Order 4 bộ “Covid Home Tests”

Các bạn thân mến.
Tôi vừa apply cho 4 bộ test covid tại nhà và order sẽ ship đến trước Tết âm lịch.
Vậy xin gởi tiếp cái link dưới đây để các bạn mình apply sớm để ăn Tết mừng xuân vui vẻ. Rất dể, chỉ cần click vào cài link dưới đây rồi điền địa chỉ của gia đình mình là xong, khoảng 3 phút thôi. Nhanh tay để có test về sớm.
Chúc may mắn,

COVID Home Tests | USPS

COVID Home Tests | USPS

COVID Home Tests | USPS

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bình luận về bài viết này

Chuyện vui cười xả tress -Võ Thiệu sưu tầm

CHỊ DẬU THOÁI VỐN

unnamed (9)

Nghe tiếng chó sủa, Nghị Quế nhìn ra thấy chị Dậu tay cắp rổ Chó con, tay đẩy cổng bước vào.

Nghị vội bước ra sân, quát:
– Mày đến đây làm gì, hả con mụ Dậu kia?

Chị Dậu khép nép để rổ Chó xuống đất, lí nhí:
– Dạ bẩm ông! Nhà con hết gạo nên con đem mấy con chó này đến đây xin thoái vốn ạ!
– Thoái vốn là sao?
– Dạ, ông đưa tiền cho con rồi lấy mấy con chó này ạ.
– Đệch bố! Mày đến đây bán chó thì nói bán chó mẹ nó đi! Bày đặt thoái vốn với thu hồi vốn!
– Ậy, ậy… dạ, con sợ nói bán thì chính quyền nhân dân họ bắt bỏ tù đấy ạ.
– Mày láo! Bán chó thì chính quyền nào bắt bỏ tù?
– Dạ, con thấy ở thiên đường này chỉ có người mua là không bị gì, còn người bán đều bị xử tù hết đấy ông ơi!

Nghị Quế nổi giận chỉ tay vào mặt chị Dậu quát:
– Con Dậu kia! Mày vu khống chính quyền nhân dân chúng tao à?
… Mua bán phi pháp đều phạm tội đồng lõa như nhau, tại sao chính quyền của ông chỉ bắt người bán mà tha cho người mua, hử …?…

– Dạ con thấy chính quyền ông chỉ bắt người bán dâm, bán ma túy, bán bằng đại học…. chớ có bắt mấy người mua mấy thứ ấy đâu? Có khi chính quyền còn đưa họ vào diện bí mật quốc gia, chứ chưa ai được biết danh tính mấy ngài mua dâm ngàn đô, mua bằng đại học… hết ạ. Bởi, con sợ vậy nên mới nói thoái vốn thay vì bán chó!

Nghị Quế lúng túng vì câu hỏi của chị Dậu nhưng vẫn lên giọng:
– Chính quyền của ông là chính quyền chuyên chính! Bán thì nói bán, việc quái gì phải sợ thằng Tây nào!
– Dạ, chính quyền ông chuyên chính thế sao bán rừng ông hô chuyển đổi mục đích sử dụng? Bán cảng biển, bán đất ông hô chuyển quyền sử dụng? Bán công ty bia SG, bán tập đoàn sữa Vinamilk… ông hô thoái vốn? Bán hãng xưởng, bán xe công… ông gọi thanh lý ??

Nghị Quế mặt đỏ gay đập bàn thét lớn:
– Á, Á…. Mày đến đây bán chó hay chất vấn ông hả con Dậu kia? Lính lệ đâu, lôi cổ nó ra nọc…….

( Sưu tầm…bậy…)

……………….. ……………….

Thân mến

TQĐ

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bình luận về bài viết này

Hội Ngộ cuối đời

Các bạn K1 thân mến,
Các bạn xem và hãy nhớ người nầy là ai.
Nếu không nhớ thì đọc các comments phía dười ( copy từ FB của bạn Nguyễn Văn Hoàng ở Virgina.)

272038542_6678327305571147_3254329875561565136_n

271963051_6678326992237845_1703360222880668066_n

Hoang Nguyen:       Gap lai ban cu hon 40 nam.. Khoa 1 /HVCSQG..Tai Virginia.    .hom nay Jan 15 2022..NGUYEN VAN QUI..
Quang Le:        Ai đây vậy Hoàng? Mình thấy quen mà không nhớ tên?
Hoàng Nguyen Quang Le         Qui..khoa 1/BTV..chung minh..
Quang Le Hoang Nguyen     Quý Hạnh? Anh em Bến Cũ có cho biết đá về VN sống? Khác nhiều quá. Mong gap hắn.
Christine Tran        Phải Anh Quí trước ở đây rồi dọn đi Cali không Anh ?
Toan Pham:      Quí đội hầu cờ phải không?
Hoang Nguyen Toan Pham        Dung. QUI..001..chong cua Hanh..1/BTV
 Niem K Phan         sao no mac do giong dai can qua. Nhin khong ra.
 Vinh C. Nguyen       Nhìn không nhớ là ai. Hoàng có thể nói rõ hơn cho anh em được biết
Toan Nhu  Vinh C. Nguyen       Nguyen Văn Quý thủ khoa BTV k1
Hoang Nguyen Vinh C. Nguyen       Qui..chong Hanh/khoa 1/BTV
Vinh C. Nguyen       Mình cũng đoán vậy nhưng giờ thấy lạ quá. Mà mặc đồ giống ông Cha quá.
Toan Pham       Sau hơn 1/2 thế kỷ khg gặp lại, trông hắn xa lạ quá, khg còn nhận ra. Quí đã ở SG và sang chơi phải khg? Đại gia SG có khác.
Quang LeToan Pham       Đúng đó Toán.
Hoang Nguyen Toan Pham      ve My..o luon..vi co o VN..da qua doi…gio 80 tuoi o My..co y te tot..
Quang Le       Thằng Quý vậy mà còn khôn. Haha!Haha.

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bình luận về bài viết này

Có một thời như thế đó – tác giả Vũ Đông Hà Montreal

CÓ MỘT THỜI NHƯ THẾ ĐÓ!

Vũ Đông Hà  (Cộng Đồng NVQG Vùng Montreal) 8/05/2017

Nếu ai hỏi tôi rằng sau ngày 30 tháng 4, 1975 cái gì mà cộng sản không thể “giải phóng” được; cái gì vẫn âm thầm nhưng vũ bão giải phóng ngược lại tâm hồn khô khốc của người dân miền Bắc lẫn nhiều cán binh cộng sản; cái gì vẫn miệt mài làm nhân chứng cho sự khác biệt giữa văn minh và man rợ, giữa nhân ái và bạo tàn, giữa yêu thương và thù hận; cái gì đã kết nối tâm hồn của những nạn nhân cộng sản ở cả hai miền Nam Bắc… Câu trả lời là Âm Nhạc Miền Nam.

Nếu ai hỏi tôi, ảnh hưởng lớn nhất để tôi trở thành người ngày hôm nay, biết rung động trước hình ảnh của Ngoại già lầm lũi quang gánh đổ bóng gầy dưới ánh đèn vàng, biết nhung nhớ một khe gió luồn qua hai tấm ván hở của vách tường ngày xưa nhà Mẹ, biết man mác buồn mỗi khi đến hè và trống vắng với một tiếng gà khan gáy ở sau đồi, biết tiếc nuối một mặt bàn lớp họckhắc nhỏ chữ tắt tên người bạn có đôi mắt người Sơn Tây, biết ngậm ngùi trăn trở chỉ vì một tiếng rao hàng đơn độc đêm khuya… Câu trả lời là Âm Nhạc Miền Nam.

Âm Nhạc Miền Nam đã trở thành một chất keo gắn chặt cuộc đời tôi vào mảnh đất mang tên Việt Nam. Âm Nhạc Miền Nam đã làm tôi là người Việt Nam.

*Tôi lớn lên theo những con đường đất đỏ bụi mù trời và cây reo buồn muôn thuở. Niềm say mê âm nhạc đơm mầm từ các anh lớn của Thiếu và Kha đoàn Hướng Đạo Việt Nam, trổ hoa theo những khúc hát vang vang của các anh giữa vùng trời Đạt Lý đang vào mùa cà phê hoa trắng nở: *”Tôi muốn mọi người biết thương nhau. Không oán ghét không gây hận sầu. Tôi muốn đời hết nghĩa thương đau. Tôi muốn thấy tình yêu ban đầu…”* Các bậc đàn anh như nhạc sĩ Lê Hựu Hà, Nguyễn Trung Cang của Phượng Hoàng đã lót đường nhân ái cho đàn em nhỏ chúng tôi chập chững trở thành người, để biết ngước mặt nhìn đời và *”cười lên đi em ơi, dù nước mắt rớt trên vành môi, hãy ngước mặt nhìn đời, nhìn tha nhân ta buông tiếng cười…”* Những đêm tối, giữa ngọn đồi nhiều đại thụ và cỏ tranh, bên nhau trong ánh lửa cao nguyên chập chờn, chúng tôi cảm nhận được niềm hãnh diện Việt Nam với bước chân của cha ông và bước chân sẽ đi tới của chính mình: *”Ta như giống dân đi tràn trên lò lửa hồng. Mặt lạnh như đồng cùng nhìn về một xa xăm. Da chân mồ hôi nhễ nhại cuộn vòng chân tươi. Ôm vết thương rĩ máu ta cười dưới ánh mặt trời…”* Và anh Nguyễn Đức Quang, người nhạc sĩ của thị xã đèo heo hút gió đã trở thành thần tượng của chúng tôi. Có những buổi chiều buông trong Rừng Lao Xao bạt ngàn, những đứa bé chúng tôi theo anh ngậm ngùi số phận *”Xương sống ta đã oằn xuống, cuộc bon chen cứ đè lên. Người vay nợ áo cơm nào, thành nợ trăm năm còn thiếu. Một ngày một kiếp là bao. Một trăm năm mấy lúc ngọt ngào. Ôi biết đến bao giờ được nói tiếng an vui thật thà.”* Nhưng cũng từ anh đã gieo cho chúng tôi niềm lạc quan tuổi trẻ: *”Hy vọng đã vươn lên trong màn đêm bao ưu phiền. Hy vọng đã vươn lên trong lo sợ mùa chinh chiến. Hy vọng đã vươn lên trong nhục nhằn tràn nước mắt. Hy vọng đã vươn dậy như làn tên…”* Và từ anh, chúng tôi hát cho nhau *”Không phải là lúc ta ngồi mà đặt vấn đề nữa rồi. Mà phải cùng nhau ta làm cho tươi mới.”* Cô giáo Việt văn của tôi đã mắng yêu tôi – tụi em thuộc nhạc Nguyễn Đức Quang hơn thuộc thơ của Nguyễn Công Trứ! Nguyễn Công Trứ. Đó là ngôi trường tuổi nhỏ có cây cổ thụ già, bóng mát của tuổi thơ tôi bây giờ đã chết. Tôi nhớ mãi những giờ cuối lớp tại trường, Cô Trâm cho cả lớp đồng ca những bài hát Bạch Đằng Giang, Việt Nam Việt Nam,

Về Với Mẹ Cha… Đứa vỗ tay, đứa đập bàn, đứa dậm chân, chúng tôi nở buồng phổi vang vang lên:* “Từ Nam Quan, Cà Mau. Từ non cao rừng sâu. Gặp nhau do non nước xây cầu. Người thanh niên Việt Nam. Quay về với xóm làng. Tiếng reo vui rộn trong lòng…” *Nhìn lên lớp học lúc ấy, có những biểu ngữ thủ công nghệ mà cô dạy chúng tôi viết: *Tổ quốc trên hết, Ngày nay học tập ngày sau giúp đời, Không thành công cũng thành Nhân.*.. Nhưng đọng lại trong tôi theo năm tháng vẫn là những câu hát* “Tình yêu đây là khí giới, Tình thương đem về muôn nơi, Việt Nam đây tiếng nói đi xây tình người…”* Cô giáo của tôi đã ươm mầm Lạc Hồng vào tâm hồn của chúng tôi và cứ thế chúng tôi lớn lên theo dòng suối mát, theo tiếng sóng vỗ bờ, theo tiếng gọi lịch sử của âm nhạc Việt Nam, để trở thành những công dân Việt Nam yêu nước thương nòi và hãnh diện về hành trình dựng nước, giữ nước của Tổ tiên. Trong cái nôi nhiều âm thanh êm đềm nhưng hùng tráng ấy, trừ những ngày tết Mậu Thân khi tiếng đạn pháo đì đùng từ xa dội về thành phố, cho đến lúc chui xuống gầm giường nghe tiếng AK47 và M16 bắn xối xả trước nhà vào ngày 10 tháng 3, 1975, tuổi thơ tôi được ru hời bởi dòng nhạc trữ tình của miền Nam để làm nên “Những Ngày Xưa Thân Ái”của chúng tôi.

Những ngày xưa thân ái xin buộc vào tương lai
Anh còn gì cho tôi tôi còn gì cho em
Chỉ còn tay súng nhỏ giữa rừng sâu giết thù
Những ngày xưa thân ái xin gởi lại cho em…

Các anh, những người anh miền Nam đã khoác áo chinh nhân lên đường đối diện với tử sinh, làm tròn lý tưởng Tổ Quốc – Danh Dự – Trách Nhiệm, đã hy sinh cuộc đời các anh và để lại sau lưng các anh những ngày xưa thân ái cho đàn em chúng tôi. Nhờ vào các anh mà chúng tôi có những năm tháng an lành giữa một đất nước chiến tranh, triền miên khói lửa.

Lần đầu tiên, chiến tranh tưởng như đứng cạnh bên mình là khi chúng tôi xếp hàng cúi đầu đưa tiễn Thầy của chúng tôi, là chồng của cô giáo Việt Văn, một đại úy sĩ quan Dù đã vị quốc vong thân. Cô tôi, mồ côi từ nhỏ, một mình quạnh quẻ, mặc áo dài màu đen, tang trắng, đứng trước mộ huyệt của người chồng còn trẻ. Cô khóc và hát tặng Thầy lần cuối bản nhạc mà Thầy yêu thích lúc còn sống –
Ta ngắt đi một cụm hoa thạch thảo…
Đôi chúng ta sẽ chẳng còn nhìn nhau nữa!
Trên cõi đời này, trên cõi đời này.
Từ nay mãi mãi không thấy nhau…
Và tôi say mê Mùa Thu Chết từ dạo đó. Trong những cụm hoa thạch thảo đầy lãng mạn ấy có đau thương đẫm nước mắt của Cô tôi. Có hình ảnh lá cờ vàng ba sọc đỏ phủ nắp quan tài của người Thầy Đại úy Sĩ quan Binh chủng Nhảy Dù vào mùa Hè hầm hập gió Nồm năm ấy.

Từ những ngày xa xăm tuổi nhỏ, những người lính VNCH là thần tượng của chúng tôi Tôi mơ được làm một người lính Dù bởi *anh là loài chim quý, là cánh chim trùng khơi vạn lý, là người ra đi từ tổ ấm để không địa danh nào thiếu dấu chân anh*, và cuối cùng anh bi hùng ở lại Charlie. Giữa những đau thương chia lìa của chiến tranh, những dòng nhạc của Trần Thiện Thanh đã cho tôi biết thương yêu, kính trọng những người lính không chân dung nhưng rất gần trong lòng chúng tôi. Những *”cánh dù ôm gió, một cánh dù ôm kín đời anh”* cũng là những cánh dù ôm ấp lý tưởng đang thành hình trong tâm hồn tuổi nhỏ của chúng tôi.
Nhìn lại quãng thời gian binh lửa ấy, tôi nhận ra mình và các bạn cùng lứa không hề biết rõ Phạm Phú Quốc là ai, chỉ biết và say mê huyền sử của một người được

Mẹ yêu theo gương người trước chọn lời.
Đặt tên cho anh, anh là Quốc.
Đặt tên cho anh, anh là Nước.
Đặt tên cho Người. Đặt tình yêu Nước vào nôi”
chỉ ước ao một ngày chúng tôi cũng được như anh, cũng sẽ là những *”Thần phong hiên ngang chẳng biết sợ gì!”.*
Chúng tôi, nhiều đứa núi đồi, rừng rú, chưa bao giờ thấy biển nhưng thèm thuồng màu áo trắng và đại dương xanh thẳm, thuộc lòng câu hát *”Tôi thức từng đêm, thơ ấu mà nghe muối pha trong lòng. Mẹ là mẹ trùng dương, gào than từ bãi trước ghềnh sau. Tuổi trời qua mau, gió biển mặn nuôi lớn khôn tôi. Nên năm hăm mốt tuổi, tôi đi vào quân đội. Mà lòng thì chưa hề yêu ai”* .

