Lời Đầu Năm . .

Loi dau nam _le thi xuan

Thế là đã 20 năm xa quê, tôi vẫn khắc khoải thương nhớ quê hương, nơi mà mỗi góc phố, mỗi con đường còn ghi đậm trong tim tôi..

          Cũng như anh, người bạn đường của tôi, mỗi mùa xuân tới, là một háo hức được về thăm quê Mẹ, nhưng cũng mỗi mùa xuân tới, vẫn còn lưu lạc nơi đất khách, chúng tôi lại se sắc niềm đau vì lại thêm một lần thất hứa và lại thêm một lần hứa sẽ trở vế.

            Dù “tuổi già giọt lệ như sương”, trong khóe mắt cay cay nỗi ngậm ngùi. Tôi chia với anh “nỗi đau chưa được về như đã 19 lần hứa sẽ về:

                            Noi buon nho me                                     Me  Hai mươi mùa xuân nơi xứ lạ,
Hai mươi lần. con hẹn sẽ về,
Con Vẫn còn nguyên bao ước nguyện
Vẫn còn nguyên vẹn khối tình quê

Nhớ buổi ôm hờn xa đất Mẹ
Trời mây trắng xóa một màu tang.
Lệ con chảy ngược vào tim máu
Xương óc con ghi lẽ bẽ bàng.

Mười chín năm dài nghe Mẹ gọi
Khắc khoải căm hờn ngập núi sông.
Đất khách bồi thương nhớ Mẹ
Ray rứt niềm đau, xé cõi lòng.

     Tiếng Mẹ vực con đứng thẳng người
Giúp con tiếp bước với cha ông
Hồn thiêng quyện mãi vào hơi thở
Con quyết trở về với Quê hương.

Con nhớ nỗi buồn nơi mắt Mẹ
Mẹ ơi, con Mẹ tóc ngã màu
Sương gió làm con thêm nhớ Mẹ
Xa Mẹ, đau hoài một  nỗi đau

        (Tống phước Hiến – Nỗi buồn nhớ Mẹ)

Tôi, người chị cả trong gia đình có 8 người em, bố là Hạ sĩ quan Nhảy dù, mẹ tảo tần. Như những gia đình khác, cuộc sống bình thường, chúng tôi cũng được đến trường. Nhưng biến cố Tết Mậu thân, ba tôi phải giải ngũ vì bị thương nặng. Biến cố nầy lôi tôi ra khỏi học đường. Tôi gia nhập vào Lực Lượng Cảnh Sát Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa phục vụ tại “Ban Thăng Thưởng và Thuyên Chuyển” thuộc Bộ Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa  (BTL/CSQG/VNCH). Tuy thế, các em tôi vẫn được tiếp tục đến trường.

Đầu năm 1973, tôi gặp một Sĩ quan mới tốt nghiệp và được BTL/CSQ VNCH chọn về phục vụ tại BT/CSQG. Qua giao thiệp, anh cho biết đã làm đơn xin ra đơn vị. Theo hệ thống hành chánh, đơn của anh nằm trong hồ sơ xin trình ký của tôi. Đơn anh viết”Tình nguyện phục vụ trên toàn lãnh thổ VNCH”, gây trong tôi vài ý nghĩ. Tôi giúp anh ra khỏi BTL/CSQG.Thời gian sau, anh gởi thư cám ơn, nhờ vậy, tôi biết anh phục vụ tại một buôn trên cao nguyên, đó là vùng chướng khí, hầu hết là người Thượng, an ninh khá nguy hiểm. Tuy thế, anh vui lòng và không hối hận. Tin qua thư lại, cuối cùng chúng tôi là của nhau.

Đám cưới chúng tôi, anh về trước một ngày, hôm sau chúng  tôi hưởng “Tuần trăng mật” nơi anh trú đóng, nhưng không có “tuần trăng mật “ vì đêm ấy, trận đánh diễn ra ngay nơi thị trấn nhỏ bé và heo hút nầy. Sáng sớm hôm sau, tôi gấp rút về lại Sài gòn. Đó là những ngày đầu tháng 12/1974. Từ đó, tôi sống trong lo âu hồi hộp, tin tức loan đi, thất lợi nghiêng về phía chúng ta.

Khoảng đầu tháng 3/1975 lâu lâu lại có dăm ba người tìm tôi với mấy dòng chữ của anh giới thiệu họ là những chiến hữu thuộc cấp, họ cần sự giúp đỡ của tôi. Còn anh, chưa thể về như những người lính nầy. Yêu nhau gần hai năm, đám cưới trong vội vàng, thời gian sống bên nhau được tính bằng phút, bằng giờ, rồi biền biệt xa nhau. Giữa tháng 4/75 anh trở về với vẻ hốc hác phong sương, chiếc chiến y sờn rách bạc màu.

Sáng 30/4/1975, ông Dương văn Minh ra lịnh đầu hàng, tôi khóc cho vận nước. Còn anh bất động đôi mắt đỏ, giọt nước mắt của anh lặng lẻ rơi.

           Sáng ngày phải đi trình diện, anh lấy mấy chiếc áo tôi mua sẳn để đón chào đứa con đầu lòng, chính tay anh thêu tên đứa con yêu sắp chào đời. Anh dặn tôi chuẩn bị cho anh ít vật dụng và khi nghe tiếng súng cướp tù thì đừng kiếm, anh quyết định tham gia vào cuộc kháng chiến mới. Biết tính anh, biết những ước mơ của anh, tôi chấp nhận định mệnh với bao khổ nhục đang chờ. Tiếng súng cướp tù không có, anh và đồng đội của anh sẽ phải gánh chịu những nghiệt ngã.

Đến trại Suối máu được khoảng tuần lễ, bên nữ chúng tôi bị đưa về Thành Ông Năm, Hóc Môn do Đoàn 500 cộng sản quản lý. Trại chia làm hai khu cho nữ Sĩ Quan Cảnh Sát và Quân đội. Chúng tôi bị chia thành nhiều nhóm, tương đương trung đội gọi là B. Chen chúc trong một diện tích quá nhỏ hẹp, phải nằm nghiêng, chẳng có mùng mền nên chúng tôi trở thành những con mồi béo bở, nơi cung cấp máu cho đàn muỗi tham lam, say máu.

Lúc nầy, tôi đang mang thai vào tháng thứ 7, thai nhi lớn dần cần dinh dưỡng để phát triển. Dinh dưỡng không có, cơ thể tôi mất dần sức đề kháng, Đã thế, môi trường sống lại quá dơ bẩn. Thiếu đói, dơ bẩn , muỗi rệp cùng tấn công, không đủ nhu cầu, con tôi hờn lẫy đạp tứ tung, Đau đớn, đói, muỗi rệp, và thù hận ti tiện từ kẻ thù làm tôi đuối sức.

          Cuối tháng 8/1975, tình trạng sức khỏe của tôi sa sút trầm trọng. Sợ trách nhiệm nếu tôi chết, Ban quản lý trại giam của cộng sản tạm tha với lý do ghi trong giấy: ” có thai sắp đẻ”.

          Gia đình tôi phải dọn đi khỏi thành phố Sài Gòn để chấp hành lệnh “hồi hương lập nghiệp”. Gia đình thím tôi dọn lại về căn nhà nầy, chú tôi còn thất lạc. Quá yếu, tôi đành phải nán lại chờ ngày sinh đẻ. Đầu tháng 9/1975 đau chuyển bụng, tôi đến Bảo sanh viện Từ Dũ. Cháu bé đầu lòng của chúng tôi cất tiếng chào đời. Tủi mừng,hân hoan và oán hận trộn lẫn trong giòng suy nghĩ. Ráng gượng nhìn, biết cháu là gái, hao hao giống bố, rồi tôi bị băng huyết… ngất xỉu. Tỉnh dậy, máu ướt đẫm cả quần áo.Tôi bị đuổi khỏi bảo sanh viện ngay khi bị phát hiện lý lịch, dù trong tình trạng hiểm nghèo. 10 ngày sau, tôi tìm đường về với gia đình.

*

*  *

          Nơi gia đình tôi tá túc là mái lá xơ xác, dấu vết chiến tranh lưu lại,  những hố bom, đạn, lựu đạn và mìn. Vì sự sống, người ta phải làm bạn với tử thần.Sức còn yếu, tôi lo cơm nước và chăm sóc các em để ba mẹ tôi có thời gian khai phá thêm đất canh tác. Cứ mỗi lần nghe tiếng nỗ, lòng tôi lại se thắt lo sợ. Tôi không thể làm gì hơn ngoài cầu xin các đấng thần linh che chở.

          Một tháng sau, đang cho con bú; tôi nghe tiếng xuồng máy hướng về phía nhà chúng tôi cư ngụ, rồi tiếng la hét, tiếng chân chạy, nhà tôi bị bao vây. Tiếng lách cách lên đạn, tiếp đến là tiếng quát ra lịnh:

-Chị Lê thị Xuân, chấp hành mệnh lệnh sẽ được khoan hồng.

Chưa kịp kéo vạt áo xuống thì hai mũi súng đen đã áp sát. Tôi ghi vội mấy chữ cho gia đình biết, quơ theo vài vật dụng như tả lót, và ít áo quần. Tay bế con, vai tòn ten bị lát, hai mẹ con tôi đi giữa hàng súng lăm lăm. Chiếc tác ráng xé nước lao đi.

Tôi bị chở đến trại giam Đám Lát. Vì là người đàn bà duy nhất có con dại, nên tôi được nằm dưới nhà bếp. Những người bạn tù cho tôi mượn mấy tấm bao bố đựng gạo, tôi trải thêm cái khăn lông tắm còn đậm mùi mồ hôi của bố cho con nằm.

         Chuyện vệ sinh của tù được giải quyết tại một đìa nước nhỏ. Khi nào thủy triều lên cao mới mong có chút nước từ sông cái tràn vào, vì vậy nước trong đìa là nước tù có nhiều phèn. Như bao nhiêu người tù khác, tôi đói vật vã, đói triền miên, lúc nào cũng thèm ăn, thèm từng hạt cơm rơi, từng chót mẩu khoai hà. Dinh dưỡng không có, môi trường sống dơ bẩn; tâm trạng luôn lo sợ, thương nhớ, và mong ước, tất cả tạo thành áp lực đè lên mạng sống, sức khỏe tôi sa sút theo từng ngày. Nhìn đứa con gái yêu quý, thoi thóp thở. Cháu bị nóng sốt gần như triền miên. Nụ cười trẻ thơ đã mất từ lâu trên môi mắt thơ dại, chỉ có tiếng khóc xé lòng vì đau đớn và đói sữa. Hệ lụy của dói vì thiếu sữa là toàn thân cháu bị những nốt đỏ như muỗi chích. Chiếc mùng lúc mang theo nay đã mục rách, những con muỗi tai ác vào được, hút máu trên những những hình hài èo uột và mong manh. Tôi không phân biệt được là vết muỗi chích hay dấu hiệu của tai ương. Đầu cháu sài lỡ, những nốt đỏ phồng to hơn và khi bị vỡ thì nước nhầy màu hồng nhạt chảy và cứ thế gần như trên thân cháu không còn nơi nào là không ghẻ lỡ. Móng tay móng chân cháu bị thối, và sứt lìa. Tôi chẳng làm gì được cho con ngoài những dòng nước mắt. Nhìn con, nhìn mình, toàn là tủi nhục. Tôi bất lực nhìn tử thần đang tiến sát với con. Dù biết hèn, nhưng phải tìm cách cứu con, tôi chịu nhục, hạ mình xin thuốc cho con. Đáp lại là nụ cười khẩy, ánh mắt thỏa mãn trả thù ti tiện, họ bịt mũi và xua đuổi mẹ con tôi ra xa. Có lẻ giọt lệ đã cạn hẳn, tôi nuốt uất hận và tình người vào sâu trong tiềm thức. Héo hắc, ôm con vào lòng, thương nhớ chồng vô hạn, tôi thầm hứa sẽ không bao giờ xa con. Tôi sẽ vĩnh viễn giả từ cuộc đời nầy với con nếu con tôi không còn đủ sức chống chọi với nghiệt ngã, âu đó cũng là phương cách để chúng tôi được bên nhau. Lưỡi hái tử thần vẫn thường đến thăm, cái chết đối với chúng tôi chỉ còn là vấn đề thời gian.

Bất ngờ, tuần lễ trước ngày cộng sản gọi quốc khánh. Một toán người đi ngang chỗ mẹ con tôi. Mùi hôi từ chúng tôi khiến họ khó chịu. Họ gọi tôi đến hỏi vài câu và mấy hôm sau, mẹ tôi được tha ra khỏi trại giam.

Tôi bồng con khấp khễnh trên con đường khấp khễnh đến tương lai. Một năm qua, kể từ ngày mẹ con tôi bị bắt lại, căn nhà như xiêu vẹo hơn. Ba Mẹ tôi vẫn phơi mình giữa cơn nắng gắt kiếm miếng ăn cho các con. Các em tôi chẳng biết đi đâu. Căn nhà vắng nhưng nồng ấm lạ thường.

Lấy lại được sức khỏe, tôi bế cháu về Sài gòn thăm bà mẹ chồng, và tìm cách bế con thăm chồng. Nhưng, mẹ chồng tôi đã về bên kia cõi sống. Thắp nén nhang, bế con trên tay vái lạy bà nội, nước mắt tôi thấm ướt vai áo con. Cháu bé ngây thơ nhoẽn miệng cười. Trở lại căn nhà ba mẹ tôi ngày xưa, thím tôi cho biết tin về chú,  tôi nhận được mấy lá thư của chồng tôi mà thím nhận được đã khá lâu. Tôi đắn đo rồi viết thư báo anh biết tin buồn, người Me yêu kính của anh đã vĩnh viễn xa anh . Những giọt lệ thấm trên trang giấy.

