Về đây bên nhau

Mặc dù con hai tiếng đồng hồ nữa mới tới giờ khai mạc Tiền Hội Ngộ nhưng đã có một số anh chi em cóa mặt rồi. Phó nhòm Vỏ Thiệu vừa gởi cho CNN sơ khởi mấy tấm hình để post lên CNN cho các bạn xem. Cám ơn Vỏ Thiệu và chúc các bãn nhiều sức khỏe và vui vẻ.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Video Người Lính Già Xa Quê Hương_ Lê Quang Phú

Còn một ngày nữa là đến ngày Hội Ngộ Khóa 1 hè 2019 tại Nam California. Mời các bạn thưởng thức lại bài ca “Người Lính Già Xa quê Hương” được K1 Lê Quang Phú trình bày trong lần hội Hội Ngộ K1 tai San Jose năm 2017. Lần nầy vợ chồng con gà tre không có mặt , nhưng tiếng hát của bạn LQP vẫn luôn luôn phục vụ góp vui cùng các bạn trên CNN nầy.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Báo cáo sơ khởi về Hội Ngộ K1-2019

CNN vừa nhận được báo cáo của TK1 như sau:

Báo cáo của Trưởng K1:

Chỉ còn 4 ngày nữa sẽ đến ngày Tiền Hội Ngộ K1 (24/5/2019) tại Nam Cali, và ngày hôm sau (25/5) sẽ là ngày Hội Ngộ chính thức. Xin nhắc lại để các bạn rõ:

–  Buổi Tiền Hội Ngộ K1 sẽ diễn ra tại nhà K1 Cẩm Y, số 535 N. Harcourt, Anaheim, CA 92801, bắt đầu từ 4 PM ngày 24/5/2019.

–  Ngày Hội Ngộ 25/5 sẽ diễn ra từ 10 AM tại nhà hàng Golden Sea, số 9802 W. Katella Ave. Suite 122, Anaheim, CA 92804

–  Buổi Tiền Hội Ngộ chỉ là dịp để bạn bè K1 gặp nhau, ăn uống, trò chuyện, tâm tình,… nên không có nghi thức gì cả.

–  Trong Ngày Hội Ngộ sẽ có nghi thức khai mạc & tưởng niệm các bạn đã khuất, chụp hình lưu niệm, đồng thời có phát biểu (ngắn) của NT TM Công, GS Canh, vài thân hữu khóa bạn và các K1 cùng với chương trình văn nghệ cây nhà lá vườn có sự tăng cường của Ban Văn Nghệ Hội CSQG Nam CA.

–  Cho đến hôm nay, mọi sự chuẩn bị cho 2 Ngày Hội Ngộ K1, BTC đã sẵn sàng để chào đón các bạn.

–  So với những lần Hội Ngộ trước, số K1 tham dự lần này không đông (chỉ có 78 bạn và gia đình) vì kể từ sau lần họp mặt ở San Jose tháng 9 năm 2017 đến nay đã có thêm nhiều K1 ra đi (trên 10 bạn); một số khác vì lý do tuổi già và sức khỏe đã không đến được nhưng các bạn vẫn gởi điện thư chúc mừng và check ủng hộ BTC (cám ơn các bạn).

Vài hàng báo cáo sơ khởi đến các bạn và hẹn gặp.

Thân mến,

TM. BTC: NHỮ ĐÌNH TOÁN

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Tản mạn về người Sài Gòn_Ng~ Thị Hậu

Trong những lúc “trà dư tửu hậu” hay “ngồi đồng” ở quán cà phê vỉa hè Sài Gòn, chúng tôi nói đủ chuyện: từ chuyện lịch sử tới tin tức xã hội, từ văn hóa tới kinh tế… Nói gì thì cuối cùng vẫn quay về chuyện CON NGƯỜI – cái gốc của mọi chuyện. Bởi vì xã hội nào tạo nên con người ấy, con người nào phản ánh xã hội ấy.

Những người bạn của tôi, và cả tôi nữa, hầu hết đã sống ở Sài Gòn trên dưới 40 năm, từ nhiều vùng miền nhiều tỉnh thành, do những hoàn cảnh khác nhau mà đến/ vào/ về Sài Gòn sinh sống. Có thể coi chúng tôi là “người nhập cư” vì cha mẹ không sinh sống ở Sài Gòn và chúng tôi không sinh ra tại đây, nhưng cũng có thể coi là “người Sài Gòn” bởi vì chúng tôi đã trưởng thành, lập gia đình, làm việc cho đến lúc nghỉ hưu, thậm chí có lẽ “nhắm mắt xuôi tay” cũng ở đây. Nhưng thế hệ con cái chúng tôi được sinh ra và lớn lên tại Sài Gòn, mặc dù quê quán ghi trên Chứng minh nhân dân ở đâu thì chúng vẫn tự nhận là “người Sài Gòn chánh hiệu”. Tất nhiên, nếu coi hộ khẩu là điều kiện tiên quyết thì chúng tôi phải được coi là người Sài Gòn “xịn”.

