CÒN MỘT CHÚT GÌ ĐỂ NHỚ…_Lê Phương Lan

CÒN MỘT CHÚT GÌ ĐỂ NHỚ…

Tác giả: Lê Phương Lan (Phu nhân K1 Nguyễn văn Vinh)

Viết để riêng tặng các em thân yêu.

Tháng Tư mà cứ nhắc đến những câu chuyện buồn thì chỉ làm cho “Dột lòng mình cũng nao nao lòng người” (thơ Nguyễn Du). Vậy hôm nay người viết xin đổi đề tài để kể lại cho các em, con cháu và mọi người thân quen về những kỷ niệm vui để chứng minh rằng trong gian khổ chúng ta vẫn có những nụ cười và niềm hạnh phúc.

Bắt đầu bằng những kỷ niệm sau ngày 30 tháng 4, 1975. Sau ngày này thì hai cột trụ chính trong gia đình là bố tôi và ông xã đã trở thành tù nhân! Mẹ thì bị thương nặng. Anh tôi là chuẩn úy mới ra trường nên thân phận cũng mong manh lắm! Chỉ còn mấy chị em đều phải dựa vào nhau để tìm đủ phương cách mà kiếm sống. Trong những tháng ngày đầu, tôi và cô em kế là hai chị lớn phải bán rau muống, cà ghém ngoài chợ thì hai cô em nhỏ nhất được mẹ giao cho hai ấm trà đá và mấy cái ly nhựa. Hai đứa khởi hành từ nhà thờ Ba Chuông sang đến chợ Ông Tạ. Đến trưa trở về nhà hai ấm trà cạn trơn mà không có đồng nào trong tay! Hỏi ra mới biết là hai đứa rao hàng rát cổ quá nên đã chia nhau uống hết sạch hai ấm trà đá! Cô em thứ năm có tài nấu nướng, may mặc nên buổi tối ra đầu ngõ kê vài cái ghế gỗ bán khô mực nướng và nước sinh tố. Cô lại còn kiêm luôn nghề thợ may. Cô vừa mới mở hàng được vài bữa thì có một chị đến đặt may cho một bé trai bộ đồ gồm quần tây và áo sơ mi. Chẳng may cu tí “cháu ngoan bác hồ” này lại có thân hình bụng ỏng, đít teo, nên khi cứ cắt may theo lý thuyết thì lúc cháu mặc vào người áo và quần vạt trước đều bị kéo xếch lên cả tấc! Cũng may là nhà vẫn còn xấp vải cùng loại mua ở hợp tác xã để may đền cho khách hàng!

Tôi và cô em kế tuy sau này có được đi dạy học một thời gian nhưng sau vì đồng lương chết đói, không đủ nuôi sống gia đình và còn phải để dành lương thực để đi thăm nuôi hai người thân yêu đang bị giam cầm ở “hai phương trời cách biệt”, nên cũng phải bỏ nghề để ra bán hàng ngoài lề đường. Chúng tôi xoay sở đủ mọi mặt hàng để buôn bán. Tuy nhiên, một kỷ niệm cười ra nước là khi hai chị em bán guốc. Lúc bấy giờ đóng guốc là phải đóng đế cao su vào guốc, rồi đo chân khách hàng để đóng quai. Đây là công đoạn khổ nhất! Mỗi khi khách đến chừng hai, ba người là hai chị em quýnh lên, đóng búa cả vào ngón tay bầm tím! Một hôm, hai chị em đóng xong đôi guốc cho một khách hàng lựa chọn loại quai rất kiểu cọ. Khi cô ta xỏ chân vào guốc bước đi hai chị em mới nhận ra rằng mình đã đóng lộn ngược vị trí của quai vào cả hai chiếc guốc, nhưng hai đứa nín khe không dám gọi người khách quay trở lại vì sợ rằng có tháo ra chưa chắc đã biết đóng lại làm sao cho đúng!

Một kỷ niệm nữa cũng đáng cười ra nước mắt lại cũng liên quan đến đôi guốc. Đó là thời gian kinh hoàng nhất của người dân thành phố trong đợt “đánh tư sản”. Khi nhà cửa của những người “tư sản” hay bị gán cho là “tư sản” đều bị xông vào lục tung để ngang nhiên cướp đoạt tài sản. Còn chủ nhân thì bị đuổi đi các vùng “kinh tế mới”! Lo sợ rằng gia đình mình có thể bị xem là đối tượng của chính sách này có thể bị lục soát bất cứ lúc nào nên theo ý kiến của mẹ chồng tôi, tôi đục phía dưới đôi guốc to bản đều từ trên xuống dưới, nhét vào đó những tư trang của hai mẹ con, đóng đế cao su lại để mang theo khi đi dạy học. Trên đường đạp xe đến trường rồi sau đó lại đạp xe từ trường về nhà, mặt mày tôi vẫn còn bị tái nhợt đi vì sợ hãi. Nhất là khi đạp xe qua các ngã tư có công an đứng gác, chỉ sợ vô phúc các mối đinh đóng dưới đế guốc sút ra khiến mấy gói nữ trang đó bị rớt tung tóe ra mặt đường!

Thời gian qua, đến năm 1991 cả hai gia đình chúng tôi đều được đi định cư tại Mỹ. Và đây là những mẩu chuyện vui xảy ra trong thời gian đầu còn “chân ướt, chân ráo”: Gia đình riêng của hai chúng tôi qua Mỹ trước và được hai ân nhân người Việt bảo trợ đến thị trấn San Pablo gần thành phố Oakland, California. Sau hai tuần lễ đầu quan sát, hai chúng tôi không muốn quá nhờ vả vào lòng tốt của họ nên quyết định tìm cách tự đi chợ để mua thức ăn Việt Nam tại Oakland bằng xe bus. Trước khi bước lên xe, tôi cẩn thận xem trên đầu xe bus có chạy chữ “Oakland”. Vào trong xe, tôi đưa tờ giấy 20 đồng, người tài xế lắc đầu, ra hiệu tay là không có tiền thối! Tôi đi suốt từ đầu đến cuối trong xe không ai có đủ tiền lẻ để đổi cho chúng tôi! Tôi đành phải xuống xe ở trạm kế để kiếm ra người đổi tiền rồi mới tiếp tục cuộc hành trình! Mua thức ăn xong, chúng tôi quay lại đúng vị trí của chỗ xe bus đã thả chúng tôi xuống nhưng mấy chuyến xe chạy qua mà không thấy xe nào có chạy chữ”Oakland” mà chỉ toàn là “Richmond”! Sau cùng tôi leo lên một xe vừa chạy tới để hỏi xem. Thì ra Richmond cũng là một địa điểm của San Pablo và xe bus thì lại chạy chữ theo mỗi điểm xe chạy đến!

Lại cũng lên quan đến chuyện xe cộ trong buổi đầu bỡ ngỡ: Khi dọn về San Jose ông xã tôi thi đậu bằng lái xe trước tiên nhưng chưa có đủ tiền mua xe. Trong khi chú em rể chưa có bằng lái mà đã mua lại được một chiếc xe Toyota cũ. Hôm đó hai chúng tôi và hai vợ chồng cô em cùng đi khám sức khỏe. Đang khi lái xe thì trời đổ mưa xối xả. Hơi nước mờ mịt trong chiếc xe bị đóng kín cửa mà không ai biết sử dụng cái nút heater để làm khô hơi nước! Trong hoàn cảnh “nguy cấp” này chú em rể không ngớt trấn an ông anh:”Anh bình tĩnh lái xe nghe! Đừng lo! Để em lau cửa kính xe cho anh cho!”. Hai chị em tôi ngồi ở băng sau cứ thế xé và vò nát mấy trang giấy của tờ báo “Thằng Mõ” để đưa cho chú em lau kiếng xe! Vừa đến nơi thì hết mưa và tờ báo cũng chỉ còn lại hai tờ bìa!

Khi biết được mình đã có thai cháu út, tôi quyết định đi học để trở lại để bước vào nghề dạy học. Tôi bắt đầu ghi danh học tại Evergreen Valley College. Bước đầu học Anh ngữ cũng có mấy chuyện vui để nhớ: Đầu tiên tôi có vài người bạn Mỹ, Mễ trong đó có cô bạn Mỹ rất dễ thương. Tôi muốn khen cô bằng câu nói đơn giản:”You are my best friend.” nhưng vì chưa biết cách ”xì gió” hai phụ âm cuối của chữ”best”nên khi phát âm chỉ nghe ra như “bết, bát” thôi! Tôi thấy lông mày cô hơi nhíu lại nên phải nói lại và đánh vần chữ “best”. Nghe xong cô cười và giúp tôi sửa cách phát âm cho đúng chữ mà mình muốn diễn tả này!

Lần khác, trong lớp học về Writing tôi được bà giáo rất thương mến với những bài viết kể lại những kỷ niệm tại quê nhà của tôi. Một hôm bà muốn sửa lại cho tôi một bài văn tôi còn nhớ có tựa đề” The Boy With a Window on His Shirt” trong đó tôi viết – hơi hư cấu- câu chuyện về thời thơ ấu của ông xã. Tóm tắt bài viết: “Ông xã tôi mồ côi cha từ nhỏ nên hai mẹ con sống rất khó khăn. Thuở nhỏ khi đi học, anh chỉ có duy nhất một chiếc áo đồng phục trắng. Một hôm vì vô ý anh làm rách áo ở ngay trên ngực. Mẹ anh phải cặm cụi vá lại chiếc áo bằng một miếng vải trắng cũ. Rồi một ngày kia anh nhất định không chịu đến trường vì bị bạn bè chọc ghẹo là “thằng nhỏ với cái áo có cửa sổ”. Và rồi sau đó anh đã khóc khi mẹ cho anh xem chiếc áo dài cưới trắng đã cũ. Chiếc áo mà mẹ giữ mãi nay đã mất một miếng để lấy vải vá vào chiếc áo bị rách cho anh!” Bà giáo xem xong muốn sửa văn phạm và ngữ pháp của bài văn để đọc cho cả lớp nghe. Ở Việt Nam thì khi muốn gọi ai người gọi để bàn tay úp xuống, nhưng tại Mỹ thì người gọi lại mở bàn tay hướng lên dùng mấy ngón tay để vẫy gọi. Khi bà vẫy gọi tôi như vậy vào lúc cuối giờ học, tôi lại đang vội vã ra về vì sợ lỡ chuyến xe bus. Tôi hồn nhiên vẫy chào:”Bye teacher! See you tomorrow!” Hôm sau bà đến gần bàn học và hỏi hôm qua tại sao tôi không đến gặp bà. Khi nghe tôi giải thích sự hiểu lầm biểu hiện về cách gọi, bà cười thông cảm và dặn tôi hôm nay ở lại để bà giúp cho sửa lại bài văn!

Lần khác nữa cũng làm tôi toát mồ hôi hột. Hôm đó là ngày thi về cách sử dụng computer là môn học mới mẻ mà tôi sợ nhất. Tôi làm bài thi trên computer mấy câu đầu thì máy cho comment “Good” rồi đến “Excellent”. Khoảng năm câu hỏi cuối thì cứ thấy hiện lên chữ”Terrific”! Làm đi làm lại cũng vẫn cứ”Terrific!” Tôi muốn khóc luôn! Thầy giáo phụ trách thấy gần hết giờ mà tôi còn khổ sở quá! Thấy tôi gần như muốn khóc với kết quả, thầy tiến đến xem rồi ngạc nhiên lắm:”Look! You are OK! Terrific means very good!” Oh! My God! Từ nãy đến giờ tôi cứ ngỡ terrific là terrible!

Trong chập chùng nỗi nhớ vẫn có những niềm vui thật là ngây ngô, dễ thương làm sao! Thời gian trôi qua đã hơn “bảy mươi năm cuộc đời” mà bộ nhớ của tôi vẫn “còn một chút gì để nhớ, để quên”: Nhớ quê hương, nhớ người thân, nhớ bạn bè với bao kỷ niệm đẹp, quên đi những hận thù, những tiếc nuối về tất cả những gì đã mất mát. Tôi nghĩ rằng những mất mát về vật chất chúng ta vẫn có thể tự nỗ lực xây dựng lại được. Chỉ sợ những mất mát, tổn thương về tinh thần mà phải cần đòi hỏi sự tha thứ, thông cảm của cả hai bên liên hệ.

Anh cả đã mất! Chị em chúng ta nay đều đang vác trên vai sáu, bảy bó tuổi đời. Ngày nhắm mắt xuôi tay trở về cát bụi không biết đến lúc nào nhưng chắc cũng không còn xa lắm nữa! Chỉ sợ rằng lúc đó khi gặp mặt Chúa, Ngài sẽ không hỏi rằng chúng ta đã có được bao căn nhà, mà chỉ hỏi xem chúng ta thực thi được những gì Ngài đã dạy. Rồi chúng ta cũng sẽ gặp lại những người thân yêu đã khuất. Lúc đó, điều chúng ta cần là phải sửa soạn ngay từ bây giờ hai cách sẽ được đón tiếp: một là cúi mặt để tránh cái nhìn trách móc hay là được ngẩng lên tươi cười đón nhận sự thương yêu của bố mẹ.

Lê Phương Lan (Trích từ FB Lan Lê Nguyễn)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Tô Phở_Ngô Đình Hải

Tô Phở thật tình người
Tác giả: Ngô Đình Hải

 
Vậy là hắn được tha về. Thứ gì của hắn còn xài được, hắn để lại hết cho anh em. Trong này quý. Chỉ giữ lại bộ đồ duy nhất mặc trên người. Miếng giấy ra trại xếp làm bốn, nhét mấy chục ngàn vô giữa, hắn cắm đầu đi thẳng. Không ngó lại. Tuyệt đối không ngó lại. Là mấy tay ở tù nhiều lần dặn vậy. Lưu luyến gì? Tiếc rẻ gì? Nhìn lại lỡ có huôn. Mình không nhớ nó, nhưng nó nhớ mình, nó khiến cho có chuyện vô lại thì sao? 
Chưa có một dự tính nào trong đầu, nhưng hắn tự hứa với mình. Sẽ không bao giờ! Không bao giờ, trở lại nơi này lần nữa. Về đã! Về rồi tính tiếp. Chỉ cần nhảy lên hai chuyến xe đò là hắn tới quê. Là thấy được con mương trước nhà. Thấy hàng so đũa và cái mái lá xác xơ. Không biết má hắn giờ ra sao? Lâu lắm rồi không thấy bà lên thăm. Hắn đã nghĩ tới tình huống xấu nhứt. Hay bà chết rồi không chừng. Mấy năm trước, lúc mới vô tù, bà có lên thăm nuôi hắn đâu được một, hai lần rồi thôi. Thấy yếu lắm. Nói chuyện với hắn như trối! Câu nào cũng đầy nước mắt. Lớp già, lớp nghèo, sống lủi thủi một mình, thêm lớp nhớ con, bà như cây đèn chông lắc lư trước gió hằng đêm, tắt hồi nào không hay! Hắn đã sợ hãi khi nghĩ tới điều này. Sợ còn hơn lúc người ta tuyên án 3 năm tù ở với hắn. Hắn ăn năn, hắn hối hận, hắn tự nguyền rủa con người mình, ngày này qua ngày khác. Ngày tháng ở tù thì kéo dài tưởng chừng như vô tận. Hắn chai lỳ với mọi cảm xúc, chịu đựng vượt mức mọi thứ, để chờ ngày hôm nay. Ruột hắn nóng như lửa đốt, mà cái xe đò cứ rề rề, chạy rồi ngừng, ngừng rồi chạy liên tục. Tới thành phố thì đã quá trưa.
Chỉ cần thêm 2 chuyến xe nữa là hắn đã có mặt ở nhà. Hắn hối hả tìm trạm xe buýt ra bến xe miền Tây. Miệng khô khốc, bụng đói cồn cào. Hắn dừng lại ở thùng bánh mì từ thiện, may mắn không chào đón hắn, thùng bánh mì trống trơn. Hắn uống liền 2 ca trà đá ở cái bình nước miễn phí đặt gần đó. Đầu hắn quay cuồng, cái đói ở đâu kéo tới thiệt lẹ. 
Hai chân hắn bắt đầu run. Con đường trước mặt như quen như lạ. Đã có một thời hắn kiếm miếng ăn trên những con đường. Hắn khéo tay. Không có cái khoá xe nào mà hắn cần quá 1 phút để mở. Hắn mở khoá xe điệu nghệ như một nhà ảo thuật. Cái điệu nghệ đưa tới một án tù! Với hắn, trộm cắp cũng phải có nghệ thuật và nguyên tắc riêng của nó. Thứ nhứt, không chôm…xe cùi bắp! Bán chẳng được bao nhiêu, phí một lần ra tay. Lại nữa, chủ nhân thường là những người nghèo. Chiếc xe là cái cần câu cơm, là cả một gia tài. Mất đi, lập tức…đời là bể khổ! Chôm không đành. Thứ nhì, có lựa xe dữ, thì cũng không chơi ở mấy cửa hàng, trường học. Ở đó có người coi, có bảo vệ. Khó chơi đã đành. Chơi được, thì nạn nhân không phải người mất xe, mà là chính họ. Những người đi làm cái nghề giữ xe được mấy đồng bạc. Đền một chiếc xe là mạt, là ăn mày. Kẹt mấy cũng đừng chơi! Tội…
Ngon nhứt là canh me chôm trước cửa nhà, chôm của mấy tay có tiền, chạy xe xịn đi ăn chơi, mua sắm. Ăn hàng xong là nhẹ nhỏm, là khỏi băn khoăn, thắc mắc…
Hắn lắc lắc đầu, cố thoát ra khỏi cái ám ảnh ngứa nghề để đi tiếp. Ngẩng lên, thấy ngay tấm bảng đập vô mắt:
“Phở bình dân. Tái Nạm Gàu Gân. 35k 1 tô”. Xe phở đặt phía trước tiệm. Thùng nước lèo kế bên. Mấy tảng thịt bò treo lủng lẳng bắt mắt. Không nhớ đã bao lâu hắn không được ăn phở. Thèm và đói. Cái đói réo gọi. Đói dữ dội. Đói chảy nước mắt. Đói leo qua sức chịu đựng của hắn. Hắn lôi tiền ra đếm. Còn vỏn vẹn 30 ngàn về xe. Hắn cay đắng. Hắn bực tức. Tô phở bốc khói nhảy vô đầu hắn ngồi. Tô phở vực cái thói quen cũ trồi dậy. Hắn bắt đầu quan sát. Phố xá đông đúc, hàng quán san sát, xe gắn máy đậu dài hai bên lề đường. Hắn tản bộ thêm một đoạn, ngó mấy cái ngã tư, tính toán đường thoát. Hắn nhìn quanh quất, phải kiếm đồ nghề trước. Cái này thì dễ. Gần đèn xanh, đèn đỏ, có một tiệm sửa xe. Hắn lượm một cây căm xe cũ. Lượm thêm một cục đá xanh làm búa. Hắn ngồi ngay xuống lề đường, lo việc của mình, mặc kệ thiên hạ. Người qua lại đông, xe cộ chen nhau, không ai thèm để ý tới hắn. Thân ai nấy lo, hồn ai nấy giữ, biết càng thêm rắc rối chứ ích gì. Hắn bẻ gập cây căm cho ngắn lại, lấy cục đá đập dẹp cái đầu, rồi uốn, rồi mài dưới mặt đường, cẩn thận từng chút. Một bài học trong tù. Ở trong đó hắn còn làm ra nhiều thứ vật dụng quái chiêu hơn nhiều. Không có gì là không thể nếu chịu khó và kiên nhẫn. Xong, hắn đưa lên trước mặt ngắm nghía. Không ngon lắm, nhưng cũng tạm được. Dân trong nghề kêu bằng đoản, trong tay hắn là cái chìa khoá vạn năng. Hắn đút cây đoản vô túi áo. Tay hắn chạm tờ giấy ra trại. Chạm vào thực tại. Tờ giấy nhắc cho hắn cái lý do hắn ở đây. Hắn hơi chựng lại. Hắn xoè tay ra trước mặt, hai bàn tay nhạy bén như của một nghệ sĩ ngày nào, giờ xám xịt, chai sần và thô kệch. Những ngón tay cứng đơ nằm gần nhau mệt mỏi. Hắn hoang mang, hắn không còn đủ tin tưởng vô chúng. Hắn co duỗi, hắn nhấp thử vài lần trong không khí. Chậm và thô quá. Hắn đốt điếu thuốc còn sót lại, hy vọng xoa dịu cơn đói. Khói thuốc làm người hắn nhộn nhạo. Hắn nhớ tới má hắn dưới quê, không biết sống chết ra sao. Một phần trong hắn lên tiếng:
– Thôi bỏ đi. Đã thề bỏ rồi mà. Làm khổ bà già nhiêu đó chưa đủ sao, thằng bất hiếu! Về! Về gấp như đã hứa. Về! Đói no gì cũng kệ, miễn là có mẹ có con. Cái nghề này đâu có bền. Sớm muộn gì cũng trở vô trỏng thôi!…
Hắn cúi xuống nhìn bộ quần áo mình đang mặc. Nhìn cái  con người thân tàn ma dại của mình. Một phần khác trong hắn lên tiếng:
– Về! Dĩ nhiên là phải về. Nhưng về trong tình cảnh này sao? Chơi đại một chiếc kiếm vốn, đua về trốn luôn ở dưới mà làm lại cuộc đời! Chơi đi, đâu có khó gì…
 
Hắn đứng bật dậy. Người hắn loạng choạng. Từ sáng tới giờ hắn có miếng nào trong bụng đâu! Đói chịu hết xiết. Muốn làm gì thì cũng phải ăn cái đã. Mọi chuyện tính sau. Tiệm phở đông nghẹt. Hắn bước vô, đứng ngay xe. Mùi phở bốc lên nồng nực, thơm phức. Cái mùi đủ làm cho người chết sống dậy. Hắn ấp úng gọi:
– Bà chủ…
Người đàn bà đứng nấu, đang tất bật với múc, chan. Mồ hôi nhể nhại. Nghe hắn gọi, không thèm ngó, sẳng giọng:
– Tui không phải chủ. Chủ ngồi trong kia kìa…
Hắn nuốt nước miếng ừng ực, nói tiếp:
– Bán cho tui tô 30 ngàn nhiều bánh được không? 
Chị ngừng tay, ngước lên nhìn hắn:
– Vô bàn ngồi đi!
Hắn tìm cho mình một chỗ trống, ngồi xuống. Tô phở đầy ắp, thịt cả đống, được thằng nhỏ bưng ra. Ngó chừng có phần còn nhiều hơn những tô khác. Hắn cắm cúi ăn, nghe từng miếng trôi qua miệng xuống bụng, nghe cái ngọt ngào của từng muổng nước lèo thấm ra da thịt. Tới lúc hắn buông đủa, thì cái tô sạch nhách, một miếng hành cũng không còn. Mắt hắn sáng lên. Người hắn phấn chấn. Hắn kêu tính tiền. Thằng nhỏ chạy lại, hắn đưa tiền. Thằng nhỏ đếm:
– Thưa, mới 30, 35 ngàn một tô…
Hắn sượng ngắt, chỉ tay về phía người đàn bà:
– Tui kêu tô 30…
Thằng nhỏ day qua ngó chị như hỏi. Vài người ngồi quanh ngó qua hắn, nghi nghi, ngờ ngờ. Không lẽ cái bộ dạng của hắn tệ dữ vậy sao? Chị rời chỗ đứng đi về phía hắn, ngó cái tô phở trống trơn, rồi ngó hắn:
– Ăn được không chú Tư? No chưa?
Hắn gật, rồi nhắc lại:
– Tui kêu tô 30…
Chị gạt ngang, cười:
– Ai chẳng có lúc quên. Cái này là tui quên chứ không phải chú quên, bỏ qua nhe!
Giọng chị nhỏ lại:
– Tui để ý chú tự nảy giờ. Về quê hả? Về đời lâu mau rồi? Mới ra hả?…
Hắn lại gật:
– Sáng nay…
Chị giằng lấy 30 ngàn trong tay thằng nhỏ, nhét sâu vào túi áo hắn, để tay ở đó một chập, rồi nói lớn:
– Đi cho kịp chuyến xe, chú Tư.
Lại Tư! Hắn cu ky một mình, có anh có em gì đâu mà Ba, mà Tư! Người đâu ngộ thiệt! Quen biết hồi nào đâu mà kêu hắn thứ Tư, trật lất. Hắn nhìn chị, nghẹn ngang. Lí rí cám ơn, rồi đi thẳng. 
Ngoài cửa, một cặp trai gái vừa tấp chiếc SH, nắm tay nhau đi vô, cùng lúc với hắn đi ra. Tay hắn giựt giựt. Cơ hội ngon ăn hết biết! Hắn vịn tay lên ghi đông chiếc xe, lắc nhẹ như tình cờ đi ngang bị vướng, tay kia rờ lên túi. Thò luôn tay vô trong. Tấm giấy ra trại còn nguyên. Tiền chị nhét vô còn nguyên. Cây đoản mở khoá biến đâu mất. Hắn thở dài, coi như xong! Chắc Trời khiến! 
Hắn đi thật nhanh như chạy. Tiếng chị vang theo sau lưng:
– Về khoẻ nhe chú Tư. Có lên chơi nhớ ghé nhe…
Chị nói mà bàn tay nắm lại, hình như có cái gì của hắn trong đó…
 
Tác giả: Ngô Đình Hải
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

MẸ TÔI & LÁ CỜ VÀNG BA SỌC ĐỎ_Nguyễn Kiên

MẸ TÔI & LÁ CỜ VÀNG BA SỌC ĐỎ

Mẹ tôi chỉ là một thư ký cho một công sở ở Sài Gòn trước năm 1975. Vào cái trưa ngày 30.4.1975, khi biết chắc miền Nam đã thất thủ và bọn giặc cướp Cộng sản đang từ từ tiến vô Sài Gòn, Mẹ tôi lặng lẽ mở tủ lấy lá Cờ Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa, bỏ vô chiếc thau đồng vẫn thường để đốt vàng bạc trong các dịp cúng giỗ trong gia đình, rồi đem xuống bếp, thắp ba cây nhang lâm râm khấn vái trước khi châm lửa đốt. Lúc đó, chúng tôi cũng biết việc cất giữ những gì thuộc về chế độ cũ sẽ mang tới tai họa cho gia đình, huống chi là lá Cờ Quốc Gia, nên Mẹ tôi phải đốt đi; nhưng những điều mà Mẹ tôi giải thích sau đó về việc khấn vái trước khi đốt lá cờ mang một ý nghĩa khác hơn mà suốt đời tôi không quên được. Mẹ tôi nói:

– «Biết bao nhiêu anh Chiến Sĩ Quốc Gia đã chết dưới lá cờ ni, chừ vì thời thế mà mình phải đốt đi, mình cũng phải xin phép người ta một tiếng!».

Thế rồi, những năm tháng sống dưới chế độ Cộng sản man rợ bắt đầu đến với người dân miền Nam. Như bao nhiêu gia đình khác, gia đình tôi ngơ ngác, bàng hoàng qua những chiến dịch, chính sách liên tiếp của bọn Việt Cộng; hết “chiến dịch đổi tiền”, “chính sách lương thực, hộ khẩu”, đến “chính sách học tập cải tạo đối với ngụy quân, ngụy quyền”, “chiến dịch đánh tư sản mại bản”, «chính sách kinh tế mới » … và nhiều nữa không thể nào kể hết. Ai nói lũ Cộng sản ngu ngốc, chứ riêng tôi thì thấy bọn chúng chỉ là một loài vô đạo đức, vô học, vô nhân cách và kém văn hoá, kỹ thuật; chứ thủ đoạn chính trị thì thật thâm hiểm, lưu manh, gian trá, quỷ quyệt, tráo trở, lật lọng! Chính sách nào của lũ Cộng sản cũng cốt là để làm cho người dân miền Nam khốn đốn, kiệt quệ, nghèo đói, dìm sâu con người miền Nam xuống đến tận bùn đen để không còn sức phản kháng lại bọn chúng.

Đầu tiên là: «chiến dịch đổi tiền», bọn chúng phát cho mỗi gia đình một số tiền bằng nhau, như vậy mỗi gia đình đều nghèo như nhau, không ai có thể giúp ai được. Để ăn cướp của người dân miền Nam, bọn chúng trắng trợn và trâng tráo tuyên bố vàng, bạc, quý kim, đá quý là thuộc tài sản của nhà nước, ai mua, bán, cất giữ thì bị tịch thu. Kế đến là: «chính sách hộ khẩu», tức là mổi gia đình phải kê khai số người trong gia đình để được mua lương thực (tức là gồm khoai, sắn và gạo mốc) theo tiêu chuẩn, nghĩa là mỗi người (mà chúng gọi là «nhân khẩu») được 13 kg lương thực mổi tháng.

Bao vây như vậy vẫn chưa đủ chặt, bọn Cộng sản sau đó còn ban hành lệnh cấm người dân mang gạo và các loại hoa màu khác từ vùng này sang vùng khác, bất kể là buôn bán hay chỉ là để cho bà con, con cháu. Thành thử các vùng thôn quê miền Nam (vốn dư thừa lúa gạo) mà lúc bấy giờ cũng không thể đem cho bà con, con cháu ở thành phố; nhiều bà nội, ngoại phải giấu gạo trong lon sữa guigoz để đem lên thành phố nuôi con cháu bị bệnh hoạn, đau ốm… Như vậy là bọn chúng đã hình thành một cái chuồng gia-súc-người khổng lồ, con vật-người nào ngoan ngoãn thì được cho ăn đủ để sống, con nào đi ra khỏi cái chuồng đó thì chỉ có chết đói.

Chính sách này của bọn chúng còn thâm hiểm và ác độc ở chỗ mà Miền Nam ngày trước không có là không thể có cái việc: «các má, các chị nuôi giấu cán bộ giải phóng trong nhà» như lũ giặc cướp cộng phỉ đã đĩ miệng, phỉnh phờ lừa gạt những người dân nhẹ dạ theo chúng trước đây. Ba tôi rồi cũng đi tù lao động khổ sai như bao nhiêu sĩ quan, công chức Miền Nam khác, Mẹ tôi ở lại một mình phải nuôi bầy con nhỏ. Bây giờ mổi khi hồi tưởng lại đoạn đời đã qua, tôi vẫn tự hỏi, nếu mình là mẹ mình hồi đó, liệu mình có thể bươn chải một mình để vừa nuôi chồng trong tù, vừa nuôi một đàn con dại như vậy không? Trong lòng tôi vẫn luôn có một bông hồng cảm phục dành cho Mẹ tôi và những phụ nữ như Mẹ tôi đã đi qua đoạn đời khắc nghiệt xưa đó.

Từ một công chức cạo giấy Mẹ tôi trở thành: “bà bán chợ trời” (bán các đồ dùng trong nhà để mua gạo ăn), rồi sau khi kiếm được chút vốn đã “tiến lên” thành một: «bà bán vé số, thuốc lá lẻ» đầu đường.

Thời đó, cái thời chi mà khốn khổ! Mẹ tôi buôn bán được vài bữa thì phải tạm nghỉ vì hễ khi có: «chiến dịch làm sạch lòng, lề đường», bọn công an đuổi bắt những người buôn bán vặt như Mẹ tôi, thì phải đợi qua “chiến dịch” rồi mới ra buôn bán lại được. Có khi Mẹ tôi đẩy xe vô nhà sớm hơn thường lệ, nằm thở dài, hỏi ra mới biết Mẹ tôi bị quân lưu manh lường gạt, cụt hết vốn. Thời bấy giờ, do chính sách: «bần cùng hoá nhân dân» của lũ giặc cướp Cộng sản miền Bắc đã tạo ra những tên lưu manh, trộm cắp nhiều như nấm. Có tên đến gạt Mẹ tôi đổi vé số trúng mà kỳ thật là vé số cạo sửa, vậy là Mẹ tôi cụt vốn; có tên đến vờ hỏi mua nguyên một gói thuốc lá Jet (thời đó người ta thường chỉ mua một, hai điếu thuốc lẻ, nên bán được nguyên gói thuốc là mừng lắm), thế rồi hắn xé bao lấy một điếu, rồi giả bộ đổi ý, trả gói thuốc lại, chỉ lấy một điếu thôi, vài ngày sau Mẹ tôi mới biết là hắn đã tráo gói thuốc giả!

Một buổi tối, tôi ra ngồi chờ để phụ Mẹ tôi đẩy xe thuốc vô nhà, thì có một tên bộ đội, còn trẻ cỡ tuổi tôi, đội nón cối, mặc áo thun ba lỗ, quần xà lỏn (chắc là đóng quân đâu gần đó) đến mua thuốc lá.

Hồi đó, bọn bộ đội Cộng sản, vốn bản chất xảo trá, quỷ quyệt cộng với cái bản chất hèn hạ, nên thường che giấu không mang quân hàm, nên chẳng ai biết lũ chúng là cấp bậc nào, chỉ đoán là tên nào trẻ, mặt mày ngố ngố đần độn là lũ bộ đội thường, cấp nhỏ, tên nào người lùn tẹt, răng hô, môi tím tái, da xanh bủng, mặt mày thâm hiểm, quắt queo, kinh tởm như mặt loài chuột bẩn thỉu thì có thể là lũ công an hay chính trị viên… Tên bộ đội hỏi mua 3 điếu thuốc lá Vàm Cỏ, rồi đưa ra tờ giấy một đồng đã rách chỉ còn hơn một nửa. Mẹ tôi nói:

– «Anh đổi cho tờ bạc khác, tờ ni rách rồi, người ta không ăn».

Tên bộ đội trẻ măng bỗng đổi sắc mặt, cao giọng lạnh lùng:

– «Chúng tôi chưa tuyên bố là tiền này không tiêu được!».

À, thì ra những thằng oắt con Cộng sản rừng rú, lếu láo, vô học và vô nhân cách này cũng biết lên giọng của kẻ chiến thắng (nhờ cúi đầu làm tay sai đánh thuê cho bọn ngoại bang Trung Cộng – Liên Xô), giọng của kẻ nhân danh một chính quyền! Lúc này, tôi mới sực thấy cái quần xà lỏn màu vàng mà tên thổ phỉ rừng rú này đang mặc được may bằng lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ! Mẹ tôi lẳng lặng lấy tờ tiền rách và đưa cho hắn 3 điếu thuốc lá. Khi hắn đã đi xa, Mẹ tôi vò tờ bạc vất xuống cống và nói nhỏ đủ cho tôi nghe:

– «Thôi kệ, một đồng bạc, cãi lẫy làm chi cho mệt! Thí cho bọn cô hồn ăn cướp đó đi! Hắn mặc cái quần… làm chi rứa, thắng trận rồi thì thôi, sỉ nhục người ta làm chi nữa, con hỉ?».