Sau một năm chắc mót tiện tặn, tôi bế con ra thăm anh với ít quà. Gần một năm, không nhận được thư anh, ruột tôi như lửa đốt, tôi dắt con tìm ra trại cũ. Được biết anh đang bị cùm, kỷ luật,  tôi lại khóc. Thức ăn thăm nuôi tôi nhờ các chị cũng thăm nuôi chồng chuyển lại cho những anh thiếu điều kiện.

Không gặp được chồng, tôi buồn lắm, nhưng tôi không là bất ngờ vi tôi hiểu anh, tôi không phiền trách anh, trái lại lòng tôi có chút ít nhè nhẹ của sự tự hào về tư cách của chồng . Nhìn con ngủ trong vòng tay, lại thêm nhớ thương.

Sau lần bị cùm, anh chuyển trại, và cùng chung trại giam với chú tôi. Chú tôi được tha về năm trước. Chú cho biết những chuyện trong tù và ngầm cho biết chồng tôi là một trong những người khó có ngày về.

*

*   *

Đời tôi, trời dành cho nhiều bất ngờ. Một bưổi chiều, tôi nghe tiếng máy chiếc tàu đò cặp trước bến nhà. Tôi thấy chú tôi lên trước, đưa tay cho một người khác bước lên theo. Ôi, chồng tôi đó! chồng tôi đó sao?.Từ cõi chết, chồng tôi đã trở về!? Tôi chẳng còn thấy gì nữa. Không gian vần vũ rồi bất động. Không gian bất động hay chính tôi  bất động?. Tôi muốn chạy đến ôm  người chồng còm cõi, nhưng chân tay tôi không nhấc lên được. May quá cảm xúc điếng người ấy thoáng qua khi anh ôm lấy người tôi. Tôi nhìn anh, mắt anh vẫn khô ráo, nhưng dường như có một ngấn lệ lạc loài trong tận cùng của hốc mắt.

Ngày bố đi tù ,con còn trong bụng mẹ. Ngày bố về con đã lên tám. Cháu đã chịu ngồi trên chân bố. Nhìn hai cha con, tôi thấy bóng dáng hạnh phúc đang trở về.

Công an xã cho biết, chồng tôi phải lập sỗ trình diện và phải trình diện công an xã mỗi buổi sáng. Không được ra khỏi xã nếu không có giấy phép. Bất cứ lúc nào cũng phải có mặt nếu có lịnh gọi. Mỗi năm phải đóng 26 ngày công lao động xã hội chủ nghĩa, và phải tự túc mọi thứ từ cơm ăn thức uống thuốc men và cả dụng cụ lao động.

Ban ngày anh đi làm mướn, tối lén ra chợ Sa Đéc làm phu khuân vác. Sức khỏe của anh vơi dần theo tỷ lệ ngược với đồng tiền kiếm được, cuối cùng anh gục ngã vì bạo bịnh. Phổi bị khô nước, tim bị lệch, sạn thận, bao tử, sán lải ùa vào tấn công anh. Không còn tiền, tôi đành đau đớn nhìn anh và chờ đợi tai họa xảy đến. Nhưng lại thêm một bất ngờ, Người chị cả của anh thất lạc từ ngày anh lọt lòng mẹ. Biền biệt không tin tức. Trước đây anh có kể về chị, và anh có gặp được chị một lần khi lén công an xã ngược xuôi chèo mướn. Anh hẹn sẽ đem mẹ con tôi về thăm chị. Rồi anh bị bịnh, lời hứa kia chẳng làm sao thực hiện. Chờ lâu quá, chị tìm thăm chúng tôi. Gặp nhau trong cảnh ngộ có bóng tử thần lấp ló. Chị bao ghe và chở anh về nhà chị chạy chữa. Nhờ tận lực, chị đã giành được mạng sống của anh.

Đây là lần thứ hai, anh đứng dậy, xoay lưng với tử thần. Gia đình chúng tôi lấy lại sinh khí, tôi sinh cháu bé thứ hai và cũng là cuối cùng. Anh hết chèo ghe mướn, hết làm thuê, qua làm nghề thú y, chích dạo, làm thủ kho lò đường. Còn tôi, từ sạp bán đồ tạp hóa, thành cửa hàng bán vải, thuốc tây, dụng cụ học sinh, rồi nơi cung cấp hàng may sẳn. Đời sống sáng dần, chúng tôi trả lại nụ cười cho các con. Nhưng không may lại đến. Chính quyền xã không cho phép chồng tôi dạy Anh ngữ, tiệm thuốc tây phải dẹp, cửa hàng vải và may mặc bị trưng thu vào hợp tác xã. Họ buộc chồng tôi phải nhận những trách vụ họ giao như Kế toán tập đoàn, phó chủ nhiệm Hơp tác xã…, chồng tôi khôn khéo từ chối, không cộng tác. Chúng tôi dự tính về lại Sài gòn thì có tin hồ sơ xin tỵ nạn chính trị đã được chấp thuận và chúng tôi được gọi phỏng vấn.

*

*   *

Bây giờ, đoạn trường cơ cực qua. Ngẫm lại những gì chúng tôi có được là nhờ NGƯỜI và do chính mình.

Chữ Người mà tôi muốn nói là chữ NGƯỜI viết hoa. Những con người đầy ắp tình Người. Những NGƯỜI đã chia nửa trái tim cho những phận người đang bị bàn tay sắt đẩm máu của cộng sản bóp nghẹt. Xin cám tạ những con NGƯỜI cao đẹp nầy. Chúng tôi sẽ học  và theo chân quý vị, Xin được xem đó như là lời cám ơn của chúng tôi với quý vị.

Chữ NGƯỜI nầy cũng xin kính gởi những NGƯỜI lính chiến Quân Lực VNCH, những chiến sĩ CSQG/VNCH, những cán bộ bán võ trang…,đã bỏ cả thời thanh xuân, vào chốn tử sinh để bảo vệ quê hương, an bình cho xã hội, trong đó có chúng tôi. Vào tù, các anh vẫn khẳng khái và khí tiết, chúng tôi được hãnh diện là em của các anh, là vợ của một chiến hữu của các anh trong đại gia đình chiến sĩ Quốc Gia. Hãnh diện không phải vì cái tên trại tù A20 nơi giam nhốt chồng tôi, mà vì trại giam A20, trại trừng giới A20, trại kiên giam A20, thung lung tử thần A20, nơi cộng sản lập ra với mục đích đánh cướp nhân cách, hèn hóa các anh.  Nhưng các anh đã giữ được nhân cách và tiết tháo. Xin nghiêng mình chúc mừng các anh đã chiến thắng! A20 nói riêng và những trại giam tù chính trị, giam những chiến sĩ Quốc Gia, những Sĩ Quan của Quân Lực VNCH và của CSQG…nghĩa là những người đoạt được vinh quang chiến thắng từ  máu lệ lầm than khắc nghiệt. Các anh là những đứa con yêu, những đứa con  hiếu hạnh với Mẹ Việt Nam, người chồng đáng cho chị em chúng tôi khâm phục, là người cha gương mẫu. Các anh đã tuyệt vời trong mọi cảnh ngộ.

Các anh, vốn được đào tạo trong nền giáo dục nghiêng về đạo đức, khí tiết. Cuộc đời của các anh, những chiến binh VNCH đã sống trọn vẹn cho DANH DỰ – TỔ QUỐC – TRÁCH NHIỆM. Những tôn chỉ thiêng liêng đó trở thành tâm điểm, là thước đo giá trị làm người của các anh. Nhờ ý thức về Danh Dự – Tổ Quốc – Trách Nhiệm, các anh đã chiến thắng trên chiến trường và chiến thắng trong ngục tù nghiêt ngã của bạo tàn cộng sản. Hôm nay dù mái tóc trắng màu sương tuyết, các anh vẫn mĩm cười và vẫn cứ như thế hiên ngang đi vào thế trận mới, vẫn quyết tâm tranh đấu cho quê hương, vẫn quyết tâm bảo vệ giống nòi.

Trân trọng kính chào và kính chúc hạnh phúc đến với gia đình các anh chị.

                                                              Lê thị Xuân

(Cựu nữ Thiếu Úy CSQG/VNCH)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Lời Đầu Năm . .

Thư Chúc tết của gia đình Chiến Hữu Trần văn Thiêng

Thư Chúc Tết của con gái Chiến Hữu Trần văn Thiêng

Kính chào các chú, các bác, những ân nhân của gia đình con,

Cháu là Thiên Nga, con ông Trần văn Thiêng, nhân dịp Xuân Quý Tỵ, gia đình cháu kính chúc các bác, các chú, những ân nhân của gia đình con cùng gia quyến một năm mới THẬT NHIỀU SỨC KHỎE, HẠNH PHÚC, AN KHANG THỊNH VƯỢNG VÀ VẠN SỰ NHƯ Ý.

Thiên Nga,

* Ba cháu lúc rày vẫn khỏe, nhưng đến giờ vẫn chưa hội nhập được với gia đình và cộng đồng nên tinh thần của ba cháu không được tốt lắm mặc dù ăn uống tốt, không còn uống thuốc nhiều như trước, cháu đang lo không biết ba cháu có bị trầm cảm hay không mà có khi cả ngày không đi đâu và cũng không muốn nói chuyện với ai hết, má và tụi cháu cũng chẳng biết sao nữa, hiện giờ ba cháu cũng chưa được nhập hộ khẩu nên việc đi lại cũng khó khăn vì ko. có giấy tờ tùy thân. . Hôm trước chú Giang có gọi điện thoại về nhờ khuyên ba cháu thôi cứ sống bình yên với con cháu, đừng nghĩ  ngợi gì hêt, ba cháu cứ lắc đầu và nói tụi cháu ráng đợi rồi sẽ có ngày ….  bà con họ hàng lúc trước có đến thăm ba cháu, nhưng sau này ai cũng ngại không muốn nói chuyện với ba cháu nữa vì họ biết là ba cháu chỉ có một chuyện để nói mà thôi ,Ba cháu cứ sống với những hồi ức xa xưa mà không chịu chấp nhận hiện tại và không chịu thay đổi để thích nghi nên tụi cháu cũng bó tay luôn, khuyên mãi không được nên tụi cháu cũng để mặc ba cháu muốn làm gì thì làm. Vài hàng viết cho các chú rõ. 

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thư Chúc tết của gia đình Chiến Hữu Trần văn Thiêng

Hình của các bạn trong chữ Phúc

Bạn có thấy mình ở đâu không?

thiep-mung-nam-moi K1

Không có bạn nào tự tìm thấy mình hay bạn mình trong chữ Phúc của Thiệp Chúc Mừng Năm Mới Quí Tỵ 2013. Vậy hôm nay bật mí hình của 69 bạn ở trong hình như sau.

K1 aK1 bK1 c

th

 

 

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Hình của các bạn trong chữ Phúc

Nguyện Ước – TPK

                                                Nguyen uoc

Suốt mấy mươi năm đời hải ngoại
Đón tết mừng xuân với u hoài
Cũng mứt cũng bánh đào mấy nhánh
Cũng rượu cũng bia mai mấy cành.

 Chén rượu đầy vơi ngồi độc ẩm
Bia một vài chai ta với ta
Lắng nghe hương vị cay trong dạ
Ngắm cuộc nhân sinh tựa bọt bèo.

 Mai đào tuy đẹp mà hoa giả
Bánh mứt chưng lên để gọi là
Giao thừa chẳng pháo hòa tiếng nhạc
Tết nhất đầu năm vẫn đi làm.

 Tân niên thắp nén nhang cầu nguyện
Núi sông tiên tổ có linh thiêng
Xin xua quỷ dữ về âm cảnh
Cho giống Rồng Tiên sống an lành.

 Ước sao đất mẹ mau hưng thịnh
Quê cũ hồi sinh cảnh thái bình
Người người hoan hỉ nhìn xuân mới
Tỏa ánh bình minh khắp nơi nơi.

 Cầu mong nước Việt tươi mầm sống
Ruộng lúa vàng ươm rợp cánh đồng
Vầng dương chổi dậy xua đêm tối
Tiễn một vì sao rụng cuối trời.

