế Trang Hai, hai chị em Bà được giới thiệu làm trình dược viên tại Viện bào chế Roussell. Chính ông Huỳnh Văn Xuân làm mai mối cho Nguyễn Văn Thiệu (lúc đó đang đeo lon Trung úy) quen Mai Anh. Mặt khác, cậu Mai Anh là Đặng Văn Quang cũng là bạn đồng khóa Trường Võ bị Đà Lạt với Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu nên cả hai người được se duyên thành vợ chồng, dù có đôi chút trở ngại vì Mai Anh theo đạo Công giáo. Ông Bà chính thức làm lễ cưới vào năm 1951. Sau này, vào năm 1958, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu mới rửa tội theo Công giáo.

Phu Nhân Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu hoàn toàn không can dự vào chính trường, mà chỉ chú tâm vào các hoạt động xã hội.
Ở cương vị là Phu Nhân của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, Bà rất thông cảm với sự thiếu thốn những trung tâm y tế phục vụ người dân. Vì thế, sau nhiều năm hoạt động xã hội, Bà Nguyễn Thị Mai Anh là người đã gợi ý và khởi xướng thành lập một bệnh viện phục vụ người dân ngay tại thủ đô Saigon.
Bệnh viện Vì Dân tọa lạc tại ngã tư Bảy Hiền, thường được giới bình dân Sài Gòn hay kêu đó là bệnh viện Bà Thiệu. Bệnh viện được xây dựng do Bà vận động quyên tiền từ thiện của nhiều người bao gồm: Thân hào Nhân sĩ, Thương gia, Kỹ nghệ gia…
Bệnh viện Vì Dân là bệnh viện tư nhân, nhưng được điều hành như bệnh viện công. Người dân vào khám và chữa bệnh được miễn phí hoàn toàn. Sau khi Bác Sỹ khám bệnh xong thì bệnh nhân được phát thuốc theo toa. Nếu ai bị bệnh nặng thì được nằm lại bệnh viện để chữa bệnh.

Nguyễn-Thị-Mai-Anh-Đệ-Nhất-Phu-Nhân-Nguyễn-Văn-Thiệu-5Lễ đặt viên đá đầu tiên đã cử hành ngày 17 tháng 8 năm 1971. Nhờ sự tín nhiệm và giúp đỡ của các nhà Hảo tâm, các Cơ quan Từ thiện trong nước và ngoại quốc, các Cơ quan quốc tế, và các quốc gia bạn, nên việc xây cất và trang bị các phương tiện y khoa được tiến hành một cách nhanh chóng và đầy đủ.
Bệnh Viện Vì Dân được khánh thành ngày 20 tháng 3 năm 1973 với 400 giường bệnh và nhiều phân khoa khác nhau: khoa Ngoại và Nội trú, khoa giải phẫu, khoa xét nghiệm, khoa tai mũi họng, khoa quang tuyến, nhãn khoa, khoa nhi đồng, nhà thuốc tây…Bệnh Viện Vì Dân là bệnh viện lớn và tân tiến nhất ở miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ. Bệnh viên có nhiều vị Bác Sỹ và Y Tá chuyên môn, cũng như xử dụng những dụng cụ y khoa tân tiến nhất. Sau khi Bà Nguyễn Thị Mai Anh phát biểu trong buổi lễ, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu cùng với Phu nhân cắt băng khánh thành.

Nguyễn-Thị-Mai-Anh-Đệ-Nhất-Phu-Nhân-Nguyễn-Văn-Thiệu-4Ngày 21 tháng 4 năm 1975, do những áp lực từ chiến trường, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố từ chức trên đài truyền hình. Sau đó Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cùng gia đình rời khỏi Việt Nam vào đêm 25 tháng 4 và bay tới Đài Bắc để phúng điếu Tưởng Giới Thạch với tư cách là Đặc sứ của Việt Nam Cộng hòa. Lúc đầu cả gia đình sang sống tại Đài Loan, nơi trước đó ông Nguyễn Văn Kiểu, anh ông Thiệu làm Đại sứ.

Sau khi con trai thứ hai, Nguyễn Quang Lộc sang Anh Quốc học, thì cả nhà lại sang London định cư, và sống ở đó trong suốt 15 năm. Khi mấy người con sang Mỹ để tiếp tục con đường học vấn năm 1985, thì cả nhà cũng đến định cư tại thành phố Boston vì Bà Mai Anh muốn ở gần những người con của mình.
Ông bà có 3 người con là:
– Nguyễn Thị Tuấn Anh (Trưởng nữ)
– Nguyễn Quang Lộc (Trưởng nam)
– Nguyễn Thiệu Long (Thứ nam)

Ngày 29 tháng 9 năm 2001, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu từ trần tại Trung tâm Y tế Beth Israel Deaconess Medical Center thuộc thành phố Boston, tiểu bang Massachusetts, Hoa Kỳ sau khi bị đột quỵ ở nhà. Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu được an táng tại Boston. Lúc mất ông hưởng thọ 78 tuổi.

Phu Nhân Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu nói: “Tôi mong có dịp về lại Việt Nam thăm mồ mả Ông Bà, và mang tro cốt của ổng (chồng, Nguyễn Văn Thiệu) về khi đất nước bình yên; Ông Già có trối rằng: “Nếu được thì đem chôn tại quê ông ở Phan Rang, nếu không thì rải một nửa xuống biển và một nửa trên núi”, Bà nói như vậy về ước vọng của Bà như một phụ nữ Việt Nam bình thường không quên ơn Tổ tiên dòng họ.

Nguyễn-Thị-Mai-Anh-Đệ-Nhất-Phu-Nhân-Nguyễn-Văn-Thiệu-3Một người từng làm việc trong Dinh Độc Lập dưới thời Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã nói về Bà như sau: “Tôi luôn luôn giữ lòng quý mến đối với Tổng thống Phu nhân. Bà lúc nào cũng giữ nếp sống bình dị của người đàn bà phúc hậu, bao dung của sông nước vùng đồng bằng sông Cửu Long. Đối với tôi, Bà Thiệu là hình ảnh một người mẹ, một người vợ hiền đảm đang hơn là một vị Đệ Nhất Phu nhân sống trong tột đỉnh của quyền thế và nhung lụa giàu sang. Bà Thiệu là người đáng kính, không có cái kênh kiệu của một người có quyền thế vì Bà là một người đứng cạnh chồng, chỉ biết lo cho gia đình mà thôi.

Phu Nhân Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu lúc nào cũng vui vẻ và thân thiện với tất cả mọi người chung quanh. Khuôn mặt phúc hậu và nhân cách của Bà làm người đối diện cảm thấy gần gũi và kính trọng. Bà không bao giờ câu nệ về cách cư xử của nhân viên thuộc cấp. Mỗi lần gặp mặt, Bà luôn luôn lên tiếng hỏi thăm sức khỏe chúng tôi trước, không kịp để chúng tôi chào Bà. Điều đặc biệt là Bà không bao giờ đề cập đến bất cứ chuyện gì có liên quan đến việc làm của Tổng Thống Thiệu với chúng tôi. Trong suốt thời gian làm việc tại đây, chỉ có một lần duy nhứt tôi nghe Bà than phiền với ông Thiệu bằng lời lẽ rất ôn tồn về một nhân vật có đầy quyền thế tại Phủ Tổng thống trong lúc tôi đang đứng bên cạnh.

Nguyễn-Thị-Mai-Anh-Đệ-Nhất-Phu-Nhân-Nguyễn-Văn-Thiệu-2

Phu Nhân Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu thường đi ủy lạo Thương binh ở khắp bốn vùng chiến thuật cũng như tại Tổng Y Viện Cộng Hòa. Đồng thời bà còn tham gia rất nhiều hoạt động xã hội và từ thiện nữa. Nhận thấy xã hội còn nhiều nhiễu nhương nên Bà Nguyễn Thị Mai Anh, Phu Nhân Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã thành lập “Hội Phụ Nữ Phụng Sự Xã Hội” vào ngày 1 tháng 6 năm 1968 để an ủi và giúp đỡ người dân. Bà nói: “Xã hội bây giờ đang nhiễu nhương. Phụ nữ phải tham gia làm công tác xã hội với sự yêu thương và đồng cảm để có thể xoa dịu phần nào sự đau khổ của họ“.

Phu Nhân Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu dành hầu hết thì giờ của mình để cứu trợ những người tỵ nạn chiến tranh, quả phụ mất chồng trong cuộc chiến và đặc biệt là những cô nhi bị bỏ rơi. Trong một lần đi thăm trẻ em mồ côi ở cô nhi viện Don Bosco tại Saigon thì Bà bồng một em bé lên, với khuôn mặt rạng rỡ và nụ cười rất tươi Bà nói với mọi người hiện diện rằng: “Một trong những đặc ân mà tôi thích nhất là cái ngày mà tôi được quyền gọi các em cô nhi là các con của tôi.

Nhân lúc bế giảng khóa học dành cho những bà vợ của thành viên nội các tại Dinh Độc Lập vào ngày 30 tháng 4 năm 1968, Phu Nhân Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu nói: “Phụ nữ, ngoài nhiệm vụ ở hậu phương là yểm trợ tiền tuyến bằng cách giúp băng bó những vết thương mà còn có thể xông pha ngoài chiến trận để đánh giặc như Hai Bà Trưng Trắc và Trưng Nhị nữa. Tôi nghĩ rằng phụ nữ nên tự nguyện học một khóa căn bản về quân sự để có chút hiểu biết hầu có thể giúp đỡ tiền tuyến lúc cần thiết“.

Nguyễn-Thị-Mai-Anh-Đệ-Nhất-Phu-Nhân-Nguyễn-Văn-Thiệu-1Không những thường xuyên đi hiến máu, Bà còn khuyến khích mọi người đi hiến máu như Bà. Năm nào Bà cũng tham dự ngày lễ diễn hành nhân ngày giỗ Hai Bà Trưng. Ngay cả hiện tại ở Mỹ Bà vẫn tham dự ngày lễ giỗ Hai Bà hằng năm.

Mặc dầu là vợ của một Tổng Thống, nhưng vì sinh trưởng ở Mỹ Tho, nên giọng nói và tánh tình của Bà hiền hậu và dễ thương như những người sinh trưởng ở miền Nam.

Vào năm 1972, một người Hoa Kỳ làm việc tại Việt Nam đã xin phép lấy tên Bà Nguyễn Thị Mai Anh đặt cho một giống Lan: Brassolaeliocattleya Mai Anh. Nhân dịp này tên của Bà Đinh Thúy Yến (Phu nhân Thủ tướng Trần Thiện Khiêm) cũng được đặt tên cho một giống Lan: Brassolaeliocattleya Dinh Thuy Yen.

Năm 2009 Bà dọn qua sống với gia đình con trai là anh Nguyễn Quang Lộc tại Orange County thuộc tiểu bang California vì Bà muốn ở gần con cháu của mình. Bây giờ Bà đã lớn tuổi nên sức khỏe của Bà không còn được như xưa.

Người viết : David Tran

0

Partages

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bình luận về bài viết này

Tin trong nước về sự ra đi của Cựu Đệ Nhất Phu Nhân VNCH

Cựu Đệ nhứt Phu nhân VNCH qua đời

246047915_4807807282571524_411727006906058569_nMới đọc báo và biết được bà Nguyễn Thị Mai Anh, phu nhân của cựu Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu qua đời ở Mĩ. Bà thọ đúng 90 tuổi. Những ai làm trong ngành y có lẽ biết được di sản của bà là Bệnh viện Vì Dân (nay là Bệnh viện Thống Nhất).

Theo wiki, bà Mai Anh sanh năm 1931 ở Mỹ Tho, trong một gia đình trung lưu theo đạo Công giáo. Gia đình có đến 10 anh chị em, và bà Mai Anh thứ Bảy, nên mới có biệt danh là ‘Cô Bảy Mỹ Tho’.

Thuở nhỏ, bà lên Sài Gòn học hành và có thời làm trình dược viên cho công ti dược Roussell, mà giám đốc lúc đó là ông Huỳnh Văn Xuân. Ông Xuân làm mai, giới thiệu bà Mai Anh gặp ông Nguyễn Văn Thiệu, lúc đó mới là trung uý. Ông Thiệu có một người bạn học thời theo học ở trường Võ Bị Đà Lạt là Đặng Văn Quang, là cậu ruột của bà Mai Anh. Ông Thiệu và bà Mai Anh thành hôn vào năm 1951. Năm 1958 ông Thiệu mới rửa tội theo đạo Công giáo. Hai ông bà có 3 người con là Nguyễn Thị Tuấn Anh (trưởng nữ), Nguyễn Quang Lộc (trưởng nam) và Nguyễn Thiệu Long (thứ nam).

Ngày 21/4/1975 ông Thiệu từ chức Tổng thống. Ngày 25/4/1975, ông cùng gia đình rời Việt Nam, và nơi dừng chân đầu tiên là Đài Bắc để ông phúng điếu Tưởng Giới Thạch với tư cách là ‘Đặc sứ của Việt Nam Cộng hòa’. Anh ông Thiệu là Nguyễn Văn Kiểu làm Đại sứ VNCH tại Đài Loan. Nghe nói thoạt đầu gia đình định sống ở Đài Loan, nhưng khi người con thứ hai sang Anh du học, thì cả nhà dọn sang London định cư. Họ sống ở đó 15 năm trước khi theo con sang Mĩ (Boston) định cư vào năm 1985. Năm 2009, Bà Mai Anh dọn về Quận Cam sống với gia đình con trai, và bà qua đời tại đây.

Những ngày sống ở nước ngoài, bà Mai Anh rất kín tiếng. Sau khi ông Thiệu qua đời năm 2001, bà nói “Tôi mong có dịp về lại Việt Nam thăm mồ mả Ông Bà, và mang tro cốt của ổng (chồng, Nguyễn Văn Thiệu) về khi đất nước bình yên; Ông Già có trối rằng: ‘Nếu được thì đem chôn tại quê ông ở Phan Rang, nếu không thì rải một nửa xuống biển và một nửa trên núi’.” Ước nguyện là như vậy, nhưng hình như cho đến cuối đời bà vẫn không thực hiện được.

Những người quen biết và hay tiếp kiến ai cũng nói rằng bà Mai Anh có tánh tình rất bình dị, giống như bất cứ phụ nữ nào ở miền Nam. Một người mô tả rằng “Bà Thiệu là người đáng kính, không có cái kênh kiệu của một người có quyền thế vì Bà là một người đứng cạnh chồng, chỉ biết lo cho gia đình mà thôi.”

Bệnh viện Vì Dân

Mà chắc đúng vậy. Có thể nói rằng trong các đệ nhứt phu nhân, có lẽ bà Mai Anh là người âm thầm nhứt. Trong thời gian ông Thiệu làm Tổng thống, bà không hoạt động chánh trị hay phát biểu những câu mang tính chánh trị. Bà chọn hoạt động xã hội. Chính vì công việc xã hội và từ thiện, nên bà cảm nhận được hoàn cảnh của người nghèo, và có ý tưởng xây dựng một bệnh viện phục vụ cho người dân. Bà vận động tài trợ từ các mạnh thường quân trong và ngoài nước để xây dựng bệnh viện ở khu Ngã tư Bảy Hiền.

Ngày 17/8/1971 diễn ra buổi lễ đặt viên đá đầu tiên xây dựng bệnh viện. Sau 3 năm xây dựng, ngày 20/3/1973, Bệnh Viện Vì Dân được khánh thành. Lúc đó, Bệnh viện Vì Dân có 400 giường bệnh và các phân khoa Ngoại và Nội trú, giải phẫu, xét nghiệm, tai mũi họng, quang tuyến, nhãn khoa, nhi đồng, nhà thuốc. Theo báo chí mô tả, Bệnh viện Vì Dân lúc đó là bệnh viện hiện đại nhứt ở miền Nam.

Sau năm 1975, Bệnh viện Vì Dân bị đổi tên thành Bệnh viện Thống Nhất. Điều trớ trêu là ngày xưa, bệnh viện này là ‘Vì Dân’, nhưng bệnh viện Thống Nhất thì lại ưu tiên cho các quan chức đảng Cộng sản Việt Nam.

Một “di sản” khác của bà Mai Anh là một … loài hoa.
Năm 1972, một người Mĩ từng làm việc tại Việt Nam đã xin phép lấy tên bà đặt cho một loài hoa lan “Brassolaeliocattleya Mai Anh“. Theo wiki, bà Đinh Thúy Yến (Phu nhân Thủ tướng Trần Thiện Khiêm) cũng được đặt tên cho một loại hoa lan khác là “Brassolaeliocattleya Dinh Thuy Yen“.

Những người như bà Mai Anh, Tuyết Mai, Thuý Yến, v.v. có thể xem như đại diện cho một thời đã mất ở miền Nam. Không biết có quá nếu xem họ là biểu tượng nhân, tài và sắc của phụ nữ Việt Nam. Họ có lòng nhân đạo, trắc ẩn trước nỗi đau của người kém may mắn. Họ có học thức tốt và có tài, không cần phải lệ thuộc vào uy thế của chồng để tạo cho mình một chỗ đứng trong xã hội. Họ có thể không là hoa hậu nhưng cũng có nhan sắc thật. Họ đi nước ngoài công cán, dù là đi độc lập hay tháp tùng theo chồng, đều tỏ ra là những người lịch lãm, có khi ‘haute culture’, tự tin, nói tiếng Anh lưu loát có khi dí dỏm, không hề tỏ ra thấp kém với đồng cấp nước ngoài. Bây giờ nhìn lại, tôi phải thú nhận là thấy tiếc cho một thời đã qua. Thời nay, khó tìm thấy những ‘phu nhân’ lãnh đạo có trình độ và tài năng như họ.