Thì ra Mẹ tôi cũng đã nhận ra cái quần hắn mặc may bằng lá Cờ Vàng Quốc Gia và điều mà Mẹ tôi quan tâm nhiều hơn là lá cờ, chứ không phải tờ bạc rách! Khi bọn Cộng sản mới cưỡng chiếm Miền Nam, nhiều người vẫn tưởng bọn Cộng sản cũng là người Việt, không lẽ họ lại đày đọa đồng bào. Nhưng sau nhiều năm tháng sống dưới chế độ Cộng sản, tôi hiểu ra rằng bọn Cộng sản xem dân Miền Nam như kẻ thù muôn kiếp, bọn chúng tự cho bọn chúng là phe chiến thắng «vẻ vang» và có quyền cai trị tuyệt đối đám dân xem như không cùng chủng tộc này.

Một hôm, đang ngồi bán thuốc lá, Mẹ tôi tất tả vô nhà, kêu đứa em tôi ra ngồi bán để mẹ đi có việc gì đó. Một lúc sau Mẹ tôi trở về và kể cho chúng tôi một câu chuyện thật ngộ nghĩnh. Mẹ kể:

– «Mẹ đang ngồi ngoài đó thì nghe mấy bà rủ nhau chạy đi coi người ta treo Cờ Quốc Gia trên ngọn cây. Té ra không phải, có cái bao ny-lông màu vàng có dãi đỏ, chắc là gió thổi mắc tuốt trên ngọn cây cao lắm, người ta tưởng là Cờ Vàng Quốc Gia. Mà lạ lắm con, có con chó nó cứ dòm lên cây mà sủa ra vẻ mừng rỡ lắm, rứa mới lạ, chắc là điềm trời rồi !».

Mẹ tôi là vậy đó, bà hay tin dị đoan, nhưng chính ra là Mẹ tôi nhìn mọi việc bằng tình cảm trong lòng mình. Thời gian trôi mãi không ngừng… Cuối cùng rồi Ba tôi cũng may mắn sống sót trở về sau gần 10 năm trong lao tù khổ sai Cộng sản, Mẹ tôi vẫn bán thuốc lá lẻ, chúng tôi sau nhiều lần bị đánh rớt Đại Học, đành phải tìm việc vặt vãnh để kiếm sống. Đôi khi tôi tự hỏi, cuộc đời mình sẽ ra sao, liệu mình có thể có một mái gia đình, vợ con như bao người khác không trong khi mà cả gia đình mình không hề thấy một con đường nào trước mặt để vươn lên, để sinh sống với mức trung bình!? «Mọi người sinh ra đều bình đẳng… và ai cũng được quyền mưu cầu hạnh phúc…» Câu ấy nghe có vẻ hiển nhiên và dễ dàng quá; nhưng phải sống dưới chế độ Cộng sản, việc gì cũng bị truy xét lý lịch đến ba đời, mới thấm thía ý nghĩa và hiểu được vì sao người ta dùng câu ấy để mở đầu cho bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền bất hủ.

Một ngày khoảng đầu năm 1990, bọn công an phường đến đưa cho Ba tôi một tờ giấy có tiêu đề và đóng dấu của công an thành phố, nội dung vỏn vẹn “đến làm việc”. Gia đình tôi lo sợ là Ba tôi sẽ bị bắt vô tù lại, Ba tôi thì lẳng lặng mặc áo ra đi, hình như các ông sĩ quan đi tù khổ sai của bọn Cộng sản về đều trở thành triết gia, bình thản chấp nhận thực tại. Hay là thân phận của con cá nằm trên thớt, thôi thì muốn băm vằm gì tuỳ ý. Rồi Ba tôi về nhà với một tin vui mà cả nhà tôi có nằm mơ cũng không thấy được, bọn công an thành phố kêu Ba tôi về làm đơn nộp cho Sở Ngoại Vụ vì gia đình tôi đã được cho đi định cư ở Hoa Kỳ! Thật không sao kể xiết nỗi vui mừng của gia đình tôi với tin này, đang từ một cuộc sống tuyệt vọng nơi quê nhà mà nay được ra đi đến một quốc gia tự do, giàu mạnh nhất thế giới! Những ngày sau đó lại cũng là Mẹ tôi đi vay mượn, bán những món đồ cuối cùng trong nhà chỉ để có tiền làm bản sao photocopy các giấy tờ “Ra Trại” của Ba tôi, khai sinh của chúng tôi, đóng tiền cho “Dịch Vụ”… để làm thủ tục xuất cảnh.

Chỉ khoảng 6 tháng sau là gia đình tôi lên máy bay để bay qua trại chuyển tiếp bên Thái Lan. Tôi lên máy bay, ngồi nhìn xuống phi trường Tân Sơn Nhất dưới kia mà nước mắt cứ trào ra không ngăn được. Thế là hết, đất nước này của tôi, thành phố Sài Gòn này của tôi, nơi mà tôi sinh ra và lớn lên, một lát nữa đây sẽ vĩnh viễn rời xa, bao nhiêu vui buồn ở đây, mai sau chỉ còn trong kỷ niệm! Tôi quay lại nhìn thấy Ba tôi mặt không lộ vẻ vui buồn gì cả, còn Mẹ tôi thì nhắm mắt như đang cầu nguyện và Mẹ tôi cứ nhắm mắt như thế trong suốt chuyến bay cho đến khi đặt chân xuống Thái Lan, Mẹ tôi mới nói:

– “Bây giờ mới tin là mình thoát rồi!”.

Sau khoảng 3 tuần ở Thái Lan, gia đình chúng tôi lên máy bay qua Nhật, rồi đổi máy bay, bay đến San Francisco, California, Hoa Kỳ.

Ngày đầu tiên đến Mỹ được người bà con chở đi siêu thị của người Việt, thấy lá cờ Việt Nam Cộng Hòa bay phất phới trên mái nhà, Mẹ tôi nói:

– «Úi chao, lâu lắm mình mới thấy lại lá cờ ni, cái Lá Cờ Quốc Gia VNCH của mình răng mà hắn hiền lành, dễ thương hí?»

Rồi Mẹ kêu tôi đi hỏi mua cho mẹ một lá Cờ Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa bằng vải, đem về cất vào ngăn trên trong tủ thờ. Chúng tôi dần dần ổn định cuộc sống, cả nhà đều ghi tên học College, Mẹ tôi cũng đi học College nữa và xem ra bà rất hứng thú với các lớp ESL (English as a Second Language); đặc biệt là các lớp có viết essays (luận văn).

Mẹ tôi viết luận văn rất ngộ nghĩnh, thí dụ đề tài là: «Bạn hãy nói các điểm giống nhau và khác nhau của một sự việc gì đó giữa nước Mỹ và nước của bạn» thì Mẹ tôi lại viết về lá Cờ Quốc Gia. Ý Mẹ tôi (mà chắc chỉ có mình tôi hiểu được) là nước Việt Nam có đến hai lá cờ khác nhau với hai chế độ tương phản nhau mà người Mỹ thời này hay ngộ nhận cờ Việt Nam là cờ đỏ sao vàng của Việt Cộng; trong khi lá cờ đó không phải là lá cờ thiêng liêng của người Việt tại Mỹ. Rải rác trong suốt bài luận văn dài tràng giang đại hải của Mẹ tôi là những mẩu chuyện thật mà Mẹ tôi đã trải qua suốt thời gian sống dưới chế độ Cộng sản man rợ. Mẹ tôi kể là mẹ thấy bà giáo Mỹ đọc say mê (tôi nghĩ có lẽ là bà giáo Mỹ sống ở nước tự do, dân chủ không thể ngờ là có những chuyện chà đạp, bức hiếp con người như thế dưới chế độ Cộng sản tàn ác và man rợ). Khi bài được trả lại, tôi cầm bài luận của Mẹ tôi xem thì thấy bà giáo phê chi chít ngoài lề không biết bao nhiêu là chữ đỏ: «interesting!», «Narrative», «I can’t believe it!”… . và cuối cùng bà cho một điểm “D” vì… lạc đề!

Cuộc sống chúng tôi dần dần ổn định, vô Đại Học, lấy được bằng cấp, chứng chỉ, rồi đi làm, cuộc sống theo tôi như thế là quá hạnh phúc rồi. Dạo đó, có anh chàng Trần Trường nào đó ở miền Nam California, tự nhiên giở chứng đem treo lá cờ đỏ sao vàng bẩn thỉu kinh tởm của bọn Cộng sản trong tiệm băng nhạc của anh ta làm cho người Việt quanh vùng nổi giận. Đồng bào tỵ nạn đã đem cả ngàn Lá Cờ Quốc Gia, Nền Vàng Ba Sọc Đỏ đến biểu tình trước tiệm anh ta suốt mấy ngày đêm. Mẹ tôi ngồi chăm chú xem trên truyền hình và nói với tôi:

– “Tinh thần của người ta còn cao lắm chớ, mai mốt đây mà về thì phải biết!”

Ý Mẹ tôi nói là sau này khi không còn Cộng sản ở Việt Nam nữa thì chắc đồng bào sẽ hân hoan trở về treo lên cả rừng Cờ Quốc Gia chớ không phải chỉ chừng này đâu. Thời gian trôi nhanh quá, chúng tôi đã xa quê hương gần 20 năm, Việt Cộng vẫn còn đó, vẫn cai trị đất nước tôi. Sau này do chúng tôi, kể cả cha chúng tôi nữa, đều học xong và ra đi làm, không ai có thể chở Mẹ tôi đi học ESL nữa nên Mẹ tôi phải ở nhà thui thủi một mình, buồn lắm. Có lần tôi hỏi mẹ có muốn về Việt Nam một chuyến để thăm bà con lần cuối không, Mẹ tôi nói:

– “Không, về làm chi, rồi mình nhớ lại cảnh cũ, mình thêm buồn; khi mô mà hoà bình rồi thì mẹ mới về!”

Ý mẹ nói “hoà bình” nghĩa là khi không còn Cộng sản nữa.

Rồi Mẹ tôi bệnh, đưa vô nhà thương, bác sĩ chẩn đoán Mẹ tôi bị ung thư phổi, cho về nhà để Hospice Care đến chăm sóc (Hospice là các tổ chức thiện nguyện ở khắp nước Mỹ, nhiệm vụ của họ là cung cấp phương tiện, thuốc men miễn phí nhằm giảm nhẹ đau đớn cho những người bệnh không còn cứu chữa được nữa). Mẹ tôi mất không lâu sau đó. Mẹ nằm lại đất nước Mỹ này và vĩnh viễn không còn nhìn thấy lại quê hương mình lần nào nữa.

Trong lúc lục giấy tờ để làm khai tử cho mẹ, tôi tìm thấy chiếc ví nhỏ mà Mẹ tôi vẫn thường dùng để đựng ít tiền và các giấy tờ tuỳ thân như thẻ an sinh xã hội, thẻ căn cước… Trong một ngăn ví là lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ bằng giấy, khổ bằng chiếc thẻ tín dụng mà có lẽ Mẹ tôi đã cắt ra từ một tờ báo nào đó. Tôi bồi hồi xúc động, thì ra Mẹ tôi vẫn giữ mãi lá Cờ Quốc Gia bên mình, có lẽ lá Cờ Vàng hiền lành này đối với Mẹ tôi cũng thiêng liêng như linh hồn của những người đã anh dũng chiến đấu và hy sinh để bảo vệ Tự Do, Công Bằng và Bác Ái cho miền Nam Việt Nam.

(Sài Gòn trong tôi – Nguyễn Kiên)

Fb Anna NX chia sẻ.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

MẸ TÔI_Hoàng Nguyên Linh

MẸ TÔI

                 (Viết theo tâm sự của người con một đời phải xa mẹ)

                   Hoàng Nguyên Linh

    This image has an empty alt attribute; its file name is me-gia.jpgSách vở, báo chí, đài phát thanh và truyền hình người ta nói nhiều về mẹ. Đa số đều nhắc đến những kỷ niệm êm đềm bên người mẹ hiền, nhưng tôi thì khác. Tôi có mẹ mà như không có. Nỗi buồn này hầu như theo đuổi suốt cuộc đời tôi…

     Mẹ tôi là người vợ thứ hai của bố tôi. Bố tôi là một địa chủ khá giầu, đã có vợ cả và nhiều con nhưng bố tôi lại là một người ham mê sắc đẹp nên ông đã lấy mẹ tôi. Tôi không nhớ rõ mẹ tôi đẹp thế nào, chỉ nhớ mẹ tôi có đôi môi hồng, làn da trắng, người cao cao, mặt trái xoan,  nhưng nghe bố tôi nói thì mẹ tôi đẹp lắm nên ông quyết lấy cho bằng được dù phải bỏ ra rất nhiều tiền.

     Gia đình bên ngoại không giầu bằng bên nội nhưng ông ngoại tôi có nhiều con, hình như có tới tất cả 11, 12 người, trong đó có 8 người con gái. Hai người chị của mẹ tôi đã lấy hai người em họ của bố tôi. Cũng vì bố tôi hai vợ nên tôi đã phải chịu những sự đau buồn, tủi nhục.

     Ở ngòai Bắc thời xưa, đa số các ông địa chủ có tiền đều thi nhau lấy nhiều vợ. Ông nội tôi có 3 vợ, bố tôi có 2, nhưng ông nội tôi là người có bổn phận và có trách nhiệm. Tuy có 3 vợ nhưng mỗi bà ở một nơi, mỗi bà một giang sơn riêng nên không có chuyện gì đáng tiếc xẩy ra, nếu có ghen tuông chắc không đến nỗi trầm trọng. Bố tôi không như ông nội tôi, bố tôi lấy vợ hai về song lại để hai bà ở chung với nhau nên mới gây ra nhiều chuyện phiền phức sau này, sự ghen tuông  hầu như đã xẩy ra hàng ngày, tôi nghe cô tôi nói vậy. Tôi ra đời một năm sau khi mẹ tôi lấy bố tôi. Cũng vì tôi là con trai nên sự ghen tuông càng đi đến chỗ quyết liệt hơn. Bà cả sau khi sanh người con trai đầu lòng thì sanh liên tiếp 4 người con gái. Bà đi xem bói, thầy bói nói rằng số của bố tôi chỉ có 2 người con trai thôi, bà cả nghĩ rằng bà không thể có con trai thêm nữa, vậy là tại mẹ tôi đã lấy đi phần con trai của bà. Như sợ mất thế lực với mẹ tôi nên sự ghen tuông càng tăng lên, bà cả bảo với bố tôi là một mình bà đẻ đủ rồi, lấy mẹ tôi về là để làm lụng chứ không phải để đẻ nên bà nghĩ cần phải loại trừ mẹ tôi ra khỏi nhà cho bằng được. Trời mùa Đông gía lạnh mà bà cả nhẩy xuống ao đòi tự tử. Bố tôi sống trong cảnh ghen tuông thì mệt quá, đáng lẽ làm như ông nội tôi tức là đưa bà hai ra ở riêng một nơi thì bố tôi lại không làm thế… Mẹ tôi sau khi sanh ra tôi vì không trưng diện, ăn mặc xuề xoà nên sắc đẹp không đủ để lôi cuốn bố tôi. Bố tôi một phần vì mệt với sự ghen tuông, một phần vì nhan sắc mẹ tôi không còn như xưa nữa nên ông đã thờ ơ, lạnh nhạt với mẹ tôi, để mặc mẹ tôi muốn làm gì thì làm.

      Mẹ tôi sống trong cảnh ghen tuông của bà cả và sự thờ ơ của chồng nên đã phải ra đi, chịu cảnh bơ vơ trong tay không có một đồng ! Tôi được giữ lại trong nhà để làm em một anh và bốn chị.

     Giai đọan này tôi còn bé nên không biết gì, lại nữa vì thầy bói nói số của bố tôi chỉ có hai con trai nên vai trò “con trai” của tôi đã giúp tôi đỡ khổ. Tôi thực sự khổ từ khi biết nhận thức, tức là lúc 6,7 tuổi trở đi.

     Khi tôi được 5 tuổi thì bà cả sanh thêm được người con trai nữa, thế là thầy bói đã nói sai và vai trò “con trai” của tôi không còn cần thiết, tôi như bị bỏ rơi. Hai người hành hạ tôi nhiều nhất là bà nội và người chị lớn. Bà nội rất mực yêu thương người con trai mới sanh sau này của bà cả. Bà nội yên tâm khi có được người cháu trai phòng hờ để sau này có người cúng giỗ và thờ phượng, chứ một người cháu lớn bà chưa yên tâm…

     Người ta nói đến mẹ, nói đến bà như một kỷ niệm đẹp, nào bà ôm cháu vào lòng, bà kể chuyện cổ tích cho cháu nghe, mẹ thì xoa lưng con, hát ù ơ ru con ngủ v.v.. nhưng tôi lại khác, tôi không có được cái kỷ niệm đó. Bà nội tôi và chị tôi thường hay đánh tôi vào đầu, hai người này thường dùng tay để  “cốc”  tôi. Cốc tức là cong ngược 4 ngón tay lại để chìa ra 4 đốt xương và đập vào đầu. Chỉ những ai đã bị cốc mới biết được cái đau buốt trong đầu, nhất là đầu của một đứa trẻ mới 6,7 tuổi. Tự điển Nguyễn Văn Khôn định nghiã  “cốc” ( knuckle) tức là đánh một vật gì bằng khớp xương của ngón tay, thực ra phải nói “cốc” tức là đánh vào đầu bằng khớp xương của ngón tay mới đúng, chứ nếu đánh vào tay, chân, lưng, bụng thì không đau và cũng không ai nói “cốc” vào lưng, vào bụng bao giờ.  Không những chỉ đánh mà còn chửi, mang tên mẹ tôi ra để chửi, gọi mẹ tôi là con này, con nọ, mang cả tên ông ngoại tôi ra chửi, gọi tôi là “ giống thằng cả Thiều ”  tức là tên ông ngoại tôi. Chị tôi có nét mặt thật ác, bố tôi bảo những đứa mà mắt nó có ve là ác lắm, tôi cũng không biết mắt có ve là mắt thế nào, chỉ nghe bố tôi nói vậy. Nhưng trái ngược với chị tôi, bà nội tôi ai cũng khen là bà cụ đẹp lão và phúc hậu, tóc bà bạc trắng hết cả đầu. Mỗi khi tôi thấy có người khen dù còn bé nhưng tôi cũng lấy làm ngạc nhiên, bà nội ác với tôi như thế mà họ khen bà phúc hậu kể cũng lạ. Ngày nay tôi mới hiểu ra là sở dĩ bà nội ghét tôi là để lấy lòng bà cả. Bà nội tưởng bà cả ghét mẹ tôi tức là ghét tôi nên bà nội muốn mọi người thấy rằng nay bà nội đứng về phía  bà cả và những người con bà cả. Ngoài tôi ra, bà nội chưa hề đánh hay chửi một người cháu nào bao giờ. Việc đánh chửi tôi nhiều quá đã khuấy động lương tâm bà cả. Chính bà cả đã than với nhiều người mà tôi nghe được  “Ngày xưa mẹ nó ở nhà thì bà bênh vực mẹ nó, về phe với mẹ nó, nay mẹ nó đi rồi sao bà lại ghét nó quá vậy !”.  Bà cả chỉ ghen với mẹ tôi nhưng tốt với tôi và cũng rất thương tôi, có lẽ bà tội nghiệp tôi, tội nghiệp cho một đứa trẻ cô thế. Tôi không hề oán trách bà về chuyện ghen tuông với mẹ tôi vì tôi hiểu đó chỉ là sự thường tình giữa hai người đàn bà có chung một chồng. Tôi vẫn thầm cám ơn bà đã không đối xử tệ với tôi như những người mẹ ghẻ khác. Trước khi chết bà còn căn dặn người chị kế tôi là lúc nào cũng phải nóí tôi là con trai của bà. Chỉ nói có thế rồi bà nhắm mắt. Có thể trong những giờ phút cuối cùng của cuộc đời bà đã có sự ân hận. Ngày nay tôi vẫn thờ cúng bà như mẹ ruột của tôi đúng như bà đã mong muốn.        Nỗi khổ thứ hai của tôi là bị chế diễu, trêu chọc bởi những đứa cùng lớp, cùng tuổi. Chúng gọi tôi là  “ thằng không có mẹ ”. Tôi rất xấu hổ khi có người biết tôi không có mẹ, biết tôi là con người vợ thứ hai của bố tôi. Đã thế tôi còn bị đặt tên là  “Thứ” (là con người vợ thứ) để khỏi lẫn với con người vợ cả. Cũng vì sợ có người biết và chế nhạo nên mỗi lần gặp mẹ là tôi sợ run lên. Nhưng mẹ tôi không biết tôi sợ nên bà hay đón tôi lúc tan trường. Mẹ tôi thường mặc áo nâu, yếm màu đỏ nhạt, trên đầu chít khăn mỏ quạ, miệng cười rất tươi mỗi khi gặp tôi. Mẹ tôi từ khi bỏ nhà ra đi , bà buôn bán hàng xén, gánh những đồ lặt vặt ra chợ bán như cái kim, sợi chỉ để sống qua ngày. Tôi không biết rõ mẹ ở đâu, hình như vừa ở nhà ông ngoại, vừa ở nhà họ hàng hay bạn bè gì đó. Tôi sợ bị chế diễu nên tuyệt đối không dám nghĩ tới mẹ và cũng không dám nói chuyện với ai về mẹ. Mỗi khi đi học về gặp mẹ là tôi chạy trốn để khỏi phải ở bên bà. Tôi chưa kịp trông thấy mẹ thì mấy đứa trẻ cùng lớp đã gọi  “Thứ kìa, bu của Thứ kìa !”  thế là tôi lại phải một phen sợ hãi.  Có lần đi ngược chiều với mẹ, tôi không thể chạy thoát được. Mẹ tôi nắm tay tôi và nói: “Thứ lại đây vơí bu, con của bu ngoan, bu thương con…”   Tôi giật tay ra khỏi mẹ và hét:  “Bỏ tay người ta ra, bỏ ra ! bỏ ra !”  rồi tôi vụt chạy. Cũng có lần mẹ  nắm được tay tôi lâu hơn và bỏ tiền vào túi tôi. Hôm ấy về nhà, bị bà chị lớn vặn hỏi, tôi sợ quá vất tiền vào gầm giường và thầm trách sao mẹ tôi lại cho tiền để tôi bị mắng. Tuy sợ hãi như vậy nhưng tôi lúc nào cũng mong mẹ tôi về với tôi, để tôi có mẹ ở bên như những đứa trẻ khác, tôi sẽ không bị mấy đứa trẻ chê cười là  “thằng không có mẹ” nữa. Sự khao khát có mẹ không phải chỉ trong lúc còn bé mà ngay cả khi tôi trưởng thành. Tôi  nhớ lúc đã là sinh viên ban Cao học,  tôi quen một cô nữ sinh Trưng Vương, tôi với nàng tình cảm chưa có gì đậm đà nhưng tôi quý bà mẹ của nàng, bà rất dịu dàng, ôn tồn, bà bảo tôi: “ cháu uống ly nước chanh cho mát ”, “ cháu uống ly nước trà cho ấm ” mỗi khi trời trở lạnh  hoặc “ cháu đợi một lát em ra bây giờ … ”.  Bà ngồi bên tôi, nụ cười của bà thật hiền hậu, bà hỏi han tôi những câu chân tình mà trong đời tôi chưa bao giờ có ai hỏi tôi như vậy. Mỗi lần đến chơi tôi mong được gặp bà, được nói chuyện với bà hơn là gặp người con gái út của bà. Ngày nay mỗi khi tôi nghe ai nói đến mẹ hiền là tôi liên tưởng tới bà.  Tôi cũng hay đi chơi với  người con trai thứ hai của cô tôi.  Cô tôi thương con trai rất mực, mỗi khi bọn tôi đi chơi về khuya cô tôi nhẹ nhàng trách con  “ Sao con đi chơi về khuya quá vậy? ”  hoặc “ Con nhớ về sớm không rồi lại ho ”.  Con trai cô muốn được tự do, không muốn bị gò bó, nhưng ngược lại tôi thèm có được người mẹ săn sóc như vậy mà tôi không có.  Tôi đã đọc  nhiều lần cuốn Bông Hồng Cài Áo.  Mỗi lần đọc càng khiến tôi thêm buồn, thêm tủi cho một người con có mẹ mà không được ở bên, có mẹ mà không dám nhận mẹ mình là mẹ.    

     Tôi sống trong sự khiếp sợ mọi người trong gia đình. Bản năng tự vệ của một đứa trẻ trong tôi thúc đẩy tôi phải thật ngoan, thật lễ phép cho tôi bớt bị hành hạ. Tôi nghĩ rất đơn giản là mẹ tôi bị mọi người trong nhà ghét, tôi cần phải từ khước mẹ thì tôi mới là đứa trẻ ngoan, đứa trẻ có hiếu trong gia đình.   Nhưng mấy người thợ làm cho nhà tôi, họ không biết lại chửi tôi là đứa con bất hiếu, tệ bac, không nhìn nhận mẹ đẻ ra mình. Lúc đó tôi không hiểu và lấy làm lạ tại sao tôi là đứa trẻ ngoan ngoãn, không bao giờ dám cãi lại ai trong gia đình mà họ lại chửi tôi là đứa con bất hiếu. Tôi nghe người nhà nói mẹ tôi tranh để làm vợ cả không được nên bỏ nhà ra đi. Như vậy là mẹ tôi bỏ tôi, chứ tôi đâu có bỏ mẹ, còn tôi đến gần mẹ thì tôi bị chế diễu, chê cười và nhất là sợ người nhà, tôi đâu có làm gì khác hơn được…  Sự ngoan ngoãn, sợ sệt của tôi chỉ được lòng bà cả và người anh lớn, còn đối với bà nội và người chị thì không lay chuyển được. Có lần chị lớn đánh tôi đau quá cũng động lòng bố tôi. Bố tôi không có một sự ngăn cản nào nhưng rủ tôi ra ngoài ruộng xem mấy người nông dân gặt lúa cho nhà tôi. Gió đồng thổi nhẹ làm lay động những bông lúa vàng tạo nên âm thanh êm dịu và bay lên mùi thơm của lúa mới. Tôi cảm thấy thật thoải mái, tôi chạy nhẩy tung tăng đi bắt những con cào cào, châu chấu và đã quên đi cái đau do chị tôi đánh lúc ban trưa. Nhưng tối về tôi bị người chị chửi một trận: “ Chỉ có một mình bố bênh mày, còn mọi người ghét mày, bố không làm gì được đâu ! ”. Gần đây tôi có đọc một truyện ngắn của một tác giả vô danh, đại ý câu chuyện nói về tâm sự của một người con có mẹ mù một mắt. Đứa trẻ bị bạn bè chế nhạo và gọi là  “ cái thằng có mẹ một mắt ”  nên rất xấu hổ khi đi với mẹ, không muốn ai biết về mẹ mình, không dám nhận mẹ mình là mẹ. Tôi hiểu được tâm trạng của tác giả lúc đó, tâm trạng của một đứa trẻ như tôi, nhưng tôi không hiểu được  khi tác giả của câu chuyện này lúc đã trưởng thành, đã có vợ con, mẹ từ nơi xa sang tận Singapore để thăm mà còn sợ bị vợ con chê cười để xua đuổi mẹ vì mẹ có một mắt. Điểm cảm động nhất của câu chuyện là sở dĩ mẹ có một mắt vì lúc còn nhỏ con bị tai nạn và hỏng một bên mắt người mẹ đã hy sinh để bác sĩ lấy mắt mình thay cho con nên mẹ chỉ còn một mắt. Khi người con biết được việc này thì mẹ đã chết…  Đọc xong chuyện tôi thấy bàng hoàng và gần gũi với tác giả. Nhưng tôi cầu mong đây không phải là chuyện thật, nếu có thật thì chỉ thật ở phần trên chứ không thể thật ở phần dưới, tức là phần người con đã trưởng thành, đã có đầy đủ lý trí mà còn trốn chạy mẹ, hất hủi mẹ thì không chấp nhận  được.   

     Cuộc di cư năm 1954 xẩy ra, bố tôi vào Nam,  tôi được cho đi theo để sau này săn sóc bố. Gia đình tôi ở miền quê, một vùng trước kia đã từng là nơi kháng chiến nên sự ra đi rất khó khăn, phải đi thành từng nhóm nhỏ. Bố tôi đi trước, tôi đi sau và giữ khoảng cách khá xa để không ai biết. Tôi phải gỉa làm đứa trẻ đi câu, chân đi đất, quần xắn đến đầu gối và đi tắt qua những cánh đồng lúa. Hai bố con đi bộ từ sáng sớm đến tối và nằm ở dưới thuyền bến đò Khuể chờ gần nửa đêm người lái đò mới dám chở sang đất Kiến An.  Sang được Kiến An rồi bố con tôi không biết ở đâu cho hết đêm. Ban đầu chúng tôi định ngồi ở gốc cây đa bên đường đợi sáng về sau nghĩ lại thấy tình trạng an ninh có vẻ nguy hiểm nếu ngồi đó nên đã cố gắng đi tìm một nơi khác trú ngụ cho an toàn hơn. Sao may đi được chừng nửa giờ thì gặp một ngôi chùa.  Chúng tôi vào xin tạm trú, mới đầu sư bà rất ngại vì là chùa nữ và đã quá khuya nhưng lòng từ bi đối với khách lỡ độ đường nên đã thuận cho chúng tôi ở tạm nơi gác chuông bên ngoài chứ không cho vào trong chùa. Sư bà sai người mang nước uống và cho mượn chăn đắp.  Tôi nghe tiếng cầu kinh và tiếng gõ mõ nho nhỏ biết là sư bà đã thức suốt đêm hôm đó như để cầu nguyện và canh chừng khách lạ. Sáng sớm hôm sau bố con tôi cám ơn sư bà rồi đáp xe đò đi Hải Phòng và ở trại tạm trú Lạch Chay, nơi đây cũng có rất nhiều gia đình trú ngụ để đợi chuyến tàu vào Nam. Khoảng hơn một tuần lễ hai bố con tôi xuống được tàu vào Sài Gòn.  Giai đoạn này thật là đen tối vì gia đình tôi ra đi với hai bàn tay trắng, mọi tài sản phải bỏ lại hết. Người chị lớn và bà nội bị kẹt lại ngoài Bắc không vào Nam được. Tôi được người cô, chị ruột của bố tôi ở Sài Gòn nuôi hai năm cho đi học. Cũng tại đây, cô tôi đã cho tôi biết sự thật về mẹ tôi, khác hẳn với những tin tức trước kia mà gia đình nói sai về bà.

     Tôi ý thức được và đã ngẩng đầu lên nhìn nhận mẹ đẻ ra mình chứ không như trước nữa, nhưng không có cách nào để gặp mẹ.  Khi tôi vào Nam rồi mẹ tôi vì nhớ con, đã đi khắp nơi dò hỏi, mãi sau mới biết được địa chỉ của tôi tại Saì Gòn do con trai lớn của cô tôi ở lại Hà Nội cung cấp nên đã viết bưu thiếp cho tôi. Bưu thiếp là một miếng bìa cứng to bằng nửa trang giấy học trò theo điều kiện của Ủy Hội Quốc Tế Kiểm Soát Đình Chiến chứ không được viết thư có phong bì dán kín để cho hai bên dễ kiểm soát. Đại ý mẹ tôi hỏi thăm tôi và mong tôi học giỏi, khỏe mạnh v. v. . Tôi rất cảm động về tấm lòng rộng lượng của mẹ vì đã nhiều lần tôi chạy trốn mà mẹ không bỏ rơi tôi, vẫn tìm tôi và vẫn muốn đến gần tôi. Lòng mẹ thật bao la như người ta đã nói.  Tôi viết hồi âm cho mẹ, lần đầu tiên tôi được gọi mẹ tôi là mẹ, xưng con, và an ủi mẹ tôi là vì chế độ phong kiến, lạc hậu nên hai mẹ con phải xa nhau và hứa với mẹ là sẽ chăm học rồi ký tên: “ Thứ, con trai của mẹ bên này vĩ tuyến”.  Viết xong nước mắt tôi tự nhiên chảy ra, nếu có mẹ ở bên chắc tôi đã gục đầu vào lòng mẹ để khóc thật to cho vơi đi nỗi buồn bao năm tôi phải ôm giữ. Sau này tôi được biết khi nhận được tin, mẹ tôi mừng lắm và mang tờ bưu thiếp đi khoe với mọi người là tôi không còn trốn chạy mẹ tôi. Mẹ con tôi đã nhận nhau, hiểu nhau và thương nhau tuy không còn cơ hội gần nhau nữa…

     Cuộc chiến mỗi ngày một khốc liệt, thư từ Nam-Bắc bị gián đoạn, tôi không sao liên lạc được với mẹ tôi thêm một lần nào nữa kể từ đấy.

      Rồi vận nước nổi trôi, tôi sang được Hoa Kỳ. Sau một thời gian đời sống nơi đây đã tạm ổn định, đường bưu điện giữa hai quốc gia Mỹ và Việt Nam được thiết lập, tôi cố gắng liên lạc về  Sài Gòn để nhờ tìm mẹ. Tiếc thay, tôi được tin mẹ tôi đã qua đời từ lâu tại vùng quê xứ Bắc. Mẹ tôi chết trong cô đơn, mang theo  xuống huyệt lạnh tất cả nỗi buồn khổ của một người đàn bà không chồng, không con bên cạnh…

     Hôm nay là ngày giỗ mẹ,  tôi viết những dòng này là tâm sự của một người con suốt đời không có mẹ ở bên và thành kính dâng lên hương hồn mẹ như một nén nhang thắp muộn.

     Cám ơn mẹ đã gửi bưu thiếp cho con để trong đời con được một lần gọi “ Mẹ ”.  

 Hoàng Nguyên Linh

 (Trích trong tập truyên “Mẹ Và Những Mùa Xuân” của Hoàng Nguyên Linh)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Tướng “Sáu Lèo” Nguyễn Ngọc Loan _ Chu Kim

  Tướng “Sáu Lèo” Nguyễn Ngọc Loan                             – Chu Kim                             

(Viết để bái vọng hương linh Tướng Nguyễn Ngọc Loan, người đã một thời đảm nhiệm chức vụ Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Quốc Gia VNCH)

       Ở tuổi bảy mươi, người ta thường nghĩ đến hưởng nhàn, quên đi mọi sự đời để vui chơi đây đó cho khoẻ cái thân già. Tôi thì khác, tuổi càng cao, ký ức thời gian càng cuồn cuộn dâng lên, lôi kéo hồn tôi tìm về quá khứ, một thời mà tôi đã sống và làm việc cùng với bạn bè, cấp trên, cấp dưới của tôi trong cái gia đình Cảnh Sát Quốc Gia đầy nhọc nhằn vất vả ấy. Hơn bốn chục năm đã trôi qua, lòng tôi vẫn mang nặng những hoài niệm về một vị Tướng, người đã một thời đảm nhiệm chức vụ Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Quốc Gia và Cục Trưởng Cục An Ninh Quân Đội. Ông có cái tên gọi lên êm ái như tên của một nữ nhân, nhưng giới truyền thông và bạn bè đương thời thường gọi ông bằng một biệt danh “Sáu Lèo”. Chẳng biết biệt danh này do đâu mà có, nghe như đượm chất khôi hài, thế mà ông vẫn hề hà chấp nhận như một cái tên trời cho. Đó là Tướng Nguyễn Ngọc Loan!

