Hội Nghị Vịnh Hạ Long – Sưu Tầm của Tuyen Dinh

Hội nghị Vịnh Hạ Long
lần thứ hai vào ngày 05/06/1948 

unnamed (6)

Vào ngày 5 tháng 6 năm 1948_Hiệp ước Vịnh Hạ Long_một hiệp ước Pháp-Việt giữa Cao Uỷ Đông Dương Emile Bollaert và Hoàng Đế Bảo Đại, được ký kết trên tuần dương hạm “Dugay Trouin”, xác nhận nền độc lập của Việt Nam và tư cách là một quốc gia  trong Liên hiệp Pháp. Ngày khai sinh ra : “Quốc Gia Việt Nam”(État du Viêt Nam)

-Các thủy thủ đang bận rộn với công việc bảo trì và làm sạch trên boong của tàu tuần dương “Duguay Trouin”.

-Sau khi hạ cánh của một thủy phi cơ Catalina ở Vịnh Hạ Long, các viên chức Việt Nam được chuyển lên tuần dương hạm“Duguay Trouin”.
 -Nhiều Cảnh thủy phi cơ và tàu cao tốc hộ tống Hoàng đế Bảo Đại, Hoàng đế An Nam. 

-Bước ra từ thủy phi cơ, có Nguyễn Văn Xuân, Thủ Tướng Chính phủ lâm thời Nam kỳ( chef du gouvernement provisoire du Vietnam) người đứng đầu Chính phủ lâm thời Việt Nam trong phái đoàn Việt Nam.

-Trên boong tầu, cử hành lễ chào cờ Việt Nam và vinh danh lá cờ của Hoàng Đế Bảo Đại được kéo lên.

-Một đoàn dàn chào danh dự và một phi đoàn bay trên cao đánh dấu sự kiện 

-Bảo Đại và Nguyễn Văn Xuân lên tàu tham dự cuộc duyệt binh của tầu Hải Quân Pháp.

-Các Sị Quan Pháp đi bằng thuyền cao tốc đến đài tưởng niệm hải quân Pháp trên bờ biển của đảo.

-Mời các bạn xem lại một đoạn phim lịch sử củ Pháp, ghi lại sự kiện Hiệp Ước Hạ Long ngày 5 tháng 6 năm 1948, cách đây đúng 74 năm (1948-2022) 

-Mời xem :

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Hội Nghị Vịnh Hạ Long – Sưu Tầm của Tuyen Dinh

“YÊU” sáng tác mới của K1 lê Hữu Nghĩa

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở “YÊU” sáng tác mới của K1 lê Hữu Nghĩa

Thơ Chiến Sĩ Trân Vong – TPK

CHIẾN SĨ TRẬN VONG

soldier-father-daughter
Nhân ngày “Chiến Sĩ Trận Vong”
Xin thắp một nén hương lòng nhớ anh
Ghi ơn tử sĩ liệt oanh
Xả thân giúp nước sử xanh lưu truyền
Anh đi để giữ lời nguyền
Giữ gìn an lạc mọi miền quê hương
Nước nhà gặp buổi nhiễu nhương
Chiến tranh tàn phá phố phường điêu linh
Miền Nam đất nước thanh bình
Bỗng dưng giặc dã dân tình đảo điên
Giặc về bắn giết liên miên
Nhà tan cửa nát gieo thiên sử buồn
Thân trai gió táp mưa nguồn
Đứng trên đầu sóng chận đường nội xâm
Nhưng mà “lực bất tòng tâm”
Chiến trường ngả ngựa bọc thân cờ vàng
Hồn anh vất vưởng mây ngàn
Buồn vì lịch sử vội vàng sang trang
Biết bao tướng sĩ hiên ngang không hàng
Một viên đạn cuối nhẹ nhàng
Hồn theo tiên tổ chẳng màng khói nhang
Nhục thân dâng hiến giang san
Đền vì chẳng trọn bảo toàn núi sông
Dù cho anh đã hoài công
Nhưng mà dân Việt một lòng nhớ ơn.

Tống Phước Kiên

                                  Memorial Day 2022

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thơ Chiến Sĩ Trân Vong – TPK

Nén Hương Tình – Thơ Phiến Nguyễn

NÉN HƯƠNG TÌNH

283855125_2497609263713918_8443858358866679453_n

Từ xa xôi em trở về quê mẹ
Nhân ngày tưởng nhớ Chiến Sỹ Trận Vong
Chiêu hồn nhập mộ anh linh vất vưởng
Xác thân tan rưả không nấm mồ chôn
Bao Anh kiệt bỏ mình nơi chiến đia
Không nắm tro tàn hương khói vợ con
Hay nằm xuống nơi nuí rừng lao cải
Biết đâu tìm chốn cùng cốc thâm sơn
Ôi những người con son sắt trung trinh
Bao lâu rồi hoang lạnh chốn u minh
Lạc lối phong trần tháng ngày cô quạnh
Vinh danh Anh xin đốt nén hương tình

Phiến Nguyễn

THƯƠNG NHỚ MỘT THỜI

hay-99-bai-tho-nho-ve-xu-hue-voi-nhieu-noi-niem-tam-trang

Vùng trời quê đó xưa tôi qua
Người dân chất phác sống hiền hoà
Cùng nhau xây dựng nguồn no ấm
Kiến thiết quê hương giữ nước nhà
Các cô con gái tươi như hoa
Tóc xõa aó dài bay thướt tha
Sinh hoạt thôn trang vui rộn rã
Tình nghĩa quân dân thật đậm đà
Làng xóm cơ ngơi ngày một mới
Sức sống bừng lên cảnh thái hoà
Theo nhịp quân hành thân giữ nước

Mười mấy năm sau ngày < giãi phóng.>
Vùng trời giới tuyến chẳng còn nguyên
Phố phường trường học chuyển dời chổ
Nhà cưả xóm làng thay đổi tên
Cô bán hàng rong chân thiếu dép
Mẹ già kỉu kịt gánh lưng còng
Các chú cụ non thân gầy guộc
Em nhỏ không trường chạy chơi rong
Đường sá ổ gà xe lạch cạch
Cộ bò qua lại bánh lắc lư
Lều tranh mái rạ nhà xơ xác
Hàng quán lơ thơ cát bụi mờ
Cảnh cũ chiều nao chim lác đác
Lao xao người vật kéo nhau về
Trời cao mây xám trôi bàng bạc
Sương khói hôn hoàng phủ bóng quê

Phiến Nguyễn

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Nén Hương Tình – Thơ Phiến Nguyễn

Thơ Tống Phước Kiên

BẾN NƯỚC HƯƠNG GIANG

11-1561535427

Ai về bến nước Hương Giang
Cho ta gởi chút mênh mang tấc lòng
Lững lờ dòng nước xanh trong
Ngược thuyền lên bến Kim Long mơ màng
Nắng chiều rãi ánh tơ vàng
Mái chèo khua động muôn ngàn lưu li
Mạn thuyền sóng vổ thầm thì
Chèo qua Thiên Mụ đón vì Sao Hôm
Trăng lên chênh chếch cuối thôn
Sương sa mờ phủ lên cồn Dã Viên
Lung linh soi bóng Trường Tiền
Thuyền qua Vỹ Dạ xuống miền Bãi Dâu
Trăng soi ngọn cỏ rầu rầu
Âm u một cõi thương sầu năm xưa
Mơ hồ trên sóng xa đưa
Tiếng hờn ai oán vẫn chưa phai tàn
Dòng Hương muôn thuở dịu dàng
Mà sao thù hận đôi đàng anh em
Nồi da xáo thịt một phen
Gieo cơn bỉ cực lệ hoen Huế mình
Đâu đây vương mối u tình
Vưởng vất trên bến sinh linh thuở nào
Bao giờ dứt tiếng nghẹn ngào
Hương Giang tuôn chảy dạt dào yêu thương
Ta về thăm lại quê hương
Tung tăng trên vạn nẻo đường Thần Kinh

TPK

ƠI HUẾ ƠI

bao-hue-1

Ơi Huế ơi , ta đêm ngày nhớ Huế
Nhớ xóm làng thuở bé lũy tre xanh
Nhớ con đường rợp bóng ánh trăng thanh
Vẳng tiếng tiêu giữa canh trường xa vắng
Nắng hồng lên dòng Hương Giang sóng lặng
Chuyến đò ngang tà áo trắng sang trường
Mái tóc thề nghiêng vành nón dễ thương
Vào lớp học dệt tơ vương ước mộng
Chiều cuối tuần qua Trường Tiền gió lộng
Vào nội thành dừng trước cổng nhà ai
Chỉ nhìn thôi để thao thức canh dài
Nằm mơ mộng mái tóc cài hoa tím
Nhớ những đêm nghe tiếng hò ngọt lịm
Khúc Nam Bình chứa đựng mối tình thơ
Tiếng mái chèo rung nhẹ phiếm cung tơ
Ru lữ khách giữa đôi bờ dung dị
Thuyền trôi êm bên hàng tre thôn Vỹ
Ngắm trăng lên nghe thủ thỉ bên lòng
Ước mai kia hòa cung điệu trăm năm
Trong vườn xuân với trăm hoa đua nở
Nhớ những buổi trưa hè trời rộng mở
Nhặt phượng hồng ép vào vở trao nhau
Năm học rồi cũng từng bước qua mau
Trang nhật ký tỏ bày niềm tâm sự
Có những lúc lên vờn mây đỉnh Ngự
Ngắm chiều rơi trên dòng nước Hương Giang
Đẹp long lanh như dải lụa mịn màng
Êm ả giữa đất Thần Kinh tuyệt mỹ
Rồi một ngày chiến tranh về thiêu hủy
Những cung vua đền miếu thảy tan tành
Huế đau thương khóc hận thấu trời xanh
Bởi vận nước ta đành xa xứ Huế.
TPK

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thơ Tống Phước Kiên

Tưởng Nhớ – Bài của cô dâu k1 Phương Lan

TƯỞNG NHỚ

282826956_3132950723688781_6942715666372663352_n

Cuối tuần này sự tưởng nhớ những chiến sĩ đã hy sinh vì dân nước lại còn phải đi kèm với nỗi xót xa trước sự ra đi của 19 học sinh và 2 giáo viên tại trường Tiểu Học Uvalde, Texas trong khi đó tiếng gầm rú của bom đạn vẫn còn đang phá nát đất nước Ukraine xinh đẹp!

Làm người ở đời, một trong những điều rất khó là làm sao sống an bình, hạnh phúc với người khác trong gia đình, ngoài xã hội, trên thế giới đâu đâu cũng thấy những xung đột và khổ đau do con người gây ra cho nhau. Từ những cái chết của các chiến sĩ trận vong, của những người dân vô tội trong chiến tranh, những cái chết do bạo lực, cho đến cái chết của một thai nhi bị mẹ từ chối!

Một triết gia người Pháp đã viết: “Hỏa ngục còn là ở nơi người khác!”

Mục tiêu của giáo dục đâu phải chỉ nhằm đào tạo những con người giỏi giang về tri thức mà còn huấn luyện nên những người biết sống với và sống cho người khác.

Trong một đất nước khi những người giữ gìn trật tự cho xã hội và những người giữ gìn kỷ luật trong học đường bị trói tay bởi những luật lệ “theo thời” thì nhiệm vụ của các bậc cha mẹ, người giám hộ và những nhà giáo dục chân chính chẳng khác nào như những người đang ra sức lội ngược dòng thác lũ!

Xin ghi lại một chia sẻ trên Facebook của Phương Hoàng:” Với nửa ly nước trong tay, người bi quan sẽ buồn sầu vì nửa ly nước đã mất; người lạc quan thì thấy vui vì vẫn còn được nửa ly còn lại; người thực tế thì pha thêm ít chanh đường để thưởng thức và chia vui với người chung quanh.“

Chúng ta lựa chọn cách nhìn nào đây?

Lê Phương Lan

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Tưởng Nhớ – Bài của cô dâu k1 Phương Lan

Chúc Mừng 50 năm Ngày Cưới của K1 Tôn Thất Biên

Lỗi
Video không tồn tại
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Chúc Mừng 50 năm Ngày Cưới của K1 Tôn Thất Biên

MŨ CỐI_S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

This image has an empty alt attribute; its file name is mu-coi.jpg

Mũ Cối_Tưởng Năng Tiến

Vài năm trước, hôm 15/12/2018, báo Vnexpress hớn hở đi tin: “CĐV Việt đội mũ cối xem chung kết AFF Cup lên báo nước ngoài… Một chàng trai Việt Nam mặc áo in hình rồng, đội mũ cối lọt vào ống kính của phóng viên.”

Ôi chao! Sao mà hân hạnh và quí hoá đến thế?

Độc giả, tuy thế, dường như không hào hứng gì lắm với nỗi hân hoan và niềm hãnh diện của ban biên tập Vnexpress, nếu chưa muốn nói là ngược lại:

Việt Hoàng: “Không hiểu sao, tôi rất ghét mũ cối.”

