
Kính tặng những người mẹ, những người vợ đã trải qua một thời nuôi tù. Riêng tặng chị Bé-Bông và những người thân yêu nhất của tôi.
Chúng tôi gặp lại nhau khi cả hai chúng tôi đã vào buổi hoàng hôn của cuộc đời. Cơ duyên chúng tôi được gặp mặt lại nhau thật đúng với câu nói: “Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ; vô duyên đối diện bất tương phùng”. Chúng tôi, nhân vật chính trong câu chuyên này là những nhân chứng sống – những người đã “khóc cười theo mệnh nước nổi trôi”. Bối cảnh của câu chuyện khởi đầu rất đẹp tại hai thành phố Sài gòn – Đà lạt và kết thúc cảm động tại hai tiểu bang California – Oregon.
Tôi chưa được gặp mặt Bông mà chỉ biết qua lời kể của ông xã. Việc gặp lại nhau là do sau khi ông xã Bông đột ngột qua đời, những trống vắng, hụt hẫng càng khiến Bông muốn tìm liên lạc lại với các bạn cũ. Rồi ngày tháng qua với mạng lưới tin học tân tiến Bông đã tìm được email và số điện thoại của chúng tôi qua hội Cảnh Sát. Kể từ đó nhịp cầu Cali-Ori trở thành “đường dây nóng”. Tôi cũng có những người bạn rất thân nhưng chưa gặp được người nào có cùng chung số phận, hoàn cảnh sống trong giai đoạn đau thương của lịch sử dân tộc. Để cùng cười vang khi nhắc đến những kỷ niệm của cái “thuở ban đầu” và rồi để cho mắt cay, ruột xót, cùng thổn thức cho những ngày đau thương, ly hận tràn đầy. Chúng tôi lại cùng là những người yêu thơ văn, ca nhạc. Nên khi nghe Bông nói sẽ đến thăm chúng tôi rất vui mừng. Riêng tôi rất nôn nóng để được gặp mặt một người mà tôi tin là cũng thích được kể và được nghe những kỷ niệm một thời mà tôi không hề bao giờ muốn lãng quên.
Thật là trời không phụ lòng người! Khi gặp nhau chúng tôi đã bồi hồi xúc động kể cho nhau nghe và rồi những thước phim của quá khứ đã được quay chậm lại. Tôi muốn viết những câu chuyện thật này như một thiên hồi ký khi còn đầu còn nhớ và tay còn viết lại được và cũng có thể gọi là “gia tài của mẹ để lại cho các con”.
Ngày xa xưa ấy khi Bông còn là một cô nữ sinh của trường Bùi thi Xuân tại xứ hoa anh đào. Tại đây lại có hai chàng Cảnh Sát Dã Chiến mà sau này đã trở thành phu quân của chúng tôi. Đó là anh Nguyễn ngọc Bé, tức “Bé hạt sen” và anh Nguyễn văn Vinh, tức “Vinh đen”. Hai chàng là “bạn đồng môn” theo đúng cả hai nghĩa Hán-Viêt. Hai anh cùng là sĩ quan khóa I Biên tập viên cảnh sát – mà lúc mới quen chàng tôi chả hiểu là cái thứ vị gì vì chỉ thấy anh đeo trên cầu vai một cái gạch và cái hai lăng quăng – cùng phục vụ tại Đà Lạt, ăn cùng mâm – cùng một quán nấu cơm tháng- ngủ cùng nhà trọ!
Theo lời Bông kể lại thì tuy gia đình ở Đà lạt nhưng khi học xong trung học Bông lại làm việc cho Air Việt Nam tại Nha Trang. Và bà mai cho đôi tình nhân này là cô em họ tên Hòa. Lần đầu gặp gỡ là khi Bông từ Nha Trang về thăm nhà. Cô Hòa này mời cả hai đi xem phim. Rồi “từng bước từng bước thầm” cả hai đã nhẹ bước vào đời nhau lúc nào không hay! Sau lần đó thì mỗi lần Bông được về thăm nhà thì anh “Bé hạt sen” lại xuất hiện, xử dụng tài tình chiến thuật vừa lãng mạng vừa thực dụng với bó Bông hồng trên tay đi kèm với một bịch khoai lang mật dẻo! Và cô nhân viên Air Việt Nam đã rơi ngay vào cái bẫy êm ái này. Mặc dù “lúc đầu Bông không ưng lắm vì ngoại hình trông không được bắt mắt” nhưng nhờ anh đã áp dụng tâm lý chiến đạt tới “đỉnh thượng thừa”! Người sĩ quan cảnh sát này trông vậy mà đầy nghệ sĩ tính. Anh thường tặng cho người yêu sách vở, các tuyển tập thi ca, trong đó Bông nhớ rất rõ là có rất nhiều sách học làm người của nhà văn Nguyễn Hiến Lê. Thế là cô cựu nữ sinh trường Bùi thị Xuân đã tự chui vào cái tổ kén để dệt thành “Truyện tình 2 B” – có thể dịch sang tiếng Anh là “The ‘to Be’ Love Story”!
