Đông Hà ơi!_tùy bút Lê Thành Quang

   DongHa 4

ĐÔNG HÀ ƠI !
Lê Thành Quang

Không phải nói “trạng”, tuy Đông Hà của tui chỉ là mảnh đất nhỏ cằn cỗi, phi sản xuất, chó ăn đá gà ăn muối, thuộc một tỉnh nghèo vùng hỏa tuyến, nhưng lại là địa danh nổi tiếng của Đông Nam Á Châu và khắp thế giới.
“Nói có sách, mách có chứng” luôn là câu thòng của thằng phách tấu, tui xin dẫn chứng, ghi nguyên văn theo tài liệu:
– Đông Hà có một vị trí quan trọng, nằm ở trung độ giao thông của cả nước, trên quốc lộ 1 nối liền Saigon – Hà Nội và quốc lộ 9 trong hệ thống đường xuyên Á; là điểm khởi đầu ở phía Đông của trục hành lang kinh tế Đông – Tây giữa đông bắc Thái Lan, Lào, Myanma và miền Trung Việt Nam qua cửa khẩu quốc tế Lao Bảo và các nước trong khu vực biển Đông, qua hải cảng Cửa Việt. Từ thuận lợi về giao lưu đối ngoại, Đông Hà có khả năng thu hút, hội tụ để phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội và trở thành trung tâm giữa các mối quan hệ kinh tế của khu vực và quốc tế.
– Những năm chiến tranh với Pháp, Đông Hà cũng chỉ là một thị trấn nhỏ với khoảng hơn ngàn dân. Khi chiến tranh Việt Nam bắt đầu, cầu Hiền Lương, sông Bến Hải thành giới tuyến quân sự tạm thời thì Đông Hà đã trở thành vị trí tiền đồn cho Việt Nam Cộng hòa. Thị xã lúc này như một khu quân sự với nhiều sắc lính, xe cộ, tiếng ồn, bụi bặm, người dân sống chen chúc với người lính.
Oai như rứa, cho nên chính quyền tỉnh Quảng Trị đã phải tổ chức mần răng cho có những bộ phận cần thiết về các mặt, kinh tế, văn hóa, chính trị, an ninh, quân sự vv…

DongHa 2
Đông Hà quê tui là một thị xã, sau hiệp định Genève 1954, trực thuộc quận Cam Lộ, trên hướng Tây Bắc của tỉnh Quảng Trị, điều hành bởi một viên chức gọi là Phái Viên Hành Chánh do tỉnh bổ nhiệm. Về an ninh, là nơi đóng quân của Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn của Sư Đoàn I BB, cùng một đồn Cảnh Sát khang trang bề thế dưới sự chỉ huy trực tiếp của Ty Cảnh Sát Quảng Trị, một đồn Hiến Binh, một Quân trần và một chi đội Thiết giáp.
Đông Hà có một bến xe, là trạm trung chuyển của những tuyến xe Cam Lộ, Khe Sanh, Gio Linh…, một ga xe lửa nổi tiếng vì đầu mối của những chuyến tàu hàng trong nền kinh tế quốc gia và quốc tế; một bến đò, một ngôi chợ khá lớn, đầy đủ những mặt hàng tiêu dùng cho người dân; một sân bay quân sự phục vụ cho những cuộc hành quân trong chiến tranh Việt Nam.

DongHa 1
Về mặt văn hóa, Đông Hà có một nhà thờ, một ngôi chùa, một đài phát thanh và một hội Khổng học.
Từ những năm giữa thập niên 1960, theo giòng thời gian, Đông Hà trở thành quận hạt có 7 xã với dân số khoảng gần 20,000 người.
Nói như ri mà tính theo văn chương chữ nghĩa thì cũng chỉ là phép thắng lợi tinh thần chứ không mần răng mà thỏa mãn được lòng người vốn thiên về lợi nhuận vật chất.
Đông Hà quê tui là nơi tập trung của dân tứ xứ, chuyên nghề công chức hoặc buôn bán lẽ. Ngoại trừ vài người giàu có vượt bực mà tên tuổi nằm trong danh sách triệu phú, một số rất hiếm là các sĩ quan cấp tá, người giàu tiền của Đông Hà đồng nghĩa với đủ tiền để mua vui, xã giao vào các sòng tứ sắc, xóc đĩa, xì tẩy, chắn hoặc cho con cái “xuất ngoại” vô Huế học các trường dòng Thiên Hựu, Bình Minh, Quốc Học, Mai Khôi…


Vỏn vẹn chưa tới 10 con đường, dài nhất không quá 20 block với những tên Trần Hưng Đạo, Trịnh Minh Thế, Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu… cùng những con hẻm nối liền các xóm nhỏ bình dân xóm Hến, xóm Chợ, xóm Vạn, xóm Nhà Thờ, xóm Mỹ Viện Trợ vv, dân Đông Hà sống với nhau trong một tình thương đậm đà của “thời thái bình cửa thường bỏ ngỏ”.
Lứa tuổi chúng tôi thuộc loại đàn em với tấm gương của các ông anh mà tôi nhớ như chụp bóng: Lê Văn Châu, Hồ Sĩ Hòe, Nguyễn Văn Linh, Lữ Phúc Chính, Nguyễn Thoại, Phan Bá Anh, Nguyễn Chi Lăng, Phạm Văn Bình; tự hào qua hình ảnh những bậc trưởng thượng thành danh như Đại Tá Nguyễn Hộ, Đại Úy Nguyễn Hào, Đại Úy Phạm Kỳ Nam, Đại Úy Trần Công, nhà giáo Nguyễn Khắc Thảo, thầy Phán Tịnh, triệu phú Trần Triệu Thành, thầy Hoàng Lượng, thầy Phạm Văn Liệu, Bác sĩ Phạm Văn Lương, Trung tá Lê Lâm…
Tuổi thơ của chúng tôi hòa theo sự phát triển thăng trầm của Đông Hà, quyện thành những ký ức khó quên cho đến mãi hôm này, lúc đang là một lão ông bảy chục.
Trận hỏa hoạn đầu tiên giáng xuống Đông Hà vào năm 1953 đã cướp mất ngôi trường tiểu học khiến chúng tôi phải học “di động” trong từng ngôi nhà thuê mướn theo hợp đồng hàng tháng để chờ ngôi trường mới, được xây dựng hoàn chỉnh vào năm 1955 trước mặt Trạm Xá (nhà thương), sát cạnh ngôi chợ duy nhất của thị trấn.
Cá nhân chúng tôi không bao giờ quên được những lời giảng dạy đầu tiên về A, B, C, về bổn phận trách nhiệm của người dân nước Việt của thầy Hoàng Lượng; những phương pháp giải các bài toán về cọng trừ nhân chia, phân số giản dị của thầy Phạm Văn Liệu qua các lớp hè hay luyện thi vào Đệ Thất trường Trung Học Công Lập Nguyễn Hoàng, tỉnh Quảng Trị, cách Đông Hà khoảng 14 cây số.
Nhân bài viết này, người viết xin được thay mặt những đồng hương cùng trang lứa để nói lên lòng thành kính tri ân đối với cụ Nguyễn Khắc Thảo, người đã tạo phương tiện, khai phá đầu óc chúng tôi qua việc xây dựng trường Trung Học Bán Công Đông Hà, mà hành trình đầy chông gai, khó khăn tưởng như không vượt qua được, và những người thầy đầu tiên của bậc trung học, Hồ Xuân Diện, thầy Tu. Phan Văn Cẩn, thầy Trọng, Trần Xuân Mai, Nguyễn Văn Linh, thầy Phán Tịnh…
Lũ chúng tôi bắt đầu lớp Đệ Thất tại những ngôi nhà thuê mướn từng địa điểm không cố định để kịp niên khóa với hình ảnh không quên được: học trò phải mang theo đòn ngồi, cơm vắt (đối với những người ở lân cận Đông Hà như Hoàng Huy Bá, Hoàng Khiêu, Hoàng Đằng, Trương Sĩ Sằn, Trần Thâm).
Từng năm lại từng năm, trường Trung Học Bán Công Đông Hà trở thành một ngôi trường đúng nghĩa về hình thái, đầy đủ bốn lớp Thất – Lục – Ngủ – Tứ của bậc trung học Đệ Nhất Cấp với số học sinh giỏi chen chân cùng học sinh các trường khác của tỉnh Quảng Trị, góp phần đáng kể trên các lãnh vực phát triển của đất nước.
Hãnh diện xuất thân từ ngôi trường này, từ những hoài bảo đầu tiên của những người sáng lập (cụ Nguyễn Khắc Thảo), chúng tôi đã trở thành những chuyên viên về quân sự, an ninh, hành chánh, kỹ thuật, theo học Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, trường Sĩ Quan Thủ Đức, Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia, trường Kỹ Thuật Phú Thọ, Đại Học Y Khoa Huế hoặc Saigon, Ngân Hàng vv…

DongHa 3
Lũ chúng tôi, cả trai lẫn gái, có thể nhớ không hết, vì tra rồi, hơi lú, đó là Lê Thành Quang, Đỗ Thiệu Nguyên, Hoàng Huy Bá, Hoàng Đằng, Hoàng Khiêu, Ngô Ngọc Chí, Nguyễn Thị Lê, Lê Thị Hồng Vân, Trần Thị Minh Châu, Trần Thị Lương, Nguyễn Thị Cẩm Hoa, Nguyễn Thị Cẩm Hạnh, Nguyễn Hữu Thanh, Phù Thị Lan, Phù Thị Huệ, Lữ Thị Hường, Lữ Phúc Viên, Lê Công Tâm, Lữ Phúc Viên, Trần Sanh, Lê Quang Y, Lữ Phúc Cam, Nhan Hữu Thanh, Nhan Hữu Mãi, Nguyễn Đăng Tế, Lữ Phúc Thuận, Trần Thâm, Mai Văn Hậu, Nguyễn Văn Cảnh, Lương Thị Nhuận, Nguyễn Thị Tuyết… cùng lớn lên tại Đông Hà với những kỷ niệm khó phai mà chắc hẳn từng người còn đang nhớ mãi để nở một cười sảng khoái khi gặp lại nhau.
Vào thời người viết, con gái Đông Hà phần lớn đều là người đẹp hay ít nhất cũng bắt người đối diện phải xuýt xoa. Nào là Nguyễn Thị Lê, Lê Thị Hồng Vân, Ngô Thị Cam, Trần Thị Tân, Hồ Thị Lan, Đổ Thị Lan, Đỗ Thị Huệ, Lữ Thị Hường, Phù Thị Lan, Nguyễn Thị Hà (học sinh trường Nguyễn Hoàng, không biết đúng họ không), Trần Thị Minh Châu, Lê Thị Ngọc Thạnh, Lữ Thị Chưởng… và đặc biệt có nhiều ca sĩ nổi danh: Như Quỳnh (con của Lâm Thị Quý), Nini, Vina (con của Trương Sĩ Lương).
Con trai có chút tiếng tăm như nhà thơ Phạm Văn Bình, nhà văn Đỗ Phúc, nhà báo Trương Sĩ Lương, nhà giáo Hoàng Đằng, nhà giáo Trương Sĩ Sằn.
Đông Hà Ơi! Đủ chưa?
Có đáng cho tui tự hào không? Thưa quý đồng hương.
Lê Thành Quang

