Ba Năm Ngày Giỗ- NHA

 

Ba nam ngày giỗ_ Phương Trúc

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Ba Năm Ngày Giỗ- NHA

Một Ước Mơ _ Thơ TPK

Mot uoc mo title

 

Anh vẫn ôm ấp mãi trong lòng,
Một niềm mơ ước với non sông.
Tự do dân chủ đơm hoa thắm,
Kết trái hạnh phúc cho giống giòng. 

Rồi sẽ đưa em về chốn cũ,
Đi dạo bờ sông dưới trăng thu.
Tìm lại chiếc ngai thời dĩ vãng,
Bao năm trống vắng bụi giăng mù. 

Dù cho vật đổi với sao dời,
Quân vương mời thiếp bước lên ngôi.
Ung dung yên vị trên cửu ngủ,
Ngự trị trăm năm một cuộc đời. 

Nắm tay rão bước dưới chiều tàn,
Lung linh đáy nước bóng mây tan.
Mặt hồ phẳng lặng tình muôn thuở,
Soi bóng uyên ương chốn địa đàn. 

Mình ngồi lặng ngắm ánh trăng lên,
Đêm xuống sương rơi lấp lánh đèn.
Ghế đá công viên cơn gió nhẹ,
Du hồn phiêu bạc chốn thần tiên. 

Ta lại tìm thăm gốc liễu rũ,
Trưa hè biển vắng gió vi vu.
Mắc võng nằm nghe con sóng vỗ,
Chìm vào giấc mộng đẹp như ru. 

Chúng mình sẽ dạo khắp muôn nơi,
Trãi rộng tình yêu tới mọi người.
Đà Nẵng Sài Gòn Hà Nội Huế,
Cùng nhau đi tận cuối đưòng đời. 

Tống Phước Kiên
Mùa Valentine 2014
Viết tặng người tình trăm năm

 

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Một Ước Mơ _ Thơ TPK

Đẹp Muôn Đời _ LK

Cóc Chay vừa gởi đến CNN bài thơ ” Đẹp Muôn Đời”. Bài thơ nói lên nỗi ray rức của người con Việt trước thãm họa xâm lăng của Tàu Cộng. Bài thơ mở đầu cho các bài họa của Đường Cóc số 20. Kính mời các lão cóc và các cóc con giáng bút.

ĐẸP MUÔN ĐỜI _ LK.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Đẹp Muôn Đời _ LK

The Art of ViVi Hung Vo

Quá tuyệt vời. Thân mến mời các bạn thưởng thức những tác phẫm nghệ thuật của Vivi Hung Vo

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở The Art of ViVi Hung Vo

Thơ Trần Quốc Nại_

AI CŨNG CHẾT, ĐẢNG BÌNH YÊN

Gian ác lâu ngày trở thành quen,
Đâu còn phân biệt được giả chân,
Tệ hơn đời sống loài cầm thú,
Chém giết thanh trừng chuyện nhỏ nhen,
Quay lưng chém thẳng không ngần ngại,
Thành công đạt được sá chi nhầm,
Ngọ chết xong rồi, tan đầu mối,
Kiện cáo không thành Đảng bình yên,/-
TQN.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thơ Trần Quốc Nại_

Bài thơ Duyên Phận của Cóc Nhà

Tuần rồi, sau khi kết thúc Đường Cóc số 19, thì Cóc Khô lấy bài thơ  “Cóc Nhà ra mắt” ra để họa. Hôm nay Cóc Nhà cũng dựa vào Vận của bài thơ đó để viết nên bài thơ thứ 3. Bài thơ có tên Duyên Phận ( hay Trách ai) để nói lên tâm sự của một người con gái xinh đẹp đối với một anh con trai nhút nhát. . .để rồi phải đánh mất một tình yêu trong sáng.
Các câu 6, 7. 8 trong bài đọc lên thấy còn gượng gạo chưa được như ý, xin quí huynh hạ bút chỉnh sửa giùm. Kính xin đa tạ.

Layout bai tho Duyen phận_NCV

(Cám ơn Cóc Chay và Cóc Khô chỉ cho những chỗ phạm luật, và đã sửa lại)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Bài thơ Duyên Phận của Cóc Nhà

Thơ Trần Quốc Nại _ Nhập Cuộc

         NHẬP CUỘC.
Bao nhiêu tháng đợi năm chờ,
Thời gian vẫn mãi từ từ trôi qua,
Bởi ta không chịu bước ra,
Ngồi chờ sung rụng thật là mỉa mai,
Xưa nay đâu có mấy ai,
Ngồi không chờ hưởng tương lai rạng ngời,
Trong khi đất nước rối bời,
Cộng quân bán đất đuổi nhà dân oan,
Ai người yêu nước cản ngăn,
Cho du côn đánh máu văng đầy người,
Quan tham gian ác ngồi cười,
Bên ly rượu đỏ gái tơ vũ trường,
Hởi ai còn chút tình thương,
Vươn vai đứng dậy tìm đường cứu dân
Khó khăn dù có ngàn lần,
Cũng không nao núng chẳng ngần ngại chi,
Muôn người cùng nắm tay nhau,
Đi đâu cũng tới việc gì cũng nên,
Những ai đang đứng ở bên,
Nhào vô nhập cuộc như kiềng ba chân,
Mỗi người một việc khi cần,
Tùy theo năng lực góp phần cùng nhau
Đồng bào hải ngoại ta đâu,
Không mua không bán hàng Tàu,Việt nam,
Tiền nong chỉ gởi lúc cần,
Đi về du hý xin dừng dùm cho,
Việt gian Cộng sản rình mò,
FBI tố giác,co giò rút lui,
Đến khi Cộng hết chỗ chui,
Việt Nam hát khúc đẩy lùi bóng đêm,
Tự do dân chủ nhân quyền,
Toàn dân vui hưởng bình yên thái hòa./
TQN.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thơ Trần Quốc Nại _ Nhập Cuộc

Đi thăm K1 Lê Văn Hướng

Các bạn K1 thân,

Được tin K1 Lê Văn Hướng đang bị bệnh, sáng nay, thứ bảy 01/3/2014, mặc dù trời mưa, một số K1 và thân hữu ở Little Saigon, Nam CA, đã đến thăm bạn ta tại nhà riêng. Khi đến nơi, K1 Hướng vẫn ra phòng khách tiếp chuyện mọi người, nhưng thấy bạn ta rất yếu và gầy hơn trước. Vi không có phó nhòm Võ Thiệu nên tôi dùng tạm cell phone ghi lại  vài hình ảnh của cuộc đi thăm này xin chuyển đến các bạn cùng xem.unnamed (1) unnamed (5) unnamed

Thân,

Toán

Lời bàn của CNN: Có bà xã tuyệt vời như thế nầy thì nên bệnh hay nên hết bệnh đây. Hèn gì lúc nào chụp hình cũng chu mỏ “ngữi má vợ”. Hí hí.

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Đi thăm K1 Lê Văn Hướng

Happy Birthday

BTV sinh nhat t3

TSV sinh nhat t3

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Happy Birthday

Phân Ưu NT Lê văn Hoan

K1 Phân Ưu Le van Hoan

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Phân Ưu NT Lê văn Hoan

Đường Cóc số 19 Final

Title Duong coc 19

Mấy ngày Tết bận quá nên CNN đôi khi bị bỏ hoang làm cho các huynh tưởng rằng  Cóc Tan Hàng. Không đâu. không tan hàng mà còn vào hàng đông hơn nữa. Trước khi vài con cóc mới trình diện quí vị, CNN xin mời bà con mê thơ đường thưởng thức các bài Xướng Họa Đường Cóc 19. Cầm chầu lần nầy là Cóc Xanh NĐT.

CÓC VẪN CHƯA TAN HÀNG

 Tưởng đâu Đường Cóc đã tan hàng
Kẻ bệnh, người đau, đứa thở than
Xướng hoạ cùng nhau thơ với thẩn.
Tuổi gìa hội tụ hợp rồi tan
Văn chương lẩm cẩm nên ba chữ
Thi phú cò cưa được mấy trang
Cuộc sống vô thường đời ngắn ngủi.
Vui đi bạn nhé kẻo Xuân tàn.

CÓC XANH  NĐT

CHÍNH NGHĨA VẪN CHƯA TÀN

Bảy lăm thượng cấp lệnh đầu hàng
Bị giết, tù đày dẫy oán than !
Khốc hận triền miên niềm nuớc mất
Đau buồn ray rức cảnh nhà tan
Tha về quê cũ đà thay chủ
Vượt thoát mong đời được đổi trang
Thế giới cộng nô nay rã đám
May thay chính nghĩa vẫn chưa tàn.

 Cóc Khô PQN Hoạ

Bài họa 2

CÓ ĐÂU TÀN

Thơ chung một lá gởi đôi hàng,
Nhắn bạn Cóc Đường chết chẳng than.
Nợ nước đáp đền dù thịt nát,
Thù nhà phải trả dẫu xương tan.
Danh thơm hậu thế ngàn bia đá,
Tiếng tốt muôn đời sách vạn trang.
Do Thái nghìn năm còn phục quốc,
Trời Nam vận số có đâu tàn ???