Chúng tôi cũng không tìm đọc tiểu sử, cuộc chiến đấu bi hùng của Đại tá Nhảy Dù Nguyễn Đình Bảo, cũng không biết địa danh Charlie nằm ở đâu, nhưng Đại tá Nguyễn Đình Bảo là biểu tượng anh hùng của chúng tôi để chúng tôi thuộc lòng khúc hát *”Toumorong, Dakto, Krek, Snoul. Trưa Khe Sanh gió mùa, đêm Hạ Lào thức sâu. Anh! Cũng anh vừa ở lại một mình, vừa ở lại một mình. Charlie, tên vẫn chưa quen người dân thị thành.”*
Chúng tôi không biết “Phá” là gì, “Tam Giang” ở đâu, nhà thơ Tô Thùy Yên là ai, nhưng “*Chiều trên phá Tam Giang anh chợt nhớ em, nhớ ôi niềm nhớ ôi niềm nhớ đến bất tận. Em ơi, em ơi…” *đã thân thiết chiếm ngự tâm hồn để chúng tôi biết thương những người anh chiến trận đang nhớ người yêu, nhớ những người chị, cô giáo của chúng tôi ngày ngày lo âu, ngóng tin từ mặt trận xa xăm.

Trong cái nôi của những ngày xưa thân ái ấy, từ nơi khung trời đầy mộng mơ của mình chúng tôi chỉ biết đến nỗi niềm của các anh bằng những *”Rừng lá xanh xanh lối mòn chạy quanh, Đời lính quen yêu gian khổ quân hành”*. Giữa mùa xuân pháo đỏ rộn ràng con đường tuổi thơ thì chính âm nhạc nhắc cho những đứa bé chúng tôi biết đó cũng là *”ngày đầu một năm, giữa tiền đồn heo hút xa xăm, có người lính trẻ, đón mùa xuân bằng phiên gác sớm”*.
Giữa những sum vầy bình an bên cạnh mai vàng rực rỡ, thì ở xa xăm có những người con rưng rưng nhớ đến Mẹ già và gửi lời tha thiết *”bao lứa trai cùng chào xuân chiến trường, không lẽ riêng mình êm ấm, Mẹ ơi con xuân này vắng nhà…”* Âm nhạc Việt Nam đã gieo vào tâm hồn chúng tôi hình ảnh rất bình thường, rất người, nhưng lòng ái quốc và sự hy sinh của thế hệ đàn anh chúng tôi – những người lính VNCH – thì ngời sáng. Và chúng tôi biết yêu thương, khâm phục, muốn noi gương các anh là cũng từ đó.*

Sau ngày Thầy hy sinh, chúng tôi gần gũi với Cô giáo Việt Văn của mình hơn. Nhiều đêm thứ bảy, tôi và các bạn ghé nhà thăm Cô. Đó là lúc chúng tôi đến với Một thời để yêu – Một thời để chết. Chúng tôi bắt đầu chạm ngõ tình yêu với những Vũng lầy của chúng ta, Con đường tình ta đi, Bây giờ tháng mấy,
Ngày xưa Hoàng Thị, Tình đầu tình cuối, Em hiền như Ma Soeur, Trên đỉnh mùa đông, Trả lại em yêu… Đó là lúc Cô đọc thơ Chiều trên Phá Tam Giang của Tô Thùy Yên cho chúng tôi nghe, giảng cho chúng tôi về tài nghệ “thần sầu” của Trần Thiện Thanh trong lời nhạc *”anh chợt nhớ em, nhớ ôi niềm nhớ… ôi niềm nhớ…….. đến bất tận. Em ơi… em ơi!…”* khi diễn tả nỗi nhớ ngút ngàn, và sau đó chú Trần Thiện Thanh Toàn – em ruột của nhạc sĩ Nhật Trường ở Sài Gòn lên thăm Cô, vừa đàn vừa hát. Những buổi tối này, mình tôi ở lại với Cô tới khuya. Cô đọc thơ và hát nhạc phổ từ thơ của Nguyễn Tất Nhiên, chỉ cho tôi tính lãng đãng của lời nhạc Từ Công Phụng, khắc khoải của Lê Uyên Phương, mượt mà của Đoàn Chuẩn – Từ Linh, sâu lắng của Vũ Thành An… Và qua âm nhạc, Cô kể tôi nghe chuyện tình của Cô và Thầy. Hai người đến với nhau khởi đi từ bản nhạc mà Cô hát khi Cô còn là nữ sinh Đệ Nhất và Thầy là Sinh Viên Sĩ Quan Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam. Bản nhạc ấy có những dòng như sau:

”Nhưng anh bây giờ anh ở đâu
con ễnh ương vẫn còn gọi tên anh trong mưa dầm
tên anh nghe như tiếng thở dài của lòng đất mẹ
Dạo tháng Ba tên anh lẫn trong tiếng sấm đầu mùa mưa
nghe như tiếng gầm phẫn nộ đến từ cuối trời.”

Thầy và cô tôi yêu nhau từ sau khúc hát Người Tình Không Chân Dung và *”người chiến sĩ đã để lại cái nón sắt trên bờ lau sậy này” * cũng là định mệnh Thầy, của cuộc tình bi thương giữa một cô giáo trẻ và người lính VNCH. Cô tôi sống một mình và qua đời vào năm 2010. Bạn cùng lớp của tôi là Phương lùn, vào một ngày cuối năm, từ Sài Gòn trở về Ban Mê Thuột, xách đàn đến trước mộ Cô và hát lại *”Ta ngắt đi một cụm hoa Thạch Thảo”* để thay mặt những đứa học trò thơ ấu kính tặng hương hồn của Cô. Còn tôi, năm tháng trôi qua nhưng tôi biết rõ trong dòng máu luân lưu và nhịp đập của tim mình vẫn đầy tràn những thương yêu mà Cô đã gieo vào tôi bằng Âm Nhạc Miền Nam.

Một buổi tối chúng tôi ngồi hát với nhau. Các bạn từ Hà Nội, Nam Định, Yên Bái, Đà Nẵng, Sài Gòn… nhưng chỉ có mình tôi là sinh ra và lớn lên trước 1975. Các bạn tôi, hay đúng ra là những người em đang cùng đồng hành trên con đường đã chọn, đã thức suốt đêm hát cho nhau nghe. Rất tự nhiên, rất bình thường: toàn là những ca khúc của miền Nam thân yêu.

Đêm hôm ấy, cả một quãng đời của những ngày xưa thân ái trong tôi sống lại. Sống lại từ giọng hát của những người em sinh ra và lớn lên trong lòng chế độ độc tài. Các em hát cho tôi nghe về những người lính miền Nam mà các em chưa bao giờ gặp mặt “Anh sẽ ra đi nặng hành trang đó, đem dấu chân soi tuổi đời ngây thơ, đem nỗi thương yêu vào niềm thương nhớ, anh sẽ ra đi chẳng mong ngày về…”.

Tôi hát cho các em mình về những ngày tháng mộng mơ trước “giải phóng” của những
Con đường tuổi măng tre, nắng vàng tươi đẹp đẽ, bóng người dài trên hè, con đường tình ta đi…”
Các em tâm sự về cảm nhận đối với người lính VNCH qua những dòng nhạc êm đềm, đầy tình người giữa tàn khốc của chiến tranh: “Tôi lại gặp anh, người trai nơi chiến tuyến, súng trên vai bước lê qua đường phố; tôi lại gặp anh, giờ đây nơi quán nhỏ, tuổi 30 mà ngỡ như trẻ thơ…” Tôi chia sẻ với các em về nỗi ngậm ngùi quá khứ:
“Như phai nhạt mờ, đường xanh nho nhỏ, hôm nay tình cờ, đi lại đường xưa đường xưa.
Cây xưa còn gầy, nằm phơi dáng đỏ, áo em ngày nọ, phai nhạt mây màu, âm vang thuở nào, bước nhỏ tìm nhau tìm nhau”…

Đêm ấy, khi các bạn nói lên cảm nhận về những mượt mà, êm ả, nhân ái của Âm Nhạc Miền Nam, tôi đã tâm sự với các bạn rằng: Chỉ cần lắng nghe và hát lên những dòng nhạc ấy, các em sẽ hiểu thấu được những mất mát khủng khiếp của con người miền Nam. Những mất mát không chỉ là một cái nhà, một mảnh đất, mà là sự mất mát của cả một đời sống, một thế giới tâm hồn, một đổ vỡ không bao giờ hàn gắn lại được. Khi những mượt mà, nhân ái ấy đã bị thay thế bởi những *”Bác cùng chúng cháu hành quân” *và *”Tiến về Sài Gòn” *thì các em hiểu được tuổi thanh xuân và cuộc đời của những thế hệ miền Nam đã bị đánh cắp hay ăn cướp như thế nào.

Gần 42 năm trôi qua, Âm Nhạc Miền Nam vẫn như dòng suối mát trôi chảy trong tâm hồn của người dân Việt. Chảy từ đồng bằng Cửu Long, xuôi ngược lên Bắc, nhập dòng sông Hồng để tưới mát tâm hồn của mọi người dân Việt đang bị thiêu đốt bởi ngọn lửa bạo tàn cộng sản. Dòng suối trong mát ấy cũng cuốn phăng mọi tuyên truyền xảo trá của chế độ về xã hội, con người miền Nam trước 1975 cũng như về tư cách, phẩm giá, lý tưởng của những người lính VNCH và tình cảm trân quý, yêu thương của người dân miền Nam dành cho họ.

Gần 42 năm trôi qua, trong tuyệt vọng của những kẻ thật sự đã thua trận trong cuộc chiến giữa chính nghĩa và gian tà, nhà cầm quyền cộng sản đã tìm mọi cách để tiêu diệt Âm Nhạc Miền Nam. Nhưng họ không biết rằng, dòng âm nhạc đó không còn là những bản in bài hát, những CD được sao chép, bán buôn… Âm Nhạc Miền Nam đã trở thành máu huyết và hơi thở của người dân Việt, bất kể Bắc – Trung hay Nam, bất kể sinh trưởng trước hay sau 1975.

Bạo tàn và ngu dốt có thể đem Âm Nhạc Miền Nam vào những danh sách cấm đoán vô tri vô giác, nhưng không bao giờ đem được Âm Nhạc Miền Nam ra khỏi con người Việt Nam.

Ai giải phóng ai? Hãy hỏi* Con Đường Xưa Em Đi* và đốt đuốc đi tìm xem *Bác Cùng Chúng Cháu Hành Quân* đang nằm trong cống rãnh nào trên những con đường Việt Nam!!!

Vũ Đông Hà

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bình luận về bài viết này

Chia Buồn

CHIA BUỒN

Căn Nhà Nhỏ vừa được bạn TPK báo tin Cụ Bà là người Chị Cả của K1 Nguyễn Văn Sáo vừa qua đời tại Việt Nam hưởng Thượng Thọ 90 tuổi.
Căn Nhà Nhỏ xin chia buồn cùng bạn Nguyễn Văn Sáo và cầu nguyện cho cụ bà sớm sanh về cõi lành.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bình luận về bài viết này

Sửa Chua (Yogurt) công dụng và chế biến

Yogurt

unnamed (7)

Bác sĩ Nguyễn Ý Đức

Truyền thuyết dân gian kể lại rằng:

Vào buổi sáng hôm đó, khi xuống chuồng vắt sữa bò như thường lệ, một trại chủ thấy bình sữa bỏ quên trong góc nhà. Cầm lên coi, ông ta thấy sữa hơi đông lại, ngửi không thấy hư, ông ta bèn nếm. Sữa có vị hơi chua chua, ngọt ngọt và thơm. Tiếc của Trời, ông ta mang về cho bà vợ và cả nhà cùng ăn. Ai cũng khen ngon và không bị phản ứng gì!

Trại chủ liền khoe với lối xóm là đã chế được món sữa đặc biệt. Ông ta tiếp tục “bỏ quên” nhiều bình sữa như thế rồi mang ra chợ bán. Mọi người đều ưa thích món sữa “bỏ quên” này và ông ta đã kiếm được rất nhiều tiền.

Sữa chua (yogurt) được khám phá ra như thế, và nhanh chóng được phổ biến khắp nơi.

Rồi đến thời kỳ Phục Hưng ở bên Pháp vào đầu thế kỷ thứ 16, vua Francois I bị chứng đau bụng đi cầu đã lâu ngày, mọi danh y đều bó tay. Một thầy thuốc người Thổ Nhĩ Kỳ được mời đến. Sau khi khám bệnh, ông ta cho nhà vua dùng một bài thuốc gia truyền trong một tuần lễ, nhà vua khỏi bệnh. Đó là món sữa chua mà gia đình vị lang y kia vẫn dùng để chữa cho dân chúng bị bệnh khó tiêu.

Từ đó, sữa chua được liên tục dùng khắp nơi trên thế giới như một thực phẩm và thuốc trị bệnh theo.

Khám phá khoa học về sữa chua

Nhưng phải đợi tới đầu thế kỷ thứ 20 thì nguyên lý tạo thành sữa chua mới được làm sáng tỏ qua nghiên cứu của một bác học người Nga, ông Ilya Metchinov (1845-1916).

Nhà khoa học này khao khát đi tìm một phương thức kéo dài tuổi thọ. Do đó, ông rất quan tâm đến một nhóm dân Bulgaria có tỷ lệ rất cao số người sống đến trên một trăm tuổi. Ông nhận thấy là họ tiêu thụ nhiều sữa chua. Vì thế, ông bắt đầu tìm hiểu đặc tính của loại sữa này và thấy trong sữa có những vi sinh vật làm thay đổi hóa chất của sữa, khiến sữa trở thành tốt hơn cho sức khỏe con người. Ông ta đặt tên cho một trong nhiều vi sinh vật đó là Lactobacillus Bulgaricus.

Từ đó sữa chua được chế biến khoa học hơn. Cũng xin lưu ý là Ilya Metchinkoff được giải thưởng Nobel về Y Học năm 1908 nhờ sự khám phá ra tính miễn dịch trong cơ thể con người. Ông cũng là bạn thân của nhà bác học nổi tiếng Louis Pasteur của nước Pháp.

 Theo định nghĩa của Codex Alimentarius Commissions, một tổ chức quốc tế có nhiều uy tín trong việc đưa ra các tiêu chuẩn chung về thực phẩm, sữa chua là sản phẩm từ sữa được lên men và làm đông đặc bằng cách để cho bay hơi. Trong những điều kiện thuận lợi về thời gian và nhiệt độ, đường lactose của sữa chuyển thành acid lactic, dưới tác dụng của các vi sinh vật như Streptocoous thermophilus, Lactobacillus Bulgaricus, Lactobacillus acidophilus... Sau đó sữa trở thành một chất giống như kem và có vị chua đặc biệt.

 Yogurt có thể làm từ sữa cừu, sữa dê, sữa trâu… nhưng thường thường là từ sữa bò.

Sữa chua cung cấp số năng lượng tương đương với sữa tươi, nhưng giá trị dinh dưỡng cao hơn. Sữa chua có nhiều chất đạm, carbohydrat, sinh tố, các khoáng calci, phosphat, potassium, niacin, riboflavin. Chất đạm trong sữa chua rất dễ tiêu và dễ hấp thụ vào máu.

Trong 100g sữa chua có: 4,3g chất đạm, 4,8 g carbohydrat, 1,1 g chất béo, 4 mg cholesterol, 173 mg calci, 0,18 mg riboflavin, 110 mg phosphor và cung cấp 50 calori. Nước chiếm tỷ lệ 88% và là nguồn cung cấp nước rất tốt cho cơ thể.