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Đông Hà ơi!_tùy bút Lê Thành Quang

VÀO THU_Thơ Thanh Hoàng

Thu buon copyTHU BUỒN
Nỗi buồn, buồn mãi thiên thu
Quê hương biền biệt, biệt mù mù khơi !!!
T.H.
Mến tặng :
Nữ sĩ HÀN DƯ LỆ

Ta như chim lạc phương trời
Tâm tư luôn nhớ về nơi cội nguồn
Sang Thu chiều lạnh buồn buồn
Quê xưa giờ đã xa muôn dặm đường
Buồn khơi trăm nhớ,ngàn thương
Lệ rơi, rơi giữa đêm trường buồn tênh
Buồn xem trăng lặn cuối ghềnh
Chao ngiêng nửa mảnh chênh vênh non đoài
Đêm Thu vương vấn u hoài
Hỏi sao ta lại lạc loài nơi đây ?
Buồn bào mòn héo thân gầy
Đành xin gởi gió cùng mây đưa về
Vùng trời kỷ niệm sơn khê
Trùng trùng, điệp điệp tứ bề non cao
Nỗi buồn vỗ giấc chiêm bao
Tỉnh say, say tỉnh nghẹn ngào con tim
Buồn thêm đêm vắng im lìm
Màn sương thu lạnh ngập chìm muôn hoa
Để rồi buồn mãi thoáng qua
Buồng tim se thắt mắt nhoà mi cay
Làm sao vơi nỗi buồn này ?
Quên làm sao được những ngày tháng xưa ?
THANH HOÀNG
(Cali.,vào Thu 2010)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở VÀO THU_Thơ Thanh Hoàng

VUI CƯỜI

Chết đéo gì mà lắm thế?!

canh sat cuoiTrước cổng cơ quan, một bác nông dân thập thò, nghiêng ngó. Thấy vậy, anh bảo vệ quát to:
– Ông kia! Tới có chuyện gì?
– Tôi muốn gặp giám đốc xin cái giấy xác nhận!
– Hôm nay giám đốc nghỉ lo đám tang. Bố giám đốc vừa mất!
– Vậy cho tôi gặp phó giám đốc được không?
– Cũng không được! Vì bố phó giám đốc cũng vừa mất!
Vẻ thất vọng lộ rõ trên gương mặt bác nông dân, nhưng bác vẫn cố hỏi thêm:
– Vậy cho tôi gặp trưởng phòng được không?
– Không được! Bố chồng của trưởng phòng vừa mất.
– Vậy cho tôi gặp phó phòng!
– Không được! Hôm nay phó phòng nghỉ lo đám tang. Ông nội phó phòng vừa mất!
– ĐKM! Anh đùa tôi đấy à? Chết đéo gì mà lắm thế?
– ĐKM! Ông chửi ai đấy hả? Đã không biết thì im mồm đi! Chết mỗi người chứ lấy đéo đâu ra mà lắm! Bố của giám đốc thì cũng là bố của phó giám đốc, thì cũng là bố chồng của trưởng phòng và là ông nội của phó phòng. Vì giám đốc là anh ruột của phó giám đốc, là chồng của trưởng phòng và là bố đẻ của phó phòng. Ông dù chỉ chửi một người nhưng lại là chửi cả cái cơ quan này đó! Ông biết chưa hả? Thôi, về đi cho tôi đóng cổng cơ quan!
– Vẫn sớm mà! Sao đóng vội thế?
– Tôi phải về lo đám tang. Bác tôi vừa mất!
Võ Thiệu (sưu tầm )

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở VUI CƯỜI

TRÁCH NHIỆM và TRÁI TIM_Kim Oanh

TRÁCH NHIỆM VÀ TRÁI TIM

Huỳnh Thị Kim Oanh (Dâu K1)

unnamed (15).jpg 5 .7Đến Mỹ năm hai ngàn không một ( 2001 ) sau khi chúng tôi ở Nauy gần tám năm. Tám năm có thể nói gần như chúng tôi bị tách biệt với mọi sinh hoạt của cộng đồng người việt Quốc Gia – sự sinh hoạt như ở Mỹ với các hội đoàn đại diện cho quân dân cán chính Việt Nam Cộng hoà – như một xã hội thu nhỏ của Việt Nam Cộng Hoà thân yêu của chúng ta. Không phải người Việt ở Nauy chúng tôi không có sinh hoạt. Có. Nhưng vì người Việt tỵ nạn tại vương quốc Nauy này rất ít – vào khoảng mười ngàn người trải đều khắp trên lãnh thổ nhỏ bé với dân số bốn triệu rưỡi người kể cả dân tỵ nạn. Riêng tại thủ đô Oslo, nơi chúng tôi sinh sống, chỉ khoảng ba ngàn người với rất ít anh em quân đội (có nhà văn Phạm Tín An Ninh thuộc sư đoàn hai mươi ba bộ binh), cảnh sát (chỉ có chồng tôi Lê Quang Phú), nhà văn nữ Nguyến Thị Vinh, nhà thơ Nguyễn Hữu Nhật. Chúng tôi cũng đi biểu tình phản đối sự hiện diện của những nhân vật cộng sản quan trọng từ Việt Nam qua – với lòng nhiệt huyết của người mất nước tỵ nạn đến nỗi họ không dám đi ngả trước dành cho quốc khách, phải đi ngả sau một cách thật bẽ bàng !
Chúng tôi cũng có một vài cuộc hội luận với một vài người đại diện cho các đảng phái từ Mỹ qua. Nhưng rất hoạ hoằn. Hầu như chúng tôi gần như không có Ngày Quân lực VNCH, Ngày truyền thống Cảnh Sát Quốc Gia, gây quỹ, văn nghệ ….. bởi không đủ nhân lực để tổ chức. Mọi sinh hoạt của một cộng đồng như co cụm lại – như cái lạnh buốt giá hai mươi mấy đọ âm buồn hiu hắt !
Sống tại San Jose được hai năm chúng tôi lại di chuyển qua Houston với các em tôi – nơi nào tôi cũng có cái cảm tưởng như tôi đang sống tại quê xưa khi chưa mất nước. Tôi đi như đi trong mơ với nụ cười mang nước mắt tự an ủi mình miền nam Việt Nam thân yêu của mình vẫn còn đây ! Tôi nhào vào với công việc cộng đồng cần dù túi bụi với công việc mưu sinh – tôi đi biểu tình với các anh chị em hội cảnh sát của chúng tôi bất chấp cái nắng như nung người của Houston . Tôi đi chào cờ đầu năm. Tôi tham dự ngày lễ ba mươi tháng tư – ngày quốc hận cùng tất cả mọi người. Tôi đi canh thùng phiếu của cuộc bầu cử công đồng với lòng mong mỏi các em thế hệ trẻ sẽ làm được những gì thế hệ cha anh đã làm cho đất nước trước đây trong công cuộc đấu tranh với cộng sản. Tôi dậy hai giờ sáng để cùng chồng đi xe bus lên Austin theo lời kêu gọi của các hội đoàn để đấu tranh về cái tượng đài Việt Mỹ. Cũng hai giờ sáng đi Dallas để tham gia ngày lễ cựu chiến binh Mỹ Việt – té ngả nghiêng vì những cơn gió lộng lạnh buốt quật mạnh xuống, hất tung lên lá cờ vàng ba sọc đỏ to lớn đến hai mươi người cùng giữ chặt mà vẫn bị té xuống lề đường. Gió lạnh buốt xương trên chiếc cầu giữa thành phố đông nghẽn người và xe hoa. Ai cũng hít hà nhưng không than thở. Vui. Và một chút ấm áp vì cùng chia sẻ nỗi nhớ đất nước mình năm xưa. Nay đã mất rồi !
Tôi gần như chúi nhủi tham gia với cả tấm lòng của một người muốn ôm trọn cả miền Nam Việt Nam không để cho bị mất nữa. Ôm hơi rộng với vòng tay muốn. Biết vậy, biết mình không thể nhưng vẫn khư khư giữ trái tim mình mạnh để ôm giữ cho chặt. Thật chặt.
Điều tôi có thể nói mà không thẹn lòng – tôi hanh phúc và sung sướng nhất khi được cất tiếng “Này công dân ơi, đứng lên đáp lời sông núi. Đồng lòng cùng đi, hy sinh tiếc gì thân sống ……” Đó là giây phút hạnh phúc tuyệt vời đến rơi nước mắt. Tôi khóc. Tôi khóc vì thương mình. Tôi khóc vì thương NƯỚC miền nam thân yêu của tôi.
Nỗi vui và niềm hạnh phúc được nhân lên gấp bội khi tôi chính thức tham gia và trở thành hội viên của hội ái hữu Cảnh Sát Quốc Gia Houston dù chỉ được …….ăn theo chồng !
Hai năm đầu tôi chỉ được hỏi khi thấy chồng ăn mặc cảnh phục, anh đi đâu vậy ? Anh đi họp. Họp cái gì vậy? Họp với anh em hội cảnh sát. Rồi thôi. Đi tuốt đến chiều mới về, không một lời về cuộc họp ấy. Tôi có cảm tưởng như họp ….kín. Bí mật chắc. Nhưng không. Đi họp có nghĩa là gặp gỡ các anh chị em trong hội với một vài việc cần thiết cho những ngày lễ chính thức và bàn sự giúp đỡ nhau trong hoàn cảnh khó khăn. Ba năm như vậy trôi qua cho đến khi tôi đòi đi theo với lời cằn nhằn sao anh không nói gì về hội và cho đi theo với để các anh chị trách sao không tham gia. Anh đâu biết em có chịu đi không !
Tôi thật sự cảm động với sự chào đón ân cần của các anh chị em trong hội. Ai cũng vui vẻ và thân thiết như quen nhau đã lâu – tình huynh đệ chi …… cảnh sát (thay cho hai chữ chi binh) là vậy. Tôi xúc động và tự nghĩ mình phải góp một bàn tay với anh chị em trong hội của mình . Tôi bắt đầu tham gia tích cực trong mọi sinh hoạt của hội .
Hội Cảnh Sát Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà Houston được thành lập vào ngày.. tháng.. năm.. với ban chấp hành đầy đủ các khoá từ các niên trưởng Rạch Dừa, xuống dần đến Khoá 1, khoá 2, khoá 3, khoá 4, ….. đến khoá cuối cùng của Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia – ra trường chưa nhận được nhiệm sở – chưa cầm được một tờ tiền của chính phủ nước mình ! Cùng các anh bên quân đội chuyển ngành .
Ba mươi tháng tư nhuộm đỏ cả miền Nam thân yêu ! Ba mươi tháng tư như một màn đen ảm đạm, kinh hoàng chụp phủ xuống đất nước miền nam tự do thanh bình no ấm và hạnh phúc !
Tôi tham dự Ngày truyền thống cảnh sát Quốc Gia lần đầu tiên, được tổ chức hàng năm với nỗi lòng như người từ cõi trong mơ bước ra – tôi đứng nghiêm chỉnh, lòng bồi hồi với trái tim đập mạnh và nước mắt bắt đầu ứa ra khi nghe tiếng hô vang của anh hội trưởng Chào Cờ ! Chào ! Tôi không cất tiếng hát nhỏ trong miệng mà hát với tất cả cái sức mạnh từ trái tim mình ra. Tôi hát lớn, rất lớn cứ như sợ mình sẽ không được hát nữa, cứ sợ như ai đó sẽ xoá đi nỗi lòng yêu thương Nước của mình, giờ chỉ còn lại trong tiếng hát đó, bài hát đó – bài hát mang nặng , rất nặng cái nước Việt Nam Cộng Hoà của tôi !
Lúc bấy giờ anh Phước làm trưởng ban văn nghệ. Chương trình văn nghệ với nhạc sĩ Linh Phương cùng Kim Bằng, Kim Loan, Mai Hoa, Phương Nga và Lê Quang Phú … Chương trình văn nghệ với các tiết mục nhẹ nhàng bằng những đơn ca. Hoạt cảnh các em nhỏ với gánh hàng quà trên vai dễ thương mang đậm nét quê hương do Mai Hoa phụ trách .
Sau hai năm anh Phước xin từ chức. Và trong cuộc họp sau đó, các anh đã bầu anh Lê Quang Phú làm trưởng ban văn nghệ thay anh Phước. Tôi ghé vai vào cùng anh Phú lo chương trình văn nghệ .
Thật sự khi nhận chức trưởng ban văn nghệ của hội, chúng tôi chỉ nghĩ rằng cái ý nghĩa của ngày truyền thống Cảnh Sát Quốc Gia mới là quan trọng – quan trọng hơn bao giờ hết trong hoàn cảnh này của chúng ta. Một hoàn cảnh có thể tự mình cho là bơ vơ và chua xót đắng cay. Ngày truyền thống hôm nay trong hoàn cảnh này để ngồi lại bên nhau, quây quần bên nhau để tưởng nhớ những gì đã từng thuộc về chúng ta nay đã mất Để tưởng niệm những anh hùng đã ngã xuống vì quê hương tổ quốc miền nam Việt Nam thân yêu của chúng ta – một trung tá anh hùng vị quốc vong thân Nguyễn Văn Long đã nằm ngay ngắn với cảnh phục trước tượng đài chiến sĩ giữa lòng phố Saigon như một thách thức, như một lời nguyền ta thà chết với thành hơn là sa vào tay giặc, như một chứng nhân lịch sử rõ ràng không ai có thể chối cãi và phủ nhận được với viên đạn cũng hiên ngang như chủ của nó đi thẳng vào thái dương êm ái nhẹ nhàng .
Và những chiến sĩ cảnh sát tự sát tập thể , riêng rẽ ở những quận huyện , thành phố nơi cộng quân đã tiến chiếm .
Ngồi lại bên nhau , quây quần bên nhau hôm nay để cùng chia sẻ ngọt bùi, đắng cay, khó khăn cùng hạnh phúc nơi xứ lạ quê người. Chính với ý nghĩ đó khi chúng tôi làm chương trình văn nghệ đã mời gọi những anh chị em trong hội với hướng cây nhà lá vườn – rất đúng nghĩa cây nhà lá vườn: tất cả các anh chị em trong ban văn nghệ nếu không là chính thành viên cảnh sát thì cũng là cha, anh, chị, em thuộc nghành cảnh sát năm xưa. Và đây cũng là ý của anh hội trưởng Lê Lang đề nghị trong những cuộc họp.