Nay thì cả hai bà cựu Đệ Nhứt và Đệ Nhị phu nhân VNCH đều đã qua đời. Sự qua đời của họ cũng giống như một dấu chấm cho một thời VNCH”

____

Thông tin về bà Mai Anh có thể xem ở đây:

https://www.cochinchine-saigon.com/vai-hang-nho-lai-ba…

[Bài viết từ facebook của Bác Nguyễn Tuấn]

Seen by 4

Like

Comment

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bình luận về bài viết này

Tin Buồn: Phu nhân cố TT Nguyễn văn Thiệu qua đời

TIN BUỒN.

PU

Bà Nguyễn Thị Mai Anh cựu Đệ Nhất phu nhân của cố Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã qua đời ngày 15 tháng 10 năm 2021 tai San Diego.
Hưởng Đại Thọ 91 tuổi

Sinh thời bà Nguyễn Thị Mai Anh là người phụ nữ tài sắc và đức độ .

Bà luôn luôn mang trong lòng nỗi lo y tế cho các bệnh nhân có hoàn cảnh khó khăn, bà thường vận động khắp nơi để cứu giúp những con người khốn khổ trong cuộc sống.

Bà ra đi , để lại bệnh viện Vì Dân , một minh chứng cho tấm lòng nhân ái yêu người của bà .

Thành kính chia buồn cùng tang quyến và xin dâng lời cầu nguyện cho bà NGUYỄN THỊ MAI ANH  được an nhàn về sống nơi cõi Vĩnh Hằng.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bình luận về bài viết này

10 Bài Thơ Dịch Rất Hay (Do bạn Tuyến Dinh sưu tầm)

Dịch một bài thơ Anh ngữ hay

(theo văn phong các thi sĩ Việt Nam)

Có bài thơ tình rất nổi tiếng, tương truyền là của nhà văn, nhà viết kịch vĩ đại nhất nước Anh
William Shakespeare. Một số nguồn khác lại nói bài thơ này của nhạc sĩ và ca sĩ loại nhạc Reggae người Jamaica là Bob Marley; có nơi thì nói rằng bài thơ này của một thi sĩ người Thổ Nhĩ Kỳ tên là Qyazzirah Syeikh Ariffin.

(Nguyên bản bài thơ Anh ngữ)

hinh-anh-co-gai-di-duoi-mua
You say that you love rain,
But you open your umbrella when it rains.
You say that you love the sun,
But you find a shadow spot when the sun shines.
You say that you love the wind,
But you close your windows when the wind blows.
This is why I am afraid,
You say that you love me too!

Tạm dịch xuôi ra Việt ngữ như sau:

Em nói em yêu mưa,
Nhưng em lại mở ô khi trời mưa.
Em nói em yêu mặt trời,
Nhưng em lại đi tìm bóng mát khi mặt trời tỏa nắng.
Em nói em yêu gió,
Nhưng em lại đóng cửa sổ khi gió lùa.
Đó là lý do tôi sợ,
Em nói em cũng yêu tôi.

beauty-logo-beautiful-floral-vector-icon-program-black-white-gold-background-79712474

Trên facebook group “Đại Việt cổ phong,” tác giả Lê Tiên Long ghi lại các bài thơ dịch phỏng theo văn phong các thơ của những thi sĩ nổi tiếng Việt Nam, lần lượt như sau đây…

1.Dịch theo văn phong bài thơ “Lấy Chồng Chung” của nữ sĩ Hồ Xuân Hương:

Chém cha mấy đứa thích trời mưa
Mưa xuống che ô, chẳng chịu vừa
Năm lần bảy lượt mê trời nắng
Lại núp bóng vườn lúc giữa trưa
Thích có gió lên, hiu hiu thổi
Nhưng rồi khép cửa, chẳng khe thưa
Thân này ai nói yêu thương nhớ
Chẳng biết thật không, khéo lại lừa!

2. Dịch theo văn phong bài thơ “Qua Đèo Ngang” của Bà Huyện Thanh Quan:

Ai ước trời mưa hắt bóng tà
Mưa về xuống chợ, mở ô ra
Bâng khuâng khách trú, mong trời nắng
Nắng sáng trời trong, núp bóng nhà
Nhớ gió chưa về đưa chút chút
Then cài bỏ mặc gió xa xa
Dừng thơ ngẫm lại lời non nước
Biết có thật không, người với ta?

3. Dịch theo văn phong “Truyện Kiều” của đại thi hào Nguyễn Du:

Trăm năm trong cõi người ta
Yêu mưa yêu nắng khéo là dễ quên
Núp tán dâu lúc nắng lên
Che ô mưa xuống mà thê thảm lòng
Lạ gì kẻ thích gió đông
Những là quen thói gió lồng cài then
Thơ tình lần giở trước đèn
Liệu chàng còn nhớ thề nguyền ngày xưa?

4. Dịch theo văn phong bài thơ “Xa Cách” của Xuân Diệu:

Có một dạo, em thèm cơn mưa quá,
Hạt rơi là, em vội lấy ô sang
“Em những mong, có một chút nắng vàng!”
Vầng dương lên, em dịu dàng nấp bóng
Em thủ thỉ: “Ước gì… con gió lộng…”
Cơn mùa về, bên cửa đóng, xoa tay
Anh mỉm cười, nhưng bỗng thấy lo ngay
Vì anh sợ, lời yêu em cũng thế…

5. Dịch theo văn phong bài thơ “Đây Thôn Vỹ Dạ” của Hàn Mặc Tử(bản dịch này của Nguyễn Văn Thực):

Sao em không còn yêu mưa nữa?
Mà vội xoè ô đợi nắng lên?
Nắng lên gắt quá, em không chịu
Núp bóng râm che, mặt chữ điền
Em thích những ngày mây gió lên
Sao đóng cửa rồi then cài then?
Lời ai ong bướm sao ngon ngọt
Yêu mến thật lòng được mấy phen?

6.Theo văn phong bài thơ “Tương Tư” của Nguyễn Bính:

Nắng mưa là chuyện của trời,
Thế mà nàng cứ hết lời yêu thương.
Thôn Đoài mượn chút mưa vương,
Thôn Đông đội nón trên đường che vai.
Hàng cau gọi chút nắng mai,
Giàn giầu tay níu tay cài nấc thang.
Dẫu rằng cách trở đò giang,
Gió lên bến đợi, đò càng phụ ai.
Thôn Đông nói nhớ thôn Đoài,
Tương tư này lại thức hoài bao đêm.

7. Dịch theo văn phong bài “Bạch Đằng Giang Phú” của Trương Hán Siêu:

Khách thường nói:
Mưa rơi là hạt ngọc trời,
Nắng thời soi tỏ lòng người yêu đương.
Gió kia dịu mát càng thương,
Mang theo mùi cỏ ngát hương khắp trời.
Khách đi:
Che hạt ngọc trời, che nghiêng bóng mát, trốn ngày nắng to.
Thường khi đóng cửa tránh cho,
Ngày gió thổi đến, ngày lo gió nhiều.
Khách về:
Đừng nói thương yêu,
Khuê phòng dù lạnh lòng không muốn chào.

8. Dịch theo văn phong bài “Bảo kính cảnh giới bài 43”của Nguyễn Trãi:

Rồi hóng mưa thuở ngày trường,
Lọng tía đùn đùn tán rợp trương.
Vọng nhật lâu còn tràn thức đỏ,
Hoàng đàn hiên đã tịn ánh dương.
Lao xao gió hát thương trong dạ
Vội vã rèm buông tránh tà phong.
Lẽ có ái nương cầu một tiếng,
Thê thiếp đủ khắp đòi phương.

9. Người đang biên tập lại những câu viết này, cũng xin nhái lại 6 câu đầu trong bài thơ bài thơ “Ngập Ngừng” nổi tiếng của thi sĩ Hồ Dzếnh như sau:

Em tâm sự: yêu mưa và nắng, gió
Nhưng khi mưa lại lủi vội vào hiên
Nắng kia lên, em té chạy vào nhà
Khi có gió, đóng liền khung cửa nhỏ
Tôi cứ sợ, khi nghe lời em nói
“Em yêu anh,” là có phải thật không?

Bài đọc thêm (Bonus):

10. Dịch theo văn phong Nam bộ của một phó thường dân, bài “Thấp Thỏm” của bạn già Đỗ Chiêu Đức:

Thấp Thỏm

Bậu rằng bậu rất CHỊU mưa,
Mưa vừa nhỏ giọt… bậu vừa giương ô,
Bậu rằng  bậu THÍCH nắng khô,
Trời vừa hé nắng… bậu vô mái nhà.
Bậu rằng bậu MẾN gió qua,
Gió vừa thoang thoảng… rèm đà buông xuôi,
Bây giờ bậu nói THƯƠNG tui,
Lòng tui thấp thỏm rối nùi… hỏng yên !

Đỗ Chiêu Đứ

Trần Văn Giang (sưu tầm và ghi lại)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bình luận về bài viết này

TPK mời thưởng thức nhạc phẫm: One Moment In Time

Cuối tuần nầy, bạn Tống Phước Kiên chuyển tiếp đến cho chúng ta mời thưởng thức nhạc phẩm: ONE MOMENT IN TIME được trình  bày bởi DANA WINNER LIVE.
Với nhạc phẫm nầy chúng ta những người yêu mến tiếng hát Phi Nhung, sẽ tưởng nhớ và luyến tiếc người ca sĩ xinh đẹp, có cuộc đời thánh thiện và tiếng hát của cô đã đi vào lòng người khắp năm châu.
VĨNH BIỆT PHI NHUNG.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bình luận về bài viết này

MA XỨ ĐÀ LẠT_Nguyễn Ngọc Tuấn

MA XỨ ĐÀ LẠT

Nguyễn Ngọc Tuấn

Là một người Cảnh Sát Dã Chiến mà nói chuyện ma nghe nó lạ làm sao ấy và cũng hơi kỳ kỳ nữa. Viết bài để đăng trên Đặc San kỷ niệm 50 năm khóa 3 Học viện CSQG mà cứ nhắc lại chuyện ngày xưa, những chuyện mà các bạn đã đọc qua, tôi cũng cảm thấy hơi nhàm nên muốn thay đổi đề tài một chút cho nó hấp dẫn người đọc. Do đó tôi đành chọn đề tài “Ma xứ Đà Lạt mù sương”, mong là các bạn sẽ không chê bai, nhất là không chê tôi là “CSDC mà sợ ma”.

          Tháng 10 năm 1968, trong ngày mãn khóa 3 Học Viện CSQG và trong ngày chọn đơn vị sau khi ra trường, ba tôi đã xin với ông Viện Trưởng giữ tôi làm một Cán Bộ để phục vụ tại Học viện CSQG. Cùng ở lại làm việc cho Học Viện có các bạn Nguyễn Văn Sơn, Đặng Thanh Thủy, Nguyễn Phú Thịnh, Lê Thanh Sơn và hai người SVSQ Ngoại Trú.

          Tháng 1 năm 1969, sau khi trụ sở của Học Viện đã được di chuyển từ Biệt Khu Thủ Đô Saigon lên quận Thủ Đức, Tổng Nha CSQG có lệnh, tất cả mọi nhân viên CSQG, trừ CSĐB, tuổi sinh năm 1948 và 1949 phải chuyển qua để phục vụ trong ngành CSDC. Tôi về trình diện Khối CSDC Saigon và đã làm đơn xin lên phục vụ tại Đà Lạt. Tôi muốn lên làm việc trên Đà Lạt vì tôi rất mê thích cái thành phố sương mù này, một thành phố có rất nhiều cảnh đẹp, khí hậu thì mát mẻ quanh năm. Trung Tá Nguyễn Văn Đại, Trưởng Khối CSDC đồng ý cho tôi lên phục vụ trên Đại Đội 209/1 CSDC Tuyên Đức nhưng không giữ chức vụ chỉ huy vì hiện lúc đó đã có Đại Đội Trưởng là Thiếu Úy Nguyễn Hoài Ân, một Sĩ Quan Quân Đội biệt phái và K3 Lê Lang là Đại Đội Phó. Đại Đội 209/2 CSDC do một ông Thẩm Hiến Binh là Trần Đình Nhã làm ĐĐT.

         Cả hai Đại Đội CSDC được trú đóng cùng chung với Phòng CSĐB, Ty CSQG Đà Lạt/Tuyên Đức trên một ngọn đồi cao, quay mặt ra đường Trần Bình Trọng, Đà Lạt. Khu vực này gồm có hai biệt thự rất lớn. Biệt thự phía trước gồm hai tầng với rất nhiều phòng, đây là trụ sở của Đại Đội 209/1 và của Phòng CSĐB. Văn phòng làm việc của Th/U Nguyễn Hoài Ân và phòng ngủ của ông nằm trên lầu hai. Biệt thự phía sau cũng rất lớn và có 3 tầng với rất nhiều phòng. Building này là văn phòng của ĐĐ 209/2, nhưng lầu hai của căn này lại gồm văn phòng các Ban của Đại Đội 1 (hai Ban Quản Trị và Hành Quân),  một phòng nhỏ được dùng làm phòng truyền tin của ĐĐ 1 và trên lầu ba là phòng ngủ của K3 Lê Lang. Tôi được cho một chỗ ngủ tạm trong phòng truyền tin, phía dưới của phòng ngủ của bạn Lê Lang. Tại phòng này, ngay đêm đầu tiên, khi đang ngủ thì tôi bị bóng đè, không nhúc nhích được. Mắt tôi mở lớn và tôi đã thức dậy. Tôi thấy rất rõ một người đứng lù lù cách tôi chưa đến một thước. Tôi cố lấy tay luồn xuống dưới gối tôi đang nằm để nắm lấy cây súng rouleau. Với mãi thì nắm được chuôi súng. Ngay lúc đó bóng đen bên cạnh tôi liền biến mất. Lúc đó tôi toát mồ hôi vì sợ, mặc dù trời khi đó rất lạnh. Tôi ra khỏi phòng, đi lên cầu thang gỗ và gõ cửa phòng Lê Lang. Tôi nói Lê Lang là phòng tôi có ma. Lê Lang nói với tôi, mình ở trong khu này, chuyện đó là chuyện thường tình, đừng có sợ. Đêm hôm sau, tôi nói với Hạ Sĩ Quan Truyền Tin Nguyễn Mẹo đem cái ghế bố lên phòng của tôi để trong phòng có hai người cho bớt sợ. Tôi không còn dám nằm trong căn phòng đó một mình nữa.

       Khoảng một tháng sau ngày tôi lên phục vụ tại Đà Lạt thì Thiếu Úy Nguyễn Hoài Ân được trả về Quân Đội để phục vụ (Sư Đoàn 18). K3 Lê Lang lên làm ĐĐT. Tôi được “lên chức” làm Đại Đội Phó. Bạn Lang vẫn giữ phòng ngủ của mình trên lầu ba của căn biệt thự phía sau. Tôi dời phòng ngủ lên lầu hai của biệt thự phía trước, căn phòng ngủ cũ của Thiếu Úy Ân. Căn phòng này sáng sủa hơn vì có cửa sổ nhìn ra sân sau và ra rặng núi Lang Biang xa xa. Đêm đầu tiên ngủ trong phòng này, tôi thấy cảm giác hơi là lạ, tôi có cảm tưởng có một người nào đó đang ở trong phòng chung với mình. Tôi mặc kệ cảm giác đó với ý nghĩ là, dù sao căn phòng này cũng khá hơn căn phòng trước, nơi tối tăm và tôi đã bị bóng đè, sợ hãi đến nỗi phải gọi nhân viên truyền tin vào ngủ chung phòng cho bớt sợ.

