Thê Thảm Cuộc Đời _ Hồi ký của Thiếu Úy CSQG Lê Thị Xuân

THÊ THẢM CUỘC SỐNG

Của Cựu Thiêu-Úy CSQG Lê Thị Xuân

Tối ngày 28.6.1975 tôi bị di chuyển cùng chung với chồng từ Trường Trung Học Nguyễn Bá Tòng tại Sài Gòn đến Trại Suối máu được khoảng 1 tuần lại bị chuyển đến trại Thành Ông Năm, Hóc Môn do đoàn 500 cộng sản quản lý. Trại chia làm hai khu: Nữ Sĩ Quan (SQ) Quân đội, và Nữ SQ/ CSQG. Chúng tôi bị chia thành từng B và phải chen lấn lẫn nhau trong một diện tích chỉ đủ để nằm nghiêng .

 Lúc nầy tôi mang thai cháu đầu lòng gần 7 tháng. Đây là thời gian thai nhi phát triển, nên thai phụ cần được nghĩ ngơi, thoãi mái, tránh bị những áp lực và thai phụ cần phải được thực phẫm dinh duỡng vừa tinh khiết vừa đầy đủ. Nhưng với tôi thì hoàn toàn trái ngược. Ngoài môi truờng sống quá thiếu vệ sinh, lại phải ngồi nghe học tập, thảo luận. đấu tố.

 Thể chất mệt mõi, tâm trí lúc nào cũng lo sợ cho bản thân, cho gia đình, và cho chồng . Thai nhi càng lúc càng phát triển nên tôi thèm ăn lắm, nhưng bụng thì lúc nào cũng đói, dinh dưỡng chẳng có, áp lực càng lúc càng nặng và rồi hai chân tôi bị qụy, chỗ kín bị ra máu, không đuợc chữa trị hoặc thuốc men . Tôi đuối sức! Trước tình trạng sức khỏe tồi tệ và mạng sống của tôi bị đe dọa, ngày 12.8.75 Cộng sản (CS) thả tôi về với lý do :”tạm hoãn quản huấn vì sắp đẻ”(nguyên văn).

Về đến nhà thì ba mẹ và các em nhỏ của tôi đã bị lùa ra khỏi Sài gòn theo chương trình gọi là hồi hương lập nghiệp tại Sa-Đéc. Sức khỏe quá yếu, không đi được tôi đành ở lại căn nhà củ (bấy giờ thì gia đình thím tôi đang ở). Đến đầu tháng 9.75 đau chuyển bụng, tôi đến bảo sanh viện Từ Dũ . Sau khi sinh cháu bé, tôi mệt lắm, nhưng gắng gượng xem mặt cháu, biết cháu là gái, thấy khuôn mặt con hao hao giống bố, lòng mình dâng nỗi nhớ chồng và dào dạt thương con, tôi ôm con vào lòng và ngất đi vì bị băng huyết.

Tĩnh dậy tôi trở về tâm trạng củ, May mắn cho tôi là CS chưa kịp đưa người của chúng vào nên nhân viên và bác sĩ vẫn còn tấm lòng nhân ái và phong cách Miền Nam và nhờ đó tôi thoát khỏi luỡi hái tử thần. Vì lý lịch, nên tôi bị tống ra khỏi bịnh viện sau 4 ngày mặc dầu tôi còn yếu và cháu bé gầy guộc chỉ được 2kg. Tôi lại phải bé cháu tìm đường về Sa Đéc.

Khi chiếc tàu đò đậu trước cửa nhà, lòng tôi càng thêm não nề. Đây là khu hoang địa, xưa kia là khu oanh kích tự do và không có dân cư, vì thế vùng nầy có rất nhiều hố bom. Thấy gia đình lam lũ, tôi vô cùng xót sa, vì vậy tôi ráng sức phụ giúp gia đình và tôi lại thêm lần nữa ngã qụy. Đúng vào thời gian nầy, khi cháu được hơn một tháng thì mẹ con tôi bị bắt trở lại trại giam.

Sáng hôm ấy ,đang cho con bú, tôi nghe tiếng ghe máy và tiếng người, rồi tiếng chân dồn dập nhảy lên bờ. chạy phía nhà tôi. Sống trong vùng cộng sản kiễm soát tâm trạng tôi luôn luôn hồi hộp lo sợ..

Đang còn hoang mang thì tôi đã thấy họ bao quanh nhà tôi, những mũi súng chĩa thẳng vào mẹ con tôi. Tôi nghe đạn lên nòng và tiếng ra lịnh của tên chỉ huy: – Các đồng chí vào vị trí sẳn sàng tác chiến.

Sau đó tiếng quát ra lịnh: – Chị Lê Thị Xuân, tuyệt đối tuân theo mệnh lệnh, không được chống đối, chấp hành lệnh quản chế, thì sẽ đuợc cách mạng khoan hồng !

Tiếp theo là hai tên có võ trang tiến sát vào giường mẹ con tôi. Tôi biết là tôi đã bị bắt. Tôi không sợ, nhưng tôi thương con quá, phần không muốn phải xa con, phần sợ con phải chịu cảnh lao tù. Tôi thật sự lúng túng vì cả nhà tôi đang làm ngoài ruộng. Tôi ngỏ ý chờ người nhà tôi về.. Nhưng chúng nhất định không cho. Bị thúc hối quá cấp bách; tôi chỉ viết vội là đã bị bắt lại cho gia đình biết, rồi gom nhanh ít tả lót, ít quần áo, vật dụng cho hai mẹ con và theo chúng xuống xuồng máy giữa hai hàng súng “ dàn chào bảo vệ”của chúng.

 Sau nầy tôi biết tên hung tợn chỉ huy cuộc vây bắt hai mẹ con tôi tên là Hiếu. Tôi đã có lần gặp hắn tại sài gòn trong nhà người cùng quê với mẹ tôi. Người nầy là SQ Quân Lực VNCH che chở cho hắn trốn quân dịch, lúc ấy hắn làm phụ thợ hồ.Trước ngày tôi định cư tại Mỹ thì hắn là Phó chủ tịch Nông nghiệp huyện Thạnh Hưng, tỉnh Đồng tháp và dĩ nhiên là rất hống hách, ngang tàng và giàu có.

Bọn chúng chở hai mẹ con tôi về trại giam Đám Lát thuộc huyện Lấp Vò, Tỉnh Đồng Tháp. Trại giam nằm trên gò đất, chung quanh có nhiều hàng rào giây kẽm gai bao bọc, chúng cẩn thận gài mìn và chất nổ đề phòng sự trốn trại của tù. Trại nầy giam đủ thứ thành phần từ SQ chế độ củ, tôn giáo, đảng phái chính trị… đến thường phạm. Vì có con nhỏ nên chúng cho mẹ con tôi ở riêng một góc xó nhà bếp. vách nhà làm bằng đất sình trộn với trấu, nên hôi hám và nhiều bụi dơ; gió mang theo hơi nóng làm rát da.

 Tôi mượn nhà bếp hai tấm bao bố gạo làm chiếu và mền đắp cho con, còn mình thì nằm hẳn trên đất. Mỗi buổi chiều mẹ con tôi đuợc nữ quản giáo dẫn xuống một cái đìa nhỏ để tắm giặt. Vì cái đìa nhỏ nầy khi nuớc triều cường mới có chút ít nuớc từ sông cái tràn vào, do vậy mà những chất dơ bẩn không kịp thóat ra, vì thế nuớc có màu đen của dơ, màu váng của phèn; mùi hôi thối luôn luôn phản phất, đó cũng là mần mống bịnh hoạn.

Thức ăn không đủ nuôi cơ thể thì làm sao có sữa để nuôi con! Vì thế, các bạn tù đồng ý cho tôi mỗi ngày đuợc lưng chén nuớc cơm có lẫn dăm hạt gạo đang sôi để phụ cùng với giòng sữa hiếm hoi nuôi con. Phải sống trong hoàn cảnh tù đày dưới chế độ cộng sản mới hiểu thế nào là đói, mới hiểu giá trị miếng ăn và mới hiểu đó là sự hy sinh, là tấm lòng nhân ái mà Xã hội Quốc Gia đã giáo dục cho họ.Tôi biết ơn các bạn tù, cơn đói không lúc ngưng dày vò, trí óc chỉ ước mơ đến chưyện ăn, như mơ được một chén cơm lưng, thẻ đường, hột muối, giọt mỡ. Ôi miếng ăn sao “vĩ đại” đến thế!

Ngoài cái đói triền miên hành hạ, tôi lại phải đối phó với muỗi. Khi bóng đen tràn tới cũng là lúc từng đàn muỗi xuất hiện. Chiếc mùng củ lúc mang theo, bây giờ cũng rách mục như số phận làm người trong xã hội “thiên đường”cộng sản.

Tôi ngậm ngùi thương con, tôi lo cho sự an nguy của chồng, tôi lo cuộc sống lao đao vất vả của gia đình, thấy nhớ ba mẹ và các em thơ dại của tôi, tôi tội nghiệp cho bà mẹ chồng hiền lành và nỗi bất hạnh triền miên đè lên số phận bà. Dường như giọt lệ lúc nào cũng lưng lưng trong khóe mắt, thế nhưng miệng tôi thì lúc nào cũng phải nói những điều trái ngược. Tôi cảm thấy danh dự xúc phạm.

Do thiếu thốn vật chất, tinh thần hoang mang lo sợ cho tương lai mờ mịt tối tăm, và thương nhớ người thân – tôi mõi mòn và dần dần kiệt sức, con tôi thì còm cõi, yếu ốm và những bệnh do thiếu dinh dưỡng, do môi trường dơ bẩn cùng một lúc “hiệp đồng” tấn công trên cơ thể èo uột của tôi và của cháu. Lúc nầy thì con tôi tóc bết dính và lầy lụa mũ máu vì bị sài lở, toàn thân cháu nổi lên những mụn nhọt nhỏ li ti như muỗi đốt, móng tay như bị long và sứt rớt ra.

 Tôi lo qúa, có lần tôi đành gạt nước mắt chịu nhục, hạ mình xin thuốc cho cháu; nhưng bọn người lòng thú ấy dững dưng, lạnh lùng và dường như trong ánh mắt chúng có đôi chút hả hê của lòng thù hận. Ôi đồng bào tôi đấy, ôi phẫm cách và lòng khoan hồng “cách mạng!”. Sự tàn nhẫn kinh khiếp ấy của giống “người” cộng sản làm ý chí tôi bỗng dưng phát triển mãnh liệt. Tôi hối hận về sự cầu cứu ấy và tự nhủ lòng sẽ không bao giờ cầu xin chúng, tôi dấu nỗi uất hận, không để lộ niềm đau. Dù chưa biết phải làm gì, nhưng tôi thấy tinh thần của lý sinh tồn và lòng tự trọng trong tôi vững vàng lắm!