Còn tôi đã chui vào tổ kén để dệt chuyện tình mình trong trường hợp như sau: là học sinh trung học Đắc Lộ đến năm Đệ Tam, khi khám phá ra vài “dấu lạ” trong quyển “lưu bút ngày xanh”, bố mẹ tôi chuyển cô con gái lên trường trung học Nguyễn Bá Tòng, nơi có hai khu nam sinh và nữ sinh riêng biệt. Năm cuối của bậc trung học tôi chơi thân và thường sang học thi tú tài II với Oanh. Cô này lại cũng là em họ và nhà cô lại ở đối diện với đối tượng đang “chiếu tướng” tôi! Thời gian này anh Vinh đang được về nhà sau khi học xong khóa huấn luyện quân sự tại trường bộ binh Thủ Đức. Chiến sự Mậu thân bùng nổ! Anh không trở lại Đà lạt ngay được. Ngày Tết bố mẹ tôi hay chơi bài Tam cúc, nhất là bài chắn tại nhà. Thế là tối đến thường xuất hiện thêm một chân chơi bài chắn trong gia đình tôi! Và rồi “mũi tên nào say đắm, bắn trúng con tim hồng”! Bưu điện Sài gòn – Đà lạt đã phải làm việc “overtime” để chuyển thư của chúng tôi mà đã được tôi ghi dấu “mật mã” bằng phong bì mầu trắng dán con tem in hình cô gái đang đánh đàn tranh màu tím! Nhờ tín hiệu đặc biệt này mà anh Vinh đã thoát được âm mưu giữ bức thư tình giả mạo làm “con tin” để đòi tiền chuộc của mấy ông bạn quý!
Rồi thì những lần “24 giờ phép” về Sài gòn thay vì “hái hoa rừng” (có biết ở đâu mà hái!) thì anh chàng cứ ra chợ Đà lạt mua hoa đem về tặng cho “bé yêu” khiến mấy anh bạn phải thốt lên rằng:” Thằng này bây giờ chỉ thích ôm Lan!” Rồi cũng từ đó sân trường Văn Khoa thỉng thoảng có thêm một anh chàng sinh viên dự thính! Con đường Tú Xương đã trở thành “con đường tình ta đi”! Và con đường Cường Để đã ghi nhận một “tai nạn lưu thông”! Khi ấy trên đường tan học về, tôi đang chạy chiếc Honda PC, tà áo dài và “tóc thề thả gió lê thê”, bỗng phát giác có một xe Jeep cảnh sát đang “bám sát”ở đàng sau, giật mình nhìn thấy khuôn mặt “quen quen” đang ngồi trong xe! Hết hồn! Lúynh quýnh thế nào mà té nhào ngay trước mũi xe Jeep!
Nói đến té xe tôi lại nhớ lời Bông kể chuyện anh Bé tập xe chạy Honda cho Bông. Thoạt tiên anh ngồi vào tay lái, Bông ngồi phía sau. Anh dọt xe chạy một lúc, thấy đàng sau im re! Mới quành xe lại để “nhặt người yêu”! Chúng tôi cũng có một chuyện tương tự. Anh chàng Cò nhà tôi một hôm mượn được cái xe “Vespa thùng” để đón tôi đi học về. Ngày xa xưa ấy, con gái ngồi yên sau thì khép nép vén tà áo dài ngồi để hai chân qua một bên. Tôi vừa leo lên yên sau chưa kịp “sửa tướng khép nép” thì anh cũng dọt xe chạy một đỗi mới quay lại “tìm trẻ lạc”!
