Chuyện chiếc áo dài – Tuyen dinh sưu tầm

Chiếc áo dài mà cho ta thấy gió
thì lạ thiệt!

79ee2c89ad7ab1520a9703c622bccf4c

Trong quyển tùy bút của ông Võ Phiến, ông kể về nhận xét của nhiếp ảnh gia Nguyễn Cao Đàm trong lúc dự hội chợ Osaka Nhật bản, rằng “sở dĩ áo dài VN thắng lớn ở trong và ngoài nước, là do nó cho thấy gió. Chiếc áo dài mà cho ta thấy gió thì lạ thiệt!

Theo ông Võ Phiến, mặc áo dài mà đứng yên thì chưa chắc ăn đứt các y phục khác. Nhưng mặc áo dài mà đi, mà múa v.v.. thì người con gái VN linh động hẳn lên, không ai qua mặt nổi!

Chắc ai cũng nhớ, thuở sinh thời, Marilyn Monroe mặc cái áo đầm xòe, đứng trên miệng thoát hơi của métro, rồi gió thổi bay lên, gợi hình hết sẩy. Nhưng hình ảnh này tục chớ không thanh như chiếc áo VN trong gió.

Đầu năm 2017, bạn bè đồng môn gởi lên mạng vô số hình ảnh chiếc áo dài, thôi thì đủ màu, đủ kiểu. Nhưng đã nói, áo dài, thì tà áo không thể nào ngắn được, cũng không thể dài 3 thước như áo của bà Thúy Nga! Dị hợm lắm vì nó không cho thấy gió. Thế là hỏng.

Áo dài VN kể từ khi ông Cát Tường vẽ ra đến nay, qua bao nhiêu thời đại, bao nhiêu biến đổi, từ cổ cao đến cổ thấp, cổ hở như áo bà Nhu, tay nối, tay raglan. Eo nhấn như đồng hồ cát, rất không thẩm mỹ. Eo không nhấn thon thả mượt mà, đạt đến sản phẩm cuối cùng ngày nay, thì tôi xin các ngài, cứ làm ơn để yên như vậy cho em nhờ, chớ nên thay đổi nữa, vì nó đã đạt tới đỉnh cao (không phải của trí tuệ loài người đâu, mà…) của mỹ thuật đấy !

Theo ông Võ Phiến, áo dài vừa theo sát những nét tuyệt mỹ của thân người, lại vừa thêm cho tấm thân ấy sự linh động phơi phới mà nó vẫn ao ước – Ai ao ước? Tấm thân ao ước ? Ao uớc cái gì ? Ghê chưa cái ông Võ Phiến!

Phía thân dưới của áo dài, chỉ thấy gió, có cái thướt tha, cái bay bướm. Mà áo dài chế ra là cho các cô gái VN mặc, vì người ngoại quốc, thân hình họ, dáng đi họ không hợp với chiếc áo dài. Họ vạm vỡ quá. Trừ số ít người thon thả dĩ nhiên !

Nhìn kìa, chiếc Kimono, trông sự xếp đặt kỹ quá, khó quá (lại ông Võ Phiến nữa!) không còn thấy đâu là thân người, kín đáo tựa tâm hồn người Nhật, phải theo đúng đạo, thứ tự, lớp lang, tuyệt nhiên không được phá rào. Trà đạo, kiếm đạo, tự tử cũng phải theo một quy củ rõ ràng, thì làm gì có bay với bướm ?

Chếc áo Hanbok của Đại Hàn cũng thế. Có kẻ xấu mồm bảo họ may thùng thình để che cái bụng bầu non désiré bất đắc dĩ, vì thuở đó mấy chú Nhật lùn qua Đại hàn hãm hiếp hàng loạt để tạo ra các chú lính con cho Nhật Hoàng – thiệt không ? – Vì lẽ đó, người Đại hàn thù Nhật bản muôn kiếp.

Còn chiếc xường xám của Trung Hoa, có bọc theo sát các đường cong tuyệt mỹ của các á xẩm thật, nhưng tuyệt nhiên không có gió.

Nói chi cái váy của người Lào, người Kampuchia, Thái lan chung quanh ta. Thật chẳng đáng so bì.

Tôi có cho các bạn canadiens xem ảnh và vidéo trình diễn thời trang áo dài VN, thì các bạn đều trầm trồ khen ngợi, thật tuyệt mỹ! Có bạn đã đi viếng VN, thì bảo rằng: trông các cô nữ sinh, sinh viên, tan trường về, đi ngược gió thì sexy vô cùng. Tôi cãi, nhưng chiếc áo dài của chúng tôi đâu có hở mà bạn bảo là sexy ? Bạn cười trả lời: Ấy, nó không hở như mini jupe, không kín như jupe dài, mà nửa kín nửa hở nên nó mới sexy, vừa gợi hình vừa gợi cảm. Gì mà ghê vậy ?

Chị họ tôi, nữ sinh trường áo tím kể lại: Có bà tổng giám thị, giờ ra chơi, bà cầm cây thước rảo trong sân trường, coi cô nào mặc áo dài mà hở khoảng giữa 2 tà và phần trên của quần, tức vùng “tam giác vàng”, là bà gọi vào văn phòng làm việc ngay, vì có vấn đề!

Bà dạy : Ở đây là chốn học đường, đứng đắn chứ không phải chỗ bán bánh ít trần. Ôi cái bánh ít trần, chắc phải lợi hại lắm nên bà Tổng giám thị mới phải ra công mà lùng địch và diệt địch.

Cứ tưởng tượng một nữ sinh mặc áo dài đi ngược gió hiện lên qua lời thơ Phạm Thiên Thư .”đôi gò bồng đảo trên miền tuyết hương“.

hay qua hai câu thơ rất gợi hình sau đây:

Em khoe áo mỏng giữa trời,
Cho anh nhìn thấy núi đồi thảo nguyên.

… thì thấy các bạn canadiens chí lý thật!

Đấy là tôi mượn bài thơ tả cái váy mà sửa lại nên núi đồi quả tôi có thấy, còn thảo nguyên thì không.

Nhà thơ Nguyên Sa mà viết thơ tình thì ai không mê ? Nhưng đến bài thơ ít người biết này, tựa là “Tương tư” thì không bài nào qua được, để tả chếc áo dài:

Có phải em mang trên áo bay,
Hai phần gió thổi, một phần mây.
Hay là em gói mây trong áo,
Rồi thổi cho tà áo trắng bay?
Bạn đã thấy gió chưa?

Tăng Quốc Kiệt

Tuyen Dinh Sưu tầm.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Chuyện chiếc áo dài – Tuyen dinh sưu tầm

Thơ tình Tống Phước Kiên

EM ƠI MÙA ĐÔNG ẤY

bai-tho-nho-hue-mua-dong-tac-gia-bang-lang-tim

Anh nhớ mãi, em ơi mùa đông ấy
Xứ Huế mình chỉ thấy giọt mưa rơi
Gió se da áo mưa phủ kín người
Chiều tan học chừng như trời sắp tối

Bên gốc cây anh thu mình đứng đợi
Giữa bốn bề lạnh giá với đông phong
Nhìn thấy em bỗng rộn rã trong lòng
Đôi mắt xinh trông dịu dàng nồng ấm

Ta bên nhau đường mưa phùn lấm tấm
Nón nghiêng che tóc xoả tận bờ vai
Mình vu vơ trao đổi chuyện ngày mai
Và mơ ước đường cứ dài vô hạn

Ngày lại ngày nồng nàn hơn tình bạn
Gió mưa nhiều ngày tháng vẫn bên nhau
Đã thương yêu sá chi chuyện sang giàu
Hạnh phúc với tiếng cười đàn trẻ dại

Rồi đông tàn nắng xuân về mềm mại
Anh giả từ theo tiếng gọi non sông
Hẹn ngày về mình kết mối tơ hồng
Đời sẽ đẹp như lòng ta mong ước

Một chiều đông dừng quân đường sủng nước
Được tin buồn…em đã bước sang sông .

TPK

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thơ tình Tống Phước Kiên

Kissinger đã nói và làm gì với tt Nixon và Nguyễn văn Thiệu

Ông Kissinger đã nói và làm gì với hai
tổng thống Nixon và Nguyễn Văn Thiệu?

image

Nguyễn Tiến Hưng

Tại Bắc Kinh, các quan chức và truyền thông Trung Quốc đang thương tiếc cái chết của Henry Kissinger.

Đài Truyền hình Trung ương ca ngợi ông là “nhà ngoại giao huyền thoại” và là nhân chứng cho quan hệ Trung-Mỹ. Chủ tịch Tập Cận Bình gọi ông là “chiến lược gia nổi tiếng thế giới” và là “người bạn cũ tốt lành” (Nextshark, 30/11/2023).

Nửa thế kỷ trước, ông ấy đã đóng góp có tính cách lịch sử vào việc bình thường hóa quan hệ Trung-Mỹ, quan hệ có tầm nhìn chiến lược rực rỡ, mang lại lợi ích cho cả hai nước cũng như thay đổi cả thế giới,” ông Tập nói, theo The Washington Post.

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao TQ Vương Văn Bân nhấn mạnh, “Bắc Kinh và Washington cần duy trì và thúc đẩy tầm nhìn chiến lược, lòng dũng cảm chính trị và trí tuệ ngoại giao của Kissinger.”

Chỉ bốn tháng trước đây ông Kissinger đã bất ngờ tới Bắc Kinh (tháng 7/2023) và được ông Tập tiếp đón nồng  hậu.

unnamed (5)

Chủ tịch TQ Tập Cận Bình đón tiếp ông Henry Kissinger
tại Bắc Kinh hôm 20/7/2023

Thấy ông đã trên 100 tuổi mà còn có thể bay trên 10.000 dặm xuyên đại dương mà vẫn còn tỉnh táo khi hàn huyên với ông Tập, chúng tôi nghĩ tuổi thọ của ông sẽ còn kéo dài thêm mấy năm nữa nên đã có ý định gửi tặng ông cuốn sách Bức Tử VNCH – Kissinger và 8 thủ đoạn nham hiểm (xuất bản vào dịp tháng Tư 2024), sau đó sẽ gửi thêm ấn bản bằng tiếng Anh với tiêu đề Appalling Betrayal – How Kissinger engineered the fall of South Vietnam. Ý định này là để tiếp theo bức thư chúng tôi gửi ông vào năm 2010 như đề cập ở dưới đây.

TQ nói tới ‘tầm nhìn chiến lược, lòng dũng cảm chính trị và trí tuệ ngoại giao của Tiến sĩ Kissinger’ là muốn nhắc lại tầm nhìn của ông về một trật tự thế giới tam cực (tripolarity) đưa Trung Quốc lên ngang hàng với Hoa Kỳ và Liên Xô. Thêm vào là những đóng góp lớn lao của ông để nối lại bang giao Mỹ – Trung nửa thế kỷ trước, rồi từ đó đã tiếp tục yểm trợ cho quốc gia này trở thành cường quốc số hai trên thế giới.

Mở cửa Bắc Kinh, đóng cửa Sài Gòn

Nhưng để có được sự đóng góp ấy và được TQ trả ơn phần nào qua công ty tư vấn Kissinger Associates ở New York và qua sự tiếp đón nồng hậu dành riêng cho ông trong cả 100 chuyến đi Bắc Kinh thì ông đã phải trả cái giá quá đắt để trao đổi, đó là “mở cửa Bắc Kinh, đóng cửa Sài Gòn” như chúng tôi đã viết trong cuốn Tâm Tư TT Thiệu (2010).

Năm 1972, Kissinger bắt được tay ông Mao thì năm 1973 ông buông ngay tay ông Thiệu.

Năm 1973 là năm đã đưa danh vọng của Kissinger lên tuyệt đỉnh khi ông nhận được giải Nobel vì đã mang lại hòa bình cho Việt Nam – và cho cả Hoa Kỳ qua Hiệp Định Paris (27/1/1973)

Trong cuốn sách Kissinger – A Biography (2005) tác giả nổi tiếng Walter Isaacson, người được Kissinger ưu đãi, cho phỏng vấn nhiều lần và rất lâu, nhưng cuối cùng thì đã phê phán: “Để thi hành hiệp định này thì cần phải thực hiện một ‘sự phản bội kinh hoàng’ đối với chế độ Miền Nam Việt Nam (To engineer the “appalling betrayal” of South Vietnamese regime)”, rồi nhận xét: “Dù cố ý đánh lừa một đồng minh, ông Kissinger vẫn thoát thân được mà danh tiếng không bị tổn hại, thật là đáng ngạc nhiên” (Having intentionally misled an ally, Mr. Kissinger escaped with his reputation remarkably unscathed).

Sự kiện ngày 29/11/1973

Thật là một sự trùng hợp kỳ lạ: khi ông Kissinger tạ thế ngày 29/11/2023, chúng tôi chợt nhớ tới một sự kiện khác cũng vào ngày này cách đây đúng 50 năm.