Dạ Ngân: “Miền Bắc nên chấm dứt mũ cối đi. Tôi không thấy nó đẹp. Rõ hình dáng nhược tiểu, yếm thế.”

Đình Ấm Nguyễn: “Tui sinh ra lớn lên ở miền Bắc và trưởng thành lập nghiệp ở miền Nam Nhưng mỗi khi ra đường nhìn thấy người nào sử dụng mũ cối trên đầu là tui dị ứng.”

Lê Văn Cương: “Người Bắc mà còn dị ứng thì người Nam họ thấy căm ghét và khinh bỉ.”

Quan Huynh: “Làm ơn đừng đội nón cối! Nó biểu tượng cho sự dốt nát, nghèo hèn, ngu si, tham lam, ích kỷ, ti tiện, độc ác, tham quyền cố vị. Nói chung là tầng lớp hạ đẳng!”

Nói thế (e) có quá lời chăng?

Tưởng cũng nên nghe thêm đôi câu từ tốn, nhã nhặn, và khách quan (hơn) từ một vị thức giả, đang tu tại gia, cư sỹ Phạm Nguyên Trường:

 “Xét ra, nón cối rất tiện vì, thứ nhất nó khá rẻ. Thứ hai đội lúc nào, ở đâu, làm gì cũng tiện, nắng mưa đều che được củ sọ mà lại không vướng víu, rơi cũng chưa hỏng ngay. Tóm lại, rẻ và tiện. Tuy nhiên, ở miền Nam mà đội nón cối thì người ta biết ngay là Ba Ke.

Nhưng xét ra cũng chưa có loại nón mũ nào thay được nó, nếu không nói đến mũ bảo hiểm xe máy. Nếu không bắt buộc đội mũ bảo hiểm, không chừng dân số tộc nón cối bây giờ đã gia tăng đáng kể. Cho nên tôi nghĩ người nào đó thấy nón cối tiện thì cũng kệ họ, chả nên kì thị vùng miền làm gì.”

 Quan niệm dung hoà thượng dẫn, tất nhiên, dễ được tán đồng:

Đỗ Trí Tâm: “Đồng ý với bác. Thích hay không thích là quyền. Nhưng kỳ thị vùng miền thì không nên.”

Ba Võ: “Trước đây không có chọn lựa chọn nào khác ngoài nón cối!”

La Phong Mua Thu: “Kệ họ nói gì thì nói đi bạn. Mũ cối chẳng có gì xấu, còn tiện lợi cho người dân lam lũ. Nếu kiên cường, chịu khó thì chẳng có gì đáng xấu hổ vì cái mũ rẻ tiền ấy cả. Tôi không thuộc tộc mũ cối nhưng không khinh những người lao động.”

 Khinh thị thì không chắc nhưng bị ám ảnh hay lo ngại thì e khó tránh, và cũng hơi phổ biến:

 Mình mới xuống sân bay, bước chân ra ngoài chưa kịp gọi xe thì có một anh tài xế xáp lại hỏi:

 – Chị có đi taxi không?

Nhìn thấy đội cái mũ cối, lại giọng của đồng hương nữa nên mình không thích lắm, vì vậy vẫn hí hoáy đặt xe. Màn hình báo “Hiện tại tất cả các tài xế đều đang bận, bạn vui lòng quay lại sau”, ngán đợi nên hỏi cái “đồng chí” này, thấy giá cả cũng ok, nên gật đầu đồng ý đi.

Mặc dù cũng chẳng yên tâm tí nào khi sử dụng dịch vụ của người nói cùng giọng với mình, chỉ sợ bị chém. Lên xe mình hỏi luôn:

 – Tôi hơi thắc mắc tí, anh cho tôi hỏi một câu nếu anh thấy không phiền, OK?

– Chị hỏi đi.

 – Tại sao anh lại thích đội cái mũ đó?

 – Không phải em thích mà nắng thì em đội thôi.

 – Anh vào đây lâu chưa?

– Em vào được 7 tháng chị ạ.

– Vậy hả, vậy thì mới quá nên chưa hiểu là phải. Đúng ra tôi không nói nhưng vì tình đồng hương nên tôi nói điều này anh đừng giận nhé.

– Chị cứ nói đi…

 – Tôi là người Bắc nhưng tôi cũng không thích cái mũ đó, cái biểu tượng của sự khổ đau và kìm kẹp, mặc dù chú tôi và những người hàng xóm của tôi cũng vẫn đội để che nắng nhưng thực sự tôi không thích nó, vì cái mũ đó mà đất nước tan hoang như ngày hôm nay, tham nhũng tràn lan, kinh tế tuột dốc, đời sống văn hóa tệ hại, trò đánh thầy, thầy tra tấn trò, BS thờ ơ với bệnh nhân con người tìm cách lừa lọc lẫn nhau, tình người không còn… (BS Lê Nhàn)

Tôi sống tha hương gần mãn kiếp nên không có dịp tiếp xúc với một người tài xế taxi ở quê mình. Trong Khu Đèn Đỏ Nana Plaza ở Bangkok, thảng hoặc, tôi cũng thấy một hai người đội mũ cối đang lầm lũi đẩy chiếc xe kem bé tí teo giữa lòng con phố chật ních người đi.

Cả cái xe lẫn cái mũ đều là dấu hiệu cho biết chủ nhân mới từ Việt Nam sang. Kẻ sang trước, sau khi dành dụm được chút vốn liếng, thường sắm xe bán trái cây (vì có lời hơn) và cũng sắm luôn cái nón mới – made in Thailand – không phải là nón cối, tất nhiên!

Bên Vientiane hay Phnom Penh thì khác. Dân Lào và dân Miên tuy cũng cũng  nghèo thảm thiết nhưng họ thường từ chối làm những công việc quá nặng nhọc (và rất ít lương) nên phụ hồ gần như là “nghề” chỉ dành riêng cho đám di dân lậu. Bởi vậy, ở bất cứ nơi đâu có xây dựng là thế nào cũng có loáng thoáng vài ba cái mũ cối đang lui hui dưới ánh nắng chói chang.

Vì thói quen nghề nghiệp, tôi hay mời những người đồng hương trẻ tuổi của mình dùng một bữa cơm thanh đạm (nơi một quán hàng nào đó, bất kỳ) để có dịp trao đổi đôi câu tâm sự. Phần lớn các em đang ở lứa tuổi đôi mươi, chào đời khi mọi cuộc chiến (Bắc/Nam-Miên/Việt-Tầu/Việt) đều đã lụi tàn. Ai cũng rời làng quê chỉ vì một lý do duy nhất (“ở nhà thì biết làm chi ra tiền”) và gần như không ai hay biết gì về chuyện chinh chiến cũ, nói chi đến “gốc gác” cái mũ cối mà họ đang đội trên đầu.

Phải nhìn thấy những vệt mồ hôi muối dầy cui trên lưng áo, những ánh mắt buồn bã mệt mỏi, và những gương mặt lấm lem đen đủi (trong điều kiện khí hậu vô vùng khắc nghiệt ở Á Châu ) mới thông hiểu sự cần thiết của cái nón, bất kể loại nào, miễn có thì thôi. Ở tuổi này (lẽ ra) tất cả các em đều phải có cơ hội để đi đến giảng đường, thay vì đi tha phương cầu thực.

Gần đây, lại có một hiện tượng mới nữa về mũ cối. Nó chợt xuất hiện ở những vận động trường hay giữa những phố phường nơi xứ lạ và được chủ nhân dùng như một vật  trang sức (để gây chú ý của tha nhân) chứ không phải để che thân. Sự kiện này cũng gây ra đôi chút phiền lòng:

Trần Thị Thảo: “Nhìn qua là biết bọn vô học đi làm cu li ở Nhật.”

Sinh Nguyễn Xuân: “Tối qua trên sân vận động Singapore thấy mũ đó cũng xuất hiện á kkk.”

Mạc Văn Trang: “Sao các bạn trẻ người Việt ở Nhật lại lập ra ‘nhóm mũ cối’ rồi quậy trong sân bóng đá, khi đội Việt Nam đá với đội Nhật, gây mất cảm tình với dân sở tại?” Top of Form

Nỗi e ngại (“gây mất cảm tình với dân sở tại”) của T.S Mạc Văn Trang ở Nhật chỉ là chuyện nhỏ, rất nhỏ, so với những vụ án ở Hoa Kỳ mà nhiều người Việt phải hầu toà vì tội chụp mũ (cối) lên đầu tha nhân, và hậu quả là đã có lắm kẻ đã tán gia bại sản!

Hễ cái nón cối xuất hiện nơi đâu là y như rằng nơi đó vấn đề, dù tự thân nó hoàn toàn vô tội. Số phận của cái mũ cối cũng hẩm hiu, xui xẻo y như cái liềm hay cái búa thôi. Cả ba, chả may, bị “vướng” vào đám Cộng Sản mà trở nên những biểu tượng của sự xấu xa khiến thiên hạ kinh sợ (hay kinh tởm) cứ y như gặp phải kẻ… lỡ giẵm nhằm cứt vậy.

 – Tưởng Năng Tiến

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở MŨ CỐI_S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

CÁI TỘI CHỬI THỀ_Lộc Dương

Cái tội chửi thề

This image has an empty alt attribute; its file name is pic.jpgTrong một khách sạn sang trọng do Bộ Ngoại giao Mỹ mướn cho ở, Phạm Minh Chính đang định đi cầu thì chuông điện thoại reo. Đầu dây bên kia là Trọng Lú, giọng gắt gỏng:

Các chú làm sao mà bây giờ dư luận đang um xùm cả lên. Thiên hạ đang chửi bố chúng ta, chửi bố đảng, đầy trên mạng trong nước lẫn ngoài nước …

– Ơ, chúng em có làm gì đâu ?

Không làm gì à ? Không làm gì mà tụi bộ ngoại giao Mỹ nó quay được cảnh các chú túm tụm lại chửi thề, cười hô hố với nhau và còn nói xấu chúng nó đấy. Nó quăng trực tiếp lên “du tu be ” kia kìa. Nhục nhã quá. Nói thật chính tôi coi cái clip đó mà cũng thấy xấu hổ cho đảng ta. Bà vợ tôi còn bảo : Sao các chú ấy nói chuyện như thể xã hội đen đang ngồi nhậu chứ không phải phái đoàn cấp cao của chính phủ đi dự hội nghị thượng đỉnh ASEAN và Mỹ.

– Đâu đâu, để tí đi cầu xong em vào xem thế nào.

Xem gì nữa ? Văn phòng Lễ Tân bộ ngoại giao ta đã năn nỉ phía Mỹ gỡ bỏ cái clip ấy rồi. Chúng nó cười. Trước khi gỡ, có ông Mỹ còn bảo : Đại diện cho một đất nước, một dân tộc mà các anh làm cứ như trò trẻ con.Trước giờ chúng tôi chưa từng gặp một phái đoàn ngoại giao nào kém văn minh như vậy.

– Đâu mà quan trọng thế. Thật ra chỉ có đồng chí Tô Lâm gọi một quan chức cao cấp của Mỹ là thằng…Với lại em cũng quen miệng chửi thề vài câu để nhấn mạnh câu văn thôi, chứ chẳng có gì đâu anh. Từ nay em hứa sẽ kiểm soát chặt chẽ cái mồm quen ăn nói tục tĩu của em, anh yên tâm.

Yên tâm gì? Năm ngoái chú cũng dẫn thằng Tô Lâm qua bên Anh xin viện trợ, xin chưa được đồng nào nó đã phải vội đi ăn thịt bò dát vàng, tai tiếng biết bao nhiêu. Năm nay lại xảy ra chuyện các chú là khách, đứng ngay trong văn phòng bộ ngoại giao của người ta chửi thề vung vít lên. Tôi thật không hiểu được đầu óc và trình độ của các chú có phải là giống bò hay không ? Đồng chí Phúc Niễng làm thủ tướng hoá ra lại hay. Đồng chí ấy chỉ có cái đầu nghẹo nghẹo với lại đọc diễn văn như thằng mù chữ, nhưng chỉ làm trò cười cho thiên hạ thôi, còn các chú mang hết cái nhục này đến cái nhục khác về cho đảng và cho đất nước ta…

– Nhưng em cũng ghi được thành công lớn trong chuyến đi này anh ạ.

Thành công gì?

-Lúc em khoe là VN đã viện trợ cho Ukraine nửa triệu đô la, ông Biden cứ nhìn em chăm chú, hai bàn tay bấu vào nhau, như thể uống từng lời nói của em.

Chú ngu như cứt ấy. Nước người ta văn minh. Người ta cư xử tôn trọng mình, ra vẻ lắng nghe mình nói. Chứ nửa triệu đô la là cái chó gì. Không bằng một miếng đớp tham nhũng 3 triệu đô la của thằng bộ trưởng Nguyễn Bắc Son. Trước đây thằng Nguyễn Minh Triết cũng thế, nói chuyện với Obama thấy Obama ngồi lắng nghe, về cũng khoe nhặng xị lên là đã phân hoá được tổng thống Obama. Phân hoá con mẹ gì? Một thằng ất ơ, học lực lớp 3 trường làng mà đòi phân hoá tổng thống của một đại cường quốc. Nói chuyện với chú chán bỏ mẹ đi, không muốn chửi thề cũng buộc phải chửi thề. Thôi tôi không nói nữa. Các chú về đây biết tay tôi.

