Một vị cứu tinh của nhân loại: Kary Banks Mullis

Một vị cứu tinh của nhân loại 

Suốt 26 năm vừa qua, hàng nghìn người vô tội bị kết án tử hình khắp 13 bang nước Mỹ đã được giải oan và trả tự do, tất cả nhờ vào một người có tên Kary Banks Mullis

images (1)

Không phải luật sư hay nhà hoạt động xã hội, Mullis là cha đẻ của chuỗi phản ứng PCR – tiền đề tạo nên phương pháp xác định DNA trong khoa học hình sự và mở đường cho nhân loại sống sót trước những căn bệnh virus nguy hiểm nhất.

Nhà khoa học dị thường

Tờ New York Times gọi Kary Mullis là nhà khoa học quái gở nhất từng nhận giải Nobel. Trong mắt đồng nghiệp, ông chẳng khác nào một kẻ gàn tự cao tự đại. Còn theo lời của 4 bà vợ trong đời Mullis, ông là gã đàn ông tồi.

Kary Mullis bắt đầu con đường khoa học từ năm 13 tuổi, tự mình thiết kế và vận hành một quả tên lửa cỡ nhỏ lấy cảm hứng từ vệ tinh Sputnik của Liên Xô. Với niềm đam mê hoá học và trí thông minh kiệt xuất, ông nhanh chóng lấy bằng thạc sĩ ngành sinh hoá của Trường Đại học California và hứa hẹn sẽ trở thành một hiện tượng trong giới khoa học.

Thế nhưng ông quyết định bỏ ngang việc nghiên cứu để… làm nhà văn và tập tành kinh doanh cửa hàng bánh. Thoát khỏi sự nghiêm túc của phòng thí nghiệm, Kary Mullis bắt đầu chìm đắm trong rượu, chất kích thích và đàn bà, với vẻ ngoài phóng khoáng đến mức cẩu thả – trông chẳng giống một người làm khoa học.

1a5e7118-f26c-4188-a0da-3963823b7ad3

Quyết định trở lại con đường khoa học sau lời năn nỉ của người bạn thân, Kary Mullis vẫn không được lòng đồng nghiệp vì tính cách có phần đồng bóng và thói nghiện rượu khiến ông từng động tay động chân với một người trợ lý trong trung tâm vi sinh ông làm việc.

Thái độ cợt nhả ấy còn theo chân ông lên tận bục trao giải khoa học ở Nhật Bản, nơi ông cả gan buông lời tán tỉnh hoàng hậu của đất nước mặt trời mọc. Hay như chuyện ông suýt bị bắt ở Stockholm ngay trước đêm nhận giải Nobel vì hành vi quấy rối người qua đường cũng khiến người ta không thể cắt nghĩa.

Cuộc sống phóng túng của ông đến từ một quan niệm kỳ lạ, rằng “không phải cứ chăm chỉ là làm khoa học tốt đâu, bạn phải là một người ham vui”. Chính vì không bị áp lực bởi danh vọng, hình tượng bản thân hay tiền tài, Kary Mullis thoải mái rong chơi trong khu vườn khoa học – nơi ông như biến thành con người khác, đầy đam mê và trách nhiệm.

Phút ơ-rê-ka của thiên tài

Năm 1983, Kary Mullis, khi ấy là giám đốc phòng thí nghiệm của Công ty hoá sinh Cetus, đang nghiên cứu một phương cách giải quyết những khó khăn trong việc phân tách nghiên cứu DNA của con người nhưng mọi thứ dường như đi vào ngõ cụt.

Vào một tối thứ sáu nọ, Kary Mullis lái xe hơi chở bạn gái vượt hơn trăm dặm trong sự tĩnh mịch hun hút của màn đêm. Giữa miên man suy nghĩ và tiếng ngáy đều đều của người tình, tâm trí ông bỗng bất động với một tia sáng loé lên trong 1/1000 giây. Chiếc xe thắng gấp và tiếng Mullis reo to trong bóng tối, đúng như cái cách Archimedes đã từng làm: Ereuka! Ereuka! Eureka! Tại sao mình không nghĩ ra chứ?

Sẵn giấy bút trong hộp xe, Mullis nhanh chóng phác thảo ra ý tưởng về phản ứng chuỗi polymerase (sau đây gọi là phản ứng chuỗi PCR) giúp khuyếch đại một đoạn DNA bất kỳ và dành trọn đêm hôm đó để vui sướng vì ông biết chắc mình sẽ giành giải Nobel!

Những người đồng nghiệp của Mullis đón nhận ý tưởng của ông với sự thờ ơ vì không ai tin vào điều không tưởng mà ông vẽ ra trước mắt. Nhưng thật may mắn cho nhân loại, Mulllis đủ nhiệt huyết và tài năng để hiện thực hoá phản ứng chuỗi PCR – một trong những phát minh vĩ đại nhất của lịc sử loài người.

Vậy phản ứng PCR là gì mà ghê gớm đến thế?

Nói nôm na, PCR cho phép khuyếch đại một đoạn DNA dù là nhỏ nhất thành một chuỗi DNA có thể dài đến vô tận. Phát minh này giúp cho việc giải mã DNA trở nên dễ dàng và nhanh chóng, quá trình xác định tác nhân virus gây các bệnh như viêm gan siêu vi, SARS, N5N1 hay chẩn đoán ung thư được rút ngắn từ vài tuần xuống còn vài ngày hoặc thậm chí, chỉ vài giờ mà không cần thông qua các vi khuẩn khác.

Thời gian được rút ngắn khiến việc lên phác đồ điều trị và nghiên cứu về bệnh hiệu quả hơn, qua đó giúp cứu sống hàng triệu bệnh nhân. Hứa hẹn hơn, phát minh của Mullis tạo điều kiện cho việc tạo lập bản đồ gen người có những bước tiến sâu sắc, đưa nhân loại đến gần hơn tham vọng điều trị tất cả bệnh lý của con người.

Chưa dừng lại ở đó, phản ứng PCR còn cho phép khoa học hình sự khiến những kẻ thủ ác phải đền tội, trả lại công lý cho người bị oan sai. Chỉ cần một chút da hay sợi tóc của hung thủ để lại hiện trường là đủ để lực lượng chức năng xác định đúng đối tượng.

Gary Dotson (tù nhân người Mỹ) là người đầu tiên trên thế giới được trả tự do nhờ vào xét nghiệm DNA. Năm 1979, Dotson bị tuyên án 50 năm tù với cáo buộc cưỡng hiếp và bắt cóc dựa trên chứng cứ không rõ ràng. Mãi đến năm 1988, chứng cứ DNA chỉ ra rằng Dotson vô tội.

5 năm sau đó, cựu binh Kirk N. Bloodsworth thoát án tử hình nhờ vào giám định DNA, cũng là trường hợp đầu tiên. Sự xuất hiện của công nghệ DNA trong khoa học hình sự đã đưa ra ánh sáng hàng trăm nghìn vụ án bí ẩn – điều mà Kary Mullis chẳng thể ngờ đến trong cái đêm lái xe định mệnh ấy.

Phản ứng PCR còn được ứng dụng trong việc xác định huyết thống cũng như danh tính của nạn nhân trong các vụ tai nạn hoặc thảm hoạ thiên nhiên. Phát minh của Mullis là nguồn cảm hứng cho loạt phim Công viên kỷ Jura – tác phẩm hư cấu tin rằng có thể dùng phản ứng PCR để phóng đại đoạn DNA cổ đại của những con khủng long!

Tuy thế, Kary Mullis lại chẳng thể làm giàu nhờ phát minh để đời của mình. Công ty nơi Mullis làm việc trả cho ông 10 nghìn USD phần thưởng để rồi bán bản quyền phản ứng chuỗi PCR cho một tập đoàn khác với giá 300 triệu USD.

Chán nản, Mulllis trở về viết sách và đi thuyết giảng khắp nơi để kiếm sống, cho đến khi một tin dữ khiến ông thức tỉnh lần nữa: Người bạn của ông qua đời vì lờn thuốc kháng sinh.

Con đường để lại

Cái chết của người bạn thôi thúc Mullis nghiên cứu và phát hiện ra cách thức chống bệnh nhiễm trùng ở người. Ông tìm thấy một loại chất có trong van tim lợn, thứ có thể ngay lập tức đánh thức hệ miễn dịch của chúng ta. Bất kể khi nào phân tử chất này xuất hiện trong cơ thể con người, hệ miễn dịch sẽ tự động phản ứng với chúng.

Ý tưởng của Mullis là ông sẽ cố gắng đính kèm phân tử này vào các vi khuẩn gây bệnh cho người để làm mồi nhử giúp hệ miễn dịch kích hoạt ngay mà không cần đợi đến vài ngày. 14 con chuột bị nhiễm bệnh than đã sống sót 100% nhờ phương pháp này của Mullis vì hệ miễn dịch của chúng đã hoạt động ngay trước khi bệnh than kịp giết chúng.

So với phản ứng chuỗi PCR, ý tưởng táo bạo này cũng có giá trị đột phá không kém và rất có thể, nó sẽ là cách giải quyết triệt để tình trạng lờn thuốc kháng sinh đang ở mức báo động hiện nay.

Bên cạnh những phát minh để đời, Mullis còn biết đến với phát ngôn mạnh mẽ nhắm thẳng vào giới khoa học. “Các nhà khoa học đang phá hoại thế giới này nhiều hơn là xây dựng nó như họ vẫn nhân danh”, là câu nói rất đáng suy ngẫm của ông.

Có thể ông đã cay đắng trải qua những góc khuất của khoa học. Hoặc có thể, đó là lời răn với chính ông và các đồng nghiệp, rằng đừng nhân danh khoa học để đạt được những mục đích vị kỷ mà quên đi trách nhiệm lớn lao nhất: Cải biến thế giới thành một nơi tốt đẹp hơn.

Ngày 7-8-2019, Kary Mullis qua đời sau một cơn bạo bệnh ở tuổi 74. Nhân loại mất đi một nhà khoa học kiệt xuất, giới chuyên môn tiễn biệt một trong những cá tính dị thường nhất.

Nhưng những gì tuyệt vời nhất của Mullis vẫn ở lại trong những phòng thí nghiệm và hàng trăm nghìn ứng dụng từ phát minh của mình. Tên ông đã, đang và sẽ có một chỗ đứng đặc biệt trong lịch sử khoa học thế giới.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bình luận về bài viết này

PARIS CÓ GÌ LẠ KHÔNG EM? _Vũ Đình Trọn

Paris có gì lạ không Em?

Vũ Đình Trọn

(Viết về bà NGUYÊN SA TRỊNH THÚY NGA)

This image has an empty alt attribute; its file name is eiffel-tower.jpg(Bài do K1 Đinh Văn Tuyên chuyển)

Mười chín năm qua, từ ngày nhà thơ Nguyên Sa qua đời (18 Tháng Tư 1998), những đóa cúc vàng trên mộ ông trong nghĩa trang ở thành phố Westminster vẫn vàng rực, nhờ sự chăm sóc ân cần từ người vợ thủy chung.

Vợ nhà thơ Nguyên Sa, bà Trịnh Thúy Nga, người đi vào cõi thơ Nguyên Sa với những câu mở đầu “tếu táo”: “Hôm nay Nga buồn như một con chó ốm/Như con mèo ngái ngủ trên tay anh /Ðôi mắt cá ươn như sắp sửa se mình /Ðể anh giận sao chả là nước biển!…”

Trên đời, chắc chỉ có mình ông, nhà thơ Nguyên Sa, viết thư thông báo đám cưới của mình bằng thơ. Cũng chẳng có ai đặt tựa cho bài thơ báo hỷ “cộc lốc” như ông – chỉ vỏn vẹn một chữ “Nga,” tên người con gái ông lấy làm vợ.

Thế mà người ta nhớ! Có ai mà không nhớ thơ tình Nguyên Sa!

Và bà Nguyên Sa-Trịnh Thúy Nga, luôn nhớ một câu chuyện chẳng thể nào cũ.

“Năm 1952, sau khi hồi cư về Hà Nội, tôi được gia đình cho sang Pháp du học cùng với người anh họ. Ông Lan (tên nhà thơ Nguyên Sa: Trần Bích Lan) qua trước hai năm. Ông thân sinh của ông ấy buôn bán lớn, sợ Việt Cộng làm phiền nên cho ba người con lớn sang Pháp du học. Tôi quen em gái ông ấy ở Paris, tình cờ đến nhà chơi nên quen ông.”

Tháng Giêng Mai Thảo đã qua

Tháng Tư chợt nhớ Nguyên Sa, lại buồn.

(Thơ Ngọc Hoài Phương)

Quen nhau tháng Mười Hai năm 1952, đến mùa Hè năm 1953, ông làm bài thơ tỏ tình tặng bà. Cho đến giờ, chưa ai biết nội dung bài thơ đó như thế nào, vì bà muốn giữ kín, cho riêng bà. Chỉ biết rằng, trái tim của cô nữ sinh tên Nga từ đó có một hình bóng, mà cô luôn trân trọng nhớ về, từ mùa Hè năm đó.

Bà hồi tưởng lại: “Hồi đó tôi còn trẻ, cũng chẳng suy nghĩ gì cả, chỉ lo học thi đậu xong rồi về. Phải lo học xong cho sớm chứ đời sống bên Pháp đắt đỏ lắm. Cũng trong năm 1953, cụ thân sinh ông Lan mất ở Hà Nội, ông ấy phải ngưng học, về nước để giúp đỡ gia đình. Lúc đó chúng tôi yêu nhau rồi, ông ấy cũng muốn dỗ dành tôi về Việt Nam chung, nhưng tôi còn ham học cao lên. Tuổi trẻ mà, ai cũng có giấc mơ lớn, và tôi cũng muốn thực hiện ước mơ của mình”.

Cuộc chia tay này là nguyên nhân bài thơ “Paris có gì lạ không em?” ra đời trong nỗi nhớ khắc khoải của ông.

“Paris có gì lạ không em?

Mai anh về em có còn ngoan

Mùa xuân hoa lá vương đầy ngõ

Em có tìm anh trong cánh chim

Paris có gì lạ không em?

Mai anh về mắt vẫn lánh đen

Vẫn hỏi lòng mình là hương cốm

Chả biết tay ai làm lá sen?…”

Câu hỏi cuối ông gởi lại bà trong sự chờ đợi, thay cho câu hỏi “Em có bằng lòng làm vợ anh không?”. Để rồi hai năm sau gặp lại nhau ở Paris, khi bà khẽ gật đầu ưng thuận “làm lá sen” suốt đời cho ông, thì ông mới viết bài thơ đính hôn thay cho thiệp báo hỷ gởi cho gia đình, bằng hữu, trong niềm vui sướng tột độ.

“Chúng mình lấy nhau

Cần gì phải ai hỏi…

Cả anh cũng không cần phải hỏi anh

‘Có bằng lòng lấy em?…’

Vì anh đã trả lời anh

Cũng như em trả lời em

Và cũng nghẹn ngào nước mắt!…”

(Nga – Nguyên Sa)

Bà Nga nhớ lại: “Sinh viên tụi tôi ở lại Pháp sau Hiệp định Genève chia đôi đất nước, gia đình lo tản cư vào Nam nên đâu có gởi tiền qua được. Chúng tôi ra Tòa Đốc lý Paris ký giấy hôn thú, bạn bè theo đông lắm. Xong kéo nhau ra quán cà phê đối diện uống cà phê, ăn bánh. Bạn bè chung tiền trả tiền cho cô dâu, chú rể. Thế thôi”.

Đám cưới sinh viên Việt Nam nghèo ở kinh đô ánh sáng diễn ra như thế. Chú rể chẳng mặc lễ phục, cô dâu không có áo cưới, mà ngay cả nhẫn cưới họ cũng chẳng mua được. Nhưng có sao đâu, vì ông trao cho bà những thứ quý hơn nhẫn cưới.

 “Người ta làm thế nào cấm được chúng mình yêu nhau

Nếu anh không có tiền mua nhẫn đeo tay

Anh sẽ hôn đền em

Và anh bảo em soi gương

Nhìn vết môi anh trên má

Môi anh tròn lắm cơ

Tròn hơn cả chữ O

Tròn hơn cả chiếc nhẫn

Tròn hơn cả hai chiếc

nhẫn đeo tay!…”

(Nga – Nguyên Sa)

***

Mười chín năm ông ra đi, chữ O tròn trên má vẫn chẳng phai nhòa, vì với bà, ông chẳng bao giờ đi xa cả, mà chỉ chuyển chỗ từ ngôi nhà ở thành phố Irvine đến nơi đầy nắng và gió ở thành phố Westminster. “Đối với tôi thì lúc nào ông cũng quanh quẩn đâu đây, trong cái nhà này. Tôi ở trong nhà, hay đi bất cứ con đường nào, đều thấy hình bóng ông ở bên cạnh tôi hết” – bà Nga nói.

Nhà thơ Ngọc Hoài Phương cho biết, lúc sinh thời Nguyên Sa rất thích hoa cúc vàng – như câu thơ trong bài “Áo lụa Hà Đông” của ông: “Áo nàng vàng, anh về yêu hoa cúc” nên bà Nga chỉ mang hoa cúc ra mộ ông thôi. “Nếu để ý sẽ thấy, hoa cúc vàng trên mộ nhà thơ Nguyên Sa không bao giờ tàn hay héo cả vì được bà Nga chăm sóc rất kỹ. Hoa sắp héo sẽ được bà thay bằng hoa mới” – nhà thơ Ngọc Hoài Phương cho biết.

Hôm gặp bà ở mộ ông, bà cho hay: “Ông ấy không bao giờ nghĩ đến cái chết, hay mình được chôn cất ở đâu cả. Khi ông ấy mất, tôi ra đây xem rồi chọn cho ông chỗ này. Nó gần hồ nước, lại dưới một bóng cây. Lúc trước trông vắng vẻ, giờ trông ấm cúng vì chung quanh ông có rất nhiều bạn bè”.

“Hồi nhà tôi mới mất, ngày nào tôi cũng ra đây, sửa bông, cắt cỏ. Giờ thì lớn tuổi rồi, thì một tuần tôi ra thăm ông ấy 2 lần. Nhiều khi bực mình với ông ấy cũng ra đây nói cho ông ấy biết.

Hồi ông Lan còn sống, tôi rất ít tiếp xúc với bạn ông ấy lắm, nhưng từ hồi ông ra đây, tôi được gặp nhiều người thăm ông, an ủi nâng đỡ tôi. Tôi nhớ ông Đỗ Ngọc Yến (nhà báo, sáng lập nhật báo Người Việt), hồi đó, cứ có ai từ xa đến Little Saigon, muốn gặp tôi thì ông ấy cứ nói cứ ra thăm mộ Nguyên Sa thì gặp bà Nga. Cho nên ở đây tôi được gặp nhiều người lắm, kể cả bạn cũ ở Việt Nam sang chơi. Cuối năm còn có người hẹn tôi ra đây cho cá kho, dưa chua nữa”.

Điều trùng hợp là sự lựa chọn nơi yên nghỉ cho ông, lại chính là nơi ông từng mơ ước được về qua câu thơ của ông, được bà khắc trên mộ.

“Nằm chơi ở góc rừng này

Chưa thiên thu cũng đã đầy cỏ hoang

Xin em một sợi tóc vàng

Làm hoa khởi sự cho ngàn kiếp sau

Biết đâu thảo mộc bớt đau

Biết đâu có bản kinh cầu dâng lên?”.

Và trong bài “Tân Ước” trong tập thơ cuối cùng, hình như lời “năn nỉ” của ông cũng được bà chiều theo.

“…Anh vẫn nhận ra em, em khác biệt mà vẫn đồng nhất, giấc mơ gián đoạn bao nhiêu, em vẫn trở lại, giấc mơ phi lý, em khắng khít bằng những liên tục vuốt ve, liên tục hiền dịu, liên tục chăm sóc. Em liên tục không gian em, liên tục luận lý em. Tân Ước nói có thế giới ở ngoài thế giới, khác biệt và bao trùm thế giới. Em có phải là giấc mơ ở trong giấc mơ và phủ kín giấc mơ?”.

Chẳng biết như thế nào, nhưng trong thế giới thật này, “Nga buồn như con chó ốm” tiếp tục dùng đôi tay “làm lá sen” phủ kín “hương cốm” Nguyên Sa cho đến tận cùng.

 V.Đ.T.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bình luận về bài viết này

Chuyện cười XHCN – Sưu tầm

AI CHÉM LIỄU THĂNG?

download

Trong giờ lịch sử của một lớp trường trung học phổ thông, cô giáo dạy sử như thường lệ ôn bài cũ trước khi giảng bài mới.

– Bây giờ cô ôn bài cũ trước khi giảng bài mới.

Dũng cho cô biết Liễu Thăng bị chém ở đâu?

– Dạ thưa cô, Liễu Thăng bị chém ở cổ ạ.

Cả lớp cười ồ,

Cô giáo lắc đầu cố nén tiếng cười.

– Vậy em nói cho cô biết: Ai đã chém Liễu Thăng?

– Dạ, thưa cô, ai chém thì em không biết nhưng không phải em!

Cô giáo mất hết kiên nhẫn.

– Em không hiểu tý gì bài đã học, cô cho em 0 điểm.

Sáng hôm sau trong lúc ăn sáng, ông bố kiểm tra vở sử của con,
ông phát hiện ra Dũng bị 0 điểm môn Sử

– Vì sao như thế, ông quắc mắt hỏi.

Dũng ấp úng trả lời

– Dạ, hôm qua cô giáo hỏi ai đã chém Liễu Thăng, con nói không biết nên cô cho con 0 điểm.

Ông bố tức lồng lộn đẩy con lên xe, lái đến trường.
Ông vào gặp thầy hiệu trưởng vừa nói lý do tại sao con ông bị 0 điểm môn Sử.

Cô giáo được mời lên phòng hiệu trưởng, trước mặt thầy, cô và bố, Dũng được yêu cầu cho biết vì sao bị 0 điểm.

Dũng trả lời y chang câu đã trả lời với bố sáng nay.

Vốn là một quan chức lớn trong tỉnh, ông hiệu trưởng cũng rất nể sợ, ông bố đã không kìm được cơn giận quát lớn

– Cô dạy dỗ kiểu gì thế, tại sao chỉ vì con tôi không biết ai chém Liễu Thăng mà cô cho nó 0 điểm. Đáng ra nếu vụ việc nghiêm trọng cô phải báo bên công an hình sự, họ sẽ lập chuyên án điều tra để tìm thủ phạm mới đúng chứ!

Cô giáo sững sờ chưa kịp trả lời thì thầy hiệu trưởng vốn rất sợ bị mất điểm thi đua vội cười nịnh với ông bố Dũng rồi phân trần

– Dạ, anh Hai đã chỉ đạo thì chúng em rút kinh nghiệm ạ. Thôi anh Hai đi làm kẻo trễ, để vụ này em xử lý nội bộ, rút kinh nghiệm. Xin anh hết sức thông cảm cho. Em xin đa tạ.

Ông bố vùng vằng bước ra xe hơi còn nói vọng lại

– Chỉ một lần duy nhất thôi đấy, lần này tôi thông cảm nhưng sẽ không có lần hai đâu nhé.

Thầy hiệu trưởng cúi đầu dạ vâng.