Bối cảnh là như thế này: sau những tranh cãi gay go Thiệu – Kissinger tại Dinh Độc Lập vào tháng 10/1972 về việc Kissinger đã đồng ý để cho đoàn quân hùng hậu của Bắc Việt đóng lại rải rắc khắp lãnh thổ Miền Nam, TT Thiệu nghi là Kissinger đã không báo cáo đầy đủ về Hiệp Định này với xếp của mình, nên ông muốn gặp TT Nixon để trực tiếp thuyết phục. Nhưng Kissinger không đồng ý và đã can ngăn Nixon. Sau cùng thì TT Nixon đồng ý gặp Phụ tá Ngoại giao của TT Thiệu là TS Nguyễn Phú Đức.

unnamed (7)

Phụ tá ngoại giao của TT Nguyễn Văn Thiệu, TS Nguyễn Phú Đức (trái) gặp TT Nixon (giữa) hôm 29/11/1973 tại Tòa Bạch Ốc, với sự có mặt của ông Kissinger (phải)

Ngày 29/11/1973 ông Kissinger ngồi cạnh TT Nixon tại Tòa Bạch Ốc khi ông Đức trao cho ông Nixon một lá thư tâm huyết của ông Thiệu. Trong bức thư dài 24 trang có câu:

“Nơi đây, tôi muốn được nhắc lại một điều: đó là trong bốn năm qua, Ngài và tôi đã có nhiều hành động và đưa ra nhiều đề nghị về hòa bình. Tôi đã chấp nhận bao nhiêu những nguy hiểm vì tình trạng bất ổn. Mỗi lần làm như vậy, Ngài đều đã nói với tôi rằng đây là dặm đường cuối cùng, ta không thể nhượng bộ hơn được nữa…

“Nhân dân Việt Nam không thể làm gì ít hơn là gửi tới Ngài một cách hết sức chân thành và thẳng thắn quan điểm của họ về vấn đề này… Vì họ sẽ được sống hay phải chết tùy theo giải pháp đàm phán sắp được kết thúc.”

Mục đích Phụ tá Đức gặp TT Nixon là để trình bày quan điểm của VNCH là như vậy, mà ông Kissinger lại nói với ông Nixon rằng: cuộc gặp này là vì lý do chính trị: ông Thiệu đang bị chống đối ở Sàigòn nên muốn có buổi họp để chứng tỏ với dân chúng rằng ông ta có sự ủng hộ của tổng thống Mỹ! Nhân dịp này, Kissinger còn mạ lỵ ông Thiệu và khuyên ông Nixon phải cứng rắn đến mức ‘tàn nhẫn’ (brutal).

Trước buổi họp, Kissinger cố vấn Nixon:

“Mục đích của cuộc họp quan trọng này là để Ngài thuyết phục ông Thiệu – một người đa nghi hầu như bệnh hoạn tâm thần – thông qua một thành viên trong nhóm người chủ chốt gần gũi ông ta để tiếp tay với chúng ta trong tuần lễ này về hiệp định Paris (The purpose of this crucial meeting is to convince an almost psychopathically distrustful Thieu, through a key member of his Palace inner circle, to close ranks with us this week on the Paris agreement).

Tất cả phía VNCH đã đồng ý chỉ trừ Thiệu…

Cuối cùng thì những nỗ lực lớn lao của chúng ta trong những tuần lễ gần đây đã có một số tác động tốt: đối với phái đoàn của VNCH tại Paris – là những người dường như nắm bắt được thực tế, và đối với những nhân vật quan trọng khác, chẳng hạn như Thủ tướng Chính phủ và Tổng Tham Mưu Trưởng, những người này đã sẵn sàng chấp nhận hiệp định. Nhưng nhân vật chính yếu là ông Thiệu thì lại nhất định không nhân nhượng (Our massive efforts in recent weeks have finally had some impact: on the GVN envoys in Paris who seemed to grasp realities, and on other important figures, such as the Prime Minister and Chairman of the Joint Staff, who are ready to accept the agreement. But Thieu, of course, is the key, and he remains intransigent).

Rồi Kissinger đề nghị với Nixon: “Thiệu là một quan lại sắc sảo hoang tưởng (a shrewd paranoic mandarin). Vì vậy, Ngài phải kết hợp sự tàn bạo với sự trấn an khi tiếp một trong số ít người canh gác Dinh Độc Lập (ý nói Phụ Tá Đức) mà ông Thiệu nghe lời (Thus you will have to combine brutality with reassurance in your approach to one of the few Palace guards to whom Thieu listens). Chữ nghiêng và tô đậm trong ngoặc là do chính Kissinger viết.

Tàn bạo như thế nào?

Kissinger nói “Ngài phải thuyết phục Đức một cách tàn nhẫn rằng (1) chính phủ Việt Nam nội trong tuần này phải quyết định chấp nhận hiệp định, và (2) lịch trình không thể thay đổi được nữa là sẽ ký kết trong ba tuần kể từ bây giờ.” (You must ruthlessly convince Duc that the GVN must decide this week to accept (1) the agreement and (2) the unalterable schedule leading to a signature three weeks from now).

“Hiệp Định Paris chỉ là một mảnh giấy”

Nhưng dù Kissinger đề nghị tàn bạo, nhưng lần này TT Nixon lại không nghe theo, và sau đó đã gọi cho Kissinger và nói: “Tôi đã đọc những điểm do ông kiến nghị rồi nhưng tôi đã gác nó lại” (I read your talking points and I deferred on them…’ – Sự kiện này được ghi ở ‘footnote 1’ trong văn bản).

Bây giờ thì lịch sử đã có bằng chứng ghi lại cuộc họp này trong cuốn băng số 816 như sau: TAPE 816 – Conversation 3 – Ngày 29/11/1972 (còn lưu trữ tại Thư viện Nixon ở Yorba Linda).

Trở về Sàigòn ông Đức báo cáo với TT Thiệu: “TT Nixon nói với tôi: “Hiệp Định này chỉ là một mảnh giấy. Điều quan trọng là chúng tôi quyết tâm yểm trợ các ông (The agreement is just a piece of paper. What counts is our determination to support you).”

Nhưng lịch sử đã xảy ra khác hẳn. Hai năm sau Hiệp Định Paris, VNCH đã đi vào dĩ vãng, nhưng tiếng tăm ông Kissinger vẫn tiếp tục nổi lên như sóng cồn.

Ngay từ Hè 1972 ông đã cố vấn TT Nixon rằng “Nếu trong vòng một hay hai năm kể từ bây giờ mà Bắc Việt nuốt trọn Miền Nam VN, chúng ta vẫn có được một chính sách ngoại giao khả tín nếu như điều đó được mọi người nhìn thấy như là hậu quả của sự bất tài của Miền Nam.” (If a year or two years from now North Vietnam gobbles up South Vietnam, we can have a viable foreign policy if it looks as if it’s the result of South Vietnamese incompetence).

Nhiều báo chí Mỹ đã muốn phỏng vấn cựu Tổng thống Thiệu về Cố vấn Kissinger nhưng ông đã từ chối và chọn tờ Der Spiegel, một tuần báo lớn ở bên Đức (quê hương ông Kissinger) để cho phỏng vấn vì nghĩ rằng ông ta sẽ đọc.

Lá thư Kissinger phân trần

Mà thật vậy, ngay sau khi bài phỏng vấn được đăng tải dưới tựa đề “Người Mỹ đã phản bội chúng tôi” (Die Americaner habens uns verraten), Kissinger đã viết một lá thư cho ông Thiệu để phân trần.

Thư không đề ngày, tháng, nhưng ông Thiệu nhận được vào đầu năm 1980. Khi viết thư này thì Kisssinger không biết rằng các tài liệu hai năm rõ mười về sự gian dối của ông với lịch sử sẽ được giải mật năm 1986 và 2006.

Thư rằng:

Henry Kissinger

Thưa Tổng Thống,

“Tôi vừa mới được đọc bài phỏng vấn Ngài dành cho tờ Der — SPIEGEL. Tôi có thể hiểu được sự đắng cay của Ngài, và quả thực còn thông cảm được với sự cay đắng ấy. Nhưng tôi nhận thấy bài phỏng vấn của Der — Spiegel đã cố tình tạo ra ấn tượng rằng cuốn sách của tôi là một cuộc tấn công chống Ngài; điều đó trái ngược hẳn với sự thật. Cuốn sách của tôi không ngớt lời ca tụng lòng can đảm và tư cách của Ngài, và công nhận rằng, trong chủ yếu, Ngài đã đúng…

‘Giả như năm 1972, chúng tôi đã biết được những gì sẽ xảy ra cho Hoa Kỳ thì chúng tôi đã không tiến hành như chúng tôi đã làm…

“Tôi đồng ý với Ngài rằng những điều khoản của hiệp định ngưng chiến đã quá khắt khe. Cái thế tiến thoái lưỡng nan bi thảm của chúng tôi hồi 1972 là đã tới sát giới hạn những khả năng quốc nội của chúng tôi…

“Nếu như ý định của Tổng thống Nixon và của tôi là phản bội Ngài, thì chúng tôi đã có thể làm như thế hồi đầu 1969 rồi…

“Tôi không trông đợi sự thuyết phục được Ngài. Ít nhất, tôi có thể cố gắng xin Ngài tin tưởng ở lòng hối hận, và sự kính trọng vẫn còn của tôi.

“Với những lời nguyện chúc tốt đẹp nhất,

(kt) Henry Kissinger

Kissinger viết rằng: “Tờ Der Spiegel đã cố tình tạo ra ấn tượng rằng cuốn sách của tôi là một cuộc tấn công chống Ngài, nhưng sự thật là ngược lại.”

Sự thật không ngược lại vì tờ báo này chỉ đăng nguyên văn bài phỏng vấn mà bản dịch ra tiếng Anh đã được TT Thiệu duyệt lại rất kỹ và ký vào từng trang. Ông đã trao lại cho chúng tôi và được in lại toàn bộ trong cuốn Tâm Tư Tổng Thống Thiệu (trang 646-667).

Mời Kissinger tranh luận về Việt Nam

Trong một văn thư (cũng không đề ngày tháng) gửi cho tờ báo của hội ‘The Fall of Sàigòn Marines Association’ (Hội TQLC Dính Líu Đến Sàigòn Sụp Đổ) với tựa đề “Doctor Henry Kisinger’s activities and thoughts about the Fall of Saigon”, Kissinger phản hồi:

“Để ta có được sự bình yên trong lòng, một ngày nào đó chúng ta phải thực hiện một đánh giá về lý do tại sao những người có thiện tâm ở mọi phía đã không có thể tìm cách nào để tránh được thảm họa của Miền Nam Việt Nam… Nhưng, vào ngày chiếc trực thăng cuối cùng rời Tòa Đại sứ, ta chỉ còn lại một cảm giác trống rỗng.”

Nhân dịp kỷ niệm 35 năm sau khi Sài Gòn sụp đổ chúng tôi có viết một lá thư (4/10/2010) gửi qua dạng ‘thư đăng ký’ – registered mail gửi cho ông qua Kissinger And Associates để mời ông trao đổi với chúng tôi trên một diễn đàn công cộng như ở Đại học Harvard hay trên CNN hay PBS, tùy ý ông lựa chọn để rút ra những bài học cho Hoa Kỳ.

Nhưng Kissinger đã không trả lời. Có thể là vì trong cuốn The Palace File (Hồ sơ mật Dinh Độc Lập) đã được xuất bản năm 1986, chúng tôi đã in lại một phần lớn của hồ sơ tối mật Nixon-Thiệu mà Kissinger đã giấu đi từ lâu, rồi tiếp theo là những tài liệu về sự gian dối của Kissinger đã được giải mật từ năm 2006 cho nên Kissinger đã lựa chọn ‘sự im lặng là vàng.’

Thư rằng:

unnamed (9)

Dù không trả lời nhưng mấy tháng sau đó, trong một hội thảo tại Bộ Ngoại Giao (ngày 29/10/2010), ông đã ‘phần nào’ thú nhận trách nhiệm của mình: “Hầu hết những sai lầm ở Việt Nam là do chính chúng ta gây ra cho mình” (most of what went wrong in Vietnam we did to ourselves). Vẫn với một luận điệu mập mờ, chung chung, có thể hiểu nhiều cách, có thễ diễn giải nhiều lối…

Xây tượng đài vinh danh Kissinger ở Bến Bạch Đằng?

Đọc xong bức thư TS Kissinger gửi TT Thiệu, chúng tôi đề nghị với ông là sẽ soạn thảo một văn thư để trả lời, nhưng ông đã lắc đầu và nói: “Khỏi cần mất thời giờ với tay này nữa.”

Có thể là ông nhớ lại mình đã mất thời giờ để nghĩ đến một kịch bản khác – kịch bản xây tượng đài Henry Kissinger ở cảng Sàigòn.

Mùa Đông năm 1976 tại Luân Đôn, cựu TT Thiệu kể lại cho chúng tôi rằng khi Kissinger mới nhập cuộc thì ông ta đã tỏ ra cương quyết để giúp Miền Nam Việt Nam, phản ảnh qua lập trường đàm phán của cả hai bên Mỹ – Việt, được TT Nixon tuyên bố ngày 14/5/1969: “Chúng tôi đã gạt bỏ ra ngoài hoặc là việc rút lui khỏi Việt Nam một cách đơn phương, hoặc việc chấp nhận tại hoà đàm Paris bất cứ một giải pháp nào có tính cách như một thất bại ngụy trang.”