Nhiều người khi uống sữa tươi vào là bị tiêu chẩy, vì không tiêu hóa được đường lactose trong sữa. Khi dùng sữa chua thì không có vấn đề, vì đường này đã được chuyển hóa ra lactic acid.

Lactic acid và vi sinh vật trong sữa chua làm tăng độ chua trong bao tử, giúp sự tiêu hóa chất đạm và sinh tố C được dễ dàng

Công dụng chữa bệnh của sữa chua

Cách đây hơn nửa thế kỷ, Ilya Ilich Metchnikov đã nêu ra giả thuyết là một số bệnh tật gây ra do độc tố từ vi trùng trong ruột bị hư rữa, đưa đến phá hoại thành mạch máu. Theo ông ta, sự việc này có thể ngăn ngừa bằng các vi sinh vật trong sữa chua.

Sau đó các khoa học gia đã dành nhiều cố gắng để nghiên cứu về công dụng của sữa chua. Theo dõi công dụng này ở cơ thể con người có phần khó khăn, nên đa số đều thực hiện với những con chuột trong phòng thí nghiệm. Kết quả đều cho thấy là sữa chua rất tốt và có ích để chữa một vài bệnh.

1-Sữa chua giúp tiêu hóa đường lactose trong sữa

Theo thống kê, hiện nay có khoảng 75% người lớn tuổi trên thế giới không tiêu hóa được đường lactose trong sữa, nhất là dân châu Á và châu Phi. Khi uống sữa là họ bị đau bụng, đầy hơi, tiêu chẩy… Nguyên do là vì họ thiếu lactase để tiêu hóa đường sữa lactose. Khi ăn sữa chua, họ tránh được vấn đề trên vì lactose đã được chuyển ra lactic acid.

2- Sữa chua chữa bệnh tiêu chẩy

Trong ruột có rất nhiều vi sinh vật có lợi cũng như có hại, đua nhau tăng trưởng. Loại nào phát triển mạnh hơn thì sẽ tạo ảnh hưởng đến sự tiêu hóa và sức khỏe con người.

Ruột trẻ em có nhiều vi khuẩn E Coli gây ra tiêu chẩy. Sữa chua có thể chữa một số trường hợp tiêu chẩy.

Một nghiên cứu ở Nữu Ước năm 1963 đã so sánh tác dụng của sữa chua với hỗn hợp thuốc trị tiêu chẩy Kaopectate và kháng sinh neomycin. Kết quả cho thấy là vi sinh vật trong sữa chua rút ngắn thời gian bị tiêu chẩy.

Các nhà nghiên cứu ở Ý nhận thấy sữa chua làm giảm số vi khuẩn E Coli trong ruột. Sữa chua cũng làm bớt tiêu chẩy gây ra do thuốc kháng sinh. Ở các nước Ý và Nga, sữa chua được cho trẻ em bị tiêu chẩy dùng để chữa bệnh này.

Bên Nhật, sữa chua được dùng để trị bệnh kiết lỵ.

Năm 1995, cơ quan Y Tế Thế giới (WHO) có khuyến cáo là khi chữa tiêu chẩy, nên thay thế sữa thường bằng sữa chua, vì sữa chua dễ tiêu hơn , có thể ngừa thiếu dinh dưỡng.

Nhiều nghiên cứu khác cho hay sữa chua còn có tác dụng nhuận tràng.

3- Sữa chua có chất kháng sinh

Bác sĩ Khem Shahani, một chuyên gia nổi tiếng trên thế giới về sữa chua, thuộc trường Đại học Nebraska, cho hay là ông ta đã phân tích được hai loại kháng sinh từ sữa chua do các vi sinh vật L acidophilus và L. bulgaris tiết ra.

Các nghiên cứu ở Nhật, Ý, Thụy sĩ, Hoa Kỳ đều cho là vi sinh vật trong sữa chua có thể tiêu diệt được nhiều loại vi khuẩn gây bệnh.

4- Sữa chua làm giảm cholesterol trong máu

Các nhà quan sát nhận thấy dân chúng ở bộ lạc Maasai bên châu Phi dùng tới 2 lít sữa chua mỗi ngày và lượng cholesterol trong máu rất thấp. Họ kết luận là sữa chua có thể làm hạ cholesterol.

Bác sĩ George Mann đã tìm ra một chất trong sữa chua mà ông ta đặt tên là hydroxymethyl glutarate có đặc tính làm giảm cholesterol. Sau đó, nhiều nghiên cứu kế tiếp cũng đưa tới kết luận là sữa chua làm tăng mức cholesterol lành HDL và hạ thấp tổng lượng cholesterol trong máu.

5- Sữa chua làm tăng tính miễn dịch

Các nhà nghiên cứu ở Pháp đã chứng minh là sữa chua làm tăng miễn dịch tính ở chuột trong phòng thí nghiệm. Năm 1986, nhóm khoa học gia ở Ý tiến xa hơn với kết luận là vi sinh vật trong sữa chua làm tăng tính miễn dịch ở người qua việc gia tăng sản xuất kháng thể.

Sữa chua cũng làm giảm bớt các triệu chứng của dị ứng mũi.

6- Sữa chua với bệnh ung thư

 Một nhóm các nhà nghiên cứu ở Nam Tư cho biết vi sinh vật L. bulgaricus trong sữa chua tiết ra chất blastolyn có thể ngăn chặn sự phát triển tế bào ung thư loại Rous Sarcoma.

Kết quả nghiên cứu tại đại học Boston bên Mỹ và bên Pháp đều kết luận là L. acidophilus chống được ung thư vú và ruột già bằng cách làm giảm hóa chất gây ung thư trong ruột già. Bác sĩ Shahani cũng đồng ý là vi sinh vật L. acidophilus ngăn chặn ung thư ở loài chuột.

7- Sữa chua ngừa loét bao tử

 Bác sĩ Samuel Money thuộc Trung Tâm Y khoa Brooklyn, Nữu Ước, cho hay trong sữa chua có chất kích thích Prostaglandin. Chất này có khả năng che trở niêm mạc bao tử với tác nhân độc hại như thuốc lá, rượu và do đó ngừa được bệnh loét bao tử. Chất Prostaglandinhiện đang được tổng hợp để làm thuốc chữa bệnh bao tử.

 Ngoài ra trong sữa chua còn có chất tryptophan có tác dụng làm dịu thần kinh, dễ ngủ. Đồng thời kết quả nghiên cứu tại Đại họcMassachusett lại cho thấy sữa chua có tác dụng hưng phấn, làm ta tỉnh táo.

Sữa chua cũng làm bớt nhiễm độc nấm ở cơ quan sinh dục nữ giới.

Chọn lựa sữa chua

image

Sữa chua được bầy bán với nhiều nhãn hiệu khác nhau, cũng như được pha thêm trái cây cho có hương vị đặc biệt. Có loại sữa chua giữ nguyên chất béo, có loại đã được lấy bớt đi.

Nhãn hiệu trên hộp sữa có ghi chú rõ ràng thành phần dinh dưỡng, như là có bao nhiêu calorie, số lượng chất béo bão hòa, cholesterol, muối sodium, chất carbohydrat, đường, chất xơ, đạm chất, sinh tố A, C, chất sắt và calci.

Điều quan trọng là sản phẩm phải có vi sinh vật còn sống (live cultures). Ta thường thấy ghi tắt chữ LAC (Live and Active Cultures) của Hiệp Hội các nhà sản xuất sữa chua Hoa Kỳ, có nghĩa là 100 g sữa chua chứa ít nhất 100 triệu vi sinh vật còn sống và hoạt động. Vì có sinh vật sống nên sữa chua cần được giữ trong tủ lạnh, tránh bị hơi nóng hủy hoại.

Cách làm yogurt

Cách thức làm sữa chua dùng trong gia đình cũng đơn giản. Chúng ta chỉ cần thực hiện các bước tuần tự như sau:

Chuẩn bị khoảng 2 lít sữa bột ít chất béo, một lon sữa đặc không đường, một thìa sữa chua ít chất béo. Pha lẫn hai loại sữa, khuấy cho đều với một chiếc thìa bằng gỗ. Đun sôi với nhiệt độ vừa phải. Trong khi đun vẫn tiếp tục khuấy để sữa khỏi bị cháy dưới đáy nồi. Khi sữa sôi có bọt thì nhắc ra, để nguội. Khi sữa nguội tới mức mà ta nhúng ngón tay vào mà không bị bỏng (khoảng từ 40ºC – 46ºC), thì cho thìa sữa chua vào, khuấy cho đều với một cái muỗng bằng gỗ khoảng 30 giây. Nhớ khuấy theo một chiều để vi sinh vật không bị tổn thương.

Phủ lên nắp bình mấy tờ giấy để hút bớt nước bốc hơi và để sữa đặc lại. Đậy nắp bình, bọc chung quanh bằng một cái chăn len, để qua đêm, sáng sau là sẵn sàng để ăn. Ta có thể pha thêm các loại trái cây hay hạt ngũ cốc khô để có thêm hương vị đặc biệt.

Kết luận

Sữa chua là một trong nhiều món ăn được nhiều người ưa thích và là món ăn vặt rất hấp dẫn giữa hai bữa cơm chính.

Ngoài hương vị ngon, sữa chua còn có nhiều chất dinh dưỡng, chất kháng sinh, chất chống ung thư, có khả năng làm giảm cholesterol, đặc biệt là chất đạm trong sữa chua rất dễ tiêu.

Người bị bất dung với sữa thường, có thể thay thế bằng yogurt.

Với một ly nhỏ sữa chua mỗi ngày, ta có đủ số lượng calci cần thiết. Trẻ em trên ba tháng cũng có thể dùng sữa chua được rồi.

Bác sĩ Nguyễn Ý Đức

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bình luận về bài viết này

Kỷ Niệm 51 năm Hôn Phối của cặp đôi Văn Vinh- Phương Lan

Lan Vinh

ĐỐT THÊM MỘT NGỌN NẾN VÀNG

51 năm Hồng Ân Hôn Phối: 2/1/1971 – 2/1/2022
Viết tặng các con để luôn biết giữ hạnh phúc trong tầm tay.

Kỷ niệm đốt ngọn nến vàng.
Giữ được hạnh phúc dễ dàng hay không?
Khởi đầu thắp ngọn nến hồng,
Lung linh sáng tỏa ước mong đẹp đời.
Nhưng khi vật đổi, sao dời,
Giữ sao trọn ước với lời thệ hôn?
Không e gian khổ dập dồn,
Mà ngại chính lúc tâm hồn xa nhau!
Không còn ý hợp tâm đầu.
Để rơi đâu mất những câu ngọt ngào.
Người ngoài, sao dễ xã giao?
Người thương tiết kiệm từng câu ân tình.
Hạnh phúc đâu hưởng một mình:
Quanh ta còn cả gia đình chung vui.
Sao cho nhỏ bớt “cái tôi”.
Nghĩ về hậu vận cả đời “chúng ta”.
Khôn ngoan tìm đến dung hòa,
Hơn thua chi để cả nhà lạnh tanh!?
Tuổi già sẽ đến rất nhanh,
Sao cho con cháu luôn quanh ông bà.
51 năm ngọt đắng cũng qua
Nến vàng xin thắp để mà tạ ơn.

Những mùa xuân trong đời:
1971: Xuân kết giao, 1975: Xuân chia lìa, 1988: Xuân đoàn tụ,
1992: Xuân đầu tiên tại đất nước Mỹ,
2021: Xuân bonus cho tuổi hoàng hôn.

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bình luận về bài viết này

Người Hoa Kỳ viết về Văn Học Miền Nam- Trần Doãn Nho

Một tác giả Hoa Kỳ viết về
Văn Học Miền Nam

Trần Doãn Nho

IMG_0211D4492A66-1

Vào ngày 11/11/2021, tạp chí “The Los Angeles Review of Books” (LARB) cho đi một tiểu luận của Anthony Morreale nhan đề là “Nhìn Lại Nền Văn Học Miền Nam Bị Bỏ Rơi” (Abandoned: Reconsidering the Literature of South Vietnam). Mặc dầu có nhiều điểm chúng ta chưa hoàn toàn đồng ý với tác giả, nhưng có thể nói đây là một bài viết thuộc loại khá hiếm hoi với cái nhìn đầy thiện cảm về nền văn học Việt Nam Cộng Hòa của một nhà nghiên cứu Hoa Kỳ. Xin tóm lược một số nhận định của bài viết để giới thiệu cùng bạn đọc.

Sự sụp đổ của Kabul (Afghanistan) mới đây nhắc nhở Morreale đến sự sụp đổ của Sài Gòn gần 5 thập niên trước. Đối với người Mỹ, khi nhắc đến Việt Nam, nó không chỉ ám chỉ một dân tộc ở Đông Nam Á, mà còn quy cho những tranh chấp trong xã hội Hoa Kỳ ở giữa thế kỷ 20. “Những cuộc tranh đấu giữa các chủng tộc, giai cấp, và thế hệ được cô đọng vào một điểm nóng duy nhất và được phóng chiếu vào một con bung xung: Việt Nam.”Ấy thế mà, không những đất nước của những người đã góp xương máu và công lao cho chính nghĩa của miền Nam Việt Nam bị quên lãng mà linh hồn của miền Nam Việt Nam cũng bị phủ nhận. “Đó là lý do tại sao Miền Nam Việt Nam đã bị quên lãng một cách kỳ lạ trong phim tài liệu mới đây như “The Vietnam War” và tuyển tập văn chương như “Other Moons: Vietnamese Short Stories of the American War and Its Aftermath.”

Morreale không chấp nhận thái độ đó. Theo ông, “Để xua đuổi tà ma khỏi thế hệ chết chóc của chúng ta, và cắt dứt khỏi cái vòng chối bỏ luẩn quẩn này,” người Mỹ cần phải thành tâm cầu nguyện cho những linh hồn đã bị bỏ rơi, bằng cách phiên dịch lại văn chương của Việt Nam Cộng Hòa. “Bởi vì văn chương của một dân tộc là cái vỏ thời gian của cảm hứng quốc gia.” Nếu chỉ qua lịch sử mà con người có thể đi xuyên qua hàng thế kỷ để chia xẻ tư tưởng của tiền nhân, thì “văn chương là một phương tiện để giao cảm với linh hồn, để cho linh hồn sở hữu chúng ta, nói chuyện xuyên qua chúng ta và thì thầm lời chứng của họ vào trái tim chúng ta.” Nếu tiếp tục làm ngơ, “chúng ta đã mang họ theo chúng ta với một lương tâm cắn rứt.” Bằng cách thừa nhận họ, bằng cách phiên dịch văn học của họ, “chúng ta sẽ lấy lại được một phần nào cái đã mất của chúng ta, và mở ra một con đường đã đóng đối với con cái họ ở giữa chúng ta trong cộng đồng lưu vong.”

Đây không phải là điều dễ dàng. Vì theo Morreale, văn chương dịch thuật hiện đang lưu hành ở Hoa Kỳ tràn đầy tác phẩm của những tác giả cộng sản miền Bắc và những tác giả bất đồng chính kiến cộng sản thời hậu-cải-cách. “Các mối quan hệ nền tảng của công việc dịch thuật rõ ràng được hình thành nhằm để hòa giải giữa những người cộng sản Việt Nam với giới trí thức Mỹ (chủ yếu là những người da trắng và có xu hướng tự do), thường đi ngược lại ước muốn của những trí thức miền Nam cũ và những lãnh tụ cộng đồng di dân, những người chẳng nhận được bao nhiêu từ một cuộc mặc cả như thế. Những người tỵ nạn miền Nam viết văn bằng tiếng Việt cũng không được đưa vào lãnh vực nghiên cứu người Mỹ gốc Á đang phát triển lúc bấy giờ.” Đối với các nhà xuất bản ở Hoa Kỳ, ý thức về “văn chương” Việt Nam chỉ tập trung vào hai thành phần: một là những nhà văn bất đồng chính kiến hay kể- như- bất- đồng- chính-kiến ở Việt Nam như Bảo Ninh, Dương Thu Hương, Nguyễn Huy Thiệp và Phạm Thị Hoài; hai là những nhà văn Mỹ gốc Việt như Ocean Vương (đoạt giải Macarthur Genius Grant) và Nguyễn Thanh Việt (đoạt giải Pulitzer).

