Sáng nay lành lạnh đón thu sang
Đồi núi mờ sương gió nhẹ nhàng
Đàn bướm vờn bay ngoài ngõ vắng
Bầy ong tìm nhuỵ dưới trời quang
Lặng nhìn con suối êm đềm chảy
Ngồi ngắm hàng cây điểm lá vàng
Lòng bỗng nhớ về nơi cố quận
Một thời yên ả chốn điền trang .
Một thời yên ả chốn điền trang
Thu đến đồi nương đỏ tím vàng
Sương sớm loang dần trên núi thẳm
Mưa chiều rơi nhẹ dưới thiều quang
Đò ngang tà áo vờn trong gió
Hè phố hài nhung bước nhịp nhàng
Bạn hữu gặp nhau cười rạng rỡ
Vui vì năm học mới vừa sang .
Thu đến êm đềm nắng nhẹ rơi
Gió lay phượng thắm rụng bên đồi
Vàng bay mấy độ đời xa xứ
Lá đổ bao lần kiếp nổi trôi
Chốn cũ mịt mờ thêm cách trở
Phương nầy thương nhớ chẳng hề vơi.
Nhìn trăng hồi tưởng thời hoa mộng.
Cùng với người yêu ước môt lời.
Cùng với người yêu ước một lời
Cầu xin tình đẹp chẳng hề vơi
Dẫu cho bão tố đừng nghiêng ngả
Dù có lũ tràn cũng khó trôi
Chiều xuống dạo chơi ngoài bãi biển
Trăng lên ngắm cảnh dưới lưng đồi
Ai ngờ khói lửa mùa thu ấy
Ong bướm chia lìa mắt lệ rơi.
TPK
THU SẦU
Khóm trúc sau vườn gió nhẹ rung
Trăng thu vằng vặc ánh tơ chùng
Bên sông tiếng sáo gieo sầu lắng
Trong xóm giọng hò gợi nhớ nhung
Lá rụng bao mùa trông bóng nhạn
Vàng bay mấy độ ngóng mông lung
Phương trời lồng lộng thuyền dong ruổi
Để bến cô liêu mãi lạnh lùng.
Để bến cô liêu mãi lạnh lùng
Ôm niềm u ẩn đến lao lung
Người đi phương ấy không hoài cố
Kẻ ở nơi nầy vẫn nhớ nhung
Tình khúc chông chênh vì lỗi nhịp
Cung thương lạc điệu bởi dây chùng
Đêm thu dưới ánh trăng vời vợi
Vẳng tiếng tiêu buồn khắc khoải rung .
Thủơ ấy chúng tôi thường ngắm trăng lên
Trăng tròn lồng lộng ở giữa trời đêm
Hai đứa tìm xem Hằng Nga Chú Cuội
Trao gởi tâm tình ước nguyện tơ duyên
Mỗi độ Trung thu lại ngắm trăng rằm
Trăng ngà sáng tỏ đẹp nhất trong năm
Những buổi trăng đầy thường hay sánh bước
Mơ ước sau này trao lược cài trâm
Rồi muà trăng sáng hoa mộng qua đi
Ngày vui chưa trọn đã buồn chia li
Bao mùa trăng nơi chiến trường sương gió
Trăng tỏ ánh vàng trên áo chiến y
Tưởng sẽ cùng trăng về lại nơi xưa
Nắm tay em gái như thuở đón đưa
Hát khúc hoan ca mùa Thu trăng nước
Trọn vẹn nghĩa tình đôi lứa ước mơ
Nào ngờ đâu trăng biền biệt mười năm
Không thấy sao trời chẳng có bóng trăng
Khi hoàng hôn tắt bóng đêm chế ngự
Suốt canh trường sau bức tường trại giam
Pip: Gia Đình Khóa 1 — nơi mà mỗi mùa Thu về, ký ức lại tìm cách gõ cửa, dù cửa đã đóng từ lâu.