Sắp đến ngày 2 tháng 9, ngày “quốc khánh” của chúng, một phái đoàn không biết từ đâu và cấp nào đến thanh tra. Một người trong bọn họ thoáng dừng lại trước mẹ con tôi, chúng phải bịt mũi vì mùi hôi từ chúng tôi. Có lẻ nhờ thế mà hôm sau, ngày 30.8.76 mẹ con tôi được chúng thả ra về với ba năm quản chế.

Về đến nhà, toàn cả gia đình tôi sống héo hắc, cùng cực vất vả, thiếu thốn, tôi đã hiểu tại sao gần năm qua tôi không có thư từ tin tức gia đình và tôi lại khóc, lòng tự trọng thúc đẩy tôi lao hết sức mình cho gia đình, cho đứa con muôn ngàn yêu dấu. Cậu em trai kế tôi, có gia đình, còn ở Sài gòn cho tôi hay rằng người mẹ chồng hiền lành của tôi đã chết! Tôi thương và mừng cho bà đã thóat được cái thiên đường man rợ của lũ “vượn người cộng sản”Tôi nguyện cầu cho bà sớm đuợc về cõi Phật như lòng bà hằng mong ước. Tôi xót sa cho chồng và mẹ chồng trong cuộc chia tay vĩnh viễn không được gặp nhau, không đuợc có mảnh khăn trắng ghi nhớ công ơn của mẹ hiền, không được cầm tay đứa con trai út mà bà nuôi nhiều kỳ vọng. Bỗng dưng tôi thở dài ngao ngán cho kiếp nhân sinh trong chế độ cộng sản.

Gần sáu năm sau kể từ ngày tôi đuợc thả ra lần thứ hai thì chồng tôi mới đuợc thả về. Giây phút đầu tiên gặp lại nhau, tôi quá đỗi bất ngờ và cũng quá xúc động. Toàn thân tôi điếng lặng. Tôi không nhúc nhích, cử động gì được, nhưng giọt lệ cứ trào ra, lăn dài xuống đôi gò má thanh xuân nhưng đã sớm tàn phai vì thống thiết đau buồn, thương nhớ.

Nhìn cảnh nhà sa sút nghèo khổ và cũng vì có lần quá cơ cực tôi có ý định cùng với chồng con quyên sinh, nên ngay hôm sau ngày sum vầy chồng tôi bắt tay ngay vào cuộc sinh tồn. Dù cường quyền địa phuơng ngăn cản, luôn tìm cách tạo bất an, gây phiền nhiễu, khó khăn, anh vẫn quyết chí phấn đấu từ làm thuê, vác mướn, bán dạo… gia đình tôi lần hồi bước dần ra cảnh bần hàn. Nhưng tai họa lại ập đến! Bởi lao nhọc, thiếu thốn và di hại trong lao tù, chồng tôi ngã bịnh nặng.

Bác sĩ cho biết một lá phổi anh bị khô nước, màng phổi bị dày dính nên kéo và làm trái tim bị lệch và thòng xuống, có dấu hiệu bị sạn thận, xơ gan. Bao nhiêu tiền bạc do công lao và tiện tặn dành dụm được đành phải bỏ hết ra để giành mạng sống của anh. Khi đồng bạc cuối cùng ra đi thì may thay, tôi gặp đuợc người chị cả của chồng tôi, hai chị em thất lạc từ thửơ anh chưa chào đời. Nhờ chị, chúng tôi thoát nạn. Cũng kể từ đó, đời sống tinh thần và vật chất của chúng tôi được an ủi, khuyến khích và nâng đở. Chị trở thành người mẹ thứ hai của chồng tôi,

Bây giờ nhớ lại và kinh rợn chuỗi ngày sống dưới ách bạn tàn khắc nghiệt cộng sản , lòng bùi ngùi thương cảm cho những người còn trong nanh vuốt man rợ cộng sản. Xin thành kính nghiêng mình trước những bậc anh hùng đã ngã xuống vì muốn cứu nỗi bất hạnh của quê huơng, xin được khóc những giòng lệ cho những oan khuất tội tình của đồng bào tôi bị bàn tay máu của cộng sản áp bức khống chế.

Xin cúi đầu tưởng niệm hằng triệu chiến sĩ Quốc Gia, Con yêu của Tổ Quốc Việt Nam đã không tiếc máu xương vì sự an tòan và phát triển cho quê hương. Xin tưởng niệm 58 ngàn con yêu của Hiệp Chủng Quốc Hoa kỳ vĩnh viễn nằm xuống trong cuộc chiến đấu cho công lý và tự do trên quê huơng tôi.

Xin cám ơn lòng hào hiệp của nhân dân và chính phủ Hoa kỳ đã cứu vớt và đưa chúng từ nơi tối tăm bi thãm, nơi tầng cuối cùng của địa ngục trần gian đến vùng đất hứa, nơi tuyệt đối tôn trọng nhân phẫm con người.

Xin cám ơn những ân nhân, vì tình nhân ái, vì nghĩa Đồng Bào mà điển hình là bà Khúc Minh Thơ và hội Gia Đình Cựu Tù nhân Chính Trị đã không bỏ rơi chúng tôi, đã không quản ngại gian khó tốn kém cả tiền của lẫn thời gian và sức lực, đã ra sức đánh động cho Thế giới và nhất là Hoa kỳ biết nỗi thống hận ngút ngàn mà cộng sản trả thù bằng cách làm khô máu lên cuộc đời những chiến sĩ Quốc gia từng một thời dũng lược, nay đành thúc thủ.

Học theo Quý vị, chúng tôi nhất định không bỏ quên những người đang cần đến chúng tôi,. Chúng tôi giữ gìn đạo lý và văn hóa Việt, chúng tôi nuôi dưỡng giáo dục các thế hệ tiếp nối về lòng nhân bản để trở thành công dân hữu dụng cho xã hội và cho sự tồn vong của Dân tộc. Thiết nghĩ đó là lời cảm ơn chân thành và thiết thực nhất.

Việt Nam là Dân tộc biết mang ơn và biết cách đền ơn . Đó là lời cuối cùng của giòng tâm sự hôm nay của chúng tôi.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thê Thảm Cuộc Đời _ Hồi ký của Thiếu Úy CSQG Lê Thị Xuân

Nhạc Phẫm ” Tình Xa Tầm Với” của K1 Lê Hữu Nghĩa.

Mới các bạn thưởng thức nhạc phẫm “Tình Xa Tầm Với” sáng tác mới của Lê Hữu Nghĩa với tiếng ca của Quang Châu.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Nhạc Phẫm ” Tình Xa Tầm Với” của K1 Lê Hữu Nghĩa.

Toàn Bộ Lãnh Thổ VN Đã An Bài- ( TPK Sưu tầm)

TOÀN BỘ LÃNH THỔ VIỆT NAM ĐÃ AN BÀI

(Bài của một kỹ sư trong nước_ Facebook Dao Thu)

* Tôi có ông bạn học hiện làm cấp tướng trong hải quân VN, trong một buổi nhậu bạn bè với nhau cách đây gần năm ở HN, tôi hỏi hắn:

Nếu bây giờ TQ tấn công trên biển, quân của cậu chống được bao lâu?

Hắn cười: – Chắc là chưa đến 3 ngày!

Tôi ngạc nhiên: – Sao chết nhanh vậy?

Hắn lại cười: – Không phải chết, mà là chạy. Thời đại này ai dại gì chết cho ai?!
Đấy là cậu nói về lính hay sĩ quan các cậu?
Cả hai, nhưng sĩ quan chạy trước rồi lính mới chạy. Lính không dám chạy trước, chỉ trốn thôi. Sĩ quan mới chạy!

Tôi thắc mắc: – Tại sao thế? Sĩ quan tinh thần cao hơn và phải làm gương cho lính cơ mà?

Ừ, nhưng sĩ quan lại biết mình toàn nói dối và thấy cấp trên cũng toàn nói dối, và ai cũng biết chết thì mình chịu, thắng thì là chiến công của sếp, tội gì chết thế!

Chúng tôi cười xòa, coi đó là câu chuyện cười nói cho vui, vì ông bạn trong Bộ tổng tư lệnh ở HN, nó đâu có phải ra trận. Nhưng nó cũng không cần phải mua vui với tôi, nó nói có phần nhiều là thật. Thế nên tôi không quên được.

** Một bữa khác cách nay khoảng nửa năm, trong chuyến xe đêm từ Sài gòn đi Nha Trang, tôi nằm cạnh anh lính trẻ trả phép ra Cam Ranh. Tôi hỏi chuyện ăn ở sinh hoạt của lính nghĩa vụ ngoài đó, cậu thật thà:

Cháu mới đi mấy tháng, nhờ có người quen chạy cho nên không phải đi vùng xa hay đảo, chỉ ra Cam Ranh thôi, được về phép đều đặn, nếu biết quà cáp cho sĩ quan còn được kéo dài phép…

Thế sĩ quan có về phép thường xuyên không?

Sĩ quan của bọn cháu toàn sĩ quan chuyên nghiệp, gia đình họ ở Cam Ranh và Nha Trang luôn, họ đâu cần về phép, và họ có thể về nhà bất cứ lúc nào họ muốn, họ sướng lắm!

Thế họ có ăn chung với các cháu không?

Không, họ có tiêu chuẩn riêng cao gấp mấy lần lính bọn cháu! Họ ăn ở riêng.

Thế tiêu chuẩn lính bọn cháu thế nào?

Chúng cháu được 35 ngàn đ/ngày. Thế là cao đấy chú ạ, vì chúng cháu gần Ban chỉ huy Vùng. Mấy thằng bạn cháu đóng quân ở xa kêu khổ lắm, chỉ có 28 ngàn đ/ngày thôi…

– Sao lại 28 ngàn thôi?!

Tôi xót xa nhẩm tính: lính của mình (công nhân và kỹ sư của tôi) ở công trường cảng Vân Phong này được ăn 80 nghìn đ/ngày mấy năm nay, vừa tăng lên 100 nghìn/ngày do giá cả lên, mà tôi vẫn thương chúng khổ, gầy và đen, bắt chúng cố ăn, và lo chúng bỏ về Sài gòn, thế mà chiến sĩ của ta…

Tôi lại đi lạc đề muốn nói rồi. Ý của tôi là, chỉ chuyện ăn ở thôi thì lính của ta cũng thiếu sức chiến đấu rồi, chưa nói đến tinh thần chiến đấu và niềm tin vào cấp trên. Giờ nói về chủ đề chính, đó là bảo vệ lãnh thổ.

Xin kể câu chuyện thứ ba.