       TỐNG PHƯỚC KIÊN
Xuân Quý Tỵ 2013

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Nguyện Ước – TPK

Đón Xuân Quí Tỵ Nhớ Tết Mậu Thân – Đoàn Ngọc Nam

Qui ty nho Mau ThanTết Mậu Thân  năm  xưa  mãi còn nhớ
Hai  bên  cam  kết  ngưng  bắn  xả hơi
Để  dân  mình  yên  tâm  ba  ngày  Tết
Mừng  đón  xuân  dân  tộc ấm tiết trời

 Đặt  bút   ký  chưa   kịp  ráo  nét  mực
Cộng  quân  đã vi phạm  khắp mọi nơi
Gây  đau  thương cảnh  nồi da xáo thịt
Cũng  chỉ  vì  chủ nghĩa “Mác” xa vời

 Đánh  tự  vệ  quân  dân  ta  phản  kích
Trận  đòn  chí  tử  giặc quân thây phơi
Tin chiến sự loan truyền quân ta thắng
Lũ  giặc bắc  phương hàng ngũ  rã  rời

 Trang   sử   Việt   ghi   vết  hằn  tội  ác
Dân  lành  chết  tức  tưởi  máu  đào rơi
Đón  xuân Quý Tỵ  toàn  dân vùng dậy
Đem  bọn  diệt chủng  hỏi  tội  tầy trời

 DNN

162896_182440631778895_4352371_n164065_182440491778909_8299786_n166323_182440535112238_253078_n167933_182440555112236_4041729_ntoiac-cs-hue19684

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Đón Xuân Quí Tỵ Nhớ Tết Mậu Thân – Đoàn Ngọc Nam

Huế…Tết Mậu Thân 1968 – Nguyễn văn Trai

Hue tet mau than

                              

*gởi đến Cư và Toán

1…45  năm  đã  trôi  qua
Tôi  vẫn  nhớ  đêm Giao  Thừa  TẾT   Mậu Thân
Đêm  cây  cầu  Trường  Tiền  nổ  tung  gãy  nhịp
Đêm  của  người  thầy  dạy  triết   trường  Quốc  Học
Đêm   của  người  sinh   viên  Văn  khoa    ở  đầu   đường  Đập Đá
Đêm của bạn tôi   dân vạn chài dưới chân cầu Gia Hội
Về cùng đoàn quân   Việt cộng bất ngờ đánh chiếm Huế

2   Tôi vẫn nhớ
Sáng mồng Một Tết
Bạn tôi Hoàng Khê ở An Cựu  { 1}
Bị bắt lôi ra chợ
Bắn
Thay pháo mừng Xuân
Tôi vẫn nhớ
Bạn tôi Nguyễn Văn Lợi ở Bến Ngự {1}
Bị bắt lôi ra khỏi nhà
Bắn
Thay pháo mừng Xuân
Tôi vẫn nhớ
Bạn tôi Phan Cháu ở Thành Nội {1}
Bị bắt lôi ra sau vườn
Bắn
Thay pháo mừng Xuân

3    Tôi đã biết 26 ngày đoàn quân giải phóng Huế
Đem trải khăn tang suốt dòng Hương Giang
Giết hơn năm ngàn oan hồn vất vưởng
Bị bắn, đập đầu hố chôn tập thể
Từ Thành Nội, Bãi Dâu, Phú Vang, An Cựu, Nguyệt Biều
Tội tình chi người Huế của tôi

4     Những người tôi quen giờ gần Đất xa Trời đang ở Huế
Tại sao họ không nói một lời   ăn năn … một sự thật
Cuộc thảm sát lạnh lùng  đau thương nhất lịch sử giống nòi
Thắp nén hương lòng trước bao  oan  hồn khi xuân về tết đến
Bàn tay nào đã nhuốm máu Huế tôi

5     Tôi đã mơ
Tượng Đài “Đau Thương Tết Mậu Thân”
Sừng sững bên cây cầu Trường Tiền
Nơi đây tôi đọc được dòng chữ
“Tạ tội Oan Hồn … Tạ tội Huế thương”

   đồng di đỗ hà  1-30-2013

[1]   3   người bạn của tôi là  sĩ quan Cảnh sát ( Khóa 1 Học viện CSQG ) cau trang tien

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Huế…Tết Mậu Thân 1968 – Nguyễn văn Trai

Thơ Xuân Lệ Khánh

Anh Nguyễn-Công-Vinh thân mến,

Xin gởi anh 2 bài thơ Xuân, tuy không được mới và hay nhưng có thể tô điểm cho CNN của K1 thêm phong phú. Đây là tình cảm đặc biệt của tôi đối với anh và Quý Cóc huynh trong Nhóm Đường Thi.

Trọng kính,

Trần-Bửu-Giao/ K2

   Nhung mua xuan ly huong

     Không hẹn mà sao Xuân cứ sang?
Xa quê nào thấy cánh mai vàng.
Nâng ly rượu quý, lòng thêm thẹn,
Nhắp chén trà ngon, dạ chẳng an.
Bạn hữu những ai còn với mất?
Người thương ắt hẳn đã sang ngang!
Bảy năm lưu lạc phương trời lạ,
Tri kỷ mấy người vẫn hỏi han?!

     Xuân đến Xuân đi đã chín lần,
Tha hương nào tránh khỏi bâng khuâng.
Xót thương huynh đệ chiều xa vắng,
Cám cảnh anh em sớm tối gần.
Ngọn bút Hồ Trường, lòng quặn thắt,
Cung đàn Tư Mã, dạ sầu dâng.
Mượn thơ gởi chút niềm tâm sự,
Xuân đến Xuân đi đã chín lần!

     Lại mùa Xuân nữa đến nơi rồi,
Phiêu bạt mười năm tợ nước trôi.
Ngày vắng thương cha sờn mái tóc,
Đêm dài nhớ mẹ mỏi mòn hơi.
Thù nhà tạc dạ không xao lãng,
Nợ nước bền lòng chẳng trễ lơi.
Dưới nguyệt bao năm mài kiếm báu,
Trông về cố quốc, vạn trùng khơi!

    Mười tám Xuân rồi cách biệt cha,
Lòng con luôn nghĩ đến quê nhà
Non sông mấy độ còn tang tóc?
Dân tộc bao năm chửa thái hòa!
Đất khách hằng thương nòi giống Việt,
Xứ người luôn tưởng Lạc Hồng ta.
Mai đây quét sạch phường hung ác,
Dòng lệ tha hương sẽ xóa nhòa…

                Lệ-Khanh

         Xuan ve nho ban

    Bâng khuâng nhớ bạn lúc Xuân về,
Lưu lạc cùng chung cảnh mất quê.
Chớp mắt trôi hơn ba thập kỷ,
Chau mày chưa chín nửa nồi kê!
Gươm đàn bao kẻ chờ sang bến,
Sông Dịch kìa ai đã vẹn thề.
Mơ một ngày mai trên đất Mẹ,
Anh, Tôi, nâng chén đón Xuân về.

Xuân về nhớ bạn gởi đôi hàng,
Chúc chị cùng anh vạn sự khang.
Sức khỏe dồi dào, tâm trí sáng,
Mãn đường kim ngọc, thật giàu sang.
Thơ văn nổi tiếng cùng thiên hạ,
Tình cảm chan hòa khắp thế gian.
Từ buổi quen nhau qua nét bút,
Luôn gìn tương kính, giữ trung cang.

               Lệ-Khanh

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thơ Xuân Lệ Khánh

Đón Xuân Nầy , Nhớ Xuân Xưa

THIẾU TƯỚNG NGUYỄN NGỌC LOAN MỘT ĐỜI TẬN TỤY VỚI NƯỚC NON

PHẠM PHONG DINH
(Trích trong cuốn CHIẾN SỬ QLVNCH
)

 Tuong Loan khi tre

Còn nhớ trong những ngày lửa binh Mậu Thân đợt 1 và đợt 2 ở vùng Sài Gòn – Gia Định – Chợ Lớn, có một vị tướng dáng vóc nhỏ bé trong chiếc áo giáp đen sạm khói súng, đã xông xáo giữa những làn đạn chằng chịt đỏ lửa, trong tiếng AK và tiếng B40 nổ rền trời. Ông ôm cây súng M16 đứng xổng lưng trên tuyến đầu, chiến đấu và bắn về phía quân địch như bất cứ một người chiến sĩ khinh binh dũng cảm nào của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Vị Tướng mà đã đi vào huyền thoại quân lực và chiến sử Việt Nam, chính là Thiếu Tướng Nguyễn Ngọc Loan, Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia, Chỉ Huy Trưởng Tình Báo và An Ninh Quân Đội, cựu Tư Lệnh Phó Không Quân QLVNCH.

Cuộc đời của Thiếu Tướng Nguyễn Ngọc Loan là cả một tấm gương sáng. Là một phi công ưu tú của quân chủng Không Quân, người đã có hàng ngàn giờ bay trên nhiều loại phi cơ oanh tạc chiến đấu, sự dũng cảm phi thường của ông đã đưa ông lên đến chức vụ cao tột Tư Lệnh Phó Không Quân Việt Nam Cộng Hòa trong những năm 1960 sau cuộc đảo chánh Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Chính là người đã dẫn đầu những phi đoàn Bắc phạt A1 Skyraider nằm trong khuôn khổ chiến dịch “Mũi Tên Lửa ” (Flamming Dart) ngày 11.2.1965, dũng mãnh lao xuyên qua những làn đạn phòng không kinh khủng của giặc bắn phá hang ổ địch và những địa điểm tàng trữ các phương tiện chiến tranh mà từ đó Hà Nội trang bị cho binh đội của họ tràn qua vĩ tuyến 17 tàn sát đồng bào miền Nam. Trong những giây phút lơ lửng giữa sự sống và cái chết trên bầu trời miền Bắc, những chiếc A1 do Đại Tá Nguyễn Ngọc Loan chỉ huy đã đánh những chùm bom chính xác rải lên đầu bọn cuồng khấu. Để cho chúng biết rằng, dù những chiếc A1 bay chậm và lỗi thời, không thể nào địch nổi những chiếc MIG 17, 19, 21 phản lực cơ tối tân mà Nga Sô và Trung Cộng đã viện trợ cho Không Quân Bắc Việt, những người trai anh dũng của Việt Nam Cộng Hòa vẫn quyết tâm chiến đấu cho sự sống còn của dân tộc. Trong một phi vụ vượt vĩ tuyến, có một lần Đại Tá Nguyễn Ngọc Loan đã phải đau xót nhìn chiếc phi cơ của anh hùng Thiếu Tá Phạm Phú Quốc trúng đạn giặc và nổ bùng thành một chiếc hoa lửa đỏ giữa bầu trời xanh thẳm.

Sau những chiến công lừng lẫy trên bầu trời miền Bắc và sau khi chiến dịch “Mũi Tên Lửa” chấm dứt, Đại Tá Nguyễn Ngọc Loan được vinh thăng Chuẩn Tướng và được điều động về làm Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Quốc Gia. Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ, Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương và Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia cùng lèo lái con thuyền quốc gia kể từ ngày 19.6.1965, sau khi đã gạt bỏ được Đại Tướng Nguyễn Khánh ra khỏi chức vụ Thủ Tướng Chính Phủ, vì những yếu kém và bất lực của ông này. Ngày 19.6 từ đó được chọn là “Ngày Quân Lực”, biểu trưng của ngày mà Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa tái lập trật tự và điều hành guồng máy quốc gia. Trong những năm đó, Chuẩn Tướng Loan được sự tín nhiệm của Thiếu Tướng Kỳ, đã là một vị tướng hết sức mẫn cán, ông thẳng tay bố ráp và truy lùng bọn cộng sản nằm vùng, bọn tình báo địch xâm nhập đô thành. Cảnh Sát Quốc Gia của ta trong thời kỳ đó đã hốt được nhiều mẻ lớn. Là một vị tướng năng nổ, ông đã được chính phủ cử ra Trung cùng một số tướng lãnh tài năng khác bình định vụ biến động Phật giáo trong năm 1966. Ngoài Vùng I tình hình vô cùng rối ren với sự khuấy động của Trung Tướng Nguyễn Chánh Thi, sự bất tuân phục của ông này vì sự tranh giành quyền lực với chính phủ trung ương, và sự quá khích của những thành phần Phật giáo. Có đến một trung đoàn quân đội ngoài Vùng I tham gia phe ly khai. Chuẩn Tướng Nguyễn Ngọc Loan, với sự giúp sức của các cấp quân sự thuộc binh chủng Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến và Thiết Giáp, đã nhanh chóng bình định được tình thế, với một sự thiệt hại về nhân mạng và vật chất ở mức tối thiểu ngoài sự mong đợi của chính phủ trung ương. Trung Tướng Nguyễn Chánh Thi được cho đi Hoa Kỳ. Cơn sóng gió tưởng chừng có thể làm ngửa nghiêng đất nước và mối hiểm họa binh đội cộng sản lăm le tràn xuống nuốt lấy Việt Nam Cộng Hòa đã được những viên tướng tài giỏi nhất của Việt Nam Cộng Hòa san bằng. Chuẩn Tướng Nguyễn Ngọc Loan được vinh thăng Thiếu Tướng.

Với quyền lực to lớn, với ánh hào quang và những phương tiện vật chất dồi dào ấy, đáng lẽ ông phải vun vén cho riêng cá nhân mình một cái gì đó. Nhưng kỳ diệu và đáng kính phục biết ngần nào, cuộc sống của người bình dị và đơn sơ quá, người không có tài sản gì đáng giá. Ở giữa một xã hội vật chất phù phiếm và đua tranh, chung quanh ông đầy dẫy những tấm gương tham nhũng của những yếu nhân tai to mặt bự, với những cảnh ăn chơi xa hoa trụy lạc thâu đêm suốt sáng, thì tấm gương thanh liêm của người cùng với một số hiếm hoi các tướng lãnh khác giống như những viên ngọc quí nằm trong mớ tro củi bẩn thỉu. Ông không lấy của công làm của tư, không có biệt thự riêng, chỉ ở nhà của chính phủ cấp cho, một chiếc xe Jeep, một chiếc áo giáp, một cây súng và một trái tim dành cho nước non.