túi bạc Sài Gòn

Ở Sài Gòn khái niệm “người nhập cư” thường được sử dụng trong cơ quan công quyền để phân biệt người có hộ khẩu và người không/ chưa có hộ khẩu ở Sài Gòn, nhằm mục đích “quản lý hành chánh”. Giới nghiên cứu hay gắn khái niệm này với loại hình “kinh tế phi chính thức” trong việc nghiên cứu hoạt động kinh tế của đô thị Sài Gòn – TP.HCM. Còn trong đời sống hàng ngày hầu như người Sài Gòn ít sử dụng cách nói “người nhập cư” hay “dân nhà quê”, “dân tỉnh” mặc dù ở miền Tây Nam bộ hay gọi người Sài Gòn là “người thành phố”, đi Sài Gòn là “lên thành phố”. Vậy thì tôi, vừa với tư cách là “người nhập cư” vừa là “người Sài Gòn” có thể biết gì, hiểu gì về Người Sài Gòn? Có thể bắt đầu từ vài nhận biết có phần rời rạc sau đây chăng?

Đầu tiên, “người Sài Gòn” là sự hòa nhập về văn hóa (tính cách, lối sống, ngôn ngữ, tín ngưỡng, ẩm thực, trang phục…) của người Việt, người Hoa và những tộc người “bản địa”. Người ta cứ quen nói rằng “Sài Gòn 300 năm” nhưng đó chỉ là nói về thời kỳ thiết lập nền hành chính của Chúa Nguyễn từ 1698 mà quên mất/ chưa biết Sài Gòn còn có quá khứ hơn 3000 năm của văn minh Đồng Nai – Cửu Long. Văn minh ấy do những tộc người khác “Việt” dựng nên. Rồi từ thế kỷ XVI – XVII, người Việt, người Hoa đã dấn bước vào vùng đất này, từ đó Sài Gòn, Nam bộ có thêm lớp chủ nhân mới. Cùng với người Khmer, người Mạ, người Chăm… sự hòa nhập truyền thống, văn hóa của tất cả những chủ nhân đã tạo nên Sài Gòn và người Sài Gòn mới mẻ, năng động và chân tình.

Khi nói đến người Việt người ta hay nói đến truyền thống lịch sử lâu đời và hào hùng, bốn ngàn năm văn hiến, văn minh sông Hồng, con rồng cháu tiên, những triều đại nổi tiếng chiến thắng ngoại xâm… Còn khi nói đến người Việt (ở) Nam bộ thì đầu tiên là kể về điều kiện tự nhiên thuận lợi của đồng bằng sông Cửu Long: vùng đất được thiên nhiên ưu đãi, đất rộng người thưa, ít bị thiên tai như bão lụt hạn hán… Sau mới nói về nguồn gốc “lưu dân” và 300 năm hình thành. Nghiên cứu gia phả nhiều dòng họ, gia đình ở Nam bộ phần lớn được ghi nhận “thời ông cố ông sơ” từ miền Trung đi ghe theo biển vô Nam, đầu tiên định cư trên những giồng đất vùng cửa sông… rồi từ đó ngược các nhánh Cửu Long vào sâu vùng ngập trũng, khai phá đồng bằng và khai thác tự nhiên. Công cuộc khai phá này chẳng hề dễ dàng thuận lợi chút nào! Do đó tính thực tiễn được đặt lên hàng đầu: tất cả hướng đến thực tế, không lý thuyết suông, không giáo điều, lấy hiệu quả lao động làm mục đích chính. Không hay than vãn, người Nam bộ bình thản “làm chơi ăn thiệt”. Đây chỉ là một cách nói đơn giản hóa, “coi vậy mà hổng phải vậy”, coi khó khăn đã qua như một việc chơi chơi, còn kết quả thực sự mới là quan trọng, là đã “có ăn”.

Người Sài Gòn/ Nam bộ di chuyển càng xa cái “gốc” đồng bằng sông Hồng thì sợi dây truyền thống càng dãn ra. Những tính chất của không gian “nông thôn làng xã” khép kín biến đổi theo thời gian, bị/ được đứt gãy do phải thích ứng với không gian địa – xã hội khác. Thay vào đó là sự tự lập và tính linh hoạt ứng phó với hoàn cảnh điều kiện mới và từ đó tạo ra truyền thống mới, dám thay đổi cho phù hợp hoàn cảnh, thích nghi nhanh, chịu đổi mới “làm đại nghen? Ừa, làm đại đi” là phong cách làm ăn Sài Gòn/ Nam bộ. Làm đi, có sai cũng không sao, làm lại/ sửa sai mấy hồi! Quan trọng là không mặc cảm sợ sai và sửa sai nhanh.

Ở Sài Gòn/ Nam bộ “dư luận xã hội” không nặng nề khe khắt với những điều khác lạ, cái mới. Là bởi người Việt trên bước đường lưu chuyển vào đây đã trải nghiệm qua những vùng đất toàn những điều mới lạ. Cùng với sự nhạt đi của tính chất phong kiến gia trưởng, việc tiếp xúc sớm với các giá trị dân chủ, bình đẳng của văn minh phương Tây làm cho người Sài Gòn khá cởi mở và trong các mối quan hệ xã hội và trong gia đình. Tính chất dân chủ trong xã hội phát triển nhanh, biểu hiện ở chỗ cá nhân ít lệ thuộc, phụ thuộc vào cộng đồng và vì thế vai trò và trách nhiệm cá nhân cao “dám làm dám chịu”.

