Ở Hai Đầu Thành Phố_Châu Quang

Việt Nam dưới góc nhìn của một người Việt sống ở Mỹ:

Ở Hai Đầu Thành Phố / Châu Quang

(danchimviet.info): Đây là một câu chuyện hư cấu. Mọi sự trùng hợp với đời thường, nếu có, đều ngoài ý muốn. Tác giả đội ơn.

Washington, DC

Cách nay trên 15 năm, hãng tôi đang làm tà tà thua lỗ, đóng cửa. Trong thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp, một người bạn giới thiệu tôi làm cho một công ty thông dịch có hợp đồng với các trường học trong vùng, khi họ cần cho những buổi họp giữa giáo viên và phụ huynh không rành tiếng Anh.

Trong một buổi họp của trường học có thông dịch viên thuộc nhiều ngôn ngữ khác nhau, một đồng nghiệp thông dịch viên tiếng Thái mách tôi nếu muốn có thêm tiền, hãy ghi danh với hội American Translators Association (ATA). Mình đóng lệ phí mỗi năm cho hội, họ sẽ đưa tên mình vào trang mạng của họ và ai có nhu cầu dù ở bất cứ đâu cũng có thể truy cập và liên lạc với mình để mướn.

Job đến với tôi lai rai qua trang mạng của ATA và tình cờ một khách hàng, sau một buổi làm cho họ, khuyên tôi nạp đơn thi vào làm thông dịch theo hợp đồng cho Bộ Ngoại Giao Mỹ, và cuối cùng tôi đã làm cho bộ này trên 10 năm.

Làm theo hợp đồng có nghĩa là khi nào có việc thì họ kêu, và đối với bộ, tôi là một nhà thầu, không phải là nhân viên chính thức. Tôi vừa dịch viết, vừa dịch miệng cho bộ, vừa làm cho những công ty dịch thuật tư nhân khác, kiếm được tiền cũng gần bằng công việc cũ nên tôi cũng chẳng tích cực tìm lại việc cũ, cứ tiếp tục với việc dịch thuật, tự mình làm chủ, có dịp đi đây đi đó bên trong cũng như bên ngoài nước Mỹ, ai gọi mình thích thì nhận, không thích thì từ chối khéo, nghĩ trong bụng đời tỵ nạn không dễ gì kiếm được job nào như vậy.

Khi dịch cho bất kỳ tổ chức thông dịch nào, bạn cũng phải ký giấy cam kết không tiết lộ bất kỳ nội dung nào mình biết trong khi làm việc. Ví dụ như sau khi dịch cho một bác sĩ và một bệnh nhân, bạn không được cho ai biết bệnh nhân đó mắc bệnh gì, nặng nhẹ mức nào vì luật pháp Mỹ coi trọng quyền riêng tư của mỗi người. Ngoài ra, nếu bạn bô bô cái miệng, kể cho người khác bệnh trạng của bệnh nhân, có thể họ sẽ không mua được bảo hiểm nhân thọ, có thể con cháu họ tranh chấp gia tài… họ có quyền kiện bạn đi tù và đền tiền như chơi, đại khái là như vậy.

Vấn đề bảo mật lại càng được đặt nặng hơn nữa khi bạn dịch cho Bộ Ngoại Giao Mỹ, vì nhiều lúc bạn làm việc với những nhân vật tai to mặt lớn, họ bàn đến những chuyện quốc gia đại sự, ảnh hưởng đến nhiều người, nhiều triệu đô la; cho nên những gì tôi sắp kể cho bạn nghe sau đây là những chuyện tôi thấy vô hại, không ảnh hưởng đến vấn đề bảo mật mà tôi đã hứa với bộ. Thế nhé.

Một trong những công việc mà Bộ Ngoại Giao Mỹ chỉ định cho các thông dịch viên là đi theo các đoàn quan chức của Hà Nội thăm nước Mỹ.

Thông thường, một đoàn gồm khoảng 10 quan chức của Hà Nội được 2 thông dịch viên của Bộ Ngoại Giao Mỹ đi kèm, ăn chung thì không bắt buộc nhưng nghỉ chung khách sạn, mỗi người một phòng. Mỗi chuyến đi kéo dài từ hai đến ba tuần, ghé vài thành phố; bắt đầu là Washington DC, nơi sẽ gặp cấp chính quyền liên bang và thường kết thúc ở miền Tây như Seattle, San Francisco hoặc Los Angeles để đoàn về Việt Nam cho nhanh.

Lấy ví dụ một đoàn thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thì tại DC, thông dịch viên sẽ đưa họ đi gặp Cơ quan Quản lý Thực phẩm Dược phẩm (FDA) hoặc cơ quan phụ trách về vệ sinh an toàn thực phẩm. Sau đó đi thăm các lò mổ bò ở Nebraska hoặc các trại chăn nuôi ở Iowa.

Lấy ví dụ một đoàn thuộc Cục Hàng không thì tại DC, thông dịch viên sẽ đưa họ đi gặp Cơ quan Quản lý Hàng không Liên bang FAA, hoặc đến thăm NTSB để biết cách cơ quan này điều tra một tai nạn máy bay; sau đó đi thăm một hai phi trường lớn nhỏ ở miền Trung Tây để quan sát cách vận hành của ban quản lý phi trường, của đài kiểm soát không lưu, trước khi đi thăm dây chuyền sản xuất máy bay Boeing ở gần Seatlle.

Ngoài những buổi họp có tính cách chuyên môn, đoàn cũng được đưa đi xem một buổi tranh tài thể thao – bóng rổ/bóng chày/bóng bầu dục – hoặc một buổi văn nghệ – nhạc kịch Broadway/Con Ma nhà hát Opera – và đi ăn một bữa cơm tối với một gia đình người Mỹ ở địa phương để thưởng thức món ăn Mỹ nấu tại nhà và quan sát khung cảnh của một gia đình Mỹ trung lưu xem có giống như trên màn ảnh không.

Chương trình đi thăm nước Mỹ xuất phát từ cả hai phía. Thông qua đại sứ quán Mỹ ở Hà Nội, Bộ Ngoại Giao Mỹ cho phía Việt Nam biết trong tài khóa năm nay sẽ có các chuyến đi thế này thế này, phía Việt Nam đề cử người tham gia. Ngoài ra, nếu phía Việt Nam có nhu cầu đặc biệt thì cứ nói với sứ quán Mỹ, nơi đây sẽ liên lạc với Washington và nếu OK thì chuyến đi sẽ thực hiện.

Có những chuyến Bộ Ngoại Giao Mỹ đài thọ từ A đến Z, có những chuyến phía Việt Nam phải tự chi vé máy bay quốc tế; phía Mỹ chỉ lo thu xếp các sự kiện, chi tiền khách san, vé máy bay nội địa, và tiền ăn theo ngày và theo thành phố.

Thành phần tham dự thông thường từ phó hoặc trưởng phòng hoặc đại biểu quốc hội trở lên ở cấp trung ương, hoặc phó hoặc giám đốc sở trở lên ở cấp tỉnh. Nếu là nhà binh hoặc công an thì thường từ đại tá trở lên. Nói chung là cấp đang lãnh đạo hoặc có tiềm năng sẽ là lãnh đạo.

Thu xếp các buổi họp là công việc của Bộ Ngoại Giao Mỹ, thông dịch viên chỉ việc đưa đoàn Việt Nam đến những nơi họp theo một danh sách đã ghi sẵn. Công việc của hai thông dịch viên là đưa đón đoàn ở phi trường, liên lạc xe cộ để đến các địa điểm, thay nhau dịch trong các buổi gặp mặt với người Mỹ, nhận chìa khóa phòng khách sạn để trao cho đoàn, kể cả đưa đi bác sĩ hoặc bệnh viện khi có người đau ốm.

Thông dịch viên ngoài tiền công thông dịch tính theo ngày, còn hưởng những công tác phí như taxi, ăn uống… y như chế độ dành cho công chức liên bang.

Bộ Ngoại Giao Mỹ đóng vai chủ nhà và các quan chức Hà Nội được đối xử như khách thăm. Bộ đã dặn dò các thông dịch viên rất cẩn thận khi “sống cùng” các khách thăm, ví dụ nếu có ăn chung thì không được để khách trả tiền mà phải đóng góp, ví dụ khi đi taxi chung thì thông dịch viên trả tiền-giữ biên lai-đòi lại bộ, ví dụ phải ứng xử ra sao khi khách yêu cầu dẫn đi ”vui vẻ tươi mát.”

Bộ cũng dặn dò các thông dịch viên ngoài chương trình làm việc và giải trí chính thức, hãy để cho khách thăm được tự do khám phá con người và đất nước Hoa Kỳ, nhất là bây giờ đã có Internet, cần gì cứ hỏi “bác Gúc” là ra ngay, thông dịch viên không nên đề nghị khách thăm đi ăn đi chơi chỗ này chỗ nọ, khiến khách có thể nghĩ rằng mình bị tuyên truyền, dàn dựng.

Ngoài chương trình làm việc chính thức, thông dịch viên không bắt buộc đi theo các quan chức Hà Nội khi họ đi shopping, có lẽ là vì muốn cho thông dịch viên khỏi bị ngộp khi thấy khách thăm từ Việt Nam móc những ông Franklin ra trả giống như ta đếm tiền lẻ. Nếu thông dịch viên được gọi là Việt Kiều thì đúng là bây giờ Việt Kiều làm chủ những ông Franklin không nhiều bằng Việt Cộng.
Người cộng sản có cách tuyên truyền theo kiểu cộng sản, người Mỹ cũng có cách tuyên truyền theo kiểu Mỹ. Vì thế Mỹ mới thua Việt Cộng?

Tuyên truyền kiểu Lê Văn Tám, Nguyễn Văn Trỗi, lấy thân người che lỗ châu mai… nếu đem áp dụng ở Mỹ sẽ bị lộ ngay, vì trình độ dân trí cao, anh xạo ke kiểu gì cũng không qua mặt được người nghe.
Tuyên truyền của Mỹ dựa theo nguyên tắc “một hình ảnh giá trị bằng ngàn lời nói” hoặc “trăm nghe không bằng một lần thấy.”

Anh cộng sản nói cho lắm vào về thế giới đại đồng, ba giòng thác cách mạng, thiên đường XHCN, ăn ngon mặc đẹp… cũng không thuyết phục bằng một chuyến đi thăm nước Mỹ.

Trong chuyến đi kéo dài hai ba tuần qua các thành phố lớn nhỏ, chủ nhà con cháu chú Sam sẽ cho các khách thăm con cháu bác Hồ thấy những cái xấu cái đẹp, cái hay cái dở của xứ cờ hoa để rồi con cháu bác Hồ tự đưa ra kết luận cho mình xem ai thắng ai, hoặc ai tốt hơn ai, cái nào là ưu việt.

Theo đúng lôgic của người cộng sản, sau chuyến đi như vậy, dù anh có ngu dốt, ngoan cố đến mấy đi nữa, anh cũng nhìn thấy sự thật nằm ở đâu. Anh đã thấy sự thật rồi nhưng cái cơ chế này không cho phép anh phát biểu công khai. Anh không dám phát biểu công khai nhưng anh có thể phát biểu với vợ anh, con anh, bạn thân anh… từ đó một đồn mười, mươi đồn trăm, chả cần bắc loa hò hét làm gì.
Xã hội XHCN vốn buộc người ta phải sống hai mặt, một mặt đưa ra ngoài xã hội, một mặt đưa ra với chính anh khi anh ngồi một mình.

Sài Gòn

Bộ Ngoại Giao Mỹ cũng cung cấp thông dịch viên cho các cơ quan liên bang khác khi có nhu cầu.
Tháng 6 năm nay, bộ chỉ định tôi về Việt Nam làm cho Cơ quan Quản lý Thực phẩm Dược phẩm FDA. Tôi có nhiệm vụ đi cùng với Ted, một thanh tra của FDA cũng khởi hành từ DC, đến Sóc Trăng và Bạc Liêu để làm việc với hai doanh nghiệp xuất khẩu tôm sang Mỹ, mỗi nơi làm trong bốn ngày, tổng cọng tám ngày, cọng với hai ngày đi đường thành mười.

Phải mất bốn ngày mới thanh tra xong một doanh nghiệp vì công việc của một thanh tra FDA rất tỉ mỉ, chi tiết, khiến thông dịch viên cũng mệt theo.

Trong ngày đầu, Ted và tôi ngồi trong phòng họp của doanh nghiệp để đặt các câu hỏi mà doanh nghiệp xuất trình, kế tiếp là đi thăm chỗ sơ chế, rửa tôm, lựa tôm, bóc vỏ tôm, lưu giữ tôm… nếu thấy có vấn đề gì thì qua ngày thứ nhì, thứ ba, thứ tư; chúng tôi trở lại chỗ đó để kiểm tra nữa để xem đã giải quyết như đã hứa hay chưa.
Có những vấn đề có thể khắc phục ngay, có những vấn đề cần phải thời gian mới khắc phục được thì Ted sẽ ghi nhận để theo dõi, ghi nhận bằng camera, theo dõi bằng cách đến hẹn, doanh nghiệp phải chứng minh cho FDA thấy vấn đề đã được khắc phục. Nếu bằng chứng không đủ sức thuyết phục, FDA sẽ cho người qua kiểm tra lại.
Khi nói kiểm tra tỉ mỉ, chi tiết, ta có thể lấy ví dụ nước để rửa tôm phải là nước sạch và ở nhiệt độ thích hợp, thì Ted lôi ra các dụng cụ để đo đạc xem có sạch và đúng nhiệt độ không. Luật pháp Mỹ kỵ nhất là nhập tôm có dùng nhiều chất kháng sinh. Ted cũng có dụng cụ đo đạc để biết hàm lượng kháng sinh trong mẻ tôm đang kiểm tra là bao nhiêu.

Phòng chứa tôm đông lạnh thiếu ánh sáng cũng được yêu cầu mắc thêm đèn, vấn đề này thuộc loại có thể khắc phục ngay nên đến ngày kiểm tra cuối cùng vẫn chưa thay đổi thì Ted sẽ ghi báo cáo. Nếu bị báo cáo như vậy ở một mức nào đó, FDA, cụ thể là Ted, có thể đề nghị nhà nhập khẩu bên Mỹ không mua tôm của doanh nghiệp đó.

Kết quả thanh tra của FDA quan trọng ở chỗ chẳng những nó tác động vào các nhà nhập khẩu bên Mỹ mà các nước khác cũng dựa vào đó để mua hoặc không mua sản phẩm của doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam, bởi vì kết quả thanh tra được công bố trên trang mạng của FDA.
Môi trường lao động của công nhân cũng bị Ted để mắt tới. Ví dụ công nhân có đủ quần áo trang bị, giày ống cao su, khẩu trang, bao tay, mũ nón hay không. Khi đi kiểm tra, chúng tôi cũng phải trang bị y như công nhân vậy.

Thậm chí nhà vệ sinh của công nhân cũng bị soi. Chỗ đi tiêu đi tiểu này có được lau chùi định kỳ hay không, mỗi lần lau chùi có log và ký tên hay không, làm ơn cho xem cái log được không. Tại sao cái cần giựt nước này giựt được nhưng khi giựt không có nước, tại sao phòng đi tiêu này không có giấy đi cầu. Này, chị công nhân, mỗi lần đi vệ sinh xong chị có rửa tay không? Dạ có. Chị rửa tay thế nào chị làm ơn làm cho tôi coi coi… Chị cho hỏi, sếp có dặn chị mỗi lần rửa tay phải dùng xà bông không? Dạ có. Có nhưng tại sao tôi thấy chị không dùng? Dạ em quên. Ôi, những phụ nữ miền Tây chân chất, lập đi lập lại vài động tác giống nhau trong suốt ca làm để mỗi tháng nhận chưa tới 200 đô la.

