Chiếc Lá Cuối Mùa_Nhạc Lê Hữu Nghĩa

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

“Việt Kiều Bay” tại Texas_Thạch Thảo

https://1.bp.blogspot.com/-VBrWXyGmxqU/XMBLAyvYTYI/AAAAAAABEnw/H9e6QipH-_Q4wWNM4pz58qDO2VmYNaesACLcBGAs/s640/008-bhgfjpg.jpg

(FB Thạch Thảo): Ngạc nhiên, trong mấy trăm ngàn gia đình Mỹ sinh sống trên vùng đất này lại xuất hiện người Việt Nam nhập cư thời gian gần đây. Số lượng chiếm khá đông, hầu hết nói giọng Bắc người Hải Phòng, Hà Nội. Cùng làn sóng xuất ngoại với các hình thức khác nhau, họ đã thành công khi tiền rừng bạc biển. Chỉ cần một dự án, một phi vụ, một chữ ký thì đô la sẽ có cách vào tài khoản của người có quyền.

Mỗi căn nhà giá trị từ nửa triệu đến 2 triệu đô la trở lên. Mua nhà xong là một chuyện, điều quan trọng là tiền đâu để đóng thuế? Nếu bạn thu nhập cao mấy trăm ngàn đô hàng năm thì chỉ là chuyện nhỏ dù tiền thuế địa trạch rất cao (từ 20.000 Mỹ kim trở lên mỗi nhà /1 năm) với khu vực tương tự.

Vào cổng khu phố sang trọng khách phải trình giấy tờ, hoặc bấm số bảo mật mới được. Cuối tuần, hàng loạt chiếc du thuyền trên mặt nước. Là xứ tư bản, hưởng theo năng lực; nhiều người Mỹ giàu bằng tài năng công sức, lao động chân chính trong một số lãnh vực xứng đáng có một cuộc sống bình yên, hạnh phúc đúng nghĩa.

Tuy nhiên, không phải ai cũng được như vậy. Mỹ không phải là thiên đường, vẫn còn một số Việt kiều lâu năm sống trong chung cư, không mua nổi cái nhà nhỏ với nhiều lý do riêng tư. Đó là sự thật.

Vậy mà với thành phần “Việt kiều bay” không hiểu họ giàu từ đâu dễ dàng, mua nhà trả đứt tiền mặt, vui vẻ với mức thuế tuy không làm một ngày nào trên đất Mỹ. Đối tượng này bí mật đi qua đi về nhằm mục đích có lợi cho gia đình và bản thân trong tương lai.

Oái oăm thay, họ còn bắt tay với một số Việt kiều tại đây để rửa tiền dưới hình thức tinh vi. Các hệ thống kinh doanh ra đời bao gồm trung tâm thương mại, nhà hàng, hàng trăm tiệm Nails nguy nga như cung điện, có sự đầu tư quy mô trên 1/2 triệu đô la mục đích rửa tiền. Thực trạng nhiều địa điểm vắng hoe khách nhưng vẫn vô tư hoạt động để hợp thức hóa chuyển tiền.

Vấn đề quan trọng là tiền đâu ra mà một số “Việt kiều bay” mới đến đất Mỹ trong tình trạng tài chính triệu phú mà không ai biết. Một năm về bên vài tháng và rồi qua Mỹ trình diện để khỏi rắc rối nếu chưa có quốc tịch.

Khôn ngoan, một số cố tình giữ song tịch. Nhiều người vẫn làm việc tại Việt Nam, đang là đảng viên giữ chức vụ. Họ biết dọn đường cho con cháu qua Mỹ từ lâu. Con đến trường Mỹ, cha (mẹ) đi về Việt Nam hoạt động cho chính quyền hoặc kinh doanh cá nhân vì nơi ấy dễ kiếm tiền hơn.

Nghịch lý, trong khi ấy người ta khen chế độ, bắt người khác nghe, tin và sợ mình. Dân phải chịu cúi đầu im lặng dưới nguồn máy điều hành mà họ liên quan trực tiếp hay gián tiếp. Nhờ sức mạnh đồng tiền, người ta đã đạt giấc mơ Mỹ trong tầm tay.

Thật sự bất công cho những người không được may mắn phải chịu đựng thiệt thòi mọi hệ lụy, cùng tương lai không lối thoát sống với Trung Quốc.

Phải chăng đây là bi kịch cho một dân tộc chịu dưới tay của những người không có lòng tự trọng và biết làm người tử tế. Họ lợi dụng lòng tốt của nước Mỹ, con cháu hưởng nhiều quyền lợi xã hội, y tế cùng nền giáo dục miễn phí từ tiền thuế dân còng lưng đóng cho chính phủ.

Đất nước Hoa Kỳ đã tạo ra kẽ hổng pháp luật để con cháu cộng sản hưởng lợi, trong khi cá nhân và gia đình không phục vụ cho quốc gia này ngày nào. Suy cho cùng, sống không thật lòng, không trung thành Tổ Quốc nào là “Việt kiều bay” thời đại.

Có lẽ người ta qua mặt được người dân yếu thế, u mê; nhưng không qua mặt được người hiểu biết sống lâu tại Mỹ. Tất cả là góc tối phũ phàng. Người trong nước tôn sùng họ, nhưng nào có biết một khi hết thời hết nhiệm kỳ, họ đã có chỗ an toàn trú ẩn ấm thân, để lại phía sau một đất nước suy tàn.

Nếu ai từng đi qua những nơi người Việt mới nhập cư giàu hơn người Việt lưu vong vượt biển vượt biên lâu năm sẽ không khỏi ngậm ngùi tháng Tư buồn.

Thua trận chạy đã đành, nay thắng trận cũng chạy. Cuối cùng, dân chịu trận.