Chương trình văn nghệ bao giờ cũng theo đúng chủ đích của ngày hội với những ca khúc đấu tranh yểm trợ anh chị em nghệ sĩ trong nước chống giặc xâm lăng bành trướng Bắc Kinh. Những bài hát về lính một thời lẫy lừng trên chiến trường chống giặc xâm lăng cộng sản âm mưu cưỡng chiếm miền nam Viêt Nam – những hy sinh vĩ đại của nhảy dù Nguyễn Đình Bảo, của không quân Phạm Phú Quốc, của những chiến sĩ vô danh ….
Chúng tôi hát với cả tấm lòng gửi về nơi xa xăm nơi các anh hùng tử sĩ an giấc ngàn thu! Đó cũng là một cách thể hiện trái tim chúng tôi xin cảm ơn anh, những người lính Việt Nam Cộng Hoà anh dũng can trường, hy sinh tính mạng để bảo vệ Tổ Quốc quê hương cho chúng ta đước sống đến hôm nay.
Chúng tôi thật sự không ….dám tự ý mình hát những bài ra ngoài chương trình đã được ấn định – những bản tình ca nổi tiếng một thời dù ai cũng rất thích được hát, nhưng không – tôi cười lắc đầu. Cho đến khi anh hội trưởng …..gỡ bỏ lệnh giới nghiêm, xả trại, chúng tôi mới hát những bản tình ca được yêu thích – nhưng chỉ một lần rồi thôi !
Ban văn nghệ trong suốt mười năm tôi lãnh trách nhiệm từ sự nhượng quyền của anh Lê Quang Phú ( ông chồng của tôi ) các anh chị em đã hết mình giúp cho tôi hoàn thành trách nhiệm một cách tốt đẹp – được các niên trưởng khen, quan khách khen và báo chí cũng khen vì tôi đã cố gắng hết sức mình để không ai hát nhép, ngay cả những bản hợp ca không dễ chút nào. Tôi rất lo và cũng rất sợ khi một đôi lần tôi đã chứng kiến cái cảnh người hát vẫn tiếp tục hát một cách tự nhiên, nhưng không nghe tiếng ! Bới cái dĩa CD đã bị chệch ra ngoài hay bị trục trặc của người điều khiển máy. Tôi lo và sợ vì đã đọc trên báo người ta phê phán hát nhép là không tôn trọng quan khách. Cho nên chúng tôi phải tập luyện nhiều lần dù ai cũng rất bận. Tuy nhiên có đôi lần chương trình bị một vài anh …..la khi yêu cầu tôi phải cho những người bạn của các anh hát. Tôi khổ tâm biết chừng nào khi chương trình bị cắt ngang – các anh đâu biết nỗi khổ tâm ấy khi chương trình đã sắp xếp đâu vào đó rồi. Bây giò đôn người khác lên hát thì những người đã tập luyện sẽ không còn có thời gian để hát phần mình. Bên nào tôi cũng khổ bởi vì cả hai bên đều trách tôi ! Biết làm sao ! Thôi thì đành lòng cay đắng nghe bị trách bị la một cách tàn nhẫn.
Tôi xin thành thật, rất thành thật cảm ơn quý anh chị em đã giúp tôi trong suốt mười năm với chương trình văn nghệ dù không hoàn hảo như những ca sĩ nhà nghề nhưng cũng cho chúng ta những nụ cười mang ý nghĩa của lòng biết ơn và nỗi xót xa của người mất nước gửi đến mọi người đã khuất hay còn đây hôm nay.
Xin cảm ơn một Phương Nga, xin cảm ơn một Bích Vân, xin cảm ơn một Hiền Trần, xin cảm ơn một Nguyễn Tuân, xin cảm ơn một Lân Nguyễn, xin cảm ơn một Thanh Tú (khoá chót của Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia), xin cảm ơn một Nhã Hương (con gái thương yêu của niên trưởng Ca, nay đã ra đi về nơi bình yên, Nhã Hương hát không cần giới thiệu), xin cảm ơn các anh chị em hội viên Nguyễn Văn Xích, Pham Văn Chôm, Giang Tỷ, Bích Thuỷ (xử dụng nhạc cụ đờn tranh, lục huyền cầm, guitar để tập dợt cho anh chị em trong ba bản hợp ca Chuyện Một Chiếc Cầu Đã Gãy, Triệu Con Tim và Việt Nam Tôi Đâu được quan khách khen với tiếng vỗ tay nồng ấm. Các anh chị em đã cố gắng hết sức mình để lái xe đi tập hát sau giờ làm việc, không than thở mà vui chi lạ khi đứng nghiêm chỉnh cất cao tiếng hát trong đợt tổng dợt cuối cùng trước khi trình diễn. Nó hạnh phúc biết bao cho chúng tôi những giây phút ấy. Nhất là Bích Thuỷ cứ lo sợ không làm đúng công việc của mình được giao phó – cô đã ở lại nhà tôi cho đến mười hai giờ khuya để tập cho bằng được các câu hò và cách trình diễn sao cho đẹp và đúng. Cô với cây đàn guitar , đứng giữa ban hợp ca một cách tự tin và mang dáng vẻ của một nghệ sĩ cùng cất tiếng hát hoà chung với anh chị em tạo nên một bản hùng ca đầy tình tự quê hương đang tranh đấu chống giặc ngoại xâm Trung cộng và bè lũ bán nước Việt cộng.
Bài hát được tập dợt kỹ càng, nghiêm túc nên được mọi người khen ngợi vì nó đã bước vào lòng người dấy lên niềm xúc động xâu xa ….Công lao của chúng tôi đã không uổng mà còn được tặng thưởng món quà quý giá của những tiếng vỗ tay của quan khách và những lời khen ngợi của báo chí. Còn gì vui hơn cho những cây nhà lá vườn chúng tôi – những người ngu ngơ và lạc lõng giữa môi trường ca hát chuyên nghiệp .
Giờ đây, sau mười năm lo cho chương trình văn nghệ của hội, dù cũng tiếng chì tiếng bấc – nhưng tiếng chì tiếng bấc hãy suy nghĩ lại những gì mình đã tạo ra làm cho xấu đi cái hình ảnh vốn dĩ nó rất dễ thương và trân quý của nhau chỉ vì một chút gì đó không phải không hiểu nổi. Hiểu, thấy nhưng chỉ cười vì hai chữ VÔ THƯỜNG đang treo trên cuộc đời lắt lẻo sắp bước vào hoàng hôn xế bóng của chúng ta nên thôi thì cười để thương nhau ” kẻo mai tê bóng xế qua cầu ” biết có còn gặp lại bên kia cầu hay không? Chúng tôi giờ đây với tuổi của cây tre – tre cao quá ngọn dù vẫn còn được sử dụng cho đời sống (đan rổ rá , mủng thúng , làm nhà ….) chưa tàn nhưng phải nhìn xuống để phải thấy mình đến lúc phải né qua một bên nhường cho những ngọn măng dù ngọn măng cũng đang trên đường đến với tre không bao lâu nữa :-) :-) :-) .