Bạn hỏi tôi tại sao thanh tra của FDA khó khăn quá vậy, tôi chỉ có thể trả lời cái cơ chế nó là như thế. Thanh tra của FDA là một công chức liên bang, họ sống bằng lương chứ không bằng lậu. Nếu doanh nghiệp bạn làm đúng như những gì FDA yêu cầu thì bạn không cần lo lằng, bôi trơn gì cả.

Công chức hay tư chức Mỹ có tinh thần tự giác, có ý thức cao. Thanh tra FDA hiểu rằng công việc của họ quan trọng, liên quan đến sức khỏe của nhiều người, công việc của họ chịu sự giám sát của báo chí, của các tổ chức xã hội dân sự… cho nên nếu làm ẩu làm tả, ăn vào trúng độc là cả cơ quan mà họ đang phục vụ sẽ bị mang tiếng, phải trả lời đến nơi đến chốn trước pháp luật, chứ không được hạ cánh an toàn, nhận bản án bỏ túi, hoặc cứ câu giờ rồi để lâu hóa bùn, mọi chuyện rồi sẽ đi vào quên lãng.

Thông qua tôi, hai doanh nghiệp mà Ted đang thanh tra đã hơn một lần đề nghị quà tặng, phong bì nhưng lần nào Ted cũng từ chối.
Đi làm tại Sóc Trăng và Bạc Liêu thì Ted và tôi mỗi người mỗi ngày được 151 đô la tiền khách sạn và 98 đô la tiền ăn, dựa trên bảng công tác phí, tùy theo thành phố và quốc gia, mà chính phủ liên bang Hoa Kỳ đã quy định cho công chức mỗi khi đi công tác.

Khách sạn sang trọng nhất tại hai nơi này giá chưa bằng phân nửa giá cho phép trên bảng, nhưng chúng tôi không có quyền hưởng chỗ sai biệt, mà phải thanh toán trước bằng thẻ tín dụng và xin biên lai, sau khi công tác xong sẽ làm giấy tờ bồi hoàn.

Còn tiền ăn mỗi ngày được giao khoán, không cần phải chứng minh giấy tờ, lời ăn lỗ chịu, khi làm giấy tờ bồi hoàn sau công tác, chúng tôi cứ nhân mức giá mỗi ngày với số ngày đi làm thì nhà nước sẽ trả lại mà không một thắc mắc nào.

Trong thời gian ở Sóc Trăng và Bạc Liêu, Ted và tôi coi như không tốn đồng nào về ăn uống, vì ăn sáng đã có khách sạn bao gồm trong tiền phòng, ăn trưa và tối đã có doanh nghiệp bị thanh tra dành phần chi tiền. Trên nguyên tắc, chúng tôi không được để doanh nghiệp bị thanh tra trả tiền các bữa ăn, nhưng trong trường hợp này, nếu có ai thắc mắc, chúng tôi có thể du di bằng cách trả lời rằng, vì chúng tôi không phải là dân địa phương nên phải nhờ những người địa phương dẫn đi ăn cho nó lành.

Chuyến đi này, tôi xin ở lại Việt Nam thêm hai tuần sau khi xong công tác với FDA, cho nên trong hai tuần lễ về Sài Gòn, tôi có thể chi tiêu thoải mái với số tiền ăn mà nhà nước Mỹ cấp cho tôi nhưng tôi đã không dùng đến.

Ở Sài Gòn, tôi có quen với Hạnh, con một hạ sĩ quan làm cùng đơn vị với tôi trước 75. Hạnh năm nay trên 30, một phụ nữ có cá tính, đang làm cho một công ty nước ngoài. Nhan sắc Hạnh thuộc loại trên trung bình, ăn mặc rất lịch sự dù không phải hàng hiệu, nhưng có lẽ cá tính mạnh nên giờ này vẫn chưa lập gia đình. Hạnh nói thà ở vậy còn hơn rước phải ông chồng thiếu tư cách, tối ngày nhậu nhẹt, đánh vợ, xum xoe với thượng cấp.

Trong hai tuần ở Sài Gòn, ban ngày phải đi làm, Hạnh bảo chú tự mình đi thăm bạn bè bà con; còn buổi tối thì Hạnh sẽ tình nguyện chở chú đi ăn đi chơi những chỗ nào mà chú thích.

Thế là vào ban ngày tôi hay lang thang, thường là đi bộ, đi thăm những thằng bạn học, bạn lính, bạn tù còn sót lại, tà tà ở đường sách hoặc những nơi lúc còn trẻ có nhiều kỷ niệm. Tôi không muốn quay về khu nhà cũ vì bây giờ đã hoàn toàn thay đổi, các căn nhà mặt tiền đều do người gốc Bắc làm chủ, tôi sợ mình sẽ tủi thân như ông Hạ Tri Chương “Trẻ con trông thấy hững hờ; Cười ồ, hỏi khách lại từ phương nao.”

Và hầu như mỗi tối, tôi chờ Hạnh đến đón tại khách sạn, đội mũ bảo hiểm nhảy phóc lên phía sau chiếc Vespa của Hạnh để được chở đi Saigon By Night.

Sinh hoạt buổi tối mà tôi thích nhất là đi xem kịch của nhóm Idecaf với cặp Thành Lộc và Hữu Châu, hai chàng quái kiệt diễn vai nào ra vai đó, thiện thì thật là thiện, mà ác thì thật là ác, luôn luôn tạo bất ngờ. Kịch của nhóm Idecaf theo tôi thú vị hơn kịch trước 75 của Kim Cương, Dân Nam hoặc Túy Hồng; nhất là kịch bây giờ được đi kèm bởi hệ thống âm thanh và sound effects rất tốt. Hai chàng phù thủy Thành Lộc và Hữu Châu mà châm biếm, móc méo những chuyện tiêu cực của chế độ thì khó có ai bắt bẻ, chụp mũ được.

Hạnh thích bolero thì tôi đề nghị đi nghe Lệ Quyên ở đường Lê Thánh Tôn, còn tôi thích nhạc ngoại quốc thập niên 60 và 70 nên rủ Hạnh lên sân thượng của Majestic và Rex nghe loại nhạc này vì đặc biệt có ban nhạc từ Philippines và Cuba.

Về ăn thì tôi đặt nguyên tắc với Hạnh là tìm đến những chỗ bình dân mà ngon, bụi bụi một chút cũng được, còn hơn là đến những chỗ sang trọng, nặng phần hình thức nghi lễ lỉnh kỉnh mà nhẹ phần nội dung.
Tối hôm đó, Hạnh và tôi chạy sang Thanh Đa ăn cháo vịt. Ở đây có hai “ông lớn”, được coi là những quán cháo vịt ngon và lâu đời, chỉ cần qua cầu Kinh, nhìn bên tay phải là thấy ngay. Cả hai đều nhận mình là quán gốc, giống như hai quán phở Tàu Bay ở đường Lý Thái Tổ.

Trước khi đến nơi, tôi nghĩ hai quán này chỉ là hai căn nhà nho nhỏ, bàn ghế xập xệ, có thể phải ngồi bệt ở ghế nhựa không chừng. Đến nơi mới biết mỗi quán chiếm hai ba căn nhà rộng rãi, bàn ghế thuộc loại gỗ chắc chắn, có chỗ dựa lưng.

Chúng tôi nhắm mắt vào đại một quán, quán nào cũng sạch sẽ, khách cũng đông, chỉ còn vài bàn trống phía bên trong. Người phục vụ dẫn Hạnh và tôi tới hai cái bàn vuông nhỏ được ghép lại thành một bàn lớn, mỗi bàn có 4 ghế, có nghĩa bàn đó dành cho 8 người, nhưng vì không còn bàn trống nên chúng tôi được ngồi trong một bàn, nhưng hai bàn vẫn được kê sát nhau.

Chúng tôi gọi gỏi vịt và cháo vịt, nước suối và trà đá.

Đánh giá cá nhân của tôi, thịt vịt ở quán này không được như mức tôi trông đợi, thịt nhạt nhạt, không có vị đặc biệt giúp ta phân biệt giữa gà và vịt, nước mắm gừng cũng không đạt yêu cầu. Đánh giá tổng quát, món này ở đây không ngon bằng DC, khoan nói đến Bolsa.
Hạnh và tôi ăn đâu được nửa phần thì một nhóm ba người đàn ông và một phụ nữ được người phục vụ dẫn đến một trong hai bàn ghép còn trống. Ba ông gần như giống nhau ở chỗ thân hình vạm vỡ, tối thiểu cũng bốn múi, tóc cắt sát, mặc áo thun đắt tiền có logo các đội bóng đá nổi tiếng của châu Âu. Cả ba đều xâm hình đầy người và nai nịt giây chuyền vàng sáng chói, đồng hồ loại xịn.

Cả ba có vẻ khúm núm trước người phụ nữ khoảng trên 40, ăn mặc đầm loại hàng hiệu nhưng thái độ của bà không thoải mái cho lắm, cho lẽ ít khi mặc đầm. Điểm nổi bật của bà này là khuôn mặt mà Hoàng Hải Thủy gọi là khuôn mặt của một người đàn ông không được đẹp trai cho lắm. Ngón tay nào của bà cũng đeo nhẫn và trên cổ là một sợi dây chuyền vàng, gọi là dây xích thì mới đúng, vì mắt xích rất to và dầy, nặng có đến cả kí.

Một ông tự động kéo hộp đựng chén đũa khăn giấy từ phía bàn tôi về phía họ. Một ông tự nhiên kéo hai chiếc ghế dư của bàn tôi đi chỗ khác để có thêm chỗ cho bàn của họ, vô tư xích thêm ghế của họ sang phía bàn chúng tôi, có nghĩa là bốn người bên họ chiếm một bàn rưỡi, Hạnh và tôi bây giờ chỉ còn nửa bàn.

Khi người phục vụ đến, họ gọi bốn ly đá không và hai đĩa lòng vịt để lai rai trước, khiến tôi cũng tiếc, lẽ ra lúc nãy mình cũng nên gọi đĩa lòng để thử xem sao.

Khi đã có lòng vịt và bốn ly đá trên bàn, một ông không hiểu móc ở đâu ra một chai Johnnie Walker nhãn xanh dương, lương thông dịch viên như tôi chỉ uống nhãn đen là cao. Một ông cung kính hai tay rót cho người phụ nữ trước, rồi cả bốn cụng ly dô dô một cách thoải mái, nói năng ồn ào.

Khi cần thêm khăn giấy, tôi chồm tay qua phía bàn bên kia để lấy thì nhận được những cặp mắt gầm gừ của những người đàn ông.
Chẳng mấy chốc, tôi có cảm giác họ đã bắt đầu chú ý đến Hạnh và tôi, họ đã hạ bớt giọng để nói về chúng tôi, hay là tôi nhột nên nghĩ như vậy?

Rồi chẳng hiểu sơ ý ra sao, một ông làm đổ ly rượu quý vào phía chén nước mắm gừng của Hạnh, rượu và đá tèm lem ra mặt bàn của Hạnh.

Anh chàng làm đổ rượu không thấy xin lỗi tiếng nào, chỉ gọi phục vụ này em ơi em ơi, cho anh nhờ cái.

Anh chàng đối diện cầm ly rượu đưa về phía Hạnh:
– Chào người đẹp. Để chuộc tội cho anh bạn của anh, anh đề nghị người đẹp dô với bọn anh một ly.

– Xin lỗi anh, tôi uống rượu không được.

Anh chàng xoay ly về phía tôi:

– Nếu vậy xin mời ông anh đây thay mặt cho người đẹp này uống hộ.
Tôi biết loại whisky của Scotland này hiếm quý, thơm ngon và đắt tiền; nhưng nguyên tắc của tôi là “rượu ngon phải có bạn hiền”, mà bạn hiền của tôi lúc này không có; hơn nữa, bộ tứ này làm cho tôi rơi vào hoàn cảnh rất khó xử, nên tôi chả có hứng thú gì để uống cả. Tôi bèn nêu một lý do rất phổ biến ở bên Mỹ:

– Cám ơn anh, tí nữa tôi phải lái xe nên có lẽ anh cho dịp khác.
Hạnh nhìn tôi thông cảm, vì biết tôi xạo. Cặp mắt của nàng còn ngụ ý nói tôi đừng chấp với mấy tay này. Nàng đứng dậy như muốn nói điều gì.

Anh chàng làm đổ rượu ngồi phía Hạnh cũng đứng lên và trách móc:

– Nhằm nhò gì ông anh ơi, làm một tí cho cho có khí thế để tối nay còn gặm cỏ non nữa chứ. Có phải vậy không người đẹp?

Âm thanh của từ “chứ” được kéo dài với ý mỉa mai, thích thú. Thì ra, bộ tứ này đang nghĩ tôi là một Việt kiều già về đây đi chơi với bồ nhí, chân dài. Họ nghĩ Hạnh là người lợi dụng mấy ông già Việt kiều để có tiền hoặc có vé đi Mỹ.

Chuyện đó không sao, có thể tha thứ được; nhưng chuyện tôi không thể tha thứ được là vừa nói xong “Có phải vậy không người đẹp?”, hắn lại vỗ vào mông Hạnh, khiến cho tôi lại rơi vào tình huống càng khó xử hơn nữa.

Trong cuộc đời, tôi đã mấy lần rơi vào hoàn cảnh tương tự. Những lúc đó, mình ước gì là Lý Tiểu Long hoặc Super Man hoặc có phép thần thông hô phong hoán vũ gì đó; nhưng thực tế không phải như vậy, những chuyện đó chỉ có trên xi nê, mình rút cục chỉ là một thằng bất lực, bó tay.

Giống như khi hàng chục tên trên chiếc tàu đánh cá lớn của Thái Lan đầu tóc bù xù, ăn mặc nhếch nhác, bôi phấn màu lên mặt dùng dao mác, súng ngắn hò hét uy hiếp chiếc ghe vượt biên của chúng tôi để bắt đi các phụ nữ lên tàu của chúng. Chúng tôi là những thằng đàn ông bất lực.

Giống như chúng tôi cũng bất lực nhìn cái đám cộng sản ăn hại, tàn phá cái đất nước này về đủ mọi mặt từ mấy chục năm qua.
Giữa lúc tôi bối rối, không biết nên xử trí như thế nào thì có tiếng la lớn:

– Ơ KÌA, ANH QUANG! ANH VÀO HÔM NÀO THẾ?

Washington, DC

Bạn hỏi tôi tại sao chính quyền liên bang Mỹ dùng tiền người dân đóng thuế để tổ chức những chuyến đi vô bổ như vậy cho các quan chức cộng sản?

Tôi không nghĩ là vô bổ, mà tôi nghĩ không bổ bề ngang cũng bổ bề dọc, không bổ nhiều cũng bổ ít.

Ngân sách của Bộ Ngoại Giao Mỹ đứng thứ nhì, chỉ thua Bộ Quốc Phòng, một bên sử dụng quyền lực mềm, một bên sử dụng quyền lực cứng, người nào việc nấy, có khi quyền lực mềm hiệu nghiệm hơn quyền lực cứng. Họ có nhiều tài nguyên, nguồn lực để thực hiện nhiệm vụ được giao, ví dụ như gây ảnh hưởng đến quốc gia nào mà Mỹ muốn gây.

Đối với chế độ độc tài như Việt Nam, về mặt đường dài, thông qua chuyến đi hai ba tuần, tiếp xúc với nhiều thành phần, Mỹ muốn gieo vào đầu khách thăm những nguyên tắc chính của một nên kinh tế thị trường, tam quyền phân lập, đa đảng, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật… mặc dù những nguyên tắc này nếu bây giờ đem áp dụng ở Việt Nam thì không được, vì “không đúng quy trình”, hoặc vì “cái nước mình nó như thế”.

