Video ” Sài Gòn xưa đẹp tuyệt vời” K1 Tuyen Dinh

unnamed (6)

Nhớ về những Hình ảnh Sài Gòn xưa đầy kỷ niệm, tôi làm một VIDEO
ghi lại một SÀI GÒN đẹp tuyệt vời của chúng ta một thời (Có ghi chú đầy đủ những địa danh) .
 
-Mời Qúy bạn cùng xem :
K1 Tuyen Dinh

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bình luận về bài viết này

Đã Muộn Rồi – NVV sưu tầm

Nhân mùa Vu Lan 2022, mời các bạn đọc  Chuyện Đã Muộn rồi
do K1 Nguyễn văn Vinh sưu tầm và gởi cho Căn Nhà Nhỏ.

ĐÃ MUỘN RỒI.

Mẹ gọi điện cho dì, hắt vào máy điện thoại những tiếng gắt gỏng.

– Để bà ở bên ấy thêm một tuần nữa thì đã sao ? Rồi thì tôi trông bà bù hai tuần. Liền hai tuần được chưa ? Tôi có việc nếu không tôi chẳng phải tốn hơi nhờ dì …

Dì lớn tiếng có gắt gỏng lại. Tính dì nóng nảy hơn mẹ nhiều. Từ trước đến nay dì chưa thua mẹ miếng nào. Kể từ khi bà ngoại bước sang tuổi 90, không tự chăm sóc bản thân được nữa, dì và mẹ thỏa thuận với nhau mỗi người trông nom bà một tuần.

Cũng kể từ đó bà như quả bóng bị đá từ đầu sân này sang đầu sân kia và ngược lại. Mẹ và dì nói nhau trong điện thoại suốt nửa tiếng đồng hồ. Mặt mẹ đỏ phừng phừng, hai hàng lông mày của mẹ rướn lên hết cỡ. Mẹ nhắc lại một số lỗi lầm điển hình của dì. Rồi mẹ kết luận.

– mày chỉ được cái mồm.

Bố theo dõi cuộc trò chuyện của hai chị em mẹ, lẩm bẩm “chị em mà như chó với mèo”. Mẹ chưa rảnh tay để hục hặc với bố ngay lúc ấy. Kết thúc cuộc điện thoại mẹ quay sang bố dằn từng tiếng “việc chị em tôi không bận gì đến ông”. Bố im lặng. Bố im lặng nghĩa là bố thây kệ, mọi chuyện muốn ra sao thì ra. Dù có biết điều gì đó nên nói bố cũng chẳng thèm hé răng.

Một tuần trôi qua. Việc bận của mẹ là việc đi chùa theo kiểu đi “tua”. Đi mười bảy chùa trong một tuần. Ăn chay toàn diện. Thành tâm cúng lễ. Tối chủ nhật mẹ mới về nhà. Không ăn uống, chỉ tắm rửa qua quýt mẹ lăn ra ngủ.

Bố thây kệ.

Bố không nói với mẹ rằng sáng thứ hai, sau khi mẹ đã lên xe đi cùng đoàn hành hương, dì gọi điện tới, cáu gắt, nói rằng mẹ nhất định phải sang đón bà, vì dì cũng bận. Và vì tuần đó là phiên mẹ trông bà. Dì không đời nào chịu bị buộc chân ở nhà trong khi mẹ cố tình trốn tránh trách nhiệm. Mẹ ích kỷ, còn dì không phải là người dễ nhân nhượng trước sự ích kỷ.

Đấy là tất cả những gì bố biết được qua cú điện thoại bố buộc phải nghe trong lúc mẹ vắng nhà. Bố vẫn nhớ những lời dì nói trong điện thoại. Nhưng bố kệ, không nói lại cho mẹ biết.

Ngày thứ hai của tuần tiếp theo, bắt đầu phiên mẹ trông bà và mẹ sẽ trông bà hai tuần liền để bù cho cả tuần trước mẹ đi chùa. Đến tận tối vẫn chưa thấy dì đưa bà sang nhà mẹ.

Mẹ vẫn tức dì, không gọi điện sang nhà dì hỏi tại sao như vậy. Cũng có khi mẹ nghĩ cứ để dì trông bà được bao lâu thì trông, khi nào dì đưa bà sang thì đến lượt mẹ, việc gì phải lăn tăn.

Một tháng rưỡi trôi qua. Bà chưa được đưa sang nhà mẹ. Mẹ và dì vẫn giận nhau, không ai gọi điện cho ai.

Thế rồi một hôm trước cổng nhà mẹ xuất hiện cậu con cả của dì. Cậu ta sinh sống ở nước ngoài, lần này đưa vợ chưa cưới về ra mắt gia đình.

– Chào bác, cháu đưa một nửa của cháu sang chào bà và hai bác đây ạ. Cậu ta vừa cười vừa nói với mẹ trong lúc mẹ mở cổng. Mẹ gật đầu chào, hơi hé miệng cười lấy lệ.

– Bà đâu hả bác ?!

Mẹ cười thành tiếng.

– Thằng này, đi Tây về biết hỏi nỡm nhỉ ?
– Bà ở trên gác ạ ? Không phải gọi bà xuống đâu ạ. Chúng cháu lên chào bà. Cậu ta nói, cầm tay vợ chưa cưới kéo lên cầu thang …

Mẹ đứng khựng lại như người bị sét đánh.

– Bà vẫn ở bên ấy mà ? Bên nhà cháu chứ đâu.
– Hì hì, bác cứ đùa.
– Không, bà vẫn ở bên ấy mà.

Mẹ đứng ở chân cầu thang, nhìn quanh ngơ ngác như người mất trí.

Thế rồi bốn cái máy di động cùng hoạt động một lúc. Tiếng bấm máy tít tít. Mẹ kêu trời bằng giọng thất thanh. Cậu con cả nhà dì dắt bạn gái lao ra cổng. Chuông điện thoại reo. Tiếng dì kêu khóc ở đầu dây bên kia nghe vang cả óc.

– Ôi giời ơi là giời. Mẹ tôi đi đâu hả giời ? Sáng thứ hai đó, mẹ xách túi quần áo đi ra ngõ, bảo “Mẹ về bên kia đây. Chị cả mày đón mẹ ở ngoài ngõ kia rồi”. Tôi đang bận trông chảo cá rán, chẳng ngó ra được. Cứ ngỡ mẹ được đón sang bên ấy rồi. Ai ngờ ! Ối mẹ ơi, giờ này mẹ ở đâu, mẹ ơi …

Suốt nửa năm trời người của hai nhà chúng tôi đi tìm bà khắp nơi. Chúng tôi đăng tin tìm bà trên nhiều tờ báo giấy, báo điện tử, đăng cả trên truyền hình. Chẳng ai biết bà đang ở đâu ?!

Cách đây hai tuần, bỗng nhiên có một người đàn ông tìm đến nhà tôi gặp mẹ. Ông ấy đưa cho mẹ xem một tờ báo có đăng tin bà tôi mất tích. Rồi ông ấy lấy từ trong chiếc ba lô đã cũ ra một chiếc túi vải.

Mẹ tôi trông thấy chiếc túi vải, bật khóc nức nở. Chiếc túi vải đó là túi đựng quần áo của bà.

Chính tay người đàn ông đó đã đặt bà vào chiếc quan tài mà ông tự bỏ tiền ra mua sau khi phát hiện bà tôi nằm còng queo trước cổng nhà ông, không động cựa và không còn thở.

Chiều muộn hôm đó, tại một nghĩa trang cách nhà chúng tôi gần 60km, mẹ tôi và dì – hai đứa con gái của bà tôi – khóc ngất trước nấm mộ phủ đầy cỏ xanh rì …

Một người đi xe máy trên đường, dừng lại bên rìa nghĩa trang nhìn cảnh dì và mẹ tôi khóc vật vã, bùi ngùi nói: “Thương quá ! Mồ mẹ cỏ đã xanh nhường kia mà các con vẫn khóc ngất. Thương quá !”.

oo0oo

Vâng, đây là câu chuyện rất đời thường, rất đáng đọc với tất cả chúng ta, cả những bậc làm Cha Mẹ và cả những đứa con. Không nhất phải đi lễ đi chùa nhiều, không cần phải ăn chay niệm Phật bởi không phải Danh vọng, Tiền bạc mà Yêu thương mới là điều con người cần phải tu, phải tích đức suốt đời. Không biết Yêu thương những người ruột thịt, những người sống quanh ta, không biết chia sẻ với đồng loại, với những số phận kém may mắn “chỉ biết chăm lo riêng cho bản thân của mình”, con người sẽ phải trả giá …

Phải chăm lo, dạy dỗ, giáo dục con từ lúc chúng còn nhỏ và hãy nhớ rằng, Cha Mẹ sẽ luôn là tấm gương để trẻ soi vào. Tôi chưa bao giờ tin – không chơi, với những người không biết yêu thương Cha Mẹ, anh chị em và những người ruột thịt trong gia đình cho dù ở đâu đó, thỉnh thoảng vẫn nghe họ rao giảng đạo đức bằng những ngôn từ hay ho, hoa mỹ đến tận cùng.

Tôi đã hơn một lần nhìn thấy những giọt nước mắt muộn màng. Sự vay trả ở đời luôn rất sòng phẳng.

ST

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bình luận về bài viết này

Tôi là người nước nào? Sưu tầm

Chuyện phiếm 

                    TÔI LÀ NGƯỜI NƯỚC NÀO???

    Bài viết dưới đây, của một người Việt gốc Hoa ,thể hiện sự biết ơn của mình đúng tinh thần ”Ăn cây nào, rào cây nấy”.Khởi đầu theo tác giả ,bài viết chỉ là “Đôi Điều Tâm Sự” mình gởi cho bạn bè đọc chơi ,nhưng không ngờ được nhiều người thích đăng lên mạng .Mru thấy bài viết hay ,dí dỏm ,chân thực nên mạn phép tác giả chia sẻ cho mọi người cùng đọc.

*****

          Dĩ nhiên, tôi là Đỗ Chiêu Đức, được sanh ra ở xã Thường Thạnh và lớn lên ở xã Thường Thạnh Đông, chợ vườn chồm hổm ở Cái Chanh, 5 giờ sáng nhóm đến khoảng 9-10 giờ sáng thì tan chợ. Cái Chanh cách Thị Trấn Cái Răng khoảng 5 cây số đường đất với cầu ván đóng đinh cũng có, mà cầu tre lắt lẻo cũng nhiều, như câu hát ru em mà tôi thường nghe :

Ví dầu cầu ván đóng đinh,
Cầu tre lắt lẻo gập ghình khó đi….

        Nên mặc dù là người Việt gốc Hoa (Triều Châu), tôi chỉ biết gọi Cha Mẹ Anh Chị bằng Pá Má Hia Chế và các từ thông dụng như Ăn cơm, ăn cháo là ” Chìa bừng, chìa múi…” ra, thì toàn bộ sinh hoạt gia đình đều bằng tiếng Việt của Nam kỳ Lục Tỉnh. 7 tuổi vào trường làng học lớp Đồng Ấu, học đánh vần với quyển Con Gà Con Chó, với các thành ngữ sau khi đã qua vần ngược là :

* Dùi đánh đục, đục đánh săng.
* Ách giữa đàng , mang vào cổ.
* Ăn bữa giỗ, lổ bữa cày.
* Đặng buồng nầy, xây buồng nọ.
* Ăn thì có, ó thì không…

         Tôi lại nổi tiếng đánh Cờ Nhào giỏi nhất đám con nít ở Cái Chanh. Một hôm, có Bác Ba ở xóm Ông Cò Nhỏ nghe tiếng tôi tìm đến đánh thử, Bác ghìm với tôi chừng nửa tiếng đồng hồ, rồi cũng bị tôi lừa thế nhào đôi một cái, bác chỉ còn có 8 con cờ, đang tìm cách gở gạt, đi lầm một nước, tôi lại được dịp nhào ba, còn có 5 con cờ thua là cái chắc. Bác Ba xô bàn cờ đứng dậy, xoa đầu tôi và khen : ” Con Tùa Hia thông minh thiệt !”. Tôi nổi tiếng ” thông minh” từ đó ! 10 tuổi ( 1958) ra chợ Cái Răng học chữ Hoa, cậu tôi mới dạy cho tôi đánh cờ Tướng, và câu chuyện bắt đầu từ đây…

        Trước 10 tuổi, lớn lên và học chữ Việt ở xã Thường Thạnh Đông, chợ Cái Chanh. Tôi là một đứa bé nông thôn nhà quê Việt Nam thuần túy. Khi ra đến Thị Trấn Cái Răng học chữ Hoa ở Trường Tiểu học Tân Triều của người Hoa sáng lập, tôi mới thấy được chiếc xe hơi Traction chạy đưa khách từ Cái Răng đi Cần Thơ, phố xá nhà lầu hai ba từng, và điều làm tôi ngạc nhiên nhất là một hôm đang trên đường đi tới trường, thì có mấy đứa nhỏ cũng đi học ở một trường Việt gần đó, chỉ trỏ và nói rằng : Mấy đứa “Ba Tàu” giàu hơn mình, đi học phải mang giày, còn mình thì đi chân không thôi ! Tôi không biết “Ba Tàu” là gì, nhưng rồi cũng phải biết, vì 2 tiếng “Ba Tàu” nầy theo tôi suốt thời gian niên thiếu, như khi chuyển sang học luyện thi bằng Tiểu Học ba tháng, lớp tôi 11 đứa đậu được 10 đứa, thì các bạn ở trường Việt lại khen : Mấy đứa “Ba Tàu” nầy giỏi thiệt. Một tháng sau, tôi đậu luôn vào Đệ Thất của trường Trung học Phan Thanh Giản Cần Thơ, thì lại nghe : Cái thằng “Ba Tàu” đó giỏi qúa ! Hai năm sau (1964), tôi đi thi ẩu … và đậu luôn bằng Trung Học Đệ Nhấp Cấp. Mấy anh học Đệ Tứ thi rớt lại mĩa mai một cách thán phục : Cái thằng “Ba Tàu” đó mới học Đệ Lục mà, sao mà đậu bằng Trung Học được ?!