Ngày ông về làm trưởng tộc gia đình CSQG, tôi chỉ một lần được thấy ông mặc quân phục ka-ki màu vàng, đội chiếc mũ chào mào và đeo hững hờ cặp lon ba bông mai bạc trên đôi vai gầy guộc khi ông bước lên lễ đài trong buổi bàn giao. Sau đó, chẳng biết ông để quên cặp lon ở đâu mà chỉ thấy ông đến nhiệm sở trong bộ cánh bèo nhèo, quần dài, áo sơ mi cộc tay và đôi dép nhựa lẹp xà lẹp xẹp. Ngay cả khi lên cấp Tướng trang phục cũng vẫn thoải mái như vậy. Có ai cắc cớ hỏi ông ngôi sao để đâu, ông chỉ tủm tỉm trả lời: – “Ngôi sao tớ gửi trên trời!” Thời gian đó, tôi đang làm việc tại Sở Tâm Lý Chiến dưới quyền chỉ huy của Chánh sở Võ Lương, một Quận trưởng CSQG có nhiều thâm niên công vụ và dày dạn kinh nghiệm. Ông vừa có tài ứng biến lại vừa khéo léo trong cách ứng xử với mọi người. Tôi và thi sĩ Quách Đàm phụ trách soạn bài vở cho chương trình phát thanh hằng tuần của CSQG trên đài Saigon. Anh Quách Đàm, ngoài tài viết đầy truyền cảm mà nhiều thính giả đã được thưởng thức mỗi khi anh cất tiếng lên trong chương trình Thi Văn Tao Đàn do anh Đinh Hùng làm chủ sự. Con người tài ba đó lại mang một cái tật “bất cần đời”, không xu nịnh cấp trên, không bon chen danh lợi để đến khi nhắm mắt lìa trần cũng vẫn chỉ là một Phó Thẩm Sát Viên nhỏ bé.

Tướng Loan ngồi chức vụ chưa được bao lâu thì miền Trung và thủ đô Saigon bỗng bùng lên những cuộc chống đối chính phủ do Thích Trí Quang phát động nhằm hạ bệ Tướng Nguyễn Cao Kỳ ra khỏi chức vụ chủ tịch Uỷ Ban Hành Pháp Trung Ương. Miền Trung ồn ào biểu tình, lính tráng công chức thi nhau rã ngũ đào nhiệm! Thành phố Saigon, vang động hò hét xuống đường, phố xá ngổn ngang bàn thờ Phật! Trước cảnh dầu sôi lửa bỏng, Tướng Loan đã tức tốc điều động một số sĩ quan An Ninh Quân Đội và một số viên chức CSQG ra miền Trung để thay thế những cấp chỉ huy nhút nhát bạc nhược hoặc bị lôi cuốn vào những âm mưu đen tối. Những người được ông tuyển chọn đều có đầy đủ khả năng ứng phó và lòng can đảm dám gồng mình chấp nhận những hậu quả rủi ro đến với bản thân. Điển hình cho những nhân tố tích cực này là Quận Trưởng Võ Lương được bổ nhiệm Giám đốc Nha CSQG Vùng I, Quận Trưởng Trần Minh Công giữ chức vụ Trưởng Ty CSQG Đà Nẵng. Tại thủ đô Saigon, tướng Loan đã cương quyết làm tròn sứ mạng của mình không phải bằng cách ngồi tại văn phòng chỉ tay hò hét ra lệnh mà bằng cách đưa cá nhân mình vào nơi sôi động. Vị Tướng không giày không lon đó đã chấp nhận những ngày giờ sống bụi đời trên đường phố, sát cánh cùng đội ngũ nhân viên, trực tiếp nhận trách nhiệm và chia xẽ nỗi gian nan nhọc nhằn cùng thuộc cấp. Từng nơi từng lúc, ông tiến thẳng đến đám đông cuồng nộ, giải thích thuyết phục ai về nhà nấy, đồng thời kính cẩn vái lạy trước các bàn thờ Phật, xin phép được đưa ảnh tượng hương khói trở lại chùa chiền cho xứng đáng với vị trí trang nghiêm thờ phượng. Bóng đen u ám của một biến cố ngậm ngùi đã được xua đi, Saigon và miền Trung lại rạng lên những tia sáng thanh bình.

Lần đầu tiên tôi được tháp tùng Tướng Loan là dịp đi theo ông Chánh Sở Tâm Lý Chiến làm tin cho buổi phát quà Trung Thu tại Cô Nhi Viện Gò Vấp. Khi xe chúng tôi vào trong sân Cục An Ninh Quân Đội, đã thấy Tướng Loan ngồi chờ sẵn trên xe Jeep lùn của ông, miệng phì phèo điếu thuốc, tay cầm chai bia 33 lắc qua lắc lại. Ông Dẫn tiến đến đứng nghiêm toan giơ tay chào thì Tướng Loan phất tay như ra hiệu bảo về xe đi và nói: – “Thôi, mình đi chứ.” Lúc sắp khởi hành, Tướng Loan bỗng xuống khỏi xe, tiến về phía chúng tôi và nói với tài xế của ông Dẫn: – “Chú em ra ngồi phía sau, để tớ lái xe cho ông Chánh Sở.” Trước một tình huống quá bất ngờ, ông Dẫn bị lúng ta lúng túng, chỉ còn biết ngồi cứng người như tượng gỗ, hai tay thu gọn trong lòng bắp vế. Tôi và tài xế đã phải nín cười đến đau cả bụng.

Tới cổng Cô Nhi Viện, Tướng Loan rời bỏ tay lái, lè phè lê đôi dép nhựa đi cạnh ông Chánh Sở uy nghi sắc phục lon mũ chỉnh tề đang giơ tay chào hàng quân tiếp đón. Thình lình, ông Trưởng Chi Gò Vấp, người phụ trách dàn chào chạy đến bên tôi hỏi nhỏ: – “Nghe nói có Chuẩn Tướng đến, sao giờ này chưa thấy?” Tôi chỉ tay về phía trong và nói: – “Ông Tướng kia kìa, người mặc thường phục đó.” Trưởng chi thảng thốt kêu lên: – “Chết cha! Tôi cứ tưởng đó là anh tài xế của ông Chánh Sở!” Tướng Loan là vậy đó! Một con người bình dị, không câu nệ hình thức, không đặt nặng lễ nghi. Hôm đó, chính vị Tướng Tổng Giám Đốc CSQG là người đã tạo nên một bầu không khí đầy ấm cúng, sưởi ấm những tâm hồn trẻ thơ sớm mang một số phận hẩm hiu từ lúc chào đời khi ông đến trọ chuyện nâng niu vỗ về và tặng quà cho từng em nhỏ. Câu ví: “Tướng Loan hiền như ma-sơ” có lẽ từ đó mà ra.

…….. Vào những ngày tháng giữa năm 1967, thời kỳ tiền bầu cử Tổng Thống, tôi được tướng Loan gọi ra gặp riêng ông hai lần tại cục An Ninh Quân Đội để gợi ý cho tôi viết một số bài quan điểm liên quan đến cuộc vận động bầu cử đồng thời ông cho biết một số kỹ xảo sẽ áp dụng trong việc thông tin tuyên truyền yểm trợ cho một liên danh. Tôi xin mạn phép không kể ra đây vì người được ông ủng hộ đã làm ông quá thất vọng đến nỗi có lúc ông phải kêu lên “đem bắn tên đó cho rồi.” Đối với người bạn đồng minh Hoa Kỳ, tướng Loan không tin cậy cho lắm từ khi CSQG bắt một tên có dấu tích là một tên cán bộ cộng phỉ nội tuyến trong Toà Đại Sứ Hoa Kỳ mà toà đại sứ này cứ khăng khăng đòi thả. Bực mình vì người Mỹ quá xen sâu vào nội bộ Việt Nam nói chung và hoạt động của CSQG nói riêng, Tướng Loan xin từ chức, nhưng Tổng Thống Thiệu không chấp thuận. Nhưng ngày giáp Tết Mậu Thân, trong lúc đồng bào đang nô nức chuẩn bị đón Xuân, Tướng Loan đã âm thầm cùng đoàn tuỳ tùng rong ruổi đến thăm các ty CSQG xa xôi hẻo lánh, những nơi được mệnh danh là chốn khỉ ho cò gáy, ngày đêm phải đương đầu với những áp lực quấy phá của lũ khủng bố phiến cộng bạo tàn. Phước Long, Bình Long, Kiến Tường, Kiến Hoà, Ninh Thuận, Quảng Đức, Hậu Nghĩa là những nơi tôi được theo gót chân ông. Mỗi buổi sáng, chúng tôi tụ tập tại tư dinh của ông trong trại Phi Long, Tân Sơn Nhứt để rồi từ đó lên hai chiếc trực thăng đến các nơi trên. Ông đến để nắm rõ tình hình địa phương, để thăm hỏi nhân viên các cấp và để tặng chút tiền làm tiệc Tất Niên cho anh em. Đến bất cứ đơn vị nào, ông đều đi quanh xem xét hệ thống phòng thủ và cho ý kiến tại chỗ. Với các đơn vị có nhiều vọng gác xây bằng bê-tông kiên cố, ông nhẹ nhàng nhắc nhở: – “Nước mình nghèo, phải đánh giặc theo lối nhà nghèo, ụ bê tông cứng nhưng không chịu đựng loại đạn xuyên phá, tốt hơn nên dùng nhiều bao cát vừa đỡ tốn kém lại vừa an toàn.”

Những ngày giờ đi theo, tôi thấy ông sống và làm việc như một con thoi, quên cả giờ giấc với gia đình, quên cả những cơn đau bao tử và quên cả những hiểm nguy đến với bản thân. Một lần, ngồi trên máy bay, dáng vẻ mỏi mệt, ông che miệng ngáp dài rồi nói một cách tự nhiên: – “Tối hôm qua tớ chẳng ngủ được chút nào, bà ấy cằn nhằn cả đêm chỉ vì làm việc mà quên đi lời hứa về đúng giờ để cùng ăn một bữa cơm với gia đình.” Hình như cách ăn uống của ông cũng đơn giản như cách ăn mặc. Trong các bữa ăn tại các ty CSQG hoặc tại các toà Tỉnh Trưởng, tuy có đủ thịt cá, rượu Tây thuốc Mỹ trên bàn, tôi vẫn chỉ thấy ông nhâm nhi một tô hủ tiếu hoặc tô bún canh bên cạnh chai bia 33 và gói thuốc lá Ruby màu hồng.

Nói về máu “liều” của Tướng Loan chắc ít ai bì kịp. Tôi nhớ lần đến thăm Ty CSQG Hậu Nghĩa, sau khi dùng bữa cơm khét do Đại Tá Tỉnh Trưởng Mã Sanh Nhơn thết đãi, ai ai cũng chuẩn bị lên trực thăng ra về. Lúc đó vào khoảng 3 giờ chiều, bỗng Tướng Loan đổi ý, ông bảo hai phi công lái trực thăng về trước để ông và đoàn tuỳ tùng dùng đường bộ cho thoải mái. Cái quyết định “bốc đồng” đó đã báo hại Trưởng Ty Ngô Văn Huế phải một phen hết vía chỉ vì con đường độc đạo đó thường bị bọn khủng bố cộng phỉ gài mìn phục kích bất ngờ. Trời cuối Đông, mặt trời muốn đi ngủ sớm thế mà Tướng Loan cứ nhất định phải ghé thăm một đơn vị Cảnh Sát Dã Chiến nơi mà các nhân viên của ông đã oanh liệt chống trả một cuộc tấn kích của giặc thù vào đêm hôm trước. Ông đến bắt tay từng chiến sĩ, ngợi khen tinh thần quả cảm và ghi công trạng của tất cả mọi người. Chiều hôm đó, khi về đến nhà, ông kéo chúng tôi vào một căn phòng nhỏ, chỉ vào hai thùng giấy lớn và khoe: – “Đây là số pháo hồng do một người bạn ở Hồng Kông gửi biếu.” Nói xong, ông tự tay mở một thùng phát cho mỗi người ba phong, ngoại trừ Thiếu Tá Tiến, Chỉ Huy Trưởng Tổng Hành Dinh đang ngẩn tò te chìa tay ra hỏi: – “Còn phần của em đâu?” Tướng Loan không đưa pháo mà còn cười hỏi lại: – “Cậu hả? Chuyện đó tính sau. Cậu về tắm rửa sạch sẽ rồi lên đây cùng tôi khuân thùng pháo đây ra dinh Độc Lập để hai ông Thiệu, ông Kỳ làm gì thì làm, nhà mình thấp lè tè treo vào đâu.” Thiếu Tá Tiến vừa gãi đầu vừa quay sang chúng tôi phân bua: – “Các cậu thấy chưa, Chuẩn Tướng thấy tôi đẹp trai nên đi đâu cũng kéo theo.” Tướng Loan tảng lờ như không nghe, nhưng miệng lại tủm tỉm cười thích thú.

Rồi Xuân Mậu Thân đã trở về! Xuân đến từng nhà, Xuân vô giáo đường, Xuân lên đình chùa, Xuân vào lăng miếu. Hương Xuân tràn ngập mọi nơi. Tiếng Xuân vang vọng trên đài, ngọt ngào đi vào lòng người bằng những lời thơ cung nhạc chúc tụng một năm mới an khang hạnh phúc. Nửa đêm về sáng của ngày đầu năm, giữa lúc khói hương thiêng liêng còn đang nghi ngút thì bỗng nhiên từng loạt âm thanh của súng đạn vang lên khiến ai nghe cũng phải bàng hoàng kinh động. Thoạt đầu, tôi cứ nghĩ đó là một cuộc đảo chánh nên vội vặn radio để nghe tin tức. Im lặng và im lặng! Đài không phát ra một tiếng nói hay một lời ca. Trong khi đó, từng loạt đạn vẫn tiếp tục vun vút bay trên nóc nhà kèm theo tiếng la oai oái “Vi Xi! Vi Xi!” của những người lính Mỹ đóng quân trong khu nhà của bà Bút Trà trên đường Nguyễn Huệ cạnh bên con hẻm nhà tôi. Đêm đó, tiếng trẻ thơ cứ thét lên, sau mỗi loạt súng nổ, tôi vội đem hai cháu nhỏ, nhét chúng nằm sát dưới chân cầu thang còn mình và vợ ngồi bó gối ngay bên cạnh để chờ trời sáng. Khoảng sáu bảy giờ sáng, đài bỗng vang lên tiếng nói của Phó Tổng Thống Kỳ, nội dung vắn tắt cho biết bọn khủng bố việt cộng đã bội phản những cam kết hưu chiến trong ba ngày Tết, xua quân tổng công kích 32 tỉnh lỵ và thủ đô Saigon. Tướng Nguyễn Ngọc Loan đã đích thân chỉ huy lức lượng Cảnh Sát Dã Chiến và Quân Đội quét sạch bọn giặc cướp cộng phỉ ra khỏi Đài Phát Thanh Saigon từ lúc 4 giờ sáng. Tôi vừa mở cửa đã thấy bốn tên cán binh cộng phỉ tay ghìm súng AK, băng đạn quấn quanh mình, đứng khuất trong hè nhà tôi và các nhà đối diện, mắt đăm đăm nhìn ra đường cái. Không hiểu sao lúc đó tôi lại tỏ ra rất bình tĩnh, bình tĩnh quan sát trang phục của bọn chúng và còn thầm nghĩ bọn chúng là những binh sĩ thuộc một đơn vị chính quy nào đó chứ không phải là bọn du kích thổ phỉ. Cùng lúc, một số đông đồng bào từ trong các hẻm sâu phía trong ùn ùn bồng bế dắt dìu người già con trẻ chạy ra, mặt người nào cũng xanh như tàu lá. Họ vừa đi vừa thông báo cho mọi người biết bọn khủng bố việt cộng về nhiều lắm, tràn ngập trong khu Cây Quéo, khu phía sau chùa Quảng Đức, khu gò mả và khu đường rầy dẫn đến Cầu Hàng. Tôi vội quay vào nhà, quơ quào ít quần áo rồi cùng vợ con lên xe máy đến nhà người quen ở chợ Tân Định. Đến nơi, tôi mới chợt nhớ để quên bóp giấy tờ ở nhà, đành phải một mình quay lại. Về tới đầu hẻm, một người cùng xóm ở phía ngoài khuyên tôi đừng vào vì mới tức thì có mấy nhân viên Cảnh Sát sắc phục đã bắn nhau với bọn khủng bố việt cộng ở phía trong. Lúc đó, trực thăng võ trang đã xuất hiện. Hai con chuồn chuồn bay lên xà xuống khạc đạn ào ào vào những mục tiêu. Đạn dưới bắn lên, đạn trên bắn xuống, trận chiến cứ thế tiếp diễn vô cùng ngoạn mục. Tôi rời khỏi xóm mà lòng cứ nơm nớp lo sợ căn nhà mình bị ăn đạn phá.

Đến Tổng Nha CSQG, tôi nhận lệnh đi cùng một nhiếp ảnh viên lên vùng Ngã Bảy nơi tướng Loan đang trực tiếp chỉ huy các đơn vị Cảnh Sát và Quân Đội bao vây cô lập và tiểu trừ các đám giặc cướp cộng phỉ xâm nhập. Ông mắc đồ trận, áo giáp khoác ngoài, đầu không nón sắt, sông pha vào nơi súng nổ đạn rơi như một người lính can trường không nề nguy hiểm. Phải nói rằng, trận chiến nơi đây đã diễn ra ác liệt ngay từ những giây phút ban đầu trên một địa hình rộng lớn bao gồm các khu vực Phú Thọ, Nguyễn Tri Phương, hẻm Chuồng Bò, Vườn Lài… Khởi đầu, bọn việt cộng tấn công vào doanh trại của Biệt Đoàn 222 Cảnh Sát Dã Chiến ở góc đường Nguyễn Văn Thoại và Trần Quốc Toản giữa lúc toàn thể nhân lực ứng chiến được điều động đi giải toả Đài Phát Thanh Saigon, số nhân viên phòng thủ còn lại khoảng hơn bán tiểu đội. Lợi dụng thời cơ, bọn việt cộng tập trung lực lượng ào ạt xua quân từ phía vườn ươm cây ở góc đối diện toan chiếm cho bằng được doanh trại này. Nào ngờ, các chiến sĩ CSDC đã bình tĩnh nã từng loạt đại liên khiến bọn chúng không sao vượt qua ngã tư, đành phải mang theo một số đồng bọn thương vong rút về khu chợ Thiếc. Cũng thời gian đó, một số lớn bọn việt cộng nằm vùng cùng các tên chỉ điểm giả dạng nhân dân nổi dậy chia nhau chặn đường chặn ngõ lùng xục trong các khu dân cư bắt bớ một số Quân Nhân, Cảnh Sát và Công Chức dem ra xử bắn với lời kết tội “có nợ máu với nhân dân”. Tôi có một người em họ là Đại Úy Quân Y cũng bị bắt vào đêm đó. Chúng lột trần em tôi, trói rặt cánh khuỷu toan đem xử bắn. Trong lúc thế cùng, em tôi la lên: – “Tôi là Bác Sĩ Quân Y bị trưng dụng vào quân đội, không hề có nợ máu.” Tên chỉ huy nghe vậy, bèn nói: – “Nó còn dùng được, đưa nó ra chỗ thương binh.” Lúc băng bó cho các tên cán binh khủng bố cộng phỉ, em tôi đã lẩn vào nhà dân trốn thoát.

Ngày 1-2-1968, Tướng Loan đã xử bắn tên khủng bố cộng phỉ Nguyễn Văn Lém tức Bảy Lém, bí danh Ba Lốp ngay trên đường phố khu Ngã Bảy để rửa hận cho những đàn em của ông đã bị tên này sát hại dã man. Ngay chiều hôm đó, tôi rủ hai người bạn phóng viên báo ngoài đánh một vòng đảo qua Dinh Độc Lập, Toà Đại Sứ Mỹ trên đại lộ Thống Nhất. Hai phóng viên cho biết có chụp một vài hình ảnh những tên khủng bố việt cộng bị chết trên lề đường và trong khuôn viên Toà Đại Sứ. Từ đó chúng tôi xuống đường Hai Bà Trưng nồi rẽ vào đường Phan Thanh Giản tìm về xa lộ. Bên lề con lộ thênh thang, năm bảy xác những tên khủng bố cộng phỉ nằm ngửa trơ trơ với sợi dây thừng cột cứng ở cổ chân. Bọn chúng được đồng đội kéo đi, nhưng nửa chừng bị bỏ lại. Đến khu Hàng Sanh, chúng tôi rẽ về khu Lăng Tả Quân tiến đến đường Ngô Tùng Châu để nhập vào khu Cây Quéo. Đường xá trong khu vực này vắng teo vắng ngắt, cả ba chúng tôi bắt đầu thấy lạnh xương sống khi phát hiện ra một số xác những tên bộ đội cộng sản xâm lược nằm rải rác khắp mọi nơi trong vườn ngoài ngõ. Tôi run cả người, chỉ muốn quay lại. Nhưng trót vào sâu rồi, đành chịu. Ba xe gắn máy của chúng tôi cứ luân phiên đổi chỗ, anh nào cũng muốn mình vào giữa. Bất ngờ, từ trong căn nhà có khu vườn rộng vang lên tiếng gọi: – “Các chú ơi! Xin vào giúp một tay.” Chúng tôi vừa ngừng xe, một bà và hai thiếu niên chạy ra kéo chúng tôi vào nhà, chỉ cho thúng tôi thấy hai xác khủng bố việt cộng đặt trên bộ ván gõ với tờ giấy viết nguệch ngoạc “nhờ đồng bào chôn cất giùm” Bà giơ tay phàn nàn: – “Thiệt là khổ! Chết rồi thì để bên ngoài cho xong, đem vào nhà làm chi cho đám nhỏ sợ hết hồn hết vía. Bây giờ tôi nhờ các chú khiêng họ ra ngoài đường để chính quyền chôn cất.” Anh em chúng tôi làm giúp bà, lòng thấy áy náy tội nghiệp cho những người lính bên kia bị bọn đầu sỏ độc tài xô đẩy họ vào nơi tử địa.

Mặt trận vùng ngã Bảy đã gần như đi vào kết thúc. Cộng quân ở nơi này, một số bị bắt, một số ra chiêu hồi, số còn lại co cụm trong khu dân cư đong đúc như cá nằm trong rọ chờ ngày bị tóm. Khi Tướng Loan ra lệnh cho Cảnh Sát và Quân Đội khai pháo dứt điểm toàn bộ thì cái đám tàn binh ngoan cố đó đã giở một thủ đoạn đê hèn, táng tận lương tâm. Chúng khống chế cư dân không cho ra ngoài đồng thời dùng xăng đốt nhà gây nên những đám cháy mịt mù khói lửa để trà trộn trong dân tìm đường tẩu thoát. Nhiều xe cứu hoả đước điều động đến. Lúc đầu, các nhân viên chữa cháy rất rụt rè e ngại chưa dám áp sát vào nơi súng đạn thét gầm, tướng Loan đã phải giựt lấy vòi rồng phun nước lên cao khống chế từng cơn bão lửa. Hình ảnh hiên ngang đó, tôi đã dùng làm bìa cho Nguyệt San Rạng Đông trong số báo đầu năm Mậu Thân. Hàng trăm cán binh địch đã bị bắt lôi ra tập trung trước tiệm đò gỗ trên lề đường Minh mạng trong trận đánh cuối cùng ở khu vức ngã Sáu trước sự chứng kiến của tướng Loan. Ông đi loanh quanh quan sát từng người. Thấy ai bị thương nặng, ông nhắc nhở nhân viên Y tế băng bó gấp cho họ và chuyển đến bịnh viện ngay. Ngày hôm sau, Tướng Loan đã cùng Đại Tá Đô Trưởng Văn Văn Của đến thị sát mặt trận tại Quận 8 bên kia cầu chữ Y. Phái đoàn đã dùng con đường đi qua cầu xóm Củi men theo đường Phạm Thế Hiển tiến đến ty CSQG quận 8. Đây là một ty CSQG nằm ở vị trí ven đô trên một diện địa trống trải đồng ruộng mênh mông và sông rạch chằng chịt. “

….Khởi đầu, cộng quân dàn binh ngay trên đồng ruộng ở phía sau ty, bắn hạ một nhân viên Cảnh Sát gác trên chòi cao đồng thời dùng B40 chóc thủng một lô cốt ở góc trái phía sau với ý đồ cho vài đắc công chui qua lỗ hổng tung lựu đạn và trái phá gây náo loạn phía trong trước khi xua quân chiếm lĩnh mục tiêu. Một vài nhân viên Cảnh Sát “điếc không sợ súng” đã bò ra lô cốt phục sẵn phía trong tỉa từng tên một và lấy xác chúng chèn vào lỗ hổng. Đội hình phòng thủ trong ty đã được củng cố, bình tĩnh chống lại từng đợt tấn công để chờ lực lượng tiếp viện. Trời gần sáng, trực thăng võ trang xuất hiện đổ rốc-kết và đại liên lên đầu giắc khiến chúng phải rúc vào các khu dân cư ẩn náu và rút về khu vực phường Rạch Ông mang theo một số thương vong đồng đội chất lên ghe thuyền luồn trốn trong các kinh rạch…..” Trên đây là lời kể lại của Phó Ty Khưu Ngọc Đa, một người bạn cùng khoá 14 Biên Tập Viên Rạch Dừa với tôi, trong lúc đoàn xe di chuyển từ ty CSQG đến vùng Rạch Ông. Anh Đa đang thao thao bắt tuyệt, bỗng một loạt đạn AK vun vút lướt trên nóc xe, anh vẫn giữ vững tay lái tiếp tục mối theo phái đoàn và quay sang tôi cười khì khì sảng khoái như thầm hỏi tôi “sợ không?” Chiến cuộc tại thủ đô Saigon đã hoàn toàn chấm dứt sau ngày hôm đó, nhưng lòng tôi vẫn không sao quên được những hình ảnh điêu tàn do Cộng quân gây ra. Hình ảnh thương tâm mà tôi không thể nào quên là hình ảnh một gia đình năm người co quắp ôm nhau chết cháy tại khu Nguyễn Thiện Thuật gần chợ Bàn Cờ…

Gần một tháng sau, tôi và một nhiếp ảnh viên lại được một dịp theo chân tướng Loan phi hành ra Huế. Chuyến đi vỏn vẹn có một ngày. Ông trở về cái nơi chốn mà ông đã sống trong những ngày niên thiếu không phải để tìm lại cảnh xưa chốn cũ mà là để chia xẻ những đau thương mất mát của tất cả mọi người ở chốn Cố Đô. Vừa ra khỏi phi trường Phú Bài, Tướng Loan đã cùng Giám Đốc Võ Lương bắt tay vào việc ngay. Ông đến thăm các đơn vị Cảnh Sát, ngậm ngùi nhìn những nấm mồ chôn tạm ngay trong khuôn viên của cơ quan. Ngay sau đó, ông cùng các viên chức CSQG địa phương rong ruổi trên đại lộ Lê Lợi vượt qua cầu Bạch Hổ, men theo bờ sông Hương, vượt qua cửa Thương Tứ đến chợ Đông Ba rồi qua Gia Hội để động viên tinh thần những nhân viên Cảnh Sát Quốc Gia đang tham gia xây dựng cư xá Tình Thương. Đây là một công trình do ngành CSQG đài thọ từ A đến Z mà Tướng Loan coi đó như một món quà trao tặng đến các gia đình đồng bào nạn nhân chiến cuộc đang gặp quá nhiều khó khăn. Chiều về, khung cảnh cố đô mới ảm đạm làm sao! Phố xá thưa thớt bóng người, nhà nhà cửa đóng then cài. Đất Thần Kinh ủ rũ như một người bịnh chưa hồi lại sức. Cầu Tràng Tiên gục đầu trên mặt Hương Giang như cùng thì thầm thổn thức tiếc nuối cho những ngày thơ mộng thuở nào: Tôi đứng trên đầu cầu phía chợ Đông Ba nhìn xuống phía dưới thấy hai em gái nhỏ khoảng chín mười tuổi mặc áo màu hồng đang đưa đôi bàn tay bốc từng bụm cát đắp lên hai ngôi mộ mới. Tự nhiên tôi thấy tim mình se thắt lại, thầm cầu mong đó không phải là chỗ ở của cha mẹ các em.

Sau một đêm không ngủ, sáng hôm sau chúng tôi lại theo gót tướng Loan trở về Saigon. Tôi vội ghi bài ký sự “Một ngày ở Huế” cho số báo tới với hai câu thơ mộc mạc mở đầu: Ngày xưa Huế đẹp Huế mơ Bây giờ Huế bị xác xơ điêu tàn.

Cuộc tấn công của bọn cộng phỉ vào những ngày Tết Mậu Thân 1968 đã kết thúc với những kết quả vô cùng thê thảm và nhục nhã cho bọn chúng. Hơn sáu mươi ngàn tên cán binh đối phương bị loại khỏi vòng chiến kéo theo bao nhiêu sinh mạng của đồng bào vô tội bị chúng sát hại man rợ và để lại một đống hoang tàn trên khắp miền Nam tự do và cũng không hề có bất cứ cuộc tổng nổi dậy nào như bọn chúng mộng du ngáo đá hoang tưởng Vài tháng sau, bọn lãnh đạo ngoan cố bất nhân cộng sản miền Bắc lại xua đám tàn quân tiến hành một trận tấn công đợt hai giữa lúc nhân dân miền Nam còn đang thổn thức ngậm ngùi sau cơn ác mộng ngày Xuân. Tướng Loan, một lần nữa cùng lực lượng Cảnh Sát Thủ Đô xuất trận vào lúc 4 giờ sáng tiến thẳng về trại gà Thanh Tâm bên xa lộ ngăn chặn không cho địch quân tấn chiến Đài Phát Thanh Saigon. Tám giờ sáng hôm đó, tôi và một nhiếp ảnh viên được lệnh lên đường thu lượm tin tức. Đến cầu Phan Thanh Giản, thấy súng bắn rát quá, người tài xế nhất định quay xe trở lại. Ba giờ chiều cùng ngày, tin tức từ Trung Tâm Hành Quân cho biết Tướng Loan đã bị trúng đạn gẫy chân và được đưa về điều trị tại bệnh viện. Để giữ vững tinh thần chiến đấu của các chiến sĩ đang chiến đấu và đánh tan các lời đồn đãi bất lợi, Thiếu Tá Chánh Văn Phòng đã cho chụp một bức hình tướng Loan đang nằm trên giường bệnh, nói trong máy bộ đàm phổ biến trên các nhật báo với lời chú thích “Mặc dù bị thương, Tướng Nguyễn Ngọc Loan, Tổng Giám Đốc CSQG vẫn tiếp tục chỉ huy các lực lượng hành quân truy quét bọn giặc cướp việt cộng. Cùng thời gian này, một biến cố đau lòng đã xảy ra tại Trường Phước Đức trên đường Khổng Tử thuộc quận 5 Chợ Lớn. Khoảng bốn năm giờ chiều, bộ tham mưu hành quân CSQG đang họp tại trường này bỗng lãnh một trái đạn rocket từ trên trực thăng Mỹ bắn xuống gây tử thương cho Đại Tá Luân, Giám Đốc Nha CSQG Thủ Đô; Quận Trưởng Nguyễn Ngọc Xinh, Phụ Tá Giám Đốc Nha CSQG Thủ Đô; Thiếu Tá Lê Ngọc Trụ, Trưởng Ty CSQG quận 5 cùng một số sĩ quan khác bị thương trong đó có Đại Tá Trần Văn Phấn, Trưởng Khối Nhân Huấn thuộc Tổng Nha CSQG cụt một chân. Tôi đến làm bản tin lễ truy điệu tại hội trường nha CSQG Saigon mà lòng không sao kìm được nỗi xúc động bồi hồi khi thấy Thủ Tướng Trần Văn Hương đứng trước các quan tài đầm đìa nước mắt. Ít ngày sau, Tướng Nguyễn Ngọc Loan âm thầm rời khỏi chức vụ và Đại Tá Trần Văn Hai về thay thế. Phần tôi, sau một lần họp với Thiếu Tá Trần Hữu Kinh, Chánh Văn Phòng Đặc Biệt của Đại Tá tân Tổng Giám Đốc, tôi cũng xin rút lui khỏi việc làm báo để đi một nơi xa xôi làm công tác khác. Từ đó, tôi không có dịp gặp lại Tướng Loan nữa, nhưng trong lòng vẫn luôn luôn nhớ về ông, một tôn trưởng đầy quí mến trong gia đình Cảnh Sát Quốc Gia VNCH.

  Chu Kim . ( Saigon trong tôi )

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Tài Liệu: Phỏng vấn Liên Thành, tác gỉa “Biến Động Miền Trung” (Toàn Như)

Thiếu Tá Liên Thành, Nguyên CHT/CSQG Thừa Thiên-Huế (hình chụp trước 1975)

Tài Liệu: Phỏng vấn Liên Thành, tác gỉa “Biến Động Miền Trung”

            LGT: Nhân dip cựu Thiếu Tá Liên Thành, nguyên CHT/CSQG Thừa Thiên-Huế vừa từ trần (tháng 4/2021) tại Quân Cam, Nam California, xin mời quý bạn xem lại bài phỏng vấn Liên thành do Toàn Như thực hiện vào tháng 2-2010. Bài phỏng vấn này đã được phổ biến trên bán nguyệt san Văn Nghệ Tiền Phong số 822 vào tháng 3-2010.