Cho dù Việt Nam do cộng sản hay không cộng sản cai trị, Mỹ vẫn muốn kéo Việt Nam về phía Mỹ, nhất là trong giai đoạn Mỹ có xung khắc với Tàu về vị trí lãnh đạo thế giới.

Chương trình mời khách đi thăm Mỹ hai ba tuần không những áp dụng cho Việt Nam mà còn cho các nước mà Mỹ thấy có lợi cho nước Mỹ. Cụ thể, Bộ Ngoại Giao Mỹ có nguyên một Vụ, trước 75 gọi là Nha, để tổ chức những chuyến đi như vậy. Vụ này có tên là Vụ đặc trách Văn hóa Giáo dục, nơi trực tiếp giao việc cho thông dịch viên.

Sau chuyến đi thực tế, được nhìn tân mắt nước Mỹ như thế nào, nếu khách thăm có “ấn tượng”, nôm na là nếu những người này phục Mỹ, sợ Mỹ thì coi như chương trình đã thành công.

Đối với những khách thăm “đặc biệt”, Vụ này có thể tổ chức những chuyến đi một mình với một thông dịch viên; do đó, nhóm thông dịch viên khoảng chục người chúng tôi có người đã có dịp “làm việc” với những vị mà sau này nhận mình là người buôn chổi đốt đến thối móng tay, hoặc người về sau đã vào Bộ Chính trị nhưng âm thầm biến mất vì một chứng bệnh mà quần chúng dân đen không rõ…

Đứng ở một khia cạnh khác, các chuyến đi như vậy cũng tạo thêm công ăn việc làm cho người Mỹ. Các hãng hàng không, các công ty cho thuê xe có tài xế, các khách sạn, nhà hàng, các nơi giải trí, và nhất là các khu shopping có dịp “ăn theo”, trong đó có cả… thông dịch viên.
Ngân sách các bộ đã được Quốc hội chuẩn chi cho mỗi tài khóa phải xài cho hết, hoặc phải giả vờ ra cái điều hơi bị thiếu; bằng không, qua tài khóa kế tiếp sẽ bị Quốc hội cắt bớt.

Nhân nói đến chuyện “ăn theo”, tôi có một kỷ niệm với một tài xế. Bộ Ngoại Giao Mỹ có hợp đồng với nhiều công ty cung cấp xe lớn nhỏ có tài xế để chở khách thăm. Bữa đó, tài xế lái chiếc xe mười mấy chỗ chở đoàn Việt Nam là một phụ nữ đứng tuổi.

Nhân dịp xe ngừng 20 phút để khách xuống đi bộ thăm đài tưởng niệm Jefferson, tôi nhờ anh bạn thông dịch đồng nghiệp một mình dẫn đoàn đi, vì tôi cần đi tiểu. Trở về lại xe, tôi có dịp tán gẫu với bà tài xế trong lúc chờ đoàn trở về.
Bà Pat cho biết đây là lần đầu tiên bà chở một nhóm người Việt. Sau khi biết tôi là người thuộc “bên thua cuộc”, bà mới thổ lộ, you biết hông, công ty của tao hôm nay cho tao rơi vào một hoàn cảnh trớ trêu. Tôi hỏi Pat bà nói vậy với ý gì?

Pat nói, you nghĩ coi, thằng em trai tao đi lính bên Việt Nam bị phục kích chết, thế mà hôm nay tao phải chở những thằng “assholes” đã giết em tao đi ngắm cảnh Washington thì thấy có đau không?
Tiếng chửi thề này nếu giảm nhẹ đi một tí thì có thể dịch là “chó đẻ”. Tôi nghe Pat nói như vậy cũng thấy nhột, bà nói cho bà hay nói cho tôi?

Bạn hỏi tôi chương trình khách thăm có bị lợi dụng, có bị sử dụng không đúng cách hay không?

Bạn cũng như tôi đều biết, giữa thế kỷ 21 này vẫn còn những chuyện “chỉ có ở Việt Nam”. Trên nguyên tắc, đại sứ quán Mỹ đã đặt ra một số điều kiện để tham gia các chuyến đi Mỹ này, ví dụ phải thuộc diện có kinh nghiệm trong ngành định đi, đang là hoặc có tiềm năng sẽ là cấp lãnh đạo; nhưng trên thực tế, không phải tất cả các điều kiện đó đều được đáp ứng.

Có những vị nhân cơ hội có vé máy bay miễn phí, ở lại thêm, đổi vé máy bay để đi thăm con đang học trung học hoặc đại học bên Mỹ.
Có những cô thư ký trẻ trung, mủm mỉm, được phong đại cho một chức vụ nào đó, kể ra một số thành tích ma nào đó để nhập vào đoàn, đi theo phục vụ riêng cho trưởng đoàn.

Có những vụ trưởng, cục trưởng sắp sửa nghỉ hưu, được thưởng một chuyến đi miễn phí, sang đến nơi chịu khó ngồi đồng mấy tiếng trong các buổi họp, sau đó là shopping mua đồ về xài hoặc tặng; những món này được xem là “có chất lượng”, vì là “hàng xách tay”.

Tại sao tôi biết những chuyện đó? Xin trả lời, một phần là do tình cờ hay đi lang thang trong khách sạn vào ban đêm sau khi ăn tối về, có khi là đến phòng tập thể dục để xả bớt stress thông dịch nhức đầu trong ngày; và một phần là do kinh nghiệm.

Thông thường trong một buổi họp, diễn giả người Mỹ nói thì thông dịch viên chúng tôi dịch cùng lúc qua micro là máy phát, và tai nghe là máy nhận. Sau khi nói và dịch xong là đến phần thảo luận hỏi đáp. Người không đủ tiêu chuẩn để đi với đoàn thường là những người hay ngủ gà ngủ gật hoặc chẳng bao giờ đặt câu hỏi, hoặc khi buộc vào thế phải đặt câu hỏi thì hỏi những câu thuộc loại “Trường Sơn đông Trường Sơn tây”, chẳng có ăn nhậu gì đến đề tài đang thảo luận cả.

Tại Vụ đặc trách Văn hóa Giáo dục, người gọi tôi đi theo đoàn thường là Brian. Có lần Brian nói với tôi, mình đã bảo với đại sứ quán Mỹ ở Hà Nội hãy nói với phía Việt Nam là thành phần phái đoàn phải được trải đều ra, vừa có người ở trung ương, vừa có người ở địa phương, nhưng cuối cùng chỉ toàn người miền Bắc. Kỳ này, có một người giữ vị trí lãnh đạo ở Nha Trang, một ở Hậu Giang nhưng gốc của hai người này vẫn là gốc Bắc. Brian còn kết luận một câu xanh rờn: Việt Nam bây giờ đang ở thời kỳ người miền Bắc đô hộ miền Nam, chúng ta chỉ có bó tay.

Tôi nói với Brian, Trương Tấn Sang, Nguyễn Minh Triết va Nguyễn Tấn Dũng là người miền Nam đấy chứ; thì Brian trả lời, Sang gốc Hà Tĩnh, các tay còn lại đã bị Bắc hóa cả rồi.

Bạn hỏi tôi các quan chức cộng sản đối xử với thông dịch viên như tôi ra sao?

Trước tiên, họ gọi những người như tôi là phiên dịch thay vì thông dịch viên. Theo chỗ tôi biết, cấp bộ trưởng trở lên mỗi khi ra nước ngoài có quyền mang theo phiên dịch. Bên trong và bên ngoài các buổi họp, tôi thấy các quan chức này đối xử với các phiên dịch giống như một thư ký cao cấp, hoặc nôm na là một loại sai vặt.
Các quan chức của Mỹ thì phần lớn xem thông dịch viên là một chuyên viên, một người trợ giúp mình, nhất là người Mỹ rất lười hoc thêm một ngoại ngữ, cho nên nói chung, họ tôn trọng, đối xử rất lịch sự với thông dịch viên. Sau mỗi lần dịch, họ gửi thư cảm ơn là chuyện bình thường, cho dù chữ ký trong thư có thể là ký bằng máy.

Bạn hỏi tôi các quan chức cộng sản có đủ trình độ để tiêu hóa hết những gì người Mỹ nói trong các buổi họp hay không?

Sự giao thiệp, tương tác giữa đoàn quan chức và hai thông dịch viên lúc mới bắt đầu gặp nhau ở phi trường Dulles thì còn xa cách, bở ngỡ, ngại ngùng; nhưng càng gần đến ngày về lại Việt Nam, hai bên có dịp hiểu biết, thông cảm nhau hơn; mặc dù vẫn giữ một khoảng cách nhất định.

Trải qua hai ba tuần lễ với nhau, các quan chức cũng nhận ra thông dịch viên là những người có kiến thức, có phong cách riêng, làm đúng công việc chuyên môn được giao; thay vì là những công an văn hóa hoặc CIA được chính phủ Mỹ cử đi theo kềm kẹp mình.

Trong lúc họp với người Mỹ, trong đoàn có những thành viên rất hiểu những gì diễn giả nói, nhất là khi gặp đúng ngành nghề chuyên môn. Những người này thường thường ít đeo tai nghe, phần vì vốn tiếng Mỹ họ khá, phần vì họ muốn thử xem trình độ tiếng Anh của mình tới đâu.

Một trong những người thuộc loại này là Vinh, cấp vụ trưởng. Vinh có cảm tình với tôi và có những tối thường lấy cớ này cớ nọ để đến phòng tôi hoặc mời tôi đến phòng Vinh nói chuyện, trao đổi, tâm sự.
Mặc dù đậu thủ khoa ở trường Trung học Thái Bình và Đại học quốc gia Hà Nội, gia đình Tiến sĩ Vinh vẫn phải chạy cho Vinh có một chỗ trong sở rồi đến bộ, và từ từ kinh qua hơn 15 năm, trải qua nhiều cuộc đấu đá, bon chen, thủ đoạn, Vinh mới leo lên chức vụ trưởng, chủ yếu là nhờ có quan thầy vững chắc.

Vinh xác nhận muốn có tiền phải có quyền, thành thử phải chạy vào những vị trí có quyền thực sự thì mới ăn đậm. Nhờ vậy mà bây giờ Vinh cũng có nhà, có ô tô, có hai con tuổi teen, có thể đưa gia đình du lịch Bangkok, Singapore thoải mái; nhưng vợ vẫn phải đi làm.

Khi tôi hỏi đảng cộng sản đã đánh thắng được những đế quốc sừng sỏ, nhất là đế quốc Mỹ, vậy mà có cái nạn tham nhũng dẹp mãi không xong, thì Vinh gạt đi:

– Thôi anh ơi, thắng Mỹ là may mắn chứ có hay ho gì đâu, năm 1972, thằng Mỹ muốn bắt tay với Trung Quốc nên nhả miền Nam ra chứ nếu không thì còn lâu mới thắng.

Vinh cũng thừa nhận chống tham nhũng rất khó, nội cái chuyện kê khai tài sản cá nhân để phát hiện xem nhà cửa có bao nhiêu cái, nguốc gốc từ đâu ra mà cũng không dám làm thì chống thế nào.

Theo Vinh, các hình phạt dành cho tham nhũng quá nhẹ, cho nên các quan chức cứ tranh thủ tham nhũng càng nhiều càng tốt, tích lũy tối đa trước đã, bị phát hiện thì chạy để hạ cánh an toàn, chạy không xong thì sẵng sàng đi tù, vô tù thì chạy để được ăn uống sung sướng, sau vài năm ra tù hưởng thụ suốt mấy đời với số tài sản còn lại, đã được tẩu tán nhiều nơi.

Trước chiến dịch đốt lò hiện nay, Vinh nói chỉ hồi hộp thôi chứ không sợ vì “bề trên” của anh đang rất vững, hơn nữa, anh cũng thuộc loại cá bé, so với những con cá mập, ăn khủng.

Khi tôi hỏi có cách nào “thay đổi” tình hình hiện nay hay không,
Vinh nói chuyện thay đổi rất phức tạp, bởi vì mình phải nhìn nhận một thực tế như thế này anh à.

Sau 44 năm, chỉ có người miền Nam là thấy khổ, thấy luyến tiếc thời kỳ tạm gọi là dân chủ, văn minh trước “giải phóng”. Ngược lại, người miền Bắc cảm thấy đời sống họ bây giờ sướng hơn thời kỳ bao cấp, ăn độn, tem phiếu; họ cứ nghĩ rằng nhờ đảng cộng sản nên họ mới được như vậy, cho nên vẫn còn rất nhiều người miền Bắc ủng hộ đảng cộng sản, cám ơn bác Hồ; họ đâu biết phải có tiền của Việt kiều gửi về, có vay mượn của Ngân hàng Thế giới, có đầu tư FDI hoặc ODA của nước ngoài, đảng đã bắt chước một cách vụng về những gì mà chế độ miền Nam trước 75 đã làm, và nếu đã bắt chước thì giải phóng làm gì để đến nỗi hàng triệu người chết, trải qua 44 năm lòng người vẫn còn ly tán, cơ may hàn gắn bằng không.

Vinh còn nói, giả sử bây giờ có thay đổi chế độ, chính quyền mới sẽ đối mặt với hai vấn đề lớn, chưa chắc họ đã được đa số người dân ủng hộ, và hàng núi rác rưới do chế độ cũ để lại rất khó dọn dẹp, khắc phục.

Trong khoảng 10 năm tôi đi theo các đoàn quan chức, mỗi năm trung bình hai chuyến, tôi đã có dịp tiếp xúc với vài người hiếm hoi như Vinh.

Họ là những quan chức có hiểu biết, có nghiên cứu, đã dính chàm nhưng không thoát ra được vì cơ chế nó là như vậy, họ chỉ làm “đúng quy trình”, họ hiểu những khuyết điểm của chế độ nhưng không dám đứng lên kêu gọi thay đổi, sợ mất nồi cơm, sợ bị tù, sợ mang tiếng phản lại các bậc tiền bối đã cất nhắc họ, sợ đủ thứ. Họ thường sống hai mặt, ở nơi riêng tư với tôi họ có thái độ khác, ở chỗ có những người cùng đoàn họ chuyển sang vai cán bộ gương mẫu, nói vanh vách theo nghị quyết.

Người nào cũng đưa tôi danh thiếp hai mặt giống họ, một mặt tiếng Việt ghi đủ thứ học hàm học vị, mặt bên kia ghi tiếng Anh nhiều chỗ dịch rất ngây ngô. Họ ân cần dặn tôi khi nào về Việt Nam chỉ cần “nháy” một tiếng là họ sẽ lo cho tôi tất tần tật, có ông Hải quan còn bảo tôi, anh mang vào cả chục iPhone em cũng đảm bảo cho qua mà không mất xu thuế nào.

Tôi cũng ân cần nhận danh thiếp nhưng trong bụng nghĩ quan chức như các anh thời giờ là tiền bạc, lúc nào cũng bận rộn mánh mung, hơi đâu mà tiếp những thằng như tôi. Hơn nữa, nếu tôi có về Việt Nam, thời gian của tôi cũng không nhiều, đi thăm bà con, bạn bè, đi ăn uống, du lịch, tìm về những kỷ niệm cũ còn chưa đủ, huống chi tìm gặp các anh.

Ngày qua ngày, thời gian qua mau, tôi cũng quên đi những quan chức Việt Nam đặc biệt mà tôi đã đi cùng trong những chuyến công tác cho Bộ Ngoại Giao Mỹ.

Cho đến buổi tối khi tôi sắp sửa bị các ông xâm mình đầy người bắt nạt ở quán cháo vịt Thanh Đa.

