Sài Gòn Ngày Tháng Cũ – Toàn Như

SÀI GÒN NGÀY THÁNG CŨ

unnamed (3)

               Đã lâu lắm chưa về thăm chốn ấy

               Sài Gòn ơi nhớ lắm vẫn chưa quên

               Bóng hình xưa ký ức đã thân quen

               Chợt nhớ lại một thời bao yêu dấu

                        Thuở niên thiếu bước học trò chân sáo

                        Qua những đường rợp bóng lá me bay

                        Sao hồn nhiên êm ả những tháng ngày

                        Giữa thành phố yên bình không tiếng súng

               Rồi năm tháng bước vào đời chập chững

               Ly cà phê bên góc phố con đường

               Những ngày vui khói thuốc quyện mù sương

               Bao kỷ niệm của một thời tuổi trẻ 

                         Những ngày ấy sách đèn nhiều trăn trở

                         Bóng tương lai thấp thoáng cuộc tử sinh

                         Mắt mội cười như dấu nỗi bất bình

                         Bao bất trắc đang chực chờ phía trước

               Ngày vội hết chiều lang thang đếm bước

               Đường Tự Do, Lê Lợi đốt thời gian

               Quên chiến tranh đang rình rập lan tràn

               Người lính trận bạn trường xưa gục ngã

                         Vẫn nhớ mãi những con đường xưa cũ

                         Đã mất tên như thành phố tháng tư

                         Những cái tên sao lạ lẫm bây chừ  

                         Sẽ lạc lối như trong thành phố lạ

               Em đã thấy cuộc đổi đời nghiệt ngã

               Bao yêu thương bỗng chốc bị chia xa

               Dấu nhớ nhung trong mắt lệ hoen nhòa

               Đường đi tới em ơi đừng tuyệt vọng   

                         Rồi sẽ có một ngày về chuyển động

                         Phố hè xưa ta trở lại bước chân vui

                         Ôi mừng sao những ánh mắt nụ cười

                         Lau nước mắt ngày đoàn viên hội ngộ

               Vui biết mấy, ngày trở về chốn đó!

TOÀN NHƯ (Tháng 4/2021)

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Một Ngày Không Có Người Mễ _ Nhã Duy

(TredepOnline): “Một ngày không có người Mễ Tây Cơ” (A day without a Mexican) là một phim hài phát hành năm 2004, kể về sự xáo trộn của California khi cộng đồng gốc Latino, phần lớn là người Mexican bỗng một ngày kia bị biến mất. Từ trong chính trường, truyền thông, giáo dục cho đến xây dựng, nông nghiệp, chuyện chân tay, công việc đình trệ, mùa màng không thu hoạch. Đến lúc đó người dân cùng các chính khách Cali mới thấy vai trò của những người Mexican.

Người Mexican, tức Mễ Tây Cơ mà người Việt tại Mỹ quen gọi tắt là “người Mễ” hay có người còn gọi kiểu xách mé, xem thường là “dân Xì”, không biết từ “Mexican” hay “Spanish” – tiếng Tây Ban Nha họ nói. Phần lớn thì cũng ít người phân biệt được nhóm này thuộc nhóm Latino- người Mỹ La Tinh hay người Mễ nói riêng, cũng tựa họ không phân biệt được các sắc dân Á Châu vậy.

Chiếm khoảng trên 11% dân số nước Mỹ và khoảng hai phần ba cộng đồng Latino, người Mễ là một cộng đồng lâu đời và khá mạnh trong nhiều lãnh vực tại Hoa Kỳ với khoảng 37 triệu dân, trong đó hơn 10 triệu người là sinh đẻ tại Mỹ.

Cộng đồng người Mễ có thể xem là một cộng đồng di dân, vừa là một cộng đồng bản địa của Hoa Kỳ. Sau cuộc chiến tranh tranh giành biên giới với Hoa Kỳ vào giai đoạn 1846-1848, bị thua trận, Mexico phải ký kết hiệp ước Guadalupe Hildago, đồng ý bán lại một phần lãnh thổ cho Hoa Kỳ vào năm 1848 và về sau. Một phần hay toàn bộ 10 tiểu bang của Mỹ hiện nay là đất của Mexico, từ Texas sang đến California, trong đó phần lớn California ngày nay từng là đất Mexico (* xem bản đồ đính kèm).

Hiệp ước này cho phép công dân Mexico tại các vùng lãnh thổ bị bán được chọn ở lại để trở thành công dân Mỹ với đầy đủ quyền lợi công dân hay dọn về biên giới thuộc vùng lãnh thổ Mexico. Cộng đồng gốc Mễ ra đời từ đây. Do đó cũng có thể xem họ là người dân bản địa, chính gốc như nói trên tại nhiều tiểu bang Hoa Kỳ như California, Texas, New Mexico, Arizona, Colorado… Làn sóng di dân, tị nạn sang Mỹ bắt đầu ồ ạt hơn từ đầu thế kỷ 20 sau các cuộc chiến tranh rồi lý do kinh tế, sum họp gia đình sau này, tập trung đa số tại California và Texas.

Cộng đồng người Mỹ gốc Mexican tham gia chính trường Mỹ rất sớm, từ năm 1877 đã có dân biểu đắc cử vào Hạ Viện Hoa Kỳ, rồi đến năm 1928 bắt đầu có thượng nghị sĩ đầu tiên. Hiện nay không kể việc tham gia cấp lãnh đạo trong các cấp chính quyền địa phương, tiểu bang và nội các chính phủ, mà có đến 47 dân biểu Quốc Hội là thuộc cộng đồng Mexican và Latino nói chung, trong đó có sáu thượng nghị sĩ thuộc cả hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ. Đa số các chính khách và cộng đồng gốc Mễ có xu hướng thuộc về đảng Dân Chủ.

Cộng đồng gốc Mễ cũng hiện diện đông đảo và đóng vai trò quan trọng trong các lãnh vực âm nhạc, thể thao, văn hóa nghệ thuật cho đến truyền thông, học thuật, kinh doanh với các tên tuổi không chỉ giới hạn trong nước Mỹ. Quân đội Hoa Kỳ cũng có những tướng lãnh cấp cao và tại NASA đã từng có ít nhất bốn phi hành gia và một trưởng khoa học gia là gốc Mễ.

Điều quan trọng hơn cho nền kinh tế California cùng sự thịnh vượng và phát triển của nước Mỹ là việc đóng góp từ lực lượng nhân công áp đảo trong kỹ nghệ xây dựng, công chánh, nông nghiệp, vận chuyển… của người gốc Mễ. Kỹ nghệ xây dựng và bảo trì nhà cửa, cầu đường, thu hoạch rau quả, dịch vụ sẽ rất khó khăn khi thiếu vắng họ bởi đây là nhóm nhân công đa số.

Nhắc đến cộng đồng người Mễ, ắt cũng nói sơ qua vấn đề di dân lậu liên quan đến người Mễ. Trong tổng số 11 triệu di dân lậu ước tính Mỹ tại hiện nay, những người Mễ trốn sang Mỹ hay tìm cách ở lại sau khi visa hết hạn đã chiếm hơn phân nửa và góp thêm nguồn nhân công cho Mỹ. Điều này luôn được bàn thảo và trong chương trình nghị sự của mỗi đời tổng thống Mỹ. Tuy nhiên chính sách di trú và vấn đề di dân lậu là vấn đề lớn của thế giới và nước Mỹ trải qua vài lần cải tổ dường như vẫn chưa giải quyết tận gốc rễ bởi tính hai mặt của nó.

Trong khi kiểm soát di dân lậu là việc cần thiết thì trên thực tế và theo các nghiên cứu từ chính phủ, các nhóm kinh tế gia cho đến các đại học đã cho thấy nhóm này phần lớn là những người cần cù, sẳn sàng làm các công việc chân tay, nặng nề mà người Mỹ không muốn làm hay không có người làm. Họ làm công việc tay chân lương thấp, giúp cho người tiêu thụ Mỹ hưởng được giá thành sản phẩm và dịch vụ rẻ hơn. Họ cũng đóng thuế và giúp gia tăng kinh tế Mỹ qua việc tiêu xài. Đồng thời các đạo luật cải tổ di dân cũng không cho phép họ được hưởng các quyền lợi xã hội như một số người nghĩ, trong khi tỉ lệ tội phạm không gia tăng so với thủ phạm nội địa, mặc dù vẫn có một nhóm nhỏ liên quan đến các tội phạm khác nhau như bất cứ sắc dân hợp pháp nào khác.

Bài toán di dân lậu cũng từng được các cấp thẩm quyền của chính phủ cân nhắc thận trọng, đặc biệt với California. Cũng nói thêm rằng, theo báo cáo của Bộ Nội An Hoa Kỳ vào năm 2014, Việt Nam cũng nằm trong 10 quốc gia có di dân lậu đến Mỹ đông đảo nhất, vào khoảng 200 ngàn người đã ở lại sau khi hết hạn visa (**). Dẫn số liệu này để thấy nếu Việt Nam có vị trí địa lý như Mexico, con số này chắc chắn tăng gấp bội và vấn đề di dân lậu với người Việt ắt nan giải không kém.

Một số người không có nhiều ý niệm về lịch sử cùng vai trò, ảnh hưởng của cộng đồng người Mexican nên khi tiếp xúc với phần lớn những người Mễ không nói tiếng Anh từ các vùng nông thôn Mexico và làm các công việc lao động cấp thấp, đã hình thành một định kiến, có sự kỳ thị và xem thường cộng đồng bạn. Không ít người còn đánh đồng họ như những kẻ di dân lậu, “đầu trộm đuôi cướp”, lặp theo cách nói của Donald Trump mà không biết chính họ là chủ nhân vùng đất mình đang sống, chính họ đã góp phần đắc lực vào việc phát triển nước Mỹ cho mình được hưởng nhờ.

Và nếu công bằng nhìn nhận thì cộng đồng gốc Việt muốn đạt được như cộng đồng người Mễ hay các cộng đồng thiểu số khác tại Mỹ là một con đường còn rất xa vì hầu hết các cộng đồng này có tổ chức và sự đoàn kết. Họ có sức mạnh chính trị cùng thực lực của lá phiếu cử tri để từng bước tạo ảnh hưởng và đưa người của mình vào các cơ cấu chính phủ một cách có tổ chức và sự đầu tư.

Trong khi đó cộng đồng gốc Việt lại là cộng đồng thiếu tính tổ chức, chú trọng các hình thức bề nổi nhiều hơn sự dự phần, cũng như có xu hướng đẩy giới trẻ tài năng gốc Việt xa lánh cộng đồng vì sự nhận thức, quan điểm quá khác biệt. Không ít người Việt còn phản đối, xúc phạm giới trẻ gốc Việt đang đơn độc tham gia chính trường Hoa Kỳ hiện nay, thiếu vắng sự ủng hộ chung từ chính cộng đồng mình.

Nên điều dễ nhận thấy là cộng đồng người Việt tại Mỹ hiện nay chỉ có các thành công cá nhân mà thiếu vắng sự đại diện cùng sức mạnh cộng đồng cần thiết và tương ứng dân số. Nếu có ai bảo người Mễ đông và đã ở lâu nên mạnh hơn thì hãy nhìn sang cộng đồng Cuba, mới và ít dân hơn cộng đồng Việt để thấy họ hùng mạnh thế nào. So sánh điều này nhằm điều chỉnh tâm thức với các cộng đồng bạn và nhìn nhận lại vị thế của cộng đồng Việt hiện nay ra sao sau gần nửa thế kỷ trên xứ người.

Một ngày không có người Mexican có thể sẽ không dẫn đến tình trạng xáo trộn quá mức như cách bộ phim hài “A day without a Mexican” đã thể hiện nhưng quả thật là nước Mỹ sẽ rất khó khăn nếu thiếu vắng họ. Xã hội sẽ bớt phần nhộn nhịp vì sự tươi vui và tràn đầy sức sống của một sắc dân phần lớn là chân thật và chăm chỉ.

Còn một ngày không có người Việt trên đất Mỹ thì sao?

04/2021

Nhã Duy

Nguồn : TreDepOnline

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Đi bộ chỉ 20 phút có tác dụng gì? (ST)

Đi bộ chỉ 20 phút có tác dụng gì?

Đi bộ nhanh 20 phút bạn sẽ đi được khoảng một dặm (1,6 km) và đi được từ 2.000 đến 3.000 bước, dẫn đến đốt cháy được 90 đến 110 calo. (Mỗi lần đi bộ, hãy biết rằng về cơ bản bạn đang đốt cháy calo tương đương với số calo khi bạn ăn một túi khoai tây chiên!).

Bằng cách bảo đảm rằng bạn sẽ đi bộ nhanh, tim của bạn sẽ đập “vào số” để tăng lưu lượng máu đến các cơ của bạn, và bạn “sẽ tối đa hóa lượng calo đốt cháy của bạn”. Theo thời gian, những lợi ích thu được sẽ bao gồm sức khỏe tim mạch tốt hơn, mức cholesterol và huyết áp tốt hơn, và ít viêm hơn.

2. Bạn sẽ giảm ngay nguy cơ tử vong

Một nghiên cứu lớn được công bố vào năm 2015 trên Tạp chí Dinh dưỡng Lâm sàng Mỹ cho thấy rằng đi bộ nhanh 20 phút mỗi ngày có thể giảm nguy cơ tử vong lên tới 30%. Trong số những người tham gia nghiên cứu, những người sống cuộc sống ít vận động và chỉ đơn giản là đi bộ ngắn hằng ngày đã có được lợi ích đáng kể nhất trong tất cả các nhóm được nghiên cứu.

Nói cách khác, chỉ cần xuống ghế đi bộ một quãng ngắn thôi cũng có tác động lớn đến tuổi thọ của bạn.

3. Bạn sẽ nhận được năng lượng

Theo nghiên cứu của Đại học Georgia (Mỹ) và được công bố trên tạp chí Psychotherapy and Psychosomatics, đi bộ 20 phút chỉ 3 ngày một tuần trong 6 tuần có thể giúp tăng thêm 20% mức năng lượng và giảm bớt cảm giác mệt mỏi.

4. Bạn sẽ cảm thấy sáng tạo và giàu trí tưởng tượng hơn

Một nghiên cứu mới được công bố trên tạp chí Scientific Reports cho biết bạn nên đi bộ để tăng cường khả năng sáng tạo. Hơn nữa, bạn càng đi bộ nhiều, bạn càng sáng tạo hơn.

The New York Times giải thích: “Những người hoạt động tích cực nhất cũng là những người sáng tạo nhất, đặc biệt là nếu họ thường xuyên đi bộ hoặc tập thể dục vừa phải”. Nghiên cứu cũng lưu ý rằng bạn càng năng động, bạn càng có nhiều khả năng trở thành một người hạnh phúc hơn về mọi mặt.

5. Bạn sẽ tắt các gien thúc đẩy… béo phì

Bạn sẽ phải đi xa hơn nữa để gặt hái được những lợi ích đầy đủ của điều này, nhưng theo một nghiên cứu lớn từ năm 2011 trên 7.740 phụ nữ và 4.564 nam giới, một nhóm nghiên cứu do Khoa Dinh dưỡng tại Trường Y tế Công cộng Harvard (Mỹ) đã phát hiện ra rằng “Đi bộ nhanh một giờ mỗi ngày” thực sự có thể làm giảm “ảnh hưởng của di truyền đối với bệnh béo phì” của cơ thể bạn.