(Trích từ FB Thạch Thảo)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

ĐNH Cám Ơn Anh Kỳ thứ 12_Lê Tam Anh

Image may contain: text

(TVVN.ORG) Chúng ta lại chào đón “ĐẠI NHẠC HỘI” lần thứ 12 của Cộng Đồng Người Việt tị nạn Cộng Sản, mỗi người một tay góp sức, giúp đỡ những “Chiến Hữu” Thương Phế Binh đang vất vả ở quê hương! Đây là một điểm son được ghi nhận từ mười mấy năm qua. “Hội H.O. Cứu Trợ Thương Phế Binh” một lần nữa đứng ra tổ chức với sự góp mặt của hầu hết các Hội Đoàn, của các anh chị em cựu quân nhân thuộc các binh chủng của QLVNCH tại hải ngoại và các hệ thống Báo chí, TV truyền thông Việt Ngữ dịa phương và khắp thế giới.

Sự ra đi của Bà Chủ Tịch Hội, Trung Tá Nguyễn Hạnh Nhơn là một mất mát to lớn, làm đảo lộn toàn bộ những dự tính tương lai của Hội. Sau thời gian chấn chỉnh nội bộ, noi gương người tiền nhiệm, vị Tân Chủ Tịch đã cương quyết đứng thẳng trên đôi chân, tiếp tục con đường đã vạch phía trước. Thiên Nga Thiếu Tá Nguyễn Thanh Thuỷ, người từng là tù nhân 13 năm trong các trại tù Cộng Sản, sức khoẻ tuy không được tốt, vẫn cương cường nhận trách nhiệm!

Trước khi quyết định tiếp tục tổ chức Đại Nhạc Hội “Cám Ơn Anh”, chị Chủ Tịch và toàn thể những chiến hữu trách nhiệm trong Ban Tổ Chức đã họp hành liên tục, giải quyết nhiều sự kiện đau đầu từ trong nội bộ cũng như các bên, các hệ thống truyền thông, các cá nhận tự nguyện cộng tác mới và cũ, rút tỉa các ưu khuyết, rà xét lại toàn bộ hệ thống tổ chức… Vì thế cho nên chúng ta đã chờ đợi khá lâu, gần hai năm, Đại Nhạc Hội “Cám Ơn Anh” lại được tiếp tục! Hoan hô tinh thần dấn thân không nệ khó khăn của quý vị!

Bọn Cộng Sản và tay sai ở hải ngoại và trong nước rất ghét, rất sợ những phần quà hàng năm được gởi về cho các Thương Phế Binh VNCH còn sống trong nỗi uất hận bị chúng trù dập. Chúng đang tìm đủ mọi cách cản trở, ngăn cấm việc Dòng Chúa Cứu Thế khám bệnh và tổ chức vui Tết hàng năm cho các anh em Thương Phế Binh… Việc Hội HO Cứu Trợ TPB, năm nay tiếp tục tổ chức Đại Nhạc Hội để tiếp tục chuyển niềm vui hàng năm cho những Chiến Hữu của QLVNCH là nỗi nhục nhã của bọn cầm quyền. Sau bốn mươi mấy năm trời gọi là “Thống Nhất Đất Nước” nhưng vết thương chia rẽ dân tộc vẫn ngày đêm rỉ máu!

Ngày Chủ Nhật, 21 tháng 7 năm 2019, chúng ta nên bớt chút thì giờ riêng tư, hãy đến với nhau, cùng chia sẻ ngọt bùi và cùng hát, cùng thưởng thức những bài ca đấu tranh, cùng thưởng thức các ca nhạc sĩ hải ngoại tự nguyện hát cho quê hương, hát cho những thân phận đói khổ bị hà hiếp tại quê nhà!

Khu đất sân trường Los Amigos High School rất rộng và cũng đã có lần được tổ chức “Đại Nhạc Hội Cám Ơn Anh” mấy năm về trước. Quý vị có thể lái xe từ xa lộ 405, Exit vào đường EUCLID, chạy về hướng Bắc, gặp đường Heil quẹo phải, gặp đường New Hope là đến. Nếu đi trên Xa Lộ 22, Exit đường EUCLID, xuôi hướng Nam, gặp đường Heil quẹo trái, gặp đường New Hope là đến nơi!

Cuộc chiến đấu vì chính nghĩa tự do của chúng ta bị bức tử đã 45 năm, nhưng vết thương dân tộc chưa được vá, chưa được băng lại; ngày ngày vẫn rỉ máu. Là những người từng sát vai nhau trong chiến tranh 45 năm trước, là những người từng chịu ơn những anh linh đã nằm xuống, chúng ta còn nợ những người con dân Việt, hiện giờ là THƯƠNG PHẾ BINH đang đói rách tả tơi và uất hận dưới gót giày độc tài áp bức!

Hỡi những kẻ có lòng! Hỡi những tuổi trẻ thành danh, con em của Đồng Hương Tị Nạn Cộng Sản! Hỡi những ai còn nhớ đến niềm đau dân tộc!… Hãy đến cùng chung tay góp sức trong ngày ĐẠI NHẠC HỘI CÁM ƠN ANH LẦN THỨ 12. Hãy hăng hái vui vẻ đến với nhau cùng hướng về niềm đau dân tộc. “MỘT CÂY LÀM CHẲNG NÊN NON – BA CÂY CHỤM LẠI THÀNH HÒN NÚI CAO”

Hẹn gặp!

letamanh

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Chiếc Áo Bà Ba In Hình Chữ Hỷ_Đoàn Xuân Thu

Image result for chữ HỷMới đầu nghe ba em gọi, tôi tưởng tên em là Muỗi. Tôi ghẹo em: “Muỗi này! Đừng chích anh, đau lắm”. Em trề môi, vẻ không bằng lòng: “Tên em là Muội. Muội là em. Em là Muội”. À ra thế!
Ba Muội, chú Phu, người Quảng Đông. Phu là phú, phú là giàu. Tên chú giàu nhưng chú không giàu. Chú chỉ có chiếc xe hủ tiếu, bán điểm tâm dưới hai tàng me đại thụ, trên vỉa hè, bên hông rạp chớp bóng Định Tường

Má tôi đông con, cũng nghèo, có quầy bán cơm tấm gần bên.
Chủ nhựt được nghỉ học, hai đứa ra phụ chạy bàn. Em giúp ba em. Tôi giúp má tôi. Năm ấy tôi mười tám tuổi, học Đệ nhứt, năm cuối cùng của bậc Trung học Đệ nhị cấp. Cuối năm, tôi sẽ thi Tú tài hai. Đậu thì lên Đại học. Rớt thì vào Thủ Đức. Chiến trường đang hồi ác liệt. Bạn tôi, rớt Tú tài một, đi Đồng Đế, có đi mà chẳng có về. Muội, mười sáu tuổi, học Đệ tam, trường Tàu, sắp thi bằng Cao Trung.