“Làm chơi ăn thiệt”, “làm đại”, “dám làm dám chịu”… sự liên kết gắn bó, hòa trộn ba đặc điểm trên tạo nên người Sài Gòn/ Nam bộ. “3 trong 1” từ ứng xử đến làm ăn, trong sinh hoạt… không tách rời một đặc điểm nào, hình thành tính cách và làm nên hiệu quả của “công chuyện làm ăn” của người Sài Gòn.

Nói về Nam bộ thì không có hay ít có sự phân biệt văn hóa và người Nam bộ nói chung với văn hóa và người Sài Gòn nói riêng (có chăng có thể phân biệt chút ít giữa Đông và Tây Nam bộ). Nếu không quá khắt khe có thể coi người/văn hóa Sài Gòn là đại diện cho người/ văn hóa Nam bộ, từ giọng nói, ngôn ngữ, ẩm thực, tính cách, làm ăn… Có lẽ vì vậy mà ở Sài Gòn khi cần thì hỏi nhau “quê đâu” mà không hề có ý phân biệt người “nhà quê” hay “thành phố”. Giai đoạn đương đại, quá trình dân cư của Sài Gòn cũng khác với nhiều đô thị khác: Thời kỳ chiến tranh Sài Gòn là nơi mà nhiều người từ các tỉnh miền Trung đổ vào, từ miền Tây Nam bộ lên, nhất là khi chiến sự ác liệt. Sau năm 1975 Sài Gòn cũng là nơi có tình trạng thay thế dân cư lớn nhất và kéo dài cho đến nay: Người (thị dân) Sài Gòn ra đi bằng nhiều con đường, lúc ồ ạt khi chẳng mấy ồn ào; Người các tỉnh lại liên tục đổ vào Sài Gòn tới nay chưa hề giảm bớt. Còn Hà Nội trong chiến tranh dân cư rời bỏ thành phố đi về (tản cư, sơ tán) nông thôn, sau chiến tranh mới trở lại thành phố. Tuy nhiên Hà Nội và Sài Gòn cũng có một số điểm giống nhau: 1/ Sau khi chiến tranh chấm dứt khá nhiều người Hà Nội “gốc” và Sài Gòn “xịn” đã rời thành phố đi nơi khác sinh sống, tạo ra khoảng trống trong cơ cấu dân cư là tầng lớp thị dân lâu đời; 2/ Chính quyền thiết lập sau chiến tranh (Hà Nội 1954 và Sài Gòn 1975) đều do (hầu hết) những người (kháng chiến) ở nông thôn, rừng núi trở về lãnh đạo, tổ chức chính quyền chưa kịp thích nghi với những đô thị lớn nhất nước và 3/ hiện nay hai thành phố này có số lượng người nhập cư nhiều nhất. Những đặc điểm này để lại cho Hà Nội và Sài Gòn nhiều khó khăn trong việc xây dựng đô thị văn minh hiện đại.

Nhưng, ai đã vô Sài Gòn làm ăn sinh sống, chắc chắn trở thành “người Sài Gòn”, bởi Sài Gòn phóng khoáng và rộng rãi mang lại cơ hội cho mọi người, bởi Sài Gòn không tự coi mình là đặc biệt khi đang sống bằng nguồn lực của chính mình và của những người đến từ mọi miền, đồng thời Sài Gòn cũng luôn chia sẻ, đóng góp những gì mình có cho cả nước.

Là kẻ hậu sinh trong việc nghiên cứu về văn hóa Sài Gòn/ Nam bộ; lại chưa được coi là “người Sài Gòn chánh hiệu”, vậy mà dám “tản mạn” về Sài Gòn và người Sài Gòn, âu cũng do cái tính “làm đại” của người Sài Gòn/ Nam bộ đã nhiễm vào người. Kính mong các bậc trưởng thượng về “Sài Gòn học, Nam bộ học” lượng thứ.

Nguyễn Thị Hậu

(Nguồn: m.trithucvn.net)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Chùa xứ ta, chùa xứ người (Từ Thức)

vuonthien_nhatban01Chùa xứ ta, chùa xứ người (Từ Thức)

Qua những tiết lộ về chùa Vàng, người ta thấy khuôn mặt ghẻ lở của chùa chiền VN ngày nay. Từ đó, nhiều người có cái nhìn tiêu cực về Phật Giáo. Đúng ra, đó không phải là Phật Giáo, cũng không phải là Phật giáo VN. Đó là Phật giáo quốc doanh . Đừng nói Giáo Hội Phật Giáo VN, hãy gọi cho chính danh : Giáo Hội Phật Giáo Quốc Doanh !
Không phải ở đâu người ta cũng ‘’ hành đạo’’ một cách côn đồ, đểu cáng kiểu Thích Thanh Quyết, Thích Trúc Thái Minh.