Sài Gòn

Vâng, bạn đã đoán đúng. Người vừa lớn tiếng gọi tôi chính là Vinh. Và sự ngạc nhiên chẳng những đến với tôi mà còn đến với bốn người ngồi bàn bên cạnh Hạnh và tôi nữa. Có lẽ họ ngạc nhiên gấp mấy lần chúng tôi.

Vì câu chuyện đến đây đã khá dài nên tôi xin tóm tắt phần còn lại.
Vinh giới thiệu với bốn người kia tôi là “ông anh” ở bên Mỹ về chơi. Và trong vòng một nốt nhạc, tôi thấy thái độ của bốn người quay gắt 180 độ.

Chị Ba và ba đàn em có hẹn với Vinh tối nay tại đây để nhờ Vinh thu xếp cho một giấy phép khai thác gỗ ở miền Trung.

Sở dĩ phải hẹn ở một quán bình dân vì quán này có tiếng là ngon và đây mới chỉ là tăng một. Sau khi Vinh xác nhận giấy phép chắc chắn được ký thì sẽ có tăng hai ở một nơi hoành tráng.

Nhân tiện, chị Ba cũng xin lỗi tôi và Hạnh về sự “hiểu lầm” vừa rồi, xin anh chị bỏ qua và cho em được mời anh chị bữa ăn hôm nay, và sẵn dịp mời anh chị tham gia tăng hai với chúng em, có đủ mục từ A đến Zét. Giọng chị thuộc vùng Nghệ hay Quảng mà tôi nhận không ra.

Chẳng những nhóm chị Ba mời mà cả Vinh cũng nhiệt tình lôi kéo tôi tham gia tăng hai để “cho anh thấy cách ăn chơi ở Việt Nam có xịn hơn hơn bên Mỹ hay không.”

Tôi cũng thuộc loại thich trải nghiệm những chuyện mới lạ, mỗi năm vẫn theo lời dạy của Đức Đạt Lai Lạt Ma tìm đến “chỗ nào bạn chưa từng đặt chân đến”; tuy nhiên, chỉ trong một giây suy nghĩ, thứ nhất tôi phải đi cùng với Hạnh để Hạnh về đến nhà an toàn, thứ hai đây là một phi vụ hợp tác giữa xã hội đen và xã hội đỏ, tôi chẳng thuộc phe nào, có mặt tôi hai phe sẽ không thoải mái, mất tự nhiên, cho dù có JW Blue Label hay Macallan 25 năm, cộng thêm chân dài kế bên, tôi vẫn thấy bơ vơ, lạc lõng.

Tôi cám ơn chị Ba đã thanh toán bữa ăn và bịa với Vinh rất tiếc, tôi có chuyến bay về lại Mỹ quá khuya hôm nay.

Trên đường chở tôi về lại khách sạn, Hạnh nói xã hội bây giờ có câu nhất hậu duệ, nhì tiền tệ, ba quan hệ, rồi mới đến bốn trí tuệ; chú thuộc loại thứ ba nên thoát được trận đòn của đám giang hồ.

Tôi trả lời Hạnh nói bậy rồi, bốn tiêu chuẩn đó chỉ dành cho người trong cuộc; còn chú bây giờ là người ngoại đạo.

Cái cảm giác bất lực, bó tay lại đến với tôi, tôi không muốn nói ra với Hạnh, vì ngại có nói, thế hệ của Hạnh cũng không hiểu.

Hạnh chỉ nghe tôi nói, thật ra cũng may đấy chứ, Hạnh còn nhớ mới xảy ra vụ dân giang hồ xâm trổ đầy người bao vây công an ở Đồng Nai gì đó không? Ngay cả trung tá đại tá công an còn bị anh em giang hồ bao vây định tẩn cho một trận, huống chi một gả Việt kiều già và dở hơi như chú.

Châu Quang 

https://www.danchimviet.info/o-hai-dau-thanh-pho/07/2019/15584/

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Thiền Sư và Cô Lái Đò – Trần Văn Giang

Thiền Sư và Cô Lái Đò – Trần Văn Giang

co lai do

(HNPD): Ngày kia, một Thiền sư phải qua sông. Vị Sư bước lên một chiếc đò của một cô lái đò xinh đẹp. Ngày kia, một Thiền sư phải qua sông. Vị Sư bước lên một chiếc đò của một cô lái đò xinh đẹp.Sau khi thuyền cặp bến, cô lái đò thu tiền từng người như bình thường, chỉ trừ nhà sư bị cô lái đò đòi tiền “gấp đôi.”Nhà Sư ngạc nhiên hỏi vì sao? Cô lái đò mỉm cười: “Thưa Thầy, vì Thầy đã nhìn em…”Nhà sư lặng lẽ trả tiền và bước lên bờ.

Một hôm nhà sư lại qua sông. Lần nầy cô lái đòi tiền “gấp ba.” Nhà sư ngạc nhiên lại hỏi vì sao? Cô lái đò cười bảo:“Thưa Thầy, Thầy đã nhìn em dưới nước.” Nhà sư nín lặng trả tiền “gấp ba” giá bình thường, và bước lên bờ.

Một hôm nhà sư lại qua sông. Vừa bước lên đò nhà sư nhắm nghiền mắt lại đi vào thiền định. Đò cập bến cô lái đò thu tiền “gấp năm” lần. Nhà sư ngạc nhiên, lại hỏi vì sao? Cô lái đò cười, đáp:“Thưa Thầy, Thầy không nhìn em, nhưng còn nghĩ đến em.” Lặng lẽ, nhà sư trả tiền gấp năm lần giá bình thường.

Một hôm nhà sư lại qua sông. Lần nầy nhà sư nhìn thẳng vào cô lái đò…Đò cập bến, nhà sư cười hỏi: “Lần nầy tôi phải trả bao nhiêu?” Cô lái đò đáp: “Em xin đưa Thầy qua sông, không thu tiền.”Thiền sư hỏi: “Vì sao?” Cô lái đò cười và đáp: “Thầy đã nhìn em mà không còn nghĩ gì tới hình ảnh em nữa… Do vậy em xin đưa Thầy qua sông mà thôi không lấy tiền…” …

(Chú ý: Chưa hết!  Xin xem thêm lời bàn và các lời kết bên dưới) _______

Lời bàn  Sau đây là 3 lời bàn (“comments”) trên mạng mà tôi thấy cũng   hay:

(1)- Tiếp cảnh sinh tư tình, rồi hành ý lãng tránh đều đã có dính mắc chấp giữ. Nhìn thẳng thấy rõ đúng như thực, bất khởi vọng niệm…

(2)- Đó thấy không?! Dzậy mà mấy bà cứ chửi mấy ông là “cứ thấy gái đẹp là tươm tướp, tươm tướp…”  nhưng thật ra đám lão nông chúng tôi là những người đã đắc đạo từ lâu rồi (?!): Chỉ nhìn mà không nghĩ gì cả (vì có nghĩ cũng chẳng được chi mà lại càng thêm tức… vì đã hết xí quách hết dzồi còn gì!!!)

(3)- Nói một cách khác, mọi sự từ TÂM mà ra, sống ở đời chỉ có chữ TÂM là đáng quý! Theo thiển ý của bỉ nhân, cô lái đò là hóa thân của một vị giác ngộ muốn dạy cho chúng ta một bài Pháp. Nhà sư gặp cô lái đò 4 lần:– Lần 1 bị trả tiền gấp 2 vì nhìn cô gái với tâm phàm (ham muốn).- Lần 2 bị trả tiền gấp 3 vì không dám nhìn thẳng, mà liếc bóng cô gái dưới nước. – Lần 3 bị trả tiền gấp 5 vì giả bộ nhắm mắt ngồi thiền nhưng vẫn tơ tưởng đến cô gái.- Lần 4 không phải trả tiền vì mặc dù nhìn thẳng cô gái nhưng tâm không bị dính mắc bởi những ý nghĩ xấu: Nhìn mà như không nhìn vậy! Trong Đạo Phật, có những câu nghe qua có vẻ nghịch lý nhưng rất thâm thúy như: – Giúp mà như không giúp, thế mới thật là  giúp.- Nhẫn mà như không nhẫn, thế mới thật là nhẫn.- Thương mà như không thương, thế mới thật là thương…________

Lời kết (Hai đoạn kết ngắn được Bác Mao Tôn Cương… Ẩu viết thêm vào phần cuối của câu chuyện “Thiền Sư và Cô Lái Đò” ở trên để gọi là góp… gió độc):

Lời kết số 1 viết thêm như sau: Một hôm nhà sư lại qua sông. Lần này cô lái đò không những không lấy tiền mà còn xin được đi theo hầu.Nhà sư hỏi: “Vì sao?”Cô lái đò đáp:”Thầy không những nhìn em, mà còn nhìn vào giữa hai chân em, một cách đường đường chính chính, không úp mở, không én lút. Đấy gọi là an nhiên trực diện với cái thực thể uyên nguyên, chứ không giả điếc không nghe, giả mù không thấy, giả ngu không hiểu. Tâm thức này chỉ thấy ở những bậc đại chân tu đã đạt đến cảnh giới thượng thừa. Nên em bội phần khâm phục, muốn được theo thầy học đạo.”Nhà sư trầm tư một lúc rồi thong thả đáp:”Quả là ta đã nhìn vào giữa hai chân cô. Ta cứ tưởng tâm mình đã hoàn toàn tĩnh lặng, không ngờ tâm ta lại ba đào nổi sóng. Thế mới biết còn lâu lắm ta mới có thể đạt đến cái cảnh giới thượng thừa mà cô mong đợi. Ta đã phụ lòng cô, thật đáng tiếc!”Cô lái đò suy nghĩ một lúc rồi ngập ngừng:”Nhưng em… vẫn muốn… theo thầy.Nhà sư hỏi: “Vì sao?”Cô lái đò đáp:”Trước em tưởng thầy là bậc chân tu nên xin được theo để học đạo. Nay em biết thầy là kẻ chân tình nên xin được theo để nâng khăn sửa túi.”Nhà sư chắp tay:”Thiện tai! Thiện tai!” *

Lời kết số 2 viết thêm như sau: Một thời gian sau, những người thường qua đò không còn thấy cô lái đò nữa mà lại có người đàn ông lái đò…  nhìn kỹ ra thì chính là ông Thiền sư ngày nào!Có người khách cắc cớ hỏi:“Thế cô lái đò đâu rồi Thầy?”Nhà Sư (?) trả lời:“Cô ấy đi lấy chồng dzồi.”“Mà cổ ấy lấy ai dzậy hà?”“Thì cổ ấy lấy… tui… Chứ còn lấy ai!”“Trời đất!”

Trần Văn Giang (ghi lại và viết thêm)

Nguồn:https://cdhanqk.com/index.php/menu-phatphap-bskhoang/174-thia-n-s-va-ca-la-i-a

Phụ bản Anh ngữ:

A ZEN MONK AND A FERRYWOMAN Translated into English by Nguyen Giac: “One day a Zen monk had to cross a river. He went over a ferryboat which was rowed by a beautiful woman.After the boat reached the other shore, the ferrywoman collected the normal fares from all passengers except the monk, who was asked to pay double.The monk was surprised and asked why.With a smile, the ferrywoman said, “Dear Venerable, because you gazed at me.”Silently, the monk paid double the normal fare and stepped onto the river shore.One day the monk had to cross the river again. This time the ferrywoman asked for triple the normal fare.The monk was surprised and asked why.With a smile, the ferrywoman said, “Dear Venerable, you gazed at my underwater reflection.”Silently, the monk paid triple the normal fare and stepped onto the river shore.One day the monk had to cross the river again. After boarding the ferryboat, the monk closed his eyes and sat in meditation.This time the ferrywoman asked for five times the normal fare. The monk was surprised and asked why.With a smile, the ferrywoman said, “Dear Venerable, you didn’t gaze at me, but you thought of me.”Silently, the monk paid five times the normal fare.One day the monk had to cross the river again. This time, the monk looked at her in the eyes.After the ferryboat reached the shore, the monk smiled and asked how much the fare was.The ferrywoman replied that the monk should pay nothing.The monk asked why.The ferrywoman smiled and said, “You looked at me, and cling not to any image. Thus, I carry you to the other shore for free.”

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Tự chuyển biến, tự chuyển hóa_Lính Dù (HNPĐ)

(HNPĐ): Tự chuyển biến, tự chuyển hóa” ở đây không phải là chuyện của cái nhà nước CHXHCN của Việt cộng, mà chúng nó hằng đang lo sợ điều này, đã luôn đề cao cảnh giác, học tập, kiểm soát, canh chừng rất kỷ trong nội bộ, để ngăn chặn sự diễn biến từ trong trứng nước….

… Mà đây là chuyện khởi đầu của một số dân cử gốc Việt trong dòng chính thuộc “băng Bố Già Trần Thái Văn”, mà trước đây họ luôn hiện diện tung hê chống cộng náo nhiệt vang trời rất được điểm trong các dịp sinh hoạt của các cộng đồng, hội đoàn, đoàn thể chính trị, tôn giáo của người Việt Quốc Gia tỵ nạn cộng sản… Chính nhờ thế mà họ có được lá phiếu để bước vào dòng chính trị Hoa Kỳ. Thế rồi, qua thời gian, tình thế đổi thay, Việt cộng ngày nay không còn là dép râu nón cối với “Đồng, Đài, Đạp, Honda” nữa mà đã trở nên những “Tư bản Đỏ” kếch sù hằng triệu, tỷ Dollars với quyền thế tuyệt đối trên 90 triệu dân Việt đang lầm than khốn khổ.

Các vị dân cử này nhìn về VN theo hướng của chính quyền Mỹ là … “miễn sao có lợi”, nhất là có lợi cho phe nhóm, cho bản thân. buộc họ phải… “tự chuyển biến, tự chuyển hóa”

Trong sinh hoạt chính trị của khối người Việt Quốc Gia, một điều có thể xác định rõ ràng là: cho đến nay, không có bất kỳ một vị Dân Cử gốc Việt nào đi vào được dòng chính của chính trường Mỹ mà không phải nhờ đến lá phiếu mang tính quyết định tích cực của cộng đồng Người Việt Quốc Gia tỵ nạn cộng sản. Đó như là chân lý, là sức mạnh thực sự của đại khối đồng bào Việt Nam tỵ nạn cộng sản trên khắp thế giới. Thành quả do “sức mạnh lá phiếu đoàn kết” của mình không phải để tự mãn, tự sướng, kiêu hãnh suông với những “đứa con cưng” tinh thần của mình nay là “ông nhà nước” là thị trưởng, là nghị viên, là ông bà Hội Đồng này nọ trong chính trường Hoa Kỳ….. “tuổi trẻ nó giỏi hơn mình, hậu sinh Khả Úy” được làm ông trời con, rồi buông xuôi cho nó làm gì thì làm, một mực nuông chiều !!! thế là hỏng !!!

Ông chủ tịch HĐ Giáo Dục Garden Grove Nguyễn Quốc Lân từng nói trong một chương trình YouTube THP. rằng các tổ chức gọi là cộng đồng, hội đoàn, này nọ của người Việt ở đây là những tổ chức tư nhân vô vụ lợi, chỉ có năm ba người hoặc nhiều lắm vài chục người không có một giá trị gì cả. !!!