Khi trong phòng chỉ còn lại hai người, thầy hiệu trưởng mới nói với cô giáo

– Sao cô đem ba cái chuyện đâm chém ra hỏi học trò chi vậy, nó làm cho phụ huynh người ta bức xúc đó, rút kinh nghiệm lần sau thận trọng nhé. Thôi cô về lớp đi.

Cô giáo mới bước mấy bước chưa ra tới cửa thầy hiệu trưởng gọi giật lại

– A mà này, thế thì cái thằng Liễu Thăng đang học lớp nào vậy, bị chém có nặng không mà tôi không nghe ai báo cáo hết vậy ?!

( Sưu tầm )

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bình luận về bài viết này

Happy Birthday 80th bạn Tống Phước Kiên

MỪNG SINH NHẬT 80

288273163_5074398662672570_1874594078241349829_n

Sinh nhật năm nay tám chục rồi
Đường ra đồi mộng cũng gần thôi
Chim bay triền núi an nhiên đậu
Mây dạt lưng trời tản mát trôi
Chẳng bận thế thời đen tựa mực
Không màng tình nghĩa bạc như vôi
Mở lòng buông bỏ bao sân hận
Cuối nẻo phong trần bước thảnh thơi
Hôm nay sinh nhật tám mươi tròn
Cảm tạ ơn trên đoái phận con
Che chở đường đời bao bảo tố
Giữ gìn cuộc sống lắm nguy nan
Áo cơm thuở ấy tuy lao nhọc
Sức khoẻ giờ đây dẫu héo mòn
Vẫn được vui cười nhìn hậu thế
Sá chi vạt nắng tắt hay còn
Sinh nhật tám mươi miệng mỉm cười
Tớ nay thượng thọ ới người ơi
Xưa lên thất thập xem là hiếm
Giờ đến bát tuần thấy dễ thôi
Con cháu chúc mùng câu bách tuế
Bạn bè vui hát khúc giao bôi
Tạ ơn Thượng Đế luôn che chở
Qua đoạn đường trần cuộc nổi trôi.

TPK

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bình luận về bài viết này

Thơ TPK Happy Father’s Day

HOA TỪ PHỤ

cay-vo-uu-2-min

Hôm nay ngày từ phụ
Con ngồi nhớ đến ba
Đấng sinh thành dưỡng dục
Cho con được thăng hoa
Từ những ngày thơ ấu
Theo từng bước con đi
Ba dạy điều nhân nghĩa
Tránh xa lối vô nghì
Suốt đời con ghi nhớ
Ba nói muốn nên người
Thì phải luôn đứng thẳng
Đừng để bị chê cười
Lời ba là lẻ sống
Con giữ mãi trong lòng
Làm gương cho hậu thế
Một bó hoa xinh tươi
Dâng lên cha từ ái
Tạ ơn cha trên trời

TPK

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bình luận về bài viết này

Thơ Nguyễn Phiến “Mầng Sinh Nhật Vợ”

VÒNG HOA SINH NHẬT

g1

Chúc Mầng Sinh Nhật EM năm nay
Thuyền ta lướt sóng đã bao ngày
Dặm ngàn khốn khó qua mưa gió
Nghiệt ngã cuộc đời EM có hay
Ngày qua tháng lại mãi đắng cay
Phước đức hồng ân đến bến này
Cuộc đời khởi sắc nguồn hy vọng
Nối tiếp hành trình em dựng xây
Thân phận con tằm mãi nhã tơ
Chẳng quản thân gầy ve xác xơ
Trần thế hương đời em xếp lại
Quên cả xuân thì quên ước mơ
Em mến thương ơi em mến thương
Tình em trang trải chắc khôn lường
Vòng hoa SINH NHẬT anh đan kết
Chắc suốt đường trần chẳng đủ hương

Phiến Nguyễn ( 20 tháng 6)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bình luận về bài viết này

Happy Father’s Day

HAPPY FATHER’S DAY

Mến chúc tất cả các  Từ Phụ K1 nhiều niềm vui và chan hòa hạnh phúc trong ngày Father’s Day 2022

happy-fathers-day-dads-day

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bình luận về bài viết này

Bài viết của một người trong nước

Bài viết của một người trong nước

Cô H. Phan, tốt nghiệp ngành Luật, đang là Giám đốc của một công ty Truyền thông ở Sài Gòn đã viết một đoạn văn khiến Việt Cộng nổi điên. Đoạn văn như sau:

“Hơn 40 năm thống nhất, Việt Nam có hơn gì thời chiến ngoài đống xe máy chạy đầy đường… trong túi ai cũng có một cái điện thoại di động? Dù nhà ởkhông có, đất đai không có, bảo hiểm không có, tương lai cho con cái không có… nhưng bia rượu chảy tràn lan mỗi ngày trong quán nhậu. Người ta được ru giấc suốt hơn 40 năm bằng niềm ước mơ cháy bỏng “cơm no, áo ấm.” Hạnh phúc chỉ thế thôi! Muốn hạnh phúc hơn thì hãy làm giàu, làm giàu, làm giàu! “Doanh nhân là chiến sĩ thời bình.” C.! Tôi ỉ. vào cái khẩu hiệu sặc mùi con buôn, đầy phân chợ trời đó! Tiếng súng không còn nổ ngoài đường.

Một cuộc chiến khác đậm chất mafia, côn đồ, đảo Sicily chắc còn phải chào thua nhà cầm quyền Việt Nam trước khả năng dùng “luật im lặng” của họ với dân mình. Cuộc chiến đó là rình mò, là theo dõi, là cấm cản, là kiểm duyệt, là vu cáo, là bắt bớ, là dùi cui, là tù đày, là chết không lý do, là bị bịt miệng tại tòa, là con cháu theo lời lãnh đạo cầm gậy gộc ra ngoài đồng ức hiếp ông bà cha mẹ chòm xóm của mình vì họ đang giữ đất.

Trong khi họ giữ đất cho ai? Những đứa thanh niên đó nó đang nghĩ gì khi quay lưng lại với dân tộc mình? Ðơn giản thôi. Nó tin rằng nếu trung thành với cái thể chế mà nó đang phục vụ, thể chế đó sẽ cho nó công việc ổn định, đặc quyền, đặc lợi hơn người. Vậy là nó nhắm mắt làm theo, coi nhân dân là cỏrác, cũng vì lợi ích cá nhân … gia đình nó – nếu nó có nghĩ tới. Chứ ngoài ra, liệu còn cái lý tưởng cao đẹp nào có thể tin vào lúc này? Ðừng nói với tôi là “lý tưởng Hồ Chí Minh” hay “lý tưởng cộng sản” nhé! Hỏi những đứa mặc áo xanh cán bộ đoàn thử xem, nó nói có trôi chảy không? Tôi đã thử rồi, rốt cuộc là ngồi im nghe tôi nói huyên thuyên toàn những điều mà trường học gọi là “phản động.”

“Cuộc chiến này được khoác lên chiếc áo bảo vệ hòa bình, tự do, hạnh phúc. Còn bên trong là để bảo vệ quyền lợi, quyền lực cho một nhóm người gắn kết với nhau bằng những chiếc răng cùng gặm vào xương máu người nghèo, người thất học, người bán buôn lương thiện hàng ngày. Những người mỗi ngày chỉ biết tạ ơn Trời Phật đã cho chúng con một ngày yên ổn làm ăn, không bị cán bộ thuế đến nhũng nhiễu, không bị CSGT thổi phạt kiếm ăn, không bịđội dân phòng rượt đuổi, không bị ông chủ đẩy vào toa-lét để sờ soạng, không bị cắt tiền tăng ca, không bị cho ăn cơm thiu ngộ độc, không bị bệnh đột ngột phải vào bệnh viện nằm gầm giường chờ chết…

Thế là cái dân tộc đầy sợ sệt, bất an đó cuống cuồng kiếm tiền, cuống cuồng vơchỗ này, cấu chỗ kia để lo cho cái thân mình. Họ còn biết làm gì nữa? Và khi họ chăm chắm vào tiền và sự yên ổn cho mình, họ để mặc cho một bọn ác khác lên ngôi, bọn này là sản phẩm của công thức: Bên trên, chúng nhìn thấy cách hành xử của một chính quyền côn đồ, có tiền là ra luật + Bên cạnh, chúng nhìn thấy những con người thờ ơ với người khác, chỉ còn biết nghĩ tới mình + Bên dưới, chúng nhận ra một đám người khổ sở, sợ sệt, yếu ớt = Chúng chợt nhận ra chúng có khả năng luồn cúi bên trên, tránh né bên cạnh… ức hiếp bên dưới.”

Bọn đó tập trung vào các cơ quan công quyền, làm quản lý, làm công an, làm công chức,… làm “đầy tớ” của nhân dân! Bọn công bộc đó đã cùng nhau đẩy những cụ già bỏ quê bỏ xứ, lên Sài Gòn ngồi vạ vật dầm mưa dãi nắng suốt ngày đêm, ngày này qua tháng nọ để kêu oan. Tôi sợ bọn chúng vì bọn chúng đông quá, đông như kiến cỏ. Chúng nhan nhản khắp nơi, ngày ngày bóp chết mọi ước mơ, triệt tiêu mọi khao khát, thêm sự dốt nát của chúng vào nữa là hoàn hảo để tạo ra một nền kinh tế xã hội thụt lùi đến chóng mặt, quay cuồng trong dối trá và danh lợi. Ðáng sợ hơn, cuộc sống ấm êm no đủ của chúng nhờvào tính cơ hội – thu vén lại là sự thèm khát của những tầng lớp khác. Khiến cho những con thiêu thân non trẻ khác lao vào như một cơ hội ngàn vàng.

Có người lo sợ hỏi tôi rằng, nếu Cộng Sản sụp đổ thì tương lai Việt Nam sẽ ra sao? Tôi hỏi ngược rằng theo bạn thì chế độ hiện nay thế nào? “Cộng Sản Việt Nam là chế độ tồi tệ nhất!” người bạn đó trả lời. Vậy nên tôi cũng trả lời cho bạn rằng: “Điều tồi tệ có thể sẽ tới nhưng sẽ không tồi tệ bằng hiện nay vì Cộng Sản Việt Nam là chế độ tồi tệ nhất!” “Hãy mạnh dạn lên, chúng ta hãy cùng xóa sổ cái chế độ hèn với giặc ác với dân.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Bài viết của một người trong nước

Sai gòn sau tháng Tư 1975 qua con mắt của một thanh niên miền Bắc

Sai gòn sau tháng Tư 1975 qua
con mắt của một thanh niên miền Bắc

nen-kinh-te-viet-nam-cong-hoa-e1557282373441

(Sài gòn trước năm 1975)

 

Mãi tới ngày 30 tháng 4 năm 1975 tôi mới biết thế nào là ngày sinh nhật. Quê tôi người ta chỉ quan tâm tới ngày chết, ngày sinh nhật là cái gì rất phù phiếm. Ngày sinh của tôi ngủ yên trong học bạ, chỉ được nhắc đến mỗi kì chuyển cấp. Từ thuở bé con đến năm 19 tuổi chẳng có ai nhắc tôi ngày sinh nhật, tôi cũng chẳng quan tâm. Đúng ngày “non sông thu về một mối” tôi đang học Bách Khoa Hà Nội, cô giáo dạy toán xác suất đã cho hay đó cũng là ngày sinh nhật của tôi. Thật không ngờ. Tôi vui mừng đến độ muốn bay vào Sài Gòn ngay lập tức, để cùng Sài Gòn tận hưởng “Ngày trọng đại”.

Kẹt nỗi tôi đang học, ba tôi không cho đi. Sau ngày 30 tháng 4 cả nhà tôi đều vào Sài Gòn, trừ tôi. Ông bác của tôi dinh tê vào Sài Gòn năm 1953, làm ba tôi luôn ghi vào lý lịch của ông và các con ông hai chữ “đã chết”, giờ đây là triệu phú số một Sài Gòn. Ba tôi quá mừng vì ông bác tôi còn sống, mừng hơn nữa là “triệu phú số một Sài Gòn”. Ông bác tôi cũng mừng ba tôi hãy còn sống, mừng hơn nữa là “gia đình bảy đảng viên cộng sản”. Cuộc đoàn tụ vàng ròng và nước mắt. Ông bác tôi nhận nước mắt đoàn viên bảy đảng viên cộng sản, ba tôi nhận hơn hai chục cây vàng đem ra Bắc trả hết nợ nần còn xây được ngôi nhà ngói ba gian hai chái. Sự đổi đời diệu kì.

Dù chưa được vào Sài Gòn nhưng tôi đã thấy Sài Gòn qua ba vật phẩm lạ lùng, đó là bút bi, mì tôm và cassette của thằng Minh cùng lớp, ba nó là nhà thơ Viễn Phương ở Sài Gòn gửi ra cho nó. Chúng tôi xúm lại quanh thằng Minh xem nó thao tác viết bút bi, hồi đó gọi là bút nguyên tử. Nó bấm đít bút cái tách, đầu bút nhô ra, và nó viết. Nét mực đều tăm tắp, không cần chấm mực không cần bơm mực, cứ thế là viết. Chúng tôi ai nấy há hốc mồm không thể tin nổi Sài Gòn lại có thể sản xuất được cái bút tài tình thế kia.

Tối hôm đó thằng Mình bóc gói mì tôm bỏ vào bát. Tưởng đó là lương khô chúng tôi không chú ý lắm. Khi thằng Minh đổ nước sôi vào bát, một mùi thơm rất lạ bốc lên, hết thảy chúng tôi đều nuốt nước bọt, đứa nào đứa nấy bỗng đói cồn cào. Thằng Minh túc tắc ăn, chúng tôi vừa nuốt nước bọt vừa cãi nhau. Không đứa nào tin Sài Gòn lại có thể sản xuất được đồ ăn cao cấp thế kia. Có đứa còn bảo đồ ăn đổ nước sôi vào là ăn được ngay, thơm ngon thế kia, chỉ giành cho các du hành vũ trụ, người thường không bao giờ có.

Thằng Minh khoe cái cassete ba nó gửi cho nó để nó học ngoại ngữ. Tới đây thì tôi bị sốc, không ngờ nhà nó giàu thế. Với tôi cassete là tài sản lớn, chỉ những người giàu mới có. Năm 1973 quê tôi lần đầu xuất hiện một cái cassete của một người du học Đông Đức trở về. Cả làng chạy đến xem máy ghi âm mà ai cũng đinh ninh đó là công cụ hoạt động tình báo, người thường không thể có. Suốt mấy ngày liền, dân làng tôi say sưa nói vào máy ghi âm rồi bật máy nghe tiếng của mình. Tôi cũng được nói vào máy ghi âm và thật vọng vô cùng không ngờ tiếng của tôi lại tệ đến thế. Một ngày tôi thấy tài sản lớn ấy trong tay một sinh viên, không còn tin vào mắt mình nữa. Thằng Minh nói, rẻ không à. Thứ này chỉ ghi âm, không có radio, giá hơn chục đồng thôi, bán đầy chợ Bến Thành. Không ai tin thằng Minh cả. Tôi bỉu môi nói với nó, cứt! Rứa Sài Gòn là tây à? Thằng Mình tủm tỉm cười không nói gì, nó mở casete, lần đầu tiên chúng tôi được nghe nhạc Sài Gòn, tất cả chết lặng trước giọng ca của Khánh Ly trong Sơn ca số 7. Kết thúc Sơn ca số 7 thằng Hoan bỗng thở hắt một tiếng thật to và kêu lên, đúng là tây thật bay ơi!

Sài Gòn là tây, điều đó hấp dẫn tôi đến nỗi đêm nào tôi cũng mơ tới Sài Gon. Kì nghỉ hè năm sau, tháng 8 năm 1976, tôi mới được vào Sài Gòn. Ba tôi vẫn bắt tôi không được đi đâu, “ở nhà học hành cho tử tế”, nhưng tôi đủ lớn để bác bỏ sự ngăn cấm của ông. Hơn nữa cô họ tôi rất yêu tôi, đã cho người ra Hà Nội đón tôi vào. Xe chạy ba ngày ba đêm tôi được gặp Sài Gòn.

Tôi sẽ không kể những gì lần đầu tôi thấy trong biệt thự của ông bác tôi, từ máy điều hòa, tủ lạnh, ti vi tới xe máy, ô tô, cầu thang máy và bà giúp việc tuổi năm mươi một mực lễ phép gọi tôi bằng cậu. Ngay mấy cục đá lạnh cần lúc nào có ngay lúc đó cũng đã làm tôi thán phục lắm rồi. Thán phục chứ không ngạc nhiên, vì đó là nhà của ông triệu phú. Xin kể những gì buổi sáng đầu tiên tôi thực sự gặp gỡ Sài Gòn.

Khấp khởi và hồi hộp, rụt rè và cảnh giác, tôi bước xuống lòng đường thành phố Sài Gòn và gặp ngay tiếng dạ ngọt như mía lùi của bà bán hàng tạp hóa đáng tuổi mạ tôi. Không nghĩ tiếng dạ ấy giành cho mình, tôi ngoảnh lại sau xem bà chủ dạ ai. Không có ai. Thì ra bà chủ dạ khách hàng, điều mà tôi chưa từng thấy. Quay lại thấy nụ cười bà chủ, nụ cười khá giả tạo. Cả tiếng dạ cũng giả tạo nhưng với tôi là trên cả tuyệt vời. Từ bé cho đến giờ tôi toàn thấy những bộ mặt lạnh lùng khinh khỉnh của các mậu dịch viên, luôn coi khách hàng như những kẻ làm phiền họ. Lâu ngày rồi chính khách hàng cũng tự thấy mình có lỗi và chịu ơn các mậu dịch viên.

Nghe một tiếng dạ, thấy một nụ cười của các mậu dịch viên dù là giả tạo cũng là điều không tưởng, thậm chí là phi lí.

Tôi mua ba chục cái bút bi về làm quà cho bạn bè. Bà chủ lấy dây chun bó bút bi và cho vào túi nilon, chăm chút cẩn thận cứ như bà đang gói hàng cho bà chứ không phải cho tôi. Không một mậu dịch viên nào, cả những bà hàng xén quê tôi, phục vụ khách hàng được như thế, cái túi nilon gói hàng càng không thể có. Ai đòi hỏi khách hàng dây chun buộc hàng và túi nilon đựng hàng sẽ bắt gặp cái nhìn khinh bỉ, vì đó là đòi hỏi của một kẻ không hâm hấp cũng ngu xuẩn. Giờ đây bà chủ tạp hóa Sài Gòn làm điều đó hồn hậu như một niềm vui của chính bà, khiến tôi sửng sốt.

Cách đó chưa đầy một tuần, ở Hà Nội tôi đi sắp hàng mua thịt cho anh cả. Cô mậu dịch viên hất hàm hỏi tôi, hết thịt, có đổi thịt sang sườn không? Dù thấy cả một rổ thịt tươi dưới chân cô mậu dịch viên tôi vẫn đáp, dạ có! Tranh cãi với các mậu dịch viên là điều dại dột nhất trần đời. Cô mậu dịch viên ném miếng sườn heo cho tôi. Cô ném mạnh quá, miếng sườn văng vào tôi. Tất nhiên tôi không hề tức giận, tôi cảm ơn cô đã bán sườn cho tôi và vui mừng đã chụp được miếng sườn, không để nó rơi xuống đất. Kể vậy để biết vì sao bà chủ tạp hóa Sài Gòn đã làm tôi sửng sốt.

Rời quầy tạp hóa tôi tìm tới một quán cà phê vườn. Uống cà phê để biết, cũng là để ra dáng ta đây dân Sài Gòn. Ở Hà Nội tôi chỉ quen chè chén, không dám uống cà phê vì nó rất đắt. Tôi ngồi vắt chân chữ ngũ nhâm nhi cốc cà phê đen đá pha sẵn, hút điếu thuốc Capstan, tự thấy mình lên hẳn mấy chân kính. Không may tôi vô ý quờ tay làm đổ vỡ ly cà phê. Biết mình sắp bị ăn chửi và phải đền tiền ly cà phê mặt cậu bé hai mươi tuổi đỏ lựng. Cô bé phục vụ chạy tới vội vã lau chùi, nhặt nhạnh mảnh vỡ thủy tinh với một thái độ như chính cô là người có lỗi. Cô thay cho tôi một ly cà phê mới nhẹ nhàng như một lẽ đương nhiên. Tôi thêm một lần sửng sốt.

Một giờ sau tôi quay về nhà ông bác, phát hiện sau nhà là một con hẻm đầy sách. Con hẻm ngắn, rộng rãi. Tôi không nhớ nó có tên đường hay không, chỉ nhớ rất nhiều cây cổ thụ tỏa bóng sum sê, hai vỉa hè đầy sách. Suốt buổi sáng hôm đó tôi tha thẩn ở đây. Quá nhiều sách hay, tôi không biết nên bỏ cuốn gì mua cuốn gì. Muốn mua hết phải chất đầy vài xe tải. Giữa hai vỉa hè mênh mông sách đó, có cả những cuốn sách Mác – Lê. Cuốn Tư Bản Luận của Châu Tâm Luân và Hành trình trí thức của Karl Marx của Nguyễn Văn Trung cùng nhiều sách khác. Thoạt đầu tôi tưởng sách từ Hà Nôi chuyển vào, sau mới biết sách của Sài Gòn xuất bản từ những năm sáu mươi. Tôi hỏi ông chủ bán sách, ở đây người ta cũng cho in sách Mác – Lê à? Ông chủ quán vui vẻ nói, dạ chú. Sinh viên trong này học cả Mác – Lê. Tôi ngẩn ngơ cười không biết nói gì hơn.

Chuyện quá nhỏ, với nhiều người là không đáng kể, với tôi lúc đó thật khác thường, nếu không muốn nói thật lớn lao. Tôi không cắt nghĩa được đó là gì trong buổi sáng hôm ấy. Tôi còn ở lại Sài Gòn thêm 30 buổi sáng nữa, vẫn không cắt nghĩa được đó là gì. Nhưng khi quay ra Hà Nội tôi bỗng sống khác đi, nghĩ khác đi, đọc khác đi, nói khác đi. Bạn bè tôi ngày đó gọi tôi là thằng hâm, thằng lập dị. Tôi thì rất vui vì biết mình đã được giải phóng.

Nguồn FB Nguyễn Quang Lập.

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Sai gòn sau tháng Tư 1975 qua con mắt của một thanh niên miền Bắc

Chỉ Có Ở Việt Nam thời cộng sản (St)

Chỉ có ở Việt Nam thời cộng sản: Xin chở 15kg gạo về nhà để ăn cũng phải làm đơn xin phép

This image has an empty alt attribute; its file name is don.jpg

Theo FB Xứ Nam Kỳ

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Chỉ Có Ở Việt Nam thời cộng sản (St)

Về Trịnh Công Sơn_Nguyễn Gia Việt

This image has an empty alt attribute; its file name is em-va-trinh-poster.jpg“Trịnh” là một đề tài chưa bao giờ thu hút khán giả!

“Em và Trịnh” là một phim hư cấu về T C S, thực ra với cả cuộc đời ông Trịnh thì khán giả chưa bao giờ có chút cảm giác tò mò hay háo hức, cũng như có ý định tìm hiểu và “ngưỡng mộ” cả.

Trịnh có hình dong ốm nhách, mặt mày lợt lạt, dáng yếu xìu, người mái mái, tái tái.Cái giọng thì quá âm nhu thiếu sức sống, chậm chạp yếu ớt thiếu sinh khí ở đời thực.