     16 tuổi (1964), Tôi và ông bạn Liêu Chương Cầu lên Chợ Lớn làm lao công trong trường Phước Đức ở số 226 đường Khổng Tử (nay là trường Trần Bội Cơ). Chợ Lớn là nơi kinh doanh buôn bán của người Quảng Đông, cả người Việt vào Chợ Lớn buôn bán cũng biết nói tiếng Quảng Đông. Tôi là người Tiều Châu, tiếng Tiều còn nói không rành, làm sao biết tiếng Quảng Đông mà nói. Tôi và ông bạn Cầu chỉ lỏm bỏm được vài câu Quan Thoại cà chật cà vuột, nên nhiều khi văn phòng hoặc thầy cô giáo sai biểu hoặc nhờ cậy điều gì, phải nói tới nói lui mấy lần hoặc phải ra dấu thì mới hiểu được, nên các thầy bà đó gọi chúng tôi là “Ón Nàm Chẩy 安南仔” (tiếng Quảng Đông có nghĩa là “Thằng An Nam“). Và không chỉ ở trong trường, đi mua đồ, hay đi ăn cơm ở các sạp cơm bình dân, vì đang tập nói tiếng Quảng Đông nên phát âm không chuẩn, họ vẫn gọi chúng tôi là “Ón Nàm Chẩy” như thường.

         50 tuổi (1998), định cư ở Mỹ, rồi phải chạy theo cuộc sống ở đây, đâu có thời giờ để mà đi học tiếng Anh. 56 tuổi (2004) nhập quốc tịch Mỹ, nhưng nói chuyện với Mỹ vẫn “mõi tay” như thường ! Và mấy người Mỹ làm chung ở trường học vẫn gọi tôi bằng Vietnamese mặc dù tôi đã là công dân Hoa Kỳ rồi, nghĩ có tức không ?! Nhưng nếu nói mình là người Mỹ, thì mình có nói rành tiếng Mỹ đâu mà câu mâu !? Nhưng, đây cũng là một điều bất công rất tự nhiên trên nước Mỹ : Người Đức, Người Ý, Người Pháp, người Anh… nói chung là người da trắng, khi nhập tịch Mỹ là thành ngay Mỹ Trắng. Người Châu Phi bất kể nước nào, nhập tịch Mỹ, thì thành Mỹ Đen. Nhưng người “da vàng mũi tẹt” nhập tịch Mỹ, không có ai gọi là “Mỹ Vàng” cả ! Ngay cả người da vàng với nhau, gặp nhau cũng hỏi : where do you come from ?( Bạn từ đâu đến đây ?) Ý muốn hỏi, bạn là người đến từ Đài Loan, Nhựt Bổn, Việt Nam, Đại Hàn, Phi Luật Tân…

         Dưới 10 tuổi ở Cái Chanh, tôi là em bé quê Việt Nam, khi ra đến chợ Cái Răng thì thành “Ba Tàu”, lên đến Chợ Lớn thì lại thành “Ón Nàm Chẩy”. Qua đến Mỹ, mặc dù đã nhập tịch rồi vẫn bị gọi là Vietnamese !!! Việt Nam chê, gọi tôi là “Ba Tàu”, nhưng họ chưa chắc đã giỏi tiếng Việt bằng tôi. Cũng như Tàu chê tôi, gọi tôi là “Thằng An Nam”, nhưng họ cũng đâu có giỏi tiếng Tàu bằng tôi đâu ! Chỉ có Mỹ chê, gọi tôi là Vietnamese thì tôi chịu, vì tôi nói tiếng Mỹ rất ” mõi tay”. Rốt cuộc, Đỗ Chiêu Đức là người gì đây ?!

       Nhờ các tiền bối, thân hữu “xử” dùm xem, Đỗ Chiêu Đức là người nước nào?

(Chinese, Vietnamese or American?)

Nay kính.
Đỗ Chiêu Đức

TB: Hỏi chơi thôi! Chớ tôi là người Việt Nam chính hiệu mà ! Sanh ra và lớn lên ở VN, nơi chôn nhau cắt rún là VN, mồ mả ông bà tổ tiên ở VN, cha mẹ còn ở VN, anh em con cháu còn ở VN … Chỉ có cái “gốc Hoa” mà thôi ! Mà đã là “gốc” thì mình đâu có chọn lựa được ! Qua Mỹ 20 năm (1998-2018) tôi không có về thăm “gốc” lần nào cả, vì có biết ai bên đó đâu mà “thăm”, có thăm thì cũng có ai biết mình là ai đâu mà “viếng”! Nhưng, tôi lại về VN đến 10 lần, cứ chắc mót 2 năm đủ tiền mua vé máy bay là vợ chồng tôi lại bay về VN thăm Cha Mẹ, em út, con cháu và bà con cô bác …. Đặc biệt năm 2013 về VN đến 2 lần vì Ba tôi mất …

        Không phải chỉ riêng tôi, mà tất cả người Việt gốc Hoa đều như thế cả ! Về thăm Trung Quốc chỉ là để du lịch khi dư dả, còn về thăm thân nhân ở VN mới là chánh …
Người Hoa ở VN cho con cái học tiếng Hoa vì sợ mất gốc, cũng giống như người Việt Nam chúng ta hiện nay ở Mỹ cho con cái học tiếng Việt Nam cũng chỉ vì sợ mất gốc mà thôi !

         Hỡi ôi ! Buồn thay cho ” Cái thứ Ba Tàu !”

          Đỗ Chiêu Đức

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bình luận về bài viết này

Những con đường rút lui khi tuổi tác xế chiều.- BH sưu tầm

Những con đường rút lui
khi tuổi tác xế chiều.

 

Khi về già, có người sống những tháng năm vui vẻ, có người lại u uất muộn ρhiền. Tổng kết lại thì không gì ngoài việc bạn đã chuẩn bị con đường lui bước tốt đẹρ cho mình chưa?

Khi về già, cũng là lúc chỉ còn lại khoảng thời gian cuối cùng trong đời người, bạn đã có con đường lui của mình chưa? Sau đâγ là 5 gợi ý thú vị giúρ bạn luôn thảnh thơi khi tuổi tác xế chiều:

Con đường thứ 1: Có một thân thể mạnh khỏe

Điều nàγ quan trọng nhất, bất kể có tiền haγ không, khi có một thân thể mạnh khỏe thì đã có những năm tuổi già hạnh ρhúc.
Có thân thể mạnh khỏe sẽ không gâγ thêm ρhiền ρhức cho con cháu.
Có thân thể mạnh khỏe sẽ không đem tiền tặng cho Ьệпh viện.
Có thân thể mạnh khỏe, thì bản thân mới có niềm vui.

Thế nên, bất kể lúc nào, có thân thể mạnh khỏe mới là con đường lui tốt đẹρ nhất đời người.

Khi bạn có tuổi càng cần chú ý, cái gì cũng của người khác, chỉ thân thể mới là của mình, đó là cái mình ρhải đem đi.

Ở trong nhà không bằng hoạt động. Bình thường cần chú ý những thông tin mà thân thể biểu lộ. Đối với thân thể nhất định ρhải chăm chút, định kỳ kiểm tra sức khỏe, chớ tự làm khó mình.

Cần xem nhẹ tất cả, tâm tĩnh lại rồi thì Ьệпh tật sẽ tránh xa.

Con đường thứ 2: Bên mình có người dìu bước

Đó chính là người chung gối, là bạn đời. Có tuổi rồi, có bạn đời bầu bạn mới là ρhúc.

Dân gian thường nói: “Con cháu đầγ nhà cười ha hả, chẳng bằng một người bạn già bên thân”. Haγ như câu: “Con chăm cha không bằng bà chăm ông”.

Đâγ không ρhải thứ tình cảm oanh liệt hoành tráng gì, chỉ là cùng trò chuγện, bình thản, nhẹ nhàng, đó mới khiến trái tιм ҳúc ᵭộпg nhất.

Có người bạn đời biết γêu, biết tҺươпg, đó mới là con đường tốt nhất.

Con đường thứ 3: Cuộc sống cần có quγ luật

Con người có tuổi nhất định ρhải sống có quγ luật. Nghỉ ngơi, ăn uống, vui chơi, ngủ nghê… cần ρhải có thời gian của mình. Bởi vì các ‘linh kiện’ trên thân mình đều đã lão hóa, chẳng thể chịu nổi sức tàn ρhá của bất quγ luật. Ăn uống không được chè chén thỏa thê. Trưa nhất định cần ngủ. Với bạn già khiêu vũ chơi bài cũng cần có mức độ.

Kết giao bạn bè là rất quan trọng, người có tuổi cũng nên có nhóm của mình, chớ khéρ kín mình, nhưng kết giao nhất định ρhải cẩn thận.

Chớ kết giao với người có lòng dạ hẹρ hòi , ích kỷ, tham lam, vơ vội của người làm của mình.

Con đường thứ 4: Dành đủ tiền chi tiêu cho mình

Việc nàγ rất quan trọng, chớ đem hết tiền cho con cháu. Có tiền rất quan trọng.

Nếu xảγ ra bất trắc gì thì đã có đủ tiền xử lý. Khi có việc cần dùng đến tiền, tự mình lấγ ra, không ρhải ngửa taγ xin con cháu.

Có tiền ra ngoài, đáng tiêu thì tiêu, đi du lịch một chuγến, mua bộ quần áo đẹρ. Khi tâm tình vui vẻ thì mới cảm thấγ được đã không cô ρhụ bao năm tháng đã qua.

Con đường thứ 5: Một trái tim vui vẻ

Con cháu đều bận rộn, chúng ta chớ làm ρhiền chúng. Chúng ta nghỉ hưu rồi, nhất định ρhải tìm niềm vui của riêng mình.

Tuổi tác nàγ là quý báu nhất, do đó cần hưởng thụ cuộc sống.

Hát ca, nhảγ múa, du lịch, dạo chơi, thăm thú… xem còn có những ρhong cảnh đẹρ nào mà mình chưa xem, nếu điều kiện cho ρhéρ thì hãγ đi thực hiện. Nhất định cần trân quý quãng thời gian cuối cùng.

Theo Cmoneγ
Nam Phương biên dịcҺ
Bửu Hồng sưu tầm

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bình luận về bài viết này

Video Mùa Hè 2022 của tôi.

Mời các bạn xem một video 20 phút, rút gọn hai ngày camping bên núi tuyết Mount Rainier, một thắng cảnh của tiểu bang Washington.
Hai đêm ngủ trong rừng, ban ngày đi chơi tuyết để xem sức khỏe của mình (ông già 80) còn chịu đựng được tới đâu.
Mời các bạn xem cho vui nhân dịp kỷ niệm 11 năm Căn Nhà Nhỏ và đại gia đình K1.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bình luận về bài viết này

Các bài thơ mừng sinh nhật

CÁC BÀI THƠ THÂN THƯƠNG MỪNG SINH NHẬT

287676219_182991640787880_1392161082100330651_n

Xin cám ơn chị Lê Phương Lan và tất cả các bạn “Cóc” đã đề thơ tặng mừng sinh nhật của lão gia NCV. Thành thật cám ơn

Nay mừng thượng thọ bạn Thiện Tâm,
Tám mươi tâm hồn vẫn trẻ trung.
Vợ hiền, con thảo thật hạnh phúc.
Từ bi, đạo hạnh luôn tu thân.
Vinh-Lan
Mừng Sinh Nhật anh Nguyễn Công Vinh. Thân mến chúc anh thân tâm thường an lạc bên gia đình và mọi người thân .

CHÚC MỪNG BẠN TUỔI 80

Năm nay bạn đã tám mươi rồi
Cứ việc an tâm sống thảnh thơi
Sinh diệt thường tình loài thọ tạo
Chẳng lo chẳng sợ vẫn tươi cười
Một mai đứt bóng về “bên ấy”
Gội ánh bồng lai hưởng lộc trời
Thân chúc những ngày còn tại thế
Được vui được khoẻ được ăn chơi

Cóc Huế

Táo CNN*

Bên ngoài tám chục vẫn chưa teo
Áo gấm che thằng củ lẳng queo
Chớ tưởng bên trong là mảnh hổ
Họa chăng một trái khổ qua đèo .

Cóc Chát

*Táo : cuỗng trời .


CHÚC MỪNG SINH NHẬT

Thượng Thọ Chúc Vinh Luôn Khỏe Mạnh,
Tám Mươi Mừng Bạn Mãi An Khang.

    HAPPY BIRTHDAY

Sinh nhật nào vui chỉ một mình,
Lòng thành đây cũng muôn thơm vinh.
Mời ly rượu thảo như lời ước,
Tặng tám câu thơ gọi chút tình.
Những muốn Công-Vinh luôn khỏe mạnh,
Hằng mong hiền hữu chẳng thay hình.
Tám mươi tuổi chẵn, trông còn trẻ,
Khe khẻ chị nhà: ảnh vẫn xinh!

  LỆ-KHANH

MỪNG BẠN HIỀN

Tuổi đã tám mươi. Bảnh quá ta !
Trông còn trẻ quá ! Có đâu già
An vui tuổi hạc đời tươi thắm
Phong độ bạn  hiền đẹp lắm  nha !!!

CÓC TÍA

MỪNG 80 ĐÈO QUEO TEO

Lúc đó ở truồng bé tí teo
Bây giờ lỏng gối ngủ chèo queo
Thời nào bồ nhí ngày ba bảy
Tám bó vợ non cũng ráng đèo

CÓC KHÔ QUEO

Mừng Xuân Tám Chục

Áo rộng phủ rồi khó thấy teo
Hỏi ai thì biết nó cong queo ?
Trang căn nhà nhỏ luôn tươi thắm
Tám chục còn gân, cứ gắng đèo

TP

Hoạ: Già Gân

tám chục đây rồi nhỏ đã teo
Vui chơi thoả mái chẳng nằm queo
Căn nhà vẫn mở chờ thăm hỏi
Thế sự tham gia trả nợ đèo

ĐNN (28/6/22)

Mừng Bạn Tám Mươi

Tám chục niềm vui mĩm miệng cười
Áo dài phong tục nét ngời tươi
Căn nhà khoá một vui bè bạn
Nối kết vòng tay ấm áp ngời

ĐNN (28/06/2022)

Bảnh Tỏn 

Áo dài ngoài phủ ở trong teo
Ta đứng mà sao nó gục queo
Bảnh tỏn oai phong ông Chủ Nhỏ*
Tám mươi còn sức trẻ trèo đèo ???


* chủ CNN

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bình luận về bài viết này

Mừng sinh nhật 80 tuổi – NCV

Mừng sinh Nhật Căn Nhà Nhỏ năm nay cũng vừa đúng Sinh Nhật lần thứ 80 chủ nhân của nó. Mời các bạn thưởng thức bài thơ :

MỪNG SINH NHẬT 80 TUỔI

Thượng thọ vừa tròn, tuổi tám mươi
Thân còn khỏe mạnh, vẫn cười tươi
Tâm hồn thanh thản, an nhiên sống
Bỏ hết sầu đau, giữ nụ cười

Cảm ơn bà xã của tôi ơi
Cực khổ đồng cam chẵg trách lời
Nắng hạ, mưa thu, đông tuyết lạnh
Bà luôn bên cạnh cuộc đời tôi.