Cóc Chay LK

Bài họa 3

XOÁ SỔ CỘNG NÔ

Hãy đứng vùng lên hàng nối hàng
Cứu dân, dựng nước hết lầm than
Giết  loài độc ác ! Ta đoàn kết
Diệt lũ gian manh ! Cộng rã tan
Mong đảng sài lang mau lộ tẩy
Ước ngày lịch sử sớm sang trang
Nhân tình, thế thái vui mừng thấy
Chế độ vong nô đã lụi tàn  !!!

Cóc Tía THANH HOÀNG

Bài họa 4 

TÀN HỒI NÀO ?

Tết xong nhóm Cóc lại vào hàng .
Tiếp-tục khơi bùng ngọn lửa than .
Luận ý chia cay đời mất nước .
Đối vần xẻ đắng kiếp nhà tan .
Đổi trao chí hướng xây cùng mộng .
Xướng họa tâm tình dệt một trang .
Chào đón thêm nhiều thi hữu mới .
Duyên thơ ấm mãi có đâu tàn .

Cóc Chát LHN

Bài Họa 5

Đầu năm mười bốn Cóc xếp hàng
Kêu trời nhìn xuống cảnh lầm than
Bảy chín năm xưa lưu dấu tích
Kẻ thù truyền kiếp khiến nhà tan
Hiểm họa xâm lăng đang đe dọa
Toàn dân sẵn sàng đủ hành trang
Giáp Ngọ khai thông vận hội mới
Chế độ độc tài đến ngày tàn

DNN

Bài hoạ 6 

( nếu tan hàng )

TIỆC CÓC TAN

Cóc làm bảy món tiệc tan hàng
1) Cóc tái  gừng hành ruợu nếp than
2) Cóc nấu khoai tây ninh rục rã
3) Cóc xào sả ớt  sốt giòn tan
4) Cóc chiên bơ lạt gu đô thị
5) Cóc nướng trui bùn kiểu thảo trang
6) Cóc giấm dưa chua chơi tới sáng
7) Cóc khô bóp gỏi nhậu canh tàn

Cóc Khô
Quán Chủ Kính Mời.

                                         Bài Hoạ 7

CHÍNH NGHĨA THẮNG BẠO TÀN

Chạnh nhớ sôi gan lệnh đầu hàng,
Miền Nam tràn ngập tiếng khóc than,
Cộng quân vênh váo rong khắp phố,
Nhìn thấy lòng dân dạ nát tan,
Mong ngày quét sạch Phường gian ác,
Lịch sử nước nhà phải sang trang,
Ukraine quỳ lạy dân tha thứ,
Việt Cộng gian manh chắc chắn tàn./

Cóc Ớt TQN.

Bài Họa 8

HỘI ĐƯỜNG CÓC 

Mừng nay quí Cóc đứng chung hàng.
Chủ yếu là vui chớ trách than
Năm trước gặp nhau ngày hội ngộ
Tháng sau chứng kiến cảnh ly tan
Cuộc đời đau khổ  cầu an lạc
Nghiệp chướng luân hồi phải đổi trang.
Bạn hỡi chúng ta cùng xướng họa
Cho đời vui mãi sẽ lâu tàn.

Cóc Nhà _NCV

Bài Hoạ 9

HẬN  ĐỜI  CẢI  TẠO*

Vai mang khăn gói lệ đôi hàng,
Đứng lặng mà nghe tiếng thở than.
Vợ nói anh đi nhà trống vắng,
Con kêu ba hỡi chớ ly tan.
Khổ sai biệt xứ ngàn oan nghiệt,
Tội ác ghi thành mấy vạn trang.
Đằng đẳng mười năm đời cải tạo,
Ngày về lê lết tấm thân tàn.

Cóc Huế_Tống Phước Kiên
March 01,2014

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Đường Cóc số 19 Final

Tin Bạn Ta

Hi all,
Xin thông báo với các bạn K1, bạn Lê Văn Hướng đang bị bệnh nặng từ lâu mà không biết, liên quan đến phổi và….
Có tin gì sẽ báo tiếp.
Ngưu

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Tin Bạn Ta

CHÍNH NGHĨA THẮNG BẠO TÀN

CHÍNH NGHĨA THẮNG BẠO TÀN

Chạnh nhớ sôi gan lệnh đầu hàng,
Miền Nam tràn ngập tiếng khóc than,
Cộng quân vênh váo rong khắp phố,
Nhìn thấy lòng dân dạ nát tan,
Mong ngày quét sạch Phường gian ác,
Lịch sử nước nhà phải sang trang,
Ukraine quỳ lạy dân tha thứ,
Việt Cộng gian manh chắc chắn tàn./
TQN.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở CHÍNH NGHĨA THẮNG BẠO TÀN

Hoa Màu Đất_TH

Hoa mau đất làm lại

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Hoa Màu Đất_TH

Bửu Hồng Mừng Xuân mới

Thân mời các bạn xem Bửu Hồng mừng xuân như thế nào nhé. Video do Thầy Tàu và Mệ thực hiện

Khỉ Đột Chơi Xuân .

Xuân về xách xế chạy long nhong .
Mới hết rô-đa láng coóng nòng .
Nhấp lút kim ga , nhồi hết số .
Vượt luôn đèn đỏ sợ gì không .

LHN

Đèn đỏ không care ,care cột đổ
Lút ga không ngại, ngại hết gas
Hết số không lo, lo tới số
Láng nòng không sợ , sợ bể nòng.

PQN

Chơi Xuân Qúa Đã

Tề Thiên ‘qúa đã’ dạo chơi xuân,
Áp má, kề vai, thiệt qúa gân.
Ai nói khỉ gìa hết xí quách,
Là người không biết Bửu hoàng thân.
NĐT

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Bửu Hồng Mừng Xuân mới

Đời Ơi Tôi Khóc_Nguyễn Thị Kim Oanh

                  ĐỜI ƠI TÔI KHÓC

Vo chonh Phu .png 2 Tôi khóc khi tôi bị kéo tuột ra khỏi bụng mẹ để chào đời. Mẹ bảo tôi khóc nhiều lắm, khóc đến tím cả mặt mày, thân thể mới chịu im .
Lạ thật, mắt vẫn còn nhắm, tay chân quơ quào vô thức, dây rốn chưa được cắt ….vậy mà đã khóc . Tại sao ? Lạ hơn nữa, nếu không khóc, không chịu khóc thì sẽ bị bà mụ, ông đỡ xách ngược hai chân dựng ngược đầu xuống, vỗ vào mông, đánh vào đít, móc cả họng …cho đến phải khóc, phải bật ra mấy tiếng tu oa !  .
Tôi không hiểu, cũng không đủ trí khôn để hiểu, để thắc mắc tại sao con người phải tu oa khi chào đời. Và có lẽ cuộc sống đầy kham khổ, công việc đa đoan, gia đình bề bộn nên không ai giải thích cho tôi . Tôi quên bẵng đi theo thời gian cho đến khi khôn lớn, tôi nghe người ta thường than ” Đời là bể khổ ”  tôi mới bắt đầu có một khái niệm, một suy nghĩ về tiếng tu oa ấy và tôi cũng đọc được từ kinh, sách báo Phật, tôi được giải thích. Tôi hiểu và tự nhiên đâm ra oán giận cái bà mụ đỡ đã lạm quyền đã đặt để cái số phận cay nghiệt tự đâu trên thân phận con người bằng cách xách ngược đầu, đánh vào mông, móc cả họng người ta ra để nghe cho được mây tiếng tu oa kia. Phải không, nếu không khóc, không tu oa thì đời đâu khổ. !
Từ đó tôi như ám ảnh về một số phận khốc liệt đang chờ tôi đâu đó ở những ngày sắp đến trong cuộc đời .
Có thấy không người ơi, nếu không tu oa thì tôi đâu phải khóc khi bị đặt ở đầu gióng bên này ( bên kia đầu gióng là em tôi ) để người ta gánh chị em tôi đi tản cư trước năm 1945 để tránh giặc Pháp càn quét giết hại, để tuổi thơ tôi tung tăng theo làn đạn, tiếng bom của giặc, phải chui xuống hầm trú ẩn – nhiều khi mưa, hầm bị ngập nước đến đầu gối, chân hỏng trong nước với trùn, dế lềnh khênh …tránh những làn đạn bay xé gió cắt cành cây làm lá rụng tơi bời …

Rồi ngày gia đình tôi quày quả trở về quê cũ Quinhơn trên mấy chiếc xe đò của Ba tôi vào ngày đình chiến, tôi những tưởng cuộc đời từ nay sẽ được bình yên hạnh phúc. Nhưng không, tôi lại khóc ngày gia đình tôi di tản năm 1973. . . rồi lại quay về. Lại hy vọng bình yên. Nhưng cũng không. Tôi lại khóc năm 1975 lúc gia đình tôi vừa đưa tiễn Ba tôi đến nơi an nghĩ cuối cùng cũng là lúc chúng tôi tất tả vô nam trên chiếc tàu Pháp sau những ngày thất lạc nhau tại Phan Rang trong hỗn loạn  . . . Tôi ngước nhìn trời cao khi nghĩ ngày xưa gia đình tôi tản cư để tránh giặc Pháp, giờ này tàu Pháp giúp chúng tôi di tản để tránh giặc là kẻ thù của Pháp ngày xưa và của cả dân miền nam ngày nay.
Tôi ngồi trên boong tàu cao mà ngẫm nghĩ thấy thấm thía cái vòng lẫn quẩn của cuộc đời và cái cay nghiệt là những con người đã đối xử tàn nhẫn với nhau trên tàu bởi miếng ăn, bởi cái đói, bởi lòng tham vô tận, bởi những trái tim không nhân ái thương người . . . nỗi ám ảnh hải hùng ấy không phai nhạt được với thời gian trong tâm khảm tôi dù thời gian đã đi qua, qua rấ lâu.