Nghe vậy, ông Thiệu đã phấn khởi và có ý định rằng nếu Kissinger thực sự hành động trên căn bản này thì ông sẽ cho xây cất một tượng đài để vinh danh Henry Kissinger ở Bến Bạch Đằng, giống như Phi Luật Tân đã xây một tượng đài ở đảo Leyte, ghi ơn Tướng Douglas MacArthur đã giải phóng Phi Luật Tân trong Thế Chiến II sau trận hải chiến lớn nhất lịch sử ngày 20/10/1944.

Bây giờ thì ông Kissinger đã ra đi về nơi chín suối, phải để công việc xây tượng đài ghi nhớ công ơn của ông cho lãnh đạo Trung Quốc thực hiện, vì ông đã giúp nước này thoát đại họa suýt bị Liên Xô tấn công nguyên tử vào năm 1969. Rồi trên bốn thập niên qua đã từ một nước nghèo đói vào hàng nhất thế giới, phát triển thành nền kinh tế đứng số hai từ năm 2010.

Với sức mạnh quân sự hùng hậu, Trung Quốc đã trở nên cường quốc số một tại Á Châu và đang ngang nhiên thách thức, đe dọa Hoa Kỳ, với mục tiêu trở thành cường quốc số 1 trên thế giới thay cho Mỹ vào năm 2049, năm kỷ niệm 100 năm Hồng Quân tiến vào Bắc Kinh.

Hay là quả khinh khí cầu tầm cao từ Trung Quốc bay xuyên qua không phận nước Mỹ từ ngày 28/1 đến ngày 4/2/ 2023 là để tìm hiểu cặn kẽ về địa thế để chuẩn bị cho năm 2049?

Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả, tiến sỹ Nguyễn Tiến Hưng, Cựu Tổng trưởng Kế hoạch VNCH từ năm 1973 đến 1975, phụ tá về tái thiết của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Hiện định cư tại Hoa Kỳ, ông đã xuất bản các cuốn sách Khi Đồng minh tháo chạy (2005) và Khi Đồng minh nhảy vào (2016).

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Kissinger đã nói và làm gì với tt Nixon và Nguyễn văn Thiệu

Nước Mỹ có mơ cũng không ngờ có ngày hôm nay – Tác giả Bùi Chien Bài sưu tầm trên Internet

Quả thật có nằm mơ nước Mỹ cũng không ngờ đến có ngày hôm nay.

unnamed (5)

Một cơ hội 100 năm có một lần làm suy yếu triệt để đối thủ truyền kiếp từ 1945 đến nay.

Thành công cuối thế kỷ 20 của khối Liên Âu và Mỹ là làm sụp đổ một đế chế siêu cường Liên Xô.

Và giờ đây những thập niên đầu thế kỹ 21, chúng ta lại chứng kiến một lần nữa sự lãnh đạo của nước Mỹ đến toàn bộ Tây Âu nhằm làm suy kiệt nước Nga một cách hiệu quả và ít tốn kém nhất.

Quả thật Putin đang làm cái điều mà bao đời Tổng thống Mỹ không thể làm được, chính là việc Putin đang trực tiếp làm suy yếu Nga.

Một đại cường đang trên đà lao xuống hố.

Không có một thành công nào của nước Nga khi phát động xâm lược Ukraine, từ mặt quân sự hay về địa chính trị trên lục địa Á – Âu, nước Nga đang chảy máu hàng tỷ đô một ngày cho chiến phí.

Mất đi những đồng minh gần gủi nhất.
Mất bạn hàng giàu có nhất.
Mất danh tiếng nhà xuất cảng vũ khí thứ 2 thế giới.
Mất đi các vùng đệm và các tuyến đường biển tối quan trọng.
Và hơn hết là Nga đã chính thức trở thành một thuộc địa tài nguyên giá rẻ của Trung Quốc.

Có đội mồ sống lại thì các lãnh đạo của Liên Xô cũng không ngờ rằng Putin lại tàn phá nước Nga nhanh đến như vậy.

Việc Phần Lan gia nhập vào Nato một cách nhanh chóng và sắp tới là Thụy Điển, đây là một con sóng địa chiến lược toàn Châu Âu, các nhà phân tích Châu Âu hay ngay cả các chuyên gia của Việt Nam họ chỉ nói qua loa, không đào sâu vào sự mất mát mang tính chiến lược của Nga hay cái được của liên minh Nato ở khu vực Bắc Âu này.

Tôi phải nói việc kết nạp 2 thành viên vùng Cực Bắc này của Mỹ mang lại một lợi ích vô cùng lớn về rất nhiều mặt, giúp Mỹ Na Uy, Canada và các vùng lãnh thổ giáp ranh Bắc Cực của liên minh trở nên thuận lợi hơn bao giờ hết.

Tôi đánh giá kết nạp được 2 nước Bắc Âu vào Nato đây là thành công nhất trong suốt 74 năm thành lập liên minh này, một dấu chấm hết cho hạm đội Bantic Nga.

Đi sâu vào địa chiến lược Bắc Âu, chúng ta không có gì phải bàn thêm, vì nó quá rõ ràng. Toàn bộ vùng biển Bantic giờ đây đều giáp ranh các đồng minh của Mỹ, thành phố chiến lược quan trọng lớn thứ 2 của Nga Sankt-Peterburg chỉ cách các tiền đồn của Phần Lan 1 giờ máy bay, 15 phút tên lửa, toàn bộ hải cảng quan trọng nhất của Nga trên biển Bantic, Baltiysk – cảng duy nhất của Nga ở Baltic không bị đóng băng vào mùa đông giờ đã hoàn toàn nằm trong tầm khống chế của Phần Lan. Kaliningrad cũng giáp biên giới với Hành lang Suwalki – một hành lang kéo dài gần 100km nối Ba Lan với các nước vùng Baltic.

Giờ đây vùng lãnh thổ hải ngoại của Nga bị cô lập hoàn toàn.

Ngoài đường biển ra không có một tuyến đường nào trên bộ của Nga đến vùng này mà không đi qua các nước thành viên Nato, Nato kiểm soát Eo biển Đan Mạch – nối Baltic với Đại Tây Dương và giáp với Đan Mạch, Thụy Điển, Na Uy, sẽ cho phép liên minh này hạn chế việc di chuyển trên biển của Hạm đội Baltic.

Sự kiểm soát của Nato ở vùng Baltic cũng khiến Hạm đội phương Bắc của Nga tại Bán đảo Kola ở Bắc Cực gặp khó khăn khi yểm trợ cho Kaliningrad.

Cái này không cần nói nhiều vì nó quá hiển nhiên.

Phần lan, Thụy Điển là đội quân mùa đông của Nato, không một quốc gia nào có một đội quân mùa đông thiện chiến, chuyên nghiệp, hiện đại như 3 nước Bắc Âu.

Nato đã hoàn thiện học thuyết chiến tranh thời tiết hoàn hảo, giờ đây trên tất cả các lục địa và mọi nền khí hậu trên trái đất, Nato đều có thể triển khai sức mạnh không cần lo lắng đến sự chênh lệch vĩ độ hay bất lợi về thời tiết, sự mạnh đã nâng lên toàn cầu đúng nghĩa trên mọi loại địa hình, khí hậu và sự đảm bảo phòng thủ trên mọi hướng chiến lược.

Tất cả các hỏa tiễn của Nga đặt trên lục địa nếu muốn tấn công Hoa Kỳ thì đều phải bắn vòng qua Bắc Cực, đây là con đường ngắn nhất, dễ dàng nhất để tấn công lục địa Bắc Mỹ, việc kết nạp các nước vùng Cực Bắc, đã làm cán cân cân bằng hạt nhân của Mỹ, Nga bị lệch, Mỹ sẽ rất mau chóng bố trí các phương tiện đánh chặn hỏa tiễn tầm cao và thường trú các tầu chiến phong thủ hỏa tiễn đến vùng Cực Bắc này.

Đây là cú tát lớn nhất với Nga, việc các phương tiện phòng thủ hỏa tiễn Mỹ đến sát biên giới Nga là điều không bao giờ Nga cho phép.

Nhưng giờ đây toàn bộ biên giới phía tây của Nga đã được Mỹ bố trí Patriot, và giờ là một đường biên giới phía bắc 1300km trên đất liền và trên biển sẽ được bao phủ bởi các hệ thống cảnh báo và phòng thủ hỏa tiễn Mỹ, đây là điều 74 năm nay Nato không thể làm nổi. Nato phải cảm ơn Putin đến hết đời.

Nước Nga đã bị khoá chặt mọi con đường ra ngoài biên giới của mình. Không còn một cảng biển nào của Nga mà không bị đối tác hoặc đồng minh của Mỹ kiểm soát.

TRÊN BỘ NGA KHÔNG CÒN ĐƯỜNG ĐẾN CHÂU ÂU NẾU KHÔNG ĐI QUA THÀNH VIÊN NATO.

TRÊN BIỂN CŨNG VẬY NƯỚC NGA ĐÚNG NGHĨA ĐEN LÀ BỊ NHỐT TRONG CHÍNH ĐƯỜNG BIÊN GIỚI KHỔNG LỒ CỦA MÌNH.

TÔI THÍCH NHẤT KHÔNG PHẢI Ở MẶT QUÂN SỰ MÀ TÔI NHÌN NHẬN HAI NƯỚC BẮC ÂU VÀO NATO NÓ MANG ĐẾN CHO MỸ MỘT LỢI THẾ ĐỊA CHIẾN LƯỢC VÙNG CỰC BẮC CỰC LỚN.

Hiện tàu thuyền chở hàng từ châu Á tới châu Âu sẽ phải đi qua Ấn Độ Dương, kênh đào Suez và tiến vào Địa Trung Hải. Thế nhưng, khi Bắc Cực trở nên dễ đi hơn thì thời gian vận chuyển đường biển lên phía Bắc tiên liệu  sẽ rút ngắn 19 ngày và chi phí giảm xuống từ 20% đến 25%.

Điều này khiến Bắc Cực trở thành khu vực kinh tế và chính trị quan trọng mang tầm vóc toàn cầu khi mà vùng biển nơi đây có thể thông thương với châu Á, châu Âu và Bắc Mỹ (khoảng 90% hoạt động thương mại quốc tế đều diễn ra tại ba khu vực này).

Tại vòng Bắc Cực, Nga đang có 53% diện tích bao quanh Bắc Cực, cùng các nước Mỹ, Canada, Na Uy và Đan Mạch có duyên hải Bắc Cực. trữ lượng dầu khí và khí đốt ở Bắc Cực ước tính bằng 1/3 tổng số tài nguyên dầu mỏ toàn cầu, có kẽm, niken, tài nguyên cá, ước tính Bắc Cực có đến 30.000 tỷ lợi nhuận ở đây. Trung +, mặc dù không có lãnh thổ ở Bắc Cực, nhưng Trung + đã là quan sát viên chính thức của Hội đồng Bắc Cực từ năm 2013 và tự xác định là một quốc gia cận Bắc Cực, Trung + cũng đề ra một chiến lược Bắc Cực đầy tham vọng với sáng kiến Con đường tơ lụa Bắc Cực và Sách trắng Bắc Cực năm 2018.

Hiện các tập đoàn dầu khí của Trung + có tổng cộng 20% cổ phần tại dự án Arctic LNG-2 cùng với Novatek, Total và Japan Arctic LNG.

Năm 2019, Công ty cơ khí hóa học quốc gia Trung + và công ty Neftegazholding của Nga đã ký hợp đồng xây dựng cơ sở hạ tầng tại mỏ dầu Payakha, với tổng vốn đầu tư 5 tỉ USD trong vòng 4 năm và thời gian khởi động dự kiến vào năm 2023. Ngoài ra, Trung + cũng tích cực theo đuổi hợp tác song phương với các quốc gia Bắc Cực, đặc biệt là các nước Bắc Âu trong nghiên cứu khoa học tại khu vực, nhằm duy trì sự hiện diện lớn hơn tại đây. Tôi điểm tin vậy thôi.

Tương lai các nguồn năng lượng thế giới đang nằm ở Bắc Cực, đây là vùng đất địa chiến lược tài nguyên chính trong giữa và cuối thế kỹ 21 này.

Trong 10 năm tới, băng Bắc Cực giảm xuống ở dưới mức tầu phá băng đi qua, tuyến đường mới sẽ thông từ Bắc Mỹ đến Châu Á. Châu Âu qua các cảng biển Na Uy và Thụy Điển.

Trong 10 -15 năm tới Bắc Âu rất có thể trở thành các cảng biển trung chuyển trên toàn bộ tuyến hàng hải Bắc Cực, đây là tương lai của các nước Cực Bắc.

Mỹ được lợi quá lớn cho việc mở rộng liên minh quân sự, kinh tế với các quốc gia Bắc Âu, suốt chiều dài từ Bắc Mỹ, Canada vòng qua Iceland đến Na Uy, Thụy Điển, tiếp cận vào cảng của Phần Lan trên biển Bantic, đây quả thật là một thành công lớn chưa từng thấy. Một địa chiến lược giúp Mỹ – Nato khống chế toàn bộ vòng Bắc Cực, ngăn cản Trung + thò vòi bạch tuộc vào vùng đất này.

Một mũi tên trúng 3 đích của Mỹ.

