Xin Tạ Ơn – Thơ Thanh Hoàng

Thanh Hoàng xin gởi bạn bài thơ: “XIN TẠ ƠN”. Mong bạn post vào CNN để tạ ơn Hoa Kỳ nhé.Chúc bạn và quý quyến an lành, mạnh khỏe và hạnh phúc trong mùa Lễ Tạ Ơn nầy. Thân ái chào bạn.


Xin cho tôi trọn ân tình và nghĩa
Nước mở lòng đón nhận cưu mang tôi.

TH

Xin trang trọng dâng lên lời đa tạ
Nước Hoa Kỳ, nơi đã cưu mang tôi
Một tù nhân nước Việt Nam xa xôi
Được thả ra từ lao tù Cộng Sản
Một tập đoàn hung tàn vô nhân bản
Với chính sách tù cải tạo tập trung
Đã làm cho nhiều chiến sĩ kiêu hùng
Phải nằm lại vì thiếu ăn : chết đói !!!
Sống trở về với tấm thân còm cõi
Cả thể chất, tinh thần, bệnh kinh niên
Xin tri ân nhân dân Mỹ dịu hiền

Mở vòng tay mà tận tình nuôi dưỡng
Xin bái phục những tấm lòng cao thượng
Ở con người của đất nước văn minh
Xin tạ ơn nước Mỹ đại cứu tinh
Đã ưu ái cứu giúp người cùng khổ
Không ngại ngùng mà ra tay tế độ
Hàng trăm ngàn cảnh ngộ để cưu mang
Lo chăm nuôi và chữa chạy thuốc thang
Lòng vị tha thật vô vàn cảm động
Xin tri ân !!! Nước cho tôi cuộc sống
Từ địa ngục lên hưởng phúc Thiên Đàng
Đến nơi đây : miền đất hứa bình an
Xin tạ ơn và ngàn lần đa tạ !!!

K1 THANH HOÀNG
(Cali.,Thanksgiving 2012)

 

 

 

 

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Xin Tạ Ơn – Thơ Thanh Hoàng

Một Đóa Hồng Cho Thanksgiving Day

Căn cứ vào tác phẩm nổi tiếng ‘ Un Jour De La Vie De L’Amerique ‘ do nhà xuất bản Robert Laffont tại Pháp ấn hành, tổng hợp từ bài viết của hơn 200 ký giả ngoại quốc và trên 250.000 tấm ảnh độc đáo vô cùng giá trị. Nhờ vậy chúng ta mới có cơ hội hiểu được phần nào về ‘ Một đất nước trong một lục địa ‘ có lảnh thổ rộng lớn tới 9.629.091 km2 (chỉ thua Nga, Canada, Trung Cộng) với tổng sản lượng quốc gia gấp trăm ngàn lần nhiều nước khác trên thế giới. Hiện dân số Mỹ hơn 300 triệụ người, đông nhất vẫn là da trắng (chiếm 77% ), da đen (12 %) , gốc La Tin như Y Pha Nho, Bồ Ðào Nha (8%) .. còn lại là thiểu số người gốc Châu Á, Polynésien và Da Ðỏ . Có hơn 73,5% người Mỹ sống tại các đô thị lớn nhỏ . Los Angeles nằm trong tiểu bang California, là một trong những siêu đô thị hiện nay của Hoa Kỳ, xuất phát từ cái tên do người Mễ đặt ‘ El Pueblo De Nuestra Senora Le Reina De Los Angeles De Porcianculal ‘ , hiện có trên 12 triệu dân nói lẫn lộn tiếng Tây Ban Nha và Anh Ngữ. Trong khi đó New York lại là thành phố lớn nhất của Mỹ, cũng là đô thị có nhiều người Do Thái sinh sống nhất trên thế giới, sử dụng tiếng Yiddish (Israel) , loại cổ ngữ chỉ còn xài ở Trung Ðông mà thôi.

Toàn quốc có 15.132 phi trường lớn nhỏ, trong đó Chicago và Dallas Fort Worth được coi là lớn nhất thế giới, cứ 14 giây là có một phi cơ hạ hay cất cánh nhưng có điều kỳ lạ là người Mỹ không thích xuất ngoại bằng máy bay, nên trung bình hằng năm có chừng 15 triệu người ra nước ngoài. Về phương tiện giao thông, Hoa Kỳ đứng đầu thế giới với 6 triệu cây số xa lộ , 150 triệu xe ô tô đủ loại và 30 triệu xe vận tải hạng nặng, xuôi ngược khắp nước hàng ngày, qua vận tốc ấn định từ 88-105 km/giờ.

Kỹ nghệ sản xuất xe hơi của Mỹ vẫn đứng đầu thế giới cho dù mọi người xài cả xe Nhật lẫn Châu Âu. Thủ đô ô tô của Mỹ là Detroit thuộc tiểu bang Michigan nằm kế Ngủ Ðại Hồ. Một người di dân Pháp tên Antoine De La Mothe Cadillac đã lập ra thành phố này. Vì vậy để tưởng nhớ tới ông, các công ty sản xuất xe hơi của Mỹ, mới đặt tên cho một loại xe đắt tiền nhất do Hoa Kỳ chế tạo là ‘ Cadillac ‘.Tới nay ba đại công ty Géneral Motors, Ford và Chryslev vẫn đứng đầu cả nước và thế giới về mức sản xuất xe, qua sự hổ trợ của nhiều công ty nhỏ . Ngoài ra Hoa Kỳ còn là cường quốc dẫn đầu thế giới về điện nguyên tử, máy bay, máy điện toán, thuốc lá, bắp, thịt bò, than đá..

Tuy người Mỹ sống rất thực tế nhưng hầu hết đều tham gia các công tác từ thiện với số tiền góp và tậng phẩm hằng năm gần 100 tỷ mỹ kim. Tóm lại không có ai dám nói rằng mình biết hết chuyện nước Mỹ vì đời sống ở đây gần như thay đổi từng giây từng phút, khó lòng dự đoán được. Tóm lại, người Mỹ không cần biết tới đời tư của bất cứ cá nhân nào khi họ dấn thân vào con đường chính trị, miễn sao các cấp lãnh đạo, mang cho dân chúng có đủ cơm ăn áo mặc, đất nước thanh bình, uy tín của Hoa Kỳ được tôn trong khắp thế giới là đủ rồi.

Ngoài các vấn đề trên, đối với người Mỹ cho dù là người địa phương hay di dân, trong thâm tâm bất cứ ai cũng đều mang một sự hãnh diện với thế giới, qua các công trình kiến tạo của tiền nhân gần 300 năm lập quốc : phố xá khang trang, nhà cửa đồ sộ, thư viện đầy ắp báo chí sách vở, chợ búa sạch ngon, bến tàu phi trường tấp nập rộn rịp về cảnh sắc lẩn tình người. Nói chung, dù dân tộc Hoa Kỳ chỉ mới lập quốc nhưng hầu hết đều có lễ nghĩa đạo đức, lương thiện và chan hòa tình thương (trong đó sự cưu mang hơn 3 triệu người VN Tị Nạn Cộng Sản, từ tháng 5-1975 tới nay), không biên giới ) nên đã nhanh chóng thu phục được nhân tâm và đứng đầu thế giới về mọi mặt.

Lễ Tạ Ơn hàng năm được tổ chức trọng thể vào ngày Thứ Năm cuối tháng 11, không ngoài mục đích cám ơn tất cả những người đã khai sinh và xây dựng Hiệp Chũng Quốc, trở thành một quốc gia vô địch trên thế giới ngày nay.