Điện thoại cắt. Phạm Minh Chính tụt quần, chạy vội vào nhà cầu. Sau khi thải ra một bãi quá trời quá đất thúi inh lên, vừa đưa tay bịt mũi Chính vừa lẩm bẩm: Mẹ nó, thức ăn Mỹ ngon thật nhưng không biết nó bỏ gia vị gì mà ỉa cứt thối quá….Lát sau, chắc vừa hửi cứt. vừa nhớ lại cú điện thoại hồi nãy, Chính lại lẩm bẩm: Lão ấy rõ ràng cũng chửi thề không thua gì mình. Mẹ nó chứ, sợ gì lão./.

Loc Duong

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở CÁI TỘI CHỬI THỀ_Lộc Dương

Tháng Tư, tôi thắp ngọn nến trong lòng_Vũ Thế Thành

THÁNG TƯ, TÔI THẮP NGỌN NẾN TRONG LÒNG

Vũ Thế Thành

This image has an empty alt attribute; its file name is thap-len-ngon-nen.jpgSài Gòn xưa: Trăm nghìn nhánh khổ

Các quán nhậu vỉa hè dọc kênh Nhiêu Lộc dạo này nhiều người hát rong, cũng ampli, loa, micro không dây, nhạc đệm… Họ chỉ hát toàn nhạc xưa, nhạc sến, với điệu rumba, bolero, nghe tưởng như đồng hồ đếm ngược. Lần trước về Sài Gòn, tôi đã ngồi quán vỉa hè, nghe những bài ca vỉa hè như thế… Buồn vào hồn không tên, thức giấc nửa đêm nhớ chuyện xưa vào đời (2). Lặng cả người!

Tôi chợt nhớ những ngày sau tháng Tư 75, đám bạn bỗng nhiên làm đám cưới chớp nhoáng, lấy vợ lấy chồng để đối phó với thời cuộc, rồi vội vã tìm đường vượt biên. Có đứa vượt được qua biên giới, nhưng cũng có đứa về bên kia thế giới. Những người ở lại như tôi, tưởng họ đã đến bến bờ thiên đường.

Bước lên tàu là ngàn khơi sóng vỗ, không phải là chuyến xe Sài Gòn – Đà Lạt. Có khi Hà Bá mời xuống chơi, có khi tủi nhục trên đường vượt biển, phần còn lại là may mắn. Mà có may mắn lọt vào xứ người cũng chưa hết. Cô bạn tôi cao chưa quá thước rưỡi, với tay đưa khay bánh vào ngăn, trượt chân, u đầu sứt trán. Quên cả đau, vội vội vàng vàng lượm bánh xếp lại vào khay. Bà xếp Tây mắng: Xứ này không ăn dơ như thế.

Cũng có người đi làm nail, “tiền tươi thóc thật”, dồn hết cho con ăn học. Hy sinh đời bố, củng cố đời con; hiểu sát nghĩa đen là đây, là mồ hôi trộn nước mắt. Khi con thành tài, thân mẹ cũng tàn tạ. Tiền gửi về nhà, người thân trong nước nhiều khi tưởng đâu bên đó kiếm tiền dễ như ăn cơm sườn, xin thêm thứ này thứ nọ. Có biết đâu đó là tiền chắt chiu, có khi là tiền thí mạng không mua bảo hiểm y tế.

Nhưng cũng có nhiều người kiên nhẫn vừa làm vừa học, thành danh. Nơi xứ người, dù sao vẫn có nhiều cơ hội hơn trong nước, vấn đề là có chịu nắm bắt hay không mà thôi.

Trong nước thì coi như bế tắc. Hồi đó, tôi dạy kèm thêm luyện thi đại học, dạy nhóm năm, bảy học sinh. Có em học xuất sắc, bài thi làm không chê vào đâu được. Vậy mà rớt. Em là con “ngụy”, thứ “ngụy” còn trong trại cải tạo, làm sao vào đại học nổi, em rớt ngay từ bãi gửi xe. Em đến báo tin, thầy trò ngồi uống cà phê vỉa hè, buồn ứa nước mắt. Thời điểm này không dung những tiềm năng như em… Số phận đời người chứ đâu phải trò chơi chính trị.

Những năm sau 75, giáo sư, bác sĩ, ông này bà nọ xuống đường ra chợ trời hết, người đạp xích lô, chạy xe ôm, người bơm mực bút bi, bán bún riêu, mở quán cà phê vỉa hè, buôn hàng lạc xon… Người nào lanh hơn thì buôn hột xoàn đổi đô-la…

Năm 78, tôi gặp một phụ nữ ăn mặc lam lũ, nhưng đẹp, quý phái, không quá ba mươi, trên chuyến tàu chợ. Chị kéo lê hai bao than ra gần cửa tàu, ngước mắt nhìn tôi, nói như năn nỉ: Lát nữa gần đến ga Bình Triệu, anh làm ơn đạp dùm tôi hai bao than này xuống. Chị buôn lậu than, đến ga sẽ bị tịch thu. Đôi mắt chị buồn và nhẫn nhục quá, làm tôi nhớ đến đôi mắt của bà mẹ trong một tác phẩm của C.V. Gheorghiu. Cảnh sát bắt bà mẹ vào bót để tra hỏi nơi ẩn nấp của con bà. Tác giả đã mô tả đôi mắt của bà, cũng buồn và nhẫn nhục như thế.

Có lần đi chơi khuya, tôi gặp Bùi Giáng ở ngã ba Trần Quang Diệu – Trương Minh Giảng (3), ăn mặc chắp vá màu mè như phường tuồng, cầm cây chổi cùn múa may, chặn đầu xe tôi lại: Cho trẫm điếu thuốc. Hoàng thượng đã chiếu cố dân đen, dân nào dám cãi. Tôi rút điếu thuốc, cung kính châm lửa cho hoàng thượng. Ngài rít một hơi rồi phẩy tay: Cho lui… Lui rồi, ngoái cổ lại, vẫn thấy hoàng thượng tiếp tục múa chổi đi quyền.

Bùi Giáng đã có mầm mống bất thường từ trước rồi. Sau 75 nặng hơn, lang thang khắp chốn. Cái điên của Bùi Giáng thật hay giả, cũng khó biết. Mất trí như ông vậy mà hay, ý thức buồn vui làm chi cho khổ?

Mà Sài Gòn lúc đó sao dễ gặp “người điên” thế! Cũng không phải điên, họ có phá phách gì ai đâu. Tôi thường gặp vài ông ăn mặc lịch sự, áo sơ mi trong quần, có ông còn đeo cà vạt, đi đi lại lại ở khu Lê Công Kiều, nơi bán sách cũ. Vừa đi vừa khua tay, lảm nhảm rồi lại gật gù…

Người bạn tôi qua được tới bến bờ, vừa làm vừa học, gửi về cho tôi thùng quà chừng ký rưỡi, kèm bức thư ngắn: Gửi mày mấy hộp thuốc Tây, bán đi mà lai rai. Còn lọ nhỏ để uống, đừng bán. Thuốc an thần đó. Tâm thần phải chăng là lối thoát của con người với thực tại?

Sau 75, tôi học được một điều, mà đến nay vẫn thấy chí lý. Đó là, người chiến thắng tuyệt đối đúng. Người chiến thắng tự hào là đúng rồi, nhưng có khi tự hào cả những cái sai. Sai mà cứ tưởng mình đúng. Chuyện “tủ lạnh chạy đầy đường” chỉ là chuyện khôi hài, chuyện nhỏ. Cái “sai mà tưởng đúng” mới làm đất nước chậm nhịp, di lụy chẳng biết bao giờ mới hết.

Cả đất nước đã có lúc “sống” bằng khẩu hiệu. Nghe riết rồi quen, nghe tai này lọt tai kia cũng quen luôn. Không quen lỡ có ngày phát điên thì sao?

Người lẽ ra phải điên mà không chịu điên, đó là mấy bà. Cầm có tí tẹo tiền, xách giỏ đi chợ, loanh quanh đầu chợ cuối chợ cả tiếng đồng hồ, có khi chẳng mua được thứ gì. Mà có tiền đi chợ là còn may, có người chỉ khoai sắn, rau lang, bí đỏ… quanh năm. Ăn để sống sót thì thứ gì chẳng nhét vô bụng được. Bột ngọt khi đó là thần thánh.

Mấy ông “tù cải tạo” coi vậy chứ chỉ khổ cái thân, chứ cái đầu chưa đến nỗi. Có biết bên ngoài thế nào đâu mà khổ, mà lo. Vợ một bác sĩ quân y đi thăm nuôi, dúi vào tay chồng ít tiền. Thăm nuôi lần sau, thấy tiền vẫn còn nguyên, ông chồng không dám xài. Bà than: Tội nghiệp cho cả gia đình tôi! Ở ngoài vợ con nhịn đói để nuôi tù, ở trong nhịn đói vì không nỡ nuốt cái đói khát của vợ con. Não lòng đến thế là cùng! Nước mắt nuốt ngược thế này, chỉ bị nghẹn mà không phát điên, bà này chắc có căn phần phúc đức.

Nghe nói mấy ông “ngụy cải tạo” định lập ra ngày vinh danh mấy bà vợ. Không đủ đâu mấy ông. Mấy bà này chắc phải phong thánh.

Tháng Tư năm nay, Sài Gòn nóng khủng khiếp. Sài Gòn không mưa nhưng Đà Lạt mưa. Những ngày cuối tháng Tư năm nào Đà Lạt cũng mưa, mưa mù mịt che khuất cả đồi thông ở Couvent des Oiseaux đối diện nhà, nhưng mưa chỉ vào lúc trưa chiều, tối tạnh.

Đà Lạt, tám giờ tối đã như mười hai giờ khuya ở Sài Gòn. Tôi vẫn thích đi bộ mỗi khi có chút hơi men thế này. Con đường dốc về nhà thường kéo theo mệt mỏi của đời người. Tựa lưng vào cửa nhà, hoa lá trong vườn yên tĩnh như đêm. Dưới ánh đèn đường rọi qua hàng rào, bóng của lá cây ngọc lan chập chờn trên mặt sân.

Cuối tháng Tư rồi. Người ta sẽ đốt pháo hoa ở Sài Gòn để ăn mừng. Ai vui xin cứ vui. Nhưng còn chút tâm tình này không nói về những ngày sau 75 trong mắt tôi là như thế nào, lòng dạ chưa yên…

Đời trăm nghìn nhánh khổ, nhánh nào cho người, nhánh nào cho mình? Năm 75 là ngã rẽ của đời người. Bạn bè, người thành danh, đứa bầm dập, và cho dù ở phương trời nào, Tây hay ta, nỗi khổ vẫn theo số mệnh mà đến. Giờ đây, đứa nào cũng chạm tay vào buổi hoàng hôn đời người.

Tháng Tư, tôi thắp ngọn nến trong lòng. Thoảng trong mùi hương ngọc lan, tôi hát theo, hát thầm bài hát nghe được ở quán rượu…

“Cuộc đời là hư vô, bôn ba chi xứ người,

Khi mình còn đôi tay…” (1)

Vũ Thế Thành

________________

Chú thích:

(1) Xin thời gian qua mau – Lam Phương

(2) Nửa đêm ngoài phố – Trúc Phương

(3) Nay là đường Lê Văn Sỹ

Nguồn: http://hon-viet.co.uk/VuTheThanh_ThangTuToiThapNgonNenTrongLong.htm

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Tháng Tư, tôi thắp ngọn nến trong lòng_Vũ Thế Thành

ĐI MỸ ĐƯỢC RỒI, VỀ LÀM GÌ?_Đỗ Thanh Lam

Đi Mỹ được rồi, về làm gì?

Đỗ Thanh Lam

This image has an empty alt attribute; its file name is nuthan-tudo.jpgTôi năm nay 21 tuổi, đang du học tại Mỹ. Kết thúc 4 năm Đại học, tôi muốn về Việt Nam. Nhưng ai cũng ngăn cản: ‘Đi đi, đừng về!’
Bố mẹ tôi làm trong ngành y. Hai người bắt đầu nói về chuyện du học và định cư tại Mỹ khi tôi mới học lớp 11. Mẹ thường hay kể công việc hằng ngày tại bệnh viện, để tôi hiểu lời hối thúc ‘đừng về Việt Nam’ bắt nguồn từ 20 năm sống trong bức xúc của mẹ: ‘Bệnh viện của mẹ có một bác giám đốc lên chức từ những năm 80. Kể từ đó, bác đã cho không biết bao nhiêu họ hàng từ Bắc, Trung vào làm hộ lý, điều dưỡng, kỹ thuật viên,…
Với ‘quyền lực mềm’ của giám đốc, bác chỉ nói một tiếng, có anh trưởng khoa nào không dám nhận người? Toàn con ông cháu cha. Còn những sinh viên chính quy, nắm tấm bằng Đại học, phải trầy trật khổ sở để được bước chân vào cổng viện. Không chỉ ở đây, mà bất cứ nơi đâu tại Việt Nam này cũng có ‘quyền lực mềm’ giống thế hoặc hơn thế. Nhiễu nhương lắm. Hách dịch lắm. Về làm gì hả con?’