*** Cách đây mấy tháng, chúng tôi tổ chức một đoàn “du lịch-thám hiểm” ra điểm Cực Đông trên đất liền của đất nước với mục đích: sống 1 ngày gần với Hoàng Sa Trường sa nhất (về kinh tuyến).

Trên đường ra đó rất khó khăn, chúng tôi không ngờ cả một khu bán đảo rộng lớn bờ biển dài mấy chục cây số không có dân cư (đã bị đuổi đi hết) và chỉ có một đồn biên phòng gần ra đến Cực Đông đã bị bỏ hoang do chuyển vào gần quốc lộ 1 hơn, trong khi đường lớn do các “dự án lớn” của Vinalines làm đến cũng bỏ hoang không bóng người. Hỏi ra mới biết đó là tình trạng của hàng loạt đồn biên phòng ven biển và trên các đảo khu vực bắc và nam Vân Phong (thuộc Khánh Hòa và Tuy hòa): họ đã rút hết vào sống trong dân và để quản dân, không quản bờ biển nữa.

Hàng trăm cây số ven biển không có ai canh giữ, nhưng đã có sẵn đường lớn nhập vào quốc lộ 1… Ngày xưa họ ở đó là để bắt người vượt biên thôi… Biên phòng VN không quay súng ra biển mà quay súng vào dân!

Câu chuyện thứ tư.

**** Đơn vị chúng tôi tham gia rất nhiều công trình lớn dọc biển miền Trung, lắp ráp các thiết bị kỹ thuật hiện đại (rất ít khi là đồ TQ). Từ Dung Quất đến Vũng Áng, Vân Phong… Nhưng ở đâu chúng tôi cũng thấy các đơn vị TQ đấu thầu và thắng thầu thi công phần các cầu cảng. Họ chỉ quan tâm và bỏ mọi giá để nhận phần việc đó dù rất nhiều đơn vị VN làm được, nhưng các nhà thầu VN phải lè lưỡi bỏ ra cho họ vì giá của họ quá thấp… Sau đó họ luôn quây kín cả một vùng biển và bờ biển lớn người khác không được vào để họ thi công trong suốt nhiều năm trời. Và họ thường là đơn vị làm kéo dài các dự án lớn nhưng không ai làm gì được. Khui họ thi công xong chúng tôi mới lên lắp thiết bị và không ai biết bên dưới và bên trong những khối bê tông cầu cảng lớn đó có những gì. Chúng tôi thường đùa nhau: ngày đầu tiên TQ đánh VN họ sẽ cho nổ tung tất cả những cầu cảng trị giá vài chục đến vài trăm triệu đôla này (có thể cặp mạn những con tàu lớn đến 150.000-300.000dwt)… hoặc họ sẽ khống chế chúng để làm điểm đổ quân tuyệt vời cho họ, ở Dung Quất, Vân Phong, Vũng Áng và nhiều nơi nữa phía Bắc và Nam, nhất là Kiên Giang cũng sẵn sàng…

Câu chuyện thứ năm.

***** Tôi về quê ngoại Quảng Ninh, ra Hạ Long gặp mấy thằng bạn cũ, trong đó có thằng đại gia chuyên san đất lấp biển bán nền, giầu không để đâu hết tiền, luôn khoe có đội xe máy húc ủi đào đông như quân nguyên, đã phá không biết bao đồi núi, lấp biết bao bờ vịnh san hô và sú vẹt để bán trên giấy, từ Quảng yên đến Hải Hà…

Gặp nó tôi bảo:

Tội phá hoại môi trường Vịnh Hạ Long và Bái Tử Long của mày phải đem ra bắn!

Nó cười khẩy:

– Bắn tao hơi khó! Mày phải bắn hết các bí thư và chủ tịch, phó chủ tịch tỉnh và các huyện thị Quảng Ninh này đi đã!” Rồi nó quàng vai người ngồi cạnh:

A, cả thằng này nữa, giám đốc Sở Tài nguyên Môi trường mà…

Tôi nhăn mặt nghĩ:
“Đúng thật, nếu muốn bảo vệ môi trường Vịnh Hạ Long và Bái Tử Long mà tôi yêu quí, tôi sẽ phải bắn gần hết các bạn học cũ của mình, vì chúng nó làm quan chức kín cả cái tỉnh quê ngoại của tôi rồi…” – rồi phán tiếp:

Mày còn một tội lớn nữa! Mày đem xe máy lên Tiên Yên, Ba Chẽ (hai huyện núi biên giới) làm đường từ biên giới xuống cho bọn Ba Tàu sau này tấn công mình lần nữa. Lần trước nó tấn công không có đường xuống, tự vệ dân quân còn cản được. Lần này chỉ mấy giờ là xe nó chạy đến Hạ Long này, lại có cầu bãi chấy rồi; công chúng mày to quá!

Thằng đại gia xẹp hẳn xuống lẩm bẩm:

Đéo mẹ bọn Tàu! Chúng nó còn không chịu trả tiền công cho tao nữa! Đau quá!
(Đó là nó chửi mấy công ty Đài loan thuê rừng 50 năm rồi thuê nó làm đường lên “trồng rừng”. Đường làm xong lên các đỉnh núi biên giới, không trả tiền và rừng tất nhiên cũng không…).

Và câu chuyện cuối cùng.

****** Tôi đưa con trai lên Tây Nguyên chơi, mới đây thôi, để nó biết Tây Nguyên là thế nào. Một số đoạn đi qua đường HCM mới làm lớn mà vô cùng hoang vắng, thằng bé rất ngạc nhiên hỏi:
Bố, sao mình làm đường lớn đẹp dài mà không có người đi thì làm gì vậy?

Tôi thở dài chua chát:
Bố chịu!
Chả lẽ nói ra ý nghĩ thật của mình:
Bố sợ rằng người ta làm đường để sau này TQ đánh VN sẽ dễ chiếm và khống chế Tây Nguyên và rồi cả đất nước này?

Sau chuyến đi Tây Nguyên về, tôi đùa với con trai:

Con ơi, hãy học tiếng Anh giỏi để du học rồi ở lại đó luôn, như chị con vậy đó. Bằng không, hãy học tiếng Tàu! Nước mình sắp thay quốc ngữ rồi!**

Vâng, ý của tôi là thế đó. Người Việt nam, chính quyền Việt Nam hiện nay đã chuẩn bị sẵn sàng địa thế và mọi cửa ngõ Lãnh thổ quốc gia để TQ tràn vào dễ dàng nhất. Tinh thần quân đội và sức chiến đấu thì rất bạc nhược rồi, cảnh giác thì… chĩa súng vào dân rồi.
Các “chiến sĩ” Trung Hoa cứ yên tâm mà đến!

Đất nước này dường như đã có chỉ đạo bàn giao nhẹ nhàng để sát nhập vào TQ?

Chỉ còn một điều:
Liệu dân Việt ta có chịu thế hay không???!!!

** đúng theo ước muốn, sách lược của đa số người Việt khá giả trong nước (?!)

(Bài viết của một Kỹ sư trong nước -Facebook Dao Thu)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Toàn Bộ Lãnh Thổ VN Đã An Bài- ( TPK Sưu tầm)

Một vài Kỷ Niệm về Phu Nhân Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu của Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng

Một vài Kỷ Niệm về Phu Nhân
Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu

October 22, 2021: Tiến Sĩ Nguyn Tiến Hưng

DD-Ky-Uc-Ve-Ba-Thieu

Mùa Đông năm 1976, chúng tôi bay sang London, Anh, để thăm ông bà cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Trước khi đi, chúng tôi viết thư cho ông biết ngày giờ tới phi trường Heathrow và số chuyến bay. Ông trả lời là sẽ có người ra đón. Tới nơi thì vừa ra cửa đã thấy ông đứng ngay ở đó vẫy tay chào. Thật là cảm động gặp lại ông sau hơn một năm trời và sau bao nhiêu biến cố.

Sau khi bắt tay nhau thật chặt và trao đổi mấy lời thăm hỏi, ông tự lái xe đưa chúng tôi về nhà. Đây là một căn nhà nho nhỏ, xinh xinh nằm ở vùng Surrey, ngoại ô London. Một cái bảng treo trên cửa với mấy chữ khá lớn “The White House.” Chúng tôi hỏi ông là bảng này vẫn có từ trước hay ông treo vào? Ông nói villa bên này hay mang tên cho dễ nhận, và cái bảng này là của chủ cũ để lại. Ông tự tay xách giúp cái valise và đưa chúng tôi lên một phòng trên lầu hai, vặn hộp sưởi điện cho ấm, rồi dặn là nếu thấy vẫn còn lạnh thì cứ vặn thêm cái hộp sưởi thứ hai.

Buổi chiều hôm ấy ông nói nên đi ngủ sớm cho đỡ mệt sau chuyến bay dài từ Washington, DC và nói là sáng hôm sau thì cứ thủng thẳng lúc nào dậy cũng được.

Sáng hôm sau, từ trên tầng thứ hai xuống nhà, chúng tôi thấy ông đang đọc báo. Còn bà thì loay hoay trong bếp. Chỉ mấy phút sau đã thấy hai tô hủ tiếu đúng hương vị miền Nam và cà phê thơm phức bày trên bàn. Bà Thiệu là người Mỹ Tho mà hủ tiếu Mỹ Tho thì ngon có tiếng.

Bà mời chúng tôi tới ăn cho nóng. Khi hỏi sao bà không cùng ăn thì bà nói: “Tôi ăn rồi, để cho hai ông dễ nói chuyện.” Câu nói giản dị nhưng phản ảnh thật rõ cái lối sống của bà trong suốt thời gian 10 năm ông là người lãnh đạo của VNCH. Chúng tôi không biết nhiều nhưng có cảm tưởng là bà luôn luôn xa cách, không xen vào chính trị, vào những công việc của ông, chỉ đứng sau để lo cho gia đình và tham gia vào công việc xã hội. Trong thời gian chúng tôi làm việc ở Dinh Độc Lập thì ít khi thấy bà xuất hiện, kể cả khi Tổng Thống Thiệu tiếp khách xã giao ngoại quốc.

Ngồi xuống bàn ăn buổi sáng hôm ấy, thấy ông hết còn căng thẳng như những buổi ăn sáng hồi Tháng Ba, Tháng Tư năm trước. Chỉ hơn một năm không gặp mà thấy ông cũng có phần già đi, tuy phong độ vẫn còn chững chạc như ngày còn tại chức. Còn bà thì hầu như không thay đổi. Vẫn trẻ trung, vẫn dịu dàng, nồng ấm.