Dẫu gì chúng tôi sau mười mấy năm kể từ khi bước chân đến Mỹ, với tất cả tấm lòng và trái tim đầy nhiệt huyết thương yêu Nước của mình đã mất không cách nào hơn là thương yêu hội cảnh sát của mình vì đó là một phần quan trọng trong guồng máy chính quyền hợp pháp hợp hiến Việt Nam Cộng Hoà. Suy tư vậy nên chúng tôi đã không ngần ngại chấp nhận và thi hành bất cứ một điều gì của hội đưa ra hay giao phó với một tinh thần trách nhiệm của người có lương tâm . Vì vậy chúng tôi mỉm cười hạnh phúc khi tự nghĩ rằng chúng tôi đã hoàn thành trách nhiệm của mình.

Ước mong hội Cảnh Sát Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà trên toàn thế giới được luôn vững mạnh, đoàn kết một lòng, sát cánh bên nhau để cùng với tất cả các hội đoàn bạn đấu tranh dành lại đất nước của chúng ta dù bao năm nữa !

Huỳnh Thị Kim Oanh

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở TRÁCH NHIỆM và TRÁI TIM_Kim Oanh

THƯƠNG CON GÁI ÚT_Thơ Trần Pháp

image001
Mẹ ngồi gọt miếng cau sâu
Thương con gái út làm dâu xứ người
Đường xa vạn dặm mù khơi
Ngữ ngôn câm điếc mở lời ai hay
Mẹ đâu có muốn như vầy
Con nghe bè bạn đổi thay cuộc đời
Mẹ nhớ con lắm con ơi ?
Xin chồng về xứ ở chơi vài tuần
Cho mẹ bàn một chuyện cần
Tuổi già chưa biết mộ phần nơi đâu ?
Cuộc sống thì mẹ từ lâu :
Mua cau Nam Phổ bán trầu chợ Dinh
Đêm về niệm Phật cầu kinh
Mai rày nhắm mắt theo chân DI ĐÀ
Trần Pháp

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở THƯƠNG CON GÁI ÚT_Thơ Trần Pháp

Phân ƯuThân Mẫu TS Trần An Bài

Phân ưu TS Trần an Bài

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Phân ƯuThân Mẫu TS Trần An Bài

Siêu Tăng Thống và Chén Cháo Lú

Siêu Tăng Thống và Chén Cháo Lú

  • bài của Lê Thành Quang

Không biết tự bao giờ, địa danh Bến Ngự, cùng với Nam Giao, cầu Trường Tiền đã trở thành biểu tượng của thành phố Huế, hùng dũng đi vào văn học qua văn chương thơ nhạc.

Khởi thủy, Bến Ngự là Bến Ông Ngự, có lẽ là nơi dừng chân ngao du của những vì vua triều Nguyễn và là nơi cư ngụ của chí sĩ Phan Bội Châu. Dần dà người dân đơn giản hóa, trở thành Bến Ngự.

Thuở ấy, vào những năm giữa thập niên 30, người ta thường thấy nhiều lần, bọn trẻ làng đang nô đùa giữa sông Hương, ào ạt bơi vào bờ, hớt ha hớt hải ôm quần áo chạy như bị ma đuổi khi có sự xuất hiện của một thằng nhóc cùng tuổi mới định cư.

Bọn nhóc tiết lộ, rất sợ những tiếng lầm bầm không rõ lời đầy oán hờn ma quỷ thốt ra một cách bất thường, khiếp vía trước vẻ mặt, cử chỉ vung tay múa chân của thằng nhóc mới.

Thằng nhóc mới là con thứ 5 của một gia đình nghèo 11 đứa, đến từ vùng trung du Hoàng Liên Sơn, miền Bắc Việt Nam. Bố mẹ nó cho biết, nhóc ta thường có những biểu hiện bất thường, khi thì ngồi xếp bằng, nhắm mắt như đang cầu nguyện hoặc đang nói chuyện với ai đó khuất mặt; lúc thì vừa đi vừa đấm ngực như đang tức tối, khi thì nghiêm nghị chỉ chõ như truyền mệnh lệnh, cười nói vu vơ không duyên cớ và thường làm ngược những lời dạy bảo của họ.

Một vị sư già vô danh, trên đường hoằng pháp đi ngang Bến Ngự, tình cờ thấy được thằng nhóc, ngài bèn đến thăm gia đình này với lời khuyên, “nên gời thằng bé vào chùa để tạo duyên, tránh nghiệp”.

Vị sư già giải thích: “Đây là một trường hợp đặc biệt chưa từng thấy. Theo sự hiểu biết của bần tăng, từng linh hồn khi đi đầu thai, sau khi qua sông Nại Hà đều phải ăn một chén cháo lú để quên hẳn tiền kiếp, tự tu học hầu giải thoát luân hồi. Thiện thay, những hành vi của thằng bé đã sớm phát tiết, chứng tỏ nó đã không ăn chén cháo lú, vẫn nhớ đến tiền kiếp một cách mù mờ không rõ ràng. Thằng bé đang nghĩ rằng, nó đã từng là bậc cao tăng hoặc đã có thân phận cao quý hơn người nên bất mãn với thân phận hiện tại. Kiếp này, nếu thuận duyên thì thằng bé giúp đời, thiếu duyên thì trở thành con quỷ hại đạo. Gia chủ nên gởi thằng bé vào chùa nương nhờ phật pháp may ra có thể tạo duyên, giải nghiệp cho nó tu hành.”

Thằng bé được gởi vào chùa Diệu Viên, ngôi chùa duy nhất của vùng do Sư bà Thích Nữ Hướng Đạo xây dựng trú trì.

Quả thật, nhóc ta hợp với môi trường mới. Trí thông minh, lý luận Phật pháp ngày càng tiến bộ, có lúc tranh luận ngang ngữa cùng các ni sư trong chùa. Duy chỉ có những khi tạo dáng ra điều ta là kẻ bề trên, lầm bầm những tiếng ồn vô nghĩa không nên lời, thì thằng bé không thể quên được.

Vì sinh kế, gia đình thằng nhóc chuyển về trung tâm thành phố Huế, thằng nhỏ được đi học tại các trường miễn phí của nhà nước Việt Nam Cộng Hòa và điều ghi nhận đầu tiên của người dân quanh vùng là, thằng nhóc học rất giỏi, nghe một hiểu mười nhưng thân thể không tăng trưởng được.

Tay chân, ngực cổ, vai, mông được cân bằng đúng tỷ lệ tuy chiều cao hơi thiếu với khuôn mặt có vẻ trí thức, điển trai, thông minh, quyền quý. Những cử chỉ, ngôn ngữ bất thường lúc còn là thằng nhóc đang mở rộng làm phật lòng đến chẳng những là bạn bè đồng trang lứa mà còn đụng chạm đến bất cứ ai khi hắn ta đối diện.

Thiên hạ ngậm ngùi, xót xa liên tưởng đến những nhận định năm nọ của vị sư già và tất cả đều đồng thanh nguyện cầu, niệm danh hiệu Phật Quán Thế Âm, để mong Phật pháp vô biên tạo duyên lành cho một con người đáng thương đang gặp nghiệp báo.

Thằng nhóc thành nhân, trở thành chàng thanh niên, được bố mẹ cưới vợ, gom tiền cho ở riêng trong gia đình mới. Bố mẹ cũng không quên sử dụng sự quen biết với những ông to bà lớn, vận động chính phủ VNCH cho du học tại các nước văn minh Âu Châu.  

Tiếp xúc với Tây học, trước những tiến bộ của khoa học dưới con mắt bộ não của một người nhớ đến tiền kiếp của mình đầy u minh, hắn ta trở thành hận đời, không chấp nhận Phật pháp, phát lời thề phá đạo bằng đủ mọi chiêu thức quỷ khốc thần sầu, làm những gì mà thế gian không ai làm được. Phản bội, chơi đồ giả, khống chế, vu oan giá họa… là những hành vi thường hằng trong suốt cuộc đời kẻ phá đạo.

Năm 1969, cuộc chiến tranh ý thức hệ Quốc Cộng đến hồi cao điểm, hắn ta theo đám phản chiến, quên mất Pháp Tứ Ân trong bài Phật pháp vỡ lòng của người Phật tử.

Trên tư cách là người đại diện, phát ngôn nhân cho Phật giáo Việt Nam, hắn ta tuyên bố rập khuôn chủ trương của giặc thù, gây bao uất ức cho hàng vạn vong hồn Vị Quốc Vong Thân trong cuộc chiến chính nghĩa, bảo vệ đất nước miền Nam Việt Nam, một tổ quốc mà hắn từng chịu ân sủng.

Theo vị sư già, hắn là người duy nhất trên thế gian biết tiền kiếp của mình, đang bất mãn, không còn tin tưởng vào bất cứ điều gì thuộc phạm trù tín ngưỡng tâm linh, nhất là đối với Phật giáo . Hôm nay đã trở thành Ông Già và bắt đầu hành động.

Làm việc với bất cứ nhà sư, nhà tu hành nào, bất kể giả thật, hắn đều có dụng tâm gian dối, bơm người hôm trước, chửi người hôm sau.

“Tranh thủ” cho được chức danh bên ngoài khiêm nhường, chỉ là Phát Ngôn Nhân trong âm mưu phá nát giáo hội, khống chế chư tăng, Ông Già ma quỷ công phá. Số lượng 3000 chư tăng ni của Giáo hội chỉ còn 3 vị là thành tích khốn nạn lớn nhất trong thời gian có ông ta.

Thành công, ở nhà sang, xài tiền giáo hội không thương tiếc, đi công cán được ăn ngủ tại các khách sạn 5 Sao, luôn có người hầu hạ, người đẹp trẻ tuổi mát da săn sóc… nhưng chưa đủ, tối ngày hắn ta vẫn cứ lẩm bẩm vài chữ khó hiểu như hồi còn tắm ở truồng. Những người thân chung quanh phải điên đầu lo lắng, không dám bảo rằng Ông Già đang mắc bệnh tâm thần, âm thầm theo dõi phương cách trị bệnh.

Tin về đến quê nhà, bà vợ hắn ta, dầu bị bỏ rơi cả vài chục năm vẫn vì tình thương mà quyết tâm trị bệnh. Bà này tìm đến nhà ngoại cảm lừng danh của xã hội chủ nghĩa Phan Thị Bách Hàng và được phán: “Leo lên đỉnh này rồi mà ông nhà vẫn chưa thỏa mãn. Ôi! Đạo Pháp vô biên. Ông nhà sẽ bắt đầu bị nghiệp báo. Hãy thành tâm cầu nguyện cho ông nhà. Phải tìm cho ra ý nghĩa của câu nói ngắn trong đầu óc của ông nhà để nghiên cứu tìm cách giải nghiệp. Thuốc Tây y không kết quả.”

Quả thật, Ông Già bắt đầu lâm nhiều trọng bệnh, nào là yếu phổi, nào là tiểu đường, nào là cao máu, máu không lên não, đi đứng phải chống gậy, ngồi một lúc là chóng mặt, dị ứng với đám đông nhưng không ngừng la ó những câu khó hiểu chết tiệt xa xưa.