Tháng ngày còn lại biết bao lâu
Nguyện sống bình yên đến cuối đời
Trả lại trần gian bao thế sự
Để về cõi mộng ở trên trời.

Năm nay tuổi đã tám mươi rồi
“Ngày ấy” cũng gần đến vậy thôi
Sinh tử vô thường đâu thoát khỏi
Như vầng mây trắng tụ, rồi trôi.

Còn sống ngày nào vui cứ vui
Bận lòng chi lắm chuyện xa xôi
Một hơi thở dứt, đời ta đứt
Nghiệp quả theo ta suốt cuộc đời.

Cảm tạ Phật Trời đã đoái thương
Giúp con qua khỏi mọi tai ương
Cám ơn Mỹ quốc dang tay cứu
Cho sống bình yên đến cuối đường

Bạn bè thân hữu của tôi ơi
Tình bạn, đồng môn mãi chẳng vơi
Cầu chúc cho nhau hạnh phúc sống
Dù cho tuổi đã tám mươi rồi.

Mừng Thượng thọ 80
28/6/2022
Nguyễn công Vinh.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bình luận về bài viết này

Mừng sinh nhật lần thứ 11 Căn Nhà Nhỏ

Hôm nay kỷ niệm 11 năm Căn Nhà Nhỏ có mặt cùng Gia đình K1 Học Viện CSQG. Mời các bạn thưởng thức birthday cake do chủ nhân CNN thực hiện.

BirhdayCake24.com_162e57aeac6a4f

BirhdayCake24.com_162e57aa21492c

BirhdayCake24.com_162e57a180b14c

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bình luận về bài viết này

Cười chút cho vui nhé.

NHỮNG CHIẾC BÁNH TRONG CUỘC ĐỜI

Đi chơi với đào thì phải có bánh Bao
Lúc yêu nhau thì muốn ăn bánh Hỏi
Lấy nhau về có bánh Phu Thê
(người Bắc phát âm là Xu Xê)
Tình nghĩa vợ chồng luôn có bánh Khoái.
Đem lòng nghi kỵ thì có bánh Canh.
Chi ly từng đồng đành nhai bánh Bèo.
Ra vào đụng mặt đã có bánh Gai.
Cãi nhau hoài chán có thêm bánh Đập.
Đập cho bầm giập rồi ăn bánh Tét.
Đánh cho tơi tả đã có bánh Phồng.
Nhừ tử xong rồi nếm bánh Da lợn.
Gọi Công an đến có ngay bánh Còng.
Sức khỏe kém rồi đành ăn bánh Ít.
Đi đứng loạng choạng chỉ còn bánh Bò .
Cuối một quãng đời thì là bánh Tiêu.

Sưu tầm

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bình luận về bài viết này

4 Ngày đi bộ Vinh Danh Cờ Vàng VNCH

4 Ngày đi bộ
Vinh Danh Cờ Vàng VNCH
tại NIJMEGEN Hòa-Lan 2022

( Cám ơn bạn K1 Trần Quốc Nại gởi cho CNN để share đến cả nhà K1)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bình luận về bài viết này

Chuyện về những tấm lòng cao thượng (Báo Người Việt Tây Bắc)

Chuyện về những tấm lòng cao thượng

(Tôi đã gặp lại hắn, sau hơn 20 năm. (Tranh: Đinh Trường Chinh)

Một sự tình cờ, tôi đã gặp lại hắn, sau hơn 20 năm, kể từ lúc cả hai cùng được thả ra, vào một ngày đầu Tháng Năm, 1981, từ trại tù Bình Điền, Thừa Thiên Huế. Tôi biết hắn từ trước năm 1975 không những vì cả hai cùng học một lớp bậc trung học, cùng một khóa Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, thậm chí, sau đó lại về cùng một đơn vị. Trước ngày mất nước năm tháng, hắn lấy vợ. Vợ hắn, tên là Hạ, đúng là một cô giáo hiền thục, đoan trang và thương chồng theo cách tăn măn tỉ mỉ của những cô gái Huế (thời trước.)

Rồi trôi theo vận nước, tôi đi với hắn vào cùng một trại tù và (thật kỳ lạ) sáu năm sau lại cùng với hắn ra khỏi trại. Trong khoảng thời gian (ở tù) này, và nhất là sau khi cùng được thả ra về sống tại địa phương. Tôi mới biết được và hết sức khâm phục lòng hy sinh và sự chịu đựng của vợ hắn…

Khi cuộc đời nhà binh của hắn và kể cả tôi nữa kết thúc tại bãi biển Thuận An, Huế vào ngày 26 Tháng Ba, 1975. Chúng tôi bị lùa lên trại tù Khe Sanh, rồi về Cồn Tiên, hắn hay chắt lưỡi với tôi: Trời hỡi!! vậy mà cũng còn may. Tôi hỏi thì hắn trả lời: May là vì hai vợ chồng tôi chưa có con, không bị ràng buộc chi hết, nàng có thể tự do đi lấy chồng khác, chớ đeo theo mình, cái thằng tù chung thân khổ sai này làm cái chi?!  Tại trại tù Cồn Tiên (Tỉnh Quảng Trị) lần thăm nuôi đầu tiên, vợ hắn lên thăm. Hắn nói ngay với với nàng: Thôi đến mức ni là đủ rồi, em còn trẻ, chưa có con, anh cho phép em ly dị anh, rồi về mà kiếm một thằng chồng khác, chớ đeo theo anh làm cái chi nữa?!, lấy ai cũng được, miễn răng em hạnh phúc là anh mừng rồi. Vợ hắn im lặng không nói. Ba tháng sau, về trại Ái Tử (Đồng Hà) lại thấy nàng tay xách nách mang giỏ lớn, giỏ nhỏ lên thăm. Hắn lại khuyên nàng như lần trước, thì bị nàng nạt: Đừng có giở trò cao thượng với tui, tui là vợ anh thì đến chết tui vẫn là vợ anh, đừng có nói ba xàm ba láp. Đến đây thì hắn tắt đài không dám hó hé thêm một tiếng. Vì chuyện này tôi không biết hắn vui hay là buồn, vui cũng đúng thôi vì thời buổi này có được một người chung tình như vợ hắn thì cũng đáng vui, nhưng buồn như trường hợp hắn lại cũng đúng. Buồn vì tội nghiệp cho cô vợ trẻ không biết có mắc nợ nần chi từ đời kiếp nào mà bây giờ phải đeo theo mà trả.

Vợ hắn đã bỏ nghề giáo từ lâu, để lăn lưng ra chợ trời, buôn thúng bán bưng.
(Photo by Paula Bronstein/Liaison)

Sau này khi được phóng thích về địa phương, nghe thuật lại thì ra vợ hắn đã bỏ nghề giáo từ lâu, để lăn lưng ra chợ trời, buôn thúng bán bưng mà kiếm từng đồng bạc lên thăm nuôi anh chồng đang sa cơ thất thế. Lại nghe nói trước đó có anh trưởng Ban Thuế Vụ tỉnh đeo theo nàng như đỉa nhưng luôn luôn bị nàng quyết liệt từ chối. Trước ngày đi vùng kinh tế mới trong Nam, tôi nói với hắn: Ông có phước lắm mới có được người vợ như rứa, ráng mà sống với nhau trọn đời. Hắn trả lời: Mẹ tôi sinh ra tôi làm người còn vợ tôi mới là người mở mắt cho tôi biết cái gì gọi tấm lòng cao thượng.

Khoảng vài năm sau thì nghe nói hai vợ chồng hắn đã lên tàu vượt biên.

Nghe tin này tôi cầu mong hai vợ chồng hắn đi đến nơi đến chốn bình yên và mãi mãi hạnh phúc bên nhau.

Mười năm sau, gia đình tôi đi Mỹ theo diện H.O. Qua Mỹ, tôi ra sức tìm kiếm hai vợ chồng hắn. Và qua nhiều người bạn tôi nghe tin hắn đang sinh sống tại một tiểu bang miền Đông và cũng nghe nhiều chuyện về hắn. Nhưng mãi đến hơn hai chục năm sau, tình cờ, tôi mới có dịp gặp lại người bạn cũ  này.

Đó là một đêm Giao Thừa âm lịch tại thành phố Salt Lake City, tiểu bang Utah. Ngoài trời tuyết rơi trắng xóa. Trong một căn chung cư ẩm thấp nghèo nàn ở vùng North Salt Lake. Ngồi trước mặt tôi là một người đàn ông ốm yếu, đầu tóc bạc trắng, nhìn tôi qua cặp mắt ủ rủ, chính là hắn.

Tôi hỏi hắn:

Chuyện gì đã xảy ra? ông có nhớ tôi đã từng nói với ông là hãy sống hạnh phúc với Hạ và hãy biết quý trọng tấm lòng cao thượng của nàng.

Hắn nhìn tôi, với ánh mắt sáng lên chút diễu cợt, rồi biến mất, chỉ còn hai bên khóe mắt của hắn tôi nhìn thấy những vết hằn buồn rầu ai oán.

Đúng rồi, chính cái tấm lòng cao thượng hay là sự hy sinh cao cả đó nhưng than ôi, kết quả mà nó mang lại là tất cả những gì anh đang thấy đây…

Hắn bắt đầu câu chuyện.

Chiếc thuyền mỏng manh chở khoảng 150 người rời khỏi Lăng Cô nhắm hướng hải phận quốc tế, vào cái ngày định mệnh đó. Chỉ 4 tiếng đồng hồ sau thì nó vỡ tan ra từng mảnh. Khi tôi tỉnh dậy thì thấy đang nằm trên một tàu hàng Nam Dương. Trong số 150 người trong đêm đen bão táp, chỉ có chừng vài mạng được vớt lên, còn hầu hết đều mất tích, vợ tôi nằm trong số người mất tích đó. Thì anh cũng biết, trên biển cả mênh mông mất tích là đồng nghĩa với cái chết. Vì thế, anh hiểu là tôi đau khổ đến mức nào không??? Vợ tôi đã hy sinh hết mọi thứ, kể cả tuổi xuân của nàng chỉ vì nàng yêu tôi. Vậy mà tôi chưa kịp đền đáp mang lại cho nàng sự hạnh phúc, chỉ còn vài bước nữa là đến bến bờ tự do thì nàng đã vĩnh viễn chìm sâu dưới lòng đại dương. Nỗi mất mát lớn lao này đã cào xé, dằn vặt tôi, tạo nên một cơn hoảng loạn dai dẳng đến nỗi người ta phải đem tôi vào bệnh viện. Tôi nằm trong một bệnh viện tâm thần, hay nói cho đúng đó là nhà thương điên trong vòng một tháng trời, và ở trong tình trạng nửa mê nửa tỉnh, nửa điên nửa khùng. Trầm trọng đến nỗi ai cũng nghĩ chỉ còn nước ngồi chờ đến giờ đem tôi đi chôn.

Nhưng rồi như một định mệnh đã được an bài, một ngày kia, tôi bỗng tỉnh dậy và thấy một cô gái người Việt đang đứng nhìn tôi ở đầu giường. Hỏi ra, mới biết, đó là một cô gái sống tại Mỹ và làm trong một cơ quan thiện nguyện chuyên giúp đỡ những người tị nạn. Hiểu được và thông cảm nguyên nhân căn bệnh trong người của tôi, cô gái tên là Huyền, đã tình nguyện chăm sóc cho tôi và dần dần đem tôi lên từ dưới đáy sâu của cơn khủng hoảng tuyệt vọng để hồi sinh trở thành một người bình thường. Rồi cũng dần dần cả hai chúng tôi trở thành hai người bạn thân lúc nào cũng không hay. Huyền chỉ nhỏ hơn tôi vài tuổi, không đẹp, nhưng đằm thắm, dịu dàng. Nàng đã có một đời chồng, và chính điều này cũng là một tâm sự buồn mà có vài lần nàng đã bộc lộ cho tôi biết. Nhưng nàng nói cũng nhờ sự bộc lộ đó mà nàng luôn luôn giữ được trạng thái cân bằng trong tâm lý. Tôi cũng kể cho nàng thêm những chi tiết về Hạ người vợ xấu số của tôi, về cái tình yêu và sự hy sinh của nàng dành cho tôi. Tôi nói với Huyền:

Suốt đời có lẽ không bao giờ tôi quên được vợ tôi.

Huyền nói:

Đừng bao giờ quên cô ấy vì chính lúc anh nghĩ về cô ấy là chính lúc anh tự cảm thấy an ủi được rất nhiều. Nhưng anh cũng nên nhớ, anh cũng cần nghĩ về anh nữa, bởi anh cũng cần phải sống và biết cách sống nữa chứ.

Phải nói tôi cám ơn Huyền rất nhiều về những gì mà nàng đã làm cho tôi trong thời gian vừa qua và khi nhìn vào đôi mắt đằm thắm của nàng tôi chợt nghĩ biết đâu hương hồn vợ tôi đã phù hộ cho tôi gặp được cô gái này cũng nên? Hóa ra trong cuộc sống trước mắt, tôi đang có hai người đàn bà ở bên cạnh, một người ở quá khứ và một người đang sống ở hiện tại. Họ đã tạo cho tôi một thế cân bằng trong tâm lý và giúp tôi dần dần vượt qua được trạng thái hụt hẫng đau đớn trước kia.

Chừng vài tháng sau, cũng nhờ sự giúp đỡ bảo trợ của Huyền, tôi đã được phái đoàn phỏng vấn chấp thuận cho định cư tại Mỹ. Lúc đó tôi về một tiểu bang miền Đông với Huyền, và theo lời khuyên của nàng tôi ghi danh đi học, bắt đầu từ các lớp ESL, rồi qua college, sau đó lên đại học. Trong thời gian đi học tôi và nàng thuê chung một căn apartment hai phòng (dĩ nhiên). Tôi đi học ban ngày, cuối tuần đi làm thêm kiếm tiền phụ giúp một phần trả tiền ăn ở. Còn nàng thì đi làm ca đêm. Cũng nên nói thêm, chúng tôi luôn luôn coi nhau như là bạn, tôn trọng nhau đối xử nhau một cách vui vẻ và chân thật. Tôi ráng sức học và hiểu rằng đó là cách để khỏi phụ lòng người đã giúp đỡ tôi đến nơi đến chốn. Tôi cũng hiểu rằng, nàng cũng đang ráng sức đi làm để tạo điều kiện dễ dàng trong việc học của tôi. Nghĩ lại, mới thấy cả hai chúng tôi cũng đều ráng sức và cũng vì nhau mà ráng sức. Phải chăng chúng tôi đang làm một việc mà chỉ có hai người đang yêu nhau mới làm?