       Tôi vốn rất thích hoa hồng Đà Lạt. Hoa hồng bán ngoài chợ vừa to, vừa đẹp mà tại Saigon rất là khó tìm ra và giá tiền hoa tại Saigon cũng rất là đắt. Tại chợ Đà Lạt, lúc thời bấy giờ (đầu năm 1969) giá tiền một chục hoa hồng chỉ có mười đồng trong lúc một ly cafe là năm đồng. Buổi chiều hôm đó, tôi mua một chục hoa hồng màu đỏ thắm đem về cắm trong một bình để trên cái tủ quần áo, loại chest có 4 ngăn kéo. Ngủ dậy sau một đêm, tôi thấy cả mười cành hoa hồng đều gãy gập xuống như có một ai đã cố tình bẻ gẫy những cành hoa đó. Tôi rất là ngạc nhiên. Tôi nghĩ là tôi đã mua nhằm một bó hoa hồng đã bị hư hỏng. Buổi trưa cùng ngày tôi đi ra chợ Đà Lạt mua lại một chục hoa hồng khác và đem về cắm vô bình. Đêm hôm đó, khoảng 12 giờ đêm, tôi nằm chùm chăn để hở đầu nhưng chưa ngủ. Tôi chợt nghe tiếng ai như đang thở phì phò chỗ cửa sổ nhìn ra sân sau, ngay cạnh cái chest trên có đặt bình hoa. Tôi hơi sờ sợ. Tôi không dám quay đầu lại nhìn bình hoa và chỉ nằm im. Tôi chợt nghe những tiếng cắc cắc, âm thanh nghe giống như những cành hoa đang bị ai đó bẻ gãy từng cái một. Tôi sợ quá, không dám thở mạnh, không dám nhìn sang bên cạnh. Tôi chùm chăn kín đầu và ngủ thiếp đi lúc nào tôi cũng không rõ. Sáng hôm sau thức dậy. Vẫn còn nằm trên giường và nhìn sang bên phải nơi có bình hoa hồng. Hỡi ôi, cả mười cành hoa hồng đều gãy gập hết. Tôi lại hết hồn, nổi da gà vì sợ. Nhìn ra cửa phòng thì cái chốt của vẫn còn khóa nguyên như đêm qua tôi đã cài rất cẩn thận trước khi vô giường ngủ. Như vậy là phòng này có ma. Xuống văn phòng để hỏi thăm mấy nhân viên đã tùng sự nhiều năm tại đơn vị này. TS Nguyễn Quang Sơn, Trưởng Ban Công Xa của Đại Đội cho tôi biết, hai tòa nhà lớn nơi chúng tôi đang trú đóng ngày xưa là hai đồn Công An thời Tây còn ở tại Việt Nam và rất nhiều người đã bị nhốt, tra tấn hoặc chết tại đây. Sơn nói căn phòng mà tôi đang ngủ ngày xưa có thể là một phòng tra tấn nào đó. Tôi nói với Sơn về việc hoa hồng cắm trong bình đều gãy gặp sau một đêm. Sơn nói có thể con ma phòng đó không thích hoa hồng. Tôi ra chợ mua một bó hoa loại khác không phải hoa hồng và đem về cắm trong phòng ngủ. Qua sáng ngày hôm sau, nguyên bình hoa vẫn nở đẹp như thường. Như vậy thì đúng như Sơn nói, con ma trong phòng này không thích hoa hồng hoặc là một cô gái nào đó tên là Hồng, ngày xưa đã bị Tây tra tấn và chết tại căn phòng này.

Vào tháng 3 hay tháng 4 năm 1969, K3 Nghiêm Xuân Phúc Cương cưới vợ và hai vợ chồng lên Đà Lạt hưởng tuần trăng mật. Vợ chồng Cương ở tại nhà người ông nội vợ tại khu Chi Lăng, gần trường Võ Bị Đà Lạt. Khi đó K3 Lê Lang đang đi phép thăm nhà tại Quảng Ngãi và 3 Trung Đội CSDC của Đại Đội chúng tôi đang đóng quân tại 3 quận Tùng Nghĩa (Đức Trọng), Đơn Dương và Lạc Đương. Trên Hậu Cứ chỉ còn Trung Đội Hậu Cứ lo giữ an ninh cho doanh trại. Tôi có thì giờ rảnh rỗi để đưa vợ chồng Cương đi chơi khắp Đà Lạt, từ thác Cam Ly đến đèo Prenn, vườn hoa Bích Câu, hồ Than Thở, hồ Xuân Hương v.v… và chiều nào tôi cũng theo vợ chồng Cương về nhà ông Nhượng, ông nội của vợ Cương để ăn cơm tối và ở lại chơi cho đến khuya mới trở về doanh trại. Tôi kể cho ông Nhượng nghe về việc hoa hồng trong phòng tôi bị ai đó hay là ma bẻ gãy hết. Ông Nhượng nói ngày xưa ông từng đi thầu bên Lào, ông có học được một số bùa chú trừ tà. Ông cho tôi một bài chú và bảo tôi trước khi đi ngủ đọc 7 lần thì ma quỷ trong phòng sẽ đi hết, không còn gì phải sợ. Ngay đêm hôm đó, tôi về trại và trước khi đi ngủ, tôi đọc bảy lần bài thần chú mà ông Nhượng mới cho rồi chùm chăn đi ngủ. Đà Lạt khí hậu lúc nào cũng lạnh và ngày đó không có heater trong phòng. Tôi mặc cái quần CSDC, một áo thun, một áo len chui cổ cho ấm và chân thì đi vớ để đi ngủ như thường lệ. Buổi sáng thức dậy tôi giật mình kinh hãi khi thấy mình hoàn toàn trần truồng trong chăn. Tất cả quần áo của tôi kể cả áo thun, quần lót đều nằm một góc trong phòng, sát cánh cửa ra vào. Tôi biết tôi chưa bao giờ có bệnh mộng du, có nghĩa là khi tôi đang ngủ, nếu tôi có làm gì tôi đều biết. Thế mà bây giờ ai đã lột hết quần áo của tôi ra và vứt xuống đất như vậy. Tôi sợ quá vì nghĩ rằng con ma trong phòng ngủ của tôi muốn nói cho tôi biết rằng, bùa chú tôi vừa đọc đêm qua trước khi đi ngủ chỉ là con số không, không có “áp phê” gì với nó cả. Chiều hôm đó, lúc gặp ông Nhượng và kể lại cho ông ấy nghe chuyện vừa xảy ra. Ông Nhượng nói với tôi là con ma trong phòng tôi là một con quỷ chứ không phải ma.

       Ngay ngày hôm sau, tôi gặp Thiếu Úy Trưởng Phòng CSĐB  (tôi tạm giấu tên ) để điều đình với ông ấy cho tôi đổi căn phòng ngủ của tôi qua một phòng khác gần bên cạnh. Tôi ngủ trong căn phòng sau này thì không còn thấy chuyện gì lạ trong phòng hay có hiện tượng ma quỷ gì nữa cả. 

       Sau thời gian vợ chồng Nghiêm Xuân Phúc Cương nghỉ, hưởng tuần trăng mật tại Đà Lạt, hai người trở về Saigon. Vì nghe tôi nói tôi đã học Anh Văn trong thời gian khá lâu tại Hội Việt Mỹ Saigon, ông Nhượng mời tôi làm thày dạy kèm Anh Văn cho Phillip, con trai riêng của vợ ông và Kim Oanh, cháu ngoại của ông. Phillip và Kim Oanh lúc đó đang học lớp Đệ Tam tại trường Tây Lycee Yersin Đà Lạt, theo chương trình Pháp. Kể từ ngày đó, sau giờ làm việc, mỗi buổi chiều tôi đều lái xe lên trường Lycee Yersin và đón Phillip cùng Kim Oanh đưa họ về nhà ông Nhượng. Sau khi dạy họ học Anh Văn theo chương trình sinh ngữ hai của lớp Đệ Tam trường Pháp, tôi cùng gia đình ăn cơm tối tại nhà ông Nhượng. Sau khi dùng cơm xong, tối nào cũng vậy, ông Nhượng giữ tôi ở lại uống cafe, uống trà và chơi bài “binh xập xám chướng” đến gần khuya tôi mới từ giã để lên xe trở về trại CSDC. Nhà ông Nhượng trong khu Chi Lăng cách xa chợ Đà Lạt khoảng 6 cây số về hướng Đông Bắc khu chợ. Như vậy là mỗi đêm tôi đã lái xe gần 8 cây số để trở về trại. Mọi sinh hoạt như tôi vừa nêu trên đã diễn ra bình thường được hai ba tuần lễ.

Một buổi tối, lúc đó khoảng gần 12 giờ đêm, tôi lái xe một mình từ nhà ông Nhượng đi ra đường Chi Lăng để đi về. Trời sương mù hơi đặc. Mới chạy được vài phút, tôi thấy hai cô gái tuổi chừng trên dưới hai mươi đứng trên lề đường bên phải vẫy tay xin quá giang. Tôi dừng xe lại. Tôi mở cửa xe và hỏi họ muốn đi về đâu. Một cô nói là họ muốn về khu Hòa Bình Đà Lạt (tức là khu chợ Đà Lạt). Tôi nói hai cô lên xe. Cả hai đều ngồi chung trên ghế xe Jeep phía trước. Tôi vòng tay để gài cửa xe lại và lái đi. Tôi không hỏi chuyện mà cũng chẳng nhìn sang họ vì lúc đó sương mù khá dày, tôi muốn chăm chú lái xe cho an toàn. Xe chạy đến ngã ba bờ Hồ Xuân Hương, chỗ đó nếu quẹo trái sẽ về Tư Dinh của Cố Đại Tướng Đỗ Cao Trí, một cô nói tôi dừng xe lại. Tôi dừng xe và hỏi, sao nói là về khu Hòa Bình mà lại xuống đây. Họ mở cửa và bước xuống xe. Cùng một lúc, đó tôi rút một điếu thuốc lá Camel trong túi áo jacket CSDC và châm lửa hút. Tổng cộng thời gian không quá ba mươi giây đồng hồ. Đưa tay để đóng chốt cửa xe bên phải thì tôi rất ngạc nhiên khi không còn nhìn thấy ai cả. Tại ngã ba này có rất nhiều cột đèn đường sáng trưng, có lẽ vì tại đây đã xảy ra rất nhiều tai nạn xe cộ. Tôi vội nhìn phía trước qua kính xe cũng không thấy ai. Tôi quay đầu nhìn ra phía sau xe, xuyên qua miếng nylon trong suốt của xe Jeep cùng không thấy ai. Tôi nhìn sang bên trái phía tôi ngồi thì nhìn thấy cái Miếu “Hai Cô”. Trong miếu này có gắn đèn màu hồng và hơi mờ mờ. Đến lúc đó tôi mới chợt nhớ câu chuyện về Miếu Hai Cô tại ngã ba bờ Hồ Xuân Hương. Nghe câu chuyện thì hai cô gái này đã nhảy xuống hồ tự tử tại chỗ này vì lý do gì thì tôi không nhớ rõ. Kể từ thời gian đó, năm nào cũng có một hai tại nạn xe cộ đụng nhau chết người tại đây. Dân chúng hoặc một nhóm người nào đó đã cất một cái miếu dưới một gốc cây để thờ cúng hai cô. Tại khu ngã ba bờ hồ này thì hoàn toàn không có một nhà dân nào cả. Tôi chưa bao giờ có cảm giác sợ dựng tóc gáy, hôm nay thì điều đó đã xảy ra cho tôi. Tôi sợ quá. Tóc gáy tôi dựng lên. Tôi vội lái xe thật nhanh chạy về đến khu Hòa Bình thì nhìn thấy một xe Tuần Cảnh đang đậu ngay trước rạp hát Hòa Bình. Tôi đậu xe Jeep bên cạnh xe Tuần Cảnh và bi ba bi bô nói chuyện với mấy người Cảnh Sát trên xe đó cho bớt sợ. Tôi không kể cho họ về việc tôi có thể đã vừa chở ma “hai cô” trên xe Jeep. Một lúc sau, khi đã bớt sợ, tôi mới lái xe về trại. Sáng ngày hôm sau, tôi xuống gặp anh em nhân viên trong Ban Chỉ Huy của Đại Đội CSDC. Tôi kể cho họ nghe sự việc xảy ra ngày hôm qua. Rất nhiều nhân viên CSDC tại Đà Lạt là dân đã sinh đẻ tại Đà Lạt hoặc đã từng cư ngụ lâu năm tại địa phương này. Anh em cho tôi biết, hằng năm đều có một hai xe đang chạy trên đường Chi Lăng và đã nhẹ nhàng đi thẳng rồi chìm nghỉm xuống hồ Xuân Hương. Cũng có một gia đình kia, ông bố mới mua xe hơi từ Saigon về. Ông ấy lấy xe chở vợ và 3 con trên xe để chạy vòng quanh bờ hồ này cho vui. Không biết sao lại chạy xe thẳng xuống hồ và cả nhà đều chết chìm chung với cái xe. Một người nói với tôi là tôi may mắn đã không lái xe thẳng xuống hồ Xuân Hương, có thể vì tôi đã không trêu ghẹo, không nói điều gì sàm sỡ với hai cô gái khi họ đang ngồi trên xe của tôi, do đó tôi đã không bị tai nạn xe. Họ tiếp, nếu tôi nhìn kỹ hai cô gái khi họ còn đứng trên lề đường và vẫy tay xin quá giang, tôi sẽ thấy là hai cô này không có chân. Họ đứng trên chân không. Tại ngã ba miếu hai cô, bên phải đường là một bờ cỏ thoai thoải, chổ khu đường cong cong. Khi xe đang đổ dốc, nếu không chạy xe chậm lại và bẻ tay lái về bên trái một chút, xe sẽ êm dịu mà chạy thẳng xuống hồ nước. Họ kể cho tôi là, có một số người lái xe bị lao xuống hồ nhưng không chết, đã kể lại rằng, khi xe đến ngã ba, khi họ bẻ tay lái một chút sang trái theo con đường cong thì tay lái xe đã bị cứng lại, không di chuyển được. Đạp thắng xe cũng không ăn. Thế là xe lao xuống hồ.          

Nghe kể xong, tôi và người tài xế lái xe ra chỗ Miếu Hai Cô để xem lại vị trí nơi đó. Tôi thấy giống y như anh em đã mô tả. Tôi vô Miếu “Hai Cô”, thắp một nén nhang cho họ. Thật là hú hồn.          

Buổi chiều hôm đó, sau khi đón Phillip và Kim Oanh tại trường và đưa họ về nhà ông Nhượng. Tôi lấy lý do là công việc Cảnh Sát hơi bận nên không thể tiếp tục đón hai cháu cũng như dạy Anh Văn cho họ nữa. Tôi chấm dứt ghé nhà ông Nhượng hàng ngày kể từ thời gian đó.

CHUYỆN MA CUỐI CÙNG TẠI ĐÀ LẠT:

           Từ tháng 2 năm 1969, sau khi Thiếu Úy Nguyễn Hoài Ân trở về bên Quân Đội và K3 Lê Lang lên thay, bạn Lê Lang đã dời văn phòng ĐĐT CSDC 209-1 từ lầu hai của biệt thự bên ngoài cổng vô căn phòng nằm trên lầu ba của biệt thự bên trong vì phòng ngủ của bạn Lang nằm cùng lầu, cách văn phòng này một cầu thang bằng gỗ. Bàn làm việc của tôi, ĐĐP cùng ở trong văn phòng này. Tầng hai của biệt thự này là văn phòng Ban Quản Trị, Ban Hành Quân. Phòng Truyền Tin thì nằm bên dưới phòng ngủ của ĐĐT.

        Tháng 1 năm 1970, bạn Lê Lang nhận lệnh đi học bổ túc quân sự khóa 2/70 tại trường Bộ Binh Thủ Đức. Tôi lên thay để giữ chức vụ XLTV/Quyền ĐĐT Đại Đội 209-1 CSDC Tuyên Đức (Đại Đội 209-2 CSDC Đà Lạt vẫn do TSV Trần Đình Nhã làm ĐĐT). Sau khi bạn Lê Lang rời Đà Lạt, tôi dời phòng ngủ của tôi từ lầu hai biệt thự bên ngoài vô phòng ngủ của bạn Lê Lang, trên lầu ba của căn biệt thự phía sau. Lý do tôi dời phòng ngủ vì từ căn phòng này, tôi chỉ bước qua cầu thang là sang văn phòng làm việc, không phải đi xa và căn phòng ngủ này tuy nhỏ nhưng rất yên tĩnh.

        Văn phòng của tôi có khá nhiều cửa sổ hai phía nên căn phòng rất sáng về ban ngày. Một hôm, tôi đi suốt ngày đến tối mới về đến đơn vị. Tôi bước qua văn phòng để xem trên bàn có giấy tờ công văn nào quan trọng không. Đây là lần đầu tiên tôi đi phòng này vào ban đêm. Tôi bật đền điện thì không thấy sáng. Tôi gọi Mẹo, nhân viên Truyền Tin lên để hỏi. Mẹo nói với tôi là văn phòng này từ xưa đến giờ không có đèn vì gắn bóng đèn nào lên thì hôm sau bóng đèn đó đều bị bể và rớt xuống sàn nhà. Tôi không tin chuyện quái lạ này nên sáng hôm sau tôi nhờ nhân viên đi mua bóng đèn và gắn lên. Bật đèn thì đèn vẫn sáng như thường. Ngay buổi tối ngày hôm đó, khi đi ăn cơm về, tôi bước vào văn phòng thì thấy cái bóng đèn tròn không còn nằm trên vị trí của nó. Bóng đèn đã vỡ tan và nằm trên sàn nhà trong khi cái chuôi đèn vẫn dính trên dây điện. Tôi cho là có người phá phách. Tôi nhờ Mẹo gắn một bóng đèn khác lên, bật thử cho sáng. Tôi ra khỏi phòng và khóa cửa lại chứ không để mở như thường lệ. Tôi trao một chìa khóa cho TS Trần Phan Hưng, trưởng ban Quản Trị để hắn có thể mở khi muốn đưa công văn giấy tờ đến và đi mỗi khi tôi không có mặt tại đơn vị.

           Buổi sáng ngày hôm sau, tôi bước vào văn phòng làm việc. Tôi nhìn lên ngọn đèn điện trên gần trần nhà. Bóng đèn vẫn còn đó và sáng lên khi tôi bật đèn. Sau khi xem xét công văn giấy tờ, tôi rời căn phòng lúc trưa để đi ra ngoài sau khi đã khóa cửa phòng vì tôi biết Hưng có chìa khóa. Tôi trở về doanh trại lúc 8 giờ tối. Trước khi vô phòng ngủ tôi đã mở cửa văn phòng để xem có công văn đi và đến hay không. Khi tôi bật công tắc điện thi không thấy sáng. Lấy đèn pin rọi lên trên trần nhà. Cái bóng đèn đã vỡ tan và nằm trên sàn gỗ.