Khi không thuyết phục được tôi, ba mẹ viện đến dì. Dì bảo: ‘Dì hiểu là con muốn về Việt Nam để cống hiến. Nhưng, ở nơi này, tài năng của con không có cơ hội phát triển. Tìm cách định cư đi. Khi đã có kinh tế, con muốn làm gì cho quê hương mà chẳng được!’ Không chỉ bố mẹ, dì, mà các bác đang sống ở Mỹ đều đồng ý với quan điểm ấy.
Lăng kính Mỹ: ‘Lý do nào để quay về quê hương?’
Trong vòng tròn bạn bè của tôi, chỉ ra ai không muốn về Việt Nam thì rất dễ. Còn tìm người quyết tâm trở lại thì thật khó khăn. Nhiều bạn lưỡng lự, không ai dám chắc chắn hai chữ: ‘Sẽ về!’

Tôi có một cô bạn thân đang học ngành Công nghệ thực phẩm. Cô bảo: ‘Ngành mình học, về nước không xài được. Còn đường ở Canada thì rộng mở. Mình không muốn trở về để chật vật kiếm một chỗ làm sau 4 năm vất vả!’ Một người bạn khác chia sẻ: ‘Từ lúc quyết tâm theo đuổi sự nghiệp sản xuất âm nhạc, mình đã biết.
Tại Việt Nam, mình sẽ không làm được.’ Một chị theo học kinh tế thì bảo: ‘Đơn giản chị không muốn!’ Chị đang đi thực tập rất nhiều nơi, kiếm tìm một chỗ tài trợ visa cho mình. Anh bạn học kỹ sư hóa, vừa apply thạc sĩ thành công nói với tôi: “Anh thích nghiên cứu khoa học, Việt Nam sao có đất cho anh?

Về ư? Anh không thể.” Những thằng Mỹ thì hỏi thẳng vào mặt tôi: ‘Tụi mày từ Việt Nam đến đây học, thụ hưởng văn hóa của tụi tao, thụ hưởng cả những đồng tiền bố mẹ tao còng lưng đóng thuế. Học xong mày phủi tay quay về nước, thế thì có công bằng với tụi tao hay không?’
Giữa dòng ý kiến ‘Đi đi, đừng về!’ dữ dằn như thác lũ đẩy tôi lùi lại, tôi nhìn về quê hương, cố gắng tìm một lý do cho mình quay lại. Nhưng tìm hoài mà không thấy.

Chưa bao giờ sách giáo khoa nói về những cái cúi đầu của chúng tôi trên đất Mỹ, vì nỗi tự ti quê hương thua kém hơn, mà chỉ bảo: ‘Nước ta rừng vàng biển bạc.’ Chưa bao giờ chúng tôi được dạy về ‘trách nhiệm công dân’.
Chúng tôi chỉ học ganh đua điểm số, chứ không học cách cùng nắm tay nhau mà đi xây dựng đất nước. Chưa bao giờ bố mẹ nói tôi phải có trách nhiệm với Việt Nam, mà chỉ nói: ‘Đừng về để dẫm vào đường cụt. Trên mảnh đất này, người tài không có cơ hội. Vì tương lai của con, hãy đi đi!” Việt Nam ơi, người có cho tôi một lý do để trở về?’

Đỗ Thanh Lam

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở ĐI MỸ ĐƯỢC RỒI, VỀ LÀM GÌ?_Đỗ Thanh Lam

Thắng Thua _ Thơ TPK

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thắng Thua _ Thơ TPK

Một sự hổ thẹn không thể bào chữa_Lâm Bình Duy Nhiên

MỘT SỰ HỔ THẸN KHÔNG THỂ BÀO CHỮA

Lâm Bình Duy Nhiên

https://www.youtube.com/watch?app=desktop&v=76hS_WgP4Ww…

This image has an empty alt attribute; its file name is pmc.pngDẫn cả một phái đoàn chính phủ đi công du tại quốc gia được cho là cường quốc số một thế giới mà lại không hề ý tứ, cẩn thận trong phát ngôn. Tại thủ đô của Hoa Kỳ, trong phòng họp của họ, mà lại ăn nói một cách vô giáo dục, lịch sự tối thiểu cũng cóc cần. Ông Phạm Minh Chính và thuộc cấp bình luận vô tư vể các quan chức Mỹ, gọi phái đoàn người ta là “nó” mà quên hẳn việc có thể bị ghi âm và ghi hình, một cách công khai hay bí mật (Hoa Kỳ cũng thuộc loại chúa ghi âm, nghe lén, thậm chí cả đồng minh châu Âu). Một sự điên rồ, ấu trĩ về ngoại giao của Hà Nội.

Rõ ràng, sòng phẳng. Mẹ nó, có sợ gì đâu!, câu nói mang tính thân mật với thuộc cấp trong phòng họp khi ông Chính đang chờ hội kiến với ông Ngoại trưởng Hoa Kỳ, Antony Blinken, chứng tỏ phong cách xem thường đối tác, dẫu mình chẳng là cái thá gì, từ tư cách, lẫn chuyên môn đến tri thức khi so với người ta.

Ông Chính cũng ra vẻ tự tin khi cười bảo: “Nó đang trong phòng nó nghe đấy … Sợ gì đâu …”

Ông Đại sứ Việt Nam tại Mỹ, Nguyễn Quốc Dũng, cũng “vô tư” bốc phét: “Mình nói nó, nó cũng phải ngại … Ngay cái đoạn mà cuối cùng cậu cũng bí cậu cũng phải nói … là cuối cùng cũng phải tin Nga”, trong tiếng cười to của cả phái đoàn…

Cả ông tướng Tô Lâm của bò dát vàng cũng “thằng” này, “thằng” nọ khi nhắc về ông Matt Pottinger!

Ngôn ngữ thân mật của họ, của những đồng chí trong phái đoàn cao cấp, đại diện cho cả một đất nước là thế này nữa, khi ông Thủ tướng Chính kết luận, trong sự lắng nghe của đoàn tuỳ tùng: “Ông này (Matt Pottinger) đáng nhẽ phải nhắc tổng thống… lúc ngồi ấy… nó nhiều quá… thế là bỏ mẹ nó tất cả … lúc đợi khách…”.

Suy cho cùng, cũng chẳng có gì ngạc nhiên về bản chất vô học, ỷ quyền cậy thế, ăn cháo đá bát và hèn hạ của cộng sản Việt Nam. Trước mặt đối phương thì nhỏ nhẹ, xin xỏ. Sau lưng thì sử dụng cả một hệ thống truyền thông để tuyên truyền, lên án, chê bai, chỉ trích đối phương.

Đi xin xỏ viện trợ nhưng vẫn dùng những mỹ từ như thể thế giới đang xếp hàng chờ đợi được tiếp kiến lãnh đạo Việt Nam.

Chợt nhớ đến lời tâm sự của ông Tiến sĩ Nguyễn Xuân Oánh (cựu phó thủ tướng kiêm thống đốc ngân hàng Việt Nam Cộng Hòa) với người viết: “Tôi dẫn họ đi để cho họ biết thế giới bên ngoài, chứ họ cứ như là con ếch ngồi đáy giếng!”

Ông Oánh, khi đó là cố vấn kinh tế cho nguyên thủ tướng cộng sản Võ Văn Kiệt. Vào giữa những năm 1990, ông Oánh đã dẫn một phái đoàn của chính phủ cộng sản, do ông thủ tướng Võ Văn Kiệt cầm đầu để đi thăm các nước Châu Âu. Mang tiếng đi thăm nhưng thực chất là đi xin tiền viện trợ. Thế thôi.

Trung Cộng, Pháp hay Mỹ cũng là nạn nhân của cái phong cách ngoại giao rừng rú, lợi dụng và vô ơn của cộng sản Việt Nam.

Tiếc rằng, phương Tây chắc thừa biết bản chất tồi tệ của Hà Nội nhưng họ vẫn “làm ngơ”!

Tất cả chỉ vì bài toán quyền lợi của nhau mà thôi, nên cộng sản Việt Nam vẫn cứ tiếp tục hành xử một cách “đầu đường, xó chợ” mỗi khi đi công du, ngoại giao tại phương Tây!

Chỉ có người dân Việt Nam mới cảm thấy ngượng và hổ thẹn khi thấy quan chức cao cấp của họ hành xử một cách vô ý tứ và vô ý thức như thế. Ếch ngồi đáy giếng là vậy!

Chẳng có đối lập chính trị, tự do ngôn luận và tự do báo chí nên cả một chế độ cứ mặc nhiên hành xử một cách tuỳ tiện, bất chấp thể diện quốc gia.

Đó chẳng khác nào một sự hổ thẹn cho đất nước và con người Việt Nam./.

(LBDN)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Một sự hổ thẹn không thể bào chữa_Lâm Bình Duy Nhiên

CÁI THẤY BIẾT CỦA THIỀN_Tâm Hoàn (Hồ Đắc Biên)

Cái Thấy Biết của Thiền

Thị giả Tâm Hoàn (K1 Hồ Đắc Biên)