Nhiều người Mỹ vẫn còn hiểu lầm rằng những người miền Nam Việt Nam là “những cư dân sống dọc theo bờ biển và những thung lũng trải dài từ vĩ tuyến 17 đến Vịnh Thái Lan.” Thực ra, phần nhiều trong số những công dân Việt Nam Cộng Hòa, đặc biệt là giới trí thức và văn chương, đã di cư từ miền Bắc trước năm 1956: hơn 800 ngàn người. Miền Nam Việt Nam là một tập thể pha tạp, gồm nhiều nhóm khác nhau: tín đồ Thiên Chúa Giáo, tín đồ Phật Giáo, người quốc gia thuần túy, những người theo phái Đệ Tứ (Trotskyists) và những người dân chủ xã hội. Các cuộc đấu đá ý thức hệ và chính trị đã chia rẽ xứ sở này ngay từ thập niên 1920, trở thành đẫm máu toàn diện qua suốt thời kỳ Đệ Nhị Thế Chiến.

So sánh giữa hai miền Nam, Bắc, Morreale cho rằng cương lĩnh miền Bắc khá rõ ràng, đó là chế độ Marxist-Leninist. Miền Bắc chính thức tưởng niệm cái chết của Stalin. Các tổ chức quần chúng tiến hành công việc hàng ngày của những công dân với đầu óc như khuôn đúc. Chế độ đó, “Nó đỏ, hung hăng,tàn nhẫn và hiệu quả.” Trong lúc đó, chế độ miền Nam bị chia rẽ do sự tranh giành quyền lực giữa nhiều phe phái khác nhau. Cuộc tranh giành này “kéo theo Hoa Kỳ vào một cách oan nghiệt, mang theo thứ công thức của kẻ túi đầy tiền nhưng ngu dốt và nông cạn, như đổ thêm dầu vào lửa.”

Tuy nhiên, về văn chương thì khác. “Bất cứ là lý do gì, hầu hết những nhà phê bình văn chương Việt Nam đương đại đều đồng ý rằng miền Nam đã sản xuất ra một số tác phẩm văn chương hay nhất, hay hơn rất nhiều so với những tác phẩm ra đời ở miền Bắc trong cùng thời kỳ. Có lẽ là vì văn chương miền Bắc bị kiểm duyệt nặng nề trong lúc sự tự do trí thức ở miền Nam đã giành chỗ cho nó phát triển. Hay có thể bí ẩn của một nền văn chương hay ho xuất phát từ triết lý, và sự đón nhận tư tưởng của những ngôi sao sáng như Heiddegger, Sartre, và Barthes, trộn lẫn với tinh hoa có sẵn của Phật Giáo, Khổng Giáo, Thiên Chúa Giáo của miền Nam đã thổi một hơi thở tươi mới vào thế hệ của những tác giả trẻ hơn. Một trong những giải thích được ưa thích của tôi [về tình trạng này] là từ nhà văn cựu du kích cộng sản Nguyên Ngọc. Ông nói với tôi rằng một nền văn học dân tộc hay ho phải chuyển những vấn đề quốc gia hạn hẹp thành những vấn đề bao quát của nhân loại. Trong lúc miền Bắc đã cột cái ách quyền lợi quốc gia lên cổ các tác giả, thì ở miền Nam, các nhà văn được đi lang thang qua các đồng cỏ rộng lớn hơn. Hiện nay, ông lão 90 tuổi Nguyên Ngọc dẫn đầu một nhóm các nhà trí thức tái giới thiệu văn học miền Nam sau bốn thập niên bị đàn áp.”

Morreale đặt câu hỏi: Trong lúc nhiều tiểu thuyết cổ điển của nền văn học cũ của miền Nam đã nhận được sự thừa nhận của kẻ thù cũ, thì tại sao chúng lại không có được sự lưu ý của những người đồng minh cũ (là Hoa Kỳ)?Ông cho rằng, “Chúng ta [Hoa Kỳ] nên làm, vì những tác giả miền Nam đã nói lên những khía cạnh nhân bản phổ quát của thân phận họ.” Họ là những người yêu tự do, xem tự do con người là “một vấn nạn cần được lý giải. Họ vật lộn với nó, hoài nghi nó, tháo nó ra rồi ráp nó lại.” Ám ảnh về tự do được thể hiện rất rõ ở tập thơ “Tôi Không Còn Cô Độc” của Thanh Tâm Tuyền. Sự xuất bản tác phẩm này là một bước ngoặt đối với “các xu hướng phân tâm học và hiện sinh đi quanh co qua hai thập niên văn học miền Nam.” Đề tài tương tự cũng được tìm thấy ở nhiều tác giả nổi tiếng khác, chẳng hạn như Dương Nghiễm Mậu với hai tác phẩm “Gia Tài Của Mẹ” và “Tuổi Nước Độc”. Theo ông, tính cách tự do ở miền Nam không chỉ giới hạn ở nam giới. Những cây bút phụ nữ lần đầu tiên xuất hiện trong sinh hoạt văn chương Việt Nam là có ngay một số lượng độc giả lớn lao vì họ dám đi ngược lại với những điều cấm kỵ truyền thống như Trần Thị NgH, Nhã Ca, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Nguyễn Thị Hoàng. Trong thời gian qua, một số tác phẩm của Nguyễn Thị Thụy Vũ và Nguyễn Thị Hoàng vừa được tái bản ở trong nước sau hàng chục năm chỉ được lưu hành trong cộng đồng hải ngoại.

Morreale ghi nhận công lao của những nhà văn miền Nam lưu vong. Ông cho biết, “Nền văn học dân tộc này có thể sẽ mãi mãi bị đánh mất nếu không có sự kiên trì của cộng đồng Việt Nam hải ngoại. (…) Nền văn học của họ đã được cứu vớt bởi những người khổng lồ như Võ Phiến, người đã giành tiền tiết kiệm và những năm tháng vàng son của mình để sưu tập, phân loại và phân tích văn học Miền Nam, trong khi vẫn tiếp tục làm việc kiếm sống với tư cách một người tiểu công chức của thành phố Los Angeles. Bộ Văn Học Miền Nam Tổng Quan gồm bảy tập của ông giới thiệu, phân tích và tuyển chọn tác phẩm của hơn 100 nhà văn Miền Nam, một công việc cẩn thận được tiến hành chậm chạp vìthiếu tài liệu và vì sức khỏe.” Morreale cho biết cùng với Võ Phiến, vài khuôn mặt hải ngoại khác như Nguyễn Mộng Giác, Phạm Phú Minh, và Thụy Khuê ở Pháp, đã xây dựng nên một cộng đồng Việt ngữ sinh động bằng báo in và các trang mạng. Nhưng vẫn còn vô số những người vô danh khác đã trải qua hàng thập niên kêu gào trong vô vọng. Hôm nay, tiếng nói của họ đã truyền qua thế hệ con cháu họ. Nhưng hầu hết thế hệ trẻ, tạm mượn chữ của nhà văn Nguyễn Thanh Việt, “đã mất tiếng mẹ đẻ, hay đã bị cắt đứt hẳn để chỉ sử dụng thứ ngôn ngữ tạm dung, chỉ còn một nhúm nhỏ càng ngày càng teo đi của cộng đồng lưu vong còn có khả năng cần thiết để đọc văn chương Việt Nam.”

Trong tình hình như thế, Morreale cảnh báo, nếu người Mỹ vẫn cứ bình chân như vại, thì sẽ chẳng có ai làm gì. “Cánh cổng đang khép lại và cùng với nó, cái cơ may của hàng triệu ngưởi Mỹ gốc Việt trẻ còn cảm thông với thế hệ cha anh cũng sẽ không còn nữa. Đây là lần phản bội thứ hai của người Mỹ.” Ông nhấn mạnh, “Nhưng ngoài sự phản bội, chúng ta còn đang tự lừa dối mình. (…) Chúng ta tự che chắn mình khỏi những bài học gian khổ của những người miền Nam, mà nhiều người trong số đó bây giờ là đồng hương của chúng ta. (…) Văn học của họ chứa đựng những suy ngẫm thông minh và sâu sắc nhất được tôi luyện từ cuộc chiến tạo ra thế giới đó (world-making war).”

*****

Tác giả Anthony Morreale đang làm luận án tiển sĩ tại Phân Khoa Lịch Sử, trường Đại Học Berkeley, California, nghiên cứu về lịch sử kinh doanh của các doanh nhân Việt Nam vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. Trước đây, ông đã từng nghiên cứu về lịch sử dịch thuật các tác phẩm Cộng Sản kinh điển sang tiếng Việt và lịch sử về chính sách chống người Hoa của Việt Nam Cộng Hòa.

TDN  (12/2021)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bình luận về bài viết này

Cuộc sống sẽ bình thường sau 2 tháng nữa ???

Ánh Sáng Cuối Đường Hầm?

Chuyên gia về Omicron tiên đoán:
“Cuộc sống bình thường sẽ trở lại sau 2 tháng nữa….!”

ĐAN MẠCH – Theo Tyra Grove Krause, trưởng nhóm dịch tễ học tại Viện State Serum ở Đan Mạch, biến thể Omicron của COVID-19 sẽ quét sạch tất cả các biến thể khác của vi rút và thế giới sẽ “có cuộc sống bình thường trở lại sau hai tháng nữa,” trang Greek Reporter đưa tin ngày Thứ Ba, 4 tháng 1 năm 2022.

Bà Krause cho biết, biến thể Omicron sẽ dẫn đến sự kết thúc của đại dịch COVID-19, dẫn chứng kết quả của một nghiên cứu mới ở Nam Phi, quốc gia chứng kiến một trong những đợt bùng phát sớm nhất của Omicron.

Trả lời trên kênh truyền hình Đan Mạch, bà Krause nói nghiên cứu mới của viện cho thấy nguy cơ phải vào bệnh viện do biến thể Omicron chỉ bằng một nửa so với biến thể Delta. Omicron sẽ tiếp tục làm gia tăng số ca nhiễm, sau đó sẽ giảm mạnh và rất nhanh.

“Tôi nghĩ trong hai tháng tới, đại dịch sẽ vào hồi kết thúc, tình trạng lây nhiễm sẽ bắt đầu giảm bớt và chúng ta sẽ có cuộc sống bình thường trở lại,” bà cho biết. “Omicron sẽ đạt đỉnh vào cuối tháng 1, và vào tháng 2, chúng ta sẽ thấy áp lực lây nhiễm giảm dần, các hệ thống chăm sóc sức khỏe cũng sẽ dễ thở hơn.”

Krause cũng cảnh báo “Nhưng mà chúng ta phải nỗ lực rất nhiều để vượt qua tháng Một.” Bà giải thích rằng biến thể Omicron cực kỳ dễ lây lan dường như nhẹ hơn bất kỳ biến thể nào khác đã biết trước đây của vi rút, điều này có nghĩa là nhiều người sẽ bị nhiễm, nhưng có các triệu chứng ít nghiêm trọng hơn – và sau đó trở nên miễn dịch. Đó là cách thế giới có thể thật sự đạt được khả năng miễn dịch cộng đồng, để quay lại cuộc sống bình thường.

Khả năng miễn dịch đối với biến thể Delta sau khi bị nhiễm Omicron.

Viện Nghiên cứu Sức khỏe Châu Phi ở Durban đã thực hiện một nghiên cứu quy mô nhỏ vào tháng 12 năm 2021, và thấy rằng những người đã bị nhiễm Omicron thực sự có khả năng miễn dịch cao hơn với biến thể Delta; và khả năng miễn dịch còn rõ rệt hơn ở những người đã được tiêm phòng.

Xác định các mục tiêu mới khi đại dịch vẫn đang hoành hành

Khi biến thể Omicron tiếp tục làm gia tăng số ca nhiễm trên toàn thế giới, hầu hết các chuyên gia đều tin dù đại dịch rồi sẽ kết thúc, nhưng một số dạng của con vi rút “mãi mãi ở bên chúng ta.”

Sẽ không có ‘liều thuốc duy nhất’ có thể diệt tất cả các dạng vi rút; hoàn toàn ngược lại. Mọi người ai cũng đã kiệt sức sau gần hai năm đối phó với đại dịch, về mặt xã hội, tài chính và cá nhân. Thế giới sẽ phải tìm ra một hướng đi khác, học cách sống với và kiểm soát rủi ro.

Số ca nhiễm Covid-19 ở Đan Mạch đang tăng cao trong vài tuần qua. Hôm Chủ Nhật, 2 tháng 1 năm 2022, Đan Mạch ghi nhận số ca nhiễm trung bình tuần lên tới 20,886, cao nhất từ trước đến nay. Hầu hết các ca nhiễm chỉ bộc lộ triệu chứng nhẹ. Bà Krause nói điều này phần nào giúp tăng mức độ miễn dịch của cộng đồng.

Chuyên gia dịch tễ hàng đầu Đan Mạch khuyến cáo người dân tiếp tục thực hiện các biện pháp phòng dịch, giãn cách xã hội và tự cách ly ở nhà nếu bộc lộ triệu chứng.

Bà Krause đưa ra bình luận vài ngày sau khi  Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) có bày tỏ sự lạc quan với đại dịch. “Chấm dứt sự bất bình đẳng mới có thể chấm dứt đại dịch và cơn ác mộng toàn cầu,” Adhanom Ghebreyesus, tổng giám đốc WHO, cho biết.

Vi rút rồi sẽ ‘cực thịnh tất suy’

CDC Hoa Kỳ đã giảm thời gian cách ly đối với những người bị nhiễm COVID-19 xuống còn 5 ngày, và giải thích rõ ràng là họ dễ lây nhiễm nhất trong 2 ngày đầu và 3 ngày sau khi xuất hiện các triệu chứng.

Theo Bác sĩ William Moss của trường Johns Hopkins Bloomberg, “vi rút sẽ phát triển tối đa” và rồi không thể tạo ra các biến thể mãi được. Ông nói: “Tôi không coi đây là một chu kỳ vô tận của các biến thể mới.”

Nhà miễn dịch học Ali Ellebedy tại trường Washington ở St. Louis nói với Reuters rằng khi đại dịch diễn ra, khả năng miễn dịch cơ bản của chúng ta đã được cải thiện đến mức ngay cả khi trải qua các đợt gia tăng đột ngột, số ca bệnh nặng, vào bệnh viện và tử vong sẽ giảm. Ông dự đoán sẽ tới một lúc nào đó, một người bị nhiễm COVID-19, nghỉ ngơi ở nhà từ hai đến ba ngày, rồi “mọi chuyện lại bình thường. Đó sẽ là lúc đại dịch kết thúc.”

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bình luận về bài viết này

Ai biết Cà Chớn là gì? Xin giải thích

CÀ CHỚN

Hai giờ sáng, điện thoại reo, nghe thằng bạn ó đâm hơn bốn mươi năm không gặp hét: “Đồ thằng CÀ CHỚN” . Cà chớn thì từ nhỏ đến lớn nghe rất quen tai, hổng hiểu từ này có trong tự điển hay không?

 Trèo lên cây bưởi hái hoa
Bước xuống ruộng cà hái ngọn tầm xuân

 Nào là cà độc dược, cà chua, cà pháo, cà tiêu, cà cuống, cà lăm, cà kê, cà khẳng, cà khêu, cà khịa, cà mèn, cà nhắc, cà nhom, cà niễng, cà phê, cà rà, cà rá, cà riềng, cà rỡn, cà sa, cà tăng, cà tửng, cà xốc. Lạ quá không thấy “cà chớn” ghi trong tự điển.

 “Cà chớn” là tiếng lóng ở miền nam, người Trung, người Nam nào cũng hiểu “cà chớn” là gì, nhưng người Bắc thì không biết từ này. Theo các nhà ngôn ngữ học, từ “cà-chớn” bắt nguồn từ tiếng Miên “Kchol”, người Việt phát âm “Cà chon”, đọc trại thành “Cà chớn”, có nghĩa là không đáng tin lắm từ lời nói đến hành động.