           Vào cuối tháng 2 năm 1970, tôi trở về doanh trại lúc gần nửa khuya và đi vào phòng ngủ của tôi. Mới thay quần áo xong và chuẩn bị nấu nước pha trà thì có tiếng gõ cửa. Mẹo bước vô. Hắn hỏi tôi lúc 11 giờ khuya tôi có về phòng ngủ không. Tôi nói với Mẹo là lúc 11 giờ đêm tôi còn đang uống cafe tại phòng trà Chic Cabare trên đường Hoàng Diệu và bây giờ tôi mới về đến nơi. Mẹo nói, khoảng 11 giờ khuya, hắn nghe tiếng chân đi lên cầu thang gỗ, ngang qua phòng hắn lên lầu ba (phòng Mẹo ở lầu hai dưới phòng ngủ của tôi). Mẹo tưởng tôi vừa về đến phòng nên đi lên gõ cửa. Thỉnh thoảng, vào ban đêm, tôi thường mời hắn vô phòng uống trà cho ấm bụng. Mẹo nói, khi lên đến cửa phòng tôi hắn thấy phòng tôi còn tối thui. Hắn gõ cửa nhưng không thấy tôi mở. Tôi nói với Mẹo, ông lại dọa tôi nữa. Mẹo vội đưa ngón tay lên miệng hắn ra dấu tôi im lặng. Mẹo thì thầm nói với tôi, ông có nghe thấy gì không? Tụi nó đang uống trà trong văn phòng của ông đó. Tôi im lặng và lắng nghe thì quả tình nghe thấy tiếng lách cách như có ai đó cứ đưa tách lên rồi đặt xuống cái đĩa nhỏ nhiều lần. Trong phòng làm việc của tôi rất trống và rộng. Trong đó có một bàn ‘bureau”, một bộ salon 4 ghế và có một bộ tách trà trên chiếc bàn salon nhưng bộ tách trà này chỉ dùng để làm kiểng cho đẹp. Đằng sau cái bàn làm việc của tôi là một bảng gỗ ghi sơ đồ tổ chức Đại Đội. Tôi cầm khẩu súng ruleau trong tay trái, tay phải cầm cái đèn pin. Tôi ra đấu cho Mẹo theo tôi. Tôi lấy chìa khóa mở cửa văn phòng rồi đạp cửa thật nhanh và đi vào phòng. Ngay lập tức tôi dùng đèn pin quét một vòng thật nhanh quanh cả căn phòng. Tôi không nhìn thấy gì khác lạ. Bộ tách trà vẫn nằm yên vị trên bàn salon. Lúc đó tôi mới cảm thấy sợ. Mẹo và tôi ra khỏi căn phòng. Mẹo đi xuống phòng hắn để đi ngủ và tôi cũng vào phòng ngủ, chùm chăn kín đầu để đi ngủ chứ không còn hứng thú gì trong việc uống trà ban đêm nữa. Nằm mãi vẫn không ngủ được. Tôi chợt có cảm giác như có ai đang đứng bên ngoài, sát cửa phòng ngủ của tôi và thở phì phì. Tôi lại bật dậy mở cửa ra thì không thấy ai. Chui lại vô bên trong chăn thì lại nghe có tiếng thở phì phì bên ngoài cửa. Tôi lại ra xem xét một lần nữa thi cũng chẳng thấy gì cả. Tôi nghĩ, có lẽ vì tôi sợ nên bị thần hồn nát thần tính, tiếng thở phì phì là tiếng do hơi thở của tôi phát ra chứ không phải tiếng thở của ai cả. Tôi bèn nín thở xem sao. Sau khi nín thở và chỉ hít thở thật nhẹ, tôi vẫn rõ ràng nghe thấy tiếng thở phì phì phát ra rất rõ ràng bên ngoài cánh cửa phòng ngủ của tôi. Lúc bấy giờ thì tôi đã có quyết định. Tôi gọi Mẹo và nói hắn đi xuống gọi CVS Lê Phát Đạt, người tài xế của tôi lên. Tôi nói với Đạt là, kể từ thời gian đó, Đạt mang cái ghế bố của hắn lên phòng ngủ của tôi để hai người cùng ngủ chung trong căn phòng này. Đạt nằm chung phòng với tôi từ ngày đó cho đến giữa tháng 4 năm 1970, khi tôi rời Đà Lạt để cùng Đại Đội Phó Nguyễn Hữu Hiếu về thụ huấn bổ túc khóa 4/70 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức.

           Sau này tôi có hỏi chuyện một số nhân viên kỳ cựu của Phòng CSĐB Đà Lạt. Một vài người có cho tôi biết, văn phòng mà tôi và bạn Lê Lang dùng làm phòng làm việc, ngày xưa, lúc thời Tây và sau năm 1954, phòng này được xử dụng làm phòng điều tra và hỏi cung phạm nhân. Trong một thời gian không rõ năm tháng, cũng trong căn phòng này, một phạm nhân nam, tay đang bị trói để chuẩn bị được hỏi cung, trong lúc mọi người không để ý, người phạm nhân này đã phóng mình lao qua một cửa kính. Cửa kính vỡ tan và người này đã rơi từ lầu ba xuống đất và chết tại chỗ.

          Trừ một lần tôi đã lái xe Jeep để chở hai cô “ma” từ khu Chi Lăng Đà Lạt về đến Miếu Hai Cô bên bờ hồ Xuân Hương, ngoài ra thì tôi chưa bao giờ chính mắt nhìn thấy một con ma nào. Tuy nhiên, qua những hiện tượng tôi vừa kể ra như trên, tôi vẫn tin rằng thế giới vô hình là có thật mà chúng ta không nhìn thấy hoặc không biết đến. Quý bạn nào không tin ở ma quỷ, xin tùy nghi nhận định.

NGUYỀN NGỌC TUẤN (K3)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bình luận về bài viết này

Kể chuyện Chợ Không Đồng Ở Mỹ

CHỢ 0$ Ở MỸ.

IMG-9583Xin giới thiệu chợ không đồng ở Mỹ đến cả nhà.

Chợ $0 ở Mỹ có từ lâu rồi và ở thành phố nào cũng có một vài locations.

Các chợ nầy dành cho các gia đình có lợi tức thấp. Hồi mới qua Mỹ tôi cũng thường hay đi chợ nầy, sau đó đi làm có lương có đồng ra đồng vào, cuộc sống khá hơn nên dành lại cho các gia đình đến sau có cuộc sống còn khó khăn .

Từ khi có đại dịch covid, cuộc sống rất nhiều người trở nên khốn khó vì không có công ăn việc làm, không có tiền trả tiền nhà, điện, nước, insurance .. .. .. ôi đủ thứ, trong khi đó vật giá mỗi ngày mỗi leo thang thấy chóng mặt.. THÌ CHỢ $0 LÀ CHỖ DỰA LÝ TƯỞNG CHO NGƯỜI NGHÈO.

Nói là người nghèo chứ đi chợ thấy toàn xe sang không hà.

Gia đình mình được đi 2 chợ mỗi tuần. Có chợ không cần ghi tên trước, chỉ đến nói tên và gia đình có mấy người là OK. Còn chợ thứ hai phải ghi tên trước cho họ lập danh sách theo dỏi hàng tuần để điều phối thực phẫm cho đủ. Tuần nầy mình đi chợ thứ hai nầy thôi.

Bây giờ kể chuyện đi chợ nhé. Đến đia điễm nhận hàng phải đeo khẩu trang và đi đứng giữ khoảng cách xã hội 2met. Trình số thứ tự của mình ra để họ đánh dấu vào danh sách ( tránh trường hợp đi chợ 2 lần), sau đó cô nhân viên rất dễ thương đưa cho một miếng giấy có ghi thêm một số mặt hàng nếu mình muốn chọn.

Sau đó mình xếp hàng theo thứ tự trước sau. Quầy hàng đầu tiên là dầu ăn và xà phòng rửa chén. Muốn lảnh 2 thứ nầy thì mình phải đem theo 2 cai lọ để đựng. Hôm qua mình đi không đem theo. ” Oh Sorry I forgot container with me” thì bà Mỹ phụ trách nói “OK, I have container for you” rồi bã lấy 2 chai nước ngọt không, khô ráo, chế dầu ăn và xà phòng rồi đưa cho mình. Có ai tử tế như vậy không hè.

Tiếp đến là quầy phân phát thùng thực phẩm trong đó có trứng, có sửa, có rau, có thịt . . . đủ thứ, thay đổi hằng tuần. Mình xem có thứ nào không thích thì trả lại.

Sau khi lãnh thùng thực phẫm thì đến chỗ thứ hai để lãnh những thứ cần thiêt mình đã đánh dấu ghi trong tờ giấy. GIẤY ĐI CẦU, GIẤY LAU TAY và đặc biệt 2 món là TẢ CHO EM BÉ 1 TUỔI VÀ GIẤY ƯỚT ĐỂ LAU CHO BABY. Phụ trách cửa hàng nầy là một cô gái khoảng trên dưới 30, người Hoa, sau khi xem tờ kê liền nhìn mình một cách thán phục. ( Trong bụng chắc cô ta nghĩ: ÔNG GIÀ NẦY CÒN GÂN NHÉ.) rồi lấy hàng cho mình và còn tặng thêm một galon sửa 2%. Khi mình đẩy xe đi tiếp thì cô còn nhìn theo và nói CONGRATULATIONS.( Mình cười trong bụng và biết cô ta đang nghĩ gì về ông già nầy, hí hí . . )

Đến quày thức ăn khô và làm sẳn thì mình chỉ lựa vài thứ thôi, đồ ăn của người Mễ mình không quen nên xin gởi lại.

Và cuối cùng là hàng tự chọn như bánh mì, cake, bành ngọt, rau quả. Tuần rồi có rau lá KALE mệnh danh là VUA của các loại rau, nhưng nhiều người không biết ăn, mình hốt về được 6 bó rồi bỏ ra 2 ngày sấy khô thành Kale Chip ăn cũng vui.

Rồi, giờ xem ngày hôm qua mình đi chợ được gì nào. Chỉ có hai vợ chồng làm sao ăn hết trong một tuần đây: có sửa, trứng, có rau , ngò, tỏi, cà chua, chuối, củ dền đỏ, có cả chai nước rửa tay diệt khuẩn . . .

Còn Baby Diapers và giấy ướt lau đít baby thì xin về cho đứa cháu kêu mình bằng Bác, vì còn 2 tháng nữa nó sinh con đầu lòng.

Đó là câu chuyện đi chợ không đồng ở Mỹ kể cho cà nhà nghe xem cho vui.

Đừng sợ ở Mỹ sẽ chết đói. Những thứ mình nhận về , chỉ dành một ít vừa đủ cho hai vợ chồng còn lại đem trao cho hai gia đình hàng xóm , một nhà có người khiếm thị và một nhà có hai con nhỏ.

Nghĩ lại thấy thương một số bà con nghèo của mình ở quê hương vẫn còn khốn khổ trong mùa đại dịch covid và delta như hiện nay.

CHÚC CẢ NHÀ VUI KHỎE VÀ AN LÀNH, THẬT AN LÀNH NGHE CẢ NHÀ.

Thiên Tâm NCV

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bình luận về bài viết này

Miếng dán Vi Kim 3D Vaccine-19

MIẾNG DÁN VI KIM 3D VACCINE  COVID-19

SKĐS – Các nhà khoa học đã chế tạo ra một loại miếng dán vi kim vaccine COVID-19, được in theo công nghệ 3D. Miếng dán này có thể dùng như một giải pháp thay thế kim tiêm để tránh gây đau cho bệnh nhân.

Miếng dán vi kim 3D vaccine COVID-19 tiện dụng trong tiêm chủng

Trước đó, trong các thử nghiệm lâm sàng trên chuột, miếng dán vaccine sinh ra phản ứng miễn dịch cao gấp 10 lần. Các phản ứng kháng thể đặc hiệu với kháng nguyên và tế bào T lớn hơn 50 lần, nếu so với dùng kim tiêm vào bắp tay.

Đây là miếng dán polymer có kích nhỏ cỡ một hơn đồng xu, dùng một liều lượng vaccine ít hơn và đặc biệt là có thể chuyển đến tận nhà người dân thông qua bưu điện và người dân có thể tự dùng… Từ đó giảm thiểu sự có mặt của lực lượng y tế qua đào tạo.

unnamed (1)(Miếng dán vaccine vi kim in 3D được chế tạo bởi công trình nghiên cứu của 2 đại học Stanford và Bắc Carolina, Mỹ. Ảnh nguồn: UNC)

Miếng dán vaccine 3D cũng mang đến tâm lý hào hứng đón nhận đối với những người sợ hãi khi nói đến “kim tiêm”‘ (trypanophobia) – là nguyên nhân khiến một số người ngại tiêm chủng.

Dù chưa thử nghiệm lâm sàng miếng dán vaccine 3D trên người, nhưng hứa hẹn nó sẽ là một giải pháp tiêm chủng mới trong tương lai.

Miếng dán vaccine được phát triển bởi các nhà nghiên cứu tại Đại học Stanford và Đại học Bắc Carolina ở Chapel Hill. Tác giả nghiên cứu chính là GS.Joseph M. DeSimone, chuyên gia về kỹ thuật hóa học tại Đại học Stanford. Ông giải thích: “Khi phát triển công nghệ này, chúng tôi hy vọng rằng sẽ thúc đẩy sản xuất vaccine nhanh trên toàn cầu, ở dạng liều thấp và là một giải pháp không gây đau đớn hay lo âu cho người tiêm”.

Miếng dán vaccine COVID-19 hoạt động thế nào?

Miếng dán vi kim được in bằng công nghệ 3D, bằng cách dùng máy in 3D nguyên mẫu CLIP do GS DeSimone phát minh. In 3D là cách dùng phần mềm để tạo ra một thiết kế 3 chiều trước khi thiết bị robot in nó ra. Ngoài dùng trong vaccine COVID-19, nó còn được sử dụng trong vaccine các bệnh cúm, sởi, viêm gan.

unnamed (2)(GS.Joseph M. DeSimone, nhà phát minh ra máy in 3D
in ra các miếng dán vaccine. Ảnh nguồn: TED)

Trong khi các loại vaccine hiện tại chỉ được tiêm dưới da, các nhà khoa học đang quan tâm đến việc tiêm trong da. Nghĩa là các mũi tiêm nông hơn chỉ tiếp xúc đến lớp hạ bì của da.

Các nhà nghiên cứu chỉ ra rằng, tiêm trong da rất thích hợp để tiêm chủng vì da người về cơ bản rất phong phú các tế bào miễn dịch (tế bào Langerhans và tế bào đuôi gai ở da). Đại dịch COVID-19 hiện nay là một lời cảnh tỉnh rõ ràng về sự khác biệt của việc tiêm chủng kịp thời. Nhưng chủng ngừa lại cần sự phối hợp của phòng khám, bệnh viện hoặc các trung tâm tiêm vaccine.

Quy trình tiêm vaccine nhìn qua có vẻ đơn giản. Song cũng có những vấn đề đáng lưu ý trong tiêm chủng đại trà: Từ kho trữ lạnh vaccine đến việc đào tạo nhân viên y tế tiêm đúng cách. Trong khi đó, miếng dán vaccine có thể được chuyển đến bất kỳ đâu trên thế giới mà không cần phải có nhân lực đặc biệt đi theo. Người dân tự dán vaccine giống như cách tự xét nghiệm COVID-19 tại nhà. Các vi kim trên miếng dán sẽ được phủ dịch vaccine, đặc biệt là không đau khi cắm trên da.

Các vi kim có thể được chế tạo bằng công nghệ in 3D từ đủ loại vật liệu khác nhau như kim loại đặc, silicon và polymers. Bà Shaomin Tian – nhà nghiên cứu tại Khoa Miễn dịch và Vi trùng học, thuộc trường y Đại học Bắc i

Carolina, phát biểu: “Trước đây, với phương pháp truyền thống, sẽ tạo ra vi kim trong các khuôn mẫu sẵn, khiến vi kim không linh hoạt, đồng thời làm giảm độ sắc nét của kim. Nhưng với công nghệ in 3D sẽ tạo ra những vi kim có dạng hình học được kiểm soát tốt – thích ứng với các loại vaccine khác nhau”.

Việc dễ dàng dùng miếng dán vaccine sẽ làm tăng tỷ lệ chủng ngừa và tránh tâm lý ngại vaccine trong các đại dịch tương lai. Nhóm các nhà vi sinh học và kỹ sư hóa đang tiếp tục đổi mới bằng cách điều chế vaccine RNA (như các loại vaccine Pfizer và Moderna dùng trong đại dịch COVID-19) thành những miếng dán vi kim cho xét nghiệm tương lai. Nghiên cứu mới đã được công bố trên Kỷ yếu Hàn lâm khoa học quốc gia.

Miếng dán vaccine COVID-19 giúp giảm sợ hãi với mũi tiêm

Những chiếc kim siêu nhỏ sẽ không gây đau khi chích vào cơ thể và triệt tiêu chứng sợ kim tiêm của nhiều người. Theo các báo cáo gần đây thì chứng sợ kim tiêm là căn nguyên gây nên 10% tình trạng ngại tiêm chủng COVID-19 ở Anh.

unnamed (3)

Continuous liquid interface production helps 3D printing live up to its namesake.