Muội là cô giáo dạy tôi tiếng Quảng Đông. Dách là một, dì là hai, xám là ba, xập là mười. Bài xập xám là bài mười ba lá. Muội nói Muội không thích thanh niên đánh bài. Tôi đâu có ở không để đi đánh bài; vì tôi còn bận tơ tưởng đến Muội của tôi suốt ngày; ngay cả năm thi Tú tài hai, bài vở còn cả đống, tôi còn không để mắt tới nữa là.

Muôi dạy tôi tính tiền là xấu lúi. Kỷ tố là bao nhiêu. Dách cô phảnh là một tô hủ tiếu. Tôi hỏi: “Một dĩa cơm tấm bì, tiếng Quảng nói làm sao?” Muội nói: “Muội không biết”. Tôi nói: “Đi hỏi ba Muôi đi!”. Muội không dám. Muội sợ ba biết Muội quen với tôi, ba Muội rầy.
Ba Muội nói: “Con trai Việt Nam làm biếng lắm, đi chơi tối ngày, không lo buôn bán. Không buôn bán lấy gì ăn. Không có gì ăn, làm sao lấy vợ. Nếu lấy được vợ làm sao nuôi vợ, nuôi con”.

ao ba baTôi nói: “Muội đừng lo. Tôi sẽ rán học, thi đậu Tú tài hai, vào Đại học Sư phạm, được hoãn dịch, đi bán chữ, để có tiền nuôi Muội. Muội đi bán hủ tiếu, để tôi có hủ tiếu, ăn trừ cơm, trong những ngày mưa bán ế”.

Muội nói: “Muội còn nhỏ lắm, chưa biết yêu”. Tôi nói: “Tôi sẽ chờ vài năm nữa”.
Nhưng thời cuộc biến chuyển. Tôi không chờ được Muội mà ngược lại Muội phải chờ tôi. Chờ tôi suốt cả một thời con gái
Cuối năm đó tôi đậu Tú tài hai. Hai năm xa Mỹ Tho, đi học Đại học Cần Thơ, tôi không còn dịp gặp Muội mỗi sáng chủ nhựt, để nói chuyện tào lao bắc đế nữa. Tôi sắp ra trường, sẽ đổi về một quận lỵ buồn thỉu, buồn thiu nào đó của đồng bằng sông Cửu Long; để làm một ông giáo làng, hai mươi mốt tuổi. Tôi sẽ trở về Mỹ Tho nhờ má tôi nói với chú Phu, ba Muội, hỏi cưới Muội cho tôi. Bây giờ tôi đã có đủ chữ để đi bán rồi. Tôi sẽ có tiền nuôi Muội, để ba Muội không còn chê con trai Việt Nam làm biếng nữa. Tôi sẽ không còn ăn cơm tấm má nấu. Tôi sẽ ăn hủ tiếu Muội nấu, trừ cơm, trong những ngày mưa bán ế.

Tôi không ao ước cao xa gì hết. Chuyện ấy dành cho con nhà giàu, quyền thế. Tôi chỉ ước được làm thầy giáo làng, có vợ bán hủ tiếu. Vậy mà cũng không được!

Mùa hè năm 72: mùa hè lửa đỏ. Các trận đánh lớn đồng loạt nổ ra ở Quảng Trị, Kon Tum, An Lộc. Tin chiến sự chiếm đầy mặt báo. Trang sau là cáo phó, phân ưu những người lính tử trận. Tôi tốt nghiệp, nhưng không được nhận nhiệm sở. Lệnh tổng động viên đã ban hành. Tôi vào trường Bộ Binh Thủ Đức.

Tôi thư về Muội bảo chờ tôi. Tôi còn quá trẻ để chết. Tôi sẽ trở về! Tôi sẽ trở về! Tôi vẫn còn muốn ăn hủ tiếu Muội nấu, trừ cơm, trong những ngày mưa bán ế. Hai năm xa Mỹ Tho, tôi đã ăn hủ tiếu nhiều nơi, nhiều chỗ nhưng không nơi nào, chỗ nào nấu hủ tiếu ngon bằng Muội của tôi.

Muội hứa sẽ chờ tôi về dẫu trời sập chăng đi nữa. Lời hứa ấy làm ấm lòng tôi suốt những ngày gian khổ giày sô, áo trận.

Tôi rời trường Bộ Binh Thủ Đức, về Thủy quân Lục chiến. Sư đoàn là lực lượng tổng trừ bị, nên tôi lội khắp nơi: từ Cà Mau, Chương Thiện, Bến Tre ra tận Thừa Thiên, Quảng Trị.

Một năm lính trôi qua, khi tiểu đoàn về Mỏ Cày, Bến Tre truy kích chủ lực miền của địch về quấy rối thì tôi đạp phải mìn. Sức nổ của trái mìn tự tạo bằng quả đạn pháo 105 lép, đẩy tôi văng tuốt xuống mương, mình dính đầy những miểng.