Kinh nghiệm, chính trường Hoa Kỳ, thể hiện qua các vị dân cử mỗi khi đã được vào dòng chính, thì sẽ không bao giờ có chuyện luôn đồng hành với tinh thần, ý chí chống cộng của đồng bào tị nạn cộng sản đã bầu họ lên đâu, nếu có chẳng qua là hình thức xum xoe xu nịnh nhất thời đế lấy phiếu hoặc trong từng giai đoạn phù hợp nào dó, từng sự kiện phù hợp nào đó, hoặc mỗi khi thấy có lợi về chính trị, kinh tế chung …và…. ngay cả có lợi cho phe nhóm cũng như cá nhân bản thân, gia đình của họ mà thôi. Hoàn toàn không còn lý tưởng chống cộng gì ở nơi họ nữa. Đồng bào tỵ nạn đừng có cả tin trông chờ để rồi sẽ phải thất vọng ê chề.

Trước đây khi VN chưa có bang giao với Mỹ, Việt cộng còn nghèo đói, chưa có “Tư bản Đỏ” thì các vị dân cử luôn ôm cứng tinh thần chống cộng cùng đồng bào tỵ nạn là cái nôi đã “đẻ” ra họ để tồn tại và vươn lên trong dòng chính Hoa Kỳ, chứ nếu liên hệ với VC trong nước thời đó để mà ăn Bo Bo hay sao !!!…mấy đứa xướng ca như Khánh Ly, Thanh Tuyền, Chế Linh… còn nhận biết cái khôn vặt nầy huống chi là các ngài thị trưởng, nghị viên… ta.

Nhưng nay thì khác rồi, Việt cọng nó đã thành “tư bản đỏ”, nếu nó không mua ai đó được bằng nước bọt tuyên truyền như khi xưa hoặc …bằng tiền còm … thì nay nó sẽ mua được bằng… rất nhiều tiền, dễ dàng đánh tráo khái niệm bằng mọi mưu ma chước quỷ khôn lường.

Các vị dân cử gốc Việt do quyền thế chính trị dòng chính, nay có thêm được nguồn mối lợi rất hấp dẫn từ VN. Biết thế, Việt cộng đã và đang sử dụng ma lực kim tiền để mua cho bằng được với bất cứ giá nào !!!

Bởi vậy các Ngài dân cử trong băng “Bố Già Vĩ Đại” Trần Thái Văn đã và đang âm thầm “khẩn trương” tự chuyển biến, tự chuyển hóa như con bạch tuột đang đổi màu rình mồi mà một số đông đồng bào tị nạn không hề hay biết.

Diễn tiến……..

Không biết âm mưu manh nha hoạch định rồi đến hành động bí mật “tự chuyển biến, tự chuyển hóa” khởi sự từ lúc nào, nhưng… hội chứng đã lộ ra kể từ khi NV Tyler Diệp được tái cử vào HĐ TP Westminster, ông nầy ma-lanh nhất đám, khi đã bẻ lái được nàng NV Protegee Kimberly Hồ, một mình đã đưa ra đề mục (nay thì không được, vì thị trưởng Trí Tạ sau khi xảy ra vụ “Hai Phượng” đã ra nghị quyết phải có 3 người mới được đưa ra một đề mục để bàn thảo trong nghị trường theo chỉ thị phải đạt cho bằng được con “số 3” của thầy dùi Trần Thái Văn) tăng nhiệm kỳ của thị trưởng từ 2 năm lên 4 năm, đương nhiên với bộ ba “Diệp,Tạ, Hồ” đánh bại Margie Rice và Sergio Contreras dễ dàng để đưa ra nghị quyết ghi đề mục trong lá phiếu phổ thông. Trong cuộc tổng tuyên cử giữa kỳ năm 2018, đồng bào tỵ nạn lúc này rất yêu mến “con cưng Tạ Trí”, đã dồn phiếu ủng hộ, nhờ thế nghị quyết tăng nhiệm kỳ thị trưởng từ 2 năm lên 4 năm của TP Westminster đã thành Đạo Luật. ..Tạ Đức Trí là thị trưởng nhiệm kỳ 4 năm đầu tiên của TP Westminster, bà cựu thị trưởng Rice than trời như bọng….

https://www.youtube.com/watch?v=SXKyVBBU16E

Từ lúc nào…. Nghị viên Tyler Diệp, nay là dân biểu tiểu bang California đã hùn vốn làm ăn (kiêm bình luận gia) với VietfaceTV do Marie Tô Ngọc Thủy làm Tổng giám đốc kiêm Giám đốc ParisBynight con gái rượu của Tô văn Lai ?

Từ lúc nào… trạng cải kiêm Giám đốc học chánh TP Garden Grove Nguyễn Quốc Lân làm cố vấn chính trị cho VietFace TV, và đài nầy đã thông đồng làm ăn trao đổi văn hóa kiểu “Bác đang cùng chúng cháu hành quân”, rồi kinh tế, tài chánh với đài Truyền hình Việt cộng Vĩnh Long TV trong nước do tư bản đỏ Việt cộng Lê quang Nguyên làm giám đốc ?

Từ lúc nào… con gái của VC Lê Quang Nguyên là Lê Hồng Hạnh nay làm phụ tá TGĐ VietFace TV tại Mỹ, là Boss của dân biểu Tyler Diệp và ông chủ tịch HĐ giáo dục Nguyễn Quốc Lân….. Nghe nói cha con đảng viên VC Lê Quang Nguyên có thị phần rất lớn trong VietFace TV.!!!

Ngày 1-1- 2018, qua trung gian kiều nữ Kiều Chinh, ngài thị trưởng Westminster Trí Tạ cùng phu nhân ký hợp đồng hợp tác kinh doanh sản xuất phim ảnh (lại ..văn hóa) thực hiện trong nước qua Alan Vo Ford thay mặt diễn viên Ngô Thanh Vân…..(lúc nầy còn bí mật, chua ai biết …)

Một năm sau, … đầu tháng 3-2019, phim Hai Phượng được chiếu ở Orange County, nhiều người VN đi xem khen phim đánh đấm hay, xã hội loạn lạc, bắt cóc buôn người, cảnh công an chìm, nổi triệt phá băng đảng tội phạm hấp dẫn…. đạo diễn Hai Phượng Lê văn Kiệt được Victoria Tố Uyên phỏng vấn trên SBTN, Ngô thanh Vân được ca ngợi đến trời xanh…

Thế rồi, đùng một cái…!!! trên 30 tờ báo Việt Cọng trong nước đồng loạt đưa tin, với hình ảnh chụp buổi lễ ngày 5-3-2019 tại văn phòng thị trưởng, Ngài thị trưởng TP Westminster đã ưu ái giới thiệu văn hóa phẩm Việt Nam ra với thế giới bằng việc trao tặng Nghị Quyết của TP Westminster vinh danh Ngô Thanh Vân diễn viên chính phim hành động “Hai Phượng” được ban Tuyên giáo TW, Bộ Thông Tin và Truyền Thông VC, đặc biệt bộ Công An giúp cố vấn kịch bản cũng như dàn dựng.

Sau này, qua những messages trao đổi trên T- Mobile phone với hình ảnh rõ ràng đầy đủ giữa những người ký hợp đồng làm phim, cũng như sự công khai nói về hợp dồng làm phim Hai Phương của Alan Vo Ford trong một sinh hoat sân khấu vào tháng 6/2018, chứng tỏ Tạ Trí và vợ có ký kết trong hợp đồng làm phim nầy.

Phim “Hai Phượng” với số vốn ban đầu xấp xỉ 2 trăm ngàn Dollars,

Nay sau sáu tháng từ khi ra mắt đến nay, doanh thu tính cả trong nước và hải ngoại đã lên trên 10 triệu Dollars.

Đồng bào người Việt Quốc gia Nam Cali ngơ ngác… bàng hoàng….

Thủ đô tỵ nạn Little Saigon, từ vĩa hè đường phố đến cafee terrasse, nhà hàng quán phở đâu đâu cũng âu sầu khi nói đến “Ngài Thị Trưởng Đổi Màu”.

Tối thứ Tư,13 -3-2019, HĐ Thành Phố Westminster với “Tam Đầu Chế” Trí Tạ, Kimberly Ho, Charlie Nguyễn đã thông qua 3/5 nghị quyết công nhận tháng Tư là tháng Người Mỹ gốc Việt, (không còn Tháng tư Đen nữa như thường được gọi trong hơn 40 năm nay). Tuy nhiên bị người dân phản ứng dữ dội, có thể diễn ra biểu tình phản đối, do đó trong phiên họp ngày 16-3-2019 HĐ TP đã biểu quyết hủy bỏ NQ tháng Tư là tháng Người Mỹ gốc Việt, và sau đó NV kimberly Hồ đề Nghị tu chính là tháng Tư Đen. Ông Bettenhausen nói:

– “Vì đây là cuộc họp bất thường, không phải họp thường kỳ, nên chúng ta không tu chính được.

Thị trưởng Trí Tạ nói:

– “Chúng ta không thể làm được hôm nay. Chúng ta sẽ đưa vụ này vào nghị trình cuộc họp kỳ tới để điều chỉnh lại.”

… tuy nhiên cho đến nay HĐTP chưa đưa ra được một nghị quyết chính thức để đặt tên cho tháng Tư. như đã hứa.

Đầu tháng Tư 2019, Cộng Đồng Người Việt QG Nam Cali, cùng các hội đoàn Dân Quân Cán Chính VNCH đang chuẩn bị cho lễ Tưởng Niệm Ngày Quốc Hận 30-4-2019 tại Tượng Đài CS Việt Mỹ, như bao năm nay thì…

… ngày 18-4-2019, các dân cử gồm có : thị trưởng Trí Tạ, P. thị trưởng Kimberly Hồ, NV Charlie Nguyễn, Chủ tịch HĐ GD Garden Grove Nguyễn Quốc Lân, Chủ tịch HĐGS Quận Cam Andrew Đỗ, NV Michael Võ họp báo công bố quyết định tổ chức khẩn cấp lễ Tưởng niệm Ngày 30-4. tại Parking lot tuần báo VietMy của David Võ chỉ cách tượng đài Việt Mỹ 300 mét, cùng ngày cùng giờ với buổi lễ bên tượng đài CS Việt Mỹ.

https://vietmynewspaper.com/2019/05/04/nhom-dan-cu-orange-county-to-chuc-tuong-niem-30-thang-tu-den/

(Đố quí vị tìm ra được cụm từ “NGÀY QUỐC HẬN” Trong bản tin buổi họp báo trên báo ViệtMỸ của David Vo)

Một điểm khác nhau đặc biệt về tên gọi buổi lễ:

– Buổi lễ bên Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ có tên là: Lễ Tưởng Niệm Quốc Hận 30-4-1975.

(https://www.youtube.com/watch?v=7V0Lo58k3EI&t=1204s)

– Bên parking lot báo ViệtMy của các dân cử được gọi là: Lễ Tưởng Niệm ngày 30 tháng tư Đen


https://www.youtube.com/watch?v=q-WUj2GbVqc

(đố quí vị tìm ra được cụm từ “NGÀY QUỐC HẬN” từ cửa miệng của các Dân cử như thị trưởng Tạ Đức Trí, GSV. Andrew Đỗ, LS Trần Thái Văn…..ngay cả MC Minh Phượng, -lạ lùng quá thưa quí vị !!!)

Khi lần lượt hệ thống lại những sự kiện trực tiếp cũng như gián tiếp, ngôn từ rồi sau cùng tổ chức một buổi lễ gọi là “Lễ tưởng niệm 30 tháng Tư Đen” chỉ cách 300 mét, cùng ngày cùng giờ Buổi lễ Tưởng Niệm Quốc Hận hằng năm được phối hợp tổ chức bởi các hội đoàn Quân, Dân Cán Chính VNCH và Cộng Đồng Người Việt QG Nam Cali. hậu duệ… thì ai cũng thấy rằng :

Những người một thời là “con yêu” của cộng đồng người Việt Nam tị nạn cộng sản tại Orange County, một lòng nâng niu, một lòng gom hết toàn lực lá phiếu cho họ để họ vào chính trường Hoa Kỳ, rồi nay họ trở mặt, công khai chống đối lại vì những viên gạch lót đường cho họ đi lên: cộng đồng, các hội đoàn, đoàn thể Người Việt Quốc Gia chống cộng, nay ngẫu nhiên là vật cản khiến họ phải đạp bỏ trên con đường hướng về bên kia đã và đang dể dàng tạo cơ hội có được vinh thân phì da, họ chơi kiểu Mỹ mà !

Việt cộng gọi kiểu này là: “tự chuyển biến, tự chuyển hóa”
https://www.youtube.com/watch?v=uoI-NL5KBQs

Cơn mê Chiều

Lính Dù

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Ủng hộ Dự Luật Trừng Phạt Biển Đông

GS Nguyễn Văn Canh, một người Thầy khả kính của LL/CSQG, đã dành nhiều tâm huyết cho “Dự Luật Trừng Phạt Biển Đông S.1634” đã và đang được Thượng Viện HK chuẩn bị biểu quyết. Dự Luật có nhiều triển vọng sẽ được Thượng Viện chuẩn thuận và chuyển xuống Hạ Viện để biểu quyết.
Vì Dự Luật có liên hệ đặc biệt đến Việt Nam, nên theo đề nghị của GS Nguyễn Văn Canh, chúng ta cần vận động các vị dân biểu, nghị sĩ trong địa hạt của mình ủng hộ Dự Luật này bằng cách gởi thư (qua email) tới họ theo nội dung như mẫu thư dưới đây để yêu cầu họ vote “Yes” cho Dự Luật:

From: (Email của người gởi)

To: (Email của dân biểu liên bang trong đơn vị của người gởi)

· Subject: South China Sea and East China Sea Sanctions Act of 2019

· Message Body: 
I would like for you to support “The East China Sea and South China Sea Sanctions Act of 2019”. “Vote for it” means you contribute to stability in the region, also show that the USA is the only power that can maintain order  and security for the world.”
We believe that S.1634 – 116th Congress is a need for our country, and respectfully ask you to vote ‘Yes’ on it.

Sincerely,
(Tên và địa chỉ của người gởi

Thí dụ: Nguyễn Văn X.

            12345 ABC Street, OPQ City, Zip#……….)
Quý NT và C/H chỉ cần gởi thư tới các dân biểu trong đơn vị của mình. Để biết, tên dân biểu và gởi email tới vị đó, quý vị có thể vào website sau đây :

https://results.org/volunteers/action-center/legislator-lookup/?vvsrc=%2fAddress

Sau đó, click vào tên vị dân biểu liên bang của đơn vị mình rồi click vào ô “Compose Your Message” và điền các chi tiết như mẫu thư ở trên rồi gởi đi.

Rất mong quý NT và quý C/H hưởng ứng.

Thân kính,

NĐT

Sample Letter copy

 

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | %(count) bình luận

Thư Cám Ơn & Biên Nhận của ĐNH Cám Ơn Anh Kỳ 12

Đại Nhạc Hội Cám Ơn Anh Người Thương Binh VNCH Kỳ 12 do Hội H.O Cứu Trợ TPB/QP/VNCH tổ chức đã diễn ra ở Little Saigon (Nam CA) ngày 21/7/2019 vừa qua. Trong số các ân nhân đã đóng góp để gây quỹ giúp các TPB và Quả Phụ VNCH còn ở trong nước có sự đóng góp của nhiều AC K1-HVCSQG. Tổng cộng số tiền K1 đã quyên góp được là $7.700 USD, trong đó riêng Quỹ K1 đã ủng hộ $500 USD; toàn bộ số tiền đã chuyển tới BTC trong ngày ĐNH.