 Tuong Nguyen ngoc Loan

Thiếu Tướng Nguyễn Ngọc Loan sinh ngày 11.12.1930 tại Huế, khi vào lính ông được gửi đi học Khóa 1 Trường Võ Khoa Thủ Đức. Tốt nghiệp Thủ Đức, tân sĩ quan Nguyễn Ngọc Loan về phục vụ trong Lực Lượng Xung Kích Việt-Pháp năm 1952. Nhưng đến năm sau ông lại được gửi đi thụ huấn khóa phi công tại Trường Không Quân Salon De Provence tại Pháp và trở thành người phi công lái khu trục cơ đầu tiên của Không Lực Việt Nam Cộng Hòa kể từ năm 1956. Khoảng đầu những năm 1960 ông nhận nhiệm vụ làm Chỉ Huy Trưởng Phi Đoàn 2 Quân Sát đóng tại Nha Trang. Bốn năm sau, Đại Tá tân thăng Nguyễn Ngọc Loan được tín nhiệm chức vụ cao quí tột bậc quân chủng, Tư Lệnh Phó Không Quân VNCH. Bắt đầu từ năm 1965, Chuẩn Tướng Nguyễn Ngọc Loan được điều về làm Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Quốc Gia kiêm Cục Trưởng Cục An Ninh Quân Đội, Đặc Ủy Trung Ương Tình Báo. Một thời gian sau ông được vinh thăng Thiếu Tướng.
Một trong những câu chuyện vẫn còn được những thuộc cấp kể cho nhau nghe về lòng độ lượng và thương yêu thuộc cấp của Thiếu Tướng Loan. Một đám cận vệ của “Anh Sáu” (chiến sĩ Cảnh Sát Quốc Gia và Cảnh Sát Dã Chiến kính trọng và mến thương gọi Tướng Loan, dĩ nhiên là gọi sau lưng. Đứng nghiêm trình diện trước mặt người dù không có tội gì cũng đã thấy muốn…vãi đái trong quần, ở đó mà anh Sáu với lại anh Năm) đang ngồi binh xập xám ở phòng ngoài của Tổng Nha Cảnh Sát Quốc Gia, Tướng Loan đang nằm lim dim nghỉ trên một cái sofa ở phòng trong. Bọn “nhỏ” mê mẩn sát phạt nhau hung quá không nhận ra “Anh Sáu” đã thức giấc lúc nào và đang nhẹ nhàng như một con báo lướt ra khỏi cửa phòng. Người đứng nhìn đám đàn em thân thiết, tủm tỉm cười và nghĩ ra một trò chơi nhỏ mà sẽ làm cho mấy thằng em lên ruột lên gan chút chơi. Con người kinh khủng đó cũng có khiếu khôi hài lạnh quá đi. Ông lẳng lặng biến mất ra khỏi Tổng Nha CSQG, leo lên chiếc Jeep cùng tài xế nhấn ga dọt mất. Mãi một lúc sau, có một anh lính tình cờ nhìn vào bên trong, chiếc sofa trống trơn, Tướng Loan đã biến mất. Đám cận vệ nhốn nháo, mặt mũi xanh mét như tàu lá chuối vứt bài tứ tung la hoảng :” Ổng đi mất tiêu rồi! “. Cả bọn hối hả quơ súng ống chạy túa ra như bị ma rượt. Thiếu Tướng Loan dũng cảm trên chiến trường, nhưng cũng rất dồi dào tình yêu thương thuộc cấp. Khi thuộc cấp lầm lỗi, ông không trừng trị họ bằng những phương cách thô bạo, mà ông chỉ làm cho họ cảm phục quyết định và tự thấy xấu hổ trước vị chỉ huy của mình, từ đó họ sẽ sửa chữa và làm những công việc tốt đẹp để chuộc lỗi.
Tham sat Tet Mau Than tai Hue(Tết Mậu Thân, Cộng sản Bắc Việt thảm sát dân lành tại Huế)

Cống hiến lớn nhất của Thiếu Tướng Loan mà cũng là mối oan khiên mà ông phải gánh chịu nhục nhằn trong vòng mấy chục năm là cuộc chiến đấu trong những ngày Mậu Thân binh lửa. Cộng quân tấn công vào thủ đô Sài Gòn vào lúc 2 giờ khuya ngày 31.1.1968, tức ngày mùng 1 Tết năm 1968. Đô thành Sài Gòn quá rộng lớn, mặc dù súng và pháo trộn lẫn vào nhau nỗ dòn dã ở một số khu vực, đến sáng mùng 2 Tết người dân SàiGòn vẫn lũ lượt đi thăm viếng chúc Tết nhau và vui chơi. Cho tới khi cường độ cuộc chiến lên cao và lửa đạn bung tỏa ra khắp nơi, người ta mới bàng hoàng biết là chiến tranh đã về thành phố, với tất cả cái khốc liệt và tàn bạo nhất . Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu trong những ngày đầu xuân đang ở Mỹ Tho, vùng chôn nhau cắt rún của bà Thiệu. Cho nên lúc 8 giờ sáng ngày mùng 2 Tết, dân Sài Gòn chỉ được nghe Phó Tổng Thống Nguyễn Cao Kỳ ban bố lệnh giới nghiêm trên Đài Phát Thanh Sài Gòn, tố cáo quân Việt Cộng tấn công toàn quốc và vi phạm lệnh hưu chiến ba ngày do chính chúng đề nghị. Các đơn vị Biệt Động Quân, Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến, Thiết Giáp, Cảnh Sát Dã Chiến đã nhanh chóng được điều động đến giải tỏa những vị trí bị địch tấn chiếm hồi đêm mùng 1. Các phi cơ cánh quạt A1 của Không Quân lên đánh bom và xạ kích công sự phòng thủ của địch. Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa ngày 5.2.1968 đã cấp tốc tổ chức chiến dịch phản công “Trần Hưng Đạo”, Thiếu Tướng Trần Thanh Phong, Tham Mưu Trưởng Liên Quân, được cử giữ chức Tham Mưu Trưởng chiến dịch; Chuẩn Tướng Cao Hảo Hớn làm Tham Mưu Phó. Theo kế hoạch của chiến dịch, đô thành và vùng ven đô được chia làm sáu khu vực trách nhiệm và được phối trí như sau : – Khu A : Nhảy Dù, Thiếu Tướng Dư Quốc Đống, Tư Lệnh Sư Đoàn Dù chỉ huy.
– Khu B : Thủy Quân Lục Chiến, Đại Tá Nguyễn Thành Yên, Tư Lệnh Phó Sư Đoàn TQLC chịu trách nhiệm.
– Khu C : Thiếu Tướng Nguyễn Ngọc Loan, Tổng giám Đốc Cảnh Sát Quốc Gia chỉ huy các lực lượng Cảnh Sát Dã Chiến và Cảnh Sát Quốc Gia.
– Khu D : Biệt Động Quân, Đại Tá Trần Văn Hai, Chỉ Huy Trưởng BĐQ điều động lính Mũ Nâu càn quét địch, nỗ lực chính là Liên Đoàn 5 Biệt Động Quân.
– Khu E : Chuẩn Tướng Ngô Dzu chỉ huy.
– Khu F : Lực lượng Hoa Kỳ phụ trách.
Thiếu Tướng Nguyễn Ngọc Loan cùng lực lượng CSQG và Cảnh Sát Dã Chiến chịu trách nhiệm đánh địch tại khu C, bao gồm lãnh thổ các quận 1, 2, 3, 4, 5. Những quận này nằm ở khu trung tâm Sài Gòn nên tương đối yên tĩnh, các chiến sĩ cảnh sát liên tục mở những cuộc hành quân loại địch ra khỏi dân chúng. Tuy nhiên khi mặt trận Hàng Xanh nổ lớn, Thiếu Tướng Loan đã điều động lực lượng Cảnh Sát Dã Chiến và đích thân ông lên chiến đấu sát cánh với các chiến sĩ Mũ Nâu Tiểu Đoàn 30 BĐQ của Liên Đoàn 5 Biệt Động Quân. Các thám thính xa V100 của Cảnh Sát cũng được gửi tới tăng viện mặt trận. Quân ta tiến vất vả và chậm trên khắp mặt trận, là bởi vì bọn Việt Cộng man rợ, chúng lùa thường dân, đàn bà, người già và trẻ em làm bia đỡ đạn hoặc dùng súng bắn chặn không cho dân chúng di tản ra khỏi khu vực giao tranh. Các chiến sĩ Cảnh Sát Quốc Gia và Cảnh Sát Dã Chiến được Thiếu Tướng Loan điều động đến càn quét khu vực Thị Nghè. Một gia đình của một Đại Úy Cảnh Sát trong khu vực này không chạy kịp đã bị tên Bảy Lốp, Đại Úy Đặc Công Việt Cộng tàn sát man rợ.
Thiếu Tướng Loan đau đớn thề với lòng là ông sẽ bắt tên ác quỉ trả giá những tội ác mà nó đã gây ra cho những người vô tội. Người đích thân bố trí và chỉ huy Cảnh Sát Dã Chiến vây bắt toán đặc công khát máu này. Làm sao mà những con thú người đó có thể thoát khỏi trận địa trong vòng vây ngày càng siết chặt của quân ta. Cuối cùng, lực lượng cảnh sát tóm cổ được tên sát nhân. Thiếu Tướng Loan ghê tởm nhìn bộ mặt hung ác gớm ghiếc của gã, ông muốn nôn mửa. Tại sao trên cõi đời này có những người nhân danh chiến tranh để giết trẻ em, đàn bà và người già. Vậy thì ông sẽ nhân danh cho những oan hồn chưa đưọc siêu thoát ấy, ông sẽ nhân danh cho những đôi mắt thơ ngây của các em, cho tuổi thơ trong trắng của các em. Ông xử tử tên sát nhân ngay tại chỗ mà trước đó hắn đã xuống tay giết các em. Ký giả Eddie Adams đứng gần đó, anh này trong những ngày binh lửa đã theo chân Biệt Động Quân lên vùng Thị Nghè săn tin và tấp vào bản doanh chỉ huy của Thiếu Tướng Loan, đã nhanh tay chụp được cảnh tên VC đền tội.

Eddie Adams với tấm ảnh Tướng Loan bắn chết tên VC trên đường phố đã leo lên tột đỉnh vinh quang nghề nghiệp khi anh ta nhận được giải thưởng Pulitzer năm 1969. Anh bước lên bục vinh quang trong khi vị Tướng anh hùng của chúng ta bị oan khuất. Những nhà khoa bảng Hoa Kỳ kiêu ngạo nhưng dốt nát kiến thức quân sự và lịch sử Việt Nam trong chính phủ Mỹ hồi đó, những thế lực phản chiến thiên tả, với những trí óc được coi là siêu đẳng không tìm được cái cớ hay ho nào để tháo chạy , mà phải cần tới một màn đạo diễn tàn nhẫn và vô lương tri đổ lên đầu một con người có váng dóc nhỏ thó ấy. Giới truyền thông Mỹ thổi phồng câu chuyện Thiếu Tướng Loan bắn tên sát nhân giữa mặt trận, giết chết cuộc đời binh nghiệp của ông, giết chết lòng yêu nước, yêu tự do và yêu công lý của một vị tướng suốt đời chỉ biết tận tụy cho nước non. Tại sao Eddie không chụp những bức ảnh của những chiếc thây ma với những viên đạn AK47 gửi về Hoa Kỳ. Tại sao anh không chụp tấm hình của ông Tướng ngã gục xuống sau đó vì những viên đạn bắn lén từ trong bóng tối trúng vào chân của ông. Đó há chẳng phải là những giọt máu đã đổ để bảo vệ những người vô tội hay sao ? Tấm ảnh của anh đã giết chết cuộc đời của một người chiến sĩ yêu đồng bào yêu tổ quốc, đã phủ màu đen đắng cay lên đời một người công chính mà sẽ kéo dài và đeo đuổi người đến gần ba mươi năm.

Sau khi đã xử tử tên sát nhân, Thiếu Tướng Loan tiếp tục dẫn quân lên đánh địch, người đã trúng đạn và bị thương nặng ở chân. Viên đạn bắn vào đầu tên địch và viên đạn địch bắn vào chân ông, cả hai thứ đó đã chấm dứt cuộc đời binh nghiệp đầy huyền thoại của người.

Sau ngày đất nước rơi vào tay cộng sản, Thiếu Tướng Loan cùng phu nhân di tản qua sinh sống tại Hoa Kỳ, mở một quán ăn nhỏ và sống một cuộc sống khiêm tốn quá sức, với chiếc chân tàn tật vì chiến cuộc Mậu Thân. Ở đó, ông và gia đình bị người Mỹ quá khích sĩ nhục và làm khó khăn đủ điều. Nhiều người Mỹ hung hăng đã xịt sơn lên tường nhà ông : “Ta đã biết ngươi là ai rồi!”. Vị tướng thanh liêm, anh dũng và thất thế của chúng ta cắn răng nhận chịu những bãi nước bọt của người đời. Ông biết rồi cũng sẽ có một ngày nỗi oan khiên sẽ được làm sáng tỏ và danh dự sẽ được phục hồi từ bóng đen quá khứ tối tăm ảm đạm của cuộc đời ông. Tuổi đời chồng chất, chiếc chân khập khiểng, nổi oan khiên từ nỗi dối trá của những người ngu xuẩn vẵn không ngăn nỗi trong lòng người hào kiệt lòng nung nấu trở về quê hương chiến đấu lật đổ cộng sản. Trong một dịp có vài chiến hữu cũ đến thăm người tại quán ăn LES TROIS CONTINENTS ở thành phố Springfield, tiểu bang Virginia, bên những ly rượu hội ngộ, Thiếu Tướng Loan đã rưng nước mắt thổ lộ hoài bão :
“Nếu cơ may một ngày nào đó tụi mình trở về, thì lúc đó tụi mình đều là nghĩa quân cả. Không Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Động Quân, Bộ Binh, Lực Lượng Đặc Biệt gì cả. Tụi mình chỉ là nghĩa quân. Nghĩa quân đây là nghĩa quân của thời Lê Lợi khởi nghĩa, của thời Cần Vương chống giặc ngoại xâm. Chỉ có đám quân đội của tụi mình mới có thể nói chuyện “phải quấy” với đám quân đội phía bên kia, vì hồi còn đánh nhau, hai bên đều bị bịt mắt cả”.

Ký giả Eddie Adams trong thời gian khổ ải của nạn nhân của anh ta, đã nhiều lần đến thăm Thiếu Tướng Loan. Anh hối hận và xúc động nhìn cảnh sống thanh bần của một vị tướng. Người anh hùng của đất nước Việt Nam vẫn vui vẻ tiếp chuyện người ký giả. Trong thâm tâm, ông đã tha thứ cho sự ngu xuẩn ngây thơ của Adams từ lâu. Adams không chụp bức ảnh đó thì cũng có hàng chục Adams khác lao tới bấm lấy. Adams chỉ là một trong hàng triệu người Mỹ vô tâm và ngu ngốc không biết gì về cuộc chiến Việt Nam. Thái độ cao thượng của người đã cảm hóa được Adams. Người Mỹ vốn là một dân tộc rất cao ngạo, nhưng một khi mà Adams đã thật sự hối hận thì anh ta đã quị người xuống thật thấp. Để anh viết một bản ai điếu tạ tội với người anh hùng của dân tộc Việt Nam, khi anh được tin Thiếu Tướng Nguyễn Ngọc Loan đã qua đời lúc 20 giờ ngày 14.7.1998. Cái bản điếu văn đó đã được anh viết bằng nước mắt ngập tràn và từ con tim vỡ nát vì hối hận của anh.