This image has an empty alt attribute; its file name is thien.jpgChúng ta phải biết rằng NGÃ CHẤP thuộc về thức của Ý. Đối tượng của Ý là ngã tướng. Hình thái nhận thức của Ý là một hình thái nhận thức sai lầm. Ngã tham, ngã sân, ngã kiến, ngã ái tạo thành một cái THẤY BIẾT không còn BÌNH ĐẲNG nữa vì do pháp chấp và ngã chấp chúng nằm sâu bên trong chúng ta, cho nên những hoạt động hàng ngày phải được QUÁN CHIẾU vể VÔ THƯỜNG, VÔ NGÃ và KHÔNG của mọi hiện tượng để NGÃ và PHÁP CHẤP cùng sanh ra một lượt với chúng ta lần lần tan rã theo năm tháng. Điều này có nghĩa là TÂM-Ý-THỨC lệ thuộc vào dòng TÂM – TƯƠNG – TỤC đi liền trước đó nó bao gồm hết thẩy mọi thứ của Sắc Tưởng, Thanh Tưởng, Hương Tưởng, Vị Tưởng, Xúc Tưởng,v.v… của 5 thức GIÁC QUAN vốn dĩ là chưa tạo NGHIỆP, và để cho 5 thức GIÁC QUAN được an trụ chúng ta phải nương vào KIẾN PHẦN của TÀNG THỨC mà tạo ra một đối tượng là CHÂN NHƯ và KHÔNG của thế giới bản thể mà chúng ta ví dụ như là “NƯỚC”. 5 Thức Giác Quan gồm nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức chỉ có thể tiếp xúc với thế giới biểu hiện mà thôi mà chúng ta thường ví dụ là “SÓNG” tức thực tại của sanh diệt. Cái ví dụ về “SÓNG” và “NƯỚC” rất hay vì NƯỚC chưa từng rời SÓNG và SÓNG cũng chưa từng rời NƯỚC. Nó cho phép chúng ta quán chiếu thấy thực tại của CHÂN NHƯ và KHÔNG (“Nước”) biểu hiện thành thực tại SANH DIỆT (“Sóng”). Khi 5 thức GIÁC QUAN bị mê mờ đầy phiền não thì cái nhận thức về “SÓNG” nó sai lầm nhưng khi đã trừ khử được những kiến hoặc sai lầm đó rồi thì 5 Thức có thể nhận thức rõ bản thân thực tại, nhưng thực tại mà 1 trong 5 thức GIÁC QUAN đó nhận thức cũng vẫn là “SÓNG” tuy nhiên không còn sai lầm nữa. Ở đây chính là lúc trở về được trong cái thấy chỉ là THẤY , trong cái NGHE chỉ là cái nghe, trong cái thọ tưởng chỉ là Thọ Tưởng, trong cái thức tri chỉ là Thức Tri, thanh tịnh trong sáng như nó đang là một cách mới mẻ tinh khôi không có cái bản ngã ở trong, ở ngoài, ở chặng giữa. Vì vậy khi mà Quán về Chân Như và về Không qua phương diện hiện tượng bằng Thiền Minh Sát (Vi-passana) thì những đợt “SÓNG” này trình diện cái không sanh, không diệt, không tới, không đi, không một, không khác, không còn, không mất; ngay lúc đó đạt được TÁNH BIẾT thấy Pháp; cái thấy đúng thực tại gồm KIẾN PHẦN và Tướng Phần nó tương tức, tương nhập không còn chủ thể đối tượng, chúng gần như đã bốc khói trong cái Thấy Biết của Thiền, của Sát na hiện hữu. Do vậy mà Krisnamurti mới bảo CHÂN LÝ là cái mà ta có thể sờ đụng được; Riêng các Thiền Sư thì bảo: “Xúc mục vô phi thị ĐẠO”, nghĩa là bất cứ gì mà ta chạm mắt vào đều hết thảy là ĐẠO. Vậy thì từ cái thực tại sanh diệt là “SÓNG” mà trở lại với cái thực tại BẢN THỂ CHƠN NHƯ là “NƯỚC” tịch nhiên bất động thúc đẩy ngăn ngừa không cho THỨC của Ý tham gia vào 5 Thức GIÁC QUAN thì đó là cái THẤY của Thiền Sư Bạch Ẩn. Ngài động thân phát ngữ từ CHÂN NHƯ khởi niệm “Thế À” rất nổi tiếng. Câu chuyện được truyền tụng: Vào thời đại của Thiền Sư Bạch Ẩn, trong vùng có một gia đình phú hộ ở gần am thất của Ngài. Người con gái trong gia đình này lén lút mang thai bởi cậu giúp việc, cha mẹ gạn hỏi cô thì cô bảo là do gần gũi hầu hạ Thiền Sư Bạch Ẩn. Cô nghĩ chỉ còn cách vu oan giá họa cho một nhân vật nổi tiếng thì may ra mới thoát được sự rầy la của cha mẹ. Khi bào thai gần đến kỳ sinh nở, cha mẹ cô tới am thất mà nói rằng “Ông” là chủ nhân của cái bào thai trong bụng con gái ông!. Thiền Sư yên lặng trả lời “Thế À” và khi đem đứa con đến giao cho Bạch Ẩn, Ngài cũng nói “Thế À” mà nhận con. Nhưng thái độ kỳ lạ nhất của Thiền Sư Bạch Ẩn là ôm đứa con trong lòng ra chợ xin sữa cho bé khỏi chết là do ở đâu khởi niệm? Khởi niệm từ đâu? Chính là từ Chân Như mà khởi niệm nên vẫn còn thanh tịnh! Đến khi người con gái là mẹ của đứa nhỏ không còn chịu đựng được nữa bèn đến Bạch Ẩn xin lại đứa con thì Ngài trao đứa bé với vỏn vẹn hai chữ “Thế À”. Và “Thế À” ở giai đoạn này rất là mới mẻ tinh khôi, không có sự dính dáng hay lập lại của “Thế À” ở chặng đầu, ở chặng giữa. Ngài Bạch Ẩn luôn luôn sống trọn vẹn trong khoảnh khắc hiện hữu tinh khôi mới mẻ nên gọi là người Đạt Đạo: “Nhập lâm bất động thảo”, “Nhập thủy bất động ba” (Vào rừng không đạp cỏ – Vào nước không dậy sóng). Nhập Đạo chính là tất cả các pháp mình thấy, mình nghe, v.v… đều như thật (paramattha). Do vậy, thường ngày ta hãy thực tập cái “NGHE RÕ” mỗi khi có ai đến nói gì với mình, ví dụ họ đến nói: “Tôi ghét chị lắm” hoặc “Cái đồ con nhà mất dạy” hoặc “Anh mà tu được cái gì!” thì mình một mực “Nghe Rõ” vậy thôi. Nghe rõ từng chữ, từng lời, đó là áp dụng trong cái NGHE chỉ là NGHE không để nghiệp thức xen vào chủ động. Ở chỗ này ông Bàng Long Uẩn nói “khó khó khó mười tạ dầu mè leo cây vuột”. Bà Bàng Long Uẩn lại nói “dễ dễ dễ trên đầu trăm cỏ ý tổ sư” còn cô con gái Linh Chiếu thì nói “Không khó cũng không dễ, đói đến thì ăn, mệt ngủ liền”. Cái Thực Hữu CHÂN ĐẾ (paramattha) phải vượt qua hình tướng, tên gọi. “Pháp bổn pháp vô pháp…” như trên hội Linh Khứu Sơn khi Đức Phật đưa cành hoa sen lên trước đại chúng được gọi là “Niêm hoa vi tiếu” để đáng thức TÁNH THẤY luôn mới mẻ tinh khôi nơi những đệ tử của Ngài mà đừng bị kẹt cứng bởi cành hoa. Khi Đức Phật nhìn đến Ca Diếp thì Ca Diếp chúm chím cười. Ngài cười cái gì? Cười với Phật (?) hay cười với cành hoa hồi nãy (?!) Kẹt gì cũng mang lại khổ thôi.

TÂM HOÀN (HĐB)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở CÁI THẤY BIẾT CỦA THIỀN_Tâm Hoàn (Hồ Đắc Biên)

DÂU HIỀN CẢNH SÁT_Thơ: Lệ Khanh

This image has an empty alt attribute; its file name is nu-csqg.jpgDâu Hiền Cảnh Sát

Lệ Khanh

Thường giàu vì bạn sang vì vợ,

Cảnh Sát Dâu Hiền góp lắm công.

Vận nước thăng trầm luôn vững chí,

Giúp chồng cuộc sống được hanh thông.

Nay dù luân lạc thân lưu xứ,

Vì Hội cùng nhau mãi dốc lòng.

Hoan hỷ tiếp tay trong mọi việc,

Khó khăn ! Nhờ đến thảy đều xong.

Cám ơn các chị đã dầy công,

Mấy chục năm qua vẫn một lòng.

Góp sức chung lời xây dựng Hội,

Chẳng nể nắng Hạ với mưa Đông.

Người ta thường bảo muôn trăm việc,

Nếu muốn hanh thông phải bóng hồng.

Thuận vợ đặng chồng sông tát cạn,

Dâu Hiền Cảnh Sát đẹp hay không?

LỆ-KHANH

– Bông hồng xin kính tặng các Dâu Hiền Cảnh Sát nhân Ngày Từ Mẫu (Mother’s Day)

– Thân gửi nhị vị hiền huynh Nhữ-Đình-Toán & Thái-Văn-Hòa

Kính chúc nhị vị luôn dồi dào sức khỏe,

Mến,

Trần-Bửu-Giao

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở DÂU HIỀN CẢNH SÁT_Thơ: Lệ Khanh

BÀ PHAN THỊ MINH YẾN LÀ AI?

Bà PHAN THỊ MINH YẾN Là Ai?

Từ một nữ sinh trường đầm kiêu sa, thành bà Tướng đầy uy quyền, rồi thế thời đổi thay thành thợ hớt tóc 30 năm dài để nuôi 4 người con nên người mang tên QUANG, MINH, CHÍNH, ĐẠI, đặt tên theo tâm niệm của người chồng chiến binh một đời anh dũng.

This image has an empty alt attribute; its file name is tuong-le-nguyen-vy.jpgĐó là Bà Phan Thị Minh Yến, phu nhân Tướng Lê Nguyên Vỹ, vị tướng tư lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh Quân Lực VNCH, một trong 5 vị tướng Miền Nam đã tuẫn tiết để nêu cao khí phách anh dũng và để gìn giữ danh dự của một quân đội vừa mới thua trận trong biến cố 30/4/1975…

…Vào năm 1954, cô Phan Thị Minh Yến còn rất nhỏ, nhà ở Cầu Đất, Hải Phòng bắt đầu theo cha mẹ di cư vào Nam. Cô gái Bắc Kỳ nhỏ nhỏ được gia đình cho học chương trình Pháp tại Sài Gòn và đã có câu chuyện tình từ năm 17 tuổi. Khi được 19 xuân xanh thì chính thức lập gia đình với một anh Đại Úy Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

Lúc đó là mùa Xuân năm 1964. Chàng hơn nàng 10 tuổi. Nhưng trước sau cô Yến chỉ có một mối tình từ khi biết yêu cho đén lúc thành hôn. Tiếp theo là 10 năm làm vợ lính thời chinh chiến. Rồi bắt đầu làm mẹ. Những đứa con lần lượt ra đời. Các cháu Quang, Minh, Chính, Đại. Ba đứa con trai đầu lòng đặt tên với niềm tự hào của người cha cương trực sống trong một hoàn cảnh đất nước nghiêng ngả. Nhưng cô Út bé bỏng, xinh đẹp chỉ được gọi là em Đại ở trong gia đình. Khi ở ngoài lớp học thì đây là cô nhỏ Tường Vi của bà mẹ Hải Phòng.

Suốt thời gian thơ ấu, người cha đi chinh chiến đêm ngày. Các con phần lớn sống gần gũi và trông cậy vào mẹ. Tuy nhiên, hình ảnh người cha quân đội vẫn là chỗ dựa tinh thần mạnh mẽ cho cả mẹ con.

Tháng 4 năm 1975, bà mẹ 29 tuổi dẫn 4 con từ 6 tuổi đến 10 tuổi di tản qua Hoa Kỳ. Người chồng chỉ huy đơn vị nên không có cơ hội tiễn chân vợ con. Lần chia tay sau cùng mà vợ chồng không biết là lần vĩnh biệt. Anh đã ra đi vào miền vĩnh cửu khi quân đội tan hàng. Không một mảnh khăn tang. Không một giọt nước mắt. Vợ con cũng không hề biết tin về cái chết của người thân yêu. Năm đó chưa 30 tuổi, cô Phan Thị Minh Yến trở thành góa phụ ở vậy nuôi con cho đến năm nay 2008 vừa đúng 33 năm.

Qua Hoa Kỳ, một mẹ và 4 con nhỏ, Minh Yến bắt đầu bằng nghề cắt tóc. Cố gắng tự lập nuôi con. Vừa làm mẹ, vừa làm cha. Từ nữ sinh trường đầm ở Sài Gòn, trở thành vợ lính sống cảnh gia binh, rồi trở thành góa phụ.

Sau bằng ấy năm trời, các con đã trưởng thành, tốt nghiệp đại học, có cháu nội cháu ngoại. Hỏi rằng bây giờ chị làm gì” Còn làm gì nữa. Trước sau cũng chỉ làm một việc cắt tóc chải đầu.

Nhưng nghề chính là vừa làm cha vừa làm mẹ.

Làm mẹ thì cũng dễ vì đã làm mẹ từ Việt Nam. Nhưng làm cha cho những đứa con trai ở Hoa Kỳ mới thật khó. Tất cả đều phải quyết định một mình. Không bàn với ai được. Ba đứa con trai ở tuổi niên thiếu tại miền đất lạ. Biết bao nhiêu là khó khăn. Chuyện học hành, chuyện sinh sống, chuyện yêu đương của các cháu rồi đến chuyện hôn nhân. Cái gì cũng là chuyện của các con.

Khi được hỏi rằng thế chị làm ở tiệm tóc thì làm chủ hay làm thợ. Được trả lời rằng trước sau chỉ làm công mà thôi. Đã bảo rằng nghề chính là làm mẹ, nếu bôn ba mở tiệm, e rằng không có đủ thì giờ trông nom lũ nhỏ.

Hỏi rằng đi làm như vậy có gặp những điều gì khó chịu không. Trả lời rằng lúc đầu cũng thấy tủi thân lắm. Nhưng rồi thì cũng phải nhịn nhục cho quen đi. Vả lại, ở đây cũng không ai biết hoàn cảnh mình ra sao nên cứ việc mình, mình làm. Cũng thi lái xe, cũng lấy bằng, cũng tìm đường đi học nghề, đi làm và nuôi con. Vâng, việc chính là nuôi con.

Chị có buồn giận về chuyện anh nhà đã không đi được vào năm 1975 hay không” Trả lời rằng thì anh nghĩ coi, ai mà chả muốn có vợ có chồng. Các con muốn có đủ cha mẹ. Nhưng phần số đã như vậy thì mẹ con phải sống sao cho phải đạo với sự hy sinh của ông nhà tôi. Ông ấy mà còn thì cũng chỉ muốn cho các con của chúng tôi được học hành tốt nghiệp đại học, rồi dựng vợ gả chồng cho các cháu như bây giờ gia đình tôi đã được như vậy.

Ngoài việc hãnh diện về chuyện con cái, bà mẹ gốc Hải Phòng còn kể thêm với niềm hào hứng đặc biệt. Đó là mối liên hệ với mẹ chồng.

Số là ngay sau khi di tản qua Hoa Kỳ, gia đình được tin chồng chết nên đã tìm cách báo về Bắc cho bà mẹ già biết tin. Tội nghiệp chưa. Ông nhà tôi, lời chị Yến, cũng di cư vào Nam từ 54, mẹ con xa nhau 21 năm không liên lạc. Bây giờ bà cụ mới biết tin con dâu và các cháu ở Mỹ thì đồng thời cũng biết tin con trai đã qua đời.

Những năm đầu ở Hoa Kỳ cũng rất chật vật nên không tiếp tế được nhiều. Những năm sau này bắt đầu gửi tiền về miền Bắc cho bà cụ. Chính tôi là con dâu mà chưa hề biết mặt mẹ chồng. Đến khi liên lạc được thì chồng đã chết. Gia đình tôi và các cháu tiếp tục liên lạc về Bắc. Mấy năm gần đây cụ vào Nam gặp các bà chị tôi rồi thu xếp cải táng đưa di hài nhà tôi về Bắc. Xong công việc quan trọng, cụ mới qua đời mấy năm gần đây.

