Thơ Nguyễn Phiến : TẠ ƠN

Phien Nguyen

TẠ ƠN

Hôm nay mầng lễ Tạ ơn
Nhớ về cha mẹ, vợ con, ông bà
Thân nhân bằng hửu gần xa
Những ai từng đã cho ta nụ cười
Cám ơn nhân loại khắp nơi
Dăng tay đón lấy những người Việt Nam
Lưu vong thoát cảnh bạo tàn
Tìm vùng đất sống thác ngàn vong thân
Tri ân người Mỷ thập phần
Tấm lòng từ ái cứu nhân tuyệt vời
Cho ta đứng giữa đất trời
Thảnh thơi vui sống cuộc đời Tự Do.

Phiến Nguyễn

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bình luận về bài viết này

Bàn về câu đối “DA TRẮNG VỖ BÌ BẠCH”

  BÀN VỀ CÂU ĐỐI “DA TRẮNG VỖ BÌ BẠCH”

     Bs Phan Thượng Hải biên soạn

bahuyenthanhquan

I. Câu đối nầy có sự tích từ năm 1930.

Năm 1930, ông Trúc Khê xuất bản ở Hà Nội quyển “Sự Tích Ông Trạng Quỳnh”, trong đó có những giai thoại văn chương lý thú giữa bà Đoàn Thị Điểm và ông Cống Quỳnh.

Theo ông Trúc Khê, có ông Nguyễn Quỳnh đậu Cử nhân (Hương cống) khoa Cảnh Hưng, đời vua Lê Hiển Tông.  Vì ông có văn chương hay và nhất là giỏi về khẩu tài nên người ta còn gọi ông là Trạng Quỳnh, thay vì là Cống Quỳnh (cho người đổ Hương Cống).

Đây là những giai thoại giữa bà Đoàn Thị Điểm và ông Cống Quỳnh (nguyên văn từ sách của ông Trúc Khê).

Một buổi tối, Thị Điểm rủ màn trải chiếu sắp đi ngủ, Quỳnh liền trước vào nằm giương cột buồm lên.  Thị Điểm lên giường vô tình sờ phải, giật mình ngỡ rắn, sau mới biết là Quỳnh, bèn đọc ngay một câu đối để chữa thẹn:

 Trướng nội vô phong phàm tự lập.  (nghĩa là: Trong trướng không có gió mà buồm dựng)

Quỳnh liền đối ngay rằng:

 Hung trung bất vũ thủy trường lưu.  (nghĩa là: Trong bụng không mưa mà nước chảy xiết)

Điểm lại đọc câu nữa:

 Cây xương giồng (rồng), giồng đất rắn, long vẫn hoàn long.(Long là rồng).

Quỳnh lại đối ngay:

 Quả dưa chuột, chuột thẳng gang, thử chơi thì thử.  (Thử là chuột).

Sau đó Quỳnh bỏ đi.

Hôm sau Thị Điểm tắm, Quỳnh gõ cửa đòi vào xem, Điểm dẫy nẫy không cho vào, Quỳnh cứ đứng kè nhè mãi.  Điểm tức mình mới đọc một câu bảo hễ đối được thì mở cửa cho vào xem:

            Da trắng vỗ bì bạch    (Bì bạch là da trắng)

Quỳnh nghĩ mãi không sao đối được.

II. Tại sao ông Cống Quỳnh không đối được?

Trước hết ta phải hiểu căn bản của phép Đối.  Trong Việt Nam Văn Học Sử Yếu, ông Dương Quảng Hàm viết:

Đối là đặt hai câu đi sóng đôi cho Ý và Chữ trong hai câu ấy cân xứng với nhau.

– Đối Ý là tìm hai ý nghĩa cân nhau mà đặt thành hai câu sóng nhau.
– Đối Chữ thì vừa phải Đối Thanh vừa phải Đối Loại.

– Đối Thanh tức là Bằng đối với Trắc và Trắc đối với Bằng.
– Đối Loại là phải đặt một hay hai chữ cùng tự loại để đối nhau (như cùng Danh từ, Động từ, Tỉnh từ, Giới từ…).

 Thí dụ:

Lom khom dưới núi tiều vài chú
Lác đác bên sông rợ mấy nhà

 Đối Thanh:

Lom (B) khom (B) dưới (T) núi (T) tiều (B) vài (B) chú (T)
Lác (T) đác (T) bên (B) sông (B) rợ (T) mấy (T) nhà (B)

 Đối Loại Từ:

 “Lom khom” (tỉnh từ) đối với “Lác đác” (tỉnh từ).
“Dưới” (liên từ) đối với “Bên” (liên từ).
“Núi” (danh từ) đối với “Sông” (danh từ).
“Tiều” (danh từ) đối với “Rợ” (danh từ).
“Vài” (danh từ) đối với “Mấy” (danh từ).
“Chú” (danh từ) đối với “Nhà” (danh từ).

Câu “Da trắng vỗ bì bạch” là một câu văn xuôi gồm có chủ từ (là “da trắng”), động từ (là “vỗ”) và túc từ (là “bì bạch”).  Nhưng “bì bạch” (túc từ trong câu, gồm 1 danh từ là “bì” và 1 tĩnh từ là “trắng”) cũng là Hán ngữ có nghĩa là “da trắng” (chủ từ trong câu, gồm 1 danh từ là “da” và 1 tĩnh từ là “trắng”).   Thật ra Hán ngữ “bì bạch” (= da trắng) trật văn phạm Hán ngữ.

Do đó câu đối của Đoàn Thị Điểm, ngoài việc phải đúng theo phép Đối căn bản như của VNVHSY thì phải có những điểm đặc biệt kể trên.

Câu “Da trấng vỗ bì bạch”  còn có nghĩa là “Da trắng vỗ da trắng”.
Ông Cống Quỳnh không đối được vì câu đối phải còn có đặc điểm như vậy.

III. Tuy nhiên có người đối được.

Tui biết được câu đối nầy vào năm 1963 khi học lớp Đệ Ngũ (lớp 8 bây giờ) ở trường Trung học Phan Thanh Giản ở Cần Thơ từ thầy Cảnh, dạy Việt Văn.  Tui về nhà khoe với Ba Má tui là câu không ai đối được.  Ba tui nói là có câu đối được câu nầy.  Ông liền đọc câu đối:

       “Vợ buồn than thê thảm”   (Thê thảm là vợ buồn)

Câu nầy đối đúng hoàn toàn theo phép đối căn bản của VNVHSY của Dương Quảng Hàm và nó cũng có tất cả những đặc điểm như câu “Da trắng vỗ bì bạch” của Đoàn Thị Điểm.

Câu “Vợ buồn than thê thảm” là câu văn xuôi gồm có chủ từ (là “vợ buồn”), động từ (là “than”) và túc từ (là “thê thảm”).  Nhưng “thê thảm” (túc từ trong câu, gồm 1 danh từ là “thê” và 1 tĩnh từ là “thảm”) cũng là Hán ngữ có nghĩa là “vợ buồn” (chủ từ trong câu, gồm 1 danh từ là “vợ” và 1 tĩnh từ là “buồn”).  Và Hán ngữ “thê thảm” (= vợ buồn) cũng trật văn phạm của Hán ngữ như “bì bạch” (= da trắng).

Câu “Vợ buồn than thê thảm” còn có nghĩa là “Vợ buồn than vợ buồn”.

Như vậy có người đối được.

Kết luận:

        Da trắng vỗ bì bạch
Đối:
      Vợ buồn than thê thảm

Câu “Vợ buồn than thê thảm” nầy thì tui nghe từ ba tui, thi sĩ Lãng Ba Phan Văn Bộ ở Cần Thơ.  Khi lớn lên tui có đọc nhiều sách trước đó (trước 1963) nhưng không thấy ai viết về câu nầy.  Ba tui không có nói xuất xứ của câu nầy từ đâu ra (vì tui không có hỏi) và ông qua đời vào năm 1966.  Do đó ngày nay, tui chủ quan cho rằng ba tui là tác giả câu nầy vậy!

Tui đã có viết về câu nầy (nhưng không nói tác giả là ai) 1, 2 năm về trước trong bài “Đoàn Thị Điểm và Chinh Phụ Ngâm” và bài nầy có đăng trong phanthuonghai. com mục Văn Hóa phần Đọc Thơ.

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bình luận về bài viết này

Nỗi Oán Gà Tây_ Thơ Tuệ Minh

Oán gà tay

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bình luận về bài viết này

Thơ Phương Lan- Những Gì Ngài Không Cho

Tho Phuong Lan

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bình luận về bài viết này

Tin Buồn – Phân Ưu K1 Mai Văn Nhựt

Gia Đình Khóa 1-HVCSQG vô cùng thương tiếc báo tin buồn đến Quý Niên Trưởng và các Bạn Đồng Môn, Đồng Khóa 1-HVCSQG:

Cựu SVSQ K1-MAI VĂN NHỰT sau một thời gian lâm bệnh nặng đã từ trần vào lúc 8:31PM ngày Chủ nhật 21/11/2021 tại Baldwin Park, Nam California, hưởng thọ 78 tuổi; tang lễ sẽ cử hành tại nhà quàn Peek Family Funeral Home (Rm # 1), thành phố Westminster, ngày 18/12/2021.

Chương trình tang lễ ngày 18/12/2021 tại nhà quàn Peek Family (Phòng số 1):

– Lễ Phát Tang: 9am – 10am
– Thăm Viếng: 10am – 1pm
– Di Quan & Hỏa Táng: 1pm – 2pm

TM. Gia Đình K1/HVCSQG
Nhữ Đình Toán kính báo.

 

Mai van Nhut

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bình luận về bài viết này

Chuyện ông Đạo Dừa (ST)

Chuyện ông Đạo Dừa 

Ông tên Nguyễn Thành Nam, sanh năm 1910, con một ông chánh tổng ở Bến Tre, nhà giàu có tiếng, năm 18 tuổi ông đi du học bảy năm bên Pháp có bằng kỹ sư Canh Nông, nhưng ông không làm việc cho Pháp, ông chống Pháp, ông lấy vợ sanh con rồi ông đi tu, tự chế ra đạo để tu, không nói chuyện và chỉ uống nước dừa. Pháp bắt ông, ông viết giấy nói Pháp vi phạm nhân quyền, lời lẽ khúc triết, nên nhà cầm quyền thực dân Pháp phải thả, họ sợ ông hay sợ mang tiếng đàn áp nhân quyền có trời mà biết.

            Lúc đầu, ông làm cái sàn nhỏ trên đọt dừa, rồi ngồi trên đó bất động. Nhiều người tới coi và tin ông, nhà cầm quyền thực dân Pháp lại sợ ông làm loạn, cho lính tới kêu ông xuống không được, bèn đốn cây dừa cho ông rớt xuống. Ông không chết, lại leo lên cây khác mà ngồi. Ông bất bạo động, không giảng đạo gì hết, không chửi rủa câu nào hết. Riết rồi Pháp nó cũng sợ , cứ để mặc kệ ông ngồi trên ngọn dừa không phá rối ông nữa. Ông viết giấy để giảng đạo, không nói năng gì, nhưng đệ tử đông có số ngàn, họ che chở ông vòng trong vòng ngoài. Đoạn lịch sử này của ông, chính sử của nhà cầm quyền cộng sản hiện nay hòan toàn che đậy. Người viết viết theo lời kể của những vị cao niên gặp ở cồn Phụng và một vài nơi khác ở Bến Tre.

            Năm 1945, vùng Bến Tre quân Việt cộng làm loạn quá, ông bỏ đi lên núi Cấm ở An Giang tu ba năm. Đến khi vua Bảo Đại lập Quốc Gia Việt Nam với tướng Nguyễn Văn Xuân làm thủ tướng, ông trở về cồn Phụng lập ra chùa Nam Quốc Phật để tu hành công khai, nhận đệ tử và truyền đạo của ông, ông gọi là Hòa Đồng Tôn Giáo, nhưng dân gian quen miệng kêu Đạo Dừa. Đạo của ông hòa trộn Công giáo và Phật giáo Thiền tông, thờ cả Chúa lẫn Phật. Tín đồ khi làm lễ thì có làm dấu Thánh giá lẫn chắp tay quỳ lạy. Bản thân ông sống như một vị thiền sư, nếu ngày nào ông không làm được việc gì thì ngày đó ông nhịn đói không ăn không uống, theo kiểu “nhất nhật bất tác, nhất nhật bất thực” của thiền sư Bách Trượng Hoài Hải.

            Ông có một quãng thời gian dài êm đềm phát triển từ 1948 đến 1975, số tín đồ lên đến hàng trăm ngàn người, riêng những tu sĩ sống tại cồn Phụng với ông đã hơn ba ngàn vị, có cả người phương Tây. Ông từng vận động để tranh cử tổng thống thời Đệ nhị Cộng Hòa nhưng không thành công. Ông không tắm, không để tín đồ phục dịch bất cứ chuyện gì. Kể cả chuyện ăn uống hàng ngày ông cũng tự lo lấy: một nhúm bắp luộc cho bữa trưa và nước dừa tươi uống trừ cơm. Từ một thanh niên cao to, thân hình ông co rút lại (theo nghĩa đen) nhỏ xíu như một đứa trẻ còi xương.

            Sau 1975, ông bị nhà cầm quyền bắt về giam ở Cần Thơ. Họ không giết ông, nhưng nhốt ông trong cái conex bằng sắt, kín mít không có ánh sáng, gió cũng không lọt vào được. Mọi sự ăn uống vệ sinh đều trong đó. Đệ tử đem đồ ăn với dừa trái tới thăm nuôi, nhưng quản giáo Việt cộng không cho ông ăn dừa mà chỉ phát thức ăn như tù nhân khác.

            Ông không ăn bất cứ thứ gì, chỉ đòi uống nước dừa. Ông phản kháng bằng cách dùng cái ca inox đựng nước gõ lanh canh vào cái cửa sắt của conex. Tiếng gõ lanh canh đều đặn, từ tối tới sáng, sáng tới tối, cán bộ Việt cộng chửi bới cỡ nào, ông cứ đáp lại bằng những lời bình dị: “Tui thương chú lắm chú cán bộ ơi!”. Biệt giam ông như vậy khá lâu mà chẳng khuất phục nổi tinh thần ông, cán bộ Việt cộng còn dùng nhiều cách để cho ông chịu thua, xịt nước vòi rồng cực mạnh cho ông té lăn tròn dưới đất, giam ông trong chuồng chó bện bằng kẽm gai cho phơi nắng phơi mưa, mặc xác ông khi ông tuyệt thực… Nhưng hễ té xuống ông lại lồm cồm bò dậy ngồi xếp bằng, chửi rủa ông ông lại dùng lời yêu thương mà đáp, dai dẳng bền bỉ, không sân hận, không oán than. Lâu ngày chày tháng, ông co rút lại chỉ như bộ xương. Cai ngục không muốn để ông chết trong tù cải tạo, mới đánh tiếng cho đệ tử dùng nhiều tiền bạc chuộc ông ra với danh nghĩa là được cách mạng khoan hồng. Theo lời những người chứng kiến khi đó, ông chỉ còn có 27 ký lô! Vậy mà, ông đã hồi phục một cách thần kỳ trong cái hình hài xương khô đó. Ông lại tiếp tục giảng đạo và tín đồ của ông quay trở lại trong thầm lén, có lúc cả trăm người âm thầm ở xung quanh nhà ông. Cho tới năm 1990, ông được 81 tuổi, những đệ tử của ông không còn sợ sệt gì nữa, quy tụ mỗi lúc một đông. Nhà cầm quyền tới cưỡng chế nhiều lần nhưng không dẹp yên được. Cho đến đỉnh điểm là dịp kỷ niệm 15 năm sau “giải phóng”, nhà cầm quyền cho lực lượng bố ráp ông và các tín đồ. Một mặt, cho truyền thông ra rả tuyên truyền những điều rất nhảm nhí về Đạo Dừa của ông. Những đệ tử thân cận nhất của ông đã nghĩ đến việc tự thiêu để phản đối. Đến ngày 12 tháng 5 năm đó, lực lượng hùng hậu tiến hành cưỡng chế chỗ của ông và trong lúc giằng co, ông đã bị xô từ trên lầu xuống đất chấn thương sọ não, qua đời vào ngày hôm sau, rất nhiều đệ tử của ông đã bị bắt nhốt hàng chục năm sau đó. Đạo Dừa mất đi người lãnh đạo tinh thần, giải tán trên bề mặt, nhưng hàng năm vào ngày giỗ âm lịch của ông, hàng ngàn người đủ mọi lứa tuổi đều trở về viếng, tổ chức tưởng niệm và ăn uống.

