Vũ Hoàng Chương dịch bài “Hoàng hạc Lâu” tác giả Vũ Quý Khang K 30 – Tôn thất Biên sưu tầm

Kính thưa toàn thể quý vị Thành viên Diễn đàn.

Tôi là Cựu SVSQ Vũ Quý Khang, K.30.

Hôm nay tôi xin giới thiệu đến Diễn đàn một bài thơ dịch rất hay của Thi sĩ Vũ Hoàng Chương.

Bài thơ nhan đề Hoàng Hạc Lâu, được xếp vào danh sách những bài thơ Đường nổi tiếng của một thi sĩ Trung Hoa, tên Thôi Hiệu.

Bài  này được rất nhiều thi sĩ Việt Nam phỏng dịch ra tiếng Việt như Tản Đà, Ngô Tất Tố, Trần Trọng Kim, Vũ Hoàng Chương, …

Trước hết tôi xin giới thiệu cùng bạn đọc bài thơ này được phiên âm, nghĩa tiếng Việt.

I/ Dịch âm.

           Hoàng Hạc Lâu.

Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ,
Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu.
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản,
Bạch vân thiên tải không du du.
Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ,
Phương thảo thê thê Anh Vũ châu.
Nhật mộ hương quan hà xứ thị?
Yên ba giang thượng sử nhân sầu.

II/ Dịch nghĩa

            Lầu Hoàng Hạc

Người xưa cưỡi hạc vàng bay đi,
Nơi đây còn lại lầu Hoàng Hạc
Hạc vàng bay đi không trở lại
Mây trắng ngàn năm vẫn phiêu lưu.
Mặt sông Hán Dương  cây mồn một
Cỏ thơmi Anh Vũ vẫn xanh rờn
Trời đã về chiều  quê đâu hỡi
Sóng gợn trên sông não lòng người

Bài thơ được tác giả Thôi Hiệu sáng tác khi đến thăm lầu Hoàng Hạc, một trong 04 lầu đài bên Trung Hoa, là nơi các thi sĩ nội tiếng thường hay đến đây để đề thơ.

Cảm tác trong một buổi chiều, ngồi trên lầu Hoàng Hạc, nhìn ra sông Hán Dương, ngang qua bãi cỏ Anh Vũ, tác giả đã đề ra bài thơ này khi đang tha hương, lang bạt giang hồ.

Bài này được làm theo thể thơ Thất ngôn Bát cú với niêm luật rất chặt chẽ của  Đường thi.

Nhiều thi sĩ Việt Nam đã phỏng dịch nó.

I/ Theo thể thơ Lục bát:

1. Thi sĩ Tản Đà, Nguyễn Khắc Hiếu.

                  Gác Hoàng Hạc.

Hạc vàng ai cưỡi đi đâu?
Mà đây Hoàng Hạc riêng lầu còn trơ!
Hạc vàng đi mất từ xưa,
Nghìn năm mây trắng bây giờ còn bay.
Hán Dương sông tạnh cây bày,
Bãi xa Anh Vũ xanh dày cỏ non.
Quê hương khuất bóng hoàng hôn,
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai?

2. Nhà giáo Trần Trọng Kim.

               Lầu Hoàng Hạc

Người đi cưỡi hạc từ xưa,
Đất này Hoàng Hạc còn lưu một lầu.
Hạc vàng đi mất đã lâu,
Ngàn năm mây trắng một màu mênh mông.
Hán Dương cây bóng lòng sông,
Bãi kia Anh Vũ cỏ trông xanh rì.
Chiều hôm lai láng lòng quê,
Khói bay sóng vỗ ủ ê nỗi sầu.

II/  Thất ngôn Bát cú :

1.Thi sĩ Ngô Tất Tố.

            Hoàng Hạc Lâu.

Người xưa cưỡi hạc đã cao bay
Lầu hạc còn suông với chốn này
Một vắng hạc vàng xa lánh hẳn
Nghìn năm mây bạc vẩn vơ bay
Vàng gieo bến Hán, ngàn cây hửng
Xanh ngát châu Anh, lớp cỏ dày
Hoàng hôn về đó quê đâu tá?
Khói sóng trên sông não dạ người.

– Và gần đây nhất là của Thi sĩ Vũ Hoàng Chươhng.

Ông dịch bài thơ này vào năm 1975 tại một căn gác hẹp, trong một con hẻm nhỏ của Quận 04, Sàigòn .

Bài thơ dịch từ bài Hoàng Hạc Lâu, nhưng thực ra chất chứa tâm trạng của một cuộc đời về chiều nhưng lại phải sống trong một không gian tù túng về tinh thần.

Bản dịch được gởi ra nước ngoài  cho bạn bè và sau này được nhạc sỹ Cung Tiến phổ nhạc, được ca sỹ Quỳnh Giao hát ( nghe trên Youtube, Hoàng Hạc Lâu). với thủ bút ghi: Đường Thi chuyển sang thơ Việt, xa tặng Đặng Tiến, ngày 06 tháng 10 năm 1975

Xưa hạc vàng bay vút bóng người.
Đây lầu Hoàng Hạc chút thơm rơi.
Vàng tung cánh hạc đi đi mãi.
Trăng một màu mây vạn vạn đời.
Cây bến Hán Dương còn nắng chiếu.
Cỏ bờ Anh Vũ chẳng ai chơi.
Gần xa chiều xuống đâu quê quán.
Đừng giục cơn sầu nữa sóng ơi. 