Nghiên cứu cho thấy rằng ngồi và xem TV đến hai giờ mỗi ngày thực sự làm trầm trọng thêm ảnh hưởng của các gien liên quan đến bệnh béo phì của bạn lên đến 25%. Trong khi đó, một giờ đi bộ tương đương với việc tắt các gien đó, theo Eat This, Not That! (ST)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

VÌ ĐÂU NÊN NỖI _ Lê Phương Lan

VÌ ĐÂU NÊN NỖI

Tháng Tư! Bây giờ là tháng Tư! Tục ngữ Việt Nam có câu:”Miếng ngon nhớ lâu. Niềm đau nhớ đời”! Niềm đau của thời kỳ nội chiến và nhất là thời hậu chiến sau ngày 30 tháng 4 vẫn còn sâu đậm đến nỗi vẫn còn có một vách ngăn chưa thể vượt qua được hay sao? Vì đâu nên nỗi?!

Người dân Việt bản chất là một dân tộc hiền hòa, hữu thần. Từ ngàn xưa, tổ tiên ta đã thờ đạo Mẫu và để lại cho con cháu những lời dạy chan chứa tình người:”Ở sao có đức có nhân, mới mong đời được hưởng ân lộc Trời”  Cha ông chúng ta luôn dạy bảo con cháu phải ”Làm lành tránh dữ”, sợ rằng sẽ bị “quả báo”, “ác giả ác báo” vì tin tưởng vào sự thưởng phạt của Ông Trời, “chạy Trời không khỏi nắng” vì ”Ông Trời có mắt” và rằng “Lưới Trời tuy thưa nhưng khó thoát”!

Qua hàng ngàn năm dưới ách đô hộ của Trung Hoa cho nên về tư tưởng thì người Việt chúng ta đã chịu ảnh hưởng của học thuyết Khổng Tử mà giữ lấy chữ “nhân” làm đầu. “Nhân là đầu các điều thiện, là chủ hồi dưỡng sinh của vạn vật” và là nhân cách đầu tiên trong ngũ thường “Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín”. Lòng nhân đạo của người Việt Nam đã được thể hiện rõ nét qua bài “Bình Ngô Đại Cáo” của Nguyễn Trãi:”Đem đại nghĩa để thắng hung tàn. Lấy chí nhân mà thay cường bạo”.

Về tín ngưỡng thì trước khi tiếp xúc với phương Tây, tôn giáo chính của người Việt là Phật giáo. Phật Thích Ca là thái tử Tất Đạt Đa. Tên dòng họ Ngài là Gotama (Cổ Đàm) có danh hiệu là Sakya (Thích Ca) Thái tử dù sống trong nhung lụa vẫn nghiệm thấy là con người ai cũng không thể thoát khỏi cảnh già nua, đau bệnh rồi chết . Những hình ảnh siêu thoát của vị tu sĩ giúp thái tử sớm thấy được con đường giác ngộ để dẫn đến niết bàn bất tử. Chủ trương của Phật giáo là:

1- Chủ trương từ bi hỷ xả đối với các sinh linh.

2- Con người đều có Phật tánh, ai cũng có thể thành Phật.

3- Muốn tiến tới niết bàn phải giải thoát con người qua luật nhân quả và vòng luân hồi.

Đức Phật đã phân tích nguyên nhân của đau khổ là do thập nhị nhân duyên:

1- Vô minh (mê lầm, tăm tối).

2- Hành (hành động khiến gây ra nghiệp)

3- Thức (phân biệt đúng sai)

4- Danh sắc ( nhận dạng được hình, sắc)

5- Lục nhập (6 căn tội)

6- Xúc (tiếp xúc)

7- Thọ (tiếp nhận cảm giác)

8- Ái (tham vọng)

9- Thủ (nắm giữ)

10- Hữu

11- Sanh

12- Tử

12 nhân duyên này quan hệ với nhau buộc ta vào vòng luân hồi.

Thiên Chúa Giáo đã được giới thiệu vào Việt Nam từ thế kỷ thứ 16. Trong Thiên Chúa Giáo sự hiện hữu của Thượng Đế là hiển nhiên, hằng hữu. Sự tương quan giữa con người và Thượng Đế theo ba ý niệm sau đây: Sự Sáng Tạo  – Lẽ Công Bằng – và Tình Thương.

Kinh Thánh mở đầu bằng sự khẳng định Đức Chúa Trời dựng nên vũ trụ, vạn vật và con người. Con người là công trình sáng tạo sau cùng của Thiên Chúa và được Ngài trao ban cho một món quà quý giá nhất là sự tự do. Nhưng rồi món quà này đã bị lạm dụng và con người đã đánh mất Thiên Đàng do lòng kiêu ngạo là căn nguyên tội lỗi dẫn đầu trong “Bảy Mối Tội Đầu”. Tuy nhiên theo sau lẽ công bằng là tình thương. Thiên Chúa đã hứa sẽ ban cho loài người một Đấng Cứu Thế sẽ chịu sát tế như một con chiên để chuộc lại lỗi lầm ban đầu của tội nguyên tổ và dùng tình thương để cảm hóa, để đẩy lùi tội ác ra khỏi nhân loại.

 Đức Giê Su đã từ bỏ ngai trời xuống thế làm người, nhập thế hành đạo trong một hoàn cảnh nghèo khổ như chưa từng có ai nghèo khổ hơn! Những bài học về lòng yêu thương, bác ái trong lời giảng dạy của Ngài thường là qua các dụ ngôn. Giáo lý của Ngài tập trung vào hai điều:”kính Chúa và yêu người”. Ngài không đến để xóa hết đau khổ. Ngài cũng không giải thích nguyên nhân của sự đau khổ mà bằng chính cuộc sống của mình Ngài đã chứng minh rằng trong đau khổ con người vẫn tìm ra được niềm bình an, hạnh phúc một khi ta đón nhận và cải hóa sự đau khổ, hay nói cách khác là khi ta đã biết thánh hóa sự đau khổ để biến “thập giá trở nên thánh giá”.  Cái chết của Đức Giê Su là một tấm gương cao cả cho sự hy sinh tuyệt đối trong quan niệm yêu thương, bác ái của Thiên Chúa Giáo. Tín đồ Thiên chúa Giáo hay người Công giáo cách riêng tin rằng con người chỉ có một cuộc đời để sống, để lập công đức bằng việc thực thi thương yêu, bác ái với mọi người ta tiếp xúc. Và phần thưởng cho người sống công chính là một đời sống viên mãn, vĩnh hằng trên thiên đàng.

Như đã nói trên, khi sử dụng quyền tự do được trao ban, những con người với sự ngạo mạn, vẫn chống lại những điều thiện hảo để tiếp tục gây ra tội ác, để tự hủy diệt lẫn nhau. Vào thế kỷ thứ 19, một người gốc Do Thái sinh ra tại Đức tên là Karl Marx đã lập ra một học thuyết mà sau này được áp dụng như một thứ tôn giáo mới tại các nước cộng sản. “Đạo” của Karl Marx đã đi ngược hoàn toàn với tín lý Thiên Chúa Giáo. Tín lý Thiên Chúa Giáo dạy tình yêu thương, lòng bác ái và tha thứ, dẫn đưa nhân loại đến sự thật. “Đạo” Karl Marx dạy hận thù, độc ác, dối trá, đấu tranh giai cấp với mục đích chia rẽ, phân hóa để thống trị loài người, quảng bá quan điểm vô thần, một giả thuyết có nguồn gốc từ Tây phương nhưng đã bị chính các nhà khoa học Tây phương hoài nghi. Von Braun, nhà khoa học không gian hiện đại đã từng viết:”Sự thần kỳ và vô biên của vũ trụ chỉ có thể chứng thực cho đức tin của chúng ta rằng chắc chắn có Đấng Sáng Thế”.

Văn hóa truyền thống Á Đông nói chung luôn coi trọng tín ngưỡng, coi trọng mối quan hệ hài hòa giữa “Thiên-Địa-Nhân”, nhưng kể từ khi du nhập”đạo” Karl Marx vào thì các đảng cộng sản đứng đầu là đảng cộng sản Trung Quốc ra sức nhồi nhét chủ thuyết vô thần, cổ súy triết học đấu tranh theo như tuyên ngôn của Mao Trạch Đông:”Đấu với trời là niềm vui vô tận! Đấu với đất là niềm vui vô tận! Đấu với người là niềm vui vô tận!”

Đối với dân tộc Việt Nam từ 1945 cho đến sau 1975 niềm đau dẫu cho không muốn nhớ đời nhưng đến những ngày giỗ, Tết những nén hương vẫn còn được thắp trên bàn thờ để cầu siêu, xin lễ cho hàng triệu sinh linh, những oan hồn uổng tử đã chết trong cuộc cải cách ruộng đất tại miền Bắc, trong cuộc nội chiến, trong Tết Mậu Thân, trên đại lộ kinh hoàng, trong các trại tù cải tạo, trên đường vượt biên, vượt biển!

Suy cho cùng thì vách ngăn chia cách lòng người chính là sự độc ác, dối trá, hận thù! Một khi con người biết sống với lòng nhân, với sự thiện tâm tin rằng”trên đầu ba thước có thần linh” để tránh sự quả báo , thoát kiếp luân hồi. Khi con người tin rằng có sự thưởng phạt theo lẽ công bằng thì những hành động bạo tàn, những âm mưu nham hiểm sau cùng cũng sẽ bị xét xử bởi một đấng Thượng Đế công minh. Khi “Bát Chánh Đạo” của Phật Giáo và “Mười Điều Răn” của Thiên Chúa Giáo được làm ánh sáng soi đường. Và rồi ra lời dạy của các tôn giáo chân chính sẽ xóa bỏ được vách ngăn giữa người với người.

Lê Phương Lan

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Thơ Xướng Họa K1: Còn Rên Xiết

XướngCÒN RÊN XIẾT

Cuộc chiến Bắc Nam kết thúc rồi
Qua thời lửa bỏng với dầu sôi
Nồi da xáo thịt xương chôn dấu
Huynh đệ hành hình xác thả trôi
Cộng sản thành công nhờ ngoại lực
Quốc gia thua trận bởi đơn côi
Toàn dân nước Việt còn rên xiết
Dưới ách bạo quyền mới cướp ngôi

Cóc QT-TP  

Họa 1Việt Nam Thời Cộng Sản

Việt Nam chinh chiến đã qua rồi
Tham nhũng lại càng nẩy nở sôi
Kẻ thắng tham quyền như gió lộng
Người thua bỏ xứ tựa mây trôi
Quê cha chẳng đất đời lưu lạc
Chốn mẹ không nhà phận cút côi
Dân chủ trá hình đang thống trị
Cũng bầu do đảng để truyền ngôi

C/Ư 

Họa 2: LƯU VONG CA

Tỵ nạn đã lâu chán quá rồi
Sau cơn chinh chiến lửa dầu sôi
Thân mình xứ lạ nhiều cay đắng
Dòng sử quê nhà lắm nổi trôi
Lưu lạc nơi này chưa thích ứng
Tha hương đất khách vẫn đơn côi
Mơ ngày cố quốc vui khai hội
Nước Việt thêm lần được đổi ngôi.

CX

Họa 3: VẠCH MẶT

Tên Huỳnh Tấn Mẫm trốn đâu rồi
Có thấy lòng dân đang sục sôi
Thuở trước vùng lên như mãnh hổ
Bây giờ thin thít giống cứt trôi
Quốc Gia,quậy phá từng bầy đội
Việt Cộng, cam đành chịu cút côi
Còn nhớ Sinh Viên làm Chủ Tịch
Hay quên Cách Mạng chẳng nhường ngôi.

TQN.

Họa 4: THỦA ẤY

Thủa ấy quê hương khổ quá rồi
Đôi bên quốc cộng hận trào sôi
Tương lai mù mịt đời vô định
Ước vọng phai nhòa sống nổi trôi
Bom đạn lắm : nhà tan cửa nát
Chiến tranh dài : mẹ góa con côi
Đến khi kết thúc hòa bình lại
Là lúc tự do đã mất ngôi

CCR

Hoa 5: MẸ VIỆT NAM ƠI

Mẹ Việt Nam ơi, khổ lắm rồi
Những ngày chinh chiến tợ dầu sôi
Gia đình tan nát đời đôi ngã
Chồng vợ ly tan sống nổi trôi
Kẻ thắng tham lam đời cơ cực
Người thua an phận kiếp đơn côi
Hận vì Minh mập kêu buông súng
Cho lão quy hàng để đổi ngôi.

CN-NCV

Họa 6: CHÓ NHẢY BÀN THỜ

Bốn sáu năm qua nước mất rồi
Tháng tư lại đến hận bừng sôi
Cọng nô cướp cạn reo hồ hỡi
Dân chúng vượt trùng chết nổi trôi
Thất thểu đầu đường bao mẹ góa
Bơ vơ xó chợ bấy con côi
Giặc tràn như lũ mang bùn đỏ
Chó nhảy bàn thờ chểnh chệ ngôi

CB

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Giã Biệt Sài Gòn- Hồi ký của K1 Tuyen Dinh

GIÃ BIỆT SÀI GÒN !

 Một kỷ niệm cách nay 31 năm: Tôi đi HO-3-127_Ngày 17 tháng 08-1990_10h30 được thoát khỏi chế độ Cộng sản, rời Phi trường Tân Sơn Nhất đến Bangkok, Thailand, hít thở không khí tự do và tạm trú tại Trung tâm chuyển tiếp:  Suan Phlu Transit Center P.O.Box 12.1116, Bangkok 10121, Thailand.

unnamed (3)

                     -Kỷ vật :Thùng đựng đồ HO-3.

Bao kỷ niệm buồn vui khi máy bay cất cánh trên bầu trời Sài Gòn, Giã Biệt Sài Gòn! 

Buồn vì xa người thân còn ở lại, rời Việt Nam thân yêu để đi định cư ở một nơi xa ngàn dặm. Mừng nhất là cả gia đình đã thoát khỏi cuộc sống cơ cực dưới chế độ Cộng sản, sau khi chính bản thân mình phải trải qua trên 10 năm lao tù trong các trại tập trung của bọn Cộng Sản Việt Nam  từ Nam ra Bắc.

Screen Shot 2021-04-12 at 7.36.24 AM

        – Bằng tốt nghiệp !

Tại Trung tâm chuyển tiếp Suan Phlu Bangkok,Thailand thông thường phải ở đây 1 tuần để chờ chuyến bay chuyển tiếp đi Mỹ.

Đặc biệt gia đình tôi phải ở lại đây trên 1 tháng (từ 17 tháng 8 đến 21 tháng 9-1990) vì lý do trục trặc đi theo diện “đầu trọc” tức không có người thân bảo trợ ở Mỹ.

Screen Shot 2021-04-12 at 7.35.17 AM

Vì biết nói tiếng Anh nên Cơ quan IOM (International Organization for Migration) Tổ chức Di cư Quốc tế yêu cầu tôi làm Leader tại Trung Tâm Chuyển tiếp Suan Phlu trong suốt thời gian lưu trú tại đây.