Phật tử khắp nơi vì đạo pháp mà thương cảm, không oán hận quá khứ phá Đạo của Ông Già, chí tâm cầu nguyện đức Phật độ trì, cố gắng tìm hiểu những lời lầm bầm của Ông Già mang ý nghĩa gì để nhà ngoại cảm Phan Thị Bách Hàng chữa trị dứt căn.

Tụ họp tại một buổi cầu an cho Ông Già do bà vợ đáng thương dâng lễ tại chùa Vĩnh Nghiêm – Việt Nam, qua điện thoại, mọi người đốc thúc cô Khoai Lang, một người ngoại quốc đồng hành, đồng hội, đồng khách sạn với Ông Già tìm cơ hội hỏi thẳng Ông Già về câu nói khó hiểu, gây nhiều hệ lụy mà ông ta thường dùng, không cần phải giải nghĩa, chỉ cần có câu nói là xong.

Một giờ sau, điện thoại được bấm Speaker, tiếng cô Khoai Lang ỏng ẻng: “Nam Mô A Di Đà Phật. Xong rồi, xong rồi, không có gì quan trọng, không có gì quan trọng. Anh Ái chỉ nói có 5 chữ, TA LÀ SIÊU TĂNG THỐNG”

Lê Thành Quang 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Siêu Tăng Thống và Chén Cháo Lú

THÊM TUỔI THỌ_Cóc Huế TPK

Tiếp theo bài thơ Mừng Sinh Nhật Tháng Mười của Cóc Núi NHA, bạn Cóc Huế TPK (Tống Phước Kiên) đã có bài họa như sau:

Tho thuphap

THÊM TUỔI THỌ
Mừng anh còn được ở trên đời
Vững bước đăng trình tiếp cuộc chơi
Con cháu bây giờ đông đúc quá
Bạn bè thuở ấy mỏng thưa rồi
Dù cho móm mém nhai không nổi
Dẫu có lằng nhằng nuốt khó trôi
Sinh nhật vẫn vui thêm tuổi thọ
Sống cùng tuế nguyệt há buông lơi.
Cóc Huế TPK

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở THÊM TUỔI THỌ_Cóc Huế TPK

Mừng Sinh Nhật Tháng 10

Nhân dịp Tháng Mười, như thông lệ, CNN xin gởi đến các bạn có sinh nhật trong Tháng 10 những lời chúc tốt lành nhất: HAPPY OCTOBER BIRTHDAYS !!!

happy oct birthdayNhân dịp này, Cóc Núi Nguyễn Hoài Ân cũng làm một bài thơ vui Mừng Sinh Nhật Tháng Mười như sau (đặc biệt để tặng các bạn từng phục vụ trong CSDC):

SINH NHẬT THÁNG MƯỜI
Tháng mười bọn tớ được chào đời
Quậy phá, tung hoành, sập xám chơi
Lương lãnh bao nhiêu xài chẳng đủ
Tiền thì nửa tháng đã tiêu rồi
Cơm khô mỗi bịch dùng hai buổi
Gạo xấy Đại Hàn nuốt chẳng trôi
Đói bụng, xót lòng mong bạn hữu
Mời xơi một bữa lại mời lơi.
CÓC NÚI – NHA

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Mừng Sinh Nhật Tháng 10

MƠ VỀ ĐÀ NẴNG_Thơ Tống Phước Kiên

Ngu hanh son copyMơ Về Đà Nẵng              

Cách biệt nghìn trùng Đà Nẵng ơi !
Bao năm nhung nhớ dạ tơi bời
Thương hòn Non Nước mây bao phủ
Nhớ cụm Sơn Trà chắn biển khơi.

Thu về bàng bạc gió heo may
Phượng vĩ lao xao rớt rụng đầy
Lê Lợi dập dìu tà áo trắng
Đây mùa nhập học má hây hây.

Ghế đá bờ sông lặng lẽ ngồi
Nhìn xem giòng nước lững lờ trôi
Sông Hàn êm ả thuyền neo đậu
An Hải đò ngang sóng gió nhồi.

Nam thanh nữ tú đổ tuôn về
Đùa giỡn tung tăng sóng Mỹ Khê
Chiều xuống ăn sò bên Bãi Bụt
Đêm về hò hẹn đón trăng lên.

Thanh Bình cát mịn bước chân ai
Thong thả lần theo đếm dấu hài
Biển lặng thầm ghi ngày tháng cũ
Đi tìm kỷ niệm kẻo tàn phai.

Hải Vân mây trắng quyện lưng trời
Khúc khuỷu đường đèo lộng gió khơi
Sóng vỗ đại dương xô lớp lớp
Nước mây hòa mộng tới muôn đời.

Ai về Đà Nẵng ghé Đồ Xu
Thưởng thức bê thui dưới bóng dù
Bánh cuốn mắm nêm thêm ớt hiểm
Ôi chao cay xé mắt hồ thu.

Xuống chợ Đống Đa ăn bánh xèo
Lên Trần Bình Trọng, bún giò heo
Vào nhà bà Đệ mua nem tré
Đêm xuống Ngã Năm một gánh chè.

Thuở ấy theo em xuống cuối đường
Hàng cây xõa tóc đượm hơi sương
Thanh Bồ Đức Lợi đêm thanh tịnh
Ai thức canh thâu dệt mộng thường.

Lên tàu trên bến cảng Tiên Sa
Con nước trôi xa lệ ướt nhòa
Bỏ lại phố phường mờ khói tỏa
Thương người ở lại kiếp phong ba.

Nước non ngàn dặm mối tơ vương
Khắc khoải ngày đêm luống đoạn trường
Sông núi vàng son giờ khánh tận
Biên cương mờ xóa mấy người thương ?

Mơ ước một ngày rộn tiếng ca
Giang sơn vang dội tiếng tù và
Kêu mời con mẹ đời xa xứ
Về lại thăm quê xứ Quảng Đà.

Tống Phước Kiên
May 27,2015

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở MƠ VỀ ĐÀ NẴNG_Thơ Tống Phước Kiên

Tấm Ảnh Cũ

Những Tấm Ảnh Cũ

K1 Trần Vĩnh Trường từ Grand Prairie, Texas, đã gởi đến CNN 2 tấm ảnh cũ của Khóa 1  được chụp ở xạ trường Bình Trị Đông (hay Bình Thới?) năm 1966. Trong ảnh, ngoài một số bạn mọi người đã nhớ và nhận ra, còn có nhiều bạn nay đã ra người thiên cổ; tuy nhiên cũng có một vài bạn – có thể vì ảnh mờ và qúa cũ – nên vẫn chưa nhận ra ai.

Hinh cu 2

Từ trái qua phải: Võ Hảo (chết tại Cali 2013), Đào Thanh Phong, Trần Vĩnh Trường, Trương Minh Thơ, Cố VT Đàm Trung Mộc (chết tại trại tù Hà Sơn Bình 1982), Trương Văn Hòa, (không nhớ) + (không nhớ), Phạm Vạn Xuân (chết tại Cali 2008)

Hinh cu 1

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Tấm Ảnh Cũ

K1 Nguyễn Hữu Nhật thăm bạn ở Houston (TX)

K1 Nguyễn Hữu Nhật thăm bạn ở Houston (TX)

Theo tin của đặc phái viên CNN Lê Phát Minh ở Houston (TX), vừa qua K1 Nguyễn Hữu Nhật từ San Jose, Bắc CA, đã ghé qua Houston, TX, thăm thân nhân. Nhân dịp này các bạn K1 ở Houston đã có một buổi hội ngộ với bạn ta ở phòng khách nhà LPM vào chiều ngày CN 27/9/2015. Theo báo cáo của bạn LPM, trong buổi họp mặt này có sự hiện diện của các K1 Ngô Thị Lành, Hồ Thị Hoa, Ngô Ngọc Chí, Nguyễn Văn Tăng, Phạm Văn Chu, Phan Anh Tiếng và các vị phu nhân (xem hình).

IMG_1224

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở K1 Nguyễn Hữu Nhật thăm bạn ở Houston (TX)

Đoàn Trống Lasan San Jose

Kinh mời quý NT và các bạn thưởng thức một video clip rất hay , rất có ý nghĩa. Video nầy do các Thanh Thiếu Niên trong Đoàn Trống Lasan tại thành phố San Jose trình diễn. Video có tên “Hồi Trống Rước Cờ” và ” Chào Cờ Việt Mỹ”. Theo thiển nghĩ của tôi thì sau nầy trong những lần hội họp lớn chúng ta có thể dùng video clip nầy chiếu lên màn hình Projector để thực hiện nghi thức chào cờ thì hay vô cùng. Cám ơn bạn Bửu Hồng đã gởi cho CNN video nầy. Cám ơn.

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Đoàn Trống Lasan San Jose

Sau gần 50 năm mới gặp lại

 Sau  gần 50 năm kể từ ngày xa trường Mẹ thì đây là lần đầu tiên bạn ta mới được gặp lại anh em đồng môn, đồng khóa. Từ những ngày đầu còn bỡ ngỡ, còn e dè; bạn ta đã nhận ra được tình K1 là một niềm Hạnh Phúc không thể chối từ. Do đó, sau khi thăm gặp anh em K1 Bắc Cali, hôm nay bạn ta đã có thêm một cuộc hội ngộ đầy chân tình trong vòng tay của các Niên trưởng, bạn bè đồng khóa, đồng trường. DSC_4184Người bạn ta đó chính là bạn K1 Trần Ngọc Bửu, vì một hoàn cảnh đặc biệt nên bạn còn ở lại quê nhà. Chúng tôi rất vui khi thấy bạn còn trẻ khỏe. Mong rằng năm tới trong lần Đai Hội Ngộ 50 Năm Học Viện CSQG sẽ được gặp lại bạn, nhất là những người bạn ở xa như chúng tôi. Mến chúc bạn nhiều sức khỏe. Cho chúng tôi gởi lời thăm gia đình bạn và những người bạn của chúng ta còn ở lại Việt Nam.
NCV
Một số hình ảnh của cuộc hội ngộ tai Nam Cali do bạn Vỏ Thiệu ghi lại.

Trình chiếu này yêu cầu JavaScript.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Sau gần 50 năm mới gặp lại

HỌP MẶT KỶ NIỆM 25 NĂM H.O.

image001

Mời các bạn phe ta nguyên là các H.O. xem Thông Cáo của BTC v/v Kỷ niệm 25 Năm H.O. để nếu có thể thì ghi tên tham dự. Hạn chót là ngày 30/10/2015. Lưu ý: Trong BTC có K1 Nguyễn Thanh Thủy (Thủy Thiên Nga) làm Thủ Quỹ.

Thiep mời 25 nămjpg-1

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở HỌP MẶT KỶ NIỆM 25 NĂM H.O.