••••

Vâng, thưa quý vị, tôi vừa kể hầu quý vị một câu chuyện của bà mẹ Việt Nam trong nghĩa vụ thay chồng làm cha thời hậu chiến kéo dài hơn 30 năm tại Hoa Kỳ. Một người thiếu nữ 10 năm làm vợ nhưng đã có đến 30 năm vừa làm cha, làm mẹ, và làm dâu hàm thụ qua thư tín.

Cũng suốt 33 năm tại Hoa Kỳ, với vốn liếng Pháp văn và Anh ngữ của trường Đầm Sài Gòn, trước sau bà cũng vẫn chỉ là cô Yến làm tóc tại Hoa Kỳ. Bởi vì, người phụ nữ Việt Nam đơn giản này đã có một nghề cao quý vô cùng mà bà phải hết lòng theo đuổi. Đó là nghề làm mẹ. Do đó Ngày Của Mẹ hàng năm sẽ là ngày đặc biệt đối với những đứa con của bà.

Và mỗi năm, ngày tang 30 tháng 4 cũng là ngày giỗ bố của đám nhỏ. Bà mẹ Việt Nam tổ chức giỗ chồng bằng âm lịch những vẫn dặn con vào ngày cuối tháng 4, dù ở đâu cũng phải dành cho bố những giây phút tưởng niệm.

Bởi vì thân phụ của các cháu đã chết đúng ngày 30 tháng 4 năm 1975. Tên ông là Lê Nguyên Vỹ, người Sơn Tây, Bắc Việt, chết tại Lai Khê miền Đông Nam Phần.

Ngày nay, tại ngôi đình làng cũ tỉnh Sơn Tây có thờ bài vị của tướng công Lê Nguyên Vỹ, Tư Lệnh Binh Đoàn Số 5 của quân đội Sài Gòn. Ông đã tự sát vào ngày đất nước thống nhất và hòa bình.

 Đó là cách ghi nhận của người đồng hương Sơn Tây với một chút tự hào. Và hình ảnh của ông vẫn trong lòng các con Lê Nguyên Quang, Lê Nguyên Minh, Lê Nguyên Chính và con gái út Lê Nguyên Đại Tường Vi tại miền Virginia Hoa Kỳ.

Đối với lũ trẻ Quang Minh Chính Đại, ba trăm sáu mươi lăm ngày, ngày nào cũng là Ngày Của Mẹ./-

(Nguồn: Fb Kim Anh)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở BÀ PHAN THỊ MINH YẾN LÀ AI?

Chiếc Xe Hơi Màu Đỏ (ST)

Chiếc xe hơi màu đỏ

(Bài do Võ Thiệu chuyển)

This image has an empty alt attribute; its file name is red-car.jpgTrong chiến tranh, có nhiều chuyện lạ lùng đến khó tin, và đây là câu chuyện được kể lại hôm qua từ một cư dân Kyiv.

Khi rời hầm tránh bom, tôi nhìn thấy ngay một chiếc ô tô màu đỏ còn gắn chìa khóa đậu gần cửa hàng đang bốc cháy. Tôi quan sát nó suốt hai tiếng, nhưng không thấy chủ nhân chiếc xe xuất hiện – gia đình tôi không thể đợi quá lâu…

Tôi  quyết định trộm chiếc xe, khẩn cấp đưa gia đình mình đến Vinnitsa, nơi có nhà của họ hàng để lánh khỏi làn lửa bom đạn. Sau đó, tôi tìm thấy một số điện thoại trong ngăn đựng găng tay nên lập tức gọi vào số ấy với hy vọng gặp được chủ nhân của chiếc xe.

– “Tôi vô cùng xin lỗi vì đã lấy trộm xe hơi của Ông. Chiếc xe đã cứu gia đình tôi!”

 – “Ôi, tốt quá! Bạn hãy thôi lo lắng đi nhé. Tôi có những 4 chiếc xe hơi, chiếc Jeep đã đưa gia đình tôi khỏi Kyiv. Trước khi thoát đi, tôi kịp đổ đầy xăng cho 3 chiếc còn lại, để ở những nơi khác nhau với chìa khóa gắn sẵn trong ổ điện và số điện thoại liên lạc trong ngăn đựng găng tay. Cám ơn Chúa lòng lành, như vậy là tôi đã nhận được đủ cuộc gọi lại từ tất cả các xe, rằng gia đình các Bạn đều bình yên – hẹn gặp lại mọi người. Bảo trọng Bạn nhé!”

Vẫn còn đó nhiều lắm lòng tốt trên đời này. Và trong số đó là từ những con người của đất nước Ukraine anh hùng!

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Chiếc Xe Hơi Màu Đỏ (ST)

Vòng nguyệt quế cho phố núi cao – tg Trương đình Tuấn

Vòng nguyệt quế cho phố núi cao

       Trương Đình Tuấn

Thi sĩ Vũ Hữu Định làm bài thơ “Còn Chút Gì Để Nhớ” vào năm 1970 khi bị đày lên Pleiku để làm Lao công đào binh. Bài thơ sau đó được nhạc sĩ Phạm Duy – “ông vua” phổ nhạc của Việt Nam đã lấy nguyên bài thơ làm ca từ không bỏ hoặc thêm bớt một từ nào cả. Bản nhạc nhanh chóng được công chúng đón nhận:

unnamed (6)

phố núi cao phố núi đầy sương
phố núi cây xanh trời thấp thật buồn
anh khách lạ đi lên đi xuống
may mà có em đời còn dễ thương

phố núi cao phố núi trời gần
phố xá không xa nên phố tình thân
đi dăm phút đã về chốn cũ
một buổi chiều nào lòng bỗng bâng khuâng

em Pleiku má đỏ môi hồng
ở đây buổi chiều quanh năm mùa đông
nên mắt em ướt và tóc em ướt
da em mềm như mây chiều trong

xin cảm ơn thành phố có em
xin cảm ơn một mái tóc mềm
mai xa lắc bên đồn biên giới
còn một chút gì để nhớ để quê

Vũ Hữu Định đã tiết lộ với bạn bè là “em” trong bài thơ này chỉ là nhân vật mà anh đã… nhặt được trong tưởng tượng trong giây phút linh hiển nhất của mình là khi làm thơ.

Khi Phạm Duy “chắp cánh” cho bài thơ bằng một bài hát bất tử, cả nhà thơ và nhạc sĩ đã đội vòng nguyệt quế cho Pleiku, một miền cao nguyên trung phần quanh năm sương phủ núi đồi, một vùng thủ phủ của quân khu 2 nên lính đóng quân nhiều hơn thường dân ở. Nếu không có bài thơ này thì ít ai biết đến một thành phố xa xôi “quanh năm mùa đông” và những người yêu thơ không thuộc nằm lòng câu: May mà có em đời còn dễ thương.

Bài thơ gắn liền với tên tuổi của Vũ Hữu Định, nhắc đến tác giả là người ta nhớ Còn Chút Gì Để Nhớ và ngược lại. Thi sĩ Kim Tuấn là lính đóng quân gắn bó nhiều năm ở Pleiku, từng làm nhiều bài thơ cho phố núi sương mù này đã thốt lên về Vũ Hữu Định: “Mình từng ăn dầm ở dề ở đây mà chẳng làm được tích sự gì, vậy mà bỗng dưng một gã giang hồ từ đâu đó ghé chơi đã làm bài thơ nổi đình nổi đám cho Pleiku!”

Như vậy mới biết là một địa danh nào đó để cho nhiều người biết đến phải nhờ đến âm nhạc và thi ca. Những cung bậc tài hoa của nghệ thuật đã gây cảm xúc và lưu lại “chút gì để nhớ” để thôi thúc độc giả một ngày nào đó sẽ làm du khách được ghé thăm.

.unnamed (9)

Pleiku thập niên 1960

Bài thơ được đăng trong báo Khởi Hành năm 1970, được lọt vào mắt của Phạm Duy, và nhạc sĩ đã tìm lên đến Pleiku để gặp Vũ Hữu Định, người lính đào ngũ hai năm rồi bị bắt đày lên cao nguyên để phục dịch chiến trường.

Trong một buổi chiều họp mặt nhiều văn nghệ sĩ của Pleiku, trong đó có tác giả của “Còn Chút Gì Để Nhớ” – Vũ Hữu Định. Anh mặc cái áo màu xám khắc sau lưng bốn chữ LCĐB (Lao công đào binh). Trong giới văn nghệ, người ta quí trọng tài năng của nhau chứ không phân biệt người đương thời quan cách và kẻ làm tội nhân.

Phạm Duy đã rút giấy bút ra từ túi áo và kẻ rất nhanh những dòng nhạc, rồi hát thử cho mọi người nghe bài Còn Chút Gì Để Nhớ và sau đó bài hát đã nổi tiếng ngay sau khi phát hành.

Thi sĩ Vũ Hữu Định tên thật là Lê Quang Trung (1942- 1981) sinh tại Thừa Thiên. Đã từng sống nhiều nơi ở Cao nguyên và Đà Nẵng, anh sống nghèo túng trong khoảng đời ngắn ngủi của mình, có tật mê rượu và thường giang hồ lang bạt đi đây đi đó.

unnamed (10)

Anh đã có nhiều thơ đang rải rác ở các báo với nhiều bút hiệu khác nhau và cuối cùng tên Vũ Hữu Định mới được nhiều người biết đến sau khi bản nhạc Còn Chút Gì Để Nhớ ra đời.

“Giang hồ đâu cần ai phong ấn”

Chỉ trong chuỗi ngày giang hồ của mình, Vũ Hữu Định để lại cho đời một bài thơ làm nhiều người biết và để ý đến phố núi Pleiku. Tác phẩm đôi khi do ghi lại tình tiết của đời tư của nghệ sĩ, và nghệ phẩm không phải xuất xứ từ salon, từ chăn êm nệm ấm, mà từ nỗi đày ải nhân gian mà tác giả đã trải qua.

Một địa danh vốn ở ngoài đời đã đẹp, khi đi vào thi ca và âm nhạc sẽ trở thành nên thơ hơn, làm du khách muốn đến thăm hơn. Như bài thơ Đây Thôn Vỹ Dạ của Hàn Mặc Tử và bài nhạc Ai Lên Xứ Hoa Đào của Hoàng Nguyên.

Tôi đã có một đôi lần ghé lại Pleiku, từ con dốc cao đổ vào trung tâm, đã thấy “quanh năm mùa đông” ở trên từng màn sương ướt màu thông xứ sở cao nguyên. Không thể không nhớ đến một gã giang hồ làm thơ Vũ Hữu Định tài hoa bạc mệnh đã từ giã cuộc chơi trần thế vào năm 39 tuổi.

Tôi đi trong hoài tưởng về một Pleiku ngày ấy đã được Vũ Hữu Định khoác lên cho chiếc áo thi ca, đi loanh quanh hết mấy con đường không còn mù bụi đỏ như xưa để có đúng là “đi dăm phút đã về chốn cũ” không?

“Xin cảm ơn một mái tóc mềm” nào đó của Vũ Hữu Định đã cho chúng ta những hình dung về một phố núi cao nguyên Pleiku ngoài đời và một miền sương mù bất tận trong thơ. Một mái tóc mềm dẫu không có thật ở ngoài đời cũng kệ, cũng đủ làm cho May Mà Có Em Đời Còn Dễ Thương.

Sinh thời Vũ Hữu Định không có thi phẩm nào được xuất bản. Phải tới năm 1996, thi phẩm Còn Một Chút Gì Để Nhớ của anh, gồm 45 bài, mới được ấn hành, do sự đóng góp (công và của) của bằng hữu, nhất là của Trần Từ Duy.

Một đêm thơ Vũ Hữu Định được tổ chức tại Phú Nhuận để ra mắt thi phẩm, qui tụ rất đông bạn hữu và người hâm mộ, và nhờ đó, bà Kim Vân, vợ nhà thơ, đã tu sửa được cho chồng một nấm mồ khang trang tại nghĩa địa Gò Cà, Đà Nẵng. Bà là nhân vật trong bài thơ Cảm Ân Người Vợ Khổ của Vũ Hữu Định:

Lần nào em sinh nở
Anh cũng trên đường xa
Lần này em sinh nở
Anh cũng không có nhà.

Vũ Hữu Định tên thật là Lê Quang Trung, sinh tại Thừa Thiên, 1942, mất 16 tháng 1 Tân Dậu (1981) bên bờ Sông Hàn, Đà Nẵng.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Vòng nguyệt quế cho phố núi cao – tg Trương đình Tuấn

Lịch sử Phi Trường Tân Sơn Nhất

ĐÔI ĐIỀU THÚ VỊ
VỀ PHI TRƯỜNG TÂN SƠN NHẤT

Phi trường Tân Sơn Nhứt là một trong những sân bay nhộn nhịp hàng đầu thế giới vào khoảng hơn 50 năm trước.