1-CÁM ƠN NHỮNG NGƯỜI ĐẦU TIÊN ĐÃ TÌM RA CHÂU MỸ :

Trong lần kỷ niệm 500 năm, đánh dấu ngày Christophe Colomb đã tìm ra Châu Mỹ hay Tân Lục Ðịa. Dịp này đã có nhiều học giả, sử gia, nhà khoa học và khảo cổ khắp thế giới đưa ra thắc mắc ‘ Phải chăng Colomb là người đầu tiên đã tìm ra Tân Lục Ðịa hay ông chỉ là người đầu tiên tổ chức cuộc họp báo để hợp thức hóa sự có mặt của Châu Mỹ trên bản đồ thế giới ?

Christophe Colomb hay Columbus có gia thế bình thường, cha làm thợ dệt tại Gêne (Tây Ban Nha). Là một vĩ nhân của thế giới nhưng cuộc đời gặp nhiều bất hạnh vì sự đố kỵ của thế nhân nên lúc đương thời, đến nổi đã không lưu lại được một bức chân dung nào của nhà thám hiểm. Ðiều này đã chứng minh tại sao những bức chân dung của Colomb hiện đang lưu hành không đồng nhất và ít giống ông vì các họa sĩ của thế kỷ XVI đã vẽ bằng phương pháp ‘ Identikit ‘ , tức là dựa theo lời kể của những người quen biết, trong đó có con trai nhà thàm hiểm là Ferdinand. Ðại để thì lúc sinh thời Colomb có nước da và tóc màu đỏ, mắt xanh, cao lớn trên 1,65m.

Từ nhiều thập niên qua, rất nhiều học giả đã tìm đủ mọi cách phủ nhận công trình thám hiểm của Colomb nhưng tới nay cũng chỉ là những giả thuyết hoang đường, khó lòng đánh đổ được một sự thật đã được cả thế giới công nhận và ngưởng mộ. Nhưng dù gì chăng nữa, thì công trình thám hiểm của Christophe cũng đã đi vào lịch sử và tâm khảm của mọi người, trong đó có Hiệp Chủng Quốc và các quốc gia thuộc Châu Mỹ. Ngoài ra từ những khai quật được do các nhà khảo cổ tìm thấy gần đây, dựa theo niên lịch khảo sát, có thể xác định họ đã tới đây trước Colomb, gồm những ngư dân Nhật, nhà sư Hui Sen, hoàng tử Madoc, Bjarni, Leif và người Do Thái. Nhưng chính Colomb lại là người đầu tiên đã công bố sự hiện hữu của Tân Lục Ðịa Châu Mỹ cho cả thế giới biết.

2-CÁM ƠN NHỮNG NGƯỜI ĐÃ TRANH ĐẤU CHO NỀN ĐỘC LẬP HOA KỲ :

Sau thời gian dài chiến đấu đẳm máu với thực dân Anh. Cuối cùng 13 Tiểu Bang trong Liên Hiệp Anh ly khai, cũng đã dành được Ðộc Lập cho xứ sở, mà ngày nay chúng ta trang trọng đón mừng hằng năm. Ðó là ngày 4-7-1776 , lần đầu tiên ‘ BẢNG TUYÊN NGÔN NHÂN QUYỀN ‘được công bố trước quốc dân đồng bào..

Cũng từ đó, ách nô lệ của Anh tại đây chấm dứt. Ðể tạo nên niềm tự hào của một dân tộc có độc lập và tự do thật sự, năm 1789 Webster Noah là người đầu tiên ấn hành quyển Tự Ðiển Tiếng Mỹ, nói lên ngôn ngữ riêng của dân tộc mình. Cùng lúc Benjamin Franklin cũng đã phát minh ra những mẫu tự đơn giản. Nhận thức được tương lai của đất nước, sẽ mở rộng bờ cỏi và đón nhận nhiều sắc dân tới lập nghiệp tại Hiệp Chũng Quốc với nhiều nền văn hóa khác nhau. Bởi vậy Noah Webster càng chú trọng rất nhiều tới ngôn ngữ học bằng cách phát hành nhiều loại sách giáo khoa, giảng dạy về ngữ pháp, chính tả.. tới nay vẫn còn ảnh hưởng sâu đậm trong đời sống người Mỹ.

Sau này có M.Guffey hợp tác với Noah, đã bộc lộ tinh thần ái quốc và đạo đức, qua các tác phẩm được phổ biến, làm cho mọi người cảm động và càng ý thức rõ hơn bổn phận trách nhiệm của một công dân đối với xã hội và quốc gia của mình. Tuy ngày nay theo bánh xe văn minh của nhân loại, những công trình của các bậc tiền nhân đã bị lỗi thời với thời gian nhưng tên tuổi của ông vẫn còn nguyên vẹn. Thật vậy, đối với lịch sử Hoa Kỳ, chính Noah Webster đã có công tạo nên Ngôn Ngữ riêng cho người Mỹ, dù nó có nguồn gốc từ tiếng Anh mà thật sự không phải là tiếng Anh nguyên thủy. Trường hợp này cũng tương tự như Ngôn ngữ Việt Nam, có nguồn gốc từ Hán Tự và La Tinh nhưng không phải là chữ Hán hay La Tinh gốc.

Cùng với chiều hướng Ðộc Lập trên, Tổng Thống đầu tiên của Hoa Kỳ là Washington đã phát biểu ‘ Hiệp Chũng Quốc bắt nguồn từ 13 thuộc địa của Anh nhưng Nay Là Quốc Gia Ðộc Lập. Vậy tại sao chúng ta cần gì phải quay về với Châu Âu hay Luân Ðôn để bắt chước họ ? qua đợi chờ xin xõ phê chuẩn. Trong đó, sự học hỏi trên, xét cho cùng, cũng chỉ là sự quê mùa, lỗi thời ‘.Hởi ôi nếu các nhà lãnh đạo VN bao đời, có được một phần tư tưởng độc lập như TT Mỹ, thì chắc chắn đất nước chúng ta ngày nay đâu phải đắm chìm trong vũng bùn ô nhục tồi tệ và thua kém nhân loại.

Ðể đổi lấy nền Ðộc lập cho đất nước Hoa Kỳ ngày nay, nhiều đại biểu của 13 Tiểu Bang ly khai đã gục ngả trước súng đạn của thực dân Anh. Thomas Jefferson được đề cử soạn thảo Bảng Tuyên Ngôn Nhân Quyền cho Hiệp Chũng Quốc, trong lúc cuộc chiến vẫn đang tiếp diễn giữa Anh-Mỹ. Thế rồi sau ba ngày tranh luận gay gắt, giữa các đại biểu trong phòng họp, cuối cùng hội nghị cũng đã bỏ phiếu, thông qua và chấp thuận Bảng Tuyên Ngôn Ðộc Lập trên, vào ngày 2-7-1776.

Ðiều bi thảm mà tới nay con cháu ít ai biết tới. Ðó là vào ngày 4-7-1776 công bố nền độc lập của Hoa Kỳ, được diễn ra trong thầm lặng, chết chóc, máu lệ khổ đau. Bởi thực dân Anh đâu có để yên cho những người chủ xướng, nên ra tay triệt hạ tất cả ai lúc đó dám nói tới Ðộc Lập cho Hoa Kỳ. Theo sử liệu, có 56 người đã ký vào Bảng Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Ðộc Lập Mỹ. Tất cả đều là sĩ phu trí thức đương thời, biết trước hậu quả về hành động của mình nhưng bất chấp mạng sống cá nhân và gia đình, chấp nhận hy sinh cho đại nghĩa dân tộc, đất nước.. Trong số này có Francis Hopkinson quê New Jersey là một tài hoa hiếm có. Ông chính là tác giả của Lá Quốc Kỳ Mỹ được lưu hành và tồn tại tới ngày nay. Tóm lại tất cả những người trong cuộc đều có gia đình, lớn tuổi nhất là Benjamin Franklin (70 tuổi) và ba người chỉ mới 20 tuổi.