Lưu lại nhà ông bà cả tuần lễ, chúng tôi bắt đầu bằng những câu chuyện vui vui về các món ăn bên Anh, bên Mỹ, nhiều khi không hợp khẩu vị. “Tổng thống còn nhớ cái món ‘pín voi hầm thuốc bắc’ không,” tôi hỏi. Ông hỏi lại là tôi ăn món ấy bao giờ? Khi tôi nhắc là ăn trong bữa tiệc mừng sinh nhật của ông cuối năm 1974 gần ven sông Sài Gòn, ông nhớ ngay và phá ra cười: “Ừ thì họ nói là pín voi chứ tôi cũng chẳng biết là pín gì.”

Trong bữa cơm chiều, bà Thiệu cho ăn canh chua, cá kho tộ. Năm 1976 thì ở London cũng chưa có chợ búa Việt Nam nên bà phải cố gắng thì mới có được gia vị để nấu ăn. Hình như là phải nhờ người từ bên Pháp gửi sang. Bà nói ông thích ăn canh chua nấu với lá me non như mẹ ông thường nấu ở Phan Rang, nhưng “làm sao tôi tìm được lá me non ở bên Anh.” Để làm cho ông vui, tôi gợi ý nói đến một đề tài mà ông rất ưa thích: hải sản, làng chài và ngư nghiệp ở Việt Nam. Ông kể lại những kỷ niệm đi câu cá ở sông Sài Gòn và đôi khi câu được cả cá thu ở ngoài Côn Sơn.

Bệnh viện Vì Dân

Còn bà thì hay nói đến bệnh viện Vì Dân. Đối với bà thì đây là một niềm vui lớn và nó còn ghi dấu ấn trong tâm trí. Đây cũng là một di sản quý hóa mà bà để lại cho người dân, nhất là những người nghèo. Chúng tôi đã có dịp tới thăm nhà thương này và thấy nó được xây cất theo tiêu chuẩn quốc tế, được trang bị rất hiện đại, với 400 giường bệnh. Người khám bệnh và chữa bệnh luôn được miễn phí. Các bác sĩ, y sĩ, y tá được chọn lọc cẩn thận. Ngoài ra, lại còn những sinh viên y, dược, xung phong làm việc từ thiện.

Bà kể là sở dĩ nảy ra ý muốn xây một bệnh viện là vì bà hay vào nhà thương Chợ Rẫy thăm bệnh nhân. Nhiều khi thấy hai người phải chen chúc nhau nằm trên một cái giường nhỏ, làm bà hết sức mủi lòng. Vì vậy, ba bỏ ra nhiều công sức đi vận động để xây nhà thương như là một bước đầu để cải thiện nền y tế Việt Nam.

Tài trợ cho bệnh viện này hoàn toàn không dính dáng gì đến ngân sách quốc gia mà do sự đóng góp của những cơ quan từ thiện, những người có lòng hảo tâm trong nước cũng như ngoại giao đoàn. Bà nói tới sự đóng góp đặc biệt của bốn tòa tòa đại sứ Đài Loan, Nam Hàn, Nhật, và Hòa Lan. Bà đi vận động xây nhà thương là do sự đam mê công tác xã hội, hoàn toàn không có mục đích chính trị như một số người đồn thổi.

Ném bom Dinh Độc Lập

Nói tới chính trị, có một biến cố làm bà rúng động và còn nhớ mãi. Đó là vụ ném bom Dinh Độc Lập ngày 8 Tháng Tư, 1975 do một phi công VNCH nổi loạn thực hiện. Một trong hai quả bom thật to chọc thủng bãi trực thăng trên nóc dinh, lọt xuống rồi nổ tung. Ông Thiệu vừa ngồi xuống ăn sáng ở một bàn nhỏ ở ngoài hành lang, lấy đôi đũa gắp sợi bánh đầu tiên trong bát phở nóng thì cận vệ vội tới đưa ông vào ngay thang máy để xuống lầu hầm. Bà Thiệu kể lại là ngay chỗ gần thang máy, một quả bom “dài thòng” rơi sát bên nhưng không nổ. Đầu Tháng Tư là thời gian có nhiều chống đối từ mọi phía đòi ông Thiệu phải từ chức. Ông vẫn bình tĩnh, chỉ hơi cáu kỉnh khi nghe báo cáo về một số quý vị thuộc đảng Dân Chủ “thân chính” tại Quốc Hội quay lại chống ông.

Về biến cố ngày hôm ấy, bà kể là trái bom rơi trúng ngay chỗ mỏng nhất của bãi trực thăng. Mùi khét tỏa ra khắp nơi khi những tấm thảm dầy bốc cháy dữ dội. Lúc ấy bà bị kẹt cứng trong cái phòng của gia đình “vì cháu bé người làm đang lo sắp xếp quần áo đã sợ quýnh lên, tay run lẩy bẩy, không tìm và mở được cái khóa vào cầu thang.” Một lúc sau mới có sĩ quan đến giúp bà xuống hầm trú ẩn. Khói bay lên nghi ngút làm bà như ngạt thở.

“Ông già định ở lại”

Chưa tới hai tuần sau vụ ném bom, ngày 20 Tháng Tư, 1975, Đại Sứ Graham Martin của Mỹ, theo chỉ thị của Ngoại Trưởng Henry Kissinger, tới Dinh Độc Lập thuyết phục ông Thiệu từ chức (với kế hoạch là để Đại Tướng Dương Văn Minh lên thay) và nói: “Nếu ông không chịu từ chức thì các tướng lãnh dưới quyền ông sẽ bắt buộc ông làm điều này.”

Ông Thiệu hỏi ông Martin: “Nếu tôi từ chức thì liệu viện trợ có đến hay không?”

Ông Martin trả lời: “Tôi không dám hứa nhưng cũng có thể.”

Ông Thiệu kể lại rằng ngày hôm sau, ông mời các tướng lãnh đến Dinh Độc Lập. Trong buổi họp, ông cho họ biết về những chuyện Đại Sứ Martin đề cập tới. Ông Thiệu nói nếu các tướng lãnh coi ông như một chướng ngại vật cho hoà bình của đất nước thì ông sẽ từ chức. Không ai phát biểu gì hết. “Thế là đã rõ họ không muốn tôi ngồi lại ghế tổng thống nữa, cho nên tôi tuyên bố từ chức để Phó Tổng Thống Trần Văn Hương lên thay, theo đúng Hiến Pháp.”

Chiều ngày 22 Tháng Tư, 1975, ôngThiệu lên TV tuyên bố từ chức. Với tâm tư thật cay đắng, ông tố cáo Hoa Kỳ đã thất ước, đã phản bội VNCH, và nói các ông đã cắt hết quân viện, “để chiến sĩ của chúng tôi chết đuối dưới làn mưa đạn của địch. Đó là một hành động vô nhân đạo.”

Trong bài diễn văn từ chức, ông nói sẽ cùng với nhân dân và quân đội chiến đấu, và “tôi từ chức nhưng tôi không đào ngũ.” Vậy tại sao ông lại ra đi?

Nhiều anh em chiến sĩ và đồng hương vẫn còn đặt vấn đề “ông Thiệu đào ngũ” cho nên  chúng tôi đã viết chi tiết về bối cảnh lịch sử của việc Tổng Thống Thiệu ra đi (sách Tâm Tư Tổng Thống Thiệu, Chương 18). Ông ra đi ngày 25 Tháng Tư là vì chính tân Tổng Thống Trần Văn Hương đã làm áp lực, yêu cầu ông phải ra đi. Ông Thomas Polgar (giám đốc CIA ở Sài Gòn) cũng thuật lại là Tổng Thống Hương gọi cho ông Thiệu khuyên ông sớm rời khỏi Việt Nam, vì “nếu không, Cộng Sản sẽ nói tôi đang điều khiển một chính phủ Thiệu không Thiệu.” Về phía Đại Tướng Dương Văn Minh thì lúc ấy chưa lên tổng thống, cũng muốn ông Thiệu phải ra đi. Trong cuốn “Decent Interval,” tác giả Frank Snepp (nhân viên cao cấp của CIA ở Sài Gòn) viết lại (trang 435): “Ông Minh yêu cầu tướng Charles Timmes là người của CIA phải làm cách nào để ông Thiệu đi lưu đầy (He asked the CIA’s Timmes to see to it that Thiêu was sent into exile).”

Nhân tiện có một cơ hội: Tổng thống Đài Loan là ông Tưởng Giới Thạch vừa qua đời. Tổng Thống Hương liền viết sắc lệnh: “Nay đề cử cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và cựu Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm đại diện tổng thống VNCH đến Đài Bắc để phân ưu cùng chánh phủ và nhân dân Trung Hoa Dân Quốc nhân dịp Tổng Thống Tưởng Giới Thạch tạ thế…” Bản văn do Đại Tá Cầm viết tay. May mắn là Thiếu Tá Nguyễn Tấn Phận (một người trong đoàn tùy tùng đi theo cựu Tổng Thống Thiệu) còn giữ được một bản sao của sắc lệnh này.beauty-logo-beautiful-floral-vector-icon-program-black-white-gold-background-79712474

Chỉ ba tuần trước đây, ngày 26 Tháng Chín, khi viết một đôi lời về cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, nhân dịp lễ giỗ lần thứ 20 của ông, chúng tôi có nói: “Rất tiếc rằng vì lý do sức khỏe, ngày hôm nay phu nhân Tổng Thống Thiệu không thể tới đây để dự buổi lễ tưởng niệm này. Trong cảnh về hưu cô đơn ở gần San Clemente, California, thỉnh thoảng chúng tôi có tới thăm bà.

Bà sống rất thanh đạm và một mình với một con chó, trong căn nhà nhỏ bé. Trong bếp chúng tôi thấy mì ăn liền Mama chất đầy từng đống. Bà nói cũng không buồn vì quen rồi. Quen từ lúc “ông già’ còn làm tổng thống.

Bà hay dùng hai chữ “ông già” để nói về người chồng. Có lần chúng tôi hỏi bà về ngày bà ra đi khỏi Sài Gòn, bà kể: “Ông già định ở lại.” Hỏi thêm thì bà nói: “Sau khi từ chức, ông già mặc cái quần xà lỏn và nói: ‘Mẹ con mày đi đi, tôi ở lại.’”

Chúng tôi chưa hề biết chuyên này nên hỏi thêm thì bà mới kể: “Ông già ngậm một cái cục gì ở trong hàm răng.” Chúng tôi giật mình, vì ý bà muốn nói là ông ngậm một loại thuốc độc mà điệp viên thường dùng để phòng hờ trường hợp phải đối đầu với tình huống bi cực nhất.

Dọn sang Mỹ sau khi ông Ronald Reagan lên ngôi

Ông bà Thiệu chọn nước Anh để lưu vong trong giai đoạn đầu. Chính phủ Anh cũng rất kính trọng đời sống riêng tư của ông và gia đình. Bà Thiệu kể lại là ngay từ khi tới London, chính phủ đối xử với gia đình ông bà rất chu đáo, lại còn cử một đại úy coi về an ninh để tiếp cận và yểm trợ, hướng dẫn ông cùng gia đình về đời sống xã hội trong thời gian tới trên một năm.