Khoảng giữa năm 2008, tác phẩm Biến Động Miền Trung (BĐMT) của tác gỉa Liên Thành lần đầu tiên ra mắt tại Quận Cam đã được sự đón nhận nồng nhiệt của độc gỉa. Cuốn sách đã ghi lại những biến cố tại miền Trung Việt Nam trong thập niên 1960 của thế kỷ trước, một thời kỳ đầy những biến động và khủng hoảng chính trị tại Miền Nam. Tác gỉa cuốn sách là một cựu Thiếu Tá, nguyên Chỉ huy trưởng Cảnh Sát Quốc Gia Thừa Thiên – Huế nên ông đã có khá nhiều kinh nghiệm cũng như tài liệu sống để viết lại một giai đoạn lịch sử quan trọng này. Cuốn sách ngay sau đó đã gây đuợc một tiếng vang rất lớn và tiếp tục được ra mắt ở nhiều nơi khác, phần lớn rất được mọi người hoan nghênh và ủng hộ. Tuy nhiên, tại một số nơi, như tại Texas và Âu châu, cũng có một vài sự chống đối khiến cho việc ra mắt sách đã gặp trở ngại khiến cho ban tổ chức đã phải dời địa điểm ra mắt sách hoặc hủy bỏ chương trình đã dự trù. Để tìm hiểu về những nguồn dư luận xung quanh BĐMT, chúng tôi đã tìm gặp ông Liên Thành, hiện cư ngụ tại Quận Cam, và ông đã vui vẻ dành cho chúng tôi một cuộc phỏng vấn ngắn để giải tỏa một số những thắc mắc của độc gỉa. Dưới đây là nguyên văn cuộc phỏng vấn:

Phóng viên (PV): Sau lần ra mắt sách Biến Động Miền Trung lần đầu tiên tại Quận Cam năm 2008 và sau đó ở nhiều nơi khác rất thành công, được bà con ủng hộ rất đông đảo; tuy nhiên, chúng tôi được biết cũng có một vài nơi phản đối sự ra mắt sách của anh, như tại Texas và ở Âu châu,… Lý do tại sao có những sự chống đối này và những sự chống đối ấy có gây trở ngại gì cho việc ra mắt của BĐMT hay không?

Liên Thành trả lời: Lần ra mắt sách tại Texas có sự chống đối của 9 đảng phái chinh trị với lý do: Sách gây chia rẽ tôn giáo, bất lợi cho sự đoàn kết của cộng đồng tại Houston,
và Liên Thành là công giáo trá hình, v.v… Thực chất 9 đảng nầy chẳng có thực lực và bị
nhóm sư và chùa quốc doanh tại Houston xúi giục. Tại Âu Châu, lúc đầu thì hội đoàn Cựu quân nhân đứng ra tổ chức cho tôi nói chuyện tại Đức, Pháp, Hòa Lan. Nhưng khi trong loạt bài viết về Trịnh Công Sơn của tôi có đề cập tới lời khai của tên Trung tá điệp viên Hòang Kim Loan khai là Tuớng Trần Văn Trung đã bị Tổng cục 2 Tình báo của Việt cộng móc nối hoạt động, thì ngay lập tức hội đoàn cựu quân nhân không muốn tổ chức cho tôi nữa, vì tôi đã xúc phạm đến Tướng Trung, và vì Trung Tướng Trung đang làm cố vấn cho một số hội đoàn bên Âu Châu.

PV: Chúng tôi được biết anh tức Liên Thành là cháu nội Kỳ Ngoại Hầu Cường Để, tức thuộc dòng dõi Hoàng Tộc Triều Nguyễn, nhưng vì sao Hội Đồng Hoàng Tộc Nguyễn Phước Hải Ngoại lại không ủng hộ BĐMT? Anh nghĩ sao về một Bản Lên Tiếng trong đó có nhiều thành viên của Hội Đồng Hoàng Tộc Nguyễn Phước Hải Ngoại ký tên không ủng hộ anh?

Liên Thành: Tại Việt Nam, trước 1975 chúng tôi có Hội Đồng Nguyễn Phuớc Tộc, nhưng sau 1975 thì cũng có nhưng là của Việt Cộng thành lập, mà tôi được biết Giáo sư Tôn Thất Hanh làm chủ tịch Hội Đồng Nguyễn Phước Tộc này. Giáo sư Hanh dạy môn hóa học tại Đại Học Huế trước 1975. Tại hải ngọai chưa có H/Đ Nguyễn Phước Tộc, cái hội đồng mà anh nói và tôi cũng có đọc được toàn là của mấy ông Tây, bà Đầm và ông Nhiếp chính Vương mang họ Bửu tôi mới nghe lần đầu. Nếu đúng mấy ông đó là hội đồng Nguyễn Phuớc Tộc, thì cũng chẳng cần mấy ông khai trừ, tôi cũng tự động xin ra khỏi và chạy cho mau kẻo mang nhục vào thân. Họ khai trừ tôi vì theo họ, tôi xúc phạm đến quí thầy Trí Quang, Đôn Hậu, Thiện Siêu, v.v… Có một điều họ quên sao không khai trừ những người trong hoàng tộc hoạt động hoặc là cán bộ cao cấp của Việt cộng như Tôn Nữ Thị Ninh, v.v… mà lại đi khai trừ một người lính VNCH như tôi
Còn nữa, tôi là cháu nội của Đức Kỳ Ngoại Hầu Cường Để,  thuộc dòng Đông Cung Anh Duệ Hoàng Thái Tử Nguyễn Phúc Cảnh, con trưởng của Vua Gia Long, huyết thống chính thống; vì vậy nếu muốn khai trừ tôi khỏi Hoàng Tộc thì phải tốn tiền thay máu tôi, còn bằng không thì cũng hơi khó.

PV: Anh nghĩ sao về 2 người lên tiếng chống đối BĐMT và Liên Thành nhiều nhất và mạnh mẽ nhất là Trần Kiêm Đoàn và Bảo Quốc Kiếm? Anh có biết họ là ai không?

Liên Thành: Chống đối BĐMT là một điều rất tốt, tôi rất cần chuyện đó, nhưng chống đối để sửa sai và xây dựng, bổ túc, tôi rất cám ơn; còn nếu với ý khác thì thật tình tôi không để ý đến. Vâng tôi biết rõ ông Trần Kiêm Đoàn, biết rất rõ.
Còn ông gọi là Bảo Quốc Kiếm thì tôi lại còn biết rõ ông ta hơn cả ông Trần Kiêm Đoàn
nữa, như tên tuổi thật ông ta là gì, hiện tại ở đâu, ngay cả số cell phone của ông ta tôi cũng biết. Tôi  đưa một nửa số phone của ông ta ra đây để làm bằng chứng [để tránh ông ta kiện tôi vì vi phạm an ninh đời tư của ông ta]. Số phone đó là:  Area Code: 615 và bốn số sau cùng là 8907. Còn trước 1975, lý lịch của ông ta tôi biết rất rõ từ tuổi tác, học lực, cho đến nghề nghiệp, v.v…Tôi đã từng lên tiếng thách thức cả Trần Kiêm Đoàn lẫn Bảo Quốc Kiếm cũng như những ai chống đối gặp gỡ tôi trực tiếp đối thoại, nhưng không có người nào nhận lời. Họ chỉ giỏi đánh phá tôi và BĐMT trên thế giới ảo, các diễn đàn internet. Gần đây nhất, trong tháng 11/2009 vừa qua, tôi có ra mắt sách BĐMT tại Sacramento, Bắc California, , nơi cư ngụ của ông Trần Kiêm Đoàn nhưng rất tiếc ông ấy cũng không đến dự để tôi có dịp đối thoại.

PV: Ngoài những chống đối Liên Thành và BĐMT trên các diễn đàn internet, anh có gặp những sự chống đối nào ở thực tế ngoài đời không? Chẳng hạn như thơ rơi, email, điện thoại hăm dọa hay hành hung chẳng hạn.

Liên Thành: Hoàn toàn không, vì để bảo vệ an ninh, tôi thường xuyên thay đổi Email và số phone.

PV: Trong BĐMT, anh có nói Thượng tọa Thích Trí Quang là đảng viên cộng sản căn cứ vào tài liệu của Sở Liêm Phóng Pháp còn lưu trữ tại văn khố Bộ chỉ huy CSQG Thừa Thiên – Huế và căn cứ vào lời khai của tên Trung tá điệp báo cộng sản Hoàng Kim Loan. Ngoài hai nguồn tin này, anh còn có thêm những bằng chứng nào khác để củng cố cho nguồn tin của anh hay không? Có người cho rằng những tài liệu của Pháp để lại đã qúa lâu không được cập nhật, như có nhiều người từng theo Việt Minh kháng chiến nhưng sau đã trở về làm việc trong hàng ngũ Quốc gia, họ đâu còn theo Việt Minh hay cộng sản nữa, và biết đâu Thích Trí Quang cũng ở trong số này. Ngoài ra, người ta cũng cho rằng không nên tin vào lời khai của tên trung tá điệp báo VC, vì có thể y cố tình khai như thế để gây ly gián. Anh nghĩ sao về các gỉa thuyết đó?

Liên Thành: Chuyện ông Trí Quang là cộng sản thật tình xưa hơn trái đất , nhưng vì một số người sợ “Thầy”  không dám nói ra, một số khác thì không quan tâm. Riêng cơ quan Cảnh Sát Quốc Gia chúng tôi có đủ hồ sơ để chứng minh Trí Quang là  đảng viên cộng sản nên không thể có gỉa thuyết đó.

PV: Anh nghĩ sao khi có dư luận cho rằng BĐMT của anh đã đánh phá Phật giáo, chụp mũ các nhà lãnh đạo Phật giáo là cộng sản? Hiện nay tại Hoa Kỳ có 2 Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất: một là GHPGVNTN Hải Ngoại trực thuộc GHPGVNTN ở trong nước hiện có Văn Phòng II Viện Hóa Đạo tại Quận Cam và một là GHPGVNTN Hải Ngoại/Hoa Kỳ thường được gọi là Nhóm Về Nguồn. Hai GHPGVNTN này có giáo hội nào phản đối BĐMT hay không?

Liên Thành: Xin dẫn chứng chữ nào, câu nào, đoạn nào , trang nào trong cuốn BĐMT của tôi đánh phá Phật giáo. Những kẻ đội lốt tu hành lợi dụng Phật giáo để hoạt động cho Cộng Sản tôi đã nêu danh tánh rõ ràng trong cuốn BĐMT, tôi không mù mờ vơ đũa cả nắm. Hơn nữa gia đình tôi còn là một gia đình Phật giáo chánh gốc trong đó chú của tôi, anh của tôi đều là những Đại Lão Hòa Thượng trong giáo hội. Riêng hai tổ chức mà anh nói đó, cả hai đều phản đối BĐMT.

PV: Trong BĐMT anh đã viết, căn cứ vào lời khai của tên Trung tá điệp báo Hoàng Kim Loan, y đã móc nối được một sĩ quan cấp tướng của VNCH. Mặc dù trong sách anh không nêu tên vị tướng này, nhưng nay thì bí mật đó đã được anh bật mí (trong một bài viết khác) là Trung Tướng Trần Văn Trung, nguyên Tổng Cục Trưởng Chiến Tranh Chính Trị của QLVNCH. Vào thời điểm có biến động Miền Trung, trước nguồn tin quan trọng này anh đã trình lên trên thượng cấp và đã có phản hồi gì hay không? Được biết, trung tướng Trung hiện nay đang định cư tại Pháp, ông có phản ứng gì trước tiết lộ của anh về ông?

Liên Thành: Trường hợp Trung Tướng Trần Văn Trung như tôi đã trinh bày nhiều lần:
Tôi ghi nhận lời khai của tên Trung tá VC đó và đã làm phiếu trình thượng cấp lời khai và sự việc, mà không có kết luận Trung Tướng Trung hoạt động cho VC vì còn cần một khoảng thời gian điều tra, theo dõi lâu dài để phát hiện và như vậy mới kết luận được.  
Bây giờ để hàng ngũ anh em quân đội khỏỉ thắc mắc buồn lòng, người phải giải thích, biện minh không phải là tôi, mà là đích thân Trung Tướng Trần Văn Trung phải nói lên điều đó.

PV: Trong BĐMT anh cũng có đề cập đến việc từng phải đối đầu với hai người từng là thầy cũ  là Hoàng Phủ Ngọc Tường và ‘thằng’ bạn học cũ là Nguyễn Đắc Xuân; nhưng gần đây Nguyễn Đắc Xuân đã post trên trang mạng talawas phủ nhận việc từng là bạn học cũ thời niên thiếu với anh. Anh đã đọc bài viết của Nguyễn Đắc Xuân chưa và anh nghĩ sao về việc phủ nhận đó? Cũng trong bài viết này, Xuân nói anh là người đã từng ra chỉ thị thủ tiêu Ngô Kha, một nhà giáo tham gia phong trào tranh đấu lúc đó và Kha còn là một người có liên hệ bà con với Phạm Bá Nhạc (một sĩ quan Khóa I – Học Viện CSQG làm việc dưới quyền anh), sự thật về việc này như thế nào?

Liên Thành: Việc Nguyễn Đắc Xuân phủ nhận việc tôi không phải là bạn chung trường với hắn là quyền của y. Tuy nhiên sự thật vẫn là sự thật. Hơn nữa có vinh dự gì đâu  là bạn học chung với một tên sát nhân từng vấy máu hàng ngàn người dân Huế vô tội trong Tết Mậu Thân để mà khoe khoang. Vừa rồi hôm 2 tháng 1/2010, trong buổi hội luận và ra mắt BĐMT tại Atlanta, tiểu bang Georgia, cũng có người hỏi tôi câu hỏi tương tự, tôi có  hỏi lại và trả lời anh ta rằng: “Sao anh không cùng tôi, chúng ta cùng đưa bọn sát nhân đã tàn sát đồng bào Huế ra tòa Hình sự Quốc tế hỏi tội bọn chúng tại sao lại giết 5327 thuờng dân vô tội, và 1200 người bị mất tich còn sống hay đã chết. Như vậy chúng ta đã làm một việc đúng đắn là lấy lại Công Bằng và Công Lý  cho số người đó, còn việc chết sống của ông Ngô Kha, một cán bộ trí vận của cơ quan Thành Ủy Huế là chuyện quá nhỏ so với số nạn nhân kia, hơn nữa cũng chẳng liên quan gì đến tôi, đến lực luợng CSQG Thừa Thiên – Huế, vì chúng tôi không ra lệnh thủ tiêu ông ta. Việt Nam Cộng Hòa là một quốc gia pháp trị, chúng tôi là nhân viên công lực, nhiệm vụ phải bảo vệ và thi hành luật pháp quốc gia, hành động thủ tiêu người là bất hợp pháp, là vi luật. Đề nghị những ai nuốn biết vụ Ngô Kha xin hỏi Tống Hoàng Nguyên, Truởng ban An Ninh Khu Ủy Trị Thiên VC, và Đại tá Nguyễn Đình Bảy tự Bảy Lanh, Trưởng ty Công an Thừa Thiên – Huế.” Về trường hợp anh Phạm Bá Nhạc, anh ta đã phủ nhận tất cả những lời của Nguyễn Đắc Xuân. Anh Nhạc hiện ở tại San Diego, ai cần số điện thoại anh ta để xác minh xin liên lạc với tôi.

PV: Vì sao hơn 30 năm định cư tại hải ngoại, anh mới cho trình làng tác phẩm BĐMT? Như vậy có phải là qúa muộn hay không? Và làm sao có những con số anh có thể ghi lại một cách chính xác chi tiết như trong sách, chẳng hạn như con số nạn nhân bị VC thảm sát trong Tết Mậu Thân 1968 ở Huế?

Liên Thành: Vi luơng tâm nghề nghiệp nên không thể tiết lộ sớm vì nguy hại đến những người còn ở VN. Những con số tôi có là do chính cơ quan cảnh sát của chúng tôi lập biên bản, làm báo cáo những con số xác nạn nhân được tìm thấy hay bị mất tích.

PV: Câu hỏi chót: sau Biến Động Miền Trung anh có dự định ra mắt một tác phẩm nào khác không? Nếu có, anh có thể bật mí cho biết đó là tác phẩm gì không, và khi nào sẽ ra mắt độc gỉa?

Liên Thành: Vâng tôi sắp xong cuốn số II có tựa đề là  “Biến Động Miền Trung, những chuyện chưa nói hết” sẽ ra mắt một ngày rất gần đây. Ngoài ra, tôi đang vận động đòi hỏi công bằng và công lý cho các nạn nhân trong Tết Mậu Thân tại Huế qua việc thu thập tài liệu và chứng cớ để kiện Đảng Cộng Sản VN ra trước tòa án quốc tế về tội diệt chủng. Tôi rất ước mong được mọi người hưởng ứng tiếp tay với tôi trong công tác này.

PV: Xin cám ơn anh Liên Thành đã dành cho chúng tôi cuộc phỏng vấn đầy thân hữu và thú vị này.

Người thực hiện phỏng vấn: TOÀN NHƯ

(tháng 2/2010)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Chuyện Nhà Chồng Tôi Sau 30/4/75 – Tác giả Phạm Thanh Nghiên

Chuyện nhà chồng tôi –
một bi kịch không hồi kết sau ngày
‘kết thúc’ tiếng súng chiến tranh
 

(GIẢI NHÌ cuộc thi của tuần báo Saigon Nhỏ)

LTS: Với những ai quan tâm đến hoạt động đấu tranh dân chủ và nhân quyền cho Việt Nam, Phạm Thanh Nghiên không là cái tên xa lạ. Cô đã và vẫn là “đối tượng” được nhà cầm quyền Việt Nam xếp vào cái gọi là thành phần “phản động.” Cô đã bị cướp mất tự do với những năm tháng trong tù và cô đã bị cướp mất nơi ăn chốn ở khi căn nhà của cô ở vườn rau Lộc Hưng bị đập phá tan nát. Nước mắt đã chảy trên khuôn mặt hằn khổ đau của Nghiên không biết bao nhiêu lần.

Bi kịch của Nghiên chưa dừng lại. Và nó không chỉ là bi kịch đối với cá nhân cô. Dưới đây là những gì cô Nghiên vừa kể thêm, gửi riêng cho Saigon Nhỏ. Xin trân trọng giới thiệu…

unnamed (4)

Ông Phạm Văn Vinh, ông ngoại của anh Tú. (Hình tác giả cung cấp)

 

“Mày có biết cái này là cái gì không?”

Sáng ngày 30 Tháng Tư, 1975, gia đình ông Huỳnh Kim Sơn cả thảy 11 người đang ở trong nhà thì nghe tiếng ồn ào ngoài đường Phạm Thế Hiển. Ông Sơn là một thiếu úy cảnh sát, làm việc tại quận 8 thuộc lực lượng Cảnh Sát Quốc Gia VNCH. Mặc dù ông đã dặn các con, các cháu không đứa nào được ra khỏi nhà, nhưng cậu bé Tú, khi ấy mới bảy tuổi, con trai thứ ba của ông vẫn rình lúc ông không để ý, rón rén mở cổng vọt ra ngoài. Từ nhà ông Sơn ra đường Phạm Thế Hiển đâu khoảng dăm trăm mét.

Cậu bé Tú thấy họ, những người mặc áo xanh, đội nón cối, đông lắm. Lớp thì đi bộ, lớp ngồi trên xe lam. Ai cũng vác theo súng. Có người còn mang cả cành cây cắm trên balo nữa. Cậu bé chưa từng chứng kiến cảnh tượng như thế tại Sài Gòn. Họ reo hò, la hét và ca hát vang cả phố phường, đại loại như: “Tiến về Sài Gòn ta quét sạch giặc thù,” “Sài Gòn đây rồi,” “Đập tan bè lũ ngụy quân ngụy quyền”… Đó cũng là lần đầu tiên Tú nghe đến cái tên Hồ Chí Minh phát ra từ giọng nói rất khác của lũ người xa lạ kia.

Tú không phải đứa trẻ duy nhất hiếu kỳ đứng xem. Lũ bạn cùng xóm chen chúc trong đám đông, mắt ngơ ngác, láo liên nhìn ngó. Có mấy cái bàn ai đó đã kê sẵn trên vỉa hè từ bao giờ, đặt những thùng bìa các-tông. Trong các thùng bìa ấy là những lá cờ xanh đỏ, không giống như lá cờ vàng ba sọc đỏ quen thuộc treo ở trụ sở cảnh sát, nơi ba của Tú làm việc, hay ở trường học mà cậu vẫn nghiêm trang giơ tay chào mỗi Thứ Hai đầu tuần.

Những nhóm người mặc áo xanh, đội nón cối hoặc đeo khăn rằn, vai mang súng bắt đầu đi phát cờ cho mọi người. Họ phát cả cho bọn con nít. Tú cũng được một cái. Cậu bé Tú mang lá cờ xanh đỏ ấy về, vừa đi vừa nhảy chân sáo. Mới bước vào nhà, chưa kịp khoe với ai thì ông Sơn đã giật phắt lá cờ trên tay thằng con, ném nó xuống đất rồi lấy chân giẫm lên. Vợ ông tái mặt, vội chạy ra cổng xem có ai đi ngang qua không. Tú ngơ ngác, tim đập thình thịch tưởng là sẽ bị ăn đòn can tội trốn đi chơi.

-Mày có biết cái này là cái gì không mà tha về đây?

Ông Sơn rít lên, cố nén cơn tức giận. Giẫm giẫm mấy cái cho bõ ghét rồi nhặt lên, vo viên lá cờ giấy trong tay trước khi mang xuống bếp, châm lửa đốt. Mới bảy tuổi, Tú chưa đủ khôn để biết chuyện gì đang xảy ra. Nhưng cậu bé đã lờ mờ cảm nhận về những điều bất thường đang đến với gia đình mình. Thảo nào mấy bữa nay ba không tới nhiệm sở, các anh chị em Tú cũng không đi học.

Sau ngày 30 Tháng Tư, 1975, giống như các quân nhân cán chính chế độ VNCH, ba và ông ngoại của Tú đều phải đi “học tập cải tạo,” nghĩa là đi tù. Cả ba và ông ngoại của cậu đều là sĩ quan cảnh sát với cấp bậc thiếu úy, do đó bị chính quyền mới liệt vào thành phần “ác ôn.” Ông ngoại Phạm Văn Vinh từng là “trưởng ban Tình Hình Ban Chỉ Huy Cảnh Sát Quận 4,” một chức vụ thuộc bên tình báo. Cậu bé Tú còn nhớ, hàng ngày ông ngoại đi làm đều có xe của nhiệm sở đến đưa đón. Ông ngoại Phạm Văn Vinh bị lưu đày ba năm ở nhà tù Hàm Tân. Trong Giấy Ra Trại mà nhà tù Cộng Sản cấp cho ông có ghi rõ: “Họ tên: Phạm Văn Vinh, sinh năm 1922. Trú quán tại: số 3 Cư Xá, Bến Vân Đồn, quận 4. Số quân, cấp bậc, chức vụ trong bộ máy chính quyền, quân sự và các tổ chức chính trị phản động của chế độ cũ: Thiếu úy, trưởng Ban Tình Hình B.C.H.C.S quận 4.”

Cơn thảng thốt của ngày 30 Tháng Tư

Ông Huỳnh Kim Sơn may mắn hơn nên chỉ đi tù vài tháng rồi được tha, do từng cứu mạng một viên cán bộ Cộng Sản Bắc Việt. Đó là một cuộc cứu mạng “bất đắc dĩ” xảy ra vào năm 1972. Một tên Việt Cộng bị cảnh sát truy đuổi, trong lúc cấp bách đã chạy vào nhà ông trốn. Lúc cảnh sát ập vào, họ hỏi bà Kim Anh – vợ ông Sơn – xem có người lạ nào chạy vô không. Bà Kim Anh, khi ấy đang mang bầu người con thứ tư, dù sợ hãi nhưng vẫn cố trấn tĩnh, trả lời gọn lỏn một câu “không!” Vừa lúc ông Sơn ở nhiệm sở về tới nhà, trên người vẫn mặc sắc phục.

Vì nể đồng nghiệp nên nhóm cảnh sát chỉ khám xét qua loa rồi bỏ đi. Bà Kim Anh vội ra đóng cổng, rồi trở lại vào trong nhà, lắp bắp nói với chồng “ổng… ổng… trong hồ nước”. Ông Sơn chết lặng người. Ông chạy ra sau nhà, thấy người đàn ông kia đang lóp ngóp từ trong bể nước ngoi lên. Bị vợ đặt vào “sự đã rồi,” ông không còn lựa chọn nào khác là phải thuận theo. Nếu kêu cảnh sát tới, vợ ông sẽ mang tội che giấu Việt Cộng, mà thả đi cũng không cam lòng. Bà Kim Anh van lơn: “Em sắp sinh con, thôi thì mình làm phước cứu một mạng người. Để đức để phúc cho con sau này.”

Trước khi đi, viên cán bộ Việt Cộng quỳ xuống, lạy hai vị ân nhân cứu mạng. Rồi ông ta đưa cho ông Sơn mảnh giấy, có ghi chép ký hiệu gì đó, dặn rằng nếu sau này có bề gì, tìm ông ta sẽ trả ơn. Đúng như lời đã hứa trước đó ba năm, viên cán bộ Cộng Sản trả ơn cho ông thật. Ông Sơn thoát cảnh tù đày, nhưng không thoát được cơn đau mất nước, không thoát được cảnh sống bị bủa vây với vô vàn tủi hờn, căm hận. Và chính đứa con còn trong bụng mẹ ngày nào, cái cớ để vợ ông lấy đó mà tha cho viên cán bộ nọ, 42 năm sau đã chết thảm trong tay nhà cầm quyền Cộng Sản. Trí chết sau khi vừa mới kết thúc 14 năm dài bị cầm tù. Cái “phúc” mà ông bà Sơn tạo dựng cho con, không lớn bằng cái “họa” của “bên thắng cuộc” giáng xuống gia đình họ.

Những gì tôi vừa kể là một phần câu chuyện diễn ra trong và sau ngày 30 Tháng Tư, 1975 của gia đình chồng tôi, anh Huỳnh Anh Tú, do chính anh kể lại. Tất nhiên, ngày ấy anh Tú còn nhỏ nên có chuyện anh nhớ được, có chuyện phải hỏi lại ba anh. Chuyện nhà chồng tôi, không chỉ có thế. Nếu viết đủ, theo trình tự thời gian, nó sẽ là một cuốn sách dày, đẫm nước mắt. Cuộc “giải phóng” của người Cộng Sản miền Bắc không chỉ khiến gia đình anh Tú lâm vào cảnh khốn cùng, nó còn khởi đầu cho những rạn nứt, ly tán và nhiều biến cố đau thương sau này. Số phận của gia đình chồng tôi, của ba má, của từng anh chị em bên chồng là những câu chuyện buồn trải dài trong suốt cuộc đời mỗi người. Đó là câu chuyện của một gia đình trong hàng vạn gia đình miền Nam khác đã bị một thứ “nhân mệnh” giáng xuống khi cơn thảng thốt của cái ngày 30 Tháng Tư còn chưa kịp cất lời.

unnamed (5)

        Giấy ra tù của ông Phạm Văn Vinh. (Hình tác giả cung cấp)

Ly tán trong cái gọi là nền “hòa bình” mới

Bi kịch của gia đình chồng tôi, của cả dân tộc này suốt 46 năm qua vẫn chưa chấm dứt. Gốc gác VNCH (người Cộng Sản gọi là “ngụy quân, ngụy quyền”) như một dấu gạch chéo trên gương mặt, ký hiệu để nhận biết về một hạng người phải bị loại trừ, phải bị vùi dập, phải bị khinh ghét dưới cái gọi là “chế độ XHCN.” Sau năm 1975, ba má chồng tôi phải bán dần bán mòn tài sản, của cải để lấy tiền nuôi các con. Đầu tiên bán nữ trang, rồi bán xe, sau đó bán nhà. Dần dà không còn thứ gì có thể bán ra tiền. Sau gần 20 năm làm lụng cực nhọc, cố gắng đến kiệt lực vẫn không ngóc đầu lên nổi, gia đình chồng tôi lần lượt vượt biên sang Cambodia, rồi Thái Lan.

Duy nhất có một người chị ở lại Sài Gòn. Sau này, trong thời gian sống bên Thái Lan, chồng tôi cùng anh trai là Tuấn và em trai là Trí đều tham gia một tổ chức chống Cộng. Năm 1999, trong lần nhận nhiệm vụ về nước, chồng tôi và Trí bị bắt, mỗi người bị kết án 14 năm tù. Trong thời gian ở tù, Trí bị nhiễm bệnh AIDS – hậu quả của những lần bị cùm chân có dính máu, thịt của người tù bị cùm trước. Ra tù được sáu tháng, Trí chết. Một cái chết đầy đau đớn, oan khuất và tức tưởi. Sau khi chồng tôi và Trí bị bắt, anh Tuấn mất tích. Một số người hoạt động cùng anh nói rằng anh bị Việt Cộng giết. Vài năm sau khi anh Tuấn chết, vợ anh cũng qua đời để lại đứa con mồ côi cho cô Trang, em chồng tôi nuôi dưỡng. Má chồng tôi bị bệnh tiểu đường, do không đủ tiền thuốc thang nên bà qua đời tại Thái Lan năm 2010, khi anh Tú và Trí thụ án được 11 năm. Lúc còn sống, má chồng tôi bị cưa hai chân do bị hoại tử. Sau thời gian sống ở Thái Lan, ba chồng tôi lưu lạc sang Malaysia, thỉnh thoảng qua Thái Lan thăm má. Em chồng tôi lập gia đình, sinh được ba đứa con nhưng khi đứa út còn nhỏ, chồng cô ấy bạo bệnh rồi qua đời.

Sau khi lấy anh Tú, tôi những muốn đón ba chồng tôi về ở hẳn Việt Nam để thuận tiện cho việc phụng dưỡng. Ở trọ cũng được, khi nào có đủ tiền thì xây nhà. Ba tôi chấp thuận. Ông đặt vé về Sài Gòn vào ngày 9 Tháng Hai, 2017, nhưng buổi chiều hôm trước, mồng 8 Tháng Hai, ông đột ngột qua đời tại Malaysia. Vuốt mắt cho ông cũng là một người lưu vong khác. Tháng Tư, 2016, khi chúng tôi chuẩn bị làm đám cưới, người em trai út của anh Tú đã hẹn sẽ về tham dự vì nhiều năm rồi cậu ấy chưa trở lại Việt Nam. Nhưng rồi lại là một giấc mơ không thành khác. Trước đám cưới chừng một tháng, chúng tôi nhận được tin Quốc bị tai biến. Suốt mấy năm nay, Quốc phải ngồi xe lăn, không thể đi làm kiếm tiền nuôi con. Mọi gánh nặng đổ dồn lên cô Trang, em gái chồng tôi.

Anh Tú kể, từ năm 1981 cho đến mãi về sau, gia đình anh chưa bao giờ có một ngày sum họp kể cả vào những sự kiện trọng đại nhất của đời người như cưới hỏi, tang chế. Cả ba và má đều chết trên xứ lạ quê người mà con cháu không thể đến tiễn đưa, vĩnh biệt. Anh Tú lấy tôi, lại cũng là một người tù, một kẻ “phản động” theo cách kết tội của nhà cầm quyền. Thỉnh thoảng tôi nói đùa “vợ chồng mình tiền án nhiều hơn tiền mặt.” Và “nếu xét theo bên ngoại, bé Tôm là Cộng Sản con. Xét theo bên nội, nó mang gốc gác ‘ngụy quân ngụy quyền.’” Tôm có ba mẹ, có chú đều là tù nhân chính trị dưới chế độ Cộng Sản. Tức là nhà tôi vừa có tù anh, tù em, tù vợ, tù chồng, vừa có tù em, tù chị, đủ cả. Nếu nhắc thêm sự kiện nhà tôi ở Vườn Rau Lộc Hưng bị đập, thì bé Tôm cũng là một “dân oan nhí.” Vợ chồng tôi vừa là cựu tù chính trị, kiêm luôn danh hiệu bất đắc dĩ “dân oan.” Số phận cứ buộc chúng tôi vào cảnh ngộ éo le, bi đát.

***

Khi viết những dòng này, vào dịp Tháng Tư, năm 2021, chồng tôi vẫn là một người vô tổ quốc, vẫn phải sống lưu vong trên chính quê hương ruột thịt mình. Từ khi ra tù vào Tháng Mười Hai, 2013, anh Tú vẫn không có nổi một mảnh giấy tờ tùy thân. Gia đình tôi vẫn tiếp tục sống, cuộc sống của những phận người Việt với điệp trùng khốn khó, hiểm nguy vây bủa. 46 năm là một khoảng dài trong đời người, vậy mà nỗi đau cứ như vừa mới hôm qua. Làm sao quên được khi thế lực tà ác thay vì sám hối, lại reo rắc tư tưởng thù hận, vùi dập nạn nhân tới tận cùng của mọi nỗi đau. Nạn nhân nào có phải vài chục con người, đấy là triệu triệu con người. Biết bao giờ đất nước này mới thay da đổi thịt, người người mới biết ăn năn?

Cưu mang nỗi đau quá khứ không phải để thù hận, mà để nuôi dưỡng ước vọng tương lai. Tương lai cho gia đình bé nhỏ của tôi. Tương lai cho người Việt.

Sài Gòn, Tháng Tư, 2021

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Thơ Mừng Ngày Mẹ Hiền – Cóc Nhà

Nhân đây Cóc Nhà có bài thơ ” Mừng Ngày Mẹ Hiền”  Happy Mother’s Day, mời các bạn thưởng thức
Happy Mothre'sday H2

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Happy Mother’s day

2c1cd8a5c7f935645cd587e2e3bfd3cd

Căn Nhà Nhỏ kÍnh chúc Quý Phu Nhân trong Đại Gia Đình K1 ngày Mother’s Day thật đầm ấm, vui tươi và tràn đầy Hạnh Phúc bên đức lang quân cùng các con cháu thân thương.
HAPPY MOTHER’S DAY

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Mừng Ngày Hiền Mẫu “Happy Mother’s Day”

HAPPY MOTHER’S DAY TO EVERYONE

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

VỀ BẮC… (Lê Thy Ka)

VỀ BẮC… (Lê Thy Ka)

(Hồi Ký của một người sinh ra ở miền Bắc trở về quê cũ)

Tôi sinh ra ở miền Bắc Việt Nam vào năm 1953. Khi di cư vào miền Nam năm 1954, tôi chẳng biết gì.

Lớn lên ở Sài Gòn, trải qua biết bao nhiêu là những biến cố lịch sử, để rồi ngày 30/04/1975, Cộng sản lại chiếm miền Nam. Nơi sinh ra và lớn lên, ai cũng muốn được trở về để được nhìn thấy nó một lần. Ngay từ nhỏ, Bố Mẹ vẫn kể về miền Bắc với biết bao nhiêu là kỷ niệm ngày thơ ấu. Mình chỉ biết nghe. Họ hàng nhà tôi đâu có còn ai là ruột thịt, chỉ còn vài người anh em họ bên Mẹ, tính ra cũng đến đời thứ ba rồi. Vài năm trước về Hải phòng, chưa về được Hưng yên, nhưng tôi đã thấy hoảng vì những câu chửi tục của những kẻ bán hàng. Hơi một tí là họ địt, mà họ vừa địt vừa trợn mắt, nghiến răng mới là khiếp! Mình từ miền Nam ra là họ biết ngay. Chỉ cần nghe giọng nói và cách ăn mặc là họ nắm ngay chóc. Vài ông anh thì cứ nay gọi điện, mai gọi điện vào hỏi thăm và mời ra Bắc chơi một lần cho biết quê hương làng mình.