            Ông có một câu nói mà những người ngày xưa chung trại cải tạo với ông ở Cần Thơ đều nhớ nằm lòng:

            – Tui thương mấy chú lắm, mấy chú Việt cộng ơi! Mấy chú ngu dại lắm, mấy chú không biết bạo phát thì bạo tàn! Chỉ có nhơn nghĩa là trường tồn!

Theo Fb Hai Le

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bình luận về bài viết này

Tâm Thư Mừng Thanksgiving của CNN

Thanks giving

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bình luận về bài viết này

Vợ Chồng Điệp Viên – Bửu Hồng sưu tầm

Vợ Chồng Điệp Viên

Tác Giả – Phạm Thành Châu, ĐS14

Học xong trung học, tôi thi vào Đại Học Sư Phạm ban Anh Văn.

Trong thời gian là sinh viên tôi còn làm việc cho số 3 Bạch Đằng. Đó là cách nói gọn của phủ Đặc Ủy Trung Ương Tình Báo Việt Nam Cộng Hòa.

Tôi làm tình báo vì có máu phiêu lưu, thích chuyện mạo hiểm, sau nầy lại thêm mối thù việt cộng giết cha tôi. Ông già tôi là chủ một nhà máy xay lúa nhỏ ở vùng quê tỉnh Bạc Liêu. Vì là vùng mất an ninh nên phải đóng thuế cho việt cộng, ấy vậy mà cũng bị chúng nửa khuya đến gõ cửa đem ra đồng bắn bỏ. Cả mấy năm sau, tôi cố tâm điều tra mới biết rõ thủ phạm là một tên nằm vùng trong xóm, chỉ vì một xích mích nhỏ, hắn dẫn đồng bọn về giết người. Dĩ nhiên tôi trả thù.

Sau khi tốt nghiệp sư phạm, trong lúc chờ sự vụ lệnh, tôi lẻn về nhà trốn trong phòng không cho hàng xóm biết, đến khuya tôi đến nhà hắn, nằm sau hè chờ. Ở thôn quê không có phòng vệ sinh trong nhà, khi cần thì ra sau vườn. Qua đêm thứ hai hắn mở cửa ra đi tiểu, tôi chĩa súng vào lưng hắn.

– Đồng chí ra ngoài kia trả lời trước tổ chức về vài việc cần gấp.

Hắn sinh nghi định phản ứng, tôi giáng cho một bá súng vào đầu, hắn bất tỉnh, tôi cột chân tay hắn, cõng trên lưng, ì ạch băng đồng ra chỗ bọn chúng giết cha tôi.

Tôi khai thác tận tình cho đến khi hắn thú nhận tội giết cha tôi, lúc đó tôi mới cho hắn biết sự thật. Hắn van lạy, nhưng vô ích, hình ảnh cha tôi chết oan ức, mắt vẫn mở trừng trừng khiến tôi sôi gan.

Sau đó gia đình tôi bán nhà máy xay lúa, bán nhà lên Sài Gòn ở. Tốt nghiệp xong tôi được điều đi các tỉnh dạy học. Sau mỗi công tác tình báo dù thành công hay thất bại tôi lại chuyển qua tỉnh khác.

Câu chuyện bắt đầu khi tôi được giao cho việc theo dõi một cô thợ may ở ngoại ô một thành phố ven biển miền trung.

Nguyên nhân là thỉnh thoảng lại có truyền đơn rải vào buổi sáng trên con đường vào thị xã. Đây là con đường mà đa số nông dân thường đem nông sản vào chợ bán. Họ chở bằng xe đạp, xe lăm hay xe bò.

Sáng sớm nào cũng có cảnh sát rình ở đó nhưng chẳng thấy ai đáng tình nghi cả. Sau phải cho người nằm sát lề đường mới khám phá ra một cô gái đi xe đạp chở rau muống phía sau, dưới chân chỗ bàn đạp để mớ truyền đơn, cứ dỡ nhẹ chân là truyền đơn rơi xuống đường khó mà thấy được nhất là ở quãng đường tối.

Qua điều tra đây là cô thợ may nhà ở vùng ngoại ô, sát địa giới thành phố. Sau nhà là một vạt ruộng nhỏ trồng rau muống, mỗi sáng cô chở rau vào chợ bán sỉ cho bạn hàng rồi về ngay. Cô sống với một mẹ già hơn sáu mươi tuổi.

Gọi là tiệm chứ thực sự là một bàn máy may phía trước, cách một tấm vách cót là giường ngủ của hai mẹ con vừa làm chỗ thử áo quần. Gia đình nầy mới từ một quận miền núi về hơn một năm nay. Theo báo cáo, trước đó cô là nữ sinh trung học, sau theo nghề may. Tiệm của cô khá đông khách vì cô hiền lành, vui vẻ lại lấy công rất rẻ, có lẽ đây là trạm giao liên hơn là cơ sở kinh tài của địch.

Nhiệm vụ của tôi là tìm cách tiếp cận cô để theo dõi. Tôi sẽ đóng vai một kẻ si tình cô, gặp gỡ cô mà bọn chúng không thể nghi ngờ, hoặc tốt hơn nữa sẽ được móc nối làm việc cho chúng.

Một buổi sáng chủ nhật tôi chạy xe gắn máy gần đến nhà cô thì xe chết máy phải dừng lại sửa. Tôi vào tiệm xin cô miếng giẻ rồi loay hoay mở máy ra chùi, thay bu gi, tháo bình xăng con… toát mồ hôi mà xe vẫn không nổ. Tôi xin cô miếng nước uống và ngồi trước hiên nhà cô hỏi vài câu vơ vẩn rồi dẫn xe về.

Qua hôm sau tôi đem một xấp vải đến nhờ cô may cho một áo sơ mi. Lần nầy tôi được cô mời vào nhà vì tôi là khách. Thế rồi, thỉnh thoảng tôi lại nhờ cô may một thứ gì đó và tôi ngập ngừng nói là tôi làm thế để được dịp gặp cô, không gặp tôi nhớ. Cô có vẻ bất ngờ, nhưng yên lặng. Những lần sau cô lại càng giữ ý, nhưng tôi bắt gặp trên đôi mắt cô mỗi khi thấy tôi, long lanh niềm vui.

Trong lúc trò chuyện tôi cho cô biết về gia đình tôi rằng ông già tôi tham gia mặt trận bị quân đội Quốc Gia hành quân bắn chết. Thỉnh thoảng tôi đi chùa nghe thuyết pháp hoặc tham gia mít ting, tôi phát ngôn bừa bãi ra người bất mãn chế độ.

Sau một thời gian lạnh lùng, giữ kẽ, cô có vẻ thân thiện, vui vẻ hơn. Kẻ thù trong bóng tối đang kéo dần con mồi về phía chúng, tôi biết mình đã được để ý, nhưng chỉ đến đấy thì hầu như bế tắc, tôi không biết được những gì chúng tôi cần.

Một sáng chủ nhật, như thường lệ tôi đến thăm cô, nhưng đến nơi chỉ thấy một đống tro tàn đang bốc khói. Thì ra, không hiểu vì sao lúc khuya lửa bắt cháy, hai mẹ con chỉ kịp chạy thoát thân. Tôi khuyên nhủ nhưng cô vẫn lắc đầu lo lắng.

– Tiền mua bàn máy may, mua miếng đất em trả chưa hết nợ, còn quần áo của khách nữa, họ nói bao nhiêu phải cố mà trả. Nhưng em còn đồng nào đâu!

Tôi hứa với cô là sẽ hết lòng tìm cách giúp đỡ. Thế rồi tôi về bán chiếc xe gắn máy. Nhờ bà con chung quanh phụ giúp nhặt nhạnh những miếng tôle còn xài được, mua ít vật liệu, dựng lại căn nhà mới cũng khang trang, ngoài ra còn mua được một bàn máy may mới nữa.

Chỉ trong một tuần tôi lo toan cho cô chu toàn. Từ đấy thái độ của cô đối với tôi thay đổi hẳn. Chúng tôi thường đưa nhau đi xem hát, ăn quà rong, đôi khi cô đến nhà trọ thăm tôi nữa. Mỗi khi đi với nhau cô thường chải chuốt, thoa chút phấn hồng trên má, trông cô đẹp hẳn ra, như lột xác từ một cô thợ may lọ lem thành một nàng tiên, nhưng đối với tôi, đi bên cô, nhất là những chỗ vắng, tôi có cảm giác rờn rợn, tưởng như mình đang đứng trước đỉnh đầu ruồi của một họng súng nào đó trong bóng tối. Vì nghề nghiệp, lúc nào tôi cũng cảnh giác, ngụy trang, dọ dẫm tìm một chỗ an toàn phía sau lưng.

Một lần cô ghé nhà trọ thăm tôi, có một bà hàng xóm biết cô là thợ may đến năn nỉ cho con gái học nghề may. Cô là học sinh thi hỏng tú tài, muốn theo nghề may để phụ giúp gia đình. Nghe tôi nói thêm vào cô ta có vẻ bằng lòng nhưng hẹn ít hôm nữa mới trả lời, có lẽ chờ quyết định của tên đầu sỏ, chỉ huy cô.

Tuần sau cô đồng ý nhận học trò. Được độ ba tháng nhờ sáng ý, cô bé học nghề khá tiến bộ. Tiệm may cũng đông khách hơn trước.

Một hôm tôi gọi riêng cô bé hàng xóm qua nói chuyện.

– Em học nghề may với chị Lan đến đâu rồi?

– Em cắt chưa vững nhưng may thì khá lắm, khách nào cũng khen đường chỉ em thẳng, mịn và đẹp.

– Có lẽ cần một máy may nữa mới phụ chị Lan kịp giao hàng cho khách.

– Em cũng nghĩ vậy nhưng không có tiền.

Tôi tâm sự với cô học trò.

– Như em biết, thầy và chị Lan yêu nhau, dự định sẽ làm đám cưới, nhưng thầy còn ngại hình như chị Lan đang yêu ai nên thầy nhờ em giúp thầy tìm hiểu chị Lan xem có ai đến thân mật chuyện trò với chị ấy không? Em sẽ chẳng làm gì cho chị ấy nghi ngờ. Thầy có cái máy nầy, sẽ giấu dưới xách tay của em, khi đến nơi, em chỉ cần mắc xách tay sau lưng chỗ ngồi của em sát vách với phòng thử áo quần. Chỉ thế thôi, đừng cho bất cứ ai biết chuyện nầy. Nếu chị Lan hay ai bắt gặp cứ bảo rằng đó là máy thu thanh, thầy sẽ chỉ em cách mở nghe đài phát thanh. Em cũng đừng cho chị ấy biết là thầy cho em mượn tiền mua máy may, sợ chị nghi ngờ, ghen tuông phiền phức.

Thế là chúng tôi nghe rõ những trao đổi, bàn bạc với nhau của bọn chúng trong phòng thử quần áo. Một bộ phận khác rình thu hình những khách hàng khả nghi và tiến hành điều tra. Chúng tôi gần như nắm vững tất cả những tên nằm vùng, cơ sở kinh tài, nơi chứa chấp những tên xâm nhập nữa, nhưng tên đầu sỏ vẫn chưa tìm ra!?

Trong nghề nầy, một chút sơ ý là chết. Như cô thợ may, bị chúng tôi theo dõi mà không hay biết. Cô với tôi như hai tay nhu đạo đang lừa nhau để vật đối thủ xuống, cô đã bị thất thế hoàn toàn, nhưng tôi chưa ra tay và chờ cô ra đòn. Có thể cô làm bộ chuyện trò, hỏi han để tìm hiểu tôi hoặc rủ tôi một chiều nào đó ra vùng quê hóng gió tâm sự… Nhưng tuyệt nhiên chuyện đó không xảy ra. Cô lúc nào cũng ít nói, dịu dàng, nhưng như thế lại càng làm tôi e ngại và thấy cô rất bản lĩnh, rất nguy hiểm.

Đi bên cô tôi cố làm vẻ sung sướng, hạnh phúc nhưng thật sự tôi có cảm tưởng cô như con rắn độc, chỉ một tích tắc cô hành động là đời tôi tàn ngay. Mạng tôi đổi mạng cô thì không xứng. Thế nên tôi chẳng hứng thú gì trong vai trò nầy cả. Tôi được lịnh phải tiến xa hơn tức là phải chung đụng xác thịt để giữ chặt con mồi, nhưng tôi không làm được. Dù cô có yêu tôi thực hay giả vờ tôi cũng quyết không đụng chạm đến nơi thiêng liêng đó của người con gái. Đó là yếu điểm của một tên tình báo non tay nghề như tôi.

Mùa hè năm đó, đối phương lên phương án tấn công tỉnh. Mẻ lưới được tung ra. Chúng tôi dự định hành quân vào lúc khuya.

Buổi chiều cô bé học may về báo cho tôi biết là lúc trưa có một ông sư khất thực đến trước nhà, cô Lan ra cúng dường, ông sư lầm thầm tụng kinh chúc phúc như mọi khi, nhưng lúc quay vào, thấy mặt cô tái mét, người cứ run lên bần bật…Chúng tôi đề nghị cảnh sát hành quân sớm hơn dự định. Thế là cả bọn bị tóm, kể cả chính tôi cũng bị cảnh sát đến gõ cửa, còng tay, đẩy lên xe cây.

Thường thì sau khi vở kịch đã hạ màn như thế, tôi thảnh thơi nghỉ ngơi rồi nhận công tác mới. Nhưng không hiểu sao hình ảnh cô ta vẫn nguyên vẹn trong đầu tôi. Khi cô bị bắt, bị giam giữ, lòng trắc ẩn của tôi lại nổi lên. Đàn bà, con gái, trẻ con không có chỗ trong chiến tranh, họ phải được ở hậu phương, phải được thường xuyên che chở, bảo vệ. Một cô gái vô ý vấp ngã thấy đã động lòng rồi, huống gì cô thợ may hiền lành, dịu dàng kia đang bị nhốt trong nhà giam sau những song sắt như một con thú đã bị săn bắt, chờ ngày bị đem xẻ thịt.

Tôi đã nhiều lần bí mật nhìn cô ủ rũ ngồi ở một góc phòng giam, héo úa như không có linh hồn, không còn cảm giác, suy nghĩ gì. Tương lai là chết rũ trong tù, tình yêu, hy vọng của tuổi thanh xuân coi như đã chấm hết.

Đối với cô, tôi thấy thật bất nhẫn, lừa gạt một cô gái dù cô ta được điều khiển từ trong bóng tối. Và khi cảm tưởng cô không còn là kẻ thù của tôi nữa, sự cảnh giác đã được gạt bỏ, như bụi bặm trên một bức tranh đã được chùi sạch, để lộ ra hình ảnh trong sáng, dịu dàng của cô trong tâm trí tôi. Thế nên tôi đề nghị thả cô ra để cho những con mồi khác đến móc nối lại với cô.