Dưới đây là phóng ảnh Thư Cám Ơn và Biên Nhận của Hội H.O…. gởi tới Ban Đại Diện K1:

Thu Cam On DNH COA Ky 12

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Hồn Sách Cũ_St

HỒN SÁCH CŨ

Đối với những người đang ở độ tuổi “ cố lai hy”, những cuốn sách như Quốc văn giáo khoa thư, Tâm hồn cao thượng, Thơ ngụ ngôn La Fontaine một thời đã là những cuốn sách “gối đầu giường ”. Đó như là những người bạn thân, đã gắn bó suốt khoảng thời gian thơ ấu của họ…

      Quốc văn giáo khoa thư là sách giáo khoa, vì thế rất gần gủi với nhiều thế hệ.học trò khắp mọi miền đất nước vào khoảng nửa thế kỷ trước. Thuở đó, ai cũng thuộc nằm lòng các câu văn thật giản dị, gần gủi  như  “Xuân đi học coi người hớn hở”, hay “cậu Thu đi ở giữa đường”. Ai cũng nhớ mãi hình ảnh cậu bé “ngất nghểu trên mình trâu”, hay hình ảnh cụ già hì hục khuân tảng đá, hoặc như vẫn còn nghe được tiếng ru của bà trong  buổi trưa “trời nắng chang chang, gió im phăng phắc”….

      Cũng nhờ  Quốc Văn Giáo Khoa Thư, tuổi học trò hồi đó mới biết được những mẫu chuyện bên Trung Quốc như thầy Tử Lộ đội gạo nuôi song thân, ông Lý Tích nấu cháo cho chị mà bị cháy râu, ông Lưu Khoan tha thứ cho người nữ tỳ đổ cháo lên áo ông, rồi cả chuyện bên trời Tây như ông Carnot trở lại trường xưa thăm thầy cũ; những gương hiếu học như Chàng Thừa Cung chăn lợn qua trường học, ông Châu Trí ở tại chùa Long Tuyền đốt lá đa làm đèn…Tất cả những nhân vật quen thuộc của “một thời giáo khoa thư” đều là những gương tốt, đôn hậu, thật thà, thương yêu, nhân ái với một ý tưởng luôn luôn nghĩ đến người khác.

      Quốc Văn Giáo Khoa Thư cũng chứa đựng nhiều vần thơ lục bát, mỗi bài chỉ có từ sáu đến mười câu nhưng chan chứa ý nghĩa thâm sâu, vần điệu ngọt ngào như những lời ru, nhiều câu đã trở thành những “thành ngữ” phù hợp với những chuyện thường xẩy ra trong đời thường. Ai cũng đã nghe và thuộc những câu “chốn quê hương đẹp hơn cả”, “ôi cảnh biệt ly sao mà buồn vậy”..

      Một cuốn sách khác tuy là phát xuất từ Tây phương, nhưng đã gây ấn tượng mạnh trong tâm hồn của những học cô cậu học trò thời đó, đó là  cuốn Tâm hồn cao thượng do ông Hà Mai Anh dịch từ cuốn Grand Coeur của Edmond De Amicis (1846-1908).  

 Những câu văn thật nhẹ nhàng như  “Hôm nay là ngày khai trường. Mấy tháng hè trôi qua như một giấc mộng. Sáng nay mẹ tôi đưa tôi vào trường Ba Lệ Tư để ghi tên lên lớp ba…” trên bài thứ nhất viết về tháng mười của cuốn Tâm Hồn Cao Thượng. Mặc dầu với những cái tên phiên âm rất trúc trắc, xa lạ, nhưng dường như ai cũng quen thuộc với những cái tên như An Di, Phan Tín, Hạ Long,…tất cả được coi  như những đứa bạn cùng lớp với mình, cũng như hình ảnh của thầy Bích Niên với mái tóc bạc, hay cô Đan Cát Tiên hiền lành trở nên rất gần gũi….

      Cuốn sách có mười chương, mỗi chương là một tháng học trong niên khóa, mỗi tháng có sáu câu chuyện thể ký sự của một cậu bé 11 tuổi tên An Di và một câu chuyện kể trong tháng. Những câu chuyện của An Di trong Tâm hồn cao thượng chỉ là những câu chuyện chung quanh rất “đời thường” xẩy ra trong lớp học, ở một thành phố nhỏ tên Turin ở phía bắc nước Ý. Tâm Hồn Cao Thượng là những chuyện về lòng thương yêu của cha mẹ, sự tận tụy của thầy cô giáo, lòng nhân ái của con người, làm cho người đọc dễ xúc động về những câu chuyện kể. 

    Trong sách, có câu chuyện kể về những trẻ em mù, một em bé đã thốt lên câu nói rất cảm động : “Lạy trời cho tôi được mở mắt một phút thôi, để tôi nhận lại mặt mẹ tôi mà tôi đã quên mất rồi!”. Cuốn Tâm hồn cao thượng  cho  ta biết hạnh phúc là gì, nói về những điều ai cũng  có mà  không hay biết. Đó là những câu chuyện kể rất bình thường, dịu dàng của một người thầy nói với học trò, một người mẹ nói với con, không chỉ làm rung động những tâm hồn ấu thơ , mà và ngay cả đối với những người lớn, những câu chuyện bình thường mà chan chứa những điều nhân nghĩa. Dù cuốn sách lấy bối cảnh của một thành phố tận nước Ý xa xôi, nhất là vào một thời điểm mà thế giới chưa rộng mở như ngày nay, nhưng người đọc vẫn cảm thấy gần gũi với những câu chuyện “rất Người”. Như tựa đề Tâm hồn cao thượng, cuốn sách làm cho tâm hồn người đọc hướng thượng, tốt hơn, hiền hơn, biết yêu thương hơn…

     Một cuốn sách khác là cuốn thơ ngụ ngôn Les Fables de La Fontaine do Nguyễn Văn Vĩnh dịch từ Pháp ngữ, với phần minh họa của họa sĩ Mạnh Quỳnh. Chắc hẳn nếu không có học giả Nguyễn Văn Vĩnh, thơ ngụ ngôn của thi hào La Fontaine (1612-1695) không thể phổ biến đến đại đa số người Việt trong những thập niên 40, 50 của thế kỷ trước Ngày nay những lời dịch của ông  từ thơ La Fontaine đã thành những thành ngữ rất quen thuộc như “Lý kẻ mạnh bao giờ cũng đúng”, “Con Nhái Muốn To Bằng Con Bò”, “Con Cáo với Giàn Nho”, “Hội Đồng Chuột”, “Bán Da Gấu”, “Gà Đẻ Trứng Vàng”, “Chuyện Cô Bê Rét”…  Thơ ngụ ngôn của La Fontaine đã đưa ông lên vị trí của những nhà thơ cổ điển nước Pháp. Có những ví von, những câu nói cửa miệng, chúng ta dùng thường ngày, nhưng  ít ai khi nghĩ đến nó phát xuất từ những chữ nghĩa mỉa mai, răn đời của nhà thơ  La Fontaine.

       Đó là những cuốn sách đã đi vào tâm tưởng của nhiều thế hệ học trò của nửa đầu thế kỷ trước. Cho dù hôm nay da đã mồi, tóc đã bạc, nhưng mỗi khi ngồi giở lại từng trang sách, ai cũng thấy lại được những ngày xưa thơ ấu của mình… Và mặc dù ngày nay,  nó đã được in lại trên những trang giấy mới, bìa mới, thơm mùi mực mới, nhưng đây chính là…những cuốn sách rất cũ trong cái “thư viện tâm hồn” của những người đang hoặc đã bước vào cái tuổi  “  cổ lai hy..”

(NGUỒN: tuyendinh75.blogspot.com)

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Chiếc Nhẫn Ân Tình_Bùi Thượng Phong

ringChiếc nhẫn ân tình

* Bùi Thượng Phong

Khoảng cuối năm 1967 tôi nhận được Sự-vụ-lệnh về cầm một Đại Đội của một Tiểu Đoàn mới thành lập chưa được bao lâu, thuộc Sư Đoàn 25 Bộ Binh lúc đó đang đồn trú tại quận Đức-Hòa.

TĐ này trước đó mấy tháng, được đặt dưới quyền chỉ-huy của một vị Thiếu Tá rất nổi tiếng bên Biệt-Động-Quân mới chuyển qua. Vì công-sự phòng-thủ chưa hoàn tất, BCH/TĐ phải tạm thời đóng trong một ngôi biệt thự của một nhà máy xay lúa. Lợi dụng cơ hội này, VC đã bất ngờ dùng đặc-công và nội-tuyến, trong một đêm đen tối, chúng đã tràn ngập vào được BCH/TĐ ngay từ những phút đầu, gây thiệt hại rất nặng cho bên ta. Tai hại nhất, chúng đã lấy đi mạng sống của cả hai vợ chồng vị Tiểu Đoàn Trưởng mà ai đã từng là Biệt-Động-Quân cũng đều phải nghe danh : “Thiếu Tá Cọp-Ba-Đầu-Rằn”!

Tiếc thương ông và người vợ nữ-lưu anh-hùng, nhưng mọi người thầm tự hỏi : Có phải ông đã quá khinh địch ? Hay ông có điều gì bất mãn khi đang trong một Binh chủng nổi tiếng, nay phải chuyển về một đơn vị Bộ binh khiến ông lơ là thiếu cảnh giác ? Điều này chỉ riêng mình ông biết!

Sau trận thảm bại này, các anh em Binh sĩ trong TĐ xuống tinh thần rất nhiều ! Tiểu-đoàn phải chờ bổ xung thêm quân số và cần được “hấp” lại. Và tôi được chuyển về đây cũng trong dịp này.

Được nương nhẹ rất nhiều, nhiệm vụ chính của TĐ lúc đó hầu như chỉ là hành quân mở đường và làm an ninh vòng ngoài cho BTL/SĐ25BB tại Đức Hòa. Lâu lâu cũng có hành quân, nhưng chỉ là những cuộc hành quân lục soát quanh vùng, sáng đi chiều về, như công chức !

Trong khoảng thời gian coi như nhàn hạ này, tôi đã quen biết một đứa bé gái tên là Hân, lúc đó khoảng 8, 9 tuổi, là cháu gọi bằng dì của cô Thanh, chủ ngôi nhà mà tôi đã xin phép để đặt BCH/ĐĐ.

Tôi chọn nhà cô Thanh vì không những nhà có một sân lớn, mà còn có cả một cái nhà cầu đàng hoàng ! Cô Thanh, một phụ nữ khoảng trên dưới ba mươi, không đẹp cũng không xấu, ăn nói rất nhỏ nhẹ, dễ thương. Tôi không thấy chồng cô. Dù cô nghỉ dạy học đã lâu để trông coi việc ruộng nương, nhưng bà con lối xóm vẫn quen gọi cô là Cô Giáo. Dĩ nhiên cô Thanh không hề là đối-tượng của những sĩ quan còn rất trẻ như chúng tôi hồi đó.

Còn nhớ ngày đầu tiên gặp và nói chuyện với cô ở ngoài sân, về việc xin tạm dùng căn nhà làm BCH/ĐĐ, tôi thấy có một đứa bé gái đứng dựa lưng một gốc cau gần đó, đang nheo mắt nhìn tôi rất chăm chú. Thấy nó dễ thương, tôi quì một chân xuống ngang tầm nó và ngoắc nó lại. Nó phụng phịu lắc đầu không chịu. Cô Thanh nói như hơi gắt :

– Hân không được hỗn, lại cúi đầu chào Thiếu-úy, đi con !

Vẫn còn phụng phịu, nó tiến lại gần tôi và lí nhí nói mấy câu gì tôi cũng không nghe rõ !

Tôi thông cảm sự thay đổi quá đột ngột đối với gia đình cô giáo, đang vắng vẻ, neo đơn ; nay bỗng dưng ồn ào náo nhiệt, ra vào toàn lính là lính !

Cô Thanh thì còn bận rộn với ruộng vườn, công thợ… chứ bé Hân thì ngoài giờ đi học, nó đụng độ tụi tôi suốt ngày ! Mấy ngày đầu, nó có vẻ còn tránh né, nhưng rồi sau đó quen hết anh hạ-sĩ y-tá này đến bác thượng-sĩ thường-vụ kia. Nó trở nên vui vẻ và hòa đồng rất nhanh với cái không khí ồn ào nhưng kỷ-luật của đời lính chúng tôi. Đặc biệt, Hân quí tôi hơn cả, vì có mấy lần tôi đã giúp em giải một vài bài toán khó trong lớp. Nó quấn quít bên tôi suốt ngày, chuyện trò líu lo không ngừng nghỉ. Có những lần tôi đi hành quân về, nó núp trong bụi, rồi chợt ùa ra ôm lấy chân tôi cười nức nở… Mới 8, 9 tuổi, mà em đã biết dành dụm tiền để mua đường, nấu đãi chúng tôi những bát chè thật ngọt ngào ấm bụng ! Bù lại, những lần đi phép, không lần nào tôi không mua cho em, khi thì đồ chơi, khi khác là sách, tập…

Hân mồ côi cả cha lẫn mẹ.

Quê em ở mãi đâu vùng An-Hiệp, Thái-Mỹ. Em kể với tôi, nước mắt lưng tròng : Cha em một hôm đi làm ruộng, đạp nhằm phải mìn VC, chết không kịp trăn trối ! Hơn năm sau, người mẹ cũng ra đi vì bịnh ! Thế là em phải về núp bóng dì em, là cô giáo Thanh.

Tôi lúc đó chưa lập gia-đình, thực tình, tôi thương Hân như thương người em út, nó còn kém đứa em út của tôi ba, bốn tuổi !

Tuy ở với dì ruột, tôi biết Hân đang thiếu một tình thương phụ mẫu, nhất là hình bóng của một người cha. Và… không phải là một nhà tâm-lý-học, tôi không thể biết nổi : ở tuổi nào sớm nhất, một đứa con gái có thể biết yêu ? Vì có một lần, mấy cô bạn gái của tôi từ Sài gòn lên thăm. Khi họ ra về, bé Hân đã đối xử với tôi một cách rất khác thường ! Nó lảng tránh và ít nói hẳn, không hồn nhiên như trước nữa ! Hình như nó cũng biết hờn, ghen ? Tôi nghĩ dù sao, nó chỉ là một đứa con nít ! Mà đúng thế, chỉ được hai hôm là cô nàng đã quên hết ! Lại dở trò nghịch ngợm, chọc phá như cũ…

Hồi đó cứ như thế, tôi lấy tình thương yêu của anh em binh sĩ dưới quyền và luôn của bé Hân như một hơi ấm gia đình. Đang ở cái tuổi tràn đầy nhựa sống, mấy anh chàng sĩ quan lóc chóc như tụi tôi, có thì giờ là la cà tán tỉnh mấy em cỡ tuổi đôi tám, chợt nở rộ như những bông hoa đầy hương sắc miền thôn dã, chẳng hạn như em Huệ con một ông chủ nhà máy xay, hoặc Giáng Tiên, hoa khôi tỉnh Hậu-Nghĩa !

Thế nhưng mấy tháng nhàn hạ qua nhanh như gió thổi, khi TĐ vừa có một sinh khí mới, thì biến cố Tết Mậu-Thân xẩy ra ! TĐ hành quân mệt nghỉ, ngày nào cũng có hành quân, ngày nào cũng có đụng độ, mà trận lớn nhất xẩy ra vào trước Tết khoảng 2, 3 ngày. ĐĐ của thằng bạn cùng khóa nhẩy vào giữa một TĐ VC. Chúng đang ếm quân trong khu vực Rạch Gấu, chờ xâm nhập để đánh vào Phú-Lâm ngày mồng một Tết. Hai trực thăng bị trúng đạn phải quay về, ĐĐ của nó thành ĐĐ trừ ! Không đủ trực-thăng, ĐĐ của tôi phải lội bộ vào tiếp cứu. Địch áp đảo về quân số, vũ khí có thừa, nhưng mục tiêu của chúng là vùng Chợ Lớn, ngày Tết, không phải là chúng tôi.. Thế nên chúng chỉ cầm cự, chờ đêm xuống là rút.