Gia đình chỉ dọn sang Mỹ dưới thời Tổng Thống Ronald Reagan. Bối cảnh là như thế này: Sau Hiệp Định Paris, Tổng Thống Richard Nixon mời ông Thiệu sang thăm Hoa Kỳ. Nhưng ông Nixon lại mời ông về tư dinh là Casa Pacifica ở San Clemente chứ không đón tiếp ông với tư cách là một vị quốc trưởng ở Washington, DC. Tiệc khoản đãi ông Thiệu ở Casa Pacifica chỉ vỏn vẹn có 12 người, kể cả chủ lẫn khách. Lý do đưa ra là “không đủ chỗ ngồi.” Điều yên ủi đối với ông Thiệu là thái độ và tình cảm của Thống Đốc Ronald Reagan lúc đó. Trước đó, ông Thiệu đã đón tiếp ông Reagan nồng hậu khi ông thăm viếng Sài Gòn. Nhân dịp này, ông có tặng ông Reagan một cặp ngà voi và nói đùa với ông: “Một ngày nào đó, ngài sẽ lên voi.”

Năm 1976, ông Reagan ra vận động làm ứng cử viên của đảng Cộng Hòa để tranh chức tổng thống, nhưng ông không được đảng chọn, và thua ông Gerald Ford dù rất ít phiếu. Vì uy tín của đảng Cộng Hòa xuống quá thấp trong thời Nixon và thời Ford, cho nên ông Jimmy Carter trúng cử. Dưới triều đại Carter, uy tín của Hoa Kỳ lại tiếp tục suy giảm hơn nữa, phần lớn vì thù địch đã coi thường nước Mỹ sau khi tháo chạy khỏi Việt Nam.

Sau cùng thì ông Reagan thắng trong cuộc bầu cử Tháng Mười Một, 1980. Ngày 20 Tháng Giêng, 1981, ông Reagan lên ngồi chắc trên lưng voi và lời tiên đoán của ông Thiệu đã đúng.

Ra đi sau biến cố 9/11

Ở Boston khi chớm Thu thì cũng đã bắt đầu lạnh. Nhân dịp kỷ niệm 50 năm ông bà Thiệu thành hôn, cháu Nguyễn Quang Lộc mời bố mẹ sang du lịch bên Hawaii. Vừa tới nơi vài hôm là biến cố 9/11 xảy ra. Bà Thiệu kể lại là ông rất “lo ra” khi thấy chiếc máy bay cất cánh ngay từ phi trường ở Boston (là nơi ông đang cư ngụ) rồi đâm vào Trung Tâm Thương Mại Quốc tế tại New York và một chiếc khác lại nhào vào Ngũ Giác Đài. Xúc động này ảnh hưởng nhiều tới sức khỏe của ông.

Trong mấy năm ông bị bệnh tim, bà Thiệu phải lái xe chở ông vào nhà thương. “Tiếc rằng không còn bệnh viện Vì Dân để chị săn sóc cho ông già,” bà tâm sự. Bây giờ tuổi đã cao, bà phải lái xe ban đêm một mình trên xứ người, đi vòng vèo khá lâu mới tới bệnh viện. Bà kể có hôm mãi tới 1 giờ sáng mới về tới nhà. Lúc về lại phải đi tìm xe ở dưới cái hầm nhà thương tối lù mù nên bà còn sợ ma, có lúc phải đi giật lùi. “Thôi thì cũng còn tôi để lái xe cho ông tổng thống,” bà nói cho ông vui hôm sau trở lại nhà thương thăm ông. “Cám ơn bà,” ông Thiệu nhoẻn nụ cười đáp lại.

Sau vụ 9/11, ông rất muốn rời Hawaii để trở về Boston ngay, nhưng tất cả các máy bay đều án binh bất động, cả tuần sau mới về được. Về tới nhà thì bệnh ông thêm nặng. Thứ Năm, ngày 27 Tháng Chín, 2001, ông bị té xỉu, rồi hôn mê. Tại Trung Tâm Y Tế Beth Israel Deaconess, ông đi vào giấc ngủ ngàn thu chiều Thứ Bảy, 29 Tháng Chín, 2001.

Tổng Thống Thiệu ra đi chưa tới ba tuần sau biến cố 9/11. Trong một bài bình luận thật dài đăng trên mạng với tựa đề “Nguyễn Văn Thiệu và Cuộc Khủng Bố 11 Tháng Chín,” tác giả David Bennett bình luận: “Cái chết của ông Thiệu trong Tháng Chín vừa qua nêu lên một câu hỏi: Liệu Hoa Kỳ có quyết tâm để chiến thắng cuộc chiến chống khủng bố này (tại Afghanistan) hay không…và liệu Hoa Kỳ có nhất định giúp xây dựng lâu dài một quốc gia Afghanistan hay không?” Lúc ấy thì ở thế giới bên kia, ông Martinô Nguyễn Văn Thiệu đã có câu trả lời.

Sau khi ông mất, trong cảnh cô đơn giá lạnh ở Boston vào mùa Đông, chúng tôi cùng người bạn là Tiến Sĩ Tạ Văn Tài ở đại học Harvard University đến thăm bà. Bà sống đạm bạc, vẫn giữ nguyên bộ xa lông cũ kỹ nay đã sờn. Trên một cái bục cao bà để hình ông và một chai rượu xâm banh. Hỏi về chai rượu thì bà kể là cứ mỗi năm khi đến ngày kỷ niệm thành hôn của hai vợ chồng, ông mua một chai sâm banh, tự tay mở ra và mời bà uống với ông một ly, dù bà không biết uống rượu. Như vậy là bà muốn cùng ông giữ lại suốt đời cái kỷ niệm không bao giờ nhạt nhòa. Bà nói là người ta dèm pha là ông già với bà này cô kia, nhưng bà cũng chẳng để ý vì “tía đi rồi tía lại về.” Nghe vậy, anh bạn Tài phá ra cười, còn tôi thì lúc ấy cũng không hiểu tía là gì nên không cười. Thì ra con người bình dị, hiền hậu vùng đồng bằng Cửu Long còn khoan dung cả với người chồng.

beauty-logo-beautiful-floral-vector-icon-program-black-white-gold-background-79712474

Có lần ông Thiệu hỏi người Mỹ nghĩ thế nào về ông, chúng tôi nói về một hai khía cạnh: Khen có, chê có, rồi thêm: “Tôi nghe một tướng Mỹ nói là tổng thống nhu nhược.” Ông Thiệu hỏi tại sao? Tôi trả lời là ông ấy nói “Tổng thống không cương quyết đủ để ra lệnh tử hình khi cần thiết để làm gương.” Ông nhìn tôi giây lát rồi chậm rãi nói: “Suốt đời, tôi đã tránh không có cái nợ máu.”

Xét ra thì trong suốt thời gian 10 năm ông lãnh đạo, thực sự đã không có tội nhân nào phải ra pháp trường. Trên bàn thờ nhà bà Thiệu ở Newton, Massachusetts, vẫn còn treo một cái bảng với phương châm do chính ông viết rồi cho người thêu chữ thật to “Đức Lưu Quang” (Ánh sáng của đạo đức tồn tại mãi). Bà luôn chỉ vào đó mà dạy con cái phải ăn ở cho có đức.

Nếu chúng ta tin rằng mọi việc trên cõi đời này đều do Trời an bài xếp đặt, thì Trời cũng phù hộ ông Thiệu trải qua nhiều nguy hiểm trong gần 10 chèo lái con thuyền miền Nam Việt Nam qua bao nhiêu sóng gió. Theo như những chuyện ông kể lại thì đếm ra cũng có tới sáu lần ông bị đe dọa làm ông cảnh giác về đảo chính. Như vậy thì Trời cũng đã giúp cho bà Thiệu không phải trở thành quả phụ của một tổng thống khi còn đương nhiệm.

Ngày 15 Tháng Mười, 2021, bà đã theo ông về thế giới bên kia. Ở đó thì “Cô Bảy Mỹ Tho” Nguyễn Thị Mai Anh sẽ mãi mãi được gần “Cậu Tám Phan Rang” Nguyễn Văn Thiệu. [đ.d.]

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Một vài Kỷ Niệm về Phu Nhân Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu của Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng

Bản tin Nội Bộ K1 (23/10/2021)

BẢN TIN NỘI BỘ K1 TỪ AUSTIN TEXAS

Cách nay mấy hôm, trong lúc ngồi trên xe chờ bà xã đi chợ  thì có phone của chị Tố Tâm từ Austin Texas gọi tới. (Trong gia đình K1 chỉ có và chỉ có chị Tố Tâm thường hay gọi đến hỏi thăm động viên Căn Nhà Nhỏ).
Mình cần phone lên: “Hello, chào chị Tố Tâm, chị khỏe không?”
Bên đầu kia có tiếng trả lời, nhưng không phải K1Tố Tâm mà là ông xã của Tố Tâm.
– “Chào anh Vinh, anh khỏe không? Tôi Cấp đây.”
Sau vài câu hỏi xã giao, chúng tôi trao đổi với nhau vài tin tức xem được trên mạng youtube và đài Việt Ngữ trong, ngoài nước.
Sau đó tôi nói gởi lời thăm chị Tố Tâm, chỉ có khỏe  không?
Anh Cấp tâm sự: – “Bà xã tôi (Tố Tâm) bây giờ yếu lắm rồi, trí nhớ giãm rất nhiều, không còn nhớ nữa. Nhưng chỉ quên những gì hiện tại gần đây thôi, chứ những chuyện xa xưa thì còn nhớ.”

Theo anh Cấp cho biết anh ta bây giờ là Osin đúng nghĩa. Mọi việc trong nhà anh Cấp phải lo hết, không dám để cho vợ làm. Từ nấu nướng, giăt giũ cả việc tắm rữa cho vợ nữa. Lúc nào cũng để mắt canh chừng vợ, sợ chị Tố Tâm đi ra vườn rồi lạc ra đường, không biết tìm lối về. Anh Cắp cho biết bây giờ chợ búa, mau thức ăn anh lo hết và cũng dẫn vợ theo. Tôi khen ông bà tình quá nhé, thì anh cấp nói tình gì nữa, không dám để Tố Tâm ở  nhà một mình, lở đi lạc biết đâu mà tìm.