Chùa Ba Vàng

Hãy thử viếng một ngôi chùa Nhật Bản. Chùa cực kỳ thanh tịnh, khách rơi vào một thế giới bình yên, tự nhiên quên phiền muộn, oán thù.
Chùa cực kỳ đơn giản, bởi vì Phật Giáo, trước hết là thoát khỏi sân si, cám dỗ.
Điển hình là sân nhà chùa, nhiều khi chỉ trần trụi sỏi, đá vụn ; để cái nhìn, tâm hồn của người tu hành, hay Phật tử viếng thăm, không bị chi phối bởi ngoại vật, dù một bức tượng, một cành hoa. Chỉ có mình với đá, với Phật.
Mỗi ngày, một người có tâm Phật tới cào sân đá. Đó là cả một nghệ thuật, phải học suốt đời. Cái gì ở xứ Phù Tang cũng là nghệ thuật. Một cử chỉ nhỏ là một biểu tượng. Những luống đá, sỏi trên sân chùa là một trạng thái của tâm hồn. Một hoà thượng trụ trì một hôm nhìn sân đá vừa cào, hỏi người cào sân : đệ tử có gì bất an trong lòng ? Người cào sân ứa nước mắt, thú thực có chuyện buồn trong gia đình, để nỗi bất an lộ trên những luống đá sỏi.
Người tu hành không có người hầu hạ, phải thức dậy từ 3, 4 giờ sáng để lau chùi, quét dọn và kinh kệ.
Trước khi đọc kinh phải học tập để hiểu ý nghĩa, không phải chỉ ê a cho có. Đọc kinh mỗi ngày để những lời kinh thấm vào đầu óc, thể hiện trong cách xử thế, không phải để cho Phật vui lòng. Cũng không phải cầu xin gì, ngoài việc qua Phật tìm cái thanh tịnh cho tâm hồn. Không có đồng chí thầy nào bám khách như đỉa, đòi tiền như đòi nợ, để… ”hành đạo”
Bữa ăn cực kỳ thanh đạm, không có cảnh các bà, các cô chạy lên, chạy xuống, rót rượu, quạt mát cho các thầy quốc doanh ngồi phưỡn bụng nhậu nhẹt, đưa cay với bia, với Martell đắt tiền. Bữa ăn yên tĩnh, nghe tiếng ruồi bay, bởi vì khi ăn phải suy ngẫm về ý nghĩa của sự dinh dưỡng, về thiên nhiên, về môi trường đã hiến cây quả, cơm gạo.
Trong nhiều chùa, nhà tu khi ăn để bên cạnh 9 hạt cơm. Một chú tiểu đi thu những hạt cơm đó, đem ra vườn cho chim chóc. Khi ăn, khi hưởng thụ, phải nghĩ tới vạn vật. Người tu hành không sống một mình, không sống cho mình.

Chùa chiền Nhật Bản, đôi khi cao 3 hay 5 tầng, bao giờ cũng hoà hợp với thiên nhiên, với cảnh vật chung quanh. Mỗi ngọn cây, mỗi khóm trúc, mỗi dòng suối đều có ý nghĩa, là biểu tượng cho một triết lý sống.
Người ta không vạt cả một ngọn núi, san bằng ngọn đồi để làm những ngôi chùa to tổ bố, bê tông cốt sắt, trang trí xanh, đỏ, tím vàng. Bôi bẩn, xé rách những bức tranh tuyệt vời mà thiên nhiên đã tặng cho nước Việt.
Người ta biết tôn trọng môi sinh trước khi từ ngữ đó ra đời.
Ngoài khía cạnh mỹ thuật, không xa với nghệ thuật, mỗi ngôi chùa Nhật Bản là một kỳ công kiến trúc. Ngày nay người ta hiểu tại sao một ngôi chùa 5 tầng đứng vững hàng ngàn năm, ở một xứ động đất như cơm bữa.
Chùa Nhật, trừ ngoại lệ, cất 100% bằng gỗ, vật liệu thiết kế mềm nhất, tự uốn mình khi đất rung động. Chùa không có một cây đinh, tất cả đều là gỗ lắp với nhau, khi bị lay động, những then gỗ dựa nhau, cản sức chuyển động. Mỗi tầng độc lập với nhau, không gắn liền một khối ; khi gió bão những nơi bị lạy động không kéo cả toà nhà đổ theo. Những tầng trên nhỏ hơn tầng dưới, khi đụng đất, toà nhà lắc lư, như một điệu múa của rắn, tạo quân bình. Nếu tầng dưới nghiêng về bên phải, tầng trên nghiêng bên trái. Tất cả những thành phần di động, uyển chuyển đó dựng chung quanh một cột trụ trung tâm vững chắc, để dù lay chuyển tới đâu, toàn bộ kiến trúc cũng có chỗ dựa, để đứng vững ngàn thu.
Những nguyên tắc ngàn xưa đó của chùa chiền Nhật Bản ngày nay được học hỏi, nghiên cứu để xây cất những thành phố với cao ốc đồ sộ nhưng an toàn, ở những thành phố bị đông đất thường xuyên ở Nhật .
Hy vọng không có người Nhật nào mò tới thăm viếng những động ma quỷ , gọi là chùa, người Cộng Sản dựng lên để làm giầu. Và thâm độc hơn nữa, để thực hiện chính sách ngu dân, đưa dân trở lại thời đại đồ đá với thần núi, thần đá, với vong hồn suốt ngày ra rả doạ dẫm vòi tiền.