Tôi không chết, như đã hứa với Muội. Trực thăng phầm phập tải thương về Bịnh viện 3 Dã chiến Mỹ Tho. Tôi nằm trên băng ca, ngoài hành lang trên lầu, chờ ngày mai xe hồng thập tự chuyển tôi về bịnh viện Lê Hữu Sanh của sư đoàn ở Thị Nghè. Muội nghe tin tôi bị thương; tất tả cùng má đến thăm. Đã hết giờ thăm thương bịnh binh, má với Muội đứng dưới lề đường Trương Định nhìn lên nơi tôi nằm. Tôi thò cái tay, không bị dính miểng, vẫy vẫy. Má khóc. Muội cũng khóc. Vạt áo xẩm, Muội mặc, đẫm đầy nước mắt.

Muội sợ tôi chết, Muội khóc. Khóc cho giấc mộng tôi muốn làm thầy giáo đi bán chữ nuôi Muội; Muội đi bán hủ tiếu cho tôi ăn trừ cơm những ngày mưa bán ế đã không thành.

Tôi nằm bịnh viện cả tháng trời. Miểng trong người lâu lâu lại lòi ra. Tôi nghiến răng, rút miểng ra, máu lại chảy. Tôi được hai tuần phép để chờ ra hội đồng giám định y khoa.

Tôi trở về Mỹ Tho gặp má. Cởi giầy sô, áo trận, tôi mặc lại chiếc áo học trò năm cũ. Tôi ra vỉa hè, dưới hai tàng me đại thụ, bên hông rạp chớp bóng Định Tường, chạy bàn cho má tôi. Tôi gặp lại Muội. Đó là khoảng thời gian hạnh phúc nhứt đời tôi, khi bây giờ, tôi nhớ lại.

Tôi hỏi Muội: “Đẹp tiếng Quảng là gì?”. Muội nói: “Hụ len. Còn yêu là ói”. Vậy thì “Nị hụ len; ngọ ói nị”. Muội mắc cỡ, ửng hồng đôi má.
Cả tháng trời nằm bịnh viện, không có dịp xài, lương vẫn y nguyên. Tôi lãnh tiền ra, đưa cho má tôi một nửa. Má tôi không cầm tiền, má khóc.
Tôi nài nỉ: “Em con đang sức lớn, má ơi!”

Số tiền còn lại tôi dắt Muội xuống tiệm Văn Minh, gần rạp hát Vĩnh Lợi, mua vải cho Muội may áo. Tôi chọn một xấp gấm Thượng Hải có in chữ Tàu.
Tôi hỏi: “Chữ Tàu đó nghĩa là gì?”
Muội nói: “Đó là chữ hỉ. Hỉ là vui. Vải này dành cho người ta may áo cưới”.
Tôi hỏi: “Muội muốn màu gì?”
“Màu đỏ hên lắm! Muội xin Trời, Phật cho anh đi đánh giặc bình an, hết giặc, về với Muội”.
Tôi nói: “Thôi! Đời anh xui quá xá rồi còn gì, muốn đi bán chữ mà cũng không được, mới đi lính có một năm đã bị thương rồi, hên đâu hỏng thấy”.
Tôi chọn cho Muội vải áo màu xanh đọt chuối.
Tôi bảo: “Màu xanh là màu hy vọng. Anh hy vọng Muội sẽ chờ anh dù cho trời sập tới nơi.” Muội nói: “Muội sẽ chờ.”

Tôi may cho Muội một chiếc áo bà ba để bắt đền cho chiếc áo xẩm đẫm đầy nước mắt khi đến thăm tôi bị thương nằm ở Bệnh viện 3 Dã chiến ngày nào.
Muội nói: “Muội mặc chiếc áo bà ba giống hệt con gái Mỹ Tho.”
“Ba má sanh Muội ra ở đây thì Muội đã là con gái Mỹ Tho rồi; mà con gái Mỹ Tho chánh cống chưa chắc đã dám đọ với em”. Tôi nịnh Muội.
Hai tuần phép trôi nhanh, tôi ra hội đồng giám định y khoa tái khám, bị phân loại một, trở về tác chiến. Lại băng rừng, vượt suối, bạc màu áo trận, mốc thích giầy sô cho đến ngày tan hàng, sập tiệm.

Tôi chỉ là một sĩ quan cấp thấp, nhưng lại thuộc binh chủng rằn ri nên những người thắng trận cải tạo tôi hơi lâu; mãi năm năm sau mới thả tôi về.
Tôi trở về Mỹ Tho bèo nhèo như một chiếc áo rách. Má tôi đã mất khi tôi còn ở trong trại. Mấy đứa em giấu tôi tin buồn. Đứng trước bàn thờ má, đốt một nén nhang, tôi không còn khóc được nữa, nước mắt tôi đã cạn lâu rồi. Miệng tôi méo xệch như mếu, mắt chớp chớp, mặt nhăn nhúm, giựt giựt.

Má ơi!
Tôi nhớ lại nồi cơm tấm má nấu, nồi cơm tấm nuôi tôi ăn học. Tôi nhớ cái vỉa hè, bên hông rạp chớp bóng Định Tường, dưới hai tàng me đại thụ mà mùa thu lá me bay bay, rơi đầy trên tóc. Tôi nhớ những giọt nước mắt của má tôi, khi đến thăm tôi bị thương nằm ở Bịnh viện 3 Dã chiến năm nào. Tôi nhớ những giọt nước mắt của má tôi khi không chịu cầm số tiền lương tôi gởi. Bây giờ má tôi đã mất rồi; đàn em tôi vẫn còn nheo nhóc.

Cả nhà đói, ăn độn bo bo mà cũng không đủ. Ăn buổi sáng, phải chạy, lo buổi chiều. Việc chạy gạo dồn lên cả đôi vai khẳng khiu của em gái tôi đang tuổi thanh xuân. Nhưng tuổi thanh xuân của em tôi còn đâu nữa. Nước mất nhà tan! Chưa bao giờ tôi thấm thía câu nói ấy cho bằng bây giờ.

