Các Danh Mục

Nhà Tôi – sáng tác của Lê Phương Lan
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Nhà Tôi – sáng tác của Lê Phương Lan
Bắc 54 và Bắc 75 Khác nhau thế nào? (ST)
ĐỂ TRẢ LỜI MỘT CÂU HỎI
BẮC 54 VÀ BẮC 75 ?

Có lần mình đã gặp một anh người Bắc, nói năng nho nhả cũng thuộc dạng trí thức anh đã hỏi mình một câu như vầy :
Em người miền Nam sống ở Saigon từ nhỏ, anh hỏi thật em trả lời đúng sự thật với suy nghĩ của người Saigon nhé !
Tại sao cũng là người Bắc, nhưng Bắc 54 di cư vô miền Nam, tới giải phóng là 21 năm.
Anh vô miền Nam năm 75 đến giờ là 42 năm, gấp đôi dân 54.
Thế nhưng tại sao người SàiGòn lại coi Bắc 54 là một phần của họ gặp nhau tay bắt mặt mừng như ruột thịt, anh để ý riêng bản thân anh thôi nha. Có thân lắm có vui lắm, dân SàiGòn vẫn luôn mang một khoảng cách khi tiếp xúc với anh, nếu họ biết anh đến với Sài Gòn năm 75???
Trời, một câu hỏi khó cho thí sinh à nha !
Em trả lời thật, anh đừng giận em nói :
-Tách riêng 2 phần chính trị và văn hoá nghệ thuật ra đi ha!
Phần chính trị thật ra khi giải phóng vô em mới có gần 15 tuổi thôi về quan điểm thắng, thua em chưa đủ trình độ nhận xét,
Nhưng nếu nói về cuộc sống của thời trước và thời sau 75, khác nhau nhiều lắm : sướng khổ rỏ rệt. Má em chỉ là công chức nhỏ của tổng nha kiều lộ, bây giờ mấy anh gọi là cầu đường đó, nhưng hồi nhỏ em rất sướng, đi học toàn trường dòng, em không biết ngoài Bắc anh có không, chứ thời đó mà học nội trú là mắc lắm đó, nhà em không giàu, cậu đi lính Quốc Gia, dì và ông ngoại đều dân Kiều lộ, nhưng sống rất thanh thản, mặc dầu lúc đó chiến tranh tràn lan khắp nơi.
Thời đó người Bắc di cư vô Nam, thường sống từng vùng do chánh phủ chỉ định, rồi từ từ lan ra.
Người miền Nam học được người Hà Nội nhiều điều : Cần kiệm, lễ giáo, nếp sống thanh lịch quý phái và tri thức.
Người miền Bắc vô Nam học được của người Sài Gòn nói riêng và người miền Nam nói chung : Sự giản dị, chân thật, tốt bụng, phóng khoáng ; không câu nệ bắt bẻ hay khó khăn.
Và cả hai miền học được của miền Trung cái chịu thương chịu khó, cái đùm bọc tình đồng hương.
Cả ba miền hoà nhập với nhau, ảnh hưởng nhau lúc nào không hay. Hồi đó, em đi học gặp mấy đứa bạn Bắc Kỳ rốn vẫn hay chọc tụi nó là “Bắc kỳ con bỏ vô lớn kêu chít chít” mà tụi nó cũng không giận, chọc lại em : “mày Nam kỳ ga guộng bắt con cá gô bỏ dô gổ kêu gột gột”, rồi lại khoác tay nhau chơi bình thường. Trẻ con thì như vậy, người lớn gặp nhau ba miền chung bàn nhậu là dô đi anh hai mình, là tay bắt mặt mừng …
Em nói dài dòng để cho anh hiểu rõ hơn vì sao Bắc 54 trở thành người miền Nam.
Chưa kể đến cái tình nha anh! Tình đồng đội khi chiến đấu chung. Ngoài anh chắc gọi đồng chí, trong đây em nói quen tiếng dân Sài gòn xưa, lúc chiến tranh mà đi lính thì cũng phải đi chung, cả ba miền gặp nhau giữa lúc thập tử nhất sinh, thân nhau là chuyện bình thường.
Đó là lính, còn người dân giữa cái tan tác đau thương chạy loạn lạc, chết chóc hầu như từ mũi Cà Mau đến sông Bến Hải…. nơi nào không có. Từ đó, người ta thương yêu nhau và không ai nghĩ miền nào là miền nào. Người ta gọi đó là tình đồng bào, tình quân dân cá nước nói theo kiểu miền Nam của em.
Đó là nói hơi thiên về chính chị chính em đó nha !
Bây giờ, bàn hơi sâu văn hoá nghệ thuật thời đó nha !
Em nói với anh ngay từ đầu rồi nhé ! Lúc đó em chỉ mới 15 tuổi, làm sao đủ tư cách phê bình văn học. Em chỉ kể cho anh nghe theo cái hiểu biết nhỏ bé của em thôi.
Người miền Bắc 54 vô miền Nam đem theo được gì nhỉ ?
Người thì chắc cũng không có của cải gì nhiều rồi, đi giống như đi vượt biên mà có gì, sao anh cười, em nói thiệt mà !
Nhưng có một di sản khổng lồ mà người miền Bắc 54 đã đem cho miền Nam. Đó là văn hoá, nghệ thuật. Nếu xét kỹ, nhà văn thời đó của người Nam bộ vẫn ít hơn người Trung và Bắc. Những tác phẩm giá trị, từ dịch thuật đến thơ văn, hầu như tác giả người Hà Nội, người Huế, Đà Nẵng, Sài gòn, v.v… toàn những tác phẩm để đời.
Em xin lỗi, “giải phóng” hơn bốn chục năm năm rồi, nhưng nếu ai có hỏi em đã đọc được cuốn sách nào để lại ấn tượng trong em chưa….
Xin chào thua, giận em, em chịu, vì có đọc đâu mà nhớ !
Chả có gì cho em ấn tượng, chắc một phần do em dốt anh ạ, nên không hiểu nổi văn học thời này thôi.
Nói đến nghệ thuật cái này thì em thích ca thích hát nên hơi rành một chút. Chắc anh không ít thì nhiều cũng phải có nghe Duy Quang hay Sĩ Phú, Duy Trác, Tuấn Ngọc… những người con Hà Nội hát trước 75, nói về văn học có thể anh không biết chứ hát hò anh phải biết sơ thôi.
Vâng, Hà Nội 36 phố phường để lại cho người miền Nam nhiều ca khúc để đời của Phạm Duy, chắc anh không biết bài Viet Nam… Việt Nam, bài tình ca Con đường cái quan, của bác ấy .
Em nói nhiều về Pham Duy vi đúng là dân Hà Nội 45 đó anh !
Oh, anh biết nhiều về Phạm Duy, như vậy chắc anh cũng biết rõ những nghệ sĩ nổi tiếng trước 75, đến bây giờ vẫn ăn khách, những người ca sĩ mà anh biết không, cái thời ngăn sông cấm chợ, muốn được nghe phải thức canh đài BBC hay đài VOA, vừa nghe vừa khóc vì quá xúc động. Đó là lý do tại sao ca sĩ Hải ngoại khi về nước người ta đi đón râ`n trời, một cái vé có khi nữa tháng lương người ta vẫn cắn răng để nghe cho bằng được thần tượng của mình hát.
Đó là ca sĩ Hà Nội, còn trong Nam hay ngoài Huế cũng rất nhiều ca sĩ nổi tiếng, kiểu Chế Linh, Nhật Trường, Duy Khánh, v.v…
Em xin lỗi anh nhé, có thể ca sĩ ngày xưa người ta hát không cần phải là học trường lớp thanh nhạc như cái cô Thanh Lam gì ngoài Bắc của anh bây giờ đâu, nhưng vẫn đi vào lòng người nghe mãi không quên, còn cô ấy học cao quá diva diviec gì đó, nói thiệt anh đừng cười em lạc hậu với thời cuộc quá anh ạ, nhờ cái chuyện cổ chửi ca sĩ miền Nam thất học, dư luận ồn ào quá, em mới để ý, chứ thiệt tình bình thường em mà biết cô này .. em chết liền đó anh, chưa từng nghe giọng hát này bao giờ.
Thì đó, nhờ những tác phẩm giá trị của văn học nghệ thuật, những nhạc sĩ, ca sĩ, kịch sĩ đều có sự đóng góp của Huế, Sài gòn, Hà Nội.. đã đưa ba miền Nam-Trung-Bắc, gần nhau hơn, hoà quyện lại với nhau thành một.
Cám ơn anh chịu khó nghe em phân tích một cách dài dòng xoay quanh câu hỏi của anh.
Vì đây là lần đầu tiên em được nghe một câu hỏi rất thật của một người Bắc vào trong Nam … năm 1975 .Thế cho nên em cũng trả lời rất thật lý do vì sao Bắc 54 lại là dân miền Nam dầu chỉ mới sống với nhau có 21 năm.
Và dân Bắc 75, dầu sống trong Nam đến 42 năm, vẫn mãi mãi là …. người Bắc, chứ không thể nào là người Hà Nội của dân miền Nam xưa.
Với một ít kiến thức nhỏ nhoi, một ít kinh nghiệm sống từng trải qua những thăng trầm của đất nước.
Em xin các cô bác, anh chị đã, đang và sắp đọc những giòng tự sự này một lời xin lỗi nếu như em có viết sai một ít chi tiết nào đó, các bậc cao nhân, tiền bối làm ơn bỏ qua cho kẻ hậu bối này câu trả lời mơ hồ của em, chắc chưa đủ sức thuyết phục cho anh bạn miền Bắc của chúng ta hiểu rõ hơn… Nhưng sức người có hạn, em nói rồi – tầm hiểu biết của em hạn hẹp bao nhiêu đấy thôi.
Ánh Đào
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Bắc 54 và Bắc 75 Khác nhau thế nào? (ST)
Ngủ Đò – tác giả Trần Kim Đoàn
Ngủ Đò.
Trần Kim Đoàn
Năm 1971, trong một dịp vào Sài Gòn chấm thi tại trường Gia Long, tôi có dịp quen biết với một cặp vợ chồng người Nam, quê ở Cần Thơ. Vì biết là người Huế, lại đang dạy học ở vùng giới tuyến Đông Hà-Quảng Trị, nên anh chị đã dành cho tôi mối cảm tình đặc biệt của người lính văn phòng dành cho người lính đồn xa. Dù chưa ra Huế lần nào nhưng sự hiểu biết của cặp vợ chồng nầy về Huế khá sâu sắc và tỉ mỉ như cách nhìn của một nhà khảo cổ nhìn lại thời xa xưa qua sách vở. Một trong những mong ước của anh chị là một ngày nào đó được ra thăm Huế.
Tôi mời anh chị mùa Hè năm sau ra Huế ở lại với gia đình tôi chơi để làm một chuyến du lịch vùng đất có nhiều vui buồn đầy huyền thoại nầy.
Sau hơn một tuần chu du hết các thắng cảnh, lăng tẩm, chùa chiền, núi rừng, sông biển của Huế, hai ngày trước khi rời Huế về lại Cần Thơ, anh chồng kéo riêng tôi ra quán cà phê, nhìn trước nhìn sau để yên chí là không có tai vách mạch rừng rồi mới trầm giọng nói nhỏ vào tai tôi:
– Mình muốn cậu cho mình biết cái “dzụ” đó.
Tôi nhớn nhác chưa rõ chuyện gì, thì thào hỏi lại:
– Cái “dzụ” gì vậy anh?
Anh trả lời hơi lắp bắp:
– Thì, thì… cái “dzụ”… ngủ đò ấy mà!
– Tôi vỗ đùi cười ngặt nghẽo:
– Chuyện dễ ợt nằm trong lòng bàn tay, muốn lúc nào cũng đuợc mà anh làm tôi hết hồn.
Anh đỏ mặt nói như phân bua:
– Thì tụi mình là nhà giáo với nhau, mình sợ mang tiếng rồi thì khó lên lớp lắm. Bởi vậy mình rất tò mò muốn biết “ngủ đò” nó như thế nào, nhưng lại rất ngại làm phiền cậu.
Vì nể bạn, tôi trả lời hăng tiết vịt cho có vẻ mình là dân lịch lãm ở quê hương mình, nhưng thật sự trong bụng cũng cảm thấy hơi “ớn lạnh” khi nghĩ tới chuyện ngủ đò.
Hàng ngày tôi vẫn đi qua con đường Hàng Bè, có tên Huỳnh Thúc Kháng, nhưng ít khi dám ngó thẳng xuống những dãy đò đậu san sát dưới sông. Nhiều lần đi về khuya qua con đường Hàng Bè nầy, thường khi tôi cố giả câm giả điếc trước những lần các bà mối lái lôi kéo và mời gọi “Đò cậu !?” trên bến nước Tầm Dương canh khuya đưa khách nầy. Cái xứ Huế nhỏ bé “trong nhà chưa rõ, ngoài ngõ đã hay” lại mang nghiệp dĩ làm nhà mô phạm mà được gắn nhãn hiệu “Thầy nớ ngủ đò” thì sự nghiệp quân sư phụ theo chân đức Khổng Tử sẽ theo đò dọc mà trôi xuôi về biển.
Sau khi nói cứng với anh bạn ở quán cà phê, tôi bỗng thấy lo cồn cào ruột gan. Việc đầu tiên là phóng xe một mình xuống Bao Vinh, tìm người bạn thân lớn tuổi có biệt danh nghe như hiệp khách hành là Phó Biên Thùy để vấn kế. Anh nổi tiếng một thời ngang dọc trong giới ăn chơi biết trọng nghĩa khinh tài ở Huế. Nghe hết nỗi lòng thao thức của tôi, lại đến lượt anh cười dòn tan. Tôi vái thầm là nụ cười dễ dãi của Thùy không phải là nụ cười xã giao thiếu thực tế chiến trường của tôi. Thùy hỏi một câu quá “hiện đại” làm tôi hơi ngỡ ngàng:
– Rứa bạn cậu muốn ngủ đò mà “ngủ chay” hay “ngủ mặn”?
Tôi đang còn quờ quạng thì Thùy giải thích:
– Ngủ đò chay là thuê đò du lịch trên sông Hương để sinh hoạt bạn bè, văn nghệ, văn gừng với nhau cho vui. Còn ngủ đò mặn cũng là giong đò trên sông Hương, nhưng lại sinh họat ong bướm với những nàng Kiều sông Hương.
Tôi hỏi đùa:
– Nếu người ta thích cả “vào chay ra mặn” có được không?
Thùy trả lời thật tình:
– Trường hợp tất cả khách đi đò đều là đàn ông thì chẳng có chi trở ngại, ai thích mục nào làm mục đó, nhưng nếu có phụ nữ thì bắt buộc phải ngủ chay.
Tôi liền cậy Thùy làm quân sư trong biến cố ngủ đò tổ chức cho người bạn. Theo sự cố vấn của Thùy, tôi về nhà và mời cả hai vợ chồng người bạn ra nói chuyện.
Khi tôi mở lời đề nghị mời cả hai vợ chồng người bạn đi ngủ đò, anh chồng mặt tái xanh không biết vì sợ hay vì giận. Anh nhìn tôi một cách nghiêm khắc nửa như hối hận, nửa như trách móc, hỏi bằng một gịọng rất xa lạ và lạnh lùng:
– Xin lỗi anh, anh cho chúng tôi là hạng người nào…?
Chị vợ mím môi, vòng tay trước ngực, mắt trống không nhìn bất động vào một cõi xa xăm nào đó để biểu lộ sự thất vọng vì bị xúc phạm.
Tôi hơi lúng túng vì sự hiểu lầm có vẻ quá nghiêm trọng thì Thùy đã xuề xòa, cái xuề xòa của một tay từng trãi với đời đã làm cho không khí bớt ngột ngạt. Thùy đã dem hình ảnh những cuộc du thuyền rồng của giới vua quan và các sứ giả ngoại quốc trên sông Hương ngày xưa làm vũ khí dẫn giải. Lịch sử ngủ đò trên sông Hương bắt nguồn từ thú chơi tao nhã của hàng mặc khách tao nhân. Đò chứa đầy trăng và chở đầy hương hoa của thơ và nhạc. Nếu có chăng những chén rượu nồng và những trao gởi đầu mày cuối mắt thì cũng chỉ là những sương khói nhẹ nhàng kiểu tài tử giai nhân. Nước sông Hương, do đó, còn được gọi là nguồn “Tiêu Kim Thủy” – ngàn vàng chuốc môt trận cười. Nhưng rồi mỗi nước non đều có một “lối xưa xe ngựa hồn thu thảo”. Chuyện ngủ đò trên sông Sông Hưong cũng thế, cũng có một thời tuổi trẻ và một thời tuổi già; một thời để yêu và một thời để chết. Sông Hương đã trút áo hào hoa để sống còn qua những cơn tai biến của lịch sử, để hòa điệu sống giữa chợ đời đầy cát bụi. Cái thanh và cái thô của Huế bao giờ cũng có sẵn. Thanh hay thô là do kẻ đi tìm…
Thùy đã mô tả hết cái thanh và cái tục trong chuyện ngủ đò để thuyết phục cặp vợ chồng bạn tôi vui vẻ chấp nhận lời mời đi “ngủ đò” ngay chiều hôm đó.