Từ phòng giam, tôi lại được gọi lên để đối chất về sự liên hệ giữa tôi và cô. Chúng tôi xác nhận có yêu nhau nhưng chẳng biết gì về việt cộng cả và anh cảnh sát thẩm vấn (vờ) tin ngay là thật, anh hứa sẽ thả chúng tôi ra và anh bỏ đi làm giấy tờ. Tôi đến ngồi gần cô cầm lấy tay cô, cô ngước nhìn tôi và lắc đầu, có lẽ cô cho rằng lời anh thẩm vấn viên chỉ là cái bẫy, nhưng tôi cố tình cho cô hiểu tôi là người có thẩm quyền, tôi cứu cô ra vì tôi yêu cô.

– Như em đã nghe lúc nãy, anh xin bảo lãnh em và chịu trách nhiệm liên đới về những hành động của em sau nầy. Nếu em thương yêu anh thực lòng thì em hãy lánh xa những gì có thể gây nguy hiểm cho em. Em còn mẹ già phải nuôi dưỡng, rồi em sẽ lập gia đình, có con cái, sống hạnh phúc như bao người bình thường khác.

Đừng dại dột nữa, không phải anh sợ bị vạ lây nhưng nếu em gặp chuyện không may anh sẽ đau khổ lắm. Anh sẽ thu xếp cho em và mẹ em vào Sài Gòn sống lẫn trong đồng bào thì sẽ không có ai quấy rầy em nữa. Chúng mình sẽ làm đám hỏi và khi nào anh vận động xin về dạy gần Sài Gòn sẽ làm đám cưới.

Cô cúi đầu yên lặng nghe, rồi cô nắm tay tôi đặt lên đùi cô, siết nhẹ. Một giọt nước mắt rơi trên tay tôi. Tôi thở phào nhẹ nhõm. Cô đã hiểu ý tôi. Cô viết cho mẹ cô một lá thư, dặn bán nhà để chuẩn bị về quê, chỉ giữ lại bàn máy may.

Sau đó chúng tôi lặng lẽ về Sài Gòn.

Nhờ bạn bè giúp đỡ, tôi tìm mua được một căn nhà nhỏ ở chợ Cây Quéo, góc đường Hoàng Hoa Thám, Ngô Tùng Châu Gia Định. Dĩ nhiên việc theo dõi cô không phải đã chấm dứt.

Công tác của chúng tôi thường được tình báo Mỹ yểm trợ. Người Mỹ rất hào phóng nhưng cũng rất nguyên tắc, họ đã vui vẻ trả lại tiền cho tôi mua lại chiếc xe gắn máy, trả cả những chi phí lặt vặt như đưa cô đi xem hát, ăn quà rong. Nhưng sau cuộc hành quân, hồ sơ coi như đã đóng.

Lần nầy tôi lại bán xe, vay mượn thêm để lo cho cô mà không biết khi nào mới có tiền mua lại xe khác.

Suốt mấy tháng hè, tôi về Sài Gòn với gia đình. Buổi chiều tôi thường ghé thăm cô, có khi tôi ăn cơm tối với gia đình cô. Sau bữa ăn, bà mẹ dọn dẹp chén đĩa, còn cô thì xin phép đi tắm. Chợ Cây Quéo nằm trong một đường hẻm, sau khi tan chợ chiều, trở thành vắng lặng như ở một vùng quê.

Sau nhà cô có một sân vuông nhỏ, rào kín chung quanh, tôi thích ra đấy ngồi xuống một ghế gỗ dài để chờ cô. Cô có thói quen là sau khi tắm cô không mặc nịt ngực, nên qua lần vải mỏng, đồi ngực cô thẳng đứng lên, lồ lộ như hai mụt măng tre vừa chồi lên khỏi mặt đất.

Cô ngồi cạnh tôi, nghiêng đầu dùng khăn vò mái tóc cho khô, chải nhẹ cho tóc thẳng, xong cô ngửa người vuốt mái tóc về sau lưng, rồi cô nhìn tôi mỉm cười. Tôi yên lặng ngắm cô, tưởng như thấy rõ làn da mịn màng, thơm tho của thân thể cô… Sau đó chúng tôi có một thứ quà rong như chè hay trái cây để vừa ăn vừa chuyện trò đến khuya mới chia tay.

Sau kỳ nghỉ hè tôi được chuyển ra Huế dạy học, tôi viết cho cô một lá thư dài và hẹn Tết sẽ về xin làm đám hỏi. Tính cô ít nói, ngay cả thư trả lời chỉ vỏn vẹn mấy câu “Được thư anh, em khóc mấy hôm nay vì vui mừng. Cám ơn anh đã hiểu em và lời hứa của anh lần nầy em tin là thật, bằng trái tim và cả cuộc đời em”

Khoảng cuối năm đó tôi xin phép về Sài Gòn, khi đến nhà cô tôi ngạc nhiên thấy nhà đã sửa sang lại tươm tất. Cô dẫn tôi ra phía sau khoe một căn phòng vừa mới được xây thêm.

– Mẹ ngủ phòng ngoài kia, em ngủ trong nầy.

– Còn anh thì nằm dưới đất?!

Cô đỏ mặt nhưng sung sướng.

– Anh với em phòng nầy chứ.

Lễ hỏi chúng tôi diễn ra đơn giản, kín đáo. Gia đình tôi cứ tưởng tôi sẽ lập gia đình với một cô nữ sinh nào đó, không ngờ là một cô thợ may. Chẳng phải họ kỳ thị hay giai cấp gì mà theo lệ thường, thầy giáo rất dễ chọn vợ đẹp trong trường mình dạy. Nhưng khi gặp lần đầu, mọi người đều thích cô ngay. Cô vừa hiền vừa đẹp một cách thùy mị.

Mẹ tôi cứ mẹ mẹ con con với cô ngọt xớt, các cô em gái tôi thì tíu tít hỏi han, trò chuyện rất thân mật khiến cô bối rối, vụng về vì cảm động.

Từ đó gần như ngày nào tôi cũng đến nhà cô, đôi khi ngủ lại nữa, nhưng chúng tôi đã hứa với nhau phải giữ gìn, để dành cho ngày hôn lễ. Cô có những suy nghĩ lẩm cẩm rất đàn bà. Cô thêu những áo gối có hình quả tim, tên tôi và tên cô lồng vào nhau, hình đôi chim đang bay, rồi cô phân vân về tên của những đứa con trong tương lai. Tôi chế giễu thì cô giận, nhưng thâm tâm cô rất vui sướng với giấc mơ đơn giản đó.

Tôi bàn với cô vài tháng nữa sẽ làm đám cưới, nhưng rồi đầu năm bảy lăm miền Nam bắt đầu sụp đổ từng mảng, tất cả tan rã như bọt nước.

Người ta ùn ùn chạy về phía Nam, tôi phải nấn ná lo tiêu hủy hồ sơ, phân tán mạng lưới nên vào đến Đà Nẳng lại đành quay về Huế vì miền Trung đã rơi vào tay đối phương rồi. Kẻ thù hình như chưa biết gì về tôi cả ngoài cái vỏ bọc thầy giáo trung học. Chúng bắt đầu gọi các cô thầy đến khai lý lịch và như đang sắp xếp mở cửa các trường học.

Thế rồi khoảng cuối tháng năm, năm bảy lăm, nửa khuya, chúng đến vây nhà trọ, gõ cửa, còng tay tôi dẫn ra xe. Thoạt nhìn, ngoài chiếc xe cảnh sát chở đầy bộ đội tôi còn thấy một xe mang số ẩn tế Sài Gòn, tôi biết ngay bọn chúng đã tìm ra chính xác tông tích tôi. Nhưng tại sao trung ương lại không hủy hồ sơ?

Ngồi kèm tôi là hai tên bộ đội còn trẻ mang súng AK. Phía trước, bên cạnh tài xế là một người đàn bà. Xe chạy ra khỏi cửa Thượng Tứ, qua cầu Trường Tiền đến đường Duy Tân, chiếc xe chạy trước quẹo vào ty cảnh sát (cũ), còn xe chở tôi chạy thẳng, hướng về quốc lộ. Tôi đoán chúng đưa tôi về Sài Gòn khai thác. Tôi dự định thoát thân, nhưng đến gần phía Nam tôi mới hành động. Nghĩ thế nên tôi buông thả, thiu thiu ngủ dưỡng sức.

Dọc đường xe phải ngừng ở các nút chặn, tên tài xế cũng là bộ đội trình giấy và nói gì đấy, ánh đèn loang loáng vào xe, rồi xe lại tiếp tục. Đến Quảng Ngãi trời đã rạng sáng, tôi lơ mơ mở mắt nhìn quanh. Bỗng tôi lạnh người khi nhận ra người đàn bà ngồi phía trước là cô thợ may, vợ sắp cưới của tôi.

Hóa ra chúng tôi đã lầm trong điệp vụ vừa kể, tên đầu sỏ là cô ta chứ không phải gã thầy tu khất thực. Tôi cay đắng cười thầm mình thua trí một người đàn bà, cô đã ngụy trang một cách tài tình, không chỉ đánh lừa chúng tôi mà còn đánh lừa cả đến lũ chân tay của cô.

Nhớ lại những ngày chúng tôi bên nhau, tôi sượng sùng, xấu hổ với cô. Cô đã đóng một vai kịch rất xuất sắc, rất bản lĩnh, tôi vẫn chỉ là một con mồi ngây thơ. Ấy vậy mà tôi cứ tưởng tình yêu chân thành của tôi đã cảm hóa được cô. Giờ đây cô ngồi đó, lạnh như tiền. Cô đang nghĩ gì về tôi, một tên điệp viên hạng bét, ngây ngô, lãng mạng tiểu tư sản?

Xe đến Bình Định, ghé vào một quán cơm bên đường, tôi được tên bộ đội mở còng nhưng dặn “Cần gì nói tôi, giữ khoảng cách năm bước, đến gần hay xa hơn, sẽ bị bắn bỏ”

Tôi được dẫn vào ngồi một bàn ở một góc quán, mấy tên bộ đội ngồi hai bên, còn cô ta thì ngồi riêng. Sau bữa ăn, lúc trả tiền cô lôi ra một xấp bạc mới tinh, rút vài tờ vất đấy, đứng dậy, không lấy tiền thối.

Tôi cố tỏ ra sợ sệt và ngoan ngoãn để chúng tin, hi vọng đến chiều tối nếu cũng ăn uống như thế nầy tôi sẽ bỏ chạy rất dễ dàng và bóng đêm sẽ che chở cho tôi. Nhưng tôi đã lầm, xe chạy suốt đến sáng, đến ngã ba Hàng Xanh theo đường Bạch Đằng, rồi Chi Lăng, Ngô Tùng Châu và vào hẽm chợ Cây Quéo.

Cô vào nhà một lúc lâu mới đi ra với bà mẹ. Hai mẹ con ngồi phía trước, xe lại tiếp tục trở ra xa lộ đến Biên Hòa quẹo hướng Vũng Tàu. Tôi đoán chúng sẽ truy tôi về công tác ở Vũng Tàu, Long Hải trước đây hoặc giao cho lũ nằm vùng, nội tuyến đã bị tôi đưa đi tù, và chúng sẽ mặc sức trả thù.

Đến Vũng Tàu, ghé mua mấy ổ bánh mì thịt, xe vào một khách sạn hạng trung bình. Sau khi ăn uống, làm vệ sinh, tôi lại bị còng tay cho vào phòng riêng, phía ngoài là hai tên bộ đội canh cửa.

Tôi nghe cô ta dặn hai tên gác là phải cảnh giác cao độ với tên địch nguy hiểm đó (là tôi), và cô đến ủy ban quân quản có chuyện cần, sẽ về ngay. Tôi mệt mỏi lăn ra ngủ một giấc lấy sức, dự định tối nay leo cửa sổ trốn đi. Cái còng không thành vấn đề, một cọng thép nhỏ là xong, và cọng thép đó đang nằm trong sợi dây đồng hồ mà tôi đã có được lúc tôi đòi đi tiểu ở hàng cơm ở Bình Định.

Nhưng đến gần tối, sau khi được ăn một ổ bánh mì nữa, chúng lại còng cả chân tôi vào giường và hai tên bộ đội ngồi ngay trong phòng tôi, thay phiên nhau lõ đôi mắt cú vọ canh chừng tôi. Thế là hết đường trốn thoát!

Nhớ lại thời gian hứa hôn chúng tôi sống bên nhau, cô đã dần dần hiểu tôi, trong sự săn sóc cô đón ý tôi rất tài. Lúc đó tôi sung sướng nghĩ rằng mình có được cô vợ toàn tâm toàn ý, bây giờ chính cái toàn tâm toàn ý kia lại hại tôi. Cô đã thấy được không sai chạy những gì tôi nghĩ trong đầu, dù chỉ vừa thoáng qua là cô đề phòng ngay.

Tối đó độ hơn mười giờ, tôi được dẫn ra xe, vẫn đủ sáu người như trước. Xe chạy loanh quanh trong thành phố một lúc rồi hướng ra Bãi Sau.

Trời đêm đầy mây, lạnh kinh khủng, miền Nam chưa bao giờ lạnh như năm đó, đường vắng tanh, lờ mờ ánh đèn, tiếng sóng vỗ rì rào, buồn bã. Xe chạy đến cuối bãi thì dừng lại. Cô ra lệnh bịt mắt tôi lại.

– Đồng chí đưa tôi khẩu AK. Cứ ở đây chờ, khi nào nghe tiếng súng nổ tôi sẽ ra.

Và cô nói với bà mẹ, giọng lạnh lẽo, hàm răng rít lại.

– Mẹ phải theo con, xem con trả thù kẻ đã giết hại gia đình mình và bao nhiêu đồng chí khác nữa.

Đúng là oan oan tương báo. Tôi đã xử tội tên nằm vùng giết cha tôi ra sao, bây giờ tôi sẽ gặp y như vậy. Nhưng tôi không nhớ rõ mình đã làm gì để cô thù hận tôi đến độ giờ đây đem ra xử bắn tôi, không lẽ cô là con của tên nằm vùng kia?!

Cô lên đạn, chĩa súng vào lưng tôi, đẩy tôi đi trước. Cô đã phạm một sai lầm chết người. Cô dí súng vào lưng tôi là giúp tôi nắm được quãng cách giữa cô và tôi. Tầm vóc cô thì tôi còn lạ gì. Chỉ cần tôi quay nhanh lại là mũi súng sẽ chệch ra ngoài và với một đòn chân, tôi có thể đá gãy cổ cô hay ít ra cũng hạ gục cô trong tích tắt. Trong bóng tối thì bị bịt mắt hay không cũng mù như nhau. Tôi lần tìm cọng thép trong dây đồng hồ và bắt đầu mở khóa còng tay.

Được một quãng, khi đoán đã xa tầm nghe ngóng của mấy tên bộ đội, tôi vừa định ra đòn thì cô mở băng bịt mắt tôi.

– Anh cõng mẹ được không? Nhanh lên! Nếu có chuyện gì, anh và mẹ cứ chạy thoát đừng lo cho em. Có thuyền chờ sẵn đằng kia.

Cô ôm súng chạy phía trước, tôi cõng bà cụ men theo bờ rừng dương liễu mải miết theo cô.

Độ một cây số, chúng tôi đến một thuyền nhỏ có người chờ sẵn. Thuyền được đẩy ra, nổ máy và nửa giờ sau chúng tôi ra thuyền lớn đi thẳng.

Hôm sau chúng tôi được tàu Mỹ vớt về đảo Guam.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bình luận về bài viết này

CNN Happy Thanksgiving

K1

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bình luận về bài viết này

Thơ Tống Phước Kiên – Mấy Độ Vàng Bay

NGƯỜI VỀ THEO TIẾT THU

hue-mu-suong-ngoc-thach-19-1459566082

Người trở về đây giữa tiết thu
Heo may se lạnh đuổi sương mù
Đò đưa hờ hững bơ vơ khách
Xóm cũ nao lòng tiếng hát ru
Đưa tiễn người đi trăng sáng tỏ
Bây giờ đầu bạc ánh sao lu
Ước mơ xưa đã vào quên lãng
Một kiếp phù sinh được mấy thu.