Với đàn bà, có cảm giác Trịnh chỉ như “hửi bụi” kiểu “để bà ngửi chớ bà không ăn”. Thành ra nhiều thư từ yêu thương, nhiều giai thoại cũng chỉ là …giai thoại khẳng định Trịnh không phải gay. Song tình Trịnh mang tính chất tình “thơ”, tình “ảo”, tình “lãng mạn”. Mà cái gì có chữ lãng cũng dễ thành “lãng nhách”, “lãng gian” lắm.

Về âm nhạc thì T C S là tác giả lớn, không ai chối đặng. Song cái lớn của ông là sự mong manh, mõng mãnh kiểu “hư” nhiều hơn “thực”.

Nhiều người khen nhạc Trịnh mộng mị, có chất thiền, nhìn thấy vô cùng thiền, nhưng nghe thường vài bài rõ ràng cái mộng mị đó là do ông nhiều khi tráo chữ, tức là trong cơn say rượu và khói trắng mà phóng bút ra, chữ tuôn ào ạt và nhiều chữ lại vô hình chung không có nghĩa gì ráo trọi.

Mưa chữ lộn xộn!

Không ai qua T C S về ca từ viết “năm non bảy núi”, con chữ minh mông, lê thê, vòng vèo. Có lẽ ông cũng không ngờ ổng viết ra mà thiên hạ quy cho là có hơi hám “thiền”, dù nhiều câu chẳng hiểu mùi gì trong đó.

Nhiều khúc nhạc nghe là hay đó, nhưng chẳng thể nào xa hơn, vì nó chẳng có nghĩa gì hết. Nghe tằng tắng tăng chơi vui, không hiểu muốn nói gì.

Trịnh cũng hay nói ra những câu ít ai hiểu nghĩa nó là gì, thí dụ:

“Con người sinh ra vốn bất toàn và để làm những điều lầm lỗi.

Nó đẹp vì bất toàn

Nó đáng yêu vì nó luôn luôn lầm lỗi

Vậy thì cứ yêu mà đừng tuyệt vọng…”

T C S chơi rất thân với cố chuẩn tướng Lưu Kim Cương, có lẽ bài “Cho một người vừa nằm xuống” là nghe dễ hiểu nhứt:

“Anh nằm xuống sau một lần đã đến đây

Đã vui chơi trong cuộc đời nầy

Đã bay cao trong vòm trời đầy

Rồi nằm xuống, không bạn bè, không có ai

Không có ai, từng ngày, không có ai đời đời

Ru anh ngủ vùi, mùa mưa tới trong nghĩa trang này có loài chim thôi!”

T C S gắn với nhạc “phản chiến”, có chữ “phản” trong “chiến”.

Mặc dù nhạc da vàng của ông có thể gây ấn tượng, song về bản chất của một người trai với những thứ cần rặc ròi với quyền lợi, chánh kiến của Miền Nam thì ông hay bị thiên hạ hoài nghi.

T C S không làm tròn nghĩa vụ người trai sống thời chiến.Trịnh Công Sơn là một thanh niên trốn quân dịch và cứ trốn, tìm mọi cách làm mình ốm nhách đặng trốn quân dịch.

T C S là một người đàn ông xìu xìu ển ển từ thanh niên tới khi về già và cả trước khi chết. Cái khí chất lịch sự mà ông thể hiện với công chúng là yếu đuối, nhu nhược chứ không mạnh mẽ.

Cuộc đời ông lúc nào cũng lơ lơ lửng lửng, lưng chừng. Chánh kiến không rõ ràng, đàn ông pha chút âm nhu, không tiến không lui, không tà không chánh với sở trường nói những điều mộng mị. Tới chết lập trường sống vẫn không rõ ràng!

T C S lại không có chánh kiến rõ ràng, nên dù nhạc Trịnh cũng được xếp là “rất hay” nhưng thiên hạ vẫn cảnh giác với Trịnh.

Trong dòng đời này ai cũng phải chọn một chánh kiến và một lý tưởng đặng mà sống, đặng an ủi, chở che tâm hồn mình. Ai cũng chọn lựa cho mình một lý tưởng. Nhưng hình như Trịnh thì không.

Trịnh suốt đời hoang mang và lại cố công tạo ra một thế hệ trẻ không biết đứng không biết ngồi, lúc nào cũng mộng mị giữa trưa nắng đặng tự nhốt mình vào cái thế bí của “đời người”, tự mình nhét mình vô thế bít đường của tâm tưởng với rượu và khói trắng.

Một thế hệ fan sẽ hoang mang vì nghe nhiều nhạc Trịnh.

Một thế hệ bắt chước đời sống như Trịnh khi cứ càm ràm “Tiến thoái lưỡng nan”cả đời tới khi tắt thở.

Thành ra những bộ phim về Trịnh ít ai coi, chưa bao giờ thu hút khán giả là vì vậy. Ai dám làm phim về đề tài Trịnh thì phải phục là họ thích Trịnh dữ lắm.

Cuộc đời Trịnh có cái gì hay ho mà học hỏi.

Xin lỗi! Nếu T C S có từng yêu bà Tuyết Mai, Lâm Thanh Hà hay bà Thẩm Thúy Hằng cũng không phải là điều mà thiên hạ cần chú ý.

Nguyễn Gia Việt

(Nguồn: Fb Nghia Van)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Về Trịnh Công Sơn_Nguyễn Gia Việt

Vua Duy Tân Trên Đất Khách

VUA DUY TÂN NƠI ĐẤT KHÁCH

(Ghi theo lời kể của Joseph Roger Vĩnh San, vị hoàng tử út của vua Duy Tân)

Tôi sinh ngày 18-4-1938 tại Réunion, một hòn đảo thuộc địa của Pháp nằm giữa Ấn Độ Dương. Đây vốn là một quả núi lửa mọc lên từ đáy biển, cao 3.000m so với mặt nước biển, cách phía Đông của Madagascar 700 km, cách Mauritius 200 km về phía Tây Nam. Réunion có chiều dài 63 km, rộng 45 km, diện tích khoảng 2.517 km², dân số chưa đến một triệu người, hiện thuộc quyền sở hữu của Pháp. Những người dân ở đây sống chủ yếu ở vành đai chân núi, một số nhỏ ở sườn núi. Vào mùa mưa, đất đá ở thân núi thường sụt lở từng mảng. Dân chúng ở đảo tự gọi mình là Réunionnais hay Créoles. Ngày tôi sinh đúng vào ngày bão giật, mưa giông, sấm chớp đùng đoàng, biển động dữ dội. Cha tôi bảo: “Số thằng này sau này vất vả, gian truân lắm đây”.

Cha tôi bị đày ra đảo La Réunion vào ngày 20-11-1916, lúc ông mới 17 tuổi. Chia sẻ số phận lưu đày cùng cha tôi có thân phụ Hoàng thân Bửu Lân, tức vua Thành Thái, 37 tuổi, thân mẫu Hoàng Thị Định, hiền thê Mai Thị Vàng, em trai Hoàng thân Vĩnh Chuôn và em gái, công chúa Lương Nhân cùng những người phụ tá. Lúc đặt chân lên đảo từ con tàu Guadiana, chỉ có cha tôi và ông nội mặc âu phục còn tất cả những người khác đều mặc đồ Việt Nam.

Vừa đến đảo, cha tôi bị ốm nặng, phải đi nghỉ ở vùng Hell Bourg một thời gian, trước khi trở lại thành phố Saint Dennis, đảo Réunion. Cha tôi đã phải thay đổi nhà nhiều lần, toàn là nhà đi thuê chứ không có đủ tiền để mua nhà, biệt thự như nhiều vị vua chúa các nước khác cũng bị lưu đày ở đây. Bởi chính phủ Pháp trợ cấp cho ông mỗi tháng một số tiền khá nhỏ nhưng không khi nào ông chịu tự hạ mình phàn nàn hay xin tăng lương. Vì đời sống quá kham khổ, khí hậu ở đảo lại khắc nghiệt, cộng với nỗi nhớ nhà, nhớ quê hương, bà nội tôi và Hoàng phi Mai Thị Vàng đã xin được hồi hương. Từ bấy, cha tôi sống một mình nơi đất khách quê người.

Cũng cần nói thêm rằng, tuy cùng bị lưu đày với vua cha Thành Thái ở đảo Reunion nhưng cha tôi không sống cùng ông bởi những bất đồng không giải quyết được trong quan điểm cứu nước. Đó là mâu thuẫn lớn nhất của hai cha con. Thế nhưng không vì thế mà tình cảm của cha tôi dành cho vua cha Thành Thái bị sứt mẻ. Ông luôn dạy chúng tôi phải biết hiếu lễ, ngoan ngoãn với ông nội. Hàng tuần, ông đều dặn mẹ tôi nấu súp mang sang biếu cha.

Mẹ tôi tên là Fernande Aniter, sinh năm 1913 trong một gia đình người Pháp nhưng đã sinh sống lâu đời ở đảo Reunion bằng việc mở một tiệm cơm bình dân chuyên phục vụ cho học sinh và những người có thu nhập thấp. Cha tôi sống độc thân trong một căn nhà nhỏ, vừa học tập trau dồi kiến thức, vừa mở cửa hàng sửa chữa vô tuyến điện để kiếm sống. Ông là người rất ham mê máy móc kỹ thuật, nhất là kỹ thuật truyền tin. Vì vậy, chính quyền đảo La Réunion đã đặt ông thiết lập một hệ thống truyền tin đầu tiên trên đảo thời bấy giờ.

Do khoản thu nhập và trợ cấp eo hẹp nên ông không có điều kiện để thuê người giúp việc. Ông ăn mặc và sinh hoạt giản dị như bao người dân bình thường khác ở đảo. Ông không biết tự nấu nướng. Với thu nhập khiêm nhường của mình, ông thường qua quán cơm tháng của gia đình mẹ tôi ăn cơm rồi dần trở thành khách quen. Từ đó, ông nảy sinh tình cảm với mẹ tôi, khi ấy bà mới tròn 15 tuổi.

Mẹ tôi tuy kém cha tôi 13 tuổi nhưng hai người lại rất tâm đầu ý hợp. Ở đảo Réunion, cha tôi dành rất nhiều thời gian để học luật và các tri thức khác. Ông cũng là người có năng khiếu âm nhạc đặc biệt. Ông chơi violon rất giỏi nên có chân trong ban nhạc đại hòa tấu tại Saint Denis. Không những thế, ông còn viết văn, nuôi ngựa và đua ngựa. Ông đã từng giật giải nhất trong cuộc thi đua ngựa lớn nhất toàn đảo. Ở trường đua ngựa, ông và Hoàng thân Vĩnh Chuôn, tuy người nhỏ con (cao 1m51, nặng 41kg) lại là hai nài kiện tướng, quần chúng thường hoan hô cha tôi ông là “Vua Tàu”. Ông học đánh kiếm và đánh rất giỏi. Ông chú trọng về nghệ thuật quân sự. Trong suốt thời kỳ chiến tranh thế giới, ông luôn găm bản đồ trên tường tiệm hàng để theo dõi chiến sự. Nhiều lúc, ông hùng hồn giải thích chiến trận làm lóa mắt cử tọa kính cẩn ngồi nghe.

Say mê văn chương Pháp, ông đọc rất nhiều sách, sáng tác thơ ca. Ông có nhiều bài được đăng trên tờ báo Le Peuple (Dân chúng), Le Progrès (Tiến bộ) với bút danh Georges Dry. Ông cũng thích viết văn xuôi lãng mạn. Trong bài Tiếng nói của vạn vật, ông bắt đầu với những câu: “Tôi thích tiếng thì thầm của cơn gió nhẹ khi nó hát hay khóc trong các cành cây. Tôi thích những lời tâm sự du dương của gió với cây trong rừng, với sóng dưới biển, với sao trên trời. Nhưng hơn nữa, ru ngủ tôi, làm tôi say mê, khoái trá là tiếng gọi của đại dương, lời rên rỉ vạn năng vang lên trong cảnh đêm im lặng như một bài tụng ca vô tận”. Rồi ông kết luận: “Tiến lên Thượng đế, đấy là mục đích đời bạn và của mọi đời sống khác. Bạn nên học yêu thương, đấy là bí quyết của hạnh phúc. Bạn nên học đau khổ, đấy là bí quyết của sự thanh lọc, của cuộc tiến lên ánh sáng. Đau khổ là chị em của vui sướng. Hai mặt giữ thăng bằng, bổ sung nhau và tô điểm nhau. Bạn nên học tự biết mình và chế ngự những sức mạnh tiềm tàng và ẩn kín. Từ đấy, bạn khám phá ra bí mật của vũ trụ và những quyền lực đã chi phối. Sự huy hoàng của sự nghiệp thần thánh sẽ tiết lộ ra ngay trong lòng bạn và trong mọi mặt”.

Trong bài Variations sur une lyre brisée (Những biến tấu của một cây đàn gẫy vỡ) được Giải nhất văn chương của Viện hàn lâm khoa học và văn chương La Réunion (1924), ông tâm tình: “Ở một vài đầu óc, nếp cũ hoài nghi, thói quen mỉa mai ngay cả chính mình, làm khó mọi chi phối xúc cảm. Trong cuộc phòng vệ có đạo đức, hoài nghi là mang một vỏ sắt, mỉa mai là vận dụng một cái khiên. Nhưng ta không thể luôn được bảo vệ; đến một lúc, khi ta tưởng được an toàn, khi ta lột bỏ áo giáp mà ta đã kiên cường chịu đựng với một nụ cười, đấy là khi ta rất nhạy cảm với một vết châm cũng như với một cái vuốt dù nhỏ nhẹ”.

Ông là thành viên Hội khoa học, văn chương và nghệ thuật La Réunion. Bà Hội trưởng Eléonora Revest đánh giá ông là một người có học thức, một nhà diễn thuyết hùng biện. Chính trí tuệ, sự thông minh, hiểu biết của ông đã chinh phục được mẹ tôi, khi ấy là thiếu nữ Fernande Antier nhan sắc nổi tiếng cả phố. Năm 1925, cha tôi có gửi cho Hội đồng hoàng tộc một bức thư kèm đơn ly dị và xin Hội đồng hoàng tộc chứng nhận để bà Mai Thị Vàng đi lấy chồng khác, lúc này bà 27 tuổi. Nhưng bà Vàng một lòng thủ tiết cho đến cuối đời và thường ngâm: “Gìn vàng giữ ngọc cho hay/ Cho đành lòng kẻ chân mây cuối trời”.

This image has an empty alt attribute; its file name is duy-tan-1.png

Vua Duy Tân tham gia hoạt động của Mặt trận Bình dân Pháp (Tuổi Trẻ)

(Chỗ này Tuổi Trẻ rất sai vì Mặt Trận Bình Dân Pháp chỉ “sống” có 2 năm (5/1936-4/1938) trong khi Vua Duy Tân chỉ đến Pháp trong hay sau Thế Chiến 2, 1945)

https://fr.wikipedia.org/wiki/Front_populaire_(France)

Sau khi gửi đơn ly hôn về cho Hoàng phi Mai Thị Vàng được 3 năm, cha tôi kết hôn với mẹ tôi. Đám cưới diễn ra giản dị tại đảo Réunion, với sự góp mặt của người dân trên đảo và cả ông nội tôi, cựu hoàng Thành Thái. Tuy đám cưới đã diễn ra nhưng vì Hoàng phi Mai Thị Vàng không đồng ý ly hôn nên cuộc hôn nhân của cha mẹ tôi vẫn chưa được nhà thờ công giáo ở đảo Réunion công nhận. Chính vì thế mà sau này, bốn anh em chúng tôi đều mang họ mẹ. Phải mãi về sau, khi cha tôi qua đời năm 1946, tòa án ở Réunion mới xem xét lại và đồng ý để chúng tôi chuyển sang họ cha.

Cha mẹ tôi sinh hạ được 8 người con nhưng chỉ nuôi được 4 người. Đó là chị gái lớn, Hoàng nữ Rita Suzy Georgette Vĩnh San (6-8-1929); Hoàng tử Guy Georges Vĩnh San (31-1-1933); Hoàng tử Yves Claude Vĩnh San (8-4-1934) và tôi. Lúc còn nhỏ, anh em chúng tôi rất sợ cô Lương Nhàn bởi cô rất nghiêm khắc. Anh Georges thường hay bị đòn roi của cô. Nhưng cha tôi còn nghiêm khắc hơn. Ngày ngày, cha tôi làm việc ở căn phòng nhỏ tầng 1, nơi ông mở một tiệm sửa chữa máy móc cho cư dân trên đảo, kiếm tiền nuôi vợ con. Tiệm có tên là La Radio Laboratoire Vinh San. Anh em chúng tôi không bao giờ dám bén mảng đến căn phòng đó. Bữa ăn cơm, chúng tôi cũng không dám nói chuyện, cười đùa. Cha tôi rất ít nói. Mỗi lần kể về người, trong tôi vẫn còn lưu dấu một nỗi buồn u uẩn của một con người, một vị vua sa cơ thất thế phải sống kiếp lưu đày.

Cha tôi không có một ưu đãi vật chất nào trong những tháng ngày trên đảo. Nơi ở của ông không có lò sưởi, vòi nước tắm, thậm chí cả bồn rửa mặt. Nhưng ông vẫn vui vẻ sống. Ông ít giao thiệp với người Pháp. Chính quyền hoàn toàn quên bỏ ông. Ông chỉ giao du với một nhóm bạn bè. Ông thích trèo núi, đi câu, không ngần ngại bắt chuyện với những người ngồi câu bản xứ, phần nào cũng giúp khuây khỏa nỗi nhớ thuở: “Chiều chiều trước bến Văn Lâu. Ai ngồi, ai câu, ai sầu, ai thảm”. Nghiêm khắc nhưng cha tôi rất yêu thương vợ con, yêu thương một cách kín đáo. Khéo tay, tự ông làm đồ chơi cho chúng tôi như những hình tượng trong truyện “Nàng Bạch Tuyết và bảy chú lùn”. Vì thế, anh em chúng tôi vẫn gọi ông bằng cái tên thân mật Dede (Bố), biến âm của những danh từ Âu Mỹ Daddy, Papa. Ngoài việc trao đổi sinh hoạt bình thường trong gia đình, ông rất ít khi thổ lộ tâm tư tình cảm, nhất là chuyện đất nước, chính sự với vợ con. Ông không bao giờ nói chuyện về Việt Nam với những người dân trên đảo Réunion và kể cả với vợ mình. Có lẽ bởi do chúng tôi sinh ra vào thời điểm đặc biệt nên cha tôi không tiết lộ danh phận, gốc gác để bảo đảm an toàn cho con cái mình. Song cũng có đôi lần ông thổ lộ với mẹ tôi rằng: Ông lúc nào cũng khao khát thoát khỏi Réunion, thoát khỏi tay người Pháp để trở về Việt Nam, tìm cách cứu nước.

CÁI CHẾT BÍ ẨN CỦA VUA DUY TÂN VÀ CUỘC TRỞ VỀ MUỘN MÀNG CỦA ÔNG VUA YÊU NƯỚC SAU 70 NĂM BỊ LƯU ĐÀY

Ngay từ năm 1927, cha tôi đã tham gia Hội địa phương bảo vệ nhân quyền và quyền công dân, đồng thời có chân trong Hội kín Franc-Maconnerie (Hội Tam Điểm), hội của những người thông thái và bác ái, ở nhiều quốc gia khác nhau muốn hiến thân cho sự vươn lên về phương diện tinh thần và luân lý. Nó khuyến khích thành viên hành động vì sự tiến bộ nhân loại. Trong một thông điệp gửi cho Hội, cha tôi đã viết mở đầu như thế này: “Chúng ta đang trải qua những giờ phút nghiêm trọng. Khắp mọi nơi trên hành tinh, nhiều triệu chứng, có khi ít được nhận thức, chứng tỏ nhân loại đạt đến ngưỡng đòi hỏi phải thay đổi chiều hướng trên con đường phát triển mà chính ngay những triết gia vĩ đại nhất cũng khó lòng miêu tả một cách kiên quyết nếu họ ý thức khả năng sai lầm của chủng loại chúng ta“. Rồi ông kết luận: “Hy vọng rồi một ngày, nhờ công tác của các bạn, Hội sẽ chiến thắng những hận thù giữa con người và giữa các nước, đồng thời hợp nhất nhân loại trong một tình huynh đệ trong sáng bằng cách bãi bỏ mãi mãi mọi tương phản giữa các giai cấp và các chủng tộc“.

Cha tôi đã công khai nói đến tự do, không ngần ngại đề cao tinh thần dân chủ, giải phóng dân nghèo tại một hòn đảo mà quyền hành nằm gọn trong tay một chính thể quý tộc. Song ông lại ngậm câm về quá khứ của mình, về những ước mong cho tương lai đất nước Việt Nam, về triều đại nhà Nguyễn.

Chỉ có một lần duy nhất trong đời, ngày 5-6-1936, cha tôi đã viết một lá đơn gửi cho ông Bộ trưởng bộ thuộc địa, kể lại cuộc khởi nghĩa cùng Việt Nam Quang phục Hội vào ngày 3-5-1916 và vai trò bất đắc dĩ của ông với mục đích xin được ân xá. “Tôi đứng trước trường hợp phải chọn giữa hai đường: Hoặc mặc để ám sát người Pháp và rồi dự một cuộc trấn áp đẫm máu hoặc tố cáo những đồng bào của tôi và phạm một cử chỉ hèn hạ. Để thoát ra trường hợp đau xót ấy, tôi chỉ còn một phương cách: Nhận làm chỉ huy cuộc khởi nghĩa“. Lá đơn ấy của cha tôi đã không được hồi âm. Suốt những năm tháng ở đảo La Réunion, cha tôi luôn nuôi hy vọng trở về Việt Nam để làm được một điều gì đó cho đất nước. Có ít nhất 4 lần cha tôi được một số người đề nghị cùng trốn khỏi đảo để trở về Việt Nam nhưng cha tôi đều từ chối. Bởi người muốn về một cách công khai, đàng hoàng.

Cha tôi là người cầu tiến, ham học hỏi. Ông là người tiên phong tiếp cận với kỹ thuật vô tuyến điện trên hòn đảo hẻo lánh này và đã tham gia xây dựng đài thu phát truyền tin đầu tiên ở đây. Hiện nay, tại nơi này, vẫn còn lưu dấu ấn của cha tôi bằng việc chính quyền sở tại xây một cây cầu nhỏ mang tên ông và đến năm 1992, thành phố Saint-Denis, nơi cả gia đình tôi trú ngụ ngày xưa (số 67 Sainte-Anne), đã khánh thành đại lộ Duy Tân.