Chiếc đò khách có mui, lòng rộng hơn hai thước cặp bến Thừa Phủ vào buổi chiều nắng sắp tắt. Thùy đã tế nhị mời thêm hai cặp vợ chồng yêu thích văn nghệ cùng đi và anh cũng đã khéo léo cho đò cặp vào bến Thừa Phủ thay vì bến Gia Hội hay Phu Văn Lâu vốn là những điểm nóng của khách “giang hồ ngủ mặn” để khỏi bị nhòm ngó. Cặp vợ chồng bạn tôi tỏ vẻ căng thẳng và hồi hộp thấy rõ với những giòng mồ hôi chảy dài trên má. Cả hai e dè bước xuống thuyền như một sự phó mặc cho số phận an bài.
Đến khi thuyền ra giữa sông như cánh chim bằng đã cỡi mây vùng vẫy ra ngoài bốn bể thì cái cảm giác “ngủ đò” mới bắt đầu lắng xuống. Giữa lòng sông chiều nghe sóng vỗ mạn thuyền róc rách với sức đẩy của gió Nồm từ Thuận An lên tự nhiên cái cảm giác trần tục từ từ nhường lại cho sự thanh khiết và lắng đọng trong mỗi con người. Thuyền hướng về phía cầu Bạch Hổ. Nhìn phía lái, o lái đò tóc lộng gió chiều che nghiêng khuôn mặt trông như một người mẩu làm phông cho cầu Trường Tiền. Một phần nhỏ cầu Trường Tiền còn hoe nắng giống chiếc lược ngà cài trên mái tóc sông Hương. Cầu Bạch Hổ thô và đen sậm có vẻ như hiện thân của sự thách đố với nắng gió và thời gian. Bên nầy là Thương Bạc, Phu Văn Lâu với cột cờ Thành Nội sừng sững không biết uốn cong mình trước những cuồng phong của lịch sử nên đã mang đầy mình những vết tích tang thương. Bên kia là bia Quốc Học-Đồng Khánh và con đường áo trắng ngây ngất biết bao nhiêu kỷ niệm học trò đầy tiếng cười và tiếng thút thít dấu giữa khăn mù soa thêu hoa tím của gặp gỡ và chia xa thời tuổi dại.
>
> Cặp vợ chồng miền Nam ngồi sát vai nhau cho khỏi lạnh. Ngồi cạnh mũi thuyền, cả hai lặng im, mở to mắt, căng buồng phổi để tận hưởng buổi chiều trên sông Hương. Tôi thấy Thùy nhìn họ, không nói, nháy mắt mỉm cười. Cặp vợ chồng nhìn lại với ánh mắt trẻ thơ mà trang trọng, tôi nghe cả hai cùng mấp máy: “Cám ơn anh!”.
Chiếc đò bềnh bồng nương gió chiều lướt êm trên giòng sông Hương đang đổi từ màu xanh lam buổi chiều sang màu tím nhạt hoàng hôn và màu vàng lụa dưới ánh trăng con gái e ấp bên kia sông. Hai bên bờ, nhà cửa chìm khuất sau những bức tường cây giờ đã đổi sang màu đen thăm thẳm huyền bí. Đọt dừa, đọt cau và tàng cây cao vút vẽ hoa văn cho nền trời bàng bạc khói sương. Trăng dát vàng trên sóng nước và kết ngọc cả giòng sông. Khi thuyền đến nhánh sông chia ba gần chùa Thiên Mụ thì sông nước và làng mạc, ruộng đồng đã tắm ngập cả trăng. Khói sương, cây lá, lưng sóng và tóc mây đều choáng ngợp ánh trăng vàng lung linh huyền ảo
Giữa thanh vắng vô cùng con người bỗng cảm thấy cái tôi của mình tan loãng để hòa vào cái “đại ngã” của thiên nhiên. Mọi người trong đò hình như đang quên chiếc đò và giòng sông để nói với nhau thật nhiều trong thinh lặng cho đến khi người chủ đò từ đằng lái bước tới, nói với khách bằng ngôn ngữ hiện thực của con người:
-Xin quý khách cho biết là muốn neo đò ở đây hay chèo lên ngã điện Hòn Chén.
Thùy hỏi ý kiến chung và quyết định hướng đò lên ngã thượng nguồn sông Hương. Đò chèo quanh như lưu luyến vùng sông nước xanh đen mượt trước chùa Thiên Mụ như có một chút gì tiếc nuối hương xưa rồi quay mũi hướng về phía núi Bãng Lãng. Anh bạn người Nam hỏi Thùy:

– Tôi đọc sử nghe nói Chùa Thiên Mụ là do Nguyễn Hoàng – mà người đương thời gọi là chúa Tiên, cho khởi công xây dựng từ năm 1601 phải không anh? Được đứng trước một di tích lịch sử gần 4 thế kỷ mà vẫn còn nguyên vẹn như thế kia, tôi cảm thấy xúc động và ngưỡng phục người xưa vô cùng.
Thùy giải thích thêm:
– Theo tương truyền thì khi xưa, ban đêm có người trông thấy một bà lão mặc áo đỏ quần xanh ngồi trên gò Hà Khê, tức là vùng đất cao của chùa Thiên Mụ ngay trước mặt chúng ta đây, nói rằng:”Rồi đây sẽ có một vị chúa dân tới nơi này để dựng chùa, đặng tụ linh khí và củng cố long mạch”. Nói xong bà lão biến mất nên dân chúng bèn gọi gò Hà Khê là núi Thiên Mụ. Khi chúa Tiên đặt chân tới gò Hà Khê thấy cảnh trí hùng vĩ, trước có sông, sau có hồ, xa xa có núi. Cảm kích trước cảnh non sông cẩm tú, trước khi quyết định dời đô về đất Thuận Hóa, chúa cho xây một ngôi chùa trên gò Hà Khê lấy tên là Thiên Mụ Tự, đó là chùa Thiên Mụ ngày nay.
Người chủ đò cho biết nếu chỉ chèo tay mà không dùng động cơ gắn sẵn trên đò thì ít nhất cũng mất hai giờ nữa mới đến nhánh sông điện Hòn Chén. Thùy đề nghị là lúc về sẽ dùng đến máy, nhưng vòng lên chỉ nên chèo tay. Rốt cuộc dư vang của sóng nước sông đêm vẫn nghe vỗ vào mạn thuyền xao xác và tiếng chèo khua nước vẫn nhè nhẹ chẻ nước để thuyền đi trong đêm trăng. Một người bạn của Thùy bắt đầu thổi sáo. Tiếng sáo dìu dặt nương theo hòa âm của đất trời đủ sức lay động lòng người. Những người trong đò bắt đầu ngâm thơ và hát những bài tình ca hay nhất của mình. Cặp vợ chồng miền Nam cùng hát dân ca điệu lý con sáo, rồi lý cây bông như thơ của Kim Tuấn:
Em nhớ chàng em hát lý cây bông
Như con sông con nước ròng con nước nổi
Em thương anh và nhớ anh quá đỗi…
Như cây lục bình quấn quít giòng sông…
Anh thương em sao anh “hổng”tới
Để em buồn em hát lý cây bông…
Cô lái đò chừng như cũng hòa vui với điệu hát câu hò ngồ ngộ nhưng đầy cảm xúc của khách bỗng cất tiếng hò dìu dặt theo nhịp với mái chèo. Tiêng hát cất lên từ sau lái mang âm vang thanh thoát của người lĩnh xướng:
Ơ hơ…ơ ơ cầu Trường Tiền sáu vài mười hai nhịp
(Chớ) em qua không kịp (mà) tội lắm anh ơi à…ớ… ơ…ờ
Ơ hơ…ơ ơ… (Chơ) thà rằng không biết thì thôi
(Chớ) biết rồi mỗi đứa (ư…à…) ơ hờ…hớ mà… mỗi nơi ớ hơ a à… cũng
(ứ… a…) buồn…!
Tiếng hò vút cao, lững lờ rơi dần xuống thấp, rồi im bặt… Cũng buồn! Biết rồi mỗi đứa mỗi nơi cũng buồn. Có lẽ nguồn tình cảm miên man rất lãng mạn kiểu Huế nằm trong tiếng “cũng”. Cái “cũng… buồn” rất e dè nhưng cũng rất nũng nịu thâm cung của cô gái Huế có nghĩa là níu kéo, là sẽ tương tư, là hào phóng một cách “tình cho đi ai lấy lại bao giờ”. Tất cả những người khách có mặt trong đò đều khẩn khoản yêu cầu cô lái đò hò thêm bài nữa nhưng vẫn hoàn toàn im lặng, cái im lặng bất thường của một tâm hồn sôi nổi thường có vẻ ghê ghê như cây cối mới theo gió vật vờ bỗng đứng yên giữa vùng tâm bão. Cô lái chỉ tay về mé sông bên kia với một vùng cây cối thâm u, đen kịt trong đêm. Giọng cô nói như rì rào với gió : “Điện Hòn Chèn thờ Bà Chúa đó. Ngài thiêng lắm. Ai hò hay hát giỏi, Ngài ưng ý, ‘bắt lính’ âm binh rồi thì hết đường chạy chữa, chỉ có nước đem chôn thôi”. Nghe giọng nói nghiêm trang như con chiên ngoan đạo của cô lái, khách trên đò cũng cảm thấy phảng phất một chút sương mờ “ớn lạnh” nên chưa ai tiếp tục cuộc chơi “để em buồn em hát lý cây bông”. Cặp vợ chồng Nam Bộ xích lại gần nhau thêm chút nữa chừng như để che chở cho nhau mà trốn lính âm binh… Bỗng Phó Biên Thùy cất tiếng cười dòn tan như cốm bắp An Thuận, tiếng cười không chờ đợi và đúng lúc có mãnh lực an ủi chúng sinh trên đò như nhà pháp sư trừ ma ếm quỷ. Thùy chỉ tay về phía bờ sông bên kia, nơi có lùm cây cao nhô lên, nổi bật giữa lằn chân trời cây đen thẩm, giải thích:
– Đó là Điện Hòn Chén, tên chữ là Ngọc Trản (có nghĩa là chén ngọc). Đây là đền thờ Nữ thần Thiên Y A Na, vốn là một nữ thần Chàm. Theo Đào Thái Hanh trong Bulletin des amis du vieux Hué; xuất bản năm 1914 mà thời đi học, tôi đọc lóm được của Ba tôi thì Thiên Y giáng trần qua bóng dáng của một thiếu nữ đẹp huyền diệu và vào đời qua một câu chuyện tình thần tiên vương giả. Rồi cũng như những câu chuyện tình buồn của Huế, nữ thần cũng ra đi trong nước mắt. Nhưng cái mê hoặc của trần gian đau khổ nầy nó lạ lắm. Nó vẫn còn mãi níu kéo nữ thần vương vân với cuộc đời để ban bố bao nhiêu là phép lạ cho con người. Vì vậy, trong niên hiệu đầu, vua Gia Long ban cho nữ thần chức tước “Thần tối cao và ơn đức vô biên, ban phước lành khắp mọi nơi đầy linh hiển” .
Thế nhưng, khoảng hai năm trước, tôi có dịp tham gia vào đoàn rước lễ của Thiên Tiên Thánh Giáo Huế, hành hương bằng thuyền trên sông Hương từ Điện Hòn Chén về Bãi Dâu với đoàn thuyền có đủ cờ quạt, lọng tàn, lễ nghi rực rỡ đầy màu sắc thì lại được nghe một vị chức sắc cho biết đây là nơi thờ Thánh mẫu Liễu Hạnh. Nguyên bà là con gái thứ của Ngọc Hoàng Thượng Đế, giáng trần vào rằm tháng Tám năm 1557 đời Mạc Phúc nguyên tại Vụ Bản, tên Giáng Tiên. Người tiên giáng phàm nhưng vẫn không thoát khỏi nợ tình với Trần Đào Lang. Và rồi cũng như Thánh nữ Thiên Y A Na, Thánh Mẫu Liễu Hạnh được về lại cõi trời năm hai mươi mốt tuổi, nhưng vẫn yêu cảnh trần gian nên đành xin Ngọc Hoàng trở lại… với nhiều phép lạ giúp dân lành nên đã trở thành một trong Tứ Bất Tử của dân tộc Việt Nam: Phù Đổng, Chữ Đồng Tử, Tản Viên Sơn Thánh và Liễu Hạnh. Bà Chúa Liễu Hạnh đã được sùng kính tôn thờ như một tín ngưỡng dân gian lan rộng khắp nơi, từ Phủ Giày Nam Định, tới chùa Thiên Minh Lạng Sơn, vào đền Sòng Thanh Hóa, ra Tây Hồ Thăng Long, vào Sóc Hương Nghệ An… trước khi giáng phàm chỉ đường cho chúa Nguyễn dựng nghiệp ở Đàng Trong và xây dựng dinh cơ ở Huế. Vua nhà Nguyễn đã sắc phong cho bà chúa là “Thượng Đẳng Tối Linh Thần”.
Theo nguồn tin dân gian truyền khẩu tại Huế thì bà chúa Điện Hòn Chén hết sức linh hiển. Đã có rất nhiều người buôn bán xuôi ngược trên sông Hương đã bị “bắt lính” vì có tài hát hò. Một số khác bị bà chúa “vật chết tươi” vì có thái độ bất kính khi đò chèo ngang qua Điện Hòn Chén. Năm Tự Đức thứ 15, nhà vua cảm thương bá tánh vô tội bị chết oan nên đã đích thân lên Điện Hòn Chén đeo chuỗi hột bồ đề vào cổ bức tượng của bà chúa Liễu Hạnh và khuyên bà chúa hãy tu hành. Từ đó, bà chúa không còn linh hiển như xưa nữa.
Người kể chuyện im lặng, rồi trầm giọng đọc thơ với một chút cười buồn:
Mắt nữ thánh cũng sầu xanh soi bóng
Hương Giang ơi! Sao sóng lục vô chừng.
Phó Biên Thùy lại cất cao giọng nói như đọc sớ trên sông:
– Xin van vái bà Chúa, nếu tối nay bà bắt lính, Thùy tôi xin tình nguyện đi ngay, đừng bắt ai khác tội ngiệp. Thùy nầy vốn ca xướng không hay nhưng được cái độc thân, vui tính. “Dương binh” được xếp loại hai, nếu vô “âm binh” xin bà xếp cho loại ba, lọai bốn chi cũng được…!
Hình như lên tinh thần vì vui lây cái tinh thần hài hước của Thùy hay vì đã có người tình nguyện “chết” thay cho mình nên từ chủ đến khách trên đò đều lấy lại được cái vui hồn nhiên “giã gạo dưới trăng” tưởng như đã bị thần linh ném giữa giòng sông.
Cái đẹp của vùng thượng nguồn sông Hương trong đêm là vẻ đẹp huyền bí của Nghìn Lẻ Một Đêm vì nó mênh mông và êm ả quá, nhưng trong từng giọt sương, từng mảnh trăng tan trên mặt sóng, từng tiếng vỗ cánh của bầy vạc ăn đêm và tiếng xao xác của lau lách đều mang ít nhiều huyền thoại của Cố Đô với dư vang của những dấu oai linh hiển hách một thời vang bóng.
Chị bạn người Nam bỗng thở mạnh, hít thật sâu và reo lên như vừa khám pha ra một điều gì mới lạ:
– Thấy không kìa! Tôi nghe như vừa có một mùi thơm thoang thoảng trầm hương đâu đây. Tôi đọc sách nghe kể là sông Hương có tên như vậy vì thường có mùi thơm trên sông…
Có tiếng của anh bạn thổi sáo nói vọng ra từ phía trong mui đò:
– Tôi đang thưởng thức mùi thơm đó chị ơi, nhưng rất tiếc là mùi thơm của Seventy Nine và Half and Half trộn lại từ trong chiếc “píp” của tôi.
Chị bạn tiếc rẻ:
-Vậy thì lời đồn sông Hương có mùi thơm là bịa đặt sao?
Thùy lên tiếng:
– Tôi cũng được nghe mấy cụ xưa kể rằng, xưa kia hai bên bờ sông Hương có mọc một giống cỏ gọi là “Thạch Xương Bồ”, còn có tên gọi khác là “Ngoại Xương Bồ” (Acorus Gramineus). Các nhà đông y coi Thạch Xương Bồ có tác dụng chữa bệnh như vị thuốc trường sinh. Hoa và củ có mùi thơm đặc biệt, về mùa xuân phấn hoa bay thơm lừng khắp cả mặt sông nên mới có tên là sông Hương.