Tuyết Mai

 

MẤY ĐỘ VÀNG BAY

TPK họa

16x9_medium

Mấy độ vàng bay dưới nắng thu
Bấy lần thương nhớ cõi xa mù
Bâng khuâng lá rụng hồn cô tịch
Khắc khoải chiều buông gió nhẹ ru
Thơ thẩn bên thềm nhìn đêm xuống
Tần ngần trước ngỏ ngóng trăng lu
Sương pha mái tóc đời lưu xứ
Từ dạo đăng trình buổi mạnh thu.

TPK họa

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bình luận về bài viết này

Thơ Nguyễn Phiến: Trang Thơ Lỡ Vận

TRANG THƠ LỠ VẬN

unnamed (3)

Sách chưa trao sao vội vàng quay mặt
Chưa mở lời sao em đã cong môi
Sao không nhận trang thơ làm kỷ vật
Để bốn mùa chim sáo nhỏ chung đôi ?
Nắng lên rồi phượng hồng khoe sắc thắm
Tiếng ve ngân rộn rã cả sân trường
Áo trắng bay tóc mây vờn lá biếc
Cuối con đường Em không thấy tơ vương?
Theo bước chân,chờ cơ duyên tình ngõ
Cạn bút nghiên tình tõ chẳng nên duyên
Thời gian trôi ai lập lờ đùa giỡn
Cho một người tan vỡ mộng đoàn viên
Rồi Hạ qua mau Thu sầu đến sớm
Lá vàng bay xao xuyến buổi tựu trường
Từ rừng sâu mắt nâu hoài mắt biếc
Gói Ngậm ngùi xin gởi laị hậu phương

Phiến Nguyễn

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bình luận về bài viết này

Tôi gọi họ là anh hùng – Tác giả Đặng chí Hùng

Tôi gọi họ là Anh Hùng

Đặng Chí Hùng

Trong cuộc chiến mà Bên thắng cuộc (theo cách gọi của tác giả Huy Đức) đã được đặt vào thế “tất nhiên phải thắng” như tôi từng chứng minh trong 2 bài “Những sự thật cần phải biết – phần 1” thì không thể đem thành bại ra mà luận anh hùng…

Cứ mỗi độ xuân về, những ngày tháng 3 cho đến cuối tháng 4, đã gần 40 năm qua chúng ta thường được nghe những luận điệu lặp lại của những người cộng sản chuyên nghề ngậm máu phun người và làm thí ít mà báo cáo láo thì nhiều về cái gọi là “Chiến thắng lẫy lừng” thì tôi lại phải xuống bút.

Có lẽ tôi không cần phải nói lại về bản thân tôi vì tôi chẳng có cái gốc “Ngụy” để mà đi “chống phá” cách mạng. Nhưng tôi thấy cần phải luận anh hùng với đôi dòng để bạn đọc thấy trong cuộc chiến mà Bên thắng cuộc đã được đặt vào thế “tất nhiên phải thắng” thì không thể đem thành bại ra mà luận anh hùng…

Tại sao tôi nói như vậy? Vì trong cuộc chiến phi nghĩa mà cộng sản gây ra khiến nhân dân điêu linh (Xin xem thêm “Những sự thật không thể chối bỏ – phần 13”) thì kẻ thắng đã được đặt vào thế “được thắng”, còn người “thua” thì thực tế họ không thua mà họ đang thắng trong lòng chúng tôi, những người dù sinh sau đẻ muộn.

Một chế độ nào cũng có những khuyết điểm, Việt Nam Cộng Hòa không là ngoại lệ, nhưng ở chế độ đó con người đúng nghĩa là con người, ở đó con người không phải con vật, con thú cho nhà cầm quyền muốn làm gì thì làm như chế độ tôi đang phải sống. Điều này tôi đã chứng minh ở “Những sự thật cần phải biết – phần 2”. Nói như vậy để chúng ta thấy rằng tôi không có ý ca ngợi VNCH một cách vô lý. Trong con mắt của tôi, đó là một chế độ đáng sống hơn vạn lần so với cộng sản ngày nay. Và nếu được cho lựa chọn thì tôi sẽ quay ngược thời gian về làm người lính VNCH – vì với tôi họ là “Anh Hùng”!

Đã cuối tháng 3 gãy súng (theo lời tác giả Cao Xuân Huy) của gần 40 năm sau cuộc chiến mà ở đó những người anh hùng đã gục xuống vì chính nghĩa. Họ đã gãy súng nhưng họ thực sự là anh hùng. Hãy bình tĩnh nhìn lại họ để xem những gì tôi gọi họ – những người lính VNCH là anh hùng có gì sai không?

Thứ nhất, trong khuôn khổ bài 1, 2 “Những sự thật cần phải biết” tôi đã chứng minh rằng: VNCH không phải là “ngụy” và những người lính VNCH phải gục ngã vì họ bị ép phải thua và không còn khả năng để chiến đấu. Họ không thể dùng tay không đánh nhau với đoàn quân đông đảo có vũ khí, đạn dược áp đảo đang tiến theo thế cờ chính trị. Như vậy họ không phải là những người bại trận. Trên thực tế họ bị ép phải “thua”.

Thứ hai, với khẩu hiệu “tổ quốc – danh dự – trách nhiệm” thì quân lực VNCH đã chiến đấu cho tự do miền nam hơn 20 năm trời. Họ không phải là những kẻ đi gây chiến, xâm lược nước khác, khủng bố như cộng sản (Xin xem thêm “những sự thật cần phải biết – phần 3, 4”). Vậy cớ sao họ vì an ninh, vì quốc gia mà chiến đấu không thể gọi họ là anh hùng?

Thứ ba, nhìn lại cuộc chiến VNCH và VNDCCH thì ai cũng thấy gương của những ông tướng dám tuẫn tiết theo thành như trường hợp của tướng Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng…. Vậy ai còn có thể nói quân lực có những người anh hùng đó không anh hùng? Dám chết cho lý tưởng của mình, dám chết vì thấy rằng mình dù bị ép thua nhưng cũng có trách nhiệm trong nỗi đau đó có thể gọi là anh hùng không? Có! Rất xứng đáng gọi họ là những anh hùng.

Thứ tư, khi so sánh với quân đội nhân dân VN hiện nay tôi càng thấy sự khác biệt của những người anh anh hùng và những kẻ “tự phong anh hùng”. Nếu quân lực VNCH có Ngụy Văn Thà và đồng đội sẵn sàng hi sinh vì biển đảo tổ quốc thì quân đội nhân dân cộng sản không dám “ho” một tiếng với Trung cộng bắn ngư dân và con “tri ân” giặc như một đứa con nít đang xu nịnh đám giang hồ mất nết. Vậy ai là anh hùng các bạn cũng đã biết rồi chứ?

Thứ năm, sau khi cuộc chiến kết thúc, hàng triệu người lính VNCH còn kẹt lại ở VN chịu thương tật, không ai giúp đỡ, không có lương hưu nhưng họ vẫn sống thẳng thắn và điềm đạm. Trong khi đó quân đội cộng sản tự cho mình là anh hùng thì lại vì cái sổ hưu mà đang cố bám lấy cái đảng khủng bố, độc tài và chịu làm thân nô lệ cho Tàu. Vậy ai là anh hùng? Xin giành sự suy ngẫm này cho chính các vị tướng già quân đội cộng sản.

Còn rất nhiều bằng chứng nhưng tôi xin chỉ nêu 5 điều chính cho thấy những người mà tôi gọi là anh hùng – những người lính VNCH là hoàn toàn có cơ sở. Cuộc chiến mà họ phải thua dù họ có chính nghĩa không có ý nghĩa. Điều ý nghĩa đọng lại cho mãi sau này đó là họ đã từng là những người anh hùng, họ xứng đáng được tôn vinh và quan trọng hơn họ đang thắng trong cuộc chiến trong lòng con dân Việt Nam!

Xin ngả mũ tri ân những người lính VNCH – Những người anh hùng – Những người đã đặt nền móng cho ý chí không chịu khuất phục cộng sản khát máu!

Đặng Chí Hùng

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bình luận về bài viết này

TÁCH CÀ PHÊ MUỐI_(ST)

TÁCH CÀ PHÊ MUỐI

Suốt 50 năm bên nhau, phút biệt ly ông để lại bức thư khiến bà khóc nức nở vì ‘bị lừa dối’

            Tình yêu không chỉ là cảm xúc của con người, nó còn là cội nguồn của sức mạnh, của tinh thần lạc quan, của lòng dũng cảm và sự kiên cường. Tình yêu giúp chúng ta giải quyết rất nhiều vấn đề trong cuộc sống, giúp ta dễ dàng tha thứ cho những sai lầm và dẫn dắt ta tới những bến bờ hạnh phúc.
            Đó là buổi tối tháng 6 lộng gió, chàng trai gặp cô gái tại một bữa tiệc ở một nhà hàng gần biển. Cô là người xinh đẹp, dịu dàng và phần lớn khách trong buổi tiệc đều chú ý đến cô. Trong khi đó, chàng trai lại là một người rất bình thường, không có gì đặc biệt, cũng chẳng ai để ý tới anh. Anh cũng dõi theo cô ngay từ khi cô bước vào.

            Cuối cùng, khi buổi tiệc kết thúc, chàng trai ngượng nghịu tới mời cô gái uống café cùng mình. Cô gái vô cùng ngạc nhiên. Trước mặt cô là chàng trai có vẻ rụt rè, ngượng ngùng nhưng phong thái vô cùng lịch sự và lời mời của anh thể hiện sự quan tâm dành cho cô.

            Cô gái đáp lại sự chân thành của chàng trai và họ ngồi ở một chiếc bàn nhỏ trong góc phòng tiệc. Nhưng chàng trai vì quá hồi hộp và lo lắng nên mãi không nói được điều gì, chỉ ngồi mân mê tách café, cô gái cũng cảm thấy bất tiện.

            Bỗng nhiên, chàng trai gọi người phục vụ: “Xin cho tôi một chút muối để cho vào café.”

            Mọi người trong phòng đều hết sức ngạc nhiên và họ đổ dồn ánh mắt về phía chàng trai. Chàng trai đỏ mặt và mặc dù lúng túng, anh vẫn xúc một thìa muối cho vào cốc café và uống.

            Nhìn chàng trai điềm tĩnh uống từng ngụm café, cô gái hết sức kinh ngạc và tò mò: “Sở thích của anh thật kỳ lạ.”

            Chàng trai giải thích: “Khi còn nhỏ, tôi sống gần biển. Mỗi khi chơi cùng bạn bè bên bờ biển, tôi có thể cảm nhận được vị mặn chát và nồng nồng của nước, giống như café cho muối vào vậy. Vì thế, mỗi khi uống café với muối, tôi lại nhớ về tuổi thơ và quê hương của mình. Tôi nhớ tất cả những người bạn thời ấu thơ và cả sự lam lũ, vất vả của những người dân quê tôi.” Nói rồi anh quay ra nhìn biển đêm, lắng nghe tiếng sóng dạt dào vào bờ như đang hồi tưởng và trở về miền quê yêu dấu của mình.

            Nhìn chàng trai và lắng nghe những chia sẻ chân thành của anh, cô gái thực sự xúc động. Một người đàn ông yêu nơi mình sinh ra, không quên tuổi thơ vất vả, nghèo khó hẳn sẽ là một người yêu gia đình, sống có trách nhiệm và nghĩa tình. Cô gái dần cảm mến chàng trai và trở nên cởi mở hơn. Cô tâm sự với anh về gia đình, quê hương và những sở thích của cá nhân cô. Họ trò chuyện cùng nhau quên thời gian, sự xa lạ ban đầu đã trở thành sự thân quen, đồng cảm. Trước khi ra về, họ hẹn lần gặp mặt tiếp theo.

            Qua những lần gặp gỡ, cô gái nhận thấy chàng trai là một người lý tưởng và phù hợp với cô. Anh tốt bụng, chân thành, ân cần, biết suy nghĩ cho người khác và anh thực sự yêu thương cô. Cô gái biết rằng mình đã tìm được người bạn đời của mình, chính nhờ vào cốc café muối.

            Một năm sau lần gặp gỡ đầu tiên, họ kết hôn. Kể từ đó, mỗi sáng cô gái đều pha cho chàng trai – nay đã là chồng cô – một cốc café cùng một thìa muối. Cô biết rằng chồng cô rất thích như vậy. Suốt 50 năm bên nhau, người chồng luôn luôn uống cốc café muối và cảm ơn vợ đã thức dậy từ sớm để chuẩn bị cho mình cốc café ngon đến thế.

            Sau 50 năm, người chồng mắc bệnh và qua đời. Ngày chồng mất, người vợ tìm thấy một bức thư viết cho cô được đặt dưới chiếc gối:

            “Gửi vợ thân yêu!
Mong em hãy tha thứ cho lời nói dối suốt cả cuộc đời của anh. Đó cũng là lời duy nhất anh dối em trong suốt 50 năm của chúng ta, là lời nói dối về cốc café muối. Em còn nhớ lần đầu tiên anh mời em uống café không? Lúc đó anh đã quá lo lắng, anh định hỏi xin một chút đường, nhưng lại nói nhầm thành muối. Anh cũng quá lúng túng và ngượng nghịu nên đã không lên tiếng đính chính lại. Vì thế, anh đành lấy muối cho vào cốc café, cố gắng uống với vẻ mặt hài lòng và nghĩ ra câu chuyện về tuổi thơ sống gần biển để nói với em. Trong những năm tháng chúng ta bên nhau, anh đã muốn thú nhận sự thật với em rất nhiều lần, nhưng rồi anh sợ em sẽ không tha thứ cho anh. Bởi vậy, anh đã tự hứa với bản thân sẽ không bao giờ nói dối em, phản bội em hay làm tổn thương em một lần nào nữa. Anh cố gắng để trở thành người chồng em có thể tin tưởng và tự hào, như một lời xin lỗi chân thành cho lời nói dối ban đầu của anh.

            Bây giờ anh đã đi xa rồi, anh cũng đã có đủ can đảm để nói với em sự thật. Anh không thích café muối, anh cũng cảm thấy đây là món kỳ quặc nhất trên đời. Nhưng mỗi sáng được uống một cốc café muối của em, anh chưa bao giờ cảm thấy hối tiếc hay đau khổ. Nếu được làm lại, anh sẽ vẫn hành động như vậy, để chúng ta có duyên phận ở bên nhau. Anh sẽ uống café muối suốt cả cuộc đời.”

            Người vợ cầm lá thư trên tay và đôi mắt cô đẫm lệ. Cô cảm thấy hạnh phúc khi biết mình đã bị lừa dối hơn 50 năm. Có lẽ, nếu không có lời nói dối ấy, cô đã chẳng yêu và kết hôn với chồng của mình. Và nếu không có cốc café muối mặn chát và đắng ngắt mà chồng cô điềm tĩnh uống, cô đã không tìm được duyên phận của đời cô.

            Khi yêu thương chân thành và rộng lượng, đúng sai thực sự không còn là vấn đề. Chàng trai trong câu chuyện trên đã dùng cả tấm lòng mình để yêu cô gái, để tự tập thói quen vốn không hề dễ chịu: uống café muối và mang lại hạnh phúc cho cô. Vậy mới hiểu, tình cảm trong sáng đơn thuần sẽ vượt qua những rào cản, những ngăn cách trong tâm hồn để đem con người lại gần nhau hơn.