Vậy mà mãi mờ sáng hôm sau, tụi tôi mới thanh toán xong mục tiêu. Nhờ những phi-vụ oanh tạc và pháo binh bắn suốt đêm, VC dù đã cố kéo theo, nhưng cũng đành để lại rất nhiều xác chết và vũ khí. Mặc dù vậy, chúng tôi cũng không vui gì khi phải đem xác thằng bạn ĐĐ Trưởng và bốn Binh sĩ dưới quyền của anh ! Tội nghiệp, anh quê ở Hóc Môn, ra trường là xin ngay về SĐ 25 cho gần nhà !

Khóa chúng tôi đã có một số nhờ tài thao lược, lòng dũng cảm, cộng thêm sự may mắn, đã vượt qua nhiều gian khổ và nguy hiểm mang lại nhiều chiến công vẻ vang cho Quân đội, nổi bật nhất là Trung Tá BĐQ Lê-văn-Ngôn với 510 ngày trấn thủ Tống-Lê-Chân. Đa số còn lại đều đã hy sinh khi còn rất trẻ, trong những trận đánh tuy khốc liệt, nhưng không một ai biết, chẳng một ai hay ! Tên tuổi và thành tích hiếm khi được xuất hiện trên trang nhất các nhật báo, mà đa phần chỉ thấy nằm trong những khung hình chữ nhật, mầu tang đen nơi trang bốn !

Qua hai đợt Mậu-Thân, tôi sống sót và được thăng Trung-úy, nghĩa là sớm hơn quy định khoảng gần nửa năm, nhưng đến cuối năm 1969 tôi bị thương nặng, miểng mìn văng đầy người. Tệ nhất, có một miểng chém vào động mạch bên nách phải, máu ra rất nhiều và nếu không nhờ trực thăng tản thương về Bệnh viện Dã chiến của SĐ 25 Hoa-Kỳ, chắc chắn là tôi đã theo mấy thằng bạn vui vẻ về miền quá cố rồi !

Khi cơn thập tử nhất sinh đã qua, tôi được chuyển về nhà thương Cộng-Hòa.

Một hôm tôi đang nằm cho Y tá rửa vết thương và thay băng thì có mấy anh em Ban 5 Trung và Tiểu Đoàn lên thăm. Tôi ngạc nhiên hết sức khi thấy có cả bé Hân trong đó. Nó chạy ngay lại ôm lấy tôi, nước mắt đầm đìa… Ông Thượng-sĩ thường-vụ của tôi sau khi thăm hỏi xong, nói nhỏ vào tai tôi :

– Ngày nào nó cũng lên TĐ, xin bằng được nếu khi nào TĐ lên thăm thương bịnh binh, nhớ cho phép nó đi theo !

Tôi nhìn xuống con bé đang rúc cái đầu bé nhỏ vào bụng tôi, tấm thân mảnh mai của em thì rung rung theo tiếng nấc. Tôi cúi xuống hôn trên mái tóc mềm mại của nó và cứ để như vậy một lúc lâu, bởi vì chính trong lòng tôi cũng đang nghẹn ngào, xúc động !

Lúc sau, tôi nâng cầm nó lên, trấn an nó :

– Chú không sao đâu. Chỉ một thời gian ngắn nữa là chú sẽ lành vết thương và sẽ được xuất viện.

– Rồi chú có trở lại Đại đội không ? Nó ngước mặt e ngại hỏi tôi điều mà nó quan tâm nhất.

– Chú cũng không biết nữa, chắc là phải ra một Hội-đồng Quân-y để họ giám định. Sau đó, chú mới biết.

– Vậy khi nào xuất viện, chú xuống thăm Hân nha ? Tôi mỉm cười nhìn nó :

– Chắc chắn là chú sẽ đến thăm Hân và các anh em trong Đại-đội, ngay khi nào chú có thể đi được.

Lúc này mới thấy nó nở một nụ cười, rồi cúi xuống nhấc lên một túi nhỏ và lấy từ trong đó ra một ít trái cây để trên chiếc bàn nhỏ đầu giường. Thì ra nó cũng biết đem quà cho thương binh !

Phái đoàn thăm viếng lúc này đã xin phép tôi để qua thăm các anh em thương binh khác. Trước khi ra khỏi phòng, ông Thượng sĩ thường vụ cúi sát tai Hân dặn dò :

– Khoảng nửa tiếng nữa con ra chỗ đậu xe để về nha. Về sớm cho an toàn.

Nó ngoan ngoãn gật đầu, rồi bắt đầu bi bô :

– Tháng trước ai trong Đại đội cũng tin là chú đã chết rồi. Tiểu-đoàn không có tin tức gì vì chú nằm ở Bệnh viện Mỹ. Mãi sau, khi họ chuyển về Cộng-Hòa mới biết chú còn sống. Dì Thanh có dắt Hân đi cầu nguyện trên chùa hoài. Dì con nói gởi lời thăm chú.

Đến đây, nó bắt đầu quay qua nhìn mấy vị sĩ quan thương binh khác nằm cùng phòng. Chợt thấy chiếc nhẫn của tôi để trên mặt bàn lúc tháo ra cho Y tá rửa vết máu trong các ngón tay, nó cầm lên ngắm nghía rồi hỏi :

– Nhẫn này của chú ? Sao bự và đẹp quá vậy ?

– Ừa, nhẫn của chú. Đây là chiếc nhẫn lưu-niệm của trường Võ-Bị Đà Lạt, lúc mãn khóa ai cũng có.

– Chú quý nó lắm ?

– Chú rất quý nó, và chú đã đeo nó từ khi ra trường.

Nó nhẹ nhàng để lại chiếc nhẫn vào chỗ cũ, rồi quay ra ôm lấy tôi, như thể không muốn xa rời. Nó kể đủ thứ chuyện ở Đức-Hòa, đâu là Đại đội đã có Đại Đội Trưởng mới, nhưng không còn đóng ở nhà nó nữa, các chú trong BCH/ĐĐ vẫn thường ghé thăm luôn…

Nửa giờ sau, ông Thường-vụ đã xuất hiện ở cửa phòng, nói với vào.

– Chào Trung-úy đi Hân, đến giờ về rồi.

Hân bắt đầu lúng túng, vòng tay bé nhỏ, nó cố ôm lấy tôi. Mấy phút sau, tôi phải nhẹ nhẹ gỡ nó ra :

– Thôi Hân về đi không họ chờ.

Nó nhìn tôi như muốn khóc :

– Chú hứa nha ! Đừng quên đến thăm Hân nha, Hân chờ đấy !

Nói rồi nó buông tôi, từ từ bước ra cửa, hình như nó đã khóc. Đến cửa phòng, nó quay lại nhìn tôi, bàn tay bé nhỏ của nó đang cố chùi những giọt lệ… Không cầm lòng được, tôi gọi nó :

– Hân lại đây với chú.

Tôi cầm chiếc nhẫn lưu-niệm của tôi, nhẹ nhàng để vào lòng bàn tay của nó :

– Hân giữ cho chú chiếc nhẫn này. Giữ thật kỹ và đừng cho ai biết. Hân biết là chú quý nó như thế nào rồi. Khi nào xuất viện chú sẽ đến thăm Hân và Hân đưa lại cho chú, Thế có được không ?

Thật không ngờ, cái ý-kiến bất chợt đến với tôi lúc đó lại có tác dụng ngay. Hân vui mừng ra mặt, ít nhất nó đã có một vật làm tin kèm theo lời hứa. Lau hết nước mắt nó thủ thỉ :

– Dạ, con sẽ giữ thật kỹ, chờ khi nào Trung-úy đến con giao lại.

Tôi xoa đầu nó rồi đẩy nhẹ nó về phía cửa. Lần này, nó quay lại mỉm cười nhìn tôi và rồi bóng nó từ từ lẫn vào với dòng người thăm viếng bên hành lang Bệnh-viện…

Tôi xuất viện sau đó chừng một tháng, và phục hồi mau lẹ. Tuy vậy, phải chờ đến tháng ba năm 1973 tôi mới nhận được giấy tờ giải ngũ chính thức. Nhìn ngó bên ngoài, tôi may mắn không mất mát gì cả, nhưng những ngón tay bên mặt, nhất là ngón trỏ, không co duỗi bình thường được. Cầm tờ Chứng-chỉ giải-ngũ trong tay, tôi ngậm ngùi : thế là vĩnh viễn giã từ vũ khí !

Trong khoảng thời gian chờ quyết-định của Hội-Đồng Quân-Y, tôi đã đi Đức-Hòa thăm lại chốn xưa. ĐĐ của tôi gần như hoàn toàn mới, chỉ trừ một vài anh em trong BCH/ĐĐ nhận ra tôi, còn lính tráng hầu hết là lính mới, nhìn tôi như nhìn một người xa lạ ! Chiến tranh đã làm thay đổi nhanh không thể ngờ được !

Tôi lần mò đến nhà cô giáo Thanh để thăm cô và bé Hân nhưng thật không may, người nhà cho biết hai dì cháu cô đã đi ăn đám giỗ bên Bình Thủy, có lẽ đến chiều mới về.

Tôi buồn rầu về lại Sài Gòn, tự hứa sẽ trở lại vào một dịp khác.

Chiến tranh vẫn còn đó, chiến trận gia tăng khắp mọi nơi, nhưng Sài gòn vẫn còn là một mảnh đất khá bình yên ! Nó như một hải đảo nằm giữa một biển lửa. Và tôi đã phải cố gắng để thích ứng với cuộc sống hoàn toàn thay đổi. Dù sao, tôi vẫn còn trẻ. Tôi làm việc như một cái máy, nhưng tôi không còn bị cô đơn, cái cô đơn của một người chỉ huy, dù chỉ là một cấp nhỏ; tôi tự do, không còn bị ràng buộc vào một trách nhiệm có liên can đến sinh mệnh của nhiều người khác. Tâm trạng thả lỏng này đã dẫn tôi đắm mình trong thụ hưởng, để bù lại cho bao năm tháng tuổi xuân đã qua đi trong quân-trường và ngoài trận địa.

Bận rộn vì công việc lúc ban ngày, say mê trong ánh đèn mầu của các vũ-trường vào ban đêm, tôi gần như đã quên hẳn Hân, một đứa bé đang ở một nơi thiếu an ninh, mà chỉ một năm trước, tôi đã coi nó như một đứa em ruột thịt. Tôi đã tự khất lần, và ngần ngại không muốn ra khỏi Đô-thành, nơi mà lúc nào cũng có những cuộc vui đang chờ sẵn.

Khoảng đầu năm 1974, nhân một chuyến đi Trảng Bàng, tôi ghé vào Đức-Hòa và gặp lại Hân. Căn nhà vắng vẻ, khu xóm cũng thiếu bóng những người lính, có lẽ họ đang bận rộn trong một cuộc hành-quân nào đó. Khi tôi đến, chỉ có mình Hân ở nhà, cô Thanh có lẽ đang đi coi ruộng vườn.

Hân lúc này không còn bé nữa, em đang là một thiếu-nữ tràn đầy nhựa sống với một vẻ đẹp tự nhiên và tuyệt mỹ mà Thượng-Đế chỉ dành cho những người con gái đương độ thanh xuân. Em mừng đến rơi cả nước mắt khi thấy tôi. Rót nước mời, em vẫn thân mật nhưng tỏ ra hơi e thẹn, cái e thẹn dễ yêu của các cô gái đang dậy thì.

Hân cho biết em đã trông mong tôi từng ngày, và rất ân hận vì lần trước tôi đến, mà em không được gặp. Lấy chiếc nhẫn dấu kín trong hộc tủ, Hân đưa nó sát mặt tôi, rồi nắm vội nó trong bàn tay và ấp lên ngực :

– Hân biết đây là chiếc nhẫn lưu-niệm của chú, nó lưu lại những kỷ-niệm của chú với Quân-trường Đà Lạt; nhưng bây giờ, nó cũng đã trở thành một vật lưu-niệm của Hân. Nó đã lưu lại những kỷ-niệm giữa Hân và chú. Hân muốn được giữ nó lâu hơn nữa, như vậy có được không ?

Tôi cảm động trước những lý lẽ phát ra tự con tim của em :

– Hân cứ giữ nó đi, như vậy khi nào chú đến với Hân, chú sẽ được gặp cả hai.

Quá vui mừng, quên cả e thẹn, Hân chạy lại ôm tôi, và nói trong cảm động :

– Thực ra, khi có chiếc nhẫn bên mình, Hân có linh cảm là chú sẽ luôn luôn quay về tìm Hân, và như vậy Hân sẽ không bao giờ mất chú.

Tôi ôm chặt Hân, và hôn nhẹ trên trán em như vài năm trước, khi em còn rất nhỏ.

Hình như Hân muốn nhiều hơn thế, em từ từ ngước mặt lên để mong hai làn môi chạm nhau, nhưng tôi đã tự dừng lại bằng cách buông lỏng em. Có phải tôi đang còn bối rối giữa Hân, một đứa bé và Hân, một cô gái đang độ xuân thì ?

Chúng tôi chia tay nhau khi ánh chiều vừa xuống. Tôi hứa với Hân sẽ lên thăm em thường hơn. Cả hai cùng bịn rịn, không nỡ rời nhau, nhưng rồi phút chia ly cũng phải tới, tôi lên xe về lại Sài gòn mang theo một hình ảnh của Hân, đầy nước mắt…

Những tháng ngày sau đó, thời cuộc biến đổi không ngừng… Tất cả đều thất lợi cho miền Nam chúng ta. Ngay cả con đường từ Sài gòn đi Đức-Hòa cũng không còn an ninh nữa ! Tiếp đến là những biến cố dồn dập, nó đến nhanh quá, như dòng thác lũ, như cơn đại hồng thủy, nó cuốn đi hết cả… Không kịp nữa rồi, những gì ta không làm, hoặc chưa làm, đành phải xếp lại trong niềm hối hận khôn nguôi…

Câu “nước mất, nhà tan” thật là thấm thía với tâm trạng của những người bỏ nước ra đi ngày ấy ! Ra đi là không bao giờ nghĩ đến ngày trở lại, ra đi là chấp nhận cả một trời mù mịt, đau thương !

Tôi cũng ở trong số ít những người “bất hạnh nhưng may mắn” này ! Tất cả Nhân dân miền Nam coi như gẫy cánh nửa đường; có khác chăng, chỉ là mỗi người “gẫy” một kiểu.

Riêng tôi đã gẫy một lần rồi, vừa mới bắt đầu xây dựng lại, thì nay lại gẫy thêm một lần nữa…

***

Vật lộn với cuộc sống đến năm thứ 32 trên nước Mỹ, tôi quyết định nghỉ hưu vì đã thấm mệt, cả thể xác lẫn tinh thần.

Những chuyện ngày xưa khi nhớ, khi quên.

Nhiều chuyện quên hẳn, như gió thoảng, như mây bay !

Dòng đời thay đổi, cũng chỉ là lẽ tự nhiên của cuộc sống !

Những ngày, tháng buồn tênh, tôi chợt nhớ đến một câu thơ, không biết đã đọc được ở đâu và ai là tác giả :

Khi ta ở, đất chỉ là đất,
Khi ta đi, đất đã hóa linh hồn !

Vâng, linh hồn của đất, của những nơi ta đã từng đi qua, những nơi ta đã từng dừng lại… Nó đã có một linh-hồn, và linh-hồn đó đã ám ảnh tim ta, như muốn gọi ta về.

Và… tôi đã về thăm lại Sài gòn vào năm 2007 !

Vẫn biết đổi thay là lẽ tự nhiên của cuộc sống, sao tôi vẫn thấy bàng hoàng, tiếc nuối những ngày xa xưa ?!