Và tôi đã khóc, khóc sưng cả mắt khi gia đình tôi tất cả trở về Quinhon, chỉ còn gia đình nhỏ bé của tôi ở lại Saigon – cư xá Thanh Đa. Tôi khóc như ngày mai không còn được khóc nữa khi vợ chồng tôi suốt đêm ngồi ngoài balcon để bàn tính cách nào cho ba mẹ con tôi sống được với cái chế độ mới như sương mờ khói ảnh này. Chúng tôi gục đầu nhau mà khóc. Biết sống làm sao nếu họ trả thù. Và ” anh đi có về không ” với hai đứa con chỉ mới sáu và bốn tuổi, không tiền bạc, không thân thích ở cái cư xá Thanh Đa mịt mờ xa lạ … Tiếng nức nở, tiếng thút thít nghẹn ngào hoà quyện khói thuốc vấn vương đến mờ sáng …

Rồi tôi tiễn chồng tôi đi ở tù. . .
Con tôi ngây thơ tội nghiệp, ríu rít hớn hở như chim non nắm tay cha tiễn ra tận đầu ngõ Thanh Đa, không biết cha đi ở tù, vui cười dặn dò Ba đi chiều về nghe Ba, nhớ mua kẹo cho con nghe Ba. Chồng tôi đi thẳng không một lần quay đầu lại. Tôi biết anh không dám quay lại sau cái siết chặt vai tôi với môi hôn vội vã, nước mắt chúng tôi đã lưng tròng .

Và chúng tôi xa nhau từ ấy. . .Lao động

Hình như không riêng chồng tôi mà cả miền nam đều tin rằng chỉ đi cải tạo mười ngày. Tôi thì không. Tôi vừa làm muối sả, muối ớt, muối đậu, kho mắm ruố, xếp áo quần mền chăn vừa nói “mười ngày là mười năm đó anh ơi” !  .
Mười ngày biền biệt, mười ngày mẹ con tôi ngóng trông, vẫn biền biệt bóng chim tâm cá. Tôi không thể tưởng tượng được chồng tôi giờ này đang ở đâu trên cái đất nước đau khổ này dù tôi đã lặn lội nắng mưa đi khắp nơi kể cả những nơi đóng quân của họ. Vẫn mù khơi sau mười ngày !  Rồi một tháng, hai tháng, hai năm, ba năm, bốn năm . . .tôi không thể còn tưởng tượng được chồng tôi đang ở đâu  – nhìn đâu cũng không có ! .  Vào một buổi chiều tôi nghe có tiếng ai gọi bên dưới lầu tôi đang ở – ông phát thư. “Có thư nè cô Oanh ơi !” . Tôi như bay xuống ba tầng cầu thang .  Hụt hơi vì mệt và vì hồi hộp , tôi lại như muốn xụm xuống vì mừng – thư của chồng tôi Lê Quang Phú, Phú nằm ngay ngắn trên góc trái của bì thư !
Tôi lại khóc, khóc vì dù không biết nơi ở nhưng đã có tin còn sống. Nhưng lại khóc nhiều hơn khi lá thư với lời kêu cứu ” anh muốn được chết bên mẹ con em , bên gia đình . Anh không muốn bỏ thây ngoài đất bắc, Anh chỉ còn ba mươi tám ký . . .”

Vậy là mẹ con tôi vội vã lo để dành, sắm từng món một  thức ăn, thuốc men, quần áo. . . dắt díu nhau lên xe lửa ra Hà Nội, đổi xe Thăm nuoi tù ở miến Bắclên Yên Bái – Cao Bằng thăm nuôi, mà tận cùng trong tâm tưởng không hình dung được nơi ấy là nơi nào trên bản đồ Việt Nam. Nhưng mẹ con tôi cứ đi, đi thì phải tới. Đi với lòng hăm hở. Tôi một mình với hai đứa con nhỏ dại, với hai trăm ký lô thúc ăn, thuốc men, quần áo. . . lặn lội trèo non, vượt suối băng ngàn, lê lết mười bốn cây số đường rừng với con nắng như thiêu như đốt, bụng đói mệt lã rả rời. . . dĩ nhiên mẹ con tôi đi bộ !  Thương chồng, thương cha chúng tôi ráng xách những nải chuối nặng chĩu đôi vai, đôi tay gầy bé nhỏ – khi đến nơi chỉ còn nửa trái vì quá nặng, quá mỏi mẹ con tôi đành phải kéo lê trên mặt đất !
Rồi mẹ con tôi cũng đến nơi sau năm ngày đi tàu từ Nam ra bắc và một ngày đi bộ đường rừng . . . Mẹ con tôi suốt những ngày gian nan ấy chỉ ăn toàn khoai mì thay cơm vì khi đoàn tàu dừng lại tại các ga, những người bộ đội tràn xuống – loáng một cái không còn một thứ gì  – cơm không đủ cho họ cả ngàn người. Mẹ con tôi làm sao mà chen lấn được với họ !
Tôi lo con sẽ bị bịnh nên nói với chúng để Mạ lấy lon sữa và gói mì cho hai anh em con ăn đỡ đói. “Nhưng Mạ ơi, Ba ở tù khổ lắm, không có gì ăn đâu – để dành cho Ba ..”Tôi ôm con nước mắt chảy dài. Biết trách ai đây hỡi cao xanh !

Gặp nhau mà chết đứng, mà nghẹn ngào. Nước mắt không dám tuôn. Bởi nắm tay, ôm nhau khóc là không được thăm nuôi.  ” Cớ sao lại khóc?  Bộ cải tạo khổ lắm sao ? Oán trách chế độ phải không? ” Tôi đã dặn chồng đừng phạm nội quy của họ, bởi công khó của ba mẹ con không thể đánh đổi bởi những giòng nước mắt đáng ra được được tự do tuôn trào. Tự do đã bay theo mây gió tận đâu đâu rồi. Nên không được khóc hay ôm nhau, nhưng chồng tôi đã can đảm . . cầm tay tôi ! Tôi hết hồn rút tay lại. Nhưng không kịp nũa rồi. Họ đã nổi giận, tiếng quát đã vang lên. Chúng tôi bị bắt buộc ngồi ở trên cùng gần sát cán bộ thay vì được ngồi ở dưới cuối bàn. Nói gì được nữa bây giờ ngoài em ráng làm việc nuôi con thay anh. Ba Mẹ, anh em khoẻ hết phải không em … Anh ráng học tập tốt để mau về với gia đình. Chỉ chừng ấy rồi . . .đã hết giờ thăm nuôi !!!  . Tiếng người cán bộ quản giáo cất lên lạnh lùng vô cảm .
Chúng tôi nghẹn ngào đứng dậy và một lần nữa, chồng tôi đã bất chấp tất cả để cầm tay tôi nói anh yêu em và ráng nuôi con thay anh .