Mara: Hôm nay chúng ta đến với một trang thơ — bài thơ của Thu Phiến Nguyễn, được Công Vinh chuyển đến bạn đọc. Thơ viết về mối tình đầu, về người lính ra đi, và về những bông trúc đào còn đó khi người cũ không còn.
Pip: Nghe có vẻ như mùa Thu đã có việc làm toàn thời gian ở đây. Hãy bắt đầu với trang thơ ấy.
—
Trúc đào còn đó, người cũ đâu rồi
Mara: Bài thơ "Chuyện Trúc Đào" của Thu Phiến Nguyễn mở ra một câu hỏi rất cụ thể: khi hoa vẫn nở mỗi mùa, còn người thì đã đi về phương nào — liệu ký ức có đủ sức giữ lại hình bóng cũ?
Pip: Và bài thơ không để câu hỏi đó lơ lửng. Có một khổ thơ chốt lại toàn bộ tâm trạng ấy rất rõ.
Mara: Đúng vậy. Sau những năm tháng chờ đợi và mất mát, tác giả viết: "Cứ mùa Thu đến lá rụng hoa rơi / Nghe con tim mình xao xuyến bồi hồi / Nhìn ngọn trúc đào mà lòng se sắt / Hoa xưa còn đó người cũ đâu rồi."
Pip: Bốn dòng mà gói trọn cả một đời chờ. Hoa không thay đổi — người mới là thứ biến mất. Đó là cái nghịch lý khiến bài thơ này đau hơn một bài thơ tình thông thường.
Mara: Và để hiểu tại sao câu hỏi cuối lại nặng đến vậy, cần đọc lại hành trình của bài thơ từ đầu. Hai người cùng học một trường, đi chung một con đường, qua lối có trúc đào nở mỗi mùa. Tình cảm hình thành trong sáng, chưa kịp nói thành lời.
Pip: Rồi mùa hè sang — và chàng nhập ngũ. Không có lời hẹn, không có kết thúc rõ ràng.
Mara: Bài thơ ghi lại khoảnh khắc tiễn đưa bằng một hình ảnh rất kiệm lời: "Tôi nhạt nhòa đôi mắt lệ tiễn đưa." Từ đó, hai người mỗi người một phương trời. Quê nhà thì giặc về, hoa lá cũng tàn tơi. Chỉ còn cây trúc đào đứng đó, vô tình chứng kiến tất cả.
Mara: Khổ cuối khép lại bằng hình ảnh người con gái đứng bên thềm vắng, nhớ lại khi xưa chàng cài hoa lên tóc — "Chập chờn hương sắc bóng hình ngày xưa." Không có câu trả lời, chỉ có hương và bóng còn chập chờn.
Pip: Trúc đào nở để nhớ, không phải để vui. Đó là điều bài thơ này để lại.
—
Mara: Một bông hoa, một mùa Thu, một người ra đi — và ký ức cứ thế quay lại mỗi năm, không cần được mời.
Pip: Gia Đình Khóa 1 giữ những điều như thế này lại. Hẹn gặp lại kỳ sau.
Vốn tháo vát, họ làm đủ các “nghề”. Có những nghề rất trời-ơi-đất-hỡi, mà không ai có thể nghĩ tới, cho đến nay các “nghề” nầy vẫn còn đọng lại trong ký ức những tháng năm thăng trầm nghiệt ngã của người Sài Gòn xưa, mà nếu có kể lại cho lớp trẻ sau này, chắc chúng cũng nghi ngờ!
-/Bơm mực bút bi:
Người “hành nghề” bỏ tất cả đồ nghề gồm: ống chích, cồn tẩy mực, mực bút bi, đầu bi, ống ruột viết… vào một hộp nhỏ, đặt lên xe đạp đi rảo khắp hang cùng ngõ hẻm rao (cũng có người đặt bàn cố định một chỗ).