Cuộc sống êm đềm, hạnh phúc của chúng tôi vút qua tầm tay! Tình hình chiến sự từ đầu năm 1975 dồn dập những tin dữ và anh Vinh cũng miệt mài trong công vụ. Khi tôi sinh cháu gái thứ ba vào cuối tháng 3/1975, anh vào nhà bảo sanh của bệnh viên Vì Dân để đón mẹ con tôi về nhà với cái đầu bị thương băng trắng xóa và chỉ kịp thả mẹ con tôi xuống đầu ngõ rồi lại vội vã ra đi. Cũng trong những ngày khốc liệt ấy anh Bé đưa Bông với cái bụng bầu và bốn cháu nhỏ di tản về Sài gòn. Trong lúc dầu sôi lửa bỏng anh Vinh cũng chỉ kịp gom góp cho anh chị Bé những vật dụng cần thiết trong thời gian tạm trú tại đây. Rồi chúng tôi không gặp lại nhau nữa mà tan tác theo vận nước nổi trôi kể từ đấy!
30/4/1975! Lời đầu hàng của Dương văn Minh là tiếng súng bức tử! Cả thành phố Sài Gòn như điên cuồng! Một đám lửa chất đống quần áo, quân trang, quân dụng được đốt lên ngay đầu ngõ nhà tôi! Tôi cũng mê man vừa khóc nức nở vừa vất vào đấy những gì tôi có thể quơ cào được! Đến bây giờ tôi chỉ tiếc quyển album chứa đầy kỷ niệm và bức ảnh phóng lớn của cháu trai đầu lòng bụ bẫm, kháu khỉnh trong bộ quần áo Cảnh Sát Dã Chiến!
Mấy ngày sau anh Vinh mới về nhà cùng gia đình tôi đi tìm tung tích mẹ tôi bị trúng đạn pháo kích vào phi trường Tân sơn Nhất của Việt cộng ngay sáng30/4. Mẹ tôi được tìm thấy tại bệnh viện Bình Dân và rồi bị cắt nguyên cái chân phải vì vết thương đã bị làm độc!
Khi còn nhỏ tôi đã được xem các bộ phim “Chúng tôi muốn sống”, Về miền Nam” v…v…Tôi đã biết tội ác của Việt cộng. Nhưng không thể nào đo lường cái ác này nếu không sống dưới sự trả thù của họ.
Bông kể cho tôi nghe những cơ cực của gia đoạn sau 1975, nhất là khi gia đình gồm sáu mẹ con cùng bà mẹ chồng bị đẩy đi “kinh tế mới”.
“Chú phỉnh tôi rồi chính phủ ơi”! Chế độ cộng sản tồn tại nhờ vào sự lường gạt người dân và khủng bố làm tê liệt mọi chống đối. Sau khi anh Bé đi tù, Bông đưa mẹ già và năm con dại “tự nguyện” đi KTM với hy vọng cho chồng được thả về sớm. Cùng với một vài gia đình khác, mọi người bị lùa vào xe tải chở đến nơi chỉ cho mấy căn lều trống vừa lợp xong mái lá, không có vách, không có cửa! Lương thực được phát lúc đầu là ít gạo hẩm, nước mắm, muối và hai con cá khô lép kẹp bằng hai ngón tay. Các cháu ngày ngày phải ra bìa rừng hái rau tàu bay, rau dền dại,và lá giang. Đem bỏ tất cả vào nồi nấu với muối và chút bột ngọt cộng với ớt sim cay xé lưỡi để tránh bị sốt rét. Trời cũng thương nên ăn uống kham khổ như thế mà các cháu lại không bị đau bệnh trầm trọng chi cả. Dân KTM cũng được phát hạt bắp và khoai mì để tự trồng trọt. Nhưng trời thì nóng cháy da, đất đai khô cằn lại thêm mẹ già và bầy con nhỏ làm sao mà canh tác? Lương thực cấp phát tiêu chuẩn bị cạn dần: vài ký gạo đã bị quy một nửa thành khoai mì khô xắt lát. Để kiếm một chút thu nhập, Bông đã nghĩ cách mua khoai mì của các hộ dân để bán lại cho các con buôn. Dần dà tìm ra đầu mối thu mua khoai mì là một nhà thờ nhỏ cách xa nơi ở khoảng 16 km. Các sơ ở đấy mua khoai mì khô để xay ra làm thành bún. Thấy hoàn cảnh chồng tù tội, đàn con còn nhỏ dại nên các sơ đã cấp vốn để thu mua khoai mì về bán lại cho nhà dòng. Phương tiện chuyên chở duy nhất là cái đòn gánh bằng thân cây tre trên đôi vai gầy guộc đi lại mỗi ngày trên con đường rừng gồ ghề, ngoằn ngoèo. Mỗi buổi sáng Bông và một chị bạn thức dậy thật sớm để chuẩn bị lên đường. Ngày đầu tiên đúng là đổi mồ hôi, nước mắt để lấy gạo nuôi con. Chỉ gánh khoảng 20 kg khoai mì thôi mà nghỉ dọc đường không biết bao nhiêu lần. Hai vai sưng tấy lên, rướm máu, trong làn nước mắt dàn dụa, hình ảnh đàn con đang nheo nhóc chờ mẹ về có được chén cơm đã thúc đẩy từng bước nhọc nhằn kế tiếp. Rồi “bao đau thương thành chai đá” trọng lượng gánh hàng sau khi bị giảm xuống 15kg đã tăng lên thành 30kg cho mỗi chuyến.