Trong đời tôi định mệnh đã cướp đi của tôi một cơ hội là mang lại hạnh phúc cho người đã từng hy sinh cho mình, đó là Hạ. Lần này tôi không muốn mình vuột đi một cơ hội tương tự như vậy. Tôi quyết định chọn một ngày quan trọng nhất để tôi ngỏ lời cầu hôn với Huyền. Ngày đó cũng là ngày tôi tốt nghiệp với mảnh bằng kỹ sư công chánh.

Rồi cái ngày đó đã tới.

Buổi trưa sau khi làm lễ tốt nghiệp xong cả hai chúng tôi về nhà. Chúng tôi quyết định cùng nấu chung một vài món để ăn mừng và đó cũng là một cơ hội để tôi nói lời tình yêu với Huyền. Tôi nghĩ không có một cơ hội nào tốt hơn là cơ hội  này. Tôi đang lau chén đũa và trải khăn bàn trong lúc chờ nàng chạy ra cái chợ ở đầu phố nói là mua thêm ít rau, và vừa lẩm bẩm trong miệng câu nói mà tôi chờ đợi được nói suốt cả năm trời nay. Đúng lúc thì có tiếng chuông cửa. Một người đi bỏ báo đứng chờ ở ngoài, đưa cho tôi một lá thư nhỏ, nói: Phải anh là anh Tiến không? Có một người ở đằng kia nhờ tôi trao cho anh tờ giấy này.

Tờ giấy nhỏ bằng bàn tay, chữ viết tròn trịa quen thuộc.

Anh Tiến, Em là HẠ đây, em vẫn còn sống đây, nhưng chuyện dài dòng lắm, em thì không tiện vào nhà. Qua gặp em trong cái công viên phía bên kia đường.

Tôi không còn nhớ lúc đó tâm thần tôi hoảng loạn đến mức độ nào. Tôi cũng không biết mình nên làm gì nữa. Giá lúc đó mà động đất xảy ra hay núi lửa phun lên, sóng thần tràn vào tôi cũng không cần biết. Tâm trạng hoảng loạn này có lẽ cũng lớn ngang với lúc tôi tỉnh dậy trên chiếc tàu hàng Nam Dương và biết người vợ mình đã bị nhận chìm giữa lòng đại dương cách đây 7, 8 năm về trước. Nhưng rồi như cái máy tôi bước ra cửa lảo đảo băng qua bên kia đường.

Tôi nhận ra nàng ngay. Chính là Hạ. Vợ tôi, nàng không khác mấy như tôi gặp nhiều lần trong những giấc mơ trước kia. Nhưng bây giờ không phải là trong giấc mơ mà bằng xương thịt nàng, hiện ra dưới ánh nắng buổi trưa với làn da có vẻ xanh xao hơn và đôi mắt buồn rầu. Cơn xúc động đến nỗi tôi muốn ôm chầm lấy nàng. Nhưng nàng ngăn tôi lại rồi hấp tấp nói.

Anh Tiến, em không còn nhiều thì giờ nữa vì trong vòng một tiếng nữa em sẽ rời nước Mỹ trở về lại Úc.

Tôi nhìn thấy nàng cười nhưng nước mắt thì ràn rụa trên má.

Anh biết không, khi em trôi dạt trên biển và được một thương thuyền Úc vớt lên, đem về Úc. Lúc đó em vẫn tin rằng chỉ có em là người duy nhất sống sót trên chiếc tàu định mệnh đó. Mãi vài năm sau thì có người liên lạc với em và cho biết anh vẫn còn sống. Anh biết là ai không? NGƯỜI ĐÓ LÀ CÔ HUYỀN. Chính cô Huyền đã bỏ rất nhiều công sức để truy tìm em trên khắp các trại tị nạn, trong một hy vọng là em còn sống. Và thật không uổng công cho cô ấy. Huyền đã tìm ra em. Cô ấy đã liên lạc với em nhiều lần, kể hết mọi chuyện về anh và nói với em rằng sẽ tạo điều kiện cho hai người gặp nhau nhưng phải chờ anh tốt nghiệp xong. Hai ngày trước cô Huyền mua vé cho em từ Úc bay qua đây và hẹn em đúng giờ này đến ăn cơm chung để mừng anh và em. Nhưng ngồi trên máy bay em đã nghĩ lại rồi. Chính cô Huyền mới là người xứng đáng với anh, cô Huyền là người đã cứu anh ra khỏi cơn khủng hoảng tâm thần, đưa anh qua Mỹ và tạo điều kiện cho anh ăn học thành tài. Anh nên nhớ, nếu không nhờ cô ấy, chắc gì anh còn sống được đến ngày hôm nay. Hồi sáng em đứng ở đây nhìn anh và cô Huyền bước xuống xe, nhìn trong mắt anh lúc đó, anh hiểu không, em là đàn bà mà, em biết liền, trong đôi mắt anh lúc đó đang tràn trề sự hạnh phúc của một người đang yêu. Cô Huyền mới xứng đáng là người được anh trao cái hạnh phúc đó. Cô ấy đã hy sinh cho anh nhiều rồi. Đừng nên để cô ấy hy sinh thêm nữa, vì hơn ai hết chính em biết cô Huyền cũng đang yêu anh. Và em cũng yêu anh dường nào.

Tôi không hiểu Hạ bỏ đi từ lúc nào. Tôi ngồi xuống chiếc ghế đá bên cạnh, đầu óc vẫn còn choáng váng những lời nói của Hạ hồi nãy. Thật sự đến lúc này tôi vẫn không biết mình nên nghiêng về bên nào. Trời đất ơi! Tôi không ngờ Huyền là người đã âm thầm đi tìm Hạ thay cho tôi. Tôi đã mang ơn nàng nhiều quá, và không biết bằng cách nào để trả được cái ơn đó, trừ phi. Nhưng chỉ có Hạ là người biết được điều khó xử này của chồng mình. Cô ấy đã có một quyết định cũng giống như cái quyết định cách đây chục năm về trước, khi thả nổi đời xuân xanh của mình để đi nuôi một thằng tù không biết ngày nào mới được tha ra. Đó là người đàn bà suốt đời hy sinh cho hạnh phúc của chồng.

Và, trời ơi, Anh biết không. Đó là định mệnh, lại một định mệnh cay nghiệt. Nó vẫn không buông tha cho tôi. Tôi nhận ra ngay khi vừa bước chân vào nhà. Căn nhà vẫn trống rỗng y chang như lúc tôi bước ra.

Hạ đã lầm!

Tôi cũng lầm!

Làm gì có chuyện Huyền mời Hạ đến để ĂN CHUNG với CÔ ẤY bữa cơm mừng ngày tái ngộ.

Làm gì có chuyện Huyền chạy ra chợ mua thêm ít rau.

TẤT CẢ CHỈ LÀ CÁI CỚ.

Tôi đi ngay vào trong phòng nàng. Và tìm thấy một lá thư trên bàn. Chỉ có vài dòng run rẩy:

Chúc mừng hai người tìm lại được hạnh phúc bên nhau

Đừng bao giờ tìm em nữa

Huyền

Những dòng chữ còn ướt đẫm nước mắt của nàng.

Tôi lịm người đi giữa câu chuyện mà Tiến đang kể, giọng kể của hắn nghe đều đều như lời cầu nguyện, đầy cam phận cho một tên tử tù trên đường ra pháp trường.

Một lúc sau đó tôi mới hỏi hắn, một câu thiệt vô duyên:

Sao ông không đi tìm họ???

Theo anh thì tôi nên tìm ai? Nhưng định mệnh không cho tôi làm việc đó. Hai người đàn bà này, người nào cũng cho rằng tôi đang sống trong hạnh phúc với người kia. Hãy để cho họ tin như vậy đi, đừng bao giờ làm họ thất vọng. Đó cũng là một cách trả ơn những sự hy sinh đó.

Chính vì thế tôi bỏ hết tất cả và đến đây – một mình – trong cái xó này

Salt Lake City-Utah

Nguyễn Đình Liên

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bình luận về bài viết này

Bạn TPK Mừng CNN 11 tuổi.

          cnn(Tâm tình cùa K1 Tống Phước Kiên).

Nhân đọc mấy lời “Tâm Tình Căn Nhà Nhỏ” của Giám Đốc CNN về việc Kỷ niệm 11 năm tuổi “Căn Nhà Nhỏ”, tôi bỗng nhớ về Đại Hội 45 năm ngày thành lập Học Viện CSQG/VNCH tại San-Jose cách đây 11 năm. Chính sau đại hội nầy mới phát sinh “CNN”. Đây là lần đầu tiên từ khi đến Mỹ tôi về tham dự một lần họp mặt với thầy và bạn cùng trường cùng khóa. Tâm trạng của tôi trong lần gặp gở đó thật vui mừng và hớn hở, nhưng cũng không ít u buồn vì hay tin nhiều bạn bè thân thương đã vĩnh viễn không còn trên cõi đời nầy: Người thì vị quốc vong thân, người chết trong trại tù cọng sản kẻ thì bỏ mình trên đường vượt biển, một số anh em may mắn đến được bến bờ tự do nhưng vì đau yếu bệnh tật cũng bỏ gia đình thầy bạn mà đi.

          Đối với tôi ngày “Tiền Đại Hội” mới vui hơn, nồng ấm hơn. Những cảm xúc ngày ấy vẫn còn đọng lại trong lòng cho đến tận mãi bây giờ.

          Buổi họp khóa 1 lần đầu tiên của tôi sau 45 năm ra trường, ôi sao mà vui qúa.
Kể từ ngày rời xa trường mẹ, anh em chúng mình được phân phối đi khắp bốn vùng chiến thuật, miệt mài với trách nhiệm”bảo quốc an dân” khiến cho bạn bè nhiều người chưa một lần gặp lại. Nay nhân ngày hội ngộ, bạn bè từ khắp nơi đổ về có dịp tung tăng tìm gặp nhau. Ai cũng da  mồi, tóc thì nhiều hay ít cũng “gió thôi bay” nên nếu không xưng tên thì không nhìn ra nét mặt.
Thật đúng như người ta thường nói “Thời gian là cổ máy tàn phá nhan sắc”.Anh chị em đang nói cười xôn xao thì ba ông NT: Trần Minh Công, Phạm Công Bạch và Trần Quan An đến. Các ông đến để thăm hỏi và chia xẻ những niềm vui, nỗi buồn của những người đã cùng một thời dưới mái trường Học Viện.
Cả hội trường như chùng xuống khi cựu Đại Tá Viện Trưởng HVCSQG Trần Minh Công nhắc đến những người xuất thân từ Học Viện đã vĩnh viễn ra đi khỏi cuộc đời này, đậc biệt là cố Đại Tá Viện Trưởng Đàm Trung Mộc, người mà SVSQ/HV đặt cho cái tên thân mến là “Cha Già Học Viện”. Lời phát biểu của ba ông thầy đều có một điểm chung, đó là niềm ưu ái đặc biệt của các ông đối với khóa 1. Con đầu lòng của mẹ Học Viện mà.

          Năm 1966 sau khi tốt nghiệp, nhóm của tôi chừng hơn mười người chọn về  Nha CSQG Miền Bắc Trung Nguyên Trung Phần đóng tại Đà Nẵng. Chúng tôi đến trình diện và được ông Giám Đốc Võ Lương cho phép làm đơn xin về phục vụ tại địa phương mình mong muốn. Nguyện vọng của tôi là được về Ty CSQG Thừa Thiên Huế để được gần gia đình. Nhưng khi nhận Sự Vụ Lệnh thì tôi được phân phối về Ty CSQhG Thị Xã Đà Nẵng.Tuy không được như sở nguyện nhưng lại được phục vụ dưới trướng của ông Trưởng Ty Trần Minh Công, làm việc với ông thầy cũ của mình trong Học Viện thì cũng thấy ấm lòng.

          Khoảng giữa mùa thu năm 1967 ông Công được thuyên chuyển về giữ chức vụ Trưởng Ty CSQG Quận Nhì Sài Gòn. Người kế nhiệm Trưởng Ty CSQG Đà Nẵng là Quận Trưởng Cảnh Sát Phạm Công Bạch. Ông thầy nầy đi lại có ông thầy khác về, anh em Khóa 1 chúng tôi tại Ty CSQG Đà Nẵng vẫn tiếp tục giữ được nụ cười trên môi. Ông Bạch ra Đà Nẵng mới mấy tháng thì tình hình chiến sự sôi động mạnh và có tin VC sẽ tấn công vào thành phố trong dịp tết. Ban đầu có lệnh cấm trại một trăm phần trăm, nhưng mấy ngày cận tết Mậu Thân thì được xã trại ½ nhờ chính phủ VNCH và VC đạt được thỏa thuận hưu chiến trong ba ngày tết để dân chúng đón mừng năm mới. Tuy nhiên ông Bạch vẫn ở lại nhiệm sở, không về Sài Gòn ăn tết với gia đình. Khoảng 4 giờ chiều ngày 29 tết, ông Bạch cho gọi Nguyễn Văn Sáo, Lê Việt Hằng và tôi về trình diện ông tại văn phòng. Ba anh em chúng tôi tưởng ông Trưởng Ty sẽ chỉ định một công tác nào đó trong mấy ngày tết nguyên đán. Nhưng không, ông Bạch cười thân mật như một người anh và trao cho ba đứa tôi mỗi người một tấm giấy phép cho về Huế ba ngày để ăn tết với gia đình.
Ba anh em chúng tôi đi xe đò về tới Huế lúc cửa hàng và chợ búa bắt đầu “tiêu điều như chợ chiều ba mươi tết”.
Đến khuya mồng một rạng ngày mồng hai tết Mậu Thân, VC tự ý xé bỏ thỏa thuận hưu chiến, bất thần tấn công và tràn ngập Huế, chỉ trừ khu vực Tiểu Khu Thừa Thiên và BTL Sư Đoàn I Bộ Binh đóng trong Mang Cá.
Cọng sản chiếm đóng Huế trong 26 ngày, trước khi bị quân đội VNCH đẩy lui, chúng đã giết hại khoảng sáu ngàn dân Huế trong đó có 4 người bạn K1 của chúng ta là Phan Cháu, Hoàng Khê, Nguyễn Văn Sấm và Nguyễn Văn Lợi.
Hằng, Sáo và tôi may mắn thoát khỏi lưỡi hái tử thần của VC.