Chị bạn người Nam lại thắc mắc:
– Anh có bao giờ nghe ai diễn tả lại cái “mùi thơm đặc biệt” của Thạch Xương Bồ nó thơm nồng, ngọt dịu, đam mê, giống như một mùi hoa nào đó mà mình đã biết không?
Thùy trả lời hóm hỉnh:
– Chị ạ, tôi lớn từng này tuổi đầu rồi mà vẫn còn độc thân là vì hương sắc của Thạch Xương Bồ đó chị! Hồi còn sinh viên, tôi ở gần nhà ông thầy Tàu. Ông thường khoe là trong ba cô con gái của ông, cô út là đại quý tử vì phấn má có mùi hương Thạch Xương Bồ. Tôi đã bao phen cố làm một chàng Trọng Thủy Việt Nam để cố “ngửi” mùi Thạch Xương Bồ trên má cô út Mỵ Châu Tàu lai coi thử cái “đọat hồn hương” đó nó ghê gớm tới mức nào nhưng thất bại, có lẽ vì ông già đã hiểu quá thâm thúy cái hệ lụy “Nam Quốc sơn hà” của Lý Thường Kiệt nên đã thẳng tay làm cho chúng tôi xẻ nghé tan đàn.
Có tiếng anh chàng thổi sáo xen vào:
– Các vị nầy răng mà rắc rối dữ rứa? Thì cứ tạm cho mùi hương Thạch Xương Bồ nó cũng thơm thơm ngọt ngào giống thuốc Seventy- Nine và Half and Half của tôi đang hút đây nầy thì có chết ai đâu, bảo đảm sẽ không có ai chống đối hay kiện tụng chi mô mà sợ.
Đò rời vùng Thiên Mụ, xuôi về mạn Kim Long. Một giọng ngâm thơ nào đó, không hay nhưng đầy cảm xúc, cất lên:
Kim Long có gái mỹ miều,
Trẩm thương, trẩm nhớ, trẩm liều, trẩm đi>
Rồi cũng chính ngưòi ngâm bình luận:
– Trời đất! Làm như gái Kim Long toàn là tiên nga giáng thế không bằng. Xưa vua mê người đẹp, vua liều vua đi là vì bị mấy ông quan lớn gài bẫy. Những vị quan lớn trong triều phần đông ở miệt Kim Long cho gần cung đình. Ông nào cũng nuôi mộng con mình lên làm hoàng hậu nên lắm ông quan đã khôn khéo đóng kịch cho con gái cưng của mình mặc áo lụa hồng, choàng khăn nhiễu tím, giặt áo trên sông rồi thỉnh hoàng thượng lên nguồn dạo mát. Vua đã ê chề với các cô cung nữ trong cung quá rụt rè, run rẩy, sợ hãi trước long nhan nên mình cứng như cây củi. Nay ra ngoại thành nhìn trộm được giai nhân má thắm lưng ong đang lả lơi để cho gió hôn trên má, nắng cắn trên vai, nước đầm trên yếm… Thế là vua tương tư. Vua cải trang vi hành đi thăm bá tánh. Vua thêm một lần biết yêu. Cung đình thêm một hoàng hậu…
Chuyện dân gian kể rằng, vua Thành Thái cải trang làm người dân thường, lặng lẽ lên Kim Long đi tìm giai nhân mà không gặp vì con gái Kim Long thường chuyên nghề thủ công ở chỗ im mát nên nõn nà và đẹp nhưng ít khi ra ngoài. Vua thất vọng ngoắc một chiếc đò trên bến sông Hương để thuê chèo xuôi về lại hoàng thành. Thuyền cặp bến rước khách, từ trong khoang thuyền, vua nhìn ra sau lái thấy cô chèo đò đang độ tuổi xuân căng phồng sức sống, với manh áo cũ vá vai, với môi thắm má hồng và tóc mây vờn bay theo gió. Cô gái uyển chuyển theo mái chèo với vẻ đẹp tự nhiên làm vua rung động. Vua lại gần hỏi với:
-Nì, o nớ! Rứa chớ có chồng con chi chưa?
Cô gái che miệng cười duyên, đáp vọng lại:
-Tui nghèo nàn xấu xí có ai mà ưa!
Câu nói thủ phận, chơn chất càng làm cho nhà vua cảm thấy cô gái càng đáng yêu hơn. Vua Thành Thái bước tới giữ tay chèo cô lái lại, bắn tiếng:
– Tui biết có đám ni khá lắm, để tui làm mối cho o. Chừ tui hỏi thiệt rứa chớ o có ưng lấy vua không cái đã?
Cô gái vừa thẹn thùa, vừa sợ hãi, nhớn nhác nhìn quanh, thì thầm nói với người khách lạ:
-Đừng nói bậy mà họ chém đầu chừ!
Nhà vua đặt tay lên cùng mái chèo với cô gái, nói như reo vui:
-Thiệt mà! O mà nói “ưng” một tiếng là được lấy vua liền!
Trong khi cô gái vẫn thẹn thùng thì có một cụ lớn tuổi cùng đi trong đò tham gia vào cuộc vui, lên tiếng:
– O nớ! Có mất chi mô mà lo. O cứ nói “ưng” một tiếng thử coi rồi để tui làm chứng cho.
Cô gái chèo đò Kim Long đánh bạo, nhìn ông khách nói nhanh:
– Ưng.
Vua Thành Thái thú vị dành lấy cán chèo trên tay cô gái:
-Rứa thì ái phi ngồi nghỉ để trẩm chèo đưa về cung nghe.
Sau duyên kỳ ngộ đó, cô lái đò áo vá vai đã trở thành một vương phi được nhà vua sủng ái. (Theo Bảo Hiển – Chuyện Các Bà Trong Cung Nguyễn)
Ngày vui thường qua mau và cuộc vui nào cũng có lúc tàn. Đò trăng của chúng tôi rồi cuối cùng cũng đành phải chia tay với nguồn nước trên của sông Hương để trở về bến cũ vì đã quá nửa đêm. Tráo về, người lái thuyền đã đưa khách nhàn du trở lại với thực tại bằng cách gác mái chèo và nổ máy Yanmar F.10 gắn trên đò với tiếng nổ phành phạch rất phàm tục như múa lân đánh trống bể.
Khi đò về đến Phu Văn Lâu, đò không được chạy máy mà phải chèo trở lại. Thoát khỏi mùi khét, âm thanh và sức đẩy của máy dầu cặn, trăng lại về trên sông và sóng lại vỗ mơn man vào mạn thuyền. Thuyền tạm dừng lại trước bến Văn Lâu, anh bạn người Nam hỏi Thùy:
– Đây có tên là “Phú Vân Lâu”, có lẽ bởi vì nơi đây thường có nhiều mây lắm phải không anh?
Thùy giải thích với nét cười thích thú:
– Hay! Anh đã sáng tạo một ý nghĩa mới cho một tên gọi sai do thói quen của quần chúng. Thật ra Phu Văn Lâu mới là tên gọi đúng của nơi nầy. Ngày xưa cái lầu nầy là trung tâm thông tin của triều đình với dân chúng. Những văn kiện quan trọng của nhà vua và triều đình được niêm yết ở lầu nầy. Phu Văn Lâu có nghĩa là “lầu phô bày văn kiện” (Phu: Phô bày; Văn: Giấy tờ văn kiện; Lâu: Lầu). Anh nhìn kỹ vào đằng trước của lầu nầy sẽ thấy hai tấm bia có khắc chữ: Khuynh cái – Hạ mã (Nghiêng lọng- Xuống ngựa). Bất cứ ai đi ngang qua đây đều phải nghiêng lọng đi đầu trần và xuống ngựa đi bộ để tỏ lòng tôn kính nhà vua. Từ Văn Lâu nhìn ra sông Hương có Nghinh Lương Đình, là nhà hóng mát của vua. Đó là cái nhà cuối cùng tiếp giáp với bến nước của sông Hương trong khu vực cột cờ. Đây cũng là nơi thường vang vọng những tiếng hò quốc kêu đau thương sau ngày vua Duy Tân, nhóm Trần Cao Vân, Thái Phiên, Phan Thanh Tài đứng lên mưu đồ cuộc khởi nghĩa chống Pháp nhưng thất bại vì nội phản để đến nỗi vua bị đày, tướng bị xử trảm tại An Hòa:
Trước bến Văn Lâu, ai ngồi ai câu, ai sầu ai thảm, ai thương ai cảm, ai nhớ ai trông… Thuyền ai thấp thoáng bên sông, nghe câu mái đẩy chạnh lòng nước non.
Nghe Thùy giải thích, ý nghĩ của những người trên đò như đang lãng đãng trôi về thời quá khứ. Chị bạn người Nam chỉ tay về phía cột cờ sừng sững làm bối cảnh chính cho cả vùng Phu Văn Lâu:
– Cột cờ nầy hình như đã treo cờ vàng ba sọc đỏ từ thời chính phủ Trần Trọng Kim, rồi cờ đỏ sao vàng của Việt Minh khi Trần Huy Liệu nhận ấn tín từ tay vua Bảo Đại thoái vị trên lầu Ngọ Môn năm 1945. Không biết lần đầu tiên lá quốc kỳ được treo lên nơi đây là loại cờ nào và trông giống ra sao?
Mọi cặp mắt lại hướng về Thùy, viên thuyền trưởng kiêm hướng dẫn viên bất đắc dĩ. Thùy trầm ngâm rồi dè dặt lên tiếng:
– Tôi có một ông đời sơ, nghe đâu là một trong những tác giả bình dân của bài vè lịch sử nổi tiếng “Thất Thủ Kinh Đô”, có kể lại rằng Cột Cờ Thành Nội xây cao 80 thước, ngang với đỉnh núi Ngự Bình. Quốc kỳ thời nhà Nguyễn là cờ ngũ hành, thường được treo trong các dịp Tết, lễ lớn của đất nước và triều đình, kèm theo các sắc cờ khánh hỷ đuôi nheo.
Đò lại tiếp tục di chuyển về phía cầu Trường Tiền. Một nhịp cầu đã gãy trong biến cố Mậu Thân nằm thương tích, lạnh lẽo dưới trăng như một vết chém ngang lưng đối với khách ngã nón trông cầu và trông tội nghiệp như vết sẹo ân oán vô tình trên khuôn mặt trái xoan nuột nà của cô nữ sinh Đồng Khánh.
Người bạn miền Nam thắc mắc:
– Lúc nãy cô lái đò có hò “cầu Trường Tiền sáu vài mười hai nhịp, em qua không kịp tội lắm anh ơi!… ” làm cho người nghe có cảm giác cầu Trường Tiền dài mù mịt và sông Hương cuồn cuộn sóng dữ. Nhưng thực tế chiếc cầu đã ngắn mà giòng sông lại hiền hòa thế kia thì tại sao lại “qua không kịp” vậy kìa?
Người bạn thổi sáo trả lời:
– Muốn hiểu Huế cần phải biết cách “nói lẩy” của mấy o gái Huế. Ngày trước, sau khi cầu Trường Tiền do Pháp dựng lên, Huế bị chia ra làm hai thế giới: Phía bên nầy sông Hương là thế giới của người Việt Nam và phía bên kia là thế giới của Tây. Người bình dân xứ Huế nhìn qua bên kia với những tên xa lạ như vùng “Xạc-Măng-Rông”(Charfanjon), “Mô-Ranh” (Morin Frères), “Trường Sài-Nhô” (Chaigneau Ecoles)… Vì vậy khi người tình đã “qua cầu” Trường Tiền rồi thì kể như đã sang một vùng trời khác với thế giới “tối rượu sâm-banh sáng sữa bò” xa lạ của Tây, Đầm… làm sao cô gái mộc mạc chân chim theo cho kịp được.
Có thể nói mỗi bước chèo khoan của sông Hương đều có man mác một dòng lịch sử, nên đò đã đến gần khúc sông giữa cầu Gia Hội và Cồn Hến lúc nào mà khách đi dò vẫn còn miên man trên những nhánh sông của quá khứ.j
Theo hướng dẫn của Thùy, thuyền tạm neo bên bờ sông Đào đổ ra sông Hương, gần cầu Gia Hội. Khi Thùy lên tiếng mời mọi người sẵn sàng “đi ăn” thì ai cũng nghĩ đến một tiệm ăn nào đó trên bờ. Thùy bước ra phía mũi đò và đưa tay ngoắc một một chiếc xuồng gần đó, dặn dò to nhỏ với người duy nhất ngồi trên xuồng. Người lái xuồng quay mũi đi lập tức, Anh bạn người Nam coi chừng đã đói bụng, nhắc:
– Còn chờ gì nữa, thôi chúng ta đi ăn đi các anh chị.
Thùy cười:
-Chúng ta ăn ngay ở đây chứ khỏi cần đi đâu xa.
Liền đó, ba bốn chiếc xuồng nan đã tiến tới cặp bên đò khách. Xuồng nan là một loại thuyền câu nhỏ, đan bằng tre, trét kín bằng dầu hắc hay dầu rái để nước khỏi rỉ vào. Xuồng chỉ cần một người lái với hai tay bơi hai chiếc chèo nhỏ gọi là chầm. Xuồng di chuyển thoăn thoắt và rất cơ động trên giòng sông nhỏ chằng chịt thuyền đò. Xuồng tạo thành một mạng lưới thông tin, liên lạc, mua bán, trao đổi rất nhanh chóng và tiện lợi trong thế giới thuyền chài trên sông Hương. Mỗi chiếc xuồng được trang bị như một bếp nhỏ và chuyên trách một món ăn nào đó. Các chủ xuồng, hầu hết là mấy o, mấy thím. Những món ăn đặc thù của Huế như bún bò, cơm hến, cháo lòng, gà xé phay, bánh bèo, bánh nậm, bánh bột lọc, bánh ít, bánh cuốn, xôi thịt hon, chè xanh đánh, chè nhãn, chè hột sen, chè thịt quay… đều có đầy dủ trong những cửa hàng nổi tý hon nầy.
Mở màn, mấy anh ăn gà xé phay uống với rượu nếp; mấy chị ăn bánh nậm tôm chấy và bánh bèo thịt heo luộc. Một anh bạn thắc mắc sao không uống bia hay rượu tây mà lại uống rượu nếp thì Thùy nêu ý kiến rằng, ngủ đò trên sông Hương thì ngon nhất là uống rượu nếp vì rượu nếp “đằm” và “ngấm dai”. Nếu uống bia mà phải ngồi xếp bàn trên đò thì bụng sẽ “nê” và mắc “đi ngoài” liên tục. Đò trăng, lại có thêm người đẹp mà phải đứng trên đò làm cái công việc ngủ uẩn trần ai thì còn chi là hồn thơ của Hương Giang dạ khúc nữa. Nếu uống rượu mạnh thì sương đêm và gió sông rất dễ làm cho khách chìm đắm và có khi ngủ quên trong hơi men, nhìn mọi vật lờ đờ sương khói, còn đâu cái cảm giác dìu dặt, ngây ngây để nằm ngửa nhìn trăng, nằm nghiêng nhớ… bến! Tiếp theo là món ăn tùy thích của mỗi người và cuối cùng là bún bò Huế. Cái ngon của “những nhà hàng nổi sông Hương” đến từ hình ảnh chập chờn của những ngọn đèn dầu leo lắt, những bếp lửa mong manh, những bàn tay buông chầm cầm chèo thoăn thoắt, những món ăn chuẩn bị cầu kỳ mà nhìn đơn giản, những chén dĩa nhỏ nhắn, đơn sơ và đặc biệt là những món ăn thơm mùi “tiệm”, nhưng cũng phảng phất mùi khói nhẹ nhàng trên đội xuồng rần rật đánh thức sông Hương.
Sau bữa ăn, có dấu hiệu bất thường nào đó đã gây nên một thoáng xôn xao trong đò. Hình như “triệu bất tường” phát xuất từ cặp vợ chồng người Nam. Cuối cùng hình như không còn đè nén được nữa, anh bạn người Nam bò sang phía tôi, ghé sát tai tôi thì thầm báo động: “Bả muốn tiểu tiện! Đây có chỗ nào đi không?”. Tôi ráng nín cười, kéo tay anh bạn ra phía đằng sau lái để hỏi người chủ đò về phương tiện vệ sinh. Người chủ đò lật đật đem ra một cái lon sữa Guigoz, nói một cách thật thà:
– Mời mấy “khách quan” ngồi trên đò đi trong lon “gô” ni cũng đặng.
Anh bạn lật đật tới đằng trước kéo bà xã ra đằng sau để giải tỏa bầu tâm sự. Tôi và người chủ đò tạm lánh mặt tận đằng sau lái để cặp vợ chồng tự do chèo chống với nhau, nhưng anh chồng lại băn khoăn tới báo hung tin:
– Cái lon “gô” nó “kỳ” quá, bả đi không được.