Tôi không tìm gặp lại Muội nữa. Tình thơ dại của tôi đã tan theo vận nước. Bây giờ tôi chỉ là một sĩ quan ngụy, đi cải tạo về, mỗi tuần phải trình diện công an phường một lần cho tới ngày xả chế. Tôi ra khỏi một nhà tù nhỏ, để vào một nhà tù lớn hơn! Tôi chỉ có chữ, mà chữ bây giờ chẳng ai mua. Chế độ này không cần chữ. Lúc tôi lên trình diện, lão phó công an phường lẩm nhẩm đánh vần lịnh tha của tôi mà nước miếng tràn ra cả khóe miệng. Chế độ này cần lý lịch. Mà lý lịch tôi hạng 15, nghĩa là hạng bét, tận cùng đáy xã hội, thì tôi làm được gì bây giờ?

Tôi không tìm gặp lại Muội không phải vì tôi mặc cảm. Tôi không có gì phải mặc cảm cả. Tôi chỉ đi lính, đánh giặc, tôi thua, giặc bắt tôi ở tù. Thế thôi!

Tôi không tìm gặp lại Muội chỉ vì tôi không muốn mình trở thành gánh nặng cho Muội. Yêu người, có ai muốn trở thành gánh nặng cho người mình yêu bao giờ đâu? Tôi cũng không muốn trở thành gánh nặng cho em tôi. Thương em, có ai muốn trở thành gánh nặng cho em mình thương bao giờ đâu?

Tôi đã sống sót suốt năm năm trời dưới chín tầng địa ngục. Tôi đã đói, đói đến mức phải ăn bất cứ cái gì động đậy: cóc, nhái, ễnh ương, bù tọt. Tôi phải sống sót để trở về, như đã hứa, với Muội. Kẻ thù muốn tôi quỳ xuống, van xin. Tôi không quỳ xuống, van xin. Kẻ thù muốn tôi chết. Tôi không chết. Tôi đã trở về, dù thân tàn ma dại.

Em gái tôi đem chiếc nhẫn cưới của má để lại, đến vợ tên công an khu vực cầm, để tôi có chút vốn đi buôn lậu dầu dừa. Ngày xưa nói đến buôn lậu là nói đến tiền tỉ, đến những vật phẩm đắt tiền, trốn thuế, chuyển hàng có xe quân cảnh hụ còi như vụ Long An. Còn bây giờ chỉ mười lít dầu dừa, bỏ vào cặp táp, từ cầu Ba Lai qua phà Rạch Miễu về Mỹ Tho, kiếm lời đủ mua lít gạo.

Đế quốc Mỹ, tàu to, súng lớn, không đủ sức đưa nhân dân ta trở về thời kỳ đồ đá. Nhà nước ta, đỉnh cao trí tuệ loài người, bằng ngăn sông, cấm chợ, rào đường, chặn ngõ dễ dàng đưa nhân dân ta trở lại thời kỳ đồ đá, thời kỳ hái, lượm, thời kỳ của nền kinh tế tự cung, tự cấp; bởi buôn bán, dù năm mười lít gạo, mười, hai chục lít dầu dừa là không lao động, không sản xuất, là bóc lột, là chủ nghĩa tư bản xấu xa.

Tôi cắt tóc ngắn lên, cho gọn gàng, cho có vẻ thầy giáo. Phần thì để né mấy tay du kích bên Cầu Bắc Tân Thạch, quê hương Đồng Khởi. Mấy tay du kích VC này có kiểu làm tiền rất láu cá, bằng cách làm nhục khách bộ hành qua phà, dùng súng, chận họ lại, bắt vào hớt tóc. Tóc dài là tàn dư Mỹ Ngụy. Ngồi trước gương của ông thợ hớt tóc đầu đường, thấy tóc mình đã điểm vài sợi bạc, dù tôi chưa đầy ba mươi tuổi. Tôi mặc lại chiếc áo sơ mi trắng năm học đệ nhứt, đã ố vàng. Chiếc quần xanh được nhuộm đen. Mặc áo bỏ vô quần, mang giày với đôi vớ rách. Tôi xách chiếc cặp táp cũ nhưng không để đựng sách vở. Sách vở ích gì cho buổi ấy. Chiếc cặp đựng cái can nhựa mười lít dầu dừa. Tôi nhập vai thầy giáo, dù ước mơ làm thầy giáo làng, có vợ bán hủ tiếu để tôi ăn trừ cơm những ngày mưa bán ế, đã chết tự lâu rồi, từ Mỹ Tho qua Bến Tre dạy học, canh giờ đến lớp hay tan học, hòa vào đám học trò để vượt qua trạm Cầu Bắc.

Tôi đi buôn lậu dầu dừa được chừng sáu tháng thì thằng bạn học cũ thời trung học cũng ở tù về, rủ tôi hùn tiền mua chiếc xích lô đạp. Nó chạy sáng, tôi chạy chiều hoặc ngược lại. Thằng bạn tôi nói, cay đắng: “Thằng Mỹ quýnh quáng bỏ chạy, còn làm rớt lại cái tên Mỹ, Xô xích Le, xe xích lô”. Tôi thì lại nói: “Mấy ông tai to, mặt lớn của tụi mình thì hô hào tử thủ, để có thời giờ tom góp vàng bạc, đô la rồi dông, còn làm rớt lại chức dân biểu. Xô xích Le, dân biểu. Dân biểu đâu, mình chạy đó”