Hồi tưởng lại những tháng ngày ông Bạch làm trưởng ty CSQG Thị Xã Đà Nẵng, hết Mậu Thân 1 rồi Mậu Thân 2, VC vẫn không xâm nhâp được thành phố Đà Nẵng. Trong không khí sôi động vì chiến cuộc ấy thỉnh thoảng thấy ông Bạch mặc cảnh phục dã chiến, mang lon quận trưởng đi bộ thị sát thành phô cùng nhân viên thuộc quyền, thấy ông hào hùng làm sao. Nay thấy ông đến với anh em cựu SVSQ/HVCSQG trong kỳ đại hội 45 năm trên chiếc xe lăn với thân hình tiều tụy, thấy mà thương. Sau đó nghe ông vào viện dưỡng lão rồi cất bước theo hiền thê mà từ bỏ anh em chúng mình. Buồn thật.

        Từ khi ra trường cho đến khi qua Mỹ tôi chưa một lần gặp lại ông Trần Quan An, nguyên Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 2/ K1/HVCSQG. Bởi thế tôi tin là ông không còn nhớ tôi là ai. Nhưng tôi thì không, tôi vẫn nhớ ông An hoài và luôn mang trong lòng một niềm cảm kích đối với ông. Vào một buổi trưa hè trong Học Viện tôi nhận được hung tin mẹ tôi từ trần. Tôi liền làm đơn xin phép về Huế chịu tang mẹ. Ông An mau mắn cấp phép và cho tôi xuất trại liền ngay sau đó.
Tôi đến quầy vé Air Việtnam gần chợ Bến Thành và may mắn có một chỗ trên chuyến bay sớm nhất về Huế ngay sáng hôm sau. Về tới nhà thấy mẹ hôn mê trên giường bệnh, tôi có chút hy vọng mong manh là mẹ sẽ vượt qua cơn nguy kịch. Ngồi nhìn tấm thân mẹ mõng manh như tàu lá dưới lớp chăn mõng mà đau xót trong lòng. Đến nửa khuya mẹ cựa mình và rên khe khẻ, mồ hôi lấm tấm trên đình trán rồi mắt từ từ hé mở. Nhìn thấy tôi, mắt mẹ dường như sáng lên và môi mấp máy trong tiếng thì thào “con về rồi à…”rồi không phát âm đươc nữa. Tôi ghé vào tai mẹ nói:
Mạ đang mệt đừng nói nữa, khi nào mạ khoẻ rồi nói chuyện với con cũng được”.
Mẹ lắc đầu, hai hàng nước mắt ứa ra lăn dài xuống tận mang tai, đôi hàng mi khép lại và mẹ trôi vào hôn mê. Sáng sớm, khi mặt trời vừa ló dạng thì mẹ cũng chìm vào giấc ngủ thiên thu, mang theo nỗi buồn không nguôi của tôi.

Cảm ơn thầy An thật nhiều, giả như hồi đó tờ giấy phép ký trễ mấy tiếng đồng hồ thi quầy vé đóng cửa và tôi không  kịp về để mẹ nhìn được mặt đứa con trai lần cuối trước khi từ giả cuộc đời.

          Đại hội kỷ niệm 45 năm HVCSQG được tổ chức tưng bừng, quy cũ. Nghi thức khai mạc thật nghiêm trang và cảm động. Những giây phút chào cờ và mật niệm, tôi cảm thấy như có hồn thiêng sông núi cùng anh linh tử sĩ vị quốc vong thân hiện về chứng giám. Sau nghi thức khai mạc, người điều khiển chương trình mời mọi người an tọa. Cả hội trường bắt đầu xôn xao vì bạn bè lâu ngày mới gặp lại nhau. Có nhiều người say mê hàn huyên tâm sự với bạn hữu hơn là lắng nghe những bài diễn văn của các ông cựu Viện Trưởng, Viện Phó, cựu TL/CSQG…Cảm ơn các bạn ở San Jose đã tổ chức một kỳ đại hội chu đáo và thành công.

          Từ San Jose trở về ai cũng mang một niềm vui khôn tả trong lòng và mong muốn được gặp lại nhau trong những lần đại hội tới. Riêng bạn Nguyễn Công Vinh  thì sôi nỗi hơn và muốn anh chị em K1 nói riêng và anh em đồng môn nói chung liên lạc, gặp gở, thăm hỏi nhau thường xuyên.Vì vậy mà bạn mình mày mò xây dựng một website cho gia đình K1 lấy tên là “Căn Nhà Nhỏ” mà anh em mình thường gọi là “CNN”. Dựng xong căn nhà, ông giám đốc CNN kêu goị mọi người đem hoa thơm cỏ lạ đến tô điểm cho ngôi nhà chung ấm cúng, muôn màu muôn vẻ. Có lẽ Cò Tém Nguyễn Ngọc Kính là một trong những người đầu tiên góp mặt trong Căn Nhà Nhỏ với bài viết :

  HỘI NGỘ
Chim mỏi cánh về đây hội ngộ

Không mất nhau Khóa 1 vẫn còn đây
Tươi nụ cười để sống phút giây
Đời trẻ lại, tình như trang giấy
Tình Học Viện, nét bút nghiêng nghiêng.

 Nguyễn Ngọc Kính

          Bài thơ ngắn ngủi nhưng súc tích nầy đã gây cảm hứng cho nhiều bạn K1 viết lên tâm tình của mình vào những ngày hậu đại hội 45 năm.Thấy anh em viết nhiều bài rất hay và cảm động, tôi cũng gắng tập viết vài câu để góp mặt :

    VUI QÚA
Vui quá đi thôi phải không các bạn ?
Gặp lại nhau ngày Khóa 1 tương phùng
Nói nói cười cười mà lệ rưng rưng
Mái tóc điểm sương, mõi gối, còng lưng
Kẻ nương gậy trúc, người ngồi xe lăn
Tay bắt mặt mừng một lần tao ngộ,
Bốn mươi lăm năm biết bao vui khổ
Dù khó khăn cũng gắng tìm về
Như giấc chiêm bao gặp lại bạn bè
Sống lại trong ta khung trời kỷ niệm
Với bạn, với thầy, với đời Học Viện
Mong luôn gắn bó cho đến mãn đời.

  TPK

          Kể từ dạo đó tôi tập làm thơ.Thỉnh thoảng lại có một bài gởi vào “Căn Nhà Nhỏ”. Có một thời chủ nhân CNN bận rộn lo post những bài xướng họa của nhóm “Đường Cóc”. Tôi qủa thật thích thú với những bài Đường Thi của các lão: Cóc Khô, Cóc Chát, Cóc Chay, Cóc Tiá, Cóc Xanh, Cóc Núi. Đó là bút hiệu của các bạn Phan Quang Nghiệp, Lê Hữu Nghĩa, Trần Bửu Giao, Nguyễn Thanh Hoàng, Nhữ Đình Toán và Nguyễn Hoài Ân. Thấy vui qúa nên tôi cũng học đòi tập làm thơ Đường Luật. Mới đầu tôi chẳng rành mấy về các luật bằng trắc, niêm đối, luận…nên được các Cóc Lão chỉ dẫn dần dần. Rồi các bạn Trần Pháp, Đoàn Ngọc Nam, Trần Quốc Nại, Nguyễn Chính Minh, cả ông chủ CNN Nguyễn Công Vinh cũng nhảy ra thi trường múa bút. Chúng tôi là cóc tập tành, biết lượng sức mình nên tự xưng là “Nhái”. Sau một thời gian, chủ nhân CNN thấy bầy nhái có phần cứng cáp bèn phán: “cho đàn nhái lên làm cóc” để nhóm Đường Cóc thêm đông đúc, vui nhộn. Bạn Nguyễn Công Vinh tự đặt cho mình biệt hiệu”Cóc Nhà” và đặt cho tôi là “Cóc Huế”. Còn các bạn khác thì tự đặt tên lấy như :Trần Pháp là “Cóc Quảng Trị” Đoàn Ngọc Nam là “Cóc Ươn”, Trần Quốc Nại là “Cóc Ớt”, Nguyễn Chính Minh là “Cóc Chầu Rìa”. Ông nầy khiêm nhường tự cho mình là dân “Chầu Rià” nhưng nhiều khi tung những chiêu tuyệt kỹ. Giờ thì, có lẽ vì tuổi già sức yếu bầu nhiệt huyết vơi đi khá nhiều nên các “Cóc Lão” quay về “hang” dưỡng sức, thỉnh thoảng mới nhảy ra nghiếng răng để “làm cậu ông trời” rồi lại về quy ẩn.

        Thưa các bạn K1, nhân kỷ niệm 11 năm tuổi đời của “Căn Nhà Nhỏ”, tôi viết lang man về tình thầy trò, bạn hữu đồng khóa của chúng mình. Cốt là để gợi lại những kỷ niệm xưa và để anh chị em đọc giải trí. Bài viết khá dài tôi xin dừng lại nơi đây. Xin chúc qúy thầy và các bạn được luôn vui khỏe.Thân chúc chủ nhân CNN trường thọ để “Căn Nhà Nhỏ” được thọ theo.
Thân ái mến chào mọi người.

Tống Phước Kiên
Tháng Bảy 2022

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bình luận về bài viết này

Đoạn Kết Một Chuyện Tình (K1 NVV ST.)

Đoạn kết một chuyện tình

vo chong
Ngày đẹp trời, một cặp vợ chồng khoảng trên 60 tuổi đến văn phòng luật sư. Họ muốn làm thủ tục ly hôn.

Cũng vẫn là một Chuyện Tình

Lúc đầu vị luật sư vô cùng ngạc nhiên, nhưng sau khi nói chuyện với đôi vợ chồng, ông đã hiểu đầu đuôi câu chuyện.

Trong 40 năm chung sống, cặp vợ chồng này luôn cãi nhau và dường như chẳng bao giờ quyết định gì cho đúng đắn. Họ chịu đựng nhau đến bây giờ là vì các con.
Bây giờ con cái của họ đã lớn, đã có gia đình riêng, nên hai vợ chồng già không còn điều gì lo lắng nữa. Họ muốn được tự do sau những năm tháng dài không hạnh phúc. Cả hai vợ chồng đều đồng ý ly hôn.

Hoàn tất thủ tục ly hôn cho cặp vợ chồng này là điều không dễ vì tình sâu nghiã nặng.
Vừa ký xong giấy tờ, người vợ già vừa nói với chồng:
Tôi thực sự yêu ông, nhưng tôi không thể chịu đựng hơn được nữa. Tôi thành thật xin lỗi”.
“Không sao, tôi hiểu.”, ông chồng già đáp lại.
Nhìn cảnh này, ông luật sư đề nghị mời hai vợ chồng một bữa cơm tối. Người vợ trả lời: “Sao lại không? Dù ly hôn, ta vẫn sẽ là bạn cơ mà”.
Bên bàn ăn, bầu không khí im lặng, nặng nề đến khó thở. Món ăn đầu tiên được mang ra là món gà quay. Người chồng lập tức gắp một miếng đùi gà cho vợ:
“Bà ăn đi, đây là món bà ưa thích.”
Nhìn cảnh này, vị luật sư nghĩ “vẫn còn cơ hội cho họ hàn gắn lại”.
Không ngờ người vợ cau mày, đáp lại:
Đây là vấn đề. Ông luôn chủ quan quá nên không bao giờ hiểu được tư tưởng của tôi. Ông không biết tôi ghét đùi gà chừng nào à?”
Điều người vợ không nhìn thấy được là trong bao nhiêu chung sống, người chồng luôn luôn cố gắng làm vui lòng bà, dù là người thiếu nhận xét hay khéo léo. Bà không biết là đùi gà là món yêu thích nhất của ông, cũng như ông không biết bà ghét đùi gà. Dù ông chỉ muốn dành những miếng ngon nhất theo khẩu vị của ông, nhường những thứ tốt nhất cho bà, bà chưa bao giờ cảm nhận được là ông hiểu bà.

Đêm hôm đó, cả hai ông bà đều không ngủ được. Sau nhiều giờ trằn trọc, người chồng không thể chịu đựng nỗi nhớ nhung nữa. Ông hiểu rằng ông yêu bà và không thể sống thiếu bà. Ông muốn van bà quay trở lại làm vợ chồng. Ông muốn xin lỗi, muốn nói “Anh yêu em” thật nhiều.
Ông nhấc điện thoại lên và bấm số của bà. Tiếng chuông reo không ngừng, nhưng bà không nhấc. Ông lại cố gắng bấm máy, suốt tối. Đầu bên kia, bà vợ cũng rất buồn. Bà không hiểu điều gì đã xẩy ra trong những năm tháng sống cùng nhau. Sau 40 năm, ông ấy vẫn chẳng hiểu bà. Bà vẫn yêu ông nhưng bà không thể chịu đựng cuộc sống tẻ nhạt như thế nữa. Mặc cho chuông điện thoại reo liên hồi, bà không thèm trả lời, dẫu biết rằng người gọi là ông. Bà tự nghĩ: “Nói làm gì nữa khi mọi chuyện đã xong xuôi hết rồi. Mình quyết định ly hôn mà. Bây giờ đâm lao thì phải theo lao, nếu không mất mặt lắm”. Chuông điện thoại vẫn cứ reo rồi bà quyết định tháo dây điện thoại ra. Trong khi đầu bận suy nghĩ rối bời, bà quên bẵng đi là ông bị đau tim…

Sáng hôm sau, bà nhận được tin ông qua đời. Như một người mất trí, bà lao thẳng đến căn nhà của ông, để nhìn thấy thân thể ông trên chiếc divan, tay vẫn giữ chặt máy điện thoại. Ông buồn bã, thất vọng suốt đêm khi bà không cho cơ hội tỏ nỗi lòng và tim ông đã buông suôi. Bà đau đớn vì hối hận. Một cảm giác mất mát quá lớn bao trùm lấy tâm khảm bà. Khi thanh toán tài sản của ông, bà tìm thấy trong ngăn kéo một hợp đồng bảo hiểm ông ta đã mua cho bà, từ ngày họ cưới nhau. Kèm vào đó, là một lá thư:
“Gửi người vợ thân yêu của anh. Lúc em đọc lá thư này, chắc hẳn anh không còn trên cõi đời này nữa. Anh đã mua bảo hiểm này cho em, anh hy vọng nó có thể giúp anh thực hiện lời hứa của mình khi chúng ta lấy nhau. Đến khi anh không còn ở bên cạnh để chăm sóc cho em nữa thì mong số tiền này có thể giúp anh tiếp tục đùm bọc cho em. Đó là điều anh ước nguyện sẽđược làm suốt cuộc đời anh. Anh sẽ mãi mãi bên em và yêu em thật nhiều”.
Nước mắt bà tuôn chẩy hai hàng. Bà cảm thấy yêu ông hơn bao giờ hết. Bà muốn nói vạn lời xin lỗi, muốn nói ngàn lời yêu thương nhưng ông không còn nghe được nữa.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bình luận về bài viết này

Ở HIỀN GẶP LÀNH_Bửu Uyển

This image has an empty alt attribute; its file name is pic-1.jpgỞ Hiền Gặp Lành

Bửu Uyển

Từ lúc còn học Trung học, tôi đã thích nghề dạy học, thích được tiếp xúc, gần gũi với các em học sinh. Nhưng số phận lại không cho tôi đậu vào trường Sư Phạm, mà lại đậu vào trường Quốc Gia Hành Chánh.