Bản điếu văn sám hối của Adams được tờ tuần báo TIME đăng tải ngay trong số 27.7.1998. Chúng tôi xin được lược dịch lại bản văn này và tin chắc rằng giờ đây, ở cõi vô cùng người đã nở nụ cười bao dung tha thứ cho những lầm lỗi của thế gian :
“Tôi đoạt giải Pulitzer trong năm 1969 nhờ tấm ảnh chụp một người bắn vào một người khác. Trong tấm ảnh đó có đến hai người chết : Người nhận lãnh viên đạn và Tướng Nguyễn Ngọc Loan. Ông Tướng đã giết chết tên Việt Cộng, nhưng tôi giết ông Tướng bằng cái máy ảnh của tôi. Những tấm ảnh vốn vẫn là những thứ vũ khí kinh khủng trên thế giới. Người ta tin tưởng vào chúng, nhưng những tấm ảnh đó cũng có thể nói láo, thậm chí không cần phải ngụy tạo. Chúng chỉ nói lên được có phân nửa của sự thật. Những gì mà tấm ảnh này chưa nói lên được là : ” Người ta sẽ hành động ra sao nếu họ ở vị trí của ông Tướng ở vào cái thời điểm và nơi chốn của một ngày nóng bức, khi người ta vừa bắt được một tên gọi là ác ôn mà trước đó hắn đã bắn chết một, hai hay ba người lính Mỹ ?”.
Tướng Loan là một mẫu người mà người ta có thể gọi là một người chiến binh đúng nghĩa và được thuộc cấp kính trọng. Tôi không nói rằng những gì ông Tướng đã làm là đúng, nhưng người ta phải tự đặt mình vào vị trí của ông. Tấm ảnh không hề diễn tả được rằng ông Tướng đã tận tụy dành nhiều thời gian đến các bệnh viện để thăm hỏi những nạn nhân chiến cuộc. Tấm ảnh này đã thực sự làm đảo lộn cuộc đời ông. Người chẳng hề phiền trách gì tôi. Người nói với tôi răng, nếu tôi không chụp tấm ảnh, thì sẽ có người khác làm việc đó, nhưng tôi vẫn cảm thấy bứt rứt xốn xang về người và gia đình người trong một thời gian dài. Tôi vẫn thường liên lạc với ông, lần cuối cùng mà chúng tôi nói chuyện với nhau đã xảy ra hồi sáu tháng trước, vào lúc ông đã bị bệnh rất nặng.
Khi được tin ông Tướng đã chết, tôi gửi hoa đến phúng viếng và tôi đã viết : ” Thưa ông Tướng, tôi hết sức ân hận. Lệ đã tràn đầy trong mắt tôi”.

PHẠM PHONG DINH

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Đón Xuân Nầy , Nhớ Xuân Xưa

Chúc Tết K1 – DNN

Chuc tet K1

 Xuân  Quý Tỵ quê  Người  đón   Tết
Chúc  yêu thương  không bao giờ hết
Học  Viện  khóa một  rèn  luyện   chí
Quốc  cộng đường ranh  chia  rõ rệt
Đất   tạm  dung   sinh   hoạt  bạn  tù
Lập  trường  vững  giữ tình đoàn kết
Mặc   cho   già    yếu   tuổi   đời   cao
Xuân  đến  tinh  thần  chẳng mõi mệt

con-ran-2013

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Chúc Tết K1 – DNN

Câu Đối Tết – PQN Sưu Tầm

Bạn Phan Quang Nghiệp sưu tầm và gởi đến CNN một số câu đối TẾT. Kính mới Quí NT và các bạn thưởng ngoạn.

c6c7c8c14c17c18c19caidoi2caidoi3caudoi1caudoi51323401204_phao

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Câu Đối Tết – PQN Sưu Tầm

Trang Chúc Xuân Dành cho các bạn K1

con-ran-2013

cung chuc tan xuan

   * Kính chúc quí vị NT, tất cả các Bạn K1 và gia đình năm mới gặp  nhiều may mắn an khang thịnh vượng. 

K1 Lê ngọc Thịnh và gia đình

* THÂN MẾN CHUYỂN QUÝ BẠN ĐỒNG KHÓA I/BTV/ HỌC VIỆN/CSGQ
CHÚC XUÂN QUÝ TỴ :SỨC KHỎE-SỞ CẦU NHƯ Ý  – SỞ NGUYỆN VIÊN THÀNH.

K1 Phạm văn Bổn.

 * Thân kính chúc anh Toán, anh Vinh và tất cả các bạn đồng khóa, đồng môn một năm mới THÂN TÂM AN LẠC, VẠN SỰ CÁT TƯỜNG!…
K1 Trần ngọc Thạch

* THAN AI CAU CHUC :  DAI GIA DINH KHOA 1/HVCSQG TREN TOAN THE GIOI:

                         SUC KHOE DOI DAO.
                        THAN TAM AN LAC…

 …..( GIA DINH  K1. BUU HONG VA MAI HUONG)

* Thiệp Chúc Tết của Nguyễn Tấn Vĩnh

Chúc Mừng Năm Mới NTVINHTiếp sau đây là phần chúc Xuân của K1 Trần Q. Nại bằng một bài thơ của Nguyễn thanh Khiết.

Thư cho những thằng chống nạng

Dăm bữa nữa là cuối năm – tết tới
tao bồn chồn đi đứng chẳng thể yên
nghĩ đến tụi bây – mà “đếch” có tiền
để làm chút quà ngày tư ngày tết

Gió đông thổi, thương thằng ngoài Quảng Trị
cuối năm về, nhớ mấy đứa Bình Long
những thằng đui què từng gánh núi sông
giờ tàn lụi một đời trên đất giặc

Tội tụi mầy, thằng binh nhì, binh bét
“vạn cốt khô” cho tướng soái, công hầu
vết thương xưa máu ngừng chảy từ lâu
còn đau mãi – vì bị đời quên lãng

Tội tụi mầy, trước lằn tên mũi đạn
liều thân tuyến đầu để giữ giang sơn
buông súng, ở lại đây – nén căm hờn
lết từng ngày – thân con sâu cái kiến

Ba mươi sáu năm sau ngày quốc biến
xương máu tụi mầy – đã chảy về đâu?
chống nạng nhìn thằng cuốn gói lên tàu
lăn xe, mủi lòng thương thân tàn phế

Ba mươi sáu năm tụi mầy vẫn thế
cứ ngóng chờ bè bạn cũ thăm nom
bìa rừng, hốc núi đời sống tối om
còn ai nhắc tên mấy thằng tốt thí?

Thằng vợ ốm nằm hành lang bệnh viện
thằng con đau hết gạo nấu trong nhà
lý lịch trích ngang gởi tận xứ xa
năm này năm khác – hồi âm chẳng thấy

Tao biết tụi bây nhớ tình cố cựu
tao biết tụi mầy vẫn giữ nghĩa xưa
cái thói đời – nghèo giàu như nắng mưa
nhưng – không thể cùng ngồi chung một chiếu

Thư gởi tụi mầy vài câu vá víu
nhắc một thời cùng bận áo nhà binh
mai tao sẽ cố chạy vạy, van xin
mong có chút, gởi tụi mầy đón tết
                     Nguyễn thanh-Khiết

* K1 Đoàn Ngọc Nam:

Vinh thân mến,

Mấy bửa nay làm việc computer nhiều, gởi tặng Vinh mấy cô GÁI XUÂN, nhìn cho khỏe!

Chúc vui vẻ mãi mãi…

ĐNN Xin bấm vào link màu xanh để xem

Gái_Xuân

* K1 Nguyễn văn Vinh San Jose Cali

Than chuc cac Anh Chi va Gia Dinh
huong mot  Mua Xuan that vui va mot  Nam Moi  An Khang Thinh Vuong.

Ng van Vinh San Jose

 Gia dinh Vinh Nguyen Sanjose

CHÚC MỪNG NĂM MỚI

 
  *   Trước thềm năm mới,quý mến chúc :
        —    Đồng môn chủ nhân CNN K1 Nguyễn Công Vinh được bình an,sức khỏe,vui vẻ ngõ hầu điểm tô CNN của chúng ta thêm hoành tráng,đẹp đẽ và thăng tiến.
        —    Tất cả các đồng môn K1 vui hưởng một mùa Xuân hy vọng,yên lành,mạnh khỏe và vạn sự như ý.
Quý mến chào đoàn kết, yêu thương và tương trợ.
K1 NGUYỄN THANH HOÀNG

 * Gia dinh Le Quang Phu Huynh THi Kim Oanh xin kinh chuc quy Nien Truong , quy anh chi em khoa 1 , đại. gia dinh Canh Sat Quoc Gia Viet Nam Cong Hoa chung ta mot nam moi : AN BINH , SUC KHOE va HANH PHUC .
K1 Lê Quang Phú và Gia Đình

 *     Chúc các bạn và quí quyến một năm Quí Tỵ An-khang,Thịnh-vượng.
 K1 BICH K DANG

Mời xem một PPS do BD thực hiện để tặng cho anh chúng ta. Cám ơn bạn BD

XUÂN QUÝ TỴ 2013

*K1 Thieu VoVo thieu chuc tetVo Thieu Thu phap

 K1 Thieu Vo và gia đình

* K1 Nhữ Đình Toán/ Ngọc Dung.

Trước thềm năm mới, thân kính chúc quý Niên Trưởng & Huynh Trưởng cùng toàn thể các bạn nam nữ đồng môn Khóa 1-HVCSQG – tại hải ngoại cũng như ở trong nước – vui hưởng một mùa xuân Hy Vọng, An Khang và Thịnh Vượng.

K1 Nhữ Đình Toán/Ngọc Dung

 Ng van Vinh San Jose

TB: Trong những ngày cuối năm vừa qua, thay mặt các bạn K1, tôi đã điện thoại về VN thăm hỏi và chúc Tết  K1 Nguyễn Viết Lộc (Lâm Đồng) và K1 Nguyễn Văn Suốt (Bến Tre). Được biết, vợ của K1 Nguyễn Viết Lộc vừa bị tai nạn té gãy tay (trái) phải bó bột. Tôi định gởi qùa Tết về cho 2 bạn này nhưng vì cận Tết (ở VN họ nghỉ ăn Tết) nên có gởi thì cũng phải qua Tết họ mới nhận được. Riêng chị K1 Hà thị Hạnh thì theo K1 Suốt cho biết, kể từ khi xuất gia vào chùa quy y, tinh thần chị đã tạm ổn định hơn trước. Có tin gì thêm tôi sẽ thông báo đến các bạn sau.

Thân mến,

K1 NĐ.Toán

*Mời nghe mấy bản nhạc xuân.
K1 Phạm văn Bổn
post card

* Nguyễn Công Vinh thân mến,

Xin bạn vui lòng cho Trần Quốc Nại tham gia vài dòng chúc Tết nho nhỏ đến quí bạn đồng môn Khóa 1 trong năm Quí Tỵ này nhé !

Chúc mừng năm mới,                                                     ,

Quí bạn vui tươi,

Đầy ắp tiếng cười

Làm ăn tấn tới,

Sức khỏe tuyệt vời,

Sống lâu trăm tuổi

Thường xuyên đến chơi,

Thăm căn nhà nhỏ,

Luôn luôn bày tỏ,

 Chuyện nhỏ chuyên to,

 Bạn bè cũng rõ,

Chia xẻ đường tơ,

Chuyện đẹp như mơ

Đừng nên mắc cở

Dù hay dù dở

Vẫn là bạn ta.

Bụng để ngoài da,

Tuổi đả về già

Chỉ cần nói ra

Là vui quá sá

Ăn Tết thả ga

Chẳng cần thiết tha

Một điều gì cả.

Cuộc đời thong thả

Vui vẻ cà nhà

Xin chào bạn ta.

K1 Trần quốc Nại

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Trang Chúc Xuân Dành cho các bạn K1

Tết Năm Nào – Thơ Thanh Hoàng

Tet nam nao
“Bắt cô trói cột” loài chim núi (1) 
Chia xẻ niềm đau kiếp tội tù
T.H. 

( Mến tặng các bạn tù đã ở trại Hoàng Liên Sơn . Bắc Việt 
Cùng mến tặng Thi Sĩ LU HÀ ) 
 
“Hoàng Liên Sơn” trại thuở năm nào 
Đón Tết mừng Xuân ở núi cao 
Sườn núi cheo leo, nhà lác đác 
Rừng tre,dày đặc, lá lao xao 
Chăn đơn, gối chiếc lòng buồn bã 
Đất lạ, quê xa dạ nghẹn ngào 
Cô quạnh một mình ba bữa Tết 
Đời mình khổ mãi thế nầy sao ? 

Đời mình khổ mãi thế nầy sao ? 
Ước vọng về Nam : “Nỗi khát khao” 
Vượn hú vọng buồn tim quặn thắt 
Chim kêu sầu não lệ rơi trào 
Không cành mai đẹp, không trà, rượu 
Chẳng bánh chưng xanh, chẳng mận, đào 
Giờ hưởng muôn vàn Xuân hạnh phúc 
Chạnh lòng nhớ lại Tết năm nao !!! 