Thứ Hai tuần trước, suy nghĩ mãi tôi mới quyết định về Bắc một chuyến cho biết “Nơi chôn nhau cắt rốn”. Trước khi ra Bắc, tôi đã phải gửi tấm hình mới nhất của mình ra ngoài đó để các anh nhận ra mà đón.

15g chiều, máy bay đáp xuống sân bay Nội Bài. Sau khi làm thủ tục xong, tôi bước ra ngoài dân bay. Hình ảnh đầu tiên mà tôi nhìn thấy là cánh xe ôm, họ mời chào rất nhiệt tình. Có nhiều tay xe ôm đi giày trông rất lịch sự và hầu hết tay nào cũng lù lù chiếc nón cối trên đầu. Có lẽ hình ảnh của ông Hồ đã gắn chặt trong ký ức người dân miền Bắc, cho nên ngoài đó rất nhiều người đội nón cối. Mặc áo sơ mi, bỏ áo trong quần, giày tây bóng lộn mà chơi cái nón cối trên đầu thì nhìn rất buồn cười, nhưng có lẽ ngoài đó, người ta đã quen với cái kiểu như thế rồi.

Cánh xe ôm mời chào kinh quá, nhớn nhác mãi, vừa nhìn chung quanh vừa ôm cái giỏ cho chặt, vì lơ mơ mà kẻ nào nó giật mất thì chỉ có ăn “cái ấy” cho no rồi đi bộ về Miền Nam.  “Ka ơi! Anh đây này”. Đang ngơ ngác thì ông Anh gọi và lấy tay vẫy vẫy. Anh tôi mặc bộ quần áo bộ đội đã cũ, chân đánh đôi giày da và trên đầu là chiếc nón cối. Một tay xe ôm tưởng ông Anh đón tôi giành khách, anh ta đi ra chỗ ông Anh và nói gì đó mà tôi không nghe. Tôi chỉ thấy Anh tôi trợn mắt và quát lên: “ĐM! Em tao trong Nam vừa ra đấy. Tay kia biến mất, tôi lên chiếc xe Dream và trực chỉ Kim động-Hưng yên. Xe đang ngon trớn bỗng đảo nghiêng sang bên kia đường. Anh tôi lẩm bẩm: “ĐM! Chó toàn ra đường ỉa bậy”. Tôi buồn cười mà không dám cười. Đang chạy xe, Anh tôi dừng lại, trước mặt là anh thanh niên giơ tay chào. Anh tôi hỏi: “Đi đâu mà vất thế? Vãi cả mồ hôi ra vậy?

– “Em đi mua tí thịt chó, hôm nay nhà có khách”
– “ĐM! Có khách thì phải làm con gà, thịt chó thì đéo ra gì rồi”
– “Mà bác đèo ai đấy?”
– “ĐM! Cô em trong Nam ra chơi”

16g30 thì xe về đến làng, mấy đứa con chạy ra vỗ tay mừng bố đã về. Bố nói với thằng lớn: “Vỗ, vỗ cái đéo gì! Vào bảo mẹ thịt ngay con gà hôm qua mổ vỡ trứng”. Bữa cơm tối có thịt gà luộc, vài lon bia Hà nội. Anh tôi bảo là ăn thịt gà là phải có con bia này nó mới hợp. Ngoài Bắc họ uống bia không có đá thì phải, tôi thấy Anh tôi mở bia là rót ngay vào ly, tôi cũng không dám đòi đá. Bia Hà nội uống cũng tạm được. Anh tôi nổ trong bữa cơm kinh quá: Nào là làng mình kỳ này cũng phất lên rồi, không đến nỗi vất như ngày xưa, nhà nào cũng nuôi vài con lợn, chó thì vô tư. Mà tôi phải công nhận là nhà Anh-Chị tôi lắm chó thật. Nhà xây cấp bốn bình thường, mà tôi nhìn thấy tám con chó. Anh tôi bảo là có khi thịt hết lứa chó này là chúng nó sẽ cấm ăn thịt chó. Mà ĐM! mấy thằng rỗi hơi, tự nhiên lại nghĩ ra cái trò cấm ăn thịt chó. Chị tôi góp chuyện: “Cấm cái đéo gì! Toàn chuyện não lợn”. Tôi không nhịn được cười và buộc phải cười và cười rất lớn. Hình như văng tục là một nét văn hoá của những người Miền Bắc thì phải! Chuyện gì cũng địt được và cái gì cũng văng đéo.

Tôi vừa bước xuống sân sau để rửa mặt, đánh răng thì dẫm ngay phải bãi cứt chó. Anh tôi nhìn thấy: “Em ra rửa chân đi. Mẹ nó ơi! ĐM! Xem con chó nào vừa ỉa ra sân, ngày mai thịt luôn, để làm cái đéo gì”. Cứt chó nhiều thật! Mà hình như cả nhà quen rồi thì phải, vì đâu có ai đi mà dẫm vào cứt chó, chỉ có tôi là dẫm phải, bởi vì mình chưa quen đường lối.

Sáng hôm sau, Anh-Chị tôi dẫn tôi đi xem làng xóm, nhìn lại căn nhà xưa mà Bố-Mẹ tôi đã ở, nơi mà tôi chào đời. Căn nhà rộng tám mét và sâu chừng hai mươi lăm mét, nhà bây giờ là chủ khác ở, chứ không phải là họ hàng, vì khi mình di cư, Nhà nước đã lấy hết và sang nhượng cho nhau. Làng tôi còn nghèo lắm! Tôi thấy cô bé bán thịt đặt vài ký thịt trên mặt bốn cái ghế đôn chập lại, tôi hỏi nó ngày bán được mấy ký thịt thì nó trả lời: “Báo cáo với bà, cả ngày cháu bán được năm cân. Hôm nào ế thì đéo bán được ký nào!”. Chung quanh làng không có nhiều quán xá và chỗ nhậu nhẹt như ở trong mình. Anh tôi dẫn tôi đi chung quanh xóm, trên đường nhiều cứt chó lắm. Anh tôi bảo là: “ĐM! Ở đây cả làng đều như thế! Đi đường là phải tinh mắt…

Vừa tờ mờ sáng, tôi đã nghe thấy tiếng chó kêu, tôi ra sân thì đã thấy con chó bị xích dưới gốc cây mít. Thấy tôi dậy, Anh tôi lên tiếng: “Em ngủ nữa đi, dậy làm đếch gì mà sớm thế?”. Tôi bảo là lạ nhà nên khó ngủ. Thật ra là cả đêm tôi ngửi thấy mùi cứt chó, nó cứ phảng phất đâu đây. Phải nói là ngoài Bắc họ nhiệt tình. Đúng là làng quê có khác! Mới tám giờ sáng mà cả chục tay thanh niên trong xóm đã tụ tập để làm thịt chó. Vài bà hàng xóm mua hộ Anh tôi cặp gà để thịt. Anh tôi phấn khởi lắm, một tý lại: “Em báo cáo với các bác, các chú, hôm nay em làm thịt con chó để mừng cô em trong nam ra”. Một tay thanh niên nói: “ĐM! Thảo nào cỗ lớn là phải!”…

Tôi đã bỏ thịt chó từ lâu nên cũng chẳng tha thiết gì với món này. Vào những năm 1977, 1978, được con chó như thế này mà thịt thì còn gì bằng, nhưng cái thời khốn nạn ấy đã qua lâu rồi. Bữa cơm ồn ào quá! Họ uống toàn rượu, chỉ có đàn bà là uống bia. Tiếng chửi tục vang lên loạn xạ. Đàn bà cũng văng tục. Từ nhỏ đến bây giờ tôi mới được ăn bữa cơm như thế này. Đàn bà cứ nói là chửi tục, đàn ông thì văng còn mạnh hơn nữa. Mà họ chửi tục không phải vì giận nhau hay cãi nhau, họ chửi tục vui cơ mới là buồn cười. Đang uống rượu, anh thanh niên đứng dậy: “ĐM! Em còn mấy lít rượu rễ cây đinh lăng, để làm đéo gì. Biết có sống được đến mai không mà để dành củ khoai đến tối. Em mang sang đánh luôn”…

Mới ở được hai ngày là tôi đã thấy chán! Chị tôi bảo hay là mình thuê xe cho em nó ra Ba Đình thăm lăng Bác. Anh tôi nói luôn: “Thăm cái đéo gì mà thăm, Anh vào một lần từ lâu rồi, đéo nhìn thấy gì vì cách xa lắm”.

Ngày thứ tư là tôi quyết định ra về, vì tôi mua vé khứ hồi. Bữa cơm trưa lúc mười giờ và chỉ có gia đình. Tôi biết hoàn cảnh của Anh-Chị tôi mà! Tôi biếu Anh-Chị tôi ít tiền. Chị tôi bảo là: “Chị đéo có nghĩ gì đâu, Em làm như thế Chị ngại lắm”. Anh tôi chen vào: “Ngại cái đéo gì mà ngại! Em nó cho thì cứ cầm lấy để hôm nào vào Nam chơi”…

Ngồi trên máy bay, tôi cứ thắc mắc một điều là tại sao họ lại văng tục nhiều thế? Có thể vì họ không được giáo dục, cũng có thể là do thói quen đã nhiễm vào đầu óc từ đã lâu.

Kỷ niệm chuyến đi về Miền Bắc. 

 Lê Thy Ka  

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Chuyện một người mang tên Nguyễn Thị Di Tản _ Hoàng Thị Tố Lang

Chuyện một người

mang tên Nguyễn Thị Di Tản

* Hoàng Thị Tố Lang

(Bài do K1 Nguyễn Văn Vinh sưu tầm và chuyển)

This image has an empty alt attribute; its file name is pic.jpgTên tôi là Nguyễn thị Di Tản. Cái họ Nguyễn của tôi đã chứng tỏ tôi là người Việt Nam chính hiệu con nai vàng. Song có điều tôi là đứa bé Việt Nam chào đời ở một miền đất lạ xa – đảo Guam – một nơi chốn thật lạ lẫm với quê hương tôi. Theo lời mẹ tôi kể tôi chào đời vào những tháng ngày buồn thảm nhất của miền Nam Việt Nam. Tôi đã nằm trong bụng mẹ, theo mẹ trên con đường di tản của dân tộc tôi.
Tôi đã là một chứng nhân của lịch sử. Tiếng khóc chào đời của tôi ở một quần đảo nơi quê người đã giúp mẹ tôi nhiều can đảm vượt qua những thử thách, gian truân của cuộc đời.
Tôi đã là Nguyễn Thị Di Tản từ ngày ấy. Thế mà đã hơn một phần tư thế kỷ kể từ 30 tháng 4 năm ấy. Thế mà đã 35 năm qua…
Đã 35 năm qua. Tôi đã lớn. Đã trưởng thành nơi miền đất tạm dung của một tỉnh lỵ miền Tây Canada. Thành phố Winnipeg buồn hắt hiu như tâm sự “Người di tản buồn” của mẹ. Mẹ rất yêu bản nhạc “Người di tản buồn” của Nam Lộc. Ngày còn bé, bằng bài hát ấy mẹ đã ru tôi ngủ. Riết rồi tôi quen với từng lời ca tiếng nhạc. Mẹ bảo đêm nào không nghe bài hát ấy tôi không ngủ. Đến lúc tôi bập bẹ biết nói mẹ dạy tôi hát. Tôi vừa quấn quít bên mẹ vừa đỏ đẻ hát:
Chiều nay có một người đôi mắt buồn
Nhìn xa xăm về quê hương rất xa
Chợt nghe tên Việt Nam ôi thiết tha
Và rưng rưng lệ vương mắt nhạt nhòa
Bạn ơi đó là người di tản buồn
Ngày ra đi lặng câm trong đớn đau.
Rồi đêm khuya hằn lên đôi mắt sâu
Thời gian đâu còn những phút nhiệm mầu
Cho tôi xin lại một ngày, ở nơi nơi thành phố cũ
Cho tôi xin lại một đời, một đời sống với quê hương
Cho tôi đi lại đoạn đường, hàng cây vươn dài bóng mát
Cho tôi yêu lại từ đầu, bên người yêu dấu ngày xưa
Chiều nay có một người di tản buồn
Nhìn quê hương còn ai, hay mất ai?
Còn bao nhiêu thằng xông pha chiến khu?
Và bao nhiêu nằm trong những lao tù?
Ở đây có những chiều mưa rất nhiều!
Nhiều hơn khi hành quân trong tháng mưa
Buồn hơn khi rừng khuya vang tiếng bom
Ngày vui ơi giờ đâu nước không còn
Cho tôi xin lại một lần, ở nơi tôi dừng quân cũ
Cho tôi xin lại bìa rừng, nơi từng chiến đấu bên nhau
Cho tôi xin một lời chào, chào bao nhiêu người đã khuất
Cho tôi xin một mộ phần, bên ngàn chiến hữu của tôi!
Tôi hát như sáo. Mẹ hát sao tôi hát theo vậy. Mẹ bằng lòng lắm. Dần dà tôi có thể hát được cả bài. Bạn bè của mẹ đến nhà chơi mẹ, đem con sáo của mẹ ra khoe. Mẹ bắt tôi hát. Mỗi lần hát xong các bác các cô, bạn của mẹ ai cũng đều rươm rướm nước mắt. Có lần tôi thỏ thẻ hỏi mẹ :
– “Sao con hát hay mà mẹ với các bác lại khóc”.
Mẹ ôm tôi vào lòng và nói
– “Bao giờ con lớn con sẽ hiểu tại sao”.
Cái trí óc non nớt ngày ấy của tôi mơ hồ cảm nhận có một điều gì khác thường ở mẹ, một cái gì mất mát lớn lao trong đời mẹ. Những lúc rảnh rỗi, sau giờ cơm chiều mẹ dạy tôi nói, tôi đọc:
– Con là người gì?
– Dạ thưa con là người Việt nam
– Con tên gì?
– Con tên là Di Tản
– Con có yêu nước Việt Nam không?
– Con yêu Việt Nam lắm!
Tôi đã thuộc nằm lòng những câu mẹ dạy. Tôi đã quen thuộc với cái tên Di Tản. Tôi thấy tên tôi nó ngồ ngộ, dễ thương làm sao. Đến lúc tôi lên năm, mẹ dắt tôi đến một ngôi trường tiểu học ở gần nhà để ghi tên đi học. Từ ngày còn bé tôi chỉ loanh quanh ở cái apartment mẹ ở mà thôi. Chung cư nầy đa số là người Việt nam. Lần đầu tiên đến trường, một khung cảnh mới, người mới. Các học sinh cùng lớp với tôi hoàn toàn là những khuôn mặt lạ xa.
Cô giáo cũng thế. Không giống mẹ. Không giống các bác, các cô đến chơi nhà mẹ. Lúc mẹ chào cô giáo ra về. Tôi ở lại trường với tâm trạng thật lạc lõng, bơ vơ. Tôi muốn khóc. Tôi muốn theo mẹ ra về làm sao. Tôi ngồi cô đơn một góc lớp. Cô giáo rất trẻ, đến bên tôi nhỏ nhẹ hỏi– “What is your name?”.
Tôi cúi mặt, bặm môi chừng như rướm máu, lí nhí đáp bằng cái giọng Việt Nam đặc sệt “Dạ .. Di Tản”.
Cô giáo chừng như không hiểu, cô xem lại quyển sổ và hỏi lại tôi- “your name is Đaithen”.Tôi lắc đầu và lập lại- “Di Tản”.
Cả lớp rộ lên cười. Tôi bật khóc. Tôi khóc ngon lành như bị ai ức hiếp. Sau buổi học, mẹ đến đón tôi về. Trên suốt quãng đường từ trường về nhà Tôi lặng thinh, không nói một điều gì cả với mẹ. Mẹ âu yếm hỏi tôi
– “Con đi học có vui không”.
Chừng như tôi chỉ chờ mẹ hỏi, Tôi òa lên khóc và bảo:
– Sao mẹ không đặt cho con một cái tên nào dễ kêu như Helen, như Cindy hay Linda như tụi nó mà mẹ đặt tên con là Di Tản. Cô giáo đọc không được tên con, mấy đứa cùng lớp tụi nó chọc ghẹo con.
Mẹ tôi dịu dàng, từ tốn bảo:
– Con có biết cả nước Canada nầy có biết bao nhiêu là Helen, là Cindy không con. Còn tên Di Tản chỉ có mỗi một mình con. Con không thấy con đặc biệt sao con. Con phải hãnh diện vì cái tên rất là Việt Nam của con mới phải.
Tôi nũng nịu pha một chút hờn dỗi:
– Mà cô giáo đọc là Đaithen mẹ thấy có kỳ không?
Mẹ trìu mến đưa tay vuốt tóc tôi, hiền hòa khẽ bảo:
– Tại cô giáo không biết cách phát âm của ngươì Việt Nam mình đó thôi. Con phải đọc lại cho cô biết rồi từ từ cô sẽ đọc đúng.
Giọng mẹ thiết tha hơn, chùng xuống, sũng đầy nước mắt.– Mẹ đã mất tất cả rồi con ơi. Mẹ chỉ còn cái tên Việtnam mẹ gửi cho con. Con có biết như thế không?
Đầu óc của một đứa bé lên năm làm sao tôi hiểu được hết những gì mẹ nói, song tôi biết mẹ buồn lắm. Có một cái gì làm cho mẹ khổ tâm lắm. Tôi cảm thấy ân hận. Tôi ôm mẹ, hôn me, và bảo:
– Con xin lỗi mẹ. Con làm mẹ buồn lắm phải không mẹ.Tôi thấy mắt mẹ long lanh ngấn lệ.
– Không phải đâu con, con của mẹ ngoan lắm.
Đó là câu chuyện ngày lên năm của tôi. Mãi cho đến những năm sau nầy tên tôi vẫn là một đề tài cho lũ bạn chọc ghẹo. Cái chọc ghẹo cho vui chứ không có một ác ý nào cả. Lúc tôi vào Highschool tôi đã lớn lắm rồi. Tôi đã hiểu những u uất của đời mẹ. Tôi thương mẹ hơn bao giờ hết.
Thấm thoát mà tôi đã là cô gái 18. Soi gương tôi cũng biết mình đẹp lắm. Mẹ không cho tôi cắt tóc ngắn. Cả trường con gái mái tóc dài chấm lưng với khuôn mặt Á Đông của tôi vẫn là một đề tài nổi bật nhất.
Lại thêm cái tên Di Tản nữa. Lúc nầy tôi không còn buồn mỗi lần bị giáo sư đọc trật tên. Bạn bè tôi, những đứa quen nhau từ lớp mẫu giáo đến giờ được tôi huấn luyện cách phát âm nên đọc tên tôi đúng lắm. Tụi nó bỏ dấu còn lơ lớ nhưng tạm được. Nhưng mỗi lần bắt đầu một niên học mới, tên tôi lại là một tràng cười cho lũ bạn cùng lớp mỗi khi các giáo sư mới gọi tên tôi. Giáo sư nào cũng thế. Ngập ngừng một hồi lâu rồi mới đọc.
Tôi cũng không nín cười được cái giọng như ngọng nghịu của một giáo sư người Canada đọc một cái tên lạ quơ lạ huắc chưa bao giờ thấy và gặp trong lịch sử dân tộc. Trên tay cầm bài Test của tôi, ngập ngừng rồi vị thầy gọi “Đai then”. Cả lớp ồ lên một loạt “Oh, my god”. Vị giáo sư lúng túng, đảo mắt nhìn quanh lớp. Cả lớp nhao nhao lên như bầy ong vỡ tổ. Chừng như tụi nó thích những dịp như thế để câu giờ, “nhứt quỉ, nhì ma, thứ ba học trò” mà. Con Linhda ngồi cạnh, hích nhẹ cùi chỏ vào tôi và khẽ bảo:
– Ditan, ổng đọc sai tên mầy rồi kìa, mầy sửa cho ổng đi.
Tôi đỏ mặt. Tôi chưa kịp nói gì cả thì tụi con trai ngồi sau lưng tôi ào ào lên như chợ nhóm “Ditản, Ditản not Đai then”. Vị giáo sư lúc đó mới vỡ lẽ ra, mới biết là mình phát âm sai, ông gục gặt đầu nói lời xin lỗi và lập lại “Ditản Ditản”.
Lúc nầy tôi không còn nhút nhát như ngày xưa nữa. Bạn bè tôi Tây Tàu, Canadian nữa đều “cứu bồ” tôi mỗi lần có tình trạng như trên vừa xảy ra. Dần dà mọi người gọi tên tôi rất ư là dễ thương. Đến bây giờ nhớ lại những lời mẹ nói với tôi ngày nào, tôi hãnh diện vô cùng về cái tên mẹ đã cho tôi. Tôi thương mẹ vô cùng.
Cái đất nước Việt Nam khổ đau muôn chiều đã gắn liền với mẹ tôi như hình với bóng trong cuộc đời lưu lạc xứ người hơn một phần tư thế kỷ.Một điều mà tôi có thể khẳng định rằng “dù hoàn cảnh có thể tách rời mẹ ra khỏi quê hương, nhưng không có một hoàn cảnh nào tách rời quê hương ra khỏi tâm hồn mẹ được”.
Mẹ sống như chờ đợi, như mong mỏi một điều gì sẽ đến. Có lần tôi bắt gặp mẹ ngồi một mình trong đêm, tay mân mê, vuốt ve bức ảnh bán thân của bố tôi. Mẹ vẫn nuôi hy vọng Bố còn sống và sẽ có lần gia đình tôi laị đoàn tụ như xưa. Nhưng định mệnh đã an bài. Sau khi nhờ một người bạn làm ở Usaid đưa mẹ con tôi di tản. Bố hứa Bố sẽ gặp lại mẹ sau.
Trong lúc dầu sôi lửa bỏng Bố bảo sao, mẹ nghe vậy. Một mình mẹ bụng mang dạ chửa mẹ đã lên phi cơ, theo đoàn người di tản và mong có ngày gặp lại Bố.
Nhưng niềm hy vọng đó đã vơi dần theo năm tháng cho đến một ngày mẹ được tin Bố đã nằm xuống nơi trại cải tạo.
Mẹ như điên loạn.
Rồi mẹ tỉnh lại.
Mẹ biếng cười, biếng nói.
Cuộc sống của Mẹ đã thầm lặng bây giờ càng thầm lặng hơn xưa.
Ngoài giờ ở sở. Về nhà cơm nước xong, trò chuyện với tôi đôi lát rồi Mẹ vào phòng. Cái khoảng đời quá khứ ngày xưa. Những kỷ niệm ngọc ngà ngày nào của Bố và Mẹ như chút dấu yêu còn sót lại. Thời gian không làm nhạt nhòa mà ở Mẹ không một hình ảnh nào mà Mẹ không nhớ.
Mỗi lần nhắc tới Bố, Mẹ như trẻ lại. Mắt Mẹ long lanh ngời sáng. Mẹ kể cho tôi nghe chuyện tình của cô sinh viên Văn khoa với chàng thủy thủ Hải Quân.
Tôi thuộc nhiều bài hát Việt Nam lắm nên tôi ghẹo Mẹ “Mẹ và Bố giống em hậu phương còn anh nơi tiền tuyến quá”. Ngoài tình mẹ con ra, tôi như một người bạn nhỏ để Mẹ tâm sự, để Mẹ trang trải nỗi niềm nào là “con biết không Bố hào hoa và đẹp trai lắm… v.v… và v.v…
Tôi nịnh Mẹ:
– Bố không đẹp trai làm sao cua được Mẹ.
Mẹ cười thật dễ thương.
Một điều mà tôi biết chắc chắn rằng không ai có thể thay thế hình bóng Bố tôi trong tim Mẹ.
Tôi không ích kỷ. Song điều đó làm tôi yên tâm hơn. Tôi muốn cùng Mẹ nâng niu, giữ gìn những kỷ niệm dấu yêu, ngọc ngà của Mẹ và Bố cho đến suốt cuộc đời.
Hôm nay nhân ngày giỗ lần thứ 35 của Bố. Con muốn thưa với Bố một điều. Con cám ơn Bố Mẹ đã tạo cho con nên hình, nên vóc. Dù chưa một lần gặp mặt Bố. Dù bây giờ Bố đã nằm xuống. Bố đã đi thật xa, không có lần trở lại với Mẹ, với con. Song với con Bố vẫn là một hiện hữu bên con từng giờ, từng phút.
Con nghĩ Bố đã che chở Mẹ con con hơn một phần tư thế kỷ nay. Xin Bố hãy giữ gìn, che chở Mẹ, con trong suốt quãng đời còn lại. Con mong làm sao ngày nào đất nước thật sự thanh bình Mẹ sẽ đưa con trở về thăm lại quê hương. Con sông xưa sẽ trở về bờ bến cũ. Ngày ấy ở một phía trời nào đó của quê hương con thấy bố mỉm cười và Bố nói với con… Bố sung sướng lắm, con biết không? Con yêu dấu!
Hoàng Thị Tố Lang

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Vòng Hoa Chiến Thắng- Thơ TPK

VÒNG HOA CHIẾN THẮNG

Slide3

 Bao năm ngang dọc giữ quê hương
Gian khổ theo chân vạn nẻo đường
Lên núi truy lùng bầy thảo khấu
Xuống đồi ngồi nhớ những người thương
Cổ thành Quảng Tri bao sinh mạng
An Lộc Bình Long lắm máu xương
Chiến thắng loan truyền vang khắp chốn
Vòng hoa kết tặng để tuyên dương.

Slide1

 Vòng hoa kết tặng để tuyên dương
Cho kẻ hy sinh cả máu xương
Bảo vệ quốc gia nơi cắt rốn
Giữ gìn làng xóm chốn thân thương
Tự do dân chủ, đèn soi sáng
Độc lập phồn vinh, đuốc soi đường
Người lính Cộng Hòa luôn xứng đáng
Là con yêu qúy của quê hương

 Tống Phước Kiên

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Đi tìm nhân vật trong bức ảnh lịch sử (Kỳ 2 của Tuấn Khanh)

Phóng sự của Tuấn Khanh:
Đi tìm nhân vật trong bức ảnh lịch sử (Kỳ 2)

0-4

Câu chuyện hạ sĩ nhất Võ Phùng Dương chống nạng bước ra khỏi Tổng Y Viện VNCH hay bị hỏi là “sao biệt động quân mà mặc đồ bộ binh”. Tại ngôi nhà của mình ở Chơn Thành, Bình Phước, đúng buổi trưa 30 tháng Tư, đủ 46 năm kỷ niệm đó, ông Dương nhớ lại, cười ngất “Lúc đó bị chĩa súng đuổi ra, ai quơ được bộ đồ nào mặc được là lo bận đi ra, còn sợ tụi nó không vui bắn luôn nữa chớ”.

2

Ông Dương về nhà, và lại trải qua 5 năm tù với cái chân cụt của mình. Do ông nghĩ mình là thương phế binh nên không cần tập trung làm gì, thế nhưng ông bị áp giải mang đi vì tội “ngoan cố không trình diện”. Lúc vào ở trại tù A20, ông có hỏi cán bộ là mình bị án bao lâu, viên cán bộ quản trại nhếch mép “20 hay 30 năm… tùy theo thái độ hối cải của các anh”.

Quay trở lại nhà vào cuối năm 1979, ông mới hay nhà của ông bị trưng thu, anh chị em, cả mẹ già… đều đi kinh tế mới ở Bình Phước. Hỏi ra mới biết là quân quản khu vực đến nói là nên đi kinh tế mới để ông được ra trại, bị giam 2 năm thôi. “Tụi nó gạt để lấy nhà, chứ chính tụi nó cũng không biết khi nào chú được thả về”, ông Dương kể.

Từ đó, ông Dương sống bằng nghề cạo mủ cao su cho một chủ đất. Công việc ngày qua ngày và được ông chủ thương, giúp cất cho cái nhà kề bên. Cuộc sống của ông Dương chọn Bình Phước làm chỗ trú thân, không muốn bị phiền nhiễu bởi thế sự nữa.

Dựng mộ cho đồng đội

2-1

Thế rồi một ngày khi không quá khó khăn, ông Dương chợt nhớ đến đồng đội của mình, đặc biệt là những người đã nằm lại ở Bình Long năm 1972. Ông gom góp tiền bạc và đi đến An Lộc, mua một rẻo đất nhỏ, đi bốc mộ, tìm hài cốt đồng đội theo trí nhớ… tập hợp về chung ở nơi mà ông gọi tên là nghĩa trang An Lộc.

Có cả thảy 81 ngôi mộ như vậy nằm ở đó, ông Dương chi tiết lập bản đồ, tên họ những ai còn ghi lại được để hy vọng sau này thân nhân tìm tới, dễ nhận ra hơn. Công việc của ông kéo dài từ năm 2012 đến năm 2013 thì hoàn thành tương đối. Công việc khởi đầu thì lặng lẽ nhưng sau đó thì có thêm người biết, cùng bắt tay nhảy vào tiếp sức với ông. Danh sách những quân nhân ở nghĩa trang này được ghi lại với nét chữ nắn nót: “Tui ít học lắm, không có giỏi chữ nghĩa đâu”.

0-5

“Tui nhớ trận đó dữ lắm, năm 1972 mà. Ác liệt vô cùng. Phải nói là đánh như xi-nê luôn”, ông Dương nói.

Theo Quân sử, An Lộc là địa bàn quân sự chiến lược tối quan trọng đối với Quân lực Việt Nam Cộng hòa vì đây là cửa ngõ Tây Bắc ngăn chận quân Bắc Việt tiến về thủ đô Sài Gòn sau khi quận lỵ Lộc Ninh rơi vào tay họ ngày 7 tháng 4 năm 1972.

Trận An Lộc là trận then chốt mà phía Hà Nội tin chắc là sẽ thắng, nên khi đó, bà Nguyễn Thị Bình, trưởng đoàn đàm phán của Mặt trận Giải phóng miền Nam (cờ nửa xanh nửa đỏ) mạnh miệng tuyên bố chỉ trong vòng 10 ngày nữa An Lộc sẽ là thủ đô của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Chính vì vậy mà có đến 7 đợt tấn công (kể từ ngày 13-4) không ngừng phía Bắc, để cố chứng minh cho lời tuyên bố nói trên.

Thế nhưng, trong cuộc đánh chặn và đối diện cả hai đợt tấn công dữ dội của phía Bắc Việt phối hợp với Mặt trận Giải phóng miền Nam, quân lực Việt Nam Cộng Hòa đã chiến thắng vẻ vang và tuyệt đối, trong đó, có sức trẻ của ông Dương, và sự hy sinh của nhiều bạn bè ông.

Quân sử ghi, phía cộng sản tấn công trực tiếp thị xã An Lộc có Sư đoàn 9, 2 trung đoàn pháo binh 28 và 42, 4 tiểu đoàn pháo phòng không và tiểu đoàn tăng thiết giáp 20, về sau tăng cường thêm tiểu đoàn tăng thiết giáp 21. Tham chiến ở vòng ngoài là Sư đoàn 5, 7 và Đoàn C30B. Kéo dài nhiều ngày, phía cộng sản thoái lui, chấp nhận thất bại. Dòng tin ngắn gửi về Hà Nội, sau này được tiết lộ, là “25 xe tăng thì đến 18 chiếc bị bắn cháy hoặc hư hại nặng”.

Trung tướng Nguyễn Văn Minh của Việt Nam Cộng hòa, khi tiếp xúc với báo chí tại Lai Khê ngày 31 tháng 5/1972 đã mô tả trận chiến này là trận đánh khó khăn nhất và dài nhất trong cuộc đời binh nghiệp của ông. Ông tuyên bố: “Cộng sản đã đạt được một lợi thế ngay từ đầu với quân số đông gấp bốn lần, và quân đội Việt Nam Cộng Hòa đã phải chấp nhận khá nhiều tổn thất. Tuy nhiên, sau 54 ngày giao tranh, Cộng quân đã thiệt hại ít nhất là 30.000 bộ đội trong tổng số 4 sư đoàn. Mưu đồ của Cộng sản mong tiến đánh thủ đô Sài Gòn đã hoàn toàn bị chặn đứng tại An Lộc”.

Chính tay ông Dương chôn cất những đồng đội mình ở nơi vùng đất giao tranh đó. Thỉnh thoảng có người từ hải ngoại về tìm thân nhân của mình tại An Lộc, được ông Dương giúp đỡ, có ghi lại tin tức cám ơn hoặc nhắc về ông. Nhưng đó cũng là những lúc công an địa phương đến “làm việc” với ông về việc tập kết thành một nghĩa trang nhỏ như vậy. “Tụi nó rầy rà lắm, nhưng riết rồi chú cũng quen vì mình cũng làm một mình chứ có băng nhóm gì đâu, vả lại, chuyện đã lâu rồi”, ông Dương bồi hồi nhớ, “cũng may sao trời xui đất khiến khi đó mình làm, ít ai để ý, mà chính quyền địa phương cũng cho qua, chứ không biết bây giờ làm thì có được vậy không”.

Điều làm chúng tôi bất ngờ là câu chuyện cải táng 81 nấm mộ đồng đội đó của hạ sĩ nhất Võ Phùng Dương không phải là câu chuyện ông định kể, mà bất ngờ bật ra khi chúng tôi hỏi han về thời đi lính của ông, vào lúc chuẩn bị chia tay ra về.

“Tui thấy mình còn sống được, anh em thì chết hết rồi, nên thôi thì quy tập lại cùng nhau. Tình thương, tình đồng đội thôi mà, khi mấy ông công an hỏi, tui cũng chỉ biết nói như vậy”, ông Dương nói đến đây, là lúc giọng ông chùng xuống, buồn buồn. “Lúc sau này người thân của của các hài cốt đến quay phim, đưa lên mạng gì đó, nên công an biết, đến nói này nói nọ, kiếm chuyện với tui…”, ông bật cười, đời ông tới nay, 68 tuổi, vẫn chưa quen biết làm quen với mạng xã hội hay smartphone.

Chia tay chúng tôi, đưa ra tới tận cửa, ông bước đi với dáng khỏe mạnh và tự tin, dù một bên là chân gỗ. Người cựu quân nhân VNCH khiến chúng tôi, trên đường về, cứ im lặng suy nghĩ điều ông nói. Khi hỏi về tâm trạng của ông là một thương phế binh VNCH, và cũng bị nhà nước hiện thời đối xử với định kiến, liệu ông có mặc cảm là một kẻ thua trận không? Ông Dương bật cười lớn sảng khoái

 Người ta đầu hàng chứ tụi tui có nói mình đầu hàng đâu? Không đầu hàng thì sao gọi là thua?”.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Cựu Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu nói về Hồi ký của Kissinger và về chiến tranh VN (ST)

Cựu Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu

nói về Hồi ký của Kissinger và về chiến tranh VN

 Ông Nguyễn Văn Thiệu (giữa) trong cuộc phỏng vấn của tuần báo Đức Der Spiegel năm 1979

(Tuần báo Đức Der Spiel số 50 năm 1979 – Ngày 09.12.1979)

Spiegel: Thưa ông Thiệu, từ 1968 đến 1973 Hoa Kỳ đã nỗ lực thương lượng hòa bình cho Việt Nam. Trong cuốn hồi ký của mình, ông Henry Kissinger, trưởng phái đoàn đàm phán Hoa Kỳ đã dùng nhiều trang để miêu tả việc ông, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa, đã chống lại những nỗ lực nhằm đem lại hòa bình cho một cuộc chiến đã kéo dài nhiều năm, với hàng triệu nạn nhân và dường như là một cuộc chiến để “bóp nát trái tim Hoa Kỳ“. Vì sao ông lại cản trở như vậy?