Lang thang mãi ở Sài gòn, chán! Một hôm, tôi trở lại Đức-Hòa, tò mò muốn biết giờ nó ra sao ? và… những người muôn năm cũ…? Hơn ba mươi năm đã trôi qua, vật đổi sao rời, bóng chim tăm cá.

Đức-Hòa đã thay đổi theo một chiều hướng đi xuống ! Ngày xưa, dù đang là thời chiến tranh, nó vui nhộn biết là bao: hàng quán, lính tráng, người mua kẻ bán ồn ào, tấp nập. Những con đường, tuy chỉ nhỏ vừa cho hai xe nhà binh tránh nhau, nhưng đầy bóng mát của những hàng cây cao… Giờ đây, có những con đường mới mở, rộng thênh thang, thẳng tắp, nhưng trống trơn dưới ánh nắng như thiêu như đốt, không một bóng cây; xe cộ thì lẻ loi vài chiếc ! Thị-xã giống như một cô gái quê, xấu, đang cố làm dáng với những vết son vụng về tô vội !

Đến khu Bình Tả, nơi ngày xưa tôi đã đóng quân. Cảnh vật không thay đổi nhiều, nhưng sao trông thật hoang sơ, buồn thảm. Tại một ngã ba, ngày ấy có một cái quán lụp xụp, lúc nào cũng ồn ào những lính. Chính tại nơi đây, tôi đã ăn một tô hủ tíu ngon nhất trong đời ! Đi vào sâu hơn khoảng trăm mét là ngôi biệt thự nhà máy xay. Căn nhà hình như đang bỏ hoang. Hỏi thăm thì biết cô Huệ đã định cư bên Úc từ lâu. Cô Giáng Tiên, hoa khôi Hậu-Nghĩa, nghe nói sau này lấy một Sĩ-quan Biệt-động-quân đẹp trai, giờ này chắc đang ở bên Mỹ. Đi sâu hơn nữa thì gặp tàn tích của một cái đồn, đồn này là của Tiểu-đoàn chúng tôi hồi đó. Gần đấy có cắm một cái bảng nhỏ, trên đề : Di tích lịch-sử – Cấm đến gần !

Tự nhiên, tôi thấy lạnh toát người. Có phải anh linh của bao nhiêu Chiến sĩ ngày xưa, vẫn như còn đang phảng phất đâu đây ?!

Ra thăm khu trung tâm Thị-xã, ở đây có thay đổi chút ít. BTL/SĐ25 BB nay hình như đang là một khu dành cho trẻ em, ngay trước cổng vào có một căn nhà nhỏ, trong đó trưng bầy hình ảnh và những kỷ-vật của ông Võ văn Tần !

Chợ Đức-Hòa có xây một mặt tiền mới, quay về hướng khác, nhưng bức tường mặt tiền cũ vẫn còn nguyên.

Đang ngơ ngáo nhìn ngó cảnh vật, tôi chợt để ý có một bà cụ cứ chăm chú nhìn tôi. Bước đi vài bước, bà lại quay đầu nhìn lại; cuối cùng bà cụ đến gần nhỏ nhẹ hỏi tôi :

– Nếu không phải, xin ông thứ lỗi. Phải ông đây là Trung-úy Phong không ?

Tôi giật bắn người. Chắc chắn đây là một người quen biết với tôi, nhưng nghĩ mãi, tôi đành chịu :

– Dạ, tôi là Phong đây ! Xin lỗi, trí nhớ tôi hơi kém, bà đây là…?

– Trời đất, Mô Phật ! Thiệt không ngờ cũng có ngày tôi lại gặp được Trung-úy ! Tôi là Thanh đây. Xưa Trung-úy có đóng quân nhà tôi, Trung-úy còn nhớ không ?

Lúc này thì hình ảnh của một cô giáo Thanh ngày xưa đã lờ mờ lẫn vào khuôn mặt già nua của bà cụ, tôi mừng rỡ :

– …Cô giáo Thanh.. Tôi nhận ra rồi. Tôi nhận ra rồi. Chà, cô trông còn mạnh lắm, đi không cần chống gậy mà. Xin mời cô vô quán nước đây ta ngồi nói chuyện.

Đôi mắt già nua của cô Thanh đã thấy có ánh nước, cô cầm tay tôi ân cần :

– Thôi, quán xá gì. Chắc là Trung-úy ở nước ngoài về thăm Quê hương? Trung-úy có rảnh mời ghé lại tôi uống miếng nước. Nhà cũng gần đây thôi.

– Dạ. Tôi ra khỏi nước từ năm 75, giờ nghỉ hưu rồi mới có dịp về thăm lại. Hồi nãy đi ngang, tôi thấy nhà cũ của cô giờ dường như là một nhà máy gì đó ?

– Bị nhà nằm trong khu “quy-hoạch”, nghe đâu họ đã bán đất đó cho Hàn quốc lập nhà máy may gì đó. Tôi phải mua bậy một căn nhà cũng gần chợ đây thôi, cho nó tiện.

Mời Trung-úy đi theo tôi, chút xíu là tới à.

Lẽo đẽo theo chân bà cụ đi sâu vào một con đường nhỏ ngang hông chợ, tôi ngần ngại ngỏ ý :

– Tôi giã từ Quân đội lâu lắm rồi, cô Thanh cứ gọi tôi bằng tên cho tiện.

– Không có sao đâu. Ở đây bà con cỡ tuổi tôi, ai cũng quý những người lính Cộng Hòa khi xưa ! Lại bởi tôi quen miệng rồi, tôi nhớ Trung-úy là Trung-úy, gọi khác nghe kỳ lắm.

Đến đây, mặc dù tận đáy lòng, như có một chút gì hơi hổ thẹn vì sự thất hứa năm xưa, nhưng tôi không thể quên được Hân :

– Thế cháu Hân giờ sao rồi ? Chắc cũng con cháu rầm rề cả !?

Cô Thanh bỗng như chùng xuống, cô nói rất nhỏ, giọng run run :

– Cháu… cháu nó không còn ở với tôi nữa.

Vừa lúc đó, cô dừng lại trước một căn nhà, nhà của cô. Phải qua một cái sân nhỏ trước khi vào tới phòng khách. Cô Thanh dơ tay :

– Dạ, mời ngồi. Để tôi lấy nước trà mời Trung-úy.

Trong nhà còn có hai vợ chồng người bà con của cô, tuổi khoảng ngũ tuần. Cô Thanh sai họ châm bình nước trà, đoạn rót ra trân trọng mời tôi. Không giữ được kiên nhẫn, tôi hỏi :

– Hồi nãy cô nói cháu Hân không còn ở với cô. Vậy giờ cháu đang ở đâu ?

Sau một hơi thở thật dài, cô Thanh bỗng bật lên khóc nức nở. Hai tay bưng mặt, cô nói trong tiếng nấc :

– Cháu nó đã mất rồi ! Nó bỏ tôi đã gần ba chục năm rồi Trung-úy ơi !

Tôi bàng hoàng, choáng ngợp như vừa bị dội cả một thùng nước lạnh vào người ! Qua một phút xúc động đến tột cùng, tôi lấy lại bình tĩnh :

– Cháu nó qua đời như thế nào, cô có thể cho tôi biết được không ?

– Chuyện cũng hơi dài dòng, vì vậy tôi có ý mời Trung-úy tới nhà, mình có nhiều thời gian hơn. Cô Thanh có vẻ đã lấy lại được chút bình tĩnh, cô tiếp :

– Tôi nhớ nó mất năm Mậu Ngọ, 1978. Lúc đó khó khăn lắm, cả nước đói ! Ở quê như chúng tôi mà cũng phải ăn độn ! Cháu Hân bỏ học ngay từ năm 75. Nó nói học hành gì mà tối ngày họp tổ, họp đoàn, rồi chửi bới chế độ cũ… Vậy mà cũng không thoát, nó phải nhập vào cái gì kêu là Thanh-niên Xung-phong gì gì đó, đi làm thủy lợi. Nghĩa là đào kinh, đắp mương đó, Trung-úy.

Ngừng lại vài giây như thể để lấy thêm sức, cô tiếp :

– Hồi đó nó đang tuổi con gái, mà ăn uống thì thiếu thốn. Lại thêm thi đua này nọ, nó bị mất sức nhiều lắm, rồi bị sốt xuất huyết. Bịnh cũng không đáng gì, nhưng thuốc men hồi đó hoàn toàn không có. Ăn còn không đủ, nói chi thuốc !… Lúc đó nó mới vừa 19 tuổi.

Đến đây, cô lại ôm mặt nức nở… Tôi lại gần cô, vỗ về an ủi :

– Số phận đã an bài như vậy, không cho em qua được cơn khó khăn. Cô cũng không nên rầu rĩ quá không có lợi. Tuổi cô cũng như tôi, ngày một yếu kém…

– Tôi cũng biết vậy, và tôi cũng đã cố giữ gìn sức khỏe, để sống đến ngày hôm nay…

Nói tới đây, cô Thanh từ từ đứng dậy, hướng dẫn tôi đi về phía bàn thờ giữa căn nhà.

Phía trên bàn thờ, tôi thấy có treo hai tấm hình lớn mà tôi đoán là song thân của cô Thanh; đặt trên mặt bàn thờ phía bên trái, có ba tấm hình mà một trong ba tấm đó, tôi nhận ra là em Hân.

Hình chụp có lẽ vào lúc em 17, 18 tuổi, trông xinh đẹp như một bông hoa đang nở.

Khi tôi nhìn em thì đôi mắt của em cũng đã nhìn vào tôi từ lâu lắm rồi, có lẽ ngay từ khi tôi bước vào căn nhà này ! Thắp nén nhang, tôi biết tim tôi đang chảy ra thành nước, và dòng nước ấm đó đang chảy ngược lên phía đôi con mắt … Khói nhang bốc lên không gian và tỏa rộng. Ánh sáng yếu ớt khúc-xạ qua làn khói, làm như em đang mỉm cười nhìn tôi. Có lúc lại không phải là cười, mà đang nhìn tôi như trách móc !?

Mắt tôi bỗng nhiên hơi mờ đi, hình ảnh của Hân, một buổi chiều xa xưa trong dĩ-vãng bỗng hiện về, bé nhỏ lẫn trong đám người thăm viếng ở Bệnh-viện Cộng-Hòa, em quay lại mỉm cười nhìn tôi…

Và rồi lần cuối cùng tôi gặp, cánh tay bé nhỏ dơ lên chào tạm biệt khi tôi trở về Sài gòn, mắt em đầy lệ…

Một âm thanh mơ-hồ như vọng lại từ một nơi nào xa, xa lắm :

– …Đừng quên đến thăm Hân nha, Hân chờ đấy !…

Người tôi lúc đó như muốn rũ xuống, tôi cố gắng hết sức đứng thẳng người, nhìn tha thiết vào đôi mắt em, cầu xin một tha thứ.

Ngay trước bức hình của em, tôi thấy có một hộp nhỏ bằng nửa bàn tay, khảm xà cừ mầu đen rất đẹp. Thấy tôi nhìn vào chiếc hộp nhỏ, cô Thanh nói như khuyến khích :

– Trung-úy cứ cầm lên và mở ra coi.

Tôi nhẹ nhẹ cầm chiếc hộp lên bằng hai tay và mở nó. Một thứ ánh sáng như lóe lên : chiếc nhẫn Võ Bị năm xưa của tôi hiện ra, sáng bóng, nằm trong hộp trên một miếng nỉ trắng.

Cầm chiếc nhẫn trên tay, tôi chợt rùng mình, dường như có một luồng điện nhẹ đang chạy qua khắp châu thân ! Qua bao năm tháng, chiếc nhẫn vẫn còn đây mà người xưa đã mất. Chiếc nhẫn như nhắc tôi một lời hứa mà tôi không giữ trọn ! Nhìn giọt nước mắt rơi, tôi mới biết mình đang khóc. Thực lòng, tôi cũng không biết tôi đang khóc vì vui mừng thấy lại một kỷ-vật xưa, hay đang khóc vì tràn đầy ân hận.

Rồi như một phản xạ, tôi đưa nó lên gần miệng, hà một hơi ấm vào viên hồng ngọc rồi chà sát nhẹ nhẹ vào ngực, phía trái tim.

Nhạt nhòa trong nhang khói, tôi thấy Hân như lại mỉm cười. Có phải tôi tưởng tượng không, hay đang có một thần giao cách cảm ?

Cô Thanh từ nãy chỉ đứng yên lặng theo dõi, bỗng cô nói, giọng nhẹ như hơi thở :

– Những lúc còn tỉnh, cháu nó đã kể hết cho tôi nghe vì sao nó có chiếc nhẫn này. Trước đó, nó đã giấu cả tôi, giữ kín và âm thầm chờ mong cho đến những ngày cuối cùng. Trước khi nhắm mắt, nó còn dặn tôi phải để chiếc nhẫn này ngay trước hình thờ của nó, vì nó quả quyết là sẽ có một ngày, một ngày Trung-úy sẽ tìm đến.

Ngừng một phút, cô nói thật nhỏ, như nói với chính mình :

– Cũng phải mất hơn ba chục năm! Giờ thì châu đã lại về hiệp phố !

Đặt lại chiếc nhẫn vào trong hộp và trân trọng để chiếc hộp vào đúng chỗ ban đầu, tôi quay qua cô Thanh :

– Thưa cô, chắc nó không cần về “hiệp phố” nữa đâu. Tôi giữ nó chỉ có khoảng 5 năm, thế mà chiếc nhẫn này nó đã ở bên em Hân những trên ba mươi năm, những lúc em còn sống và cả những lúc em đã qua đời. Tôi không thể hình dung được rồi mai đây, bên hình của em sẽ chỉ còn là một khoảng trống. Tôi biết khi xưa, em luôn luôn muốn có chiếc nhẫn này ở bên cạnh. Cái chỗ đúng nhất của nó là ở trong cái hộp này, ở tại nơi đây ! Xin phép cô, cho tôi cứ để nó bên em Hân mãi mãi… Âm dương là muôn đời cách trở, nhưng tôi muốn mượn chiếc nhẫn này, như một vật xúc-tác giữa hai linh hồn, một linh hồn sống tha-phương nơi đất khách quê người, và một linh hồn mãi mãi trên Quê hương…

***

Cô Thanh ân cần mời tôi ở lại dùng cơm chiều, nhưng tôi phải từ chối vì không muốn trở lại Sài gòn khi quá tối. Tôi hẹn tuần sau sẽ lên để thăm mộ và đốt cho em Hân một nén nhang

Khi tiễn tôi qua chợ, cô cười nói với tôi :

– Trung-úy biết không, khi mua lại căn nhà gần chợ này, tôi cũng có chủ ý là được thấy thật nhiều du khách Việt-kiều. Thấy ai có dáng Việt-kiều là tôi ngó thiệt kỹ. Không dè cũng có ngày Trời Phật thương.

Tôi mỉm cười trước những ý nghĩ chân chất và đôn hậu của một người miền Nam như cô Thanh. Từ giã cô, tôi theo Tỉnh lộ 10 để về Sài gòn. Trước kia con đường này ít khi được xử dụng vì luôn luôn bị đắp mô, mìn bẫy…

Thương hải biến tang điền! Ngàn xưa đến ngàn sau, dù muốn hay không, đổi thay mãi mãi vẫn là một bản chất tự nhiên của cuộc sống!

Chỉ có tình-cảm của con người, có những thứ tình-cảm mà đời đời, không bao giờ thay đổi.

… Vậy mà nhiều khi tôi vẫn đinh ninh rằng: Đã mất hết cả rồi!

Bùi Thượng Phong

(Nguồn: kontumquetoi.com)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bạn nghĩ gì về bài viết này?