Người chủ đò bèn đổi chiến thuật:
– Thôi thì bồng bà lên trên mạn đò để đi xuống sông mau hơn.
Anh bạn lại làm theo lời chỉ bảo, nhưng được một lát lại vào báo cáo:
– Ngồi giữa lộ thiên nó, nó… trống trải quá hà, bả chịu hổng đi được.
Tôi đã đoán là sự cố coi bộ không êm xuôi vì cái cảnh “Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn, trơ cái hồng nhan với nước non” khó mà chịu nổi với một người phụ nữ mới lần đầu đi ngủ đò. Tôi ngoắc đại một chiếc xuồng đang chèo chầm chậm gần đó và thuê chở chị vợ anh bạn vào bờ mới có nhà vệ sinh. Xuồng cặp sát ngay mạn đò và tôi vào đề ngay không cần uốn lưỡi một lần nào cả:
– Mời chị lên ngay xuồng để vào bờ mới có nhà vệ sinh.
Khi chị bạn đã bước xuống chiếc xuồng nhỏ chòng chành, anh chồng và tôi định xuống theo nhưng o lái xuồng đã la ơi ới cản lại vì xuồng chở được tối đa là ba người. Cuối cùng tôi phải đi theo vì quen thuộc địa phương hơn. Xuồng vừa lướt êm vài chục thước, tôi bỗng nghe một tiếng rên nho nhỏ từ phía chị bạn miền Nam… và, tiếp theo là tiếng nước chảy róc rách từ trên tấm chỏng tre xuống lòng xuồng. Cô lái xuồng coi bộ hoảng hốt, nói với tôi bằng một giọng đặc sệt tiếng Huế vùng quê:
– Nì, eng nớ coi tề. Cấy chi kiêu rỏn rỏn ngụy hung. “Tòng” miền bị lủng răng hè? (Nè anh kia coi kìa. Cái gì kêu rỏng rỏng lạ lắm. Xuồng mình bị thủng sao kìa?)
Cũng may là chị bạn hoàn toàn không hiểu cô lái xuồng đang nói gì. Mặc cho cô lái xuồng phản đối líu lo, tôi làm bộ trượt tay rồi vươn tay ra khoát mạnh nước lên xuồng cho mọi người cùng ướt. Khi ba người đều bị ướt, nguyên nhân có thể hơi khác nhau nhưng hậu quả vẫn là ướt, nghĩa là huề cả làng. Xuồng cặp bờ, chị bạn nói rất nhỏ đủ tôi nghe:
– Thôi khỏi, cảm ơn anh, tôi “xong” rồi…!
o0o
Phố đò sông Hương trong những đêm mùa Hè, có trăng thường bắt đầu ngủ khoảng 3 giờ sáng. Trong những ngày nóng bức nhất của Huế, khí hậu lý tưởng trên sông Hương là vào lúc nửa đêm về sáng. Giờ đó có một ít sương loãng giác bạc bầu trời, pha với khói sóng và gió núi bâng quơ sẽ làm cho khách ngủ lộ thiên trên đò có được cái cảm giác của gió lụa về mơn man trên má, trên tóc, trên môi. Ngủ trên đò, khách chưa quen với sóng nước lúc đầu sẽ có một cảm giác ngây ngây, êm đềm như say nắng. Đò neo nột chỗ nhưng vẫn lắc lư dìu dặt và chòng chành nhẹ nhàng theo con sóng. Âm thanh nước vỗ vào mạn thuyền, vào chân cầu, vào bờ kia bến nọ lúc hối hả, lúc buông lơi như thì thầm gọi mời giấc ngủ. Vận tốc ảo do các đò lân cận chèo ngược, về xuôi thường làm cho khách ngủ đò mơ hồ không biết mình trôi, nước trôi, đò trôi, hay cả thế giới đang trôi bỏ mình ở lại. Giấc ngủ trên đò thường đến dễ, thoải mái với hơi thở nhẹ và sâu căng phồng buồng phổi. Nếu có một chút trăn trở, khách sẽ có dịp nằm nhìn trời cao và đen xanh thăm thẳm trên kia rồi vẽ ra những kỷ niệm, những khuôn mặt khi ẩn khi hiện với trăng sao lay lắt xa xăm và mờ nhạt. Nếu khách có chút máu văn nghệ vặt thì rất có thể thơ Hàn Mặc Tử sẽ hiện về hỏi thăm, “Thuyền ai đậu bến sông trăng đó, có chở trăng về kịp tối nay?”. Hoặc buồn hơn một chút nữa sẽ nhớ thơ Đường của Trương Kế “Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên. Giang phong ngư hỏa đối sầu miên… Qụa kêu trăng lặn sương đêm. Đèn chài gió sóng cho thêm nỗi sầu…”
Ngủ đò mà ngủ ngon là chưa đạt, vì ngủ ngon là đã gói trọn cả trái đất này trong tiếng ngáy pho pho, mặc cho gối thắm, má hồng, môi son, mắt sóng rơi vào… “hư vô”. Ngủ đò là sống từng phút từng giây, từng vi ti của cảm giác để một mai lỡ “thuyền có về Đại Lược, duyên có ngược Kim Long” thì vẫn còn một chút gì để nhớ và để…thèm về một khuôn mặt khó quên, một giòng sông lãng đãng và một xứ Huế trầm lặng nhưng lãng mạn và đa tình không nói hết.
Nằm trên đò, sẽ nghe một ngày tàn của Huế lịm dần với tiếng rao hàng xa xôi và mất hút của chè đậu xanh đậu ván, của bún bò, của phở. Rồi một ngày mới của Huế bắt đầu với tiếng chuông Thiên Mụ gióng lên lúc 5 giờ sáng. Huế trầm lặng qúa nên trong những ngày tốt trời tiếng chuông lan xa đến tận Văn Xá, Hương Cần, Chợ Nọ, Chợ Dinh. Một ngày mới của khách ngủ đò thường bắt đầu với ánh mặt trời “dòm mặt”. Khách sẽ mĩm cười với nắng, với Huế và với chính mình khi chải tóc trong gương: “Ngủ đò, một kỷ niệm khó quên mỗi lần nhớ Huế!”.
Một đêm ngủ đò được coi là “đạt” khi sáng hôm sau khách ngỡ ngàng với chính mình vì hình như đêm qua mình và giòng sông đã tan loãng hòa làm một; mình đã coi những giá trị bao năm gìn vàng giữ ngọc thành phù phiếm và bỗng thấy đò nước sông Hương có một mày vẻ, một linh hồn riêng của nó. Rồi tự nhiên cảm thương chính mình, thương giòng sông, thương cuộc đời và thương số phận long đong của khách giang hồ và người kỹ nử.
Buổi chia tay trên phi trường Phú Bài, anh bạn miền Nam phát biểu cảm tưởng:
– Chúng tôi thật may mắn vào giờ chót lại được đi ngủ đò. Chuyến nầy về thăm Huế mà không được đi ngủ đò thì chỉ mới biết Huế có một nửa. Từ nay tôi có thể lên lớp nói chuyện với học trò về cái thú ngủ đò trên sông Hương như nói chuyện dong thuyền ngâm thơ trên Hồ Tây, khỏi có băn khoăn hay ngại ngùng gì cả.
Tôi nheo mắt nói riêng nho nhỏ với anh bạn:
-Thùy hẹn anh sang năm về Huế đi “ngủ mặn” đó nghe.
Chị bạn vẫy tay từ biệt vẫn không quên nhắn lại:
-Cảnh Huế đã đẹp một cách thâm u mà người Huế lại quá thâm trầm. Cám ơn anh rất nhiều và sẽ nhớ mãi “Tuyệt Anh Hội” trên xuồng “cấp cứu”…
o0o
Năm 1973, một năm sau ngày “Đại Lộ Kinh Hoàng”, tôi theo học sinh hồi cư trở lại Quảng Trị. Để giúp tuổi trẻ lang thang bụi đời trên vùng đất hồi cư còn đau ê ẩm với vết thương của chiến tranh nầy, tôi được mời vào Huế nghiên cứu và học hỏi kinh nghiệm của các tổ chức tiền phong đang hoạt động ở đó trong giới gái giang hồ và trẻ em hè phố, bụi đời. Nhờ vậy mà tôi được cái “hân hạnh trời đày” là ngủ đò miễn phí, công khai, nhưng lại ngủ đò chay, không phải trên thuyền rồng say duyên, thuyền tình nghiêng ngửa mà trên thuyền “thái giám” lặng lờ của trung tâm xã hội Caritas trên sông Hương.
Tất cả ghe thuyền trên sông Hương có khoảng từ hai đến ba nghìn chiếc. Con số co giãn vì một số đò chợt đến chợt đi tùy mùa và tùy hoàn cảnh. Từng nhóm đò họp lại với nhau thành một khu vực nào đó gọi là Vạn Đò. Vạn An Hội, là vạn lớn nhất trong những năm 70, gồm các đò đậu hai bên bờ sông kéo dài từ cầu Gia Hội cho đến cầu Đông Ba và rải rác tới Cửa Trài. Những cô gái Sông Hương lạc loài hương phấn hầu hết nằm trong địa bàn của Vạn An Hội. Vạn Tân Bửu, Vạn Trường Độ, Vạn Lợi Thành kéo dài từ Bến Xe Buýt Chợ Đông Ba lên tới Cầu Mới và lẻ tẻ đó đây lên tới mạn dưới Kim Long. Các vạn đò trong vùng nầy chủ yếu là làm ăn bằng phương tiện đánh cá, vận tải hay mua bán đổi chác hơn là rước khách. Ngoài ra còn có một vạn đò rất cơ động và cũng đã đóng một vai trò rất sôi động trên sông Hương là Vạn Lanh Canh. Tên “Lanh Canh” xuất phát từ tiếng gõ lanh canh của các tròng đánh cá nhỏ lúc hành nghề. Nhưng sau nầy hầu hết đã chuyển nghề thành một mạng lưới phục vụ rất nhộn nhịp khắp nơi trên sông Hương.
Huế là vùng đất của suy tư và tình cảm, nhưng lại không có chỗ dung thân cho ngày trở về của những đứa con hoang.
Đọc Kiều, ai cũng cảm thương cho cuộc đời luân lạc, truân chuyên của một nàng Kiều tuyệt thế, tài hoa. Đến Huế, bao nhiêu người đã tiếc cho một giòng sông Hương hiền hòa mà phải cưu mang những đứa con bất hạnh.
Có một nhà thơ cổ vừa lãng mạn, vừa trào phúng của Huế mà tôi rất hâm mộ, đó là cụ Thảo Am Nguyễn Khoa Vi, nhưng nhiều người lại không thích hai câu thơ đối của cụ sáng tác đâu vào khoảng năm 1947 mà dân Huế nhiều người thuộc. Người ta không thích bởi nó quá tàn nhẫn và trần trụi, thiếu mất một một lớp khói sóng mong nanh của sông Hương và lớp lá me bay che tiếng thở dài không hợp với phong thái lãng mạn, nhẹ nhàng và trầm tư của Huế. Đó là hai câu:
Núi Ngự không cây chim đậu đất
Sông Hương vắng khách đĩ kêu trời.
Một sớm mùa Xuân trước khi Huyền Trân Công Chúa giã biệt sang Chiêm Quốc thì Huế vẫn là vùng Ô Châu Lạc Địa và giòng sông Hương vẫn là giòng sông trinh nguyên của chim bói cá dưới nước, chim sơn ca trên trời giữa hai bờ lau lách.
Rồi một ngày, Huế trở thành Hoàng Triều Cương Thổ thì chim chóc lưa thưa vì sợ người săn đuổi, lau sậy không còn đất mọc vì hai bên bờ sông Hương đã bắt đầu phân chia Kẻ Chài và Kẻ Chợ. Kẻ Chài là tiền thân của những vạn đò mà hơn 500 sau sẽ thành mạng lưới dân thủy diện trên sông Hương hôm nay.
Một thời, khách ngủ đò trên sông Hương là hàng tao nhân mặc khách. Những chàng tư mã áo xanh và những vương tôn công tử hào hoa trọng nghĩa khinh tài. Thuở đó, đò là phương tiện để chở nhạc và thơ, đầy tiếng ca, tiếng sáo, tiếng đàn, tiếng phách… chưa gợn một chút u tình.
Rồi một thời tan tác đổ. Chiến tranh, phân ly, nghèo đói đã đưa những kiếp người vào ngõ cụt: “Bán thân nuôi miệng, bán tiếng nuôi con”. Những đứa con xứ Huế lỡ một lần làm điếm nhục gia phong là kể như chung thân biệt xứ.
Nếu Huế có quyền chọn lựa những ước mơ thì ước mơ đầu tiên là đất nước sẽ giàu, những vùng quê thôi nghèo đói, những cô gái sông Hương có được một cuộc đời, nếu không được “êm đềm trướng rủ màn che” thì cũng đáng sống để trả sông Hương về lại dáng xưa với tiếng đàn, tiếng phách. Sông Hương khó mà chịu nỗi những tiếng cười vỡ vụn nhức buốt và những tiếng thở dài áo não đêm đêm trên những con đò!
o0o
Giòng sông Hương cũng như một đời người chia thành nhiều khúc. Khúc thượng nguồn là tuổi trẻ măng tơ và thanh thoát. Khúc Thiên Mụ Kim Long là tuổi thành niên đã bắt đầu thấp thoáng ưu tư. Khúc Đông Ba Gia Hội là tuổi trưởng thành để vật lộn, tranh sống với đời “mười hai bến nước, bến mô trong thì nhờ, bến mô dơ thì chịu”. Từ đó, sông Hương sẽ rẽ về hai ngã: Ngã Đò Cồn, Vỹ Dạ mang dáng dấp trầm tư của con nhà quan về vườn qui ẩn. Ngã Bao Vinh, Ba Sình giống như tuổi sắp già chán cảnh bon chen, nhưng vẫn còn duyên nợ với cuộc đời, ít ra là cũng “phù thế giáo một vài câu thanh nghị”. Và cuối cuộc đời, rồi cũng như tất cả những nhánh sông Hương đều trôi về biển.
Ngủ đò trên sông Hương là đang nằm trên giòng đời trôi chảy. Ngủ chay là tĩnh, ngủ mặn là động; động tĩnh cũng chỉ là hai mặt của một trự tiền. Nằm ngủ đò trên sông Hương có những lúc không biết đò trôi theo nước hay nước trôi theo đò. Trôi đi cũng có nghĩa là chảy về. Về đâu? Về lại chính mình. Khi tâm mình không động thì ngủ chay hay ngủ mặn, đò trôi hay nước trôi có nghĩa gì vì ta vẫn nằm đó. Nằm im nghe sóng hay nghiêng ngửa với thuyền tình thì vẫn là ngủ đò trên sông Hương. Khách viếng Huế vẫn thường có một tâm trạng chung là viếng Cố Đô, nghĩa là chân bước đi dưới những hàng phượng đỏ và nằm trên sóng nước sông Hương đang trôi chảy về xuôi mà hồn vẫn cứ rưng rưng với dĩ vãng. Khách cứ nhìn Huế như một thiên đường đã mất nên ngủ đò như một kẻ lạc hồn, ít khi tỉnh thức để “chộ mình đang ở bến mô”. Ngủ đò như thế là có nợ mà không có duyên với Huế.
Có một người làm thơ tại Sacramento với những vần thơ lục bát mượt mà, cổ kính và đẹp kiêu xa như tên gọi một giai nhân thời dựng nước: Thục Nữ Văn Lang. Tôi đang loay hoay tìm câu kết luận cho bài nầy thì Thục Nữ Văn Lang vừa tặng bài thơ Khúc Sầu Thiên Cổ. Bài thơ mang âm hưởng buồn cổ độ của điệu hát Nam Ai, Nam Bình. Tiếng thơ nghe ra cũng là “có nợ” với cố đô rồi đó, nhưng chưa biết sẽ có duyên hay không:
Tình sầu vọng gởi cố đô
Sông soi cổ tháp- Thuyền lờ lững trôi.
Chiều tàn, mộ khúc à-ơi!
Não lòng lăng tẩm bên đồi nhớ vua.
Bốn ngàn năm của hồn xưa
Hương cau- Đền cũ- Lưa thưa nắng thề.
Ô Châu hề! Thuận Hoá hề!
Hoàng triều Nguyễn Thị đã về bến mô?
Ngàn đời còn đó Nam Ô
Khúc sầu thiên cổ: Điệu hò Nam Ai.
Một đêm trăng nào đó với một con đò nhỏ trên sông Hương, trước khi ngủ đò, tôi sẽ đọc lại bài thơ nầy để Huế nghe thử có duyên tới mô, Huế hỉ! Nhưng có lẽ trước khi gởi thơ cho nước, tôi sẽ xin phép tác giả sửa lại một từ trong câu gần cuối của bài thơ:
Ngàn đời còn đó con đò
Khúc sầu thiên cổ: Điệu hò Nam Ai.