Sự yêu thích nghề dạy học cứ theo đuổi tôi, ngay cả khi tôi đã là một viên chức hành chánh. Năm 1967, tôi được bổ nhiệm làm Phó Quận Trưởng quận Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên. Sự yêu thích được dạy học đã thúc đẩy tôi làm đơn gởi đến Ty Giáo Dục tỉnh Thừa Thiên, sau khi được sự chấp thuận của Trung Tá Quận Trưởng. Ty Giáo Dục Thừa Thiên đã đồng hóa văn bằng Tốt Nghiệp Quốc Gia Hành Chánh của tôi với văn bằng Cử Nhân. Và họ sắp xếp cho tôi dạy Công Dân Giáo Dục lớp Đệ Tứ và Quốc Văn lớp Đệ Ngũ tại trường Trung Học Phú Lộc. Tôi thỏa mãn với ước nguyện của mình là được sống và sinh hoạt với các em học sinh tươi trẻ. Tôi chăm chỉ giảng dạy và rất thương mến các em. Số học sinh của tôi vào khoảng 5, 6 chục em, cả nam lẫn nữ. Trong số các nam sinh lớp Đệ Tứ, tôi mến em Liêm nhất. Em thông minh, tánh tình hiền hòa, các bạn trong lớp ai cũng mến em.

Một hôm, khi đi quan sát ở ấp Hòa Mậu, thuộc xã Lộc Trì, tình cờ tôi gặp em Liêm. Em sống chung với cha mẹ nơi đó và là đứa con duy nhất của gia đình. Liêm vui vẻ mời tôi ghé thăm gia đình em. Đây là một gia đình quá nghèo, nhà cửa rách nát, xiêu vẹo. Cha mẹ em trồng khoai sắn quanh nhà, và chỉ đi làm thuê, làm mướn cho những gia đình khá giả trong làng, chứ không có công việc làm ổn định. Tôi thành thật nói với Ông Sửu, cha của cháu Liêm: “Thưa bác, nếu bây giờ bác có chút ít tiền, bác làm gì để cải thiện cuộc sống của gia đình và nhất là giúp cho em Liêm được tiếp tục ăn học?”. Ông Sửu trầm ngâm một chút, rồi nói: “Thưa thầy, nếu tôi có ít tiền, tôi sẽ mua lại 2 sào ruộng ở gần nhà đây để canh tác, có thể sống được. Hai sào ruộng đó đã bị bỏ hoang từ mấy năm nay…”. Sau đó, tôi đã nhờ ông Xã Trưởng liên lạc với chủ ruộng, mua lại phần đất ấy, rồi giao cho gia đình ông Sửu canh tác.

Từ khi có hai sào ruộng để cày cấy, gia đình ông Sửu bắt đầu có cuộc sống tương đối đầy đủ, không còn thiếu thốn như trước nữa.

Vào một ngày Chúa Nhật, vợ chồng tôi đi thăm một trại chăn nuôi heo và gà của Thầy Tứ ở Nam Giao. Thấy những con heo, giống Durock, da màu vàng, vừa lạ mắt vừa dễ thương. Tôi bèn nghĩ đến gia đình em Liêm, nên mua 2 con heo con, một cái, một đực, mang biếu gia đình ông Sửu. Ông Bà mừng rỡ và chăm sóc kỹ lưỡng lắm, nên heo chóng lớn. Chỉ chín, mười tháng sau, ông Sửu khoe là heo đã gần 100kí. Ông Sửu gầy giống cho heo đẻ. Lứa đầu tiên, heo đẻ được 7 con. Trong làng chưa ai có giống heo này, nên nhiều người hỏi mua, ông không bán. Nhưng sau thấy được giá, ông bán bớt 5 con, còn để lại 2 con tiếp tục nuôi gầy giống. Riêng con heo đực, bà con trong làng xin phối giống, ông cũng thu được khá nhiều tiền.

Trong những ngày gần Tết Đinh Mùi, khi vào lớp học, tôi thấy nhiều em học sinh đã mặc áo quần mới. Nhưng em Liêm vẫn mặc áo quần bình thường như mọi ngày.

Nhân dịp cuối tuần, vợ chồng chúng tôi qua chợ Đông Ba mua cho Liêm một bộ áo quần mới, áo “sơ mi” trắng, quần dài màu xanh đậm. Hôm sau, tôi đem bộ áo quần mới này tặng cho Liêm. Em mặc vừa vặn, nét mặt vui mừng, hớn hở. Ông Sửu cảm động nói: “Cháu Liêm năm nay đã 15 tuổi, đây là lần đầu tiên cháu có một bộ áo quần mới nhân dịp Tết sắp đến, không biết nói gì cho hết để cám ơn ông bà Phó”.

Mấy tháng sau, vào một buổi trưa, ông Sửu đến tìm tôi ở quận, mặt mày buồn bã, ngơ ngác. Ông nhìn trước, nhìn sau, thấy không có ai, ông ghé sát vào tai tôi và xúc động nói: “Ông Phó ơi , thằng Liêm bị “giải phóng’’ bắt đi mất rồi, họ nói họ chiêu mộ thằng Liêm làm du kích chứ không có ý làm hại gì nó đâu!” Tôi sững sờ, thương cháu Liêm, và thương ông Sửu quá vì ông chỉ có một đứa con mà thôi. Tôi miễn cưỡng an ủi ông Sửu: “Bác yên lòng, bác sống thật thà, chất phác, chắc Trời sẽ thương đến cháu Liêm mà phù hộ cho cháu”.

Khoảng năm 1968, 1969 và 1970, chính phủ giúp cho các xã, ấp trùng tu, tái thiết lại những cơ sở dân dụng công cộng như đê điều, cầu cống, đường sá, đình làng v.v. Dân chúng xã Lộc Tụ (Quận Phú Lộc) đã lập dự án, xin trùng tu lại đình làng của xã, do đã bị hư hại nặng nề vì chiến tranh. Đơn xin của dân chúng xã Lộc Tụ đã được Hội Đồng Bình Định Và Phát Triển tỉnh Thừa Thiên chấp thuận, được Cơ Quan Viện Trợ Mỹ (USAID) tài trợ.

Với ngân khoản được cấp, và với quyết tâm xây dựng lại quê hương của dân chúng, đình làng xã Lộc Tụ đã được tái thìết, đẹp đẽ, uy nghi. Hội Đồng Xã quyết định tổ chức Lễ Khánh Thành đình làng mới một cách long trọng, với sự chủ tọa của Trung Tá Quận Trưởng. Nhưng Trung Tá Quận Trưởng đã ủy nhiệm tôi thay mặt cho ông trong buổi Lễ Khánh Thành đó.

Đến ngày, giờ đã được ấn định, tôi đi đến đình làng Thừa Lưu để làm nhiệm vụ. Đình làng nằm cách quốc lộ khoảng 500 mét. Khi xe của tôi dừng lại ở đầu con đường mòn dẫn vào đình làng, tôi thấy nhiều người đứng ở đó. Tôi nghĩ là họ đứng đón tôi như những lần trước. Nhưng khi tôi vừa bước xuống xe, thì hai vị bô lão đến nắm tay tôi và nghiêm nghị nói: “Ông Phó quay về quận ngay đi, ông không nên vào đây!”. Nhìn vẻ mặt bồn chồn, lo lắng của mọi người chung quanh, tôi hiểu, họ không muốn tôi đi vào đình làng. Hình như có vấn đề gì đó không tốt lành sẽ xảy đến cho tôi, nếu tôi đi vào đó.

Tôi vội vã lên xe quay về quận. Khi đến trụ sở xã Lộc Tụ, tôi vào văn phòng xã, sử dụng máy truyền tin của xã, liên lạc với Trung Tá Quận Trưởng, báo cáo sự việc vừa xảy ra.
Với kinh nghiệm, Trung Tá hiểu ngay có một sự việc gì đó không bình thường, có thể xảy ra ở đình làng. Ông lập tức điều động 2 trung đội địa phương quân cơ hữu của quận, một tiểu đội Cảnh sát Dã Chiến, phối hợp với một trung đội Nghĩa Quân của xã, mở cuộc hành quân bao vây khu vực đình làng Thừa Lưu. Lực lượng hành quân đã mau chóng bắt được 2 tên du kích và 3 kẻ lạ mặt tình nghi. An Ninh Quân Đội đã lấy khẩu cung và khai thác ngay 2 tên du kích. Kết quả được biết: Chúng âm mưu ám sát ngươì sẽ đến chủ tọa, cắt băng khánh thành đình làng, bằng cách bố trí 2 khẩu thượng liên, một khẩu đặt trên cây đa, một khẩu đặt trên nóc đình làng. Cả 2 khẩu thượng liên đó đều chĩa mũi vào vị trí vị chủ tọa sẽ đứng cắt băng khánh thành. Mật lệnh khai hỏa là một hồi chiêng trống từ đình làng vang lên. Trường hợp âm mưu này được thực hiện, thì vị chủ tọa cắt băng khánh thành không thể nào thoát chết được. Nếu tôi không được cảm tình của dân chúng ở đây, họ sẽ không cảnh giác, và ngăn cản tôi đâu, có lẽ ngày đó tôi đã chết ở đình làng Thừa Lưu rồi.

Ngày 30 tháng 8 năm 1970, toàn quốc tổ chức bầu cử bán phần Thượng Viện. Cuối ngày, tôi có nhiệm vụ áp tải tất cả thùng phiếu của Quận Phú Lộc về Tòa Hành Chánh tỉnh để kiểm phiếu. Đoàn xe chở thùng phiếu gồm nhiều chiếc, một xe bọc thép (chạy bằng bánh cao su) dẫn đầu, kế đến là một xe GMC chở thùng phiếu, sau đó là 2 xe GMC chở Nghĩa Quân theo hộ tống. Khi đoàn xe đến một khoảng đồng trống gần xã Lộc Điền (truồi) thì bị VC phục kích. Chúng bắn cháy chiếc xe bọc thép dẫn đầu, nhưng bị các nghĩa quân phản ứng dữ dội, chúng phải rút lui, không kịp phá chiếc xe chở thùng phiếu. Tôi hoảng sợ, nhảy ra khỏi xe, rồi lăn xuống một cái rãnh cạn bên đường.

Tôi nghĩ rằng càng xa chiếc xe chở thùng phiếu, thì càng an toàn, nên tôi bò vào những bụi rậm gần đó. Quá lo sợ, trời lại tối nên tôi không nhận ra được phương hướng nào nữa. Tôi cứ cắm đầu, cắm cổ bò. Khi tôi bò đến một khoảng đất có nhiều bụi gai, thì một tiếng nói vang lên, tuy nhỏ nhưng rõ ràng: “Ông Phó! ông Phó! dừng lại ngay, ông đi về hướng đó là chết, chúng nó bố trí dầy đặc ở đó.” Phản ứng tự nhiên, tôi dừng lại, nhìn quanh xem ai đã nói với tôi câu đó. Nhưng tôi rụng rời kinh hải khi một du kích xuất hiện, tay lăm lăm khẩu súng AK47. Anh ta lôi tôi xuống một hố cá nhân gần đó, rồi lễ phép nói: “Thưa thầy, em là Liêm đây, thầy đừng sợ, thầy cứ nằm dưới hố cá nhân này, ém đến sáng, khi nào có lính quận đến, rồi hãy ra. Em đi đây.” Anh ta biến mất sau những bụi rậm.

Đang nằm dưới hố, bỗng tay tôi chạm vào một con vật gì lạnh ngắt. Tôi rùng mình sợ hãi, vì nghĩ rằng đó là một con rắn. Trong hoàn cảnh nầy mà bị rắn độc cắn thì vô phương cứu chữa. Nhờ một chút ánh sáng le lói của mãnh trăng hạ tuần từ trên cao rọi xuống, tôi thấy đó là một con nhái chứ không phải con rắn. Tôi bắt con nhái, rồi nhẹ nhàng thả nó lên miệng hố. Tôi thì thầm với nó: “Nhái ơi, tau cứu mầy đấy nhé! đi về nhà đi, kẻo cha mẹ mầy trông!”.

Tôi chợt nghĩ số phận của tôi, rồi sẽ ra sao đây. Tôi nhắm mắt lại và lâm râm cầu nguyện: “Lạy Chúa, lạy Mẹ, con xin phú thác mạng sống của con trong tay Chúa, trong tay Mẹ. Xin Chúa, xin Đức Mẹ che chở, phù hộ cho con!” Tự nhiên tôi thấy bớt sợ hãi, và trong đầu óc tôi, bắt đầu nhen nhóm chút hy vọng.

Tôi nằm im dưới hố, nhưng câu nói của chú du kích mà tôi không nhìn rõ mặt, cứ văng vẳng bên tay tôi: “Thưa ông Phó, em là Liêm đây, thầy đừng sợ!”. Liêm là ai trong hàng ngũ địch quân mà lại cứu tôi. Đầu óc tôi rối loạn. Quá mệt mỏi, tôi ngủ thiếp đi lúc nào không biết.