Ngay khi phát giác được Bảng Tuyên Ngôn Ðộc Lập, Thực dân Anh lồng lộn điên cuồng, ra lệnh truy tìm và hạ sát những người có tên trong đó. Ngoài ra còn treo giá 500 Bảng Anh cho ai chỉ điểm, phát giác họ. Cuối cùng Anh tuyên bố Treo Cổ Tất Cả. Do sự khủng bố trên, nên hầu hết những người liên hệ tới Bảng Tuyên Ngôn, lớp chết, lớp ở tù. Nhiều người bị thương tật khốn khổ vì sự tra tấn đánh đập dã man của kẻ thù, khiến cho nhà tan cửa nát, gia đình ly tán. Trong số ít ỏi sống sót sau này ,hai người đã trở thành Tổng Thống Mỹ là John Adams và Thomas Jefferson.

Cái giá độc lập của Hoa Kỳ là thế đó, mà những người khai sinh ra nó, phải đổi bằng mạng sống, máu lệ đem về. Cho nên các thế hệ sau ai nấy đều vô cùng cảm kích và trang trọng noi theo truyền thống yêu nước của tổ tiên mọi thời. Ðó là kết quả của quốc gia Hoa Kỳ ngày nay, một miền đất tạp chũng nhất trên thế giới, lại là đệ nhất siêu cường, một xứ sở tự do cá nhân nhưng ai cũng biết dừng lại trước giới hạn của mình, đối với quyền lợi chung của Tổ Quốc. Cho nên đừng phân biệt Dân Chủ hay Cộng Hoà, Tất cả tuy hai mà một vì ai cũng chỉ biết có quyền lợi của dân tộc và đất nước Hoa Kỳ mà thôi.

3-CÁM ƠN NHỮNG NGƯỜI ĐẦU TIÊN ĐÃ KHAI SINH RA NƯỚC MỸ

Hoa Kỳ là một vùng đất liên lục địa (chưa kể Alaska và Hawaii), trải rộng từ bờ Thái Bình Dương đến tận Đại Tây Dương, với một diện tích hình chữ nhật là 7.812.000 km2. Để đến được miền đất hứa, các nhà thám hiểm Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Ý, Anh, Pháp, Hà Lan đã mất hơn một thế kỷ tìm kiếm. Họ cũng như Kha Luân Bố đều hướng về con đường tới Ấn Độ. Thậm chí khi đã đặt chân lên vùng đất Châu Mỹ La Tinh cũng vẫn tưởng đó là lục địa Ấn Độ.

Nhưng cuối cùng sự lầm lẫn phần nào được sáng tỏ khi những người Tây Ban Nha đầu tiên đặt chân lên mãnh đất Hiệp Chũng Quốc sau này vào năm 1513, kế tiếp là nhóm người Anh đổ bộ vào bờ biển Virginia năm 1607. Từ đó danh từ Tân Thế Giới và người bản địa Da Đỏ chính thức ra đời. Hiện các nhà nghiên cứu đều xác nhận người Da Đỏ thật sự không phải là chủ nhân ông của Châu Mỹ. Họ đến từ Đông Á hơn 25.000 năm về trước bằng cách lội qua eo biển Behring, tới Bắc Mỹ rồi lần hồi thiên cư xuống Trung và Nam Mỹ. Giống dân này có chung nguồn gốc với người Mông Cổ và Tây Bá Lợi Á. Người Da Đỏ tại Hoa Kỳ phân thành nhiều nhóm khác biệt theo nghề nghiệp như làm nông, săn bắn, làm biển..

Khoảng năm 1600, tính chung người Da Đỏ khắp Hiệp Chũng Quốc chừng 200.000, thuộc 100 bộ lạc, nói những ngôn ngữ có nguồn gốc Algonquine. Riêng tại 13 tiểu bang đầu tiên, người Da Đỏ độ 110.000 người. Nguyên nhân sự thưa thớt trên vì các bộ lạc thường đánh nhau khốc liệt, lại chết vì bệnh tật, dịch, truyền nhiễm gây tử vong cho trẻ con rất cao. Sự chung đụng càng lúc càng làm cho người Âu thêm cãm kích trước những phong tục, tập quán và nghi lễ của người Da Đỏ. Đối với những người Hoa Kỳ đầu tiên trên vùng đất mới, chính họ cũng đã nhiều lần bị đói, cho nên đã hiểu rõ vũ điệu “ Busk “ ma 2 bộ lạc Creek và nhiều bộ lạc trình diễn, để mừng ngày “ Bắp Non Đã Ăn Được “. Điều này đối với người Da Đỏ lúc đó hay bây giờ , vừa là một kinh nghiệm cũng là “ mõt nghi thức tạ ơn “ thần linh đã giúp cho họ có sự sống. Đây cũng là khởi đầu cho sự phát sinh lễ Thanksgiving, tại nơi sinh sống của kiều dân vùng Tân Anh Cát Lợi vào năm 1621. Cũng từ đó lễ này trở thành một nghi thức mang tính chất tôn giáo, chính trị, đạo đức và xã hội..trong đời sống của Hiệp Chũng Quốc.

Liên quan tới ngày lễ trên, còn có Gà Tây hay Gà Lôi (Turkey hay Dinde), được các nhà thám hiểm từ tân thế giới ( Châu Mỹ) mang vào Âu Châu từ thế kỷ XVI. Năm 1521 Hernan Cortes chiếm Mễ tây Cơ và lấy giống gà này mang về Tây ban Nha. Người Pháp gọi gà mái tây là Poule d’Inde hay là Dinde, còn gà trống là Dindon vì lúc đó Âu Châu lầm tưởng Tân thế giới là Ấn Ðộ. Tại Pháp , gà mái tây lần đầu được đưa vào bàn tiệc cưới của vua Charles XIX vào năm 1570. Từ đó, gà tây được coi như món ăn của Hoàng gia và giới thượng lưu, trong các ngày lễ, yến tiệc và đặc biệt là bửa ăn tối đêm Noel.

Ngày nay gà tây là món ăn thông dụng, nhất là tại Hoa Kỳ. Gà tây còn được dùng trong lễ Tạ ơn theo truyền thuyết vào năm 1621 khi linh mục Pilgrim, đi tàu Mayflower tới vùng Tân Anh Cát Lợi. Trong đêm tổ chức Lễ tạ ơn, thổ dân tại đây đã tặng ông một con gà tây. Tập tục này được giữ tói ngày nay và trở thành món ăn truyền thống, không thể thiếu được trong bữa tiệc đêm Noel.

Theo các nguồn sử liệu, thì chính nhà thám hiểm Martin Frobished khi đặt chân tới được Tân Thế Giới (Hoa Kỳ) vào năm 1578, đã tổ chức lễ Thanksgiving để “ Tạ Ơn “ các đấng thần linh, giúp đỡ, bảo vệ chính ông và đoàn thám hiểm trong suốc cuộc hành trình đầy nguy hiểm trên biển sóng.