Hội đồng Bắc Cực bao gồm Canada, Đan Mạch, Phần Lan, Iceland, Na Uy, Nga, Thụy Điển và Mỹ tất cả chỉ có Nga là đối địch, còn tất cả đều là đồng minh Mỹ, việc tạo ra một vùng đệm Bắc cực như Thụy Điển là điều có trong mơ Mỹ cũng chưa dám nghĩ đến, tất cả toan tính của Mỹ chỉ dừng lại ở mặt hoạch định chính sách trong cuốn sự va chạm giữa các nền văn minh nhưng giờ đây nó đang thực tế hơn bao giờ hết.

Mỹ có toàn quyền chi phối ở khu vực vòng Bắc Cực, điều này đến bởi vì Putin và sự sụt giảm khả năng kiểm soát các khu vực chiến lược xa xôi của Nga, mất đi sự trung lập của các nước Bắc Âu. Nga đã đánh mất luôn con đường điển tiếp cận với vòng Bắc Cực ở biển Bantic, sự việc này không thể nhìn thấy ở 1, 2 năm nữa, mà nó sẽ định hình trong trung hạn 10 năm tiếp theo.

Bắc cực chiếm 25% nguồn tài nguyên đang còn ngủ yên trên toàn cầu: khoảng 13% trữ lượng dầu mỏ, 30% khí đốt tự nhiên và 20% khí đốt hóa lỏng chưa được khai thác của thế giới. Tuyến đường Biển Bắc sẽ giúp rút ngắn thời gian tàu đi từ châu Âu sang châu Á xuống chỉ còn 35 ngày, so với 48 ngày nếu đi qua kênh đào Suez.

Một lần nữa thế giới lại phải quay lại sự hiện diện của hải đội Châu Âu, Châu Mỹ trên vòng cực bắc, một lần nữa mạch máu lưu thông toàn cầu lại được đặt vào Tây Mỹ và Tây Âu.

Kiểm soát được tuyến đường biển huyết mạch là kiểm soát được sự thịnh vượng của thế giới. Sự chuyển dịch các nguồn tài nguyên năng lượng của Trung Đông sẽ sớm suy yếu, Shell là một trong những hãng đi đầu khi tiến hành nhiều hoạt động thăm dò tại Alaska và có nhiều bước đi nhằm tiếp cận tới khu vực đảo băng Greenland.

Công ty dầu khí Na Uy (STO) cũng đang dần tiến sát vùng biển phía bắc địa cầu và cạnh tranh với Chevron, tập đoàn dầu khí khổng lồ của Mỹ. công ty khai thác năng lượng hàng đầu thế giới của Hà Lan là Royal Duch Shell vừa leo lên vị trí số một thế giới về doanh thu (theo xếp hạng của tạp chí Fobres), và đang lên kế hoạch khoan 5 giếng dầu tại bang Alaska của Mỹ.

Đây sẽ là những mũi khoan đầu tiên từ phía Mỹ ở khu vực Bắc Cực trong hàng chục năm qua. Từ 3 năm qua, các tập đoàn năng lượng lớn như Shell, Maersk Oil, Statoil hay Cairn Energy đã tiến hành nhiều hoạt động thăm dò dầu khí tại vùng vịnh Baffin thuộc Greenland và đã có 30 tập đoàn của Trung +, Anh, Canada, Úc và Greenland thăm dò khoáng sản trên đảo.

Các tập đoàn Trung + cũng đã thăm dò mỏ kẽm tại vịnh Citronfjord, gần Bắc Cực, đầu tư 70 triệu USD vào mỏ đồng tại Ittoqqortoomit thuộc vùng duyên hải đông nam Greenland, xúc tiến các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng, đường sắt, sân bay tại Nuuk và đang đẩy mạnh kế hoạch khai thác đất hiếm. Canada tiết lộ, chỉ tính riêng một số khu vực nhánh biển bao quanh Bắc Cực có thể khai thác được 580 tỷ thùng dầu thô, gấp hai lần trữ lượng dầu thô của Ả rập.

Trung + một tay chơi mới ở khu vực tiềm năng Bắc Cực, Trung + đã gửi tàu phá băng Tuyết Long đến khu vực này lần đầu tiên trong suốt từ khi lập quốc, Trung + đang tiến đến Greenland, các dự án đầu tư của Trung + ở đây là rất lớn, đặc biệt là các cơ sở khai thác thăm dò dầu khí và đất hiếm, việc Mỹ có thêm 2 thành viên của Bắc Âu đã giúp Mỹ có tất cả các đồng minh trong 7 quốc gia vòng Bắc Cực, thật là một mũi tên trúng 3 con chim, ở Đan Mạch, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Michael Aastrup Jensen không úp mở phản đối sự hiện diện của một quốc gia như Trung + “ở sân sau của chúng tôi”.

Thật là một món quà 100 năm có 1 với nước Mỹ khi có được hai đồng minh Bắc Âu, hoàn thành chuỗi vòng cung kìm toả mọi khu vực Cực Bắc, ngăn chặn Trung + vươn đến đây, khoá chặt Hải quân Nga ở vùng biển Bantic, thiết lập vùng phòng không cảnh báo tên lửa sớm ở phía Bắc Cực, kết nối tuyến hải vận Bắc Cực chạy qua các đồng minh và đối tác, khống chế toàn bộ tuyến hải trình Bắc Cực, khống chế các điểm tài nguyên, các nút vận tải củng cố các cơ sở quân sự cũng như kìm tỏa các cuộc hành quân của Hải quân Nga ở biển Bắc, cô lập hải quân Nga ở biển Bantic.

Một cái lợi quá sức tưởng tượng cho nước Mỹ, quả thật nước Nga đang trao cho nước Mỹ những cơ hội trong mơ để vực dậy sự thống trị của Mỹ trên bất cứ một khu vực nào trên địa cầu, sự kết nạp của 2 nước Bắc Âu là mảnh ghép cuối cùng để Mỹ hoàn thành quá trình định hình tương lai suốt thế kỹ 21.

Giờ đây không còn một lục địa nào, một vùng lãnh thổ nào mà không có đồng minh của Mỹ, sức mạnh của Mỹ đã đạt đến tới hạn về mặt địa lý.

Không còn một vùng đất nào người Mỹ không thể vươn tới cho dù là Bắc Cực.

Tg-Bui Chien.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Nước Mỹ có mơ cũng không ngờ có ngày hôm nay – Tác giả Bùi Chien Bài sưu tầm trên Internet

Happy Thanksgiving

HAPPY THANKSGIVING

335662

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Happy Thanksgiving

Vũ Hoàng Chương dịch bài “Hoàng hạc Lâu” tác giả Vũ Quý Khang K 30 – Tôn thất Biên sưu tầm

Kính thưa toàn thể quý vị Thành viên Diễn đàn.

Tôi là Cựu SVSQ Vũ Quý Khang, K.30.

Hôm nay tôi xin giới thiệu đến Diễn đàn một bài thơ dịch rất hay của Thi sĩ Vũ Hoàng Chương.

Bài thơ nhan đề Hoàng Hạc Lâu, được xếp vào danh sách những bài thơ Đường nổi tiếng của một thi sĩ Trung Hoa, tên Thôi Hiệu.

Bài  này được rất nhiều thi sĩ Việt Nam phỏng dịch ra tiếng Việt như Tản Đà, Ngô Tất Tố, Trần Trọng Kim, Vũ Hoàng Chương, …

Trước hết tôi xin giới thiệu cùng bạn đọc bài thơ này được phiên âm, nghĩa tiếng Việt.

I/ Dịch âm.

           Hoàng Hạc Lâu.

Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ,
Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu.
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản,
Bạch vân thiên tải không du du.
Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ,
Phương thảo thê thê Anh Vũ châu.
Nhật mộ hương quan hà xứ thị?
Yên ba giang thượng sử nhân sầu.

II/ Dịch nghĩa

            Lầu Hoàng Hạc

Người xưa cưỡi hạc vàng bay đi,
Nơi đây còn lại lầu Hoàng Hạc
Hạc vàng bay đi không trở lại
Mây trắng ngàn năm vẫn phiêu lưu.
Mặt sông Hán Dương  cây mồn một
Cỏ thơmi Anh Vũ vẫn xanh rờn
Trời đã về chiều  quê đâu hỡi
Sóng gợn trên sông não lòng người

Bài thơ được tác giả Thôi Hiệu sáng tác khi đến thăm lầu Hoàng Hạc, một trong 04 lầu đài bên Trung Hoa, là nơi các thi sĩ nội tiếng thường hay đến đây để đề thơ.

Cảm tác trong một buổi chiều, ngồi trên lầu Hoàng Hạc, nhìn ra sông Hán Dương, ngang qua bãi cỏ Anh Vũ, tác giả đã đề ra bài thơ này khi đang tha hương, lang bạt giang hồ.

Bài này được làm theo thể thơ Thất ngôn Bát cú với niêm luật rất chặt chẽ của  Đường thi.

Nhiều thi sĩ Việt Nam đã phỏng dịch nó.

I/ Theo thể thơ Lục bát:

1. Thi sĩ Tản Đà, Nguyễn Khắc Hiếu.

                  Gác Hoàng Hạc.

Hạc vàng ai cưỡi đi đâu?
Mà đây Hoàng Hạc riêng lầu còn trơ!
Hạc vàng đi mất từ xưa,
Nghìn năm mây trắng bây giờ còn bay.
Hán Dương sông tạnh cây bày,
Bãi xa Anh Vũ xanh dày cỏ non.
Quê hương khuất bóng hoàng hôn,
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai?

2. Nhà giáo Trần Trọng Kim.

               Lầu Hoàng Hạc

Người đi cưỡi hạc từ xưa,
Đất này Hoàng Hạc còn lưu một lầu.
Hạc vàng đi mất đã lâu,
Ngàn năm mây trắng một màu mênh mông.
Hán Dương cây bóng lòng sông,
Bãi kia Anh Vũ cỏ trông xanh rì.
Chiều hôm lai láng lòng quê,
Khói bay sóng vỗ ủ ê nỗi sầu.

II/  Thất ngôn Bát cú :

1.Thi sĩ Ngô Tất Tố.

            Hoàng Hạc Lâu.

Người xưa cưỡi hạc đã cao bay
Lầu hạc còn suông với chốn này
Một vắng hạc vàng xa lánh hẳn
Nghìn năm mây bạc vẩn vơ bay
Vàng gieo bến Hán, ngàn cây hửng
Xanh ngát châu Anh, lớp cỏ dày
Hoàng hôn về đó quê đâu tá?
Khói sóng trên sông não dạ người.

– Và gần đây nhất là của Thi sĩ Vũ Hoàng Chươhng.

Ông dịch bài thơ này vào năm 1975 tại một căn gác hẹp, trong một con hẻm nhỏ của Quận 04, Sàigòn .

Bài thơ dịch từ bài Hoàng Hạc Lâu, nhưng thực ra chất chứa tâm trạng của một cuộc đời về chiều nhưng lại phải sống trong một không gian tù túng về tinh thần.

Bản dịch được gởi ra nước ngoài  cho bạn bè và sau này được nhạc sỹ Cung Tiến phổ nhạc, được ca sỹ Quỳnh Giao hát ( nghe trên Youtube, Hoàng Hạc Lâu). với thủ bút ghi: Đường Thi chuyển sang thơ Việt, xa tặng Đặng Tiến, ngày 06 tháng 10 năm 1975

Xưa hạc vàng bay vút bóng người.
Đây lầu Hoàng Hạc chút thơm rơi.
Vàng tung cánh hạc đi đi mãi.
Trăng một màu mây vạn vạn đời.
Cây bến Hán Dương còn nắng chiếu.
Cỏ bờ Anh Vũ chẳng ai chơi.
Gần xa chiều xuống đâu quê quán.
Đừng giục cơn sầu nữa sóng ơi. 

Tho Đường, Thất ngôn bát cú ngoài quy định nghiêm ngặt về niêm luật ra, nó cò đòi hỏi người sáng tác phải có sự đối chọi giữa những vần thơ

Ta có thể đọc qua một bài thơ loại kinh điển thuộc thể Thất ngôn Bát cú của Nữ thi sỹ Huyện Thanh Quan.

             Qua Đèo Ngang

Bước tới Đèo Ngang, bóng xế tà,
Cỏ cây chen đá, lá chen hoa.
Lom khom dưới núi, tiều vài chú,
Lác đác bên sông, chợ mấy nhà.
Nhớ nước, đau lòng, con quốc quốc,
Thương nhà mỏi miệng, cái gia gia.
Dừng chân đứng lại, trời, non, nước,
Một mảnh tình riêng, ta với ta.

Còn đây, Hoàng Hạc Lâu của Thi sỹ Vũ Hoàng Chương.

– Với hai câu mở,

Thi sỹ đã cho ta một cảm nhận về không gian và thời gian

Xưa hạc vàng bay vút bóng ngưới.
Đây lầu Hoàng Hạc chút thơm rơi.

Quá khứ đã đem chim hạc đi, nhưng người vẫn còn ở lại đây, dù chỉ là cái bóng: Vật và người ; hình và bóng, một đối một thật hài hoà

Nhưng lầu Hoàng Hạc vẫn còn lại nơi đây với một chút hương còn lại cho đời sau: thời gian trôi đi không bao giờ trở lại, nhưng  lầu này vẫn để lại cho không gian những tiếng thơm của nó..