Anh Cấp tâm sự: “Thấy hoàn cảnh Phan Tấn Ngưu thật là tội nghiệp, giờ tới mình”
Nghe vậy tôi mới lên giọng thầy đời (sorry các bạn vì không thể nói gì khác hơn).
Thôi thì anh Cấp cố gắng đi. Đây là lúc mình chứng tỏ tình yêu chân thật cho vợ mình, dù không còn như những giờ phút âu yếm ngày xưa, nhưng đây là lúc chúng ta thể hiện mối “TÌNH GIÀ”. Tình Già được trân quý là giá trị đạo đức của một tình yêu cao quý mà anh em chúng ta đang và sẽ có dịp thể hiện”.
Đó là mẫu tâm sự giữa Căn Nhà Nhỏ với anh Cấp phu quân của K1 Tố Tâm, xin được gởi đến tất cả các bạn để biết đến sức khỏe của bạn mình, và các bạn nhất là các chị , có thể, dành chút thì giờ gọi phone thăm hỏi để giúp Tố Tâm lấy lại trí nhớ mà chị ấy đang quên.

Biết rằng bọn mình đến tuổi nầy không bịnh nầy thì cũng bịnh khác, tuy nói vậy nhưng vẫn mong và cầu chúc cho nhau luôn được khỏe mạnh.

Mến chúc tất cả gia đình cuối tuần vui vẻ hạnh phúc bên người thân.

Căn Nhà Nhỏ.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Bản tin Nội Bộ K1 (23/10/2021)

Ơn Đời Chứa Chan của Phan Cao Trí- NVV Sưu Tầm

ƠN ĐỜI CHỨA CHAN

16022021211442 (1)

Phan Cao Tri

Tuổi già, buổi sáng thức dậy, nghe gân cốt đau rêm mà mừng, vì biết mình còn sống. Đại ý viết như vậy, trong một cuốn sách Mỹ mà ông Tư đọc được, làm ông thấm thía cái hạnh phúc lâng lâng của từng sớm mai khi vừa tỉnh giấc. Bạn bè cùng trang lứa với ông, nhiều người đã về với Diêm Vương khi còn trẻ măng, vì cuộc tương tàn khốc liệt dài ngày trên quê hương. Nhiều người khác gục ngã trong trại tù vì đói khát, bệnh tật, mồ hoang vùi cạn. Một số khác nữa, vì khao khát tự do mà chôn thân dưới đáy biển, hoặc chết khô giữa rừng sâu. Không ít người còn lại, tử thần cũng đã đón mời vì bạo bệnh, khi tuổi năm sáu mươi. Phần ông vẫn còn dai dẳng sống sót cũng là ân huệ trời ban, không vui hưởng tháng ngày, cũng uổng lắm sao!

Ý nghĩ đó làm ông mỉm cười sung sướng. Ông vẫn trùm thân trong chăn ấm. Tội chi mà dậy sớm cho mệt. Mỗi khi nghe tiếng khởi động máy xe từ hàng xóm vọng qua trong buổi tinh sương, ông càng vui sướng hơn, vì không còn phải vùng dậy giữa đêm đen, lặn lội đi kiếm cơm hàng ngày như mấy gã trẻ tuổi ở cạnh nhà. Về hưu rồi, mỗi tuần hưởng bảy ngày chủ nhật, bảy ngày thảnh thơi. Hết áp lực của công việc hàng ngày, không phải lo lắng bị thất nghiệp khi kinh tế khủng hoảng xuống dốc. Khoẻ re.

Cứ nằm trùm chăn ấm nghe nhạc mềm văng vẳng ru đưa, phát ra từ cái radio nhỏ, có khi ông chợp thêm được một giấc ngủ ngắn ngon lành. Ngủ chán thì dậy. Bước xuống giường, dù khớp xương sưng đau, đi khập khễnh ông cũng thầm cám ơn cái chân chưa liệt, còn lê lết được. Chưa phải nằm dán lưng vào giường như một số người bất hạnh khác. Những kẻ này mà nhích được vài bước cà thọt như ông, thì chắc họ cũng sướng rân người. Ông thầm bảo, có thêm được một ngày để sống, để vui, để yêu đời. Bệnh hoạn chút chút, thì phải mừng, chứ đừng có nhăn nhó than vãn ỉ ôi.

Mỗi khi đánh răng rửa mặt, ông lầm thầm:
“Mình sướng như vua rồi, có nước máy tinh khiết để dùng. Giờ nầy, cả thế giới, có hơn một tỉ người thiếu nước để nấu ăn, để tắm giặt và nhiều tỉ người khác không có nước sạch, phải uống nước dơ bẩn.” Dù cái bàn chải đánh răng đang ngọ ngoạy trong hàm, ông cũng ư ử hát ca. Khi áp cái khăn tẩm đầy nước lên mặt, ông cảm được cái mát lạnh và niềm sung sướng chứa chan đang lan tỏa chạy khắp người. Ông biết đang được ân sủng của trời đất ban cho trong tuổi già.

Ngồi lên cái bồn cầu êm ái, nhà cầu sạch sẽ, trắng toát, thơm tho, không vướng một chút mùi vị hôi hám, đèn đóm lại sáng trưng, có nhạc văng vẳng từ radio, ông cầm cuốn sách thưởng thức chữ nghĩa của “thánh hiền”, tư tưởng của Đông Tây. Không bao giờ ông quên cùng giờ phút nầy, có hơn ba tỉ nhân loại không có cầu tiêu để làm cái chuyện khoái lạc thứ tư. Có người phải ra đồng lồng lộng gió, mà làm chuyện “nhất quận công, nhì ị đồng”.

Phải gấp gấp cho xong chuyện, không nhẩn nha được, vì hai tay phải múa lia lịa hất ra đàng sau, để xua đuồi lũ ruồi đồng đang vo ve “oanh tạc”. Xong việc, may mắn lắm thì có lá chuối khô mà lau chùi, còn không thì dùng đất cày, đá cục, nắm cỏ, que nhánh cây tươi, khô. Ông cứ nhớ thời làm việc ở quận lị, chỉ có nhà tiêu lộ thiên, hai tấm ván bắt ngang qua một hầm cầu lộ thiên, nắng xông hơi phân người lên nóng hừng hực rát cả mặt, bên dưới giòi bọ lúc nhúc lổm nhổm làm thành một tấm màn trắng-ngà chuyển động. Có con gà ở đáy hầm, nó đang thưởng thức ngon lành món giòi bọ, thấy ông xuất hiện bất thần, sợ hãi hoảng hốt đập cánh bay lên kêu quang quác và vung vãi ‘ám khí’ khắp trong không gian, làm ông cũng khiếp viá, ôm đầu phóng chạy dài. Nghĩ đến chừng đó thôi là ông đủ cảm được cái sung sướng đang có ngay bây giờ. Ngồi thật lâu, đọc cho xong mấy trang sách, mới nhởn nhơ rời phòng.

Ông Tư tự đãi một bình trà nóng, một ly cà phê thơm, rồi nấu nồi cháo gạo tẻ đặc rền ăn với cá kho mặn. Dọn ra bàn, đèn vàng soi một khoảng ấm cúng. Ông thong thả vừa hớp nhâm nhi, vừa ăn từng muỗng cháo, chất gạo béo tạo vị giác đi qua trong cổ họng. Ông lầm thầm: “Ngon, cao lương mỹ vị cũng không bằng”. Ông thường ngâm nga hai câu thơ:
“Vợ cũ, chó già, tô cháo nóng.
Ba nguồn thân thiết dạt dào thương”.

Mắt ông dán vào trang thơ đang cầm trên tay, gật gù thưởng thức ý lời hoa gấm. Ông trầm mình vào những giòng thơ, tim xao xuyến xúc động mênh mang. Thỉnh thoảng ông dừng lại, và nói nhỏ cho chính ông nghe: “Tiên trên trời cũng chỉ sướng và thong dong như thế này là cùng”. Ông nhớ đến cái thời “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên xã hội chủ nghĩa”, buổi sáng bụng đói meo, vác cuốc đi làm lao động tay chân nặng nhọc, ráng uống một bát nước lã để cầm hơi và đánh lừa cái bụng đang sôi sồn sột. Bây giờ được như thế nầy, phải biết cám ơn ân sủng của trời ban cho. Biết bao nhiêu tỉ người trên thế giới này mơ ước được có một buổi sáng thảnh thơi và no ấm như ông mà không được nhỉ?

Nhìn xuyên qua cửa phòng ngủ, ông thấy bà vợ nằm ngủ giấc yên bình, lòng ông dạt dào niềm thương. Bà đã cùng ông mấy mươi năm dắt dìu nhau trong phong ba bão táp của giòng đời nghiệt ngã. Đã chia sẻ ngọt ngào cũng như đắng cay của một thời khói lửa điên đảo. Giờ này, may mắn vẫn còn có nhau trong cuộc đời, thương yêu thắm thiết, nhường nhịn nâng đỡ chăm sóc ngày đêm. Không như những cặp vợ chồng già khác, cứ lục đục gây gổ nhau, tranh thắng thua từng li từng tí, làm mất hạnh phúc gia đình. Ông thương bà biết an phận thủ thường, không đứng núi nầy trông qua núi nọ. Ông thấy bà hiền lành và có trái tim đẹp như thánh nữ. Ông muốn vào phòng, hôn bà lên trán, nhưng ngại làm vợ mất giấc ngủ ngon buổi sáng. Ông lại cám ơn trời đã đem bà buộc vào đời ông. Ông cười và nhớ câu nói của một nhà văn nào đó:

Đời sống không thể thiếu đàn bà, nhưng sống được với một người đàn bà không phải dễ.”
Ông Tư ra vườn. một mảnh đất nhỏ trồng vài cây hoa, hương thơm thoang thoảng, có tiếng chim kêu đâu đó líu lo vọng lại. Mấy đoá hoa sặc sỡ còn đọng sương đêm lóng lánh. Nắng mai ấm áp phả lên da thịt ông, tạo thành một cảm giác dịu dàng, êm ái. Ông vươn vai, xoay người trong thế thể dục chậm, xương sống được thư giãn kêu răng rắc, đã đời. Hít thở và phất tay chừng mười lăm phút cho máu huyết lưu thông. Loại thể dục nầy đã giúp ông bớt được những cảm mạo thông thường, ông tin vậy.

Ông Tư thay áo quần để đi ra đường. Cầm cái áo lành lặn bằng vải tốt trên tay, ông thường nhớ đến thời đi tù, khâu bao cát làm áo, rách tả tơi, không đủ che gió lạnh thấu xương của núi rừng. Thế mà cũng có nhiều tù nhân khéo tay và nghịch ngợm, khâu bao cát thành bộ đồ lớn, đủ ba mảnh, và làm luôn cả cái “cà vạt”, mang vào trông cũng sang trọng như đi ăn đám cưới. Nhớ lại thời đó mà rùng mình. Còn sống sót, và đến được đất nước tự do này, cũng là một điều mầu nhiệm lạ lùng.