Cha tôi rất say mê chơi thể thao, rèn luyện sức khỏe và học tập không ngừng để mở mang trí tuệ. Nhưng niềm say mê lớn nhất của ông chính là vô tuyến điện. Bởi ngành kỹ thuật này không chỉ giúp cha tôi nuôi sống cả gia đình mà còn là phương tiện duy nhất giúp ông liên lạc được với thế giới bên ngoài. Rất tinh thông trong ngành vô tuyến điện nhờ đã tự học thêm, ông có viết nhiều bài kỹ thuật trong các báo chuyên môn và tiếp xúc với nhiều chuyên viên vô tuyến nghiệp dư các nước khác qua tín hiệu FR8VX. Ngay chính quyền địa phương cũng nhờ ông dựng một đài thu phát cho đảo. Nhờ có máy mạnh, ông đã bắt được những đài quốc tế, từ Delhi, Sài Gòn qua Tokyo, Melbourne, ngay cả những đài bên Mỹ. Nhờ đó mà vào ngày 18-6-1940, cha tôi đã nghe được bản tin hiệu triệu của tướng Charles De Gaulle – người đứng đầu của tổ chức chống Phát xít Đức mang tên Pháp tự do, ở đài BBC trong chương trình “Tiếng nói của nước Pháp”. Sự việc nước Pháp bại trận trong chiến tranh thế giới thứ hai, đầu hàng phát xít Đức và sau đó lực lượng kháng chiến Pháp ở hải ngoại do tướng Charles De Gaulle đứng đầu được thành lập ở Anh trở về tái chiếm đất Pháp đã có tác động rất lớn đến tư tưởng, tình cảm của cha tôi. Ông xem Charles De Gaulle là thần tượng, là hình mẫu cho hoạt động cứu nước của mình. Lập tức ông nối liên lạc với nước Pháp tự do và tìm cách chuyển tin cho quân đội Pháp chưa đến đảo. Nhờ ông mà nhóm người kháng chiến ở đảo theo dõi được diễn biến của cuộc thế chiến thứ hai và nhất là những bước tiến của quân Đồng Minh. Ông trở thành linh hồn của nhóm kháng chiến ở đảo. Vụ việc đổ bể, ông bị nhà cầm quyền La Réunion (lúc đó theo Chính phủ Vichy) bắt giam sáu tuần, từ ngày 7-5 đến ngày 19-6-1942.

Sau ngày giải phóng, chính phủ nước Pháp tự do, qua đề nghị của ông Capagorry, Thống đốc mới, không quên công lao của cha tôi, đã tặng thưởng ông Huy chương kháng chiến với phù hiệu. Trong thư cám ơn Tướng De Gaulle, cha tôi viết: “Khi tiếp nhận tôi trong số những người không chấp nhận nước Pháp bị hạ thấp vì thua một trận, ông đã làm vinh dự tôi, khiến tôi gắn bó nhiều hơn nữa, với lời thề phụng sự một Tổ quốc đã cho tôi thừa kế một gia sản tinh thần“.

Ngày 28-11-1942, khi chiếc khu trục hạm Léopard dưới quyền của ông thuyền trưởng Richard cập bến Saint-Denis, cha tôi đã tình nguyện nhập ngũ. Ông phó thuyền trưởng Baraquin thấy cha tôi có nhiều kiến thức về vô tuyến điện, nhận ngay ông làm hạ sĩ vô tuyến. Vài ngày sau, khi tàu rời bến, cha tôi đã bận đồ thủy thủ rời đảo La Réunion, chấm dứt 26 năm biệt xứ và mở một trang sử mới cho đời ông.

Ba tháng phục vụ với cấp bậc hạ sĩ vô tuyến, cha tôi bị giải ngũ vì lý do sức khỏe. Sau nhờ thống đốc La Réunion là ông A. Capagory can thiệp, cha tôi gia nhập bộ binh Pháp dưới quyền của tướng Catroux với cấp bậc binh nhì. Một thời gian sau, ông được thăng lên chuẩn úy rồi sang châu Âu. Ngày 5-5-1945, cha tôi được lệnh chuyển về phòng Quân sự của tướng Charles De Gaulle ở Paris. Ngày 20-7-1945, ông được đưa qua phục vụ tại Bộ tham mưu của Sư đoàn 9 Bộ binh Thuộc địa đóng ở Foret Noire, nước Đức. Ngày 29-10-1945, tướng Charles de Gaulle ký một sắc lệnh hợp thức hóa những sự thăng cấp liên tiếp của cha tôi trong Quân đội Pháp: Thiếu úy từ ngày 5-12-1942, Trung úy từ ngày 5-12-1943, Đại úy tháng 12-1944 và Thiếu tá ngày 25- 9-1945.

Việc cha tôi, một ông vua đã từng nổi dậy chống chính quyền thuộc địa Pháp thống trị nước ông, bây giờ lại chạy theo ông tướng lưu vong Charles De Gaulle muốn giải phóng nước Pháp khỏi cuộc chiếm đóng của phát xít Đức khiến nhiều người xem đây là một trường hợp oái ăm, một trong những mâu thuẫn lớn nhất trong đời Hoàng thân Vĩnh San. Bởi “nước Pháp tự do” và nước Pháp thực dân mà ông chống đối đều là một nước Pháp. Nhưng thật ra, cha tôi chỉ tranh đấu giành tự do độc lập cho một quốc gia, một dân tộc, dù là Việt Nam hay Pháp. Tinh thần này ông đã có từ lâu, có thể ngay từ những ngày thụ giáo ông thái phó Eberhardt, tiến sĩ khoa học, ở kinh đô Huế. Tuy nhiên, nhiều người lại cho rằng, cựu hoàng Duy Tân đã bị dùng như một con bài chính trị trong kế hoạch mật tái chiếm Đông Dương của Pháp.

Ngày 14-12-1945, tướng Charles De Gaulle đã tiếp cha tôi. Trong tập “Hồi ký chiến tranh”, tướng De Gaulle ghi: “Tôi sẽ tiếp Cựu hoàng (Vĩnh San) và sẽ cùng ông xét xem chúng tôi sẽ làm được những gì? Đó là một nhân vật đầy cương nghị. Mặc dù bị lưu đày ròng rã 30 năm trời, hình ảnh của ông không hề phai mờ trong tâm hồn của dân tộc Việt Nam”.

Trong tác phẩm “Histoire du Việt Nam de 1940 à 1952” (Lịch sử Việt Nam 1940-1942), sử gia Philippe De Villers nhận xét: “Bảo Đại đã thoái vị và bị phê bình nghiêm khắc. Nhưng lần này, người được chú ý chính là nhân vật tiền nhiệm, Duy Tân. Bị lưu đày năm lên 16 tuổi, ông đã đầu quân vào Không lực Pháp và tham gia các cuộc chiến đấu ở Pháp và Đức. Ông đã trình bày chính kiến với Chính phủ Pháp và với một trung úy của Quân đoàn I sắp qua Đông Dương là ông Bousquet, cựu chánh văn phòng của Tổng trưởng Abel Bonnard”.

Một bạn thân của cha tôi là E.P Thébault kể lại trong bài “Số phận bi thảm của một hoàng đế An Nam: Vĩnh San – Duy Tân” đăng trên Revue France-Asie, năm 1970: “Trở lại Paris ngày 16-12-1945, tôi thấy Ngài mặc một bộ đồ nhà binh rất đẹp, có gắn bốn lon. Bây giờ Ngài trọ ở khách sạn Louvres, trước hý viện Pháp. Ngài nói: “Như vậy là xong rồi, quyết định rồi! Chính phủ Pháp sẽ đặt tôi lại trên ngôi Hoàng đế Việt Nam. Tướng De Gaulle sẽ theo tôi trở về bên đó (Việt Nam) vào những ngày đầu tháng 3-1946“. Từ nay tới đó, người ta sẽ chuẩn bị dư luận của Pháp cũng như quốc tế và Đông Dương. Vả lại, cũng còn cần phải dự thảo các bổn thoả ước giữa hai chính phủ nữa”.

Trong hồi ký “Bên dòng lịch sử 1940-1965”, linh mục Cao Văn Luận ghi lại rằng, mùa đông 1944 và đầu năm 1945, cùng với một số du học sinh Việt và Việt kiều, ông có tiếp xúc ba lần với cha tôi ở Paris. Lần đầu, cha tôi giải thích: “Người Pháp đang cần sự hợp tác của chúng ta để tái chiếm Đông Dương. Họ có thể chấp nhận cho ta thành một quốc gia tự trị trong Liên hiệp Pháp. Điều đó không trái với quyền lợi quốc gia. Dần dà chúng ta đòi thêm quyền hành. Chúng ta biết làm gì hơn trước binh lực hùng hậu của Pháp và hậu thuẫn của đồng minh Tây phương? Chúng ta đã thấy những gương chống Pháp và tôi đây là nạn nhân của một lối chống nóng nảy, vụng về. Rồi đất nước chúng ta phải chịu một cảnh chiến tranh tàn khốc mà kết quả chưa biết là thắng hay bại“.

Lần thứ hai, cha tôi tâm sự: “Riêng về phần tôi, lòng yêu quê hương Việt Nam không cho phép tôi để ngỏ cửa cho một cuộc tranh chấp nội bộ nào. Điều mà tôi mong muốn là tất cả các con dân Việt Nam ý thức được rằng: Họ là một quốc gia và ý thức ấy sẽ thúc đẩy họ dựng lên một nước Việt Nam xứng đáng là quốc gia. Tôi tưởng rằng tôi sẽ làm tròn bổn phận của một công dân Việt Nam khi nào mà tôi làm cho những người nông dân Lạng Sơn, Huế, Cà Mau ý thức được tình huynh đệ của họ. Nghĩa hợp quần ấy được thực hiện dưới bất cứ chế độ nào: Cộng sản, xã hội chủ nghĩa, bảo hoàng hay quân chủ. Điều đó không quan trọng. Điều quan trọng là phải cứu dân tộc Việt Nam khỏi cái họa phân chia“.

Suốt đời mình, cha tôi chỉ mong ước duy nhất một điều, đó là được trở về Việt Nam và tìm cách giúp nhân dân Việt Nam thoát khỏi sự thống trị của thực dân Pháp. Năm 1945, Thực dân Pháp đã dự định sử dụng ông như một quân cờ để quay lại tái chiếm Đông Dương. Nhưng sau này, người Pháp nhận ra, sau gần 30 năm lưu đày, cựu hoàng Duy Tân vẫn là người yêu nước, muốn chống Pháp và muốn giành quyền tự quyết cho dân tộc, nên thực dân Pháp đã từ bỏ ý định đưa ông về Việt Nam. Bộ thuộc địa đã phê trong tờ lý lịch cá nhân của cha tôi (được giải mật sau này): “Parait difficile à acheter, extrêmement indépendant…intrigue pour quitter la Réunion et rétablissement trône d’Annam”. (Có vẻ khó mua chuộc, rất độc lập, mưu đồ rời khỏi đảo La Réunion để tái lập ngôi báu ở An Nam). Cũng vì lẽ đó mà cha tôi đã không có cơ hội hồi hương như ước mơ của ông suốt những năm tháng bị lưu đày.

Trong những tháng năm phục vụ cho quân đội Pháp, cha tôi vẫn hết lòng quan tâm, lo lắng cho anh em chúng tôi. Ông thường xuyên gửi thư về, dặn dò anh em chúng tôi đủ điều. Trong một bức thư viết cho anh Yves Claude Vĩnh San vào ngày 17-11-1945, ông nói: “Con đừng đi học mà đem về những điểm số yếu kém vì đối với người cha già đang yêu quý con đây thì cái cách duy nhất mà con cần bày tỏ là học cho thật giỏi và ăn ở tốt. Không có ngày nào mà cha không nghĩ đến con. Con nên biết rằng, giờ đây, con là con trai của một vị chỉ huy quân đội Pháp. Con nên sống xứng đáng với tình cảm mà cha mẹ đã dành cho con. Lần sau cha sẽ viết thư dài cho con. Trìu mến hôn con. Dede“.

Ngày 24-12-1945, cha tôi lên chiếc phi cơ Lockheed C-60 của Pháp cất cánh từ sân bay Bourget, Paris để trở về La Réunion thăm gia đình trước khi thi hành sứ mạng mới ở Việt Nam. Nhưng trên đường về, chiếc máy bay đã gặp một tai nạn rất khó hiểu, rớt gần làng Bassako, thuộc phân khu M’Baiki, Cộng hòa Trung Phi khiến ông cùng 5 người có mặt trên chuyến bay tử nạn.

Theo nhiều người, đây có thể là một vụ mưu sát. Bởi việc cha tôi trở lại Việt Nam sẽ gây khó khăn cho Anh trong việc trao trả các thuộc địa. Cũng trong bài “Số phận bi thảm của một hoàng đế An Nam: Vĩnh San – Duy Tân”, E.P Thébault viết: “Ngày 17-12-1945, mười hôm trước khi tử nạn, Duy Tân có linh cảm tính mạng ông bị đe dọa. Khi cả hai đi ngang, lần chót, vườn Tuileries, cựu hoàng nắm tay Thébault nói: “Anh bạn già Thébault của tôi ơi! Có cái gì báo với tôi rằng tôi sẽ không trị vì. Anh biết không, nước Anh chống lại việc tôi trở về Việt Nam. Họ đề nghị tặng tôi 30 triệu quan nếu tôi bỏ ý định ấy“.

Mãi đến ngày 28-3-1987, hài cốt của cha tôi mới được gia đình đưa từ M’Baiki, Trung Phi về Paris làm lễ cầu siêu tại Viện quốc tế Phật học Vincennes và sau đó đưa về an táng trọng thể tại An Lăng, Huế, cạnh nơi an nghỉ của vua cha Thành Thái, chấm dứt hành trình lưu đày 70 năm ở xứ người của một ông vua yêu nước thất cơ lỡ vận. Lúc đưa hài cốt cha tôi về Huế, Nhà nước rất nhiệt tình giúp đỡ và nhiều vị quan chức cao cấp đã đến nghiêng mình, thắp nhang trước bàn thờ cha tôi. Từ bấy, anh em chúng tôi thường xuyên về Việt Nam để thăm phần mộ vua cha.

This image has an empty alt attribute; its file name is duy-tan-2.png

Vua Duy Tân trong triều phục nhà Nguyễn (Tạp Chí Sông Hương)

Viết về cuộc trở về của cha tôi, nhà thơ Nguyễn Duy đã có những vần thơ giản dị mà thấm thía, da diết:

VIẾNG VUA DUY TÂN

Ước gì về được Sông Hương

Thắp nhang mà lạy nắm xương lưu đày

Thế là đã trở về đây

Một con người ở chân mây cuối trời

Nắm xương lưu lạc xứ người

Tâm hồn thì vẫn ở nơi quê nhà

Ngai vàng vừa cũ vừa xa

Ánh vàng vương miện cũng là hư không

Mặt trời vẫn mọc đằng Đông

Lăng Minh Quân vẫn ở trong lòng người

Bao triều vua phế đi rồi

Người yêu nước chẳng mất ngôi bao giờ…

(Nguyễn Duy)

 Trở lại cái chết thảm khốc của cha tôi trong vụ tai nạn máy bay đầy bí ẩn ngày 26-12-1945 trên bầu trời tỉnh Lobaye, thuộc Trung Phi mà nhiều người nghi ngờ cha tôi bị ám sát. Trước đó, hay tin cha tôi lên máy bay trở về đảo La Réunion để đón Giáng sinh và năm mới cùng gia đình, cả nhà tôi náo nức đến mức suốt đêm không ngủ. Mấy anh chị em chúng tôi nóng lòng gặp cha để đón nhận quà giáng sinh.

Noel năm ấy, mẹ tôi trang hoàng cây thông thật đẹp. Căn nhà sáng trưng bởi nến và những bóng đèn màu. Đêm Noel, cả nhà quây quần chờ cha về nhưng chờ mãi không thấy. Mẹ ra ngó vào trông. Bọn trẻ chúng tôi cũng nhấp nhổm không yên. Hết chạy vào nhà nhìn đồng hồ lại chạy ra đường ngóng cha. Mãi mấy ngày sau, chúng tôi mới nhận được hung tin, máy bay của cha bị nạn và cháy ở Trung Phi. Mẹ tôi khóc ngất lên ngất xuống. Mấy anh em chúng tôi thì ôm chặt lấy nhau gào khóc đến khản giọng. Năm ấy, tôi mới tròn 7 tuổi. Đó là cái Tết Noel sầu thảm nhất trong đời.

Cái chết đột ngột của cha tôi khiến cả gia đình lâm vào cảnh khốn cùng. Bởi từ trước đến nay, cha tôi là người kiếm tiền nuôi cả nhà. Mẹ chỉ lo việc cơm nước, giặt rũ, lau nhà, chăm sóc các con. Nay cha mất chẳng khác chi trụ cột ngôi nhà sụp đổ, cả nhà điêu đứng, tan hoang.

Tôi vẫn nhớ mẹ tôi lúc đó chỉ nhận được khoản trợ cấp 200 phờ-răng. Số tiền này so với thời giá lúc đó quá ít ỏi, chỉ đủ nuôi sống cả nhà được vài ngày. Vì thế, mẹ tôi vuốt nước mắt, tạ tội với linh hồn cha, bắt cả bốn anh chị em chúng tôi phải nghỉ học. Chị Suzi và anh Claude phải đi làm. Anh Georges Vĩnh San đăng lính. Riêng tôi, dù còn nhỏ cũng phải cùng mẹ lao động cực nhọc. Làm việc quần quật suốt ngày đêm mà nghèo vẫn hoàn nghèo. Cái đói vẫn bám riết lấy chúng tôi. Vì thế, năm 1955, mẹ đánh liều, rời bỏ nơi chôn nhau cắt rốn, đưa cả nhà qua Madagascar sinh sống. Mười năm sau, gia đình tôi lại làm một cuộc di cư đến nước Pháp và cùng định cư cho đến ngày nay.

This image has an empty alt attribute; its file name is duy-tan-3.jpg

Phần mộ vua Duy Tân ở Huế (Tuổi Trẻ)

Lúc ở Madagascar, tôi làm nghề rải đường. Thu nhập ổn định nhưng công việc vô cùng cực nhọc. Được cái sức trai trẻ nên tôi làm miết ngày đêm. Tiền kiếm được bao nhiêu, tôi mang về đưa hết cho mẹ. Vì thế, sinh hoạt gia đình cũng khấm khá hơn. Đến khi chuyển về Pháp, tôi xin làm chân lái xe vận tải trong sân bay Charles-de-Gaulle ở Paris. Thu nhập khá cao, túi tiền rủng rỉnh, lại sống một mình nên tôi bắt đầu tìm đến những chỗ ăn chơi. Gần 30 tuổi đời, tôi mới biết đến quầy bar, vũ trường. Tôi giao du rộng, tính tình xởi lởi nên rất đông bạn bè. Ai cũng quý mến tôi, thích đi chơi với tôi.

Chơi bời được vài năm cũng thấy chán. Ở một mình nhiều lúc cũng thấy trống trải, cô đơn. Năm 1970, 32 tuổi, tôi cưới vợ. Vợ tôi là tiến sĩ hóa, công tác ở Trung tâm hạt nhân nguyên tử Pháp. Cô ấy khá xinh đẹp, thông minh nhưng mắc bệnh trầm cảm, rất dễ bị kích động, nổi nóng. Cứ chớm phật ý một tý là cô ấy nổi xung, quát mắng, gào thét, đập phá. Nhiều lần, nhà tôi ngổn ngang như chiến trường sau mỗi lần nổi xung khủng khiếp. Chịu đựng hết nổi, tôi quyết định ly hôn, kết thúc cuộc hôn nhân địa ngục kéo dài suốt 10 năm.

Ngẫm lại, tôi thấy, đời mình thật lạ. Cứ sau mỗi chu kỳ 10 năm lại có một bước ngoặt lớn trong đời. Ví như 10 năm sau ngày cha tôi mất, mẹ tôi quyết định rời bỏ quê cha đất tổ La Réunion đến xứ lạ Madagascar mưu sinh những mong thoát cảnh đói nghèo. Ở đó, bán mặt cho đất bán lưng cho trời đúng 10 năm, mẹ tôi và tôi lại quyết định làm cuộc di cư đến Kinh đô ánh sáng tìm vận may. Và rồi, ở chính thủ đô Paris tráng lệ, hào hoa, cuộc hôn nhân kinh hoàng của tôi kéo dài đúng 10 năm thì kết thúc. Tôi chợt nhớ đến ngày sinh đầy giông gió, bão giật, mưa giông, sấm chớp đùng đoàng, biển động dữ dội của mình, nhớ đến lời tiên tri của vua cha Duy Tân: “Số thằng này sau này vất vả, gian truân lắm đây” mà lòng đầy lo âu nặng trĩu. Biết đến bao giờ đời mình mới hết vất vả, gian truân?

10 năm sống trong căng thẳng, sợ hãi và đau khổ nhưng cuộc chia tay lại diễn ra vô cùng nhẹ nhàng, chóng vánh. Tài sản chúng tôi chia đôi. Thời gian, vật lực chăm sóc hai cậu con trai, chúng tôi cũng chia đôi. Cô ấy chăm sóc, đón đưa hai đứa những ngày đầu tuần. Tôi chịu trách nhiệm chăm sóc hai đứa những ngày cuối tuần.

Và chính những lần đến đón đưa hai cháu ở nhà cô bảo mẫu, tôi đã để ý và phải lòng cô ấy lúc nào không hay. Cô ấy tên là Lebreton Marguerite, kém tôi 3 tuổi, cũng từng đổ vỡ hôn nhân, có 3 con riêng, hai gái, một trai. Cô ấy là người giản dị, hiền lành, phúc hậu, giàu tình thương. Hai đứa con tôi, khi đó, một đứa mới 7 tuổi, một đứa 4 tuổi, được cô ấy chăm sóc, thương yêu như con đẻ. Đã từng đi qua những đổ vỡ nên chúng tôi đến với nhau một cách thận trọng. Sau mấy năm tìm hiểu kỹ lưỡng, thấy rằng đã hiểu sâu sắc về nhau, chúng tôi mới đến tòa thị chính đăng ký kết hôn. Cô ấy là người Pháp nhưng vì hiểu tôi, thương tôi nên đã dành rất nhiều thời gian tìm hiểu về lịch sử Việt, văn hóa Việt. Thấm thoắt đã hơn 40 năm trôi qua. Càng sống, chúng tôi càng hiểu nhau, thương nhau. Hạnh phúc vì thế càng thêm vững bền.

Có điều, tuy sinh ra và lớn lên tại La Réunion, đến làm việc tại Madagascar suốt 10 năm, rồi chuyển sang làm việc ở Pháp cho đến tận lúc nghỉ hưu nhưng trong trái tim tôi, đất nước Việt Nam, quê nhà Việt Nam luôn là 2 tiếng thiêng liêng. Bởi nửa dòng máu Việt vẫn đang chảy trong tôi và tâm hồn Việt vẫn hiển hiện trong tôi, bắt đầu từ những thói quen đời thường, nhất là văn hóa ẩm thực.

Từ bé, quê hương Việt Nam đã rất thân quen với tôi qua những món ăn dân dã của Việt Nam do mẹ nấu. Sau này, trưởng thành, đi nhiều nơi, tôi đều tự nấu cho mình các món ăn Việt. Tôi nấu rất ngon. Và chính tình yêu Việt Nam ấy đã lan truyền sang người bạn đời của tôi. Từ sự ngượng nghịu khi lần đầu tiên cầm đôi đũa, đến nay, không những bà Lebreton Marguerite đã quen với món ăn Việt mà còn có thể nấu khá ngon các món ăn Việt Nam. Bữa ăn thường ngày của chúng tôi đều là các món ăn Việt. Cũng chính từ tình yêu ấy mà bà Lebreton Marguerite đã nguyện cùng tôi trở về sống trọn đời ở Việt Nam.

Nhà báo Hoàng Anh Sướng: Điều gì đã khiến ông quyết định trở về Việt Nam sống trọn đời?