Từ Thức

Nguồn: facebook.com/tu.thuc.39/posts/232608196101120

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Hai Con Người Hai Nhân Cách : Hai Chế Độ_Sưu tầm

Diem n HoHai Con Người – Hai Nhân Cách : Hai Chế Độ

(Quang Cầu Muối)

 Lời nói đầu: Xin thưa với các bạn, từ người trí thức đến bạn giang hồ, tôi không phải là người có học nhiều,  những gì tôi viết dưới đây, chỉ là cảm nghĩ của một con người bình thường.

Vì vậy nếu có gì không chính xác, hay bài bản thì cũng xin quý vị, niệm tình bỏ qua, tôi cố gắng sẽ không cường điệu,cố gắng dựa vào lịch sử.

 1__…Vài ngày nữa là ngày 19/5.

Cái ngày mà đảng cộng sản việt nam, sẽ  rầm rộ tổ chức ngày sinh nhật cho ông Hồ Chí Minh.

Chỉ có những nước độc tài, cộng sản, mới tổ chức ngày sinh nhật cho người chết.

Ông Hồ,  ngày tháng năm sinh, bố ai mà biết được chính xác.

Tên thật của ông ta là gì, thì cũng chẳng con mẹ nhiều chuyện nào biết rõ, ổng con ai ,cha mẹ tên gì, có thật là họ Hồ hay họ Nguyễn ,thằng nào biết rõ, tôi chết liền.

Tóm gọn lại về lý lịch của ông ta là thế.

Nếu viện dẫn lý do bảo mật cho lãnh tụ, trong thời kháng chiến, thì khi đã tột đỉnh ngai vàng rồi, cứ thẳng thắn, minh bạch ra cho toàn dân ngưỡng mộ, tội gì che dấu lung tung.

Bây giờ chỉ hỏi một câu thôi : Ông ta là Nguyễn Ái Quốc, tại sao lại là Hồ Chủ Tịch?

Đổi tên thì ok, chứ sao mà đổi luôn Họ vậy. Người việt nam không chơi cái màn này.

Vụ đổi Họ lớn nhất trong dòng lịch sử Việt Nam, xảy ra ở cuối thời Hậu Lý, khi con cháu nhà Lý, bị Trần Thủ Độ tàn sát.

Thời ông Hồ về cướp chính quyền, thế mạnh như chẻ tre, mắc mớ gì đổi họ?

Họ của cha mình sao tự nhiên chối bỏ?

Vậy có thể kết luận :

_Bất Trung, Bất Hiếu, Vô Nghì, là ông ta.

Cả một đời hy sinh tình riêng, lo cho nước non..bây giờ lòi ra con đâu mà lắm thế?

Vậy có thể nói Sở Khanh không bằng ông ta, hay nói cách khác là ổng là chuyên viên chơi chạy..

Trong khi đó…

….Người khác chiến tuyến với ông ta, thì lại khác hẳn hoàn toàn.

Người này đi không đổi họ, ngồi không đổi tên, cha mẹ ,anh chị em, sinh quán rõ ràng, tên là Ngô Đình Diệm, con ông Ngô Đình Khả. Làm quan lớn trong triều.

Đày vua không Khả, đào mả không Bài.

Nói tóm lại là, khỏi cần công an sưu tra lý lịch,tự lý lịch đã rõ ràng .

Khác nhau rõ ràng phải không, bên đen bên trắng.

2__Tâm Sanh Tướng.. 

*Cặp mắt là cửa sổ của tâm hồn.

*Nụ cười biểu lộ tâm tính thật của con người. Chỉ là nụ cười thôi nhé, không phải giọng cười .

* Cách đi đứng, nói năng, hành xử, biểu lộ nhân cách của con người.

Chỉ ba điều giản dị ở trên, chúng ta đã có được một nhận xét trung thực về tướng mạo, tâm tính, nhân cách của hai con người nổi tiếng của dòng lịch sử cận đại Việt nam..

Hai người này là ông Hồ Chí Minh và ông Ngô Đình Diệm.

Hai Chế Độ

_1954 ông Hồ và thực dân Pháp, cấu kết, thỏa thuận, chia đôi đất nước Việt Nam ra làm hai, biên giới là dòng sông Bến Hải, thuộc vĩ tuyến 17..

Miền Bắc theo chủ nghĩa cộng sản, miền Nam chọn thế giới tự do.

Trong suốt thời gian 5 năm, trước khi bắc việt tiến hành xâm chiếm miền Nam bằng vũ lực, chúng ta hãy bình tâm để nhận xét:

Dưới chế độ cộng sản ở miền bắc, do ông Hồ lãnh đạo, máu và nước mắt của người dân lai láng, tầng lớp trung lưu, trí thức bị đày ải trong các trại tù, tầng lớp nông dân bị nhồi sọ căm thù, bọn sâu bọ lên làm người, không còn tiếng chuông Chùa thu không, không còn tiếng chuông Giáo Đường ngân nga, không còn Lễ hội đình đám, bọn bần cố nông từ Thanh Hóa, Quảng Bình, tràn vào chiếm đoạt nhà cửa của người dân Thăng Long ngàn năm văn vật.