Trong hoàn cảnh đánh đổi cật lực sức lao động lấy miếng ăn cho 7 người trong gia đình. Hoàn cảnh mà cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, dép đi của các cháu được chế biến từ các đôi dép đứt quai của các công nhân làm rừng, nhặt về cắt nhỏ lại, mua quai nhỏ hơn để xỏ vào cho các cháu đi thì phương tiện để đi thăm nuôi anh Bé khi anh còn ở trong trại cải tạo tại miền Nam đều phải cậy trông vào ông bà ngoại khi đó còn ít đồ đạc trong nhà có thể đem bán đi được.
Trại tù của anh Bé có tên là Madagui. Từ Đà lạt đi xe đò từ 6g sáng đến điểm tập trung khoảng 9g. Từ đó thân nhân phải gồng gánh đi đò qua con sông La Ngà rồi lại phải đi bộ vào đến trại thì đã 5g chiều. Lần thăm nuôi không thể nào quên là khi hay tin anh Bé bị sốt rét, Bông cùng đi với chị Bá cũng đi thăm nuôi chồng. Khi anh Bé được một chị cán bộ dắt ra, căn bệnh sốt rét đã hủy hoại thân thể đến nỗi Bông không nhận ra được nếu không nghe anh cất tiếng gọi ”Em!”. Đau lòng Bông nhào đến ôm anh thì bị tên cán bộ này phạt bằng cách cắt giờ thăm gặp chỉ còn 15 thay vì 30 phút! Còn chị Bá thì chỉ được gửi quà mà không cho biết lý do. Thật ra anh Bé thì thầm là anh Bá đã chết hơn một tuần nay mà bọn chúng vẫn nhận đồ thăm nuôi. Anh còn dặn kỹ là chỉ cho chị Bá biết tin này trên đường về vì sợ chị phẫn uất kêu khóc anh Bé sẽ bị trại kỷ luật! Bị kỷ luật trong tù là đồng nghĩa với sự đón nhận cái chết nếu không có ơn trên che chở! Anh Bé cũng đã nếm thử kinh nghiệm “chết hụt” khi một người tù lấy cắp đồ ăn của anh để trốn trại. Anh bị đưa ra làm tờ tự kiểm trong 3 ngày vì bị nghi là đồng lõa. Rất may là sau khi bị bắt lại người này khai là chính mình ăn cắp nên anh ấy đã bị tử hình, còn anh Bé thì được thoát chết!