Hoàng tử Vĩnh San Joseph: Chim có tổ, người có tông. Như cây có cội, như sông có nguồn. Năm 1987, sau khi đưa di hài của cha tôi, vua Duy Tân về an táng trọng thể tại An Lăng, Huế, chấm dứt hành trình lưu đày 70 năm ở xứ người của một ông vua yêu nước thất cơ lỡ vận, tôi về Việt Nam thường xuyên hơn.

Những chuyến về Việt Nam ban đầu mang ý nghĩa hành hương bái yết tổ tiên, ra mắt bà con dòng họ, dần dà đã trở thành thông lệ thường xuyên, thành thói quen, thành niềm vui lẽ sống của tôi, một người con sống xa quê hương. Tôi đã nhiều lần trở về Việt Nam để tìm lại gia phả, gốc gác, cội nguồn. Từ trong sâu thẳm, tôi luôn nghĩ mình là một người con của quê cha đất tổ tìm về cội nguồn vì cha tôi là một người Việt Nam yêu nước. Năm 2005, sau khi nghỉ hưu, vợ chồng tôi đã quyết định ở lại Việt Nam để an dưỡng tuổi già. Và thành phố biển Nha Trang xinh đẹp là nơi mà chúng tôi dự định gắn bó đến cuối đời.

This image has an empty alt attribute; its file name is duy-tan-4.jpg

 An Lăng – lăng mộ của các vua Dục Đức, Thành Thái, Duy Tân

(Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế)

Nhà báo Hoàng Anh Sướng: Tại sao ông lại chọn thành phố Nha Trang?

Hoàng tử Vĩnh San Joseph: Tôi thấy cuộc sống ở Nha Trang rất dễ chịu, thoải mái. Phong cảnh nơi đây thật hữu tình. Khí hậu điều hòa, không ẩm ướt hay quá nhiều mưa, môi trường trong lành, con người tốt bụng, hiền lành, mộc mạc. Hồi mới về đây, vợ chồng tôi thuê một căn hộ trong một con hẻm nhỏ trên đường Lê Hồng Phong, rồi chuyển đến đường Bắc Sơn ở khu vực Hòn Chồng, và nay là trên đường Nguyễn Phong Sắc, thuộc khu dân cư mới mở phía nam đèo Rù Rì cách trung tâm thành phố 8 km về phía Bắc. Nơi ở mới thật yên tĩnh và trong lành, kín đáo mà lại rất thoáng đãng, tràn ngập nắng gió. Trước cổng nhà, tôi đóng tấm bảng nhỏ trên tường ghi rõ “Mr & Mrs Vĩnh San Joseph”. Ở thành phố này, việc người nước ngoài đến sinh sống đã trở nên quá đỗi quen thuộc nên những người hàng xóm rất thân thiện, gặp chúng tôi là chào ông, chào bà. Có điều, họ không hề biết tôi xuất thân từ hoàng tộc.

Nhà báo Hoàng Anh Sướng: Chắc hẳn ông bà rất hài lòng với cuộc sống ở đây?

Hoàng tử Vĩnh San Joseph: Chúng tôi rất hài lòng. Cuộc sống thực sự thư thái và an nhàn nơi phố biển. Hai con trai của tôi giờ đều đã trưởng thành nên bây giờ là lúc chúng tôi tận hưởng cuộc sống. Sáng sớm và chiều tối, chúng tôi tay trong tay, an nhàn tản bộ, ngắm hoàng hôn buông dần trên mặt biển, cảm nhận nhịp sống bình yên, êm ả pha lẫn một chút sôi động của phố biển. Thỉnh thoảng, tôi chở bà ấy đi chơi, đi mua sắm bằng xe máy hay tạt vào một vỉa hè nào đấy ăn uống đúng kiểu bình dân. Nếu không, hai vợ chồng ở nhà đọc sách, xem ti vi hoặc cùng lên mạng internet xem báo, viết thư điện tử.

Nhà báo Hoàng Anh Sướng: Bà Lebreton Marguerite tự đi chợ hằng ngày sao?

Hoàng tử Vĩnh San Joseph: Ồ không! Bà ấy chỉ thỉnh thoảng thôi. Tôi mới thường xuyên. Vì bà ấy vẫn chưa quen cách tính tiền Việt, đi chợ cứ nhầm lẫn. Vả lại ngôn ngữ ta phong phú quá. Ví dụ món hàng giá 25.000 đồng thì chỗ này nói hai nhăm, chỗ kia nói hai mươi lăm, chẳng biết đường nào mà lần. Bà nhà tôi nấu ăn rất ngon, nhất là các món Việt.

Nhà báo Hoàng Anh Sướng: Sau hơn 40 năm chung sống, tôi vẫn thấy tình yêu thương ông bà dành cho nhau thật nồng ấm. Mỗi khi nhắc đến ông, bà Lebreton Marguerite thường nói: “Je suis très fier”. (Tôi rất tự hào). Bà không ngừng lặp lại điều đó và niềm hạnh phúc vẫn còn ngời ngời trong ánh mắt mỗi khi hướng về phía ông. Ông có bí quyết gì để giữ gìn, nuôi dưỡng hạnh phúc?

Hoàng tử Vĩnh San Joseph: Tôi thật may mắn khi lấy được một người vợ hiểu mình, thương mình hết mực. Anh có tin không? Suốt hơn 40 năm qua, sáng nào bà ấy cũng đích tay pha cà phê, nấu đồ ăn sáng rồi bưng vào tận giường cho tôi. Bà ấy làm một cách tự nguyện và hạnh phúc. Anh hỏi tôi có bí quyết gì ư? Không. Tôi chẳng có bí quyết gì ghê gớm. Tôi nghĩ, điều quan trọng nhất để duy trì hạnh phúc là hai người phải hiểu nhau để rồi cảm thông, độ lượng, bao dung trước những thói hư, tật xấu của nhau. Nếu không hiểu nhau, cảm thông cho nhau, không thể yêu thương nhau dài lâu được. Vì trong mỗi chúng ta, ai chẳng có điều hay, điều dở. Nếu không hiểu nhau, chấp nhận những cái hay cái dở của nhau thì cuộc sống chỉ toàn là hờn giận, trách móc.

This image has an empty alt attribute; its file name is vinh-san.jpg

Hoàng tử Vĩnh San Joseph (Tuổi Trẻ & Đời Sống)

Tôi vẫn thường nói với bà ấy là tình yêu cũng giống như cái cây, cần phải chăm sóc, tưới mát nó hàng ngày. Nguồn nước tưới tẩm tốt nhất đó chính là sự quan tâm, săn sóc, là ái ngữ, là những lời nói yêu thương. Hơn 40 năm chung sống với nhau, điều đầu tiên vợ chồng tôi làm mỗi sáng thức dậy là trao nhau một nụ hôn và lời nói: “Anh yêu em”. “Em yêu anh”. Có những chiều ngồi ôm nhau trên bờ cát trắng ngắm hoàng hôn, tôi nhìn sâu vào mắt bà ấy rồi bảo: “Em thấy không. Cảnh sắc nơi đây đẹp như chốn thiên đường. Và thiên đường ấy chỉ có mỗi hai ta, anh và em. Cảm ơn cuộc đời đã sinh ra em. Cảm ơn thượng đế đã mang em đến cho anh”. Tôi thấy, nhiều khi, những lời nói yêu thương trân thành ấy lại khiến cho bà ấy xúc động nhất, hạnh phúc nhất, hơn bất cứ món quà vật chất nào. Nó nuôi dưỡng tình yêu của chúng tôi nhiều lắm. Cho nên, theo tôi, muốn có hạnh phúc xin đừng tiết kiệm lời nói yêu thương.

Nhà báo Hoàng Anh Sướng: Sống với nhau hơn 40 năm, ông bà có giận dỗi nhau bao giờ không?

Hoàng tử Vĩnh San Joseph: Có chứ. Đến cái bát cái đũa đặt cạnh nhau còn có lúc va chạm, sứt mẻ nữa là. Điều quan trọng là phải nhận ra lỗi lầm của mình và bày tỏ lời xin lỗi với đối phương.

Nhà báo Hoàng Anh Sướng: Xác định gắn bó đến cuối đời ở Nha Trang, sao ông bà không mua nhà mà phải đi thuê mãi như thế này?

Hoàng tử Vĩnh San Joseph: Đồng lương hưu của một công chức chỉ đủ giúp cho chúng tôi thuê một căn nhà nhỏ và sống bình dị thế này thôi.

Nhà báo Hoàng Anh Sướng: Ông có bao giờ buồn vì mình là dòng dõi hoàng tộc mà cuộc sống lại giản dị, khiêm nhường thế này không?

Hoàng tử Vĩnh San Joseph: Không! Không bao giờ! Hồi nhỏ, khi còn sống ở đảo La Réunion, bọn học cùng lớp thấy tôi nghèo đói, rách rưới đã hỏi: “Ê! Sao mày là hoàng tử, con ông vua Tàu mà lại nghèo thế?”. Tôi cười bảo: “Thì tao sinh ra đã thế. Biết làm sao?”. Sau này, lớn lên, lúc làm ở sân bay Charles-de-Gaulle, tiền kiếm rủng rỉnh, tôi lao vào ăn chơi. Bạn bè đông không biết bao nhiêu mà kể. Ai cũng muốn chơi với tôi, kết thân với tôi. Nhưng sau này, khi có gia đình, không còn nhiều tiền mời bạn bè ăn chơi nữa, họ xa lánh tôi. Bẵng đi một thời gian, chẳng còn thấy mặt mũi ai nữa. Khi ấy, tôi chợt hiểu, vì sao các cụ ngày xưa lại gọi đồng tiền là tiền bạc. Tiền quan trọng thật đấy nhưng nhiều khi nó cũng bạc lắm. Nhiều khi nó khiến mắt ta nhòe mờ, không nhìn rõ được chân tướng của sự việc, sự vật.

Tôi thấy nhiều người không dư dả về tiền bạc, ra ngoài cứ rúm ró, tự ti. Tôi thì không. Với tôi, hạnh phúc nằm chính trong sự giản đơn. Càng đơn giản bao nhiêu, càng dễ có nhiều hạnh phúc bấy nhiêu. Hạnh phúc không nằm trong tiền bạc. Hạnh phúc nằm ở trong tâm. Tâm mình an, tâm mình lạc thì khi ấy, mình đích thực là người có hạnh phúc.

Nhà báo Hoàng Anh Sướng: Ông có điều gì tiếc nuối không?

Hoàng tử Vĩnh San Joseph: Chúng tôi đã già rồi nên chẳng mong muốn gì cho riêng mình. Điều tiếc nuối duy nhất là tôi không biết tiếng Việt. Nếu biết tiếng Việt, tôi đã có thể dạy tiếng Pháp cho trẻ em nghèo ở Nha Trang. Sống ở đây một thời gian, tôi cứ giật mình tự hỏi: vì sao ngày càng có nhiều bạn trẻ thờ ơ với lịch sử nước nhà đến vậy. Nguy hiểm quá.

Tôi luôn nghĩ mình là một người con của quê cha đất tổ tìm về cội nguồn vì cha tôi là một người Việt Nam yêu nước. Từ tận đáy lòng, tôi mong được mọi người nhìn nhận như một người Việt hơn là một Việt kiều. Năm 1988, trong chuyến viếng thăm quê chồng, mẹ tôi – bà Fernande Antier – đã ước ao sớm khôi phục lại những con đường mang tên Duy Tân ở Việt Nam. Tạ thế vào năm 2005, có lẽ giờ này ở suối vàng mẹ tôi cũng mãn nguyện phần nào khi đã xuất hiện những con đường mang tên ông ở một số địa phương.

(Sưu tầm)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Vua Duy Tân Trên Đất Khách

Nước Mắt Giữa Trùng Dương

NƯỚC MẮT GIỮA TRÙNG DƯƠNG

 (Viết theo lời kể của một thuyền nhân, tên nhân vật đã được thay đổi)

This image has an empty alt attribute; its file name is boat_people.jpg

          Trong cuộc đời của một con người, hẳn ai cũng có những lần gặp nhiều sự việc quan trọng sảy ra trong cuộc sống của mình.  Những sự việc đó đã được khối óc ghi nhận và lưu giữ lại ở một chỗ nào đó trong đầu mà chúng ta gọi là ký ức.  Tuy vậy có những việc, nó chỉ lưu giữ trong ký ức một khoảng thời gian rồi phai mờ dần, nhưng có những điều lại như hằn sâu, như khắc đậm, muốn quên mà không thể quên được. Câu chuyện sau đây trong cuộc đời tôi là một minh chứng cho sự huyền diệu của khối óc: Tôi đã nhớ và đã nhớ cả một đời.

        Tôi là đứa con gái út trong một gia đình đông con, mẹ tôi mất năm tôi 12 tuổi, vì thế bao nhiêu tình thương yêu của Bố và các anh chị đều đổ dồn cho tôi. Tôi được nuông chiều như một cô công chúa, từ nhỏ cho đến khi tốt nghiệp đại học, mọi việc đều do các anh chị tôi lo lắng, sắp xếp cả, chính vì vậy mà khi ra đời, không có kinh nghiệm sống, lại ngu ngơ, không biết cách ứng xử, tôi luôn bị thua thiệt, bị bắt nạt. Nhưng có lẽ ông trời thương hại kẻ khù khờ nên đã cho tôi một khuôn mặt khá xinh xắn, để bù lại những thiếu xót của tôi.Với khuôn mặt xinh xắn này, tôi đã luôn nhận được sự giúp đỡ cũng như chiếm được cảm tình của rất nhiều người trong đó có anh. Anh Bằng là sinh viên đại học Bách Khoa năm cuối cùng,  tôi quen anh trong lúc tham gia công tác đổi tiền của nhà nước,  một công việc mà sinh viên phân khoa các đại học bắt buộc phải có mặt, làm việc theo sự phân bổ của chính quyền CS. Chính anh là người đã giúp đỡ và bảo vệ tôi trong suốt thời gian đổi tiền và cũng từ đó chúng tôi quen nhau rồi yêu nhau.

    Yêu nhau một thời gian dài, anh xin với bố tôi cho cưới. Bố không bằng lòng vì nghĩ tôi còn quá trẻ, sau anh nài nỉ mãi và cũng vì thấy chúng tôi quá thương nhau, bố động lòng, nhưng chỉ bằng lòng cho làm đám hỏi, còn cưới thì phải chờ tôi trưởng thành hơn nữa  .

      Đám hỏi chưa kịp làm, đột nhiên anh biệt tăm cả tháng trời, không thấy đến tìm tôi. Lo lắng, tôi đến gia đình anh để hỏi thăm thì được biết anh và anh trai ra miền Trung thăm bà nội bị bệnh. Ba ngày sau anh đến nhà tôi với cái đầu trọc lóc, anh kể:

        _ Anh vừa mới được thả về, anh nhấc mũ ra, đưa tay xoa xoa cái đầu, em biết tại sao rồi chứ?

       _ Làm sao em biết được? Tôi trố mắt lên nhìn anh, bộ anh bị bắt hả, mà làm gì bị bắt thế?

     Anh nhéo mũi tôi nói nhỏ: 

        _ Trời ơi, em tôi đúng là một cô bé khờ. Thì anh đi vượt biên bị bắt chớ sao?

         _ Vượt biên? Sao anh đi mà không nói cho em biết? Chuyện quan trọng như vậy mà lại dấu em.

         _ Chính anh còn không biết, mọi việc ba anh sắp xếp hết, giờ cuối cùng, ba gọi anh về để đi cùng anh hai, và đi gấp trong đêm, nên đâu thể nào báo cho em biết được. Chuyến đi thất bại,  tụi anh bị bắt, lúc được thả về,  anh quyết liệt với ba là anh sẽ không đi đâu nếu không có em đi cùng. Ba đã đồng ý. Nói trước cho em biết để chuẩn bị tinh thần, lần sau nhất định có đi thì hai đứa mình cùng đi, bé hết giận anh chưa?

     Cứ tưởng anh nói để dỗ ngọt tôi, ai dè một tháng sau, vào buổi tối ngày 24 tháng 5 năm 1981,  anh đến nhà xin phép bố tôi cho tôi đi vượt biên cùng anh ngay đêm ấy, bố tôi hơi ngỡ ngàng,và có ý không bằng lòng. Bố ngần ngừ và trầm ngâm rất lâu:

          _ Bác biết con rất thương Ngọc, nhưng vượt biên không phải là chuyện chơi, biết bao nhiêu hiểm nguy, bất trắc đang chờ đón, hơn nữa, Ngọc là con gái, các con chưa chính thức là gì với nhau, ra đi như vậy có hợp với lễ giáo hay không?

        Nghe bố nói vậy, Bằng kéo tay tôi, hai đứa cùng quỳ xuống trước mặt bố, giọng anh thiết tha:

          _Thưa bố, chính vì điều này mà con cúi xin bố thành toàn cho chúng con, cho chúng con được thành vợ, thành chồng. Sự cho phép của bố sẽ giá trị hơn bất cứ một lời cam kết nào trong cuộc đời này. Con xin thề với bố, con sẽ thương yêu và đối xử thật tốt với Ngọc, khi qua được bên kia đại dương, con sẽ làm đám cưới với Ngọc đúng theo lễ giáo. Mong bố toại nguyện cho chúng con.

          Ôm lấy đầu gối của bố, tôi tiếp lời của Bằng:

        _ Bố ơi, Bằng nói thật đó, anh ấy rất yêu con, không bỏ con đâu, hơn nữa bố ơi, bố làm việc trong chính quyền cũ, các anh con thì đều bị đi học tập cải tạo, sống trong một gia đình bị gọi là ngụy quân, ngụy quyền, tương lai chúng con sẽ ra sao? Bố để con đi, qua bên đó biết đâu con còn có thể giúp đỡ phần nào cho gia đình mình, giúp các cháu đỡ đói khổ. Nhìn chúng nheo nhóc bố đành lòng sao? Bây giờ có cơ hội, bố cho con theo anh ấy nhe bố, Con xin bố, cho con đi nhe.

       Có lẽ, nhận thấy những lời của chúng tôi nói không sai và cũng cảm động trước sự chân thành tha thiết của hai đứa, bố đã đồng ý và chúc lành cho chúng tôi.

       Ở lại nhà anh một ngày, chiều 25 chúng tôi đón xe đi Bà Rịa để 9 giờ tối hôm đó đón “taxi” ra “tàu” lớn. Tiếng là tàu nhưng thực sự đó chỉ là một con thuyền đánh cá không lớn lắm mà tôi từng được trông thấy khi ra Vũng Tàu chơi thời còn dưới chế đ VNCH

    Khi tàu ra xa, đã vào được vùng an toàn thì mọi người mới phát giác ra sự lừa đảo của bọn chủ tàu, chúng không hề mua nước cũng như đồ ăn để dự trữ cho chuyến đi của 66 người.  Khi bị chất vấn, chúng đổ thừa tại bến bị động nên không thể chuyển lương thực được. Một số người không nhịn được sự tức giận đã nhẩy lên đòi đánh tên này, nhưng cuối cùng, vì sự đã rồi và cũng vì nhóm người của chủ tàu quá đông, nên mọi người đành phải ngậm bồ hòn làm ngọt. Nhóm chúng có phòng hờ đem theo đồ ăn nhưng cũng không nhiều, một chút gạo và khoai lang, chỉ đủ cho chúng dùng trong vài ngày thế thôi. Từ đó ai có chút đồ ăn đều phải giữ kỹ để phòng thân.

       Riêng vợ chồng tôi (chúng tôi xưng vợ chồng để tránh những rắc rối sẽ sảy ra) còn sui xẻo hơn, ngoài bọc đồ ăn nho nhỏ và một số thuốc phòng thân chồng tôi buộc ở trên vai, lúc ra taxi, hỗn độn, chen lấn đã bị ai đó giựt mất, anh Bằng lại đạp phải cái gai dừa trên bãi biển, lên đến tàu anh mới thấy đau. Nếu ngay khi mới đạp phải gai, lấy ra ngay thì còn được, nhưng vì lo chạy đi ra taxi để không bị bỏ lại, nên cái gai càng ngày càng đâm sâu vào chân hơn, không có cách nào lấy ra nữa. Mấy hôm sau chỗ bị gai đâm bị xưng tấy lên, mưng mủ, nó đã bị nhiễm trùng. Chồng tôi đã bắt đầu bị sốt. Mới đầu chỉ hơi nóng nhẹ, anh còn chịu đựng được, vẫn còn có thể hứng nước mưa cho hai đứa uống, nhưng vì nhịn đói và khát cả hơn một tuần lễ, cơ thể không có sức đề kháng, cơn sốt càng ngày càng tăng và kéo dài hơn. Gói bánh nhỏ tôi lấy vội trước khi đi còn xót trong túi áo lạnh, đã cho anh ăn dần, cầm cự được vài ngày rồi cũng hết. Sau đó, tôi có hỏi xin thuốc và đồ ăn cho anh nhưng không ai cho, họ còn phải thủ cho mình vì ai cũng tưởng chỉ một hai ngày thì sẽ gặp được tầu vớt, nên thực phẩm mang theo rất hạn chế, không ai muốn bị chết đói cả. Đồ ăn mang theo hầu như đã gần hết, lần đầu  tàu chúng tôi có gặp khoảng 40 chiếc tàu, có những chiếc bỏ đi luôn, có những chiếc dừng lại nhưng không chịu vớt mà chỉ chấp nhận tiếp tế lương thực thôi, nhưng vì tàu của chúng tôi quá bé, không thể lại gần vì sợ bị lật tàu, nên đành đau đớn nhìn tàu lớn bỏ đi mà không nhận được gì. Tất cả chúng tôi trên con tàu này đều đã phải nhịn đói và hứng nước mưa uống để sống xót.

      Ngay mấy ngày đầu, khi tàu vừa ra tới hải phận quốc tế, thì vợ tên chủ tàu ngồi phía trên gần cái máy, không biết loay hoay thế nào mà đạp vào cái cần điều khiển,  thế là máy tắt luôn. Tên tài công không biết cách sửa để máy chạy lại vì chính hắn chỉ là tên tài công dỏm, nhận bừa để được cho đi thôi chứ có biết tí gì về máy móc đâu, vì vậy con tàu cứ lênh đênh trôi trên biển cả mặc sóng cuốn về đâu thì hay đó. Sinh mạng 66 con người giờ phó mặc cho trùng dương chỉ vì lời nói dối của một kẻ bất tài.

     Con thuyền không được điều khiển, cứ trôi không biết đâu là bến bờ, khi thủy triều xuống, thuyền mắc cạn vào một hòn đảo san hô nào đó, chỉ thoát ra được khi thủy triều lên sóng đánh, kéo tàu ra xa. Một niềm hy vọng cho mọi người là tại những đảo san hô này, trứng chim biển rất nhiều, thấy vậy, có mấy thanh niên nhảy xuống, bơi vào đảo hy vọng sẽ lấy được trứng thì sẽ không còn bị đói nữa, nhưng bất hạnh thay, đá trên đảo san hô  lại rất nhọn, sắc cạnh và trơn trượt, trứng không lấy được mà còn bị té đập đầu vào đá sắc mà chết, trong số người chết có anh Tư là người dẫn chúng tôi ra tàu.

      Con tàu lại lênh đênh trên biển như chiếc lá giữa dòng, và người chết vì đói đã bắt đầu có. Trước hết là những em bé, các em mới đầu còn khóc vì đói, sau đó cứ lịm dần và ra đi trong lòng mẹ. Tiếng khóc thương con thảm thiết vang lên như át cả tiếng sóng vỗ của đại dương. Sau đó là một vài người lớn, cơ thể yếu đuối, không chịu được cơn đói và lại thêm bị sóng nhồi, nên đã ra đi, xác bị thả trôi trên biển.