“Ngày đó, cứ trung bình mỗi phút, sẽ có một chuyến máy bay cất cánh hoặc hạ cánh ở phi trường này. Thậm chí, những giờ cao điểm, mật độ cất cánh và hạ cách của các chuyến bay chỉ còn có 30 giây”.

Sân bay Tân Sơn Nhứt là sân bay dân sự và quân sự. Hầu như các chuyên cơ chở người dân và các máy bay phục vụ quân sự đều tập trung về đây, từ trực thăng đến các chiến đấu cơ siêu thanh, từ những phi cơ phản lực tân tiến nhất đến những chiếc máy bay với cánh quạt cũ kỹ…

Ông Huỳnh Minh Bon – cựu phi công sống tại Sài Gòn hơn 40 năm trước vẫn còn nhớ như in cái thời Tân Sơn Nhứt nhộn nhịp và được mệnh danh là phi trường bận rộn nhất trên thế giới. Không chỉ những phi công Việt Nam, các chuyên gia Hoa Kỳ với nhiệm vụ trợ giúp việc điều hành sân bay thời kỳ này cũng không thể phủ nhận rằng: nhân viên Việt Nam ở sân bay Tân Sơn Nhứt, đặc biệt là bộ phận không lưu là những người xuất sắc, kỹ năng tốt, chuyên môn giỏi mới có thể đảm đương nổi khối lượng phi suất khổng lồ đó.

Mỗi phút một chuyến bay

Số báo 134 của tờ báo Sài Gòn xuất bản vào ngày 2-4-2967 có một bài báo viết rằng: “45,000 phi cơ lên xuống Tân Sơn Nhứt trong một tháng”.

Bài báo thông tin rằng phi trường đang chuẩn bị hoàn thành đường băng hạng A thứ hai. Bài báo còn nói thêm rằng: Chiến tranh tại Việt Nam đã làm phi trường Tân Sơn Nhứt trở thành một trong những phi trường bận rộn nhất trên thế giới với trung bình 45,000 phi cơ đủ loại cất và đáp mỗi tháng”.

unnamed (1) (1)

Theo số liệu đó, ước tính mỗi ngày, sân bay Tân Sơn Nhứt có 1500 chuyến bay cất cánh và hạ cánh, nghĩa là chưa đầy 1 phút, có một lượt máy bay hoặc bay hoặc đáp tại phi trường này.

Một số tài liệu quý hiếm được lưu trữ còn khẳng định rằng, sự phát triển của sân bay Tân Sơn Nhứt còn nhanh hơn dự tính và hoạch định của các nhà cầm quyền miền Nam Việt Nam và cả những kỹ sư hàng không giỏi.

unnamed (2) (1)

Sự phát triển nhanh chóng của sân bay Tân Sơn Nhứt được thể hiện rõ nét từ năm 1959, phi trường chỉ mới đón nhận 104,000 hành khách. Vậy mà chỉ 8 năm sau, tức năm 1967, số lượng hành khách đã tăng lên đến 1,150,000 người. Không dừng lại ở đó, chỉ 2 năm sau đó, tức vào năm 1969, số lượng người thuyên chuyển tại phi trường này tăng lên gấp đôi tương đương 2,312,000 người.

Số liệu này tuy không thể hiện rõ sự nhộn nhịp của máy bay hạ cánh và cất cánh ở sân bay thế nào, nhưng những con số đó cũng một phần cho thấy sự gia tăng nhanh chóng số lượng hành khách, kéo theo đó là số lượng phi cơ phải tăng lên đáng kể.

unnamed (3) (1)

Hơn nữa, giai đoạn những năm 60-70 là giai đoạn miền Nam Việt Nam đang trong thời kỳ chiến tranh, bên cạnh các chuyến bay thương mại, số lượng và tần suất hoạt động các máy bay quân sự, các chiến đấu cơ cũng cất cánh và hạ cánh ở phi trường này cao hơn gấp nhiều lần.

Năm 1960, số lượt máy bay cất-hạ cánh ở Tân Sơn Nhứt là 40,000. Vậy mà đến năm 1962, con số này tăng kỷ lục lên đến 862,000 chuyến – đứng thứ nhất trong các sân bay Châu Á và nằm trong top đầu của thế giới.

unnamed (4) (1)

Ông Hàn Khải Nguyên, một nhân viên an ninh sân bay thời kỳ này cho hay: “Các vòng an ninh chung bên ngoài thuộc trách nhiệm của quân đội.”

Lý do là từ năm 1955, phi trường Tân Sơn Nhứt thuộc yếu khu Tân Sơn Nhứt – khu vực quân sự thuộc kiểm soát của lực lượng không quân.

Ông Hàn Khải Nguyên cho biết thêm: “chúng tôi thuộc bộ phận kiểm soát các cổng ra vào máy bay và thường ở trong tình trạng căng thẳng do công việc quá tải. Ngày đó nhân viên phục vụ hàng không dân sự còn rất ít người so với bây giờ nhưng người dân đến các tỉnh xa toàn đi bằng máy bay, bởi nó vừa nhanh lại vừa an toàn với tình hình chiến sự lúc bấy giờ”.

Đến năm 1970, dưới thời Việt Nam cộng hòa, ở miền Nam có số lượng phi trường nhiều nhất thế giới với tất cả 500 phi trường lớn nhỏ phục vụ dân sự và quân sự. Trong số đó có 8 phi trường lớn với đường bằng dài hơn 2500 mét như Tân Sơn Nhứt, Đà Nẵng, Nha Trang… Những đường băng lớn này có thể tiếp nhận các loại máy bay lớn như Boeing 727, 707, và DC8…

Ngoài những phi trường lớn ra, miền Nam còn có 4 phi trường với đường bằng dài 1800-2500m, 3 đường băng dài 1280-1800, 60 phi trường có đường băng dài 1060m, 15 phi trường có đường bằng dài gần 1000m và các sân bay trực thăng.

Những lần nâng cấp nhà ga

Bởi lượng khách ngày càng gia tăng, để nâng cao chất lượng phục vụ, sân bay Tân Sơn Nhứt được nâng cấp tổng cộng 4 lần kể từ năm 1954 đến năm 1975. Diện tích sân bay đầu tiên khi Pháp để lại là 1800m2, đến năm 1956 -1957, sân bay được mở rộng với diện tích lên đến 2500m2. 3 năm sau, diện tích lại được nâng lên đến 2800m2. Đặc biệt, đến năm 1964, sân bay tiếp tục mở rộng diện tích lên thành 6000m2. Ngoài diện tích Ty Hành Dịch, văи phòng các hãng, sảnh đời của hành khách có diện tích dài 72m, rộng 15m. Ngoài ra, sân ba còn có cả một sân thượng để người Sài Gòn có thể ngắm cảnh máy bay cất cánh – hạ cánh.

unnamed (5) (1)

Mặc dù vậy, chỉ một thời gian sau, nhà ga lại bị quá tải. Chính quyền miền Nam Việt Nam lại tiếp tục mở rộng diện tích đến 10.800m2. Trong đó, nhà ga dành cho hành khách Quốc Tế chiếm 6000m2, nhà ga cho khách nội địa chiếm 3000m2 và một nhà ga riêng biệt rộng đến 1800m2 chuyên dành cho quân nhân bay những chuyến bay quốc tế. Dự án mở rộng sân bay được thực hiện từ năm 1969 – 1972 với số tiền đầu tư là 1 triệu USD do Mỹ viện trợ.

Ước tính từ năm 1960 đến năm 1972, sân bay Tân Sơn Nhứt đã được đầu tư nâng cấp và mở rộng với số vốn 35 triệu USD.

unnamed (7) (1)

Đặc biệt, sau khi nâng cấp sân bay lên đến 10,800m2 vừa được đưa vào sử dụng. Một kế hoạch nâng cấp mới lại được trình lên Phủ Tổng Thống Việt Nam cộng hòa. Bởi khu vực hành khách quốc tế chỉ có thể nhận được 250 hành khách từ một chuyens bay. Trong khi đó, máy bay Boeing 747 với lượng hành khách trên 500 người. Dự án nâng cấp nhà ga với tổng diện tích lên đến 30,000m2, nằm trong dự án quy hoạch tổng thể phát triển Sài Gòn – Hòn Ngọc Viễn Đông.

Ngày 7/1/1971, Nguyễn Đức Súy – giám đốc Nha Căи Cứ Hàng Không đã tổ chức một cuộc họp đặc biệt với các phái đoàn viện trợ Mỹ, tổng cục tiếp vận của bộ tổng tham mưu, Nha hàng không dân sự, bộ tự lệnh không quân,… để họp bàn về dự án nghiên cứu và phát triển Tân Sơn Nhứt thời hậu chiến.

Mục tiêu và nhiệm vụ đặc ra là quy hoạch phi trường cho đến năm 1990, hoạt động máy bay Boeing 747.

unnamed (10)

Trong cuộc họp quan trọng này, bên cạnh các ý kiến về việc mở rộng thêm quy mô phi trường, Tổng cục tiếp vận – đại tá Nguyễn Văn Tám cũng đã đưa ra đề xuất xây thêm một sân bay mới ở vùng Dĩ An, ngay cửa ngõ Sài Gòn – Biên Hòa – Bình Dương để hạn chế việc sân bay Tân Sơn Nhứt bị quá tải. Thế nhưng, tình hình chiến sự và những thay đổi lịch sử khiến cho dự án này không thể thành hiện thực.

Những vị hành khách thời chiến

Bà Trần Thị Phượng là một hành khách thường xuyên của đường bay Sài Gòn – Pleiku từ những năm tháng ấy. Bà chia sẻ rằng, cha bà hồi đó là công chức Sài Gòn, được lệnh biệt phái lên Pleiku hỗ trợ. Vì vậy, mẹ con bà thỉnh thoảng lại bay lên Pleiku để thăm ba. Hồi đó, mẹ và bà đón xe của Air Việt Nam ở khách sạn Rex. Chiếc xe này đến đón hành khách tại cổng khách sạn rồi chở trực tiếp đến khu an ninh chung chứ không được ra vào tự do như bây giờ.

unnamed (11)

Bà vẫn còn nhớ những cô tiếp viên mặc áo màu xanh da trời, đầu đội mũ ca lô, đeo găиg tay trắng với cung cách phục vụ rất lịch sự.

Những chuyến bay thời đó chỉ là loại máy bay nhỏ với cánh quạt DC4, DC6, có thể chở được vài chục người mỗi chuyến. Hành khách trên chuyến bay được phát cho bông gòn để nhét tai, tránh bị ù tai.

Tình trạng trễ chuyến bay cũng xảy ra rất nhiều lần. Bà Phương nhớ lại, có lần, lịch trình bay khởi hành từ Pleiku về Sài Gòn vào buổi sáng, vậy mà bà và mẹ phải chờ đến tận 4h chiều mới được lên máy bay. Về đến Sài Gòn thì thành phố cũng đã lên đèn từ lâu.

unnamed (12)

“Hồi đó máy bay đi nước ngoài có nhiều hảng lắm. Nḥưng bay nội địa thì chỉ có mỗi hàng Air Việt Nam” – bà nói thêm.

Trước năm 1975, phi trường Tân Sơn Nhứt có 16 công ty hàng không nước ngoài hợp tác và khai thác đường bay quốc tế. Trong đó có các hãng hàng không nổi tiếng đến tận ngày nay như Cathay, PANAM, Air France… Ngoài vận chuyển hành khách dân sự, các hãng hàng không quốc tế còn chở quân nhân Mỹ đến Việt Nam trong cuộc chiến và cả đồng minh.

unnamed (13)

Máy bay AC-119G bay phía trên căn cứ không quân Tân Sơn Nhứt vào năm 1969. Con đường thẳng trước mặt là đường Quang Trung Gò Vấp. Khu vực được phủ bởi một màu xanh, có nhiều cây cối là sân Golf. Bên góc trái là giao lộ Ngã 5 Chuồng Chó, ngày nay là ngã 6 Gò Vấp.

unnamed (6)

Trực thăиg quân sự trong sân bay

unnamed (1) (2)

 Máy bay chiến đấu AC-47 đang đỗ tại Sân Bay

unnamed (2) (2)

Trực thăиg vận tải

unnamed (3) (2)

Nữ tiếp viên 

Sưu tầm

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Lịch sử Phi Trường Tân Sơn Nhất

Chỉ Có Mẹ và Chỉ Có Mẹ Mà Thôi_Huỳnh Quốc Bình

CHỈ CÓ MẸ VÀ CHỈ CÓ MẸ MÀ THÔI

Huỳnh Quốc Bình

(Bài do Bửu Hồng chuyển)

This image has an empty alt attribute; its file name is chi-co-me.jpg… Chỉ có mẹ ruột mới dám chết cho con mình chứ không một người đàn bà nào dám chết thay cho con của người khác…

 Có những ông chồng cái gì cũng đùn cho vợ làm, cái gì cũng để vợ lo, còn mình cứ ỳ ra đó không làm gì cả, mà chỉ chờ ngày Mother’s Day hằng năm của người Mỹ, vội vã ra chợ mua một bó hoa và tấm thiệp về tặng vợ để chứng tỏ tình yêu của mình đối với nàng. Có những người con hay nói, “Mom, I love you”, nhưng Mom, hằng ngày phải làm việc theo kiểu “Đầu tắt mặt tối”, hay “Đầu bù tóc rối” mà con không hề bận tâm. Ngoài giờ học hay đi làm, con chỉ lo vui chơi, riêng Mom cực nhọc muốn “Chết Mom của Mom” luôn, mà con không biết. Có những người con chỉ chờ ngày Mother’s Day hằng năm, mua một bó hoa hay tấm thiệp có in sẵn vài câu tiếng Anh từ tiền của Mom, và cứ nói như cái máy, “I love you, Mom” là xong, chờ năm sau nói tiếp hay viết tiếp.