Máy in 3D do GS DeSimone phát minh ra (Ảnh nguồn: Architect Magazine)

Các nhà nghiên cứu của Đại học Oxford đã yêu cầu 15.014 người Anh trưởng thành đánh giá mức độ lo lắng của họ về kim tiêm và máu, cũng như thái độ sẵn sàng của họ khi đón nhận tiêm chủng. Tổng cộng có 3.927 người (chiếm 26.2%) được xét nghiệm dương tính rơi vào tâm lý sợ máu – chấn thương. Các cá nhân sàng lọc dương tính (chiếm 22%) có tâm lý ngại ngần hơn so với những người xét nghiệm âm tính (chiếm 11.5%).

Các nhà nghiên cứu cho rằng ngoài các lý do khác sinh ra việc e ngại tiêm chủng, thì nỗi sợ hãi chấn thương khi tiêm chiếm 10% các trường hợp lo ngại vaccine COVID-19.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bình luận về bài viết này

CUỘC TRÙNG PHÙNG HỘI NGỘ_Đỗ Ngà

Mới năm xưa, được toà cho phép ly dị, chia đôi tài sản và con cái, Lạc Long Quân dẫn 50 người con xuống biển, còn bà Âu Cơ thì dẫn 50 người con lên núi.

Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, năm nay hai người lại gặp nhau tại khu nhà trọ gần lò thiêu Bình Hưng Hoà, quận Bình Tân, TP/ HCM. Cả hai đều già, khá tiều tụy, gương mặt không còn giữ được mấy những nét thần thoại của một thuở hồng hoang.

Bà Âu Cơ dè dặt nắm lấy bàn tay gầy rộc của Lạc Long Quân, giọng cảm động:

– Ông và các con thế nào ? Cuộc sống chắc cũng cơ cực lắm?

– Thì đã hẳn. Nghề biển bây giờ khó sống lắm. Trước ra khơi xa thì còn kiếm ăn được, nhưng sau này giặc Tàu hung hãn quá, ngư dân cứ ló mặt ra là nó giết. Con mình bị chúng nó ủi chìm tàu, chết hết 10 đứa, chỉ còn 40 đứa, tôi sợ quá bèn cho chúng nó đi lao động xuất khẩu một mớ, số còn lại chỉ đánh bắt loanh quanh gần bờ, nhặt nhạnh con tôm, con cá sống qua ngày…

Bà Âu Cơ cắt ngang:

– Con ông còn được ở ngoài đời bươn chải là may rồi. Con tôi đi tù gần hết. Từ ngày dẫn con lên núi làm cái nghề phá sơn lâm, tôi thấy không khá được ông ạ. Tiền bạc và gỗ quý thì chạy vào nhà các quan với lại tụi kiểm lâm, lâu lâu có bắt đi tù thì toàn là thợ rừng như đám con mình. Thấy thế tôi mới dắt mấy đứa còn lại xuống đồng bằng, cho chúng nó học lấy cái chữ những mong đổi đời. Ai dè tốt nghiệp đại học ra, không đứa nào có việc làm, toàn chạy shipper.

Lạc Long Quân nhìn sâu vào mắt vợ, ông thấy dù sao trong đôi mắt buồn của bà vẫn còn phảng phất đôi nét quý phái triều đình, và hỏi:

– Sao bà không lo cho đứa nào vào đảng để dễ kiếm ăn?

– Vào đảng thế nào được ? Tại ông cả đấy. Thấy tên cha là Lạc Long Quân là chúng nó gạch bỏ ngay thôi, bảo xuất thân phong kiến.

– Lạ nhỉ. Lạc Long Quân gằn giọng, đôi lông mày bạc phếch chau lại, hàm râu bạc rung rung. Đúng ra họ phải ưu tiên cho con của bậc tiền nhân.

– Không dám đâu. Bà Âu Cơ nói giọng uất ức: Cái chế độ này nó thế rồi. Chỉ ôm lấy cái vỏ bọc chuyên chính vô sản nhằm giữ ghế và phục vụ cho lợi ích của thằng bạn vàng 4 tốt thôi. Nói thật chứ, nếu bây giờ Hai bà Trưng có sống dậy đánh đuổi giặc Tàu thì chúng nó cũng sẽ cho cả voi lẫn hai bà lên thớt.

Nghe nói tới chuyện chính trị, Lạc Long Quân rét run lên, bèn hỏi lảng qua chuyện khác:

– Dưng mà bà ở khu trọ này bao lâu rồi, mà hôm nay ta mới gặp nhau?

– Tôi chỉ mới tới thuê ở tạm hai ngày nay thôi, trong lúc chờ lấy tro cốt của thằng Út, ông nhớ thằng này không, cái thằng mà vừa sinh ra đã kêu “khổ, khổ” đó. Nó bị F0, người ta nhốt nó vô khu cách ly, được 7 ngày thì chết vì đói và vì bịnh nền. Bà Âu Cơ sụt sùi, đưa cái khăn tay thêu rồng phượng, mà ngày xưa ông tặng bà, lên lau nước mũi. Còn ông sao lại ở đây ?

– Tôi trọ ở đây lâu rồi, tôi ở với mấy thằng con lớn nhất của mình. Tụi nó làm đạo tỳ với lại làm công cho lò thiêu Bình Hưng Hòa này chứ đâu.

– Ồ, vậy là con mình sẽ thiêu con mình à?

– Chắc vậy đó. Lạc Long Quân khóc nấc lên: “Củi đậu đun hạt đậu, cùng sinh ra một gốc, nỡ đun nhau thế ư”. Khóc chán xong, lại nín, rồi rụt rè đề nghị: Thôi, hoàn cảnh nó thế rồi, hay là bà ở lại đây luôn, tụi mình góp gạo thổi cơm chung. Tôi thề sẽ không ly dị bà nữa.

Bà Âu Cơ ngồi lại ngay ngắn, nói giọng nghiêm trang:

– Em cũng muốn lắm, thưa Lang quân. Nhưng truyền thuyết đã bắt đôi ta phải chia lìa. Cả nước đều biết chuyện này. Chả nhẽ bây giờ ta lại bắt học sinh phải học lại là: Lạc Long Quân và bà Âu Cơ cuối đời về sống chung với nhau, đẻ thêm 100 cái trứng…

Lạc Long Quân xem chừng hiểu ra, ông sửa lại mũ áo và nói với giọng cũng nghiêm trang không kém:

– Ái khanh nói chí phải. Mệnh trời đã đặt thế rồi, khiên cưỡng mà chi. Thôi để hôm nào hết giãn cách, ta sẽ đưa nàng đi cơm tiệm một bữa, rồi mình lại chia tay vĩnh viễn…

Ngoài kia, trời đang nắng, bổng giông bão từ đâu vần vũ kéo tới và trời bắt đầu đổ mưa. Chỉ chốc nữa thôi, cái thành phố HCM khốn nạn này lại sẽ ngập đến… lưng quần.

 Đỗ Ngà 

(Bài lượm lặt trên net)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bình luận về bài viết này

Lời phát biểu của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu vào ngày 24 tháng Mười 1972

“Tôi thiết tha kêu gọi những ai, ở miền Nam này, đang ăn cơm miền Nam, đang thở không khí miền Nam, đang được sự che chở của xương máu Dân Quân miền Nam, mà đến ngày nay, còn âm thầm tiếp tay với Cộng sản, còn lén lút đi đêm với Thực dân, Ngụy hòa, còn tính đâm sau lưng chiến sĩ đồng bào…Tôi kêu gọi lương tri của mấy người, vì đất nước, vì dân tộc, hãy dừng chân lại, hãy dừng tay lại, hãy từ bỏ ý định đó đi mà cùng với 17 triệu rưỡi Dân Quân miền Nam chiến đấu chống kẻ thù Cộng sản. Tôi kêu gọi mấy người hãy suy nghĩ, nếu thích Cộng sản thì hãy có can đảm ra ngoài Bắc ở với Cộng sản, như vậy Cộng sản còn ít khinh rẻ mấy người hơn là làm tay sai cho chúng ở miền Nam này.

Có thể không ai ở miền Nam tự do này giết mấy người đâu, nhưng chính Cộng sản sẽ giết mấy người.

Mấy người nếu muốn có tên trong lịch sử, thì cũng có hai lối có tên trong lịch sử. Một đàng khi nhắc đến, thì toàn dân cúi đầu khâm phục,con cháu lại ngẩng đầu lên hãnh diện. Một đàng khác, khi nhắc đến, thì toàn dân ngẩng đầu lên nguyền rủa, còn con cháu mấy người lại cúi đầu tủi nhục. Tôi chắc mấy người sẽ được lịch sử ghi tên vào hạng thứ hai này.

Nếu mấy người không cầm súng xông pha lửa đạn để chiến đấu, nếu không làm được một việc gì hữu ích cho hậu phương thì mấy người đừng làm gì hại dân bán nước.

Một hành động ngu xuẩn, phản bội Tổ Quốc, Chiến Sĩ và Nhân Dân, dù có gạt được ai 5, 3 tháng, 5, 3 năm, rồi cũng sẽ bị lịch sử lôi ra chứng minh và cũng sẽ bị trừng trị nghiêm khắc.”

VỀ NHỮNG KẺ NỐI VÒNG TAY LỚN.

Họ là những kẻ góp phần lớn vào sự sụp đổ của Việt Nam Cộng Hòa. Họ không ngừng cực lực lên án chính phủ Quốc gia và không ngừng xuống đường liên tục với đủ sắc áo màu cờ nhân danh phản chiến và hòa bình. Những chiến sĩ VNCH hy sinh biết bao xương máu ngoài mặt trận trong suốt 21 năm trời để bảo vệ hậu phương cho họ tự do lợi dụng và khai thác thể chế dân chủ và tự do để gây rối loạn ở hậu phương. Vô tình hay hữu ý hay thơ ngây, họ trở thành ngọn giáo nối dài của Cộng sản đâm vào hậu phương từng nuôi dưỡng, giáo dục và bảo vệ họ và gia đình. Họ là những sinh viên, trí thức, văn nghệ sĩ, chính trị gia, tu sĩ, và thành phần thứ ba ở miền Nam.

Những kẻ phản chiến và ngụy hòa này, tức những kẻ đối lập cửa trước rước giặc cửa sau vì, xét cho cùng, trung lập trong chiến tranh chính là bạn của kẻ thù. Nhưng cuối cùng khi cuộc chiến tàn, họ bị Cộng sản bỏ rơi, coi thường, hay cả bị tù đày. Họ chính là những kẻ mà Lenin đặt tên là “những kẻ ngu xuẩn có ích” cho cộng sản. Họ hiện diện thường xuyên trên các đường phố ở miền Nam và Mỹ kêu gọi hòa bình mà thực tế mở đường cho cuộc chiến tranh mới không tiếng súng nhưng tàn ác gấp bội lần.

Nhân dịp kỷ niệm bốn mươi năm Việt Nam Cộng hòa bị cộng sản cưỡng chiếm, chúng tôi trích lại lời phát biểu của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu vào ngày 24 tháng Mười 1972,

ĐỌC, CẢM THẤY THẤM THÍA

MỘT NÉN HƯƠNG CHO TT THIỆU

(ST)

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bình luận về bài viết này

Tự Hào Hai Chữ SÀI GÒN (ST)

Tự Hào Hai Chữ SÀI GÒN

sai gon

SAIGON – cái tên địa danh 1 trong 40 thành phố nổi tiếng trên thế giới được khắc tên trên mặt đồng hồ Thuỵ Sỹ từ những năm 1953.TT

Chiều qua uống cafe với đứa em, buôn chuyện khắp thế giới mới biết em cũng cùng sở thích mê đồng hồ (mình chỉ mê thôi nha). Em gởi hình cái đồng hồ và hỏi có biết tin thú vị này không ? Xem xong thật sự mình rất rất ngạc nhiên xen lẫn tự hào cái tên SAIGON được khắc trên mặt đồng hồ của một thương hiệu nổi tiếng nhất thế giới – PATEK PHILIPPE – model 2523 của Thuỵ Sỹ. Tin quá hay và quá thú vị không phải ai mê đồng hồ cũng biết. Tối mình về nhà lật đật “lục tung” internet tìm hiểu mới càng “nổi da gà”, khi biết nó được sản xuất năm 1953, khi miền Nam lúc đó do Pháp đô hộ, nhưng thành phố SAIGON được khắc tên 1 trong 24 múi giờ thế giới. Cái tên được ngạo ngễ đứng chung với 40 thành phố nổi tiếng đại diện trên thế giới: Sydney, Montreal, Moscow, New York, California, Rio De Janeiro, London, Paris, Geneva, Tokyo,…..có cả Singapore (mình hơi thắc mắc nước Singapore thành lập năm 1965, nhưng đồng hồ này lại được sản xuất năm 1953 ?).

Tương truyền, vào năm 1876 sau khi lỡ chuyến tàu ở Ireland, kỹ sư đường sắt người Scotland – Mr.Stanford Fleming bắt đầu tìm cách chuẩn hóa thời gian. Phát biểu trước Viện Hoàng gia Canada ở Toronto năm 1879, ông đề xuất chia trái đất thành 24 múi giờ, mỗi múi cách nhau một tiếng với thời gian chung cho từng múi giờ riêng lẻ. Ý tưởng của ông đã vấp phải sự phản đối đáng kể từ các chính phủ và cộng đồng khoa học nhưng sự kiên trì của ông đã được đền đáp khi khái niệm mang tính cách mạng của ông cuối cùng được thông qua vào năm 1884 tại Washington, khi 25 quốc gia tham gia hội nghị Kinh tuyến Quốc tế quyết định rằng kinh tuyến gốc của kinh độ 0 ° sẽ đi qua Greenwich, nước Anh.

Đồng hồ giờ thế giới dường như ít được các tín đồ đồng hồ quan tâm cho đến khi nhà chế tác đồng hồ thiên tài Mr.Louis Cottier thiết kế một bộ máy đồng hồ bỏ túi có giờ địa phương với kim giờ và kim phút ở trung tâm, được liên kết với một vòng xoay 24 giờ và được bao quanh bởi một vòng quay số cố định bên ngoài với tên của các thành phố khác nhau được ghi trên đó. Đồng hồ bỏ túi giờ thế giới, tiền thân của tất cả đồng hồ giờ thế giới, hiển thị đồng thời mọi múi giờ trên thế giới, đồng thời cho phép xem giờ địa phương dễ dàng và chính xác, và tất cả trên một mặt số duy nhất.

Cottier đã thu nhỏ phát minh của mình vào cuối những năm 1930, xuất hiện trên chiếc Patek Philippe model 1415. Đến năm 1953, Patek Philippe model 2523 có hệ thống hai núm vặn mới, một để lên dây cót và một ở vị trí 9h để điều khiển đĩa các thành phố. Khi được giới thiệu ra thị trường, đồng hồ hai núm mới này không thành công về mặt thương mại, nên rất ít sản phẩm được sản xuất. Chỉ có 7 cái được chế tác bằng vàng hồng, 5 cái có bản đồ thành phố Âu châu và Bắc Mỹ. Trong đó, 1 trong 2 cái duy nhất dùng bản đồ Âu Châu & Á châu có mặt sứ màu xanh nước biển, khi lặn xuống nước màu trên mặt có một chiều sâu như dưới biển. Đồng hồ duy nhất này có cả 2 thứ trên mặt mà các nhà sưu tập đồng hồ mong muốn là mặt bằng men Enamel (loại sứ trên cái mặt tròn ở giữa) phải nung 2 lần mới thành. Và mặt trang trí vói những pattern bằng máy (do huyền thoại Louis Cottier phát minh, sau đó hãng Patek Philippe sử dụng). Đặc biệt được sản xuất trong thập niên 50 thế kỷ trước, thập niên hoàng kim của chế tạo, thiết kế, kỹ thuật điêu luyện của đôi tay những bậc thầy.

Và…..chiếc đồng hồ Patek Philippe 2523 giờ thế giới có khắc tên SAIGON được sản xuất năm 1953 trở thành chiếc đồng hồ đắt nhất được bán ở Á châu. Nghe nói đâu tầm vài triệu đô chứ mấy ?!? Ahihi…!

Bài viết & hình ảnh của Minh Hoà

SaiGon – Nov. 16, 2020.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bình luận về bài viết này

Bệnh Tật Trong Trại Cải Tạo -Hồi ký của BS Trần Mộng Lâm

Bệnh Tật Trong Trại Cải Tạo…..

Cố Bác Sỹ Trần Vỹ, cựu bộ trưởng Bộ Y Tế thời Đệ nhất Cộng Hòa, người thầy rất đáng kính của tôi, viết trong cuốn hồi ký Tù Nhân Chính Trị của ông về cái chết của một người bạn đồng đội, chết trong trại tập trung 52-A ngoài Bắc: Đại Tá Đỗ Kiến N., cựu quận trưởng một quận Saigon. Người khá vạm vỡ, anh ấy thuộc thành phần những người chịu đựng rất khó khăn việc ăn uống thiếu thốn. Anh ấy phì ra, bị phù tất cả người và đi đứng khó khăn.

Cán bộ y tế ngây thơ cứ tưởng rằng chỉ cần kiêng muối cho cơ thể là làm biến mất bệnh phù, đã cho anh ăn đường. Điều này đã làm cho anh suy yếu thêm. Một buổi sáng, sau một đêm lạnh hơn thường lệ trong mùa, không thấy anh cử động khi tới giờ thức dậy, nhiều bạn bè nằm gần đến đánh thức anh nhưng anh không trả lời dù còn thở một cách yếu ớt! Đại Tá Đỗ Kiến N. đã chết sau đó.