Tin về Đại Hội Kỷ Niệm 50 Năm HVCSQG

NỘI DUNG BUỔI HỌP SƠ KHỞI
CỦA BAN TỔ CHỨC ĐH 50 NĂM HỌC VIỆN CSQG (1966-2016)

Vào lúc 11 giờ sáng ngày chủ nhật 20/9/2015, ban tổ chức sơ khởi của Đại Hội Kỷ Niệm 50 Năm Thành Lập Học Viện CSQG (1966-2016) gồm các anh Nguyễn Doãn Hưng (K6/Trưởng Ban tổ chức), Phan Tấn Ngưu (K1/Phó BTC), Nguyễn Ngọc Tiến (K3/Phó BTC) và Nhữ Đình Toán (K1/Thư Ký) đã có buổi họp đầu tiên tại tư gia của K1 Phan Tấn Ngưu.
Buổi họp đã kéo dài trong 2 giờ để bàn về việc tổ chức đại hội với một số chi tiết sơ khởi như sau:
Ngày tổ chức Đại Hội sẽ là Ngày Chủ nhật 17 tháng 7 năm 2016 như đã định trong buổi họp ngày 13/9/2015); ngoài ra sẽ có 01 ngày Tiền Đại Hội (16/7) dành cho các Khóa họp riêng và 01 ngày dành cho tour Du lịch (18/7) sẽ nghiên cứu sau.
I/- BAN CỐ VẤN: BTC sẽ mời một số Niên trưởng và cựu Giảng sư HVCSQG sau đây tham gia Ban Cố Vấn:
– Cựu VT Trần Minh Công
– Cựu PVT Lê Sơn Thanh
– GS/TS Nguyễn Văn Canh
– GS/TS Trần An Bài
– NT Trần Quan An
– NT Trần Quang Nam
– NT Nguyễn Kim Phùng
– NT Nguyễn Hữu Trương
– NT Phan Trung Chánh
– NT Trần Ngọc Uyên
– NT Nguyễn Ngọc Võ
– NT Ngô Bá Phước
II/- BAN TỔ CHỨC:
– Trưởng Ban: Nguyễn Doãn Hưng, K6
– Phó TB: Phan Tấn Ngưu, K1
– Phó TB: Nguyễn Ngọc Tiến, K3
– Thư Ký: Nhữ Đình Toán, K1
Ngoài các TB, PTB và Thư Ký nói trên, mọi người đã đồng ý cần có thêm những Ban chuyên môn như sau:
Ban Phối Trí và Chương Trình (cho 3 ngày Đại Hội): sẽ đề cử sau
Ban Vận Động Tài Chánh: Phan Tấn Ngưu (K1), Lê Phát Minh (K1), Nguyễn Ngọc Tiến (K3), Nguyễn Doãn Hưng (K6),…
Thủ Quỹ: Từ Tấn Bình (K9), thủ quỹ của Hội CSQG Nam CA kiêm nhiệm
Ban Đưa Đón: Các Khóa HV đảm trách đưa đón các cựu SV/Khóa của mình, riêng với các NT và GS cũng như các Khóa không có ban đại diện, BTC sẽ cử người đưa đón.
Phụ trách Khách Sạn: Nguyễn Văn Khôi
Đặc trách Truyền Thông/Báo Chí: Phan Tấn Ngưu
Phụ trách phổ biến hình ảnh: Võ Thiệu
Phụ trách Đặc San ĐA NĂNG (kỷ niệm 50 Năm HV): Nhữ Đình Toán
Ban Nghi Lễ: Nguyễn Hữu Thời: (K1), Hà Văn Tiên (K2), Đỗ Quang Sơn, + …. (sẽ bổ sung thêm 2 hoặc 3…) và cố gắng thành lập một toán hầu kỳ riêng cho ĐH.
Phụ trách Web master: sẽ lập một trang web riêng cho 50 Năm HVCSQG, tạm thời đã có các trang web của các Khóa để phổ biến tin tức:
K1: https://khoa1hocviencsqg.com/ (Ng.Công Vinh+Nhữ Đ. Toán), K2: khoa2canhsatquocgia.com/ (Nguyễn V. Lợi),
K3: http://www.khoa3hocviencsqg.com/ (Ng. Ngọc Tuấn),
K6: http://www.k6hvcsqg.com/ (Ng. Hải Sơn),…
Thiết Kế & Trang Trí nơi tổ chức (nhà hàng): Phan Tấn Ngưu
Khánh Tiết & Tiếp tân: Chị Cẩm Y (K1), Nguyễn V Lợi (K2), Huỳnh Thiện (K3),…
Ban Văn Nghệ: Trần Quang Kỳ (K8), Lệ Ngọc (dâu K3) ; sẽ mướn 01 Full Band (ban nhạc đầy đủ)
Đại Diện các Khóa tham gia BTC: BTC sẽ mời gọi Đại Diện các Khóa tham gia BTC và hy vọng trong những phiên họp sau sẽ có sự hiện diện của các Đại Diện này.
Đại Diện ngoài Hoa Kỳ (Canada, Âu châu, Úc đại lợi): Anh Phan Tấn Ngưu sẽ liên lạc, thông báo và mời tham dự.
III/- LINH TINH:
– Sẽ thông báo các nơi ghi tên tham dự, hạn chót là ngày 15/6/2016.
– Lệ phí tham dự Dạ Tiệc Hội Ngộ là $50 USD/người; sẽ in vé tham dự gởi đến các tham dự viên.
– Kêu gọi các mạnh thường quân ủng hộ để Ngày Đại Hội 50 Năm HV được tổ chức chu đáo và ý nghĩa; tránh việc thu tiền bổ túc trong ngày Đại Hội.
– Chi tiết về Đặc San và Qùa Lưu Niệm đại hội sẽ thảo luận sau.
– Thủ Quỹ và Trưởng BTC sẽ thực hiện một spreadsheet được cập nhật thường xuyên mọi khoản chi thu liên hệ.

Little Saigon, ngày 20 tháng 9 năm 2015

(K1 NĐ. Toán tường trình)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Tin về Đại Hội Kỷ Niệm 50 Năm HVCSQG

HỘI NGỘ TẠI LITTLE SAIGON

HỘI NGỘ TẠI LITTLE SAIGON

Little Saigon tại Nam California luôn luôn là địa điểm cho nhiều bạn K1 dừng chân hội ngộ với bạn bè cùng Khóa và không cùng khóa. Cuối tuần vừa qua (20/9/2015), các bạn K1 và thân hữu ở Little Saigon (Nam CA) đã có dịp đón tiếp 2 bạn K1 từ phương xa đến. Đó là bạn nữ K1 Huỳnh Thị Nhẫn đến từ Canada và bạn K1 Lê Phát Minh đến từ Houston (TX). Dưới đây là những hình ảnh do phó nhòm K1 Võ Thiệu chộp được trong buổi sáng 20/9 tại “Quán cà-phê-vườn” của NT (K14 Rạch Dừa) Nguyễn Hoàng Nam.

Trình chiếu này yêu cầu JavaScript.

 

Còn đây là Youtube  buổi tiệc hội ngộ do K1 Toán Phạm quay phim:

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở HỘI NGỘ TẠI LITTLE SAIGON

Một Cái Nhìn Khác Về Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu

Một Cái Nhìn Khác
Về Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu
* Lewis Sorley
(Toàn Như chuyển ngữ)

Đọc những báo chí Mỹ trong thời kỳ Chiến Tranh Việt Nam, người ta có thể nghĩ rằng vị cựu tổng thống Việt Nam Cộng Hòa từ 1965 đến 1973 (1) là một kẻ bất tài, làm theo sự sai khiến của Hoa Kỳ. Nguyên nhân là vì cái tinh thần phản chiến mạnh mẽ trong thời gian đó và cái khuynh hướng nghi ngờ việc chọn lựa các vị tổng thống đang phải đương đầu với một cuộc chiến bất bình thường. Cho nên, ông Thiệu không là gì khác hơn là một gã bù nhìn.

Trong những giai đoạn đẫm máu nhất của cuộc chiến, ông (Thiệu) đã chủ trì những diễn biến chính trị phức tạp và sôi nổi và mỗi chuyển động của ông đều được ghi lại trên trang nhất của báo chí Hoa Kỳ mô tả chiến tranh trong đầy rẫy khổ ải. Mặc dù vậy, trong khi chiến đấu chống lại một sự xâm lấn từ bên ngoài và một sự nổi dậy từ bên trong đang được ủng hộ và yểm trợ bởi Trung Quốc và Liên Sô, ông đã thực hiện được các chính quyền dân cử từ cấp quốc gia cho tới các xã ấp. Ông đã mở rộng và – với sự yểm trợ cố vấn và trang bị của Hoa Kỳ – chấn chỉnh quân lực để đảm nhận cái gánh nặng từ việc rút lui của quân lực Hoa Kỳ. Ông Thiệu đã đích thân chỉ huy một chương trình bình định để phá vỡ sự xâm nhập (của VC) đang diễn ra tại nông thôn qua cưỡng ép và khủng bố, bằng cách ban hành một chương trình cải cách ruộng đất cấp cho 400.000 nông dân chủ quyền khoảng 2,5 triệu mẫu ruộng. Ngoài ra, ông còn tổ chức cho 4 triệu dân vào Lực Lượng Nhân Dân Tự Vệ, một lực lượng bán quân sự với 600.000 vũ khí.

Ông Thiệu sinh ra ở Ninh Thuận và đi học tại những trường Thiên Chúa Giáo tại Huế. Ngay sau Thế Chiến II, ông đã có thời gian ngắn theo Việt Minh, nhưng đã sớm từ bỏ vì những khuynh hướng thiên về cộng sản của nó. Ông Thiệu sau đó theo học trường Võ Bị Quốc Gia ở Huế rồi chiến đấu cho Pháp chống lại Việt Minh. Sau khi người Pháp ra đi và Việt Nam bị chia đôi, ông Thiệu đã tiến rất nhanh trong Quân Lực VNCH và trở thành một sĩ quan cấp tướng năm 1962 (2). Năm 1963, ông là một trong những người lãnh đạo cuộc đảo chánh lật đổ Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Năm 1967, ông Thiệu được bầu làm tổng thống theo một bản hiến pháp mới.

Đại Sứ Ellsworth Bunker biết rất rõ về ông Thiệu. Bunker nhận xét, “Ông ta giải quyết vấn đề một cách khôn khéo và thông minh. Ông ta là một cá nhân có khả năng hiểu biết rất sâu sắc. Ông ta quyết định ngay từ đầu tuân thủ theo hiến pháp, chứ không cai trị theo kiểu các ông tướng mà nhiều người trong số đó mong muốn ông thực hiện.”

Ông Thiệu bị áp lực phải thay thế những kẻ tham nhũng và kém khả năng đang ở trong những vị trí cao, và chỉ giữ lại một số trung thành, nếu không thể loại trừ tất cả. Thời gian đầu trong nhiệm kỳ tổng thống, ông đã giải thích lý do với một sĩ quan cao cấp Hoa Kỳ rằng: “Việc thanh lọc toàn bộ số sĩ quan Miền Nam không thể nào đơn giản, bất cứ sự thay đổi chỉ huy chính yếu nào cũng phải được nghiên cứu phối hợp một cách cẩn thận. Quân đội không thể để cho chính trị loại bỏ trong một đêm. Quân đội đã và đang là người hỗ trợ về chính trị chủ yếu và là lực lượng duy nhất nối kết quốc gia.”