Xin thú thật, tôi không có thói quen mua bông hoa hay thiệp để tặng vợ vào ngày nêu trên, nhưng hằng ngày tôi luôn tiếp Nhà Tôi một tay cho bất kỳ công việc lớn hay nhỏ và luôn chú ý đến việc săn sóc nhau. Ngày lễ dành cho các Bà Mẹ, bài viết này là món quà tôi dành để trân trọng tặng Nhà Tôi, hầu nói lên sự cảm ơn của tôi đối với nàng, và cũng để các bà mẹ Việt Nam đọc cho vui hay cho “đời bớt khổ”.

Tại Hoa Kỳ, hằng năm vào Chúa Nhật thứ nhì của Tháng 5, nguời bản xứ chọn làm ngày đặc biệt dành cho mẹ, gọi là Mother’s Day. Người Việt Nam tại hải ngoại chỉ mới chú ý ngày này về mặt hình thức sau ngày 30-4-75. Đối với một số người con có hiếu phía người Việt, trọn năm, ngày nào cũng đều đặc biệt dành cho Mẹ hết cả. Tôi tin người Việt Nam nào cũng đều biết đến ý tình của nhạc phẩm Lòng Mẹ do nhạc sĩ Y Vân sáng tác. Những câu độc đáo và ý nghĩa như, “Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào. Tình mẹ tha thiết như dòng suối hiền ngọt ngào. Lời ru êm ái như đồng lúa chiều rì rào. Tiếng ru bên thềm trăng tà soi bóng mẹ yêu.”

Nếu có bà mẹ nào vừa sanh con ra, bị người khác áp bức phải chia lìa tình mẫu tử, hoặc những bà mẹ không bình thường, quyết định vứt bỏ con mình, không tính; chứ không một bà mẹ nào muốn lìa xa con mình vĩnh viễn. Hầu hết các bà mẹ trên thế giới, nhất là bà mẹ Việt Nam đều có thể chết thay cho con mình một cách không cần đắn đo suy nghĩ. Ngay cả các loài vật cũng thương con. Bằng chứng, hổ không ăn thịt con. Riêng hình ảnh con gà mái túc con là gần gũi với loài người nhất.

 Trong xã hội, tôi thấy không ít người mơ hồ về tình mẫu tử thiêng liêng, nên cứ tưởng, một người đàn bà nào khác có thể thương mình hơn mẹ ruột mình, nên mới xảy ra tình trạng người con quay lưng với mẹ. Tôi có thể nói mà không sợ sai, chỉ có mẹ ruột mới dám chết cho con mình, chứ không một người đàn bà nào dám chết thay cho con người khác dù họ cũng có lòng thương người. Loài vật có hình ảnh con gà mái hiền hòa, xoè đôi cánh nhỏ bé để che chở cho đàn gà con trước móng vuốt diều hâu. Gà mẹ sẵn sàng sống chết với kẻ địch hung tợn để bảo vệ sự sống cho còn mình là một hình ảnh chứng minh hùng hồn nhất về tình mẹ thương con của loài vật. Loài vật mà còn sống chết với con mình như thế, loài người chắc chắc phải trội hơn nhiều. Thiết nghĩ, tôi không cần phải liệt kê một trường hợp nào về phía người Việt Nam bởi ai cũng biết nhiều câu chuyện sống động khác nhau về, “Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình”.

Mẹ mừng đến trào nước mắt khi con chào đời. Mẹ lo đến khóc khi ngày đầu con vào trường.  Mẹ khóc khi con trai nhập ngủ vào quân đội. Mẹ khóc khi con gái về nhà chồng, và khi con trai có vợ đòi ra riêng. Mẹ buồn khổ khi hay tin con mình dang dở tình yêu. Me đau lòng khi con bị chồng phụ bạc hay vợ quay lưng. Mẹ thương con, không muốn xa con, nhưng vì tương lai của con nên đành phải gửi con đi vượt biển tìm tự do cho một tương lai chói lọi sau này. Mẹ cắn răng nuốt vào lòng điều sỉ nhục từ nàng dâu hỗn hào để duy trì hạnh phúc cho con trai. Mẹ nhẫn nhịn thằng rể thiếu lễ độ để hạnh phúc con gái mình tồn tại. Mẹ nuốt những u uất vào lòng để các con không biết cha chúng nó phản bội mình, hầu con cái an tâm học hành đổ đạt. Mẹ chịu khổ để nhịn cho con ăn và nhường cho con mặc. (Vì sự giới hạn của bài viết, tôi không thể liệt kê hết về tình cảm bao la của mẹ dành cho con cái. Xin quý độc giả vui lòng suy nghĩ tiếp giùm người viết.)

Không phải vô lý mà người xưa có những lời nói trở thành tục ngữ hay ca dao, “Mẹ nuôi con như biển Hồ lai láng, con nuôi mẹ, tính tháng tính ngày.” Có những câu khác rất thực tế ngoài đời, “Một bà mẹ nuôi nổi mười đứa con, nhưng mười người con không nuôi nổi một bà mẹ.”

Có những bà mẹ chồng hay mẹ vợ thuộc thành phần có tánh tình khó khăn, nên không muốn sống chung với con cái đã lập gia đình, không nói làm chi. Những người con trai hoặc con gái sống trong nhà cao, cửa rộng với chồng con, hay vợ con mà không có được cái phòng hay cái giường cho mẹ mình trong căn nhà to lớn, hay biệt thự sang trọng của mình, còn gì phũ phàng hơn? Tại hải ngoại này, không thiếu cảnh, “Mẹ già hết gạo treo niêu, mà anh khăn đỏ khăn điều vắt vai.” (CD)

Hình ảnh người con ung dung sống trong nhung lụa với vợ con hay chồng con của mình, để mặc cho cha mẹ sống trong túng quẫn, cô đơn, cả năm không thăm viếng được một lần, không thiếu trong xã hội ngày nay. Nhiều trường hợp cho thấy có những người từng xem thường cha mẹ, nhưng sau khi cha mẹ qua đời, mới thi nhau xây mồ cho thật lớn để báo hiếu theo kiểu theo kiểu, “Sống nhà lá, chết nhà lầu.” Đúng là, “Mẹ già ở chốn lều tranh. Đói no chẳng biết, rách lành không hay.” (CD)

Ai được cơ hội phụng dưỡng cha mẹ, nhất là người mẹ, đối với tôi là một đại phước. Bổn phận làm con phải tuyệt đối cư xử với mẹ mình giống như câu ca dao, “Mẹ già đầu bạc như tơ. Lưng đau con đỡ, mắt lờ con nuôi.” Anh nào, chị nào thấy chồng mình hay vợ mình vì muốn chìu ý mình bằng cách đẩy cha mẹ ra ở riêng cho nhà cửa không còn mùi dầu cù là, mùi dầu xanh, mùi của thuốc dán “salonpas”, hoặc không còn nghe tiếng ngáy lớn, hay tiếng ho hen v.v… Các bạn nên chuẩn bị tinh thần, khi các bạn chẳng may đau yếu hay trở nên tàn phế, các bạn cũng sẽ lãnh hậu quả tương tự. Tôi dám bảo đảm điều đó bởi “Quả báo nhãn tiền”.

Có những người con không ý thức là nhờ ai mà họ học hành đổ đạt để ngày nay có địa vị quan trọng trong xã hội với đời sống vật chất hơn người. Đại đa số bạn trẻ được thành công là nhờ công ơn cha mẹ, nhất là người mẹ. Tiếc thay, trong xã hội không thiếu những người con có thái độ khinh thường cha mẹ. Có người không dám giới thiệu cha mẹ mình với bạn hay người khác bởi vì cha mẹ người ta sang trọng, còn cha mẹ mình quê mùa, thất học nếu để người ta biết sẽ mất mặt. Loại con này nếu ai dám làm bạn hay chọn làm người phối ngẫu, quả thật là một cuộc phiêu lưu tình cảm. Cha mẹ của họ mà họ còn không dám nhìn nhận, còn mình sẽ ra sao nếu chẳng may sa cơ thất thế? Thánh Kinh Cựu Ước khuyến cáo phận làm con như sau, “Chớ khinh bỉ mẹ con khi người trở nên già yếu” (Châm-Ngôn 23: 22b).

Có nhiều trường hợp, con cái không vâng lời mẹ, tin tưởng người yêu rồi bụng mang dạ chửa và tàn tệ hơn khi tác giả bào thai “Xa chạy cao bay”. Trước hoàn cảnh này, mẹ là người lãnh đủ những cai đắng, tủi nhục đến từ chồng, từ gia đình nội ngoại hai bên và xã hội. Chỉ có mẹ và chỉ có mẹ mới chịu đựng nỗi những khó khăn này mà thôi. Bạn trẻ nào dù không phải là Cơ Đốc Nhân, nếu muốn nên người, các bạn cũng nên nhớ nằm lòng lời khuyến cáo của Thánh Kinh, “Hỡi con, hãy giữ lời răn bảo của cha, chớ lìa bỏ các phép tắc của mẹ con” (Châm-Ngôn 6: 20).

 Tại hải ngoại, nhiều bà mẹ hay bà chị trong một số gia đình Việt Nam đã tình nguyện “mù chữ” để con mình hay em mình trở thành người khoa bảng, học rộng hiểu cao. Có người may mắn được con hay em trân quý công lao của họ, nhưng có người bạc phước nên bị lãng quên vì cái tội “mù chữ”.

Nhắc đến tấm lòng người mẹ, tôi không thể quên “Khúc Xương Sườn” của tôi. Tình thương của Nhà Tôi dành cho con cái, vô bờ bến. Nàng làm việc siêng năng, cực nhọc và luôn “hà tiện” cho nàng, nhưng rộng rãi với chồng con và cư xử hết lòng với ông bà, cha mẹ, anh chị em, họ hàng hai bên, và bằng hữu. Trong đời sống hằng ngày, nàng thường sử dụng các đồ vật thuộc loại “second hand” từ chồng con. Nàng không màng đến các loại nữ trang đắc giá hay phải có sự trang sức diêm dúa để hơn người. Nàng chỉ có “khuyết điểm” là không giỏi nói yêu thương, hoặc ra vẻ yêu thương người khác bằng những lời hoa mỹ. Đề cập đến điều này, tôi có thể bị mang tiếng là ca ngợi vợ, nhưng tôi không ngại. Thà tôi bị mang tiếng là người thích khen vợ, hơn là trở thành “thằng chồng” bất nghĩa, chuyên nói xấu vợ mình. Đối với tôi, ông nào thuộc thành phần “văn người, vợ mình”, tôi mới phục.

Kết luận

Lòng mẹ thật sự bao la như Biển Thái Bình. Chỉ có loại “mẹ mìn” mới cư xử xấu với con mình, chứ không bà mẹ hiền nào lại có thể ruồng bỏ con cái và có hành động “ruột bỏ ra, da bỏ vào”. Chỉ có những đứa con bất hiếu mới cư xử tệ bạc với mẹ mình. Đừng ai vì quá tin tưởng hay mơ hồ về tâm địa của chồng hay vợ mà ruồng bỏ mẹ mình. Đừng vì quá đơn giản trong suy nghĩ, mà vô tình biến mẹ mình thành một thứ nô lệ không lương, hoặc “Mụ già” mang tiếng là ăn nhờ ở đậu để được hưởng chút “Canh thừa cá cặn”. Đừng bao giờ nói yêu mẹ bằng cái miệng, mà hãy để tâm chăm sóc mẹ mình hay mẹ của người phối ngẫu một cách hết lòng. Đừng vì quá u mê đến nỗi không thấy những hành động, lời nói ngon ngọt theo kiểu giả dối của người phối ngẫu đối với mẹ mình. Hãy coi chừng về tình trạng khi có sự hiện diện của mình mọi chuyện đều tốt đẹp, nhưng khi khuất mắt mình, bao nhiêu ê chề mẹ phải cắn răng cam chịu vì hạnh phúc của mình. Đừng ai ngu xuẩn để có thái độ thiếu tôn trọng mẹ của mình. Mình không biết tôn trọng mẹ mình, đừng hòng người phối ngẫu trọng mẹ của chúng ta.

Huỳnh Quốc Bình

Mother’s Day 2022

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Chỉ Có Mẹ và Chỉ Có Mẹ Mà Thôi_Huỳnh Quốc Bình