Thầy Trần Vỹ viết tiếp: Vì sao N chết? Vì đói, Tất cả các bạn tù thì thầm. Vì bệnh phù thủng, cán bộ công an tuyên bố.

Ba chục năm đã qua đi kể từ cái chết đó. Ngày hôm nay, chúng ta hãy nhìn lại giai đoạn bi thảm này để suy nghĩ về những bệnh tật trong trại cải tạo.

Người tù cải tạo suy yếu từ thể xác đến tinh thần nên rất dễ mắc bệnh. Sức đề kháng của cơ thể họ xuống thấp một cách trầm trọng nên một cơn gió, một sự thay đổi thời tiết tầm thường cũng là một lý do đủ để làm người tù bỏ mạng hay liệt giường liệt chiếu nhiều tháng trời. Một cách tổng quát, ta có thể chia ra những bệnh tật trong tù ra làm ba nhóm bệnh chính:

1) Nhóm bệnh thứ nhất gây ra bởi sự thiếu dinh dưỡng.

Tôi đã ở trong trại cải tạo nhiều năm trời nên đã hiểu một cách rất rõ thế nào là cái đói trong những ngày tháng đen tối đó. Hãy nghe BS Trần Vỹ kể chuyện tù tội của ông: Một buổi xế trưa, khi đến bệnh xá để lấy thuốc cho các bạn tôi, tôi đã thấy cách một vài thước trước cửa vào, một người thường phạm đã suy mòn, ngồi ngay dưới đất bụi bậm, năn nỉ không ngừng với giọng rên rỉ:

-Ối ông cán bộ ơi, xin hãy thương xót tôi, hãy cho tôi ngay bây giờ chén cơm và cái trứng mà ông sẽ để lên quan tài khi tôi chết. Tôi đói quá, tôi không cần chúng sau khi tôi chết.

Quả đúng là như vậy, cái đói đưa tới cái chết một cách dễ dàng. Người Y Sỹ nào cũng biết được là sự thiếu sinh tố B1 có thể làm người ta chết. Một sự thiếu sinh tố A có thể làm người ta mù, thiếu sinh tố B12 sinh ra thiếu máu, vân vân và vân vân. Nếu sự thiếu thốn đó ngắn hạn, người ta có thể chịu đựng được nhưng nếu bị cải tạo năm này qua năm khác, làm sao tránh được những cái chết thê thảm như cái chết của Đại Tá Đỗ Kiến N. như đã mô tả ở trên.

2) Nhóm bệnh thứ nhì cũng rất quan trọng là những bệnh nhiễm trùng:

Khi bị đưa vào U Minh để cưỡng bách lao đông vào năm 1976, hai chân tôi nổi đầy những vết ghẻ lở. Vết thương này chưa lành thì lại có các vết thương khác nổi lên. Cho đến nay những vết thẹo vẫn còn đầy nơi hai cẳng chân của tôi.

Cuối năm 1976, tôi được chỉ định làm y sỹ cho những người tù đồng đội. Một đàn anh của tôi, cựu dân biểu của một tỉnh mà tôi quên mất tên, Kiến Phong thì phải, hai mắt và da bỗng trở nên vàng khè, nước đái sậm đen như nước mắm. Tôi biết anh bị đau gan nặng mà đề nghị gửi đi bệnh viện cán bộ không cho nên cứ phải nhìn anh thoi thóp giữa đồng không mông quạnh của rừng Cà Mau. Không hiểu vì sao mà anh ta không chết và bệnh đau gan cũng không gây nên một cơn dịch đau gan như tôi sợ. Có lẽ vì đa số chúng tôi đã có được kháng thể trong người từ lâu rồi mà không hay, không biết.

Thầy Trần Vỹ kể lại trong sách đã nêu: Trong số những bệnh nhân có một cựu thiếu tá đã làm việc tại phủ Thủ Tướng. Anh ấy đã sốt nhiều ngày và bị đau ở ngực. Tôi đã áp tai vào lưng anh. Lúc bấy giờ tôi nghe rõ những dấu hiệu của chứng viêm phổi nhưng người ta nói không có gì trầm trọng và chích cho anh sinh tố B1. Tôi khuyên anh nên hỏi xin các bạn tù vài viên thuốc kháng sinh. Tôi không bao giờ biết được anh ta có tìm được kháng sinh hay không nhưng anh ta tiếp tục đi tới cái chòi nhỏ « bệnh xá » và vài ngày sau anh ta qua đời.

Thật sanh mạng một người tù cải tạo rẻ như bèo.

Người chỉ huy cũ của tôi, cựu Trung Tá Y Sỹ chỉ huy trưởng Quân Y Viện Phan Thanh Giản Cần Thơ trong thời gian bị cải tạo ngoài bắc đã phải mổ gấp một trường hợp sưng ruột dư cấp tánh cho một bạn tù trong những điều kiện rất là trung cổ, khi nghe kể lại trong lần anh ghé Montréal thăm chúng tôi, tôi còn rợn tóc gáy, nổi da gà. Nghĩa là chẳng có dao mổ, có khử trùng gì cả. Biết làm sao hơn, không mổ thì cầm chắc cái chết. Ông thầy của tôi mát tay nên đã cứu được bệnh nhân tuy anh khiêm nhường nói là: “Thằng ấy số nó chưa chết!”.

3) Nhóm bệnh thứ ba là nhóm bệnh thuộc về tâm thần.

Sự tuyệt vọng gây nên những chứng bệnh mà chúng tôi gọi là Depression majeure. Người bệnh không còn thiết sống nữa. Những trường hợp tự tử tôi nghe kể lại rất nhiều tuy không chứng kiến, lý do là thời gian cải tạo của tôi tương đối ngắn, chỉ không bằng một phần nhỏ thời gian tù tội của những người khác.

Tuy nhiên có một trường hợp mà tôi là nhân chứng đàng hoàng. Một cựu đại úy được đưa vào cưỡng bách lao động với tôi tại Kim Quy, Đá Bạc thuộc tỉnh Cà Mau. Anh ta vốn là lính kiểng, con nhà giàu, học xong bị động viên và vào quân đội mà thôi chứ tôi nghĩ cũng chưa từng giết ai bao giờ. Vào tù được ít lâu thì vợ bỏ theo cán bộ CS trung úy công an gì đó. Cha mẹ già yếu lo buồn sau đó cũng qua đời. Ít lâu sau anh lại nhận được tin đứa con trai 5 tuổi cũng chết luôn không hiểu tại sao.

Một đêm cuối tháng 12 chúng tôi đang nằm ngủ trong những cái chòi dựng tạm bợ giữa núi rừng Cà Mau thì bỗng thấy tiếng ai gào lên trong đêm trường tịch mịch « ĐM HCM, ĐM HCM »

Anh bạn đồng tù của tôi đã phát điên lên vì đau khổ.

Ba mươi năm đã qua đi từ những kỷ niệm đau thương đó. Lòng tôi bây giờ giá lạnh. Tôi không còn hận thù gì những người đã từng làm cán bộ quản giáo của tôi. Tôi biết là họ cũng như tôi chỉ là những phần tử thụ động. Tôi sẵn sàng tha thứ cho những khuôn mặt một thời hét ra lửa mửa ra khói đó nhưng làm sao quên được những người bất hạnh? Sinh ra không đúng thời, sống không đúng chỗ…..

BS Trần Mộng Lâm

Khúc Thuỵ Du

Hoài Niệm Miền Nam Một Thời

22.1.21

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Bệnh Tật Trong Trại Cải Tạo -Hồi ký của BS Trần Mộng Lâm

Chuyện Vui “Bố Vợ Tôi” của Bửu Hồng Sưu Tầm

 BỐ VỢ TÔI

1825EECB673248E1892A635C83B42D46

(Tác giả không dám để tên sợ bị phát giác.)

Ngoài bố ruột, mẹ ruột ra, thì người tốt với tôi nhất, lo lắng cho tôi nhiều nhất, ấy chính là bố vợ tôi
Ngay hôm đầu tiên con gái bố vợ tôi (tức là vợ tôi) đưa tôi về nhà ra mắt, thì bố vợ đã lôi tôi ra một góc, nét mặt nghiêm trọng, giọng nghiêm nghị:
“Trông cháu có vẻ thật thà, lương thiện, nên chú khuyên thật lòng đừng dại dột mà lấy con gái chú, vì tính nó giống y hệt mẹ nó, và rồi đời cháu cũng sẽ khổ giống y hệt đời chú!”

Tôi nghe bố vợ nói vậy thì cười thầm, bởi tôi không lạ gì cái trò này. Tôi đã quen và được một số em dẫn về nhà ra mắt rồi, và lần nào thì bố mẹ các em ấy (sau khi nhìn qua cái bộ dạng tôi, hỏi han mấy câu về trình độ học vấn, công việc làm, lương bổng, sở thích… của tôi) cũng đều đưa ra được một lý do nào đó rất nhân văn – giống như cái lý do mà bố vợ tôi đã đưa ra – để ngăn cản chuyện tình cảm của tôi và con gái nhà họ. Bởi thế, sau khi nghe bố vợ nói, tôi lạnh lùng vạch áo lên cho bố vợ xem cái hình xăm hai cái trái tim màu hồng lồng vào nhau có mũi tên xuyên qua nhìn như cái xiên thịt nướng ở dưới rốn, rồi cất giọng từ tốn:

“Cháu yêu con gái chú thật lòng.  Chú đừng ngăn cản! Khi nào vết xăm này mất đi, khi ấy cháu và con gái chú mới chấp nhận đôi ngả chia ly!”

Ngày đám cưới của tôi, trong khi mẹ vợ tôi và vợ tôi cười hề hề, thì bố vợ tôi lại rươm rướm nước mắt. Khi ấy, tôi nghĩ tới hai lý do: một là bố vợ xúc động khi chứng kiến tình yêu mãnh liệt tôi dành cho con gái bố; hai là vì bố bất lực khi đã không thể ngăn cản cái thằng dặt dẹo này nó lấy con gái mình. Nhưng đến bây giờ, sau vài năm làm con rể bố, tôi mới hiểu rằng những giọt nước mắt của bố hôm ấy chính là những giọt nước mắt day dứt, là bởi lương tâm bố đang cắn rứt, giống như bố thấy một nạn nhân yếu ớt, hiền lành, vô tội đang bị bọn khủng bố bắt giữ, khống chế, đàn áp, bạo hành mà bố lại không thể ra tay giải cứu!

Các cụ có câu “Sinh con ra mới hiểu lòng cha mẹ“; còn tôi thì “Lấy vợ xong mới hiểu lòng bố vợ.”

Quả thực, trên đời này, chắc chẳng có ông bố vợ nào thương và lo lắng cho con rể nhiều như bố vợ tôi: Những khi vợ tôi vòi quà, bố thường dấm dúi vào tay tôi ít tiền, vì bố biết tôi làm lương tối thiểu, không có tiền; Những lần tôi bị vợ đánh bầm dập mặt mày, tím tái tay chân, bố vợ lại đưa cho tôi lọ thuốc bóp, hay mua cho tôi vỉ thuốc kháng sinh…

Tôi hỏi:“Sao bố tốt với con vậy?” 

Bố bảo:“Tốt gì! Ngày trước ông ngoại của vợ mày cũng hay cho tiền bố khi mẹ vợ mày đòi quà, nên giờ bố cũng cho lại mày! Còn thuốc bóp và thuốc kháng sinh là bố mua về để bố dùng, phòng những lần bị mẹ mày đánh. Vì bố thường mua cả thùng để dùng dần, nên còn nhiều, bố mới cho mày thôi!”

Rồi bố nhăn mặt, sờ sờ lên mấy vết sẹo dài như những con tu hài trên khắp cánh tay, và lắc đầu chua cay:
“Ai nhìn những vết sẹo này của bố cũng tưởng là vết tích của chiến tranh, của những năm tháng ác liệt của bố nơi chiến trường, nhưng sự thật, cả chục năm đối mặt với bom đạn của kẻ thù tàn bạo, bố chả bị cái sẹo nào, chỉ sau khi lấy vợ, bố mới bắt đầu dính sẹo.”

Lần ấy, sau khi biết tin tôi – cũng giống như bố – vừa bị vợ đánh cho một trận bét nhè, ê ẩm toàn thân, thì bố mới rủ tôi đi “mát-xa” cho “thư giãn” gân cốt. Thấy tôi có vẻ e sợ, bố liền trấn an:

“Ra ngay cuối phố kia thôi, có cái quán mới khai trương, nó ghi là ‘mát-xa lành mạnh’ thì bố mới dám đi, chứ mà là ‘mát-xa bậy bạ’ thì dù ông ngoại của vợ mày cho bố đi, bố cũng không dám!”

Nghe bố nói thế tôi cũng yên tâm, ngoan ngoãn đi theo bố. Thế nhưng, vào đến nơi, tôi đã phải ba lần há hốc mồm. Lần thứ nhất tôi há hốc mồm là bởi dù ngoài cửa quán có treo cái biển “Mát-xa lành mạnh,” nhưng hai cái em nhân viên vào “mát xa” cho tôi và bố vợ tôi thì lại mặc những bộ trang phục rất “không lành lặn”: trông hai em ấy hệt như hai thiếu nữ đang đi bơi ở biển thì bị cá mập nó tấn công. Hai thiếu nữ nhanh chân chạy lên bờ được nhưng còn cái bộ “bikini” trên người thì bị cá mập nó cắn cho te tua…

Bố không giấu nổi vẻ hốt hoảng nhìn qua tôi, còn tôi run run quay qua hỏi hai em nhân viên:
“Các em lừa bọn anh à? Tại sao bên ngoài các em ghi là ‘Mát-xa lành mạnh?’ ”

Một trong hai em nhân viên e thẹn trả lời:
“Dạ! Bà chủ quán em tên Lành, ông chủ tên Mạnh ạ!”

Đó là lý do tôi há hốc mồm lần thứ hai. Còn vì sao tôi há hốc mồm lần thứ ba thì xin phép không nói ra ở đây, vì nói ra nó không được “lành mạnh” cho lắm…

Rồi cái điều mà tôi e sợ nhất đã thành sự thật: Tối hôm ấy về, vợ tôi ngửi ngay thấy mùi lạ, sinh nghi, sau khi kiểm tra thấy hơi yếu, liền tra khảo đủ điều, và tôi đành nhận tội. Và kết cục cũng như mọi lần thôi: Tôi bị một trận lên bờ xuống ruộng, và bị tống ra đường giữa lúc nửa đêm lạnh lẽo hơi sương. Tiền không một xu dính túi, đang hoang mang không biết đêm nay phải ngủ bờ ngủ bụi ở đâu, chợt tôi thấy điện thoại của tôi đổ chuông.  Chính là bố vợ tôi gọi. Tôi bắt máy thì đã nghe ngay giọng của bố:

“Đang ở đâu, bố qua đón, hai bố con ta sang ông ngoại ngủ nhờ! Bố cũng bị đuổi khỏi nhà rồi!”

Đúng là đang chết đuối vớ được cây chuối! Tôi reo lên trong điện thoại:
“Vâng! Con đang ở chỗ đầu ngõ gần nhà, bố qua đón con với! Bố thật tuyệt vời! Nếu có kiếp sau, con vẫn mong được làm con rể của bố!”

Bố vợ tôi nghe vậy thì đáp lại lạnh lùng:
“Cái này khó đấy con ạ! Vì bố đã quyết định kiếp sau sẽ không lấy vợ nữa rồi con à!”

Hết biết!!!

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Chuyện Vui “Bố Vợ Tôi” của Bửu Hồng Sưu Tầm

ÔNG GIÀ ĐẠP XÍCH LÔ

ÔNG GIÀ ĐẠP XÍCH LÔ

Đó là dịp tết năm 1995. Lần đầu tiên tôi về thăm quê hương.

Người đàn ông đạp xích lô, gầy guộc và khắc khổ. Nhìn ông già hơn tuổi. Có lẽ cuộc sống đầy khó khăn, nên sự lo âu, buồn buồn, hiện rõ trên nét mặt của ông.

Lúc đó, cũng có dăm ba người mời tôi đi xe của họ. Nhìn qua nhìn lại, tôi chọn đi xe của ông. Tôi nghĩ, ông già yếu hơn mấy anh kia, nên có thể ông ít được khách mời ông đi. Tôi muốn ông có thêm thu nhập, nên đồng ý lời mời của ông.

Hôm đó tôi bao xe đi nguyên ngày, đi vòng quanh Vũng Tàu, ngắm lại phong cảnh quê hương, sau 5 năm xa cách.

Khi biết ý muốn của tôi, ông mừng vui lắm. Nét mặt rạng rỡ hẵn ra. Trước khi lên xe, tôi nghe mấy anh kia còn nói. Trúng mánh nhe ông già. Gặp Việt kiều là ngon rồi.

Ông đạp xe chở tôi đi. Hai ông cháu nói chuyện rất thân thiện. Qua câu chuyện, tôi biết ông đi tù cải tạo về. Trãi qua bao tháng ngày cực khổ trong chốn lao tù, hình như sức lực của ông cũng hao mòn, yếu dần đi. Cuộc sống vốn dĩ khó khăn, nay về nuôi thêm mẹ già, nên càng khó khăn hơn. Khi biết tôi qua Mỹ theo diện HO, ông trầm ngâm:

– Bác giờ cũng đã già. Với lại đang nuôi mẹ già. Giờ bác đi cũng được. Nhưng mẹ bác để cho ai coi đây. Bao nhiêu năm đi tù xa cách mẹ già, giờ bỏ đi nữa thì mang tội bất hiếu.