Tho Đường, Thất ngôn bát cú ngoài quy định nghiêm ngặt về niêm luật ra, nó cò đòi hỏi người sáng tác phải có sự đối chọi giữa những vần thơ

Ta có thể đọc qua một bài thơ loại kinh điển thuộc thể Thất ngôn Bát cú của Nữ thi sỹ Huyện Thanh Quan.

             Qua Đèo Ngang

Bước tới Đèo Ngang, bóng xế tà,
Cỏ cây chen đá, lá chen hoa.
Lom khom dưới núi, tiều vài chú,
Lác đác bên sông, chợ mấy nhà.
Nhớ nước, đau lòng, con quốc quốc,
Thương nhà mỏi miệng, cái gia gia.
Dừng chân đứng lại, trời, non, nước,
Một mảnh tình riêng, ta với ta.

Còn đây, Hoàng Hạc Lâu của Thi sỹ Vũ Hoàng Chương.

– Với hai câu mở,

Thi sỹ đã cho ta một cảm nhận về không gian và thời gian

Xưa hạc vàng bay vút bóng ngưới.
Đây lầu Hoàng Hạc chút thơm rơi.

Quá khứ đã đem chim hạc đi, nhưng người vẫn còn ở lại đây, dù chỉ là cái bóng: Vật và người ; hình và bóng, một đối một thật hài hoà

Nhưng lầu Hoàng Hạc vẫn còn lại nơi đây với một chút hương còn lại cho đời sau: thời gian trôi đi không bao giờ trở lại, nhưng  lầu này vẫn để lại cho không gian những tiếng thơm của nó..

Xưa và nay, chim hạc vàng và lầu Hoàng Hạc,bóng người voi thơm rơi,  vật chất đối với tinh thần, một chọi một, thật là tương xứng.

– Rồi hai câu thực

Hạc vàng bay đi không trở lại

Tiếng  Việt khi viết tính từ vì là bổ túc cho danh từ nên nó phải đi sau danh từ, câu thơ trên phải viết:

Cánh hạc vàng đi không trở lại.

Nhưng nhà thơ đã biến cái bình thường thành cái vô thường khi viết:

Vàng tung cánh hạc đi đi mãi.
Trắng một màu mây vạn vạn đời.

Đặt tính từ làm chủ câu làm cho câu mang một âm vang thật khác lạ, nhưng hai câu thực vẫn chọi nhau: vàng với trắng; hạc với mây, đi đi mãi theo thời gian với vạn vạn đời theo không gian kéo dài.

– Kế là hai câu luận.

Cây bến Hán Dương còn nắng chiếu.
Cỏ bờ Anh Vũ chẳng ai chơi.

Cây đối với cỏ, nắng vẫn còn chiếu sáng nhưng tịnh không một bóng người.

Khi còn ở trong nước vào những năm tháng sau 30 tháng tư năm 1975, giới văn nghệ sỹ bị kiểm soát ngặt nghèo, Vũ Hoàng Chương cũng không ngoại lệ. Ông bị bắt giam ở khám Chí Hoà cho đến tháng 09 năm 1975 thì được cho về nhà vì lý do sức khoẻ.

Để diễn tả tâm trạng của mình, nhà thơ chỉ còn cách dùng cách dịch thơ để nói lên tâm trạng của mình mà không bị kiểm duyệt và còn có thể lọt được ra nước ngoài, nên Ông bèn tìm cách dịch thơ của Tàu để bọn cờ đỏ vì kiến thức nông cạn và cũng vì những gì thuộc Trung quốc vĩ đại làm chúng e dè.

Tất cả những cảnh vật trước và sau 30 tháng Tư vẫn còn đó nhưng chẳng còn con người  tốn tại, có chăng chỉ còn lại những bóng người sống vật vờ, vất vưởng.

– Sau cùng là kết.

Gần xa chiệu xuống nào quê quán.
Đừng giục cơn sầu nữa sóng ơi.

Buổi chiều ngồi trên căn gác nhỏ tồi tàn, trong căn hẻm nhỏ bên Quận 04 xác sơ, nghèo đói, nhìn và chẳng thấy đâu là quê xưa quán cũ, tất cả chỉ là dĩ vãng, rồi van xin đừng hối thúc thêm nữa cái não ruột của sóng lòng.

Cuối đời, Thi sĩ Vũ Hoàng Chương đã chính Ông vận đời Ông khi Ông viết,

Gió lùa căn gác xép.
Đời tàn trong ngõ hẹp.

         (Hà Nội 1943)

Vũ Hoàng Chương mất vào ngày 14 tháng 08 năm Bính Thìn (07/10/1976), bốn ngày sau khi làm giỗ Đại Thi hào Nguyễn Du.

Xin thắp một nén hương cho người thi sỹ tài hoa nhưng bạc mệnh.

Kính chúc mọi người sức khoẻ.

Cựu SVSQ Vũ Quý Khang, K.30.

Bài này đã được đăng trong Tin Tuc Nội Bộ. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.