Một chuyến đi khác cũng là một kỷ niệm với người bạn đồng hành là chị Diệp, anh Diệp cũng là Trung úy Cảnh sát (hiện nay anh chị Diệp đang ở Santa Ana). Lần đó đi thăm nuôi vào mùa mưa, không có đò qua vì nước sông đang chảy xiết. Cũng may được người dân trong vùng cũng thuộc thành phần KTM cho ngủ lại qua đêm. Hôm sau vào thăm nuôi thì trời đổ mưa. Các anh nhận đồ xong thì xót xa hối thúc vợ về mau mau còn dặn với theo là “nếu mưa lũ thì đừng đi thăm nữa nhé!” Còn chúng tôi những lần đi thăm nuôi, lúc đi gánh vác đồ thì thể xác nặng trĩu mà không biết mệt, thế mà lúc về chứng kiến thân phận tù tội, nghiệt ngã và hình ảnh tiều tụy của chồng làm tâm hồn trĩu nặng đau thương đến ngơ ngẩn hàng tháng chưa vơi. Ra về lần này hai chị em lại cũng vẫn không gặp may vì không có xe đò nào ngừng lại. Sau cùng thì có được một chuyến xe, nhưng chỉ đưa về đến Bảo Lộc và nhà trọ nào cũng từ chối không cho trú ngụ có lẽ vì hai đứa nhìn giống như hai bà điên! Thế là vừa đói vừa rét, dùng áo mưa che thân, ngồi ngoài hàng hiên nhà người ta ca bài “Giọt Mưa Thu” suốt đêm! Đến khi anh Bé phải đổi ra các trại ở miền Bắc thì nguồn tiếp viện từ ông bà ngoại đã cạn kiệt. Bông chỉ có thể vài tháng gửi đồ tiếp tế cho anh qua phiếu gửi quà mà thôi!
Riêng thân phận tôi thì may mắn hơn phần nào vì còn bám được ở thành phố. Đó cũng là một phép lạ cho gia đình tôi. Trong lúc tinh thần bị khủng bố cực độ! Ngày đêm loa phóng thanh của phường dội bom vào tai những lời thúc ép đi kinh tế mới! Lại chứng kiến cảnh vợ con ông thiếu tá Lâm nửa đêm bị “xúc” đi. Mẹ chồng tôi bàn định là sẽ phải bán căn nhà để mua đất tại Gia Kiệm vì cũng có người quen đang ở đấy. Trước ngày đi đặt cọc tiền đất, bà cụ đến nhà thờ cầu nguyện thì khi về nhà nhận được thư thăm nuôi anh Vinh từ khám Chí Hòa cùng với thư của Sở giáo dục cho tôi đi dạy lại tại trường Đắc Lộ (sau đổi tên là Ngô Quyền)
Người chinh phụ trong Chinh Phụ Ngâm của Đặng Trần Côn và Đoàn thị Điểm đã rất đau khổ trong cảnh: “Nay một thân nuôi già dạy trẻ. Nỗi quan hoài mang mể xiết bao” nhưng nàng chắc chắn không thể nào khổ bằng chúng tôi, những chinh phụ dưới chế độ Cộng Sản.
Tôi dạy học trong nhà trường xã hội chủ nghĩa, mỗi ngày được mua theo tiêu chuẩn nửa ổ bánh mì, mỗi tháng nửa ký thịt heo lại phải nói khó với người phụ trách “tổ đời sống” để xin được mua thịt ba rọi. Bánh mì được xắt lát để dành phơi khô. Thịt ba rọi thắng để lấy nước mỡ cho nhà dùng, còn phần mỡ cùng ít thịt thì để ngào với đường chảy để đi tiếp tế. Khoai lang mua thay gạo từ hợp tác xã cũng được xắt lát để dành phơi khô. Đến đây tôi lại rớt nước mắt với hình ảnh bà nội ngồi bóc vỏ khoai. Cháu bé gái bò bên cạnh nhặt hết vỏ khoai bỏ vào miệng ăn ngon lành!
Trước khi được gọi đi dạy lại tôi đã cơ cực làm đủ mọi việc. Tôi rất kinh hãi giống đỉa nhưng đã phải lội ruộng để hái rau muống cho mẹ tôi đem ra chợ bán! Rồi sau đó, hai ba giờ sáng đã đi theo thím em họ để đón xe Long Khánh mua chuối, cà ghém, rau cải … nhưng vì yếu và chậm nên phải bỏ vì chỉ dành được toàn là chuối đẹt và cà xấu! Rồi lại cùng cậu em trai thư sinh kéo chiếc xe tự chế chở phụ tùng xe đạp đi ra chợ xe đạp Minh Mạng bày bán. Chiếc xe này còn nặng hơn trọng lượng của hai chị em nên đã có lần lật nhào đổ tung tóe ra mặt đường! Tôi cắn răng thu nhặt đồ đạc vương vãi trong nước mắt! Khi bột mì được phát thay gạo, lại xoay ra bán đủ loại bánh! Đến mùa Trung Thu hay Tết Nguyên Đán lại tranh thủ bán bánh, mứt. Cô em kế tôi còn nhớ mãi hình ảnh của tôi gầy gò, đi nghiêng nghiêng vì vết mổ lao hạch còn đang băng vải ở cổ, tay ôm thùng bánh ế, lội bì bõm trong con hẻm trở về nhà trong cơn mưa buổi tối.