Xin được thay “Nam Ô” bằng “con đò” vì Nam Ô xa quá, cách Huế cả một cái đèo Hải Vân trùng trùng mây bay sương phủ. Lại nữa, đò Nam Ô là đò nước mặn “ngủ đò nước mặn sợ hà ăn… chân”. Có ngủ đò nước ngọt sông Hương mới biết thương sông Hương. Và, thương những gót son, môi thắm, má hồng… của Huế đang cố dấu niềm u ẩn tàn phai sau nụ cười vỡ vụn và ánh mắt phong ba vì sông nước Hương Giang cứ trôi chảy hoài ra biển, quê hương thì biền biệt, răng lại quên mất nơi mô là chốn cũ quay về.
Trần Kiêm Đoàn
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Ngủ Đò – tác giả Trần Kim Đoàn
Mãi cám ơn em – Thơ TPK
MÃI CÁM ƠN EM
Bao năm trường lận đận
Theo bước chân anh đi
Em chung vai cực khổ
Không than vãn điều gì
Mặc gió gào sóng vổ
Mặc bảo tố nguy nan
Em tiếp thêm động lực
Để thuyền anh vững vàng
Những tháng ngày tị nạn
Mình chịu nhiều đắng cay
Đi xin lòng từ ái
Trong trại cấm lưu đày
Rồi tự do cũng đến
Được vào đất Hoa Kỳ
Bao khó khăn ập tới
Em nước mắt lâm ly
Nhờ ơn trên gia hộ
Nhờ góp sức của em
Mình có đời an lạc
Mãi mãi cảm ơn em
Bây giờ trên tám bó
Vẫn được em chăm lo
Từng miếng ăn giấc ngủ
Đây ơn phúc trời cho.
TPK
Ngày Phụ Nữ 2024
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Mãi cám ơn em – Thơ TPK
Chia buồn của K1 Bắc Cali
K1 Bắc Cali chia buồn cùng
gia đình K1 Nguyễn Văn Hoàng

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Chia buồn của K1 Bắc Cali
Báo Thế Giới Tự Do 1967 viết về “Nữ Cảnh Sát Quốc Gia” – Trích từ FB Cựu Sinh Viên HV CSQG
Báo Thế Giới Tự Do 1967 Tập XVI Số 2
Viết về Nữ Sĩ Quan Cảnh Sát Quốc Gia.





Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Báo Thế Giới Tự Do 1967 viết về “Nữ Cảnh Sát Quốc Gia” – Trích từ FB Cựu Sinh Viên HV CSQG
Điệp viên siêu hạng của VNCH – share từ FB Cựu sinh viên Học Viện CSQG
Điệp Viên Siêu Hạng Của VNCH

Điệp viên siêu hạng của VNCH, Võ Văn Ba không thua kém gì Phạm Xuân Ẩn thậm chí tài giỏi hơn nếu nói về gian khổ trong hoạt động.
Nếu Chú ấy còn sống và vinh danh sẽ được lon gì trong quân đội?
Võ Văn Ba sinh năm 1923 tại tỉnh Long An, Nam Kỳ, Liên bang Đông Dương, thời Việt Nam Cộng hòa thuộc tỉnh Kiến Tường.
Ban đầu, Võ Văn Ba gia nhập đội du kích địa phương ở Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (VC). Theo tài liệu phía Việt Nam, qua một thời gian, Võ Văn Ba trốn khỏi địa phương lên làm ăn ở chợ Long Hoa (Tây Ninh). Qua một quá trình điều tra, tháng 2 năm 1960, Võ Văn Ba được Trưởng chi Cảnh sát Quốc gia quận Phú Khương Nguyễn Văn Yên tuyển mộ. Tháng 12 năm 1962, Võ Văn Ba cộng tác trực tiếp với Nguyễn Văn Phước (Năm Giáng) thuộc Ty Cảnh sát Tây Ninh, và đến tháng 4 năm 1963, nhờ hoạt động hiệu quả nên được CIA tuyển mộ, gia nhập Cục Cảnh sát Đặc biệt phụ trách, giúp đỡ để nằm vùng trong lực lượng MTDTGPMNVN tỉnh Tây Ninh. Giữa năm 1963, chỉ sau ba tháng “xin trở lại phục vụ Cách mạng”, Võ Văn Ba được trở lại sinh hoạt Đảng trong Đảng bộ Tây Ninh.
Cuối năm 1965, Võ Văn Ba trở thành Bí thư Chi bộ. Cuối năm 1968, được bầu làm Huyện ủy viên dự khuyết Huyện ủy Hòa Thành. Năm 1970, Huyện ủy viên Huyện ủy Hòa Thành. Nguồn tin phương Tây còn cho biết khoảng trước 1975, Võ Văn Ba giữ chức Bí thư Huyện ủy Phú Khương (Tây Ninh), chịu trách nhiệm tuyển mộ thành viên của đạo Cao Đài. Dù chỉ nằm vùng trong cấp huyện, nhưng do Tây Ninh là nơi Trung ương Cục miền Nam đóng giữ, nên Võ Văn Ba có thể tìm hiểu được nhiều thông tin quan trọng thông qua nhiều con đường khác nhau, không chỉ qua các văn bản gửi từ trên xuống. Trong khoảng thời gian này, Võ Văn Ba làm gián điệp cho cả CIA và Việt Nam Cộng hòa, cung cấp thông tin thông qua thư từ. Từ những thông tin do Võ Văn Ba cung cấp, quân đội Mỹ và Việt Nam Cộng hòa đã mở nhiều cuộc tấn công vào địa bàn của MTDTGPMNVN ở Tây Ninh, gây ra những thiệt hại đáng kể. Tình báo quan trọng nhất được cung cấp là dự thảo kế hoạch phục vụ cho việc đàm phán và ký kết Hiệp định Paris (1973).
Trước năm 1975, phía MTDTGPMNVN từng có sự nghi ngờ về việc tồn tại gián điệp trong nội bộ, Võ Văn Ba đã tận dụng việc bản thân trùng tên với hai người thuộc Thường vụ Tỉnh ủy Tây Ninh để tạo bằng chứng giả khiến hai người đó bị bắt oan. Ngày 12 tháng 3 năm 1975, trong Chiến dịch Tây Nguyên, Chỉ huy CIA ở Cao nguyên Trung phần Jame Lewis cùng đặc vụ Nguyễn Sĩ Phong (hay Nguyễn Văn Phong, một số nguồn ghi là Phương bị bắt giữ, sự tồn tại của X92 bị phát hiện. Dưới sự chỉ đạo của Thứ trưởng Bộ Công an Viễn Chi, ngày 30 tháng 4, Thiếu tá Phan Tấn Ngưu (Trưởng F đặc biệt Cao nguyên Trung phần) và Nguyễn Tấn Danh, người trực tiếp phụ trách X92 ở Tây Ninh, bị bắt. Từ hồ sơ và lời khai, Võ Văn Ba bị xác định danh tính và bị lực lượng điều tra dưới quyền Cục trưởng Cục Chấp pháp Cao Phòng bắt giữ.
Võ Văn Ba bị giam giữ ở Tổng nha Cảnh sát Việt Nam Cộng hòa cũ và được dự định bàn giao cho An ninh Trung ương Cục miền Nam xét xử. Ngày 8 tháng 6, Võ Văn Ba rút dây quần tự tử trong tù.
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Điệp viên siêu hạng của VNCH – share từ FB Cựu sinh viên Học Viện CSQG
Đón Xuân Nầy Nhớ Xuân Xưa . Hoàng Tuấn sưu tầm
Mậu Thân tại Quận Nhì Saigon
Trần Minh Công
Nguyên Trưởng Ty CSQG-Quận Nhì
January 3, 2012

Có lẽ không ai trong chúng ta quên được những bất ngờ đầy kinh hoàng của Tết Mậu Thân 40 năm về trước.
Bất ngờ vì ít ai nghĩ rằng Cộng Sản Miền Bắc dám ngang nhiên vi phạm lệnh hưu chiến mà chính chúng đã ký kết. Kinh hoàng vì người CS không ngần ngại bắn thẳng vào dân lành vô tội và phóng hỏa thiêu rụi cả một khu phố, gây cảnh màn trời chiếu đất cho biết bao nhiêu người.
Mậu Thân là một bằng chứng cho thấy rằng người Cộng Sản Việt Nam trước sau chỉ có một mục tiêu: đạt cho được quyền lực và thắng lợi bằng bất cứ giá nào, bất kể sinh mạng và tài sản dân chúng. Tha hương đã gần 40 năm qua mà hình ảnh Tết Mậu Thân tại Quận Nhì Saigon đối với tôi như vừa mới xẩy ra hôm qua. Người ta có thể dễ dàng quên đi nhiều chuyện nhỏ trong đời nhưng những thảm cảnh lớn thì khó ai quên được.
Trong năm Mậu Thân 1968, Quận Nhì đã bị Ðặc công Việt Cộng xâm nhập và đánh phá tại bốn địa điểm trong hai đợt Mậu Thân 1 và 2. Trong đợt 1, VC đánh Dinh Ðộc Lập. Trong đợt 2, VC đánh vào các khu đông dân cư như Chợ Cầu Muối, Cầu Rạch Bần, đường Ðề Thám.
Ðể độc giả hiểu rõ các trận đánh trước hết xin được nhắc lại vài chi tiết về Quận Nhì. Ðô Thành Saigon vào năm Mậu Thân (1968) có 8 quận Hành Chánh và Cảnh Sát, trong đó Quận Nhì được coi là trung tâm Saigon. Quận Nhì có những đại lộ lớn như Lê Lợi, Hàm Nghi, Trần Hưng Ðạo, một phần Công Lý, Hồng Thập Tự và nhiều đường buôn bán sầm uất khác như Gia Long, Lê Thánh Tôn, Lê Lai, bến Bạch Ðằng, đường Chương Dương. Quận Nhì cũng là nơi tập trung những cơ sở quan trọng như Dinh Ðộc Lập, Thượng Nghị Viện, chợ Bến Thành, công viên Quách Thị Trang, công viên Tao Ðàn, ngã sáu Lê Văn Duyệt-Gia Long-Võ Tánh-Ngô Tùng Châu, thương xá Tam Ða, bến xe Nguyễn Cư Trinh, v.v…
Bên cạnh những đường được coi là khang trang kể trên, Quận Nhì còn có những khu nhà cửa chen chúc phức tạp như khu Cầu Kho, chợ Cầu Muối, khu Ðề Thám-Bùi Viện hoặc khu Chương Dương dọc bờ sông Cầu Ông Lãnh… Việc kiểm soát an ninh cũng như phòng hỏa tại các khu này rất khó khăn. Tôi phải dài dòng kể như vậy để bạn đọc thấy được tại sao trong cả 2 đợt tấn công Mậu Thân, Việt Cộng lại cố tạo ra vài trận đánh có tính cách phô diễn trong phạm vi Quận Nhì.
Trong đợt đầu, vào những ngày Tết, VC muốn gây tiếng vang trong dư luận, đặc biệt là trong dư luận Hoa Kỳ nơi phong trào phản chiến đang lan rộng. Việt Cộng muốn cho mọi người thấy rằng ngay cả Dinh Ðộc Lập là biểu tượng quyền lực của miền Nam cũng có thể bị chúng uy hiếp. Chính vì vậy mà ngay trong đợt tấn công đầu hai mục tiêu quan trọng nhất của chúng là Dinh Ðộc Lập và Tòa Ðại Sứ Hoa Kỳ.
Không như đợt đầu vào dịp Tết Mậu Thân, đợt hai (được khai diễn vào ngày 5 tháng 5-1968) VC lại tập trung nỗ lực vào các khu lao động đông dân chúng. Ý đồ của chúng là tuyên truyền và khích động dân chúng nổi dậy trong kế hoạch “tổng công kích, tổng khởi nghĩa”.
Mặc dù trong cả 2 đợt tấn công, VC không thành công, nhưng chúng đã khai triển được yếu tố bất ngờ và tạo được dư luận quốc tế có lợi cho mặt tuyên truyền của chúng. Chúng ta bị bất ngờ nhưng cũng phải nói thêm là vì chúng ta khinh địch. Dân chúng và cả các lực lượng hành chánh lẫn quân sự ít ai tin rằng VC dám ngang nhiên vi phạm lệnh hưu chiến trong 3 ngày Tết mà chúng đã công khai cam kết. Rất nhiều đơn vị quân sự đã cho phép số lớn quân nhân về ăn Tết với gia đình. Việc phòng thủ do đó bị lơi là ít nhiều, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tấn công của VC.
Riêng Lực Lượng CSQG lúc bấy giờ được Chuẩn Tướng Nguyễn Ngọc Loan (sau này là Thiếu Tướng) ra lệnh cắm trại 100% để đề phòng mọi bất trắc. Những tin tức tình báo mà Cảnh Sát Quốc Gia ghi nhận được đều được Tướng Loan chuyển cho các đơn vị bạn. Nhưng có lẽ các nơi nhận không tin là VC có khả năng tấn công vào các cơ quan đầu não của VNCH ngay tại các đô thị trong thời gian hưu chiến. Vì vậy, hậu quả “bất ngờ” đã xẩy ra như chúng ta thấy.
Trận Dinh Ðộc Lập
Tại Ðô Thành Saigon, ngay sáng sớm ngày mùng một Tết, VC đồng loạt tấn công dinh Ðộc Lập và Tòa Ðại Sứ Hoa Kỳ. Cả 2 đều nằm trên đường Thống Nhất. Dinh Ðộc Lập trong phạm vi Quận Nhì và Tòa Ðại Sứ Hoa Kỳ cách đó không xa, nằm trong Quận Nhất.
Theo chỉ thị của Tướng Loan, tôi ra lệnh cắm trại 100% và chỉ thị các Chi Cảnh Sát trực thuộc phải đề phòng và gia tăng tuần tiễu trong khu vực trách nhiệm. Ðiều ít ai ngờ tới là mục tiêu hàng đầu của VC trong đợt một lại là Dinh Ðộc Lập. Vào dịp này, Lữ Ðoàn Liên Binh phòng vệ Phủ Tổng Thống cũng như nhiều đơn vị quân đội khác đã cho phần lớn binh sĩ được nghỉ phép về ăn Tết với gia đình. Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cũng về quê vợ tại Mỹ Tho ăn Tết. Khi VC tấn công chỉ còn Phó Tổng Thống Nguyễn Cao Kỳ và Thủ Tướng Nguyễn Văn Lộc có mặt tại Saigon.
Sáng sớm mùng một Tết, tiếng súng khai hỏa của VC được phát đi cùng lúc với tiếng pháo giao thừa khiến nhiều nơi không phát hiện được là VC đang tấn công Saigon. Giao thừa vừa qua chừng 45 phút thì tôi được Trưởng Chi Cảnh Sát Tao Ðàn báo cáo trên máy là nhân viên ghi nhận có một số người mặc áo lính, quần cụt, chạy lăng xăng trên đường Nguyễn Du dọc theo bờ tường phía Nam Dinh Ðộc Lập.
Vừa nhận báo cáo xong thì tôi nghe tiếng súng lớn nhỏ thi nhau nổ. VC khởi đầu tấn công vào cổng gác Nguyễn Du của Dinh Ðộc Lập bằng B-40 và hàng loạt AK-47. Cổng này nằm trên đường Nguyễn Du ngay góc đường Thủ Khoa Huân. Xe tuần tiễu Chi Tao Ðàn dồn dập báo cáo. Tôi không còn nghi ngờ gì nữa: VC đã xé rào vi phạm lệnh hưu chiến, đúng như Tướng Loan đã dự đoán. Tôi chụp máy truyền tin báo cáo cho Trung Tá Nguyễn Văn Luận, Giám Ðốc Cảnh Sát Ðô Thành, và gọi thẳng cho Chuẩn Tướng Loan như ông đã căn dặn.
Trong khi toán Ðặc công VC đang dùng B-40 tính bắn sập vọng gác cổng Nguyễn Du để vượt vào bên trong đặt chất nổ giật sập dinh Ðộc Lập thì toán tuần tiễu Chi Tao Ðàn nhào tới bắn trả. Tôi gọi cho Trung Úy Huỳnh Kim Long, Trưởng Chi Lê Văn Ken trước chợ Bến Thành, đưa quân nhân viên lên tiếp cứu. Toán Ðặc Nhiệm của Quận Nhì cùng tôi nhảy lên xe phóng tới dinh Ðộc Lập.