Nhưng có một nỗi đau làm xót cả lòng chúng tôi. Con tôi đã hất tay chồng tôi ra,, trốn sau lưng tôi khóc, nhất định không cho cha chúng ôm bồng. Chúng tôi cố mấy con tôi vẫn nhất mực không  ” không,, không phải là Ba mình. Ba mình đẹp trai lắm. Đây là ông đạp xích lô ! “  . Chúng tôi cố nuốt nước mắt, nhưng nước mắt vẫn tuôn. Đó là nhờ Cách mạng. Cách mang đã  biến chồng tôi từ một con người đẹp trai tuấn tú trở thành một con ngưởi tiều tụy xấu xí để cho các con tôi không nhận ra đó là cha mình. Làm sao trách con hay la con được khi thấy cha mình như bộ xương ma, chỉ còn ba mươi tám ký, đội chiếc nón lá rách, tay chống cây gậy khập khiển đi ra và thời gian đâu chỉ mấy ngày, mấy tháng, vài năm – đã mấy năm rồi. Ra đi con tôi chỉ bốn tuổi, ngày gặp lại đã chín tuổi ! . Con tôi đã nhìn cha mình qua những bức hình ngày xưa ….
L
Chúng tôi đành chia tay nhau. Anh lầm lũi quay vào trại. Anh như chết đứng trên kia đồi nhìn xuống mẹ con tôi, không dám để tay vẫy xuống …..Bóng anh mất hút bên kia đồi như không hề hiện hữu trên cõi đời này !
Mẹ con tôi quay về nam với đoạn đường dài thăm thẳm như bước vào cõi địa ngục mà khi đi chúng tôi vì yêu chồng , thương cha nên không biết mình đang đối diện với cái chết bất cứ lúc nào, chỉ với cõi lòng háo hức, nôn nao, bồi hồi vì sắp được gặp nhau –  cõi địa ngục với trộm cướp như rươi, tay dắt díu hai đứa con lội qua sáu con suối, một cái mãng gập ghềnh theo tay chống của anh Lộc ( anh vui vẻ tự giới thiệu mình, biết chồng tôi. Anh hăng hái giúp mẹ con tôi khiêng đồ lên mãng và không quên thương xót tặng cho mẹ con tôi chén nước trà của anh mang theo kèm một lon guigo cháo nóng . Tôi xúc động đến ứa nước mắt khi nghĩ mình được gặp lại Nước miền Nam thân yêu của mình đã mất – là anh đó anh Lộc. Tôi chỉ được gặp anh hai lần rôi mất hút. Không biết giờ này anh ở đâu anh Lộc hỡi. Cho dẫu thời gian đã không quay lại, nhưng tôi  không bao giò quên anh  – Nước miền Nam Việt Nam mà anh là một phần thực thể. Tôi trăm năm cảm ơn anh đã cho tôi một niềm tin vào con người dù ở hoàn canh nào cũng còn có những người tốt và hãy đấu tranh để mà tự cứu mình . Để sống ) .

Tôi lại khóc một năm sau đó khi giao đứa con trai mười ba tuổi cho người bà con đi vượt biên ( Vì mẹ con tôi cùng đi với nhau mấy lần không thoát ) . Nước mắt chảy hoài khi cầm tờ điện tín báo con đã đến Thái Lan bình yên !  Hai mẹ con tôi lại lặn lội qua con đường địa ngục cũng với thức ăn, thuốc men, quần áo đi thăm nuôi và cũng để báo tin cho chồng tôi biết con trai lớn đã vượt thoát được. Tiếng cười của chúng tôi như xé núi, xé mây, theo gió vang vọng khắp trời. Họ nhìn chúng tôi bằng ánh mắt liếc ngang, quái dị – chắc chồng bà ấy cải tạo tốt nên họ cười vang thế !!!

Đêm hôm ấy, sau khi chồng tôi quay vào trại, cho các con ngủ yên, tôi ra ngồi cạnh bờ suối gần lán. Ánh trăng soi vằng vặc trải khắp núi rừng trong cái bao la tỉnh mịch của đất trời, bàng bạc hơi sương. Tôi như lạc vào một cõi không phải cõi trần gian tôi đang trú tạm – tôi  bước vào cõi mơ một mình . Một mình tôi ngồi đây. Một mình. Một mình nghe tiếng thở dài của mình và của chồng bên kia đồi trong đêm ….Trăng ơi, đêm ơi hãy ôm tôi, hãy ôm lấy tôi cho tôi không khóc vì tôi ở đây chồng ở bên đó. Sao đành cho tôi là người vợ trẻ vẫn xuân thì!. Tôi giật mình tỉnh giấc mơ khuya theo tiếng gió xạc xào len qua khóm lá. Tôi bỗng thấy một điều gì đó len nhẹ vào tâm tư bâng khuâng lo lắng. Tôi thảng thốt khi nhận ra rằng chồng tôi sẽ chịu đựng thế này được bao lâu nữa. Liệu tôi có còn kiếm được tiền để tiếp tục thăm nuôi thường xuyên qua con đường địa ngục khổ ải trần gian này? . Tôi rùng mình không dám nghĩ tiếp …
Như giàn dệt cửi, con thoi đưa theo theo bước chân đạp và tay đưa của người thợ dệt, tôi  lắc lư trầm bổng theo tay đưa và chân đạp của thời gian và cuộc sống để nuôi con, nuôi chồng. Tôi dã khóc tức tửi hai tháng trời sau ngày chồng tôi đi ở tù vì cái chân cà nhắc bị bong gân và sẩy thai . Khốn khổ vô cùng nhưng phải đứng dậy thôi Oanh. Tôi đứng dậy và quên mình, quên mình là ai để bước tới phường xin đi dạy học, xin vào tổ hộp đan len, mây tre lá, dệt thảm …..Nhưng ” chị cứ về rồi chúng tôi sẽ báo cho chị biết sau nhé  … “.  NHÉ đến mòn cả dép , đến chai cả mặt vẫn Nhé , tôi tuyệt vọng và bắt đầu sợ hãi thật sự . Làm sao đây, làm sao có việc gì làm để sống ? . Làm sao !  .
Tôi ngu mà không biết. Ngu lắm, ngu không thể tưởng tượng được mình là thứ ác ôn , có nợ máu với nhân dân ( cánh sát là thành phần bị cho là nguy hiểm nhất đối với chính quyền ) mà đi xin việc ở phường  Mi có thấy mi ngu chưa ?
Không thể nào để cho con thoi nằm yên trên khung cửi, phải dệt cho xong cây vải cuộc đời !
Tôi nằm im một ngày, rồi đứng dậy thay áo quần tươm tất đàng hoàng rồi nắm tay hai đứa con đi. Mẹ con tôi lang thang từ con phố này qua con phố khác, chân mỏi rã rời, bụng đói đến nhẹ tênh … Bỗng như một phép lạ, tôi nhìn thấy người bạn năm xưa Quinhon . Tôi mừng quýnh quán như gặp Cha gặp Mẹ. Bởi đã mấy tháng qua tôi sống với những người xa lạ chung quanh  – hông dám tiếp xúc, không dám đến gần. Chỉ toàn xa lạ. Chúng tôi ôm nhau mừng rỡ với nước mắt vì chúng tôi là những người chạy giặc từ Quinhon vô Saigon tưởng không còn để gặp hôm nay sau một tháng lăn xả, tranh đấu tận cùng sức lực với hoảng loạn trộm cướp, hiểm nguy của buổi giao thời. Chúng tôi sống.
– Chị có làm gì không ?
– Không, chị không làm gì cả. Không biết làm gì thì đúng hơn .
Cô ấy cười .
– Vậy chị có tiền không ?
– Không, nhưng mà có. Có một chút xíu thôi có được không ? .
– Không được, nhưng thôi chị cứ ra em coi giúp cho.
Tôi cầm tay bạn mà run như năm xưa nắm tay người yêu lần đầu. Lần nắm tay này vì vui mừng  mình được cứu sống .
Chúng tôi chia tay nhau hẹn gặp theo lời hẹn của bạn.
Tôi thu xếp lo cơm nước, ra bài tập cho hai anh em ở nhà làm, chiều về tôi kiểm soát. Dặn dò con nhất thiết không mở cửa cho ai vào nhà rồi tất tả ra xe lam đi Saigon. Trời hỡi, con đành phải cắn răng bỏ con ở nhà một mình không ai trông coi để đi kiếm miếng ăn, sự sống cho bốn người – một ở trong tù, ba ở ngoài tù .
– Chị đứng đây chờ em hỉ.
Tôi đứng chờ, đứng chờ, đứng chờ rục rã hai chân nhưng không dám bước ra khỏi cái vòng tôi tự vẽ để đứng. Nếu bước ra thì sự sống sẽ không còn ! .
Cô vẫn vẫy tay cười chào tôi mỗi khi ra vào căn nhà trước mặt có cái hẽm nhỏ vừa cho một người bước vào. Lạ quá, sao lại đi ra rồi lại đi vào, có khi một người, hai người đàn ông hay đàn bà len lén nhìn trước ngó sau rồi bước vô bước ra . Cô ấy vẫn cười nhìn tôi .
– Xin lỗi em để chị đứng chờ lâu. Chị đến đây em giới thiệu người quen để chị sau này có thể một mình tự lo được . , có gì em sẽ giúp.
Tôi bỗng buộc miệng sau cái rùng mình.
– Em ơi, chị không thể làm cái nghề này được. Chị cảm ơn em nhièu lắm hỉ. Chi chào em chị về.
– Chị nói gì vậy. Tại sao không thể làm được.  Em dở thua chị mà còn làm được huống chi chị.
– nhưng em ơi, chị không thể.
Tôi chào ban ra về, nhưng bạn đã vội nắm tay tôi kéo lại với ánh mắt không hiểu tôi muốn nói cái gì.
Sau một phút nhắm mắt như cố tìm lý do tại sao tôi chối từ lời giúp đỡ, bỗng bạn tôi túm lấy tôi ” Á à, thôi em hiểu rồi. Chị nghĩ em làm nghề. . .tầm bậy hả. Trời ơi, không phải đâu, em bán thuốc tây …….lậu ! .
Tôi lại quýnh quán rối rít xin lỗi bạn về điều suy đoán của mình vừa ứa nước mắt .