Tôi giật mình thức giấc, mơ hồ nghe như có tiếng bước chân đi trên lá khô. Nhìn qua kẽ lá ngụy trang trên miệng hố, tôi thấy Đại Úy Thuật, Chi Khu Phó, mặc đồ trận, tay cầm khẩu M16, dẫn đầu một toán lính, đi hàng ngang, đang tiến về phía tôi. Tôi mừng rỡ, la thật lớn: “Đại Úy Thuật, tôi đây!” Đại Úy Thuật dừng lại, đứng im một lát rồi hô lớn: “Ai đó! lập lại đi!..” Tôi dùng hết sức mình, kêu lớn: ” Đại úy Thuật, tôi đây, Phó Uyển đây!” Đại úy Thuật và một nghĩa quân đến kéo tôi từ dưới hố lên. Tôi không đi được, nên một anh nghĩa quân phải cõng tôì đi về hướng quốc lộ.
Đại Úy Thuật đã báo cáo sự việc với Trung Tá Quận trưởng, nên khi chúng tôi vừa ra đến quốc lộ, đã thấy Trung Tá Quận Trưởng đứng đón tôi ở đó. Ông ôm chầm lấy tôi và cảm động nói: “Chúc mừng ông Phó, tôi cứ nghĩ là ông Phó đã bị tụi nó bắt đi rồi!”

Trung Tá Quận trưởng cho xe đưa tôi lên nhà tôi ở Huế ngay. Bước vào nhà, tôi quá xúc động, ôm nhà tôi vào lòng, và chỉ nói được một tiếng “Em” khi nghĩ lại những sự việc đã xảy ra đêm hôm qua. Ngay khi ấy, nhiều xe hơi dừng lại trước nhà tôi. Đại Tá Tỉnh Trưởng, Ông Phó Tỉnh Trưởng, nhiều vị Trưởng Ty và vài nhân viên tháp tùng Đại Tá, đến thăm tôi. Đại Tá thân mật nắm tay tôi và nói: “Chúc mừng ông Phó, thấy ông Phó trở về bình an, tôi mừng lắm! Tối hôm qua, khi nhận được tin chẳng lành, tôi đã điện thoại cho Cha Trinh ở Giáo Xứ Phú Cam, nhờ Cha dâng một Thánh Lễ, xin bình an cho ông Phó. Thật bất ngờ, sáng nay nghe tin ông Phó an toàn trở về, tôi vui mừng lắm!”

Mọi ngươì đến bắt tay chúc mừng tôi. Thì ra việc tôi mất tích đêm hôm qua, đã gây xúc động cho các giới chức tỉnh Thừa Thiên. Nay thấy tôi bình an trở về, ai cũng vui mừng. Nhưng không một ai biết lý do nào đã giúp tôi an toàn trở về.

Khi những vị khách đã ra về, nhà tôi đến bên tôi, ngạc nhiên hỏi: “Anh, có chuyện gì vậy?” Tôi vỗ vỗ vào vai nhà tôi và nói: “Anh sẽ kể cho em nghe, chuyện dài dòng lắm!”

Năm 1971, tôi được thuyên chuyển đi làm Phó Quận Hương Thủy. Cuối năm 1972, tôi được điều động ra làm Phó Tỉnh Trưởng Quảng Trị. Tháng 12 năm 1973, tôi lại được đổi vô làm việc ở tỉnh Phong Dinh (Cần Thơ) cho đến ngày mất nước. Tôi đi tù cải tạo cho đến 1982 mới được cho về.

Gia đình tôi đi dịnh cư ở Mỹ theo diện HO từ tháng 11/1992.

Năm 2008, được tin bà mẹ nuôi của tôi đau nặng. Bà đang ở Vỹ Dạ, Huế. Năm ấy bà đã gần 100 tuổi. Vợ chồng chúng tôi vội vã về thăm bà. Ngoài thuốc men đầy đủ, mỗi ngày nhà tôi nấu cháo, hầm súp cho bà thời. Thật vui mừng, vì chỉ mấy ngày sau, bệnh tình của bà mẹ nuôi của tôi đã thuyên giảm, ăn uống bình thường, nói cười vui vẻ.

Một hôm, chúng tôi nhận được điện thoại của chị Cam Đường, bạn học cùng lớp với nhà tôi, mời chúng tôi xuống Cầu Hai chơi, nhân dịp làng tổ chức cúng vị Thần Hoàng của làng. Chị ấy cho biết là vui lắm, ở xa về mà gặp dịp nầy là hên lắm đó! Chúng tôi nhận lời mời của chị Cam Đường ngay, và hứa sẽ xuống Cầu Hai đúng ngày, giờ. Chúng tôi thuê một xe nhỏ để đi. Nhà tôi còn rủ thêm 2 người bạn nữa, cùng đi với chúng tôi.

Đã được báo trước, nên khi xe vừa đến chợ Cầu Hai, đã thấy chị Cam Đường đứng đón chúng tôi. Chị ấy dẫn chúng tôi đến đình làng Đông Lưu ( Cầu Hai). Hôm nay là một ngày hội lớn của làng. Cờ đuôi nheo được treo khắp nơi. Dân làng hớn hở, tấp nập tụ tập ở đình làng.

Chúng tôi vào ngồi ở hàng ghế cuối cùng của Giang Đại Sãnh. Trước mặt chúng tôi là một bàn thờ lớn, hoa quả, hương đèn rực rỡ; một con heo quay vàng rộm, đặt trên một cái bàn ở trước bàn thờ. Vừa ngồi yên chỗ, một hồi chuông, trống bát nhã vang lên rộn rã, báo hiệu giờ hành lễ sắp đến. Một vị bô lão, mặc áo rộng xanh, đầu đội khăn đóng, bước ra nói với bà con tham dự lễ Chạp đang ngồi trong đại sãnh: “Thưa quí vị quan khách, thưa quí bà con, hôm nay chúng ta tụ họp nơi đây để cử hành lễ “Chạp”, kính ngày húy kỵ Ngài khai canh của vùng đất mà chúng ta đang sống. Với lòng thành kính và biết ơn, chúng ta sẽ cử hành những nghi lễ cổ truyền mà ông cha chúng ta đã truyền lại cho con cháu, để dâng lên Ngài khai canh. Trước khi cử hành các nghi lễ, chúng tôi xin giới thiệu một số quan khách đã đến tham dự ngày giỗ “Chạp” hôm nay. Chúng tôi xin giới thiệu Ông Phó Chủ Tịch Huyện Phú Lộc, chúng tôi xin giới thiệu Ông Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân Xã Lộc Trì, chúng tôi xin giới thiệu vị Đại diện Mặt Trận Tổ Quốc huyện Phú Lộc, chúng tôi xin giới thiệu đồng chí Lê Văn Liêm, Chỉ huy quân sự xã Lộc Trì.”

Vừa nghe vị bô lão xướng tên Lê Văn liêm, tôi sững sờ tự hỏi: “Đây có phải là em Liêm, học trò của tôi ngày trước không?”. Vừa vui mừng, vừa phân vân, tôi đi đến trước mặt người đàn ông vừa đứng dậy chào bà con khi được xướng tên là Lê Văn Liêm. Đứng trước mặt anh ấy, dù đã 41 năm trôi qua, tôi vẫn nhận ra ngay đây là em Liêm, người học trò của tôi ngày xưa, mà tôi thương mến. Tôi cảm động nói với Liêm: “Em Liêm, em có nhận ra tôi không? Tôi là thầy Uyển đây” Chàng thanh niên sau một khoảnh khắc ngơ ngác, đã ôm chầm lấy tôi: “Ông Phó, ông Phó.” Liêm nghẹn ngào, không nói thêm gì được nữa, hai hàng nước mắt chảy dài xuống má. Liêm quên mình đang đứng giữa đình làng, và có nhiều người hiện diện nơi đây, anh quay xuống hàng ghế kế cận và vui mừng gọi lớn: “Ba! ông Phó đây nè!”

Một cụ già mặc áo dài đen, bịt khăn đóng, đứng bật dậy, chạy đến ôm chầm lấy tôi. Ông cảm động thì thầm bên tai tôi: “Ông Phó, ông còn sống, tạ ơn trời đất”. Đôi mắt ông đỏ hoe.
Liêm nói với vị bô lão điều khiển chương trình: “Thưa bác Hương Cả, tình cờ hôm nay, chúng tôi gặp lại một người bà con thân thiết của gia đình, đã thất lạc gần 50 năm nay. Xin bác cho phép gia đình chúng tôi về nhà trong chốc lát, chúng tôi sẽ trở lại ngay.”

Liêm và ông Sửu kéo tay tôi ra ngoài. Ông bà Sửu cứ nắm chặt tay tôi, như sợ tôi biến đi mất (?)
Nhà của ông bà Sửu bây giờ là một căn nhà gạch, lợp toles, không còn là một căn nhà lá lụp xụp như xưa nữa. Bước vào nhà, chúng tôi vừa ngồi xuống ghế, bỗng ông bà Sửu và Liêm quì xuống trước mặt chúng tôi, rồi cùng cúi gập người, lạy 3 lạy, trước sự ngỡ ngàng của mọi người. Tôi đỡ ông bà Sửu đứng dậy, và cảm động nói: “Hai bác làm gì vậy? Sao lại dành cho chúng tôi sự tôn kính quá to lớn như vậy? Chúng tôi có công lao gì để xứng đáng nhận đại lễ này?”. Ông Sửu nói ngay:”3 lạy nầy cũng chưa xứng đáng với công ơn mà ông Phó đã dành cho gia đình tôi”.

Ông chỉ ra đám ruộng ngoài xa, xanh mướt, mới trổ đòng đòng. Ông chỉ vào đàn heo đông đúc ở cuối vườn, ông chỉ vào căn nhà…và nói: “Tất cả cũa cãi nầy là của ông Phó đã cho gia đình tôi.”. Tôi thân mật cầm tay ông Sửu và nói: ” Bác Sửu ơi, 2 sào ruộng và mấy con heo, có đáng gì so với ân huệ to lớn mà cháu Liêm đã dành cho tôi!”. Liêm vội ngắt lời tôi: “Thưa thầy, chuyện xảy ra đêm hôm ấy, không một ai hay biết. Vậy em xin thầy hãy quên chuyện ấy đi, em cám ơn thầy!” Ông Sửu không biết chuyện gì, chỉ trố mắt nhìn tôi và Liêm. Rồi ông nói tiếp: “Năm 1971 nghe ông Phó đổi lên quận Hương Thủy, chúng tôi có lên đó tìm ông Phó. Nhưng ở quận Hương Thủy cho biết ông Phó đã đổi ra Quảng Trị. Chúng tôi lại ra Quảng Trị, mong gặp được ông Phó, nhưng lúc đó, ông Phó đã đổi vô tỉnh Phong Dinh-Cần Thơ, tận trong Nam…cho đến 30 tháng 4 năm 1975, chúng tôi không hề biết tin tức gì về ông Phó nữa! Từ đó, chúng tôi chỉ sống với kỷ niệm, với lòng biết ơn và thương nhớ ông Phó. Chúng tôi cứ nghĩ là ông Phó đã chết, nên cha con chúng tôi thiết lập một bàn thờ, để thờ ông Phó. Trên bàn thờ không có ảnh, không có bài vị, chỉ có hai chữ “Ông Phó” do cháu Liêm viết lên một tấm bìa cứng. Tuy đơn sơ như thế, nhưng mỗi ngày, vợ chồng, cha con chúng tôi đều thắp nhang lên bàn thờ để tưởng nhớ đến ông Phó.”
Bà Sửu tiếp lời ông Sửu: “Thưa ông Phó, ngày hôm nay được gặp lại ân nhân của gia đình chúng tôi, chúng tôi sẽ bắt gà, bắt vịt nuôi trong nhà để làm một bữa cơm thiết đãi ông bà Phó và các vị cùng đi. Ngày hạnh phúc hôm nay, chúng tôi đã trông chờ gần 50 năm rồi đó”.
Nhưng một người bạn của nhà tôi, chị Như Quê nhắc nhở: “Anh chị Uyển ơi, chúng ta đã hẹn với các bạn ở Huế, trưa nay tụi mình sẽ dùng cơm với các bạn, mà bây giờ đã hơn 11 giờ rồi. Chúng ta nên xin phép hai bác Sửu, đi lên Huế kẽo các bạn chờ.”

Tôi đành phải cáo lỗi với ông bà Sửu và cháu Liêm. Ông Sửu buồn buồn nói với chúng tôi: “Gặp lại ông bà, chúng tôi vui mừng khôn xiết, mà ông bà đã vội ra đi, biết khi nào mới gặp lại ông bà.” Tôi an ủi ông bà Sửu: “Vì chúng tôi đã hẹn trước với các bạn, chúng tôi phải có mặt ở Huế trưa nay. Chúng tôi sẽ về thăm hai bác và cháu Liêm.” Ông bà Sửu và cháu Liêm, bùi ngùi từ biệt chúng tôi. Khi mọi người đã lên xe, chúng tôi vẫn thấy gia đình ông Sửu buồn bã nhìn theo.
Chiếc xe con chở chúng tôi đã chạy đều trên quốc lộ, hướng về Huế. Bỗng chị Hồ Thị Hảo, một người bạn của nhà tôi, nói với mọi người trên xe: ” Hôm nay, chúng tôi tình cờ biết được câu chuyện của anh Uyển và gia đình ông Sửu. Câu chuyện làm chúng tôi ngạc nhiên và xúc động lắm, nhất là đoạn kết, lại rất có hậu, làm chúng tôi nhớ đến vài câu ca dao, tục ngữ của quê hương mình, thật hay, thật đúng, như câu: “Trồng cây ngọt thì được ăn trái ngọt” hoặc câu : “Gieo nhân nào thì gặt quả ấy” hay câu: “Ở hiền thì gặp lành”…Xin chúc mừng anh chị.-

Bửu Uyển

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bình luận về bài viết này

ĐĨA CƠM TẤM CỦA MẸ_Ca sĩ Don Hồ

This image has an empty alt attribute; its file name is dia-com-tam.jpgĐĩa cơm tấm của mẹ

DON HO (Ca sĩ)

Một ngày cuối Tháng Tư nắng đẹp, hai mẹ con ngồi trong quán cơm tấm gần nhà ở miền Nam California. Đồ ăn được mang ra, hai dĩa cơm tấm bì chả- tàu hũ ky-trứng ốp la bự xự, thật “hoành tráng” với lỉnh kỉnh những món.

Một dĩa được đặt trước mặt mẹ. Mẹ ngắm nghía dĩa cơm một hồi rồi bảo:

– Nhiều thế này rồi sao mẹ ăn hết được hả con, sao không kêu cho mẹ dĩa nhỏ hơn?