Bọn Ðặc công VC bị tấn công mạnh cùng lúc từ ba phía, binh sĩ Phòng Vệ tại cổng Nguyễn Du bắn trả, Toán Tuần tiễu Cảnh Sát Chi Tao Ðàn bắn ngang hông từ phía đầu đường Nguyễn Du. Toán tiếp ứng từ Chi Lê Văn Ken và Toán Ðặc Nhiệm của tôi bắn tới từ phía đường Thủ Khoa Huân, giải tỏa áp lực cho cổng Nguyễn Du. Vì bị Cảnh Sát Quận Nhì tấn công bất ngờ từ ngang hông và sau lưng, bọn Ðặc công VC phải lùi lại. Một số VC chạy thoát thân về hướng nhà thờ Ðức Bà tiếp tay với toán Ðặc công đang tấn công Tòa Ðại Sứ Hoa Kỳ. Số còn lại gồm 7 tên chạy dạt vào một cao ốc phía đường Thủ Khoa Huân phía trước cổng Nguyễn Du.
Lực lượng Cảnh Sát Quận Nhì tiếp tục bắn rượt theo đẩy chúng vào hẳn bên trong cao ốc. Ðây là một cao ốc 5 tầng bỏ trống đang xây cất dở trên đường Thủ Khoa Huân. Cao ốc này chỉ cách bờ tường phía Nam Dinh Ðộc Lập chừng 200 thước và cách chợ Bến Thành không quá 800 trăm thước.
Cổng Nguyễn Du được giải tỏa. Bọn Ðặc công VC đã hoàn toàn bị cô lập, không đường thoát thân. Bây giờ chỉ còn anh em Cảnh Sát Quận Nhì bao vây kềm giữ bọn VC trong cao ốc. Tiếng súng trao đổi giữa ta và địch. Màn đêm tiếp tục trong căng thẳng cho cả đôi bên.
Trời vừa hừng sáng, tôi cho lệnh tấn công vào cao ốc. VC bắn trả dữ dội. Cảnh Sát Quận Nhì dùng M-79 và tiểu liên tấn công vào tầng dưới, dồn bọn Ðặc công lên lầu trên. Cảnh Sát từ lầu dưới xông lên, VC từ trên thẩy lựu đạn xuống. Một bên cố thủ, một bên cố vượt lên. Súng và lựu đạn thi nhau nổ. Hai đợt xung phong lên đã làm ba Cảnh Sát Viên bị thương.
Tôi ra lệnh cho nhân viên tạm thời rút ra khỏi tầng dưới để tránh bị sát hại vì lựu đạn từ trên ném xuống. Tôi vào máy báo cáo cho Tướng Loan biết là Dinh Ðộc Lập đã được an toàn trở lại, chỉ còn bán Tiểu đội Ðặc công VC đang bị bao vây và cố thủ tại cao ốc Thủ Khoa Huân.
Tướng Loan cho biết trong đêm giao thừa này VC đồng loạt mở nhiều cuộc tấn công trên toàn quốc. Riêng tại Saigon và các vùng phụ cận: Ngoài Quận Nhì, VC cũng đang tấn công Tòa Ðại Sứ Hoa Kỳ tại Quận Nhất và rải rác tại vài quận khác trong Ðô Thành, tại Bộ Tổng Tham Mưu, Bộ Tư Lệnh Hải Quân, Sân bay Tân Sơn Nhất, Ðài Phát Thanh Quốc Gia, Căn cứ Quân Cụ và Kho Ðạn tại Gò Vấp, khu Hàng Xanh-Thị Nghè, khu Phú Thọ Hòa, khu Bà Quẹo…
Tại cao ốc Thủ Khoa Huân, tình trạng giao tranh ghìm nhau kéo dài tới 9 giờ sáng. Ðược tôi thông báo tình hình, Tướng Loan cùng hai Sĩ quan Tùy viên của ông là Thiếu Tá Nguyễn Thừa Dzu (BÐQ) và Thiếu Tá Nguyễn Mộng Hùng (ND) từ Tổng Nha CSQG đến thị sát.
Ông chỉ thị tái tấn công lên cao ốc. Ta lại bắn lên, địch bắn xuống. Bọn Ðặc công được thành tường rất dầy và kiên cố của cao ốc che chở. Tôi cùng một số anh em Cảnh Sát băng qua đường Thủ Khoa Huân để tiến vào cao ốc nhưng bị VC từ trên lầu 4 bắn xuống xối xả, phải khựng lại, núp bên hông một chiếc xe Peugeot loại vận tải nhỏ do VC để lại giữa đường Nguyễn Du khi chúng bị tấn công phải chạy dạt vào cao ốc. Thiếu Tá Nguyễn Mộng Hùng (sau này là Trung Tá) chạy tiếp theo tôi đến bên hông xe. Khi tiếng súng VC tạm ngưng, chúng tôi nhóm lên nhìn vào trong xe và cả hai đều giật mình. Trong lòng chiếc xe mui trần có khá nhiều lựu đạn và trên trăm bánh thuốc nổ đã gắn sẵn ngòi nổ. Có lẽ bọn VC định dùng số thuốc nổ này giật sập dinh Ðộc Lập khi chúng vào được bên trong.
Tôi và Thiếu Tá Hùng phóng tới cao ốc. Trên lầu bọn VC bắn xuống tới tấp. Vì không thể tiến lên bằng cầu thang, tôi cho một toán Cảnh Sát bắc thang lên cao bên thành tường cao ốc, tính nhảy vào cửa sổ lầu 4 rồi từ trên đánh xuống đầu địch. Thang vừa dựng lên ngang lầu 3 đã bị VC bắn gẫy. Hai Cảnh Sát Viên bị thương rơi xuống, Thiếu Tá Dzu (sau là Trung Tá) cùng leo lên với Cảnh Sát may mắn thoát nạn.
Việc thanh toán bán Tiểu đội Ðặc công này chỉ kết thúc vào chiều ngày mùng 2 Tết. Sau khi đã di tản đồng bào xa cao ốc, Cảnh Sát bắn lựu đạn cay lên lầu 4, cùng lúc xung phong lên cận chiến. Kết quả, Cảnh Sát một người chết và 4 bị thương. Phía Ðặc công VC: 4 chết và 3 bị bắt sống. Ngoài chuyện cao ốc bị hư hại nặng, nhà cửa dân chúng chung quanh cao ốc chỉ hư hao nhẹ.
Phó Tổng Thống Nguyễn Cao Kỳ rất bực bội về vụ VC vi phạm thỏa ước hưu chiến và tấn công dinh Ðộc Lập. Qua Chuẩn Tướng Nguyễn Ngọc Loan, ông ra lệnh cho tôi lập pháp trường cát tại bùng binh chợ Bến Thành Saigon để xử tử 3 tên Ðặc công vừa bị bắt trước báo chí trong và ngoài nước, có lẽ để thị uy và làm gương. Lệnh này trái với quy chế tù binh nên đã không được tôi thi hành. Tướng Loan vì thương tôi nên bỏ qua nhưng sau này ông cho biết PTT Kỳ rất khó chịu vì sự bất tuân “lệnh xử tử” của tôi. Ðây là một trong những cái khổ của những người Cảnh Sát chuyên nghiệp phải thi hành luật pháp. Không theo lệnh trên sẽ gặp rắc rối, nhưng bất chấp luật pháp mà nhắm mắt thi hành lệnh trên thì chính mình có thể gặp rắc rối.
Bây giờ 40 năm sau, tôi tự hỏi nếu phải thi hành lệnh đó hôm nay, tôi sẽ có hành xử như ngày xưa không, khi mà nhiều chiến hữu của mình đã bị CSVN ngược đãi, đầy ải và trả thù dã man bằng nhiều năm trong các trại cải tạo sau 1975. Dù sao quyết định của tôi trong trận Mậu Thân cũng chứng tỏ được một điều là người Cảnh Sát Quốc Gia Miền Nam tôn trọng và hành xử theo luật pháp, khác hẳn với thói quen sử dụng “luật rừng” và theo lệnh đảng của mấy ông công an miền Bắc. Về mặt chuyên môn và trong tư cách con người, chúng ta xứng đáng hơn và trên chân các “đồng nghiệp” miền Bắc. Soi gương trước lịch sử dân tộc, tôi nghĩ rằng chúng ta có quyền hãnh diện về điều này.
Mậu Thân, đợt 2
Sau khi thất bại qua đợt tấn công đầu vào dịp Tết, VC vẫn không từ bỏ kế hoạch “tổng công kích, tổng nổi dậy” của chúng. VC nghĩ rằng một đợt tấn công thứ hai sẽ có thể lôi kéo dân chúng miền Nam nổi dậy. Họ đã đánh giá sai dân tình miền Nam. Họ vẫn không hiểu được rằng dân miền Nam được sống trong một xã hội tuy chưa hoàn hảo nhưng tương đối tự do và chưa bao giờ thực sự tin theo VC.
Ðợt tấn công Mậu Thân 2, khởi đầu từ ngày 5 tháng 5, 1968. Trong đợt này VC tập trung nỗ lực vào những khu đông dân cư, lựa chọn những địa thế khó xoay trở cho ta. Tại Quận Nhì, chúng đồng loạt xâm nhập và bắn phá tại các khu chợ Cầu Muối, Cầu Kho, khu Ðề Thám-Bùi Viện, là những khu nghèo đông dân cư, nhà cửa chen chúc và đường hẻm chằng chịt khiến cho việc lưu thông hằng ngày và công tác cứu hỏa rất giới hạn và khó khăn.
-Trận Chợ Cầu Muối
Trận đầu tiên trong Ðợt 2 xẩy ra tại khu chợ Cầu Muối là nơi dân chúng bình dân buôn bán cả ngày lẫn đêm. Ðây là trung tâm phân phối rau và trái cây lớn nhất tại Saigon. Các vựa trái cây, sạp hàng và nhà cửa san sát lẫn lộn nhau, đường phố chật hẹp tạo một môi trường lý tưởng cho các vụ náo loạn thường xuyên xảy ra. Trong tình trạng bình thường, Quận Nhì cũng đã tốn nhiều nhân viên Cảnh Sát để kiểm soát và duy trì an ninh trật tự tại đây.
Khai thác điểm thuận lợi này cho ý đồ của chúng, ngày 5-5-1968 VC đã xâm nhập một Tiểu đội Ðặc công vào khu này, gần các đường Cô Giang-Cô Bắc. Khoảng 2 giờ sáng, bọn Ðặc công VC xuất hiện rải truyền đơn và tuyên truyền sách động đồng bào. Toán tuần tiễu được báo động chạy tới bị VC xả súng bắn. Nhân viên bắn trả. Phu khuân vác đêm và bạn hàng các vựa cây hoảng hốt chạy tứ phía. Khi trời hừng sáng nhiều gia đình đã lũ lượt bồng bế nhau chạy khỏi khu VC xâm nhập.
Ðược đồng bào chỉ điểm cho biết nơi ẩn nấp của Ðặc công VC, Cảnh Sát Quận Nhì cho loa phóng thanh kêu gọi đồng bào di chuyển khỏi vùng giao tranh. Tôi chỉ thị Thiếu Tá Võ Văn Ðức, Trưởng Phòng Cảnh Sát Ðặc Biệt Q.2 điều động một toán nhân viên tấn công vào mục tiêu lúc 9 giờ sáng ngày 6-5-1968. Khi gần tới mục tiêu trên đường Cô Giang ngang khu chợ Cầu Muối, VC bắn xối xả vào xe của Thiếu Tá Ðức và toán Cảnh Sát do ông điều động. Việc tấn công của Cảnh Sát trở nên khó khăn khi dân chúng nhào ra chạy loạn. Tôi chỉ thị anh em tìm cách cùng lúc đánh bọc sau lưng. Nhưng diều này cũng không dễ vì ngõ hẻm chằng chịt trong khu này tạo cơ hội che giấu tốt cho VC và khó khăn cho việc truy lùng và tiêu diệt của ta.
Tình trạng ghìm nhau kéo dài suốt buổi sáng ngày mùng 6. Cảnh Sát cố tiến vô trong khi VC tiếp tục bắn cầm chân, gây hoang mang lo sợ trong dân chúng. Ðiều làm tôi phải suy nghĩ nhiều là nếu hỏa hoạn do súng đạn giao tranh giữa hai bên gây ra hoặc do chính VC phóng hỏa để tạo thêm hỗn loạn thì việc cứu hỏa không dễ gì điều động. Ðó là chưa kể VC sẽ không ngần ngại xả súng vào các nhân viên cứu hỏa để duy trì tình trạng náo loạn và kinh hoàng này. VC cũng thừa hiểu rằng vì sợ sinh mạng và tài sản của dân chúng bị hư hại nên nhân viên Cảnh Sát sẽ không dám mạnh tay tấn công vào những nơi chúng đang trú ẩn.
Quả thật, VC đã nắm được chỗ yếu của ta. Ðó là lý do tại sao Cảnh Sát không thể nhanh chóng thanh toán bọn Ðặc công trong khi chúng chỉ có trên dưới một Tiểu đội. Tác chiến trong thành phố không phải là một điều đơn giản khi mà kẻ địch xen lẫn trong dân chúng và, trong nhiều trường hợp, cầm giữ dân chúng làm con tin hoặc bia đỡ đạn cho chúng. Trận Cầu Muối vì vậy phải kéo dài sang tới ngày thứ hai. Trong ngày này, Thiếu Tá Ðức đã bị thương và 2 Cảnh Sát Viên tử thương khi tìm cách tiến gần vào mục tiêu, nơi Ðặc công VC đang rải truyền đơn kêu gọi dân chúng xuống đường.
Trong khi đó thì hai mặt trận khác cũng nổ ra trong Quận Nhì. Vì Quận Nhì nằm ngay trung tâm của Saigon nên báo chí và các đài phát thanh thường xuyên bám sát Cảnh Sát trong các trận đánh. Những lời tường thuật của họ đôi khi quá sôi nổi, gây thêm hoang mang và lo sợ trong dân chúng.
– Trận Cầu Rạch Bần
Song song với mặt trận thứ nhất tại khu Chợ Cầu Muối, mặt trận thứ nhì xảy ra tại vùng Cầu Kho dọc theo đường Chương Dương và sông Cầu Ông Lãnh. Ðậu dọc bờ sông này là hàng trăm chiếc ghe lớn bé chuyên chở rau trái và các nhu yếu phẩm từ lục tỉnh về Saigon và ngược lại. Họ thường chỉ đậu tạm trú tại bờ sông này trong ít ngày để xuống và nhận hàng, hầu hết không phải là dân cư trú thường xuyên nên việc kiểm soát rất khó khăn. VC đã lợi dụng điểm này để xâm nhập và chuyển vận vũ khí vào Ðô Thành.
Vào giữa tháng 6-1968, trong một cuộc hành quân Cảnh Sát hỗn hợp giữa Quận Nhì và Cảnh Sát Ty Hải Cảng, ta đã khám phá một ghe lớn chuyên chở nhiều ký chất nổ, hàng trăm trái lựu đạn và tiểu liên AK-47 và rất nhiều súng lục K-54 được cất giấu dưới nhiều lớp trái cây trong lòng ghe từ lục tỉnh về. Số thuốc nổ và vũ khí này nếu không được kịp thời phát hiện thì không biết sẽ còn bao nhiêu vụ nổ và bao nhiêu sinh mạng người dân Ðô Thành bị VC sát hại.
Tại mặt trận Cầu Kho. Ðêm mùng 6 tháng 5, một toán VC gồm 9 tên xâm nhập bằng đường ghe từ lục tỉnh về ẩn núp dưới gầm cầu Rạch Bần và xả súng tấn công vào Chi Cảnh Sát Cầu Ông Lãnh dọc theo bờ sông. Bị Trung Úy Trần Hậu điều động nhân viên chống trả dữ dội, bọn đặc công VC phải rút lui về núp dưới cầu Rạch Bần và xả súng bắn loạn xạ dọc theo bờ sông Cầu Ông Lãnh và đường Chương Dương.
Ðai Úy Oanh, một Sĩ quan gốc Thiết Giáp phục vụ tại Quận Nhì được tôi chỉ định đem một Trung Ðội Cảnh Sát đến giải tỏa cầu Rạch Bần. Trục tiến quân dọc theo đường Chương Dương bị VC từ mố cầu dùng B-40 và AK-47 trực chỉ bắn xối xả khiến Ðại Úy Oanh phải khựng lại. VC cứ tiếp tục bắn bừa bãi mà ta thì e dè vì sợ gây tổn thương cho dân chúng. Do đó, dù chỉ một đoạn đường không quá một cây số mà phải mất gần hết một buổi sáng mới tiến được tới gần mục tiêu. Sau cùng thì mục tiêu này cũng được thanh toán. Ta chiếm lại được cầu Rạch Bần với 4 nhân viên Cảnh Sát bị thương. Sáu Ðặc công, trong đó có 2 nữ cán binh VC, tử thương tại chỗ, 3 đầu hàng bị ta bắt giữ.