Công việc của tôi là hàng ngày là tiếp đón các gia đình Việt Nam đi định cư tại Mỹ hoặc Australia, thuộc diện HO hoặc diện con lai (phải đi Philippines học 6 tháng trước khi đi Mỹ) và tiễn đưa các gia đình có chuyến bay đi định cư.

Cất giữ đồ đạc và sắp xếp chỗ ăn ngủ cho từng gia đình, phân phối thức ăn hàng ngày, thông báo điều lệ, vệ sinh và tin tức những chuyến bay chuyển tiếp.

Có một kỷ niệm mà tôi không thể quên là lần đầu tiên ra khỏi Việt Nam tôi được xem một cuốn Video: Thúy Nga Video 10 – Giã Biệt Sài Gòn (1985) do các cô người Việt nhân viên Toà Đại sứ Mỹ tại Bangkok, Thailand mang tới cho tất cả chúng tôi xem. Thật cảm động sau ngày Miền Nam bị Việt Cộng xâm chiếm, lần đầu tiên được nhìn lại hình ảnh oai hùng của những người chiến sĩ VNCH diễn hành ngày Quân Lực trên màn ảnh nhỏ .

Trước khi chuẩn bị có chuyến bay đi Mỹ, Văn phòng IOM (Nhân viên người Thái) đã khoản đãi cả gia đình tôi và tặng đồ kỷ niệm.

unnamed (3)

Card from IOM Staff.

– Đến Mỹ ngày 21 tháng 9-1990.

 Định cư tại thành phố Louisville, Kentucky, Job đầu tiên của tôi là làm thông dịch (translator) part-time cho Hội “USCC”tại Louisville, thông dịch cho người Việt đi kiếm việc làm, làm giấy tờ và dự các buổi huấn nghiệp (orientation).

– Mời các bạn cùng tôi xem lại Cuốn Video kỷ niệm: Thúy Nga Video 10  Giã Biệt Sài Gòn (1985) VHS (Video Home System).

Tái Bản DVD 2000_HD:
Tuyen Dinh

-VIDEO :Giã Biệt Sài Gòn (1985)-HD

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Sài Gòn và Bộ Tư Lệnh CSQG giờ thứ 25 _ Toàn Như (YouTube)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Một dân tộc bị đầu độc _ Tác giả Lê Hoàng

Một Dân Tộc bị ĐẦU ĐỘC 
từ NGỌN đến tận GỐC

Tôi và bạn, chúng ta là những kẻ đần độn ở một đất nước thất bại!

Lê Hoàng

Bài viết dành cho tôi và những thanh niên kém cỏi và đang lạc lối khác

1. Người ta nói, ở Việt Nam, đâu đâu cũng thấy đầy rẫy những chỗ nhậu nhẹt. Người ta vui cũng nhậu, buồn cũng nhậu, đám cưới cũng nhậu, đám ma cũng nhậu, thậm chí không biết làm gì cũng phải nhậu. Bởi thế cho nên chẳng mấy ngạc nhiên khi lượng rượu bia ở Việt Nam lại nằm trong tốp những nước tiêu thụ nhiều nhất trên thế giới. Tôi đã nghe ai đó đã nói, rượu bia, thuốc lá và ma túy là những thứ mà ngày xưa những nước thực dân khi đi xâm chiếm các thuộc địa đã sử dụng những thứ này để làm suy yếu nội lực, tinh thần phản kháng của dân tộc đó.Việt Nam mình có lẽ cũng đang may mắn và tình cờ bị như thế ?Ai đang cố làm suy yếu dân tộc ta?

2. Người ta nói, có một câu châm ngôn ở Việt Nam mà ai cũng thuộc và làm theo “Vì cuộc sống là không chờ đợi”. Đúng, chúng tôi không quen chờ đèn đỏ chuyển qua xanh để được đi. Chúng tôi không đủ kiên nhẫn xếp vào hàng để chờ đến lượt mua đồ ăn hay tấm vé xem một chương trình nào đó. Khi chúng tôi xảy ra va vẹt xe trên đường, chúng tôi không đợi người có thẩm quyền đến giải quyết, mà chúng tôi sẽ rút dao, mã tấu xông vào đối phương quyết một phen sống mái, để mọi ân oán được giải quyết bằng máu và nước mắt cho thỏa chí nam nhi, đầu đội trời chân đạp đất ung dung tự tại chả khác gì các vị hảo hán anh hùng Lương Sơn bạc.

3. Người ta nói ở Việt Nam người ta đi làm gái nhiều lắm. Ừ thì không làm gái thì biết làm gì bây giờ.Rừng đã mất, biển đã chết, sông đã cạn thì lấy gì làm để mà nuôi thân.

4. Người ta nói ở Việt Nam để được nổi tiếng dễ lắm. Chỉ cần bạn có mông to và ngực bự thì bạn đã có được 50% cơ hội được nổi tiếng rồi. 50% còn lại thì phụ thuộc vào độ chai của da mặt bạn, và sản phẩm make up mà bạn đang tin dùng để che đi lớp da mặt bị chai đó.

5. Người ta nói ở Việt Nam làm quan dễ lắm. Bạn chỉ cần có bố hoặc mẹ đang là quan, hoặc cô dì chú bác, hoặc thậm chí là ông hàng xóm là tình cũ của mẹ bạn cũng có thể giúp bạn trên con đường quan lộ. Xin vào làm quan mới khó, chứ đã là quan rồi thì dễ í mà. Chức cao thì ăn cái to, chức nhỏ thì ăn nhỏ, quan trọng là có “vẽ” thì mới có ăn, và ăn chia sòng phẳng lúc nào cũng phải là điều kiện tiên quyết. Thành công thì chia cho trên, sẻ ở dưới. Thất bại thì rút kinh nghiệm, kiểm điểm, cảnh cáo thôi cũng đã đủ nghiêm khắc rồi.

6. Người ta nói, sống ở Việt Nam vui lắm. Ừ thì suốt ngày trên tivi ra rả đủ chương trình thi hài, game show hài này nọ thì bảo sao không vui. Ở một đất nước, mà những diễn viên hài với những câu nói “hài là phải nhảm, phải xàm, càng nhảm càng xàm thì càng vui, thì mới là hài”. Tôi chưa thấy ở một đất nước nào, mà diễn viên hài lại được tôn vinh, được là thần tượng, là lấy làm mẫu chân lý sống cho giới trẻ như ở Việt Nam. Họ, những diễn viên hài đâu biết rằng hài là môn nghệ thuật lên án và châm biếm những mặt xấu xa của xã hội, và qua đó đằng sau những tiếng cười là để lại sự trăn trở về xã hội trong lòng người xem. Thay vì chúng ta tổ chức các chương trình kích thích sự tự học, rèn luyện sức khoẻ, ý chí vươn lên trong cuộc sống hay giúp các bạn trẻ khởi nghiệp thì chúng ta lại tổ chức các chương trình thi tuyển trở thành diễn viên hài. Dường như cái hài nhảm, hài xàm nó đang giúp người dân Việt quên đi cái nghèo, cái đói cái tủi nhục khi sống dưới cái xã hội này ? Cái đất nước này vốn đã là một sân khấu hài lớn, và dường như cả xã hội ai cũng muốn được là một diễn hài trong cái sân khấu lớn đó?

7. Người ta nói làm giới trẻ ở Việt Nam sướng lắm. Chỉ có “ăn, ngủ, phịch, ị”. Trong khi, giới trẻ các nước khác như Hong Kong, Hàn Quốc…ừ thì mà là…trong khi giới trẻ chúng ta…là mà thì ừ.

8. Người ta nói…ừ thì cứ kệ người ta nói đi mà. Biết thì biết thế thôi chứ mình có thay đổi được gì đâu. Kệ đi!

9. Việt Nam chúng ta luôn tự hào là Con Rồng, Cháu Tiên thông minh xuất chúng, minh chứng hùng hồn nhất là chúng ta chiến thắng được mọi kẻ thù xâm lược. Ừ thì giỏi đó, nhưng hậu thế lại biết đến những trận đánh là những cuộc nướng quân “quân địch chết ba, quân ta chết hết” hoặc qua những kế hoạch mang đậm dấu ấn cá nhân của anh Tám, chị Chín, thím Sáu nào đó: “chúng ta đã làm tiêu hao sinh lực địch đáng kể”, nhưng thật ra là những trận khủng bố kinh hoàng chẳng khác gì IS với “quân địch chết ba dân ta chết tá”. Ngoài những chiến tích đó ra, dường như chúng ta không có một thành công nào để minh chứng chúng ta là một dân tộc thông minh, không một công trình khoa học hay phát minh sáng chế nào đóng góp cho nhân loại.

10. Nếu tổ tiên ta thông minh, thì ngày xưa ba Quân mẹ Cơ đã ngồi xuống cùng giải quyết vấn đề, hoà hợp hoà giải chứ không phải phải đi đến quyết định ly thân, gia đình chia cắt kẻ dắt 50 con lên rừng, người dẫn 50 con xuống biển. Nếu vua Hùng thông minh, thì khi nghe câu nói của Mai An Tiêm thay vì sẽ ngồi suy nghĩ đúng sai về câu nói đó chứ không cố chấp đày chàng trai trẻ ra biển. Nếu An Dương Vương thông minh, thì đã không nhận đứa con của kẻ thù về làm rể, chứ không để con gái rượu cuối cùng phải thốt lên “Trái tim lầm lỡ để trên đầu/ Nỏ thần vô ý trao tay giặc”. Tuy đã là quá khứ, dân tộc nào cũng có sai lầm, nhưng chúng ta cần phải nhìn nhận, đối diện sự thật rằng dân tộc Việt Nam chúng ta không thông minh, và khi đã nhận thức được điều đó chúng ta cần phải mở mang đầu óc, tăng cường học hỏi những điều mới mẻ từ bên ngoài. Nhưng tiếc là thay vì chịu nhận ra điểm yếu và chịu khó học hỏi thì chúng ta lại cố chấp giữ gìn cái cũ với những sân si, hoang tưởng. Điều này thực sự là một bất hạnh cho dân tộc Việt. Tôi và bạn, chúng ta là những kẻ đần độn ở một đất nước thất bại!

Kỳ Anh

 

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Thơ Đại Dịch Covid

ĐẠI DỊCH COVID-19
virus corona -thailandmedical

Covid tràn lan khắp đó đây
Gây bao tang tóc bởi con nầy
Nay Vaccine  chích hai liều đủ
Hết sợ cô vi đến quấy rầy.

Dù có chích ngừa đủ vaccine
Nhưng đừng vội lấy đó làm tin
Cô-vi biến thể vừa tìm thấy
Trở lại lây lan hại chúng mình

Hãy nhớ đem theo cái khẩu trang
Để cho khắp chốn được bình an
Rửa tay diệt khuẩn thường xuyên nhé
Đừng để lây lan đến họ hàng.

Cầu nguyện ơn trên phổ độ cho
Thế gian yên ổn hết buồn lo
Không còn sợ dịch cô ro ná
Hạnh phúc, an vui khắp mọi nhà.

TT-ncv
(Tháng 4/2021
)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Thơ Xướng Họa: Tháng Tư BUông Súng

Xướng: THÁNG TƯ BUÔNG SÚNG

unnamed (4)

Tháng Tư nhớ lại lệnh tan hàng
Buông súng nhìn nhau chẳng nói năng
Cả nước bỗng dưng buồn, nhốn nháo
Toàn dân bất chợt tiếc, hoang mang
Trở cờ lộ mặt “ba mươi” phản
Đón gió hiện hình lũ sói lang
Tuổi trẻ một thời bao nhiệt huyết
Nhưng rồi lịch sử đã sang trang.

CX-NĐT

Họa 1RỒI CŨNG THUA

Giá như không có lệnh tan hàng
Chiến đấu lẽ nào mất khả năng
Tướng tá rủ nhau-vàng bạc thoát
Cộng nô kéo đến-súng vai mang
Phe ta mau bại vì quân phản
Phía địch được phò bởi chó lang
Nhớ lại đoạn đường đau đớn lắm
Nguyện cầu lịch sử sẽ nguyên trang

Cóc QT-TP

Họa 2TRUNG TÁ LONG

Hận vì lệnh bắt phải tan hàng
Cả nước bàng hoàng chẳng nói năng
Phố xá điêu tàn đầy sợ sệt
Xóm làng trơ trọi thật hoang mang
Giữ gìn khí tiết người quân tử
Không chịu đầu hàng lũ sói lang
Trung tá Long đã tìm cái chết
Ghi vào sử Việt một hùng trang

CN-NCV

Họa 3: NỒI DA XÁO THỊT

Bức tử đành cam phải rã hàng
Cần người trách nhiệm có tài năng
Xâm lăng đoạt được Honda cướp
Lấn chiếm xong rồi của cải mang
Xà lỏn tai bèo phường chó sói
Dép râu nón cối bọn sài lang
Hô hào “giải phóng” gieo đau khổ
Máu Việt chung dòng nhục Sử trang

C/Ư

Họa 4MỘT TRANG SỬ CƯỚP.

Tổng Minh tuyên bố lệnh tan hàng
Tướng lãnh Cộng Hòa không nói năng
Vỹ, Phú, Nam, Hai, Hưng tuẫn tiết
Quân, Dân, Cán, Cảnh, Chính hoang mang
Bầu trời ảm đạm căm Hồ tặc
Đất nước đau buồn hận soái lang
Giải phóng quê hương:”Là cướp của”
Mang về “Cách Mạng mở sang trang”

TQN.

Họa 5: BỊ HÀNG

Súng chưa nạp đạn đã tan hàng
Quân tướng đâu vì thiếu khả năng
Nam Việt đơn phương đành gãy gánh
Đồng minh bội ước bỏ cưu mang
Cộng nô trị quốc luật rừng rú
Thái thú an dân lệ hổ lang
Sử sách vào tay loài cộng sản
Lệ nhòa với máu đẵm từng trang.

Cóc Biển

Họa 6: VẸM ĐẾN

Tháng tư ngày ấy lệnh tan hàng
Vẹm đến quơ cào hết khả năng
Vàng bạc cổ đeo cùng nách kẹp
Của tiền tay xách với vai mang
Lính thua lên núi làm tôi mọi
Dân đói xuống biền bới củ lang
“Giải phóng”hay là đi “phỏng giái”
Để cho quê mẹ nát gia trang

CH

Họa 7: VÌ SAO ?

Vì sao nên nỗi phải tan hàng ?
Chẳng lẽ bên ta thiếu khả năng ?
Có phải quân thù luôn một khối ?
Hay là bạn Mỹ bỗng hai mang ?
Số đen bám lấy người lương thiện
Vận đỏ theo về lũ sói lang
Hậu thế mai sau xem sử sách
Đau thương uất hận đẫm từng trang

CCR

Họa 8: VẬN NƯỚC

Bỗng dưng lệnh xuống bảo tan hàng,
Tình thế vẫn còn lắm khả quan*
Vùng Một binh hùng, tay súng vững,
Miền Tây dũng tướng, chẳng hoang mang.
Quyết tâm tử chiến cùng quân giặc,
Thề chả cúi đầu trước sói lang.
Nhưng bởi cơ trời xoay vận bỉ,
Nên dùng máu lệ rửa từng trang!