Nguyễn Văn Thiệu: Nói thế là tuyệt đối vô nghĩa. Nếu tôi cản trở thì đã không có Hiệp định Hòa bình năm 1973 – mặc dù, như ai cũng biết, đó không phải là một nền hòa bình tốt đẹp; hậu quả của nó ở Việt Nam là chứng chỉ rõ ràng nhất. Kissinger đại diện cho chính sách và lợi ích của chính phủ Mỹ. Là Tổng thống Nam Việt Nam, bổn phận của tôi là bảo vệ những lợi ích sống còn của đất nước tôi.

Tôi đã nhiều lần chỉ ra cho Tổng thống Nixon và TS Kissinger rằng, đối với một cường quốc như Hoa Kỳ thì việc từ bỏ một số vị trí không mấy quan trọng ở một quốc gia bé nhỏ như Nam Việt Nam không có gì đáng kể. Nhưng với chúng tôi, đó là vấn đề sinh tử của cả một dân tộc.

Spiegel: Kissinger không phủ nhận rằng cuối cùng ông cũng đồng ý. Nhưng ông ấy cũng nói rằng phải đàm phán lâu như vậy vì ông cản trở nhiều, rằng ông đồng ý với các đề xuất của Mỹ chỉ vì ông chắc mẩm rằng đằng nào thì Hà Nội cũng sẽ bác bỏ.

Nguyễn Văn Thiệu: Không đúng như vậy. Để chấm dứt một cuộc chiến tranh đã kéo dài gần 30 năm, người ta cần nhiều thời gian hơn là hai, ba ngày hay hai, ba tháng. Tôi hiểu rõ rằng đối với người Mỹ đã đến giúp chúng tôi, đây là cuộc chiến dài nhất trong lịch sử của họ. Có lẽ vì thế mà họ vội vã như vậy. Nhưng điều chúng tôi cần là một nền hòa bình lâu dài.

Spiegel: Kissinger có ý cho rằng ông không thực sự muốn ký kết một thỏa thuận về hòa bình, đúng ra ông ngầm mong phía miền Bắc cũng sẽ cứng đầu như ông. Kissinger viết rằng ông đồng ý với nhiều đề xuất từ phía Mỹ – trong tinh thần sẵn sàng không tuân thủ, chỉ vì trong thâm tâm ông không tin rằng hòa bình sẽ được ký kết. Có phải là trong khi đàm phán, ông đã bịp, với hy vọng là sẽ không bao giờ phải ngửa bài lên?

Nguyễn Văn Thiệu: Không. Sao lại có thể nói là một dân tộc đã chịu đựng bao nhiêu đau khổ suốt 30 năm lại muốn kéo dài cuộc chiến? Kissinger muốn xúc tiến thật nhanh mọi việc để Mỹ có thể rút quân và tù binh Mỹ được thả. Mà có lẽ mục đích của chính phủ Mỹ cũng là cao chạy xa bay. Họ thì có thể bỏ chạy. Nhưng chúng tôi thì phải ở lại Nam Việt Nam.

Chúng tôi có quyền chính đáng để đòi hỏi một hiệp định hòa bình toàn diện. Không phải là vài ba năm hòa bình, rồi sau đó lại 30 năm chiến tranh.

Spiegel: Vậy tại sao ông lại đi trước cả người Mỹ và tự đề nghị Hoa Kỳ rút quân trong cuộc họp tại đảo Midway ở Thái Bình Dương tháng Sáu 1969, theo tường thuật của Kissinger?

Nguyễn Văn Thiệu: Trước khi họp ở Midway, việc chính phủ Mỹ dự định rút quân đã không còn là điều bí mật. Cho phép tôi nhắc để các ông nhớ lại, tin tức về việc Mỹ sẽ rút một số quân đã loan khắp thế giới, trước cuộc họp ở Midway. Vì sao? Theo tôi, chính phủ Mỹ muốn thả bóng thăm dò, tiết lộ thông tin trước cho báo chí và đẩy chúng tôi vào sự đã rồi.

Spiegel: Tức là ông đã nắm được tình hình?

Nguyễn Văn Thiệu: Đúng thế. Cuộc họp ở Midway nhằm hai mục đích. Thứ nhất, cho hai vị tân tổng thống cơ hội làm quen và bàn về đề tài Việt Nam. Điểm thứ hai đã vạch rất rõ là bàn về việc rút những toán quân Mỹ đầu tiên. Tôi đã không hình dung sai điều gì và đã làm chủ tình thế. Không có gì phải lo lắng, và tôi đã rất vững tâm.

Spiegel: Khi đề xuất Mỹ rút quân, ông có thật sự tin rằng Nam Việt Nam có thể chiến đấu một mình và cuối cùng sẽ chiến thắng trong một cuộc chiến mà hơn 540.000 lính Mỹ cùng toàn bộ guồng máy quân sự khổng lồ của Hoa Kỳ không thắng nổi không? Chuyện đó khó tin lắm.

Nguyễn Văn Thiệu: Không, đề xuất đó không phải của tôi. Tôi chỉ chấp thuận. Tôi chấp thuận đợt rút quân đầu tiên của Mỹ, vì Tổng thống Nixon bảo tôi là ông ấy gặp khó khăn trong đối nội và việc rút quân chỉ mang tính tượng trưng. Ông ấy cần sự ủng hộ của dư luận và của Quốc hội. Nhưng tôi cũng bảo ông ấy rằng: Ông phải chắc chắn rằng Hà Nội không coi việc bắt đầu rút quân đó là dấu hiệu suy yếu của Hoa Kỳ.

Spiegel: Và ông không nghĩ đó là khởi đầu của việc rút quân toàn bộ?

Nguyễn Văn Thiệu: Không. Tôi đã hình dung được rằng, đó là bước đầu tiên để cắt giảm quân số. Nhưng không bao giờ tôi có thể nghĩ Mỹ sẽ rút hẳn và bỏ rơi Nam Việt Nam. Tôi đã trình bày với Tổng thống Nixon rằng việc cắt giảm quân số sẽ phải tiến hành từng bước, như khả năng chiến đấu và việc tiếp tục củng cố Quân lực Việt Nam Cộng hòa cho phép – tương ứng với những viện trợ quân sự và kinh tế có thể giúp Nam Việt Nam tự đứng trên đôi chân của mình.

Quan trọng hơn, tôi đã bảo ông ấy phải yêu cầu Hà Nội có một hành động tương ứng đáp lại. Phía Mỹ đồng ý với tôi ở mọi điểm; về một sự rút quân từng bước và của cả hai phía…

Spiegel: … và mang tính tượng trưng?

Nguyễn Văn Thiệu: Tôi hiểu rõ rằng cuộc chiến ở Việt Nam cũng là một vấn đề đối nội của Hoa Kỳ. Và Tổng thống Nixon giải thích rằng ông ấy cần một cử chỉ tượng trưng để giải quyết vấn đề đó. Trước đó một tuần tôi đến Seoul và Đài Loan, tôi đã nói với Tổng thống Park Chung Hee và Tổng thống Tưởng Giới Thạch rằng tôi hy vọng việc rút quân sắp bàn với Tổng thống Nixon ở Midway chỉ là một sự cắt giảm quân số mang tính tượng trưng. Song tôi cũng lưu ý rằng nếu Hoa Kỳ muốn rút hẳn thì chúng tôi cũng không thể ngăn cản. Vậy thì đề nghị họ rút quân từng bước, đồng thời viện trợ để củng cố một quân đội Nam Việt Nam hùng mạnh và hiện đại, có thể thay thế người Mỹ, sẽ là hợp lý hơn. Không bao giờ tôi đặt giả thiết là lính Mỹ sẽ ở lại Việt Nam vĩnh viễn.

Spiegel: Mỹ vẫn đóng quân ở Hàn Quốc và Tây Đức mà.

Nguyễn Văn Thiệu: Nhưng chúng tôi là một dân tộc rất kiêu hãnh. Chúng tôi bảo họ rằng, chúng tôi cần vũ khí và viện trợ, nhưng nhiệt huyết và tính mạng thì chúng tôi không thiếu.

Spiegel: Ông đánh giá thế nào về tình thế của ông khi ấy? Vài tháng trước đó, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Melvin Laird vừa đưa ra một khái niệm mới: “Việt Nam hóa chiến tranh“. Trước đây người Mỹ chỉ nói đến việc “phi Mỹ hóa” cuộc chiến. Cái khái niệm mới ấy đã thể hiện rõ dự định rút khá nhanh của người Mỹ rồi, đúng không?

Nguyễn Văn Thiệu: Khi đến Sài Gòn vào tháng Bảy 1969, ông Nixon đã nhắc lại rằng ông ấy cần được sự hậu thuẫn của dư luận trong nước Mỹ. Tôi hiểu ông ấy. Nhưng ông ấy không hề tuyên bố rằng việc rút quân là một lịch trình mang tính hệ thống do sáng kiến của Mỹ. Ông ấy chỉ nói với tôi về những khó khăn trong nước, ở Mỹ, và đề nghị tôi giúp. Ông ấy bảo: “Hãy giúp chúng tôi giúp ông“. Tôi đáp: “Tôi giúp ông giúp chúng tôi“. Trong lần họp mặt đó, chúng tôi lại tiếp tục bàn về việc rút quân từng bước.

Spiegel: Nhưng không đưa ra một lịch trình cụ thể?

Nguyễn Văn Thiệu: Không. Và ông Nixon lại hứa rằng việc rút quân của Mỹ sẽ phải đi đôi với những hành động tương ứng của Bắc Việt và phải phù hợp với khả năng phòng thủ của Nam Việt Nam cũng như phải phù hợp với việc Mỹ tiếp tục viện trợ quân sự và kinh tế cho Nam Việt Nam.

Spiegel: Ở thời điểm đó ông có nhận ra rằng nếu thấy cần thì Mỹ cũng sẽ sẵn sàng đơn phương rút quân không?

Nguyễn Văn Thiệu: Có, tôi đã ngờ. Nhưng lúc đó tôi vẫn rất vững tâm và tin tưởng vào đồng minh lớn của chúng tôi.

Spiegel: Có lẽ ông tin thế là phải. Cuốn hồi ký của Kissinger cho thấy khá rõ rằng chính phủ Nixon không thể dễ dàng “đình chỉ một dự án liên quan đến hai chính phủ, năm quốc gia đồng minh và đã khiến 31,000 người Mỹ phải bỏ mạng, như thể ta đơn giản chuyển sang một kênh TV khác“.

Rõ ràng là người Mỹ muốn thoát khỏi Việt Nam bằng con đường đàm phán. Chỉ trong trường hợp cần thiết họ mới muốn đơn phương rút quân. Ông có đưa ra yêu sách nào liên quan đến những cuộc thương lượng giữa Washington và Hà Nội không?

Nguyễn Văn Thiệu: Chúng tôi đã chán ngấy chiến tranh và quyết tâm chấm dứt nó qua đàm phán. Chúng tôi yêu cầu những kẻ xâm lăng đã tràn vào đất nước của chúng tôi phải rút đi. Tất cả chỉ có vậy.

Spiegel: Ông đã oán trách rằng sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam năm 1975 chủ yếu là do sau Hiệp định Paris, miền Bắc vẫn được phép đóng quân tại miền Nam. Ông khẳng định rằng mình chỉ chấp nhận sự hiện diện đó của miền Bắc trong quá trình đàm phán, còn sau khi ký kết thì Hà Nội phải rút quân. Nhưng Kissinger lại khẳng định trong hồi ký rằng ông thừa biết việc Hà Nội sẽ tiếp tục trụ lại ở miền Nam, và cho đến tận tháng Mười 1972 ông cũng không hề phản đối những đề xuất của phía Mỹ liên quan đến điểm này.

Nguyễn Văn Thiệu: Đó là một lời nói dối hết sức vô giáo dục của Kissinger, rằng tôi chấp thuận cho quân đội Bắc Việt ở lại miền Nam. Nếu ngay từ đầu tôi đã chấp thuận như Kissinger nói thì lúc ông ấy cho tôi xem bản dự thảo, trong đó không có điều khoản nào về việc rút quân của Bắc Việt, tôi đã chẳng phản đối quyết liệt như thế.

Điểm then chốt nhất mà tôi dốc sức bảo vệ, từ đầu cho đến khi kết thúc đàm phán, chính là yêu cầu Hà Nội phải rút quân. Tôi đã tuyên bố rõ với Kissinger là nếu không đạt được điều đó thì không có ký kết.

Sau nhiều ngày tranh luận gay gắt, cuối cùng ông ta bảo: “Thưa Tổng thống, điều đó là không thể được. Nếu được thì tôi đã làm rồi. Vấn đề này đã đặt ra ba năm trước, nhưng phía Liên Xô không chấp nhận“. Tôi hiểu ra rằng chính phủ Mỹ đã nhượng bộ trước yêu sách của Liên Xô, và đó là nỗi thất vọng lớn nhất của tôi.

Spiegel: Có lẽ Liên Xô không thể làm khác, vì Hà Nội không chấp nhận coi Nam Việt Nam là một quốc gia khác, và một thời gian dài họ còn phủ nhận việc họ đã đưa quân đội chính quy vào miền Nam.

Nguyễn Văn Thiệu: Chúng tôi đã chiến đấu hơn 20 năm và học được rằng, đừng bao giờ tin lời Nga Xô và Hà Nội. Bắc Việt đóng quân ở cả Lào, Campuchia và Nam Việt Nam, tôi tin rằng một người mù cũng nhìn ra điều đó. Muốn chấm dứt chiến tranh thì chúng ta phải nhìn vào hiện thực chứ không thể chỉ nghe lời kẻ địch.

Spiegel: Ông có lập luận như thế với Kissinger không?

Nguyễn Văn Thiệu: Tất nhiên, và với cả Tướng Haig nữa. Tôi bảo ông ấy thế này: “Ông Haig, ông là tướng, tôi là tướng. Ông có biết một hiệp định hòa bình nào trong lịch sử lại cho phép kẻ xâm lăng tiếp tục đóng quân tại lãnh thổ mà nó xâm lược không? Ông có cho phép Liên Xô vào Hoa Kỳ đóng quân rồi tuyên bố rằng ông đã ký kết thành công một hiệp định hòa bình với Liên Xô không?

Spiegel: Ông ấy trả lời sao?

Nguyễn Văn Thiệu: Ông ấy không trả lời được. Mà trả lời thế nào cơ chứ, chuyện đó hoàn toàn vô lý. Còn gì mà nói nữa.

Spiegel: Nhưng Kissinger thì có câu trả lời trong hồi ký. Ông ấy viết rằng khó mà bắt Hà Nội rút quân, vì họ hoàn toàn không sẵn sàng từ bỏ trên bàn đàm phán những thứ mà họ không mất trên chiến trường. Nhưng ông ấy cũng nói rằng trong Hiệp định Paris có một điều khoản không cho phép xâm lấn. Ông ấy đi đến kết luận rằng “lực lượng miền Bắc sẽ tự nhiên tiêu hao sinh lực và dần dần biến mất“.

Nguyễn Văn Thiệu: Tôi thấy chính phủ Mỹ và đặc biệt là TS Kissinger không hề rút ra được bài học nào khi phải đàm phán với cộng sản, sau những kinh nghiệm đau thương năm 1954 giữa Pháp và cộng sản Việt Nam và từ Chiến tranh Triều Tiên. Họ cũng không học được gì từ những cuộc đàm phán về Lào và Campuchia và cũng không nắm bắt được là nên xử sự thế nào với cộng sản và cần phải hiểu chiến lược và chiến thuật của cộng sản ra sao.

Tức là ta lại phải trở về với vấn đề rằng, vì sao TS Kissinger, người đại diện cho một quốc gia lớn và tự cho mình là nhà thương thuyết giỏi giang nhất, lại có thể tin rằng quân Bắc Việt đóng tại miền Nam sẽ không xâm lấn. Sao ông ấy có thể tin như vậy cơ chứ?

Ông ấy đủ sức kiểm soát từng tấc đất trên biên giới của Campuchia, và của Lào, và của Nam Việt Nam à? Dù có cả triệu nhân viên quốc tế giám sát, chúng tôi cũng không bao giờ có thể khẳng định là đã có đủ bằng chứng rằng không có xâm lấn. Sao ông ấy lại có thể tin những gì Bắc Việt nói. Ông ấy có thể tin lời cộng sản, nhưng chúng tôi thì không. Vì thế mà tôi đã cương quyết đòi Bắc Việt phải rút quân. Nếu họ thực sự muốn hòa bình thì họ ở lại miền Nam làm gì?

Spiegel: Vậy Kissinger nói sao?

Nguyễn Văn Thiệu: Còn nói gì được nữa? Ông ấy và chính phủ Mỹ chỉ muốn chính xác có một điều: rút khỏi Việt Nam càng sớm càng tốt và đảm bảo việc trao trả tù binh Mỹ. Họ bảo chúng tôi là họ mong muốn một giải pháp trong danh dự, nhưng sự thực thì họ chỉ muốn bỏ của chạy lấy người. Nhưng họ lại không muốn bị người Việt và cả thế giới kết tội là đã bỏ rơi chúng tôi. Đó là thế kẹt của họ.

Spiegel: Kissinger viết rằng, ngay sau Chiến dịch Xuân-Hè 1972 của Hà Nội, các bên dường như đã đổi vai. Hà Nội đột nhiên muốn đàm phán trở lại, còn Sài Gòn thì muốn đánh cho đến khi giành toàn thắng.

Nguyễn Văn Thiệu: Hoàn toàn vô nghĩa! Ông TS Kissinger hiểu thế nào là chiến thắng? Bắc Việt đã đem chiến tranh vào miền Nam. Chúng tôi yêu cầu họ phải rút quân. Thế là chiến thắng hay sao? Tôi chưa bao giờ yêu cầu Bắc Việt tự coi mình là tù binh của miền Nam. Tôi chưa bao giờ yêu cầu Bắc Việt bồi thường cho tổn thất chiến tranh. Tôi chưa bao giờ đòi hỏi Bắc Việt giao nộp lãnh thổ. Tôi chưa bao giờ đòi có chân trong chính phủ ở Hà Nội. Vậy ông Kissinger hiểu thế nào về chiến thắng và toàn thắng?

Spiegel: Về vấn đề rút quân của miền Bắc, 31 tháng Năm 1971 là một ngày quan trọng. Kissinger cho biết là khi đó, trong các cuộc họp kín, Mỹ đã đưa ra yêu cầu hai bên cùng rút quân. Trong hồi ký, ít nhất ba lần TS Kissinger viết rằng không những ông được thông báo trước, mà ông còn chấp thuận.

Nguyễn Văn Thiệu: Tôi không bao giờ chấp thuận việc rút quân đơn phương. Từ cuộc họp ở Midway, tôi luôn luôn yêu cầu rút quân từng bước và cả hai bên cùng rút. Hoa Kỳ đã thay đổi lập trường và tìm cách ép chúng tôi, với những chiến thuật mà họ thường sử dụng, bằng cách huơ thanh gươm Damocles trên đầu tôi, chẳng hạn họ đem công luận Mỹ ra đe tôi, họ bảo: “Hình ảnh của ông tại Hoa Kỳ hiện nay rất tồi tệ!” Hoặc: “Quốc hội muốn cắt giảm viện trợ“. Vân vân. Họ áp dụng đúng những chiến thuật đã biết, tiết lộ thông tin cho báo giới và đặt tôi trước sự đã rồi.

Nếu tôi từ chối, công luận sẽ quay ra chống tôi: “Ông ta đòi quá nhiều, ông ta sẽ không bao giờ cho Mỹ được rút, ông ta sẽ không bao giờ cho tù binh Mỹ được trở về“. Thế là tôi luôn phải chấp thuận. Không phải tự nguyện, mà miễn cưỡng. Tôi phản đối làm sao được, khi lần nào họ cũng bảo rằng: “Ông mà chống thì sẽ bị cắt viện trợ“.

Spiegel: Kissinger viết rằng trước bất kỳ một quyết định dù dưới hình thức nào, phía Mỹ cũng hỏi ý kiến ông trước.

Nguyễn Văn Thiệu: Vâng, họ hỏi ý kiến tôi, nhưng chắc chắn không phải là để nghe tôi nói “Không“, nếu đó là những quyết định phục vụ cho lợi ích của Hoa Kỳ. Họ ưa gây sức ép hơn, và đạt được gần như mọi thứ bằng cách đó.

Spiegel: Bây giờ Kissinger cay đắng chỉ trích về Chiến dịch Hạ Lào năm 1971. Ông ấy viết rằng, ông đã đồng ý rằng chiến dịch này nhất định phải thực hiện trong mùa khô. Vậy ý tưởng đó ban đầu là của ai?

Nguyễn Văn Thiệu: Của người Mỹ. Trước đó khá lâu, chúng tôi từng có ý định thực hiện, nhưng không đủ khả năng tiến hành một mình. Đến khi phía Mỹ đề xuất thì chúng tôi sẵn sàng đồng ý, để sớm chấm dứt chiến tranh. Chiến dịch đó do liên quân Việt-Mỹ thực hiện và được vạch ra rất rõ ràng: Chúng tôi tác chiến tại Lào, còn phía Mỹ thì hỗ trợ tiếp vận từ Việt Nam và từ biên giới.

Spiegel: Vì sao? Vì Quốc hội Mỹ có luật cấm quân đội Mỹ xâm nhập lãnh thổ Lào?

Nguyễn Văn Thiệu: Vâng, tôi tin là vậy. Nhưng cũng vì chúng tôi không có đủ phương tiện để tiếp tế cho binh lính, và nhất là để cứu thương binh ra ngoài. Việc đó chỉ có thề thực hiện bằng trực thăng, và chỉ phía Mỹ mới có đủ trực thăng. Không có họ thì không đời nào chúng tôi đồng ý thực hiện chiến dịch tại Lào.

Spiegel: Kissinger viết rằng quân của ông gặp khó khăn khi yêu cầu không quân hỗ trợ, vì gần như không có báo vụ viên nói được tiếng Anh.

Nguyễn Văn Thiệu: Hoàn toàn không có vấn đề gì với việc hỗ trợ của không quân. Đôi khi không có thì chúng tôi cũng không lo lắng; chúng tôi có thể dùng pháo binh. Vấn đề là: trong ba ngày mở đầu chiến dịch, phía Mỹ đã mất rất nhiều phi công trực thăng. Vì thế mà họ chần chừ, không bay đúng thời điểm và ở quy mô cần thiết. Điều đó thành ra một vấn đề lớn với quân lực Nam Việt Nam.

Spiegel: Tinh thần binh lính bị suy sụp?

Nguyễn Văn Thiệu: Chúng tôi không đem được binh lính tử trận và thương binh ra ngoài. Không phải chỉ tinh thần binh lính, mà cả tiến độ của chiến dịch cũng bị ảnh hưởng.

Spiegel: Kissinger nêu ra một lý do khác. Rằng ông đã lệnh cho các sĩ quan chỉ huy phải thận trọng khi tiến về hướng Tây và ngừng chiến dịch nếu quân số tổn thất lên tới 3000. Kissinger viết rằng nếu phía Mỹ biết trước điều đó thì không đời nào họ đồng ý tham gia chiến dịch này.

Nguyễn Văn Thiệu: Đối với một quân nhân, định trước một tổn thất về quân số là điều phi lý. Nếu TS Kissinger nói thế thì ông ấy thật giàu trí tưởng tượng. Chúng tôi chỉ có thể tiến về phía Tây trong giới hạn mà trực thăng cứu viện có thể bay đến. Kissinger bảo là chúng tôi đã rút quân mà không báo cho phía Mỹ. Làm sao chúng tôi có thể triệt thoái trên 10,000 quân mà họ không hay biết gì?

Spiegel: Tức là ông đã thông báo cho họ?

Nguyễn Văn Thiệu: Ồ, tất nhiên. Để tôi kể cho ông nghe một câu chuyện. Hồi đó tờ Time hay tờ Newsweek có đăng bức hình một người lính Nam Việt Nam đang bám vào càng một chiếc trực thăng cứu viện. Bên dưới đề: “Nhát như cáy“. Tôi chỉ cười. Tôi thấy nó tệ. Không thể ngăn một người lính lẻ loi hành động như vậy được. Nhưng báo chí lại kết tội lính Nam Việt Nam là hèn nhát và đồng thời giấu biến sự thật về tinh thần chiến đấu sút kém của phi công trực thăng Mỹ trong chiến dịch này.

Spiegel: Một điểm gây rất nhiều tranh cãi giữa Hoa Kỳ và Nam Việt Nam là vấn đề ngưng bắn. Theo cuốn hồi ký của Kissinger thì ngay từ mùa Hè 1970 chính phủ Mỹ đã thống nhất về việc sẽ đề xuất một thỏa thuận ngưng bắn tại các chiến tuyến hiện có. Kissinger khẳng định rằng ông không chỉ chấp thuận mà còn ủng hộ đề xuất này.

Nguyễn Văn Thiệu: Đúng như vậy, tôi cũng cho rằng ngưng bắn phải là bước đầu tiên để đáp ứng một hiệp định hòa bình. Nhưng ngưng bắn ngay lập tức – và tôi xin nhắc lại: ngay lập tức – thì tôi không bao giờ đồng ý với Kissinger. Tôi bảo, chúng ta phải cân nhắc hết sức kỹ lưỡng việc này. Không thể thực hiện ngưng bắn trước khi tính kỹ việc ai sẽ giám sát việc ngưng bắn, nếu ai vi phạm thì hậu quả sẽ thế nào, hai bên sẽ đóng quân ở đâu, vân vân.

Spiegel: Kissinger viết “Khi đó chúng tôi vẫn tưởng rằng chúng tôi và Thiệu cùng đồng hành hợp tác“.  Phía Mỹ đã không hiểu rằng ông đem những “chiến thuật né tránh” mà “người Việt thường áp dụng với người ngoại quốc” ra dùng.

Nguyễn Văn Thiệu: Chúng tôi là một nước nhỏ, gần như mọi thứ đều nhờ ở một đồng minh lớn và vẫn tiếp tục phải xin viện trợ dài hạn của đồng minh đó, không bao giờ chúng tôi lại cho phép mình dùng những thủ đoạn nào đó.

Spiegel: Khi Mỹ đã rút, còn Hà Nội thì được phép tiếp tục đóng quân ở miền Nam, chắc ông phải thấy là ông đã thua trong cuộc chiến này?

Nguyễn Văn Thiệu: Không hẳn, nếu chúng tôi tiếp tục được sự trợ giúp cần thiết từ phía Mỹ, như chính phủ Mỹ đã hứa khi chúng tôi đặt bút ký hiệp định. Ngay cả khi ký, tôi đã coi đó là một nền hòa bình tráo trở.

Nhưng chúng tôi vẫn tin rằng có thể chống lại bất kỳ sự xâm lăng nào của Bắc Việt. Vì hai lý do: Chúng tôi có lời hứa chắc chắn bằng văn bản của Tổng thống Nixon rằng Hoa Kỳ sẽ phản ứng quyết liệt, nếu Bắc Việt vi phạm hiệp định.

Spiegel: Mặc dù ông ấy không hề cho biết sẽ phản ứng bằng cách nào.

Nguyễn Văn Thiệu: Thứ hai, chúng tôi được đảm bảo là sẽ có đủ viện trợ quân sự và kinh tế cần thiết để chống Bắc Việt xâm lược. Nếu chính phủ Mỹ thực lòng giữ lời hứa thì chiến tranh có thể kéo dài, nhưng miền Nam sẽ không bị Bắc Việt thôn tính.

Spiegel: Về điều này thì ông và Kissinger ít nhiều đồng quan điểm. Ông ấy viết rằng chiến lược toàn cục có thể sẽ thành công, nếu Mỹ đủ khả năng hành động trước bất kỳ một vi phạm nào của Hà Nội và tiếp tục viện trợ đầy đủ cho miền Nam. Nhưng chuyện gì đã xảy ra? Kissinger quy lỗi cho vụ Watergate, vì sau đó Tổng thống Mỹ không còn đủ uy tín. Ông có nghĩ rằng vụ Watergate thực sự chịu trách nhiệm, khiến tất cả sụp đổ không?

Nguyễn Văn Thiệu: Rất tiếc, nhưng tôi không phải là người Mỹ. Tôi không muốn quét rác trước cửa nhà người Mỹ. Nhưng nếu người Mỹ giữ lời hứa thì đó là sự cảnh báo tốt nhất, khiến Bắc Việt không tiếp tục xâm lăng, và chiến tranh có thể sẽ dần chấm dứt.

Spiegel: Nếu Hoa Kỳ giữ lời thì theo ông, hiệp định hoàn toàn có thể thành công?

Nguyễn Văn Thiệu: Tôi cho là như vậy.

Spiegel: Như vậy về tổng thể, Hiệp định Paris không đến nỗi tồi?

Nguyễn Văn Thiệu: Đó chắc chắn không phải là một hiệp định có lợi cho chúng tôi. Nó tráo trở. Nhưng đó là lối thoát cuối cùng. Ông phải hiểu rằng chúng tôi đã ký kết, vì chúng tôi không chỉ có lời hứa của chính phủ Mỹ như tôi đã nói, mà hiệp định đó còn được mười hai quốc gia và Liên Hiệp Quốc đảm bảo.

 Biếm họa: Tổng thống Thiệu cự tuyệt ký Hiệp định Paris

Spiegel: Trong cuốn hồi ký, TS Kissinger có những bình luận rát mặt về khá nhiều chính khách đầu đàn. Nhưng riêng ông thì bị ông ấy dành cho những lời hạ nhục nhất. Tuy đánh giá cao “trí tuệ“, “sự can đảm“, “nền tảng văn hóa” của ông, nhưng ông ấy vẫn chú tâm vào “thái độ vô liêm sỉ“, “xấc xược“, “tính vị kỷ chà đạp” và “chiến thuật khủng khiếp, gần như bị ám ảnh điên cuồng” trong cách ứng xử với người Mỹ của ông. Vì thế, cuối cùng Kissinger nhận ra “sự phẫn nộ bất lực mà người Việt thường dùng để hành hạ những đối thủ mạnh hơn về thể lực“. Ý kiến của ông về những khắc họa đó thế nào?

Nguyễn Văn Thiệu: Tôi không muốn đáp lại ông ấy. Tôi không muốn nhận xét gì về ông ấy. Ông ấy có thể đánh giá tôi, tốt hay xấu, thế nào cũng được. Tôi muốn nói về những điều đã xảy ra giữa Hoa Kỳ và Nam Việt Nam hơn.

Spiegel: Hay ông đã làm gì khiến ông ấy có cái cớ để viết về ông với giọng coi thường như thế?

Nguyễn Văn Thiệu: Có thể ông ấy đã ngạc nhiên vì gặp những người quá thông minh và mẫn cán. Có thể cũng do cái phức cảm tự tôn của một người đàn ông hết sức huênh hoang. Có thể ông ấy không tin nổi là người Việt đối thoại với ông ta lại địch được một người tự coi mình là vô cùng quan trọng.

Để tôi kể thêm một câu chuyện nữa: Ở đảo Midway tôi thấy buồn cười, vì thật chẳng bao giờ tôi có thể hình dung là những người như vậy lại tệ đến thế. Chúng tôi, gồm ông Nixon, ông Kissinger, phụ tá của tôi và tôi, gặp nhau ở nhà một sĩ quan chỉ huy hải quân ở Midway. Ở đó có ba chiếc ghế thấp và một chiếc ghế cao. Ông Nixon ngồi trên chiếc ghế cao.

Spiegel: Như trong phim Nhà độc tài vĩ đại của Chaplin? Hitler cũng ngồi trên một chiếc ghế cao để có thể nhìn xuống Mussolini, ngồi trên một chiếc ghế thấp hơn.

Nguyễn Văn Thiệu: Nhưng tôi vào góc phòng lấy một chiếc ghế cao khác, nên tôi ngồi ngang tầm với Nixon. Sau buổi gặp đó ở Midway, tôi nghe bạn bè người Mỹ kể lại rằng Kissinger đã rất bất ngờ vì Tổng thống Thiệu là một người như vốn dĩ vẫn vậy.

Spiegel: Trong hồi ký, Kissinger phàn nàn là đã bị cá nhân ông đối xử rất tệ; ông bỏ hẹn để đi chơi trượt nước. Nixon còn quá lời hơn. Theo Kissinger thì Nixon đã gọi ông là “đồ chó đẻ” (son of a bitch) mà Nixon sẽ dạy cho biết “thế nào là tàn bạo“.

Nguyễn Văn Thiệu: Rất tiếc, nhưng tôi không thể cho phép mình đáp lại những lời khiếm nhã, thô tục đó của Nixon, vì tôi xuất thân từ một gia đình có nề nếp.

Nếu tôi không tiếp TS Kissinger và Đại sứ Bunker thì đơn giản chỉ vì chúng tôi chưa chuẩn bị xong để tiếp tục đàm thoại. Họ đã cần đến 4 năm, vậy vì sao lại bắt tôi trả lời ngay lập tức trong vòng một tiếng đồng hồ? Có lẽ họ sẽ hài lòng, nếu chúng tôi chỉ biết vâng dạ. Nhưng tôi không phải là một người chỉ biết vâng dạ, và nhân dân Nam Việt Nam không phải là một dân tộc chỉ biết vâng dạ, và Quốc hội của chúng tôi không phải là một Quốc hội chỉ biết vâng dạ. Mà tôi phải hỏi ý kiến Quốc hội.

Spiegel: TS Kissinger viết rằng thái độ của ông với ông ấy chủ yếu xuất phát từ “lòng oán hận độc địa“.

Nguyễn Văn Thiệu: Không. Tôi chỉ bảo vệ lợi ích của đất nước tôi. Dĩ nhiên là đã có những cuộc tranh luận nảy lửa, nhưng thái độ của tôi xuất phát từ tinh thần yêu nước của tôi.

Spiegel: Kissinger viết rằng ông ấy hoàn toàn “thông cảm với hoàn cảnh bất khả kháng” của ông. Ông có thấy dấu hiệu nào của sự thông cảm đó không?

Nguyễn Văn Thiệu: Không, tôi không thấy. Tôi chỉ thấy duy nhất một điều, đó là áp lực từ phía chính phủ Mỹ.