       Lúc này chồng tôi khi tỉnh, khi mê. Đang là một thanh niên khỏe mạnh, cường tráng, nhưng vì nhịn đói nhiều ngày, lại thêm vết thương ở chân bị nhiễm trùng, không có thuốc chữa, khiến anh lên cơn sốt, vì thế sức khỏe anh càng ngày càng suy kiệt. Đã mười mấy ngày rồi, cơn sốt vẫn không thuyên giảm,  tôi bất lực chỉ biết ôm anh trong lòng mà khóc, nhiều khi nước mắt không còn để mà chảy ra nữa. Ôm anh trong tay, lúc nào lòng tôi cũng nơm nớp lo sợ anh sẽ bỏ tôi mà đi như những người kia. Một vài người thấy tình cảnh của vợ chồng tôi, họ cũng thương nhưng cũng không thể làm được gì cho chúng tôi, họ chỉ có thể hứng dùm chút nước mưa để cho tôi thấm vào đôi môi khô và tím lịm của anh thế thôi. Ngồi trong lòng tôi, đầu anh tựa vào vai vợ, mắt nhắm nghiền, hơi thở nóng hổi, mặt ửng đỏ, lâu lâu anh lại rên khe khẽ. Tôi biết anh đau lắm, mệt lắm, mà không thể giúp gì được cho anh, nghiêng mặt qua, hôn lên vầng trán nóng bỏng của chồng, nước mắt của tôi rỏ trên má anh, anh thều thào:

       _ Anh yêu em, đừng khóc Ngọc ơi, con tàu này bị ếm rồi, khó qua lắm. Anh hé cặp mắt lờ đờ nhìn tôi, rồi lại nhắm lại, anh xin lỗi em, đừng khóc nữa, anh muốn được nghe em hát,  hát lên đi em, hát cho anh nghe…

     Tôi có linh tính đây là lần cuối anh nói với tôi. Để môi mình trên trán anh, tôi xiết người anh trong vòng tay tôi chặt hơn và tôi bắt đầu hát nho nhỏ:

      _  …ngủ đi anh, ngủ đi anh. Ngủ đi, mộng vẫn bình thường, à ơi, sẵn tiếng thùy dương đôi bờ, cây dài bóng xế ngẩn ngơ, hồn em đã chín, mấy mùa buồn đau. Tay em, anh hãy tựa đầu, cho em nghe nặng trái sầu rụng rơi. Ngủ đi anh… ngủ đi anh…Bằng ơi

      Tiếng hát của tôi hòa lẫn trong tiếng sóng rì rào của đại dương bát ngát, mặc những cơn nức nở  làm nghẹn lời, tôi vẫn cứ hát, cứ miên man hát cho chồng tôi nghe lần cuối trong đời và nước mắt tôi vẫn cứ chảy, chảy ràn rụa trên khuôn mặt tái dần, tái dần của anh. Tôi cứ hát trong nước mắt mà không cảm thấy người anh như đang nhẹ hẳn đi, bàn tay anh đặt trên bàn tay tôi đã lơi ra và rơi xuống sàn tàu. Bất chợt tôi nắm lấy bàn tay anh, sao tay anh lại lạnh như thế này Anh đã đi, anh đã ra  đi rồi sao, anh đã bỏ tôi thật rồi sao. Tôi hốt hoảng lay lay anh thật mạnh, anh Bằng ơi, anh Bằng ơi… Anh vẫn bất động, tôi ôm lấy đầu anh, hôn lên khuôn mặt giá lạnh của anh trong tiếng khóc ngất.

      Tiếng khóc của tôi làm người ngồi bên cạnh chú ý, anh là người luôn giúp đỡ chúng tôi, chắc anh cũng đoán trước được sự ra đi của chồng tôi nên khi nghe tôi khóc lớn, anh liền sờ vào mũi Bằng và bảo:

        _ Cậu ấy đi rồi, cô không nên ôm như vậy, cái lạnh cơ thể của cậu ẩy sẽ không tốt cho sức khỏe của cô đâu và tập tục ở miền biển, chúng tôi phải thủy táng cậu ấy như những người trước.

      Lúc này tôi không còn nghe thấy gì hết, chỉ biết ôm chặt thể xác anh trong tay và khóc. Tôi cứ ôm chặt lấy anh, không cho người ta lấy anh ra. Tôi biết nếu tôi buông anh, tôi sẽ mất anh vĩnh viễn kể cả về nghĩa bóng lẫn nghĩa đen.  Rồi sau cùng mọi người phải dùng sức kéo tay tôi để lấy anh ra mang thả xuống biển vì, theo tập tục của dân đi biển, thì khi một người đã chết thì phải làm lễ thủy táng trước khi mặt trời lặn. Qua làn nước mắt, nhìn thân xác của anh nằm xấp mặt trên sóng nước bồng bềnh, trái tim tôi thắt lại, buốt nhói, tôi nhào ra cạnh thuyền hai tay với với về phía anh một cách tuyệt vọng, giọng tôi khản đặc:

       _ Anh ơi, Bằng ơi, đừng bỏ em, đừng trôi đi, đừng trôi đi mà, em xin anh đấy, Bằng ơi, em xin anh mà, đừng trôi anh ơi!!!

      Mặc cho tôi kêu khóc, xác anh trôi về cuối thuyền. Tôi cố len qua mọi người để bò về cuối tàu, thì anh lại trôi về đầu tàu, tôi vừa khóc, vừa bò ngược lại, mọi người lại tránh chỗ cho tôi. Thấy tình cảnh đáng thương của tôi, không nhịn được, một số người ôm tôi lại và khấn to:

        _ Cậu Bằng ơi, cậu sống khôn thác thiêng thì trôi xa đi, đừng làm khổ vợ nữa.

    Và kỳ lạ thay, sau lời khấn ấy, xác anh không trôi quanh tàu nữa mà trôi ra xa rất nhanh, càng ngày càng xa tàu đến khi mất hút. Tôi chới với nhìn theo, lồng ngực chợt như bị bóp lại, như muốn vỡ toang ra, tôi cố gào lên, cố kêu tên chồng tôi, nhưng không được, tiếng kêu như bị tắc nghẹn trong cổ họng, không thở được nữa và tôi ngất đi. Không biết thời gian bao lâu, khi tỉnh lại,  tôi thấy mình đang được một bác gái, nhỏ vào miệng vài giọt nước mưa đựng trong một cái nắp chai, thấy tôi mở mắt, bác mừng rỡ:

       _ Cô ấy tỉnh lại rồi, vừa nói bác vừa đỡ tôi ngồi dậy, và đút vào miệng tôi một miếng đường thẻ nhỏ xíu, con ăn chút đường cho lại sức.

    Tôi ngậm miếng đường, cám ơn bác. Bỗng như sực nhớ điều gì, tôi bật ngồi thẳng dậy, mắt dáo dác nhìn quanh, miệng lẩm bẩm: 

        _ Anh Bằng? Anh đâu rồi, chồng tôi đâu rồi?

   Vừa nói, tôi vừa tính bò ra mạn tàu, nhưng cánh tay tôi đã bị một bàn tay giữ lại kèm theo là một giọng nói đàn ông:

       _ Cậu ấy đã mất, chúng tôi cũng đã thủy táng cho cậu ấy rồi, trời tối thế này, cô không thể nhìn thấy cậu ấy nữa đâu. Nghe lời tôi đi, cố gắng mà sống để còn có người báo tin cho người nhà biết chứ, chết hết rồi thì làm sao.

     Quay nhìn người ngăn tôi lại, tôi lí nhí nói trong giòng nước mắt:

        _Cám ơn anh, tôi hiểu.

     Và kể từ đây, không còn người để nương tựa, tôi phải tự mình bảo vệ lấy mình. Tôi lùi vào một bên mạn tàu, ngồi bó hai gối lại, nước mắt lại trào ra, tôi nghĩ về Bằng. Tôi yêu Bằng nhận làm vợ anh và nghĩ hai đứa sẽ hạnh phúc bên nhau trọn đời. Bây giờ, bao nhiêu dự tính tốt đẹp về tương lai đã bị sụp đổ hoàn toàn, trước mắt tôi là một khoảng tối đen, mù mịt. Ai ngờ, cuộc đời tôi lại bất hạnh như thế này đây, cứ tưởng mình sẽ là cứu cánh của gia đình, thế mà, ngay đến bản thân mình không biết sẽ ra sao nói gì đến lo cho ai được.  Bằng đã bỏ tôi bơ vơ trong một hoàn cảnh éo le, ngặt nghèo. Tôi sẽ không bao giờ quên Bằng cả, tôi yêu anh, yêu anh thật nhiều, Bằng ơi, em nhớ anh quá, em mãi mãi muốn được ôm anh trong vòng tay nhỏ bé của mình, muốn được hát cho anh nghe, muốn được có anh bên em suốt đời, nhưng làm sao khi định mệnh đã ngăn cách chúng mình để giờ đây, một mình em bất lực ngồi đây mà nhớ anh, mà thương anh. Bằng ơi, em xin khấn nguyện Phật Trời cho linh hồn anh mau được siêu thoát về nơi cõi an bình nhe anh. Tôi ngồi trong bóng tối và thì thầm cầu nguyện cho anh:

      _ Nam Mô, Đại Từ Đại Bi, Tầm Thinh ,Cứu Khổ Cứu Nạn, Quảng Đại Linh Cảm Bạch Y, Quan Thế Âm Bồ Tát

      Câu chú này là do chị Cả của tôi dạy, chị bảo tôi khi nào gặp nguy hiểm hãy đọc chú này thì sẽ được cứu. Từ đây cho đến suốt cuộc đời, tôi sẽ luôn niệm chú này và tôi cũng đã thoát qua nhiều hiểm nguy nhờ đọc chú Quan Thế Âm. Chỉ cần một câu thôi.

        Từ ngày tàu ra khơi tính tới hôm nay là đúng 19 ngày và chồng tôi mất đúng vào ngày thứ 19. 19 ngày lênh đênh trên biển cả, những chiếc tàu lớn chúng tôi gặp đều không chịu vớt, ngay cả sau khi chồng tôi qua đời, và những ngày sau đó cũng vậy. Với tình trạng không có nước, không có thực phẩm như thế này, không biết mọi người có còn thể cầm cự được bao lâu nữa đây, nhất là mấy đứa nhỏ. Tên chủ tàu này quả thật là đồ khốn nạn và bỉ ổi. Đói còn có thể chịu đựng được một thời gian ngắn nhưng với cơn khát thì làm sao mà kéo dài sự sống được. Thời gian dần trôi qua, ngày rồi đêm, số người bị bệnh, bị mất sức, bị chết vì đói ăn, vì khát nước càng ngày càng nhiều. Mới đầu tiếng khóc tiễn người thân ra đi còn vang vọng trên biển cả, nhưng dần dần, cả người còn sống cũng không đú sức để thở, thì còn hơi đâu để khóc cho người ra đi.

     Trong đời sống của chúng ta, chắc hẳn không ít người đã gặp phải những chuyện lạ lùng, đôi khi huyền bí mà không thể giải thích, nhất là khi chuyện xảy ra liên quan đến những người đã khuất. Mọi người đều bảo đó là những chuyện thuộc về tâm linh, mà đã là vấn đề tâm linh thì không thể cắt nghĩa được. Truyện tâm linh tưởng như khó có thể gặp, nhưng những sự kiện này đã đặc biệt lại xuất hiện nhiều lần xuyên suốt trong chuyến vượt biên trên con tàu chở chúng tôi.

       Chồng mất, tôi bơ vơ không người che chở, bị bọn chủ tàu bắt nạt, chửi mắng tôi, vì chúng nghĩ tôi là dân “canh me”.  Tôi đã hết lời giải thích là tôi đi với chồng, không thể nào tôi là người đi lậu được, hơn nữa anh Tư, người chết trên đảo san hô, là người đưa chúng tôi xuống thuyền biết rõ mà. Chúng nhất định không tin vì cả hai người chứng của tôi  đều đã không còn, thậm chí  chúng còn xông đến đòi ném tôi xuống biển. Mặc cho tôi khóc lóc van xin thế nào, không một ai chung quanh tôi lên tiếng bênh vực cho tôi cả. Họ phải tự giữ lấy thân, không muốn vì kẻ khác mà rước họa vào người. Giữa lúc tuyệt vọng nhất, khi đã nắm chắc cái chết trong tay, tôi chợt nhớ đên Mẹ Quan Thế Âm và niệm khẽ: “Nam mô…”. tiếng nam mô còn chưa dứt trên môi, thì mọi người đều giật mình vì một tiếng đàn ông hét lớn vang lên từ đầu thuyền:

        _Dừng lại.

     Tất cả chúng tôi đều quay nhìn về nơi có tiếng quát phát ra, vợ của người tài công đang đứng đó, mắt bà long lên xòng xọc, tay chỉ thẳng vào bọn chủ tàu:

        _ Đứa nào đụng vào con bé đừng trách tao, tao là người đưa nó lên tàu, nghe rõ chưa.

     Nói xong bà khuỵu người nằm xuống mắt nhắm lại như đang ngủ. Cái ngạc nhiên và sợ hãi của mọi người là tiếng nói phát ra từ miệng bà là tiếng của một người đàn ông, tiếng của anh Tư, đúng là tiếng của anh, không ai là không biết.  Người tài công cũng sợ, anh ta không dám lại đỡ vợ. Một lúc sau bà ngồi dậy, và ngạc nhiên khi thấy mình nằm ở đầu tàu, bà hỏi chồng lúc đó đang nhìn bà mà sự sợ hãi vẫn chưa tan đi trên khuôn mặt của hắn:

      _Sao tôi ngủ ở đây vậy ?

     _ Phải là…là…bà không vậy? Sao lúc nãy tiếng nói của bà …khác, giống tiếng của …

     _ Ông có điên không vậy. Không là tôi thì là ai.

Biết chắc là vợ mình, người tài công kể cho bà nghe mọi việc, bà có vẻ như không sợ mà chỉ nói:

     _ Lúc nãy ngủ, tôi có mơ thấy anh Tư, anh nói sắp có bão lớn, mọi người nên cầu Trời, khấn Phật cho qua tai nạn đi.

     Tuy bán tín, bán nghi, nhưng bọn chủ thuyền cũng không làm gì đến tôi nữa vì chúng còn đang bàng hoàng về sự việc vợ tài công nói giọng của anh Tư.

      Đúng như lời vợ tài công nói, gió bắt đầu nổi lên, mây đen kéo đến, rồi mưa đổ xuống như trút nước. Những ngọn sóng lớn dần và đập mạnh vào thành tàu, con tàu nhỏ bé, chao qua, chao lại như chiếc lá trong cơn cuồng phong. Tiếng la hét,  tiếng cầu kinh vang lên giữa cơn giông bão. Run sợ ngồi trong góc tàu, tôi nghĩ với những ngọn sóng mạnh như thế này chả mấy chốc, con tàu nhỏ bé mong manh này sẽ vỡ ra từng mảnh, rồi sẽ bị sóng cuốn trôi, rồi sẽ bị sóng nhấn chìm tất cả, đem những sinh mạng trên con tàu này xuống lòng đại dương thôi. Sự sợ hãi này chồng lên sự sợ hãi cũ làm đầu óc tôi như mê đi. Tôi lẩm bẩm trong miệng một cách vô thức câu niệm chú Quan Thế Âm, trong khi đầu óc lại nhớ đến bố tôi, đến các anh chị em, các cháu, các người thân. Nước mắt cứ trào ra, trào ra mãi trong tiếng “ Nam mô……” đột nhiên con tầu hơi chao nghiêng, rồi như bị nâng cao lên, và vùn vụt lướt trên mặt biển, dần xa vùng bão tố. Mọi người hoang mang nhìn nhau, không biết chuyện gì đã sảy ra. Mãi cho đến khi cảm thấy con tàu như dừng lại và dập dình như cũ, một vài người mới lần ra ngoài xem và hét lên trong niềm vui sướng:” Chúng ta thoát rồi, thoát khỏi cơn bão rồi” Tất cả mọi người đều vội vàng quỳ xuống khấn tạ ơn Trời Phật, tạ ơn Thiên Chúa, Đức Mẹ, Phật Bà, mà không hiểu tại sao tàu lại trôi đi một cách lạ kỳ như có người nâng tàu lên và kéo đi để thoát khỏi cơn nguy biến như một phép lạ vậy. Người đoán thế này, kẻ nói thế khác, họ nhắc lại việc vợ tài công bị anh Tư nhập, tất cả, tựu trung sự huyền bí vẫn mãi chỉ là huyền bí mà thôi, không ai giải thích được và cũng từ đó mọi người tin là tôi có người âm phò trợ nên không ai dám đụng đến tôi nữa.

       Đã hơn một tháng trôi qua, số người chết trong thời điểm này đã hơn một phần ba, con nít thì chết gần hết chỉ còn lại một hai bé thôi, trong đó có một bé gái 10 tuổi tên Dương, em đi với bố và anh trai. Khi bố và anh trai bị thủy táng, em khóc đòi theo họ, tôi đã ôm em lại. Từ đó hai chị em nương tựa vào nhau.

      Con tàu cứ trôi dật dờ như thế, ngày rồi đêm, đêm lại đến ngày, người chết, rồi lại người chết, người còn lại thì sống dở chết dở. Đã vậy, ba ngày nay, tàu lại bị mắc cạn vào sâu trong đảo san hô, thủy triều lên, sóng cũng không kéo nổi tàu ra. Tối nay, có lẽ nỗi sợ hãi nếu tàu không thoát ra khỏi bãi san hô này thì cơ hội sống cũng không có, nên mọi người nổi cơn lên chửi bới nhau, đổ lỗi lẫn cho nhau ầm ĩ. Thấy vậy, sợ bị liên lụy, tôi kéo bé Dương trốn vào một góc tàu, hai chi em thì thầm niệm chú Quan Thế Âm, cầu mong Phật Bà cứu mọi người. (Chú này tôi đã dạy lại cho bé Dương như ngày trước chị tôi đã dạy cho tôi).

       Bên ngoài, giữa lúc mọi người vẫn còn đang chí chóe cãi nhau mãi chưa dứt, thì có tiếng của một người đàn bà lanh lảnh vang lên giữa màn đêm, bà nói nếu mọi người muốn Mẹ Nam Hải cứu thì hãy cầu nguyện với Mẹ, ai có đạo nào thì cầu theo đạo nấy, đừng cãi nhau nữa

       Nghe giọng nói lạ, tôi ló đầu ra, ngay chỗ đầu tàu, lại thấy vơ người tài công ngồi đó, ngay chỗ lần trước khi anh Tư nhập vào bà, bà tiếp tục nói và tự nhận mình là bà Mầu, chủ quán cây xăng Esso ở Ngã tư Phú Nhuận. Bà kể, bà vượt biên cùng con gái, tàu gặp cướp Thái Lan, chúng nó lấy hết tiền bạc rồi giết mọi người quăng xác xuống biển. Bà thấy thuyền này có vài người nhân đức nên muốn cứu dùm, bà còn dặn hãy cầu nguyện đi, Mẹ Nam Hải sẽ giúp.

        Lần này thì mọi người không còn nghi ngờ gì nữa, tất cả quỳ xuống và cầu nguyện xin Đức Mẹ, xin Phật Bà, Mẹ Nam Hải, sáng mai khi thủy triều lên, mong tầu sẽ được cứu thoát ra khỏi vùng san hô này.

       Lại một lần nữa, chúng tôi được cứu thoát nhờ giòng nước thủy triều dâng rất cao và cũng nhờ những lời cầu nguyện của mọi người, sóng đã kéo con tàu bất hạnh của chúng tôi ra khỏi vùng san hô .

        Qua những điều kỳ lạ sảy ra, lần này, mọi người trên tàu đều tin có thần linh ở đâu đây, nên ai nấy không còn chửi bới, cãi cọ nhau nữa, nhưng trong lòng tất cả đều rất lo lắng và sợ hãi khi thấy con tàu cứ lênh đênh trên mặt sóng nước mênh mông, không thấy đâu là bến bờ. Ban đêm, biển trông thật dễ sợ. Vài người chúng tôi bảo nhau ra đầu tàu cầu nguyện, thấy vậy cả tàu quỳ xuống cầu theo. Đang cầu nguyện bỗng bé Dương kêu lên:

        _ Ngôi sao đỏ, chị ơi, có ngôi sao đỏ trên trời kìa.

    Ngẩng nhìn lên, quả nhiên một ngôi sao màu đỏ rực hiện giữa bầu trời đen thẳm. Mọi người lại bàn tán và cho là đấng thiêng liêng hiện ra để cứu mình, thế là tiếng cầu nguyện lại vang lên. Những người quá yếu, không thể ngồi dậy được cũng cố gắng chắp tay lại miệng thì thầm van vái. Cả tàu hầu như không ngủ, chúng tôi cầu nguyện suốt đêm, và tàu cứ trôi không định hướng, theo ngôi sao đỏ trên trời. (Chúng tôi nghĩ thế)

      Bình minh đã ló dạng, mặt biển như rực sáng lên. Một cảnh tượng tuyệt vời hiện trước mắt mọi người, một quả cầu vàng chói lói, nằm giữa những tia rẻ quạt rực rỡ đủ màu, dưới mặt biển đang từ từ nhô lên. Ôi, đẹp vô cùng! Hơn một tháng qua, bao nhiêu lần mặt trời mọc, thế mà có lần nào tôi được xem đâu, vì biết bao nhiêu biến cố đau buồn xảy ra, tôi cứ thu mình dưới hầm tàu mong tránh những tai họa, những phiền phức vô cớ cho mình. Lần này vô tình được nhìn cảnh bình minh trên biển quá đẹp, làm tôi quên mất hoàn cảnh cùng quẫn của mình. Nhưng với bọn chủ tầu,  cảnh sắc đó có lẽ chẳng xa lạ gì, chúng chẳng để tâm, chính vì vậy mà chúng đã phát giác ra gần đó, bóng dáng một chiếc tàu đánh cá của dân chài. Thế là mọi người la hét để kêu gọi họ, những chiếc áo được dùng làm tín hiệu cấp cứu, vẫy vẫy tới tấp. Chiếc tàu kia, có lẽ họ đã thấy, nên chạy về phía chúng tôi. Không nỗi sung sướng nào hơn, như vừa chết đi lại được sống lại, không cần biết chiếc tàu này có phải là của bọn cướp biển như cướp Thái Lan không, chúng tôi cũng vẫn vui mừng, kẻ khóc, người cười,  ai nấy đều quỳ xuống tạ ơn Thiên Chúa, tạ ơn Trời Phật, tạ ơn những người khuất mày, khuất mặt, đã giúp chúng tôi.

       Lần này, thần may mắn đã mỉm cười với chúng tôi, đây là tàu đánh cá của dân chài Philippin, họ bằng lòng giúp đưa chúng tôi về hòn đảo Mangsee nơi họ sinh sống.