Rồi bác nói không biết bây giờ qua Mỹ bác sẽ làm gì. Bạn bè của bác đã đi gần hết. Họ nói họ đi vì tương lai của con cháu. Chứ bác đâu còn gia đình gì đâu nữa mà đi. Tôi hỏi bác vậy vợ con của bác đâu rồi. Bác im lặng một hồi. Tôi quay lại, ngước mắt lên nhìn bác. Bác vẫn đạp xe, nhưng hình như bác buồn lắm. Mắt bác đỏ hoe. Như đoán được chuyện gì, tôi chỉ im lặng nhìn theo hướng phía trước. Chừng 5 phút sau, bác mới nói được:

– Bác có 3 đứa con. Chúng nó đi vượt biên, khi bác còn ở trong tù.

– Giờ mấy anh chị đang ở nước nào hả bác.

Bác lại im lặng…một hồi…rồi nói tiếp.

– Chuyến đi đó mất tích luôn. Không một ai có tin tức gì hết.

Tôi lặng điếng người. Thật không ngờ, kiếp người sao khổ vậy trời. Tôi cũng khổ nhiều, nhưng so với ông, nỗi khổ kia chẳng thấm vào đâu. Lòng tôi cảm thấy thương bác nhiều hơn. Không biết là tình thương đồng loại, hay thương vì tội nghiệp cho những bất hạnh của ông.

– Vậy bác gái đâu rồi bác.

– Ngày xưa thời VNCH, một mình bác làm nuôi cả nhà. Sau năm 1975 bác bị đi tù, bác gái phải tần tảo mà cũng không nuôi nổi mấy đứa con. Rồi có người giúp đỡ…

Nói đến đó bác không nói nữa. Tự nhiên tôi thấy mình hơi tàn nhẫn khi vô tình khơi lại vết thương đau của bác.

Bác chở tôi đi về từ theo đường bãi Dâu, bãi Dứa. Con đường này, cách đây 20 năm, vẫn một bên là núi, một bên là vực sâu của biển. Có đoạn lên dốc, có đoạn xuống dốc rất khó đi. Nhưng vì muốn tôi ngắm cảnh đẹp của đất trời, mênh mông của biển cả, bác chọn hướng đi này. Những đoạn lên dốc, tôi nhảy xuống, vì sợ bác mệt đuối sức, nhưng ông nhất định ko chịu. Bác thấy chân tôi bị yếu đi cà quẹo, bác càng không để tôi bước xuống. Chổ nào bác đạp không nổi, bác nhảy xuống đẩy hay kéo xe. Thật lòng những lúc đó, tôi cảm thấy khó chịu quá trời.

Thế rồi chuyện đời cũng lắm cái ngờ. Trong khi đang xuống dốc, chiếc xe chạy nhanh hơn, rồi nhanh hơn nữa, hơn nữa. Tôi nghe bác hốt hoảng la lên.

– Chết rồi, thắng xe bị tuôn.

Xe càng chạy nhanh hơn. Tôi quá sợ hãi. Trong đầu lúc đó, tôi chỉ nghĩ mình sẽ bị lao xuống vực sâu. Bác vội nhảy xuống, dùng hết sức lực kéo chiếc xe lại, nhưng chiếc xe chỉ khựng lại tí xíu rồi vẫn chạy nhanh. Tôi nhắm mắt lại và nghĩ đến Gia đình. Cũng lúc đó, một tiếng đùng vang lên. Cả xe và tôi ngã nghiêng về vách núi và dừng lại.

Sau khi bình tĩnh trở lại, tôi thấy bác máu ra nhiều ở 2 bàn chân. Vì khi bác cố gắng kéo chiếc xe lại. Sức mạnh của chiếc xe đã kéo đôi chân của bác chà xát trên mặt đường, và bây giờ nhìn vào đôi chân ấy, chỉ thấy toàn là máu. Trong lúc xảy ra tình huống giữa chết và sống, bác lanh trí bẻ tay lái cho xe tông vào núi. Dù có bị gì đi nữa, còn hơn rơi xuống vực sâu.

Về đến nhà, bác không lấy tiền xe vì tai nạn xảy ra. Bác tha thiết năn nỉ tôi đừng bắt đền cái máy chụp hình, vì bác không có tiền. Thật sự lúc đó tôi thấy bác thật tội nghiệp và đáng thương. Tôi nói bác đừng lo gì cả, rồi tôi tặng cho bác 100 đô. Bác ngỡ ngàng nói đây là tờ 100 đô chứ không phải tờ 10 đô. Tôi nói tôi biết. Bác nói như vui mừng lắm.

– Con cho bác 2 chỉ vàng hả con.

Đáng lý ra tôi không nên kể chuyện tặng bác tiền. Nhưng tôi nghĩ, nếu như những ai trong trường hợp của tôi lúc đó, tôi tin cũng đều làm như vậy.

Trước khi chia tay, tôi đã ôm bác thật lâu. Lúc đó tôi vẫn còn nhớ là có mùi khen khét từ làn da cháy nắng của bác.

Sau này tôi có dịp về thăm quê hương và có hỏi thăm bác. Người ta nói bác đã đi Mỹ theo diện HO rồi.

Khánh Đặng

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở ÔNG GIÀ ĐẠP XÍCH LÔ

5 tuyệt chiêu trên smart phone của chúng ta

5 TUYỆT CHIÊU TRÊN ĐIỆN THOẠI CỦA BẠN

ptU7LZb3NZ8b6oetjsaKpFCó thể bạn chưa biết hết về chiếc điện thoại di động của mình : Mở cửa xe khi bị quên chìa khoá ở trong xe, mất chìa khoá xe vẫn lái xe được, hết pin vẫn sử dụng điện thoại được hoặc khi bạn cần SOS…

Theo ước tính, toàn thế giới hiện có đến khoảng 4,5 tỷ người dùng ĐTDĐ nhưng số người hiểu hết những chức năng của chiếc điện thoại có lẽ chỉ khoảng 10% số người sử dụng! Một số chức năng đó sẽ giúp chúng ta “thoát hiểm” một cách ngoạn mục nếu ta biết được những “tuyệt chiêu” của chiếc ĐTDĐ.

  1. KÍCH HOẠT PIN DỰ TRỮ:

Lúc cần gọi hay đang gọi ĐTDĐ lại báo… hết pin! Đừng hốt hoảng khi bạn gặp trường hợp này ở những nơi không thể sạc pin.

– ĐTDĐ nào cũng được thiết kế với lượng pin dự trữ, tương đương với 50% dung lượng pin khi được sạc đầy. Vấn đề là biết được cách nào để khởi động nguồn pin dự phòng đó.

– Đơn giản thôi, bạn chỉ cần bấm: *3370# và bạn sẽ thấy pin lại đầy 50% lằn vạch báo dung lượng… Lúc đó, bạn có thể tiếp tục các cuộc gọi ít ra trong vài tiếng đồng hồ nữa! Xin nhắc lại, chỉ cần 6 động tác trên bàn phím, khởi đầu là dấu hoa thị (*), tiếp đến là 4 chữ số (3370) và kết thúc với dấu thăng (#): điện thoại của bạn sẽ báo đang có 50% dung lượng!

– Đây là phần năng lượng dự trữ trong máy điện thoại gọi là “Third Hidden Battery Power” để điều hành bộ phận báo hết pin của máy và lưu trữ các dữ liệu như ngày giờ, danh sách phone book… Khi bạn sạc lại pin, lượng pin dự trữ sẽ đầy lại trước khi lượng pin của máy được sạc đầy.

  2. SOS:

Ở Mỹ số Điện Thoại cấp cứu là 911 nhưng bạn hãy nhớ số điện thoại cấp cứu trên toàn thế giới là 112, số này được tất cả các ĐTDĐ công nhận. Nếu chẳng may bạn đi lạc vào rừng, trượt chân trên núi tuyết, bị lạnh cóng ở Bắc Cực hay bất cứ một nơi nào đó, nếu không có ai cứu thì bạn sẽ chết. Hãy bình tĩnh bấm số 112 trên điện thoại di động của bạn.

– Khi bạn bấm số 112, ĐTDĐ của bạn sẽ tự động tìm bất cứ mạng khẩn cấp nào hoặc những số cấp cứu nào gần nhất và tự động nối mạng cho bạn với đường dây đó.

– Điều thú vị là con số cấp cứu 112 này có thể thao tác ngay cả khi bàn phím đang bị khóa mà bạn không biết mật mã để mở ra. Bạn cứ thử đi, nhưng ngay khi máy thông thì phải ngắt cuộc gọi kẻo lực lượng cấp cứu sẽ tìm đến bạn!

  3. MỞ CỬA XE HƠI:

Xe hơi của bạn có chìa khóa điện tử (tức là loại chìa khóa bấm để mở cửa hay khóa cửa xe) mà bạn sơ ý bỏ quên chìa khóa trong xe rồi xe tự động khóa cửa lại hoặc bạn làm mất chìa khóa xe. Bạn chớ vội lo.

– Nếu bạn có một chìa khóa điện tử phụ đang cất ở nhà thì bạn nên dùng ĐTDĐ của bạn gọi về nhà cho thân nhân của bạn để nhờ người nhà giúp bạn mở cửa xe theo các bước như sau:

+ Bước 1: Bạn để điện thoại di động của bạn gần sát cửa xe của bạn.

+ Bước 2: Bảo người nhà lấy chìa khóa điện tử của xe để sát vào điện thoại di động của họ và bấm nút mở xe.

+ Bước 3: Khi người nhà bấm nút mở cửa xe thì xe của bạn dù đang ở một thành phố nào đi nữa sẽ được mở cửa.

– Nếu chìa khóa xe bạn để quên trong xe thì bạn tiếp tục lái bình thường.

– Nhưng trong trường hợp bạn đã bị mất chìa khóa thì sau khi mở được cửa xe theo cách trên, bạn có thể rút dây điện nối ở phần start cho nổ máy xe và chạy tạm đến chỗ thợ làm chìa khóa để làm chìa khóa phụ!

  4. BẢO VỆ DỮ LIỆU:

Mỗi ĐTDĐ đều có “số căn cước” (serial number) hay còn gọi là ID của máy. Bạn cần làm ngay sau khi đọc bài này. Hãy bấm các phím *#06# (xin nhắc lại: hoa thị (*), dấu thăng (#), hai số 06 và kết thúc bằng dấu thăng (#)… lập tức màn hình điện thoại sẽ hiện lên một hàng số gồm 15 con số nối tiếp nhau.

– Đây là số căn cước của máy. Bạn phải ghi 15 số nầy vào cuốn sổ hay một miếng giấy bỏ riêng trong bóp của bạn để khi cần có thể lấy ra.

– Trong trường hợp bạn bị mất máy điện thoại, hãy gọi cho công ty đang cung cấp dịch vụ nối mạng.  Thông báo cho họ biết số căn cước của máy. Công ty sẽ khóa ngay điện thoại của bạn và kẻ nào lấy chiếc điện thoại đó cũng không thể sử dụng được. Nếu khi bạn tìm lại được điện thoại thì nhớ gọi cho công ty cung cấp dịch vụ để mở khóa và bạn tiếp tục sử dụng.

– Nếu bạn bị mất điện thoại di động và nghi có kẻ đang sử dụng máy của bạn, bạn chỉ cần mang số Serial Number gồm 15 con số này đến báo cho cảnh sát. Ở Mỹ và các nước tiên tiến khác thì cảnh sát và ngành An ninh Viễn thông sẽ dùng vệ tinh theo dõi số Serial Number để biết máy của bạn đang ở địa chỉ nào và cảnh sát sẽ đến đó lập biên bản tịch thu máy và người sử dụng máy của bạn sẽ bị mời về văn phòng cảnh sát để lấy lời khai và đưa ra tòa xét xử.

  5. TRUY XUẤT NGUỒN GỐC SẢN XUẤT:

Hãy đếm từ trái qua phải trên dãy số gồm 15 con số của Serial Number. Tại con số thứ 7 và thứ 8, bạn sẽ biết quốc tịch nơi sản xuất ra chiếc máy điện thoại của bạn đang sử dụng:

– Nếu số hàng 7 và 8 là số 02 hoặc 20 thì máy điện thoại của bạn được sản xuất tại Trung Quốc, điều này có nghĩa là chất lượng của nó khá tệ, không bảo đảm!

– Nếu hai số đó là số 08 hoặc 80 thì máy điện thoại của bạn được sản xuất tại Đức (Germany) nên chất lượng bảo đảm rất tốt.

– Nếu hai số này là 01 hoặc 10 thì máy điện thoại của bạn được sản xuất tại Phần Lan (Finland) theo tiêu chuẩn Âu Châu nên rất tốt.

– Nếu hai số kia là 13 thì đáng buồn cho bạn vì máy của bạn được sản xuất tại Azerbaijan với phẩm chất rất tệ ngang với… hàng mã để đốt cúng cô hồn! Nhiều người mua nhầm máy điện thoại có số 13 của Azerbaijan hay số 02 hoặc 20 của Trung Quốc nên khi sử dụng đã bị nổ, cháy khi sạc pin. Nên bấm số Serial Number của máy để biết xuất xứ sản xuất trước khi mua!

– Nếu hai số ở hàng thứ 7 và thứ 8 là hai số 00 tiếp nhau thì chắc chắn máy ĐT Di Động của bạn được sản xuất ngay chính quốc giả phát minh ra nó. Ví dụ: iPhone có số 00 là do Apple của Mỹ sản xuất; hoặc Galaxy có hai số 00 là do chính hãng Samsung của Nam Hàn sản xuất.

                                             ***

Trên đây là những lượm lặt nho nhỏ mà nhiều người sử dụng ĐTDĐ hầu như không bao giờ để ý đến. Bây giờ biết rồi nên cũng chưa muộn phải không các bạn!

(ST)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở 5 tuyệt chiêu trên smart phone của chúng ta

Thơ xướng họa cuối tuần

TUỔI HƯU
Đến tuổi về hưu sống cảnh nhàn
Nhìn đời ngán ngẫm ngục trần gian
Quên đi quá khứ đừng than thở
Nghĩ đến tương lai chẳng thở than
Dương thế trăm năm sinh thọ phúc
Thiên đường vạn kiếp tử bình an
Tu thân tích đức tâm thanh thản
Trút bỏ hơn, thua sống nhẹ nhàng.
Tuyến (Úc Châu)

Bài Họa: ĐƯỜNG VỀ CỰC LẠC

Mong sao cuộc sống mãi thanh nhàn
Quên hết chuyện đời ở thế gian
Gặp lúc bất bình xin chớ trách
Đến khi hoạn nạn cũng đừng than
Ta bà cõi tạm nhiều đau khổ
Tịnh độ vĩnh hằng lắm phúc an
Tích đức tu thân lòng nhẹ nhõm
Đường về Cực lạc chốn yên nhàng

Thiện Tâm Vinh Nguyên

Anh Vinh kinh mến, 
Đọc thơ xướng họa của các anh hay quá, Chinh xin nương vần mượn ý họa lại một bài cho vui nhé:

Bài Họa 2: SỔ THỜI GIAN

Cầu mong lớn tuổi sống an nhàn
Chẳng phải bận lòng chuyện thế gian 
Sáng uống cà phê không trách hận
Chiều nhâm rượu chát chẳng kêu than 
Ngâm nga khúc nhạc tâm thanh thản
Tụng niệm câu kinh trí tỉnh an
Cuốn sổ thời gian nay sắp cạn
Nên tu, giữ đức hạnh nhịp nhàng 

KQ.Chinh Luu  (09/24/2021)

 

 Bài họa 3: HỒI HƯU 

Đến tuổi hồi hưu cuộc sống nhàn
Đâu còn hối hả với thời gian
Mưa sa ngập lối không ngao ngán
Tuyết đổ đầy đường chẳng thở than
Hạnh phúc sum vầy  con cháu thảo
Nhủ lòng buông xả dạ tâm an
Tìm về tôn giáo kinh cầu nguyện
Ước lúc ra đi được nhẹ nhàng.

 Cóc QT-TP

Bài họa 4: NHỦ LÒNG

Gắng tạo cho ta cuộc sống nhàn
Quên đi tất cả chuyện trần gian
Quanh năm vật vã mòn hơi thở
Suốt tháng lo toan chẳng kịp than
Bỏ hết quay về nơi ổn định
Buông xuôi trở lại chốn bình an
Tâm lành trí sáng làm thong thả
Bụng tốt lời hay nói nhẹ nhàng./

TQN.

Bài Họa 5: NHÂN QUẢ

Phước phận trời cho mới được nhàn
An vui tự tại mặc thời gian
Tu thân tích đức tâm hành thiện
Nghiệp quả đời sau sẽ được nhàn
Nhân quả thế gian trời đã định
Lo gì số kiếp chẳng bình an
Nên lo tu tập tâm bình thản
 Buông xả sân si sẽ được nhàn. 

Việt Tâm LPMINH 

 Houston, 27/9/2021

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thơ xướng họa cuối tuần

Câu chuyện về Lão Tử và Khổng tử

119193553_1571144199758891_6593143962779345014_n

Hơn hai ngàn năm trước có cuộc gặp kỳ lạ giữa Khổng và Lão.