Các cháu vì không đủ dinh dưỡng nên cứ đau ốm liên miên! Có một lần cả hai cháu trai bị sốt xuất huyết nặng phải điều trị ở hai lầu cách xa nhau tại bệnh viên Nhi Đồng. Cháu gái ở nhà khát sữa mẹ đã phải ngậm vú da của bà cố ngoại. Vừa phải lo chạy mua chợ đen thuốc để chữa bệnh cho con, vừa phải chạy lên lên xuống xuống một ngày không biết bao nhiêu lần để lo cho hai con. Tim gan thắt lại theo nhịp thở yếu ớt của các con! Tôi đã kiệt sức! Và cái chết đã lởn vởn trong đầu! Nhưng niềm tin tôn giáo, khuôn mặt của những người thân yêu đã vực tôi đứng dậy!
Tuy nhiên Chúa đã thương gia đình chúng tôi! Sau khi đồng tiền kiếm được từ nghề dạy học của tôi và cô em kế tôi đã trở thành đồng lương chết đói thì cậu em tôi đã sáng chế ra nghề vẽ các hoa văn trên guốc bằng bút điện. Đến khoảng đầu năm 1980 khi hàng ngoại quốc được gửi về thì tôi đã bỏ nghề giáo để đi buôn hàng ngoại quốc vì có chút vốn liếng ngoại ngữ nên xoay nghề “chạy” thuốc tây! Đời sống toàn gia đình đã được cải thiện.
Khi anh Vinh còn bị tù ở Chí Hòa, tôi đi tiếp tế anh bằng xe đạp. Thỉng thoảng thân nhân được cho gặp mặt. Đến ngày đi thăm cả gia đình chất lên chiếc xích lô đạp: bao tải lớn được gác trên càng xe. Hai cháu trai đứng sát bên trong. Tôi bà bà nội các cháu ngồi co chân lên để cháu gái ngồi lên trên hai bị cói đặt ở đưới cùng! Vào đến nơi thì tù nhân và gia đình ngồi hai bên, cách ngăn bằng một tấm lưới mắt cá! Cháu bé nhất chui qua gầm bàn sang ngồi với bố! Chúng tôi “mắt trong mắt, tay trong tay, chân…trên chân” cố truyền sức sống cho nhau! Chưa kịp hỏi han thì đã hết giờ!
Nhưng khi anh Vinh bị chuyển lên trại tù Xuân Phước là một huyện nhỏ nằm sâu trong một vùng thung lũng thuộc thị xã Quy Nhơn, thì mới đúng là “đoạn trường tân thanh!” Những lần thăm nuôi đầu tiên thật gian nan, vất vả. Tôi phải chen chúc trong những toa tàu chợ hôi hám với đoàn người lam lũ đi buôn hàng chuyến. Khi có tiếng hô lớn báo động sự xuất hiện của lũ công an kinh tế hay quản lý thị trường thì đám người này thảy liên tục hàng hóa qua các cửa sổ, rồi đạp cả lên đầu hành khách như chúng tôi để nhảy ra ngoài cửa sổ thoát thân. Đến ga Chí Thạnh người đi thăm nuôi phải ôm đồ đạc nhảy xuống tàu thật nhanh. Từ đó sẽ đón bất cứ phương tiện di chuyển nào có được để đi đến trạm kiểm soát: xe trâu, xe ngựa, hay xe hàng chạy bằng hơi nước từ thùng than đá nóng như thiêu đốt, ra khỏi xe người lọ lem như vừa chui ra khỏi lò sưởi đầy mồ hóng. Có lần tôi và chị bạn đồng hành xin quá giang được một xe chở bột mì vào trại. Xe lồng lên chạy trên những con đường dốc ngoằn nghèo xóc chúng tôi lăn lóc như hai con cóc từ góc này sang góc kia trong thùng xe. Đến khi xuống xe, chúng tôi bơ phờ, nhừ tử nhưng nhìn nhau phá lên cười ngặt nghẽo vì hai người trông giống như hai cục bột di động. Chưa xong! Từ trạm kiểm soát chúng tôi phải lúp xúp, chạy tất tả theo sau những người dân địa phương được mướn gánh đồ thăm nuôi vào