Vậy là tôi gia nhập đoàn quân thuốc tây lậu từ  đấy. Tôi bây giờ thật sự là con thoi đưa trên con đường từ Thanh Đa qua Saigon ngày hai buổi sáng tối. Tôi len lõi trong đám xuân xanh ấy với đầy đủ thành phần trong xã hội – bác sĩ, kỷ sư, nhà báo, nhà văn, nhà thơ, có học,  không học đủ, lao động chân chính, nhà giáo. . . con đường rất ngắn nhưng không ngắn cho cả mấy trăm con người đứng chụm lại từ các nẽo trên khắp mọi miền của miền Nam thân yêu – con đường ngắn chỉ có mấy trăm mét là thủ đô của người mất nước sa cơ .
Không lâu sau đó các con tôi ra phụ giúp Mẹ lấy hàng giao cho khách. Bóng nhỏ con tôi lọt thỏm trong dòng người hối hả tìm sống – nói sao cho vừa nỗi khổ của con tôi ngày ấy. Tuổi thơ của con tôi đó – bữa đói bữa no trong vòng tay Mẹ ốm gầy, đã hết sức bơi trong dòng xoáy của của cuộc đời mới lạ không phải của mình để cứu chồng cứ con, cứu mình .
Trước lúc ra đi chồng tôi đã dặn, nếu không trở về quê cùng Mạ, anh chị em thì thôi hãy nấu nồi bún bò hay thúng xôi bán để nuôi con chờ anh về. Cho đến một ngày được phép viết thư, tôi kể cho chồng nghe tôi đang làm gì, chồng tôi mừng lắm – tôi nghe trong gió có tiếng anh run rẩy reo vui. Anh căn dặn tôi hãy đóng cửa pharmacie cẩn thận trước khi ra về kẻo bị trôm !. Tôi ôm tôi vừa khóc vừa cười – tôi gạt anh mà nào anh có biết.  ” Pharmacie de la hien ”  là cái nhà thuốc tôi xây trong không khí để gạt chồng, cho anh yên tâm mà ở tù . ” De la hien ” là mái hiên của người ta cho đứng nhờ –  khi vui cho đứng khi buồn đuổi đi !
Bán thuốc tây là một tội trọng, bị bắt phải ở tù lâu năm. Tôi phải hết lòng cảnh giác với công an, kinh tế thị trường. Sự cảnh giác đi vào trong mơ với nỗi sợ hãi nếu chẳng may bị bắt thì ai nuôi con nuôi chồng giùm cho. Người ta gọi chúng tôi là lũ chợ ruồi – bởi công an thấp thoáng từ xa, ở đây đã như cánh đồng ma, không một bóng người. Công an đi thì không biết ở đâu lại vo ve tiếng người hú vía may quá không bị bắt! Không là ruồi thì là gì nữa hỡi anh .
Thôi suy mà chi, nghĩ mà chi, cứ sắm vai với quần áo người ta đưa sẵn. Quên đi, quên hêt đi dù có huy hoàng ngày đó. Tôi từ mang guốc, bị rượt đuổi ngày bao nhiêu trận, té lên té xuống, đổi guốc thành sandal. Sandal chạy kịp, còn chạy nhanh hơn nữa. Đời vui như câu hát cải lương khi ly biệt, khổ đau và đoạ đày o. Tôi càng ca bài ca vọng cổ buồn khi nhan viên cũ của chồng tôi ra tận chợ trời sau mấy ngày đứng bên kia đường theo dõi tôi  ” Bà hãy về nhà chứ không ai biết mình là ai đâu. Đứng ở đây sao tiện “.
À thì ra là vậy, các anh nghĩ chắc tôi muốn che mắt người chế độ mới – chính quyền mới thì đúng hơn – các anh nghĩ vợ chồng tôi ngày xưa ăn hối lộ tiền nhiều lắm thì đứng ở đây không tiện là phải. Tôi cười mếu máo  phải chi tôi có tiền thì tôi đâu có phải mặt mày nám đen nám đỏ, chạy bay cả giày mất cả guốc, thở như sắp chết, bỏ con cho cái nhà vô tri trông coi .
Đời là một vỡ kịch, đời kịch, kịch đời, tôi đâu có ngu mà đánh đổi cái giá quá đắt như vậy cho mẹ con tôi. Tôi thà chết chứ đâu dám đặt mình trong cái kịch đời đó.
Con thoi vẫn nhịp nhàng đưa dù có lúc chậm lại bởi cái tay cái chân mỏi, nhưng vẫn đều đặn ngày một ngày hai, tháng một tháng hai, năm này qua năm nọ – từ nhà ra chợ, về lo cơm nước, giặt dũ, tính sổ coi tiền lời tiền vốn …..xong là một giờ sáng mới được nằm xuống cho cái lưng được giản ra, cho đôi chân cảm ơn vì được duỗi thẳng sau một ngày rã rời …quày quả đi thăm nuôi một thân một mình lầm lũi như con chồn hương trong đêm. Mà cám dỗ thì túc trực chung quanh luôn mời gọi níu kéo tưowngr có lúc buông. Nhưng không, phải cương quyết đứng vững .
Tôi nghĩ đời không là một đóng thử, làm thử mà nhất định chúng ta xhir có một số ngày nào đó để chúng ta hoàn thành ước nguyện. Tôi thử thời vận hay thách thức số phận bằng một cuộc vượt biên đường bộ qua ngã Campuchia. Bị bắt gửi trả lại Vietnam sau khi chi tiền cho công an . Thời vận vẫn còn làm ngơ .
Chồng tôi đã được chuyển về miền nam, trại Z30D Hàm Tân Thuận Hải. Lại bới xách hàng tháng. Nơi nào Nam Bắc cũng phải lo toan, tính toán – ba giờ sáng đã thức dậy để cho kịp chuyến xe vơi tay xách nách mang từ lầu ba xuống bến xe lam rồi qua xe đò ở chợ Bà Chiểu lấn chen .
Niềm vui chưa trọn thì tôi lại đưa chồng tôi vào vỡ kịch đóng nốt cùng tôi – hai cha con lại dắt díu nhau đi vượt biên. Bị bắt và được …….ở tù lại cho đủ …….mười năm như tôi đã nói với chồng khi nghe thông báo của uỷ ban quân quản  kêu gọi ra trình diện học tập cải tạo. Lại thăm nuôi miệt mài. Hai tội Nguỵ và phản động vượt biên như cơn lốc xoáy chồng tôi vào giữa – tung lên hất xuống rồi đổ ập xuống vai tôi. Cơn lốc chưa tan, tôi lại xông ra chống lại. Tôi nghĩ con người bao giờ cũng bị cuộc đời vùi dập nên chi trong hoàn cảnh nào ta xũng phải đứng lên, chen vào mà kiên định xoay trở, trở xoay ngay cả khi ta đón chờ niềm vui, đau khổ săp đổ ập xuống đời mình, ta vẫn còn đâu đó tronng ta cái tình yêu cuộc sống thật nồng nàn và chân chất. Chính đó đã là cứu cánh trong ngày tháng mù mờ không định hướng, không hy vọng .
Tôi lại khóc tiễn con trai út đi vượt biên. Lại khóc lại cười khi nhận tin con đến Thái Lan bình yên. Trời Phật vẫn còn thương gia đinh bé nhỏ của tôi .
Tôi bởi không tin vào cọng sản, nên mới tìm đủ mọi cách để đưa các con và chồng ra khỏi nước trước khi muộn. Chương trình HO có đó rồi lai không. Không rồi lại có – mù mù mờ mờ như phỉnh như dụ mọi người. Tôi mệt mỏi theo dõi và ráng tin vào những bản tin của họ, của nỗi háo hức của những người là máu mủ ruột thịt của chính quyền miền nam thân yêu .
Chương trình im như thóc, hoàn toàn im. Vậy là chúng tôi lại ra đi. Và cuối cùng chồng tôi cũng thóat được qua Philippine . Đêm tiễn chồng tại cầu Bình Triệu , tôi đứng bên hông chiếc xe đò, với tay nắm lấy tay chồng nước mắt như mưa. Xe chạy, chồng tôi cố quay đầu nhìn tôi lần cuối. Rồi mất hút trong đêm. Tôi đứng chơ vơ một mình giữa trời khuya Bình Triệu hắt hiu ngọn đèn đường vàng võ. Trời hỡi, lần tiễn này có được như lần tiễn hai con? Tôi hoảng hốt, tôi chết điếng trong lòng. Không, tôoi không muốn phân ly, chia lìa như thế này. Ai xui ai khiến và vì ai. Vì ai nên nỗi ! .
Tôi lặng lẽ ngồi xuống bên cầu Bình Triệu một mình, lại một mình với trăng sao vời vợi trên cao, với con gió khuya bàn tay lạnh vỗ về tôi. Tôi khóc rưng rức vì thương cho chồng, cho con và thương chính cho thân tôi một mình thật sự đêm nay. Cái thân cò trắng là tôi sao có thể chịu đựng được những vùi dập lớn lao và đau đớn kia. Tôi ngồi ở mạn cầu cho đến khi nghe tiếng còi xe vang lên trong đêm cùng tiếng lao xao chuyện trò của người đi làm sớm.
Tôi giật mình thảng thốt – trời sáng rồi ! Về thôi. Giờ này chắc xe chạy đến Biên Hoà rồi. Về thôi.