Ông Tư đi ra đường, xe cộ vùn vụt qua lại liên miên. Lề đường rộng, phẳng phiu, sạch sẽ. Bên kia là giao điểm của hai xa lộ, các nhánh cầu cao đan uốn éo chồng chất lên nhau, vòng vèo trên không, như những nùi rối. Ông Tư thầm cám ơn tiền nhân đã đổ sức lực, mồ hôi, tài nguyên khai phá và xây dựng nên những tiện nghi nầy cho ông nhảy xổm vào hưởng dụng, mà không ai có một lời ganh ghét, tị hiềm. Ông, từ một trong những nước lạc hậu nhất của hành tinh nầy, bị chính quyền cuả xứ ông bạc đãi, kỳ thị, kềm cặp và lấy hết các tự do cơ bản. Đến đất nước này, ông được bình đẳng, có công ăn việc làm hợp với khả năng, con cái ông được đến trường, học hành thành tài, có nghề nghiệp vững chắc và sống với mức trung lưu. Ông cảm thấy còn nợ quê hương mới nầy quá nhiều thứ, từ tinh thần đến vật chất, mà biết không bao giờ trả lại được một phần nhỏ nào. Ông Tư vừa đi bộ vừa ca hát nho nhỏ.

Một người cảnh sát cao lớn dềnh dàng đi ngược đường chào ông, ông chào lại bằng lời cám ơn đã giữ gìn an ninh cho dân chúng sinh sống. Người cảnh sát cười và nói đó là bổn phận, vì lương bổng của ông ấy được trả bằng thuế của dân chúng, trong đó có ông. Ông Tư thấy trong lòng bình an, ông không làm điều gì phạm pháp, thì không sợ ai cả. Ông đọc trong báo, thấy có những xứ, dù không làm gì sai quấy cả, cũng bị cảnh sát giao thông chận lại đòi tiền, nếu không cho tiền, thì bị quy kết đủ thứ tội mà mình không có.

Nắng chiếu hoe vàng cả dãy phố của một ngày thu, ông Tư bước đi mà lòng rộn rã. Gặp ai cũng chào, cười vui vẻ. Nghe ông chào hỏi nồng nhiệt, mọi người đều vui theo. Thấy một ông cụ mặt mày đăm đăm rầu rĩ đi ngược đường, ông Tư lớn tiếng:

Chào cụ? Có mạnh khỏe không? Hôm nay trời nắng đẹp quá!
Ông cụ trả lời qua loa: “Tàm tạm, chưa chết! Chán cái mớ đời.
Ông Tư nói to: “Việc chi mà chán đời cho mệt cụ ơi. Chưa chết là vui lắm rồi. Cụ có biết là chúng ta đang sung sướng phước hạnh, tội chi phí phạm thời gian để buồn nản?
Ông cụ thở dài: “Ai cũng có nhiều việc âu lo! Đời đâu có giản dị! À, nầy, mà hình như ông đau chân, bước đi không được bình thường? Thế thì vui nỗi gì?
Ông Tư cười lớn:“Vâng, tôi đau chân, nhờ đau chân mà tôi thấy được niềm vui hôm nay lớn hơn, vì còn đi được, bước được, chứ chưa phải nằm nhà. Cụ ơi, nếu lo âu mà giải quyết được những khó khăn, thì nên lo. Nhưng nếu lo âu, mà không giải quyết chi được, thì hãy vui lên, cho đỡ phí phạm ngày tháng trời cho” .
Ông cụ già lắc đầu bỏ đi.

Ông Tư xà vào ngồi trên ghế đá mát lạnh của công viên dưới tàng cây có bóng nắng lung linh. Nhìn bọn trẻ con chơi đùa la hét lăn lộn trên bãi cát, ông vui lây với cái hồn nhiên của chúng. Bên kia đồi cỏ, có đôi nam nữ nằm dưới gốc cây, kê đầu lên tay nhau, tóc đổ dài óng ánh, thỉnh thoảng vang tiếng cười rúc rích. Đất nước nầy ấm no và thanh bình quá, sao có nhiều người còn kêu ca đời sống khó khăn? Phải chăng những kẻ này chưa biết an phận, muốn được nhiều hơn điều đang có, đang đủ. Không thấy được phước hạnh là lỗi tại họ. Ông dong tay bắt vài tấm lá rơi đang quay cuồng trong gió và lấy bút ghi lên mặt lá mấy giòng thơ vừa thoáng qua trong trí để ca ngợi cuộc đời. Thấy bãi cỏ êm mát, ông nằm dài, những vòng tròn sáng màu vàng rải rắc trên mgười ông. Gió hiu hiu mát từ hồ nước vờn qua làm mơn trớn thịt da. Ông Tư rút từ túi quần một cuốn sách nhỏ có nhan đề “14 ngàn điều làm nên hạnh phúc”. Tác giả tập sách nhỏ nầy, thấy đâu đâu cũng là hạnh phúc tràn đầy. Vấn đề là cảm nhận được cái sung sướng, cái hạnh phúc đang có. Từ việc đặt chân lên một tấm thảm mềm êm ái, đến việc cắn một trái ngọt chín mọng trong miệng, đến mơ mộng được hát trên bục một hộp đêm, nghe một lời nói dịu dàng yêu thương…

Hạnh phúc và sung sướng cảm nhận được từ những điều rất nhỏ nhặt, đơn sơ, tầm thường nhất trong sinh hoạt hàng ngày. Không cần phải là ôm chặt người yêu trong vòng tay, cũng chẳng phải vật nhau lăn lộn trên giường, cũng không cần đến việc cầm trong tay cái vé số trúng độc đắc, hoặc làm chủ được một tòa lâu đài sang trọng… Ông nghĩ, chắc sẽ có người cho tác giả tập sách nầy là kẻ “lạc quan tếu”. Nhưng thà lạc quan tếu hơn là bi quan. Đời nầy, có nhiều người đắm mình trong hạnh phúc, mà cứ tưởng đang ngụp lặn trong bể khổ. Hoặc đang được phước hạnh mà không biết và xem thường, chỉ khi mất đi, hay đã trôi qua, mới biết, thì đã quá muộn màng.

Nắng đã xông hơi nồng nóng, ông Tư đón chuyến xe buýt ra về. Cái vé xe cho người già rẻ rề, chỉ bằng một phần ba vé bình thường. Ông nói lời cám ơn tài xế, và thấy mang ơn những người cùng đi xe công cộng nầy, vì xem như họ đã gián tiếp gánh một phần tiền vé cho ông.

Về nhà, bà Tư đã dọn sẵn cơm trưa, mời ông rửa ráy cho sạch sẽ mà ra ăn. Thấy ly nước chanh muối, ông cầm uống, chất nước ngọt ngào mằn mặn chua chua, ngon lành đi qua cổ họng. Ông nhìn vợ với ánh mắt thương yêu và nói lời cám ơn cho bà vui. Chưa ăn, mà thấy bát canh bông bí nấu tôm đã biết ngon. Những món ăn thanh đạm này, với ông, còn ngon hơn sơn hào hải vị.

Ăn xong, còn chút cơm thừa, bà Tư bỏ vào chén, cất vô tủ lạnh, không dám đổ đi, vì sợ phí phạm của trời. Bà nhắc câu nói của ông: “Ngay giờ khắc nầy, trên thế giới có hơn năm trăm triệu người đang đói rã, không có một miếng gì đề ăn, và có hơn vài tỉ người ăn chưa no bụng, và nhiều tỉ người khác quần quật ngày đêm, cũng chỉ mong có đủ no mà thôi.” Đã từng đói, nên ông bà không dám phí phạm thức ăn.

Ông Tư mừng vì ăn còn thấy ngon miệng, không như một số người khác, ăn gì cũng như nhai đất sét, không muốn nuốt, vì nhạt miệng, mất vị giác. Một số người khác còn tệ hại hơn nữa, họ không còn ăn bằng miệng được, mà ăn bằng bụng, nhờ ống dẫn thức ăn nối với dạ dày, như đổ xăng cho xe hơi.

Ông Tư ngồi vào bàn mở máy vi tính lướt mau tin tức thế giới biến động. Đôi khi thấy gía thị trường chứng khoán tụt dốc xuống thấp, làm nhiều nhà bình luận lo ngại. Nhưng ông Tư cười, ông chẳng thèm để ý, không cần quan ngại chi cả. Chứng khoán lên hay xuống, cũng thế thôi. Ông có lo ngại hay quan tâm cũng chẳng thay đổi được gì. Với số tiền hưu khiêm tốn, và cách ăn tiêu trong khả năng tài chánh, ông bà Tư chưa bao giờ thấy thiếu thốn cái gì. Có một ông bạn khoe rằng nay đã thành triệu phú. Bà Tư đùa và hỏi, triệu phú thì khác người không là triệu phú cái gì? Ông bạn lúng túng ấp úng không biết phải trả lời ra sao. Nhưng ông bà Tư chắc chắn rằng, họ ít tiền, nhưng được sung sướng, đầy đủ hơn nhiều người giàu triệu phú khác.

Ông Tư rà mắt qua các tin tức và các biến cố mới nhất. Thật là tuyệt diệu và thần kỳ. Chuyện vừa xảy trong giờ trước, đã được tường thuật ngay. Dạo một vòng tin tức xong, ông quay qua mở vi-thư của bạn bè. Có những người bạn xa cách hàng ngàn dặm, mấy chục năm nay chưa gặp lại nhau, mà thư từ qua lại liên miên, tưởng như gần gũi trong gang tấc. Tha hồ hàn huyên tâm sự. Tình cảm qua lại thân thiết chứa chan. Nhờ máy vi-tính, khi viết, tha hồ bôi xoá tẩy sửa lung tung, mà không cần phải xé tờ nầy, viết lại tờ kia, vô cùng tiện lợi. Thư viết xong, chỉ cần một cái nhấp con chuột, bạn ông nhận được ngay tức thì. Không cần phải nhờ bưu điện chuyển đi có khi cả tuần mới đến. Hàng chục lá thư của bạn bè khắp nơi trên thế giới chuyển đến ông đủ điều hay, lạ, nhiều bài thuốc hiệu nghiệm, trăm bản nhạc du dương, ngàn hình ảnh tuyệt vời của các thắng cảnh thiên nhiên, các đoạn phim ngắn đủ thể loại của nhiều vấn đề khác nhau. Ông cám ơn khoa học kỹ thuật tiến bộ, đem thế giới mênh mông lại gần gũi trong không gian và cả thời gian.

Mỗi khi nghe tin một người già bệnh hoạn qua đời, ông Tư mừng cho họ thoát được thời gian đau yếu sống không chất lượng. Nhiều người nằm liệt vài ba năm, không sống, không chết. Còn có những kẻ phải cưa tay cưa chân. Ông vẫn thường mong sau này, nếu được chết, thì chết mau chóng, yên lành, khỏi qua thời gian bệnh hoạn lâu ngày.