THANH HOÀNG 
———————————————————–
 Bắt cô trói cột “ là tiếng kêu buồn thảm của 
một loài chim ở trên núi do bạn tù đặt tên

 LU HÀ mến hoạ thơ Thanh Hoàng

Ta van con day
Mới thế mà nay tuổi đã cao 
Bạc đầu râu tóc trắng khi nào? 
Hàng binh bại tướng thân tù tội 
Chế độ thâm thù ghét mãi sao? 
Rừng thẳm non cao nơi hẻo lánh 
Khỉ ho gà gáy chốn xôn xao 
Bọ vàng da cóc thân còm cõi 
Bếp lưả đồi tranh khói ngạt ngào 

Rận rệp giường tre máu ngọt ngào 
Đòn thù thâm độc nhớ hồi nao? 
Nỗi niềm vinh nhục bao đau xót 
Cuộc thế đổi thay vẫn khát khao 
Mấy chục năm rồi xa tổ quốc 
Tuổi già chân hạc cánh hoa đào 
Hoàng Liên Sơn trại xa vời vợi 
Tưởng chết mà ta vẫn sống sao? 

19.2.2010 Lu Hà

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Tết Năm Nào – Thơ Thanh Hoàng

Hội Ái Hửu CSQG Minnesota Mừng Xuân Quí Tỵ

Thưa các bạn ,

Xin mời các bạn K1 xem video clips về buổi họp mặt tất niên 2012 và mừng xuân Quý Tỵ 2013 của Hội Ái-Hữu Cựu CSQG/VNCH/Minnesota , đã được tổ chức vào lúc 11 giờ ngày 26 tháng 01 năm 2013 tại nhà hàng Lucky Dragon , Mineapolis , MN .

Trong đó các bạn sẽ tìm thấy lại dung nhan của 3 K1 Tôn-thất-Biên ( chơi guitar ) , Nguyễn-minh-Đường ( ngồi bàn ) và Lê-hữu-Nghĩa (  hát bài Mùa Xuân Không Cánh Én ).

Chúc tất cả các bạn K1 một năm mới đầy thắng lợi .

Thân mến,

Lê-hữu-Nghĩa .

Hội Ái Hữu CSQG Minnesota Mừng Xuân Quí Tỵ (P1)

Hội Ái Hữu CSQG Minensota Mừng Xuân Quí Tỵ (P2)

Hội Ái Hữu CSQG Minnesota Mừng Xuân Quí Tỵ (P3)

Hội Ái Hữu CSQG Minnesota Mừng Xuân Quí Tỵ (P4)

Hội Ái Hữu CSQG Minnesota Mừng Xuân Quí Tỵ (P5)

Hội Ái Hữu CSQG Minnesota Mừng Xuân Quí Tỵ (P6)

Hội Ái Hữu CSQG Minnesota Mừng Xuân Quí Tỵ (P7)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Hội Ái Hửu CSQG Minnesota Mừng Xuân Quí Tỵ

Hội Ái Hữu CSQG Nam Cali Mừng Xuân Quí Tỵ

Nam Cali luôn luôn đi đầu trong mọi sinh hoạt mang tính Cộng Đồng, do đó Vui Tết Mừng Xuân cũng đi trước các nơi. Kính  mời quý vị xem lời giới thiệu và hình ảnh do phóng viên K1 Thiệu Vỏ thực hiện.

Kính gởi Quý Niên Trưởng & Quý Chiến Hữu.

      Hội Ái Hữu CSQG Nam California đã tổ chức mừng Xuân Quý Tỵ 2013 tại Seafo od World Restaurant Westminster Nam Cali  lúc 6:00 PM ngày 2/2/2013.
Mặc dầu hôm nay trời hơi lạnh, nhưng cũng có khoảng gần 300 Quý Vi cựu CSQG và gia đình đến tham dự họp mặt mừng Xuân Quý Tỵ 2013.
Sau phần nghi thức khai mạc, Ban Tổ Chức giới thiệu thành phần Quan Khách đến tham dự buổi họp mặt, NT Trần Quan An & NT Phan Tấn Ngưu đọc lời chào mừng và chúc Tét đến Quan Khách và cựu Viên Chức thuộc lực lượng CSQG/VNCH đến dự lể họp mặt mừng Xuân Quý Tỵ ngày hôm nay.
Phần Văn Nghệ cây nhà lá vườn thật là đặc sắc đã tạo không khí vui tươi và đầm ấm đối với những người về dự tiệc hôm nay có một thời gắn bó với nhau trong công tác giữ gìn an ninh trật tự cho VNCH thời Đệ Nhứt và Đệ Nhị Cộng Hòa.
Phần xổ số là một tiết mục hào hứng nhứt trong buổi tiệc hom nay.
Mọi người ra về như còn luyến tiếc và hẹn sẽ gặp lại nhau trong ngày CSQG vào nữa năm sau .

      Trân trọng kính chào.

      Thieu Vo

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Hội Ái Hữu CSQG Nam Cali Mừng Xuân Quí Tỵ

Vụn vặt về Truyện Kiều

                                        vun vat ve truyen kieu title

Nguyễ chính MinhTôi không có ý định nghiên cứu, phê bình gì ở đây. Chỉ một điều là sau khi đọc xong một số bài về Truyện Kiều (1), tôi cũng muốn nói lên vài cảm nghĩ của mình, vài cảm nghĩ riêng tư và vụn vặt.

1-      NGUỒN GỐC ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH

Các cụ học giả bảo rằng “ Kim Vân Kiều truyện” của Tầu là một tiểu thuyết tầm thường thô lỗ, nhờ  tài năng của Nguyễn Du mà Truyện Kiều trở nên một áng văn trác tuyệt. Đành là thế. Nhưng tôi vẫn ấm ức việc ấy, việc Nguyễn Du viết Đoạn Trường Tân Thanh dựa theo Kim Vân Kiều truyện của Tầu. Phải chi Cụ đừng phóng tác đừng vay mượn thì có phải hay hơn không, trọn vẹn hơn không?

Có lẽ để giải tỏa nỗi ấm ức ấy, có người bảo rằng Việt Nam là một giống dân xuất phát từ Trung Hoa, đã từ Trung Hoa mà ra thì không còn gọi là vay mượn nữa (2).

Tôi không tin. Vả lại, nếu Nguyễn Du là người Hoa thì vẫn cứ là vay mượn.

Tôi tin rằng dân Việt là một giống dân khác hẳn Tầu, bị Tầu đô hộ hàng ngàn năm dùng mọi thủ đoạn đồng hóa. Nhưng dân Việt vẫn là dân Việt, tiếng Việt vẫn là tiếng Việt.

Nhất nhị tam là dấu tích lệ thuộc Tầu.

Một hai ba là niềm tự hào của một dân tộc nhất quyết không bị đồng hóa.

Vay mượn Kim Vân Kiều truyện là dấu tích lệ thuộc Tầu.

Đoạn Trường Tân Thanh là niềm tự hào của văn chương Việt.

Vì thế, “ Truyện Kiều còn, tiếng ta còn. Tiếng ta còn, nước ta còn.”

2-      CÓ TRỜI MÀ CŨNG TẠI TAkim-kieu-hoi-ngo

Thuyết Thiên Mệnh rất dễ bị đánh đổ.

Hai giáo sư triết học Nguyễn văn Trung và Trần bích Lan dùng luận cứ Tự Do của con người đánh đổ thuyết Thiên Mệnh. Rất hay.

Nhưng bảo rằng Kiều đẻ ra nỗi đoạn trường của nàng thì nghe …thế nào ấy (3). Và bảo rằng thông điệp của Nguyễn Du là “ thông điệp về cuộc sống của con người như một phiêu lưu tự do” thì thú thật tôi chưa bao giờ học triết học nên nghe thấy hay nhưng không khác vịt nghe sấm.

Thiền sư Nhất Hạnh cũng đánh đổ Thiên Mệnh bằng Tự do của con người, nhưng nói thêm : Tự do khởi từ Chánh Niệm

Chánh Niệm là gì ?

“ Là khi đi thì phải biết mình đi, khi đứng thì phải biết mình đứng, khi uống nước thì phải biết mình uống nước…”(4).

Đến đây thì sự cao siêu đã vượt quá tầm hiểu biết của tôi.

Một đằng là phiêu lưu tự do, một đằng là khi đi thì phải biết mình đang đi. Đây quả là nơi đàm luận của những bậc thức giả, tôi không nên mon men lại gần.

Nhưng lại nghĩ, Truyện Kiều là của tất cả mọi người, không phải của riêng ai. Nên đánh bạo thưa rằng :

Nguyễn Du không chỉ nói tới Thiên Mệnh mà còn nói tới nhiều thứ : trời, ta, tài, tai, thiện, tâm, nghiệp, mệnh. Trong nhiều thứ lộn xộn ấy, ẩn dấu một chân lý rất đơn sơ :

                         có trời mà cũng tại ta

3-      KIỀU YÊU AI NHẤT ?

Anh bạn rất thích đề tài này đố tôi : trong ba người Kim Trọng, Thúc Sinh, Từ Hải, Kiều yêu ai nhất. Tôi nói làm sao mà biết được Kiều yêu ai nhất, nhưng chắc là Nguyễn Du cho Kiều yêu Từ Hải nhất nên có câu thơ hay như vầy :

   Cánh hồng bay bổng tuyệt vời

   Đã mòn con mắt phương trời đăm đăm

Anh bạn không đồng ý. Anh nói Kiều yêu Thúc Sinh nhất, câu thơ tả nỗi tương tư của hai người này hay và nổi tiếng hơn câu kia gấp mấy chục lần :

   Vầng trăng ai xẻ làm đôi

   Nửa in gối chiếc nửa soi dậm trường

Nghe có lý. Nhưng có người phản đối, bảo rằng Kiều không bao giờ yêu Thúc và Từ. Lý do thì nhiều, nhưng trước hết là hai ông này không tương xứng, không trai tài gái sắc như Kim Trọng (5). Nghe vậy chắc lại có người không đồng ý. Nhưng thôi, Thúc và Từ là chuyện đã qua, xin hãy nói về chuyện bây giờ :  Kiều đoàn tụ với Kim Trọng.

Nhà văn Vũ Khắc Khoan nói rằng Nguyễn Du quan niệm hôn nhân hạ thấp tình yêu, vì thế Kim và Kiều như hai giáo sĩ lập nên một bàn thờ để tôn thờ mối tình của họ (6). Tôi e rằng lập luận này hơi gượng ép.

Thiền sư Nhất Hạnh thì nói rằng lần này Kiều quyết chí tu thật rồi, kéo theo Kim Trọng cùng tu nữa (7).

Tôi không tin. Nếu muốn tu thì phải cất một cái am sau vườn, một mình tụng kinh gõ mõ. Cứ như thế này thì tu nỗi gì :

   Khi chén rượu khi cuộc cờ

   Khi xem hoa nở khi chờ trăng lên

Kiều vẫn yêu Kim Trọng lắm. Như bao giờ. Như chưa hề yêu ai :

   Chữ trinh còn một chút này

Kiều cũng biết rằng Kim Trọng vẫn yêu Kiều lắm :

   Hoa tàn mà lại thêm tươi

   Trăng tàn mà lại hơn mười năm xưa

Câu nịnh hơi quá, nhưng có sự thật là Kim thấy Kiều vẫn đẹp, rất đẹp.

Vậy tại sao ? Cái gì ngăn trở ?

Có lẽ sự ngăn trở đó là mười lăm năm luân lạc của Kiều rất khác với mười lăm năm học hành, làm quan, sinh con đẻ cái của Kim Trọng.

Kiều cần sự hiểu biết của Kim Trọng. Để làm chồng, trước hết Kim phải là người tri kỷ.

   Lọ là chăn gối mới ra sắt cầm

Nói thế thì chàng Kim rất thông minh nhưng vẫn chưa hiểu. Phải là chăn gối mới ra sắt cầm chứ. Yêu Kiều, chiều theo Kiều, muốn ra sao thì ra. Thế thôi.

Cần có thời gian.

Khi tương tri đã thật là tương tri thì tình yêu Kim Kiều không còn gì ngăn trở, và ranh giới cầm sắt cầm cờ sẽ không còn nữa.

4-      CÁI HAY CỦA TRUYỆN KIỀU

Nếu không biết tác giả, tôi đoán ngay câu này là của Vũ Hoàng Chương hay Đinh Hùng :

   Hương gây mùi nhớ trà khan giọng tình

Cái mới trong thơ Nguyễn Du thật đáng kinh ngạc.

Cái mới, cái hay về văn chương này là cái người ta thưởng thức trong lúc nhàn hạ ngâm nga, không phải là điều tôi muốn nói tới.

Năm 1979, ở trại tù cải tạo Nam Hà, anh bạn đưa tôi xem tấm postcard do người yêu gửi vào, trên đó chỉ ghi một dòng :

     Mai sau dù có bao giờ

Câu thơ này tôi đã từng biết đâu có gì lạ đâu, lúc ấy sao bỗng nghe buồn quá. Cánh đồng mùa đông trơ trụi bỗng như trải dài vô tận. Phút giây ấy bỗng như  thiên thu.

Đây là lần đầu tiên tôi biết đến cái “ hay “ của Truyện Kiều. Tôi ngạc nhiên về sức mạnh ghê gớm của câu thơ.

Tôi cho là Truyện Kiều có linh hồn. Biết được cái hay của Truyện Kiều là khi mình rung động không chỉ vì vẻ đẹp bên ngoài mà là sự hoà nhập sâu thẳm của hai tâm hồn.

Một lần khác, ở Mỹ, được nghe anh bạn nhắc đến câu :

     Tưởng bây giờ là bao giờ

Tôi thích câu này quá chừng. Trời ơi, sao mà hay thế. Tôi muốn viết một bài luận văn ca ngợi cái hay của câu thơ, bàn đến hết mọi vẻ đẹp của nó và nói lên lòng mình rung động thế nào. Nhưng  không thể nào viết nổi.

Có những cảm xúc lớn lao người ta không thể diễn tả được, ngôn ngữ trở nên quá thiếu thốn. Chẳng hạn như nói đến nỗi đau khổ, ngoài mấy chữ đoạn trường đứt ruột, không còn biết nói sao hơn.