Tiếp đó vào ngày 26/11/1620, một nhóm người Âu di dân chừng 102 người, đã đáp thuyền buồm Mayflower tới được vùng bờ biển Playmouth Rock (Massachusetts). Đúng ra thì cuộc hành trình trên được dành cho nhóm Hành Hương Thanh Giáo Pilgrims, từ Âu Châu sang Hoa Kỳ. Họ là những tín đồ sùng đạo Tin Lành, bị hoàng đế Anh Jacques đệ I đuổi ra khỏi quê hương mình. Đó là nhóm Pilgrim Father hay Pères Pèlerins. Đầu tiên nhóm này tới Leyde (Hà Lan) nhưng không may Âu Châu lẫn Anh Quôc lúc đó đang có chiến tranh tôn giáo , làm lung lay nền quân chủ của cả Pháp lẫn Anh. Nghe theo lời khuyến khích của nữ hoàng Anh Virginia, nhóm trên quyết tâm tìm đường tới Mỹ với hoài bão được sống trọn vẹn bằng niềm tin của mình.

Theo các tài liệu lưu trữ, thì chiếc thuyền buồm Mayflower có trọng tải 180 tấn. Ngày rời Hà Lan là tháng 9-1620, lúc đó con tàu đang trong tình trạng hư hỏng và rất nguy hiễm vì nước đá lạnh phủ ngập sàn tàu, sau đó lại thêm một trận hỏa hoạn, nên hành khách trên tàu bị cấm nấu nướng, chỉ được ăn các thức ăn lạnh, khiến nhiều người mắc bệnh. Nhưng cuối cùng sau 65 ngày vượt biển gian khổ, con tàu trên cũng cặp bến tại Cap Cod là một vùng đất lúc đó chưa có người Âu nào đặt chân tới. Họ đã vượt qua 2750 hải lý, tuy biết lạc địa điểm nhưng nhóm người trên quyết định rời tàu vào ngày 11-12-1620 lên bờ và tới tạm cư tại Plymouth Rock, sống chung hòa bình với bộ tộc Da Đỏ láng giềng Narrangganset và Wampanoag.

Thời tiết khắc nghiệt, đói lạnh và bệnh tật đã cướp mất 46 sinh mạng trong số 102 người di dân, chỉ trong 6 tháng đầu tiên. Những người sống sót nhờ gà rừng, chim cút, trĩ, vịt nước săn bắn được và bắp của người Da Đỏ giúp, tiếp theo là sự trúng mùa vào năm 1621. Đó là lý do người đại diện nhóm William Bradford đã tổ chức lễ Thanksgiving đầu tiên để “ Tạ Ơn Trời “ vào tháng 11-1621. Dịp này gần 100 người Da Đỏ đã giúp Họ sống còn,..được mời tham dự với tư cách là những ân nhân.

-Nguồn gốc Lễ Tạ Ơn :

Như nhiều lễ hội khác tại Âu Châu, Ngày Tạ Ơn phát nguồn từ thời thượng cổ qua nhiều lý do khác nhau nhưng tựu trung không ngoài ý nghĩa “ chúc mừng thành công “. Đây là truyền thống của nhiều dân tộc trên thế giới, mong muốn có một ngày đặc biệt trong năm để mọi người cùng hướng về Trời Đất, Những Vị Anh Hùng , Những Ân Nhân “ Cám Ơn Họ “ đã giúp cho dân tộc, quốc gia mình. Tại Cổ Hy Lap, hằng năm đều có tổ chức Thanksgiving để Tạ Ơn Nữ Thần Demeter giúp họ trúng mùa bắp. Người La Mã thì tổ chức Hội Chợ Cerelia sau mùa gặt chính.Còn Do Thái thì tổ chức Lễ Mãn Mùa Gặt Hái Sukkoth sau khi thu hoạch.. Trước khi phát hiện ra Gà Tây tại Tân Thế Giới, người xưa đã dùng cái Sừng Dê làm biểu tượng chính trong cuộc lễ. Với quan niệm sừng dê sẽ đem lại sự phồn thịnh cho mọi người.

Hiện có tám nước tổ chức lễ Thanksgiving hàng năm là Á Căn Đình, Ba Tây, Gia Nã Đại, Nhật Bản, Nam Hàn, Libéria, Thụy Sĩ và Hoa Kỳ.

-Lễ Tạ Ơn Tại Hoa Kỳ :

Hoa Kỳ đã cử hành ngày Thanksgiving đầu tiên tại miền đông bắc vào năm 1578 do nhà thám hiểm Martin Frobished chủ xướng. Kế tiếp là nhóm di dân trên tàu Mayflower tại Plymouth Rock tổ chức Lễ Tạ Ơn Trời Đất đã cho họ sống sót vào tháng 11-1621. Từ đó lễ này được cử hành khắp Hoa Kỳ nhưng không đồng nhất vì có sự khác biệt phong tục tập quán giữa các nhóm di dân Âu Châu.

Ngày 4 tháng 7 năm 1789, 13 tiểu bang ly khai sau thời gian chiến đấu đẵm máu chống thực dân Anh, đã giành được độc lập cho Hoa Kỳ. Chính vị tổng thống đầu tiên của Mỹ là George Washington đã chọn ngày 26 tháng 11 hằng năm là ngày lễ Thanksgiving cho toàn quốc. Từ năm 1830 Hoa Kỳ đã bắt đầu chia rẽ vì vấn đề nô lệ, mở đầu cho cuộc nội chiến Nam Bắc. Chính tổng thống Abraham Lincoln trong ngày lễ Thanksgiving năm 1863, đã đề cao “ công ơn mở nước của nhóm di dân Hoa Kỳ đầu tiên trên tàu Mayflower “. Ông cũng xác định thời gian cử hành lễ là ngày Thứ Năm cuối cùng của tháng 11 hàng năm. Thế chiến II bùng nổ, Hoa Kỳ đang trong thời kỳ chiến tranh. Dịp này quốc hội đã biểu quyết chấp thuận ngày Thanksgiving năm 1940 dành “ Cám ơn những chiến sĩ đã hy sinh để bảo vệ đất nước. Tổng thống Hoa Kỳ lúc đó là Franklin Roosevelt đã chọn ngay Thứ Năm của Tuần thứ tư tháng 11 làm ngày lễ. Quyết định này được thi hành đến ngày nay.

Riêng Gia Nã Đại mừng lễ Thanksgiving vào ngày Thứ Hai của tuần lễ thứ hai của tháng Mười với ý nghĩa cũng giống như Hiệp Chũng Quốc.

Theo những tài liệu còn lưu trữ, thì những người Hoa Kỳ đầu tiên mừng lễ Tạ Ơn tới ba ngày nhưng họ ăn uống rất giản dị vì lúc đó thực phẩm rất khan hiếm (kể cả Gà Tây), nên trong bữa tiệc thường được thay thế bằng gà rừng, chim trĩ, vịt trời. Ngoài ra cũng không có khoai tây, bánh nướng vì không có bột mì.

Ngày nay lễ Tạ Ơn cũng là dịp để cho gia đình đoàn tụ và trong bữa tiệc thực đơn chính vẫn là món Gà Tây truyền thống, mà những di dân đầu tiên trên tàu Mayffower được thưởng thức do những người bạn Da Đỏ tặng vào năm 1620. Ngoài ra cũng không thể thiếu món Bí Đỏ (thực phẩm đã cứu đói những người di dân trong mùa lạnh kinh khủng đầu tiên khi tới Mỹ)

Năm 2000 nhân loại bước vào thiên niên kỷ mới. Dịp này Liên Hiệp Quốc trong ngày đầu năm Dương Lịch 1-1 đã tuyên bố “ Đây là năm quốc tế Thanksgiving.