CÓC CHAY

* xin đổi một vần

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Một mẩu chuyện ngắn của tác giả Lê Thí

CHUYỆN BÀ GIÀ MANG DÉP LÀO

unnamed (3)

Khoảng năm 1981, 1982 đời sống giáo viên cực kỳ khó khăn. Tôi quyết định đi xe đạp thồ để có tiền mua sữa cho con. Chiếc xe đạp để đi dạy hàng ngày được bổ sung thêm cái giỏ phía trước và cái yên nệm mút phía sau bạc-ba-ga cho khách ngồi … Mỗi sáng cứ 5 giờ là ra đứng ở đầu hẻm trước nhà để chờ khách. Khi trời bắt đầu sáng thì bỏ con hẻm nơi khá gần trường đang dạy, rất dễ gặp học trò, chạy xuống đường Lý Tự Trọng hoặc Trần Cao Vân cách nhà độ 3 km đứng đón khách. Có khách hay không thì 10 giờ 30 phải quay về nấu cơm ăn để chiều …lên lớp.

Một buổi sáng đang bon bon trên đường Trần Cao Vân trước chợ Lầu Đèn, chạy về nhà chuẩn bị đi dạy thì có một bà cụ dáng rất nhà quê đón xe. Vừa mừng vừa lo. Mừng vì được một cuốc xe có thêm tiền. Lo vì sợ khách đi xa không về ăn cơm kịp để 12h30 vào dạy tiết 1. Tôi phanh xe và hỏi:

– Cụ đi mô.

Bà cụ nói

– Đây xuống bến xe Vĩnh Trung mi lấy mấy?

Thấy bà già nhà quê tôi chợt nhớ mẹ. Tuyến đường lại trùng với lộ trình về nhà của mình nên tôi nói:

– Đúng giá là 1 đồng rưỡi. Còn chừ cụ cho mấy cũng được, cụ không có tiền thì con chở giúp cụ một đoạn, con đang trên đường về.

Bà cụ cười dơ hàm răng chỉ còn toàn … lợi và nói:

– Thằng ni đi thồ mà nói nghe vui hỉ!

Nói xong bà cụ cúi xuống cầm đôi dép lào đã mòn lín. Hai cái gót đã thủng hai lỗ lớn bằng đồng bạc cào lưng. Cụ bỏ đôi dép vào giỏ xe của tôi và nói:

– Xuống bến xe mi nhớ nhắc tau lấy đôi dép ni chớ không phải mi đợi tau quên rồi lấy luôn nghe chưa!

Tôi cười và bảo:

– Cụ yên tâm. Con không mang dép bằng tay nên không lấy đôi dép ni mô!

Lên xe chuyện qua chuyện lại mới biết bà cụ ở Thanh Quýt ra thăm, mang cho con trai đang làm công nhân ở cảng một ang gạo vì nghe nói gạo mua tiêu chuẩn ăn không đủ, bữa nào cũng chỉ lưng bụng mà đi làm. Còn bà thì biết tôi là thầy giáo cấp 3 đi xe thồ thêm ngoài giờ để mua sữa cho con.

Nghe hoàn cảnh của nhau, cả hai bà cháu đều im lặng. Một chặp tôi nghe bà ngồi sau chép miệng rồi nói:

– Răng ai cũng khổ hết trơn ri hè!

Đến bến xe Vĩnh Trung, tôi quay lại dặn:

– Cụ ngồi yên, đừng lo, để con tìm xe Vĩnh Điện cho cụ đi. Bến xe đông sợ cụ tìm không ra.

Tìm được xe đi Vĩnh Điện, tôi phanh xe đạp và nói với cụ:

– Cụ nhớ lấy đôi dép. Con chở hộ cụ một đoạn thôi không lấy tiền.

Bà trả lời:

– Thằng ni nói nghe được. Tau không trả tiền xe nhưng chờ tau một xí (tí).

Vừa nói cụ vừa lật lớp áo ngoài rồi mở cây ghim túi áo trong và lấy ra 3 đồng, đưa cho tôi.Tôi giẫy nẩy:

– Con nói rồi. Con chở dùm không lấy tiền xe.

Cụ bảo:

– Biết rồi. Tau cũng không trả tiền xe. Tau cũng không cho mi. Mi có chưn có tay, có sức dài vai rộng mi làm mi ăn. Tiền ni tau gởi mi đem về mua sữa cho cháu tau. Mi không lấy tau la làng là mi móc túi của tau. Răng. Nhận đi con, cho bà vui.

Nói xong cụ nhét tiền vào túi áo của tôi rồi cắp nách đôi dép lào đã mòn gót leo lên xe. Lần đó tôi đứng khóc một mình giữa bến xe Vĩnh Trung đông đúc cho đến khi chuyến xe đò rời bến… chạy khuất!

“Bà ơi. Bà đang ở cõi nào? Nay con có thể viết những quyển sách nhận nhuận bút hàng chục triệu đồng. Đứa cháu nhỏ thời đó nay đã là tiến sĩ làm giảng viên của một trường đại học danh tiếng. Nhưng có lẽ, cho đến lúc chia tay cuộc đời này con vẫn còn nợ bà … một hộp sữa!”

Lê Thí

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Thuốc chủng ngừa Covid-19 bảo vệ mình được bao lâu? _ Phạm Thanh Nga

Thuốc chủng ngừa Covid-19 bảo vệ mình được bao lâu?

Người ta focus vào chữ vaccine nhiều quá…nên nghĩ đơn giản là vaccine (một khi chích vào rồi) thì nó bảo vệ mình (không bị nhiễm). Phải nói lại cho chính xác như sau: cái bảo vệ mình, không phải là vaccines mà là antibodies của mình. Antibodies này được (cơ thể) làm ra, khi chích vaccines vào.

Từ định nghĩa này, cho thấy:

1) Không cần biết là vaccine loại nào, của hãng nào. Cứ hễ chích vào, thì nó tạo ra antibodies. Cho nên, đợt này chích Pfizer, năm sau chích J&J cũng được…chứ không nhất thiết là phải chích cùng loại.

2) Mục tiêu là để đưa cái antibodies của mình lên tới Protective Level. Vấn đề ở đây là:

– Cái protective level của antibodies này, kéo dài trong bao lâu ? Những vaccines truyền thống (vì có chất adjuvant) nên kéo dài rất lâu…có khi cả đời…như vaccine về yellow fever, measles, BCG etc…

Nói thêm ở đây là được tạo ra (do vaccines), có 2 thành phần là B cell và T cell. Cái B cell nó gọi là immune memory. Một khi được tạo ra…nó sẽ chạy vô “tủy” và nằm trong đó. Khi cần thì nó lại chạy ra để tạo antibodies tiếp (coi hình ở cuối e-mail). Chính vì thế, nên những em bé (khi xương chưa phát triển) hoặc người quá lớn tuổi (xương bị co lại), thì B cell trong tủy rất ít, nên khi cần thì phải có thời gian rất lâu để tạo ra antibodies.

– Những vaccines loại mới như của Pfizer, Moderna, J&J và Astrazenecca, vì không xử dụng adjuvant, nên dù có antibodies (sau khi chích vào), thì cái antibodies này cũng giảm rất nhanh (trong vòng 6-8 tháng max). Cho nên, sau đó, nếu muốn antibodies lên lại ở protective level…phải chích booster nữa. Mà nên nhớ, đây là chưa nói tới variants đó…

Cái lằn đỏ là level cần thiết để bảo vệ. Chích mũi đầu…antibodies chưa lên tới, phải chích mũi thứ 2, thì nó mới vượt lên trên lằn đỏ này (protective level), nhưng sau đó (tự nhiên) nó sẽ giảm xuống với thời gian (6-8 tháng). Đến khi nó xuống dưới lằn đỏ…thì phải chích mủi thứ 3 (booster) để đưa nó lên lại. Cứ như thế…là mỗi 6-8 tháng phải chích lại một lần (mà nhớ là không cần chích lại cùng loại thuốc…vì mục tiêu là antibodies chứ không phải vaccine).

Hơn nữa, bây giờ lại có đủ loại variants…nên nhiều khi cái cũ chưa giảm (xuống khỏi lằn đỏ), lại phải chích nữa để deal với variants mới (xem hình 4)

Đó là mới nói sơ lược….nói thêm chi tiết, thì phải đề cập tới cái B cell (nằm trong tủy). Theo lý thuyết (giải thích ở trên) thì (coi lại hình phía dưới), chuyện gì xảy ra, khi antibodies giảm xuống dưới lằn đỏ, và mình không chích mũi booster số 3 (hoặc vì không sản xuất kịp để mọi người có thể chích) ?

Lúc đó (lúc antibodies giảm xuống dưới lằn đỏ) và mình bị nhiễm…thì B cell sẽ từ trong tủy nhào ra, và sẽ tự chế tạo antibodies để đưa nó lên trên lằn đỏ lại, với điều kiện: thời gian khi bị nhiễm và thời gian nó phác tác (vì virus cần một khoảng thời gian gọi là incubation period để bắt đầu hoành hành) chậm hơn thời gian mà B cell đưa antibodies lên. Vấn đề là:

1) Những con virus trước đây (yellow fever, measles etc…), thời gian incubation là 6 tuần – 6 tháng. D0 đó, B cell có thời giờ làm antibodies trước khi nó hoành hành. Khi nó phát tác, thì antibodies đã mạnh mẽ (trên protective level)…nên có thể dứt điểm virus nhẹ nhàng…

2) Hiện nay, Covid (cũng giống như vài loại virus khác) có thời gian incubation quá nhanh (14 ngày). Nên khi bị nhiễm, mà antibodies đang ở chỗ thấp và B cell không kịp làm ra antibodies mới trong vòng 14 ngày…thì coi như dính chấu…

Kết luận: Covid này còn kéo dài lắm…đừng nghĩ là đã chích vaccine rồi thì …có thể đi vui chơi khắp nơi và tất cả sẽ trở lại bình thường nhanh chóng. Trái lại, bình thường thì chưa chắc nhưng có thể sẽ phải chích tiếp mỗi 6-8 tháng Trừ khi:

Novavax và Sanofi Pasteur cho ra vaccines được bào chế bằng adjuvant, nên thời gian antibodies bị giảm…sẽ lâu hơn (thí dụ 1 hay 2 năm hay lâu hơn), có đủ thời giờ (để sản xuất) để có thể đạt được herd immunity trên toàn thế giới…thì lúc đó mới hy vọng trở lại bình thường…

Cám ơn chị Tdsgx Phương-mai đã giúp em dịch những danh từ chuyên môn qua tiếng Việt để mọi người hiểu rõ hơn và chúng ta cùng nhau cảnh giác cái con vìrus quái ác này

Novavax thì cở cuối mùa thu 2021 sẽ có. Còn Sanofi thì tới cuối năm 2021.

(Bài do K1 Nguyễn Văn Vinh chuyển)

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

TẢN MẠN THÁNG TƯ_Nguyễn Hùng (K10)

Tản mạn tháng tư:

Niềm đau thế kỷ _ Nguyễn Hùng K10

           “Đời người thật ngắn không đủ thời gian cho hận thù dài lâu”. Đó là câu nói mới đây của một người tôi rất ngưỡng mộ, tỷ phú Elon Musk (chủ nhân hãng xe điện Tesla và phi thuyền vũ trụ Space-X). Nó càng gây cho tôi một cảm giác se sắt buồn trong thời điểm của dòng hoài niệm khôn nguôi của lần tan vỡ năm xưa: Tháng Tư 1975.

           Cuộc hành trình 46 năm mà chúng ta đang đi tìm dòng tâm thức êm ả gội rửa vết nhơ hận thù mà lịch sử nghiệt ngã bôi đen lên số phận dân tộc bởi bạo lực chủ nghĩa cuồng điên. Cuộc hành trình cùng ánh sáng tự do rực rỡ luôn là dược liệu bồi dưỡng tâm thức kẻ thua cuộc sống còn sau kỳ trả nợ máu xương của quá khứ hãi hùng với cái ác luôn được tôn vinh và hiện hữu. Trong tâm thức “kẻ thắng cuộc” vẫn không hề phai, vẫn hằng khơi dậy từ những tiệc mừng chiến thắng “hoành tráng” hơn cả ngày lễ tưởng niệm những bậc tiền nhân đã dựng nước hàng ngàn năm. Với những phát ngôn không e dè, cấp lãnh đạo đảng cộng sản vẫn ra rả miệt thị bọn “lưu vong phản động luôn nuôi dưỡng hận thù của cuộc bại trận năm xưa mà xuyên tạc đánh phá với ý đồ lật đổ chính quyền nhân dân”. Chính vì thế ý niệm hòa hợp dân tộc cũng chỉ là … ý niệm mới có kể từ ngày đảng CSVN kêu gọi lấy tình thương xóa bỏ hận thù để người Việt hải ngoại trở thành khúc ruột ngàn dậm của tổ quốc đóng góp tài vật xây dựng thành trị xã hội chủ nghĩa, cái chủ nghĩa tưởng rằng đã có thể chết tiệt từ giữa thập niên 80 nếu không có cuộc thay máu trở lại bằng liều thuốc tuyệt vời của nền kinh tế tự do miền Nam trước đó mà “bên thắng cuộc” đánh cắp chân lý tuyên truyền cho đó là do đảng sáng tạo.

         Việt Nam với thành quả kinh tế giàu mạnh hôm nay là nhờ vào sự “thay đổi hay là chết” của đời tổng bí thư VC Nguyễn Văn Linh lấy “kinh tế thị trường” tức kinh tế tư bản để cứu vãn sự suy sụp, mời gọi các tập đoàn thương mại quốc tế đầu tư khai thác tài nguyên. Thật ra vì sự tồn vong, đảng cộng sản không thể tiếp tục phát huy lộ trình nguyên thủy (kinh tế tập trung thất bại) mà bắt buộc họ đi ngược lại hay nói cách khác là phản bội lý tưởng cộng sản rõ ràng nên họ hổ thẹn không thể giải thích cái cụm từ kinh tế thị trường lại lồng trong xã hội chủ nghĩa được.

         Cộng sản che dấu những biến đông họ gây ra nhằm đánh tráo lịch sử  nhưng sự thật tội ác vẫn phơi bày dưới ánh sáng chân lý khi họ không thể triệt tiêu được chứng nhân của lịch sử. Điển hình là sự kiện cải cách ruộng đất ông Hồ Chí Minh với sự chỉ đạo của quan thầy Trung Cộng đã giết hại bao vạn người miền Bắc sau hiệp định Geneve 1954 (báo CS tiết lộ chừng 127 ngàn người đến năm 1956). Trước đó ông kêu gọi đoàn kết dân tộc, toàn dân kháng chiến chống Pháp, liên kết các đoàn thể đảng phái quốc gia (ông che dấu thân phận CS quốc tế) đến khi vững mạnh ông âm thầm giết hại người quốc gia vì không theo lý tưởng cộng sản. (Đức Huỳnh Phú Sổ PGHH, Trương Tử Anh,  Phan Văn Giáo Đại Việt, Tạ Thu Thâu,  Phan Văn Hùm CS Đệ Tứ …vv )

         Mao Trạch Đông từng giết hại đồng chí đã sát cánh trong cuộc vạn lý trường chinh năm xưa như … bắt Lưu Thiếu Kỳ (phó chủ tịch quân ủy trung ương) tống vào ngục bỏ đói đến chết, giết Lâm Bưu, Bành Đức Hoài (cho rằng âm mưu đảo chánh?) …v.v những công thần xây dựng đảng cộng sản từ buổi sơ khai và còn nhiều nữa …

         Văn hào Richmal Crompton nói “Có những người cộng sản muốn làm mọi việc tốt hơn bằng cách giết hết mọi người trừ họ ra” …!