Trở lại mặt trận chợ Cầu Muối, VC tiếp tục cầm chân một số đồng bào và chống trả dữ dội. Trận chiến đã sang đến ngày thứ hai. Cảnh Sát Quận Nhì đã có hai nhân viên bị thương và hai tử thương, nhưng rất may nhà cửa trong khu này chưa bị cháy. Tôi nghe tiếng Tướng Loan la hét trong máy. Ông tỏ ra sốt ruột và liên tục hối thúc các Trưởng Ty Cảnh Sát trong Ðô Thành phải sớm thanh toán các mục tiêu.
Tiếng súng vẫn tiếp tục nổ tại nhiều nơi. Quận Tư vùng Khánh Hội, Quận 5 khu Trần Nhân Tôn, Quận 3 khu Chùa Bà Lớn gần đường Nguyễn Thiện Thuật, Quận Nhất khu Phan Ðình Phùng-Nguyễn Bỉnh Khiêm gần Ðài phát thanh, Gò Vấp Kho Quân Cụ, khu Phú Thọ Hòa vùng Gia Ðịnh đang đồng loạt bị VC tấn công. Vài nơi tại vùng Khánh Hội và Chợ Lớn đã bắt đầu bốc cháy.
Quận Nhì thì 3 mặt trận đang sôi động cùng một lúc. Không thể để cho trung tâm Ðô Thành tiếp tục rối loạn, Tướng Loan quyết định tăng phái cho tôi một Tiểu Ðoàn Biệt Ðộng Quân do Ðại Úy H. chỉ huy. Tôi bàn với Ð/Úy H. phương cách tiến quân chiếm lại vùng Cô Giang và chợ Cầu Muối. Ð/Úy H. muốn tấn công mạnh bạo và chớp nhoáng vào mục tiêu với súng nặng và lựu đạn. Ông cho biết không chấp nhận tiến quân kiểu từ từ để binh sĩ của ông bị bắn sẻ trong khi không nhìn thấy VC ẩn núp nơi đâu.
Tôi thông cảm nhiệm vụ và lối suy nghĩ của Ðại Úy H. khi phải đối đầu với địch quân ngoài trận địa nhưng không đồng ý với ông về phương thức tác chiến đó vì đây là trong thành phố, VC trộn lẫn với dân, nhà cửa san sát nằm giữa những con hẻm chằng chịt. Không thể dùng hỏa lực mạnh để áp đảo đối phương mà không gây thiệt hại tài sản và sinh mạng của dân chúng đang kẹt trong đó. Tôi cám ơn Ð/Úy H. và quyết định trả Tiểu Ðoàn BÐQ này lại cho Tướng Loan để ông sử dụng cho mặt trận Trần Nhân Tôn trong Chợ Lớn đang có đụng độ lớn.
Cảnh Sát Quận Nhì tiếp tục đánh theo kiểu Biệt Kích, từng toán nhỏ xâm nhập mục tiêu để tiêu diệt Ðặc công VC. Phải mất thêm một ngày nữa mới thanh toán được mục tiêu và vãn hồi an ninh vùng chợ Cầu Muối. Lại thêm 3 Cảnh Sát Viên nữa bị thương. Nhà cửa trong vùng tuy bị hư hại phần nào nhưng không bị hỏa hoạn. Riêng căn nhà lầu bị VC đóng chốt thì hư hại gần như hoàn toàn.
– Trận đường Ðề Thám
Mặt trận thứ 3 trong đợt Mậu Thân 2 tại Quận Nhì phát nổ tại một hẻm dài ăn thông ra đường Ðề Thám. Ðây cũng là một khu lao động dân chúng sống chen chúc trong nhiều ngõ ngách đường hẻm quanh co. Tại đây, 4 tên Ðặc công VC chiếm giữ một căn nhà nhỏ nằm ngay đầu hẻm mà lối đi vào duy nhất là đường Ðề Thám. Ðường hẻm rộng không quá 3 thước bề ngang, vì vậy trấn cứ đầu hẻm là VC kiểm soát được suốt con hẻm từ trong ra đến đường Ðề Thám. Bọn VC từ trong đầu hẻm bắn ra gây thương tích cho nhiều người qua lại trên đường Ðề Thám. Giao thông bị tắc nghẽn. Dân chúng dọc con hẻm bồng bế nhau chạy loạn. Cảnh Sát không sao lọt được vào con hẻm độc đạo này.
Vừa thanh toán xong mục tiêu ở cầu Rạch Bần, tôi phóng tới khu Ðề Thám để quan sát. Cũng như tại các nơi khác, VC bắn ra bừa bãi bất kể dân chúng. Từng tràng tiểu liên AK-47 được bắn ra đầu hẻm, lâu lâu kèm theo vài trái B-40. Ðã có vài người dân bị thương. Báo chí săn tin bám theo Cảnh Sát, phóng viên truyền thanh trực tiếp loan tin làm cho tình hình thêm gây cấn và căng thẳng. Tôi điều động một toán Cảnh Sát xung phong vô nhưng phải dội ngược ra. Cánh tay phải tôi bị bắn trúng, máu tuôn xối xả. Vết thương được tạm thời băng bó, tôi vẫn chưa nghĩ ra cách nào để thanh toán được mục tiêu. Tôi có thể cho lệnh dùng súng phóng lựu M-79 bắn vô, nhưng còn dân chúng kẹt trong đó thì sao? Hai bên ghìm nhau nhiều tiếng đồng hồ, trong bắn ra, ngoài không vô nổi.
Trên máy Chuẩn Tướng Loan hối thúc phải thanh toán Tổ Ðặc công địch vì sợ để lâu chúng sẽ phóng hỏa khu lao động này tìm đường tẩu thoát. Lại nữa, nếu hỏa hoạn xẩy ra trong khu nhà ổ chuột này thì ngọn lửa sẽ mau chóng lan rộng, khó mà dập tắt, gây thêm hoang mang náo loạn trong dân chúng. Việc này chắc chắn sẽ bị các cơ quan thông tấn ngoại quốc khai thác và loan đi những tin tức bất lợi.
Bọn VC hiện đang kiểm soát dọc con hẻm trống và tiếp tục bắn phủ đầu. Dù bị Tướng Loan hối thúc, tôi không thể lại đẩy nhân viên vào một địa thế hoàn toàn bất lợi trước họng súng địch mà không có bất cứ một chướng ngại vật nào che chắn. Thật nan giải.
Tôi bất chợt nghĩ tới thùng lựu đạn “simulator” tôi vẫn giữ trong văn phòng. Thùng lựu đạn này do một người bạn Sĩ Quan tại trường Bộ Binh Thủ Ðức cho tôi đã lâu. Ðây là loại lựu đạn thực tập có vỏ bằng cạc tông dày, dùng để huấn luyện sinh viên sĩ quan tại các quân trường. Khi ném ra, trái “simulator” này có tiếng nổ lớn như lựu đạn thật nhưng không có miểng sát hại. Tôi suy luận rằng khi nghe tiếng lựu đạn nổ lớn gần mình thì phản ứng tự nhiên của bất cứ chiến binh nào cũng là nằm xuống để tránh miểng và như vậy là trong vòng vài giây nếu ta có thể tới gần địch tấn công bất thần và tới tấp thì có nhiều hy vọng tiêu diệt được địch trước khi chúng kịp phản ứng.
Tôi quyết định thí nghiệm chiến thuật này. Tôi gọi sáu nhân viên trẻ, lanh lẹ đến và giải thích ý định của tôi. Tôi ném thử một trái lựu đạn thực tập “simulator” ngay cạnh chân không quá 2 thước và đứng im để nhân viên thấy lựu đạn nổ lớn mà không gây thương tích gì cho tôi. Chiến thuật tấn công mới bắt đầu: Tôi cho ném một loạt lựu đạn “simulator”. Tám trái liên tiếp nhau nổ như trời sụp trong khi tôi và 6 Cảnh Sát Viên Quận Nhì tông vào đường hẻm nhắm thẳng mục tiêu nhả đạn. Bốn tên Ðặc công chưa kịp ngóc đầu phản ứng đã bị hỏa lực của anh em Quận Nhì tiêu diệt.
Trận này được một Phóng viên Quân Ðội tường thuật lại trong tập tài liệu “Tổng công kích-Tổng khởi nghĩa của VC-Mậu Thân 1968” do Khối Quân Sự thuộc Bộ Tổng Tham Mưu ấn hành. Sau này, một sĩ quan thuộc Khối Quân Huấn có hỏi tôi chi tiết sự việc để nghiên cứu thêm, coi đó như một trong những chiến thuật tác chiến trong thành phố.
Trong năm Mậu Thân, ngoài những vụ khác như bọn VC nằm vùng rải truyền đơn tại chợ Bến Thành hoặc vụ VC gài lựu đạn tại Thượng Nghị Viện gần Bến Bạch Ðằng mà Quận Nhì đã mau chóng tháo gỡ, Quận Nhì trung tâm thành phố đã phải hứng chịu nhiều hỏa tiễn pháo kích của VC. Cứ mỗi lần có pháo kích là nhân viên Quận Nhì lại vất vả. Gần như lần nào cũng có cháy nhà, người chết, người bị thương. Nhân viên tuần tiễu hối hả ngược xuôi lo giữ an ninh, lo phụ việc cứu hỏa, lo cấp cứu và tải thương đồng bào bị nạn.
Trong suốt năm Mậu Thân, nhân viên Quận Nhì phải cắm trại liên miên. Tôi và các Sĩ Quan trách nhiệm phải ứng trực ngày đêm tại đơn vị. Vừa lo chống VC xâm nhập, vừa lo việc cứu cấp khi có pháo kích. Hai phòng Hoạt Vụ và Cảnh Sát Ðặc Biệt phải phối hợp với Ðặc Khu Quận Nhì tổ chức hành quân Cảnh Sát liên miên mỗi đêm.
Mậu Thân quả là một năm căng thẳng và vất vả cho tôi và tất cả nhân viên Quận Nhì. Phải nói rằng các Sĩ Quan và nhân viên Cảnh Sát Quận Nhì nói chung đã rất can đảm, tháo vát và tận tụy hy sinh, quyết bảo vệ sinh mạng và tài sản của dân chúng. Nhờ sự tận tụy và hy sinh đó mà Quận Nhì đã mau chóng thanh toán được các toán Ðặc công xâm nhập không để chúng có cơ hội gây hỏa hoạn và nhiều thiệt hại cho dân chúng như tại một số nơi khác trong Ðô Thành.
Vào cuối năm 1968, đại diện các phường, khóm tại quận nhì và vài vị dân biểu đã đích thân đến Ty Cảnh Sát Quận Nhì trao tặng Bảng Ghi Ơn và thăm viếng, ủy lạo gia đình các cảnh sát viên tử thương trong 2 đợt tấn công Mậu Thân. Biến cố Tết Mậu Thân đã cho thấy tinh thần “Cảnh Sát là Bạn Dân” và thể hiện rõ tình Quân-Dân gắn bó.
Nhắc lại trận Mậu Thân, chúng ta cũng không thể quên được lòng tận tụy và gương can đảm của vị tướng chỉ huy ngành cảnh sát thời bấy giờ là Thiếu Tướng Nguyễn Ngọc Loan. Là tổng giám đốc cảnh sát, có dưới tay gần 100,000 sĩ quan và nhân viên trên toàn quốc, Tướng Loan có thể ngồi trong Tổng Nha để chỉ thị và điều động thuộc cấp chống trả VC trong hai đợt tấn công tại các đô, tỉnh, thị trên toàn quốc. Nhưng ông đã đích thân sát cánh cùng anh em cảnh sát chiến đấu trong thành phố nơi hiểm nguy không thể tính trước vì thường thì địch là những toán đặc công quyết tử ẩn nấp kỹ và trộn lẫn trong dân chúng. Ðịch thấy ta mà ta khó thấy địch. Tướng Loan đã bị bắn bị thương ở chân tại khu Nguyễn Bỉnh Khiêm, gần Ðài Phát Thanh Saigon trong khi ông đang điều động cảnh sát chiến đấu.
Sự có mặt của Tướng Loan làm binh sĩ lên tinh thần, nhất là những nhân viên cứu hỏa tại Ðô Thành. Họ bị VC nhắm bắn nhưng vẫn lao vào chữa lửa vì có Tướng Loan bên cạnh. Không có Tướng Loan chỉ thị cảnh sát ứng trực 100% để phản ứng kịp thời trong dịp Tết Mậu Thân, Ðô Thành Saigon chắc khó đứng vững được trong 2 trận tấn công và số thiệt hại, thương vong chắc chắn sẽ còn cao hơn nhiều.
Xin được kính cẩn nghiêng mình trước vong linh Thiếu Tướng Tư Lệnh Nguyễn Ngọc Loan và các sĩ quan cảnh sát: Ðại Tá Ðàm Văn Quý (Tổng Nha CSQG), Trung Tá Lê Ngọc Trụ (Trưởng Ty CSQG Quận 5), Trung Tá Nguyễn Văn Luận (Giám Ðốc Nha Cảnh Sát Ðô Thành), Thiếu Tá Nguyễn Văn Xinh (Nha Cảnh Sát Ðô Thành) và các sĩ quan, nhân viên cảnh sát khác đã tử thương trong 2 trận Mậu Thân 1968.
Hồi tưởng lại biến cố Tết Mậu Thân, tôi cũng xin được đặc biệt cám ơn các sĩ quan và nhân viên Ty Cảnh Sát Quốc Gia Quận Nhì Saigon đã can đảm và tận tụy hy sinh bảo vệ dân chúng. Tôi rất hãnh diện đã được chỉ huy và sát cánh cùng các bạn. Xin được đốt nén hương lòng trước vong linh các chiến hữu Cảnh Sát Quận Nhì đã hy sinh trong Trận Mậu Thân.
Trần Minh Công
Nguyên Trưởng Ty CSQG-Quận Nhì.
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Đón Xuân Nầy Nhớ Xuân Xưa . Hoàng Tuấn sưu tầm
Quỹ K1 đầu năm 2024
Xin thông báo đến các bạn: Trong dịp đầu năm Dương Lịch và Âm Lịch vừa qua, Quỹ K1-HVCSQG đã nhận được sự ủng hộ thêm vào Quỹ của các bạn sau:
– AC Phạm Văn Minh (CA): $200 (ủng hộ $100 X 2 lần – tháng 12/23 và tháng 2/24)
– Lê Văn Thao (TX): $100
– Lê Ngọc Thịnh (NC): $50
– Nguyễn Văn Tâm (CA): $50
Xin cám ơn Quý AC MTQ K1 đã hỗ trợ cho Quỹ K1.
* Tính đến nay số tiền Quỹ K1 hiện còn tồn Quỹ là $1523.
(Chi tiết các Chi – Thu sẽ báo cáo các bạn sau).
Thân mến,
NĐ. Toán
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Quỹ K1 đầu năm 2024
Thương Tiếc K1 Phạm Bá Nhạc
Vòng hoa tang và Phân Ưu của K1 (trên báo Viễn Đông) trong tang lễ k1 Phạm Bá Nhạc Tại Escondido (CA) ngay 17/2/2024.
TN


Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Thương Tiếc K1 Phạm Bá Nhạc
TPK Khai Bút Đầu Năm
CHÚC TẾT GIÁP THÌN

Khai bút tân niên chúc mọi người
Giáp Thìn gia đạo được vui tươi
Ông bà trường thọ cùng gia tộc
Cha mẹ an vui với cuộc đời
Con cháu học hành luôn tấn tới
Vợ chồng hạnh phúc chẳng hề vơi
Mỗi ngày kinh tế càng thêm vững
Ước nguyện quanh năm lắm lộc trời.
TPK
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở TPK Khai Bút Đầu Năm
Cáo Phó Tang lễ Phạm Bá Nhạc

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Cáo Phó Tang lễ Phạm Bá Nhạc
Chúc Mừng Năm Mới — Video by Tuyen Dinh
Mời các bạn thưởng thưc một video mừng xuân Giáp Thìn 2024 rất hay do bạn Tuyến Đinh thực hiện gởi tặng cho anh chị em chúng ta trong gia đình K1.
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Chúc Mừng Năm Mới — Video by Tuyen Dinh
Tin buồn: K1 Phạm Bá Nhạc đã ra đi
Xin thông báo tin buồn K1 đến quý bạn: sau một thời gian lâm bệnh nặng, K1 Phạm Bá Nhạc đã trút hơi thở cuối cùng vào khoảng 5 giờ chiều nay 2/2/2024 tại nhà riêng ở Escondido (CA), hưởng thọ 81 tuổi. Tôi sẽ cập nhật Chương Trình tang lễ sau khi có Cáo Phó của gia đinh và K1 sẽ có chương trình phân ưu thăm viếng cụ thể sau.
Nay kính báo,
NĐ. Toán
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Tin buồn: K1 Phạm Bá Nhạc đã ra đi
Chụi thôi hè! Thơ TPK
Em ơi , anh nói chuyện nầy nghe
Năm cũ sắp qua tết đến nè
Chiều xuống ngó lui sương lãng đãng
Nắng lên nhìn tới áng mây che
Đêm thì trằn trọc mong con tới
Ngày lại thẩn thơ ngóng cháu về
Thêm tuổi thân gìa càng lắm bệnh
Luật trời đành vậy , chịu thôi hè.