Mọi con người bị đoàn thể  hóa, con tố cha, vợ tố chồng, bạn bè không còn ai dám tin ai.

Một Hà nội thảm thương, một Hà Nội với Hồ Gươm, Tháp bút viết lên trời xanh, những dòng máu lệ.

Một miền Bắc điêu tàn, dù chỉ mới có 5 năm.

Trong khi đó ở miền Nam, một ông chưa già, không còn trẻ, không vợ không con, tóc bạc màu, ngày đêm lo lắng, làm sao ổn định tình thế quốc gia, làm sao để cho những người vừa rời  bỏ nơi chôn nhau cắt rún, mồ mả, tổ tiên ông bà ở miền bắc, để trốn chạy cộng sản, được an cư lạc nghiệp.

Và ông ấy đã làm được.

Một miền Nam thanh bình dưới sự lãnh đạo của ông, lúa trổ trên đồng, rì rào theo gió, mang hơi thơm của đồng nội, tỏa khắp non sông.

..Người từ là từ phương bắc, đã qua dòng sông sông dài, tìm đến nơi này một nhà thân ái.

Ơi…tình Bắc duyên Nam..

Điệu cuối cùng của bài ca,mang một âm giai hoan lạc, sự hoan lạc của một miền Nam trù phú, dưới sự lãnh đạo của một con người đầy đủ Nhân_Trí_Dũng.

Kết quả khác hoàn toàn với miền Bắc hận thù sắt máu dưới bàn tay của kẻ ác nhân..

Viết vậy thôi, dài như đường xích đạo, không ai đọc.

Thế kỷ này không phải là ngày xưa tăm tối

Thương chính mình, làm ơn vận dụng trí và tâm

Hãy tự trọng đừng để mình bị lừa gạt

Dưới mặt trời này, che dấu được mãi không.

Quang Cầu Muối

(ST: Bài lượm lặt trên net)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

VIẾT trong những ngày đất nước đang chuyển mình_KTS Thanh Vân

VIẾT trong những ngày đất nước đang chuyển mình

 Tác giả: Nữ Kiến Trúc Sư Trần Thanh Vân, 30-4-2019

KTS TranThanhVanTôi không phải là nhà chính trị, cũng không phải là một fortune teller, nhưng với những năm tháng từng trải của mình, tôi hiểu sâu sắc rằng, đất nước VN đang ở trong những ngày biến động dữ dội, nhưng mỗi ngày một sáng sủa hơn.

Đại gia đình tôi đã trải qua 72 năm và có ít nhất 3 thế hệ sống trong nước Việt Nam Dân chủ Công hòa, thành lập ngày 2/9/1945 và đến hôm nay là những ngày cuối cùng của Cộng Hòa XHCN Việt Nam do ĐCSVN lãnh đạo. Nhìn vào những biến động của đại gia đình mình trong 72 năm qua, tôi “nhìn thấy” sự biến động của đất nước và tôi tin chắc rằng mọi thứ đang được phát triển theo một quy luật mà không thế lực nào cưỡng nổi.

 Thế hệ thứ nhất

Năm 1945, cha tôi là một thanh niên 30 tuổi, đầy lòng yêu nước, ngây thơ và hăm hở theo Việt Minh rồi trở thành Đội viên Đội tự vệ Hoàng Diệu từ những ngày đầu kháng chiến chống Pháp. Cha trở thành công an mật Hà Nội năm 1947, được kết nạp vào ĐCS năm 1948, rồi lên chiến khu Việt Bắc, rồi trở về Hà Nội ngày giải phóng Thủ đô năm 1954…

Khi cha tôi mất năm 2002, cụ vẫn là một cán bộ cách mạng lão thành, sống kham khổ, trong sạch và khi nhắm mắt xuôi tay, cha mãn nguyện ra đi vì đã cống hiến cả đời mình sự nghiệp giải phóng quê hương. Tôi thương cha, đến phút chót cuộc đời, cha không hiểu hết con đường cách mạng của mình đúng sai ở chỗ nào?

 Cậu ruột, em trai thứ 3 của mẹ tôi thì khác hẳn. Là một thanh niên học sinh yêu nước của trường Bưởi Hà Nội, cậu tôi rủ các bạn cùng trường, đi quyên góp gạo tiền, nấu cháo phát chẩn cho bà con nghèo đói ở các làng quê, nạn nhân của nạn đói 1945… Nhưng cậu tôi không theo Việt Minh, ông và các bạn ông hưởng ứng lời kêu gọi của Thủ tướng Trần Trọng Kim, khi chính phủ Trần Trọng Kim bị Việt Minh đánh đổ, cậu tôi bị Việt Minh bắt giam và bị giết chết.