Bunker và vị tư lệnh Hoa Kỳ (ở Việt Nam), Tướng Creighton Abrams, hiểu rõ chuyện này và cả hai đều kiên nhẫn và thông cảm, nhưng họ cũng đưa ra những đề nghị nhắm vào một số sĩ quan cao cấp không thích hợp. Vì vậy thỉnh thoảng đã có những sự thay đổi trong việc chỉ huy ở miền Nam Việt Nam. Nhưng chưa bao giờ có thể có một sự trong sạch hóa toàn diện. Không chỉ vì e sợ những xáo trộn về chính trị, mà còn vì một số những sự thay đổi thiết yếu vẫn chưa sẵn sàng.

So sánh với sự lãnh đạo của Hoa Kỳ trong cùng thời gian người ta có thể có những kết qủa thú vị. Chẳng hạn như ông Nguyễn Văn Thiệu khi tranh luận có thể được coi là một người lương thiện và đứng đắn hơn cả Lyndon Johnson và – tuy khác biệt trong một một số trường hợp – hoàn toàn như là một vị tổng thống có ảnh hưởng hơn của quốc gia ông. Vào lúc đó, người ta cũng cho rằng ông Thiệu có nhiều tự do quyết định cho xứ sở ông hơn cả LBJ (3) đối với nước Mỹ.

Những viên chức hàng đầu của Mỹ đều nhìn nhận tầm quan trọng của ông Thiệu, đặc biệt trong việc bình định. Abrams nhận xét, “Ông ấy biết về bình định hơn bất kỳ người Việt Nam nào.” William Colby (4) cũng nói, “Thiệu là viên chức bình định số một.”

Tại Vũng Tàu, 1400 trưởng ấp, đại diện cho khoảng ba phần tư các trưởng ấp ở Miền Nam Việt Nam, đã tham dự một khóa huấn luyện trong năm 1969. Ông Thiệu đã đến thăm từng người trong các lớp học này, khuyến khích các trưởng ấp trở về nhà hãy nói lại rằng “Tổng thống Thiệu đã nói với tôi rằng …”

Cuối năm 1969, tình hình đã tiến triển khả quan đến nỗi John Paul Vann (5), người đã đóng một vai trò rất quan trọng trong công tác bình định (ở VN), đã nói với cử tọa ở Princeton rằng, “Hoa Kỳ đã thắng cuộc chiến tranh quân sự và đang thắng một cuộc chiến tranh chính trị thông qua ông Thiệu.”

Mặc dù Cộng Sản không ngừng tiên đoán về một “cuộc tổng nổi dậy” ở Miền Nam Việt Nam, nhưng trên thực tế đã không hề có một cuộc tổng nổi dậy nào như thế. Đối với bất kỳ một nhà quan sát cụ thể nào, dường như chẳng ai ngạc nhiên về những thành tích của cộng sản qua những vụ ám sát, bắt cóc, đánh bom khủng bố, cưỡng bách và pháo kích bừa bãi vào những khu dân cư ở Miền Nam Việt Nam. Đó là những hành động khó mà chinh phục được trái tim và khối óc của các nạn nhân.

Vào tháng 4 năm 1968, Tổng Thống Thiệu đã chống lại lời khuyên của tất cả các vị cố vấn để tổ chức Lực Lượng Nhân Dân Tự Vệ. Ông biện luận, “chính phủ phải dựa vào sự ủng hộ của dân chúng, và nó cũng chẳng có gía trị gì nếu chúng ta không dám trang bị vũ khí cho họ.”

Sau cùng khoảng 4 triệu người, những người qúa gìa hoặc qúa trẻ cho quân vụ chính quy, được ghi danh vào Lực Lượng Nhân Dân Tự Vệ. Qua sự thiết lập này, chính quyền Thiệu đã có sự ủng hộ của chính dân chúng, qua Lực Lượng Tự Vệ với những vũ khí mà nó có, không phải để chống lại chính quyền, mà là để chiến đấu chống lại sự thống trị của Cộng Sản. Tháng Mười năm 1971, trong một cuộc chiến đấu cam go, Tổng Thống Thiệu đã được tái cử trong một cuộc bầu cử độc diễn. Nhiều người chỉ trích ông về việc này, và đề nghị không công nhận cuộc thắng cử của ông. Nhưng trong cuộc bầu cử đó, mặc dù kẻ thù kêu gọi tẩy chay và cử tri là mục tiêu bị đe dọa, nhưng kết qủa 87.7 % cử tri đi bầu và 91.5 % bầu cho ông Thiệu đã là một sự ngạc nhiên. Đó là con số cử tri đi bầu lớn nhất trong lịch sử Việt Nam. Nếu nó chẳng ra gì (vì không có đối thủ), hay nếu công chúng không chấp thuận sự lãnh đạo của ông Thiệu, tại sao họ lại đi bầu đông như thế, với những rủi ro cá nhân có thể hay thực sự xảy ra, nếu không phải để biểu lộ sự ủng hộ việc tái cử của ông Thiệu? Câu trả lời rõ ràng là đại đa số đồng bào đánh gía cao các việc làm của ông Thiệu và mong mỏi ông tiếp tục ở lại nhiệm vụ.

Khoảng tháng Giêng năm 1972, John Paul Vann nói, “Thực tế không thể chối cãi là đại đa số dân chúng … khoảng 95 phần trăm – thích chính quyền Việt Nam Cộng Hòa hơn là một chính quyền Cộng Sản hay là chính quyền trao cho phía bên kia.”

Thật đáng buồn, ngày nay nhiều người miền Nam Việt Nam đang chỉ trích theo quan điểm riêng của họ về Tổng Thống Thiệu. Tôi đã nói chuyện về vấn đề này với nhiều người bạn Việt Nam đang sống ở Mỹ. Gần đây, một người đặc biệt, có học thức và thông thái, đã làm tôi ngạc nhiên khi nói rằng người Việt đã cho rằng Tổng Thống Thiệu đã lừa dối họ. Tôi đã hỏi lại ông ấy là lừa dối như thế nào. Người bạn đó đã trả lời: “Ông ấy biết người Mỹ sẽ bỏ chúng tôi, nhưng đã không nói cho chúng tôi biết.”

Tôi cho rằng đó là một quyết đoán qúa khe khắt và còn cần tranh luận. Đại Sứ Bunker còn nhớ đã trao riêng cho Tổng Thống Thiệu ba lá thư của Tổng Thống Nixon mà trong đó “ông đã cam kết” sẽ trợ giúp miền Nam Việt Nam “trong bất kỳ sự vi phạm hiệp ước bởi phía bên kia.” Nhưng, Bunker nhận xét, “Quốc Hội … đã làm cho nó bất khả thi.”

Kết quả ra sao? Bunker nói một cách rõ ràng rằng “Tôi nghĩ đó thực sự là một sự phản bội miền Nam Việt Nam.” Cũng thật khó cho Tổng Thống Thiệu có thể tiên đoán được cái hành động đáng hổ thẹn như vậy của Hoa Kỳ.

Vài ngày trước khi Sài Gòn thất thủ trong năm 1975, ông Thiệu đã phải sống cuộc đời lưu vong, mới đầu là ở Đài Loan, sau tới Anh quốc và cuối cùng là Hoa Kỳ. Ông đã từ trần trong năm 2001 (tại Boston, Massachesetts, USA). Ông Nguyễn Văn Thiệu đã đương đầu một cách anh hùng trong những năm dài chiến tranh đầy cam go, ông đã nhận được – dù ông có nhận hay không – sự ngưỡng mộ và lòng biết ơn của tất cả những ai mong muốn cho một miền Nam Việt Nam tốt đẹp.

TOÀN NHƯ chuyển ngữ
(dịch từ “South Vietnamese President Nguyen Van Thieu was far from the American patsy he is often portrayed to have been”, nguồn: Vietnammag.com)

Chú thích:

(1) Đúng ra ông Nguyễn Văn Thiệu (1923-2001) làm tổng thống từ năm 1967 cho đến ngày ông từ chức 21/4/1975 (chứ không phải đến năm 1973); còn từ năm 1965 đến 1967, ông là Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia (chức vụ tương đương Quốc trưởng).
(2) Năm 1962, ông Thiệu còn là đại tá, sau cuộc đảo chánh TT Diệm, ông mới được thăng cấp Thiếu Tướng 2 sao (khi đó QLVNCH chưa có cấp Chuẩn Tướng 1 sao).
(3) LBJ là chữ viết tắt tên Lyndon Baine Johnson (1908-1973), tổng thống thứ 36 của Hoa Kỳ.
(4) William Colby (1920-1996) là trưởng Chi Nhánh CIA tại Việt Nam (1959-1962), sau giữ chức giám đốc CIA tại Hoa Kỳ từ 1973 đến 1976.
(5) John Paul Vann (1924-1972), nguyên là một Trung Tá trong quân lực Hoa Kỳ sau đã giải ngũ, phục vụ 2 nhiệm kỳ tại Việt Nam trong vai trò cố vấn. Từ năm 1962 đến 1963, là cố vấn cho Đại Tá Huỳnh Văn Cao (sau là thiếu tướng), Tư lệnh Sư Đoàn 7. Trở lại VN năm 1965 làm việc cho cơ quan USAID, sau là cố vấn cho Vùng II Chiến Thuật và bị tử nạn máy bay năm 1972 tại Kontum.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Một Cái Nhìn Khác Về Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu

Bài Tình Ca Một Thuở_Lê Hữu Nghĩa và Con Gà Què

image001

Mời các bạn thưởng thức bài hát “Bài Tình Ca Một Thuở“, sáng tác mới, hợp soạn của Lê Hữu Nghĩa và Con Gà Què.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Bài Tình Ca Một Thuở_Lê Hữu Nghĩa và Con Gà Què

Cảm Nghĩ Của Ông Hoàng Đức Nhã

Cảm Nghĩ Của Ông Hoàng Đức Nhã,
Cựu Bí Thư Tổng Thống và
Cựu Tổng Trưởng Dân Vận và Chiêu Hồi, VNCH
(Tại Lễ Tưởng Niệm lần thứ 14 Cố Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu ngày 19/9/2015 tại Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ, thành phố Westminster, California)

Ngày 19 tháng 9 năm 2015
Kính thưa Phu Nhân Cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu,
Kính thưa Quý Vị Lãnh Đạo Tinh Thần các Tôn Giáo,
Kính thưa Quý Vị dân cử,
Kính thưa Quý Vị Đại Diện các Tổ Chức, Đoàn Thể,
Kính thưa Quý anh chị em Dân Quân Cán Chính VNCH, các quý vị truyền thông báo chí, và quý đồng hương.