         Nhìn cuộc bể dâu…đã dài hằng thế kỷ…

  K10 Nguyễn Hùng 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Hãy Ngủ Yên Đà Nẵng Của Tôi Ơi_ Trần Trung Đạo

HÃY NGỦ YÊN ĐÀ NẴNG CỦA TÔI ƠI

– Trần Trung Đạo 

shan2(Ảnh Đà Nẵng sưu tầm từ internet)

Đà Nẵng của tôi, nơi những buổi chiều của tuổi mười ba, tôi vẫn  thường đứng nhìn những đoàn xe mang nhãn hiệu Sealand, RMK, GMC nối đuôi  nhau mỗi ngày trên chiếc cầu màu đen mang tên của một viên tướng thực  dân. Những chiếc chiến xa nặng nề, những khẩu đại pháo nòng dài được cất  lên từ những chiếc tàu lớn neo ngoài cửa biển Sơn Chà. Tiếng gầm thét của  những đoàn phi cơ chiến đấu đang đáp xuống phi trường quân sự ngoài ngã  ba Duy Tân. Tiếng nhạc, tiếng cười, tiếng chọc ghẹo, okay, hello,  goodbye của những người lính Mỹ và những cô gái Việt Nam vào tuổi chị  tôi, vọng lại từ những hộp đêm dọc bờ sông Bạch Đằng. Tất cả đã khơi dậy  trong lòng tôi nhiều câu hỏi, nhiều băn khoăn và cả những tủi thẹn đầu  đời của một đứa bé Việt Nam xót xa cho số phận của một cây cổ thụ bốn  ngàn năm đang biến thành cây chùm gởi. Tại sao? Tại sao lại là Đà Nẵng?  Tại sao là Việt Nam quê hương tôi mà lại không phải một nơi nào khác?

Đà  Nẵng của tôi, như định mệnh an bài, cũng là nơi an nghỉ của người lính  Mỹ đầu tiên thuộc chiến hạm Hoa Kỳ lừng danh, USS Constitution. Không  phải đợi đến 1965, khi các chiến hạm thuộc Đệ Thất Hạm Đội thả neo tại  cửa biển Đà Nẵng để đổ bộ các đơn vị Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ đầu tiên  nhưng từ hơn 120 năm trước, Đà Nẵng đã là một nơi hẹn hò đầy định mệnh  giữa quân đội Việt Nam thời Thiệu Trị và Hộ Tống Hạm Hoa Kỳ đầu tiên của  hải quân Hoa Kỳ dưới quyền của hạm trưởng John Percival. Theo các tài liệu  còn ghi lại, năm 1845, chiến hạm USS Constitution của Hải Quân Hoa Kỳ,  trên chuyến hải hành hai năm vòng quanh thế giới, dừng lại cảng Đà Nẵng để  xin cung cấp thực phẩm và nước ngọt. Cũng tại hải cảng lịch sử nầy, Hạm  trưởng John Percival xin phép quan trấn thủ thành Đà Nẵng để chôn cất  thủy thủ William Cook vừa qua đời, dưới chân Núi Khỉ nằm trong rặng Sơn  Chà. Thậm chí ông còn “viện trợ” hai  Mỹ kim để lo phần hương khói. Tiếc  thay, chỉ vài ngày sau đó, vì việc triều đình Huế bắt giam Giám Mục  Dominique LeFevre, đã làm cho tang lễ thắm đượm tình nhân đạo của con  người biến thành một xung đột quân sự giữa hai quốc gia. Cuộc chạm trán  ngắn ngủi năm 1845 rất ít người biết đến. Những viên đại pháo bắn vào  lãnh hải Việt Nam, dù chỉ để đe dọa, cũng đã vô tình gây thương tích cho  quan hệ đầy oan trái giữa hai quốc gia Việt Mỹ sau này.

Đà Nẵng  của tôi có khu Ngã Ba Huế nhộn nhịp, nơi tôi từ Hội An về thăm cô tôi  những chiều thứ Sáu trong những chiếc xe khách hiệu Renault già nua màu  xanh đậm. Tôi vẫn nhớ căn nhà nhỏ, ánh đèn dầu leo lét, bàn tay xanh xao  của cô khi dúi vào túi tôi những tờ giấy bạc được gói kín trong nhiều  lớp vải. Đó là những đồng tiền khó khăn và vô giá mà cô dành dụm cho đứa  cháu trai vào Hội An nương náu trong chùa ăn học. Tôi ra Đà Nẵng tìm cô  vào đầu năm 1968. Nhà cô nghèo, con cháu lại quá đông. Nhiều đêm tôi  phải ngủ đói trên căn gác của một trại cây ở hẻm 220 Hùng Vương, ngang  hông phường Thạc Gián. Vài tuần sau, vì nhà đông đúc, cô đưa tôi đến  sống với người anh họ và bà chị dâu khó tánh ở Cổ Mân, Sơn Chà.  Chị dâu tôi khó tánh đến nỗi, chỉ sau một thời gian ngắn, tôi không chịu  đựng được nữa nên lặng lẽ bỏ đi. Tôi vào chùa Viên Giác. Năm tháng như  mây trời, bao độ hợp tan mang theo những giận hờn, thương ghét. Cô tôi  đã về bên cõi khác nhưng lòng tôi sao vẫn nhớ vẫn thương. Trên xứ người,  nhiều đêm không ngủ được, nhớ lại tiếng ho của người cô bịnh hoạn, tôi  vẫn còn nghe nhức nhối như thuở mới về thăm. Chiến tranh và nghèo đói đã  cướp đi bao thế hệ Việt Nam vô tội.

Đà Nẵng của tôi không phải  chỉ là điêu linh tang tóc mà còn là thành phố cảng đẹp tuyệt vời. Những  bờ biển uốn cong như mái tóc của người con gái Việt Nam đang đứng trông  ra Thái Bình Dương bao la bát ngát. Từ eo biển mỹ miều đó những thương  thuyền ngoại quốc đã đến thăm thành phố từ mấy trăm năm trước. 

3_zing_3Đà Nẵng  của tôi có hàng phượng đỏ hai bên đường Bạch Đằng, đường Độc Lập với  những chiếc ghế đá dọc bờ sông mang chứng tích của một thời học trò đầy  kỷ niệm. Đà Nẵng của tôi có bãi Mỹ Khê (không phải China Beach), với  bờ cát trắng chạy dài và hàng dương vi vu theo gió, có bãi Thanh Bình  với những chiếc ghe đánh cá đi về và cảnh chợ chiều nhộn nhịp. Những  ngày hè oi bức, tôi và đám bạn vẫn thường ôm đàn ra ngồi dựa lưng vào  những gốc dương liễu dọc bãi biển. Trong tiếng sóng từng nhịp vỗ vào bờ,  chúng tôi cùng cất cao bài hát ra khơi như để cổ võ cho những chiếc  thuyền đánh cá đang giong buồm ra biển. Tôi đâu biết vài năm sau, bạn bè  tôi cũng lần lượt ra khơi như thế nhưng chẳng còn ai dám đến tiễn đưa.

Đà Nẵng của tôi có những hàng cây sao tình tự dọc đường Thống Nhất, nối  từ bờ sông đi ngang qua Trường Nữ, nơi các cô cậu học trò Phan Châu  Trinh, Phan Thanh Giản vẫn thường đứng đợi người trong mơ sau mỗi buổi  tan trường. Những chiếc áo dài trắng thướt tha. Những mái tóc thề chấm  vai thơ mộng. Những đôi mắt nai tơ đó đã từng là nguồn cảm hứng của  nhiều nhà thơ xứ Quảng đa tình. Xin mời đọc vài câu thơ của nhà thơ Luân  Hoán Luân Hoán viết về các cô nữ sinh Đà Nẵng:

chiều chiều luồn chợ Vườn Hoa 
trôi theo Đồng Khánh bám tà áo bay
mắt hồng liệng cái ngoắt tay
dắt qua Độc Lập dựa cây đèn đường
chập chùng xuân ảnh vải hương
ngó ai lòng cũng yêu thương tức thì
giả vờ châm thuốc nhâm nhi
nuốt thầm vóc đứng, dáng đi quanh mình.
(Đà Nẵng, thơ Luân Hoán Luân Hoán)

Các  cô nữ sinh của một thời thơ mộng tung tăng như những con bướm vàng trên  đường Thống Nhất, Lê Lợi, Hoàng Diệu, Khải Định ngày xưa đã không về  nữa. Các cô đã ra đi, bỏ lại sau lưng hàng cây sao rợp bóng bên  đường, bỏ lại những chiếc ghế vuông, những ly chanh muối, những quán  chè. Các cô bây giờ đã lớn, đã trưởng thành. Nhiều cô đã là những bà mẹ  tay bồng tay bế, để rồi 17 năm sau ngồi nhớ lại năm mình 17 tuổi.

Các cậu học trò cũng thế. Những chàng thanh niên với buồng phổi và trái  tim chất đầy hùng khí của xứ địa linh nhân kiệt đã ra đi. Thế hệ trẻ  Việt Nam trong thời chinh chiến và cả khi đất nước hòa bình, đã chịu  đựng quá nhiều thiệt thòi mất mát. Nỗi bất hạnh lớn nhất của một đời  người vẫn là bất hạnh không có tuổi hoa niên. Các cậu ra  đi, bỏ lại sau lưng những chiếc xe đạp, những quán Cà-phê Thạch Thảo,  Thanh Hải, Ngọc Lan, những rạp hát Trưng Vương, Chợ Cồn, bỏ lại cây đàn  guitar cũ kỹ và những bản tình ca chưa viết trọn trong sân trường. Để  rồi nhiều năm, sau cuộc biển dâu, chinh chiến, gian lao, tù tội trở về.  Trở về chỉ để thấy thành phố xưa nay đã đổi chủ và con đường xưa nay đã  đổi thay tên. Tuổi thơ không bao giờ trở lại. Suối vẫn chảy, nước vẫn  reo nhưng điêu linh tang tóc đã xua bầy nai tơ lạc đàn đi biền biệt, mất  dấu đường về bên khe đá cũ.

Sau 1975, những bãi biển Mỹ Khê,  Thanh Bình, Tiên Sa, Thanh Khê, Tân Thái, Mân Quang, Chợ Mai, Chợ Chiều,  Non Nước, Nam Ô, v.v.., vẫn còn là điểm hẹn nhưng không phải là nơi hẹn  hò của những cặp tình nhân mà là nơi những người con Đà Nẵng hẹn nhau  để bỏ quê hương mà ra đi. Xin đừng hỏi họ đi đâu, về đâu trong những đêm  tối trời lầm lủi đó. Không ai biết chắc. Chỉ một điều họ biết là họ  không còn chọn lựa nào khác hơn là phải ra đi. Không một người dân Quảng  nào bỏ quê hương ra đi mà không đau xót.

indanang_bai-bien-tien-sa-580x408(Bải biển Tiên Sa Đà Nẳng)

Xin đừng dán lên lưng,  lên trán họ những nhãn hiệu theo Tây, theo Mỹ. Không. Người dân Quảng là  những người yêu nước. Ông cha họ đã từng cười mà bước lên máy chém thực  dân. Những cơn bão lụt tàn phá mỗi năm đã không làm họ bỏ làng mạc ra  đi. Nạn hạn hán làm ruộng đồng khô cháy mỗi năm không buộc họ phải bỏ mồ  mả tổ tiên ra đi. Sụp căn nhà này họ cặm cụi xây trên nền đất cũ căn  nhà khác. Trôi căn nhà này họ lại xẻ gỗ, lợp tranh xây lên căn nhà khác.  Bao thế hệ đã sống và đã chết trên vùng đất cày lên sỏi đá đó. Nhưng  chế độ mới, một chế độ nhân danh những mục tiêu tốt đẹp nhất trên đời đã  buộc họ phải ra đi. Sự thôi thúc của tự do như tiếng gọi thiêng liêng  của người cha già vọng về từ một nơi xa thăm thẳm. Và sẽ không ai biết,  bao nhiêu người, trong số hàng ngàn, hàng vạn người bỏ Đà Nẵng ra đi, đã  đến được Hong Kong, Philippines, và bao nhiêu người không may mắn đã bị  chôn sâu trong lòng biển, chết thảm thương trong bàn tay hải tặc, chết  trong đói khát sau những tuần, những tháng lênh đênh ngoài biển cả.

Đà  Nẵng của tôi sau 1975 không còn thơ mộng nữa. Những câu ca dao đậm đà  tình quê hương đất nước:

Ngó lên hòn Kẽm đá Dừng,
thương cha nhớ mẹ  quá chừng bậu ơi”

đã được thay bằng những khẩu hiệu đấu tranh giai cấp  chất chứa toàn chuyện oán thù. Những điệu hò khoan đậm đà hương vị Quảng  Nam

“Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm,
rươụ hồng đào chưa nhấm đà say”

đã  được thay bằng những đêm dài học tập, thảo luận, khuyến khích  thầy cô, cha mẹ, anh em tố cáo lẫn nhau. Ánh trăng không còn là những  dải lụa vàng Duy Xuyên đang trải trên dòng sông Hàn mỗi đêm rằm, nhưng  là những vết dao nghèo đói đang chém xuống một quê hương vốn đã chịu  đựng nhiều bất hạnh.

Ngày cuối cùng của tôi ở Đà Nẵng như đoạn kết  của một cuốn phim buồn. Tôi và cô bé, lý do cho những bài thơ tình học  trò đầy sáo ngữ của tôi, ngồi trên chiếc ghế đá trên đường Bạch Đằng,  nhìn sang hướng Sơn Chà.

– Anh sắp phải đi xa.
– Em biết.
– Sao em biết, anh chưa nói với em mà?
–  Anh nói với em rồi. “Anh phải vô Sài Gòn học đại học. Học xong anh sẽ  về quê, không đi nữa.” Em còn nhớ anh nói với em câu đó lúc mấy giờ,  ngày nào và tại đâu nữa kìa.
– Không phải. Đó là chuyện hồi chưa “giải phóng”, bây giờ thì khác.
– Bây chừ anh tính đi đâu?
– Anh vượt biên. Nếu đi lọt, có thể anh sẽ qua Mỹ học.
–  Bộ ở Việt Nam không có trường cho anh học sao. Em nghe nói Mỹ xa lắm,  chắc là xa hơn Sài Gòn nhiều. Mùa hè làm sao anh về thăm quê được.
– Anh sẽ về nhưng chắc không phải mùa hè.
– Anh lại hứa.

Hai  đứa nhìn ra sông. Chiếc phà An Hải vẫn mệt mỏi đưa người qua lại. Giọng  hát buồn não nuột của anh thương phế binh cụt hai chân từ ngoài bến  vọng vào:

“Rừng lá xanh xanh cây phủ đường đi.
Thành phố sau lưng ôm  mộng ước gì.
Tôi là người đi chinh chiến dài lâu.
Nên mộng ước đầu nghe như đã chìm sâu”.