đến nhà “tiếp tân”. Một lần thăm nuôi khác, tôi lại một lần nữa được phép mầu nhiệm tăng sức và gìn giữ. Lần đó khi chúng tôi vào đến trại A cũng đã xế trưa thì cán bộ trại báo tin là chồng tôi đã bị đưa qua trại B. Nếu ở lại trại A đến sáng mai thì sợ trễ, làm người bạn đồng hành phải chờ đợi thêm một ngày nữa mới về được. Sau khi hỏi thăm biết rằng đường đi bộ mất khoảng chừng hơn một tiếng đồng hồ. Tôi liều mạng đi sang trại B một mình! Khoảng cách từ hai trại qua đường đèo phải tính nhân lên gấp hai, gấp ba lần là do tôi không đủ sức mang hết đồ tiếp tế mà phải chia ra, cứ đi được một đoạn thì bỏ hai giỏ cói xuống, rồi trở lại vác bao đồ kia đi tiếp. Trên đường đi nghe chim kêu não nuột, nghe vượn hú rợn người! Cứ thế vừa đi vừa ngước mặt lên trời cầu xin tha thiết:”Xin Chúa gìn giữ mạng sống này không phải chỉ để cho con mà cho những người thân yêu đang cần đến con!” Khi tôi vào đến trại B thì trời đã tối đen! Đau đớn cho tôi! Chờ đến sáng hôm sau thì tên cán bộ lạnh lùng cho hay là anh Vinh không được thăm gặp ngay cả gửi quà vì đã bị kiên giam, kỷ luật! Và nhờ ơn trên gìn giữ anh đã sống sót sau khi bị kiên giam 3 năm!
Những lần thăm nuôi về sau do kinh tế gia đình đã khá hơn và thân nhân những tù nhân Xuân Phước đã cùng nhau tổ chức thuê bao một chiếc xe hàng nhỏ chở vào đến tận trại nên các cháu đã được thay phiên nhau đi thăm bố. Cháu gái sau khi sang Mỹ, nhớ lại kỷ niệm của những chuyến đi này đã viết thư cho cậu em tôi rằng: “Ngày đó chúng cháu đã được mẹ biến những chuyến đi thăm nuôi bố cháu thành những chuyến du lịch nhỏ mà đâu biết được rằng đó là kết quả của những ngày tháng cơ cực của mẹ và những khổ nhọc lao tù của bố!”
Cuối năm 1987 chồng tôi được thả về! 15 tháng 5 năm 1991 gia đình chúng tôi được đi định cư tại Mỹ! Sang đến đây tôi miệt mài đi học để được trở lại nghề dạy học. Anh Vinh hy sinh làm những việc lao động: rửa xe cho các dealers, cắt cỏ, bỏ báo. Cả nhà chỉ có cái xe Buick cũ kỹ to như con khủng long cho ba cha con thay phiên nhau để vừa đi học vừa đi làm mà khi cháu trai thứ nhì ngồi vào tay lái thì thực là cảnh “ô tô không người lái”. Tôi đi học tại San Jose State bằng xe bus. Ngày ngày vác ba lô chất đầy sách mà quyển nào quyển nấy dầy như cuốn tự điển của Nguyễn văn Khôn. Tôi luôn tự khuyến khích mình rằng: “ Còn diễm phúc hơn là vác bị cói đi thăm nuôi!”. Nhiều buổi tối đi về nhà trong chiếc xe bus lạnh lẽo, kỷ niệm của những chuyến thăm nuôi lại tràn về trong ký ức!
Thời gian trôi qua vun vút! Cháu lớn cùng tôi ra trường! Hai mẹ con cùng qua được các đợt phỏng vấn và có việc làm. Anh Vinh cũng nhận được việc làm ở hãng điện tử. Sau bảy năm cả gia đình gồm bảy người chen chúc trong một căn townhouse chỉ có hai phòng ngủ trên lầu. Mùa hè thì nóng như cái lò bánh mì. Mùa đông thì chống cây phủ cái mền bên trên như cái igloo của người Eskimo để chui vào ngủ buổi tối cho đỡ lạnh. Chúng tôi đã có một căn nhà riêng.