     Sau khi đã ngồi yên trên tàu mới. Tôi đưa mắt lên nhìn trời, ngôi sao đỏ đã biến mất từ bao giờ. Không biết có phải ngôi sao đỏ là thiên sứ dẫn đường đưa tàu chúng tôi đến nơi này để gặp được tàu Philippin không, nhưng trong lòng tôi vẫn thầm cám ơn Trời Phật đã không bỏ chúng tôi, bất giác tôi niệm thầm câu chú Quan Thế Âm:

        _ Nam Mô Đại Từ Đại Bi, Tầm Thinh Cứu Khổ Cứu Nạn, Quảng Đại Linh Cảm Bạch Y, Quan Thế Âm Bồ Tát.

       Chúng tôi ở lại Mangsee ba ngày, sau đó được chuyển qua thủ đô Manila bằng tàu chiến của Philippin và cuối cùng là đảo Palawan, tại đây chúng tôi chờ để làm thủ tục đi đến những quốc gia nơi họ chấp nhận người tỵ nạn vượt biên.

        Thế là chuyến hành trình vượt biên bão táp, lênh đênh trên biển của tôi chấm dứt sau gần hai tháng trời. Số người bước chân xuống tàu là 66 và số người được bước lên đất liền chỉ còn 25. Nhìn những con số mà thấy đau lòng chỉ vì sự tham lam và bất lương của lũ vô sỉ, lũ sát nhân mà hại chết nhiều người trong đó có những đứa bé vô tội.

         Chuyện đã qua, nhưng nỗi đau vẫn còn đó. Xin nguyện cầu cho các linh hồn sóm tiêu diêu nơi cõi phúc.

         Có lẽ, chẳng mấy người tin những điểu tôi kể, bởi họ không được chứng kiến tận mắt những gì tôi đã thấy, đã nghe. Vâng, vì họ không thấy được cảnh thi thể của chồng tôi sau khi nghe mọi người khuyên đừng làm tôi khổ và lúc đó anh đã trôi nhanh ra xa như thế nào. Cảnh vợ người tài công đứng lên đầu tàu hét lên với giọng đàn ông, giọng của anh Tư đã chết, mà cứu tôi khỏi bị ném xuống biển. Cảnh chiếc tàu được Cá Ông( chúng tôi tin thế) đưa ra khỏi vùng bão tố. Cảnh bà Mầu nhập vào vợ tài công kể rõ tên tuổi, địa chỉ, cùng hoàn cảnh của mình lúc vượt biên ra sao. Cảnh ngôi sao đỏ ở đâu lại xuất hiện đúng lúc để dẫn đưa tàu chúng tôi đến vùng biển của Philippin mà để được cứu như vậy.Sau này khi ở lại Mangsee ba ngày, chúng tôi đã được anh chủ tàu kể lại và bảo là chúng tôi thật may mắn, vì tàu của anh chưa bao giờ đi vào vùng biển này để đánh cá, vì đây là  vùng biển chết,  vùng biển các anh thường đi không hiểu sao mấy hôm nay đánh không được cá, nên các anh đánh bạo, quyết định chuyển hướng về vùng biển này, và đã gặp được tàu của chúng tôi. Nghe xong câu chuyện tất cả chúng tôi đều nghĩ đến ngôi sao đỏ. Không lẽ lại có những sự trùng hợp quá diệu kỳ như vậy à?

       Như tôi đã nói, những chuyện về tâm linh, hay những chuyện huyền bí, thì muôn đời vẫn không ai giải thich nổi. Tin hay không là tùy từng người, riêng tôi, tôi nghĩ phải có duyên mới có cơ may được gặp những điều huyền bí mà ít người được gặp, vậy đã được thấy, được nghe, được sống trong hoàn cảnh đó tại sao lại không tin nhỉ? Tin để sống cho thật tốt vì Thượng Đế luôn ở quanh để giúp chúng ta.

       Tường Thúy

Tucson – AZ – 23 / 3 / 2022

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Nước Mắt Giữa Trùng Dương

VC THẢM SÁT TÙ BINH GIỜ THỨ 25 (St)

This image has an empty alt attribute; its file name is tham-sat-tu-binh.jpgVC Thảm Sát Tù Binh Giờ Thứ 25

(Theo lời kể của Mũ Nâu Thiên Lôi)

– Trong lịch sử chiến tranh thế giới từ năm 1948, chưa nghe nói một quân đội nào thảm sát tù binh trên chiến trường cả.

Vậy mà cái gọi là quân đội nhân dân của bọn Việt cộng, đã ra tay làm điều phi công ước quốc tế và phi nhân tính như thế.

Kính lạy linh hồn các Anh.

12 người Lính Biệt Động Quân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, thuộc Tiểu Đoàn 38 BĐQ.

Chúng tôi biết viết lại điều này, có thể làm cho thân nhân của các anh, sống lại nỗi buồn đau. Nhưng không thể nào để cho bọn vô nhân tính Việt cộng, phủi tay với tội ác mà chúng nó đã gây ra.

Liên Đoàn 32 Biệt Động Quân, được lệnh bỏ Bình Long, về trấn thủ Gò Dầu Hạ Tây Ninh, làm vòng đai bảo vệ Thủ Đô từ xa.

Liên Đoàn gồm có 3 tiểu đoàn và một đại đội Trinh Sát. Các Tiểu Đoàn vẫn hoạt động bình thường, và chặn đứng những đợt tấn công của cộng quân. Thì đùng một cái, nhận được lệnh bỏ súng đầu hàng ngày 30/4/1975 từ Ông Liên Đoàn Trưởng.

Hai tiểu đoàn 30 và 33 tuân lệnh thượng cấp.

Nhưng riêng với tiểu đoàn 38 BĐQ, thì bất tuân thượng lệnh  (với quân đội, bất tuân thượng lệnh sẽ bị đưa ra tòa án quân sự, kỷ luật là sức mạnh của quân đội, xin nhớ cho)

Tiểu Đoàn Trưởng 38 BĐQ là Thiếu Tá Trần Đình Tự. Một người Bắc di cư từ năm 1954 lúc tuổi đời còn nhỏ. Ông tham gia quân đội và tung hoành trên nhiều mặt trận, đã từng bị cộng sản bắt làm tù binh một lần. Ông tập họp tiểu đoàn lại và nói: “Tổng Thống đã ra lệnh đầu hàng, anh em có quyền chọn lựa. Ai muốn về với gia đình thì cứ ra đi. Riêng tôi sẽ không tuân lệnh đầu hàng. Ai đi với tôi thì ở lại.”

Cuộc chia tay nhiều ngậm ngùi và vội vã. 90 người đi theo vị Tiểu Đoàn Trưởng này. Họ tiến về Bộ Chỉ huy Biệt Động Quân từ Gò Dầu Hạ. Vừa đi vừa đánh. Đến Ấp Trung Lập Hạ, Củ Chi thì còn lại đúng 13 người gồm cả vị TIểu Đoàn Trưởng.

Tại đây họ lại đụng với một lực lượng du kích có lẫn chính quy.

Đến 4 giờ ngày 30/4/1975 thì những anh hùng Mũ Nâu này hết đạn. Cộng quân tràn lên bắt sống họ.

  • Diễn tiến vụ thảm sát:

Thằng chỉ huy cộng quân dí súng vào đầu Thiếu Tá Tự, ra lệnh cho ông phải tháo cặp lon Thiếu Tá trên cố áo xuống. Ông từ chối, viện dẫn luật tù binh của Liên Hiệp Quốc.

Thằng Việt cộng gào lên chửi bới những lời thô tục và mất dạy:

“Chúng mày là ngụy, là tay sai giặc Mỹ, là bọn ác ôn, ăn gan uống máu nhân dân, tao ra lịnh cho mày phải cởi hết quần áo ra, nằm úp mặt xuống đất. Cãi lịnh tao bắn. Tổng Thống của tụi mày đã đầu hàng, nghe rõ chưa?”

Thiếu Tá Tự trả lời nó:

“Ai đầu hàng chứ tao thì không. Tao không cởi, mày muốn giết thì giết đi.”

Thằng Việt cộng mắt long lên sòng sọc, nó rút lưỡi lê bên hông của Ông Thiếu Tá và đâm vào bụng Ông ấy, nó rọc xuống một đường.

Ông Thiếu Tá đổ người xuống, nó rút K54 và bắn vô đầu Ông.

Dũng Tướng Về Trời.

Thằng Việt cộng ra lệnh đem xác Ông ra phía sau ngôi trường và vứt ở đó, sau đó nó ra lịnh dẫn 12 người Lính Biệt Động Quân còn lại đem ra đó xử bắn luôn. Xác những người Anh Hùng nằm chồng chất lên nhau. Họ đã đền xong Nợ Nước.

Ba ngày sau, người nhà của ông Thiếu Tá nghe tin và tìm lên Củ Chi lấy xác ông ấy về mai táng.

Riêng 11 thân xác của các chiến hữu của Ông phải đến mấy mươi năm sau mới được cải táng.

Nhờ vào tấm lòng của tất cả đồng bào trong và ngoài nước, cùng các chiến hữu của Binh Chủng Biệt Động Quân.

Người Lính mang máy truyền tin cho Ông Thiếu Tá là Binh Nhất Đức Trọc, nhờ giả chết mà còn sống sót.

Người dân ở đó đã che giấu và giúp đỡ anh ấy trốn về Sài Gòn.

Tội ác này không được lãng quên.

Dù ai có nói ta điên

Còn sống ngày nào ta cũng nhắc đi nhắc lại

Để thế hệ đời sau rõ mặt quân thù.

(Theo lời kể của Mũ Nâu Thiên Lôi.)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở VC THẢM SÁT TÙ BINH GIỜ THỨ 25 (St)

Có Bao Giờ Lính Khóc? (Thơ: Trần Quốc Bảo)

Có Bao Giờ Lính Khóc?

 Trần Quóc Bảo

This image has an empty alt attribute; its file name is linh-khoc.png

Em hỏi anh:

– “Suốt những năm chinh chiến,

Có thắng thua, khi đối diện quân thù,

Có lúc vinh quang, lúc ở trong tù…

Em muốn biết: có bao giờ lính khóc?”

Xin trả lời: – “Lính cũng như người khác,

Đời cũng buồn vui, hỉ nộ, sân si…

Nhưng lính được trang bị trước khi đi,

Lòng ái quốc và tinh thần chiến đấu!

Chưa từng đi lính, khó ai hiểu thấu,

Lá Cờ Vàng, là Hồn Nước linh thiêng!

Người này nằm xuống, người khác tiến lên,

Chết không sợ, thì có gì phải khóc!

Em hẳn nhớ, chuyện Cờ bay thuở trước?

Trên cổ thành Quảng Trị ngập bi thương!

Lính reo vui, giữa xương máu chiến trường,

Hãnh diện dương cao lá Cờ Tổ Quốc!

 Thậm chí… gặp lúc sa cơ vận Nước!

Bị tù đày, đến mút chỉ cà tha!

Người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa,

Nín thở qua sông, chẳng hề than khóc!

Những vinh nhục,  lính dâng lên Tổ  Quốc.

Thì có gì bận tâm nữa đâu em!

…Nói chung thì vậy… riêng anh yếu mềm!

Thú thật với em … đã đôi lần anh khóc!

Đó là… sau cuộc đụng độ thảm khốc,

Kéo quân về, khiêng đặt trước sân Cờ,

Vài xác anh hùng tử sĩ, cuốn poncho…

Vợ con lính,  chạy ào ra khóc ngất!

Lúc ấy… lì lợm trong anh biến mất!

Nhất là khi nhìn mấy bé ngây thơ,

Lay  xác cha, miệng mếu máo u ơ…

“Dậy đi Ba!… dậy, dẫn con đi học!”

… ! … !

Sụp vành nón sắt… cúi đầu …

Em ơi! Anh đã khóc … ! …”

Trần Quốc Bảo  (Richmond, Virginia)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Có Bao Giờ Lính Khóc? (Thơ: Trần Quốc Bảo)

ĐÔI MẮT NGƯỜI SƠN TÂY CỦA TÔI_Vũ Kim Đức

This image has an empty alt attribute; its file name is doi-mat.jpg Đôi mắt người Sơn Tây của tôi

Vũ Kim Đức

Ngày xưa, trong cái tủ sách nhỏ ở phòng khách nhà tôi, lẫn vào các tác phẩm cổ điển, tạp chí văn học nghệ thuật nổi tiếng trong và ngoài nước, có một tập thơ được đóng bằng những tờ “pơ-luya” mỏng tanh. Tập thơ được trang trí và chép bằng tay rất thẩm mỹ của anh Hai Huỳnh tôi. Trong đó có những bài thơ làm nao lòng của các tác giả xưa và nay: Xuân Diệu, Nguyễn Bính, Huy Cận, Vũ Hoàng Chương, Hàn Mạc Tử, Hoàng Cầm, Hữu Loan, Nguyên Sa, Thanh Tâm Tuyền, Hoàng Anh Tuấn, Nhã Ca và Trần Dạ Từ v.v.

Đó là những ngày thơ mộng. Lần đầu tiên đọc các Thi sĩ này, tâm hồn hãy còn non nớt của tôi đã rung động một cách kỳ diệu về tình yêu. Và nổi bật là những nẻo đường, những địa danh trên quê hương đất nước. Những bài thơ Quang Dũng như:

Tây tiến, Đôi bờ, Đôi mắt người Sơn Tây, Buồn êm ấm với:

Thương nhớ ơ hờ, thương nhớ ai.
Sông xa từng lớp lớp mưa dài.

Có nhớ dáng người trên độc mộc.
Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa.

Mắt trừng gởi mộng qua biên giới.
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm.

Người đi Châu Mộc chiều sương ấy.
Có thấy hồn lau những bến bờ…

Không biết ngày mai trời có trong.
Đường xa xa nắng có mông mênh…

Hoàng Cầm với Bên kia sông Đuống:

Em ơi! Buồn làm chi.
Anh đưa em về sông Đuống.
Ngày xưa cát trắng phẳng lì.

Em đi trẩy hội non sông.
Cười mê ánh sáng muôn lòng xuân sang…

Những câu thơ trên đã cho tôi những cảm xúc mãnh liệt khó diễn tả. Nó gợi cho tôi mơ về những viễn du, những cuộc phiêu lưu tới những góc trời quê hương xa xăm tôi chưa một lần đặt chân đến. Nó vừa lãng mạn vừa hào hùng, bây giờ chỉ còn trong quá khứ… Ngày đó khi đọc: Vầng trán em vương trời quê hương. Mắt em dìu dịu buồn Tây Phương. Ưu uẩn chiều lưu lạc. Buồn viễn xứ khôn khuây, tôi cứ ngỡ Quang Dũng hoài niệm về người mình yêu có những nét đẹp phương Tây. Sau này tình cờ đọc Phan Lạc Phúc ở đâu đó mới vỡ lẽ ra “buồn Tây Phương” của bài thơ này ám chỉ một cô gái có đôi mắt đẹp với rèm mi vương nét buồn man mác như những mái đình cong vút của chùa Tây Phương. Ngôi chùa tọa lạc trên đỉnh núi Câu Lâu, huyện Thạch Thất của xứ Đoài mây trắng…

Đó là những ngày tôi mới lớn, khoảng mười bốn, mười lăm tuổi. Tôi đã nhủ thầm:

– Một ngày nào đó tôi sẽ viếng thăm Hà Nội sẽ đến dâng lễ ở ngôi cổ tự Tây Phương và sẽ gặp đôi mắt người Sơn Tây của tôi…

Tôi khởi hành từ phi trường Newark, New Jersey trên chuyến bay số 899 của hãng hàng không Cathay Pacific trực chỉ Hong Kong lúc nửa đêm. Hành khách có khoảng hơn hai trăm người. Chỉ có mươi người ngoại quốc. Hình như chỉ có mình tôi là người Việt Nam, còn lại đa số là công dân gốc Hoa đang thoải mái hàn huyên với nhau bằng tiếng mẹ đẻ. Họ sinh sống quanh vùng New Jersey và Chinatown ở New York. Một số về thăm nhà, một số đi du hí thử tài vận đỏ đen nơi các sòng bài của người da đỏ ở phía Bắc tiểu bang New York trên đường về lại lục địa Trung Hoa.

Sau hơn mười sáu tiếng đồng hồ dài đằng đẵng vượt qua không phận các nước Canada, Nga và Trung Quốc, chiếc Airbus 330 khổng lồ từ từ hạ cánh xuống phi đạo lúc 4:30 sáng hôm sau ở phi trường Hong Kong. Ngồi ngái ngủ trong phòng đợi chuyến chuyển tiếp từ Hong Kong về Hà Nội, tôi nhìn ra khung cửa kính. Con kênh đào mênh mông với vài cánh buồm đỏ và rặng Liên Hoa Sơn trước mặt nhạt nhòa trong làn sương sớm. Tôi hồi tưởng về những dòng sông bát ngát, những đỉnh núi nhạn hoang sơ trong tiểu thuyết kiếm hiệp Tiếu ngạo giang hồ và Lộc đỉnh ký của Kim Dung.

Còn hơn nửa tiếng nữa mới đến giờ cất cánh. Tôi chậm rãi bước vào cửa tiệm Duty Zero, ngắm nhìn mọi thứ rượu nổi tiếng trên Thế giới cho hết thì giờ. Một thanh niên ăn diện sang bảnh trông có vẻ giống người Đại Hàn với mái tóc nhuộm cam đang đứng chờ ở quầy tính tiền với chai L’or de Jean Martell giá gần $4,000 đưa mắt nhìn tôi:

– Chào Chú ạ!

Với giọng Hà Nội rất chuẩn. Tôi nhìn chai cognac đắt tiền buột miệng:

– Chai cognac chắc “hết sẩy” với giá tiền cỡ đó?

Cậu ta gật đầu lễ độ giải thích:

– Dạ, cháu mua về biếu ông nội. Ông cháu mê nhất loại này!

Tôi nghĩ thầm:

– Gần $4,000 cho một chai cognac 750ml.Cậu ta là đại gia hay sao? 

Sau đó gợi chuyện, tôi được biết, cậu thanh niên là du học sinh năm thứ hai ở Đại học Minnesota về thăm nhà, rất mê nhạc vàng trước năm 75 và là con cháu của một “tai to mặt lớn” của chính quyền Việt Nam hiện tại. Tôi nghĩ tới những người khố rách áo ôm, một sương hai nắng, đang sống vất vưởng trên các vỉa hè Sài Gòn và Hà Nội trong những ngày giá lạnh, lòng thoáng phẫn nộ…

Chiếc Airbus 320 của hãng Dragonair với chuyến bay 5297 từ từ xuống thấp trên vùng trời ngoại thành Hà Nội. Bên dưới, những đồng lúa xanh thì con gái chạy dài mơn mởn loang bóng nước in hình mây trắng. Bên cạnh những ngôi mộ đồ sộ rải rác đó đây, một đàn vịt trắng sục sạo kiếm mồi. Vài con trâu đang kéo cày với những người thợ cấy đội nón lá, vai choàng vạt ni-lông cong lưng dưới ánh ban mai. Một vài khu làng nhỏ chen chúc mái ngói âm dương ẩn mình dưới những cây đa, cây cau và bụi tre đầy bóng mát. Thấp thoáng bóng người gánh gồng những đống rạ trên bờ đê… Toàn phong cảnh diễn ra trong một bầu không khí im lặng, không sinh khí. Thật tương phản với những thửa ruộng, vườn tược tưng bừng sức sống nơi miền Nam…

Con tàu đáp xuống phi trường Nội Bài lúc 6:30 sáng. Quê hương miền Bắc trong văn thơ và nhạc là đây. Tôi đã đặt chân lên dải đất ngàn năm văn vật lần đầu tiên trong đời… Từ tầng số một của trạm ga phi trường, tôi bước ra sảnh công cộng đứng chờ phương tiện giao thông. Một chiếc limousine to đùng, đen bóng trờ tới sát lề. Chiếc cửa kính phía sau được kéo xuống, hiện ra mái tóc màu vàng của chàng thanh niên với khuôn mặt giống Đại Hàn tôi gặp vài tiếng đồng hồ trước đó ở phi trường Hong Kong:

– Dạ, xin mời Chú lên xe cùng về Hà Nội.

Trong xe, tôi thoáng thấy vài cô gái trẻ cười nói. Một cô với khuôn mặt ngây thơ, có đôi mắt đẹp buồn u uẩn, ngồi thu hình trong góc nhìn tôi im lặng. Đôi mắt đẹp thu hồn. Phải chăng đây là đôi mắt người Sơn Tây của tôi? Tôi bỡ ngỡ từ chối, bắt tay và chúc anh chàng chuyến về thăm gia đình vui vẻ. Sau đó tôi vẫy taxi Mai Linh vào Hà Nội…

Hà Nội có nhiều lối vào với bảy cây cầu bắc ngang sông Hồng. Con đường ngắn nhất từ phi trường Nội Bài vào thành phố đi qua cầu Nhật Tân. Cây cầu hiện đại được xây dựng bởi một công ty Nhật Bản và khánh thành năm 2015. Nhưng tôi lại muốn đi lối cầu Long Biên để tận mắt nhìn thấy cây cầu và dòng Hồng Hà với bề dày lịch sử này. Anh tài xế lắc đầu, cho tôi biết từ lâu cầu đã có lệnh cấm, không cho xe hơi qua lại. Cầu chỉ dành cho xe đạp, xe gắn máy, khách bộ hành và những chuyến tàu hỏa từ ga Long Biên gần đó đi phương Bắc. Tôi đề nghị anh chở tôi đến đó dù phải đi vòng xuống xa hơn. Chiếc taxi theo đường Trường Sa nhập vào quốc lộ số 5, vượt ngang sông Đuống của nhà thơ Hoàng Cầm, dừng lại dưới chân cầu Long Biên.

Cầu Long Biên là cây cầu nổi tiếng được Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer khởi công xây dựng từ năm 1898 nên ban đầu có tên là cầu Doumer. Được ví là tháp Eiffel nằm ngang, Long Biên là cây cầu huyết mạch bắc ngang sông Hồng của thủ đô Hà Nội. Tôi rảo bước trên con đường sắt tàu hỏa giữa cầu, ngửa mặt hứng những luồng gió mát từ lòng sông đưa lên. Nước sông màu vàng nhạt, đục ngầu phù sa không một sắc đỏ trong trí tưởng.

Sáng nay dòng sông êm ả trôi, thấp thoáng vài cánh buồm nâu giăng lưới trên sóng… Phải chăng, đây là nơi có những cơn lũ lụt hằng năm làm vỡ đê, với dòng cuồng lưu hung hãn chảy xiết trong Anh phải sống của Khái Hưng? Phải chăng tại quảng hạ lưu sông Hồng này đã xảy ra những chiến thắng vang danh chống ngoại xâm phương Bắc của tiền nhân trong lịch sử? Gần đây hơn vào năm 1954, một nửa đêm về sáng, biết đâu, Thầy Mẹ tôi cùng nhà văn Mai Thảo trên chuyến xe cuối cùng rời Hà Nội đã vượt qua cây cầu này, cùng nhìn xuống dòng Hồng Hà đen như vực thẳm với Hà Nội bên dưới, để rồi đến phi trường Gia Lâm di cư vào Nam?