TPK
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Chụi thôi hè! Thơ TPK
23 Đưa Ông Táo về Trời _ Táo quân LHN
Nhân tục lệ đưa ông Táo hàng năm xin mời các bạn K1 nghe gia đình nhà Táo đấu khẩu giành đi chầu Trời để biết tại sao Táo chỉ bận áo mà hổng bận quần .
LHN

Hội Táo Chầu Trời
Mỗi năm “cuồng trởi” để chầu trời
Hội áo không quần Táo khắp nơi
Là lúc so ni cùng mọi xứ
Chính khi đọ cỡ với muôn người
Dù Phi , Mỹ. Á cùng khuôn mẫu
Dẫu điện , than , gas cũng sự đời
Lắm trự sao mà kinh khủng thế
Ngọc Hoàng hối vợ : trốn đi thôi !
LHN
Nhà Táo Bất An
Cứ tới ngày 23 tháng Chạp hàng năm thì nhà Táo nào cũng đều cử người về chầu trời. Xưa giờ chỉ có hai Táo ông thay phiên đi chầu. Vậy mà năm nay mắc chứng gì Táo bà lại đòi đi . Bởi vậy mới có chuyện lộn xộn trong nhà Táo .
Một Táo ông nói : – Tự nhiên sao năm nay bà đòi đi chầu trời ?
Ông khác nói : – Bà có biết là ở đó toàn mấy ông ở truồng hôn mà đòi đi ?
Bà Táo cãi : – Ai cũng bận áo dài hết chớ bộ tồng ngồng sao mà hai ông sợ .
– Bà muốn nói tụi tui sợ cái gì ?
– Thì tự hai ông biết .
– Vậy bà hổng sợ ?
– Thì hổng sợ mới đòi đi chớ . Nam nữ bình quyền cái nỗi gì mà xưa giờ cứ nhốt tui ở nhà hoài . Nhứt định năm nay tui phải đi .
– Bà mà lên đó sẽ làm náo loạn thiên đình cho coi .
– Tại sao ?
– Thì cứ coi trong xóm nầy thì biết . Hể tới tháng Bảy là bầy chó đực làm náo loạn cả xóm lên đó .
Ông Táo kia phụ thêm :
– Lúc đó ở đại sảnh thiên đình chỉ có mình bà là phụ nữ thì bà sẽ thành trái banh giữa sân đấu .
Táo bà nghe vậy hơi sợ :
– Bộ…bộ mấy ổng sẽ giành nhau đá tui hả ?
– Đâu phải sân đá banh đâu mà đá
– Vậy chớ sân đấu gì ?
– Là sân đấu Hóc Ky . Mấy ổng xài gậy không hà , chớ hổng xài chân .
Một Táo ông rỉ tai ông Táo kia rồi cả hai ôm bụng cười sặc sụa . Táo Bà bực mình hỏi :
– Nè , hai ông lén đặt điều nói xấu gì tui phải hôn ?
– Đâu có nói xấu , nói thiệt .
– Hai ông nói cái gì ?
– Tụi tui nói mấy ổng quơ gậy một hồi là áo người nào người nấy , luôn áo của bà , đều bị đứt tà hết trơn hết trọi luôn .
Ông Táo kia kết luận : – Như vậy thì tới “Ngọc Hoàng Cũng Phải Cười”* nói chi hai thằng tui . Mà bà có viết sớ để đọc cho Ngọc Hoàng nghe chưa ?
– Sao không . Tui mần sẳn hết rồi . Hai ông muốn nghe hôn ?
– Thì đọc coi !
– Nghe cho kỹ nha . Tui tố giác tội của hai ông cho Ngọc Hoàng biết .
– Tụi tui tội gì mà bà tố ?
– Thì nghe rồi biết nè :
Sớ Táo Bẹp
Muôn tâu Ngọc Hoàng
Thần là táo Bẹp
Xin được bép xép
Chuyện dưới trần gian
Quanh năm suốt tháng
Mặc áo không quần
Vì chưng nhị lão
Hai táo Toòng Teng
Léng phéng như nhau
Kẻ trước người sau
Trông mau tới bận
Bất phân sáng tối
Suốt đêm chưa đủ
Tranh thủ luôn ngày
Ứng trực thay phiên
Kiểu xa luân chiến
Nên khiến cho thần
Mặc quần hổng được
Ông sau ông trước
Chưa kịp ráo nước
Lộn bước trở vô
Đứng chờ tô hô
Tại chỗ khỏi cần
Cởi ra lần nữa
Nên cả ba đứa
Mặc áo không quần
Vừa tiện vừa nhanh
Để tranh thủ tiếp
Không để lỡ dịp
Mỗi khi đầu bếp
Vừa kịp bước ra
Là a thần phù
Vén áo cái vù
Lu bù khú đế
Khú đế cái mà … khú đế .
Táo Bẹp kính cáo
LHN
* tựa phim The God Must Be Crazy . Dịch đúng là Chắc Ông Trời Bị Điên nhưng người ta dịch là Thượng Đế Cũng Phải Cười .
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở 23 Đưa Ông Táo về Trời _ Táo quân LHN
Vui Buồn Mùa Giáng Sinh – Thơ Nguyen Phien
VUI BUỒN MÙA GIÁNG SINH

Em còn nhớ mùa giáng Sinh năm ấy
Chuông giáo đường cao cung khúc thánh ca
Mình song bước đến nhà thờ dâng lễ
Đôi chim non chung hưởng khúc giao hoà
Lời nguyện ước đầu đời cho nhân loại
Và cho nhau duyên phận được bền lâu
Tình đẹp maĩ trong vòng tay nhân aí
Lòng sắt son như mộng ước ban đầu
Rồi giáng sinh,ngôi giáo đường bỏ lại
Anh ra đi theo tiếng gọi núi sông
Tiếng chuông vang mỗi chiều nghe vắng lạ
Em từng mùa mưa gió lạnh trong lòng
Chuông giáo đường lại vang lừng đêm thánh
Lời nĩ non tâm ước vẫn y nguyên
Đêm Gíang Sinh con tim ngoan thổn thức
Cầu cho mình được Hạnh phúc đoàn viên
Tình thương yêu Chúa Hài Đồng Cảm Mến
Anh trở về trong kinh ngạc chiều đông
Bên hang đá Ánh hào quang huyền diệu
Ta nắm tay nối kết duyên tơ hồng
Phiến Nguyễn
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Vui Buồn Mùa Giáng Sinh – Thơ Nguyen Phien
Lời dự đoán cho năm 2024 của nhà tiên tri người Anh Hamilton Parker
Nhà tiên tri Anh Hamilton Parkker
dự đoán tình hình thế giới 2024:

Ông Hamilton Parker, 69 tuổi, một nhà tiên tri người Anh khá nổi tiếng vì ông đã dự đoán chính xác một số sự kiện lớn xảy ra trong những năm gần đây. Chẳng hạn như sự kiện Brexit, cuộc bầu cử tổng thống Hoa Kỳ của Trump, đại dịch virus Corona, cái chết của Nữ hoàng Elizabeth II, v.v.
Vào ngày 3/11, ông Parker đã đưa ra một dự đoán lớn khác trong vài năm tới. Trước tiên, là những dự đoán tổng quan của Parker trên khắp thế giới, sau đó tập trung về Trung Quốc.
Về phía Châu Âu:
Đầu tiên là phía châu Âu, ông Parker dự đoán sau năm 2024, vẫn sẽ có một lượng lớn người nhập cư đổ vào châu Âu, điều này sẽ gây ra tình trạng bất ổn xã hội ở châu Âu. “Chủ nghĩa đa văn hóa” ở Pháp và Đức thất bại, Thụy Điển có lúc rơi vào tình trạng hỗn loạn vô chính phủ. Cho đến khi châu Âu thay đổi chính sách cho phép di chuyển tự do, châu Âu sẽ dần quay trở lại những giá trị truyền thống của mình.
Ông Parker dự đoán rằng khủng bố sẽ gia tăng vào năm 2024 và nhiều bạo lực đường phố sẽ xảy ra ở châu Âu, trong đó Pháp, Đức và Thụy Điển là mục tiêu tấn công khủng bố. Các nhóm Hồi giáo sẽ tấn công Thế vận hội Paris 2024 nhiều lần và các vận động viên chuyển giới sẽ bị từ chối tiếp cận Thế vận hội này.
Ông Parker cho rằng châu Âu cuối cùng sẽ tan rã, và nếu điều đó không xảy ra vào năm 2024 thì nó sẽ xảy ra trong tương lai. Cuối cùng, EU sẽ bị chia thành ba phần: Liên minh phương Đông tập trung vào Đức, Liên minh phương Tây tập trung vào Pháp và Liên minh Bắc Âu. Nền kinh tế châu Âu sẽ tiếp tục suy giảm vào năm 2024 và các đồng tiền châu Âu sẽ tiếp tục suy yếu.
Tiếp theo đó là Chiến tranh Nga – Ukraina và chiến tranh Hamas – Israel.
Năm 2024, cuộc chiến Nga – Ukraine sẽ tiếp tục và đi vào bế tắc. Nhưng đến năm 2025, Nga sẽ trả lại một phần đất cho Ukraine, nhưng không phải tất cả. Bước ngoặt của cuộc chiến tiêu hao này có thể là cái chết của Tổng thống Nga Vladimir Putin.
Ông Parker dự đoán Putin sẽ sớm qua đời và “thời gian không còn nhiều”. “Tôi cảm thấy cái chết của ông ấy sắp xảy ra”, có thể sẽ là một “cơn đau tim”. Sau khi Putin qua đời, người kế nhiệm ông sẽ là một “phụ nữ” và khi đó Nga và Ukraine sẽ đạt được thỏa thuận.
Tuy nhiên, cuộc chiến giữa Hamas và Israel sẽ tiếp tục leo thang vào năm 2024. Iran sẽ hỗ trợ Hamas và Hezbollah ở Lebanon, đồng thời Nga cũng sẽ cung cấp công nghệ tên lửa mới cho Lebanon thông qua Iran.
Vai trò của Ấn Độ:
Thứ ba, vai trò của Ấn Độ trong cộng đồng quốc tế ngày càng nổi bật, trong tương lai nước này sẽ từng bước mở rộng biên giới và trở thành một trong những quốc gia có ảnh hưởng nhất trên thế giới, điều này sẽ có tác động rất tích cực đến tương lai của nền kinh tế thế giới.
Nhưng vào năm 2024, do quan hệ Trung – Nga ngày càng sâu sắc và đi ngược lại lợi ích của Ấn Độ nên mối quan hệ giữa Ấn Độ và Nga sẽ trở lên chia rẽ. Ấn Độ sẽ ngừng mua vũ khí và thiết bị quốc phòng từ Nga, thay vào đó sẽ là thị trường phương Tây, ngày càng xích lại gần hơn với Mỹ, Anh và châu Âu.
Đặc biệt vì vấn đề Pakistan, Ấn Độ sẽ có nhiều tranh chấp với Trung Quốc và Nga, nhưng sẽ không xảy ra chiến tranh toàn diện. Và sẽ có lũ lụt lớn ở Pakistan, bất chấp những khác biệt về chính trị, Ấn Độ vẫn sẽ viện trợ Pakistan. Sau năm 2024, Ấn Độ và Pakistan sẽ lại trở thành bạn bè và cuối cùng sẽ hợp nhất.
Về Hoa Kỳ:
Thứ tư, là sự thay đổi trên vũ đài chính trị ở Mỹ. Ông Parker dự đoán trước thềm bầu cử, ông Biden có thể bị “loại khỏi sân khấu vào phút cuối” vì bệnh. Phó Tổng thống Harris sau đó sẽ nắm quyền tạm thời và tranh giành để tìm kiếm một ứng cử viên Đảng Dân chủ mới. Tuy nhiên, trước khi sự việc xảy ra, ông Biden đã “áp dụng một số phương pháp để ân xá cho cựu sĩ quan tình báo Hoa Kỳ Edward Snowden và người sáng lập WikiLeaks là Julian Assange”.
Về phía Đảng Cộng hòa, ông Trump sẽ tái tranh cử và cuối cùng giành chiến thắng trong cuộc bầu cử. Ông Trump chọn đối tác là nữ, nhờ đó nhận được sự ủng hộ từ các cử tri nữ và cử tri trung lưu.
Thiên tai:
Thứ năm, là dự báo thiên tai trên quy mô toàn cầu. Nhiều thảm họa thiên nhiên sẽ xảy ra vào năm 2024, trong đó có động đất ở Mỹ và Italy. Ông dự đoán rằng “sẽ có một trận động đất khá lớn ở Mỹ và sẽ lan rộng dọc theo Bờ Tây tới Thành phố Mexico”. Dù không gây ra sự sụp đổ của nước Mỹ nhưng nó vẫn sẽ là “thảm họa lớn” của nước Mỹ vào năm 2024. Ông cũng dự đoán một trận “lũ lụt lớn” sẽ nhấn chìm London và châu Âu, trong đó nước Đức bị ảnh hưởng đặc biệt.
Một trận sóng thần khác ở Thái Bình Dương sẽ ảnh hưởng đến bờ biển Australia. Sau năm 2024, sẽ xảy ra một đại dịch do nhiễm vi khuẩn ở Úc, nhưng nó sẽ không nghiêm trọng như loại virus Corona mới và thế giới sẽ đánh bại nó. Ông Parker cũng “chứng kiến các đám cháy xung quanh Canberra và lũ lụt quanh Tasmania”.
Về Trung Quốc: Ông Tập ốm nặng, Hong Kong và Tây Tạng độc lập
Theo dự đoán của ông Parker, phần về Trung Quốc chiếm nhiều không gian, bao gồm tình hình kinh tế Trung Quốc, bệnh tình nghiêm trọng của ông Tập Cận Bình và những thay đổi về tình hình chính trị sau khi Đảng cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) tan rã.
Ông Parker dự đoán thị trường bất động sản Trung Quốc sẽ sụp đổ nghi êm tr ọng trên quy mô lớn . hiện nay các công ty bất động sản của Trung Quốc đã lần lượt trải qua những cơn giông bão.
Sự bùng nổ bất động sản sẽ càng khốc liệt hơn vào năm 2024, ĐCSTQ chỉ có thể đứng nhìn mà bất lực. Vì vậy, người dân bình thường ở Trung Quốc phải thắt chặt túi tiền và tiết kiệm tiền để đối phó với cuộc suy thoái kinh tế sắp tới.
Ông Parker dự đoán sự sụp đổ của nền kinh tế Trung Quốc cũng sẽ ảnh hưởng đến kinh tế thế giới và tất cả các nước trên thế giới sẽ phải đối mặt với một giai đoạn rất khó khăn. Đặc biệt, nạn tham nhũng chính trị liên quan đến ĐCSTQ sẽ lần lượt bị vạch trần, liên quan đến Châu Âu, Canada, Úc, Châu Phi và nhiều nơi khác. Ông Parker cũng đề cập đến hai nhân vật cụ thể, một là Thủ tướng Canada Trudeau và hai là Tổng thống Mỹ Biden, những hành vi tham nhũng sẽ bị vạch trần.
Về bệnh tình của ông Tập Cận Bình
Parker đã nói chi tiết. Ông thấy rằng vào năm 2024, “ông Tập bị ốm, tình trạng rất nghiêm trọng nhưng ĐCSTQ luôn được giấu kín”.
Tuy nhiên, ông Parker nói rõ rằng căn bệnh hiểm nghèo này sẽ không khiến ông Tập “chết” nhưng sẽ “đủ để khiến ông phải từ chức”. Sau khi Tập Cận Bình lâm bệnh nặng, nội bộ ĐCSTQ sẽ xảy ra xung đột, chia rẽ đ ể tranh giành chính quyền, khi đó “Trung Quốc sẽ có cuộc cách mạng thứ hai”. Nói cách khác, căn bệnh của ông Tập sẽ gây ra một vòng đấu tranh mới trong nội bộ ĐCSTQ.
Ông Parker cũng dự đoán rằng ĐCSTQ sẽ “kết thúc” vào một thời điểm nào đó, nhưng ông không dự đoán thời điểm cụ thể cho sự tan rã này. Sau khi ĐCSTQ tan rã, Trung Quốc sẽ bị chia cắt rất lớn, khi đó Tây Tạng, Hong Kong, v.v. sẽ độc lập và đạt được dân chủ. Giống như châu Âu ngày nay, với tư cách là một liên minh thân thiện của các quốc gia.
Theo The Epoch Times
Lý Ngọc biên dịch
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Lời dự đoán cho năm 2024 của nhà tiên tri người Anh Hamilton Parker








Bạn phải đăng nhập để bình luận.