Xưa và nay, chim hạc vàng và lầu Hoàng Hạc,bóng người voi thơm rơi,  vật chất đối với tinh thần, một chọi một, thật là tương xứng.

– Rồi hai câu thực

Hạc vàng bay đi không trở lại

Tiếng  Việt khi viết tính từ vì là bổ túc cho danh từ nên nó phải đi sau danh từ, câu thơ trên phải viết:

Cánh hạc vàng đi không trở lại.

Nhưng nhà thơ đã biến cái bình thường thành cái vô thường khi viết:

Vàng tung cánh hạc đi đi mãi.
Trắng một màu mây vạn vạn đời.

Đặt tính từ làm chủ câu làm cho câu mang một âm vang thật khác lạ, nhưng hai câu thực vẫn chọi nhau: vàng với trắng; hạc với mây, đi đi mãi theo thời gian với vạn vạn đời theo không gian kéo dài.

– Kế là hai câu luận.

Cây bến Hán Dương còn nắng chiếu.
Cỏ bờ Anh Vũ chẳng ai chơi.

Cây đối với cỏ, nắng vẫn còn chiếu sáng nhưng tịnh không một bóng người.

Khi còn ở trong nước vào những năm tháng sau 30 tháng tư năm 1975, giới văn nghệ sỹ bị kiểm soát ngặt nghèo, Vũ Hoàng Chương cũng không ngoại lệ. Ông bị bắt giam ở khám Chí Hoà cho đến tháng 09 năm 1975 thì được cho về nhà vì lý do sức khoẻ.

Để diễn tả tâm trạng của mình, nhà thơ chỉ còn cách dùng cách dịch thơ để nói lên tâm trạng của mình mà không bị kiểm duyệt và còn có thể lọt được ra nước ngoài, nên Ông bèn tìm cách dịch thơ của Tàu để bọn cờ đỏ vì kiến thức nông cạn và cũng vì những gì thuộc Trung quốc vĩ đại làm chúng e dè.

Tất cả những cảnh vật trước và sau 30 tháng Tư vẫn còn đó nhưng chẳng còn con người  tốn tại, có chăng chỉ còn lại những bóng người sống vật vờ, vất vưởng.

– Sau cùng là kết.

Gần xa chiệu xuống nào quê quán.
Đừng giục cơn sầu nữa sóng ơi.

Buổi chiều ngồi trên căn gác nhỏ tồi tàn, trong căn hẻm nhỏ bên Quận 04 xác sơ, nghèo đói, nhìn và chẳng thấy đâu là quê xưa quán cũ, tất cả chỉ là dĩ vãng, rồi van xin đừng hối thúc thêm nữa cái não ruột của sóng lòng.

Cuối đời, Thi sĩ Vũ Hoàng Chương đã chính Ông vận đời Ông khi Ông viết,

Gió lùa căn gác xép.
Đời tàn trong ngõ hẹp.

         (Hà Nội 1943)

Vũ Hoàng Chương mất vào ngày 14 tháng 08 năm Bính Thìn (07/10/1976), bốn ngày sau khi làm giỗ Đại Thi hào Nguyễn Du.

Xin thắp một nén hương cho người thi sỹ tài hoa nhưng bạc mệnh.

Kính chúc mọi người sức khoẻ.

Cựu SVSQ Vũ Quý Khang, K.30.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Vũ Hoàng Chương dịch bài “Hoàng hạc Lâu” tác giả Vũ Quý Khang K 30 – Tôn thất Biên sưu tầm

Happy Thanksgiving

Các bạn K1 thân mến.
Sau một thời gian rất dài chờ đợi các bạn gởi hình cho CNN, nhưng rất ít các bạn có hình gởi về. Có hình thì chất lượng quá yếu không rõ. Trong lúc đó tôi mạn phép lục lạo vào Facebook của một số bạn để chọn hình. Nhiều bạn không có FB. Một số bạn có FB mà không có hình hoặc không có hình ảnh gia đình để thực hiện Video nầy.
Bên cạnh đó cái laptop cũng muốn nghỉ hưu, hư lên hư xuống, software cũng lỗi thời nên việc thực hiện video nầy cũng gặp nhiều điều bất tiện.
Video nầy dự định gởi đến các bạn vào dịp Tết Dương lịch 2024, nhưng sợ để đến đó liệu cái laptop có còn work nữa hay không. Do đó mình kết thúc video tại đây và gởi đến mừng Thanksgiving các bạn.
Mình cũng xin lỗi các bạn nào không có tên và hình trong video nầy.

MẾN CHÚC CÁC BẠN MÙA TẠ ƠN
ĐẦM ẤM VÀ HẠNH PHÚC

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Happy Thanksgiving

Niềm Vui Cho Đi – Copy từ FB Lan Le Nguyen

NIỀM VUI CHO ĐI 

Người Phương Nam

Bán Tạp Hóa

Ba mươi lăm năm về trước, tôi làm chủ một tiệm tạp hóa nhỏ gọi là corner shop trong một xóm lao động ở vùng ngọai ô.

400233364_3533714906945692_7583926383761087847_nShop của tôi bán đủ thứ nhu yếu phẩm như bánh mì, bơ, sữa, trứng, đậu, đường, muối, dầu ăn, đồ hộp, kẹo bánh, mứt, rau cải trái cây, thuốc lá vv…Khách hàng của tôi đa số là những người hàng xóm, họ thường đến quán cóc của tôi mua tạm khi hết đồ ăn thình lình mà chưa cần đi shopping ở những siêu thị lớn. Mấy đứa con nít thì cứ nhắm vào mấy lọ kẹo, đi học về xin ba má hay anh chị được vài cắc là chạy u qua mua kẹo và cà rem.

Hồi thuở đó người ta còn xài tiền xu tiền cắc. Từ 1 cent, 2 cents, cho tới 5 cents và 10 cents. Mấy đứa lớn lớn 9 – 10 tuổi còn có tiền mua cây cà rem 20- 50 cents, còn bọn nhóc tì cở 6 – 7 tuổi chỉ đủ tiền mua vài miếng kẹo lẻ như freckles, milk bottle, strawberry&cream hay vài viên jelly beans. Mỗi một cái kẹo là 3 cents, cứ gom được chừng 10 cái 1 cent là bọn chúng hí hửng chạy vô shop tôi đòi mua kẹo.

Thấy mấy thằng nhóc đưa ra một nắm bạc cắc 1cent, 2 cents, tôi thấy tội nghiệp, lấy một cái bao giấy hốt cho bọn chúng một nắm kẹo nói:

– Thôi đếm ba cái bạc cắc của tụi bây mệt quá, cho tụi bây nè, đem về chia nhau ăn đi. Để dành tiền cho đủ rồi qua mua cà rem nha con.

Bọn nhóc mừng lắm, cám ơn lia lịa. Tôi nhìn theo bọn chúng mà cảm thấy vui trong lòng.

Có lần, một bà hàng xóm muốn mua một góc bí rợ. Tôi có một trái bí to khỏang 7 kg bày trên quày nhưng bưng không nổi mà muốn cắt cũng xoay trở không xong nên nói với bà ta:

– Trái bí trên kệ kìa, bà rinh lại đây rồi muốn bao nhiêu thì cắt đem về ăn đi. Láng giềng không mà bán buôn gì.

Bà hàng xóm trợn mắt nhìn tôi nói:

– Bà mở shop bán hàng hay làm từ thiện vậy? Cứ cho không rồi lấy đâu trả tiền shop?

Lại còn có cái màn mua chịu nữa chớ. Họ xin ghi sổ, chừng nào lãnh lương sẽ trả. Nhưng khi trả nợ này thì thiếu nợ sau. Cũng vô đó thôi. Có người tới ngày phải trả thì than con đau, tiền wellfare mua thuốc hết sạch nên phải khất nợ tiếp.

Tôi không biết nói sao để đòi, tự nhủ coi như kiếp trước mình thiếu người ta, kiếp này phải trả lại. Thôi kệ, ai trả thì tốt không trả thì thôi coi như làm phước vậy.

Bán buôn như tôi riết rồi thâm vốn, tôi bàn với ông xã thôi sang mắc sang rẻ gì kiếm người sang quách cái shop cho xong. Coi bộ mình không có số làm ăn mua bán như người ta.

Chắc tại ông trời sanh ra tôi với cái tánh hay cho, có ít cho ít, có nhiều cho nhiều thì phải chịu. Nhưng thật lòng tôi thấy rất vui khi cho ai được chút gì.

Hộp Nho Cuối Mùa

Mua đồ trong siêu thị xong, tôi nói ông xã đứng sắp hàng chờ trả tiền dùm tôi trong lúc tôi đi qua shop rau cải trái cây kế bên coi có gì mua được.

Là người nội trợ trong gia đình, tôi phải nấu ăn mỗi ngày cho tám miệng ăn. Làm bếp mấy chục năm, gần cả đời, ngày nào cũng phải tính coi nấu món gì cho dễ, cho đỡ cực thân mà hạp khẩu mọi người. Đó là một vấn đề nan giải hóc búa đau đầu bởi vì:

Người không ăn cá, kẻ kiêng bò
Đứa thì tuyên bố ghét thịt kho
Kẻ cử đường, người cao máu, mỡ
Biết liệu làm sao thiệt phát khờ

Nhiều khi tính nấu món nào đó nhưng mua không có nguyên liệu cũng không nấu được. Thành thử mỗi khi đi shop, tôi thường rảo từ shop này qua shop nọ tìm những thứ mình cần.

Thấy cà tím hôm nay mơn mởn, tươi tốt quá, giá lại rẻ, tôi chợt nảy ý mua cà về làm một nồi mắm kho chia cho má và con gái tôi ăn luôn. Tôi gọi phone cho ông xã đang còn chờ trả tiền ở siêu thị, hỏi ông muốn ăn mắm kho không, cà tím hôm nay rẻ quá. Ông xã nói hết sảy, cả năm rồi không làm món này, mắm và rau còn phải hỏi. Ông bảo mua đi, cứ mua nhiều nhiều, mắm kho phải có nhiều cà mới ngon.

Lựa xong bốn ký cà, ông xã vẫn chưa qua tới, tôi bê lại quày trưng bày nho. Lọai nho không hột bản xứ tháng này đã cuối mùa nên người ta không bày bán lẻ như lúc giữa mùa đang rộ mà đóng gói sẵn từng hộp carton khỏang ký rưởi trở lên. Thấy những trái nho vàng hực chuyển nâu, có trái teo tóp chín khô như đã được phơi vài nắng, tôi nghĩ chắc là nó ngọt hết biết.download (2)

Tôi thì thích trái cây ngọt lịm, ngọt đậm đà chớ không thích lọai có hậu chua chua. Vì vậy tôi bèn cầm một hộp lên săm soi kỹ lưởng coi có hư hao nhiều không vì tôi biết đồ gói sẵn thường không được toàn vẹn, thế nào cũng có pha trộn xấu tốt lẫn nhau. Thấy coi bộ OK, tôi lấy một hộp và tự nhủ cho dù có hư một mớ ở dưới đáy hộp đi nữa cũng không đáng kể vì giá tiền đã quá rẻ so với lúc đầu mùa.

Mua xong thấy nặng quá, tính xách lại trả tiền mà thấy không kham, tôi bỏ các thứ vào trolley để đó rồi đi lựa vài trái dưa leo và một bụi cần tây. Khi trở lại chỗ để trolley, tôi thấy một ông già râu ria, bề ngòai có vẻ nghèo nàn đang cầm hộp nho của tôi lên ngắm nghía. Tôi bèn lên tiếng:

– Ông ơi đồ trong trolley đó là của tôi đó ông.

Ông già nói:

– Xin lỗi, tôi tưởng để bán. Cô lấy ở đâu vậy.

Tôi chỉ ra ngòai :

– Đó kìa, nhiều lắm, ngon mà rẻ nữa. Ông lại đó lựa một hộp đi. Còn từng dưới mấy hộp nữa kìa.

Ông già cầm một hộp lên xem xét hết hộp này tới hộp kia, cuối cùng không lấy hộp nào cả.

Phần tôi vì đã mua xong, chỉ chờ ông xã lại xách phụ nên đứng xớ rớ quan sát theo dõi ông già. Ông già đi tới đi lui, món nào cũng cầm lên coi rồi để xuống, có vẻ như đắn đo. Tôi thấy hơi lạ, ngẫm nghĩ một hồi sực nghĩ có lẽ ông không đủ tiền. Tôi bỏ cái trolley ở đó, chạy đi lấy một hộp nho lại hỏi ông;

– Ông thích hộp nho này không?

Ông nhìn tôi có vẻ ngạc nhiên nói:

– Không đâu, tôi mua thứ khác cần hơn. Mà hộp đó bao nhiêu tiền vậy cô?

– Chỉ có 3 đồng 55 cents thôi. Tôi biếu ông một hộp nha.

Ông lắc đầu:

– Cô tử tế quá nhưng tôi không dám nhận đâu.

Tôi khẩn khỏan nói:

– Không sao mà, đâu có bao nhiêu. Nho cuối mùa còn sót lại, ngọt lắm. Tôi thấy ngon quá, đi không đành nên mua một hộp cho gia đình tôi và cũng muốn chia với ông chút vị ngon ngọt thiên nhiên trời ban này.