Spiegel: Kissinger viết rằng ông không bao giờ tham gia vào các buổi thảo luận về chủ trương chung. Ông ấy bảo rằng ông chiến đấu “theo kiểu Việt Nam: gián tiếp, đi đường vòng và dùng những phương pháp khiến người ta mệt mỏi hơn là làm sáng tỏ vấn đề“, rằng ông “chê bai mọi thứ, nhưng không bao giờ nói đúng vào trọng tâm câu chuyện“.

Nguyễn Văn Thiệu: Hãy thử đặt mình vào tình thế của tôi: Ngay từ đầu tôi đã chấp nhận để chính phủ Mỹ họp kín với Hà Nội. Kissinger bảo là đã thường xuyên thông báo cho tôi. Vâng, tôi được thông báo thật – nhưng chỉ về những gì mà ông ấy muốn thông báo. Nhưng tôi đã tin tưởng rằng đồng minh của mình sẽ không bao giờ lừa mình, không bao giờ qua mặt tôi để đàm phán và bí mật bán đứng đất nước tôi.

Các ông có hình dung được không: vỏn vẹn bốn ngày trước khi lên đường đến Hà Nội vào tháng Mười 1972, ông ấy mới trao cho tôi bản dự thảo mà sau này sẽ được chuyển thành văn bản hiệp định ở Paris, bằng tiếng Anh? Chúng tôi phải làm việc với bản dự thảo tiếng Anh này, từng điểm một.

Và bản dự thảo đó không phải do Nam Việt Nam cùng Hoa Kỳ soạn ra, mà do Hà Nội cùng Hoa Kỳ soạn ra. Các ông có thể tưởng tượng được điều đó không? Lẽ ra, trước hết phía Mỹ nên cùng chúng tôi thống nhất quan điểm về những điều kiện đặt ra cho hiệp định, và sau đó, nếu Bắc Việt có đề nghị gì khác thì Kissinger phải trở lại hội ý với chúng tôi. Nhưng ông ấy không hề làm như vậy.

Thay vào đó, ông ấy cùng Bắc Việt soạn ra các thỏa thuận rồi trình ra cho tôi bằng tiếng Anh. Các ông có thể hiểu cảm giác của tôi khi cầm văn bản của hiệp định hòa bình sẽ quyết định số phận của dân tộc tôi mà thậm chí không buồn được viết bằng ngôn ngữ của chúng tôi không?

Spiegel: Nhưng cuối cùng ông cũng có bản tiếng Việt?

Nguyễn Văn Thiệu: Chúng tôi cương quyết đòi bản tiếng Việt, đòi bằng được. Mãi đến phút cuối cùng ông ấy mới miễn cưỡng chấp nhận. Sau đó chúng tôi phát hiện ra rất nhiều cái bẫy. Tôi hỏi Đại sứ Bunker và Kissinger, ai đã soạn bản tiếng Việt. Họ bảo: một người Mỹ rất có năng lực thuộc International Linguistics College tại Hoa Kỳ cùng với phía Hà Nội. Nhưng làm sao một người Mỹ có thể hiểu và viết tiếng Việt thành thạo hơn người Việt. Và làm sao một người Mỹ có thể ứng đối bằng tiếng Việt với cộng sản Bắc Việt giỏi hơn chính chúng tôi? Đồng minh mà như thế thì có chân thành và trung thực không?

Spiegel: Một số quan chức cao cấp ở Hoa Kỳ từng nhận định rằng thực ra Kissinger chỉ cố gắng đạt được một khoảng thời gian khả dĩ giữa việc Mỹ rút quân và sự sụp đổ tất yếu của Nam Việt Nam. Trong cuốn sách của mình, Kissinger bác bỏ quan niệm đó. Ý kiến của ông thì thế nào?

Nguyễn Văn Thiệu: Bất kể người Mỹ nói gì, tôi tin rằng mục đích cuối cùng của chính phủ Mỹ là một chính phủ liên hiệp tại Nam Việt Nam.

Spiegel: Nhưng Kissinger đưa ra cả một loạt điểm để chứng minh rằng không phải như vậy.

Nguyễn Văn Thiệu: Chính phủ Mỹ tìm cách ép chúng tôi phải đồng ý. Để họ có thể hãnh diện là đã thoát ra được bằng một “thỏa thuận danh dự“. Để họ có thề tuyên bố ở Hoa Kỳ rằng: “Chúng ta rút quân về nước, chúng ta đảm bảo việc phóng thích tù binh Mỹ“. Và ở ngoài nước Mỹ thì họ nói rằng: “Chúng tôi đã đạt được hòa bình cho Nam Việt Nam. Bây giờ mọi chuyện do người dân Nam Việt Nam định đoạt. Nếu chính phủ liên hiệp biến thành một chính phủ do cộng sản chi phối thì đó là vấn đề của họ. Chúng tôi đã đạt được một giải pháp danh dự“.

Spiegel: Kissinger viết như sau: “Nguyên tắc mà chúng tôi tuân thủ trong các cuộc đàm phán là: Hoa Kỳ không phản bội đồng minh“.

Nguyễn Văn Thiệu: Ông cứ nhìn miền Nam Việt Nam, Campuchia và toàn bộ Đông Dương hiện nay thì biết. Khi tranh luận với các đại diện chính phủ Mỹ về hiệp định hòa bình, chúng tôi thường có ấn tượng rằng họ không chỉ đóng vai, mà thực tế là đã biện hộ cho ác quỷ.

Spiegel: Có bao giờ ông thấy một chút gì như là biết ơn đối với những điều mà người Mỹ đã làm để giúp nước ông không? Trong cuốn sách của mình, Kissinger viết rằng: “Biết công nhận những cống hiến của người khác không phải là đặc tính của người Việt“.

Nguyễn Văn Thiệu (cười): Về những điều mà Kissinger viết trong cuốn sách của ông ấy thì tôi cho rằng chỉ một người có đầu óc lộn bậy, chỉ một người có tính khí tởm lợm mới nghĩ ra được những thứ như vậy. Trong cuốn sách đó ông ấy còn tỏ ý sợ người Việt sẽ đem những người Mỹ còn sót lại ra trả thù, sau khi Washington bỏ rơi chúng tôi. Không bao giờ chúng tôi làm những điều như thế, không bây giờ và không bao giờ.

Spiegel: Cá nhân ông có cảm thấy một chút hàm ơn nào với họ không?

Nguyễn Văn Thiệu: Hết sức thực lòng: Nếu chính phủ Mỹ không phản bội, không đâm dao sau lưng chúng tôi thì nhân dân Việt Nam mãi mãi biết ơn họ. Có lần, sau khi chúng tôi tranh luận rất kịch liệt về một văn bản trong hiệp định, một số thành viên trong chính phủ của tôi bảo rằng, nếu Kissinger lập công với miền Nam như ông ta đã lập công với miền Bắc thì may mắn biết bao. Tôi bảo họ: nếu ông ấy thương lượng được một nền hòa bình thực sự với Hà Nội thì miền Nam sẽ dựng tượng ông ấy, như MacAthur ở Nam Hàn. Nhưng đáng tiếc là đã không như vậy. Nhìn vào những hậu quả của nền hòa bình ấy: trại tập trung cải tạo, nạn đói, nhục hình tra tấn, hàng ngàn thuyền nhân bỏ mạng trên biển, và một cuộc diệt chủng tàn bạo hơn, hệ thống hơn và hoạch định hơn cả ở Campuchia, tôi nghĩ tốt nhất là người Mỹ nên tự đánh giá những điều mà ông Nixon và ông Kissinger đã gây ra cho miền Nam Việt Nam. Kissinger không có gì để tự hào về nền hòa bình mà ông ấy đã đạt được. Đó là hòa bình của nấm mồ.

Spiegel: Xin cảm ơn ông Thiệu đã dành cho chúng tôi cuộc phỏng vấn này.

Phạm Thị Hoài (Biên dịch)

Nguồn: “Die Amerikaner haben uns verraten“, tạp chí Spiegel số 50/1979. Những người thực hiện: Engel, Johannes K., Lohfeldt, Heinz P.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Khám phá của Nga về Covid-19 – Nguồn: FB Trần Ngọc Giàu

KHÁM PHÁ MỚI CỦA NGA VỀ COVID -19

Mời các bạn đọc tham khảo :

Nga trở thành quốc gia đầu tiên trên thế giới thực hiện khám nghiệm tử thi đối với Covid-19.  Sau khi điều tra kỹ lưỡng, người ta phát hiện ra rằng Covid-19 không phải là virus, mà là một loại vi khuẩn được phóng xạ và giết người do nhiễm độc máu. 

Covid-19 được phát hiện có tác dụng làm đông máu, gây đông máu ở người và gây tắc nghẽn động mạch, khiến bệnh nhân khó thở do phổi, tim và phổi không nhận được oxy, dẫn đến tử vong nhanh chóng.  Để tìm ra nguyên nhân của việc thiếu hụt năng lượng hô hấp, các bác sĩ ở Nga đã không tuân theo chương trình của WHO và tiến hành kiểm tra sức khỏe đối với COVID-19.

Sau khi bạn mở cánh tay, chân và các bộ phận khác của cơ thể và kiểm tra kỹ, họ phát hiện ra rằng các động mạch bị phá hủy và chứa đầy các cục máu đông, khiến máu khó lưu thông và cũng làm giảm lưu lượng máu.  Vào cơ thể, nó khiến bệnh nhân tử vong.

Khi biết được nghiên cứu này, Bộ Y tế Nga đã thay đổi phác đồ điều trị Covid-19 và kê đơn aspirin cho bệnh nhân theo hướng tích cực.  Tôi bắt đầu dùng 100 mg và Imromac.  Kết quả là, bệnh nhân bắt đầu hồi phục và sức khỏe của họ bắt đầu được cải thiện.  Bộ Y tế Nga đã thử hơn 14 nghìn bệnh nhân chỉ trong một ngày và đưa họ về nhà.  Sau một loạt các khám phá khoa học, các bác sĩ ở Nga đã mô tả phương pháp điều trị, nói rằng căn bệnh này là một chiến lược toàn cầu, “không gì khác hơn là một cục máu đông (huyết khối) và một cách để điều trị nó.”

 Thuốc kháng sinh chống viêm và uống thuốc kháng sinh (aspirin).

Điều này cho thấy rằng thế giới này có thể được cứu.

Theo các nhà khoa học Nga khác, máy thở và đơn vị chăm sóc đặc biệt là không cần thiết.  Giao thức cho hiệu ứng này đã được xuất bản ở Nga.  Trung Quốc nhận thức được điều này, nhưng chưa bao giờ công bố báo cáo của mình.  Chia sẻ thông tin này với gia đình, hàng xóm, người quen, bạn bè và đồng nghiệp để họ có thể xoa dịu mối quan tâm của mình về Covid-19 và hiểu rằng nó không chỉ là một loại vi rút mà còn là một loại vi rút Vi khuẩn đã bị nhiễm phóng xạ.  Chỉ cẩn thận với những người có khả năng miễn dịch rất thấp.  Bức xạ này cũng gây ra tình trạng viêm và thiếu oxy.
Nạn nhân nên uống Asprin 100 mg và Apronik hoặc Paracetamol 650 mg.
(Nguồn: Bộ Y tế Nga) ..

Nguồn: FB Trần Ngọc Giàu

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Chuyện Chú Heo Con của Hồ Đắc Vũ

CHÚ HEO CON

Hồ Đắc Vũ

image (3)

Ngày 29 tháng 4 năm 75, 10 giờ sáng, hai xe tải đầy lính cộng sản chạy từ hướng Dinh Ðộc Lập tới chùa Vĩnh Nghiêm, một trung đội lính Dù VNCH trang bị đầy đủ, từ phi trường TSN đi xuống, hai bên gặp nhau tại cầu Công Lý. Bên xe lính cộng sản có người mặc áo xanh da trời, quần lính, nón tai bèo, leo xuống, qua cầu gặp anh lính dù, nói gì đó, lính Dù hạ vũ khí, nép sát đường, xe cộng sản chạy về phi trường TSN, lính Dù cởi áo quần, bỏ vũ khí, chạy vô chợ Phú Nhuận, bà con ôm lấy, sụt sùi khóc. Tôi đứng đó, xúc động, nổi nóng ném chiếc máy quay phim Bolex 16 vô thùng Vespa, cuộn phim trắng đen bung ra, coi như mất hết cảnh lịch sử vừa quay…

Bây giờ thì mọi người biết chắc, miền Nam thua trận, đầu hàng. Cộng sản tới Sài Gòn.

Tối đó, con heo vô nhà tôi.

Bữa nay, ngồi trước bàn làm việc, không biết phải làm gì.
Nơi đây, tôi thường viết truyện ngắn, vẽ bìa sách, truyện tranh cho nhà xuất bản, lay out những cảnh cho bộ phim đang làm.
– Ét! Ét… Ét!

Vợ tới bên, hai con chạy theo, mặt xanh lè.
– Con gì kêu?
– Không biết! Anh chạy xuống coi.

Tôi mở đèn, ra cổng, vợ tôi, tay cầm cây kiếm Nhật, lưỡi dài, bén ngót.
– Em làm gì vậy?
– Ðề phòng! Có chuyện gì thì sao?

Tôi cười:
– Giống hiệp sĩ mù quá.

(Chị là đai đen Akido, Judo, từng hạ đo ván tôi tại Viện Nhu đạo Quang Trung năm 1965)
Vợ chống thanh kiếm xuống đất, tôi mở cổng sắt, bước ra ngoài, chung quanh tối thui.

Chừng 5 phút.
– Có gì không anh?
– Không…

Chưa hết câu, một bóng đen như chuột cống chạy vô nhà.
Tôi đóng nhanh cổng, chị vợ chụp cây kiếm, chĩa xuống sân.
– Chắc là mèo!
– Ét! Ét!…

Bóng đen lại chạy ra, đụng vô cánh cổng, lăn quay. Một con heo nhỏ như chuột, trắng, đốm đen, nằm ngay cổng, ngước mắt nhìn chúng tôi.
Hai vợ chồng cùng nói:
– Con heo!

Tôi bồng con heo vô phòng khách.

Vợ:
– Chắc của ai gần đây nuôi.

Tôi:
– Nhà mấy ông sĩ quan Mỹ phía trước nuôi làm cảnh, hôm qua họ di tản, bỏ lại, nó đeo vòng cổ nè, có miếng nhựa tròn, tên “OOT”.
– Heo vô nhà hên anh.
– Sài Gòn mất mà hên gì?

Sau khi tắm con heo sạch sẽ, tôi mang vô phòng ngủ, cho nó ăn tô sữa với trái chuối cắt lát.
– Heo đực! Ðây là heo cảnh, không lớn.

Con heo nằm im trên gối, mũi hinh hỉnh, đôi mắt mở to, những sợi mi dài, nhìn tôi.
Hai đứa con gái đẩy cửa:
– Ủa, thỏ hả ba?
– Sao chưa ngủ? À, con heo.

Con gái lớn:
– Con tuổi chó! Sao ba không mua chó?

Con gái út:
– Vậy là của con, tuổi heo!

Sáng sau, gia đình tôi gồm: hai vợ chồng thất nghiệp, hai con nghỉ học, nhà thêm nhân vật heo, tên “Ụt”
Tôi phủ bạt chiếc xe hơi, lấy Vespa chạy một vòng tìm bạn bè, coi ai còn, ai mất, ai đi.
Nhà ông anh họ, từ Ðà Lạt về, đi hết, bỏ nhà cho bà mợ, Alfa films còn, Lidac phim đi, Cosunam đi, anh Châu, Giám đốc nhà xuất bản ABC còn, gặp nhau ngồi im lặng bên ly cà phê đường Bà Lê Chân, thằng bạn, cháu ông tướng ở Chi Lăng, Phú Nhuận, biến mất, chạy qua Thị Nghè, gặp anh NV.
– Em mới ghé qua Trung tâm Ðiện ảnh. Lính cộng sản ngồi nằm ngổn ngang.

Tôi về, thăm thằng bạn Không quân, nhà bán phở gà Hiền Vương:
Lấy mấy tô về ăn, chờ coi sao.
– Trăng sao gì? Tiêu rồi!

Tôi lấy 4 tô phở, về nhà.
Con gái út:
– Ba! Con Ụt dễ thương lắm ba, biết ra ngoài đi cầu, đi tiểu, tụi con chưa dạy gì hết.

Con gái lớn:
– Nhưng nó tè vô giày con, ba.

Vợ:
– Cả ngày nó ngủ ngoài sân thượng, đi lòng vòng hồ cá, rồi theo em, em vô phòng là đứng đợi ngay cửa.

Cả nhà ăn phở, tôi làm cho Ụt một tô nhỏ, vừa để xuống, Ụt ngửa cổ kêu ét ét như lời cảm ơn.
Hôm sau tôi lấy xe hơi, chạy ra Hàng Xanh mua đồ Mỹ (dân hôi của từ căn cứ Mỹ ở xa lộ) những tảng thịt Ham còn đóng gói, thùng dưa leo muối, sữa bột, cacao, bơ, mứt nho, cánh gà, táo đỏ, nước trái cây, hai thùng bia Ham, 5 cây Salami, thêm 5 chai Seven Crown. Hai vợ chồng mừng quá vì mua với giá như cho, đem về chất đầy nhà.

Con gái lớn:
– Ba, con Ụt không ăn.

Con gái út khoe:
– Hồi trưa con tắm nó.

Tôi khen:
– Giỏi!
– Con chà bàn chải, nó kêu hoài

Con gái lớn, tiếp:
– Nằm rên tới giờ.
– Vậy là nó bịnh rồi.

Con gái lớn chỉ con gái út:
– Tại nó đó ba. Chà con Ụt như chà dép.

Con gái út:
– Ai biết!

Vợ tôi cắt xúc xích, Ham, lấy dưa leo, chuẩn bị ăn trưa, tôi vô phòng hai đứa con. Ụt nằm trên giường, da đỏ hồng như bị luộc, tôi bồng lên, Ụt mở mắt nhìn, la ét ét.
– Lần sau con tắm nó, đừng chà mạnh.

Nhà tôi thêm một mạng, bữa ăn thêm một phần.
Ụt đã làm cho hai vợ chồng quên bớt phần nào lo lắng, buồn bã của những ngày Sài Gòn đổi thay.
Hai con bắt đầu đi học lại, ngôi trường Pháp thân thuộc với gia đình vợ, bắt đầu mở cửa dạy tiếng Việt.
– Em, anh thấy mọi người mở tiệm, buôn bán trở lại bình thường.
– Mình sẽ làm gì? Bán đồ nhà hoài, chắc tiêu quá.
– Anh tìm chỗ mở tiệm cà phê.

Tuần sau, tôi hùn với bạn, mở tiệm cà phê, ăn sáng bên Tân Ðịnh.

Bây giờ thì mỗi ngày, vợ tôi lấy chiếc PC chở 2 con đi học tại ngôi trường Pháp cũ, cũng là nơi cô phụ việc văn phòng cho mấy Sơ. Tôi dậy sớm làm chén bột sữa, trộn bánh mì bẻ vụn, để ngay góc sân thượng cho Ụt, rồi ra quán cà phê.

Con Ụt bắt đầu ở nhà một mình, trưa vợ tôi rước hai con về.

Con gái lớn:
– Ụt khôn lắm ba! Tụi con về tới nhà là nó chạy từ sân thượng xuống ngay cổng, nhảy tưng tưng.

Con gái út:
– Nó chạy theo giỡn, cắn ống quần má. Giống ba hồi đó.

Vợ:
– Lúc nào nó cũng cố lên trước, nhiều khi cầu thang trơn vấp chân lăn đùng xuống, rồi lại chạy lên.
– Vô phòng lấy dép đem cho má!
– Ăn xong biết cắn cái chén để vô thau.

Tôi ngạc nhiên, không ngờ Ụt khôn như vậy.

Nhờ nhạc ngoại quốc không lời, quán cà phê đông khách, Ðêm nào cũng 12 giờ khuya tôi mới về tới nhà, thường thì vợ con đã ngủ, chỉ mình Ụt chạy xuống cổng đón tôi.
– Nghe tiếng Vespa từ xa là Ụt đã lăng xăng chạy xuống cổng. Té tới té lui vẫn chạy! Nó muốn tới trước khi anh tới.

Tôi thường ăn khuya với vợ, khi thì bánh giò, chả lụa Phú Hương, lúc thì đĩa gỏi gà, cháo, mua bên chợ Tân Ðịnh, hai vợ chồng ngồi uống vài chai bia, Ụt nằm dưới chân tôi, khoái chí với lon trứng gà chiên, phần thừa của khách ở tiệm, tôi để dành, mang về mỗi ngày.

Sài Gòn ngoi ngóp sống dậy. Vợ tôi để cái tủ kiếng trước nhà người bạn, bán mỹ phẩm, áo quần, giày dép, tôi đóng cửa tiệm cà phê, trở lại làm việc cho xưởng phim.
Con Ụt khôn hơn, ăn nhiều và lớn rất lẹ.

Vợ tôi:
– Ủa hồi đó anh nói đây là heo kiểng không lớn mà.
– Thì anh nghĩ vậy, đâu biết.

Con Ụt từ trong phòng chạy ra với đôi dép da của vợ, nó ngồi xuống, chống hai chân, mở mắt nhìn tôi như đợi sai bảo, tôi chỉ tay.
– Ụt! đem đôi giày vô phòng  giùm!

Ụt cắn từng chiếc giày, để ngay ngắn trước cửa phòng.

Tôi khen:
– Giỏi. Ụt, Cất cái nón luôn!

Ụt chồm lên, cắn cái nón vải, mang vô phòng, tôi đi theo, nó để cái nón ngay giường ngủ.

Tôi nói với vợ:
– Ụt khôn như một đứa trẻ.

Chuông cửa reng, bà dì dưới lầu 2 gọi.
– Có công an kiểm tra hộ khẩu, con.

Hai công an lên nhà:
– Chào anh chị, chúng tôi là Công an Phường, kiểm tra nhân khẩu thường kỳ.

Hai anh coi một vòng, ra tới sân thượng. Một công an nói giọng Bắc:
– Sân đẹp quá! Cây cảnh, hoa hồng, thế hồ có “luôi” cá không anh?
– Có! Gia đình nuôi từ xưa, trong hồ còn 2 con tai tượng lớn lắm!

Bỗng Ụt từ trong nhà chạy ra.
Cũng anh công an nói giọng Bắc:
– Anh chị “luôi” heo?

Vợ tôi nói như máy:
– Kinh tế gia đình mà.

Ụt tới nằm bên vợ.
– Con heo cũng “nớn” rồi! “Lày”, sao không trồng rau quả mà trồng toàn hoa hồng thế?

Tôi không biết phải nói gì, vợ lên tiếng:
– Hết đợt hoa này tôi trồng rau cho heo ăn.

Vẫn anh công an nói giọng Bắc:
– Khi nào thịt con heo, cho tụi “lày” cái đùi nhá!

Tôi giựt mình, con Ụt đang nằm gần đó bỗng đứng dậy la một tiếng ét, chạy vô phòng.
Công an ra khỏi nhà, vợ tôi nhìn tôi cười.
– Ba, Ụt bịnh!

Con gái lớn kéo tôi vào. Ụt nằm trên giường, trốn đầu trong gối, nó run rẩy khóc, tôi hiểu ra, quay qua hai đứa con.
– Hồi nãy ông công an nói khi nào làm thịt nó thì cho ổng cái đùi!

Tôi vuốt đầu Ụt.
– Nên nó sợ, khóc. Không ai làm gì đâu Ụt ơi!

Ụt leo xuống giường vui mừng, chạy ra ngoài.

Nhà tôi bắt đầu có tiền qua cái tiệm bán đủ thứ của vợ, lương tôi làm xưởng phim thuộc loại cao, nhưng chỉ đủ trả tiền xăng, điện nước, vài tô phở và tiền xe cho hai đứa con đi học.
Bây giờ thì có người xích lô quen, sáng đưa, trưa rước hai con tôi, nhà có người giúp việc, trưa tôi về ăn, 2 giờ trở lại làm việc, chiều đón vợ về.
Hôm đó, hai vợ chồng về tới nhà, không thấy Ụt đứng ở cổng, nghi có chuyện, tôi nhảy ngay lên lầu. Con gái lớn méc:
– Ba, con Ụt té cầu thang!

Con gái út khóc:
– Con chạy trước, nó xuống sau té lộn từ trên xuống dưới. Chắc đau lắm Ba.

Ụt nằm trên giường, rên i ỉ, người nhiều vết bầm, thấy tôi về Ụt ráng sức leo xuống giường, lết tới ôm chân tôi. Vợ tôi thút thít:
– Tội nghiệp!

Từ hôm đó, Ụt không chạy xuống cổng đón vợ chồng tôi, nó chạy ra sân thượng nhìn xuống cho đến khi tôi vô nhà, tắt máy xe, lên lầu, Ụt đứng ngay cầu thang nhún nhảy mừng, chạy đi lấy dép.

Vết thương của Sài Gòn vẫn còn đau, nụ cười vẫn hắt hiu trên mắt môi mọi người.
Nhiều đêm, về khuya, tôi uống ly rượu, ngà ngà, nói với vợ:
– Chắc anh sẽ không ở đây.

Ðúng như vậy, tháng sau tôi theo bạn vượt biên ở Sông Ðốc, Cà Mau.
3 giờ sáng, bạn tới chở đi.
– Nói với tụi con anh đi công tác như mọi khi.

Vợ tôi buồn thiu.
– Em cố gắng tự lo.
– Anh yên tâm, xin trời đất phù hộ.

Tôi quay qua, không dám nhìn mặt vợ thì thấy Ụt đã đứng đó tự hồi nào. Ụt lặng yên nhìn tôi, đôi mắt lo lắng, tôi vuốt đầu con heo, mở cửa leo lên xe.

Tôi vượt biên!
Chuyến đi thất bại do ăn chia không đều, bộ đội bắn cháy ghe, chết mấy người, tụi tôi nhảy bãi sình, trốn trong rừng, sáng mai tìm đường về, hầu hết bị bắt, tôi thoát, nhờ bà già bán cháo lòng.
– Chân trắng nõn là dân thành phố “gồi”! Tối qua bộ đội bắn quá. Cháu thoát hả?

Tôi giựt mình:
– Dạ đúng. Bán cho cháu đôi dép. Chân đau, không đi được.

Bà già nhìn tôi cười hiền hậu, chỉ sau lưng:
– Vô nhà! Lấy bộ áo quần bộ đội treo trên vách của thằng con.

Tôi chạy vô nhà, bà còn nhắc:
– Nhớ mang đôi giày vải luôn.

Tôi thành anh bộ đội ăn cháo sáng.
– Bà cho cháu tính tiền.

Bà cười.
– Khỏi, ăn cháo “gồi ga” bến đò, chỗ cột điện.

Bà chỉ.
– Lên ghe về Cà Mau. Coi chừng công an đang lùng. Ði đi!
– Xin cám ơn. Con lạy bà!

Tôi ra bến đò. Tối đó về tới nhà.
– Anh đi là con Ụt không lên lầu, nó bò xuống nằm ngay cổng, bỏ ăn, chỉ uống chút nước. Chiều nay vui vẻ chạy tới chạy lui, em tưởng là anh đi được, mừng trong bụng, không ngờ anh về.
Tôi bước tới, Ụt ngước nhìn, mắt long lanh, nó khóc.

Tôi làm việc trở lại, vợ tôi vẫn buôn bán, hai con ăn học, con Ụt có thêm trò mới.
Khi vợ tôi làm bếp, bao nhiêu đồ thừa, bỏ vô bao nylon, để trong góc bếp, Ụt lôi ra ngoài thùng rác, hai con học về, thay giày, Ụt cắn hai đôi giày để ngay ngắn trước cửa phòng.
– Nó khôn hơn anh hồi nhỏ. Có bao giờ anh cất giày, lấy dép cho bà già đâu!

Ụt khôn. Nhưng cũng thật lớn, đã hơn 30 ký. Nó không còn là con heo nhỏ, ôm gọn trong tay ngày nào. Biết mình lớn, Ụt không vô phòng nữa, tôi đóng mái nhà gỗ, có sàn cao, tấm nệm mỏng ngoài sân thượng, sát bên cây hoa ngọc lan cho Ụt, nó thích lắm.

Tháng đó, dân Sài Gòn tụ tập trước tòa Lãnh Sự Pháp với tin: cho nộp hồ sơ bảo lãnh đi Pháp.
Sáu tháng sau, tụi tôi nhận giấy bảo lãnh đi Pháp, người bạn nộp đơn giùm, nói phải nghỉ việc khi nộp đơn xin xuất cảnh.
Vậy là tôi nghỉ việc, từ một người làm phim, tôi thành thợ sửa TV, máy hát ở gần nhà.
Công việc mới lại đẻ ra tiền, tôi bận bịu mua TV, máy thu băng, cát-sét cũ, tân trang bán lại cho khách, bán đồ tốt, giá rẻ, nên đông khách, cái tiệm nhỏ ngay đường Trương Tấn Bửu, Phú Nhuận trở thành điểm bán đồ điện tử uy tín cho mọi người, nhất là bộ đội miền Bắc.
– “Lày”! Có dàn Akai “lào” không?
– Có Akai 280 D, tự động hát 2 chiều. Ðầu từ 85%.
– Nhiêu? Cho giá tốt, mình “nấy”.
– 3 chỉ.
– Ừ, xem “nại”.

Tôi mang cái Akai 280, mở nghe.
– Mẹ, hay nhể! Còn hát tới “nui”, mai trở “nại”.

Ngày mai anh trở lại.
– “Lày”, không đủ tiền. Ðưa 2 chỉ, còn lại đưa xăng.
– Cũng được! Ðợi một chút!

Tôi chạy qua người quen bán xăng ngoài đường, 5 phút trở lại.
– Bao nhiêu xăng?
– 2 thùng phuy.

Tôi ú ớ:
– 2 phuy?

Anh bộ đội tỉnh bơ:
– 400 “nít”.

Biết là lời lớn, nhưng chỗ đâu giấu 2 phuy xăng, trong lúc công an đang bắt xăng lậu?
– Ðược thì tối mai chở tới.

Tôi liều.
8 giờ tối mai, chiếc xe tải thả 2 thùng phuy xuống trước tiệm, tôi giao máy Akai, hai người bạn chia xăng ra can 20 lít tẩu tán, tới 12 giờ đêm xong việc, tôi lời cả máy và xăng, bạn tôi cũng trúng vố lớn, ai cũng vui. Tối hôm sau, tôi và hai người bạn ngồi sân thượng ngắm trăng, nhậu lẩu canh chua cá bông lau, bia 50. Chừng 9 giờ tối, con Ụt kêu, chạy tới bên tôi, vợ tôi trong phòng bước ra:
– Anh, có công an khu vực tới thăm.
– Hỏi anh điều gì đó.

Tôi xuống cổng.
– Chào anh. Em hỏi anh tí chuyện.
– Lên lầu hay ở đây?
– Còn sớm, “nên nầu” đi!

Tôi ngại trong lòng, nhưng cũng đành.
– À, có bạn ăn tối à? Công an hỏi.

Vợ tôi: – Dà. Anh ăn chưa? Ăn luôn.
– Ăn “núc” chiều rồi! Ậy gặp bữa dùng “nuôn” cho vui.

Anh ta ngồi vô bàn, tôi rót bia:
– Ðây là hai người bạn cùng xóm.
– Quen biết cả. Anh bán cà phê “nề” đường ngay chợ nhỏ. Anh bán xăng “nẻ” chứ gì.

Bữa nhậu mất ngon, tôi và hai bạn nuốt không trôi tô canh chua. Anh công an làm sạch. Chừng 3 chai bia, hai bạn tôi đứng lên, định về. Anh công an:
– Ậy, gượm chút. Vô hết “ni” bia, cạn nhá!

4 ly bia cạn.

Công an:
– Tôi có tí chuyện! Nghe xong rồi về!

Vợ tôi khui thêm 4 chai.

Anh công an xuống giọng.
– Tối qua…

Nhắp ly bia.
– Mấy anh trúng quả…

Tôi lạnh người.
– Cả 2 phuy xăng đâu phải ít…

Hai thằng bạn tái mặt.
– Thôi thì chia nhau chút…

Tôi thở nhẹ.
– Có qua có “nại” cho vui nhá!

Tôi cười.
– Biết, tụi này biết, sẽ gặp anh mà.

Công an cũng cười…
– Thế tốt!

Ðứng dậy.
– … Sắp Tết nhất…

Anh công an nói nhỏ với tôi.
– Thịt con heo đi… Tôi “nấy” phân nửa.

Công an ra về, hai bạn tôi ra về, tôi ngồi chết cứng.
Vợ tới bên, khui chai bia.
– Gì vậy anh?
– Công an biết anh bán 2 phuy xăng tối qua… Sắp Tết, đòi thịt con heo, nó lấy phân nửa!

Hai vợ chồng ngồi im, uống hết két bia, tôi say, ngả nghiêng vô phòng, vợ dọn dẹp, cô không để ý con Ụt tới nằm bên chân tôi tự lúc nào.
Tuần sau, tôi mang Ụt ra Tân Cảng, kể hết chuyện cho người bạn thân, ba anh thương tình, cho Ụt ở nhờ.
Nhà anh là biệt thự lớn, có vườn rộng, hồ sen, anh thả rông cho Ụt sống ngoài vườn.
Tết đó tôi đi mua nửa con heo trả cho tay công an phường.
Tháng 5, gia đình tôi có giấy xuất cảnh, đi Pháp vào tháng 7.
Trước khi đi, tôi bán hết mọi thứ, đổ đầy xăng chiếc Toyota, chở vợ và hai con xuống Tân Cảng thăm Ụt.

Tới nơi, Ụt đã đứng trước cổng, tôi chạy xe vô, vợ tôi bày biện mọi thứ cho bữa tiệc với gia đình bạn sau vườn, bên hồ sen và những cây dừa.
Bây giờ Ụt lớn lắm, hai đứa con gái thay phiên leo lên người, Ụt chở đi lòng vòng ngoài vườn.

9 giờ tối, tiệc tan, bạn tôi nói:
– Mày và gia đình yên tâm ra đi, tao nuôi Ụt. Chưa có con heo nào khôn như nó. Bây giờ nó biết đứng lên, mở cổng khi người nhà về.

Tụi tôi ra xe, Ụt chạy theo, nó nằm yên. Vợ tôi khóc, hai con tôi khóc, tôi quỳ xuống:
– Ụt ơi, gia đình thương Ụt lắm nhưng phải ra đi, Ụt ở lại…

Tháng 7, lúc 2 giờ trưa, gia đình tôi lên phi trường, đi Pháp.
Một giờ, bạn tôi ở Tân Cảng chạy xe tới nhà, mặt mày xanh lè:
– Con Ụt nhảy xuống hồ sen tối qua…

Anh cúi mặt.
– Không ai biết… Chết rồi!