Một buổi chiều sau khi chở khách ra bến xe cổng thị xã, tôi thả xe không về chợ Vòng Nhỏ thì thấy một ông cắc chú đội chiếc nón mây đan, rộng vành, như Khương Đại Vệ trong phim kiếm hiệp tàu trước 75. Ông mặc chiếc quần tiều lỡ, quá gối, chiếc áo thung tay dài gần tới cùi chỏ, bỏ vô quần, gánh hai cái cần xé không, đi lủi thủi. Tướng đi ngờ ngợ, quen quen. Chú Phu rồi chứ chẳng ai!
“Đi xích lô hông? Chú ba!” Chú Phu nhìn lên, ngơ ngác, ngờ ngợ một lát, rồi nhận ra tôi. Tôi đã đổi thay nhiều quá.
“Chèn ơi! Vậy mà ngộ tưởng nị chết rồi.”
“Chết sao được! Sống nhăn răng ra đây nè.”
Tôi chở chú Phu về nhà. Cũng căn nhà lợp ngói âm dương ở đường Huyện Toại, nhưng có vẻ tiêu điều, u ám. Chiếc xe hủ tiếu xập kỷ nìn, năm xưa, ngày cũ, còn đậu trước hàng ba, xẹp bánh, bụi bám, nhện giăng.
“Nị ở chơi, ngộ nấu hủ tiếu cho nị ăn. Lâu quá ngộ cũng không có ăn hủ tiếu.”
“Vậy chứ chú thôi bán hủ tiếu rồi sao?”
“Thôi lâu rồi! Giờ ai cũng mạt, tiền đâu ăn hủ tiếu.”
“Thì bán cho mấy ổng.”
“Ổng nào? À mấy ông cách mạng hả? Ờ mấy ổng đâu có thèm ăn hủ tiếu. Mấy ổng ăn vàng không hà.”
Chú Phu đem ra một tô hủ tiếu và một lít rượu. Tô hủ tiếu, chú Phu vừa mới nấu, cũng chịu cùng số phận tang thương theo vận nước, chỉ nước lèo, bánh và lèo tèo những lát thịt mỏng như tờ giấy quyến.
Tôi nhớ tô hủ tiếu Muội nấu cho tôi ăn trong những ngày mưa bán ế. Tô hủ tiếu với bánh bột lọc làm bằng gạo Gò Cát, trụng với nước thật sôi, dai mà không bở như hủ tiếu Sài Gòn, nước lèo nấu bằng xương heo, tôm khô, khô mực, cải bắc thảo, thêm vài tép mỡ, điểm xuyến vài cọng sà lách non xanh với mấy cọng hành luộc, một nhúm giá, vài lát ớt sừng trâu xắt mỏng, rắc chút tiêu, ăn với xì dầu và dấm đỏ. Tô hủ tiếu, người thương mình nấu, ly cà phê sữa nhỏ, xây phé nại, do chính tay mình pha, trong những ngày bão rớt, mưa dầm, bán ế giờ đã trở thành kỷ niệm.
Tôi không tiện hỏi thăm về Muội, dù rất muốn.
Tôi hỏi: “Chú bây giờ làm gì để sống?”
“Thì nị thấy đó, ngộ đi mua ve chai, lông vịt về bỏ cho vựa. Nghề ve chai lông vịt mà, nghề móc bọc, móc bọc ny lon đem xuống sông rửa, rồi cân ký. Bây giờ khổ quá! Nhớ hồi xưa mình vui quá!”
Lít rượu ngâm ô môi, cho có màu, chú, cháu cưa hai gần hết.
Chú Phu, chưn nam đá chưn chiêu, lảo đảo bước vào nhà trong, lấy ra cái bọc ny lon.
Chú nói: “Con Muội! Nó gởi cho nị. Con Muội! hu hu! Nó chết rồi!”
“Muội ơi!”
“Ngộ biết nó thương nị. Lúc nị đi ở tù, nó nói nó chờ nị được tha về, nó sẽ đi bán hủ tiếu nuôi nị. Nhưng có được đâu! Tụi nó đánh ăn tụi mình rồi lại giành ăn, đánh lẫn nhau. Thiệt hết biết! Hết Pol Pot, Bành Trướng Bắc Kinh, rồi Nạn Kiều. Ngộ sợ tụi nó sẽ đuổi cha con ngộ về Trung Quốc. Tưởng thống chế bỏ ngộ chạy ra Taiwan. Mao xếnh xáng rượt ngộ chạy tuốt đến đây. Mỹ Tho đất lành chim đậu. Rồi sanh ra con Muội. Ngộ nói với con Muội: “Mỹ Tho bây giờ đất dữ rồi, thôi bay đi con!”
Muội ngần ngừ, có ý đợi nị về. Ngộ nói: “Nị làm quan, mà lại rằn ri nữa, tù biết đến lúc nào ra? Nếu không đi; sợ không còn có dịp. Cái cột đèn còn muốn đi nữa mà.”
“Suốt cuộc đời bán hủ tiếu, ky cỏm được hai cây vàng, ngộ xuống năn nỉ mấy xì thẩu dưới chợ Mỹ Tho cho con Muội một chổ.”
“Tàu nó ra cửa được ba ngày đêm thì bơm nhớt bị hư, máy lột dên, trôi giạt. Ở hải phận quốc tế, tàu buôn qua lại nườm nượp mà không ai vớt. Ba tuần linh đinh trên biển, tuyệt vọng quá, mấy người đi trên tàu gom quần áo, giày dép lại, đốt. Cuối cùng có chiếc tàu buôn tội nghiệp dừng lại, thả thang dây xuống. Ba tuần trên biển, nị nghĩ coi, sức đâu nữa mà leo. Nó sút tay, rớt xuống biển. Chết chìm. Hu hu.”
Chú Phu không còn nước mắt nữa để khóc, chú chỉ kêu hu hu, tiếng kêu của con thú bị một vết thương trí mạng, bị ví vào đường cùng, không lối thoát thân.

“Đêm trước khi đi, nó đưa cho ngộ cái này, nói nếu nị còn sống sót trở về, thì đưa lại cho nị. Hu hu!”
Trong cái bọc ny lon, chú Phu đưa cho tôi, là chiếc áo bà ba hình chữ hỉ tôi may cho em ngày cũ.
Muội ơi! Xác em giờ ở phương nào. Trôi vào đất Thái hay vào Nam Dương. Áo bà ba, Muội yêu, hòa biển tím. Tình còn đây trời đày ta mất nhau.
Tôi không còn khóc được nữa, nước mắt tôi đã cạn lâu rồi. Miệng tôi méo xệch như mếu, mắt chớp chớp, mặt nhăn nhúm, giựt giựt.
“Muội ơi! Anh sẽ đem chiếc áo bà ba hình chữ hỉ của chúng mình theo, ra biển!”