Rồi các cháu lần lượt ra trường, có việc làm, lập gia đình và ra ở riêng. Căn tổ ấm trở nên trống vắng. Hai chúng tôi cũng lần lượt nghỉ hưu. Kiểm điểm lại bạn bè cũng đã từ từ ra đi vào miền miên viễn. Hơn bao giờ hết thời gian còn lại chúng tôi bên nhau, bên bạn bè, người thân đang được “counting down”. Ở tuổi này tôi ý thức được rằng còn được người tri kỷ bên cạnh mình đã là diễm phúc rồi, mà nếu vẫn còn có được những người bạn tri âm nữa thì đúng là một hồng ân. Theo như tác giả của bài viết “Tình Bằng Hữu” thì khi về già ngoài việc có được một sức khỏe tốt, thì tình bạn lâu năm là một hành trang quý giá mà người lớn tuổi đã mang theo được cho tới giai đoạn cuối của cuộc đời.
Tôi viết bài này để tạ ơn cho những gì tôi đã có được trong cuộc đời. Trên hết là Thiên Chúa của tôi, rồi đến hai đấng sinh thành. Mẹ tôi, một người rất mực thương yêu con cái, một người rất đảm đang, tháo vát mà cuối đời phải chịu cảnh bệnh hoạn, tật nguyền. Bố tôi, người đã truyền cho tôi tinh thần lạc quan và đạo đức làm người để tôi biết sống vươn lên trong cảnh lầm than, cơ cực. Mẹ chồng tôi, một góa phụ chồng mất khi còn rất trẻ tuổi, đã hy sinh nuôi dưỡng chồng tôi rồi đến các con của tôi và cũng đã là một thành lũy che chở cho tôi khi phải xa cách chồng trong lúc cũng còn rất trẻ. Các em tôi đã sống đùm bọc lấy nhau trong cơn hoạn nạn, cùng chia sẻ miếng cơm, manh áo và cùng tôi săn sóc, yêu thương các cháu.Tôi cũng biết ơn những người hàng xóm tốt bụng: ông cụ Đặng sẵn sàng cho bà nội các cháu gửi các cháu khi đi chợ hay có công việc gì cần thiết; bà cụ Sáu làm thày lang chữa bệnh cho các cháu lúc trái gió trở trời; cô Hùng khi hay tin anh Vinh bị sốt rét đã đi tìm cây ớt hiểm phơi khô đưa cho tôi để gửi đi làm thuốc chữa bệnh, bà cụ Tung sau khi hỏi giá các mặt hàng con cái từ Pháp gửi về đã đưa cho tôi đi bán trên giá thì giữ lấy, chỉ đưa tiền vốn lại cho bà. Tôi cũng tri ơn các bạn giáo viên Mỹ -Việt đã nâng đỡ, nhất là những người bạn quý Việt Nam đã tận tình giúp tôi trong những ngày đầu bỡ ngỡ khi mới bước vào nghề tại các nhà trường Mỹ. Sau nữa là người bạn đời đã cùng chia nhau những ngọt ngào, đắng cay của 45 năm chung sống mà hoa trái bây giờ là đàn con hiếu và lũ cháu ngoan. Với các con, “gia tài của mẹ để lại cho các con” là niềm cậy trông nơi Thiên Chúa, sống theo lương tâm đạo đức, tin tưởng vào chính mình và thủy chung trong đời sống hôn nhân. Các con của các con đang được gieo trồng trong mảnh đất tốt của tự do, của cơ hội, hãy cho chúng bám rễ thật sâu truyền thống dân tộc thì cây sẽ được vươn lên mạnh mẽ, tươi tốt.
Sau cùng bài này cũng để tặng chị Bé- Bông, người bạn mà duyên hạnh ngộ đã cho gặp nhau lúc xế chiều nhưng không muộn màng và cũng là nguồn cảm hứng cho thiên hồi ký này.
Lê Phương Lan
Bài này đã được đăng trong
Tin Tuc Nội Bộ. Đánh dấu
đường dẫn tĩnh.
Bạn phải đăng nhập để bình luận.