Người Việt tị nạn CS chúng ta may mắn được sống hạnh phúc trên đất Mỹ, với đầy đủ các quyền lợi đã qui định từ Bản Tuyên Ngôn Ðộc Lập và Nhân Quyền, mà đâu mấy ai hiểu rõ là Tiền Nhân đã đổi lấy nó bằng máu và mạng sống trước bạo lực. Bởi vậy để đền đáp phần nào tấm lòng nhân đạo mà Hoa Kỳ đã rộng mở , chúng ta phải biết ‘ nhập gia tuỳ tục ‘, làm tốt bổn phận công dân và cố gắng phát huy truyền thống tinh hoa của Dân Tộc Việt, để không hổ danh là con Rồng Cháu Lạc dù đã có quốc tịch Mỹ hay đang sống tạm nơi xứ người.

Cũng đừng quên cám ơn mọi người đã cho chúng ta cuộc sống an bình và hạnh phúc hôm nay.

Viết từ Xóm Cồn Hạ Uy

Tháng 11-2012

MƯỜNG GIANG

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Một Đóa Hồng Cho Thanksgiving Day

Tạ Ơn – Thơ Tống Phước Kiên

  Công Vinh thân mến. Hôm qua Phan Quang Nghiệp có chuyển đi cho đồng môn K1 cuốn album buổi hội ngộ nhân mùa Tạ Ơn 2012 của cựu CSQG/VNCH tại vùng”Thung Lũng Hoa Vàng” nhưng mình mở không ra. Hôm nay phải mò vào CNN mới xem được. Những khuôn mặt thân quen của K1 đến tham đự ai cũng vui tươi rạng rỡ. Mừng nhất là thấy có sự hiện diện của Nguyễn Hữu Nhật. Cách đây không lâu ông tướng nầy làm nũng nên được bà xã đưa vào bịnh viện khiến Đinh Văn Hạp, Phan Quang Nghiệp và một số thân hữu vào thăm.Tôi cũng có gọi và viết thư động viên “Gắng lên Nguyễn Hữu Nhật, tụi mình còn gặp nhau vào ngày lễ kỹ niệm 50 năm thành lập Học Viện CSQG nữa đó”. Nay thấy bạn Nhật xuất hiện với vẽ mặt không những hớn hở mà còn phương phi nữa. Hy vọng ngày đó Nguyễn Hữu Nhật vẫn cầm kiếm dẫn đầu toán hầu kỳ.

Thấy bạn bè vui quá khiến mình hưng phấn bèn viết đại mấy câu thơ đính kèm theo đây để gọi là góp mặt. Nói là thơ cho nó xôm chứ thật ra chỉ ghép chữ ghép vần không niêm luật gì cả. Nhỡ quý vị thi sĩ có đọc tới cũng xin bỏ quá cho.

Nhân lễ Tạ Ơn gần đến kính chúc quý NT quý đồng môn cùng quý phu nhân và gia quyến một mùa Tạ Ơn an lành, một mùa thu yêu thương.

                                      K1 Tống Phước Kiên       

 

Gió thu về lá vàng bay tơi tả
Nhắc nhân loài mùa tạ ơn cao cả
Nhớ về cội nguồn mơ cả tương lai
Tạ ơn Trời đã cho con hiện tại
Được làm người có trí lại có tâm
Tạ ơn Việt Nam tổ quốc tình thâm
Tạ ơn cha cho con tấm hình hài
Dạy cho con công bình và bác ái
Tạ ơn mẹ không quản ngại nuôi con
Bú mớm con qua năm tháng mõi mòn
Ẳm bồng con từ hồi còn măng sữa
Ban cho con tình yêu thương muôn thuở
Ơn mẹ cha cao ngất tựa non cao
Như biển sâu với sóng vỗ dạt dào
Đời thật đẹp thật ngọt ngào dịu nhẹ
Nay phải xa lìa những gì tuyệt đẹp
Bởi một ngày tháng tư đen ập đến
Con cháu Rồng Tiên mang họa đảo điên
Cả giang sơn phải triền miên đau khổ
Khiến hàng triệu người lánh xa quỷ đỏ
Vượt hiểm nguy tìm tự do nhân ái
Khắp năm châu đã mở rộng vòng tay
Đón kẻ lưu vong trốn bầy lang sói
Tạ ơn người Thế Giới Tự Do ơi.

       TỐNG PHƯỚC KIÊN
Mùa tạ ơn 2012

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Tạ Ơn – Thơ Tống Phước Kiên

Thankful

HAPPY THANKSGIVING EVERYONE

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thankful

Hội Cựu SVSQ HV Bắc Cali Họp mặt mừng Thanksgiving 2012

Theo như thư mời trước đây của Hội Cựu SVSQ Học Viện CSQG/VNCH Bắc Cali. Sáng nay Chủ Nhật 18 tháng 11 năm 2012 có khoảng trên dưới 150 người gồm các Niên Trưởng, các cưu SVSQ Học Viện các khóa cùng với gia đình và thân hữu đã họp mặt Hội Ngộ nhân mùa Tạ Ơn năm 2012 tại một nhà hàng sang trọng GRAND FORTUNE  thành phố San Jose Cali.

Qua hình ảnh của K1 Hạp và K1 Nghiệp vừa gởi đến CNN, chúng tôi thấy có rất nhiều khuông mặt thân thương của các bạn trong gia đình K1. Trong nhóm Đường cóc thấy có Cóc Khô ( Nghiệp) , Cóc tía (Thanh Hoàng), Cóc Hoài Ân, Cóc Chay Lệ Khánh có tham dự nhưng không biết bạn nào. Nhân đây CNN mến gởi lời chúc tất cả các bạn đồng môn Học Viện một Mùa Thanksgiving Đầm Ấm, Hạnh Phúc và Nhiều Ý Nghĩa.

Kính mời các bạn xem một số hình ảnh do hai bạn Hạp và Nghiệp gởi tới.

Trình chiếu này yêu cầu JavaScript.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Hội Cựu SVSQ HV Bắc Cali Họp mặt mừng Thanksgiving 2012

Thơ Hoài Ân _Ngũ Bá Lục Nghệ

Cóc kia ngồi thủ trong hang,
Chờ nàng dế mẹt nhảy càng ra sơi.
Ếch kia nào có nghỉ ngơi,
Chờ cơn mưa lớn réo mời tình nhân.
Ểnh  ương vốn thiệt già gân,
Ẩn trong bụi rậm để mần chi chi.
Chàn hiu bé nhỏ tí ti,
Nhưng mà lanh lẹ có khi hơn người.
Nhảy con cũng quá tuyệt vời,
Xào lăn với xả, ếch thời chiên bơ.
Bao đành các cụ làm ngơ,
Không sơi cũng gậm sơ sơ đở buồn.

            K1:   Nguyễn Hoài

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thơ Hoài Ân _Ngũ Bá Lục Nghệ

Tạ Ơn – Thơ K1 Đoàn Ngọc Nam

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Tạ Ơn – Thơ K1 Đoàn Ngọc Nam

Cóc Vui Tuổi Nhàn _Thơ NHA tặng Cóc Nghĩa

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Cóc Vui Tuổi Nhàn _Thơ NHA tặng Cóc Nghĩa

Thân Trâu _ Thơ NHA

THÂN TRÂU

Mấy chục năm cày hết sức trâu,
Chỉ mong cho chủ được bền lâu,
Vì câu trách nhiệm, trâu nào quản,
Bởi chữ hy sinh quá bẻ bàng.
Cạnh luống trâu cày không đủ cỏ,
Bên giàn mướp đắng chẳng  còn no,
Cà phê buổi sáng nào đâu có,
Trâu vẫn đi cày bụng tóp vo.

K1: N.H.A

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thân Trâu _ Thơ NHA

Nhàn Nhả- Thơ NHA

Tặng bạn Nghiệp 2 bài thơ nhỏ nầy để đọc chơi cho vui, thấy trong hình cóc Nghiệp nằm coi có vẻ thoải máy quá.