Nói ai cà chớn là có ý chê, nhưng cũng không có nghĩa là hoàn toàn xấu. Chẳng hạn “Chờ tới giờ này mà nó chưa đến, đồ thứ cà chớn”, hay “chiếc xe hôm nay cà chớn, đạp máy hoài mà không chịu nỗ”. Tuy nhiên, có thể nặng “Có tới bằng cấp đó, chức vụ đó mà ăn nói lý luận cà chớn quá”.

Vì gốc tiếng Miên, nên chỉ có dân Đàng Trong từ thời Chúa Nguyễn biết từ này, còn người Đàng Ngoài của chúa Trịnh tuyệt nhiên không biết. Từ này nhẹ hơn từ “cà tững”, có nghĩa gần như điên như khùng, thần kinh bị “mát”.

Hai từ “Cà Chớn” rất phổ biến ở miền nam trước 75. Mặc dầu bắt đầu bằng chữ “Cà” nhưng không có nghĩa là thực phẩm dùng để ăn như Cà chua, Cà pháo, Cà tô mát v.v… và cũng không có ý nghĩa là khuyết tật như Cà Lăm !

Cà chớn khó định nghĩa như thế nào cho chính xác. Cà chớn không hề có nghĩa là láo lếu, cũng không có ý nghĩa là xấu xa, nhảm nhí. Thí dụ bạn hẹn một người bạn đi uống cà phê, nhưng anh ta đến muộn, bạn phán là “thằng cà chớn”. Vậy không có nghĩa là anh bạn kia là một người bạn xấu.

Hoặc bạn nghe một người bạn nào đó đùa dai một câu như “trông cô gái kia phốp pháp, có vẻ hạp với ông đấy”. Bạn chỉ có thể kết tội anh ta là cà chớn chứ không thể cho là anh ta nói láo.

Đôi khi nó có nghĩa là xấu, đôi khi nó có nghĩa là vui đùa, đôi khi nó có nghĩa là không tốt, không xấu nữa. Thí dụ, bạn nói về một người bạn rằng: “Thằng ấy nó cà chớn thế thôi chứ không xấu bụng đâu”. Vậy cà chớn là không tốt cũng không xấu.

Xem ra hai tiếng “ cà chớn” này rất khó dịch sang tiếng ngoại quốc. Xin nhờ các dịch giả, các nhà nghiên cứu về ngôn ngữ học làm ơn dịch giùm. Tôi cứ nghĩ, nếu không là người Việt Nam thì khó mà hiểu nổi “cà chớn” có nghĩa là gì.

Tuy nhiên người Việt Nam nào cũng có thể cảm nhận được, hiểu ngầm được hai tiếng này. Nhóm chữ “văn hóa cà chớn” tôi dùng ở đây mang tất cả các ý trên.

Lại cũng xin xác minh rằng hai tiếng “cà chớn” đã có từ thời xa xưa chứ không phải chữ nghĩa hay lời nói mới phát sinh vào thời đại ngày nay ở Việt Nam (không phải chữ nghĩa VC).

Tôi nhớ rằng khi còn nhỏ, khoảng trên dưới 10 tuổi, mỗi buổi chiều khi tôi mê đá bóng hay đánh bóng chuyền, bóng bàn, về nhà trễ, tôi thường bị anh tôi mắng là “thằng cà chớn”. Tôi nghĩ ông ấy đã dùng chữ này thật chính xác. Nếu tôi mê đánh đinh đánh đáo, anh tôi có thể mắng là “thằng bố láo, thằng lười, ham chơi hơn thích học”, nhưng tôi mê thể thao cũng như ông ấy thì ông không dùng chữ “láo” được mà chỉ có thể có thể cho tôi là “thằng cà chớn” là đúng nhất.

Đôi khi người ta còn dùng là “cà chớn, cà cháo”, nhưng chữ “cháo” này không có nghĩa gì khác cả, chỉ là câu nói quen miệng cho trơn, cho xôm tụ thôi. Nhưng khi người ta nói “người ngợm đâu mà bẩn thế”, chữ “ngợm” ở đây có thêm nghĩa xấu, chứ nói về một người tốt, không ai thêm chữ “ngợm” vào cả.

Thế mới biết chữ nghĩa Việt Nam thâm thúy lắm. Cũng cùng một nhóm chữ, nhưng mỗi trường hợp phải được hiểu theo một ý khác nhau và hiểu được đúng lại càng khó. Đôi khi chỉ còn là sự cảm nhận của những người cùng chung một dân tộc, một huyết thống.”

 Nói về VN sau này cũng có nhiều thú vị. Một nhóm bạn xưa gặp nhau nói chuyện tầm phào về người này người nọ từng quen biết từ hồi thơ ấu. Khi đề cập tới một người khá quen biết, một bạn bỗng nói “Anh ấy bây giờ ở gần “kho đạn”, “nỗ” lắm đó, ai mà tiếp xúc với anh ấy thì bị văng miễng chịu không thấu đâu”.

Thật tình, nếu xa VN lâu năm sẽ không hiểu “kho đạn” và “nỗ” là gì. “Nỗ là khoe khoang quá lố, có chút ít lại nói thật nhiều, không có nói thành có, đôi khi khoe khoang lố bịch mà người nói tưởng là người nghe không biết. Rồi đến chuyện “cà”.

Mấy mươi năm ở hải ngoại, lo học hành rồi lo làm việc, chăm sóc gia đình, làm sao biết được sự phát triễn “tiếng lóng” ở trong nước trong mấy chục năm qua. “Sau 75, mấy ông ở miền ngoài vào nam “nỗ” lắm. Chẳng hạn như ở ngoài đó Tivi chạy đầy đường. Một anh miền nam, chơi khăm, cố tình gài câu hỏi: “chớ ngoài đó có biết ăn cà chua không?”. “Ngoài đó, tớ có đủ thứ cà, cà pháo, cà dĩa, cà chua ngon lắm, còn ngon hơn ở trong này”. Anh chàng miền nam bèn gài “chớ ngoài đó có “cà chớn” không?”. “Ối giời, thứ gì thì không rõ chứ thứ “cà-chớn” thì khối ấy”.

 Khi đề cập đến từ cà chớn thì ngày xưa có giai thoại về “Tư Cà Chớn”. Người lớn tuổi gọi anh là “Thằng Tư Cà Chớn”. Còn người nhỏ tuổi hơn không gọi “anh Tư Cà Chớn”, “chú hay bác Tư Cà Chớn”, mà thường gọi trõng là “Tư Cà Chớn”.

Nhà “anh Tư Cà Chớn” là gia đình cố cựu lập nghiệp từ bao đời, nhà có ngôi vườn trái cây rộng lớn vài ba mẫu đất, với ngôi nhà ngói đồ sộ và cổ kính, khác với các túp nhà tôn nhà lá nghèo nàn xây dựng tạm bợ của dân tản cư mới đến lập nghiệp. Nhà anh Tư thuộc loại giàu có hay khá giả trong xóm nhất. Anh “Tư Cà Chớn” được biết đến là do“đài radio Cái Răng” và  Chị Sáu đưa đò.

 Theo lờ chị Sáu cho biết, anh Tư mang danh “Tư Cà Chớn” nhưng sự thật thì anh Tư không đến nỗi “cà chớn” lắm, chỉ vì bị một cô gái lạ mặt chèo ghe trên sông nói anh hát đối “cà chớn”, câu chuyện được lan truyền trong xóm mà anh phải mang danh này từ ngày đó.

Anh là con trai duy nhất trong gia đình nên được nuông chìu. Nghe nói  hồi 4-5tuổi anh suýt chết đuối, nên đầu óc có bị ảnh hưởng chút ít, dầu không đến nỗi “cà tững”. Mặc dầu nhà giàu có, dinh dưỡng đầy đủ mà thân thể anh ốm “cà tong cà teo”.

Anh không thích học hành, từ hồi nhỏ anh chỉ “cà nhõng” trong thôn xóm, tới lớn cũng không có bằng cấp nghề nghiệp gì, mà lại thường “cà rà” ở các quán cà phê bên chợ Cái Răng hay nơi nào có tiệc tùng, có nhiều cô gái.

Nghe nói là ảnh cũng có bạn gái, nhưng rốt cuộc không đi đến đâu. Lý do là vừa mới quen cô gái nào, anh cũng đem giới thiệu khoe với bạn bè, mà nhè bạn bè lại đẹp trai, có nghề nghiệp đàng hoàng và ăn nói có duyên hơn, vì vậy cô bạn mới quen biết nào cũng đều bỏ anh, theo người mới.

Một lần Chị Sáu đưa đò nói với anh Tư: “Tại sao em lại đem bạn gái của mình giới thiệu với các anh bạn đẹp trai làm chi để nay phòng không chiếc bóng”. Anh trả lời tỉnh bơ: “Em thử lòng cô ta, nếu cô ta thực lòng thương em thì dầu gặp ai cô ta cũng vẫn lấy em. Còn nếu cô ta có tính như vậy, thà cô ta bỏ em bây giờ thì vẫn tốt hơn là bỏ em sau này, thế là may mắn cho em đó chớ”.

Chị Sáu đưa đò hết ý khuyên can. Anh Tư thích ca nhạc tân thời, hát vọng cỗ, và hò, nhưng anh ăn nói thuộc loại không có duyên lắm, mà lại hay “cà rỡn”. Chị Sáu kễ tiếp:

 Trong một buổi chiều tối nhá nhem, anh đang chèo ghe câu trên sông Cái Răng, bỗng thấy bóng dáng một cô gái bơi xuồng xa xa. Anh cất tiếng hò chọc ghẹo:

Hò…hơ…ớ…..hơ…lưới thưa anh bủa con cá duồng,
Buông lời mà hỏi bạn…hò….hơ…ơ…. chớ bạn bơi chiếc xuồng đi dâu?!

Cô gái chọc lại:

 Hò….hơ…ơ……lưới thưa em bủa con cá duồng,
Ở nhà em có chuyện hò……ơ…..nên em bơi xuồng đi tìm anh

Anh Tư tưởng bở là cá đã cắn câu, bèn cương câu hò:

 Hò…hơ…..con chim liễu nó biểu con hoàng oanh,
biểu to, biểu nhỏ, hò…hơ…biểu to biểu nhỏ, biểu anh thương nàng.

Cô gái cũng hát cương theo:

Hò ơ, … Anh kia xin chớ vội vàng
Nếu anh có giỏi, hò ơ, thì vài hàng đối chơi
hò….hơ…ơ…chớ con “cá đối” nằm trong “cối đá”
còn “mèo đuôi cụt” nằm “mút đuôi kèo”
nếu anh đối đặng, hò…ơ….. dẫu nghèo em cũng thương.

Anh Tư trả lời nghiêm chỉnh:

Hò…ơ……con “chim mõ kiến” nằm “trên miếng cỏ”,
chim “dàng (vàng) lông” đậu giữa “dòng (vồng) lan”.
Anh đà đối đặng, hò…hơ…. vậy nàng đến đây.

Thấy cô gái không hò trả lời. Anh Tư bèn hò tiếp:

 Hò hơ… ơ, Bớ chiếc ghe sau chèo mau anh đợi.
Hò hơ… ơ, Kẻo giông tắt đèn bờ bụi tối tăm.

 Không ngờ, cô gái hò đáp trả lời:

 Hò hơ… ơ, Bờ bụi tối tăm, anh quơ nhằm cái tộ bể
Hò hơ… ơ, Cưới vợ có chửa về thổi lửa queo râu.

 Qua câu hò đối đáp, biết cô gái chẳng vừa, anh bèn cà rỡn:

 Hò hơ, ơ… Cầu tre lắc lẽo gập ghình
Em xinh, em té xuống sình hết xinh

Cô gái hò đáp:

Hò hơ, ơ…Hởi  anh “cà chớn” kia ơi, em té xuống sình
Sao anh không vớt, mà ngồi chình ình vô duyên.

Cô gái chèo ghe đi khuất. Kễ từ đó, anh mang danh “Tư Cà Chớn”.

 Có những mẫu chuyện vui liên quan đến “cà chớn”:

…Mấy ngày sau 30.04.75, miền nam VN rơi vào tay cộng sản. Một cán bộ miền bắc vào Sàigòn tự cho là mình là “đỉnh cao trí tuệ” ra vẽ rất là hách dịch, thấy một người đạp xe lôi chở khách, liền lên giọng cán bộ nói:
“Miền nam sao mà nghèo thế! ở miền bắc chúng tôi thì xe hơi rất là nhiều, đến nỗi xe hơi chạy đầy đường đếm không hết. ”

Người lái xe lôi đạp hỏi tiếp:
“Thế ở miền bắc các anh có cà pháo không vậy?.”
Anh cán bộ hách dịch:
” À, cà pháo ở miền bắc chúng tôi rất là nhiều, đến nỗi cà pháo ăn không hết, mà còn phơi khô đầy đường đếm không xuể! “
Người lái xe lôi đạp từ tốn hỏi lại:
“Thế ở miền bắc các anh có cà rem không vậy?”
Anh cán bộ lại phô trương tài hiễu biết đĩnh cao:
” À, cà rem ở miền bắc chúng tôi có rất là nhiều, đến nỗi cà rem ăn không hết, mà còn phơi khô đầy đường. “
Người lái xe hỏi tiếp:
” Vậy thế ở miền bắc các anh có “cà chớn” không vậy?
Anh cán bộ tự đắc:
“Cà chớn hả ! Ôi Cà chớn ở miền bắc chúng tôi có rất là nhiều, đếm không hết. Chúng nó nhiều đến nỗi chạy đầy đường.”

Anh đạp xe, không còn lời gì để hỏi nữa !!!! Đúng là Xạo Hết Chổ Nói !

xxxxxxxxxx

Sau năm 1975, đám bộ đội khỉ Trường Sơn vào chiếm đóng các thành phố ở miền Nam. Thấy con gái ngụy đẹp quá nên buông lời tán tỉnh.
Rất bực mình, các cô khinh bỉ, bỉu môi.
– Đồ cà chớn!
Thấy thế, bộ đội lên đạn chỉa súng quát lên
– Này, cà chớn là gì thế hở? nói mau, nếu không, tớ xử lý ngay tại chổ.
Sợ quá, các cô ấp úng đáp.
– Dạ, cà chớn là tốt, ý tụi em muốn nói các anh bộ đội tốt lắm.
Thế là cả đơn vị bộ đội để chứng tỏ mình cũng là người văn minh nên truyền tai nhau học tập cà chớn là tốt.

Một hôm, Lê Duẩn ghé thăm đơn vị bộ đội này, tiểu đoàn trưởng đứng lên thuyết trình.
– Báo cáo đồng chí Tổng bí thư, tinh thần chiến đấu của anh em trong đơn vị nói chung là cà chớn. Tình cảm giữa các anh em đối với nhau cũng cà chớn lắm, anh em hạ quyết tâm noi gương cà chớn của các đồng chí lãnh đạo ạ!

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bình luận về bài viết này

HAPPY NEW YEAR 2022

KÍNH CHÚC QUÝ NIÊN TRƯỞNG, QUÝ THÂN HỮU ĐỒNG MÔN, QUÝ BẠN BÈ ANH CHỊ EM VÀ GIA ĐÌNH KHÓA 1 HỌC VIỆN CSQG/VNCH BƯỚC SANG NĂM MỚI TRÀN ĐẦY SỨC KHỎE, CUỘC SỐNG LUÔN LUÔN AN BÌNH HẠNH PHÚC.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở HAPPY NEW YEAR 2022

Phút Cuối Cùng của Học Viện CSQG_- Ngô Bá Phước

PHÚT CUỐI CÙNG CỦA HỌC VIỆN CSQG

  • Ngô Bá Phước / Cựu Liên Đoàn Trưởng LĐSV-HVCSQG (1975)

                 Những ngày cuối tháng 4/75 sinh hoạt tại Học Viện CSQG thật căng thẳng. Tình hình thật bất lợi cho miền Nam Việt Nam. Quân Lực VNCH rút dần, co cụm về Quân đoàn III và chung quanh Sài Gòn.