Khổng ngồi kiệu đi trên đại lộ. Ngài vừa phe phẩy chiếc quạt, vừa lim dim đôi mắt. Bọn người khênh kiệu còng lưng đi thật đều để giữ thăng bằng cho thầy an tọa. Bỗng phía trước có kẻ cỡi trâu cắt ngang qua. Khổng mở mắt nhìn và quát:

119458293_1571144209758890_181289727586566774_n

– Tên trẻ trâu kia vô lễ, đường lớn không đi lại cắt ngang mặt người ta?

Con trâu dừng lại ngoái cổ nhìn. Tên trẻ trâu cười nói:

– Ngươi biết ta đã bao nhiêu tuổi rồi không mà cao giọng bảo ta trẻ trâu vô lễ? Chẳng qua ngươi đi trên con đường người ta đã dọn sẵn. Sự thực không có đường nào là lớn cả. Nơi không có đường mới thực sự là lớn!

Khổng mở to mắt nhìn. Bây giờ mới thấy người kia dù mặt mũi trẻ con nhưng râu tóc bạc phơ, chừng như đã sống mấy trăm năm, bèn ra lệnh cho phu hạ kiệu và bước xuống vòng tay thi lễ:

– Tại hạ có mắt như mù. Chẳng hay lão trượng chính là Lão Tử, người nước Sở?

Lão vẫn ngồi vắt vẻo trên lưng trâu nheo mắt cười:

– Đích thị là mỗ, bốn phương là nhà, không cần biết sinh ra ở đâu! Thái độ trịch thượng như ngươi ta đoán không nhầm là người họ Khổng nước Lỗ? Chào Khổng Phu Tử!

Khổng lại vái chào lần nữa:

– Tại hạ là Khổng Khâu đây, Đạo của tại hạ vốn khiêm cung, lão trượng đã quá lời…

Lão nhìn bọn phu kiệu lưng ướt đẫm mồ hôi rồi nhìn Khổng khăn áo lượt là mà cười, con trâu cũng cười theo. Lão nói:

– Đạo của ngươi là gì?

Khổng trịnh trọng:

– Tóm gọn trong mấy chữ Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín.

Lão cười vang:

– Có đến năm thứ, thứ nào cũng khó, cũng cao, sao gọi là khiêm cung? Những người dân chân lấm tay bùn làm sao học được cái Đạo ấy?

Khổng thanh minh:

– Đạo của tại hạ chỉ dành cho người quân tử, không dành cho kẻ tiểu nhân. Với người dân chân lấm tay bùn chỉ cần Lễ là đủ. Nhất nhật khắc kỉ phục lễ, thiên hạ quy nhân yên!

Lão hỏi:

– Tự nhiên sinh ra vốn bình đẳng, làm gì có phân biệt quân tử hay tiểu nhân? Lễ là phép tắc, trật tự, ngày nào cũng bắt dân phục lễ khác nào ngươi bắt dân phải đeo gông đi trên con đường hẹp. Còn Nhân, Nghĩa, Trí, Tín ngươi dành cho quan quyền khác nào mở đường cho chúng tự do nói dối, giả nhân giả nghĩa, lưu manh, lừa lọc? Vậy còn phụ nữ thì sao?

Khổng lúng túng không trả lời hết các câu hỏi, chỉ trả lời câu cuối cùng như cái máy:

– Phận nữ nhi thường tình!

Lão lại cười ha ha:

– Vậy mẹ của ngươi cũng là tiểu nhân? Vậy thì Lễ của ngươi nói kính cha thờ mẹ để làm gì? Bây giờ thì ngươi đi đâu?

Khổng tự hào thưa:

– Đi chu du thiên hạ để truyền Đạo. Nhà Chu suy, chư hầu nổi loạn, rất cần đạo trị – bình để thu thiên hạ về một mối, yên ổn vì đại cục…

Lão cắt lời:

– Nguy tai! Nguy tai! Nhà Chu suy đồi mà ngươi lại dùng phép tắc nhà Chu làm mẫu mực để gọi là Lễ? Nói thật, Đạo của ngươi cũng chỉ là con đường cụt. Lễ mà ngươi dạy đời ấy chỉ tạo thêm ra loại người đối với bề trên thì nịnh nọt uốn gối khom lưng, đối với kẻ dưới thì trịch thượng khinh người. Đạo trị – bình của ngươi chỉ có thể giữ thế ổn định tạm thời để bọn quan quyền tham nhũng. Dân vì hèn, vì sợ mà tạm bình, chứ quan đang nắm quyền thống trị thì sẽ tranh chấp hỗn loạn, cắn nhau như chó tranh cứt. Sao không để chư hầu nổi loạn mà làm lại từ đầu? Cái cây già mục ruỗng đã sắp chết thì dọn đi để trống đất cho cây con mọc lên, khư khư giữ lấy làm gì?

Nghe đến đấy, Khổng không khỏi nổi giận, mặt đỏ phừng phừng:

– Lão trượng không nên xúc phạm Thiên tử và kích động làm loạn. Tội phản nghịch đáng bị tru di ba họ. Nhưng thôi, coi như tại hạ chưa nghe gì. Vậy mạo muội hỏi, Đạo của lão trượng là gì?

Lão Tử vẫn khoan thai, tay đưa lên vuốt chòm râu trắng:

– Ta chỉ có một cái đầu trong muôn vạn cái đầu của thiên hạ. Ba họ nhà ta là ai ta còn chưa biết thì sợ gì họa tru di. Ngươi hỏi Đạo của ta ư? Đạo của ta là vô đạo, đường của ta đi là không có con đường. Đó mới là Đại Đạo.

Khổng ngơ ngác không hiểu gì. Nhìn vẻ mặt ngơ ngác ấy, Lão lại ngửa mặt cười vang, đưa ngón tay vẽ một vòng thái cực vào không khí và nói:

– Ngươi cứ nhìn vào trời đất mà hiểu Đạo của ta. Kìa, có trời thì có đất, có núi thì có sông, có cao thì có thấp, có dài thì có ngắn, có cương thì có nhu, có rỗng thì có đặc, có sáng thì có tối, có thẳng thì có cong… Mọi thứ đang dịch chuyển trong sự biến hóa vô cùng. Tự nhiên tự do nhưng có trật tự và cái lý của nó. Cao thì xa, thấp thì gần, dài thì yếu, ngắn thì mạnh, cương thì gãy, nhu thì dẻo, rỗng thì âm to, đặc thì câm… Mọi thứ trong trời đất gắn kết được nhờ khác biệt, không có chuyện giống nhau mà hợp lại được với nhau. Đạo của ngươi áp đặt mọi thứ theo trật tự như ngươi muốn và bắt buộc mọi thứ giống như nhau mà được à?

Bây giờ thì Khổng nghe như nuốt từng lời. Khổng hỏi:

– Đạo của lão trượng từ đâu ra vậy?

Lão nói:

– Từ trời đất, từ nhân gian mà ra. Ta học được từ đám dân đen mà Đạo của ngươi gọi là bọn tiểu nhân đáng khinh bỉ đấy!

Lão lại nhìn Khổng đang trố mắt mà tiếp:

– Ta nghe ngươi đi đến đâu, các vua chư hầu đuổi đến đó như đuổi tà. Có người bảo ngươi chỉ là kẻ cơ hội. Nhưng ngươi yên tâm, vài trăm năm sau Đạo của ngươi sẽ được trọng dụng vì nó sẽ là vũ khí bịp bợm tốt nhất. Người ta sẽ leo lẻo nói điều Nhân, điều Nghĩa, người ta luận về điều Trí, điều Tín, nhưng nói một đằng làm một nẻo. Và hiển nhiên, người ta sẽ tôn ngươi là Thánh để mê hoặc lòng người!

Đến đây, Khổng cúi sát người xuống chân Lão mà lạy ba lạy:

– Tại hạ lĩnh giáo và xin bổ sung vào Đạo của mình. Đời vẫn có quân tử và tiểu nhân, nhưng Đạo lớn nhất vẫn là lấy dân làm gốc ạ!

Lão lại bật cười đến văng nước bọt:

– Câu đó sẽ là câu mị dân lớn nhất! Dân nghe vậy sẽ vui vẻ làm trâu cày cho sự nghiệp của các quan chứ gì?

Nói đoạn, Lão vỗ mông trâu bỏ đi, không một lời chào. Con trâu họ lên một tiếng và ỉa một bãi to tướng trước mặt Khổng rồi đưa Lão băng qua cánh đồng. Khổng nhìn theo không chớp mắt. Kỳ lạ là con trâu đi đến đâu cỏ cây dạt ra đến đấy. Lão Tử nhẹ nhàng như bay giữa không gian vô tận rồi mất hút ở chân trời. Khổng lầm bầm, rằng Lão thật sự tự do, con đường của Lão thật sự là con đường lớn, không như ta cả đời tự đeo gông vào cổ và đi vào ngõ cụt mà không biết…

Tối hôm đó về nhà trọ, Khổng trằn trọc suốt ba canh rồi thiếp đi. Trong giấc mơ, Khổng thấy mình sống lừng lững đến 2000 năm, bao nhiêu người đến sụp lạy tôn Khổng thành Thánh. Khổng cứ ngồi bất động mà làm Thánh. Không biết là mộng ác hay mộng lành. Chỉ biết rằng khi tỉnh dậy, Khổng thấy cứt đầy quần. Bèn thay quần áo và gói ghém mọi thứ ô uế vào chiếc tay nải bằng nhung rồi một mình lặng lẽ bước đi trong đêm tối. Khổng ném tất cả xuống cầu và đứng nhìn dòng sông đen ngòm đang chảy xiết…

Sử sách chỉ viết có cuộc gặp gỡ Khổng – Lão mà tuyệt nhiên không kể lại đầu đuôi chuyện này.

st

#NCCTV

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Câu chuyện về Lão Tử và Khổng tử

“Chỉ là Cơn Mơ” sáng tác của LHN – Lời bình NCM

NÓI VỀ BÀI HÁT “CHỈ LÀ CƠN MƠ”

Đây là một bài hát hay, hay trọn vẹn mọi mặt từ nhạc đến lời, từ hòa âm đến giọng hát rất có hồn của Quốc Duy.

Khoảng mười năm trước, khi bài hát “Ta Có Còn Yêu” của Lê Hữu Nghĩa vừa mới viết xong gửi tôi xem, tôi có nhận xét :”đây là một bản nhạc hay, ngang tầm thời đại. Ý tôi muốn nói là ngang tầm tất cả những bài hát nổi tiếng đương thời. Tôi tự ý gửi bài hát ấy cho Trung Tâm Thúy Nga không cho Nghĩa biết. Nhưng TTTN không xử dụng. Khoảng thời gian ấy, TTTN có dưng một màn trình diễn một bài hát của Đức Huy có nội dung tương tự như Ta Có Còn Yêu, bài hát rất dở chỉ có vũ công là hay.

Tôi đã coi nhiều chương trình dành riêng cho một nhạc sĩ nào đó và được nghe ( hay bắt buộc phải nghe) nhiều bài hát rất tầm thường vô cảm. Họ nổi tiếng nhưng không phải bài nào của họ cũng hay.

Lê Hữu Nghĩa không nổi tiếng nhưng thỉnh thoảng sáng tác một bài rất hay.

Ngang tầm thời đại là như thế.

Mười năm qua Lê Hữu Nghĩa đã có nhiều bài hát thu âm đưa lên mạng, nói chung không dở. Nhưng nổi trội, vượt lên tất cả thì hôm nay mới có bài này. Từ Ta Có Còn Yêu đến nay mới có Chỉ Là Cơn Mơ.

Lời ca được viết bởi CGQ là một nhà thơ. Lời ca rất đẹp tự nó là một bài thơ. Một bài thơ tình. Thơ tình nhưng không có xót xa và nước mắt và vân vân.Vì đây là tình thơ. Vì “tình thơ chỉ là cơn mơ” nên bài hát ru người vào cõi mơ mơ thật thật, lãng đãng một mối tình nào có có không không.

NCM

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở “Chỉ là Cơn Mơ” sáng tác của LHN – Lời bình NCM

Mùa Thu Nhớ Huế _ Thơ TPK

Slide1Slide2

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Mùa Thu Nhớ Huế _ Thơ TPK

NHỤC tác giả Thái Bá Tân (LHN sưu tầm)

NHỤC

maxresdefault (1)
Hay tin, ông bỏ cả việc đang làm giở ở Sài Gòn, vội vàng bay ra Hà Nội.
Vừa đặt va-li xuống nền nhà, ông cao giọng hỏi vợ:
“Làm sao mà người ta trả lễ?”
“Vì con ông làm công an.”
“Công an thì sao mà trả lễ?”
“Ông đi mà hỏi người ta ấy.”
“Nhưng trước đồng ý, người ta đã biết nó là công an rồi cơ mà?”
“Tôi biết đâu đấy. Sao ông cáu với tôi?”
“Nhục!”
                                          oOo

Con trai ông và con gái gia đình ông giáo phố bên học cùng nhau từ bé rồi yêu nhau và định lấy nhau. Cả hai đều ngoan, lại môn đăng hộ đối, tưởng chẳng còn gì nữa phải bàn. Thế mà khi nghe tin con ông vào Học viện công an, gia đình ông giáo có ý ngãng ra. May hai đứa yêu nhau thực sự nên cuối cùng cũng xuôi xuôi, và tuần trước họ đã đồng ý cho làm lễ dạm hỏi. Thế mà bây giờ… Trả thì trả, thành phố này thiếu gì con gái! ông nghĩ. Đành là thế, nhưng ông thấy bị sĩ nhục. Một gia đình như ông, với một thằng con hiền lành, tử tế như con ông mà bị trả lễ thì thật nhục. Hàng xóm sẽ khối anh được dịp đơm đặt.
Tối đến, ông gọi riêng con trai ra một chỗ, hỏi chuyện.
“Lý bảo bố mẹ cô ấy lần này làm căng, dứt khoát không chịu.” Anh con nói.
“Vì sao?”
Anh ta im một lúc mới đáp:
“Vì có ai đó nhìn thấy con hôm công an dẹp vụ cưỡng chế đất ở Cống Bầu.”
“Con ở đấy thật à?”
“Vâng.”
“Tưởng con lính văn phòng không phải làm những việc đó…”
“Bây giờ cần là người ta điều hết.”
“Thế con làm gì ở đấy?”
Anh con ngước mắt nhìn bố, vẻ ngạc nhiên:
“Làm những việc công an phải làm với bọn phản động. Bọn bị các thế lực thù địch kích động làm loạn…”
Đến lượt ông bố dướn mắt ngạc nhiên:
“Con có đánh người ta không? Thậm chí nổ súng?”
“Con thì không, vì chưa cần.”
“Còn nếu cần?”
Anh con không trả lời.
“Hôm dẹp mấy vụ biểu tình chống Tàu con có tham gia không?
“Có.”
“Có đánh ai không?”
“Không. Chỉ xô đẩy. Mà bố hỏi kỹ thế làm gì nhỉ? Đấy là việc của con. Nhiệm vụ của chúng con là bảo vệ đảng, bảo vệ đất nước, bảo vệ nhân dân.” Anh con thậm chí cao giọng, là việc xưa nay ông chưa từng thấy, vì nó vốn là đứa hiền và ngoan nhất nhà.
Rồi anh ta nói thêm:
“Trước bố đi bộ đội, cũng để bảo vệ đảng, bảo vệ đất nước và nhân dân như con bây giờ thôi. Việc bố xưa bố làm. Việc con nay con làm. Thế cả.”
Ông thấy vương vướng trong cuống họng.
“Không, khác hẳn. Xưa bố đánh giặc, đánh Mỹ. Nay chúng mày đánh nhân dân. Xưa nhà nước lấy đất người giàu chia cho người nghèo. Giờ thì ngược lại.”
Ông định nói thế. Thậm chí định tát và mặt thằng con của mình, nhưng nghĩ thế nào, ông im lặng bỏ vào phòng mình.

                                                 oOo

Ông nằm ngửa, mắt nhìn trân trân lên trần nhà.
Vậy là con ông đã thay đổi. Trong nhà với bố mẹ có thể nó vẫn như xưa, nhưng ra ngoài thì đã khác. Mà chỉ sau mấy năm học ở trường cảnh sát. Người ta đã dạy cho nó những gì nhỉ? Chắc các ông thầy ở đấy phải giỏi lắm mới thuyết phục được nó tin mấy ông bà nông dân chân đất mắt toét và mấy vị trí thức già yêu nước là phản động để xô đẩy và đánh họ. Hay đạp vào mặt họ. Hay thậm chí có thể bắn họ. Lúc nãy nó chẳng bảo “chưa cần” đấy thôi.
Láo! Nhục!
Hôm sau, ông nhẹ nhàng bảo vợ:
“Thôi, bà ạ. Người ta đã muốn thế thì mình cũng im đi cho xong. Chắc họ phải có lý do của họ. Nhục cũng phải chịu chứ biết làm thế nào.”
Bà vợ ông chỉ hiểu chữ “nhục’ theo nghĩa bẽ bàng với hàng xóm chứ không biết ông hàm ý cái nhục khác còn lớn hơn.

Thái Bá Tân ( Lê Hữu Nghĩa sưu tầm)

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở NHỤC tác giả Thái Bá Tân (LHN sưu tầm)