K1 Nguyễn Hoài Ân

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Nhàn Nhả- Thơ NHA

Phỏng vấn Ông Phan Tấn Ngưu

Kính mời quý bạn xem chương trình phỏng vấn ông Phan Tấn Ngưu do Bùi Dương Liêm thực hiện, nói về các sinh hoạt đấu tranh tại Nam California.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Phỏng vấn Ông Phan Tấn Ngưu

Thiệp Phân Ưu Gia Đình K1 kính đến Chị Loan Nguyễn

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thiệp Phân Ưu Gia Đình K1 kính đến Chị Loan Nguyễn

Thư của Bà Quả Phụ K1 Nguyễn Ngọc Bé

Các bạn K1 thân mến,

Ngày 7/11/12 vừa qua, tôi có nói chuyện qua điện thoại với chị qủa phụ K1 Nguyễn Ngọc Bé (mất đúng vào thời điểm chúng ta kỷ niệm 45 năm HVCSQG), sau đó ít ngày tôi có nhận được lá thư của chị kèm theo tấm check $200 chị tặng cho Quỹ K1 của chúng ta. Lá thư của chị chỉ vắn tắt mấy dòng, tôi xin chép lại đây như sau:

“Portland 11/7/12

Kính anh Toán,

Tôi gởi đến anh $200, nhờ anh chuyển đến quỹ của Khóa I. Tôi thành thật cám ơn anh đã có nhã ý cho tôi quyển “Kỷ Yếu Khóa I”. Tôi rất là vui, nhà tôi nhiều lần anh hay nói chuyện về HV, tôi chỉ được nghe chứ chưa thấy hình ảnh gì cả. Anh Tá, bạn nhà tôi, anh ấy nói rằng: Quyển Kỷ Yếu hay lắm, nhiều hình ảnh lắm, có lẽ cũng làm cho tôi nhớ nhiều về nhà tôi.

Nếu có dịp nào anh gặp anh Vinh, nhờ anh cho tôi chuyển lời thăm. Anh ấy là ân nhân của gia đình tôi trong những ngày cuối cùng của 30 tháng 4 năm 75 – đã gần 38 năm rồi, chúng tôi chưa có dịp để nói lên một lời cám ơn. Anh nhớ cho tôi số phone của anh Vinh luôn.

Vài dòng để anh rõ. Kính chúc anh chị và các cháu vui, khỏe, hạnh phúc.

Kính,

(ký tên) Bà Qủa phụ Nguyễn Ngọc Bé “

503-761-0419

* Xin báo các bạn K1, tôi đã gởi K/Y và số phone của K1 Vinh cho chị NNBé;  Vinh trong thư của chị là K1 Nguyễn Văn Vinh, trước ở trong BĐ5 CSDC, hiện ở San Jose.

Thân mến,

Nhữ Đ Toán

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thư của Bà Quả Phụ K1 Nguyễn Ngọc Bé

Happy Thanksgiving_ Nước Mỹ Trong Tôi _ Huy Phương

Theo bản thống kê dân số của nước Mỹ năm 2010, hiện nay có 1,737,433 người Việt đang sinh sống trên nước Mỹ. Chúng ta những ai hiện nay đang sống, học hành, làm việc hay dưỡng già ở đây, đều đã trải qua một phần đời mình trên mảnh đất này, thường gọi là “tạm dung,” nhưng thực tế là vĩnh viễn.
 