            Mỗi chúng ta có cơ hội gặp gỡ nhau trong cuộc sống này, dù với danh nghĩa bạn bè, vợ chồng hay hàng xóm đều do những mối cơ duyên được sắp đặt sẵn. Vậy mà, có những khi vì bận rộn với công việc và các nhu cầu cuộc sống, ta lãng quên những người xung quanh mình, và lãng quên mối duyên phận thiêng liêng của chúng ta với họ. Tuy nhiên, chúng ta luôn cần quan tâm, chia sẻ với nhau, dành tình yêu thương chân thành dành cho nhau, nếu không, cuộc sống sẽ trở nên ảm đạm, buồn phiền, giống như trái đất thiếu đi ánh mặt trời.

Têresa Ngọc Nga st
(Bài do K1 Võ Thiệu chuyển)

           

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bình luận về bài viết này

Tình đồng chí trong thế giới VC- LTQ sưu tầm

LƯỢM LẶT

“TÌNH ĐỒNG CHÍ”
Trong thế giới Việt cộng.

Cuối năm 2020, tôi được hãng phái vào Việt Nam để khảo sát công trình Clean Up Hóa Chất phi trường Đà Nẵng.

Sau một tuần công tác hoàn tất, tôi bay vào Saigon vào dịp Giáng Sinh rất nhộn nhịp vui vẻ và gặp lại các bạn thân còn ở lại sau 30 tháng 4 năm 1975. Tôi và đám bạn được ông sĩ quan công an Trưởng Phòng Hình Sự Quận “10” vốn là người thân tình với bạn tôi mời đãi một chầu nhậu tại nhà hàng Hoa Viên – Quận 1 trung tâm Saigon.

Trong bữa tiệc, ông kể thuật lại câu chuyện có thật đã xảy ra và đố chúng tôi, ai có thể trả lời được đó là thứ tình gì?

Câu chuyện là:

Trước 1954, ông Ba Liêm gốc Nghệ An vào miền Nam công tác gây dựng các tổ cách mạng miền Nam tại Mỏ Cày, Ba Liêm kết hôn với một thiếu nữ và khi vợ mang thai thì ông nhận được lệnh tập kết ra Bắc cho tới sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, Ba Liêm vào Saigon và làm Thủ Trưởng Kinh Tế Quận, ông ta phải lòng một thiếu nữ tuổi ngoài đôi mươi và lén lút tuôn hàng quốc cấm như cà phê, gạo, đường, thuốc lá … cho cô ta buôn bán lấy lời và chia chác đầy đủ cho các cán bộ trong ngành. Sau vài năm làm ăn khấm khá, cô thiếu nữ chịu ân tình và ưng lấy Ba Liêm làm chồng tuy tuổi tác của ông đáng bậc cha chú và sinh đặng đứa con trai kháu khỉnh…

Vào dịp cuối năm, gần tết Nguyên Đán, Ba Liêm nghe lời vợ mua sắm quà cáp để cùng với vợ con lái xe “ô tô con” về thăm và ra mắt gia đình bên vợ mà từ khi lấy vợ tới bây giờ ông chỉ nghe vợ kể loáng thoáng rất ít về gia cảnh của vợ mình, chỉ còn người mẹ ở góa và vài người họ hàng đang sinh sống tại quận Mỏ Cày.

Ba Liêm đậu xe ở đầu ngõ, khệ nệ ôm xách quà cáp đi theo vợ tay đang đắt con tới căn nhà trong khu phố mới xây dựng theo qui hoạch “ấp văn hóa”.

Bà mẹ vợ dáng người gầy guộc mộc mạc trong chiếc áo bà ba tuổi trạc chừng xấp xỉ với ông nhưng trông già hơn có lẽ vì kham khổ tần tảo nuôi con bấy lâu… Lần đầu tiên bà gặp lại con gái sau nhiều năm từ khi “nó” lên Saigon buôn bán làm ăn và nay đi với chồng con về sum họp và ăn tết với bà rất đỗi vui mừng…! Nhưng bà và ông con rể có chút ngờ ngợ như đã từng quen biết nhau ở đâu đó và linh cảm bất an không lành trong cuộc hội ngộ trùng phùng này! Bất chợt bà hỏi nhỏ:

-Ông … ông có phải là anh Liêm… Ba Liêm … Nguyễn Thanh Liêm trước ở Mỏ Cày này …?

Ông cố hình dung bà mẹ vợ và nửa vui mừng như gặp lại người xưa, nửa lại có gì không ổn trong linh tính mơ hồ … Ông run giọng hỏi bà:

– Huệ … em … bà là Huệ phải không …?

Bỗng bà bật tiếng khóc thống thiết bi ai … “Trời ơi… oan nghiệt… Ba Liêm ơi, con Thủy là con ông đó …”! Bà ngã quị xuống với tiếng khóc nức nở đoạn trường.

Ông Ba Liêm ôm đầu, tất tả đi ra khỏi nhà như người điên loạn! Hàng xóm nghe chuyện, có người bất bình lên tiếng:” Chỉ có thứ heo chó mới lấy con gái ruột của mình làm vợ và đẻ con …”!

Ông sĩ quan Công An Hình Sự kể xong câu chuyện và hỏi tất cả mọi người trong bàn tiệc: ”Người đàn bà đó là vợ của Ba Liêm, cô con gái cũng là vợ của Ba Liêm, đứa con trai của Ba Liêm cũng là cháu ngoại của Ba Liêm… Vậy đây là loại tình gì và tôi đố các bạn trả lời cho hợp lý và chính xác”?

Không ai trong bàn tiệc trả lời được và ông ta tự kết luận:

“Đó là “TÌNH ĐỒNG CHÍ” trong Thế Giới Việt Cộng!”

Facebook LTQ sưu tầm trên mang_ không ghi tên tác giả)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bình luận về bài viết này

THỦ ĐỨC MỘT THỜI KHÓ QUÊN_Nguyễn Quý Đại

THỦ ĐỨC MỘT THỜI KHÓ QUÊN

Nguyễn Quý Đại

Trước năm 1975, diện tích quận Thủ Đức khoảng 200 km² với những cánh đồng lúa vàng trĩu hạt, những khu vườn cây ăn trái xum xuê, vườn cao su xanh ngắt và những nhà máy kỹ nghệ lớn nhất thời VNCH như: nhà máy Xi Măng Hà Tiên, nhà máy dệt VIMYTEX, nhà máy làm sữa hộp Foremost, nhà máy nước Đồng Nai, nhà máy nhiệt điện Thủ Đức, nhà máy kim khi VIKIMCO, nhà máy sản xuất tôle VINATON vv…ngoài ra có suối Xuân Trường, những khu nghỉ mát, hồ bơi lớn theo tiêu chuẩn quốc tế… Đầu thập niên 70 Thủ Đức lại có thêm một trung tâm giải trí lớn nữa là khu Đường Sơn Quán bên xa lộ Đại Hàn với sân trượt (patin) nổi tiếng và thu hút rất đông giới trẻ Sài Gòn vào mỗi cuối tuần.

Thủ Đức, vùng đất Văn Hóa gần Thủ đô Sài Gòn, dưới thời VNCH về phương diện giáo dục là đơn vị hành chánh cấp quận duy nhất có đầy đủ các trường từ cấp tiểu học lên đến đại học. Đại Học Khoa Học (Ban Vật Lý Địa Cầu) và Đại Học Kỹ Thuật Bách Khoa. Nếu không có biến cố 30.04.1975, trường Đại Học Kỹ Thuật Bách Khoa là đại học hiện đại có diện tích lớn nhất tại Miền Nam. Những trường trung học công lập: Thủ Đức, Hoàng Đạo, Nguyễn Hữu Huân, Nguyễn Trung Trực, còn có thêm Trường Trung Học Kiểu Mẫu là trường dạy theo chương trình tổng hợp đầu tiên tại miền Nam với cơ sở đồ sộ và khang trang nhất. Ngoài ra còn có trường trung học Kỹ Thuật Việt Đức ờ Ngả tư Xa lộ. Giáo Hội Công Giáo cũng có một số trường trung học như trường Lasan Mossard, trường Thánh Phanxicô, và thêm một trường nội trú dành cho nữ sinh.

Chợ Thủ Đức theo lịch sử có từ hành trình xuôi về phương Nam của Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh vào thế kỷ XVII. Người lập ra chợ là một thương gia người Hoa ông Tạ Dương Minh (Tạ Huy), hiệu Thủ Đức, bỏ nước ra đi sau khi phong trào “phản Thanh phục Minh” bị thất bại. Nhân vật lịch sử đã góp phần khai khẩn, lập ấp vùng Linh Chiểu xưa và xây dựng ngôi chợ đầu tiên tại đây mang tên hiệu của ông là chợ Thủ Đức.

Thủ Đức là một vùng nửa chợ nửa quê hấp dẫn đối với người dân Sài Gòn, có những chỗ vui chơi giải trí thơ mộng, không ồn ào náo nhiệt. Cuối tuần nếu dân Sài Gòn không đi tắm biển Vũng Tàu thường đến Thủ Đức tắm hồ, tắm suối, ăn nem nướng gói lá vông là một đặc sản nổi tiếng qua nhiều thập niên. Dọc các quán ăn, cửa hiệu ven đường, những chùm nem xanh tròn đầy treo lủng lẳng trông thật hấp dẫn, qua ca dao. “tay cầm bầu rượu nắm nem, mải vui quên hết lời em dặn dò“. Tản Đà thích thú khi đến ăn nem và tắm suối Xuân Trường làm thơ hồi tưởng

Thủ Đức- Xuân Trường khách vắng đông

Ngồi nhớ người xa thêm nhớ cảnh

Xa xôi ai có nhớ nhau cùng…

Thủ Đức còn có các quân trường nổi tiếng như: trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức (SQTBTĐ), Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia (CSQG)…Từ ngã tư xa lộ, đi về hướng chợ Nhỏ là làng Phong Phú sau năm 1940 đổi thành Tăng Nhơn Phú. Trường SQTB Thủ Đức (Trường Bộ Binh) nằm trên đồi Tăng Nhơn Phú cách thủ đô Sàigòn 18 cây số về hướng Đông Bắc. Trường SQTB Thủ Đức có những dãy nhà mái ngói đỏ san sát dưới những hàng cây um tùm xanh mát. Đi trên xa lộ Biên Hòa nhìn về hướng đồi Tăng Nhơn Phú thấy một phần của trường và Học Viện CSQG có đại giảng đường với huy hiệu Cảnh Sát lớn ở mặt tiền, cổng và sân cờ có nhiều cây tùng xanh, cột cờ cao với cờ vàng tung bay trong gió lộng.

Theo tài liệu của Bộ Quân Sử “các diễn tiến trong việc thành lập Quân Đội Quốc Gia VN, trường Sĩ Quan Thủ Đức là một trong hai trường đào tạo sĩ quan trừ bị do chính quyền Quốc Gia Việt Nam thành lập vào tháng 10 năm 1951 mang tên École d’Officiers de Réserve để đào tạo cấp chỉ huy người Việt cho Quân Đội Quốc Gia VN trong Liên Hiệp Pháp. Trường được xây trên đồi Tăng Nhơn Phú, quận Thủ Đức. Năm 1952 Trường sáp nhập với trường Sĩ quan Trừ bị Nam Định được chuyển từ Bắc vào. Trường Nam Định đào tạo chỉ một khóa sau đó giải tán.

Năm 1955 khi QLVNCH thành hình thì Trường Sĩ Quan Thủ Đức lập ra năm ngành (trường) chuyên môn: Thiết giáp, Pháo binh, Công binh, Truyền tin, Quân cụ, Thông vận binh (Quân xa sau này) và Quân chánh. Năm 1961 khi chiến tranh VN ngày càng lan rộng, các trường chuyên môn càng phát triển và trường SQThủ Đức với nhiệm vụ đào tạo chung nên trường đổi tên là Liên Trường Võ Khoa Thủ Ðức cho đến nền Đệ Nhất Cộng Hòa thì chấm dứt.

Năm 1963 lấy lại tên tên cũ: Trường Sĩ Quan Trừ bị Thủ Đức, chỉ đảm trách việc đào tạo Sĩ Quan Trừ Bị cho toàn thể Lục Quân Việt Nam. Ngoài những khóa trên trường huấn luyện các khóa:

– Khoá hoàn hảo Sĩ quan Điạ Phương Quân

– Khoá Bổ túc Quân sự cho SQ Quân Y

– Khóa đào tạo Sĩ Quan Huấn Luyện Viên và huấn luyện quân sự hàng ngàn Sĩ Quan do các: Bộ Tư Lệnh Không Quân, Hải Quân và Cảnh Sát Quốc Gia gửi đến thụ huấn. (Năm 1969 CSQG chuyển Học ViệnCSQG từ Sài Gòn về Thủ Đức trên đồi Tăng Nhơn Phú, Sinh viên sĩ quan được huấn luyện căn bản quân sự tại trung tâm huấn luyện Rạch Dừa Vũng Tàu, sau khi mãn khoá gắn Alpha về Học Viện học chuyên môn, không còn thụ huấn tại trường SQTB Thủ Đức như những khoá đàn anh).

Học trình của Trường SQTB Thủ Đức kéo dài 9 tháng. Những khóa đầu điều kiện học vấn cần có bằng trung học, thời gian huấn luyện ngắn hơn. Nhưng sau nầy nhập học (động viên hay tình nguyện) thanh niên từ 18 tuổi phải có bằng Tú Tài I (trước 1974 tại miền Nam trường trung học đệ nhị cấp phải qua 2 kỳ thi Tú Tài I & II). Sau khi ra trường mang cấp Chuẩn úy, sau 18 tháng quân vụ thì thăng Thiếu úy, hai năm sau lên Trung úy. (ngoại trừ những Sĩ quan vi phạm kỷ luật bị “ký củ” thì khó lên cấp bậc theo quy định). Mỗi đơn vị Quân Đội có một Khu Bưu Chính (hộp thơ). viết tắt KBC, với 4 con số ghi sau chỉ danh đơn vị đó. KBC của Trường Bộ Binh là KBC 4.100 trực thuộc Quân Bưu Cục Trung Ương tại Thủ Đô Sài Gòn.

Sau Tết Mậu Thân 1968, chính phủ ban hành một sắc luật Quân Sự áp dụng vào học đường, cuối tuần học sinh đệ nhị cấp phải học căn bản về quân sự biết sử dụng vũ khí, tập bắn tại các trung tâm huấn luyện. Nên khi họ vào trường SQ trừ bị Thủ Đức đã có một phần căn bản về quân sự. Các công chức và chuyên viên kỹ thuật các ngành phải được thụ huấn quân sự xong có thể trở về nhiệm sở cũ làm việc, nếu có nhu cầu đòi hỏi của cơ quan ấy. Các giáo chức sau một vài năm trong quân ngũ đa số được trở về trường xưa tiếp tục dạy học. Ngoài những người được biệt phái đa số sĩ quan trừ bị Thủ Đức phải ở lại Quân đội mặc dù nhiệm kỳ trừ bị 4 năm đã qua, nhưng bị lưu giữ lại vì tình trạng chiến tranh.

Năm 1972 lịnh tổng động viên (sụt một tuổi) sinh viên cũng như học sinh phải lên đường nhập ngũ, có 15 khóa SQTB thụ huấn tại Nha Trang và Thủ Đức. Kể từ tháng 1-1968 đến tháng 12-1973, trong việc tiếp sức trường SQTB Thủ Đức, trường Hạ Sĩ quan Đồng Đế, Nha Trang đã đào tạo được 12.000 Sĩ quan trừ bị. Khoá 1/68 Khóa 2/68, Khóa 2/69, khóa 1/72, Khóa 6/72, Khoá 9B/72 Khóa 11/72 học tại Nha Trang. Như vậy tổng số Sĩ quan trừ bị được huấn luyện tại Thủ Đức, Nam Định, và Nha Trang trên dưới 100,000 người trong đó có những danh tướng xuất thân từ Thủ Đức chiến đấu tới ngày cuối cùng như: tướng Nguyễn Khoa Nam, Tướng Lê Văn Hưng…tuẫn tiết không đầu hàng, (còn những hèn tướng ra lệnh cho cấp dưới, binh sĩ tử thủ chiến đấu trong khi họ cùng gia đình bỏ chạy từ 27.4.1975).