Anh hát để tưởng nhớ bạn bè nhưng không biết rằng bạn  bè anh đang lần lượt bỏ anh đi. Hàng phượng dọc bờ sông đã bắt đầu nở rộ  nhưng không còn để “lòng man mác buồn” nhưng là chia tay vĩnh viễn, nát tan.

anh-tinh-yeu-hoc-tro-mua-phuong-no

( Ảnh phụ họa st trên internet)

Nước sông Hàn lững lờ trôi mang theo  dăm chiếc lá. Hai đứa ngồi im lặng, không biết phải nói gì. Nói gì rồi  cũng chia tay. Em đơn giản, hồn nhiên và ngây thơ đến tội nghiệp. Em sẽ  chẳng thể nào hiểu được tôi, và tôi cũng chẳng biết giải thích thế nào  cho em hiểu. Trái đất của em nhỏ nhoi, bao bọc bởi những rặng tre xanh  hiền hòa. Tâm hồn em là dòng sông mùa thu êm đềm, tĩnh lặng. Tâm hồn  tôi  hoàn toàn tương phản, trùng điệp núi đèo, ghềnh thác. Tôi sinh  ra trong cuộc đời này để gánh hết khổ đau, để làm tên du mục đi lang  thang trên chính quê hương mình. Ngày mai, tôi lại sẽ bắt đầu hành  trình du mục mới. Con nước trôi còn biết mình đang ra biển. Chiếc lá rơi  còn biết cội quay về, nhưng tôi không biết sẽ về đâu.

Bao nhiêu năm rồi tôi chưa về Đà Nẵng. Cô tôi đã qua đời. Bạn bè mỗi người một  ngã. Cô bé ngày xưa đã có gia đình. Khuôn mặt thành phố mang nhiều thay  đổi. Đà Nẵng thân yêu ơi, có còn nhớ đến tôi không? Căn gác đường Hùng  Vương, căn nhà lá phía trong Ngã Ba Huế, cồn cát trắng Mân Quang, nơi  tôi chôn dấu kho tàng tuổi thơ khốn khổ của mình, biết có còn nhận ra  tôi, cho dù tôi trở lại. Đêm nay, tôi ngồi đây, tưởng tượng một ngày về Đà Nẵng.

Và biết đâu, nhờ chưa về mà thành phố còn nguyên vẹn  trong trái tim tôi. Nếu tôi về thăm, Đà Nẵng chắc sẽ không còn  nữa. Hãy ngủ yên Đà Nẵng của tôi ơi.

Trần Trung Đạo

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Thơ Quốc Hận – K1 TPK

SẼ MỘT NGÀY

Kể từ khi cơn đau quốc biến
Nửa bên nầy đau điếng hồn côi
Bầu trời sụp đổ mất rồi
Khoảnh khắc ác mộng ôi thôi hãi hùng

Kẻ bên tê từ rừng xuống phố
Đem đau thương đổ xuống miền Nam
Người dân ngơ ngác bàng hoàng
Bỗng nhiên gánh lấy muôn ngàn oan khiên

Có ngờ đâu tự nhiên thành “ngụy”
Tội chi ri? khổ lụy bao người
Đuổi nhà cướp đất khắp nơi
Chồng cha “cải tạo”cuộc đời tối tăm

Trong tủi nhục mười năm đày ải
Nhưng lòng ta vẫn mãi trung trinh
Bao nhiêu năm tháng của mình
An dân bảo quốc giữ gìn tự do

Bởi vận nước cam go hoạn nạn
Do đồng minh đổi bạn thành thù
Ta đành mang nhục thiên thu
Đọa đày khổ ải trong tù bất nhân

Dù phải chịu thân tàn ma dại
Bị cai tù chửi mãi “ngụy quân”
Nhưng ta vì nước vì dân
Có đâu như kẻ bán thân cho Tàu

Sẽ một ngày đổi màu thay áo
Mùa thu về lá rụng chơi vơi
Vàng bay phấp phới ngập trời
Là lúc dân Việt sống đời tự do

Trăng thanh bình trải cho trăm họ
Phá nhà tù xóa bỏ xiềng gông
Gấm hoa tô điểm non sông
Nhà nhà hạnh phúc muôn phần sướng vui.

Tống Phước Kiên (February 2021)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Chính Trường hay Hí Trường (Sổ Tay Ký Thiệt)

Chính trường hay hí trường?

(Sổ Tay Ký Thiệt)

 Chuyện Tổng thống Joe Biden ngày càng lú lẫn, khó ngồi hết nhiệm kỳ bốn năm ngày càng thấy rõ thì khả năng bà Kamala Harris sẽ “lên ngôi” làm tổng thống thứ 47 và là nữ tổng thống đầu tiên của siêu cường Hoa Kỳ là chuyện khó tránh khỏi.

 Gần đây đã có nhiều người nói về chuyện này và quan ngại về bà tổng thống tương lai của nước Mỹ.

 Tuần vừa qua, ông Newt Gingrich, cựu chủ tịch Hạ viện, đã xuất hiện trong chương trình Fox & Friends của Fox News để nói về những chuyện đang xảy ra trong nội tình Tòa Bạch Ốc và cho rằng do bộ ba Kamala Harris, Nancy Pelosi và Chuck Schumer đạo diễn, mà theo kịch bản đó họ đã giữ ông Biden tránh xa khỏi báo chí và trong mấy lần xuất hiện hiếm hoi trước công chúng đã kết thúc với việc ông tổng thống chỉ trả lời vài câu hỏi vớ vẩn từ những kẻ ái mộ ông ta trong giới báo chí cùng phe. Ông Gingrich nói thêm:

 “Theo sự phỏng đoán của tôi, ông ta chỉ giữ một quyền hành rất nhỏ bé bên trong ngôi nhà ấy và Tòa Bạch Ốc đang nằm trong sự điều hành tăng dần của Harris, Pelosi, và Schumer.”

 Khi ông Biden bước chân lần đầu tiên vào Tòa Bạch Ốc với tư cách tổng thống, nhiều người đã tiên đoán rằng chỉ là vấn đề thời gian cho đến lúc ông ta bước ra một bên và để cho Kamala Harris chính thức nắm quyền tổng thống.

 Nhưng, Kamala Harris là ai, thân thế và lai lịch ra sao có lẽ phần lớn cử tri đã không biết khi bỏ phiếu cho liên danh Joe Biden – Kamala Harris trong cuộc bầu cử vừa qua, vì ứng cử tổng thống và phó tổng thống Mỹ không cần phải thông qua thanh kiểm an ninh (security clearance) như một nhân viên thường tại Tòa Bạch Ốc!

 Thiếu tướng Geoffrey B. Higginbotham, Thủy Quân Lục Chiến (hồi hưu) có viết một bài quan điểm tựa đề “The History of Kamala Harris” cho CVFC PAC (Combat Veterans for Congress Political Action Committee), một ủy ban hỗ trợ cho việc bầu cử các cựu chiến binh Hoa Kỳ vào Thượng viện và Hạ viện Mỹ.

Gần đây, do sự đồng ý của tác giả, bài quan điểm này được phố biến rộng rãi, xin lược dịch như sau:

Cha của Kamala Harris đã từng tự nhận là một giáo sư  Mác-xít trong bộ môn Kinh Tế tại Đại học Stanford ở Palo Alto, California. Cả cha và mẹ của Harris đều là thành viên hoạt động của Hội Mỹ – Phi (Afro – American Association) đặt trụ sở tại Berkeley. Fidel Castro và Che Guevara đều là những anh hùng của hội này.

 Lãnh tụ của nhóm này, Donald Warden (aka Khalid al-Mansour), quan thầy của hai thành viên trẻ trong Afro-American Association, Huey Newton và Bobby Seale; họ cùng nhau lập ra Black Panther Party (Đảng Báo Đen) được sự hỗ trợ mạnh mẽ của Trung Cộng. Black Panther Party được dùng như một kiểu mẫu để tạo ra tổ chức Black Lives Matter theo chủ nghĩa Mác. Khalid al-Mansour cũng là người đã lo tiền bạc và tạo sự thuận lợi cho Barack Hussein Obama được nhận vào học tại Trường Luật Harvard.

 Về phần Kamala Harris, sau khi tốt nghiệp đại học, cô trở về California và thành tình nhân của Willie Brown, Jr., 60 tuổi, chủ tịch Nghị viện California, người được hỗ trợ về chính trị và tài chánh của Bác sĩ Carlton Goodlett, chủ nhân tờ The Sun Reporter và nhiều tờ báo thân cộng khác.

Khi Willie Brown, Jr. được bầu làm Thị trưởng San Francisco, đã mạnh mẽ ủng hộ chủ thuyết chính trị thân cộng của Hariss, dẫn dắt cô leo cao trong chính trường California và được bầu vào chức Tổng Chưởng Lý của tiểu bang rộng lớn này tại bờ biển phía tây nước Mỹ. Willie Brown, Jr. được biết từ lâu như một cảm tình viên cộng sản. Ông ta đã được bầu chức vụ công cử đầu tiên phần lớn là nhờ sự hỗ trợ của đảng Cộng sản Mỹ.

 Ngày nay, Willie Brown được biết nhiều như là một trong những người thân Trung Cộng nhất tại Vùng Vịnh San Francisco.

 Trong thời gian làm công tố viên tại San Francisco, Kamala Harris đã chỉ đạo  Lateefah Simon, một tay trẻ cuồng Mao thuộc phong trào cách mạng STORM. Simon hiện đứng đầu Ban Quản Trị của hệ thống xe điện tại Vùng Vịnh San Francisco, gọi là Bay Area Rapid Transit (BART). Simon luôn luôn là bạn thân của người tạo lập Black Lives Matter, Alicia Garza, cũng như Van Jones, thuộc nhóm STORM và say mê cộng sản.

Kamala Harris đã công khai và tích cực hỗ trợ Black Lives Matter theo Mác; Kamala Harris vẫn còn liên kết sát cánh với Lateefah Simon theo Mao và  Alicia Garza theo Mác.

 Sau khi tiết lộ thêm những liên hệ của Kamala Harris với những cá nhân và tổ chức cộng sản tại Mỹ, Tướng Higginbotham kết luận bài quan điểm như sau:

 May mắn cho Harris, nhưng là tiềm tàng thảm họa cho nền Cộng Hòa của nước Mỹ, những chức vụ dân cử không phải qua thủ tục thanh kiểm về an ninh (security clearance process). Nếu FBI đã làm một cuộc điều tra lý lịch của Kamala Harris, Harris đã không bao giờ qua khỏi, bởi vì với 40 năm liên hệ chặt chẽ với những thành phần cộng sản Mác, Mao, và Trung Cộng. Harris đã không bao giờ được chỉ định để nhận một chức vụ trong chính quyền Mỹ, hay có thể được chấp thuận bổ nhiệm vào một chức vụ quan trọng cho một nhà thầu quốc phòng với cấp độ an ninh cao. Vậy mà từ khi Joe Biden đắc cử, Harris đang đầy triển vọng trở thành tổng thống Mỹ.

 Hiến pháp Hoa Kỳ đang bị Trung Cộng đe dọa từ bên ngoài, và do những điệp vụ rất tích cực tại bên trong Hoa Kỳ. Trung Cộng, dưới tên Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, với 1 tỉ 400 triệu dân, cai trị bởi 90 triệu đảng viên Cộng sản, đã và đang hợp tác với Nga trong hơn 70 năm qua để hủy diệt nền Cộng Hòa Hiến định Hoa Kỳ.

 Nếu cử tri Mỹ biết lý lịch của Kamala Harris, họ đã không bao giờ ủng hộ bà ta để được bầu làm phó tổng thống Hoa Kỳ.

 Joe Biden đang bắt đầu có những triệu chứng mất trí và sẽ tiếp tục suy nhược não bộ, ông ta sẽ không bao giờ có thể làm hết nhiệm kỳ tổng thống bốn năm.

 Từ khi Biden đắc cử, những người cộng sản lèo lái Kamala Harris đang đặt kế hoạch viện dẫn Tu Chính án thứ 25 để loại Joe Biden ra khỏi nhiệm sở, và Harris có thể trở thành Tổng thống cộng sản đầu tiên của Hoa Kỳ.

Tướng Higginbotham báo động dân Mỹ, từ khi làm tổng thống, ông Biden đã không đủ khả năng để sử dụng quyền hạn và làm tròn trách nhiệm, nên Kamala Harris có thể sẽ lấn quyền để cố chỉ định những người thiên tả chống Mỹ, cộng sản, xã hội chủ nghĩa rất nguy hiểm nắm giữ những vai trò trọng yếu tại Washington, như những chức vụ trong các cơ quan Tình Báo Hoa Kỳ, trong Bộ Nội An, trong Bộ Quốc Phòng, Bộ Tư Pháp, Bộ Ngoại Giao, FBI, CIA, Hội Đồng An ninh Quốc gia, các nhân viên nội các, và nhân viên Văn phòng Tòa Bạch Ốc.
Kamala Harris đã là một đồng chí đồng hành với những người Cộng sản, Xã hội chủ nghĩa, Cấp tiến, và Trung cộng trong suốt hơn 35 năm, và là một đe dọa rất nghiêm trọng cho chính sự tồn tại của Cộng Hòa Hiến định Hoa Kỳ.

 Không biết dân Mỹ đã “tỉnh thức” sau khi đọc những lời báo động của Tướng Higginbotham hay không, vì thật ra những chuyện trên đây cũng không có gì mới lạ, như chính lời ông tướng, Trung cộng  “đã và đang hợp tác với Nga trong hơn 70 năm qua để hủy diệt nền Cộng Hòa Hiến định Hoa Kỳ.”

Nhưng, trong 70 năm qua, Hoa Kỳ vẫn là siêu cường số một trên thế giới. Nước Mỹ vẫn là thành trì của “Thế giới Tự do”, lãnh đạo cuộc “Chiến tranh Lạnh” để chống cộng, dù là ngay trên nước Mỹ cũng có một đảng Cộng sản công khai hoạt động một cách hợp pháp, và dù là đã tháo chạy khỏi VN vào tháng tư năm 1975.

 Chuyện ông Biden già nua lú lẫn, bà Harris cực đoan thân cộng cũng không có gì là bí mật. Chính ông Trump, trong thời gian vận động tái tranh cử nhiệm kỳ tổng thống thứ hai cũng đã gọi ông Biden là “sleepy Joe” và cáo buộc bà Harris là một kẻ lật đổ theo cộng sản (a communist subverter).
Chuyện bát nháo trên chính trường Mỹ và cuộc xâm lăng không tiếng súng của Trung cộng trên nước Mỹ cũng đã có nhiều bài báo, nhiều cuốn sách nói tới, đếm không hết. Bây giờ, một ông tướng hồi hưu rảnh rang viết thêm một bài về “lịch sử Kamala Harris” chắc cũng không gây tiếng vang nào, nói chi tới  một “quả bom” mà ông tướng hy vọng làm dân Mỹ tỉnh thức.