Và không đợi ông có ý kiến gì nữa, tôi dúi vào tay ông hai cái đồng tiền 2 dollar coins.

Ông cảm động nói:

– Cô tử tế quá. Cám ơn cô. God bless you.

Không cần biết God bless như thế nào, tôi chỉ ao ước sao tôi có thể chia xẻ cho mọi người bất kỳ lúc nào tôi muốn. Như vậy là God đã bless tôi rồi đó.

Người Phương Nam

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Niềm Vui Cho Đi – Copy từ FB Lan Le Nguyen

Ngưỡng Mộ – Thơ TPK

NGƯỠNG MỘ

400101208_1606577093206574_205400669526512370_n

Những khuôn mặt thiên thần
Xông pha ra tiền tuyến
Bởi tổ quốc nguy biến
Sá chi phận nữ nhi
Khoác lên bộ chinh y
Quyết ra đi giữ nước
Mắt thẳng nhìn phía trước
Hùng dũng bước chinh nhân
Bỏ sau lưng người thân
Cùng phố phường thương mến
Giặc ngoại xâm đã đến
Thì tuổi trẻ hiến dâng
Cả sắc đẹp vô ngần
Để giữ gìn bờ cõi
Nghe người ta thường nói
Khi quốc gia hưng vong
Thì tất cả non sông
Thất phu cũng hữu trách
Nhìn nét mặt khí phách
Hiển hách mà phong lưu
Trong ánh mắt vô ưu
Nên đem lòng ngưỡng mộ.

TPK

Hình trên Fb

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Ngưỡng Mộ – Thơ TPK

Mẹ và Mừa Đông _ Thơ TPK

MẸ VÀ MÙA ĐÔNG

me-va-mua-dong-di2247d70d5164326t7476l3-69d6071257t6354l8-mo

Thuở ấy đông sang nước ngập đường
Mẹ vai quang gánh buổi tinh sương
Xóm làng lầy lội trơn như mỡ
Chợ búa gió lùa lạnh thấu xương

Bươn chải lo toan cho cuộc sống
Chia bùi xẻ ngọt với người thương
Một đời lam lũ không than vãn
Phút cuối chia lìa mắt lệ vương .

Phút cuối chia lìa mắt lệ vương
Không còn nghe được tiếng yêu thương
Cuộc đời cô quạnh len vào dạ
Kiếp sống đau buồn thấm tận xương

Xuân đến u hoài mai kém sắc
Hè về khắc khoải vạc kêu sương
Mùa thu không mẹ khung trời xám
Con gánh sầu đông mỗi dặm đường.

TPK

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Mẹ và Mừa Đông _ Thơ TPK

Nhiều vợ mệt lắm ông ơi – ST trên email

 NHIỀU VỢ MỆT LẮM ÔNG ƠI

Một gia đình tiều phu kia rất nghèo, nhà chỉ có hai vợ chồng. Ngày ngày anh chồng phải vác cái rìu cũ kỹ sứt mẻ vào trong rừng kiếm củi đem ra chợ bán để hai vợ chồng độ nhật. Ngày nọ khi lội ngang qua một con suối anh ta lỡ tay đánh rơi cái rìu xuống suối, nước cuốn đi mất. Tuyệt vọng quá nên anh ta ngồi ôm mặt khóc. Bất chợt thấy có một cụm khói từ dưới suối bay lên, rồi ông Hà Bá hiện ra.

Hà Bá:

Sao anh ngồi khóc ở đây?

Tiều phu:

Dạ, cả gia tài con có cái rìu để vào rừng kiếm củi độ nhật, nhưng rìu bị rớt xuống suối mất rồi, hôm nay không biết kiếm được cái gì ăn để đem về nuôi vợ.

Hà Bá tội nghiệp, lặn xuống suối rồi một tích tắc sau lại trồi lên, tay cầm một cái rìu bằng vàng khối rồi hỏi,

“Có phải anh đánh mất cái này không?”

Anh tiều phu nói,

“Thưa không phải, cái rìu của con cũ kỹ xấu xí lắm, không phải cái này!”

Thấy anh này lương thiện, Hà Bá lại lội xuống lấy cái rìu của anh ta lên và tặng cho anh luôn cả cái rìu bằng vàng khối.

Từ khi có vàng anh ta không phải vào rừng đốn củi nữa. Một hôm hai vợ chồng buồn quá, anh chồng bảo vợ,

“Hôm nay bà theo tôi vào rừng, tôi chỉ cho xem chỗ tôi hay kiếm củi ngày xưa.”

Khi hai vợ chồng lội qua đúng con suối lần trước thì chị vợ trượt chân ngã xuống suối, chìm lỉm và bị nước cuốn đi mất. Anh này lại ngồi ôm mặt khóc. Hà bá lại hiện lên.

Hà bá:

Sao lại ngồi đây khóc nữa?

Tiều phu:

Dạ vợ con trượt chân ngã xuống suối, chìm lỉm rồi.

Hà bá lại chắc lưỡi lặn xuống, chút sau trồi lên, hai tay ôm một cô gái trẻ đẹp, quyến rũ, trên người không có mảnh quần áo nào.

Hà bá:

Phải cô này không?

Tiều phu (ngẫm nghĩ một lúc):

Dạ phải.

Đến đây thì Hà bá nổi điên lên mắng,

“Lần trước tao tưởng mày là thằng lương thiện nên tao cho vàng. Lần này thì rõ ra mặt chuột. Con vợ mày nó nằm dưới kia kìa, nếu chưa chết thì cũng sắp chết, thế mà mày nỡ bỏ nó mà theo con này.”

Tiều phu:

Dạ, xin Hà Bá thông cảm. Lần trước Hà bá hỏi cái búa vàng có phải của con không, con bảo không thì Hà bá lại lượm cái kia lên rồi cho cả hai cái. Thú thật là con chịu đựng một bà vợ đã đủ khổ lắm rồi, nó cứ lải nhải những chuyện không đâu suốt cả ngày, rức đầu lắm. Bây giờ Hà bá hỏi mà con lại trả lời không phải thì Hà bá lại lội xuống dưới đó kéo vợ con lên, rồi lại cho luôn cả hai đứa thì làm sao con chịu đời cho thấu? Thôi một cô này đủ rồi, nhiều quá mệt lắm!”

Đố phe ta biết Hà Bá sẽ “xử ní” ra sao?

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Nhiều vợ mệt lắm ông ơi – ST trên email

Mùa THu Sài Gòn – Thơ TPK

NHỚ THU NÀO

mua thu sg

Chiều hôm nay mây giăng sầu trên ấy
Giữa muôn trùng thăm thẳm mấy tầng cao
Gió heo may gợi nhớ tới thu nào
Trời êm ả nắng hanh vàng bát ngát

Bữa gặp em sóng hồ thu dào dạt
Ta bền nhau lát đát lá me bay
Đường Nguyễn Du tàng cây xõa lung lay
Lá me rụng điểm tóc mây óng ả

Tay trong tay bên hàng hiên thong thả
Ánh mắt nhìn chan chứa cả trời yêu
Gió vờn bay tà áo lụa diễm kiều
Như vẫy gọi tia nàng chiểu dịu mát

Trời Sài Gòn bỗng nhiên mưa rớt hạt
Trong nắng vàng lóng lánh hạt kim cương
Anh dìu em vào quán nước bên đường
Em khẽ nói : nhớ mây vương ngoài đó

Nhớ chiều vơi cánh diều bay trước ngỏ
Lá vàng rơi từng chiếc đổ bên đường
Buổi bình minh dòng Hương toả hơi sương
Mùa nhập học lễ khai trường áo trắng

Em phải về sánh vai cùng chúng bạn
Mình chia tay mắt lắng đọng u buồn
Em đi rồi trời mờ mịt mưa tuôn
Cây trút lá , chim muôn ngừng tiếng hót .

TPK

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Mùa THu Sài Gòn – Thơ TPK

Khi dòng sông vào Thu _ Thơ và nhạc Lê Hữu Nghĩa

KHI DÒNG SÔNG VÀO THU

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Khi dòng sông vào Thu _ Thơ và nhạc Lê Hữu Nghĩa

Thôn Nữ Quê Tôi – Thơ Trần Quốc Bảo

Thôn Nữ Quê Tôi –Thơ Trần Quốc Bảo  

unnamed (5)

Những nàng thôn nữ quê tôi,
Không son phấn, vẫn xinh tươi mặn mà.
Xuân thì óng ả thướt tha,
Hương đồng cỏ nội, thật thà dễ thương!

unnamed (7)        

Nghề nông, một nắng hai sương!
Quanh năm chăm việc, ruộng nương hoa màu.
Trên đồng cạn, dưới đồng sâu,
Thời nào việc nấy, ngõ hầu chẳng sai.

Bao giờ cho đến tháng hai,
Con gái tát nước, con trai be bờ!
Be bờ giữ nước cho vừa,
Để ngâm ải đất, cày bừa khoan thai.

   unnamed (9)    

Ruộng cao, em tát gầu giai,
Ruộng thấp, em tát khoan thai gầu sòng.
Chờ cho lúa có đòng đòng,
Cày sâu cuốc bẫm, em không quản gì!

   unnamed (10) 

Vẫn yểu điệu, vẫn nhu mì,
Nhưng lao động giỏi, khác chi lực điền!
Tháng ba cấy lúa đồng chiêm,
Từng hàng giẻ mạ, tay tiên cắm đều.

Bón phân giữ nước cho nhiều,
Lúa mùa con gái mĩ miểu đơm bông!
Nắng lên ửng cặp má hồng
Tiếng cười thôn nữ vui đồng quê tôi!

  unnamed (12)

Ruộng đồng ơi!… Thôn nữ ơi!
Hình xưa bóng cũ, một trời nhớ thương!
Than ôi!… xương máu quê hương!
Sao nay thành những… Công trường Đặc khu? (!)

           Trần Quốc Bảo
          Richmond, Virginia

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thôn Nữ Quê Tôi – Thơ Trần Quốc Bảo

Mùa Thu Paris – Sưu tầm của Tuyen Dinh

Mùa thu Paris
với Cung Trầm Tưởng và Phạm Trọng Cầu

Vĩnh Đào

Cung Trầm Tưởng đặt chân đến Pháp vào đầu thập niên 1950. Ông ghi tên thi vào trường Kỹ sư Không quân ở Salon en Provence, ở miền Nam nuớc Pháp. Trong thời gian học ở Pháp từ 1952 đến 1957, sinh viên Cung Trầm Tưởng cũng hay về Paris và rất quen thuộc với khu Latin, khu trẻ trung và trí thức, nơi tập trung các cửa hàng sách lớn của Paris, các tiệm café, nơi có công viên Luxembourg, các giảng đường của viện Đại học Sorbonne, và đông đảo sinh viên đủ các nước. Nơi đó Cung Trầm Tưởng có một mối tình với một người bạn gái tóc vàng mắt xanh.

Một ngày đang giữa niên học, nàng nhuốm bệnh phải về quê tịnh dưỡng dài ngày. Chàng sinh viên thi sĩ tiễn nàng ra nhà ga để đáp một chuyến xe lửa về miền Provence.

Lên xe tiễn em đi
chưa bao giờ buồn thế
trời mùa đông Paris
suốt đời làm chia ly

Bài thơ “Chưa bao giờ buồn thế” đã được Phạm Duy phổ nhạc thành một bài hát mang tên “Tiễn em”. ( Mời xem youtube dưới cùng)

Cung Trầm Tưởng cũng nhắc đến mối tình đó khi nhớ lại những lúc bồi hồi chờ người yêu trong công viên Luxembourg dưới làn mưa thu:

Mùa thu Paris
Trời buốt ra đi
Hẹn em quán nhỏ
Rưng rưng rượu đỏ tràn ly

Mùa thu đêm mưa
Phố cũ hè xưa
Công viên lá đổ
Ngóng em kiên khổ phút, giờ

Mùa thu âm thầm
Bên vườn Lục-Xâm
Ngồi quen ghế đá
Không em buốt giá từ tâm

Mùa thu nơi đâu?
Người em mắt nâu
Tóc vàng sợi nhỏ
Mong em chín đỏ trái sầu

Mùa thu Paris
Tràn dâng đôi mi
Người em gác trọ
Sang anh, gót nhỏ thầm thì

Mùa thu không lời
Son nhạt đôi môi
Em buồn trở lại
Hờn quên, hối cải cuộc đời

Mùa thu! mùa thu
Mây trời âm u
Yêu người độ lượng
Trông em tâm tưởng, giam tù
Mùa thu!… Trời ơi! Tình thu!

Bài thơ “Mùa thu Paris” của Cung Trầm Tưởng đã được Phạm Duy phổ nhạc thành một bài hát cùng tên.

Mười năm sau Cung Trầm Tưởng, một sinh viên Việt Nam khác là Phạm Trọng Cầu cũng đặt chân đến Paris để theo học lớp đào tạo của Học viện Cao cấp Âm nhạc. Và ông cũng đã có một mối tình sinh viên giữa khung cảnh của khu Latin. Trong thời gian du học tại Pháp từ 1962 đến 1969, nhạc sĩ Phạm Trọng Cầu đã sáng tác bài “Mùa thu không trở lại” khi cuộc chia tay xảy ra vào mùa thu.