Cây bút bi khi hết mực, sẽ được rửa sạch ruột, nếu đầu bi hư sẽ thay đầu khác, rồi bơm mực vào ruột viết bằng kim tiêm để dùng tiếp.
Xài bút phục hồi nầy, nguy cơ mực chảy ra áo khá cao và khi viết, mực ra không đều khiến chữ viết tèm lem!
Những người “hành nghề” bơm bút bi thường kiêm luôn bơm dầu (chiết dầu từ chai lớn vào chai nhỏ) và bơm ga hộp quẹt.
-/”Buôn lậu”:
Do thời bao cấp ngăn sông cấm chợ, các mặt hàng tiêu dùng đều do Nhà Nước quản lý, nên nhiều người lao vào “buôn lậu”(đem hàng hóa từ nơi có giá thấp đến chỗ có giá cao)để kiếm đồng lời trang trải cuộc sống.Họ buôn gạo,thịt,tôm,cá..từ miền Tây lên, rau cải từ Đà Lạt về hoặc than, củi miệt Long Khánh xuống v.v. Qua trót lọt hết các trạm kiểm soát thì có đồng lời kha khá, còn nếu bị “sạt hàng” thì banh vốn! phải đi vay mượn để buôn tiếp, vì
– Bần cùng sanh đạo tặc
Không làm lấy con..c..gì ăn!
-/Chợ trời:
“Nghề” nầy lạ, chẳng cần hàng quán hay hàng hóa gì cả, chỉ tành tành quanh chợ trời, hút thuốc, uống cà phê, tán dóc.. nhưng cặp mắt láo liên, coi có ai ghé vào, họ liền sáp lại hỏi: mua gì?bán gì?. “nghề” nầy cần biết các mặt hàng khan hiếm ở đâu trên thị trường chợ đen, mà nhiều thứ thời bao cấp khan hiếm lắm. Nếu “trúng mánh” cũng sống được vài ngày hoặc cả tuần .
-/Lộn sên xe:
Chủ yếu là sên xe đạp và xe gắn máy. Khi sên xe đã dãn, chạy nghe rột rẹt, người ta đem đi lộn lại.”Thợ” sẽ đục ra từng mắt sên, lộn các phần trong ra ngoài để tận dụng sên, xử dụng được thêm một thời gian.Đến lúc dãn lần thứ hai sẽ gởi vào gánh “ve chai lông vịt”.
-/Móc bọc:
“Nghề” nầy đã có từ xưa, trong Nam gọi là “ve chai lông vịt” nhưng đến thời bao cấp thì phát triển hơn. Người “hành nghề” chỉ cần một thanh sắt uốn móc một đầu, một cái túi và một tinh thần “chịu dơ-chịu khó”, họ lùng sục các bãi rác đầu đường xó chợ, “móc” tuốc luốc các thứ có thể bán được cho các vựa ve chai, như: đồ mủ, cao su, nhựa plastic, ve chai, sắt vụn, đồng nát, lông vịt, các đồ hư trong gia đình..
Từ “nghề móc bọc” để chỉ “nghề” tận cùng dưới đáy xã hội!
-/Xe than:
Lúc bấy giờ xăng dầu khan hiếm, giới xe đò và các garage cố gắng “cải tiến”(hay cải lùi!?) xe chạy xăng dầu bằng nhiên liệu than. Một lò đốt than được gắn sau xe, dùng nhiệt năng của than bị đốt thành động năng cho xe chạy.
Trên đường đi, loại xe nầy thỉnh thoảng văng cục than cháy dở xuống đường là chuyện bình thường, người đi đường vô ý cán nhầm thì ráng chịu, chứ than vãn với ai.