Thủ Đức còn đào tạo những khoá Sĩ quan đặc biệt, giành cho Hạ sĩ quan có trình độ trung học và kinh nghiệm tác chiến, là một cơ hội tốt để họ tiến thân trong cuộc đời binh nghiệp như cố Đại tá Hồ Ngọc Cẩn.

Tôi thi vào ngành khác không bị động viên vào trường SQTB Thủ Đức. Nhưng bạn bè, người thân trong gia tộc phần lớn được thụ huấn trong trường SQTB Thủ Đức, được học đầy đủ kỹ thuật tác chiến, công tác chỉ huy, tham mưu, tình báo, vũ khí, chiến thuật, chiến lược … Cuộc chiến đôi khi cao độ đẫm máu, nhiều người hy sinh, bạn thân của tôi trở về trong chiếc quan tài bọc kẻm, phủ cờ vàng trong chiều đông gió lạnh! Mẹ già ôm quan tài thương khóc…

Trường SQTB Thủ Đức đã đào tạo Sĩ quan trẻ tài năng và đạo đức. Những cuộc hành quân Sĩ quan chỉ huy ra lệnh binh sĩ luôn tôn trọng sinh mạng, tài sản của dân, kính trọng người già, yêu trẻ con và luôn đứng đắn với phụ nữ… đối xử nhân đạo với tù. Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín là năm đức tính người chỉ huy phải rèn luyện hàng ngày.

Bởi vậy thời gian huấn nhục 8 tuần là giai đoạn rèn luyện thể lực và tâm lực cho tân Sinh Viên Sĩ Quan (SVSQ). Kiên nhẫn chịu đựng thi hành lệnh không nóng giận, chấp nhận gian khổ nếu bị khóa đàn anh phạt hít đất, nhảy xổm… Những bạn của tôi thời sinh viên sống lè phè, tóc dài nghe nhạc phản chiến của Trịnh Công Sơn, nhưng sau thời gian được huấn luyện ra trường trở nên nghiêm trang, nước da đen, tóc ngắn, đi đứng mạnh mẽ, ăn nói đúng tư cách của một cấp chỉ huy. Cuối tuần được đi phép với bộ đồ tiểu lễ kaki màu vàng nhạt, vai đeo dây biểu chương màu vàng, đầu đội cascette, giầy botte de saut, bút nịt sáng chói, có xe GMC chở về gần sở thú, SVSQ đi dạo phố, hẹn với người tình, tận hưởng những ngày đẹp ở thành phố Sài Gòn thân yêu. Ngày ra trường họ sẽ đi khắp các phương trời, đến những đơn vị tác chiến trên núi rừng biên giới, ăn cơm sấy, uống nước hố bom… Làm gì có tô phở hay ly cafe thơm ngon bên người yêu với uớc vọng tương lai! phải chờ 15 ngày phép trong năm mới có thể gặp lại nhau. Cuộc đời của người trai thời loạn phải hy sinh tất cả ra chiến trường để bảo vệ cho miền Nam được tự do, mong ước chiến tranh chấm dứt để trở về mái nhà xưa. Mọi người hy vọng Hiệp định chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở VN (Agre ement on Ending the War and Restoring Peace in Vietnam) nhưng chỉ là một giấc mơ!

Sau khi Hiệp định Paris được ký kết và có giá trị kể từ ngày 27.01.1973, tất cả quân đội Đồng Minh triệt thoái khỏi miền Nam Việt Nam. Trường SQTB Thủ Đức dời về tiếp quản căn cứ của Sư Đoàn Hổ Mang Thái Lan ở Long Thành. Những cơ sở trường ốc cũ được chuyển thành Huấn Khu Thủ Đức, tập trung các Trường Huấn Luyện của tất cả các ngành lại một chỗ.

Gần một phần tư thế kỷ từ cuối năm 1950 đến giữa năm 1973, trường SQTB Thủ Đức đào tạo Sĩ quan trừ bị cho Quân Lực VNCH. Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt đào tạo 4.600 Sĩ quan hiện dịch. (Khóa đầu tiên Võ Bị chỉ cần học vấn đến bằng thành chung, nhưng sau nầy phải có bằng Tú Tài 2 và chương trình học 4 năm ra trường cấp Thiếu uý).

Ngoài ra còn có thêm: Đại học Quân y; Đại học Chiến tranh chính trị; các trường Không quân; Hải quân… Phần lớn Sĩ quan xuất thân từ Thủ Đức phục vụ Quân Lực VNCH hùng mạnh. Quân đội VNCH không thua trên mặt trận, nhưng chính phủ VNCH thua trên mặt trận chính trị ở Paris Berlin, Washington… Bạn của tôi từ các mặt trận trở về trên thân thể với những vết thương đã lành, nhưng vết thương lòng không thể nào quên, sau khi Quân Đồng minh triệt thoái, quân lực VNCH phải trải mỏng lực lượng bảo vệ lãnh thổ, Hoa Kỳ chuyển giao võ khí quân trang, quân dụng, phi cơ… nhưng cắt viện trợ quân sự và kinh tế cho VNCH và gần như bỏ rơi miền Nam VN. Quân đội không được tiếp liệu đầy đủ, thiếu nhiên liệu cho xe hơi, xe tăng, tàu chiến, máy bay phải bỏ trong ụ vì không có phụ tùng thay thế, thiếu hỏa lực súng đại bác (105-155) đạn bị giới hạn bắn nhỏ giọt yểm trợ cho các cuộc hành quân…

Trong khi đó Liên Xô, khối Cộng sản Đông Âu và Trung Cộng viện trợ tràn ngập quân sự cho Hà Nội. Bộ đội Bắc Việt được trang bị đầy đủ vũ khí, xe tăng tối tân. Bộ đội trẻ phải hy sinh rất cao „sinh Bắc tử Nam“ đánh theo chiến thuật biển người để tiến chiếm miền Nam. Tinh thần Quân Đội VNCH chiến đấu hăng say tái chiếm An Lộc, cổ thành Quảng Trị, dù bị cúp viện trợ thiếu súng đạn nhiên liệu…

Việt Nam Cộng Hòa phải tự vệ chống lại cuộc xâm lăng của CS cho đến biến cố lịch sử 30.4.1975, tan hàng rã đám, Sĩ quan, Công chức VNCH bị tập trung vào các trại cải tạo, nhiều người đã chết trong các trại tập trung ở núi rừng miền Bắc. Số còn lại may mắn sau nhiều năm trong tù đói khổ, thiếu thốn trăm bề sống sót trở về được đi theo diện H.O (Humanitarian Operation) năm 1999 đến Mỹ nhờ sự giúp đỡ, vận động tích cực của Bà Khúc Minh Thơ. Hay những người đi vượt biển được các quốc gia thuộc thế giới tự do cho định cư. Những người còn trẻ đi học tiếp tốt nghiệp đại học, những người lớn tuổi thì con cái có cơ hội làm nên sự nghiệp vẻ vang nơi xứ người, không bị kỳ thị lý lịch. Nhà cầm quyền CSVN trả thù Sĩ quan, Công chức của VNCH đã đành. Nhưng những cựu chiến binh của họ, họ cũng nhẫn tâm bóc lột, lọc lừa…nhiều người mang huân chương đầy ngực đi biểu tình, kêu gọi công lý vì bị cướp đất, cướp nhà nhưng tiếng kêu gào oan ức của họ đi vào hư không!

ong-vangThời gian qua tài liệu về cuộc chiến tranh VN được giải mã. Lời nói của cố danh tướng của Do Thái (Israel) Moshe Dayan “Muốn thắng cộng sản, phải để cho cộng sản thắng trước”. Một người bạn trong nước đã nhận xét „Nhận định nầy của tướng Moshe Dayan đến nay vẫn còn có giá trị tuyệt đối. Nhân dân Việt Nam ngày nay đã nhìn thấy rõ bản chất phi nhân bản của cái gọi là CHXHCNVN kinh dị buôn dân, bán nước. Nói theo ngôn từ của triết gia Arthur Koestler thì chế độ CSVN hiện nay giống như một dòng sông bị nhiễm độc, bao nhiêu thứ rác rến hôi thối từ dưới đáy sông lần lượt trồi lên trên mặt nước, đó là những bộ mặt nham nhở của những tên lãnh đạo đảng CSVN.”

Cố Tổng thống Mỹ Ronald Reagan nói: “Chấm dứt chiến tranh VN, không đơn thuần là chỉ rút quân về nhà là xong. Vì lẽ cái giá phải trả, cho loại Hòa bình đó, là ngàn năm tăm tối, cho thế hệ sinh ra tại VN về sau.”

Hồi tưởng lại những tháng năm đẹp, nhiều kỷ niệm ở Thủ Đức với mưa nắng năm xưa trong quân trường qua đoạn thơ của Tuý Hà :

Tăng Nhơn Phú ta sẽ về thăm lại

Đốt nén nhang thơm tạ Đất Trời

Đã cho ta một thời hào sảng

Đã luyện cho ta thành sắt thành đồng

Nhập cuộc chơi có tên Sinh Tử

Giữa làn ranh nghiệt ngã chiến trường

Đã cho ta ngẩng cao đầu nhạo nghễ

Thủ Đức làm người không hổ thẹn lương tâm

Tăng Nhơn Phú đồi xưa ta trở lại

Cắm ngọn cờ vàng rực rỡ trời Nam

Ta sẽ về dù nương theo gió

Bởi thân tàn chí lớn vẫn còn nguyên

(Tăng Nhơn Phú, Túy Hà)

Thời gian trôi qua gần 39 năm, những người từng tham gia trong cuộc chiến cả hai bên Nam – Bắc đã già yếu, nhiều người đã ra đi về bên kia thế giới vĩnh hằng. Nhắc lại khúc quanh lịch sử không phải để khơi dậy nỗi hận thù mà là nhắc lại nỗi thống khổ, đau buồn của cả dân tộc Việt Nam, để thế hệ mai sau biết được giá trị lịch sử trách nhiệm của mình với dân tộc. Chúng ta cùng đốt nén nhang lòng, tưởng niệm những người đã nằm xuống trong cuộc chiến Việt Nam.

Nguyễn Qúy Đại (K8)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bình luận về bài viết này

VẨN VƠ LẮM CHUYỆN_Đỗ Duy Ngọc

Vẩn Vơ Lắm Chuyện

Đỗ Duy Ngọc

            Nhiều bữa không ngủ được, tôi nằm nghĩ toàn mấy chuγện tào lao. Ví dụ như những năm sau 1975, cơm không có ăn, toàn bo bo với bột mì, thức ăn toàn cá ươn và rau héo. Lúc đó chỉ mong có bát cơm trắng, bữa cơm có thịt.

            Giải trí thì chỉ quanh quẩn mấγ bài ca cách mạпg; thể thao thì chỉ loanh quanh bóng đá, bóng chuγền.

            Thời mở cửa, tiền bạc khá hơn, đời sống được nâng cao, Ьắt đầu xuất hiện ρhong trào “tennis” Thật ra trước 75 ở miền Nam, “tennis” cũng là bộ môn có khá nhiều người chơi, nhưng toàn tướng tá, nhà giàu, công chức cấρ cao vì sân không nhiều mà dụng cụ thì giá rất đắt.

            Từ cuối thậρ niên 80, sân “tennis” mở ra nhiều, vợt, banh, giàγ, vớ, áo quần được nhậρ về, ρhong trào rầm rộ. Và “tennis” lúc đó là thú chơi của người có tiền, nhất là cáп bộ. Ra đường mà mặc bộ đồ ᵭáпҺ “tennis” trắng, giàγ Adidas, Nike…với vợtWilson, Head chính hãng là quý tộc rồi.

            Vẫn biết đó là môn thể thao để mang lại sức khoẻ. Thế nhưng lắm người đến với bộ môn nàγ để khoe khoang. Thời trước đó là thú chơi trưởng giả, có “đẳng cấp” cao trong xã hội. Ngồi đâu cũng nghe bàn về “tennis,” thể hiện đẳng cấρ.

            Dần dà, đến khi có ρhong trào chơi “golf” du nhậρ vào, nhiều sân “golf” được xâγ lên… 18, 36 lỗ đều có đủ. Người ta lấγ luôn cả đất sân baγ làm sân” golf ?!”

            Từ đó “tennis” thành trò chơi bình dân (?), ít vốn, không còn được nhắc nhiều nữa. Cũng từ đấγ “golf” mới là quý tộc, là đẳng cấρ, là dân chơi thứ thiệt. Đi vào thế giới của trưởng giả, của trọc ρhú, của doanh nhân, của cáп bộ đều bàn chuγện “golf” và giá cả của các món đồ ρhục vụ thú chơi nàγ với giá cao ngất ngưỡng. “Tennis” xuống giá, “golf” trồi lên. Giá trị đã thaγ đổi.

****

            Một thời người ta mong có miếng thịt mỡ để có chất béo, để rán, để chiên. Mong có miếng thịt nạc để có thêm chất đạm.

            Đến khi mở cửa, thức ăn tràn trề, thích gì có đấγ, chỉ sợ không có tiền thì lại rộ lên ρhong trào ăn chaγ.

            Doanh nhân bạc tỷ cũng ăn chaγ, nghệ sĩ, người mẫu cũng ăn chaγ, tu cũng chaγ mà không tu cũng chaγ. Tiệm cơm chaγ mở ra tràn ngậρ, bình dân có, sang chảnh có. Đi đâu cũng nghe bàn chuγện ăn rau cỏ. 

            Vào nhà hàng sang trọng, giá cả trên trời dù chỉ gọi món rau trộn.

            Ăn chaγ trở thành ρhong trào, trở thành mốt thời thượng. Ngược với ăn chaγ lại có một xu hướng kiếm ăn thịt thú rừng. Thú càng quý, càng được săn đuổi.

            Thưởng thức thịt rừng là một thú vui quý tộc. Ăn những món ăn bình thường là tầm thường, ρhải taγ gấu, óc khỉ, mật rắn, chồn hương, tê tê… rồi sừng tê, mật gấu, cao hổ, nhung hươu mới là dân chơi thứ thiệt.

            Cán bộ ta toàn là dân chơi.

***

            Từ chuγện ăn chaγ lại dẫn đến chuγện tu hành.

            Xã hội càng tàn bạo, khát máu, baọ lực, lừa lọc, dối trá, láo toét thì người nói chuγện tu hành, kinh kệ càng nhiều.

            Chùa chiền mọc lên như nấm. Thằng du đãng gιết người cướρ của; bà cho vaγ nặng lãi, chứa gáι, buôn ma túγ, cáп bộ tham пhũпg, cướρ đất của dân ngàγ rằm, mồng một, lễ, vía… đều mang tiền, dâng hương, vàng mã cúng lạγ Phật.

            Họ cầu chức, cầu tiền, làm ăn ρhát đạt. Họ cầu giàu càng giàu thêm, ghế càng cao thêm, chức tước bổng lộc càng nhiều hơn. Bởi có chức là có tiền, có nhà to, có đô-la, hột xoàn, vàng ký.

***

            Chưa bao giờ mà câu A Di Đà Phật lại xuất hiện nhiều trên cửa miệng dân gian nhiều đến thế. Nó tràn đầγ trong các mạпg xã hội, đầγ dẫγ trong các “comment”. Tự hỏi họ có hiểu câu ấγ muốn nói điều gì, ẩn chứa tư tưởng gì, chắc hẳn chẳng mấγ người hiểu.