            Từ đồi Tăng Nhơn Phú, nơi Học Viện tọa lạc, nhìn ra xa lộ Sàigòn – Biên Hòa, Sĩ quan Học Viện và các Sinh viên Sĩ quan đang thụ huấn thấy từng đoàn quân xa và các xe dân sự nối nhau hướng về phía Nam. Xa xa, phi trường Biên Hòa bị pháo kích và các trực thăng, chiến đấu cơ của Không Quân VNCH phải bay đi nơi khác. Dọc theo xa lộ, các nút chặn bằng thùng “phuy” đựng cát do Nghĩa Quân quận Thủ Đức thiết lập và trấn giữ. Sĩ quan, nhân viên Học Viện và Sinh viên Sĩ quan được lệnh sẵn sàng tác chiến.

            Đêm 29 rạng 30/4/75 Học Viện mất liên lạc vô tuyến với Chi Khu Thủ Đức. Cầu Rạch Chiếc trên xa lộ Biên Hòa bị đánh phá. Liên lạc máy PRC-25 với Biệt Khu Thủ Đô và Yếu Khu Tăng Nhơn Phú còn giữ được. Liên lạc với Bộ Tư Lệnh CSQG thì Đại Tá P.K.Q. chỉ hỏi tình hình tổng quát, khuyên cố gắng giữ vững vị trí chờ lệnh.

            6g30 phút sáng ngày 30/4/75 loạt đạn đầu tiên của chiến xa cộng quân bắt đầu nổ, phá hủy các cao điểm bố trí đại liên 30, 50 của Học Viện tại xạ trường. Các trụ “ăng ten” chính bị bắn gãy phải dựng các “ăng ten” phụ để liên lạc. Tiểu Đoàn III (SVSQ) quan sát tình hình báo cáo rất nhiều xe tăng và xe vận tải phủ lá ngụy trang với màu cờ xanh đỏ của cộng quân chạy nhanh về hướng Sàigòn. Chỉ có khoảng 4 chiếc tăng T-54 chạy tới lui và bắn về phía Học Viện ở hướng Bắc khiến các dãy lầu K và L bị hư hại khá nặng. Đại Giảng Đường cũng bị trúng đạn nhiều chỗ.

            Phía phòng thủ của Học Viện gồm Đại Đội Phòng Vệ, các Sĩ quan và nhân viên trực, 3 Tiểu Đoàn I, II và III gồm khoảng 800 SVSQ và 100 Sĩ quan các nơi về thụ huấn đã được huấn luyện trước nên đã sẵn sàng tại các vị trí phòng thủ chung quanh Học Viện. Sau giây phút giao động ban đầu, các Sĩ quan Liên Đoàn Sinh Viên và Đại Đội Phòng Vệ đã bám sát thuộc cấp để nâng cao tinh thần chiến đấu của anh em.

             Sĩ quan truyền tin Học Viện liên lạc Phòng Hành Quân Biệt Khu Thủ Đô để xin yểm trợ thì được yêu cầu cố gắng giữ vững vị trí. Liên lạc Yếu Khu Tăng Nhơn Phú để xin yểm trợ pháo binh, bắn rải dọc trên xa lộ đối diện Học Viện để khóa họng các chiến xa cộng quân đang bắn phá. Khoảng 8 giờ sáng, Đại úy Đặng Cao Quyền báo cáo, một xe tăng địch bị trúng đạn cháy ngoài xa lộ, các xe tăng khác của cộng quân hoảng loạn tràn xuống ruộng vừa tiến về hướng “lò sỏi” giữa Học Viện và Trường Bộ Binh Thủ Đức.

            Sinh viên Sĩ quan nhìn cảnh xe tăng địch bị cháy lên tinh thần la hét rầm rĩ và giữ chặt tay súng sẵn sàng chiến đấu.

            Khoảng 8g30, toán chiến xa địch chuyển hỏa lực về phía Trường Bộ Binh Thủ Đức, nơi bố trí pháo binh 105 ly và các chiến xa từ Trường Thiết Giáp Long Thành rút về. Tiếng bánh xe sắt cắn nát sỏi đá nghe rợn người. Có 4 chiến xa cộng quân đã được nhận diện, các chiến sĩ Phòng Vệ và SVSQ Học Viện được giao nhiệm vụ sử dụng vũ khí chống chiến xa từ trước được lệnh vào vị trí, chờ chiến xa địch lọt vào tầm bắn mới khai hỏa. Lúc này mục tiêu tấn công của chiến xa địch chuyển về phía Trường Bộ Binh nên Học Viện ít bị đạn pháo. Một chiếc xe tăng địch bị Trường Bộ Binh bắn đứt xích tại Niệm Phật Đường Chợ Nhỏ nhưng vẫn ngoan cố nhả đạn liên hồi cho đến khi bị cảm tử quân Trường Bộ Binh dùng lựu đạn lân tinh tiêu diệt.

            Tiếng đạn chấm dứt, Sinh Viên và Phòng Vệ Học Viện được lệnh củng cố hàng ngũ, sẵn sàng phản kích đợt tấn công kế tiếp của cộng quân. Một nhân viên Phòng Vệ và một SVSQ bị thương được di chuyển về phía trong chăm sóc.

            10g30 sáng 30/4/75, qua Đài Phát Thanh, Tổng Thống Dương Văn Minh ra lệnh buông súng sẵn sàng bàn giao. Mọi người đều ngơ ngác. Sĩ quan, Sinh viên nhốn nháo chờ lệnh. Một số ôm mặt khóc nức nở.

            Rồi tất cả cởi bỏ quân phục, vứt súng đạn lại, lủi thủi đi bộ ra hướng xa lộ tìm phương tiện về nhà chứ không để bị địch bắt làm tù binh.

            Phút cuối cùng của một đơn vị còn giữ được tay súng, tôn trọng kỷ luật, cương quyết chiến đấu và đã không hổ thẹn tự rã ngũ.

            Mẹ Học Viện vẫn giữ được tinh thần “Kỷ Luật – Danh Dự” đến phút cuối cùng.

NGÔ BÁ PHƯỚC

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Phút Cuối Cùng của Học Viện CSQG_- Ngô Bá Phước

Thuốc Paxlovid điều trị Covid-19

THUỐC PAXLOVID CỦA PFIZER
ĐIỀU TRỊ COVID-19

download

Hôm 22/12/2021, Cơ quan Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) đã cấp phép khẩn cấp cho dùng thuốc viên điều trị Covid-19 có tên Paxlovid của hãng dược phẩm Pfizer. Tổng thống Joe Biden hoan nghênh điều này, đồng thời, Nhà Trắng dự định mua tổng cộng 10 triệu liều  với 250.000 liều ngay từ tháng 1/2022.

Từ Washington, thông tín viên Guillaume Naudin tường trình :

“Tên thuốc là Paxlovid. Đây là một phương pháp điều trị dưới dạng kết hợp mỗi ngày uống 2 viên, và 2 lần, trong vòng 5 ngày. Paxlovid chỉ dành cho những người trên 12 tuổi có nguy cơ cao bị thể nặng của bệnh. Và cách sử dụng cũng rất hạn hẹp : điều trị phải được bắt đầu ngay từ lúc bệnh được chẩn đoán và trong vòng 5 ngày kể từ khi bắt đầu có triệu chứng.

Theo các thử nghiệm lâm sàng, thuốc có thể làm giảm 88% số ca nhập viện và tử vong của những người được điều trị.
Đối với FDA, phương pháp điều trị này xuất hiện vào thời điểm quan trọng của đại dịch, lúc các biến thể mới đang xuất hiện. Nhưng thuốc điều trị này không thể thay thế vac-xin, phương cách đề kháng tốt nhất.

Tổng thống Mỹ Joe Biden hoan nghênh sự xuất hiện của loại thuốc mới này trong các phương pháp điều trị của đất nước. Các nhà chức trách Liên bang đã đặt mua số lượng thuốc đủ để điều trị cho 10 triệu người. Nhưng số người được điều trị bằng thuốc này sẽ tăng dần dần bởi vì quá trình sản xuất mới được bắt đầu. Trước tiên, trong vài ngày tới, sẽ có 250.000 người được điều trị bằng Paxlovid“. 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thuốc Paxlovid điều trị Covid-19

Tin Buồn từ K1 Lê Ngọc Thịnh

cach-nhan-tin-chia-buon-dam-tang-3

Căn Nhà Nhỏ vừa được bạn Tống Phước Kiên báo cho biết tin buồn.
– Anh ruột của K1 Lê Ngọc T̀hịnh vừa qua đời tại Charlơtte NC, ngaỳ mai an táng.
Mình có gọi phone cho Thịnh nhưng có lẽ vì tang gia đang bối rối nên không có ngưới nhận phone.
CNN xin thông báo cho các bạn trong Gia Đình K1 được biết.
Nhân đây mình xin đại diện cho Căn Nhà Nhỏ và một số bạn đồng môn kính gởi lời chia buồn đến bạn K1 LÊ NGỌC THỊNH và tang quyến. Cầu mong cho hương linh người anh quá cố được siêu sanh về cõi lành.
THÀNH KÍNH PHÂN ƯU

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Tin Buồn từ K1 Lê Ngọc Thịnh

Thiệp Merry Christmas của NVV và nàng Dâu K1

Vinh nguyen 2003

Tho Vinh Lan

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thiệp Merry Christmas của NVV và nàng Dâu K1

Thơ TPK ” Lễ Giáng Sinh Năm Nay”

TPK 2

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thơ TPK ” Lễ Giáng Sinh Năm Nay”

Thiệp Mừng Giáng Sinh của Tuyên Đinh

110027806-christmas-frame-with-blank-space-for-new-year-holiday-greeting-card-blank-paper-edged-with-xmas-tree copy 2

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thiệp Mừng Giáng Sinh của Tuyên Đinh

NHỮNG ÂN TÌNH NGÀY THÁNG CŨ_Lê Chu Ấn

Những ân tình ngày tháng cũ

Lê Chu Ấn

Tôi đuợc làm thành viên của đại gia đình Cảnh Sát Việt Nam Cộng Hòa từ ngày 15 tháng 1 năm 1963 và phải giã từ mái ấm đó vào lúc 11 giờ rưỡi ngay 30-4-1975 trong một hoàn cảnh thảm bại thê lương của miền Nam tự do thân yêu.

Nhẩm tính trong đầu, tôi đã sống và làm việc trong tập thể thân thương đó đúng 12 năm 3 tháng 15 ngày, kể từ lúc vui vẻ bước lên xe đi thụ huấn cho đến khi đứng nghẹn ngào chào vĩnh biệt huynh trưởng Trung Tá CSQG Nguyễn-Văn-Long tuẫn tiết dưới tượng đài Thủy Quân Lục Chiến trước tòa nhà Quốc Hội trên đường Tự Do.

Sau ngày oan nghiệt đó, đại gia đình Cảnh Sát Quốc Gia của chúng tôi đã bị tàn phá tan hoang. Anh em tứ tán khắp nơi để rồi phải gánh chịu những đòn thù kinh thiên động địa. Ở một tỉnh ở Miền Trung, trong một đêm Việt Cộng đã đem đi thủ tiêu hơn một trăm hai chục mạng người gồm hơn tám chục anh em CSQG và gần 40 quân nhân với thường dân. Có những gia đình sĩ quan trẻ, cả hai vợ chồng cùng ôm con thơ vài tháng tuổi vào tù! Có những gia đình, chồng đi tù, vợ và bầy con thơ bị xua đuổi lên vùng kinh tế mới, sống vất vưởng đói khổ ở nơi rừng sâu núi thẳm.

Trải qua những ngày hoang phế trong các trại tù ở trong Nam ngoài Bắc, từng giờ từng ngày tôi vẫn nhớ về thời gian thân ái thuở nào. Những ngày tháng cũ đã trôi đi, nhưng những kỷ niệm thân thương vẫn còn chất đầy trong ký ức, nhắc nhở cho tôi nhớ về những ân tình ngày tháng cũ…

 Có những ân tình không sao nói hết,
 Giữ mãi trong lòng xao xuyến khôn nguôi.

Tôi làm sao quên được hình ảnh vị tướng gia trưởng của đại gia đình CSQG mà có một thời tôi được theo gót chân Ông để làm phóng sự về các cuộc thanh sát những đơn vị hẻo lánh ở khắp các tỉnh Miền Trung và Miền Nam. Vị tướng ấy có một thân hình nhỏ bé, và một nếp sống thật đơn sơ bình dị, nhưng trái tim Ông lại chứa đựng cả một kho tàng tình cảm hiền hòa cởi mở đối với đàn em. Khi nói chuyện với những người em nhỏ tuổi, Ông thường tự xưng là “tớ” và gọi người đối diện là “cậu”. Với những người lớn tuổi hoặc có chức vị, Ông dùng hai tiếng “toi” –“moi” (tiếng Pháp có nghĩa là “anh” – “tôi”) nghe thật thân thiết êm đềm tưởng như ranh giới cấp bậc chỉ còn là huyền thoại mơ hồ.

Ông về làm gia trưởng CSQG giữa những biến cố sôi sục “giặc ngoài thù trong” khiến những ai còn có lòng với chính nghĩa và tiến đồ của tổ quốc đều phải lo lắng quan tâm. Trong hoàn cảnh khó khăn đó, Ông đã sát cánh cùng tất cả anh em Cảnh sát ngày đêm ra sức duy trì an ninh trật tự. Gặp những tình huống đầy tế nhị, đích thân Ông đứng ra gánh hết trách nhiệm để tránh mọi hậu quả cho các cấp đàn em thừa hành.

Ngày Việt Cộng vi phạm lệnh hưu chiến, trong Tết Mậu Thân, Ông đau lòng trước cảnh tên Ba Lém sát hại các đàn em Cảnh Sát và người thân của họ nên đã xử bắn tên nầy ngay tại mặt trận Ngã Bảy bất chấp những dư luận trong giới truyền thông thế giới.

Tôi không sao nói hết tấm lòng quảng đại của Ông đối với anh em Cảnh Sát và cũng không sao nói hết tình thương mến của anh em Cảnh Sát dành cho Ông. Hình ảnh hai lính Cảnh Sát lấy thân mình che kín thân Ông khi một trái B40 của địch bắn ra cạnh nơi Ông đứng trên mặt trận Ngã Bảy, cùng hình ảnh Anh Nguyễn Văn Đáng liều mình xông đến bế Ông ra khỏi nơi nguy hiểm khi Ông bị thương ở mặt trận Thị Nghè đã nói lên tình huynh nghĩa đệ trong gia đình CSQG sâu xa như thế nào.

Dù phải nằm trong Bệnh Viện, vi tướng gia trưởng vẫn không quên nhắc nhớ Thiếu Tá Chánh Văn Phòng mang máy truyền tin của Ông đến bên giường để Ông tiếp tục chỉ huy. Ngày hôm sau, bức hình được đăng trên khắp các nhật báo với chú thích “Mặc dầu bị thương, Tướng Loan vẫn tiếp tục chỉ huy các đơn vị Cảnh Sát quét sạch giặc thù ra khỏi Thủ Đô”. Chính bức hình nầy đã làm cho đồng bào yên tâm, và tinh thần chiến đấu của anh em Cảnh sát thêm vững vàng.

Tướng Loan đã âm thầm rời khỏi gia đình CSQG thân thương vì phải đi chữa trị vết thương ở phương xa, nhưng nụ cười hiền hòa ấm áp còn mãi mãi trong tim của mọi người.

Trước ngày bàn giao, Thiếu Tá Chánh Văn Phòng Vũ-Huy-Đức gọi sáu anh em trong tòa soạn lên phòng khách, ngỏ lời cảm ơn về những đóng góp trong hơn một năm cho Nguyệt San Rạng Đông đồng thời siết tay giã biệt từng người. Tôi thay mặt anh em cảm ơn Ông đã dành những cảm tình nồng hậu cũng như những phương tiện thuận lợi cho tập thể làm báo của ngành.

Khoảng một tháng sau, tôi nhận Sự Vụ Lệnh do anh Nguyễn Bá Hàm xin cho toi về làm Trưởng phòng Cảnh Sát ở Ty CSQG Cần Thơ. Từ một Tổng Thư Ký, chuyên làm báo chí, bây giờ bước sang một lãnh vực khác, tự thấy mình bỡ ngỡ và kém cỏi nên phải học hỏi từng ly từng tý từ những anh em có nhiều kinh nghiệm.