Quê tôi đó hiền hoà thôn Vỹ Dạ
Đã một thời êm ả cánh diều bay
Bên dòng Hương vườn xanh đẹp ngất ngây
Giữa đêm hè trăng loang đầy trên sóng
Trên đường làng bóng tre lùa vạt nắng
Tan trường về tà áo trắng trinh nguyên
Mái tóc thề má thắm nón nghiêng nghiêng
Em yêu kiều như nàng tiên giáng hạ
Mình quen nhau khi mùa thu thay lá
Đêm trăng tròn sương dần tỏa mênh mông
Tay trong tay đi dạo mát bờ sông
Cùng lắng nghe tiếng tơ lòng thổn thức
Chiến tranh về anh xa rời bút mực
Xa người thương tiếp nối bước tiền nhân
Khoát trên vai đời hồ hải phong trần
Vì đất nước đâu ngại ngần gian khổ
Tàn cuộc chiến quay trở về xóm cũ
Luỹ tre làng ủ rủ vắng người xưa
Đêm trăng đầy vằng vặc ánh sao thưa
Ngồi nhớ tới một mùa trăng năm cũ .
Tôi hân hạnh loan báo rằng Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ đã ký kết một thỏa thuận với Vương Quốc Đan Mạch và Greenland, theo đó Hoa Kỳ sẽ có quyền kiểm soát vĩnh viễn đối với vấn đề an ninh và mọi nhu cầu khác tại Greenland, giải quyết hoàn toàn TẤT CẢ những mối quan tâm của Hoa Kỳ. Hoa Kỳ sẽ KHÔNG PHẢI TỐN BẤT CỨ CHI PHÍ NÀO!
Theo chỉ thị của tôi, chúng tôi đã làm việc với các đại diện của Đan Mạch và Greenland để bảo đảm rằng Hoa Kỳ sẽ MÃI MÃI có đầy đủ khả năng thực hiện những điều cần thiết tại Greenland nhằm bảo vệ và phòng thủ cho an ninh của Greenland và của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ.
Ngoài ra, kể từ nay, không một đối thủ nào của Hoa Kỳ CÓ THỂ có căn cứ tại Greenland, duy trì sự hiện diện quân sự tại Greenland, hoặc thực hiện các khoản đầu tư nhạy cảm tại Greenland mà không có sự chấp thuận rõ ràng bằng văn bản của chúng ta.
Trong hơn 100 năm, các Tổng Thống đã biết tầm quan trọng chiến lược của Greenland, nhưng KHÔNG MỘT AI trong số họ có thể làm được điều gì về vấn đề này. Tôi hãnh diện là vị Tổng Thống đã giải quyết vĩnh viễn và dứt khoát tình trạng vô cùng quan trọng này.
Đây là một Thỏa Thuận “Vô Hạn,” không có ngày chấm dứt!
Chúng tôi rất vinh dự và hãnh diện về những gì vừa diễn ra, và mọi điều được thỏa thuận hôm nay sẽ được người dân Hoa Kỳ trân trọng. Chúng tôi sẽ lập tức bắt đầu tiến trình phát triển một lực lượng quân sự quy mô lớn tại khu vực thích hợp của Greenland, mà tại đó có rất nhiều địa điểm phù hợp. Chúng tôi sẽ làm việc với người dân Greenland trong việc phát triển và xây dựng.
Giải pháp này là một giải pháp tuyệt vời cho Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ, Đan Mạch, Greenland và tất cả các Đồng Minh của chúng ta. Chúng tôi mong muốn được hợp tác với người dân tuyệt vời của Đan Mạch và Greenland hướng đến một tương lai huy hoàng liên quan đến vùng đất rộng lớn và có tầm chiến lược rất cao này. Chúng tôi sẽ bảo vệ nơi đó hết sức nghiêm ngặt!
Đây là một giấc mơ trở thành hiện thực đối với Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ, một điều vô cùng quan trọng, mang tính lịch sử và đặc biệt. Cảm ơn quý vị đã lưu tâm đến vấn đề này!
Bạn phải đăng nhập để bình luận.