Tưởng bây giờ là bao giờ cũng thế. Còn biết nói sao hơn.

Có một hình ảnh có thể so sánh : Ngày mới qua Mỹ, đứng trơ vơ trên đường Bolsa trước khu Phước Lộc Thọ. Bỗng gặp người bạn đồng khoá, đồng tù, cũng mới qua. Mừng ơi là mừng. Không chỉ là “ tha hương ngộ cố tri “ mà trong nỗi mừng vui có cái bóng của mười mấy năm qua.

Đời tôi có hai lần cảm xúc mãnh liệt với Truyện Kiều như thế. Tôi nghĩ, nếu mình không đi tù cải tạo thì chắc gì đã có dịp biết được cái hay của Truyện Kiều. Tôi không có ý nói là cứ phải đi tù cải tạo thì mới biết được cái hay của Truyện Kiều : Hai trăm năm nay và nhiều trăm năm nữa, người ta rung động với Kiều mỗi người mỗi cách. Riêng tôi, đến bây giờ thỉnh thoảng vẫn nằm mơ thấy mình chuyển trại, rung cảm của tôi với Kiều không tách rời khỏi những ngậm ngùi của cuộc chiến vừa tàn.

                                                                                          NCM

                                                                                       01-2013

CHÚ  THÍCH :

(1)   : Gồm có :

–          Nhất Hạnh, Thả một bè lau, Truyện Kiều dưới cái nhìn Thiền quán, Lá Bối xb San Jose 2000.

–          Vũ Hoàng Chương, Góp phần hiểu biết

http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=14253&rb=08

–          Nguyễn văn Trung, Đặt lại vấn đề Truyện Kiều hay phê bình văn học.

http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=14253&rb=08

–          Nguyễn sỹ Tế, Triết lý đoạn trường.

http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=14257&rb=08

–          Trần bích Lan, Nguyễn Du trên những nẻo đường tự do.

http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=14257&rb=08

–          Doãn Quốc Sỹ, Tình quê hương của Thúy Kiều.

http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=14272&rb=08

–          Vũ Khắc Khoan, Nguyễn Du và tình yêu.

http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=14272&rb=08

–          Trần Thanh Hiệp, Để giải quyết mâu thuẫn trong ĐTTT

http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=14272&rb=08

–          Thanh Tâm Tuyền, Cửa vào ĐTTT

http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=14284&rb=08

–          Đàm Trung Pháp, Đọc lại Truyện Kiều để yêu thêm tiếng Việt.

http://thienmusic6.free.fr/TruyenKieu-ThoNhac-12-DamTrungPhap.pdf

–          Phạm thị Nhung, Tiếng đàn Thuý Kiều.

tp://thienmusic6.free.fr/TruyenKieu-ThoNhac-17-PhamThiNHung.pdf

–          Dương anh Sơn, Nguồn gốc ĐTTT

http://thienmusic6.free.fr/TruyenKieu-ThoNhac-13-DuongAnhSon.pdf

–          Nguyễn thị Hoàng, Tâm hồn, tư tưởng, nghệ thuật của Nguyễn Du qua Truyện Kiều

http://thienmusic6.free.fr/TruyenKieu-ThoNhac-19-NguyenThiHoang.pdf.

–          Tạ Quang Khôi : – Vay mượn trong văn học cổ Việt Nam.

                             -Có nên định lại giá trị ĐTTT không.

                             -Nhân vật Truyện Kiều.

                             -Minh oan cho Hoạn Thư

     (2) : Tạ Quang Khôi, Vay mượn trong văn học cổ Việt Nam : “ Tổ tiên chúng ta phát xuất từ vùng Triết Giang bên Trung Hoa, là một trong nhóm Bách Việt ở Tây Nam Trung Hoa, như nước Việt trong thời chiến quốc( Câu Tiễn), Việt Đông ( Từ Hải). Từ Trung hoa mà ra, tất nhiên ta phải theo văn hóa Trung hoa. Như vậy không còn gọi là ảnh hưởng nữa.”

http://cothommagazine.com/index.php?option=com_content&task=view&id=508&Itemid=49

(3)   : Nguyễn văn Trung, Đặt lại vấn đề Truyện Kiều hay phê bình văn học :” Kiều luôn luôn hành động như một tự do quyết định và lựa chọn, và nếu có định mệnh thì chính Kiều đã chọn định mệnh : Tự do của Kiều đã đẻ ra định mệnh, vì nếu nàng không tự ý bán mình chuộc cha, còn đâu là định mệnh.”

(4)   : Nhất Hạnh, Thả một bè lau, trang 461.

(5)   : Vũ Khắc Khoan, Nguyễn Du và tình yêu :” Thúc Sinh có thể say mê Kiều, nhưng đáp lại Thúc, Kiều chỉ cảm thấy cái ý nghĩa lứa đôi. Từ Hải có thể thành thật yêu Kiều, nhưng đối với Từ, Kiều chỉ có long kính phục…

“ Về mọi phương diện phải công nhận rằng hai bên Kim Kiều đã rất xứng đôi vừa lứa. Tài ngang nhau, sắc ngang nhau, gia thế xấp xỉ như nhau…”

(6)   : Vũ Khắc Khoan, bài đã dẫn :” Và cả hai chợt hiểu : đối với họ, đối với mối tình của họ, giai đoạn thứ ba không thể là giai đoạn hôn nhân. Mối tình đầu đã thăng hoa đến chỗ tuyệt vời. Giai đoạn thứ ba chỉ có thể là giai đoạn mặc niệm.

“ Và một thái độ : thái độ của một đôi giáo sĩ cùng chung một niềm thông cảm trước bàn thờ, nơi yên vị tự mười lăm năm cũ, một mối tình đầu đã thăng hoa đến chỗ tuyệt vời.”

(7)   : Nhất Hạnh, sách đã dẫn, trang 388 và tiếp theo :” Thứ tình đam mê mười lăm năm trước bây giờ đối với Thúy Kiều đã lạnh như tro tàn. Kiều đã học được tình thương trong đạo Bụt, thứ tình giải thoát từ bi.”

               .

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Vụn vặt về Truyện Kiều

Cây nhà, Rau vườn – Thơ Đoàn Ngọc Nam

   Cay nha, rau vuon DNN

cs_clip_image008Chúng ta đi đem theo quê hương
Tránh sao khỏi bịn rịn vấn vương
Chôn nhau cắt rốn đành xa cách
Lũy tre làng chạy dọc con mương

Trên đất Mỹ Việt Nam trước mắt
Mai đào ngày Tết tỏa mùi hương
Giàn bông giấy nhà ai cũng có
Nét quân tử bụi trúc phô trương

Vườn sau nhà rau thơm các loại
Ngò gai húng quế đọt ngọn vươn
Cà trắng ớt xanh giống sây trái
Vui thú điền viên nhớ trồng ương

Bưởi vàng mận đỏ màu sắc Việt
Hồn thiên quê Mẹ thật mến thương
Dẫu rằng rau quả không ngon lắm
Tình đậm đà gợi nhớ Quê Hương

            ĐOÀN NGỌC NAM

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Cây nhà, Rau vườn – Thơ Đoàn Ngọc Nam

Chúc Mừng Năm Mới của K1 Tống Phước Kiên

Tua de chuc mung nam moi

DSC00230TPK.jpg 2Kính thưa quý NT, quý đồng môn và thân hữu.

          Hôm nay chúng ta cùng nhau đón mừng một mùa xuân nữa trên quê hương thứ hai nầy. Năm Nhâm Thìn qua đi với nhiều khó khăn trên thế giới và nhiều đau buồn cho quê mẹ Việt Nam. Sau 38 năm cưỡng chiếm miền nam, CSVN đã làm cho Tổ Quốc thân yêu của chúng ta tan nát từ kinh tế, xã hội mà tệ hại nhất là nền giáo dục vô thần phi nhân bản. Căn bệnh cướp của giết người không gớm tay của bọn đồ tể cộng sản đã lan truyền đến mọi tầng lớp dân chúng. Những thảm cảnh con giết cha,vợ giết chồng, anh em giết nhau xẩy ra thường xuyên trên mọi miền đất nước.

          Đó là hệ lụy của chủ nghĩa cộng sản không tưởng “làm theo khả năng hưởng theo nhu cầu”. Cộng sản chủ trương “ bạo lực cách mạng và chuyên chính vô sản” để nắm quyền lực và duy trì nó bằng mọi giá thì sắt máu và đói nghèo là điều ắt phải xẩy ra.

          Trước thềm năm mới, dù cách xa quê hương thân yêu đến nửa vòng trái đất, nhưng chúng ta ai cũng bùi ngùi hướng về quê cũ nơi mà đồng bào ruột thịt, nhất là bà con thân thích của mình đón tết với hoàn cảnh “người ăn không hết, kẻ mần không ra”. Chỉ có hơn ba triệu đảng viên Cộng Sản cùng gia đình của họ nhờ tham nhũng,cướp đoạt tài sản ruộng đất của dân lành mới có cuộc sống “ngựa xe như nước, áo quần như nêm”. Còn hầu hết người dân VN phải đầu tắt mặt tối mới có miếng ăn, phải cố gắng lắm mới có tấm quần manh áo tươm tất cho con cái trong ba ngày tết.

          Nhà cầm quyền Hà Nội quyết tâm làm tay sai cho Bắc Kinh nên ra tay bắt bớ, đánh đập, bỏ tù những ai chống bọn giặc Hán xâm lược. Nhìn về biển đông mà thấy đau lòng. TC cứ hung hãng bắn giết ngư dân VN,  xây dựng thành phố trên hải đảo của mình mà VC thì im thin thít.

          Hồi tưởng lại những ngày tết xưa cũ, thời thái bình thịnh trị của nền đệ nhất VNCH mà thơ văn đã ca tụng là “Xuân khứ xuân lai xuân bất tận”. Người người từ thành thị đến thôn quê ai cũng rộn ràng chuẩn bị thức ăn, bánh mứt, quét dọn nhà cửa, trần thiết bàn thờ để đón chúa xuân về.

Xã hội VN hồi đó đang còn nghèo nhưng chẳng có cảnh “chạy ăn từng bữa toát mồ hôi” nên ai cũng nhởn nhơ “hầm hà ăn ba bữa tết, đen đỏ chơi bảy ngày xuân”. Mọi người hân hoan khi pháo giao thừa rền vang khắp nơi. Nào hương đèn lễ lạc trước bàn thờ tổ tiên, nào đi chùa hái lộc, đi lễ đầu năm.Trẻ con xúng xính trong quần áo mới đến mừng tuổi ông bà cha mẹ để được thưởng cho bao lì xì.

          Những lễ hội mừng xuân nơi thôn bảng mới đông vui hào hứng. Tùy theo phong tục tập quán của mỗi vùng mà người dân có những cuộc vui khác nhau như đua thuyền, kéo co, đánh đu, hội chợ, chọi gà, chọi trâu, bài chòi v.v.

Mùa xuân cũng là mùa lúa trổ bông, người nông dân không bận rộn với công việc đồng án nên hội hè tết nhất nơi thôn dã cứ kéo dài không dứt. Vì thế mà người dân quê cứ hát véo von  “tháng giêng là tháng ăn chơi, tháng hai cờ bạc tháng ba rượu chè”. Câu nói tiếng cười rộn ràng khắp nơi. Không những thanh niên, thiếu nữ, trẻ con mới rạng rỡ như hoa xuân nở rộ trên mọi nẽo đường mà cả cụ già bà lão cũng tươi lên như đời trẻ lại. Đâu đâu cũng “thịt mở dưa hành câu đối đỏ, cây nêu tràng pháo bánh chưng xanh”.

          Đến thời đệ nhị VNCH, khi cộng sản Bắc Việt gia tăng đưa quân vào quyết đánh phá miền nam, đặc biệt là vào những ngày lễ ngày tết thì mùa xuân như bị thu hẹp lại.Tết nhất chỉ còn vui nhộn nơi thành thị và những vùng có an ninh. Đó là lúc người lính VNCH gìm chặt tay súng nơi các tiền đồn, các đơn vị trấn giữ hậu phương như Nghĩa Quân, Quân Cảnh, Cảnh Sát Quốc Gia v.v.phải cấm trại 50% có khi 100% để đồng bào mình được bình yên đón mừng năm mới.

          Nhớ về những ngày xuân trong quá khứ thì không thể quên đi những mùa xuân đau thương của dân tộc. Xin hãy lắng lòng tưởng niệm đến những nạn nhân mà VC đã thảm sát vào dịp tết Mậu Thân năm 1968. Cộng sản Bắc Việt đã trắng trợn phản bội lệnh hưu chiến mà chính chúng đề nghị, bất thần tấn công vào 64 tỉnh thành trên khắp miền Nam ngay trong ngày tết thiêng liêng của dân tộc. Chúng đã giết hại hàng loạt người dân vô tội, đặc biệt là khoảng sáu ngàn dân lành đất Thần Kinh bị VC giết chết một cách dã man bằng cách đập đầu bể sọ, hoặc cột lại từng xâu xô cả xuống hố rồi cứ thế mà chôn sống.

          Đau buồn nhất là mùa xuân Ất Mão 1975, bởi đó là mùa xuân hấp hối của nền dân chủ Miền Nam. Người lính VNCH tuy còn súng nhưng đạn không còn nên phải rút lui. Người dân vì quá khiếp sợ VC nên tìm đường trốn chạy và chính hàng hàng lớp lớp dân lành nầy là mục tiêu của đạn pháo  bắc quân. Xác người la liệt từ cửa biển Thuận An, bãi biển Mỹ Khê, tỉnh lộ 7, rãi dài theo Quốc Lộ 1 đến tận Sài Gòn. Đó là mùa xuân mà bên thắng cuộc hân hoan trên bàn tiệc máu của cả dân tộc VN.