Vào một buổi sáng trong giờ làm việc, anh Trưởng Ty gọi điện báo cho biết sẽ gởi một cận vệ dư thừa sang phòng của tôi để tùy nghi sử dụng. Ngay buổi chiều, Xuân đến trình diện với một bộ mặt lầm lỳ phảng phất vẻ bướng bỉnh, tóc tai bù xù trông thật khó coi. Tôi cố giữ vẻ khó chịu trong lòng, ra vẻ tươi cười ngoài mặt, tự đưa tay vuốt đi vuốt lại mái tóc của mình rồi nhẹ nhàng bảo Xuân về nghỉ một buổi lo thu xếp những việc riêng tư.

Sáng hôm sau, Xuân đến với bộ điệu thật nghiêm trang trong bộ sắc phục Cảnh Sát Dã Chiến, đầu tóc đã được hớt tỉa gọn gàng. Tôi thầm khen Xuân là người sáng trí, đoán được ý tôi.

Ngày chủ nhật, tôi đang ngồi trong nhà thì thấy Xuân lỉnh kỉnh khuân giường và ghế vào một căn nhà nhỏ nằm chếch bên nhà tôi thuê. Tôi thấy long mình vui vui vì trút được những nỗi hiu quạnh sau giờ làm việc.

Hằng đêm, trong giờ giới nghiêm, Xuân lái xe đưa tôi đi tuần tra các trạm gác ở những nơi hiểm yếu trên những con đường dọc ngang trong thành phố. Trên đường đi, chúng tôi bất chợt bắt gặp bao nhiêu vi phạm gồm đủ mọi hình thức và đủ mọi thành phần: nào là tụ năm chụm bảy uống rượu say sưa la hét um xùm; nào là nhân dân tự vệ ném đá xuống sông chọc ghẹo nhân viên Cảnh Sát đang bơi xuồng qua lại canh gác dưới gầm cầu, nào là những cuộc ẩu đả với gậy gộc dao búa trong tay, nào là những quả đạn pháo kích của Việt Cộng rót vào thành phố cần được báo cáo ngay cho Ban An Ninh tỉnh… Nhờ sự năng nổ và xông xáo của Xuân, mọi việc diễn ra đều được giải quyết trơn tru êm đẹp.

Trong chuyến đi điều tra một vụ án ở Quận Thuận Nhơn, một Quận hẻo lánh mà đường đi thật nguy hiểm vì mìn bẫy và những đợt bắn lén của Việt Cộng nên các quân nhân, công chức thường dùng trực thăng lúc không có đơn vị mở đường. Vì quá khẩn cấp, bốn anh em Cảnh Sát chúng tôi đành phải dùng xe. Xe vừa ra khỏi thành phố, tôi để ý thấy mặt chú tài xế và nhân viên tư pháp dều xanh như tàu lá, chỉ có Xuân vẫn giữ vẻ mặt bình tĩnh lầm lỳ. Ngoài súng cá nhân, Xuân còn mang theo một khẩu M72 và 10 quả đạn để tiêu diệt địch khi chúng xông ra tấn công ồ ạt. Suốt chặng đường dài dọc theo kinh xáng Xà –No, chiếc xe lắc lư nhồi lên nhồi xuống, Xuân vẫn đứng, tay cầm súng M16, mắt không ngừng quan sát như sẵn sàng chiến đấu.

Chúng tôi đến Quận vào lúc xế trưa và hoàn thành công tác khi trời vừa tối, đành phải ngủ lại. Đêm về, hàng chục quả đạn pháo kích của địch rót vào Quận lỵ. Đâu đó tiếng khóc thét của trẻ thơ hòa lẫn tiếng kêu ơi ới của người lớn gọi nhau xuống hầm trú ẩn. Xuân vội kéo tay tôi và chú tài xế nhét hai người xuống hai hố cá nhân trước khi có một tiếng nổ kinh hồn ở một mảnh sân bên cạnh. Tôi cúi đầu nhắm mắt điếng hồn, thầm cám ơn người em lanh trí. Từng loạt phản pháo của chi khu bắn ra liên tiếp làm câm họng súng của địch. Tôi bước ra khỏi hố, nhìn lên trời cao, thấy những đốm mắt hỏa châu đang tuông từng hàng lệ sáng lòa khóc cho số phận đau thương của quê hương yêu dấu.

Làm nghề cảnh sát, thi hành luật pháp, nhiều khi gặp cảnh thương tâm cũng đành dấu đi những xúc cảm yếu đuối trong lòng để làm tròn trách nhiệm. Trong một buổi sáng, nhân viên truy tầm báo cho tôi biết vừa bắt quả tang một vụ mãi dâm tại một căn nhà trọ. Tôi, với vai trò sĩ quan tư pháp cảnh lại, có nhiệm vụ phải đến chứng kiến và lập vi bằng. Khi đến nơi, tôi thấy một phụ nữ tuổi hơn 20 đang ngồi bó gối khóc nức nở và ôm chặt chiếu quần che kín phần dưới của thân thể. Tôi nhẹ nhàng bảo cô ta hãy mặc quần vào, chuẩn bị ra xe. Cô vẫn ngồi yên khóc vùi, rồi nghẹn ngào thốt lời “Quần em bị rách lớn, vì giật qua giật lại với mấy anh ấy nên không thể bận được”. Tôi vội nhờ một nhân viên sang mượn kim chỉ của nhà bên cạnh, rồi yêu cầu tất cả ra ngoài để cô ta ngồi vá.

Tại phòng Cảnh Sát, nhân viên tư pháp lập biên bản hỏi cung rất nhanh và nộp cho tôi duyệt ký trước khi giải giao nội vụ lên tòa. Đọc biên bản tôi mới rõ chồng của bị can là một nhânviên cảnh sát dã chiến ở Chi CSQG Phong Điền. Lý do người phụ nữ phạm pháp chỉ vì con đau không tiền mua thuốc trong khi người chồng biệt tăm biệt tích hơn một tháng qua. Đọc biên bản mà lòng tôi se thắt lại, cảm thương người phụ nữ như thương em gái ruột thịt của mình. Tôi không thể thả cô ra một cách ngang xương vì làm như vậy là phạm luật, ở tù như chơi. Muốn biết tin tức người chồng, tôi vội thảo một công điện gửi Chi Phong Điền, yêu cầu đương sự về trình diện gấp. Mặt khác tôi điện thoại đến Ông Biện Lý tòa án Cần Thơ trình rõ nguyên nhân sự phạm pháp của người vợ của môt đàn em là do quá túng thiếu nên phải làm liều và xin Ông khoan hồng cho trường hợp nầy.

Buổi chiều, khi nhân viên dẫn giải bị can lên tòa, tôi đích thân vào gặp Ông Biện Lý và trao biên bản tận tay Ông. Sau khi xem xong hồ sơ, Ông đã tuyên bố miễn tố và ra lệnh phóng thích cho người bị cáo bất hạnh. Cả hai chúng tôi đều cúi đầu cảm ơn Ông trước khi bước ra khỏi phòng.

Khi về tới sở, tôi đã thấy một nhân viên cảnh sát dã chiến ngồi ở phòng đợi. Người phụ nữ chạy vội đến cầm tay người đó, cả hai nhìn nhau bằng đôi mắt rưng rưng lệ tủi. Tôi mời cả hai vào phòng, an ủi và khuyên bảo họ hãy sống thuận hòa, quên đi những lỗi lầm nhất thời và tha thứ cho nhau. Người chồng tỏ vẻ hối hận, bật lời tự thú, chỉ vì ham vui cá độ cá gà nên đã thua hết tháng lương, không dám về gặp vợ con.

Khi tiễn hai vợ chồng ra khỏi phòng, tôi bỗng thấy một nhân viên tư pháp đi từ bàn nầy sang bàn khác quyên góp những tờ giấy rồi gom lại trao cho cặp vợ chồng người đồng nghiệp với lời nói chân tình “Xin anh chị nhận số tiền nhỏ mọn nầy để về mua thuốc cho cháu”. Người vợ đưa bàn tay run run đón nhận, nghẹn ngào cảm tạ với đôi dòng lệ tuôn rơi. Tôi thấy như cả một trời ân tình cao đẹp đang cuồn cuộn dâng lên trong khoảng không gian nhỏ bé trước mặt.

Tôi rời chúc vụ để trở về Nha CSQG Khu 3 sau khi anh Nguyễn-Bá-Hàm ra đi chừng hơn một tháng. Kèm theo Lệnh Thuyên chuyển là một giấy khiển trách “kém tác phong” mà chính bản thân tôi cũng chẳng biết lý do gì.

Tôi coi sự thuyên chuyển là chuyện bình thường như những cơn mưa nắng hàng ngày, nhưng cũng không khỏi chạnh nhớ đến bao nhiêu điều tranh cãi gay go giữa Trưởng Ty Hàm và Giám Đốc Nguyễn –Bính. Ở Nha, ai cũng biết anh Hàm xin tôi về, giờ anh ra đi, tất nhiên tôi cũng phải cuốn gói lên đường.

Tôi đến trình diện Đại Tá Giám Đốc Đào-Quang-Hiển trong một tâm trạng cố gắng trấn tĩnh trong lòng. Đại Tá cho phép tôi ngồi rồi lặng lẽ mở hồ sơ cá nhân của tôi ra xem xét. Một thoáng sau, Ông ngẩng đầu lên, nói một câu nhẹ nhàng :

– Tôi thấy anh chẳng có lỗi gì!

Nghe Đại Tá nói, tôi thấy lòng mình thật nhẹ nhàng như vừa trút bỏ bao nhiêu điều khắc khoải thắc mắc đè nặng trong tâm hồn bởi ba chữ “kém tác phong”. Tôi ấp úng mãi mới thốt nên lời cảm ơn vị huynh trưởng.

Sau đó, Đại Tá vừa gấp tập hồ sơ vừa nhìn tôi nói tiếp:

-Anh có thể xin đi bất cứ tỉnh nào trong khu 3, trừ hai tỉnh Gia Định và Biên Hòa vì các nơi nầy thặng dư nhân số. Theo tôi nghĩ, anh nên ở lại Nha làm Phụ tá cho chủ sự phòng Tư Pháp Đặng-Thành-Trí.

Tôi cảm ơn hảo ý của Đại Tá và xin phép ra ngoài để gặp anh Trí, một người bạn cùng khóa và cũng là người từng là Trưởng Phòng Cảnh Sát ở Cần Thơ.

Công tác đầu tiên của tôi được giao phó là phối hợp cùng các sỉ quan quân cảnh Tư Pháp và An Ninh Quân Đội của Quân Khu 3 ra Vũng Tàu điều tra những đơn khiếu nại của dân chúng về việc một số quân nhân tại đặc khu đã đơn phương hành quân ban đêm khám xét các quán rượu, bắt đi một số chiêu đãi viên, thu giữ giấy tờ tùy thân để ép họ ăn nằm qua đêm. Tôi đã làm việc tại một phòng riêng biệt thuộc nhà khách của đặc khu trong suốt tám giờ đồng hồ, không ăn không uống, cố gắng lấy đầy đủ lời khai của các đương đơn và nhân chứng. Trong khi đó, Các sĩ quan quân cảnh tư pháp và an ninh quân độì làm việc ở một phòng khác với các quân nhân của đặc khu có tên trong đơn tố cáo.

Hôm sau, tôi trình toàn bộ biên bản lên Đại Tá Giám Dốc. Ông đọc thật kỹ lưỡng rồi nói với tôi:

– Để tôi sẽ nói với anh Trí !

Anh Trí mà Đại Tá nhắc tên chính là Trung Tướng Đổ-Cao-Trí, Tư Lệnh Quân Khu 3, một vị tướng tài ba từng xông pha nhiều trận mạc.

Chỉ mấy bữa sau, sì quan Chỉ huy phó đặc khu Vũng Tàu cùng một số tùy tùng dính líu vào việc làm tồi tệ đã phải thuyên chuyển đi nơi khác.

Vì nhu cầu công vụ của Nha, tôi được giao trách nhiệm điều hành hai Ban Căn cước và Kiểm soát an ninh. Trong thời gian ngắn, chúng tôi đã thiết lập được các bản thống kê và hệ thống sơ đồ để cung cấp các khối lượng công việc của các ty liên quan đến chương trình đổi thẻ căn cước mới cũng như hoạt động kiểm tra an ninh tại các địa phương. Đại Tá Giám Đốc có vẻ hài lòng về hai tài liệu nầy, nó đã giúp Ông theo dõi chính xác các hoạt động và thành tích của các Ty giữa lúc còn bận rộn với bao công việc khác.

Làm việc dưới sự chỉ huy của Đại Tá Đào- Quang- Hiển, tôi thực sự có biết bao nhiêu ấn tượng tốt đẹp về đạo đức, phong cách đối xử cùng tấm lòng bao dung quảng đại của vị huynh trưởng làm tôi nhớ lại những lời ca tụng của đa số nhân viên cảnh sát và dân chúng ở tỉnh Cần Thơ, nơi Ông đã từng làm việc một thời.

Tôi nhớ một lần, Ty CSQG Hậu Nghĩa gởi công điện về Nha báo cáo cảnh sát viên Biện-Lực đang làm nhiệm vụ đã hạ sát một nhân viên an ninh quân đội trong tư thế tự vệ chính đáng. Đương sự đã bị quân cảnh Tư Pháp câu lưu để lập hồ sơ truy tố ra tòa. Tôi cầm công điện trình xin Đại Tá cho phép thảo công điện chỉ thị Ty Hậu Nghĩa đến lãnh bị can về, lập biên bản khẩu cung vì bị can là dân chính chứ không phải là quân đội. Hai ngày sau, Ty Hậu Nghĩa lại gởi công điện thông báo rằng cơ quan Quân Cảnh Tư pháp không cho lãnh bị cáo, viện lý do hồ sơ đã hoàn tất. Một lần nữa tôi xin vào gặp Đại Tá với một công điện đã thảo sẵn với nội dung yêu cầu Ty Hậu Nghĩa lập một hồ sơ điều tra song hành nêu rõ các uẩn khúc và chứng cớ tự vệ chính đáng hầu xin tòa miễn tố hay giảm khinh cho bị cáo.

Sau khi xem xét và ký công điện, Đại Tá buông tiếng thở dài và nói với tôi:

– Ty nầy làm việc quá sơ sót, thay vì chủ động điều tra lại giao cho người ta muốn làm gì thì làm, để mặc đàn em trong lúc hoạn nạn có khác gì đem con bỏ chợ!

Qua câu nói đó, tôi hiểu tâm tư và tình cảm của Ông đối với đàn em.

Bỗng một buổi sáng, tôi được Đại Tá Giám Đốc gọi vào gặp Ông. Sau thủ tục chào kính, tôi lấy làm lạ khi Ông giơ tay ra bắt tay tôi rồi ra dấu cho tôi ngồi xuống.

Ông biết tôi đang ngạc nhiên nên nói ngay:

– Anh về làm việc tại Nha mới được vài tháng, tôi biết khả năng của anh và đang định giao cho anh một chức vụ tại Ty trong một ngày rất gần. Nào ngờ, Tổng Nha mới gởi Sự-Vụ Lệnh đổi anh về Sở Tâm Lý Chiến.

Ngừng một chút, Đại Tá nói tiếp:

– Tôi muốn giữ anh lại, nhưng đây là lệnh của Chuẩn Tướng Tổng Giám Đốc nên đành chịu vậy. Mong sao có dịp gặp lại sau.

Tôi nhận Sự Vụ Lệnh và chào giã từ Đại Tá Đào-Quang-Hiển mà lòng rất buồn. Trong thâm tâm, tôi chẳng muốn rời nơi làm việc hiện tại, dù thời gian ngắn ngủi, nhưng lại đầy tình ấm áp.

Tôi trở về Tổng Nha, nhận nhiệm vụ thực hiện chương trình truyền hình hàng tháng của gia đình Cảnh Sát Quốc Gia. Nơi đây, tôi đã làm việc chung với nhạc sĩ Minh Kỳ, nhạc sĩ Y-Vân,, nhạc sĩ Phạm-Đại, nhạc sĩ Hoài Linh cùng một số ca sĩ và đoàn nữ vũ công.