Đoàn Xuân Thu

(Người chuyển: Dương Mộng Oanh)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Vùng Khổ Thấy Mẹ (KTM)_Sưu tầm

Inline imageVùng Khổ Thấy Mẹ, tức là vùng kinh tế mới.Sau năm 1975, bọn việt cộng lùa hàng trăm ngàn người ở Sài Gòn lên các vùng mà chúng nó gọi là kinh tế mới. Các tỉnh thành của miền Nam cũng đồng loạt thi hành cái quyết định này của thằng chó đẻ Lê Duẫn và bộ chính trị của cộng đảng.
Mục đích của chúng là gì? 

-Chiếm đoạt nhà cửa, tài sản của người dân miền Nam, phân tán những thành phần có thể kết hợp chống lại chúng nó. Đưa thành phần cán bộ chủ chốt của chúng từ Bắc vào trám chỗ, để sống lẫn lộn với người dân miền Nam ,cho dễ bề cai trị.
– Đối tượng là người Hoa, gia đình của các người có dính líu đến chế độ VNCH .Những người dân tỵ nạn chạy từ miền Trung vào ở thời điểm cuối của cuộc chiến. Những thành phần vô gia cư hay không có chỗ ở nhất định, cũng nằm trong diện này.
— Dùng mọi thủ đoạn, từ dụ dỗ tới đe dọa, tuyên truyền bịp bợm bằng những hình ảnh cò mồi, để đạt được mục tiêu trên 1 triệu người phải được di dời ra khỏi Sài Gòn, dù dân số Sài gòn lúc đó chưa đầy 3 triệu.
Các tỉnh thành cũng thế, các con số được đưa ra ,để bọn cán bộ thi hành. Cái luận điệu thường nghe nhất là hãy đi xây dựng vùng kinh tế mới là xây dựng nếp sống mới.
Hay là đi kinh tế mới, thì sẽ được cứu xét để chồng con đang bị “cải tạo” sớm được thả về.
Và sống dưới chế độ “Mỹ Ngụy” ăn bám, chây lười lao động, bây giờ nhà nước tạo cơ hội để tự làm lại cuộc đời, đóng góp cho đất nước…bla bla..
Nếu cuối cùng không thuyết phục được thì chúng dùng bạo lực.
— Chúng nó dồn dân lên xe rồi, thì từng đoàn xe, chất đầy những con người ngơ ngác vô tội, cứ thế mà chạy,mặc kệ người già ói mửa, con nít kêu gào.
Những con người thất thanh ngơ ngác, cho đến khi xe dừng lại giữa rừng đêm.
Xuống..xuống.. từng đoàn người bồng bế, dắt dìu nhau nhảy xuống, những đoàn thanh niên xung phong được lịnh ra giúp họ.Inline image
Những người này cũng chẳng khá gì hơn những người mới đến, họ bị tập trung đưa lên đây từ vài tháng trước, để chặt cây, dựng nhà, họ sống thành từng đại đội, xanh xao ,bịnh hoạn vì nước độc rừng thiêng.
Trước đó họ chỉ là những người học trò ,chưa một ngày cầm con dao, cây cuốc,cây rựa.
Những “căn nhà ” được họ dựng lên chỉ có cái sườn, và những người lưu dân tội nghiệp mới đến này phải tự mình lo che nắng, che mưa cái chòi trống rỗng đó.
Cái căn nhà ấm êm với bao nhiêu kỷ niệm của một thời bây giờ chỉ là kỷ niệm, thực tại là rắn rết, bò cạp ,muỗi mòng, đi vệ sinh phải đem theo cái cuốc.
Tắm giặt ăn uống gì cũng xuống suối để làm. tội nghiệp biết bao nhiêu những cụ già ,những đứa trẻ con, những bà mẹ với một đàn con, tội biết bao nhiêu những người con gái tuổi thanh xuân, một mình lo cho mẹ già em dại, bố thì tội tù, tội biết bao nhiêu những người thiếu niên mới lớn bây giờ thay thế cha mình để bảo bọc gia đình..
Họp hành, thi công ,chấm điểm. Lương thực nhỏ nhoi được cấp phát, vơi theo tháng ngày, ốm đau không thuốc.Cái đói và bịnh tật đã giết chết biết bao nhiêu con người của thời đại đó ?
Có bao nhiêu bà mẹ trẻ đành đoạn bỏ thuốc trừ sâu, thuốc độc vào nồi cháo khoai mì, để mấy mẹ con cùng ăn, chấm dứt một kiếp người đày đọa? Có bao nhiêu người con gái thơ ngây phải đem thân xác mình để đánh đổi tí dầu lửa thắp đèn, vài ký gạo,vài nhu yếu phẩm với những thằng cán bộ nắm quyền sinh sát.
Và từng đêm khuya khi ánh trăng dọi sáng rừng đêm , những người thanh niên thiếu nữ ,tương lai mịt mù, tìm đến nhau, với tiếng đàn, lời ca , bàn tay tìm nắm bàn tay.. cho nhau hết vì biết đâu ngày mai em chết..
Con số người bỏ trốn về lại Sài gòn và các tỉnh thành không phải ít.. các nghĩa trang, công viên ,lề đường ,gầm cầu là nơi cư ngụ của họ..
Bọn cộng sản đã hoàn toàn thất bại trong mục tiêu của chúng nó..
Các quận mới ở Sài gòn hình thành cũng từ những lưu dân bị đọa đày,bị cướp giựt nhà cửa này, họ về bám lại Sài gòn, và họ đã làm cho Sài gòn sống lại..
Những người ở lại các vùng khóc ra máu mắt đó, họ đổ mồ hôi, sôi nước mắt để sống còn.
Chế độ cộng sản liên xô xụp đổ, bọn cộng sản bắt buộc phải nới lỏng,thay màu son phấn để sống còn.
Những vùng kinh tế mới ngày xưa đó bây giờ đã thành thị trấn ,rừng đã lùi xa vì một thời đã bị chặt, dùng làm chất đốt cho người đô thị.
Chuyện cũ của vài chục năm xưa, chuyện của một thời hung hăng, ngu muội, hận thù mà bọn cộng sản gây nên, chỉ là dĩ vãng, trẻ con lớn lên không bao giờ được biết, vì bọn cộng sản chúng nó biết phủi tay chối bỏ tất cả mọi tội ác mà chúng đã gây ra, và lớp trẻ ngày nay lớn lên có cha mẹ nào kể lại cho họ nghe một thời như thế? Và đối với chính họ, chỉ là chuyện rất xưa..
Nhưng rồi tới đời con họ, những chuyện đã xảy ra và còn sẽ xảy ra, nếu chế độ cộng sản này còn tồn tại..
Những mảnh đất khai hoang bằng máu và nước mắt của ông bà, cha mẹ họ ngày xưa..bây giờ là miếng mồi ngon béo bở cho bọn cộng sản, vì chúng đang cần đất để bán cho bọn tàu.
Bọn tàu chiếm nước Việt bằng tiền mua đất, mà đất thì thuộc quyền “quản lý ” của bọn chó đẻ việt cộng. Cái nhà mình đang ở, nó tự nhiên đo đạc bảo là đất quy hoạch, thế là mình bị dồn vào cửa tử..
Vỉa hè mà ông bà cha mẹ họ bám trụ để dựng thành những khu phố, bây giờ bọn việt cộng sẽ tìm đủ mọi cách để chiếm.
10 triệu người ở sài gòn, hơn 5 triệu sinh sống bằng buôn bán vỉa hè.. bây giờ bị dẹp, thì sống bằng gì?
Đấy, một thời đã qua và vẫn còn tiếp diễn…cái thời cộng sản chó chết.