Ông tâm sự: “Thời ấy mình có yêu một cô bạn gái có mái tóc đen dài, đôi mắt buồn vời vợi. Đối với tôi… là một mối tình xa xưa thời còn trai trẻ. Gặp nàng vào mùa xuân, mùa hạ tình nồng cháy và mùa thu nàng ra đi. Nàng về nước để từ đó không bao giờ trở lại Paris nữa. Hôm tiễn đưa nàng đi rồi, mình trở về, bước từng bước như người say rượu, ngang vườn Luxembourg. Khu vườn đó, khi tôi đi ngang, tôi chợt nhận ra mùa thu, vì chân mình đá rất nhiều lá vàng, trong tôi tự nhiên vang một giai điệu “Em ra đi mùa thu, mùa thu không trở lại…” Dù là mùa thu ở Paris rất đẹp, nhưng mà từ mùa thu đó, với tôi, mùa thu không bao giờ trở lại nữa.”

Em ra đi mùa thu,
Mùa thu không trở lại.
Em ra đi mùa thu,
Sương mờ giăng âm u.

Em ra đi mùa thu,
Mùa thu không còn nữa.
Đếm lá úa mùa thu,
Đo sầu ngập tim tôi.

Ngày em đi,
Nghe chơi vơi não nề,
Qua vườn Luxembourg,
Sương rơi che phố mờ,
Buồn này ai có mua?

Từ chia ly,
Nghe rơi bao lá vàng,
Ngập dòng nước sông Seine,
Mưa rơi trên phím đàn,
Chừng nào cho tôi quên?

Hôm em ra đi mùa thu,
Mùa thu không trở lại,
Lá úa khóc người đi,
Sương mờ dâng lên mi.

Em ra đi mùa thu,
Mùa lá rơi ngập ngừng,
Đếm lá úa sầu lên,
Bao giờ cho tôi quên?

Phạm Trọng Cầu và Cung Trầm Tưởng đều đã có một thời gian du học tại Paris, vào một thời buổi mà ít có người có cơ hội xuất ngoại và du học sinh Việt Nam tại Kinh đô Ánh sáng cũng rất hiếm. Cả hai đều có một bài thơ nói về mùa thu Paris, với khung cảnh rất giống nhau: cũng công viên Luxembourg với lá vàng bay trong gió, cũng sương mù và bầu trời âm u, một bên thì buồn vì nàng đã ra đi, người thì khắc khoải chờ người yêu đến… Tác phẩm của Phạm Trọng Cầu là một bài thơ gồm những câu ngắn 5 chữ; nhà thơ cũng là nhạc sĩ nên đã phổ nhạc thành một bài hát rất được mến chuộng tại miền Nam trong các thập niên 60-70. Bài thơ của Cung Trầm Tưởng gồm những câu ngắn 4 chữ, được Phạm Duy phổ nhạc. Bài hát cũng rất được ưa thích. Trong cả hai bài đều phảng phất bầu không khí thơ mộng, lãng mạn, u buồn của thành phố Paris vào mùa thu với những cơn gió lạnh thổi bay lá vàng giữa cơn mưa lất phất.

(Trích :  của tg. Vĩnh Đào. Bạn có thể xem trọn bài theo

link https://viethocjournal.com/2020/10/mua-thu-paris/)

Bạn Tuyen Đinh sưu tầm và mời các bạn thưởng thức các nhạc phẫm Thu dưới dây trước khi Thu tàn Đông đến. Cám ơn bạn Tuyên Đinh rất nhiều.

– Tiển em với tiếng hát Sĩ Phú

  • Mùa Thu Paris – Tiếng ca Vũ Khanh

Mùa Thu Không Trở Lại– Tuấn Ngọc

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Mùa Thu Paris – Sưu tầm của Tuyen Dinh

Thơ TPK – Thu đến sau vườn

THU ĐẾN SAU VƯỜN

tho tpk

Sau vườn kìa thu đến
Lá ửng đỏ hây hây
Nàng thu đẹp ngất ngây
Dáng thu đầy quyền rủ
Nhớ những ngày xưa cũ
Gặp em buổi thu về
Em năm ngón mân mê
Đong đưa tà áo tím
Môi em cười chúm chím
Mắt lóng lánh hạt huyền
Em đẹp tựa nàng tiên
Từ thiên thai vừa đến
Trao ánh mắt trìu mến
Trao tiếng nói dịu dàng
Suối tóc nhuộm nắng vàng
Sợi tơ vương nhè nhẹ
Anh ghé tai nói khẽ
Em là ánh trăng thanh
Là dòng suối an lành
Cho đời anh êm ả
Rồi đôi đời đôi ngả
Bởi chiến cuộc lan tràn
Giờ ngắm ánh thu vàng
Hồn gởi về dĩ vãng.

TPK

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thơ TPK – Thu đến sau vườn

Ông cha ta thời phong kiến đã sống tử tế – TPK sưu tầm

ÔNG CHA TA THỜI PHONG KIẾN
ĐÃ SỐNG TỬ TẾ

Khi người Pháp chiếm được nước ta, họ tự hào là đã chiếm được một cường quốc vào bậc nhất ở Châu Á. Tôi không tin là Doumer hay Gosselin viết xạo điều này. Vậy ta thử tìm hiểu tại sao?

Tại vì vua Gia Long làm việc suốt ngày, đêm chỉ ngủ 6 tiếng, ăn cơm với cá mắm, xắn tay đào hố, đắp thành cùng với tướng sĩ.

Tại vì vua Minh Mạng mua cân đường, cân nhãn cũng ghi vào Hội điển.

Tại vì vua Tự Đức tôn trọng sự phân quyền giữa hành pháp và tư pháp: khi bộ hình đã xử án, vua cũng không dám can thiệp.

Tại vì những người trong hoàng gia không được phép giao du mật thiết với các quan, tránh sự đút lót, lạm quyền.

Tại vì anh, em, cha, con không được làm quan cùng một chỗ, tránh sự thông đồng.

Tại vì những đại thần như Nguyễn Tri Phương, khi thắng trận, được vua ban cho một bài thơ hay một chiếc áo gấm, khi thua trận bị xuống chức, bị luận tội nặng nề…

Khi ta thấy những người như Trịnh Hoài Đức, Nguyễn Tri Phương, Phan Thanh Giản, Hoàng Diệu… một đời hy sinh cho đất nước mà không có được một ngôi nhà khang trang để ở, thì hẳn ta phải ngần ngại khi muốn làm đại gia vì cha chú ta là những Đại Thần.

Khi ta tìm trong bộ sách đồ sộ nhiều nghìn trang của các sử gia triều Nguyễn, mà không nhặt ra được một hàng tâng bốc nhà vua, thì ta phải nghĩ lại, khi viết những điều xu nịnh, trong những trang được gọi là lịch sử.

Khi quân Tàu chiếm Hoàng Sa, thì ta phải chạnh lòng nhớ đến chúa Nguyễn đã tạo đội Hoàng Sa, để giữ quần đảo Hoàng Sa, đội Bắc Hải để kiểm soát Trường Sa, Côn Lôn, Phú Quốc, từ thế kỷ XVII.

Vì vậy, khi đã biết sử, ta không thể sống tồi tàn, bệ rạc, ăn cắp của công, vì cha ông ta, cách đây mấy trăm năm đã sống có nhân cách, sống tử tế, sống lương thiện…”

Tác giả: Thụy Khuê

(Thụy Khuê là nhà nghiên cứu nổi tiếng, sống tại Pháp. Bà có nhiều tác phẩm đồng thời cũng là các công trình nghiên cứu rất có giá trị.)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Ông cha ta thời phong kiến đã sống tử tế – TPK sưu tầm

Bắc Kỳ 9 nút – Bắc Kỳ 2 nút Lỗ Trí Thâm

BẮC KỲ 9 NÚT – BẮC KỲ 2 NÚT

            Lỗ trí Thâm

“Anh hãy đi cho khuất mắt tôi, các anh đeo dai như con đỉa. Chúng tôi đã sợ các anh quá rồi! Hai mươi mốt năm trước, chúng tôi đã phải bỏ cả nhà cửa làng xóm để chạy xa các anh vào đây, vậy mà bây giờ các anh vẫn lại theo bám, không buông tha!”

Đó là lời người con gái ở Hố-Nai Biên-Hòa (bắc kỳ 9 nút) nói với tên bộ đội (bắc kỳ 2 nút) khi hắn theo tán tỉnh cô sau 30-4-1975. Cô là thế hệ thứ hai của một gia đình di cư vào Nam sau 20-7-1954. Tội nghiệp cô gái bắc kỳ! Chúng tôi, những người lính thời ấy, trách nhiệm thế nào với nỗi nghẹn ngào cay đắng này của cô?

Ván bài thắng ngược! Tại sao con số 9 nút (1954) lại thua con số 2 nút (1975)? Cái gì khiến cô gái bắc kỳ này lại sợ tên bộ đội bắc kỳ kia? Trải nghiệm thực tế, đơn thuần trong sinh hoạt xã hội của “bác” Hồ trước và sau những năm 1975 để giải mã những nguyên nhân căn bản khiến con số 9 nút phải thua con số 2 nút:

Ở năm thứ 5 của đời tù tội, lần đầu tiên mẹ tôi đi thăm tôi ở trại Ba-Sao Nam-Hà, quà cho tôi thật khiêm tốn, trong đó có hai hộp sữa đặc là đáng quý nhất. Tôi nói đường xá xa xôi, mẹ mang làm chi hai hộp sữa này cho nặng, thì mẹ tôi cho biết bà mua ở Hà-Nội khi đi ngang qua. Chia tay, tôi ôm hai hộp sữa vào lòng, nghĩ tới chiều nay có được cái “ngọt ngào của cuộc đờiˮ, cái ngọt ngào đã biến mất trong suốt hơn 5 năm trong đời tù đày, mà đôi chân tôi bước đi khấp khểnh, cao thấp như đang ở trên mây.

Thế nhưng, trời sập rồi! cái đinh vừa đâm lút vào hộp sữa thì một dòng bùn đen túa ra, tôi mềm người rũ gục như một tàu lá úa. Ngồi cạnh tôi, người bạn thân trong tù đang chờ được chia xẻ, đôi mắt trợn tròn rồi rủ xuống như muốn khóc! Bóc nhãn hiệu ra, thấy cạnh hộp sữa có một vết hàn. Như thế là người Hà-Nội đã tinh vi sáng tạo: Rút ruột sữa ra, bơm bùn đen vào rồi hàn lại. Quả thật (mẹ tôi), Bắc Kỳ 9 nút đã thua Bắc kỳ 2 nút!

“Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất”. Tôi đã học cái văn hóa đó ở nhà trường. Ở nhà, trong hoàn cảnh nghèo, mẹ tôi thường nhắc nhở anh em chúng tôi phải luôn giữ cái chất“bần tiện bất năng di” ấy. Đó là cái nhân cách căn bản được giáo huấn ở học đường miền Nam Việt-Nam, ở cái đất nước mà con người hiền hòa, chân chất, đơn thuần, vô tư không ôm hận thù, không biết cướp bóc, lừa bịp, đểu cáng v.v. Đó chính là cái đất nước ở phía sau vĩ tuyến 17 kia.

Còn ở miền Bắc, cái đất nước trước vĩ tuyến 17 thì sao? Người ta dạy nhau cái gì ở nhà trường và ngoài xã hội? Người ta dạy nhau rằng“bần cùng sinh đạo tặc”. Hậu quả là sau 30- 4-1975, người Bắc Kỳ, tay cầm dao, tay cầm súng, tràn vào miền Nam điên cuồng giết người cướp của, hành động của “kẻ dã man thắng người văn minh” mà nhà nữ văn sĩ C/S Hà-Nội  Dương-thu- Hương đã nhận xét.

Sự thật đã chứng minh “con người ít nhiều là sản phẩm của xã hội”, vậy thì xã hội man rợ tất nhiên sản xuất ra con người dã man. Từ cái bản chất dã man này, tự nó, sinh ra tệ trạng sinh hoạt đầy tính chất nguy hiểm, độc ác, gian manh, quỷ quyệt khó lường v.v. Đó là kết quả tất yếu không cần lý giải.

Chỉ có một mẩu cá khô lấy trộm trong khi vận chuyển lương thực, ông chiến hữu của tôi miệng phải ngậm miếng cá đó, cổ đeo cái bảng viết hai chữ “ăn cắp”, đứng trước cổng trại suốt ba ngày! Miếng ăn quý hơn mạng người! Ông ngục sĩ Nguyễn-chí-Thiện khi còn sống đã nói rằng: “miền bắc thắng miền nam là do chế độ lương thực tem phiếu”. Ông đúng hay sai? Đây là câu trả lời: “Em xin anh, chúng em mà nói trên đài thì ở ngoài kia, cha mẹ và vợ con em sẽ bị cắt hộ khẩu, họ sẽ chết đói!”. Đó là lời của ba tên tù binh bị bắt trong trận đánh cuối cùng ở Long-Khánh.