 Thế hệ thứ hai

Chồng tôi và tôi cùng lớn lên trong nhà trường xã hội chủ nghĩa. Khác với tôi, chồng tôi luôn tỏ ra là một người sống có kỷ luật, ngoan ngoãn và trung thành với chế độ. Chồng tôi được kết nạp vào ĐCS năm 1961, ông được tổ chức cơ quan và chính quyền nhà nước cưng chiều, được cử sang Anh tu nghiệp tiếng Anh năm 1979, sang Hà Lan, sang Nhật học tập về Quy hoạch quản lý kinh tế. Ông được Ủy ban Hợp tác kinh tế đối ngoại của chính phủ phân công phụ trách khối Bắc Âu, đã từng có quan hệ thân tình với Thụy Điển, là khách quý được cố Thủ tướng Thụy Điển Olof Palme mời tới nhà riêng ăn cơm chiều…

Đã đặt chân tới hơn 40 nước phi XHCN, chồng tôi có dịp tiếp cận, kết bạn và tìm hiểu khá kỹ về “chế độ tư bản giẫy chết”, ông từng cố gắng mang những hiểu biết của mình, thuyết phục, phân tích cho các quan chức cùng thời. Có người ủng hộ và muốn làm cuộc cải cách, như Thủ tướng Võ Văn Kiệt, như Thứ trưởng Trần Quang Cơ, nhưng các vị đó suy nghĩ nhiều mà chẳng làm được việc gì.

Khi cựu Thủ tướng Võ Văn Kiệt bị ám hại qua đời, chồng tôi hiểu rằng mọi cố gắng chưa hợp thời đều bị thất bại, ông về hưu năm 2000, bỏ ĐCS, ông ở nhà nuôi dạy thằng Út, hy vọng thằng con lớn lên sẽ không bỏ phí cuộc đời như cha nó.

Khác hẳn với chồng, tôi ngang bướng và rất “vô kỷ luật”, tốt nghiệp kiến trúc tại Thượng Hải năm 1966, theo học “The International Post-Granduate Training Course on Ecosystem Management” ở Dresden năm 1980-81. Trở về nước, tôi chỉ chăm lo công tác chuyên môn là nghiên cứu kiến trúc cảnh quan, bỏ nhiều thời gian nghiên cứu về Phong thủy. Tôi từ chối mọi cơ hội được đề bạt thăng chức, tôi không nộp đơn xin vào ĐCS và năm 1992, tôi nằng nặc đòi nghỉ hưu khi mới 51 tuổi.

Từ ngày được sống cuộc đời tự do, tôi lập công ty tư nhân, tự đi kiếm việc làm thuê để nuôi sống bản thân và gia đình, tôi bắt đầu quan tâm đến xã hội xung quanh và vận mệnh đất nước.

Càng hiểu sâu về Phong thủy, tôi càng khao khát cơ hội được phục hồi HÀO KHÍ THĂNG LONG của các triều đại Lý, Trần, Lê, khi xưa. Tôi bắt đầu quan tâm và không ngần ngai hiểm nguy, tôi lên tiếng ngăn cản Dư án Thủy cung Thăng Long ở Bán đảo Tây Hồ năm 1998, lần đầu tiên có một quan chức cao cấp là Phó TT Ngô Xuân Lộc mất chức và có kẻ vào tù.

 Thế hệ thứ ba

Chồng tôi bị trọng bệnh và qua đời cuối năm 2012. Còn lại một mình, tôi bán nhà và cho thằng Út theo học trường quốc tế tại Hà Nội rồi đi du học tại Vương quốc Anh từ năm 2017. Trong 7 năm theo học tại trường quốc tế song ngữ Hanoi Academy, con tôi được tiếp xúc với các thầy cô giáo quốc tế, với khẩu hiệu “Becoming a Global Citizen” in trên trang phục, tôi muốn đứa con nhỏ được lớn lên trong bầu không khí lành mạnh, được thoát khỏi mọi kỷ niệm đau buồn mà gia đình đã trải qua.

Thỉnh thoảng nhà trường tổ chức cho học sinh đi dã ngoại, các cháu quyên góp quần áo, sách vở và dụng cụ học tập trợ giúp những học sinh kém may mắn ở vùng cao, vùng xa… nên đến khi nộp hồ sơ để đi du học, thầy giáo quốc tế hỏi cháu muốn chọn ngành gì? Cháu trả lời: Nghiên cứu Tâm lý Xã Hội. Hỏi tại sao? Cháu nói: Nhiều người cần giúp đỡ quá, phải hiểu họ thì mới giúp họ được. Thầy giáo chủ nhiệm người Mỹ nói với tôi rằng đó là câu trả lời nghiêm túc của một một đứa trẻ sống có trách nhiệm. Và tôi hoàn toàn yên tâm, tiễn con ra đi. Ở xa, vài ngày cháu lại gọi về động viên mẹ ăn ngủ điều độ và đừng làm việc quá sức.

Tôi không làm việc quá sức. Tôi biết điều tiết bản thân và giữ gìn sức khỏe. Ở nhà một mình, tôi rảnh rang theo rõi mọi biến động của xã hội. Đến nay, đã có hàng chục, hàng trăm và hàng ngàn dự án chiếm đất làm giầu của rất nhiều tập đoàn bất động sản trên khắp đất nước. Và đến nay tôi hiểu sâu sắc rằng sự suy thoái xã hội đã đến bước trầm trọng, không ai cứu vãn nổi nữa.

Mặt khác, tôi cũng nhận ra nền tảng xã hội đang chuyển mình rõ rệt và mỗi ngày một rõ rệt hơn. Các lệnh cấm đoán, bắt bớ tù đày không ngăn cản được lòng dân suy nghĩ và nói lên mọi suy nghĩ của mình.