(Bài sưu tầm trên net)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Danh Sách K1 ủng hộ ĐNH “Cám Ơn Anh” Kỳ 12

DS K1 cam on anh

Hình ảnh | Posted on by | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Bài thơ của một anh thương binh VNCH …

Bài thơ của một anh thương binh …
Cay đắng, ngậm ngùi !
Image may contain: 1 person, sitting
Tao bị thương hai chân,
Cưa ngang đầu gối ! 
Vết thương còn nhức nhối.
Da non kéo chưa kịp lành…
Ngày ” Giải phóng Miền nam “
Vợ tao ” Ẵm ” tao như một đứa trẻ sơ sanh…!
Ngậm ngùi rời ” Quân-Y-Viện “
Trong lòng tao chết điếng,
Thấy người lính Miền bắc mang khẩu súng AK !
Súng ” Trung cộng ” hay súng của ” Nga ” ?
Lúc này tao đâu cần chi để biết.
Tao chiến đấu trên mảnh đất tự do Miền nam
-Nước Việt,
Mang chữ ” NGỤY ” thương binh.
Nên ” Người anh,em phía bên kia…”
Đối xử với tao không một chút thân tình…!
 
Mày biết không !
Tao tìm đường về quê nhìn không thấy ánh bình minh.
Vợ tao: Như ” Thiên thần” từ trên trời rơi xuống…
Nhìn hai đứa con ngồi trong căn chòi gió cuốn,
Bụi đất đỏ mù bay !
Tao thương vợ tao yếu đuối chỉ có hai tay,
Làm sao ” Ôm ” nổi bốn con người trong cơn gíó lốc.
Cái hay là: Vợ tao giấu đi đâu tiếng khóc.
Còn an ủi cho tao,một thằng lính què !
 
Tao đóng hai cái ghế thấp,nhỏ bằng tre,
Làm “Đôi chân” ngày ngày đi lại
Tao quét nhà; nấu ăn; giặt quần; giặt áo…
Cho heo ăn thật là “Thoải mái” !
Lê lết ra vườn: Nhổ cỏ, bón phân
Đám bắp vợ chồng tao trồng xanh tươi
Bông trổ trắng ngần !
Lên liếp trồng rau,thân tàn tao làm nốt.
Phụ vợ đào ao sau vườn,rồi thả nuôi cá chốt.
Đời lính gian nan sá gì chuyện gíó sương…
 
Xưa, nơi chiến trường
Một thời ngang dọc.
Cụt hai chân. Vợ tao hay tin nhưng không “Buồn khóc”!
Vậy mà bây giờ…
Nhìn tao…nuớc mắt bả….rưng rưng !
 
Lâu lắm, tao nhớ mầy qúa chừng.
Kể từ ngày, mày “Được đi Cải tạo”!
Hàng thần lơ láo – Xa xót cảnh đời…
Có giúp được gì cho nhau đâu khi:
Tất cả đều tả tơi !
 
Rồi đến mùa “H.O”
Mầy đi tuốt tuột một hơi. 
Hơn mười mấy năm trời…
Không thèm quay trở lại
Kỷ niệm đời Chiến binh
Một thời xa ngái.
Những buổi chiều ngồi hóng gió nhớ…buồn hiu !
 
Mai mốt mầy có về thăm lại Việt nam
Mầy sẽ là “Việt kiều”!
Còn “Yêu nước” hay không – Mặc kệ mầy.
Tao đếch biết !
Về, ghé nhà tao.Tao vớt cá chốt lên chưng với tương…
Còn rượu đế tự tay tao nấu
Cứ thế, hai thằng mình uống cho đến…điếc !
 
Trang Y Hạ
(Bài do Trần Pháp sưu tầm & chuyển)
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Bạn nghĩ gì về bài viết này?