Ngày đầu tiên đến thu hình tại đài truyền hình, tôi gặp anh Phạm-Duy-Cường vốn là bạn cùng khóa 14 Biên Tập Viên CSQG thụ huấn tại Trung Tâm Huấn Luyện Rạch Dừa. Ngày đó anh em cùng khóa đã tặng cho anh biệt danh “Nhìn nắng” chỉ vì mỗi khi ra sân anh thường thích thú ngước nhìn ánh nắng mặt trời và nghe tiếng thông reo vi vút để rồi “hữu cảnh sinh tình” anh sáng tác ra bản nhạc “Nhìn Nắng”. Anh chuyển sang quân đội lúc nào, tôi không rõ, chỉ biết lúc gặp lại , anh đã là Đại Úy biệt phái về đài với vai trò đạo diễn. Tôi ngỏ ý nhờ anh điều khiển và sắp xếp việc thu hình cho tất cả các buổi cảnh sát lên đài. Anh đồng ý, tôi liền lên Ban Giám Đốc trình bày các yêu cầu của mình và được chấp thuận ngay.

Để chương trình đuợc lôi cuốn, mỗi kỳ phát hình, xen kẽ trong phần tin tức, đều có một nhạc cảnh bao gồm các tiết mục ca, vũ, diễn tấu tùy theo nội dung của kịch bản. Các nhạc cảnh chiếc Nỏ Thần, Hòn Vọng Phu,Trương Chi Mỵ Nương, Tiếng Trống Mê Linh … của gia đình Cảnh Sát Quốc Gia đã một thời được nhiều người ái mộ.Thành quả nầy có được tất nhiên có nhiều sự đóng góp, trong đó có bao sáng kiến tinh tế của đạo diễn Cường.

Nhìn anh làm việc năng nổ miệt mài, tôi thầm cảm ơn anh đã mang một món quà tinh thần quý báu cho cái gia đình mà anh từng là thành viên khi mới bước vào đời.

Vào một buổi chiều khi tôi đang làm việc tại bàn, Ông Chánh Sở Tâm Lý Chiến Tôn Thất Dẫn ra báo cho tôi biết Đại Tá Giám Đốc Nha CSQG Vùng 3 đã bị thương trên đường đi thanh sát một Chi CSQG hẻo lánh thuộc tỉnh Phước Tuy, hiện đang nằm điều trị tại bệnh viện dã chiến Hoa Kỳ. Vừa nghe xong, tôi vội bỏ cả công việc đang làm, quên cả xin phép, lấy xe phóng vội vào bệnh viện để thăm gặp vị huynh trưởng quý mến.

Tôi bước vào phòng, thấy Đại Tá nằm trên giường bệnh với một giải băng trắng che kín cả đôi mắt hiền từ. Tôi nói tên mình, run run đưa hai tay nâng nhẹ bàn tay Ông với mối xúc động không nói nên lời, chỉ ấp úng cầu chúc huynh trưởng mau mau bình phục.

Những tháng năm tù tội trong trại tù của Cộng Sản, hàng đêm tôi thường vắt tay lên trán nhớ về những đoạn đời đã qua. Từ năm tám tuổi tôi đã phải sống trong vùng tạm chiếm của Việt Minh, được cha mẹ cho đi học lớp ba trường làng.Ngày nào đến trường cũng phải sắp hàng đứng chào lá cờ đỏ như máu có ngôi sao vàng và hát lên những tiếng ê a” Đoàn quân Việt Nam đi, chung lòng cứu quốc…” rồi sau đó phải hát tiếp :” Ai yêu Bác Hồ hơn chúng em nhi đồng…”. Cặp mắt ngây thơ của tôi ngày đó chưa nhìn xuyên qua được lũy tre làng thì làm sao biết được thế sự bên ngoài. Tháng ngày chỉ thấy những toán bộ đội quần áo vàng màu nghệ kéo về ăn ở hết nhà nầy sang nhà khác rồi lại ra đi… rồi lại kéo về…rồi lại ra đi y hệt như một tấn tuồng diễn đi diễn lại làm ai cũng phải ngao ngán. Thùng gạo nhà tôi cứ bị vơi dần vì phải sớt qua hũ gạo nuôi quân. Sau mỗi vụ gặt lúa tháng năm, hàng đoàn cán bộ huyện, xã kéo đến thúc dục dân làng gánh thóc ra cân rồi thu gom chở đi nói rằng đó là thuế đảm phụ quốc phòng. Đêm về, tôi thường nghe tiếng thở dài và lời than vãn sưu cao thuế nặng của bố mẹ…

Khoảng năm 1948, chiến Dịch Hà Nam Ninh của quân đội Liên Hiệp Pháp và quân đội Bảo Hoàng (sau nầy gọi là quân đội quốc gia) phát động mạnh mẽ khiến các cơ quan hành chánh và lực lượng quân đội chính qui của Việt Minh đã phải di tản và tháo chạy về các vùng rừng núi. Tuy nhiên, các lực lượng du kích núp bóng dân vẫn không ngừng quấy phá. Hằng đêm, chúng bắt người, chặt đầu, chôn sống chổng ngược chân lên trời tất cả những ai mà chúng nghi ngờ hoạt động cho đối phương.

Thấy tình hình ở quê quá bất ổn, Bố mẹ tôi vội thu xếp gởi tôi vào Sài gòn để sống với gia đình người chú ruột, với hy vọng sau nầy tôi sống nên người.

Sống và đi học được ít lâu, tôi bị người con riêng của bà thím hiếp đáp nhiều lần nên bỏ nhà trốn đi giữa ngày cúng ông Táo. Trên bước đường lưu lạc khắp đầu đường xó chợ tôi đã thọ ân của biết bao nhiêu người, từ bác xích lô cho bát cơm hàng đến bà bán rau cho gói xôi tấm bánh. Ngày 29 Tết, một bà già làm công quả cho chùa Kỳ -Viên thấy tôi quá lem luốc bèn kéo tôi về tiệm bán chạp khô của chùa để làm các công việc bửa củi, kéo nước giếng và trông coi tiệm. Được ít lâu bà cho tôi đi học một buổi tại trường tư thục Lê Bá Cang ở góc đường Phan Đình Phùng và Cao Thắng. Niên học tới, bà lại xin cho tôi vào học lớp nhất trường tiểu học Bàn Cờ để rồi cuối năm học tôi thi đỗ bằng tiểu học và may mắn trúng kỳ thi tuyển vào lớp đệ thất trường trung học Trương Vĩnh-Ký (thuở đó gọi là Lycée Pétrus Ký). Tôi không biết tên thật của bà là gì, chỉ nghe người ta gọi bà là Bà Tư, nên tôi cũng gọi như vậy.

Vòng tay ân tình của Bà Tư thình lình đã buông rơi tôi ra sau một cơn bạo bịnh. Tôi theo xe tang khóc sướt mướt như khóc một bà ruột thịt.

Một trong những người đi dự đám tang đã nhận ra tôi và báo chú tôi biết đến bắt tôi về.

Tôi trôi theo dòng đời qua bao sự đổi thay để rồi cuối cùng hòa nhập vào bến bờ Cảnh Sát Quốc Gia. Nơi ấy, tôi có biết bao huynh trưởng, bạn bè, anh em thân thương. Và cũng chính nơi đó, tôi đã nhận được sự giúp đỡ, những niềm an ủi và sự cộng tác chân thành.

Giờ đây, ở tuổi cuối đời, trí óc đã phôi pha, nhưng tôi vẫn còn ôm mãi trong lòng những ân tình ngày tháng cũ.

Xin tạ ơn đời! Xin tạ ơn đại gia đình Cảnh Sát Quốc Gia đã cho tôi những ân tình tốt đẹp khó quên đó.

LÊ-CHU-ẤN (KS)

Nguồn: https://hung-viet.org/p18a20556/nhung-an-tinh-ngay-thang-cu

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở NHỮNG ÂN TÌNH NGÀY THÁNG CŨ_Lê Chu Ấn

Hữu Loan – Gương mặt đẽo từ đá – TPK sưu tầm

HỮU LOAN – GƯƠNG MẶT ĐẼO TỪ ĐÁ 

Trần Mạnh Hảo

Hữu_Loan

Năm 2005 tôi về quê, ghé qua thôn Vân Hoàn, xã Nga Lĩnh ( nay là xã Nga Phượng) huyện Nga Sơn, Thanh Hóa thăm nhà thơ Hữu Loan.

Râu tóc ông bạc phơ, cười nói hết ga, nói không hề biết kiêng nể ai, không hề sợ hãi dù tôi cười bảo :
–   “bác à, cháu là công an ngầm đấy, không sợ bị bắt à ?”

Ông cười phá lên.
-“Mày là công an à, ông càng chửi tợn, cho mày ghi âm đấy, bí thư huyện ủy về tao còn chửi cha thằng nào mang chủ nghĩa chó chết về làm hại quê hương và dân tộc tao …”
– “Bác có tin cháu thuộc thơ bác không ?
– “Không, Trần Mạnh Hảo là công an làm sao thuộc thơ ? Cái mặt mày không thể làm chó săn được con ạ !”

Tôi đọc thuộc lòng cho ông Hữu Loan (có bà Hữu Loan ngồi cạnh), đọc hết “Màu tím hoa sim”, “Đèo Cả”, đọc đến bài “Hoa Lúa”…thì ông can,
– “thôi thôi, tao nhớ mày rồi !”
– “Nhớ sao ?”
– ” Mày viết bài thơ “Khóc Nguyên Hồng” phải không?”
– “Thưa phải !”
– ” Thế mày đọc bài này cho tao nghe lại nhá !”

Tôi đọc bài thơ “Cho một nhà văn nằm xuống” ( tức bài thơ “Khóc Nguyên Hồng)…

tinhgia1
Ông bà Hữu Loan.

Đọc xong, Hữu Loan im lặng, không nói gì, mắt ông hình như rơm rớm. Ngồi một lúc ông nói rất khẽ.
– “Ở đây ăn cơm uống tí rượu với bác nha. Này, bà nó bảo thằng con sang bắt gà làm thịt đãi khách quý…”

Sợ làm phiền ông bà, tôi thác cháu phải sang bên Hà Trung có anh bạn hẹn trưa nay rồi…

Ông khen Nguyên Hồng tài năng nhân cách số một.
– “Hồng kém tao 2 tuổi, nhưng chưa đầy 17 tuổi đã thành thiên tài với tiểu thuyết “ Bỉ Vỏ”. Tuổi đời Hồng là em tao, nhưng tuổi văn, tuổi nghề nó là hạng đàn anh. Nó đã bỏ nhà Hà Nội, bỏ lương lậu, chức vụ về thẳng rừng Yên Thế sống như một nông dân. Trước khi bỏ đi, nghe nó chỉ vào cơ quan Hội nhà văn nói, ông đếch chơi với chúng mày nữa, chúng mày đểu lắm…Tao thương thằng Hồng mất sớm, đi lúc mới 64 tuổi. “

Mắt Hữu Loan ngấn vài giọt sương. Ông không thương mình mà lại đi thương bạn !

Lần đầu tiên tôi gặp ông Tú Loan trong buổi tờ mờ sáng khoảng năm 1961 khi theo mẹ sang chợ Hói Đào Nga Sơn.

Hữu Loan mang cái vó đã cụp gọng, lưng đeo chiếc giỏ đựng cá, áo cộc tay, quần đùi đều rách vá. Hình như ông đi cất vó đêm về…

– “Chào bác Tú”.
– “Sao cháu biết ta là Tú Loan”.
– “Bác Tú thì ai trong cái tỉnh Thanh Hóa này chả biết”

Tôi bèn đọc thuộc bài “Màu tím hoa sim” do mình chép trộm trong sổ tay ông anh con bác học cấp 3. Ông Tú ngạc nhiên, bỏ vó xuống, ngồi bên gốc cây bàng bên đường nói chuyện với tôi – một thằng nhóc 13 tuổi…

– “Sao bác về sớm thế, cất vó suốt đêm à?”
– “Không, từ 10 giờ đêm đến 5 giờ sáng là về”
Sao không cất vó dạo ban ngày ?”
– “À, bị quản thúc tại gia, nên sông của đảng, cá của đảng, mình cất vó kiếm con cá sông cá ngòi là mình ăn trộm của đảng, công an biết thì toi …Thôi cháu đi đi, công an thấy thì rầy rà cho cháu đấy !”

Từ đó, tôi không còn gặp ông Tú Loan đi cất vó trộm về nữa. Nghe đồn ông làm nghề thồ đá kiếm tiền mua gạo nuôi vợ con suốt 30 năm…

Sau năm 1986 đổi mới cởi trói cho văn học, đảng nhà nước đã phục hồi hội tịch cho các nhà văn thơ từng bị quy “nhân văn giai phẩm” trong đó có Hữu Loan…

Tôi đã gặp ông Hữu Loan, Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm, Phùng Quán…hai lần đại hội…

Các ông ngồi góc cuối, bên ngoài, chào bắt tay thì cười cho qua chuyện, như thể các ông vẫn bị ai đó cầm tù linh hồn, còn sợ hãi dù ngay khi gặp mấy gái xinh hội viên đến bắt chuyện…

-“Tôi chào bác Tú.”
Ông cười nói:“ hàng thần lơ láo…”. Hữu Loan không nhận ra thằng bé ngày nào tờ mờ sáng gặp ông ở Nga Sơn đi cất vó về, đọc thơ ông cho ông nghe…

Hôm nay được ngồi trò chuyện với ông hai tiếng đồng hồ. Người ông như đẽo ra từ đá. Suốt 30 năm ông bị quản thúc tại thôn làng về tội “nhân văn giai phẩm”, đi thồ đá cũng là đi thồ trộm, đi cất vó sông ngòi cũng là đi cất vó trộm. Sống cũng trộm, nghĩ cũng trộm, buồn vui trộm…

Chế độ mà ông tham gia xây dựng, đổ xương máu 9 năm đánh Pháp, để cuối cùng ông không hề có độc lập và tự doChế độ đã biến ngôi nhà ông thành nhà tù tại gia, giam một con người gần suốt cả cuộc đời trong đói nghèo, rách rưới, chỉ vì ông dám viết ra một phần ý nghĩ thật của mình…

Bây giờ già lắm rồi, ông đếch sợ nữa, ông chửi từ cụ tiên chỉ nhà chúng nó xuống, mà không thằng nào đến bắt ông.
– “Tao thèm ở tù thật lắm. 30 năm nay tao đã ở tù tại gia, sống mà bị quản thúc từ con buồi đến tư tưởng, thì sống làm đếch gì, bắt và bắn tao đi…”

Tôi hỏi ông về bài thơ “Màu tím hoa sim” thì ông bảo.
– “Chúng nó thù bài thơ này, thù nhất là từ khi Phạm Duy phổ nhạc. Nó bảo bài thơ kích động bi kịch cá nhân trong kháng chiến. Vợ người lính chết đuối ở hậu phương lãng nhách, có gì mà làm thơ khóc. Tưởng là đi du kích bị địch giết hóa ra sảy chân chết đuối…Bao cô du kích anh hùng xông vào đồn giặc hi sinh sao không viết, lại đi khoe vợ mình bị chết đuối là sao? Tiểu tư sản, vớ vẩn, thi ca gì tủn mủm hạ đẳng thế, làm mất nhuệ khí anh bộ đội Cụ Hồ…”

Vâng, cái tội mà đảng vu cho “Màu tím hoa sim” lại chính là cái công lớn của thi pháp Hữu Loan đi vào cái bi kịch cuộc đời. Bi kịch, ô là la, cái mà bút pháp văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa kỵ nhất, ghét nhất…

Ngày 18-3-2010 Hữu Loan đã đi vào bất tử với hai bài thơ hay nhất đời ông : “Đèo Cả” và “Màu tím hoa sim”… Và cái dáng người gan lì, dũng mãnh, hiên ngang của ông thợ thồ đá, thợ cất vó trộm, thợ sống trộm và nghĩ trộm…như tạc ra từ đá núi Ngỗng ( Nga Sơn) quê hương…

Sài Gòn 18-3-2020

T.M.H.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Hữu Loan – Gương mặt đẽo từ đá – TPK sưu tầm

Phân Ưu K1 Mai Văn Nhựt

mai-van-nhut

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Phân Ưu K1 Mai Văn Nhựt