Từ biến cố 30 tháng 4 năm 1975, những đứa trẻ sinh ra lớn lên ở đây, ngoài huyết thống ra, chúng không khác gì những đứa trẻ Mỹ. Những người trung niên còn mang theo cả một thời thơ ấu và những kỷ niệm không quên từ nơi chôn nhau cắt rốn, nhưng vẫn lăn lộn với cuộc đời trên đất khách này để mưu sinh, có người thời gian sống với quê hương ngắn ngủi hơn là ở nơi quê người.
Tiểu bang California, nơi có nhiều người Việt sinh sống nhất đã rộng lớn bằng diện tích cả nước Việt Nam, nên cũng chưa có ai trong chúng ta tự hào đã đặt chân đến hết 50 tiểu bang của nước Mỹ, cũng như không ai dám nghĩ rằng mình hiểu hết những gì về nước Mỹ, dù đây chỉ là một nơi mới lập quốc hơn 300 năm. Có người cho Mỹ là anh chàng trẻ tuổi, xốc nổi, dại khờ, nhưng cũng có người công nhận nước Mỹ là ông cụ thâm trầm thường triển khai những bước đi tính toán trước cả trăm năm.
Ðối với những người già đã đến nơi này muộn màng, nhưng cả cuộc đời còn lại coi như sống chết với nước Mỹ, thường gọi là quê hương thứ hai, mà không bao giờ còn cơ hội trở về nằm trong lòng đất quê mẹ, nếu sự thực khốn nạn, chế độ Cộng Sản còn tồn tại trên quê hương vài ba mươi năm nữa.
Một người Việt về thăm lại quê hương, nơi họ đã từ bỏ tất cả để ra đi, lúc đặt chân trở lại nước Mỹ, cho rằng tâm hồn lại cảm thấy an toàn, nhẹ nhàng hơn như lúc về nhà. Một người Việt xa quê hương đã lâu trở về Sài Gòn, có dịp vào Tòa Tổng Lãnh Sự Mỹ, ông thú nhận khi nhìn những hình ảnh tổng thống hay ngoại trưởng của Hoa Kỳ, ông lại có cảm giác quen thuộc, an toàn hơn là những lúc lang thang ở Hà Nội nhìn hình lãnh tụ và quốc kỳ Cộng Sản. Ðó không phải là vong bản, mất gốc mà chế độ này đã nhân danh đất nước, tạo hận thù, kỳ thị, xô đẩy biết bao nhiêu người xuống biển, bỏ quê hương ra đi. Gần như chúng ta không còn lệ thuộc gì với đời sống nơi quê nhà, ngoài những tình cảm sâu đậm trong máu huyết, làm cho chúng ta gần gũi với ngôn ngữ, đời sống Việt Nam, mà chúng ta có cảm tưởng đang dần dần tách rời, cho đến một lúc nào đó trở thành xa lạ. Phải chăng vì vậy, mà đã có những đứa con ngày trước trở về, xót xa nhận ra rằng, họ đang đi, đứng trên một đất nước xa lạ, không còn là của họ nữa.
Quê hương ngày nay chỉ còn là nơi thăm viếng mà không phải là nơi để trở về. Nước Mỹ đã là nơi quen thuộc chúng ta đang sống, có gia đình, nhà cửa, công việc, bà con, bạn bè, thì làm sao chúng ta lại không có những suy nghĩ, có những câu chuyện buồn vui, hay những trăn trở về nước Mỹ. Cách đây 38 năm, chưa lúc nào, chúng ta, những người dân ở một đất nước xa xôi bên vùng trời Ðông Nam Á, cách biệt nơi này đến nửa vòng trái đất, lại có ý nghĩ rằng, một ngày kia chúng ta sẽ đến đây, sống lâu dài nơi đây, sinh con đẻ cháu nơi này, để tạo ra một nhánh người Việt lưu vong. Ðời sau, còn giữ được ngôn ngữ, phong tục hay không, lại là một điều mà nhiều người khác đang trăn trở, lo âu làm sao để duy trì, gìn giữ!
Trong cái cộng đồng gần gũi, thân mật gắn bó này, với sách vở, báo chí, truyền thông, quán xá, chợ búa, tiệm buôn, món ăn thức uống, cả cái tên vùng đất hay bảng hiệu Saigon chúng ta mang theo, đôi khi gần như quên hẳn là chúng ta đang sống trên đất Mỹ. Cả cái bữa cơm, cá mắm, canh rau, đôi đũa, chén nước mắm ớt, có khác gì ở Việt Nam. Cả cái bàn thờ nhang khói, hình ảnh tổ tiên, ông bà, cành mai, chậu lan, những cô thiếu nữ, trẻ em mặc quốc phục lên chùa ngày Tết, hồi trống, tiếng pháo Mùa Xuân làm chúng ta quên mất là chúng ta đang sống thật xa quê nhà.
Ðiều tôi muốn nói ở đây là chúng ta thường quên chúng ta đang sống trên đất Mỹ.
Ông Khổng Tử của nước Trung Hoa có ví von: “Ở chung với người thiện như vào nhà có cỏ chi lan, lâu mà mà chẳng thấy mùi thơm, tức là mình cũng đã hóa ra thơm vậy.” Một kẻ vào vườn hoa lan đầy hương thơm, lúc đầu còn nhận ra mùi hương nhưng dần dà trở thành quen thuộc, trở thành bình thường, không còn thấy hương thơm, như kẻ tiểu nhân sống với người quân tử dần dần được cảm hóa lúc nào mà không hay biết. Nước Mỹ có nhiều hương thơm như thế mà cảm giác chúng ta bị dung hòa lúc nào không hay đến nỗi không còn cảm nhận được mùi thơm nữa. Hương thơm đó là những điều tốt lành, thấm nhập vào con người chúng ta lúc nào chúng ta cũng không biết, không hề quan tâm hay nhận ra được sự khác biệt trước và sau.
Chúng ta học hỏi được ở nước Mỹ tính bảo vệ đời sống riêng tư, tôn trọng luật pháp, sống an hòa, sự tử tế và mối tương quan giữa con người và con người trong xã hội. Ðiều này không chỉ có ông Bá Dương (1920-2008), sau khi đi New York, Las Vegas hay San Francisco về, đã tường thuật lại trong cuốn “Người Trung Quốc Xấu Xí,” mà bất cứ người Việt Nam nào khi đi du lịch nước Mỹ về cũng nhận ra. Có người thắc mắc sao lái xe trên đường vắng vào một hai giờ sáng, gặp bảng “stop” cũng phải đừng lại, sao một đứa bé phải đi tìm cái thùng rác để vứt cái giấy kẹo nhỏ chỉ bằng hai ngón tay, sao ở đây xe hơi nhiều như thế mà không nghe một tiếng còi? Trong cái không khí dễ chịu, thanh thản, an lạc người ta cảm nhận ra khi bước chân trở lại một nơi, có một chút mỉa mai, không phải là quê nhà của mình.
Chúng ta bước đi từ môi trường tử tế, trong lành của miền Nam qua giai đoạn “thống nhất” để bước đến một xã hội hỗn loạn như hôm nay, khi mà con người tốt đẹp dần dà trở thành vô cảm, lừa lọc, gian trá, đạp lên nhau mà sống, để mưu tìm một đời sống ích kỷ cho riêng mình, mà không thấy đó là bất thường, bất nhân và vô loại.
Thì chúng ta, trong xã hội này, cũng theo lời ông Khổng Tử: “ Ở chung với người bất lương, như vào trong chợ cá ươn, lâu mà chẳng biết mùi hôi, vì mình cũng hóa ra hôi vậy!” Như người mới vào chợ cá, lúc đầu còn nghe mùi hôi tanh, dần dà quen thuộc, không còn nghe mùi tanh tưởi khó chịu nữa, như người quân tử sống với kẻ tiểu nhân, dần dần đồng hóa bởi cái xấu mà mình không hay biết. Thử hỏi một viên chức trong chế độ Cộng Sản Việt Nam hiện nay, xem những chuyện cường quyền áp bức, mạng sống của người dân xuống hàng súc vật, con người chỉ biết có đồng tiền và dục vọng, tráo trở, vô đạo lý hiện nay có là điều gì làm cho con người lạ lùng, khó chịu không? Hay đó là chuyện bình thường, thấy đã quen mắt, nghe đã quen tai, đầu óc đã xơ cứng, chai đá như khứu giác của con người ở lâu trong chợ cá, còn đâu phân biệt được mùi hôi nữa!
Ðiều cuối cùng chúng tôi muốn nói là sự may mắn đã giúp ta có cơ hội không phải chỉ cho riêng mình mà cả con cháu đời sau, tránh khỏi được kiếp oan nghiệt, ra khỏi được cái chợ cá ấy, được sống trong cái “chi lan, chi thất” cái vườn lan thơm ngát, mà qua một thời gian chúng ta không còn cảm nhận được mùi thơm nữa, nhưng trên thực tế, mùi thơm đó vẫn hiện hữu.
Nhiều kẻ hãnh tiến vẫn cho rằng nước Mỹ nợ chúng ta mà quên rằng, món nợ của chúng ta, và cả con cháu đời sau đối với nước Mỹ thật khó lòng trả nổi.

Hãy CÁM ƠN bằng cách sống thật có ý nghĩa cho đời sống này!

 

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Happy Thanksgiving_ Nước Mỹ Trong Tôi _ Huy Phương

Đường Cóc số 4

Đường Cóc số 4 được bạn Nghĩa ra đề “Hết Đạn”. Nghiệp nhập cuộc với hai câu (1, 2); bạn Thanh Hoàng tiếp nối, nhưng bằng hai câu (7,8). Bạn Toán đành phải chọn hai câu (3,4) và nhường cho Lệ Khanh hai câu (5,6). Bài thơ thành hình như sau.

Chiến trường tiếp liệu đã tiêu hao
Đạn hết làm sao để đánh nhau?
Súng vẫn nâng niu trông thật nản
Bia còn phơi phới thấy mà rầu
Bấy lâu gắng sức gìn sông lớn
Ngày tháng quên mình giữ núi cao
Thủ thỉ trách yêu chàng yếu xịu
Buồn ơi bỉ mặt đấng anh hào !!!

Ngũ Lão Cóc

 

Đạn bắn liên hồi chớ kể hao
Mục tiêu ngồn ngộn dễ trêu nhau
Sấu trườn bãi cát càng hăng hái
Hổ nhập rừng sâu chẳng thấy rầu
Bụi rậm  đầm lầy dương súng lớn
Khe sâu hóc hiểm dựng nòng cao
Nay trên bảo dưới không tuân lệnh
Đánh trận thời trai khá tự hào !

(Phan Quang Nghiệp họa 1)

Họa nghịch vận

 Mấy chục năm luôn vững chiến hào,
Dù thân lưu lạc vạn non cao.
Lòng thương Tổ-quốc còn tăm tối,
Dạ tưởng quê-hương vẫn khổ rầu!
Bằng hữu muôn nơi hằng gắn bó,
Anh em khắp chốn mãi bên nhau?
Cuộc đời tính thử còn bao nữa?
Đừng để nghĩa tình bị hụt hao!

Lệ-Khanh


Đạn bắn thả dàn ắt phải hao
Nhưng hao sao chẳng bảo gì nhau
Súng đeo lủng lẳng coi oai dữ
Đạn lép khô queo ngó bộ rầu
Mê mải hành quân rừng lá thấp
Miệt mài thám hiểm núi đồi cao
Một thời oanh liệt còn đâu nữa
Trên bảo không nghe thật hỗn hào.
NĐT

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Đường Cóc số 4

Happy Thangsgiving_ Cám Ơn Người Mẹ Cờ Hoa_ Nguyễn Hoài Phương Trúc

   

Không cùng dòng máu, khác màu da,
Mắt Mẹ xanh lơ, tóc trắng ngà.
Cứu vớt đàn con từ bể cả,
Tấm lòng của Mẹ thật bao la.