            Họ bắt con chim đang sống tự do trên trời, con cá đang sống hạnh phúc dưới nước nhốt vào lồng, vào chậu, giam đói, cҺết khát rồi đúng giờ, đúng ngàγ đem thả ra gọi là phóng sinh. 

            Sát sinh chứ phóng sinh nỗi gì.

            Tu theo phong trào, đọc kinh ê a theo phong trào, dạγ người khác đạo lý, tín điều cũng theo phong trào. Trở thành một xã hội cuồng tín và mê muội. Một thời loạn tăng.

            Một số không ít thầγ tu thuyết pháρ toàn nói chuyện vớ vẩn, phản khoa học, công ҟích, nói xấu các tôn giáo khác. Xu nịnh người giàu, coi thường kẻ nghèo, cứ bước vào chùa là thấy rõ. Chùa thành doanh nghiệp, thầy tu thành doanh nhân, loạn xà ngầu cả lên.

***

            Lại thêm phong trào từ thiện. Bản chất của việc từ thiện là tốt, là sự sẻ chia. Nhưng làm từ thiện mà khoe khoang cho tất thảγ mọi người, mà tự hào xem đó là công trạng thì chưa hiểu hết nghĩa bố thí của nhà Phật. “Vật để cho là mối liên kết giữa người cho và kẻ nhận. Vật này trước tiên hết phải thuộc về người cho sở hữu, nghĩa là nó là vật của người cho. Cho một vật không phải của mình thời không thành nghĩa bố thí được. Sau khi cho, vật ấγ trở thành vật của người nhận, và người cho không còn quyền hạn gì đối với vật ấγ nữa. Cho như thế có nghĩa là ‘xả bỏ’ các sở hữu của mình, xả bỏ những gì mà mình có.”

            Còn cho rồi mà vẫn cầu ân, kể lể thì đó chỉ là làm cho cái tôi của mình chứ chẳng phải vì tha nhân.

***

            Chơi lan, chơi “bonsai” là thú vui tao nhã. Nhưng rồi người ta không dừng lại đó, đưa tới chuyện phá rừng, cưa câγ đem về trưng bàγ trong vườn nhà.

            Câγ trăm năm trong rừng già biến thành chậu “bonsai” cho lớρ người nhà giàu mới.

            Câγ lan biến hoá thành đột biến giá cả trăm tỷ đồng. Những thú chơi thanh lịch ngàn năm biến thành những trò cờ bạc, lọc lừa. 

***

            Có một hiện tượng khó mà cắt nghĩa được là hiện naγ ở miền Bắc có phong trào mặc quân phục lính Mỹ, lính Việt Nam Cộng Hoà, hát nhạc lính miền Nam. Họ tụ tậρ thành hội đoàn rất đông, có tổ chức đàng hoàng dù ngàγ xưa chửi Mỹ, hô hào ᵭáпh cho Mỹ cút, Nguỵ nhào. Nam thanh, nữ tú đủ cả, mỗi lần họ tậρ họρ nhìn như cả tiểu đoàn quân đội VNCH chuẩn bị hành quân. Nhìn mặt họ hân hoan, sung sướng, tự hào, thoả mãn. Thế là sao nhỉ?

***

            Cũng một thời, người ta toàn nói chuγện γêu nước tҺươпg dân, lòng ái quốc, nghĩa đồng bào. Những gia đình vượt biên bị niêm ρhong với dấu đỏ lòm là “phản quốc.”

            Giờ thì ngồi đâu cũng nói chuγện Mỹ, chuγện Pháρ, Anh.

            Người Việt ngàγ xưa trốn chạγ, vượt biên giờ trở thành khúc ruột ngàn dặm.

            Con cáп bộ từ cấρ trung đến cấρ cao đều du học Mỹ.

            Nhiều cáп bộ chưa về hưu đã có thẻ xanh lận túi, chờ đến giờ là vọt lẹ. Thế mới thấγ trên đời nàγ mọi giá trị chẳng có chi là vĩnh cửu.

***

            Trong tiếng Việt giàu đi với sang. Nhưng thời naγ, giàu tiền thì nhiều nhưng mà sang thì không có mấγ, đốt đuốc cũng khó tìm ra. Bởi sang nằm trong cốt cách, trong cách ứng xử, trong trí tuệ, trong ngôn ngữ thể hiện, trong điệu đi, cách nói, kiểu cười.

            Chẳng ρhải chơi “golf” mà sang. Cũng chẳng ρhải có câγ hoa quý đắt tiền mà sang. Cũng chẳng ρhải tiền muôn, bạc tỷ mà sang. Chẳng ρhải có chút sắc đẹρ, có chút địa vị xã hội, có hột xoàn cả ký, có nhiều người xu nịnh tiền hô hậu ủng mà sang.

***

            Cũng không phải miệng toàn nói chuyện đạo, chuyện chaγ tịnh, kể lể, khoe khoang chuyện bỏ tiền làm từ thiện, miệng luôn nam mô mới là người có lòng nhân ái, sống có đạo lý.

            Chiếc áo không làm nên thầy tu thì những kẻ cứ suốt ngày Mô Phật cũng chưa hẳn là người tốt.

            Phật tại tâm chứ không phải tại miệng.

Đỗ Duγ Ngọc

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bình luận về bài viết này

Mười hai Biểu tượng nước Mỹ & Những ý nghĩa

  Mười hai Biểu tượng nước Mỹ
 & Những ý nghĩa

 Mỗi một quốc gia đều có một nền văn hóa đặc trưng. Đi theo đó là những biểu tượng mang theo ý nghĩa tinh thần đại diện cho cả quốc gia, cả dân tộc. Vì lẽ đó, không riêng gì bất cứ quốc gia nào. Dù là đất nước lớn hay nhỏ. Thì việc có cho riêng mình những biểu tượng là điều dễ hiểu. Tất nhiên, với một quốc gia đa dạng màu sắc văn hóa và chủng tộc như Mỹ cũng không ngoại lệ. Trong thực tế, có không ít hình ảnh được xem là biểu tượng nước Mỹ. Và đằng sau mỗi biểu tượng đều có những ý nghĩa hàm xúc riêng.

Biểu tượng của Hoa Kỳ là gì?

Nước Mỹ hay hợp chủng quốc Hoa Kỳ là một quốc gia đa dạng về văn hóa và sắc tộc. Có lẽ chăng bởi vậy nên biểu tượng nước Mỹ cũng khá phong phú. Trong đó, có một số đã được công nhận rộng rãi và được xem như hình ảnh đại diện cho nước Mỹ.

1 . Quốc huy của nước Mỹ :

unnamed (3)

Quốc huy nước Mỹ là hình ảnh đại diện đặc biệt cho đất nước này. Hình ảnh quốc huy được thiết kế vô cùng tinh xảo trên từng chi tiết dù nhỏ nhất. Trong mỗi chi tiết lại chứa đựng một tầng ý nghĩa nhất định có sự gắn kết mật thiết với Mỹ từ lịch sử tới hiện tại.

Quốc huy được chính thức phê duyệt vào năm 1972 với các ý nghĩa bao gồm:

+ Hình ảnh đại bàng đầu trắng đại diện cho hình ảnh dang rộng cánh bay lên bầu trời, chiếm lấy sự tự do và độc lập cho Hoa Kỳ
+ 13 dải sọc đỏ trắng xen kẽ trước ngực chim ưng đại diện cho 13 tiểu bang đầu tiên của Mỹ
+ Cành nguyệt quế ở phía chân trái chim ưng đại diện cho chiến thắng vẻ vang trong quá khứ cũng như hòa bình thực tại mà Hoa Kỳ giành được
+ 13 mũi tên ở chân phải tượng trưng cho tinh thần ngoan cường, anh dũng quyết chiến quyết thắng trước mọi thế lực chống phá, xâm chiếm

+ Hình ảnh vòng trang sức trên đầu đại bàng tượng trưng cho một nước Mỹ phồn vinh, hưng thịnh.

2 . Quốc kỳ Mỹ :

unnamed (4)

Mỗi quốc gia, mỗi lãnh thổ đều có cho riêng mình lá cờ riêng biệt .
Hinh ảnh 50 ngôi sao trắng trên nền xanh góc trái tượng trưng cho 50 tiểu bang của Hoa Kỳ.
Phần còn lại là hình ảnh các sọc ngang màu đỏ trắng xen kẽ biểu trưng cho 13 tiểu bang đầu tiên khi nước Mỹ thành lập.
Bên cạnh đó, dải sọc màu đỏ còn tượng trưng cho sự hưng thịnh, hùng dũng của Hoa Kỳ.
Các sọc trắng thể hiện tinh thần tự do, hòa bình cho nước Mỹ.
Màu xanh làm nền cho 50 ngôi sao thể hiện sự chính nghĩa của dân tộc và con người Mỹ.
Có thể nói, mỗi một biểu tượng nước Mỹ dù lớn hay nhỏ, nó đều mang theo nhiều tầng ý nghĩa vô cùng sâu sắc.

3 . Đại bàng biểu tượng nước Mỹ :

unnamed (6)

Đại bàng đầu trắng được xem là một biểu tượng của nước Mỹ kiêu hùng. Đại bàng đầu trắng vốn dĩ là loài chim ăn thịt phổ biến tại Alaska. Mỹ đã lấy hình ảnh đại bàng đầu trắng làm biểu tượng thể hiện cho sức mạnh hùng tráng, bất khả chiến bại của người Mỹ. Có thể nói đây là đại biểu cho tinh thần và sức mạnh của nước Mỹ.

4 . Hoa hồng – Quốc hoa của Mỹ :

unnamed (7)

Hoa sen được xem như là quốc hoa của dân tộc Việt (?). Còn ở Mỹ, hoa hồng đỏ mới chính là quốc hoa. Màu đỏ sậm hay đỏ nhung của loài hoa này được xem là biểu tượng của sự nồng nàn, mãnh liệt theo đúng tinh thần người Mỹ. Thêm vào đó, Hoa Kỳ cũng muốn thể hiện tinh thần hợp chủng đa quốc gia sắc tộc nên đã lựa chọn loài hoa vô cùng phổ biến trên thế giới là hoa hồng làm quốc hoa.

5 . Quốc thụ của Hoa Kỳ – cây Sồi :

unnamed (8)

Từ năm 2004, cây Sồi được lựa chọn chính thức làm quốc Thụ – một trong những biểu tượng nước Mỹ. Là loài cây cổ thụ tuổi thọ cao lên đến ngàn năm. Việc lựa chọn cây Sồi với mong muốn thể hiện biểu tượng cho sự cường thịnh, lâu dài và bền chặt của Hoa Kỳ.

6 . Quốc ca nước Mỹ – Star – Spangled Banner :

Đi cùng quốc kỳ thì quốc ca cũng là một trong những biểu tượng quan trọng nhất của mỗi quốc gia. Bài hát được lựa chọn thường thể hiện tinh thần của cả dân tộc. Với Hoa Kỳ, Star – Spangled Banner đã vinh dự được lựa chọn làm quốc ca với ý nghĩa biểu trưng cho những lá cờ lấp lánh ánh sao của quốc gia này. Bài hát bắt nguồn từ một luật sư, thi sĩ có tên là Francis Scott Key viết vào năm 1814. Và đến năm 1931, Star – Spangled Banner đã chính thức trở thành quốc ca Mỹ.

Nội dung bài hát kể về sự tấn công của Hoàng gia Anh vào pháo đài McHenry năm 1912. Từ đó nêu bật tinh thần quật cường, ý chí chiến đấu kiên định, mạnh mẽ của người Mỹ trước mọi thế lực.

7. Biểu tượng nước Mỹ – Tượng nữ thần tự do :

unnamed (9)

Tượng nữ thần tự do từ lâu đã được xem như một niềm tự hào của nước Mỹ. Hình ảnh nữ thần cầm trên tay ngọn đuốc là biểu tượng thể hiện tinh thần tự do không chỉ của riêng người Mỹ. Mà còn là của toàn nhân loại. Được khánh thành từ 28/10/1886. Tượng nữ thần Tự do đã gắn bó và trở thành biểu tượng của nước Mỹ hơn 130 năm qua. Nhắc đến nước Mỹ,  chắc chắn không ai không nghĩ đến hình ảnh tượng nữ thần Tự do. Nói vậy đủ để chúng ta hiểu ý nghĩa biểu trưng mà bức tượng mang lại cho đất nước này rồi đúng không?

8. Tượng đài Washington, Washington D.C. :

unnamed (10)

Tượng đài Washington, Washington D.C là một trong những công trình gian nan bậc nhất của Hoa Kỳ. Đây là khối kiến trúc cao nhất của thủ đô nước Mỹ.

Bắt đầu mở cửa vào năm 10/1988, ngọn tháp thể hiện sự tưởng niệm đến vị tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ. Và cho đến hiện tại, đây vẫn là một trong những công trình mang ý nghĩa biểu tượng gắn liền với quốc gia này.

9. Núi Rushmore, Nam Dakota :

unnamed (11)

Núi Núi Rushmore, Nam Dakota được biết đến chính là nơi tọa lạc khu tưởng niệm Quốc gia của Mỹ. Nơi đây có tạc tượng 4 đời tổng thống kiệt xuất nhất của quốc gia này được tạc trên khối đá Granite khổng lồ , gồm có : George Washington, Thomas Jefferson, Theodore Roosevelt và Abraham Lincoln.

Đây đều là những vị tổng thống được coi là biểu tượng cho những giá trị nền tảng của Hoa Kỳ. Chính vì thế, nó cũng được xem là đại diện cho đất nước này.

10. Tượng Cổng Mây , Chicago :

chicago---thanh-pho-trong-hat-dau-1

Tượng Cổng Mây – Cloud Gate là khối điêu khắc hình trứng khổng lồ với trọng lượng lên đến 110 tấn. Đây là kiến trúc được gò tạo từ 1 loạt những tấm thép đồng nhất không có độ bóng cao. Quan sát bên ngoài, tác phẩm này như 1 tấm gương phản chiếu bầu trời. Còn ở bên dưới là một vòm cầu cao 3.7m.

Tượng Cổng Mây từ lâu đã được xem như một niềm tự hào không của chỉ riêng thành phố Chicago. Mà là của cả nước Mỹ. Đây cũng là một điểm đến đặc biệt yêu thích của du khách trong và ngoài nước.

11. Cầu Cổng Vàng , San Francisco :

du-lich-my-san-francisco

Cầu Cổng Vàng là một trong những kiến trúc nổi tiếng trên toàn thế giới của nước Mỹ. Nơi đây được xem như biểu tượng của lòng đam mê và sự huy hoàng của nước Mỹ.

Cầu được đặt từ thành phố San Francisco, nối qua eo biển Golden Gate đã hiện thực hóa giấc mơ được người Mỹ ấp ủ từ lâu. Cầu được xây dựng vào năm 1933. Và mất đến 4 năm để có thể bắt đầu lưu thông. Hiện tại, cầu cổng vàng không chỉ là một công trình kiến trúc kỳ vĩ nổi tiếng. Mà hơn thế nó còn là biểu tượng nước Mỹ với ý nghĩa thể hiện lòng đam mê, sự dũng cảm và kỹ thuật hiện đại kỳ diệu nhất.

12. Chuông Tự Do , Philadelphia :

download (1)

Chuông tự do – Liberty Bell là một trong những biểu tượng về nền độc lập của Hoa Kỳ.

Quả chuông này được mua từ công ty Lester và Park tại London, Anh năm 1752. Tuy nhiên, chuông bị nứt khi lần đầu tiên đặt ở Philadelphia. Sau đó, đã được đúc lại 2 lần bởi thợ địa phương. Tiếng chuông được rung lên vào năm 1776 như lời đại diện cho Tuyên ngôn độc lập Hoa Kỳ. Trong những năm 1830, chuông được chọn làm biểu tượng của các hội theo chủ trương xóa bỏ chế độ nô lệ. Và đến ngày nay, sự gắn bó với thăng trầm lịch sử đã biến hình ảnh này trở thành 1 biểu tượng của nước Mỹ đầy ý nghĩa.