Một người thân quen khi nghe tôi kể chồng tôi đã đến Phi, người đã kinh ngạc kêu lên ” Trời ơi, vậy bây giờ nhà có bốn người ở …..bốn nước! ” Tôi cũng giật mình thảng thốt vì nỗi nhớ, nỗi cô đơn đã đánh thức cái tôi lạnh lùng trong những mưu toan, tính toán cuộc đời như một trò chơi. Không ai tin bốn người tôi mỗi người một nước? . Chắc không. Nhưng có đó. Con trai lớn ở Mỹ, con trai út ở Thái Lan, chồng ở Phi và tôi ở Việt Nam ! . Chuyện như cổ tích như giấc mơ dài không thức dậy. Tôi đã nói rồi mà – đời vui như câu hát cải lương !
Đời ơi, tôi đâu muốn thế. Đâu ai muốn thà tủ biệt chứ ai lai sinh ly. Tôi chỉ muốn được song như xưa của tôi – như xưa có cha có mẹ có anh có chị có em . . . Quay quần hạnh phúc bên nhau . Tôi đâu muốn thế này. Nhưng tôi phải sống, đấu tranh cật lực để mà sống như một diễn viên trên sân khấu, tôi sắm đủ mọi vai tuồng với trái tim đầy nhiệt huyết để giữ vững niềm tin nhất định. Nhất định một ngày nào đó ta sẽ đạt được, hoàn thành mông ước của ta. Chưa biết bao giờ nhưng nhất định sẽ ….
Và trong cái mơ hồ chập chờn của tâm thức, của trái tim dẫu đã bị xoi mòn bởi nhọc nhằn, đói khổ vẫn còn đó niềm tin vào tôn giáo rất mãnh mẽ. Mạnh mẽ đến nỗi tôi cho rằng tôi xin là được – cho chồng cho con, cho tôi được an bình và tôi niềm tin cảu tôi đã được Ơn Trên nghe thấy .
Chỉ có điều tôi nghiệm ra rằng con người được sinh ra với tiếng khóc thay cho tiếng cười đã là một biểu hiện của khổ đau nhất định, cái biển trầm luân con người phải có để trầm mình mà chơi với số phận ! . Số phận không giống nhau nhưng ràng buộc khó thoát có khi tưởng như không thể mang vác nổi. Không mang vác nổi thì kéo lê kéo lết. Không mang nổi thì buông, buông thì ….Không, không buông. Kéo số phận trên đôi vai gầy ròm rõi mà đi dù số phận nặng lắm số phận ơi !
Tôi, tôi khóc nhiều nhưng tôi hạnh phúc và sung sướng bởi tôi đã hoàn thành cái trách nhiệm của một con người được sinh ra, được đặt vào một thế giới không phải của mình. Một thế giới bị choáng đầy lừa lọc, dối gian, cạm bẫy …
Nhưng giờ đây tôi đang ở trên chín tầng mây, mười tầng gió. Tôi chao lượn, len lõi trong khóm lá cành cây, trên muôn hoa vàng rực rỡ. Gió ơi  mây ơi, chim chóc ơi ….hãy về đây cùng hát với ta, cùng nhảy múa quay cuồng với ta và hãy lắng yên một chút để nghe ta nói  ” Ta đã hoàn thành mộng ước của ta . Các ngươi có nghe ta nói không , ta nói ta đã được các con bão lãnh và gia đình ta đã sum vầy đoàn tụ một nhà sau hai mươi năm chia lìa xa cách . Các ngươi có nghe không ? . Hai mươi năm biền biệt nay một nhà . Các ngươi nghe ta nói không – hai mươi năm chứ không phải hai ngày hai tháng hai năm đâu nghe …..
Tôi nghe gió cười nghiêng ngữa cùng hoa, cùng chim chóc, cùng nắng ấm hanh vàng tựa như mùa Xuân trên quê hương thân yêu xưa ……
Nước mắt tôi, tôi khóc. Nhưng giờ này nước mắt tôi biến thành những giọt mưa Xuân tắm rửa bụi trần, tắm rửa nỗi nhọc nhằn, cô đơn và chờ đợi dù đã qua một nửa đời người, của tôi .
Đời ơi ! Tôi khóc hôm nay. Lần cuối .

Huỳnh Thị Kim Oanh – dâu khóa I Gà tre Lê Quang Phú .

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Đời Ơi Tôi Khóc_Nguyễn Thị Kim Oanh

TPK Họa Thơ Lệ Khanh

TPK hoa tho LK Chuc Mung Nam Moi

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở TPK Họa Thơ Lệ Khanh

Xuân Đẹp, Xuân Vui _ Thơ Thanh Hoàng

Xuan dep xuan vui _ TH

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Xuân Đẹp, Xuân Vui _ Thơ Thanh Hoàng

Câu Chuyện Thảm Sát Tết Mậu Thân_ K14RD Hoàng Hoa Triều

             CÂU CHUYỆN TẾT MẬU THÂN   

Câu chuyện từ một nhân chứng sống năm 1968 là học sinh mới có 17 tuổi bị bắt tại nhà thờ chính toà Phủ Cam của Tổng Giáo Phận Huế, đưa lên Chùa Từ Đàm rồi dẫn đến khe Đá Mài giết vào đêm mồng 7 tết Mậu Thân nhằm ngày 5 tháng 2 năm 1968 dương lịch, nhưng anh đã thoát được tử thần trước vụ thảm sát tập thể khoảng 30 phút. Trong vụ thảm sát nầy có bạn Lê Văn Mân, khoá 14 Biên Tập Viên, phục vụ tại Ty CSQG Thừa Thiên mà một số báo chí đã đăng tải qua bài tường thuật của Linh mục Nguyễn văn Giải lấy từ cuộc phỏng vấn nhân chứng sống nầy. Đó là vụ thảm sát khe Đá Mài.

  Vụ thảm sát thứ 2 mà nạn nhân là bạn Nguyễn văn Dũng cũng khoá 14 BTV, đương kim Trung tâm trưởng Trung Tâm thẩm vấn tỉnh Thừa Thiên bị chôn sống tại khu vực Gia Hội thuộc quận Tả ngạn Thành phố Huế.

Nhân chứng sống thứ 2 trong vụ nầy là Ông Tuấn, hồi đó với có 16 tuổi, học sinh lớp đệ tam trường trung học tư thục Nguyễn Du. Sau đó Ông là sỉ quan quân lực VNCH và hiện sống tại Hoa Kỳ. Câu chuyện nầy được ghi nhận lại bằng cuộc phỏng vấn khá dài. Người viết đã hệ thống hoá và cô đọng ý và lời văn,nhưng những điễm chính vẫn giử nguyên vẹn.

  Xin nghe ông tâm sự : Vào dịp tết Mậu Thân 68, chúng tôi được ăn tết vào ngày mồng một,nhưng đến đêm mồng 2, súng bắt đầu nổ tại khu chợ Đông Ba vọng qua chợ Xép, nơi tôi đang ở tại ngả tư đường Nguyễn Thành/Mai thúc Loan.

 Lúc đầu,chúng tôi tưởng là pháo nổ khai xuân vì có 48 giờ hưu chiến được thỏa thuận giữa 2 Miền và qúa lắm là tiếng súng hoà lẫn tiếng pháo mừng Xuân của các anh lính VNCH.  Nhưng thưa không. Người ta bắt đầu bỏ chạy từ phía chợ Đông Ba. Lúc nầy chúng tôi được biết là Việt Cộng đã về phiá bên kia là chợ Đông Ba. Chúng tôi bắt đầu hoảng sợ. Tất cả đều chui vào những cái sạp hoặc divan để núp.

  Đến sáng mồng 2, Việt cộng đầy đường.  Chúng mặc đồ đen ngắn tay, quần sọt, tay cầm AK, đi dép râu và đội nón tai bèo.  Trong đám lộn xộn đó cũng có những tên mặc đồ bộ đội.  Tôi bắt đầu phát hiện ra là có những người tôi quen: bạn tôi, thầy tôi.  Người đầu tiên tôi thấy là ông Tôn Thất Dương Tiềm, ông dạy môn Việt văn lớp đệ tam trường tôi.  Hằng ngày ông thường dạy chúng tôi tình yêu thương đồng bào, yêu quê hương, yêu Tổ quốc.  Nhưng Trời ơi! Quý vị có biết không, chính ông Tiềm ngày hôm nay lại là người dạy tôi sự tàn ác của Việt cộng qua chính con người ông. Ông vác súng AK, mặc quần xanh bộ đội chính quy và áo chemise trắng ngắn tay. Tôi thấy ông đang chỉ huy những người mặc đồng phục như ông, tay cầm AK. Chính những người nầy lại chỉ huy những tên mặc đồ đen là du kích.  Trong đám đó, tôi còn thấy anh Hoàng văn Giàu, sinh viên đại học Huế

   Tôi đã chứng kiến sự tàn sát của ông thầy tôi, ông Tiềm tại ngã tư Nguyễn Thành/ Mai thúc Loan vào sáng ngày mồng 2 tết lúc 12 giờ trưa. Những tên du kích bắt 5 người không rõ từ đâu, tay họ bị trói gập ra đằng sau. mặc thường phục và một số khác còn mặc đồ ngũ dẩn ra ngã tư nầy. Lúc nầy cũng có tên Việt cộng nằm vùng Hoàng văn Giàu loong toong chạy theo.