Người con đang múc muỗng nước mắm ớt chan lên cơm, ngước mắt lên nhìn mẹ trả lời:

– Dĩa người ta giá bấy nhiêu, giờ mẹ muốn ít hơn thì người ta bỏ lại bớt nhưng cũng vẫn giá đó. Thôi thì ăn được bao nhiêu thì mẹ cứ ăn, không hết thì mình xin cái hộp, bỏ mang về…

Mẹ cười:

– Ờ nhỉ…

Mẹ ngồi ngược nắng, ánh sáng bên ngoài chiếu xuyên qua cánh cửa kiếng rọi lên làm mái tóc bạc của mẹ trắng phau, người con giật mình nheo mắt.

Ánh sáng chói quá, he hé mở lại mắt ra người con như bỗng thấy thấp thoáng mẹ phía trước trẻ măng trong chiếc áo bà ba vàng tươi lụa nội hoá, tóc đen nhánh cột đuôi gà phía sau.

Cái ánh nắng chói chang trên đường Nguyễn Huệ của Sài Gòn lúc 11h trưa làm mồ hôi rươm rướm ra hai bên mang tai người đàn bà vừa bước qua tuổi 40.

Chen vào cái khoảng trống nhỏ giữa hai người bán hàng, mẹ cố tung lên để trải miếng ny-lông nhỏ lên trên mặt vỉa hè.

Hai người bán hàng hai bên la bải hải, cố tình đẩy dàn ngay những cái thùng giấy chứa hàng ra để ngăn lại và đuổi đi.

– Cô ơi, chỗ này không được đâu. Đi đi, đi kiếm chỗ khác đi

Từ sáng sớm tới giờ bị đuổi biết bao nhiêu bận ở nhiều chỗ rồi, tủi thân – giọt nước tràn ly, mẹ hất phăng miếng ny-lông của mình ngồi bẹp luôn xuống lề đường ôm mặt hu hu nức nở khóc:

– Mấy người dã man lắm. Mấy người có con, tôi cũng có con. Con tôi chết đói ở nhà, có một chỗ ngồi bán nhỏ thôi mà các người cũng đuổi tôi đi. Ở đâu có được chỗ thì tôi đã đi rồi, ai cũng xua cũng đuổi, tôi đi đâu được bây giờ? Hu hu…

Hai bà bán hàng hai bên sững người liếc lẹ nhau, thở nhẹ, rồi kéo xịch miếng ny-lông lót sàn, xếp gọn bớt đồ của mình lại, nhường cho mẹ một khoảng trống rộng hơn.

Thế là từ ấy mẹ có được một khoảng vỉa hè để buôn bán mưu sinh…

Sài Gòn của năm 1976 vẫn còn hoảng loạn lắm.

Thành phố một năm sau khi đổi tên đổi chủ, chưa có gì là rõ ràng cả. Dân thành phố cố gắng sống qua ngày, của cải trong nhà được bán dần để ăn. Những gia đình có người làm ngành nghề gì trong guồng máy của chế độ Cộng Hòa cũ là coi như mất việc ngồi nhà.

Bố cũng thuộc trong diện mất việc đó.

Cả một năm trời nuôi đàn con năm đứa đang trong tuổi lớn, ăn uống như hạm cũng đủ làm bay đi dần của cải dành dụm từ bấy lâu nay.

Bố mẹ đã thử qua bao nhiều nghề để kiếm tiền qua ngày từ làm giấm bán, qua tới làm giá, chẳng có nghề nào thành công!

Một lần có một bác bạn của bố trước đó có một tiệm pharmacy ở đâu đó, còn thuốc. Bác muốn giúp, đưa ra ý kiến:

– Tôi còn một số thuốc, hay là cô chú mang đi bán cho tôi đi, để kiếm lời nuôi các cháu?

Bố thì không thể tông ra ngoài buôn bán rồi vì thuộc diện “công chức chế độ cũ” sẽ bị để ý, có thể bị bắt bớ.

Thế là mẹ từ một bà nội trợ ở nhà nuôi con, phải tông ra đường một mình trên chiếc xe đạp mini ngược xuôi kiếm mối bán mớ thuốc Tây kiếm lời.

Thời ấy dọc trên đường Nguyễn Huệ có những kiosk nho nhỏ xinh xinh đã bị đóng từ ngày 30 Tháng Tư, 1975, không biết ai bắt đầu mà tự dưng tự phát họp lại thành một ngôi chợ bán thuốc Tây. Ai tới trước dành chỗ, trải được miếng ny-lông ra thì khoảng vỉa hè đó sẽ thành “đặc khu” của người đó.

Mẹ ra trễ hơn mọi người nhưng cũng may kể từ ngày hôm đó cũng đã được hai bác hai bên (sau trở thành bạn) nhường cho một khoảng nhỏ xíu.

Khoảng buôn bán của mẹ nhỏ xíu xiu, chỉ đủ để bầy lèo tèo dăm ba hộp thuốc, so với những người kế bên trông tội lắm. Hàng ngày thằng con được ra phụ mẹ. Chỉ việc đứng đàng sau, mẹ sai gì thì làm đấy. Cần gì thì lấy phụ.

Nói cho oai thế thôi chứ đồ hàng thuốc thang của mẹ chứa hết cũng chỉ đúng trong một cái giỏ đi chợ. Phải cho thật gọn gàng để bữa nào xui lỡ công an xuống ruồng thì còn gom lẹ tất cả mọi thứ bỏ vào giỏ mà chạy thoát thân chứ không thôi là mất hết!

Phía đàng sau khoảng hàng của mẹ là một quầy bán cơm. Những nồi thịt kho, chảo đồ xào trông hấp dẫn lắm, lúc nào lỡ mắt ngó qua là cũng phải nuốt nước miếng ừng ực.

Sài Gòn thời ấy đói ăn mà, ở nhà nồi cơm đã phải nấu độn với hạt bo bo phường khóm bán. Quán cơm ấy bán những dĩa cơm gạo trắng phau, những miếng thịt mỡ bóng nhay nháy, những trái trứng kho mượt mà đến độ chỉ muốn mút tới mút lui, không nỡ cắn.

Khoảng buôn bán của mẹ nhỏ bé, bày ít thuốc nên dĩ nhiên là cũng ít khách mua. Người ta chỉ bu vào kiếm trong những xập hàng lớn hơn, nhiều thuốc hơn. Nhiều khi ngồi cả buổi cũng chẳng ai buồn dừng chân tới đảo mắt qua dùm chứ nói chi tới mua.

Buổi trưa là giờ mà thằng con mong chờ nhất, vì được mẹ cho mua một dĩa cơm.

Ôi dĩa cơm của thời ấy sao mà nó ngon đến thế?

Miếng thịt be bé thôi mà sao nó béo đến thế? Thơm đến thế?

Ngay cả miếng dưa leo, miếng cà rốt ngâm ngó cũng đẹp thật đẹp mắt luôn.

Ăn xong cả dĩa mà chả lúc nào no cả, lúc nào cũng còn thòm thèm. Ấy thế mà lúc nào mẹ hỏi: “Ngon không con, no không con?” là thằng con lúc nào cũng: “Ngon quá mẹ ạ. Con no quá!”

Mà chẳng bao giờ thằng con thấy mẹ kêu cơm ăn cả, lúc nào cũng thấy mẹ mua khoai mì mà ăn. Trong khi khoai mì phường khóm bán cho nhà nhà ăn độn với cơm. Khoai mì là món rẻ nhất thành phố thời ấy…

Thoáng thế mà đã 46 năm rồi đấy. 46 năm vật đổi sao dời…

Mẹ giờ không còn phải ăn khoai mì để nhường dĩa cơm lại cho bầy con nữa rồi, nhưng tóc mẹ lại đã bạc phơ, lưng mẹ bắt đầu còng còng…

Đĩa cơm thật to trước mặt trông thật hấp dẫn, bảo đảm ăn no ứ hự mà vẫn còn dư. Nếu mang ngược trở lại thời bán thuốc Tây dạo thuở nào, dĩa cơm này có thể đủ no cho bốn người ăn.

Hai dĩa cơm của hai mẹ con lúc này mà mang ngược trở lại sẽ cho cả gia đình được một bữa ăn linh đình vì thuở ấy bữa cơm gia đình nhiều khi có được ba trái trứng hột vịt thôi mà gói ghém đủ cho tới những bảy miệng ăn.

Bỗng dưng muỗng nước mắm trên tay thấy nhạt hẳn màu đi, nặng trình trịch, nhỏ tong tong trên dĩa cơm như những giọt nước mắt đang lã chã rơi…

Ca sĩ Don Hồ

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bình luận về bài viết này

Happy Birthday K1 Bửu Trần (July 28).

MBirhdayCake24.com_162e29f7eb6397

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bình luận về bài viết này

Thơ TQN – Thiên đường XHCN

Thiên đường*XHCN.

Điều luật ba trăm ba mốt bày
Nhân quyền hoạch định sẵn trong đây
Đừng mong Chánh án công minh xử
Hãy đợi Luật sư lừa dối hay
Tịnh Thất Bồng Lai cần triệt hạ
Tùng Vân đồ đệ đáng tù đày
Con đường Đảng đã cho cài đặt
Ai dám vượt qua chém thẳng tay./
TQN.
*XHCN : xạo hết chỗ nói

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bình luận về bài viết này

Ngày Thế giới Ông bà và Người cao tuổi (24/7).

NGÀY CỦA ÔNG BÀ & NGƯỜI CAO TUỔI.

Camping 22 (10)(Bài của Phương Lan dâu K1 -Sưu tầm và gởi đến cho CNN)

Trong một năm tại nước Mỹ này ngày Lễ Mẹ và Lễ Cha được nhắc đến trong suốt tháng 5 và tháng 6. Thế nhưng có mấy ai biết rằng ngày 24 tháng 7 này là ngày thế giới dành cho Ông Bà và Người Cao Tuổi? Mà sự thật hiển nhiên là không có ông bà làm sao có được cha mẹ để mà tôn vinh?

Ngày nay, tầm quan trọng của người cao niên “túi khôn của nhân loại” hầu như đã bị bỏ quên! Thế giới hiện tại đang đuổi theo những phát minh vượt bậc cho kỹ nghệ, khoa học, tin học … nên chỉ đề cao và cổ vũ cho “trí thông minh” (intelligence) là khả năng phát minh, tìm ra những sáng kiến mới mà quên rằng “khôn ngoan” (wisdom) là sự hiểu biết để giải quyết, tìm ra những biện pháp đưa đến kết quả thực hiện một cách hữu hiệu nhất cho những phát minh đó. Thông minh đến từ bản chất thiên phú, nhưng khôn ngoan đến từ kinh nghiệm tích lũy qua tuổi đời. Khi cần thuê mướn nhân viên, các cơ sở, hãng xưởng, cơ quan đều cân nhắc chú trọng tìm kiếm những người có nhiều kinh nghiệm. Thế mà kinh nghiệm quý báu của người già nay đang bị lãng quên!

Vì thế, trong tháng 7 này, Đức Giáo Hoàng Francis đã yêu cầu các tín hữu cầu nguyện đặc biệt cho người cao tuổi, “những người đại diện cho cội nguồn và ký ức của một dân tộc”. Ngài mời gọi cầu nguyện để kinh nghiệm và sự khôn ngoan của người cao tuổi giúp người trẻ nhìn về tương lai với niềm hy vọng và tinh thần trách nhiệm.

Trong thập kỷ gần đây, lịch sử nhân loại chưa từng bao giờ có nhiều người cao tuổi như hiện nay. Thế nhưng con người chúng ta lại không biết phải chuẩn bị để sống giai đoạn này của cuộc đời như thế nào cho tốt. Đức Thánh Cha than phiền rằng:” Đã có rất nhiều kế hoạch nhằm trợ giúp cho người già, nhưng lại có rất ít dự án được thực hiện!” theo Ngài thì người cao tuổi có vai trò quan trọng, bởi vì:”Người cao tuổi chúng ta thường có một sự nhạy cảm đặc biệt về sự quan tâm, tâm tư và tình cảm” và do đó,”chúng ta đang là và sẽ trở thành những gương sáng cho sự dịu dàng và khoan hậu.”

Đức Thánh Cha cũng nhắc nhở rằng:”Ông bà và những người cao tuổi là tấm bánh đã bóc trần để nuôi sống cho thế hệ con cháu, là lẽ khôn ngoan tiềm ẩn của một dân tộc. Chính vì thế thật xứng đáng cho chúng ta phải tôn vinh họ.”

Hiệp ý với Đức Thánh Cha, xin dành bài viết này để chúng ta quan tâm nhiều hơn đến người cao niên. Chúng ta hăng say tranh đấu cho một xã hội bình đẳng về giới tính và nhiều vấn đề khác nhưng lại quên đi quyền lợi và phúc lợi của chính thế hệ ông bà, cha mẹ của chúng ta. Xin dành những lời cầu nguyện chân thành nhất cho những vị cao niên có được những ngày cuối đời yên hàn. Xin hãy nhớ rằng trước khi trở thành những”gánh nặng”, họ đã gánh nặng suốt phần đời tuổi thanh xuân để cho con cháu nhất là tuổi trẻ Việt Nam được hưởng đầy đủ tự do, dân chủ, và nhân quyền trên những quê hương thứ hai bằng sự hy sinh xương máu của chính bản thân mình.

Lê Phương Lan

Trích dẫn từ nguồn:vaticannews.va/vi

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Ngày Thế giới Ông bà và Người cao tuổi (24/7).

Phân Ưu Nhạc Mẫu K1 Nguyễn Thanh Hoàng

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Phân Ưu Nhạc Mẫu K1 Nguyễn Thanh Hoàng

Thơ TPK – Đời Như Gió Thoảng

ĐỜI NHƯ GIÓ THOẢNG

download

Cứ một ngày trôi qua
Là đường đời ngắn lại
Từ bình minh tuổi dại
Đến hoàng hôn cuối đời
Như gió thổi mây trôi
Như hoa phù dung nở
Sớm mai thì rực rỡ
Chiều xuống lại héo tàn
Đời người dẫu trăm năm
Chỉ là cơn gió thoảng
Vinh hoa rồi một thoáng
Cũng vuột khỏi tay mình
Còn chăng tấm chân tình
Cùng người thân bè bạn
Tuổi đời là hữu hạn
Có chi phải lo toan
Cứ sống cho nhẹ nhàng
Đừng nhìn lui tiếc nuối
Cầu mong giây phút cuối
Được thấy nước Thiên Đàng.
TPK

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thơ TPK – Đời Như Gió Thoảng