 Còn nước Tàu cộng sản đóng kín như bưng, nào màn tre, màn sắt, nào tường lửa, tường đá như một nhà tù khổng lồ, lại thêm lời dạy cổ xưa “Quân cơ bất khả lậu”, chuyện binh bị phải giữ kín, thế mà một anh giáo sư chóp bu kiêm cố vấn cao cấp của đảng Cộng sản Tàu, đã công khai phổ biến chi tiết kế hoạch tổng quát của đảng Cộng sản Tàu nhằm đánh bại Hoa Kỳ, kể cả lèo lái các cuộc bầu cử tại Mỹ.

 Trên đây cũng là tựa đề của một bài đăng trên tờ EPOCH TIMES đề ngày 26.3.2021, tác giả là Nicole Hao.

Nicole Hao đã dẫn lời Giáo sư Jin Canrong để cho biết rằng Tàu cộng có một chiến lược đa diện liên quan tới một loạt những hành động hiểm độc nhằm lật đổ Hoa Kỳ trong lúc tăng cường sức mạnh của Cộng sản Tàu.

Kế hoạch ấy gồm có: can thiệp vào những cuộc bầu cử tại Mỹ, kiểm soát thị trường kinh tế Mỹ, gieo cấy những kẻ thù chống Mỹ trên thế giới, ăn cắp kỹ thuật của Mỹ, bành trướng  lãnh thổ nước Tàu, và tạo ảnh hưởng trong các tổ chức quốc tế.

Kế hoạch này đã được Jin Canrong giải thích với đầy đủ chi tiết trong một bài thuyết trình vào tháng 7 năm 2016 tại một cuộc hội thảo kéo dài hai ngày ở Thành phố Quảng Châu.

Tại đây, Jin nói: “Chúng ta muốn là nước lãnh đạo thế giới”, và giải thích  khát vọng của Tập Cận Bình về một cuộc “trẻ hóa” nước Tàu. Jin Canrong là một học giả nổi tiếng với những lời phát biểu chống Mỹ gay gắt, và là cố vấn cho hai bộ phận đầy quyền lực của đảng Cộng sản Tàu, nhưng không rõ thân cận cỡ nào với Tập Cận Bình.

Trong bài thuyết trình dài, Jin giải thích về bốn sách lược nhằm làm suy yếu Hoa Kỳ:

1. Lèo lái các cuộc bầu cử tại Mỹ.

Jin nói rằng Tàu cộng nên can thiệp vào các cuộc bầu cử tại Mỹ để đưa các ứng cử viên thân Bắc Kinh vào quyền lực. Ông ta chỉ ra những cuộc tranh cử vào Hạ viện như một mục tiêu dễ nhất.

Ông ta lưu ý dân số Mỹ hiện vào khỏang 312 triệu, ước tính có 435 đơn vị bầu dân biểu, và có khoảng 750 ngàn cư dân sống trong mỗi đơn vị. Tỉ lệ đi bầu tại Mỹ là vào khoảng 30 phần trăm, như vậy có nghĩa là khoảng 200 ngàn cư dân cho mỗi đơn vị bầu cử dân biểu. Thường thì số phiếu cách biệt giữa hai ứng cử viên là 10 ngàn phiếu hay ít hơn. Như vậy, nếu Tàu cộng có trong tay hàng ngàn phiếu bầu thì có thể là chủ nhân ông của các ứng cử viên, cho nên nhà nước Trung cộng muốn sắp xếp cho các nhà đầu tư Tàu tại mỗi đơn vị bầu cử dân biểu để có thể kiểm soát hàng ngàn cử tri tại mỗi đơn vị. Jin bảo rằng tham vọng của Tàu cộng kiểm soát Hạ viện Mỹ là tối thiểu.

 2. Kiểm soát thị trường kinh tế Mỹ.

Jin nói rằng những đầu tư của người Tàu ồ ạt vào Mỹ là một con đường khác để tạo ảnh hưởng vào hệ thống chính trị của nước này, và lưu ý rằng chiến thuật này đã đem thêm lợi tức làm giàu cho doanh gia Tàu và đảng Cộng sản Tàu. Những cơ hội đầu tư tại Hoa Kỳ tương đối tốt. Thị trường Mỹ mở rộng, mở rộng hơn tại Nhật và Âu châu, thêm vào vấn đề lợi tức là tầm cỡ, sự trong sáng, và ổn định.

Ông ta nói nhà nước Tàu cộng muốn doanh gia Tàu kiểm soát thị trường kinh tế Mỹ và cũng để phát triển công việc làm ăn của họ trên nước Mỹ. Để đạt mục tiêu này, chính quyền Tàu cộng đã cố gắng thương thuyết với Washington cho một thỏa hiệp gọi là “Hiệp ước Đầu tư Song phương Mỹ-Trung” (US-China Bilateral Investment Treaty, viết tắt là BIT). Thỏa hiệp này đã được điều đình tích cực trong thập niên trước năm 2017, nhưng đã bị khựng lại trong suốt thời gian với chính quyền Tổng thống Donald Trump.

3. Cổ xúy những kẻ thù của Hoa Kỳ

Jin nói rằng “công tác chiến lược” của đảng Cộng sản Tàu là giữ cho Hoa Kỳ luôn luôn có không dưới bốn kẻ thù.

Bốn kẻ thù là cần thiết để dàn mỏng tài nguyên của Hoa Kỳ trong lúc chính quyên bị sa lầy trong những cuộc tranh cãi nội bộ về việc đe dọa nào là ưu tiên. Thí dụ, trước Thế Chiến II Hoa Kỳ có hai địch thủ, Đức Quốc Xã và Liên bang Sô-viết. Người Mỹ đã tranh cãi tới lui mãi về việc ai là kẻ thù thực sự. Nếu Hoa Kỳ có bốn kẻ thù thì sẽ hoàn toàn mất hướng.

Phân tích tình hình năm 2016, Jin kết luận rằng lúc đó Hoa Kỳ chỉ có ba kẻ thù: Khủng bố dứt khoát là một kẻ thù của Mỹ, Nga có vẻ là một kẻ thù khác nữa. Chắc chắn, Hoa Kỳ đối xử với chúng ta như một đối tượng cạnh tranh… Như vậy chưa đủ.

Ông giáo sư nói rằng trong vài năm trước đây, đảng Cộng sản Tàu đã cố phát triển Brazil để trở thành một đối thủ của Hoa Kỳ, nhưng đã không thành công vì nước này “đã không muốn được cải thiện.” Ông ta bảo rằng đảng Cộng sản Tàu đã bơm rất nhiều đầu tư vào Brazil với mục đích có được sự ủng hộ của nước này về những vấn đề toàn cầu, trong đó có việc chọn lập trường chống đối Hoa Kỳ.

Tập Cận Bình đã tới thăm Brazil vào năm 2014 và đồng ý đầu tư để phát triển hạ tầng cơ sở tại vùng phía tây nước này, cũng như thiết lập một đường hỏa xa nối liền những hải cảng ở Brazil và Peru.

Jin cho biết Trung cộng đã hủy bỏ giải pháp này và đang cố gắng tìm một ứng viên khác để phát triển thành… kẻ thù của Hoa Kỳ!

4. Tạo ra những vấn đề quốc tế cho Hoa Kỳ

Jin nói rằng Trung cộng ở trong tư thế có lợi về chiến lược nhờ vai trò “sen đầm quốc tế” của Mỹ: bất cứ nơi nào trên thế giới có một cuộc khủng hoảng, Hoa Kỳ sẽ can thiệp dể duy trì sự ổn định toàn cầu, và việc ấy sẽ làm hao mòn tài nguyên của Hoa Kỳ và xao lãng sự canh chừng khỏi Trung cộng.

Thí dụ, chiến tranh tại Afghanistan và Iraq, mà Jin nhận định là “hoàn toàn vô giá trị về chiến lược đã làm Hoa Kỳ hao tổn 6 ngàn tỉ đô-la và 10 ngàn mạng quân sĩ.”

Jin nhận định rằng kết quả là Hoa Kỳ đã “mất mười năm xao lãng, không hay biết sự phát triển của nước Tàu, và đã để nước Tàu trở nên lớn mạnh.”

Jin còn nói thêm vài thí dụ nữa và nói về bốn phương cách làm cho chế độ cộng sản tại nước Tàu trở nên vững mạnh:

1.     Đánh cắp kỹ thuật của Hoa Kỳ.

2.     Bành trướng lãnh thổ của chế  độ.

3.     Xây dựng ảnh hưởng tòan cầu bằng những dự án khổng lồ.

4.     Tạo ảnh hưởng lên những tổ chức quốc tế.

Trong suốt bài nói, Jin Canrong đã nhấn mạnh rằng Tập Cận Bình không giống như các lãnh tụ Cộng sản Tàu tiền nhiệm trong tham vọng của ông ta. Các người lãnh đạo đảng Cộng sản Tàu, như Đặng Tiểu Bình, Giang Trạch Dân, và Hồ Diệu Bang đã làm việc hăng say để phát triển quyền lực của chế độ nhưng lại không dám sử dụng quyền lực ấy.

Jin lý luận: “Bất kể một người nắm trong tay bao nhiêu quyền lực, điều ấy cũng chẳng có nghĩa lý gì nếu người đó không dám dùng quyền lực ấy. Chủ tịch Tập dám sử dụng nó. Thẩm quyền của ông có lực, dám sử dụng lực ấy, và tất cả lực ấy tấn công sẽ làm phía đối phương đổ máu.”

Khi Tập Cận Bình lên nắm quyền vào năm 2012, ông ta thúc đẩy nước Tàu thực hiện “Giấc mơ Trung quốc”. Điều này có nghĩa là trở nên thịnh vượng tương đối vào năm 2021, và rồi một “quốc gia hùng mạnh, dân chủ, văn minh, hài hòa, và xã hội chủ nghĩa tân tiến” vào năm 2049.

Giáo sư Jin Canrong bảo thế và giải thích rằng mục tiêu của Tập Cận Bình thực ra là thay thế Hoa Kỳ trong vị trí siêu cường số một trên thế giới.

Xin hỏi nhà tiên tri Canrong có cần thêm điều kiện là Donald Trump không ra tái ứng cử, và nếu lại ra lần nữa thì sẽ không đắc cử vào năm 2024?

Ký Thiệt (Tạp chí Đời Nay 2/4/2021)

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Đoạn Trường Tháng Tư Đen: Thảm Sát Tù Binh Giờ Thứ 25.

Đoạn Trường Tháng Tư Đen: Thảm Sát Tù Binh Giờ Thứ 25

(theo lời kể của Mũ Nâu Thiên Lôi)

Trong lịch sử chiến tranh thế giới từ năm 1948, chưa nghe nói một quân đội nào thảm sát tù binh trên chiến trường cả. Vậy mà cái gọi là quân đội nhân dân của bọn Việt cộng, đã ra tay làm điều phi công ước quốc tế và phi nhân tính như thế.

Kính lạy linh hồn các Anh. 12 người Lính Biệt Động Quân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, thuộc Tiểu Đoàn 38 BĐQ. Chúng tôi biết viết lại điều này, có thể làm cho thân nhân của các anh, sống lại nỗi buồn đau.

Nhưng không thể nào để cho bọn vô nhân tính Việt cộng, phủi tay với tội ác mà chúng nó đã gây ra.

Liên Đoàn 32 Biệt Động Quân, được lịnh bỏ Bình Long, về trấn thủ Gò Dầu Hạ Tây Ninh, làm vòng đai bảo vệ Thủ Đô từ xa. Liên Đoàn gồm có 3 tiểu đoàn và một đại đội Trinh Sát. Các Tiểu Đoàn vẫn hoạt động bình thường, và chận đứng những đợt tấn công của cộng quân. Thì đùng một cái, nhận được lịnh bỏ súng đầu hàng ngày 30/4/1975 từ Ông Liên Đoàn Trưởng.

Hai tiểu đoàn 30 và 33 tuân lệnh thượng cấp. Nhưng riêng với tiểu đoàn 38 BĐQ, thì bất tuân thượng lệnh (với quân đội, bất tuân thượng lệnh sẽ bị đưa ra tòa án quân sự, kỷ luật là sức mạnh của quân đội, xin nhớ cho)

Tiểu Đoàn Trưởng 38 BĐQ là Thiếu Tá Trần Đình Tự. Một người Bắc di cư từ năm 1954 lúc tuổi đời còn nhỏ. Ông tham gia quân đội và tung hoành trên nhiều mặt trận, đã từng bị cộng sản bắt làm tù binh một lần. Ông tập họp tiểu đoàn lại và nói: “Tổng Thống đã ra lịnh đầu hàng, anh em có quyền chọn lựa. Ai muốn về với gia đình thì cứ ra đi.Riêng tôi sẽ không tuân lệnh đầu hàng. Ai đi với tôi thì ở lại.”

Cuộc chia tay nhiều ngậm ngùi và vội vã. 90 người đi theo vị Tiểu Đoàn Trưởng này.

Họ tiến về Bộ Chỉ huy Biệt Động Quân từ Gò Dầu Hạ. Vừa đi vừa đánh. Đến Ấp Trung Lập Hạ, Củ Chi thì còn lại đúng 13 người gồm cả vị TIểu Đoàn Trưởng. Tại đây họ lại đụng với một lực lượng du kích có lẫn chính quy.

Đến 4 giờ ngày 30/4/1975 thì những anh hùng Mũ Nâu này hết đạn. Cộng quân tràn lên bắt sống họ.

Diễn tiến vụ thảm sát:

Thằng chỉ huy cộng quân, dí súng vào đầu Thiếu Tá Tự, ra lịnh cho ông phải tháo cặp lon Thiếu Tá trên cố áo xuống. Ông từ chối, viện dẫn luật tù binh của Liên Hiệp Quốc.

Thằng Việt cộng gào lên chửi bới những lời thô tục và mất dạy.

“Chúng mày là ngụy, là tay sai giặc Mỹ, là bọn ác ôn, ăn gan uống máu nhân dân, tao ra lịnh cho mày phải cởi hết quần áo ra, nằm úp mặt xuống đất. Cãi lịnh tao bắn. Tổng Thống của tụi mày đã đầu hàng, nghe rõ chưa?”

Thiếu Tá Tự trả lời nó: “Ai đầu hàng chứ tao thì không. Tao không cởi, mày muốn giết thì giết đi.”

Thằng Việt cộng mắt long lên sòng sọc, nó rút lưỡi lê bên hông của Ông Thiếu Tá và đâm vào bụng Ông ấy, nó rọc xuống một đường.

Ông Thiếu Tá đổ người xuống, nó rút K54 và bắn vô đầu Ông.

Dũng Tướng Về Trời.

Thằng Việt cộng ra lịnh đem xác Ông ra phía sau ngôi trường và vất ở đó, sau đó nó ra lịnh dẫn 12 người Lính Biệt Động Quân còn lại đem ra đó xử bắn luôn.

Xác những người Anh Hùng nằm chồng chất lên nhau.

Họ đã đền xong Nợ Nước.

Ba ngày sau, người nhà của ông Thiếu Tá nghe tin và tìm lên Củ Chi lấy xác ông ấy về mai táng.

Riêng 11 thân xác của các chiến hữu của Ông phải đến mấy mươi năm sau mới được cải táng.