  Chúng bắt các nạn nhân sắp hàng, xoay lưng vô tường thành.  Tôi thấy rõ ông Tiềm, giáo sư của tôi, chỉ huy vụ nầy. Ông ra lệnh cho tên bộ đội chính quy nói giọng Bắc, tên nầy truyền lệnh lại cho tên du kích giương súng AK lên bắn. Trong số nạn nhân trên có ông Quế già cảnh sát đã về hưu và những người khác chỉ là dân sự mà tôi biết mặt từ trước. Tuyệt nhiên chưa có một công chức hay quân nhân nào tại chức, tại ngủ.  Sau đó, thân nhân nạn nhân chạy đến, chồm tới khóc lóc thảm thiết, nhưng những tên du kích bảo họ: cút đi, cút đi .

  Tình trạng thây người với máu, ruồi nhặng dưới ánh nắng kéo dài vài hôm sau ,thân nhân mới len lén đem xác về chôn cất.  Đó là lần bắn đầu tiên và người đầu tiên tôi thấy ra lệnh bắn đồng bào tôi, chính là giáo sư khả ái trước đây của tôi, ông Tôm Thất Dương Tiềm !

   Tôi ở tại góc đường Nguyễn Thành/ Mai Thúc Loan từ mồng 2 tết tức ngày 31-01-1968 dương lịch cho đến khi có sự xuất hiện những chiếc trực thăng của quân đội Hoa Kỳ và VNCH bắn xuống ở cửa  Đông Ba.  Vì thế, Ba tôi quyết định phải chạy để tránh lằn đạn giao tranh.  Chúng tôi chạy về hướng Mang Cá. Thoát được xóm thứ nhất, xóm thứ hai, nhưng  đến xóm thứ ba thì bị những tên du kích chận đường . Chúng bắt tôi đi khiêng đồ gồm quân dụng, thực phẫm. Dẫn đi được một hồi, tôi thấy chúng tập trung được 5 người cùng xóm với tôi và đưa đến chùa Diệu Đế. Tại đây, lúc đó có độ mười mấy người trạc tuổi tôi.  Chúng sai chúng tôi đi khiêng gạo cơm, đạn dược.  Sau đó, chúng đưa về phiá Gia Hội sống chung quanh các nhà cư dân. Chúng bắt chúng tôi khuân vác trong mấy ngày liền. Những ngày hôm sau, từ phía chợ Đông Ba , chúng tôi thấy máy bay bắn xuống rất rát. Tôi đoán chắc là lính VNCH bắt đầu phản công.  Ngay tối hôm đó, thay vì đi dân công như thường lệ, chúng phát cho chúng tôi cuốc để đào hố. Thoạt tiên tôi nghĩ hố nầy dùng để núp bom đạn từ máy bay bắn xuống. Mười mấy người chúng tôi khi màn đêm buông xuống là đi đào hố, bề sâu 1 thước, bề rộng khoảng 1 sải tay-1thước 60 phân-. Mỗi thằng đào một hố. Xong hố nầy, đào hố khác  như đào tuyến công sự phòng thủ vậy.  Đến 3 giờ sáng, tôi thấy một đoàn người từ xa xa đi về phiá chúng tôi. Khi đến gần, thấy họ bị trói cập cánh. Mỗi toán khoảng 15 người bị cột chùm lại với nhau bằng dây điện thoại. Mỗi cái hố chúng tôi đào bằng cở đó. Số nạn nhân nầy có kẻ mặc thường phục, đồ ngũ, đi dép hoặc chân không. Chúng bắt họ quay lưng vào miệng hố.  Một tên Việt cộng mặc áo trắng, quần xanh bộ đội, đội nón cối đọc bản án” tội ác với nhân dân, với cách mạng”. Vừa đọc xong bản án, tên du kích mặc quần sà loỏng đen dùng AK chỉ bắn một người thôi. Nạn nhân nầy rơi xuống hố, những người còn lại bị dính chùm ,cũng bị lật ngữa và té xuống hố. Họ lăn lộn bên dưới. Tên VC chính quy miền Bắc bảo chúng tôi: lấp lẹ, lấp lẹ! . Tôi không lấp, nó đánh tôi. Tôi khóc thương cho đồng bào xấu số của tôi và trả lời: không lấp!. Nó dùng bảng súng AK dọng vào lưng tôi và dùng lưởi lê đâm nhẹ vào ba sườn tôi.  Tất cả chúng tôi đều khóc, chúng đánh tiếp, buộc lòng chúng tôi phải lấp. Trời ơi! Phật ơi! Đồng bào tôi dưới hố đang ngước lên nhìn chúng tôi. Trời ơi! Không lấp thì chúng nó đánh, mà lấp thì đồng bào tôi chết. Có vài người ngẩng đầu lên vì bản năng sinh tồn,chúng dùng bảng súng đánh vào đầu cho chết luôn.  Lạy Trời! Lạy Phật! chưa có thằng nào tàn ác như vậy. ( vừa kể, vừa khóc)

   Đến giờ phút nầy, tháng 2 năm 2008, tôi vẫn bị cơn ác mộng, vẫn nằm ngũ thấy ánh mắt của đồng bào tôi từ dưới hố đang nhìn lên tôi, miệng đầy đất. Họ nằm ngữa, nằm nghiêng trong cơn tuyệt vọng!

   Từ những đợt sau, chúng không bắn vì xẹt lửa ban đêm, sợ lộ mục tiêu.  Những lần nầy, sau khi tên mặc áo trắng cụt tay đọc bản án, thì tên du kích dùng bảng súng AK đánh vào đầu người thứ nhất làm té ngữa xuống hố, vì dính dây chùm, những người kia cũng bị ngã theo . Ai ngoi đầu lên, chúng dùng bảng súng hay cuốc nện vào đầu cho chết luôn, sau đó bắt chúng tôi lấp. Những cái sọ nào sau nầy đào lên mà thấy vở là nằm trong trường hợp đó khiến tôi chợt nghĩ là 5 người bị bắn đợt đầu tại chợ Xép là chết sướng lắm, không qúa thảm thương như những lần sau đâu! Tôi thấy kiểu Hitler giết người Do Thái chỉ cần xả hơi ngạt là chết liền, chết êm ả hơn là chết chôn bị nhộp và bị đánh vào đầu! Suốt mười mấy ngày đêm, chúng bắt được bao nhiêu thì chúng tôi phải đào hố và chôn sống bấy nhiêu.

   Mấy ngày trước khi thành phố Huế được  giải toả, lính VC tràn về phía Gia hội nhiều lắm. Độ năm, sáu trăm người. Có lẽ bị quân lực VNCH rượt đuổi nên dồn về đây.

  Những đêm sau, khi trời vừa nhá nhem tối, trực thăng rọi đèn bắn xuống, VC bắn lên , trên bắn xuống. Lúc đi đào hố có độ mười mấy người, nhưng tôi chỉ có 4 người cùng xóm quen nhau.  Tôi bàn: với tình trạng nầy mình phải lợi dụng cơ hội để trốn thoát vì trước sau gì chúng cũng tìm cách thanh toán bọn mình . Vì khoẽ mạnh, đô con nhất trong đám nên nói gì 3 người kia cũng nghe theo tôi.  Tôi nói nhỏ khi máy bay bắn xuống lúc sập tối , hể tao nháy mắt là bọn mầy chạy về hướng mà chúng nó không chạy,chạy ngược chiều nó, thì còn hy vọng sống sót dù là mong manh. Thà máy bay bắn chết còn sướng hơn là đến lượt bị chôn sống.  Và cuối cùng tôi nháy mắt vừa lúc máy bay bắn xuống.  Bốn chúng tôi phóng vào bụi cây. Việt cộng bận bắn máy bay và chúng tìm nơi ẩn núp..  Chúng tôi đâm đầu chạy tiếp, nhưng thằng sau hết cùng xóm bị trúng đạn AK, rớt lại.  Ba chúng tôi cắm đầu chạy, chạy mãi cho đến khi thấy một vùng sáng có đèn, có xe nhà binh, chúng tôi hét lên : cứu ! cứu ! và thấy anh lính VNCH  mặc đồ rằn ri mang khẩu M.16. Chúng tôi lại la lên : cứu! cứu!Người lính nầy biết là dân mình rồi, ảnh giơ tay ngoắt lại.