          Cùng với hơn ba triệu người Việt tị nạn cộng sản đang sống lưu vong trên toàn thế giới chúng ta tổ chức mừng xuân nhớ về cội nguồn.

          Trong không khí linh thiêng của mùa xuân đang về chúng ta hãy nguyện cầu, xin anh linh tiên tổ độ trì cho quê hương VN sớm có tự do, dân chủ và công bằng, để đồng bào trong nước không còn sống dưới ách độc tài đảng trị CSVN, hầu Tổ Quốc VN thoát khỏi vòng nô lệ giặc Tàu thêm một lần nữa.

          Viễn ảnh của năm Quý Tỵ nầy đối với tiền đồ VN thật không sáng sủa chút nào. Bọn bá quyền Trung Nam Hải ngày càng hung hăng trên biển đông và quyết tâm nuốt chửng cả quần đảo Trường Sa của chúng ta.Tuy nhiên chúng ta không bi quan vì giới trẻ và trí thức trong nước với sự hổ trợ tích cực của đồng bào hải ngoại, đang đấu tranh quyết liệt để dành lấy tự do, dân chủ cùng toàn vẹn lãnh thổ mà tổ tiên của mình đã đổ nhiều xương máu mới gầy dựng được.Vận mệnh đất nước và tiền đồ Tổ Quốc VN phải do dân tộc VN định đoạt. Không buông tay cho đảng CSVN vì chúng là bọn bán nước hại dân. Toàn dân VN mà thanh niên là lực lượng tiên phong phải cương quyết tiến lên dù phải hy sinh gian khổ thì sớm hay muộn chúng ta cũng dành lại giang sơn cho muôn đời con cháu về sau. Chúng ta không buông xuôi cho số phận. Cách đây ba thế kỹ cụ Nguyễn Du đã nói “xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều”.

          Kính chúc quý NT, quý thân hữu cùng gia đình một cái tết vui tươi, một năm mới Quý Tỵ an khang, thịnh vượng.

          Ước mong chúng ta sớm được họp mặt mừng xuân trên quê hương VN tự do và dân chủ.

Tống Phước Kiên Chuc mung nam moi                                                              Xuân Quý Tỵ 2013

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Chúc Mừng Năm Mới của K1 Tống Phước Kiên

Sớ Táo Quân K1- Báo cáo 2

So tao quan K1 (báo cáo 2)

ong tao cuoi ca chep ve troi

Muôn tâu Ngọc Hoàng Thượng Đế
Thần là Táo Quân
Gia Đình Cò Khóa Một
Học Viện Cảnh Sát
Quốc Gia Việt Nam
Nay đã hết năm
Thần xin báo cáo
Không dám nói láo
Chuyện trong năm qua
Năm Rồng sắp qua
Năm Rắn đã đến
Bao nhiêu biến chuyển
Các ông bà Cò
Thường xuyên nhỏ to
Trên Căn Nhà Nhỏ
Chủ nhân năng nổ
Công Vinh tận tình
Nối kết bạn mình
Trổ tài thi phú
Làm thơ tu hú
Đường Cóc vịnh ngâm
Ngũ Cóc năm ông:
Hữu Nghĩa số dách
Hay là Cóc Chát
Quang Nghiệp Cóc Khô
Điển tích một bồ
Thanh Hoàng Cóc Tía
Làm thơ lia lịa
Lệ Khanh Cóc Chay
Tránh mặn lâu ngày
(Thân hữu Khóa Một)
Văn hay chữ tốt
Riêng ông Cóc Xanh
Trưởng Khóa hiền lành
Có vẻ hơi bí
Xướng họa chút xí
Góp mặt cho vui
Mấy ông Cóc ơi
Còn một ông nữa
Sao không làm thơ
Chỉ ngồi Chầu Rìa
Là Chính Minh Nguyễn
Nhưng chính mọi chuyện
Bắt nguồn từ ông
Câu chuyện lòng vòng
Bởi ly nước mía (1)
Trưa hè năm cũ
Thổi kèn đám ma
Nhịn khát làm qùa
Cho bầy con trẻ
Còn nhiều bạn nữa
Thơ phú thua gì
Đoàn Ngọc Nam Cali
Cùng anh Nguyễn Phiến
Thường xuyên góp tiếng
Thêm Nguyễn Hoài Ân
Và Tống Phước Kiên,….
Mỗi người mỗi vẻ

             *

Nay Thần xin tiếp kể
Chuyện các đồng môn
Khóa Một trong năm
Buồn vui lẫn lộn
Cuộc đời tị nạn
Xứ lạ quê người
Lần lượt đến hồi
Gĩa từ cõi tạm
Năm qua hai bạn:
Một, Trần Kim Chung
Hai, Vũ Gia Long (2)
Đã bỏ bạn bè
Cưỡi hạc ra đi
Về miền Vĩnh Cửu
Một số bạn cũ
Còn ở Việt Nam
Cuộc sống khó khăn
Phe ta vẫn nhớ
Cố gắng giúp đỡ
Của ít lòng nhiều
Tuy chẳng bao nhiêu
Chút tình viễn xứ
Nghe tin bạn cũ
Còn ở quê nhà
Lâm Đồng nẻo xa
Có Nguyễn Viết Lộc
Ngày đêm cuốc đất
Tội nghiệp bạn ta
Đôi vợ chồng gìa
Bạn bè đóng góp
Thêm Nguyễn Văn Suốt
Số phận hẩm hiu
Ở tù khá lâu
Mà Hát-Ô lọt sổ
Thật là xấu số
Giống như Cò Bà
Thiên nga Hạnh Hà
Cuộc đời bất hạnh
Long đong lận đận
Bệnh tật nan y
Xuống tóc quy y
Nương nhờ Cửa Phật
Noi gương Bồ Tát
Khoác áo nâu sòng
Ni sư Tấn Dung (3)
Một cuộc đời mới

            *

Điều Thần muốn nói
Khóa Một đồng môn
Bạn bè muôn phương
Luôn luôn Đoàn Kết
Yêu Thương
hết biết
Tương Trợ lẫn nhau
Dù ở đâu đâu
Vẫn thương vẫn nhớ
Cùng nhau nhắc nhở
Hướng về quê xưa
Mong ngày trở về
Không còn bóng Vẹm
Niềm vui trọn vẹn
Đang đợi một ngày
Cách Mạng Hoa Lài
Nở trên đất Việt
Vui nào kể xiết

            *

Báo cáo tạm hết
Thần xin cáo biệt
Trở lại trần gian
Bái bai Ngọc Hoàng
Si du nách dia.

TÁO KHÓA 1 cẩn tấu

(Trưởng K1 cọp-dê chuyển đến các bạn K1)

Ghi chú:

(1)   K1 Nguyễn Chính Minh sau khi ra tù phải mưu sinh bằng nghề kéo đờn cò đám ma để kiếm tí tiền còm về làm qùa cho con đến nỗi khát nước thèm một ly nước mía mà không dám uống.

(2)   K1 Trần Kim Chung và K1 Vũ Gia Long vừa từ trần trong tháng 11 và tháng 12 vừa qua.

(3)   Nữ K1 Hà Thị Hạnh sau khi thoát khỏi căn bệnh hiểm nghèo (ung thư) đã xuống tóc đi tu với Pháp danh Thích Nữ Tấn Dung k/t tháng 9/2011.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Sớ Táo Quân K1- Báo cáo 2

Đường Cóc số 2 – Xuân Tha Hương

duong  coc 2Trong năm 2012 CNN đã được hân hạnh giới thiệu đến quý độc giả những bài thơ Đường Cóc. Riêng Đường Cóc số 2 đến nay mới được ra mắt quý thân hữu và các bạn yêu thích Thơ Đường. Đây không phải là một sự chậm trể, CNN muốn dành những bài thơ nầy cho Xuân Quý Tỵ. Những bài thơ Xuân nói lên tâm trang của những người ly hương nhưng luôn luôn khắc khoải hướng về quê mình mà nơi đó đồng bào ta đang sống trong cảnh cùng cực, mất hết quyền tự do tối thiểu của một con người, nơi đó quê hương ta đang bị nạn giặc Trung cộng mưu đồ xâm lấn, nơi đó đồng bào ta đang bị bạo quyền Việt cộng cướp đất, đàn áp các cuộc biểu tình yêu nước chống Trung cộng. . .

Những tình cãm đó đã được thể hiện sâu sắc qua các bài thơ Xuân của Đường Cóc số 2. Bạn NĐT ra đề “Xuân Tha Hương”. Lệ Khanh viết 2 câu đầu. Thanh Hoàng 2 câu 3,4. LHN 2 câu 5,6 và kết thúc 2 câu 7, 8 của bạn PQN. Kính mời:

 Xuan tha huong  ngu lao

       Và tiếp theo là các bài họa:                                 Xuan tha huong _PQGChuc xuan LKXuan nho LHN

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Đường Cóc số 2 – Xuân Tha Hương

Táo Quân K1

                                             Tao quan K1

 Ghep TPK.jpg ghep xong

Muôn tâu Ngọc Hoàng
Qua một năm ròng
Rồng đi rắn đến
Đến hẹn lại lên
See you again
Thiên Đình tái đáo

Thần đây là táo
Cảnh Sát Học Viện
Đại diện đồng môn
Vui buồn Khóa Một
Lắm điều thưa thốt
Gom góp báo trình
Tình hình hạ giới
Những chuyện nhớ đời
Trời mới vào Xuân
Chim hót tưng bừng
Vang lừng sớm tối
Hòa lời thông báo
Mở hội Hoa Đào
Hô hào mời gọi
Thần cũng khăn gói
Về tới Thủ Đô
Của xứ Cờ Hoa
Trước là phó hội
Sau ngắm hoa đào
Hoa nào chẳng thấy
Chỉ thấy trơ cành
Rung trong gió lạnh
Về tới khách sạn
Gặp bạn đỗ về
Từ San Jose
Từ bên Texa
Từ khắp mọi miền
Về đây tương ngộ
Ôi đông lố nhố
Vui ơi là vui
Nhìn lui ngó tới
Người người rạng rỡ
Đẹp tựa hoa đào
Cười nói ngọt ngào
Dạt dào phơi phới
Rồi tới hội trường
Trông đẹp quá chừng
Cờ Vàng sáng rực
Lễ nghi đúng mức
Cảnh phong cảnh phục
Uy lực một thời
Như đời sống lại
Cái thuở hoàng kim
Nhìn laị chính mình
Thật tình quá chán
Làm thân tị nạn
Tai lãng mắt mờ
May nhờ các bạn
Trong ban tổ chức
Gắng sức đưa đón
Hướng dẫn du ngoạn
Thăm cảnh Thủ Đô
Nào tòa Quốc Hội
Nào ngôi Nhà Trắng
Nào tháp bút chì
Chiếc bút kỳ vĩ
Chép ghi hiến pháp
Cuộc đời hoan lạc
Tuyệt tác nhân quyền
Tổ Quốc thiêng liêng
Mẹ hiền dân Mỹ
Đơn sơ thâm thúy
Cổ xúy tự do
Quanh quẩn vòng vo
Cố lo chụp bóng
Rồi lại đi ngắm
Hình dáng Nữ Thần
Xa tận New York
Trên cao chót vót
Ngọn đuốc tự do
Soi cho thế giới
Soi tới Việt Nam
Cho bọn tham tàn
Bỏ đàng khốn nạn
Bán nước hại dân

Sau lần hội ngộ
Lại nghe đây đó
Bạn bè kêu gọi
Đáp lời Trúc Hồ
Ký thỉnh nguyện thư
Gởi cho Nhà Trắng
Yêu cầu Tổng Thống
Chận đứng giao thương
Với phường Việt cộng
Buộc phải tôn trọng
Ước vọng nhân quyền
Của người dân Việt
Tự do trên hết
Mới đến bán buôn
Kết quả khác thường
Đồng hương tị nạn
Ào ào vào mạng
Trăm ngàn chữ ký
Trong chỉ mươi ngày
Mới dứt chuyện này

Tới ngày truyền thống
Mồng một tháng sáu
Toàn cựu Cảnh Sát
Ở khắp gần xa
Về Nam Cali
Hội ngộ một kỳ
Hàn huyên tâm sự
Chuyện mới chuyện cũ
Niên trưởng đồng môn
Ai mất ai còn
Vui buồn sự nghiệp
Thần đây quá tiếc
Bận việc chẳng đi
Lỡ mất một kỳ
Gặp nhiều bạn hữu
May nhờ cò Thiệu
Chuyên nghiệp phó nhòm
Chịu thương chịu khó
Nháy nhó chụp hình
Chuyển đến cò Vinh
Bạn mình năng nổ
Đưa vào”nhà nhỏ”
Đây đó cùng xem
Người quen kẻ lạ
Tất cả một nhà
“Mả Tà”chính cống
Một thời chống cộng
Bảo quốc an dân
Thời thế xoay vần
Long đong vận nước
Kẻ sau người trước
Dấn bước đoạn trường
Rày sống tha phương
Vẫn luôn thương nhớ
Sắc áo màu cờ
Một thuở bạn dân
Tình thân là thế

Thêm chuyện bạn bè
Người đau kẻ khỏe
Cũng ghé thăm nhau
Kêu gọi mày tau
Thương sao quá thể
Thần nay muốn kể
Dâu bể ngổn ngang
Nhưng sợ Ngọc Hoàng
Chẳng màng sự thế
Quan hôn tang tế
Thượng Đế an bài
Tâu mãi tâu hoài
Làm sao tâu hết
Cho thần tạm biệt
Quay gót xuống trần
Vỗ bụng mừng Xuân
Kiếm năm ba xị
Uống say bí tỉ
Tri kỷ mấy ai
Good bye, good bye!.

Táo quân K1 Tống Phước Kiên
Cẩn tấu

Xuân Quý Tỵ 2013

than tao

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Táo Quân K1