Nếu 20 năm trước, một nhóm KTS chúng tôi có thể ngăn chặn một Dự án Thủy cung Thăng Long tội lỗi và đánh đổ ông Phó Thủ tướng Ngô Xuân Lộc, thì hôm nay có nhiều Thủy Cung Thăng Long khác tội lỗi hơn và trong số đó có một đệ tử gần gũi của ông Ngô Xuân Lộc khi xưa, là ông Đinh La Thăng, Ủy viên BCT cùng một lũ đầu trâu mặt ngựa đã phá nát và đục khoét đất nước mà công chúng gọi là công cuộc “đốt lò vĩ đại” của ông Tổng bí thư – Chủ tịch nước.

Thử hỏi, trong tất cả những kẻ đã bị ném vào lò đó, có kẻ nào bị oan uổng không? Không có kẻ nào oan uổng cả. Nhưng tôi e rằng, ông Tổng bí thư – Chủ tịch nước sẽ không có đủ lò để đốt hết lũ sâu mọt chúng nó đâu, bởi vì lũ sâu mọt kia là sản phẩm của cơ chế XHCN mà ông là thủ lĩnh. Mỗi ngày lại xuất hiện thêm nhiều kẻ độc ác tham lam, khốn nạn hơn, bọn đó không chỉ đáng ném vào lò, mà cần phải bị tru di tam tộc.

Có lần tôi đã viết thư gửi cho ông Tổng bí thư – Chủ tịch nước, xin ông đừng nghĩ tôi không phải đảng viên cộng sản thì tôi chống đảng. Cha tôi, chồng tôi từng là những ĐVCS ưu tú, từng sống trong sạch tận tụy vì lợi ích của đất nước… nhưmg thời đó qua rồi. Còn ông, tôi khuyên ông tự giải tán đảng Cộng sản trước khi bị nhân dân lật đổ.

Năm 2018, khi bà chủ tịch quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân quăng các bản hồ sơ Đặc khu kinh tế lên bàn hội nghị Quốc hội, ép Quốc hội thông qua Luật Đặc khu với lời tuyên bố tỉnh bơ “Bộ Chính trị đã quyết”, nhưng cuối cùng Luật đặc khu đã bị ngăn lại. Công của ai, tội của ai tôi không tiện bàn, tôi chỉ khẳng định công lý đã thắng thế và trong giới chóp bu cộng sản, có người đã tỉnh ngộ.

 Cũng như vấn đề Biển Đông sôi động nhiều chục năm qua, khiến cả nước căm hờn, phẫn nộ, khi người “bạn vàng”, “thân thiết như môi với răng” của VN ta xưng xưng nói rằng, Biển Đông của ta là Biển Hoa Nam của họ, nhưng xin chớ bi quan, cho đến hôm nay, quan hệ hợp tác về quốc phòng giữa VN và Hoa Kỳ đã là Hợp tác chiến lược toàn diện. Vào những ngày ông Tổng bí thư – Chủ tịch nước lâm bệnh nặng, Đô đốc Philip Davidson, Tư lệnh Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương – Ấn Độ Dương đến thăm Việt Nam, đã được VN đón tiếp nồng hậu; cũng như khi đoàn nghi sĩ thượng viện Hoa Kỳ do Thượng nghĩ sĩ Patrick Leahy dẫn đầu đến thăm VN, họ đã được VN đón tiếp thân tình, kể cả việc họ được đến thăm Thiền sư Thích Nhất Hạnh, vị Thiền sư nổi tiếng thế giới có lúc đã bị giới chop bu CS coi như kẻ bán nước.

Và vài tháng nữa thôi, ông Tổng bí thư – Chủ tịch nước hoặc người đại diện cho ông sẽ đi thăm Hoa Kỳ. Chắc chắn sẽ có nhiều văn bản hợp tác về kinh tế và các vấn đề hệ trọng khác về hợp tác khai thác dầu khí và bảo vệ Biển Đông sẽ được ký kết.

Tóm lại, tôi không quan tâm lắm về bệnh tình của ông TBT- CTN ốm đau ra sao, ông có bị ai ám hại hay không, ở trong một chính đảng đã đến thời suy thoái, lại ở sát sườn với một thằng bạn xấu sẵn sàng ăn tươi nuốt sống mình, thì tôi hiểu rằng bị kẻ xấu rình rập ám hại và mỗi người phải trả giá cho những sai lầm của đời mình là dễ hiểu.

Có điều tôi biết chắc chắn rằng, đã đến lúc đảng Cộng sản sẽ phải tự giải tán, chế độ độc tài sẽ phải tự thủ tiêu và năm bảy năm nữa khi lứa tuổi trẻ như con tôi trở về, chúng sẽ có đủ trí tuệ, tài năng và nhiệt huyết điều hành đất nước.

Quy luật tất yếu đó sẽ không một ai, không một sức mạnh nào ngăn cản được.

Tác giả: Nữ KTS Trần Thanh Vân
Nguồn: BaoTiengDan.com

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bạn nghĩ gì về bài viết này?