  Trời ơi! mấy chục ngày ở trong tay VC, lần đầu tiên gặp lại anh lính VNCH, tôi chạy tới ôm ảnh vào lòng mừng như mẹ đi chợ về, vừa khóc vì qúa xúc động.  Không ai bảo ai, ba chúng tôi ôm ảnh khóc nức nở; cái lòng yêu thương dạt dào người lính VNCH dâng lên trong tôi, một người mà mình cảm thấy có sự bảo vệ.  Anh vuốt đầu tôi, nói : không sao đâu em. Tôi kể lại đầu đuôi câu chuyện. Ảnh cho ăn, tắm rữa,mặc đại đồ lính.

   Sau khi lấy lại thành phố Huế, tôi là người chỉ dẫn những địa điễm mà VC chôn sống đồng bào tôi. Bây giờ tại đây, tất cả những người bị bắt buộc đào hố như tôi, ngoài ba chúng tôi thoát được, tất cả đều bị bắn vào đầu chết tại chổ, trước khi chúng tháo chạy. Sau đó tôi mới chỉ những hầm đã đào.  Tôi còn nhớ những bộ quần áo đồng bào tôi đã mặc. Vẫn còn liên tưởng đến những ánh mắt nhìn lên tôi…ám ảnh…khiến tôi chạnh lòng đến quặn thắt tâm can.

  Mãi đến bây giờ con ma Mậu Thân vẩn ám ảnh cuộc đời tôi . Tôi đã phiêu bạt giang hồ bỏ Huế đi từ dạo đó, quyết không bao giờ trở lại.

  Tôi sợ Huế không phải sợ quê hương tôi mà sợ cái qúa khứ khốn nạn do Cộng sản Việt Nam đã gieo hoạ cho Huế. Mỗi lần đài phát thanh nhắc tới Huế hoặc hát nhạc về Huế, tôi tắt radio. Tôi cũng sợ cả giọng Huế. Hể nghe ai nói giọng Huế là tôi giật mình ( như khi nghe Công Tằng Tôn Nữ Ngự Bình nói chuyện trên sân khấu Thuý Nga Paris ).  Cái bóng ma nầy đã 40 năm trôi qua vẫn ám ảnh tôi.

  Huế bây giờ tội nghiệp lắm người ơi ! Nó có tên đường Mậu Thân và đường 68. Người dân Huế phải đi qua hai con đường đó bởi chủ nghĩa Mác Lê gian ác còn tồn tại trên quê hương thân yêu của tôi./

   Con người Tôn Thất Dương Tiềm-  Theo tuần báo Sàigòn Nhỏ số 595 ra ngày 9 -5-2008 trong bài viết của Long Hải có đoạn : Cha con “đạo hữu” Nguyễn Đoá ,con gái Nguyễn thị Ngọc Trinh cũng như con rễ Tôn thất Dương Tiềm gần 20 năm vừa sống nhờ vào trường Bồ Đề Huế, vừa hoạt động cho VC. Cuối cùng tới tết Mậu Thân ôm súng đi bắn giết đồng bào. Không lý việc ấy không khiến cho người dân Huế. khi oán trách cha con

Nguyễn Đoá, lại không nhớ tới cái bóng cây Bồ Đề mà cha con ông ta núp bóng mấy chục năm. (Trước năm 1975, giáo sư tư thục có thể dạy hai trường tư. Như vậy ông nầy vừa dạy trường Bồ Đề lại dạy thêm trường Nguyễn Du.)

  Ông Tuấn hồi năm 1968 mới có 16 tuổi và ở trong tay VC suốt mười mấy ngày liền, nên không nêu được thời gian chính xác lúc nào quân lực VNCH và Mỹ phản công chiếm lại Huế. Xin nghe lại một đoạn văn của Tú Gàn viết trên Sàigòn Nhỏ số 594 ra ngày 2-5 -08 sau đây: VC bắt đầu tấn công Huế lúc 2 giờ 35 phút sáng 31-1-68 tức sáng mồng 2 tết. Số Cộng quân đưa vào chiếm đóng thành nội Huế khoảng 4000. Số còn lại chiếm một số khu ở ngoại thành . Bộ Tư Lệnh quân khu Trị Thiên không bao giờ tiên liệu sẽ phải đối phó với sư đoàn 1 không kỵ Hoa Kỳ. Trong 10 ngày đầu Sư đoàn nầy đã án binh bất động. Đợi đến khi VC thiết lập xong các cơ sở quân sự, hành chánh với ý định chiếm giữ Huế lâu dài, lúc 16 giờ ngày 10-2-1968, sư đoàn 1 không kỵ Hoa Kỳ mới bắt đầu mở cuộc hành quân tảo thanh VC, đầu tiên từ phiá hữu ngạn sông Hương. Kể từ ngày 14-2-68, không lực Hoa Kỳ bắt đầu dội bom xuống đầu Cộng quân đang đóng trong thành nội Huế (tả ngạn sông Hương).

  Bùi Tín và vài người khác nhận định rằng sở dĩ cộng quân đã thảm sát đồng bào Huế vì bị phản công, lập luận nầy không đứng vững bởi ngay từ mồng 2 tết, chúng đã thanh toán 5 người tại ngã tư Nguyễn Thành/ Mai thúc Loan. Còn tại Chùa Từ Đàm đã có 20 nạn nhân bị bắn  trong sân Chùa ngay sau khi chiếm Huế. Vụ thảm sát khu Đá Mài trong đó có bạn Lê văn Mân cũng đã xảy ra vào đêm mồng 7 tết tức mới đến ngày 5-2-1968 dương lịch.

Những tên VC nầy là bọn nằm vùng mà trong đó có một số sinh viên, học sinh trong cuộc đấu tranh năm 1966 do tên đại gian manh Phạm Văn Bồng đội lốt thầy tu phát động chống lại chính quyền Trung Ương do Thiếu Tướng Nguyển Cao Kỳ, Chủ tịch ủy ban hành pháp trung ương điều hành. Sau khi quân đội và Cảnh sát Dã chiến từ Sàgòn ra giải toả, bọn nằm vùng nầy chạy lên núi, nay trở về phối hợp với những thành phần  nằm vùng năm 1968 để ra tay hành động. Chúng đã lập rất kỹ danh sách những người chúng coi là “phản động”, kể cả những trường hợp tư thù cá nhân, trước khi chiếm Huế./

                                    Hoang Hoa Trieu

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Câu Chuyện Thảm Sát Tết Mậu Thân_ K14RD Hoàng Hoa Triều

Người bạn mới

Đêm hôm qua Chủ nhật 16 tháng 2 năm 2014 Hội Tương Trợ CSQG VNCH tiểu bang Washington tổ chức Họp mặt mừng Xuân Giáp Ngọ. ( Hình ảnh sẽ gởi lên sau) Trong buổi họp mặt nầy có sự hiện diện hay nói đúng hơn là ra mắt của một đứa EM ÚT. Đó là một CỰU SINH VIÊN SĨ QUAN HVCSQG KHÓA 10, khóa cuối cùng của Học viện.
Căn Nhà Nhỏ liền đến hỏi thăm và làm một cuộc phỏng vần bỏ túi. Anh ta tên là Hồ Văn Định Anh vừa qua Mỹ chưa tròn một tháng (18/01/20140). Anh sang Mỹ theo diện bảo lãnh.
Anh Định cho biết vì Khóa 10 đang học dỡ dang chưa mãn khóa, nên sau 30 tháng Tư chỉ đi cải tạo 3 ngày. Anh thuộc Đại đội 33 khóa sinh do NT Phước làm Liên đoàn trưởng . Trung úy Hòa QNBP làm Đại đội trưởng. . .Ba của anh Định là cựu Thiếu Tá Hồ văn Bình trước làm ở Trung tâm Tiếp Liệu Hậu Nghĩa. sang Mỹ theo diện HO nhưng bị ung thư và đã mất cách nay 2 năm. Anh Chị Định hiện nay cư ngụ tại thành phố Seattle . Anh còn mấy đứa con còn ở lại bên Việt Nam nhưng công ăn việc làm ổn định. Hiện nay anh Đinh đang cố gắng  thi lấy bằng lái xe sau đó sẽ kiếm việc làm. Quí NT và nhất là các bạn đồng môn Khóa 10 có thể gọi hỏi thăm qua số phone: (206) 612.7853
hoặc email: hovandinh@gmail.com.
IMG_5075
K1 Nguyễn công Vinh và K10 Hồ văn Định
IMG_5078Chúng tôi đang làm quen với nhau
IMG_5126Giảng sư Nguyễn Ngọc Vỏ thay mặt Hội TT CSQG VNCH WA
tặng quà cho anh Định
IMG_5127 IMG_5205 IMG_5206Hai bạn khóa 9 đến thăm và chụp hình với anh bạn Khóa 10
IMG_5063 IMG_5074

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Người bạn mới