1955 sau Điện Biên Phủ, đoàn quân viễn chinh Pháp khi rời Hà Nội cũng đã vượt qua cây cầu này trên đường ra Hải Phòng về nước. Và những năm 1967 và 1972 trong chiến dịch “Rolling Thunder” và “Linebacker”, Không quân Mỹ đã đánh bom làm sập bảy trong mười chín nhịp cầu…

Ven bờ, những làng thôn và cây cối xanh mờ trong khói sóng. Xa xa, một dãy nhà chọc trời vươn lên che phủ bầu trời, như những gã khổng lồ lố lăng. Một đụn cát nhô lên như một hải đảo nhỏ giữa dòng sông, trắng ngà trong nắng mai. Trên cầu, khách bộ hành, xe đạp, xe gắn máy và những người buôn thúng bán bưng hối hả, lũ lượt trẩy hướng về thành phố cho kịp buổi chợ sớm. Nhiều người nhìn tôi tò mò với những ánh mắt vô hồn…

Nhạc Phạm Duy chợt vẳng lên bồi hồi trong trí tưởng:

Bên cầu biên giới. Tôi lặng nghe dòng đời từ từ trôi… Nhưng đường quá xa vời. Hương trời vẫn mê mải…

Tôi đưa mắt nhìn dẫy cờ máu đang bay phất phơ trên nhịp cầu sắt đen đủi uốn lượn trên sông, lòng thoáng một chút bùi ngùi… Nhớ về một thời, một thời để yêu và một thời để chết. Dải đất miền Nam thân yêu của tôi vì màu cờ máu này đã chìm trong đau thương, chết chóc, thù hận và mù mịt khói lửa chiến tranh. Khi tôi viết những dòng này, nước Nga cũng với một lá cờ máu khác đang tàn phá, gieo rắc kinh hoàng cho người dân Ukraine… Cứ mỗi lần nhìn thấy những lá cờ máu, màu cờ vàng ba sọc đỏ và Quốc ca Này công dân ơi lại kiêu hãnh sống lại trong tim tôi. Biết bao thế hệ thanh niên đã nằm xuống, hy sinh cho màu cờ này. Có phải vì thế, lòng tôi cho đến nay vẫn còn biên giới?…

Sáng nay từ khách sạn Movenpick Hà Nội, tôi dậy sớm. Khu phố hãy còn ngái ngủ, bầu trời xám nhạt vì sương mù bao phủ khắp nơi. Trong không khí có mùi thơm nhè nhẹ của hoa sữa, mùi đặc trưng của Hà Nội. Vỉa hè phủ đầy những bông hoa màu trắng nhỏ li ti dưới chân giày. Hoa sữa Hà Nội đang nở trong gió lạnh đầu mùa của Thạch Lam, báo hiệu mùa Thu đã về trên bầu trời Thủ đô.

Rẽ trái, tôi đi ngang qua khu nhà tù Hỏa Lò nổi tiếng trên con đường cùng tên. Hỏa Lò được xây dựng từ năm 1886 thời Pháp thuộc là nơi giam giữ tù chính trị chống lại mẫu quốc. Sang những thập niên 60 và 70, Hỏa Lò được khôi hài hóa thành khách sạn “năm sao” Hà Nội Hilton bởi phi công Mỹ bị bắn rơi trên không phận miền Bắc bị giam cầm tại đây. Người tù binh nổi tiếng trong thời gian này là Hải quân thiếu tá John McCain. Chiếc phản lực cơ A-4 E Skyhawk của ông đã bị bắn rơi trên hồ Trúc Bạch. Sau này, ông trở thành một Thượng nghị sĩ và ứng cử viên Tổng thống Mỹ năm 2008. “Ông tù” Nguyễn Chí Thiện cũng nằm “ép rệp” tại đây những năm 1980, khi ông vọt vào Tòa đại sứ Anh quốc với tập thơ Hoa địa ngục nổi tiếng và bị bắt. Bây giờ Hỏa Lò đã đóng cửa, trở thành viện bảo tàng lịch sử bán vé vào cửa cho du khách tham quan.

Tôi rảo bộ dọc phố Hai Bà Trưng, đường Quán Sứ và Lê Thái Tổ trên những vỉa hè màu đỏ sậm được lát bằng gạch Bát Tràng phủ đầy hoa sữa trắng và lá bàng đỏ. Những vỉa hè nhuốm màu thời gian thơm nồng mùi hoa sữa, hoa sấu và hoàng lan hình như có linh hồn. Bao nhiêu gót giày của những người muôn năm cũ đã lê gót trên những vỉa hè này? Tiềm thức tôi cơ hồ còn nghe tiếng guốc reo vui của Hoàng Dương Hướng về Hà Nội. Tiếng leng keng của chiếc tàu điện trạm Bờ hồ đến chợ Đồng Xuân còn văng vẳng đâu đây. Phải chăng cũng những vỉa hè này, Nguyễn Đình Toàn và “áo mơ phai” Thu Hồng, chàng học trò Duyên Anh Vũ Mộng Long một chiều trốn học, Phượng và Thu “Đêm giã từ Hà Nội” đã có lần dạo bước? Và biết đâu chỗ này trên một góc phố, ông đồ già với mỗi năm hoa đào nở của Vũ Đình Liên đã ngồi?…

This image has an empty alt attribute; its file name is ho-guom.jpgHồ Gươm cây cối xanh tốt với nhiều cây sấu, bàng lá đỏ, rặng phượng thắm và liễu ướt đẫm sương đêm rũ bóng mặt hồ xuất hiện sau làn sương mỏng. Sương xuân và hoa đào của Vũ Thư Hiên? Mặt hồ với những đợt sóng lăn tăn vỗ nhẹ nhàng, trông giống như một tảng thạch bích xanh mướt giữa lòng thủ đô. Tôi ngồi xuống một ghế đá ven bờ, châm điếu thuốc đưa mắt nhìn Tháp Rùa rêu phủ, Tháp Bút, đền Ngọc Sơn và cầu Thê Húc màu son đang bừng lên trong nắng mai và nhớ về…

Một Phạm Duy với Thái Hằng cười tươi bên nhau trên cầu Thê Húc; một Anh Bằng “Tôi xa Hà Nội năm lên mười tám khi vừa biết yêu. Hồ Gươm xưa vẫn chưa phai mờ”; một Vũ Thành lìa xa thành đô yêu dấu với “Giấc mơ hồi hương”; Đoàn Chuẩn “Đêm tân xuân hồ Gươm như say mê. Chuông reo ngân, Ngọc Sơn sao uy nghi. Chạnh lòng tôi nhớ tới người em”. Trịnh Công Sơn “Mùa Thu Hà Nội. Nhớ đến một người, để nhớ mọi người”…

Và chùa Một Cột, góc sân nào ông già Tàu đã ngồi bán lạc rang húng lìu cho “chú nhóc” Lê Cự Phách Du Tử Lê?… Biết bao người sinh ra và trưởng thành ở Hà Nội, vì chinh chiến điêu linh đã tản mác khắp bốn phương trời, không một lần quay về dù mơ ước. Tôi sinh ra và lớn lên ở miền Nam, không một kỷ niệm về nơi chốn này nhưng hôm nay tôi đang ngồi ngắm hồ Gươm giữa lòng Hà Nội với cảm xúc dâng trào. Tôi ngồi hút thuốc, nhả khói mơ màng thả hồn về những ký ức bàng bạc chỉ có trong văn, thơ, nhạc và… tưởng tượng.

Tôi bước qua cổng tam quan của Ô Quan Chưởng – một trong năm cửa ô còn sót lại của Hà Nội, một cửa ô theo năm tháng trơ gan cùng tuế nguyệt. Tôi lạc vào một Thế giới khác. Chằng chịt như một bàn cờ, phố cổ Hà Nội là khu sinh sống và buôn bán sầm uất có từ thời Lý-Trần. Vị trí nằm về phía Đông Hoàng thành Thăng Long bên cạnh sông Hồng. Sự khác biệt của khu phố cổ nổi tiếng là những cửa hàng bán các sản phẩm riêng biệt. Phố cổ còn là 36 phố phường của Thạch Lam với những nhận xét dí dỏm, ý vị.

Khu phố cổ với các cửa hàng san sát, bày biện những mặt hàng lạ mắt tràn ra tới vỉa hè. Khu Tạ Hiện với các quán ăn và bia hơi đông nghẹt người trẻ tuổi. Giai nhân tài tử dập dìu… Có những ngõ nằm sâu trong hẻm nhỏ, thấp hơn lòng đường. Ngõ Phất Lộc của Nguyễn Hiến Lê là đây? Lòng con phố với đường sắt xe điện giữa lộ dày đặc khách bộ hành, người bán kẻ mua cười nói ồn ào. Những gánh hàng rong, gánh hàng hoa của Nhất Linh và dòng xe cộ tấp nập inh ỏi tiếng còi, tiếng động cơ… làm cho tôi có cảm tưởng đang đi lạc trong khu Old City của kinh thành Jerusalem ngày nào…

Bài thơ Hà Nội của Hoàng Anh Tuấn bỗng vang vọng trong từng ngõ ngách:

Em Hà Nội hàng Đường trong giọng nói.
Để hàng Bông êm ái lót cơn mơ.
Hàng Vôi đó nồng nàn trong ngây ngất.
Ý hàng Đào chín mọng trái môi chia.
Xin hàng Than rực cháy lửa đam mê.
Tìm đến anh hàng Giấy mỏng tương tư.
Hồn ngây ngô theo điệp khúc hàng Đàn…

This image has an empty alt attribute; its file name is chua-tay-phuong.jpg

Chùa Tây Phương nằm trên địa phận huyện Thạch Thất, cách Hà Nội khoảng 25 dặm về phía Tây. Chùa là một công trình kiến trúc Tôn giáo đặc sắc, tiêu biểu cho mỹ thuật Việt Nam thời Hậu Lê. Huy Cận với bài thơ Các vị La hán chùa Tây Phương đã làm ngôi cổ tự này thêm nổi tiếng… Hôm nay từ Hà Nội, tôi theo đại lộ Thăng Long đến giao tỉnh lộ 80 thăm ngôi cổ tự. Ngôi Chùa đã ám ảnh tôi từ những ngày xa xưa, khi lần đầu tiên đọc bài thơ Đôi mắt người Sơn Tây của Quang Dũng.

Chùa Tây Phương cách Đan Phượng, quê hương của Quang Dũng với Ba Vì xanh mờ và con sông Đáy lặng lờ, chỉ vài dặm đường… Vượt qua một vùng bán sơn địa, đồi núi chập chùng với mây trắng phủ quanh, tôi đến con đường làng bằng đá ong đỏ tươi với những bụi tre ngà lao xao trong gió, rồi đến một đầm sen đang nở rộ. Ven bờ có nhiều người đang thả cá vàng xuống đầm cùng lời nguyện phóng sinh. Sau một cây đa khổng lồ gốc uốn lượn xù xì với rễ phụ rũ xuống như những cánh tay thuồng luồng, tôi thấy cánh cổng tam quan khắc ba chữ “Chùa Tây Phương” hiện ra trước mặt.

Từ chân núi, tôi lần theo 237 bậc thang lát bằng đá ong để lên chùa Tây Phương. Những bậc thang có dấu chân của Quang Dũng và Huy Cận. Đường lên Chùa có những cột đèn hình hoa sen màu hồng, vài hàng quán và cây cối xanh mát hai bên. Trên đỉnh núi tọa lạc Chùa Hạ, chùa Trung và chùa Thượng. Tường Chùa được xây bằng gạch Bát Tràng với những ô cửa tròn biểu tượng “sắc sắc, không không”, cuộc đời Vô thường…

Những mái Chùa chạm trổ hình long phượng cong vút như hàng mi của “mắt người Sơn Tây” cho cảm giác đôi long phượng đang chắp cánh để bay lên trời… Cảnh Chùa đẹp như bức tranh thủy mặc… Vẳng trên không, có tiếng chuông trầm mặc, tiếng mõ tụng kinh lóc cóc vang đều… Vài bà cụ gần bên tôi tay lần chuỗi, mắt nhắm nghiền thành kính… Nam Mô A Di Đà… Nhìn bà cụ, tôi bỗng chạnh lòng nhớ về Mẹ tôi. Những ngày còn thơ, hai Má con đi lễ Chùa. Thoang thoảng đâu đây có mùi hương trầm, hương hoa sứ. Tiếng chim kêu trên những cội tùng già…

Trời ngả bóng về chiều. Hoàng hôn tím nhạt trên những cây hoa sứ trong sân Chùa. Tôi, lòng lâng lâng thoát tục, theo những bậc đá ong lần bước xuống chân núi. Vừa bước qua cổng tam quan, một cơn mưa rào dữ dội ập xuống, chớp lòe sáng, rạch ngang bầu trời ngoằn ngoèo. Cây cối ngả nghiêng vặn mình theo gió. Cả một vùng đồi núi dường như đang rùng mình chuyển động. Con người đứng trước Thiên nhiên bao la thật nhỏ bé, bất lực…

Tôi vội vã chạy vào một cửa tiệm bán đồ lưu niệm bên cạnh chân núi. Một thiếu nữ đeo yếm thắm, mặc áo tứ thân cổ truyền đứng sau quầy ngẩng mặt lên chào. Khuôn mặt ngây thơ và đôi mắt buồn u uẩn nhìn tôi thoáng chút bối rối. Lòng tôi choáng váng và nhận ra ngay: Đôi mắt người Sơn Tây của tôi, của người thiếu nữ ngồi thu mình im lặng trong chiếc limousine đen bóng hôm nào ở phi trường Nội Bài. Người thiếu nữ có “đôi mắt người Sơn Tây” đẹp mê hồn cũng nhận ra tôi…

Cơn mưa dai dẳng kéo dài càng lúc càng nặng hạt. Trong cửa tiệm không một du khách vãng lai, chỉ có tôi và nàng. Nàng mời tôi ngồi trên chiếc bàn tre uống chén chè xanh thơm mùi sen. Lần đầu tiên gặp gỡ nhưng chúng tôi có cảm giác gần gũi, cơ hồ như đã biết nhau từ tiền kiếp. Ngồi đối diện với thiếu nữ có ánh mắt buồn man mác, trong chiếc áo tứ thân cổ truyền đẹp như tranh tố nữ, tôi có cảm giác mình là Quang Dũng đang về thăm “đôi mắt người Sơn Tây” một chiều mưa mù mịt dưới chân chùa Tây Phương…

Nhưng chuyến về thăm của tôi buồn vô hạn… Tôi được biết ông nội nàng đi bộ đội đã chết mất xác trên đường đi B, khi vượt Trường Sơn vào Nam. Cha vì miếng cơm tấm áo phải giã biệt quê nghèo sang Đông Âu kiếm sống từ lâu đã biệt âm vô tín. Giờ chỉ còn nàng và bà mẹ thuê cửa tiệm bán đồ lưu niệm kiếm sống qua ngày. Còn vài tuần nữa nàng sẽ lên đường đi Đài Loan lấy chồng xứ lạ. Phận gái mười hai bến nước, trong nhờ đục chịu cũng đành… Hôm tôi và nàng gặp nhau lần đầu ở phi trường Nội Bài cũng là hôm nàng lên Hà Nội cho những người không cùng chủng tộc chọn lựa…

Mưa vẫn rơi rả rích nhưng dường như sắp tạnh. Từng cơn gió lạnh lùa vào khung cửa hẹp. Đêm mù sương trên vùng đồi núi chùa Tây Phương buông xuống thật nhanh. Tiếng côn trùng bắt đầu nỉ non. Ánh sáng từ những con đom đóm bắt đầu lập lòe ngọn lửa ma trơi trên triền núi. Tôi bước ra bậc cửa, thổi những vòng tròn khói thuốc, nhìn vào bóng đêm, lặng người trong thương cảm.

Cho đến một lúc nào đó, tôi có cảm giác người thiếu nữ với “đôi mắt người Sơn Tây” đã đứng sát sau lưng. Hương hoa sói nhè nhẹ. Không gian nhẹ tênh như có giây tơ. Nàng dịu dàng ngả đầu vào vai tôi. Đôi mắt với những hàng mi cong vút khép hờ. Vùng ngực thanh tân sau làn yếm thắm phập phồng chờ đợi. Chúng tôi không nói với nhau một lời. Có nói cũng bằng thừa. Con tim có ngôn ngữ của riêng nó. Hai con tim chúng tôi đã cùng chung nhịp điệu… Giây phút đó tôi muốn ôm chặt lấy nàng trong vòng tay để che chở, để những gì có thể xảy ra sẽ xảy ra… Nhưng bất chợt, những “Sợi tóc” của Thạch Lam và “Chiếc ngực để trần” của Phan Nhật Nam hiện lên như một ánh chớp. Ranh giới giữa thiện và ác, khoảng cách chỉ mong manh như một… sợi tóc. Mong manh nhưng có khả năng làm thay đổi cả một đời người…

Ngay đêm hôm đó, lúc chùa Tây Phương còn mờ mờ huyền ảo dưới ánh trăng xanh, tôi đón chuyến xe đến phi trường Nội Bài, lấy chuyến bay sớm nhất vào Đà Nẵng…

Bao giờ tôi gặp em lần nữa.
Chắc đã thanh bình rộn tiếng ca.
Đã hết sắc mùa chinh chiến cũ.
Còn có bao giờ em nhớ ta?
(Thơ Quang Dũng)

 Vũ Kim Đức

 

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở ĐÔI MẮT NGƯỜI SƠN TÂY CỦA TÔI_Vũ Kim Đức

Hội Nghị Vịnh Hạ Long – Sưu Tầm của Tuyen Dinh

Hội nghị Vịnh Hạ Long
lần thứ hai vào ngày 05/06/1948 

unnamed (6)

Vào ngày 5 tháng 6 năm 1948_Hiệp ước Vịnh Hạ Long_một hiệp ước Pháp-Việt giữa Cao Uỷ Đông Dương Emile Bollaert và Hoàng Đế Bảo Đại, được ký kết trên tuần dương hạm “Dugay Trouin”, xác nhận nền độc lập của Việt Nam và tư cách là một quốc gia  trong Liên hiệp Pháp. Ngày khai sinh ra : “Quốc Gia Việt Nam”(État du Viêt Nam)

-Các thủy thủ đang bận rộn với công việc bảo trì và làm sạch trên boong của tàu tuần dương “Duguay Trouin”.

-Sau khi hạ cánh của một thủy phi cơ Catalina ở Vịnh Hạ Long, các viên chức Việt Nam được chuyển lên tuần dương hạm“Duguay Trouin”.
 -Nhiều Cảnh thủy phi cơ và tàu cao tốc hộ tống Hoàng đế Bảo Đại, Hoàng đế An Nam. 

-Bước ra từ thủy phi cơ, có Nguyễn Văn Xuân, Thủ Tướng Chính phủ lâm thời Nam kỳ( chef du gouvernement provisoire du Vietnam) người đứng đầu Chính phủ lâm thời Việt Nam trong phái đoàn Việt Nam.

-Trên boong tầu, cử hành lễ chào cờ Việt Nam và vinh danh lá cờ của Hoàng Đế Bảo Đại được kéo lên.

-Một đoàn dàn chào danh dự và một phi đoàn bay trên cao đánh dấu sự kiện 

-Bảo Đại và Nguyễn Văn Xuân lên tàu tham dự cuộc duyệt binh của tầu Hải Quân Pháp.

-Các Sị Quan Pháp đi bằng thuyền cao tốc đến đài tưởng niệm hải quân Pháp trên bờ biển của đảo.

-Mời các bạn xem lại một đoạn phim lịch sử củ Pháp, ghi lại sự kiện Hiệp Ước Hạ Long ngày 5 tháng 6 năm 1948, cách đây đúng 74 năm (1948-2022) 

-Mời xem :

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Hội Nghị Vịnh Hạ Long – Sưu Tầm của Tuyen Dinh

“YÊU” sáng tác mới của K1 lê Hữu Nghĩa

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở “YÊU” sáng tác mới của K1 lê Hữu Nghĩa

Thơ Chiến Sĩ Trân Vong – TPK

CHIẾN SĨ TRẬN VONG

soldier-father-daughter
Nhân ngày “Chiến Sĩ Trận Vong”
Xin thắp một nén hương lòng nhớ anh
Ghi ơn tử sĩ liệt oanh
Xả thân giúp nước sử xanh lưu truyền
Anh đi để giữ lời nguyền
Giữ gìn an lạc mọi miền quê hương
Nước nhà gặp buổi nhiễu nhương
Chiến tranh tàn phá phố phường điêu linh
Miền Nam đất nước thanh bình
Bỗng dưng giặc dã dân tình đảo điên
Giặc về bắn giết liên miên
Nhà tan cửa nát gieo thiên sử buồn
Thân trai gió táp mưa nguồn
Đứng trên đầu sóng chận đường nội xâm
Nhưng mà “lực bất tòng tâm”
Chiến trường ngả ngựa bọc thân cờ vàng
Hồn anh vất vưởng mây ngàn
Buồn vì lịch sử vội vàng sang trang
Biết bao tướng sĩ hiên ngang không hàng
Một viên đạn cuối nhẹ nhàng
Hồn theo tiên tổ chẳng màng khói nhang
Nhục thân dâng hiến giang san
Đền vì chẳng trọn bảo toàn núi sông
Dù cho anh đã hoài công
Nhưng mà dân Việt một lòng nhớ ơn.

Tống Phước Kiên

                                  Memorial Day 2022

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thơ Chiến Sĩ Trân Vong – TPK

Nén Hương Tình – Thơ Phiến Nguyễn

NÉN HƯƠNG TÌNH

283855125_2497609263713918_8443858358866679453_n

Từ xa xôi em trở về quê mẹ
Nhân ngày tưởng nhớ Chiến Sỹ Trận Vong
Chiêu hồn nhập mộ anh linh vất vưởng
Xác thân tan rưả không nấm mồ chôn
Bao Anh kiệt bỏ mình nơi chiến đia
Không nắm tro tàn hương khói vợ con
Hay nằm xuống nơi nuí rừng lao cải
Biết đâu tìm chốn cùng cốc thâm sơn
Ôi những người con son sắt trung trinh
Bao lâu rồi hoang lạnh chốn u minh
Lạc lối phong trần tháng ngày cô quạnh
Vinh danh Anh xin đốt nén hương tình

Phiến Nguyễn

THƯƠNG NHỚ MỘT THỜI

hay-99-bai-tho-nho-ve-xu-hue-voi-nhieu-noi-niem-tam-trang

Vùng trời quê đó xưa tôi qua
Người dân chất phác sống hiền hoà
Cùng nhau xây dựng nguồn no ấm
Kiến thiết quê hương giữ nước nhà
Các cô con gái tươi như hoa
Tóc xõa aó dài bay thướt tha
Sinh hoạt thôn trang vui rộn rã
Tình nghĩa quân dân thật đậm đà
Làng xóm cơ ngơi ngày một mới
Sức sống bừng lên cảnh thái hoà
Theo nhịp quân hành thân giữ nước

Mười mấy năm sau ngày < giãi phóng.>
Vùng trời giới tuyến chẳng còn nguyên
Phố phường trường học chuyển dời chổ
Nhà cưả xóm làng thay đổi tên
Cô bán hàng rong chân thiếu dép
Mẹ già kỉu kịt gánh lưng còng
Các chú cụ non thân gầy guộc
Em nhỏ không trường chạy chơi rong
Đường sá ổ gà xe lạch cạch
Cộ bò qua lại bánh lắc lư
Lều tranh mái rạ nhà xơ xác
Hàng quán lơ thơ cát bụi mờ
Cảnh cũ chiều nao chim lác đác
Lao xao người vật kéo nhau về
Trời cao mây xám trôi bàng bạc
Sương khói hôn hoàng phủ bóng quê

Phiến Nguyễn

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Nén Hương Tình – Thơ Phiến Nguyễn