Con từ một nước ở phương xa,
Nhân ái vòng tay mẹ mở ra.
Đón tiếp đàn con từ bất hạnh,
Tình thương của mẹ tựa người nhà.

Con ở xứ nầy, Mẹ xứ ni,
Không quen, chẳng biết một điều gì.
Bàn tay của mẹ luôn dang rộng,
Xoá nỗi đau buồn, cứu hiểm nguy.

Con từ vực thẳm chốn tù đày,
Đau khổ ngậm ngùi chịu đắng cay.
Sống lại những ngày từ cõi chết,
Mẹ luôn đùm bọc thấy tương lai.

Nhìn lại quê nhà ở xứ con,
Việt Nam đau khổ, lệ tuôn tròn.
Từng tràn tiếng nấc theo hơi thở,
Mẹ hỡi Việt Nam quá mõi mòn!

Sanh chi một lũ phường vô đạo,
Hút máu đồng bào dạ chẳng nao.
Không kể người thân tình máu mủ,
Nồi da xáo thịt, ruột gan bào.

    Cắt đất tổ tiên cùng bể cả,
Dâng lên Tàu Cộng để làm quà.
Mồ hôi, giọt máu ông cha đổ,
Loài quỉ vô thần lũ bội cha.

    Đau đớn phải lìa mẹ Việt Nam,
Bởi người hung bạo, bởi lòng tham.
Con đâu muốn bỏ quê hương mẹ!
Hai tiếng Mẹ Hiền gọi Việt Nam.

Cám ơn người Mẹ xứ Cờ Hoa,
Ấm áp vòng tay mẹ mở ra.
Tiếp đón đàn con đầy bất hạnh,
Tấm lòng nhân đạo mẹ bao la.

 

   Thanksgiving ngày lễ chẳng còn xa,
    Khắc sâu ơn mẹ để làm quà.
    Cứu vớt đàn con trong vất vưởng,
    Ngưỡng đầu cảm tạ Mẹ Cờ Hoa.

 K1: N.H.A   NGUYỄN HOÀI PHƯƠNG TRÚC. 

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Happy Thangsgiving_ Cám Ơn Người Mẹ Cờ Hoa_ Nguyễn Hoài Phương Trúc

Cười một chút đi

Chuyện tếu!

1.- Miễn phí cho hàng xóm.

Vợ mới sanh con đầu lòng, thương chồng bị “cấm quân” lâu ngày, vất vã ngược xuôi,nên đưa chồng ít tiền rồi thỏ thẻ bảo chồng:

“đi  thư giản” ở ngoài xã van một phát cho đở bức bối anh ạ,
Em không phiền trách đâu.

ông chồng đi một lúc rồi về, trả lại vợ phân nửa số tiền rồi kể:

-Anh định lên Xóm Mới, nhưng cô chủ quán chè đầu ngỏ cứ chèo kéo mải, cô ấy thông cãm vợ đẻ giảm cho anh 50 phần trăm.

–Con ranh láo cá thật, cô vợ gầm lên.

–Ơ kìa Em , đi đâu mà chẳng thế,- ông chồng hốt hoảng,

–Em tức nó, bởi vì hồi nó đẻ, em có lấy chồng nó xu nào đâu?

2.- Muốn con làm nghề gì?

Một cập vợ chồng trẻ đi hưởng tuần trăng mật, trước khi đi bà mẹ vợ cẩn thận dặn dò hai người:

-Nếu “lúc đó” mà làm từ từ đứa bé sau nầy làm Kỹ Sư, nhanh hơn thì làm Bác Sĩ, còn nếu nhanh và mạnh sau nầy nó sẽ đạp xích lô.

Cả hai vợ chồng đều muốn con mình sau nầy sẽ là  Kỹ Sư, nên trước khi lên giường người chồng còn nhắc nhỡ vợ:

– Em ơi Kỹ Sư nhé,  nhưng được 10 phút cô vợ rên rỉ:

-Thôi kệ cho nó làm Bác Sĩ đi Anh,

Nhưng chỉ 5 phút sau, anh chồng la lên

– Đễ Anh cho nó đạp xích lô thấy mẹ nó luôn./.

3.- Chim

Một chị nhà quê vào đồn công an đăng ký kết hôn, chị cán bộ công an hỏi:

-Lấy chồng lần đầu hả?

Chị nhà quê: -Dạ lần đầu.

Chị cán bộ hỏi tiếp: -Tên gì, ở với nhau từ bao giờ?

Chị nhà quê đáp: -Dạ Lê thị Chim, mới ở với nhau tối hôm qua.

Chị cán bộ: -Mới ở với nhau tới hôm qua à? ….-Chim có ê không?

Chị nhà quê đỏ mặt ấp úng không nói gì, chị cán bộ bực mình gằn giọng: -Tôi hỏi chị, chim có ê không?

Chị nhà quê thẹn thùng, thỏ thẻ: -Dạ lúc đầu cũng hơi ê ê.

Chị cán bộ bực tức quát lên:

–Tôi hỏi Chị tên Chim không có chữ “Ê” hay không? mắc mớ gì đến lúc đầu với lúc sau, vớ vẩn.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Cười một chút đi

Tâm Tư – Thơ K1 Nguyễn Hoài Ân

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Tâm Tư – Thơ K1 Nguyễn Hoài Ân

Cám ơn Mẹ_ Trần Vũ Anh Bình

Nhân mùa Tạ Ơn, là người Việt Nam dù đang sống bất cứ nơi đâu trên hành tinh nầy chúng ta cũng không bao giờ quên ơn Mẹ VIỆT NAM và nguyện sống không hổ thẹn với những gì mà Mẹ Việt Nam đã ban cho chúng ta.
Kính mời các bạn thưởng thức nhạc phẫm “CÁM ƠN MẸ” của nhạc sĩ Trần Vũ Anh Bình, người vừa bị chế độ độc tài Việt Cộng kết án 6 năm tù giam 2 năm quản chế cùng với nhạc sĩ Việt Khang bị 4 năm năm tù giam và 2 năm quản chế.

 

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Cám ơn Mẹ_ Trần Vũ Anh Bình

Đoàn Ngọc Nam _ Thơ “Canh Gà”

Hôm rồi cô giáo ra bài
Ca dao Hà Nội trổ tài môn văn*
Lớp học lố nhố lăng nhăng
Phen nầy thành tích đạt bằng điểm cao
Bình giãi sâu sắc miễn sao
Đào sâu thực tế thế nào cũng hay
Ngày nay chữ nghĩa cao bay
Đương học mà nghĩ chiều nay món gì
Ở nhà có sẵn khoai mì
Ăn hoài cũng chán khác gì văn chương
Chuột kêu chút chít trong rương**
Gà đem nấu với nấm hương “canh gà”
Giãi nghĩa đơn giản thế a
Phải đâu gà gáy canh ba sáng trời
Học sinh học dốt học chơi
Cũng do cô giáo thiếu thời lơ mơ***
Thời nay xã hội thời cơ
Cần nhiều nhân tố ngu ngơ theo phò

 

*Gió đưa cành trúc là đà,
Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương
Mịt mù khói tỏa ngàn sương,
Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ.

**Chuột kêu chút chít trong rương,
Anh đi cho khéo, đụng giường Mẹ la.

(Nếu cho bình giãi câu nầy, có lẽ con chuột cũng là món ăn)

*** Bài luận văn bình giảng câu ca dao Hà Nội, được cô giáo
cho điểm 8/10. Quá hay!

 

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Đoàn Ngọc Nam _ Thơ “Canh Gà”