Nhờ vào tấm lòng của tất cả đồng bào trong và ngoài nước, cùng các chiến hữu của Binh Chủng Biệt Động Quân. Người Lính mang máy truyền tin cho Ông Thiếu Tá là Binh Nhất Đức Trọc, nhờ giả chết mà còn sống sót. Người dân ở đó đã che giấu và giúp đỡ Anh ấy trốn về Sài Gòn.

Tội ác này không được lãng quên.

Dù ai có nói ta điên

Còn sống ngày nào ta cũng nhắc đi nhắc lại

Để thế hệ đời sau rõ mặt quân thù.

Theo lời kể của Mũ Nâu Thiên Lôi (dongsongcu.wordpress.com)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Thơ Tứ Tuyệt Xướng Họa : Thăm Hỏi

Xướng: THĂM HỎI

Đã lâu nhớ quá nói sao vừa !
Covid thuốc ngừa đã chích chưa ?
Cơm nguội còn nhơi hay đã bỏ ?
Vẫn còn có chỗ đứng như xưa ?

Cóc Chát

vaccine-we-can-do-sticker

Các Hồi Đáp:

1.- TRẢ LỜI

Thưa rằng nhớ lắm nói sao vừa
Hai mũi chích rồi yên chí chưa?
Cơm nguội nóng gì cũng ráng sực
Dù ngồi  hay đứng chẳng như xưa.

CX

2.- ????

Giờ đây chẳng biết có còn vừa
Ngọn lửa năm nao tắt thật chưa
Ngồi ngắm hoa xuân trong nắng ấm
Bâng khuâng lại nhớ một thời xưa

CCR

3.- VẪN NHƯ XƯA

Covid rằng mi ác chẳng vừa
Phòng thân đã chích tại sao chưa
Cơm nhà vẫn vậy ăn ngon bữa
Rượu uống cầm chừng khác lúc xưa

ĐNN

4.- DẤU XƯA

Hỏi bạn bao nhiêu mới thấy vừa
Tiêm rồi chích nữa khỏi hay chưa
Nếu mà còn nước minh còn tát
Dù biết dễ gì giống thuở xưa ./-

TQN.

5.- AN TÂM

Hai mũi tớ đây cũng mới vừa
không biết giờ nầy vững hay chưa ?
Nhưng mà cảm thấy an tâm lắm
Nóng nguội cứ nhơi giống thuở xưa

CH

6.-THÁCH ĐỐ

Giận con covid nói sao vừa
Đại dịch tràn lan mầy biết chưa
Hai mũi vaccine tau mới chích
Bây giờ sức khỏe lại  như xưa

CN-NCV

 7.- NHỚ BẠN XƯA

 Lưng chén cơm, canh bụng đã vừa
Thân già như tuổi,lú thì chưa
Ngày qua tâm tưởng chừng khơi lại
Cánh cánh nỗi niềm nhớ bạn xưa

CÓC BIỂN

8.-   TRỞ LẠI XƯA

Covid nay đang giảm mức vừa
Bạn đà tiêm chủng vacime chưa ?
Làm theo khuyến cáo ngành y tế
Hết dịch sum vầy trở lại xưa.

CB

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Giải Trí Một Chút (Sưu tầm không rỏ tác giả)

Đặt tên cho con 

images1900868_buc_anh_cu_ba_dep_nhat_the_gioi_tinnhanhplusSố là tui có một cô bạn gái người gốc Bắc kỳ 9 nút, cô ta được Cha Mẹ đặt cho một cái tên cúng cơm rất đẹp, Đái thị Xinh Xinh, (bên nội của cô ta chính là họ hàng của nhà thơ Đái Đức Tuấn). Ấy thế mà cô ta có được yên thân với lũ quỷ bạn học cùng lớp đâu. Cô ta rất đau khổ vì cái tên Đái thị  Xinh Xinh của mình trong suốt những năm tiểu học. Ngày nào cũng bị các bạn đem cái tên của cô ta ra trêu cợt để làm trò đùa, như là con Đái nầy, con Đái nọ, Đái mà xinh cái gì, con nhỏ nầy khai quá!…vv…

Bẳng đi một thời gian, sau năm 1975, đám nhóc tì tụi tui năm xưa tình cờ gặp lại nhau tại Cali ở tuổi thất tuần, trong số nầy cũng có mặt vợ chồng cô bạn học cũ, họ Đái tên Xinh Xinh năm xưa. Hôm gặp nhau, bạn bè ai cũng vui vẻ giành nhau nhắc lại chuyện cũ, và đương nhiên phải có câu chuyện cô bạn họ Đái năm xưa … Thiệt là “chạy Trời không khỏi nắng”, cô ta vừa cười, vừa thở, vừa than, rằng… Cái số của Xinh nó không Xinh chút nào, các bạn có biết không, sau khi được chồng bảo lãnh sang Mỹ đoàn tụ, sau đó mình thì đậu vô quốc tịch, họ cho mình được đổi tên. Mình tính không đổi, nhưng tên của mình người Mỹ họ không phát âm nghe không rõ, cho nên mình quyết định thay tên XINH XINH thành một tên Mỹ, tên Cindy, và từ đó mình bắt đầu có tên mới, tên CINDY ĐÁI. Có một lần ngồi chờ nhận Vali bị lạc tại phi trường, họ kêu tên mình mãi mà nào mình có hay biết chi !!!

– Có ai Xin Đi Đái không? Ai là Xin Đi Đái???

Thiệt là “Quỷ tha ma bắt” cho mình, ở trong xứ đã khổ vì cái họ Đái, cho đến nửa thế kỷ sau, ra nước ngoài ngỡ rằng sau khi đổi tên sẽ được yên thân, ai dè lại phải gặp thêm cái nạn tên họ lần nữa…

 XIN ĐI ĐÁI (CINDY Đái, người Mỹ gốc Mít)

(Ghi lại theo lời kể của chị Đái thị Xinh Xinh, tự Cindy Đái, một “nạn nhơn” của cái vụ đặt tên họ)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Giai thoại về tác giả nhạc phẩm Làng Tôi

Giai Thoại Về
TÁC GIẢ Nhạc Phẩm LÀNG TÔI

Tác Giả: Phan Văn Thanh, CHS Văn Đức Lớp 12C Niên Khóa 1972 – 1975

Làng tôi có cây đa cao ngất từng xanh
Có sông sâu lờ lững vờn quanh êm xuôi về Nam …
Làng tôi bao mái tranh san sát kề nhau
Bóng tre ru bên mấy hàng cau đồng quê mơ màng!

Năm ấy, đoàn hát Kim Chung lần đầu tiên có kế hoạch thực hiện bộ phim nhựa có tiếng nói (âm thanh). Để cho bộ phim thêm phần hấp dẫn, trang trọng và gây ấn tượng với công chúng trong buổi chiếu ra mắt, toàn bộ êkíp điều hành, bầu sô, đạo diễn … đồng ý việc tổ chức một cuộc thi sáng tác bài hát làm nền cho phim với giải thưởng lớn cho tác phẩm được chọn. Đây cũng là bộ phim nhựa có âm thanh đầu tiên của ngành điện ảnh Việt Nam vào thời ấy. (1952)

Cuộc thi được tổ chức rộng rãi trong công chúng, không phân biệt tuổi tác, chuyên nghiệp hay nghiệp dư…đã có nhiều nhạc sĩ tên tuổi cùng một số những người mới thành danh trong làng ca nhạc giải trí thời đó tham gia. Đề tài sáng tác là quê hương và con người Việt Nam.

Sau nhiều lần chọn lựa rất công bằng và vô tư, ban giám khảo đã mất khá nhiều thời gian bàn bạc, nhận xét rồi cân nhắc để đưa ra một sự chọn lựa chính xác, dù biết đó là một quyết định rất khó khăn. Cuối cùng, Ban tổ chức đã công bố, tác phẩm được chọn để trao giải là bài hát “Làng Tôi” của một tác giả vô danh tiểu tốt, cái tên nghe chừng như rất xa lạ trong làng ca nhạc Việt thời ấy đó chính là nhạc sĩ Chung Quân.

Bản nhạc Làng Tôi được chọn vì nó mang hơi thở của một vùng quê yên bình, lời lẽ cũng mộc mạc, dung dị thấm đẫm tình cảm của người dân Việt Nam, cho dù năm đó tác giả bài Làng Quê mới chỉ vừa 16 tuổi. Nhạc phẩm Làng Quê và cái tên Chung Quân ra đời từ dạo ấy. Nhờ giai điệu du dương, thắm thiết tình người tình quê của Làng Tôi cứ mãi bay xa mà cái tên nhạc sĩ Chung Quân trở nên nổi tiếng và đi vào lòng người.

Nhiều nhạc sĩ tên tuổi và giới văn nghệ thời đó có hơi ngỡ ngàng, nhưng mọi người đều công nhận bản nhạc “Làng Tôi” xứng đáng được nhận giải thưởng vinh dự đó.

Quê tôi chìm chân trời mờ sương
Quê tôi là bao nguồn yêu thương
Quê tôi là bao nhớ nhung se buồn
Là bao vấn vương tâm hồn … người bốn phương.

Bản Làng tôi đã giành được giải của công ty điện ảnh, đoàn cải lương Kim Chung ở Hà Nội để làm bản nhạc nền cho phim Kiếp Hoa.

Hành trình về phương Nam

Thế rồi, thế sự đổi thay theo mệnh nước nổi trôi. Năm 1954, Chung Quân cùng gia đình di cư vào Nam, định cư ở vùng Khánh Hội (Sai! Vĩnh Hội mới đúng. Ông ở sau Hãng Phân Thần Nông, mà lối vào là Hẻm Ogliastro cạnh Hãng Phân này. Tôi biết rõ vì tôi ở cách nhà ông khoảng 30 mét-TTG). Nhờ đã từng học sư phạm chuyên ngành về nhạc và danh tiếng của Làng Tôi, Chung Quân được Bộ Quốc gia Giáo dục của Đệ Nhất Cộng Hòa ưu đãi, cho dạy môn nhạc tại hai trường trung học Chu Văn An, và Nguyễn Trãi. Thời gian giảng dạy ở trường Nguyễn Trãi, Chung Quân là thầy dạy nhạc của nhiều nhạc sĩ nổi tiếng sau này như Ngô Thụy Miên, Vũ Thành An, Đức Huy, Nam Lộc… Cũng khoảng thời gian 1955 – 1956, ông có soạn bản hợp xướng Sông Bến Hải, theo một vài ý kiến thì đó là một trường ca có giá trị nghệ thuật, viết về cuộc di cư năm 1954, nhưng về sau không thấy phổ biến rộng rãi.

Trường Nguyễn Trãi năm ấy có cậu học trò nghèo nên buổi trưa thường không về nhà mà nghỉ lại ở trường cùng bữa ăn trưa là gói xôi mà mẹ cậu đã mua cho cậu đem theo từ sáng sớm. Thay vì nghỉ trưa, cậu học trò lại tha thẩn trong trường để rồi lắng nghe được câu chuyện tranh cãi giữa hai người thầy.

Trong một căn phòng, tiếng của vị giáo sư Hà Đạo Hạnh (cử nhân toán) đang ầm ĩ nói với nhạc sĩ Chung Quân

– Trình độ học vấn của anh chỉ đáng là học trò của tôi thôi. Việc anh được dạy chung với những giáo sư như chúng tôi là một vinh dự cho anh, anh có biết điều đó không?

– Nhưng thưa giáo sư, nếu hỏi công chúng có biết nhạc sĩ Chung Quân là ai không? Thì chắc chắn nhiều người biết đó là tác giả của bản nhạc Làng Tôi. Còn như hỏi họ, có biết giáo sư Hà Đạo Hạnh là ai không? Tôi tin người ta không mấy người biết.

Câu chuyện đang đến hồi hấp dẫn, và cậu học trò cố áp sát tai để chờ nghe tiếp xem Giáo sư Hà Đạo hạnh trả lời ra sao, bỗng từ phía sau, một bàn tay lạnh lùng của thầy giám thị véo vào tai cậu học trò kéo đi chỗ khác! Và vì thế mà câu chuyện đành dở dang ở đây.

Rồi thời gian trôi qua, tưởng mọi chuyện đã rơi vào quên lãng. Nhưng không, nhạc sĩ Chung Quân đã không chịu bỏ qua dễ dàng như vậy, ông nhất định phải đòi lại món nợ danh dự này. Không công danh thà nát với cỏ cây.

Nhạc sĩ Chung Quân sau đó đã quyết chí tiếp tục con đường kinh sử, ông ghi danh theo học và hoàn thành tú tài toàn phần, sau đó, ông lại tiếp tục việc học để đạt cho kỳ được mảnh bằng Đại học. Cuối cùng, ông đã tốt nghiệp cử nhân văn chương tại Anh quốc.

Đã mang tiếng đứng trong trời đất
Phải có danh gì với núi sông

Nhớ lại câu chuyện ngày xưa, nhạc sĩ Chung Quân sao chép tất cả văn bằng mà mình có được gửi về cho giáo sư Hà Đạo Hạnh kèm theo lời nhắc nhở rất nhẹ nhàng lịch sự.

Thưa giáo sư Hà Đạo Hạnh, tất cả những gì mà giáo sư làm được thì Chung Quân tôi cũng đã làm được. Còn những gì Chung Quân tôi làm được thì giáo sư đã không làm được.

Viết tới đây tôi bỗng nhớ tới bài thơ của cụ Nguyễn Công Trứ có đoạn như sau:

Đã hẳn rằng ai nhục ai vinh
Mấy kẻ biết anh hùng khi vị ngộ
Cũng có lúc mưa dồn sóng vỗ
Quyết ra tay buồm lái với cuồng phong
Chí những toan xẻ núi lấp sông
Làm lên tiếng phi thường đâu đấy tỏ …

Nhạc sĩ Chung Quân đã đòi lại món nợ danh dự năm xưa một cách sòng phẳng bằng ý chí và lòng kiến nhẫn của chính ông. Rất lịch sự, tế nhị mà cũng rất quân tử. Không ồn ào, không gióng trống khua chiêng làm người khác phải ngượng ngùng, mất thể diện. Quả thật, chẳng ai biết trước được chuyện gì xảy ra trong cuộc đời.

Cậu học trò nghe lén câu chuyện ngày xưa sau này cũng theo cái nghề “gõ đầu trẻ”. Ông dạy Trung học đệ nhị cấp (cấp 3) ở miệt dưới tận tỉnh Bạc Liêu. Ngoài công việc dạy học, ông còn làm thêm nghề tay trái là viết báo, viết văn với bút hiệu Thái Phương. Sau biến cố 1975, ông nghỉ dạy và chuyển hẳn sang viết báo. Hiện nay, độc giả biết nhiều đến ông với bút danh nhà văn Đoàn Dự.

Đã có lần, nhà văn Đoàn Dự gặp lại thầy cũ là giáo sư Hà Đạo Hạnh và ông có hỏi vị giáo sư:

– Thưa Thầy, sao ngày đó thầy lại nặng lời với Nhạc sĩ Chung Quân thế ạ!
– Hồi ấy tôi có hơi nóng nảy nên đã quá lời

Mọi chuyện rồi cũng qua đi, người xưa giờ cũng đã trở về cùng cát bụi, nhưng câu chuyện thì sẽ còn mãi như một bài học, một tấm gương về cách đối nhân xử thế của người xưa vậy./.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bạn nghĩ gì về bài viết này?