Với sự đa dạng về văn hóa và sắc tộc, không khó hiểu khi nước Mỹ có rất nhiều hình ảnh được xem là biểu tượng.

Song dù đại diện ở hình thái nào thì ý nghĩa mà chúng mang lại đều thể hiện cho tinh thần và tham vọng của nước Mỹ. Hẳn là vô cùng xứng tầm với vị thế của một cường quốc hàng đầu đúng không?

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Mười hai Biểu tượng nước Mỹ & Những ý nghĩa

Tin vui thuốc chửa Covid-19 : PAXLOVID™ 

PAXLOVID™ 

Tin vui đến với mọi người

Virus Outbreak-Pfizer Pill

FILE – This Feb. 5, 2021, file photo shows the Pfizer logo displayed at the company’s headquarters in New York. Pfizer says its experimental pill for COVID-19 cut rates of hospitalization and death by nearly 90% among patients with mild-to-moderate infections. The company announced Friday, Nov. 5, it will soon ask the U.S. Food and Drug Administration and international regulators to authorize its pill, which is taken twice a day for five days. (AP Photo/Mark Lennihan, File)

Thứ Sáu ngày 5/11/2021, Albert Bourla, Tổng Giám đốc Pfizer, thông báo: Cuộc chơi đã đổi chiều. Sự cố gắng của nhân loại để chống đỡ sức tàn phá của đại dịch đã thành tựu. Pfizer cho ra mắt loại thuốc ở dạng viên, uống, tiện lợi, giá vừa phải, tên là PAXLOVID™ có khả năng giảm thiểu số bệnh nhân nhiễm Sars-CoV-2 phải nằm viện hoặc tử vong tới 89%, sẽ đến tay bệnh nhân rất sớm.

Thành phần của PAXLOVID™

PAXLOVID™ được kết hợp bởi hai hợp chất PF-07321332 và Ritonavir.

PF-07321332 nhằm vào mục đích ức chế sự sinh sản của virus. Nghĩa là, enzyme giúp cho virus nhân lên bị trung hòa. Virus không thể tăng lên về số lượng.

Ritonavir (có tên khác Novir) đã được áp dụng trong điều trị HIV từ nhiều năm nay. Đội ngũ khoa học của Pfizer đã sử dụng liều thấp ritonavir nhằm vào mục đích giảm thiểu hoặc bẻ gãy quá trình chuyển hóa của virus, giúp cho cơ thể chống đỡ với virus hiệu quả hơn.

Kết quả thử nghiệm lâm sàng

Nhóm 1:  – những người nhiễm virus có triệu chứng đã ba ngày, và được chia thành hai nhóm nhỏ hơn.
1.1) Nhóm sử dụng PAXLOVID™ thật cho kết quả 3/398 người (0.8%) phải nằm viện, không ai tử vong.
1.2) Nhóm sử dụng PAXLOVID™ giả (placebo) thấy 27/385 người (7.0%) phải nằm viện hoặc tử vong (7 người tử vong)

Nhóm 2: – những người nhiễm virus có triệu chứng đã 5 ngày, và cũng được chia làm hai nhóm nhỏ hơn.
2.1) Nhóm sử dụng PAXLOVID™ thật cho kết quả 6/607 người (1.0%) phải nằm viện, không có tử vong.
2.2) Nhóm sử dụng PAXLOVID™ giả (placebo) cho kết quả 41/612 người (chiếm 6.7%) phải nằm viện với 10 người chết.

Bằng những thuật toán thống kê, Pfizer đưa ra kết luận PAXLOVID™ có khả năng giảm số người nhiễm Sars-CoV-2 phải nằm viện hoặc tử vong đến 89%.

Đây chỉ là một phần nhỏ những thử nghiệm lâm sàng mà Pfizer đã thực hiện trên khắp thế giới. Pfizer đang hoàn tất hồ sơ để chuyển đến U.S Food and Drug Administration (FDA) trước Lễ Tạ Ơn (28/11/2021) phê duyệt sử dụng trong tình trạng khẩn cấp.

Albert Bourla nói đây là tin vui lớn cho nhân loại. Ông đưa ra một con số để mọi người dễ hiểu: Thay bằng 10 người nhiễm virus phải đi nằm viện, giờ đây có PAXLOVID™ giúp, chỉ còn một người phải trông cậy tới nhà thương.
Sự khám phá ra PAXLOVID™ đúng một năm tròn kể từ ngày Pfizer tuyên bố sản xuất thành công mRNA vaccine chống Covid-19 vào 9/11/2020.

Bourla còn nói rằng PAXLOVID™ sẽ cứu được hàng triệu người, nhưng ông vẫn nhấn mạnh vai trò quyết định của vaccine. Tuy vậy, vaccine không hiệu quả 100%, số người chống đối vaccine cao gây nên tình trạng bệnh viện bị quá tải.

Cho đến nay mới chỉ có remdesivir được sử dụng điều trị coronavirus, nhưng remdesivir truyền tĩnh mạch, không thể dùng nó tại nhà.

Đại công ty dược MERCK của Mỹ cũng vừa cho ra đời MOLNUPIRAVIR ở dạng viên bọc (con nhộng), và đang đang chờ FDA duyệt. Nhưng tác dụng của MOLNUPIRAVIR giảm thiểu số nằm viện hoặc tử vong chỉ ở mức 50%.

Pfizer tuyên bố những tiêu chuẩn về đạo đức, an toàn, chất lượng, và công bằng trong mọi sinh phẩm của hãng. Với hơn 150 năm phát triển, Pfizer đã đã không mệt mỏi, không chùn bước, khám phá vươn lên trở thành đại công ty sinh dược được tin tưởng trên trái đất.

Pfizer sẽ áp dụng giá cả hợp lý với những quốc gia có thu nhập thấp để bảo đảm sự công bằng cho mọi người trên trái đất có quyền sử dụng những sinh dược phẩm của Pfizer.

Calgary, Alberta, Canada

November 7, 2021

Trần Gia Huấn

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Tin vui thuốc chửa Covid-19 : PAXLOVID™ 

55 CÂU CA DAO DÂN GIAN BẤT HỦĐƯỢC LƯU TRUYỀN SAU NGÀY 30/4.

55 CÂU CA DAO DÂN GIAN BẤT HỦ
ĐƯỢC LƯU TRUYỀN SAU NGÀY 30/4.

0_7NUuz88DFuos71ij

1. Nam Kỳ Khởi Nghĩa tiêu Công Lý
Đồng Khởi vùng lên mất Tự Do.

2. Đôi dép râu dẵm nát đời son trẻ
Nón tai bèo che khuất nẻo tương lai.

3. Chim xa rừng còn thương cây nhớ cội
Việt Cộng về thành làm tội dân ta.

4. Năm đồng đổi lấy một xu
Thằng khôn đi học, thằng ngu làm thầy.

5. Có miệng không nói lại câm
Hai hàng nước mắt chan dầm như mưa.

6. Lương chồng, lương vợ, lương con
Đi ba buổi chợ chỉ còn lương tâm.
Lương tâm đem chặt ra hầm
Với rau muống luộc khen thầm là ngon.

7. Anh Đồng, anh Duẩn, anh Chinh
Ba anh có biết dân tình cho không ?
Rau muống nửa bó một đồng
Con ăn bố nhịn, đau lòng thằng dân.

8. Có áo mà chẳng có quần
Lấy gì hạnh phúc hỡi dân cụ Hồ ?
Có đói mà chẳng có no
Lấy gì độc lập, tự do hỡi người ?

9. Bác Hồ chết phải giờ trùng
Nên bầy con cháu dở khùng dở điên
Thằng tỉnh thì đã vượt biên
Những thằng ở lại nửa điên nửa khùng.

10. Nhà ai giàu bằng nhà cán bộ?
Hộ nào sang bằng hộ đảng viên?
Dân tình thất đảo bát điên
Đảng viên mặc sức vung tiền vui chơi.

11. Ai về qua tỉnh Nam Hà
Xem lũ đầy tớ xây nhà bê tông.
Tớ ơi, mày có biết không ?
Chúng ông làm chủ mà không bằng mày!

12. Phong lan, phong chức, phong bì
Trong ba thứ ấy, thứ gì quý hơn?
Phong lan ngắm mãi cũng buồn
Phong chức thì phải cúi luồn vào ra
Chỉ còn cái phong thứ ba
Mở ra thơm nức, cả nhà cùng vui.

13. Đảng ta là đảng thần tiên
Đa lô (đô-la) thì được, đa nguyên thì đừng.

14. Ngày đi, đảng gọi “Việt gian”
Ngày về thì đảng chuyển sang “Việt kiều”
Chưa đi: phản động trăm chiều
Đi rồi: thành khúc ruột yêu ngàn trùng.

15. Chiều chiều trên bến Ninh Kiều
Dưới chân tượng bác, đĩ nhiều hơn dân!

16. Trăm năm bia đá cũng mòn
Bia chai cũng vỡ, chỉ còn bia ôm.

17. Thầy giáo, lương lãnh ba đồng
Làm sao sống nổi mà không đi thồ
Nhiều thầy phải đạp xích lô
Làm sao xây dựng tiền đồ học sinh?

18. Tìm em như thể tìm chim
Chim bay biển Bắc, anh tìm biển Đông
Tìm chi cho phải mất công
Đài Loan, Hàn Quốc em dông mất rồi.

19. Trách ai sinh thứ họ Hồ
Để cho cả nước như đồ vất đi!

20. Bác Hồ đại trí, đại hiền
Chơi Minh Khai chán, gá liền Hồng Phong
Minh Khai phận gái chữ tòng
Bác Hồ sái nhất, Hồng Phong sái nhì.

21. Ngày xưa giặc Pháp mộ phu
Ngày nay đảng bán dân ngu lấy tiền
Đảng ta là đảng cầm quyền
Đảng bán ruộng đất lấy tiền đảng tiêu.

22. Dịch heo nối tiếp dịch gà
Bao giờ dịch đảng cho bà con vui.

23. Bao giờ Hồ cạn, Đồng khô
Chinh rơi, Giáp rách, cơ đồ mới yên.

24. Tiên sư Cộng sản Việt Nam
Suốt đời bán cả giang san nước nhà !

25. Dân đói mà đảng thì no
Sức đâu ủng hộ, hoan hô suốt ngày
Đảng béo mà dân thì gầy
Độn bắp, độn sắn biết ngày nào thôi?

26. Hoan hô độc lập tự do
Để cho tớ nhá bo bo sái hàm

27. Nhân dân thì chẳng cần lo
Nhà nước lo sẵn bo bo mỗi ngày
Hãy chăm tay cấy tay cầy
Nhịn ăn nhịn mặc chờ ngày vinh quang

28. Bắt trồng mà chẳng thu mua
Tại sao đảng nỡ dối lừa nhân dân
Tiền cầy, tiền giống, tiền phân
Một trăm thứ thuế đổ thân gầy gò
Dân đói mà đảng thì no
Kêu trời, kêu đất, kêu Hồ chí Minh

29. Thi đua làm việc bằng hai
Để cho cán bộ mua đài mua xe
Thi đua làm việc bằng ba
Để cho cán bộ xây nhà lát sân

30. Đi làm hợp tác hợp te
Không đủ miếng giẻ mà che cái l…

31. Công nhân, vợ ốm con côi
Lãnh đạo nhà gác, xe hơi bộn bề
Bao giờ cho hết trò hề?

32. Ông Đồng, ông Duẩn, ông Chinh
Vì ba ông ấy, dân mình lầm than

33. Ngày xưa đại tướng cầm quân
Ngày nay đại tướng cầm quần chị em

34. Giỏi a đồng chí Đỗ Mười
Lớp ba chưa đỗ đã ngồi bí thư

35. Vẻ vang thay lãnh tụ ta
Đem dân xuất khẩu bán ra nước ngoài

36. Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa
Cúi đầu dâng đảo Trường Sa cho Tàu

37. Ngày xưa chửi Mỹ hơn người
Ngày nay nịnh Mỹ hơn mười lần xưa
Ngày xưa đánh Mỹ không chừa
Ngày nay con cái lại lùa sang đây
Ngày xưa Mỹ xấu, Ðảng hay
Ngày nay Ðảng ngửa hai tay xin tiền !

38. Đảng ta chọn tướng họ Lê
Đức Anh thất đức nên bê lên ngồi

39. Liên bang Xô Viết vỡ rồi
Văng Linh, văng Kiệt, Đỗ Mười văng luôn

40. Nước ta bầu cử tự do
Lọc qua, lừa lại toàn lò Mác Lê

41. Không đi không biết Tam Đảo
Đi thì không biết nơi nào mà ngu.

42. Trung ương chỉ thị ba cùng
Đảng viên phải bám quần chùng nhân dân.

43. Tin đâu như sét đánh ngang
Bác Hồ đang sống chuyển sang từ trần
Tin đâu như sét đánh gần
Bác Hồ đang sống từ trần chuyển sang

44. Bác Hồ thuở nhỏ bồi Tây
Đến già Bác lại đu giây Nga Tàu.

45. Đảo kinh là cái đỉnh cao
Trí tuệ nên đảng hô hào văn minh
Đảng viên cán bộ thất… kinh
Văn minh cho lắm vẫn mình cán ngô

46. Chị em du kích giỏi thay
Bắn máy bay Mỹ rớt ngay cửa mình

47. Tin buồn noan báo trên đài
Xe tăng bác nái nật hai ba nần!

48. Tin thua như sét đánh ngang
Làm Bác chết cứng, lúc đang thay quần
Hôm qua còn sống sờ sờ
Mà nay bác đã cứng đơ cái mình

49. Khôn hồn thả cải tạo ra
Kẻo Ngụy trở lại chết cha Đỗ Mười

50. Tổ cha cái bọn đười ươi
Đỗ Tám, Đỗ Chín, Đỗ Mười ăn… “biu”

51. Trạch Dân có họ Giang mai
Này dân Trung Quốc đói dài vì ông

52. Đỗ Mười sang lạy Trung Hoa
Kính dâng quần đảo Trường Sa cho Tầu

53. Anh mò địa đạo Củ Chi
Củ chi là cái củ gì? Củ anh?!

54. Ngày xưa chống Mỹ chống Tây
Ngày nay chống gậy ăn mày áo cơm

55. Trồng mía, trồng ớt, trồng hành
Vì nghe lời đảng mà thành bể niêu
Trồng tiêu rồi lại trồng điều
Vì nghe lời đảng mà niêu tan tành.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt55 CÂU CA DAO DÂN GIAN BẤT HỦĐƯỢC LƯU TRUYỀN SAU NGÀY 30/4.

Bò ăn thịt bò. Thơ cay Tuyến Sydney Australia

  BÒ ĂN THỊT BÒ
tolam-hihoa-dep-4

Công An dân gọi Bò vàng
Bò không ăn cỏ, ăn hàng thượng lưu
Đồng loại khuyển, mã, hợi, ngưu
Thân người óc thú lanh mưu ma đầu
Bò Việt công du Châu Âu
Đói ăn khát uống kéo nhau nhà hàng
Bò ăn món Bò dát vàng
Một phần tính giá một ngàn chín trăm (dollars)
Đầu bầy dắt đám kiếm ăn
Tô Lâm khói chí nhăng răng đớp liền
Đưa tay đầu ngã nghiêng nghiêng
Quan tham tận hưởng dân phiền mặc dân.

Tuyến, Australia
( Sau 75 dân miền Nam gọi Công An là Bò vàng )

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Bò ăn thịt bò. Thơ cay Tuyến Sydney Australia