Tôi xin cảm ơn quý vị bỏ thì giờ quí báu trong cuộc sống hằng ngày và không ngại cơn nắng Hè giao mùa và cơn nóng bức của thời tiết đến quãng trường Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ hôm nay để tưởng nhớ vị Tổng Thống cuối cùng của VNCH.
Đây cũng là một hân hạnh lớn cho tôi có mặt hôm nay với quý vị để tưởng niệm cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và chia sẻ với quý vị những hồi tưởng về vai trò và thành tựu của Tổng Thống trong sứ mạng Bảo Quốc, An Dân và Xây Dựng một chế độ dân chủ pháp trị cho miền Nam Việt Nam.
Bất cứ một hồi tưởng quá khứ nào cũng có thể có khuynh hướng tự bào chữa hay trình bày trở lại những thành kiến trước đây, hoặc nhắc lại những nhận thức và quan điểm được bàn tán từ lâu. Tuy nhiên, với sự lùi lại của lịch sử và những tài liệu được giải mật trong mấy năm gần đây độc giả và thính giả Việt Nam, Mỹ và ngoại quốc khác đã ý thức được sự phức tạp của cuộc đấu tranh của người Việt
quốc gia và đồng thời vai trò và trách nhiệm của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu.
Đã từ lâu vấn đề Việt Nam được đa số chính giới, truyền thông, học giả và chuyên gia Việt Nam, quốc tế, đặc biệt là của Hoa kỳ , bố cục và mổ xẻ trong bối cảnh quân sự và chánh trị. Nhưng, tệ hơn nữa, vấn đề Việt Nam được phổ thông hóa theo lăng kính người Mỹ, phản ảnh những thành kiến có tánh chất một chiều, cường điệu, và những tự bào chữa của họ tại sao người Việt quốc gia không bảo vệ được đất nước của họ.
Kính thưa quý vị,
Nói đến điều này hẳn quý vị cũng nhớ rằng cuộc sống của người dân Việt Nam hai miền bị chi phối bởi chiến tranh từ đầu thập niên 1930, dần dần bị lôi vào cơn lốc tranh giành ảnh hưởng của hai siêu cường quốc trên thế giới. Hiệp định Geneve 1954 phân chia đất nước ra hai miền với tánh chất hoàn toàn khác biệt: miền Bắc với chế độ Cộng Sản liên minh với phong trào Cộng sản quốc tế và miền Nam với chế độ phi Cộng Sản thể hiện tinh thần quốc gia dân tộc. Việt Nam Cộng Hòa ra đời trong bối cảnh tranh hùng giữa hai siêu cường quốc thế giới.
Người Việt quốc gia đã trải qua nhiều thăng trầm chánh trị với sự thành lập của nền Đệ Nhất Cộng Hòa do Tổng Thống Ngô Đình Diệm lãnh đạo, bắt đầu chống xâm lăng của Cộng Sản Bắc Việt vi phạm trắng trợn Hiệp định Geneve 1954, và sự sụp đổ của chế độ này vào cuối năm 1963.
Tiếp theo đó, giai đoạn giao thời từ tháng 11 năm 1963 đến tháng 10 năm 1967, với những tranh giành giữa các tướng lãnh và quân nhân lãnh đạo quốc gia trong lúc đó tạo thêm sự bất ổn chánh trị và xã hội trong lúc chiến tranh nới rộng với lực lượng quân đội của Hoa Kỳ và Cộng sản Bắc Việt ngày càng gia tăng tại miền Nam. Trong bối cảnh này người Việt quốc gia tại miền Nam vẫn tiếp tục cấu tạo một căn bản để duy trì tinh thần quốc gia, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và xây dựng một chế độ đa nguyên chánh trị với một nền dân chủ đại nghị thực thi quyền tự quyết dân tộc. Trong tinh thần đó Hiến Pháp 1967 khai trương một kỷ nguyên mới với sự thành lập của nền Đệ Nhị Cộng Hòa do Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu lãnh đạo
sau cuộc bầu cử tháng 10 năm 1967.
Như tôi nói trên đây, với sự lùi lại của lịch sử, với việc nhiều tài liệu liên quan đến cuộc đấu tranh của người Việt quốc gia và sự lãnh đạo của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã được giải mật, một khuynh hướng nhìn lại vấn đề Việt Nam và đặc biệt là thành quả của nện Đệ Nhị Cộng Hòa đã dần dần phát hiện trong các giới đại học, giới khảo cứu, giới truyền thông tại Hoa Kỳ và một số quốc gia khác.
Vào giữa tháng Sáu năm 2012 phân khoa Á Châu Vụ của đại học Cornell tại tiểu bang Nữu Ước, đầu não của phong trào chống chiến tranh Việt Nam trước đây, có tổ chức một hội thảo trong hai ngày. Mục đích của hội thảo này là để cho một số viên chức đã phục vụ trong chánh quyền và hoạt động trong giới đối lập chánh trị của nền Đệ Nhị Cộng Hòa, trong đó có chúng tôi và chín viên chức khác, trình bày những sự kiện xác thực trong những công trình mà chúng tôi đã đóng góp.
Kết qủa của hai ngày hội thảo là một cuốn sách nhan đề Hồi Tưởng Của Những Người Đóng Góp Xây Dựng Nền Đệ Nhị Cộng Hòa Của Miền Nam Việt Nam (1967-1975). Đại học Cornell đã phát hành cuốn sách này cách đây vài tháng. Trong Phần Giới Thiệu của cuốn sách này, Giáo Sư Keith Taylor, người chủ xưởng
và điều khiển cuộc hội thảo và cũng là chuyên gia về Việt Nam đứng hàng đầu tại Hoa Kỳ , viết rằng đã có rất ít nỗ lực đánh giá những thành tựu của Việt Nam Cộng Hòa trong tám năm cuối.
Hầu như tất cả các tác giả viết về những năm cuối của cuộc chiến đều lờ đi thành tích đạt được của nền Đệ nhị Cộng hòa dưới sự lãnh đạo của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, trong đó thành quả quan trọng nhất là chế độ miền Nam đạt được sự ổn định chánh trị và ngày càng đảm nhiệm vai trò lớn hơn trong cuộc chiến bảo vệ đất nước khi quân đội Mỹ rút lui dần dần và hoàn toàn vào năm 1973.
Giáo Sư Taylor viết thêm rằng “những thành tích đó làm cho người Mỹ xấu hổ vì một trong những lập luận chính của những người có lập trường chống chiến tranh Việt Nam là chánh phủ Saigon là một chế độ độc tài không thể thay đổi được, không xứng đáng nhận sự giúp đỡ của Mỹ, và dù thế nào đi nữa cũng phải thất bại.
Lập luận này giúp cho người Mỹ bớt dằn vặt về đạo đức vì Hoa Kỳ đã bỏ rơi một đồng minh trong cơn hoạn nạn. Nhưng thật ra lập luận đó phản ảnh nỗi thất vọng của người Mỹ nhiều hơn là thực tế những gì đang xảy ra do người Việt đảm nhận”.
Cộng vào đó Cộng Sản Việt Nam hiện nay rất tích cực thực thi chương trình viết lại lịch sử theo ý họ và cố xóa bỏ lý do người Việt quốc gia tại miền Nam chống lại họ vì muốn sống trong một chế độ dân chủ thật sự.
Kính thưa quý vị,
Qủa thật trong khi Việt Nam Cộng Hòa đang phải chiến đấu chống lại kẻ xâm lược từ miền Bắc để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và ngăn chận cảnh máu đổ thịt rơi, chánh quyền đã xúc tiến tích cực công cuộc xây dựng đất nước bằng cách kiến tạo một xã hội dân chủ với đầy đủ định chế như một lưỡng viện Quốc Hội, một Tối Cao Pháp Viện, kiến tạo một xã hội dựa trên pháp quyền, một nền kinh tế dựa trên thị trường, một xã hội tôn trọng quyền tư hữu – tất cả nhằm mục đích cải thiện đời sống của trên 20 triệu người miền Nam thời đó, hầu đưa phần lớn những người này ra khỏi tình trạng nghèo đói.
Chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa dưới sự lãnh đạo của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, trong khi phải đồng thời đương đầu với chiến tranh khốc liệt, với sự tàn phá các mục tiêu chiến lược dân sự, và đặc biệt là với nỗi lo âu về mức độ viện trợ của Hoa Kỳ , cũng đã đặt được nền móng cho một sách lược với ba hướng phát triển. Sách lược này dựa trên nỗ lực phát triển nông nghiệp với sự bải bỏ
chế độ tá canh và thi hành chương trình Người Cày Có Ruộng, nỗ lực khuếch trương các ngành kỹ nghệ thâu nhận nhiều nhân công và nỗ lực khai thác các tài nguyên thiên nhiên, nhất là sau khi dầu khí được khám phá ngoài khơi miền Nam vào đầu năm 1975 và chánh quyền chuẩn bị khai thác.
Kính thưa quý vị,
Những bài học về Việt Nam dưới thời Đệ nhị Cộng hòa đã vượt quá phạm vi của những chiến thắng hay thất bại quân sự, hơn cả tiến trình và mức độ thành công trong nỗ lực xây dựng một xã hội dân chủ và pháp trị, và ngay cả các quan điểm bắt nguồn từ những nhận thức đôi khi đầy luận cứ ác ý muốn chứng minh rằng Quân Lực miền Nam Việt Nam thiếu động lực chiến thắng, hay chính quyền
dân sự thiếu nghị lực để tự vệ và phát triển đất nước.
Những bài học cần phải được nhấn mạnh và ghi nhận ở đây là, nền Đệ nhị Cộng hòa đã cố gắng xây dựng một xã hội dân chủ, và đã nỗ lực phát triển một nền kinh tế năng động và lành mạnh trong khi phải đương đầu với một cuộc chiến chống xâm lược.
Hẳn quý vị cũng đã đọc, đã nghe, đã thấy qua những hình ảnh và phóng sự truyền thanh truyền hình điện ảnh rằng Đệ nhị Cộng hòa đối với người Mỹ vào lúc đó và sau này, cho đến tận hôm nay, là một chế độ độc tài đáng để cho sụp đổ.
Như Giáo Sư Keith Taylor kết luận trong bài viết của ông đó là một sự vu khống; một sự vu khống rất tiện lợi để biện hộ cho việc Mỹ bỏ rơi VNCH, nhưng bản chất nó là một sự vu khống.
Nỗ lực có thật của nhiều người Việt để kiến tạo một xã hội dân chủ trong thời chiến vẫn chưa xuyên phá được cái huyền thoại tiện lợi nhưng không có thật về một đồng minh bị bỏ rơi và bị miệt thị vào bậc nhất trong lịch sử Hoa Kỳ. Và đó chính là điều tôi muốn gửi đến quý vị hôm nay khi chúng ta tưởng nhớ Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và hàng triệu dân quân cán chính đã phục vụ với ông trong công cuộc bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và xây dựng nền dân chủ thật sự
tại miến Nam Việt Nam.
Đó là lòng dũng cảm và những thành tựu không được tuyên dương của mỗi người trong chúng ta, là những người đã có cơ hội và vinh dự phục vụ quê hương.
Xin cám ơn Quý vị.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Cảm Nghĩ Của Ông Hoàng Đức Nhã