Gia đình tôi không còn thì giờ để nhìn Ụt lần cuối.
Máy bay cất cánh, con sông uốn khúc quanh những vườn cây xanh, mái ngói đỏ nghiêng nghiêng. Sài Gòn thân yêu xa dần.
Vợ sụt sùi, hai con khóc.
Mất Sài Gòn đã buồn, mất Ụt buồn thêm chồng chất.
Tôi cũng khóc!

HĐV

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Một cái chết Bất Tử! _ Nguyễn An Vinh

Hình tuẫn tiết của anh hùng Nguyễn Văn Long, trung tá Cảnh Sát Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà trong ngày 30-4-1975 dưới chân tượng đài Thủy Quân Lục Chiến đối diện trụ sở Hạ Nghị Viện VNCH.

Một cái chết Bất Tử!
 
Nguyễn An Vinh

Dưới chân tượng đài của Thủy quân Lục chiến, xác một người cảnh sát nằm đó. Máu ở đầu ông ta chẩy ra tươi rói. Người Sĩ quan Cảnh sát đeo lon Trung tá. Ông mặc đồng phục màu xanh. Nắp túi ngực in chữ Long. Trung tá Cảnh sát Long đã tự sát ở đây, Cộng sản để mặc ông ta nằm gối đầu trên vũng máu. Phóng viên truyền hình Pháp quay rất lâu cảnh này. Lúc tôi đến là 14 giờ 30. Dân chúng đứng mặc niệm Trung tá Long, nước mắt đầm đìa. Những người không khóc thì mắt đỏ hoe, chớp nhanh.

Trung tá Long đã chọn đúng chỗ để tuẫn tiết.

Tiểu sử Trung Tá Nguyễn văn Long.

Qua nhiều bài viết về Trung Tá Nguyễn Văn Long mà chúng tôi có dịp đọc trước đây, chúng tôi vẫn cảm thấy có điều gì đó còn thiếu sót, nếu không muốn nói là chưa thỏa mãn được những gì mà chúng ta muốn biết về Trung Tá Long. Người mà chúng tôi nghĩ đến có thể bổ túc cho những thiếu sót đó không ai khác hơn là cựu Trung Tá Nguyễn An Vinh, nguyên Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc gia Đà Nẳng, người đã có thời gian dài được gần gũi với Trung Tá Long, trong phạm vi Bộ Chỉ Huy Khu I, cho đến ngày 30 tháng 4 năm 1975.

Kính mời quý vị xem bài của cựu Trung Tá Chỉ Huy Trưởng Nguyễn An Vinh:

Sau chính biến 1 tháng 11 năm 1963 lật đổ nền Ðệ nhất Cộng Hòa, Quốc Gia trải qua một thời kỳ hỗn lọan. Tại miền Trung, đặc biệt là Thừa Thiên Huế, hoạt động ngành an ninh trật tự hoàn toàn tê liệt. Chỉ trong vòng chưa đầy 3 năm mà đã thay đổi sáu Giám-Ðốc Nha Công An. Có ông chỉ tại chức 32 ngày. Hai Trưởng Ty Công An Thừa Thiên và Cảnh Sát Huế đều là cơ sở nòng cốt Cộng Sản, một vài tay chân của nhóm Phật Giáo Ấn Quang tranh đấu ly khai xuống đường phá rối. An ninh trật tự hoàn toàn suy sụp.

Ðể đối phó với tình hình rối ren của vùng I, tháng 6 năm 1966 Trung Ương quyết-định bổ nhiệm Thiếu Tướng Nguyễn Ngọc Loan đảm nhiệm chức vụ Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Quốc Gia, và ngay lập tức, ông cho chấn chỉnh lại những hoạt động của Lực Lượng Cảnh Sát Quốc Gia tại địa phương đầy biến động này, đồng thời bổ nhiệm Quận Trưởng Cảnh-Sát Võ Lương giữ chức Giám-Ðốc Cảnh Sát Quốc-Gia Vùng. Quận Trưởng Cảnh Sát Võ Lương là Giám-Ðốc thứ bảy kể từ năm 1963 và là người đầu tiên giữ vững đựơc kỷ cương trật tự sau một thời gian hỗn loạn quá dài. Ðể mau chóng ổn định nhân-sự cũng như hoạt động, Ông cho lệnh di chuyển Nha CSQG từ Huế vào Ðà-Nẳng. Ông cho tất cả nhân viên dễ dàng trong một tháng để thu xếp gia-đình.

Trong vòng một tháng đó, phần đông nhân-viên đã có đủ thì giờ để ổn định việc nhà cửa và chuyện con cái học hành. Chỉ riêng Trung Tá Long, lúc ấy vừa được bổ nhiệm chức Chủ-Sự Phòng An Ninh Nội Bộ kiêm Thanh Tra, là còn loay hoay chưa kiếm ra nơi tá túc cho gia-đình. Hết hạn 1 tháng, Ông không thèm xoay sở nữa mà đã sáng kiến thực hiện một việc cổ kim không giống ai:

Thấy có một khoảng đất công trống trên đường Duy Tân, giữa lòng Thành Phố Đà Nẵng, Ông dựng lên một cái chái lợp tôn, dựa lưng vào bức tường thành của một Công Sở. Ðó là nơi gia đình ông đang cư trú, không điện không nước.

Có hai nhân viên thuộc quyền ghé thăm thấy cả nhà ban đêm thắp hai ngọn đèn dầu lù mù, họ rủ nhau hùn tiền mua đến cho ông một cái đèn Manchon. Ông từ chối nhất định không lấy, nói thế nào ông cũng không chịu, bắt họ đem đi trả lại.

Câu chuyện nhà ông Long thắp đèn dầu được nhiều người kể đi kể lại ở sở. Một hôm nhân có dịp ngồi chung xe với ông Giám Ðốc lên họp Quân Ðoàn, tôi kể Ông nghe câu chuyện về cái đèn Manchon. Ông Giám Đốc lắc đầu nói:

“…tính của Long là vậy, tôi biết chả từ lâu, từ hồi còn làm bên Công An Liên Bang. Ðó là một người rất tốt, thanh liêm và cương trực, đông con nhà nghèo…”. Từ lúc đó cho đến khi vào họp Ông không nói thêm lời nào. Ông lặng lẽ, dường như có điều tính toán suy nghĩ, ngó mông lung ra ngoài đường. Tuần lễ sau, tôi ghé nhà Long thăm đã thấy có điện nước. Hỏi ra thì biết trong lúc Ông Long đi làm, có 2 người tới bắt cho 2 bóng đèn và 2 lỗ cắm điện, một vòi nước. Họ không lấy tiền cũng không cho biết ai sai tới. Tôi biết ngay là do sự can thiệp kín đáo của Ông Giám đốc. Biết Ông không ra mặt tôi cũng làm thinh luôn.

Liền sau đó, trong một phiên họp khoáng đại, ông Giám Ðốc hỏi nhỏ tôi, nhà Long có điện chưa. Tôi trả lời có rồi, có cả nước nữa. Ông gật đầu, mỉn cười nhìn về phía Long, nét mặt hiền lành khoan dung. Ông vui vì đã giúp được thuộc cấp một việc tuy nhỏ nhưng rất cấp bách cần thiết. Tính Ông quảng đại, kín đáo và chi-tiết. Nhiều khi làm ơn từ việc nhỏ đến việc lớn, không cần cho ai biết.

Dạo ấy, vì cơ sở mới dọn từ Huế vào, phòng ốc chưa đủ, Ông Giám-đốc cũng không có tư dinh phải ở tạm một phòng trong khách sạn Grand Hotel trên đường Bạch Ðằng. Trong khách sạn có sẵn Restaurant. Ông thường dùng bữa vớí nhiều viên chức khác ngành, vừa ăn vừa luận bàn công việc. Những lúc không mời ai, Ông gọi tôi tới ăn cơm chung. Nhờ có chút khả năng giao-thiệp, quen biết nhiều người và luôn sẵn những chuyện tếu vô hại, Ông thường ngồi nhiều giờ với tôi, bàn về đủ mọi thứ, phần lớn là những việc trên trời dưới đất, không dính dấp gì tới công vụ. Nhân một lúc vui vẻ, cởi mở, tôi nhắc lại chuyện Trung Tá Long và hỏi Ông lý do không cho Long biết việc Ông can thiệp bắt điện nước vào nhà. Ông cườì rồi từ từ kể. Sau đây là những gì Ông Giám đốc Võ Lương nói về Trung Tá Nguyễn Văn Long:

“…Tôi biết Long từ những thập niên 1940, khi Giả (tiếng thông dụng miền Trung có nghĩa là Anh ấy, Ông ấy) mới gia-nhập Ngành An ninh thời Tây. Giả nổi tiếng1à siêng năng cần mẫn, kỷ-luật và trong sạch. Lương bổng không đến nỗi tệ nhưng gia-đình đông con lại suốt đời không tơ hào những bổng lộc phi nghĩa nên thời nào cũng nghèo. Cả đời ở nhà mướn. Ðúng ra, trước năm 1963 Giả cũng có một căn nhà tương đối được, ở đường Phạm Hồng Thái, Thành Phố Huế. Nhà này có từ nhiều năm trước, có thể do cha mẹ để lạị. Trước đảo chánh Ông Diệm, Giả bị bắt giam trong vụ Gián Ðiệp Miền Trung do Phan Quang Ðông điều tra khai thác. Trong thời gian bị ngưng chức không lương tiền hàng tháng, bà vợ đã phải bán căn nhà này để đong gạo cho gia đình…

…Giả sống rất chừng mực, lương thiện, không có khả năng xoay xở, lại càng không muốn xoay xở bậy bạ. Nhũng lúc gặp khó khăn thì cắn răng chịu đựng, không hề muốn nhờ vả ai. Giả rất khó chịu khi phải chịu ơn người khác. Ðiều này giải thích được tại sao tôi không trực tiếp cho biết đã nhờ người bắt điện nước cho gia đình Giả. Chuyện nhỏ không muốn Giả có mặc cảm mang ơn….

… Là viên chức kỳ cựu, phuc vụ trong ngành đã hơn 20 năm, Long có khá nhiều cơ hội để khá hơn, nhưng cơ hội nào Giả cũng bỏ qua, có khi còn quyết liệt từ chối thẳng tay, nên đến bây giờ vẫn sống chật hẹp với đồng lương của một công chức.

… Giả bị bắt giam trong vụ Gián Ðiệp Miền Trung năm 1962 nên sau khi Chính Phủ Ngô Ðình Diệm bị lật đổ, Long được cử ngay làm Trưởng Ban Công Tác Ðặc nhiệm điều tra tội ác và tài sản chế độ cũ cũng như của nhóm Cần Lao. Nhiều người cứ tưởng dịp này Long tha hồ ân oán giang hồ. Nhưng trái với mọi suy đoán, Long hành xử trách nhiệm hoàn toàn vô tư, không nghe lời xúc xiểm, không thành kiến, cũng như không bới lông tìm vết. Ðể tránh mấy tay môi giới chạy chọt xin xỏ đút lót lôi thôi, Long cắm trại luôn trong sở, thật khuya mớí lạch cạch đạp xe về nhà. Dạo ấy cả gia-đình theo đạo Công Giáo, nhà thuê ngay kế bên Dòng Chúa Cứu Thế Huế. Nhà Long cửa đóng then cài. Long không tiếp bất cứ ai.

…Năm 1965, Long đưọc bổ nhiệm làm Trưởng Ty Công an Ðặc Biệt Bến Hải, đóng dọc theo Nam Vĩ Tuyến 17 thuộc Quận Trung Lương, Tỉnh Quảng Trị. Nhận việc chưa bao lâu thì Phòng Lương Bổng, Vật Liệu , Kế Toán đưa cho Giả một phong bì đầy tiền. Long hỏi cái gì thì họ cho biết, như thông lệ từ trước, đây là số tiền bán bớt xăng nhớt và văn phòng phẩm nạp cho Trưởng Ty làm mật phí giao tế. Giả đỏ mặt, trợn mắt đòi bỏ tù cả đám. Từ đó hết ai dám léng phéng chuyện tiền nong lem nhem với Long…”

Kể đến đây Ông Giám Ðốc cườì thành tiếng và nói đùa: “…Nếu Long chịu nhận vàì ba mớ phong bì như thế thì đâu đến nỗi bây giờ phải cắm dùi đường Duy Tân. Nên nhớ Long đang là chức Trưởng Ty khi được lệnh di chuyển từ Quảng Trị vào Ðà-Nẵng. Một Ông Tưởng Ty mà ngày trước ngày sau phải ở bụi ở đường thì thế gian chỉ có một Nguyễn văn Long mà thôi, không có người thứ hai. Bổ nhiệm Long vào chức An Ninh Nội Bộ và Thanh Tra, tôi yên tâm nhưng cũng có nhiều anh khó chịu không vui đấy…”

Khi tôi hỏi về Vụ Gián Ðiệp Miền Trung , Ông cho biết vụ ấy không hẳn là có thật mà chỉ do Pháp cố ý dựng chuyện lên để phá thối. Công việc của Phan Quang Ðông là huấn luyện và tung mạng lưới tình báo gián điệp ra Bắc hoạt động vùng Thanh Nghệ Tĩnh mà thôi. Ðông không dính líu gì đến vấn đề nội chính và an ninh quốc nội. Ðông bị xử tử hình để bịt miệng, do áp lực từ Cộng Sản trong nhóm tranh đấu, gây rối Mìền Trung. Không có vụ gián điệp thì Ðông cũng bị giết.

Hình như Long biết sự kiện này cho nên ngày xử bắn Phan Quang Ðông tại Sân Vận Ðộng Chi Lăng, mấy người bạn cùng vụ rủ Long đi coi, Long từ chối. Long nói:

“…chuyện Ðông có những điều chưa minh bạch, xét xử vội vàng và có quá nhiều áp lực. Ðông đâu đáng tội chết! Vả lại oán thù nên cởi, không nên buộc… Ông Giám Ðốc kết luận:…Long khắt khe sắt thép với chính mình nhưng khoan dung nhân hậu, công bằng và rộng lượng với kẻ khác, cả với kẻ vừa mới giam giữ mình…”

Năm 1970 , tôi bàn giao chức Chỉ Huy Trưởng cho Thiếu Tá Trần Hàng để ra Ðà-Nẵng. Vừa nhận việc chưa được bao lâu thì Thành Phố chịu một cơn bão lụt Sóng Thần khủng khiếp chưa từng thấy trong cả trăm năm. Mưa như trút nước. Sóng biển gầm thét dữ dội. Một phần đường trong thành phố ngập nước quá đầu gối. Giáp ranh phía Bắc Thành Phố là Bãi Thanh Bình thành một vùng nước mênh mông. Nhưng ngặt nghèo và nguy hiểm nhất là khu tạm cư Ngọc Quang. Khu này là một giải cát bồi thoai thoảỉ nằm dài giửa Bãi Thanh Bình và biển cả, không một bóng cây. Từ tầm xa nhìn tới , toàn khu hoàn toàn biến mất, chỉ còn thấy lác đác ít nóc nhà nhấp nhô theo sóng dữ. Gió rất mạnh, thổi giật từng cơn. Bộ Chỉ Huy Cành Sát Quốc Gia huy động toàn bộ lực lượng cơ hữu như Giang Ðoàn và trưng dụng thêm một số ghe thuyền tư nhân trong nỗ lực di tản dân chúng vào khu an toàn, lúc ấy là sân Trường Kỹ Thuật ở đường Cao Thắng và chung quanh 2 Thánh Ðường Họ Giáo Ngọc Quang và Giáo Xứ Thanh Ðức.

Qua máy truyền tin, Giang Ðoàn cho tôi biết gia-đình Trung Tá Long ở vào một khu nguy hiểm nhất. Nhà có thể bị cuốn trôi ra biển bất cứ lúc nào. Cả gia-đình đã lên được đất liền nhưng Trung Tá Long đang ngồi trên một cái chõng tre, tay cầm chai rượu thuốc, nói là để ở lại giữ nhà, không chịu đi đâu hết. Tôi nghe mà lạnh người. Cũng lại cái “Ông Trời sợ” này nữa. Tôi không thể quên vụ Ông cắm dùi ở đường Duy Tân năm nào và việc Ông Giám Ðốc Võ Lương kín đáo giúp đỡ bắt điện nước cho Long.

Tôi nhờ Giang Ðoàn ra tận nơi, đưa máy truyền tin cho tôi nói chuyện với Long. Nghe tiếng tôi, Ông nói ngay: Chào Ông Chỉ Huy Trưởng, tôi không sao đâu. Sau một hồi giải thích gần như năn nỉ, cuối cùng phải viện dẫn lý do an ninh cũng như xin Ông hợp tác để làm gương cho đồng bào. Cuối cùng Ông mới chịu vào bờ.

Dọn dẹp bão lụt xong, dân chúng lo sửa sang những thứ đỗ nát. Tôi điện thoại cho Ông hỏi thăm nhà cửa hư hại ra sao. Ông trả lời tỉnh bơ: Nhà chỉ có mấy tấm ván, xẹp xuống rồi dựng lại lên, có chi mà hư hại. Tuần này tôi xin nghỉ mấy ngày phép và mất một mớ đinh là xong ngay.Tôi bái phục cái thái độ bình tâm giản dị gần như bất cần của Ông, nhưng quyết định phải ra tận nơi coi cho biết. Tôi mặc thường phục cùng với mấy tay bài trừ du đãng đi Honda, luồn lách ra Ngọc Quang. Tới nhà Ông Long, tôi hết hồn.

Căn nhà của Ông chỉ là một tác phẩm chắp nối vội vàng và lỏng lẻo gồm mọi thứ tạp nhạp không đáng gọi là vật liệu, góp nhặt từ nhiều nguồn gốc khác nhau. Nhà nằm lọt vào khu vực tạm cư hỗn độn gồm các gia đình đổ về từ những vùng quê Quảng Nam mất an ninh. Giây điện và giây phơi áo quần chằng chịt. Rất mau, tôi vụt nhớ đến một bản báo cáo của Cảnh Sát Ðặc Biệt về việc Cộng Sản cài người vào dân tị nạn và vụ xe ông Trưởng Phòng Ðặc Biệt Nha tên Diệp đi mua vật liệu bên Quận Ba bị đặt Plastic chết banh xác trên gần Chợ Cồn năm nào. Thương Ông, tôi nhất định phải đưa Ông vào thành phố.

Ngay ngày hôm sau tôi nhờ các Phường Quận tìm dùm một miếng đất cho Ông Long cất nhà. Các nơi tìm được khá nhiều nhưng tôi chọn ra 4 chỗ. Tôi lái xe đưa Ông đi xem. Cả 4 chỗ Ông không chê nhưng ngần ngại không quyết định, viện dẫn nhiều lý do nghe cũng được. Chuyện không thể chậm trễ, tôi nói ngay: hay là Ông vô ở chung với tôi. Ông cười khẩy, tưởng tôi bực mình nói lời mỉa mai. Sự thực khi nói câu đó, tôi nghĩ đến khu đất trống sau tư dinh dành cho gia đình Chỉ Huy Trưởng số 37 Nguyễn Thị Giang, ngay trung tâm thành phố, sát tường rào Trường Nam Tiểu Học, có thể mở lối đi riêng. Tôi chỉ cho Ông. Ông chịu liền nhưng còn bán tín bán nghi. Ðể xác nhận không phải chuyện bông đùa, tôi đưa Ông tới một trại cây đường Phan đình Phùng, nói với bà chủ chọn cho Ông một số cây ván thứ tốt, hoá đơn gởi cho tôi. Tới đây Ông mới tin là chuyện thật và bắt tay tôi vui vẻ, nói lời cám ơn.

Không chờ đợi lâu, Ông cho tháo căn nhà từ Ngọc Quang, cha con chồng vợ cả gần chục người hớn hở dựng căn nhà mới. Chỉ trong vòng chừng 2 tuần là xong, điện nước từ nhà tôi câu qua. Gia đình Ông Long vui vẻ đã đành, phần tôi cũng vui không ít.

Những ngày tiếp theo, tôi chờ hoài không thấy trại gỗ đưa hóa đơn tới, hỏi ra mới biết: thấy tôi tận tâm, nể mất lòng, Ông chỉ lấy một ít ván gắn vào mặt tiền coi cho được còn bao nhiêu Ông mua các thứ tạp nhạp từ một bãi phế thải ở đường Ông Ích Khiêm chở mấy xe Ba Gác về, đóng phía trong phía ngoài khá tươm tất. Một lần nữa tôi cảm phục tính lương thiện và sòng phẳng của Ông. Dọn vào nhà mới xong, ít lâu sau Ông thăng Trung Tá và được bổ nhiệm Chánh Sở Tư Pháp, tiếp tục phục vụ tại Bộ Chỉ Huy Vùng. Từ đây Ông yên tâm ở bên cạnh nhà tôi và tôi cũng có cơ hội làm một chút quan sát:

Nhà Ông rất đông con. Một vợ một chồng, sinh 12 lần, nuôi 13 đứa, có cả cặp sinh đôi sau cùng, một trai một gái. Ông còn cưu mang thêm một đứa cháu mồ côi, anh nó đi lính tận trên Pleiku, giao luôn cho Ông giữ. Chưa hết. Nhà còn có thêm một con heo con. Bà Long nói phải nuôi thêm con heo làm lợi, cho đứa cháu mồ côi thêm tiền ăn học. Chuyện nhà Ông Long nuôi heo nhiều người không tin, đòi đến coi. Làm gì giữa thành phố, ngay cạnh tư dinh Chỉ Huy Trưởng Cảnh Sát mà lai có người dám nuôi heo. Ai nói gì thì nói, hiểu rõ hoàn cảnh gia-đình, cùng cái lý do chân thật và tội nghiệp đối với Bà Long, tôi không phản đối. Mấy đứa con nhỏ của tôi cũng rất ưa thích con heo. Ði học về, tụi nhỏ chạy sang xem, cho heo ăn, trầm trồ khen heo sạch sẽ và mau lớn. Thấy các con ưa thích, tôi cũng vui. Bà Long lại càng vui hơn.

Ông Long dạy con rất nghiêm nhưng không hề ồn ào to tiếng. Ông ưa nói chuyện gương trung liệt người xưa và lấy chuyện sách đèn của các con làm trọng. Ông thường dặn con: dù hoàn cảnh nào cũng ráng kiếm cho được ba mớ chữ. Câu Ông thưòng nhắc đi nhắc lại với các con là: Khi nào cái đầu cũng ở trên. Cái đầu phải có kiến-thức để điều khiển toàn thân làm những việc khá hơn là việc tay chân lao động.

Những lúc rảnh rỗi nhà tôi hay sang chơi, khen mấy cháu học giỏi và thường dấm dúi cho các em chút đỉnh tiền để khi thì mua cái cặp sách, khi thì mua bộ áo quần. Ðặc biệt đứa cháu mồ côi là nhà tôi thương nhất. Ông Long có mấy con đã trưởng thành. Hai anh đi không quân, một thiết giáp, ba Cảnh Sát. Đứa đầu lòng tên Phụng, Sĩ Quan Biệt Ðộng Quân, tử trận. Thỉnh thoảng các cháu về phép, nhà tôi thường dặn dò phải cận thận giữ mình, đôi khi còn có chút ít tiền cho các cháu cà phê. Những cử chỉ thương yêu nhẹ nhàng kín đáo như thế chỉ có các con và Bà Long biết, Ông Long thì không. Qua tôi, nhà tôi đã hiểu tính Ông Long rất tự ái và không ưa nhờ vả ai, dù là từ những người thân.

Trong năm năm sống cạnh nhau, Ông Long chỉ sang nhà tôi có một lần, đi chung với Ông Võ Hoàng, anh Ông Giám Ðốc Võ Lương. Lúc ấy tôi vừa cho thêm một người bạn khác, Ông Huỳnh Giáo cựu Trưởng Ty Công-An Quảng Tín làm căn nhà đằng sau , phía bên phải. Nhà Ông Long bên trái. Ông Võ Hoàng là một nhà phong thủy cho biết hai căn nhà phía sau Tư dinh là một phối trí phong thủy tuyệt hảo, che chắn hết mọi bất trắc, rủi ro, không sợ đao kiếm cùng kẻ xấu chém lén sau lưng. Ông Chỉ Huy Trưởng sẽ yên vị tại chức lâu dài. Tôi không biết nhiều về phong thủy, cũng không hẳn tin. Tôi chỉ muốn làm một việc tử tế khi có cơ hội để giúp cho hai người bạn mà tôi rất thương yêu và mến phục.

Sống bên nhà tôi lâu như thế mà gia-đình Ông Long không bao giờ xin “ân huệ” cho mình cũng như cho bất cứ ai. Họ sống lặng lẽ, âm thầm gần như cam chịu. Bà Long thường nói đây là căn nhà vừa ý nhất từ trước đến nay và ao ước được ở đây mãi mãi.. Niềm ao ước bình thường giản dị ấy không được bao lâu thì Ðà-Nẵng thất thủ, cuối tháng ba 75. Tai trời ách nước đổ sập xuống, chúng tôi tan tác mỗi người một nơi.

Tôi thoát đi được trong gang tấc, theo một tàu Mỹ vào Cam Ranh. Tại đây dùng tàu đò dân-sự vào Vũng Tàu. Khi vừa mới từ bờ ra lại biển khơi, tôi gặp Ông Long đi trên một ghe đánh cá từ Ðà-Nẵng vào. Tôi đổi tàu cùng Ông xuôi Nam. Về đến Saì-Gòn chia tay mỗi người một ngã. Tôi tìm cách cùng gia đình thoát thân lần nữa. Qua tới Guam được mấy ngày thì được tin Long tự sát. Tôi bàng hoàng xúc động, thương Ông suốt một đời lận đận và kết thúc tức tưởi thế kia. Từ đó tôi bị thúc bách và tự cho như có bổn phận phải tìm thêm tin tức của Long:

Ở Mỹ, tôi theo dõi các báo lớn ngoại quốc có đăng trang bìa hình Long tự sát trước tượng đài Thủy Quân Lục Chiến khu tiền đình Trụ Sở Quốc Hội, sắc phục và cấp bậc Sĩ Quan Cảnh Sát ngay ngắn đàng hoàng, nhưng không có báo nào nói xác Long ai đem đi đâu. Tôi cứ nghĩ thi thể vô thừa nhận đã bị vùi dập ở một xó xỉnh nào.

Nhưng không. Khoảng hơn hai tuần sau, Bà Long nhận đươc giấy báo vào nhà thương Grall nhận xác. Nguyên do là khi tuẫn tiết, trong túi áo Long có thẻ căn cước địa chỉ 37 Nguyễn Thị Giang, Ðà-Nẵng. Nhà thương cứ theo địa chỉ đó mà báo tin. Tôi nhớ là cái căn cước bọc nhựa ấy tôi đổi lại cho Long khi vừa mới dọn vào ở chung, đặc biệt có chữ ký của tôi làm kỷ niệm, không phải chữ ký của Thiếu Tá Chỉ Huy Phó như những căn cước khác. Tự nhiên tôi có chút suy nghĩ sao mà cái việc nhỏ nhặt như việc đổi cái thẻ căn cước bọc nhựa năm xưa lại đưa đến một sự việc quá quan trọng như thế. Cái căn cước có chữ ký của tôi đó không phải vì nhu-cầu mà chỉ vì chút cảm tình, nhưng lại chính nhờ nó mà gia-đình nhận đươc xác của Long. Ðây có phải chỉ là một diễn tiến tình cờ hay là một tính toán cẩn thận của Long. Giả thuyết thứ hai hợp lý hơn.

Ðà-nẵng mất mau quá, Long chưa kịp lãnh lương tháng ba nên nhà không có tiền vào Sàigon. Tội nghiệp chỉ có cô Tâm, con thứ ba vào nhận xác. Tới SàiGòn ngày 17 tháng 5 cô Tâm cùng với một người chị thứ hai tên Ðào và người em gái tên Thuận đang làm việc ở Sai-Gòn tới nhà thương Grall. Tại dây nhân viên Bệnh Viện, như có được lệnh của Ban Giám Ðốc, đã dành mọi dễ dàng, chỉ vẽ tận tâm chu đáo và tỏ ra có thiện cảm đặc biệt với người chết. Họ tắm rửa, thoa thuốc, uốn nắn và chăm sóc thi thể nhẹ nhàng tử tế đến độ làm các con cảm-động và ngạc nhiên. Ngày chôn cất có ban hậu sự Nhà Thương sắc phục và xe tang đàng hoàng, khoan thai đưa tiễn tới Nghĩa Trang. Tất cả đều hoàn toàn miễn phí. Thi hài được mai táng tại Nghĩa Trang Giáo Xứ Công Giáo Bà Quẹo với đầy đủ lễ nghi tôn giáo. Có Linh-Mục đến làm phép xác. Rõ ràng là cái chết công khai và lẩm liệt của một Anh Hùng vị Quốc vong thân, ngay lập tức đã có người trân trọng. Ít năm sau gia đình cải táng. Lần này thì khăn tang trắng một vùng, đầy đủ vợ và các con, các cháu, xác được hỏa thiêu. Tro ký thác tại Nhà Thờ Dòng Chúa Cứu Thế Sài-Gòn, đường Kỳ Ðồng.

Nguyễn An Vinh (Cựu CHT/CSQG Đà Nẵng)

 

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Đâu là sự thật về người thương binh VNCH trong tấm ảnh lịch sử?

Sự Thật về người thương binh VNCH

trong tấm ảnh lịch sử

Sau bài Phóng Sự của NS Tuấn Khanh (ở trong nước, không phải nhạc sĩ Tuấn Khanh, tác gỉa ‘Hoa Soan Bên Thềm Cũ’ ở hải ngoại) đi tìm sự thật về người thương binh VNCH trong tấm ảnh lịch sử phổ biến trên nhiều trang mạng (CNN-K1 có đăng lại), đã có nhiều ý kiến phản hồi cho rằng ông Võ Phùng Dương không phải là người thương binh trong tấm ảnh như bài báo đã viết.

Dưới đây là nhận định của một người tên Phạm Thanh, một trong những người cho rằng ông Võ Phùng Dương không phải là người trong hình. Nội dung đó như sau:

Theo bài báo đã dẫn và theo lời ông Dương:

“… 1 – Tấm hình được chụp ngày 30.4. 1975.

2– Được chụp bởi một người thương binh VNCH củng bị đuổi ra từ Tổng Y Viện Cộng Hoà, chujp bằng máy Kodak.

(máy chụp khi đó là máy to , replex hoặc telemetcouple , thường phải là người có hiểu biết về độ sáng / tốc độ chập… thì mới dám chơi máy hình, vì tiền phim negative cùng tiền rửa hình là rất tốn kém, hoàn toàn khác với chuyện “chộp hình” ngày nay…

30.4.75… đeo cái máy ấy bên người ra ngoài đường… là bị dí súng tức khắc, nhất là lại mặc… quân phục.)

3 – Ngươi chụp và ngươi được chụp mất hẳn liên lạc với nhau đến tận bây giờ.

4– ông Dương xác nhận đơn vị là BIệt Động Quân Liên Đoàn 3 , địa bàn hoạt động của Liên Đoàn Ba BĐQ là vùng Sài gòn Thủ Đức, Bình Trước , Biên Hoà, An Lộc, Bình Long, thuộc Quân Khu 3. (Tuấn Khanh viết lộn là Long Bình. Long Bình chỉ là hậu cứ của một Liên Đoàn, sau 1972).

Có vài điều mâu thuẫn :

Quân phục ngươi trong hình là Quân Phục Bộ Binh của các Sư Đoàn Địa Phương. Trên vai áo còn rõ hình “Quân Đoàn 2” .

– Quân Đoàn 2 là địa bàn Tây Nguyên đổ ra biển Qui Nhơn Nha Trang Cam Ranh. Địa bàn này đã tự giải tán các binh đoàn từ cuối tháng 3 đầu tháng 4.

– Tấm hình chụp một thương binh Quân Đoàn 2 Còn Mang Dây Đeo Thẻ Bài, chống nạng đơn (nghĩa là không thể cụt hẳn một chân), mang ba lô còn đầy căng và vết băng còn rất mới ở tay… rất khó có thể thuyết phục là Chụp ngày 30 tháng Tư khi bị tống ra khỏi Tổng Y Viện Cộng Hoà (Sài Gòn).

Đây nhiều phần trăm là thương binh vừa rời một chiến trường của Vùng 2 Chiến Thuật (Tây Nguyên Quy Nhơn Nha Trang), ít nhất là 1 tháng trước 30.4.

Ở Tổng Y Viện Cộng Hoà (Sài gòn), khi bị đuổi ra, khó có ai là còn mặc quân phục. Vì :

1- bệnh binh giải phẫu từ chiến trường về , các y tá đều tắm gội sạch sẽ và mặc y phục bệnh nhân.

2- Nếu có thương binh nhẹ , khi bị đuổi ra, cộng quân cũng bắt buộc thương binh phải tự lột quân phục . (tôi chứng kiến trong nước mắt cả nửa buổi, cảnh tân binh vnch phải tự lột quân phục trước ống kính VC, tại cổng căn cứ Quang Trung)!

3- Đặc biệt giây đeo Thẻ Bài! Bọn “Công An30” và bộ đội cs chúng sẽ giật phăng ngay nếu nhìn thấy sợi dây cài đính trong cưc áo ngực như thế.

4- không thể có tình trạng thương binh giải phẫu cưa chân mà còn mang quân phục “model” như thế ( là quân phục đã đem ra tiệm may đo đạc cắt sửa, cắt tay áo… cho bó sắt người , model thời ấy ).

6- BĐQ liên đoàn 3 (địa bàn vùng Ba chiến thuật , An Lộc Bình Long , Sông Bé … rất khó chịu mặc đồ Bộ Binh đơn thuần, nhất nữa lại là của Quân Đoàn khác .

Tóm lại : Tôi không tin là tấm ảnh này là ảnh chụp “Ông Dương thương binh cưa chân tháng 2/1975, chụp ngay khi bị đuổi ra khỏi Tổng Y Viện Cộng Hoà 30.4.1975, một quân nhân của Liên Đoàn 3 BĐQ khét tiếng An Lộc Sơn !

Ngoài ra còn có một ý kiến khác của Uyên Vũ xác định tấm hình của hãng thông tấn AP được chụp vào ngày 29/4/1975 chứ không phải ngày 30/4/1975: “Theo link dưới ghi chú về tấm hình này (nguyên văn): “A crippled South Vietnamese war veteran limps away on crutch with food looted from abandoned U.S. installations after evacuation of Saigon, April 29, 1975. (AP Photo)” https://bismarcktribune.com/…/collection_7056b62e-67f2…

(Bài sưu tầm trích từ Fb Quang Caumuoi)

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Hello May

wpid-hello-may-images-3-465x309

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bạn nghĩ gì về bài viết này?