Tôi còn nhớ, ngày 3/9/1978, ngày giỗ “bác” Hồ của nhân dân bắc kỳ (2 nút), tại trại giam ở Yên-Bái, địa danh có cái tên nghe rợn người: “Ma thiên lãnh!”, tù nhân được nghỉ một ngày để chuẩn bị làm giỗ “bác”. Bàn thờ được trải khăn đỏ, sau bàn treo lá cờ to, trên bàn có hình “bác”, trước “bác” đặc biệt có một mâm hoa quả bằng hình vẽ mà trước đó, nguyên một ngày, ông tù nhân Lê-Thanh, họa sĩ kiêm điêu khắc gia có tiếng trong quân đội miền Nam “thua cuộc”, đã phải vẽ trên cả chục bản để ông cai tù trưởng trại lựa chọn.

Sau khi đã nhuần nhuyễn nói về tài thao lược và đạo đức của “bác”, trưởng trại để ý thấy tù nhân xì xầm về bức họa trái cây kia, ông bèn rất là trân trọng và tự tin nói rằng: “bác thường dạytrong đấu tranh gian khổ, tính chất khắc phục là quan trọng”, cho nên khả năng “biến không thành có,.(?) biến khó thành dễ” là thành tích luôn được biểu dương, khen thưởng”!

Giỗ “bác” hôm nay, “bác” được ăn hoa quả giấy. Quả nhiên gậy “bác” đập lưng “bác”!. Phần tù nhân, nghe xong chỉ thấy họ lặng im. Tôi đoán họ đang nghĩ đến nhờ ngày giỗ “bác”, bữa ăn trưa nay được tăng thêm trọng lượng.

Ông chiến hữu (bắc kỳ 9 nút) nằm cạnh tôi kể chuyện anh: “Bọn công an (bắc kỳ 2nút) cùng người giúp việc nhà anh, là chị đã xin nghỉ việc vài ngày sau 30/4/1975, đạp cửa bước vào và lớn tiếng hỏi anh: “lương lính, quân hàm thiếu tá, một tháng anh lãnh bao nhiêu? Anh trả lời chỉ vừa đủ sống cho hai vợ chồng và năm đứa con. Tên công an quát lớn: chỉ đủ sống thì làm sao anh có cái nhà to thế này? Đây là anh đã lấy của nhân dân, vậy bây giờ anh phải trả lại cho nhân dân. Anh có ba ngày để dọn ra khỏi căn nhà này.”

Một hơi thở dài, rồi một cơn ngủ thiếp của một ngày “chém tre, chặt gỗ trên ngàn, hữu thân, hữu khổ phàn nàn cùng ai” của ông chiến hữu (bắc kỳ 9 nút) đã thay cho phần kết của chuyện kể mà tôi thiển nghĩ, những người dân miền Nam, cái đất nước ở sau con sông Bến-Hải kia đều đã biết cái số phận căn nhà đó ra sao.

Những ngày vừa qua, nhân lễ kỷ niệm anh em Tổng Thống Ngô-đình-Diệm bị sát hại, vài đài truyền hình có chiếu lại hình ảnh của gần một triệu người bắc kỳ (9 nút) bồng bế, gồng gánh, mang theo những chổi cùn, rế rách, luộm thuộm dắt díu nhau lên con tàu “há mồm” xuôi nam. Sau đó họ được định cư ở những vùng xa, vùng sâu, hoang vu hẻo lánh, lập nghiệp. Mơ ước cư ngụ ở giữa thành phố ồn ào, xôn xao, đối với họ chỉ là hoài bão.

Thế còn 30-4-1975, bắc kỳ (2 nút) xuôi nam thì sao? Vai đeo súng, tay cầm dao, nghênh ngang tràn vào thành phố cướp của, lấy nhà, chiếm đoạt, chễm chệ ở trong những căn nhà lớn ngay giữa thị thành. Áp đẩy khổ chủ đến vùng xa, vùng sâu có tên gọi là “kinh tế mới”! Cái tư thế “chễm chệ” kể trên, mỗi ngày một phát triển lớn, tới độ, bây giờ, những năm sau, gần như toàn thể những thành thị ở miền nam, trên những đường phố lớn, trong những căn nhà to, chủ nhân đều là bắc kỳ (2 nút). Như vậy, chẳng phải rõ ràng bắc kỳ (2 nút) không những chỉ thắng bắc kỳ (9 nút), mà còn thừa thắng xông lên, áp đảo luôn cả những nam kỳ chủ nhà, không nút nào hay sao?

Tên công an chính trị viên, phó trại giam, tốt nghiệp viện triết học Marx, trong đối thoại về chủ nghĩa Cộng-Sản, hỏi tôi rằng “chân lý có thay đổi không?” Tôi trả lời: “đã là chân lý thì không thay đổi”. Hắn cười.

Hôm nay, hắn đúng, tôi sai. Chân lý của Marx quả đã thay đổi. Thế giới C/S của Marx đã xây dựng gần một thế kỷ, hoàn toàn sụp đổ. Học trò của Marx đã chia tay ý thức hệ với Marx, lũ lượt bỏ chạy qua vùng đất tư bản, thấy của cải vật chất phong phú thừa thãi mà chóng mặt, hoa mắt nên làm càn làm loạn”. “Hy sinh đời bố, củng cố đời con”, thế hệ sau tiếp nối thế hệ trước, gia sức trấn lột, cướp bóc, lừa bịp, điên đảo, tham nhũng bừa bãi, trơ tráo tới độ vô văn hóa, vô nhân tính.

Trở lại con số 9 nút (1954) và con số 2 nút (1975) mà người ta mệnh danh là bắc kỳ cũ và bắc kỳ mới, với những chuyện xảy ra ở trên một đất nước xa Hà-Nội tới ngàn dậm này: Đất nước Hoa-Kỳ.

“Này chị kia, ở nước Mỹ chợ nào cũng có chỗ cất shopping- car, sao chị lại bỏ bừa sau xe của tôi?ˮ “Cứ tự nhiên như ở Hà-Nội!ˮ, “Nhà tôi” (bắc kỳ 9 nút), bực mình la lớn. Hai bà (bắc kỳ 2 nút) tỉnh bơ, nổ máy xe biến mất. Còn lại là hai tôi, mỗi người đẩy một xe đưa vào chỗ cất.

Một lần khác, người bạn tôi kể rằng “Đi chợ, mua vội, tay chỉ cầm có hai gói cà-phê, đang xếp hàng chợt một chị bắc kỳ (2 nút) chen ngang vào đứng trước anh, anh phản đối thì chỉ hỏi lại: “xe của ông đâu?” Anh giận quá la lớn: “Đây là ở nước Mỹ, mua nhiều hay ít đều phải xếp hàng chứ không phải ở Hà-Nội của chị”.

Tại một nhà hàng, cháu gái của tôi cầm tờ biên lai tính tiền do bạn trai là người Mỹ trả, tới nói với người thâu ngân rằng: “chúng tôi gọi hai tô bún thịt nướng chứ đâu phải chả cá thăng-long mà tính nhiều thế này?” thì được thâu ngân viên buông gọn một chữ “nhầm”, rồi đếm tiền hoàn lại, không một lời xin lỗi. Tôi đoán chắc người Hà-Nội, chủ nhân (2 nút) tưởng Mỹ khờ khạo (đã bị “ bác” và đảng đánh bại), nên mập mờ đánh lận con đen.

Trên đường về nhà, dọc hai bên đường, ở giữa lòng cái thủ đô có tên Little Saigon này, lác đác những căn nhà to như dinh thự mà người Hà-nội đã bỏ tiền triệu để sở hữu một cách ngạo nghễ, khiến tôi chợt nhớ đến ông chiến hữu bại trận của tôi năm xưa đã phải “trả nhà cho nhân dân” (nhân dân Hà-Nội), mà xót xa!

Tôi miên man tự hỏi, chẳng lẽ từ niềm tự hào “đánh thắng hai đế quốc lớn” của người Hà-Nội đang được thể hiện một cách ngang ngược, lỗ mãng, vô văn hóa ngay giữa cái thủ đô của người Việt tị nạn trên đất nước Hoa-Kỳ này đến vậy sao? Lý do gì họ có mặt nơi này? phần đất nơi cư ngụ cuối cùng, mà những người hoảng sợ đã phải bỏ nhà bỏ của để chạy xa họ? Tôi đang nghĩ đến người con gái bắc kỳ (9 nút) ở đất Hố-Nai Biên-Hòa năm xưa. Tôi ước ao được gặp lại cô ở nơi này, nơi cư ngụ cuối cùng của những người kinh hoàng, hoảng hốt bỏ lại quê hương, chạy trốn những kẻ bạo tàn! Tôi muốn lại được nghe cô nói rằng: “Các anh hãy đi cho khuất mắt tôi, tôi đã sợ các anh quá rồi, chạy xa các anh tới nửa vòng trái đất mà các anh vẫn không buông tha!”

Ông nhà văn Hoàng-hải-Thủy của miền nam cũ, cay đắng than rằng Nếu một ngày nào đó trên đất nước Hoa-Kỳ này, giữa nơi ở của những người Việt tị nạn có phất phới lá cờ đỏ sao vàng thì xin cho tôi được chết trước!” Nghe mà xót xa cay đắng quá! Mong là con bài 2 nút sẽ không thắng ngược 9 nút thêm lần nữa…

Lỗ Trí Thâm

                                                                           Little Saigon

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Bắc Kỳ 9 nút – Bắc Kỳ 2 nút Lỗ Trí Thâm

Đại sứ quán Mỹ viếng Ngĩa Trang Quân Đội Biên Hòa – FB Nguyen Ken.

ĐẠI SỨ QUÁN MỸ VIẾNG NGHĨA TRANG
NƠI CÁC TỬ SĨ VNCH AN NGHỈ.

393305332_122133083264026641_6657537484529891305_n

Đại sứ quán Mỹ đưa tin ngày 13/10, Đại sứ Knapper và Tổng Lãnh sự Burns đã đến viếng Nghĩa trang Biên Hòa (tên khác là Nghĩa trang Bình An), trước đây còn gọi là Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa.

Trước năm 1975, đây từng là nơi chôn cất khoảng 16.000 tử sĩ của Quân lực Việt Nam Cộng hòa (VNCH). Sau khi chính thể VNCH thất thủ, chốn an nghỉ của các chiến sĩ VNCH đã nhiều năm bị bỏ hoang phế do Quân Khu 7 thuộc Bộ Quốc Phòng không cho người trông coi và chăm sóc. Với lý do là khu vực quân sự “nhạy cảm”, nhà cầm quyền CSVN cấm không một ai được vào thăm mộ. Trong nhiều năm ròng, nghĩa trang không được trùng tu. Tượng Thương tiếc bị kéo đổ vào năm 1975. Nghĩa Dũng đài bị cắt cụt một đoạn.

Thăm viếng và thắp hương trước anh linh các tử sĩ của “chế độ cũ, đại sứ Mỹ đã viết trên trang Facebook rằng họ “gửi lời chia buồn sâu sắc nhất tới gia quyến của những người đã ngã xuống.” Đây là một nghĩa cử mang nhiều ý nghĩa cho một mối bang giao đã trải qua nhiều thăng trầm lịch sử.

393284126_122133083312026641_1688047095380818212_n
393361413_122133083360026641_5960173256105570063_n
Xin cảm ơn Đại sứ Mỹ tại Việt Nam!

Anh nằm xuống sau một lần đã đến đây, đã vui chơi trong cuộc đời này, đã bay cao trong vòm trời đày rồi nằm xuống, không bạn bè không có ai…..”

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Đại sứ quán Mỹ viếng Ngĩa Trang Quân Đội Biên Hòa – FB Nguyen Ken.

Thu rồi sao anh! Thơ Phu nhân Nguyễn văn Vinh

THU RỒI SAO ANH

IMG_2259Trong ta lửa hạ vẫn chưa tàn,
Thu trời, thu đời đã vội sang.
Nhìn anh đã tiêu hao thần sắc,
Mới hay còn ít quỹ thời gian.

Còn ít thời gian có sao đâu?
Đã sống bên nhau đến bạc đầu.
Đừng đếm thời gian dài hay ngắn,
Hãy tính những gì làm cho nhau.

Chấp nhận khác biệt qua cảm thông
Chậm giận để tìm sự khoan dung.
Thay cho những bất hòa, trái ý.
Quà tặng là lời nói ấm lòng.

Thu đời đã đến rồi đó anh.
Bên đàn con ngoan, lũ cháu xinh,
Cùng dâng lời tạ ơn Thiên Chúa
Ban cho tuổi hoàng hôn an lành.

Đã dìu nhau qua suối ưu phiền,
Đã cùng nhau vượt nỗi truân chuyên,
Bàn tay sứt mẻ xây hạnh phúc,
Giờ thì sống chậm hưởng an nhiên

Mọi sự đều có buổi, có thời
Mình đang đến đích điểm cuộc đời.
Thận trọng từng bước đi thanh thoát.
Thu liễm, đông tàng (*) sẽ đến thôi!

Lê Phương Lan

Cảm tác sau một ngày nhìn anh nằm trong chiếc giường tại bệnh viện.
(*) Ngạn ngữ: ”Xuân sinh, hạ trưởng, thu liễm, đông tàng”

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thu rồi sao anh! Thơ Phu nhân Nguyễn văn Vinh