Có một bạn già mỉa mai, cho ông Tư là “kẻ tự sướng” ông chỉ cười và nói: “Thà tự sướng hơn là tự khổ”

Ông Tư thường nghĩ rằng, ông đã và đang được quá nhiều phước hạnh của trời ban, nhiều ân nghĩa của nhân loại, xã hội, nhiều tình thương của gia đình, bạn bè, người quen và cả chưa quen. Ông thấy sung sướng hạnh phúc. Ông tội nghiệp cho những người suốt đời than van, nắng không ưa, mưa không chịu, và tự bôi đen ngày tháng đẹp đẽ của họ, và dìm đời vào bất mãn, khổ đau.

Phan Cao Tri

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Ơn Đời Chứa Chan của Phan Cao Trí- NVV Sưu Tầm

Nhạc phẫm “Việt Nam, Việt Nam” và giấc mơ của Phạm Duy

VIỆT NAM, VIỆT NAM
GIẤC MƠ RẠN RỠ CỦA PHẠM DUY

Pham-Duy

Tác giả: Lê Hữu

Tôi nhớ, trong một lần được nhạc sĩ Phạm Duy chia sẻ tin vui có thêm ít ca khúc của ông vừa được cấp phép phổ biến ở trong nước, tôi nói rằng có một bài tôi thực sự mong cho ông, hơn bất cứ bài nào khác, được phép lưu hành.

“Bài gì?” ông hỏi.

Việt Nam, Việt Nam” tôi nói.

Ông im lặng. Tôi nói thêm là tôi chờ cái ngày bài hát ấy được hát vang vang trên khắp mọi miền đất nước, hát vang vang trong màn kết thúc một chương trình nhạc Phạm Duy. Ông im lặng. Tôi gửi ông nghe/xem cho vui ít màn trình diễn bài hát ấy ở nước ngoài trước và sau ngày ông về nước. Ông im lặng. Tôi nghĩ mình hiểu được sự im lặng ấy, và không nhắc tên bài hát ấy nữa.

Vì sao bài hát ấy, bài “Việt Nam, Việt Nam”, vẫn chưa được cấp phép? Có gì lấn cấn chăng? Có “vấn đề” gì chăng?

Bài hát có những lời lẽ khơi dậy lòng nhân ái, tình yêu thương đồng loại và những giá trị phổ quát của các quyền làm người trong một đất nước tự do dân chủ.

Việt Nam đem vào sông núi
Tự Do, Công Bình, Bác Ái muôn đời
Việt Nam không đòi xương máu
Việt Nam kêu gọi thương nhau
Việt Nam đi xây đắp yên vui dài lâu…
Việt Nam ta nguyền tranh đấu cho đời
Tình Yêu đây là khí giới
Tình Thương đem về muôn nơi
Việt Nam đây tiếng nói đi xây tình người…

Những lời lẽ ấy là không phù hợp chăng?

Bài hát có nhịp điệu khỏe khoắn, tiết tấu mạnh mẽ, nghe phấn chấn, thúc giục tựa những bước chân hăm hở xốc tới, rất thích hợp để hát hợp ca, đồng ca trong những cuộc họp mặt, những sinh hoạt văn hóa văn nghệ hay xuống đường, tuần hành.

Nhạc điệu ấy là không thích hợp chăng?

Bài hát có nhạc điệu trang nghiêm, hùng tráng với lời ca khơi dậy tinh thần yêu nước, mang tính cách của một bài quốc ca. Nhiều người vẫn nhớ rằng “Việt Nam, Việt Nam” từng hơn một lần được đề nghị làm bài quốc ca Việt Nam Cộng Hòa (thay cho bài “Tiếng gọi công dân” của Lưu Hữu Phước, một nhạc sĩ miền Bắc). Bài hát “Việt Nam, Việt Nam” vì thế, rất “gần” với bài quốc ca của miền Nam ngày trước.

Những điểm ấy là “nhạy cảm” nên bài hát không được phép sử dụng chăng?

Liệu còn có những lý do nào khác? Hoặc, chẳng có lý do nào cả. Chưa duyệt, chưa cấp phép là vì chưa duyệt, chưa cấp phép, thế thôi.

“Việt Nam, Việt Nam” là một “chung khúc” (cách gọi của nhạc sĩ Phạm Duy), là một kết thúc có hậu cho bản trường ca “Mẹ Việt Nam” (1964) của Phạm Duy. Là chung khúc nhưng “Việt Nam, Việt Nam” vẫn thường được trình diễn như một bài hát được tách rời, độc lập. Chung khúc ấy thể hiện những ước mơ, khát vọng của người dân Việt cho một vận hội mới về trên quê hương, cho đất nước yên bình, cho không còn những cách chia, cho người biết thương người.

Sau ngày nhạc sĩ Phạm Duy qua đời, một bài báo ở trong nước (Thanh Niên, 30/1/2013) có tựa là “Nhạc sĩ Phạm Duy: Tâm nguyện cuối đời” cho phổ biến một lá thư của ông (không đề ngày) gửi đến “giới chức có thẩm quyền” xin cấp phép phổ biến ca khúc “Việt Nam, Việt Nam”. Thư có đoạn:

“Tôi nghĩ rằng tôi có quyền nuôi một nguyện vọng đóng góp vào sinh hoạt âm nhạc trong nước bằng một ca khúc có tính chất xưng tụng nước ta nhan đề ‘Việt Nam, Việt Nam’ sáng tác từ 1960, rút trong trường ca ‘Mẹ Việt Nam’, là một tổ khúc kêu gọi sự đoàn kết dân tộc dưới bóng Mẹ Tổ Quốc thiêng liêng và độ lượng. Sau đây là ca khúc đó (lời ca bài ‘Việt Nam, Việt Nam’). Tôi mong có ngày ca khúc này được phép phổ biến.” (thư kèm một CD gồm hai bài hợp ca “Việt Nam, Việt Nam”).

Một lá thư khác, cũng theo bài báo ấy, dài đến gần mười trang của Giáo sư Trần Văn Khê (6/2012), người bạn cố tri của nhạc sĩ Phạm Duy, nội dung đề nghị cấp phép phổ biến hai trường ca của Phạm Duy là “Con đường cái quan” và “Mẹ Việt Nam” (kết thúc bằng chung khúc “Việt Nam, Việt Nam”). Thư có đoạn:

“Tâm nguyện của Phạm Duy đối với quê hương là một tâm nguyện trọn vẹn… Tôi ước mong chính phủ, Bộ Văn Hóa xem xét đến trường hợp hai tác phẩm trường ca của Phạm Duy để giúp cho hai tác phẩm rất sâu sắc, nhân văn này được phổ biến đến đại chúng toàn quốc, giúp cho tư tưởng rất đẹp trong lời nhạc, lời ca đi sâu vào lòng người dân… Với hai trường ca này, Duy đã nói về một Việt Nam hoàn toàn chung nhất, vẽ nên một bức tranh Việt Nam đầy đủ địa lý tới văn hóa, từ chiều dài lịch sử đến bề sâu tâm hồn, từ tư tưởng triết lý đến quan niệm nhân sinh… để thấy rằng Việt Nam đẹp đến nhường nào, từ trong nội tại tâm hồn đến cảnh vật bên ngoài, luôn lấp lánh cái bóng dáng hòa bình, yêu thương, nhân ái, người vì người, sống chết cho nhau.”

Cả hai lá thư với lời lẽ thiết tha, tâm huyết ấy đều “thư đi” mà không có “tin lại”.

Mỗi năm lại có thêm một vài đợt duyệt xét, lại có thêm một ít ca khúc của Phạm Duy được cấp phép phổ biến (gồm cả những bài một thời được xem là “dị ứng” với nhà cầm quyền trong nước, như “Bên cầu biên giới”, “Mùa thu chết,” “Tìm nhau”…). Không có bài “Việt Nam, Việt Nam”. Đợt cấp phép mới nhất, mười ngày trước khi người nhạc sĩ qua đời, có thêm tám ca khúc của Phạm Duy được cho phép lưu hành trên cả nước. Vẫn không có bài “Việt Nam, Việt Nam”. Bài hát vẫn biệt vô âm tín. Người nhạc sĩ già vẫn tiếp tục chờ đợi, chờ đợi trên giường bệnh. Nỗi đợi chờ trong câm lặng, trong khắc khoải, mỏi mòn, như người ngồi đợi hoài những giấc mơ không bao giờ đến.

“Việt Nam, Việt Nam”, bài hát ấy hoặc được duyệt rất sớm, hoặc rất muộn, hoặc chẳng bao giờ, vì không thích hợp, vì khá “nhạy cảm”; hoặc hơn thế nữa, vì khá “dị ứng”, như cách nói ở trong nước.

                                                  * * *

Ít hôm sau ngày nhạc sĩ Phạm Duy mất, ở Mỹ người ta tổ chức một đêm nhạc để tưởng nhớ ông.

“Nếu ông ở đây thì tối nay tôi rủ ông đi nghe nhạc,” người bạn ở Nam Cali gọi cho tôi. “Một chương trình nhạc đặc biệt, chỉ phổ biến trong thân hữu.”

“Nghe nhạc Phạm Duy phải không?” tôi hỏi.

“Sao biết?” người bạn hỏi lại.

“Nhạc Phạm Duy thì người ta vẫn hát vẫn nghe dài dài từ bao nhiêu năm nay,” tôi nói, “chứ đâu phải đợi đến lúc ông ấy nằm xuống mới rủ nhau đi nghe.”

Tôi không rõ những “thân hữu” trong đêm nhạc ấy gồm những ai ai, và vì sao lại “chỉ phổ biến trong thân hữu”. Theo lời người bạn kể, một “tiết mục” khá ấn tượng trong đêm Phạm Duy, Ngàn Lời Ca ấy: Kết thúc chương trình, không ai bảo ai tất cả mọi người đều cùng đứng dậy và cùng cất cao tiếng hát bài “Việt Nam, Việt Nam”.

“Cảm động nhất là màn cuối ấy,” người bạn nói.

Vì sao lại “cảm động”? Phải chăng vì những cảm xúc rưng rưng pha trộn: vì cảm thương cho con người nghệ sĩ lắm tài hoa mà cũng nhiều nghiệt ngã, cho đến những năm tháng cuối đời vẫn cứ nuôi mãi một “giấc mộng dài”. Hoặc vì cảm thương cho thân phận đất nước, dân tộc mình, cho những kiếp người nổi trôi, những số phận lênh đênh không bờ không bến. Hoặc vì bài hát gợi nhớ về những năm tháng nào xa xăm, những năm tháng tươi đẹp nhất của một thời tuổi trẻ với ước mơ trong veo về một ngày hòa bình trên quê hương đổi mới.

Người nhạc sĩ già đã nhắm mắt xuôi tay, “người tình già” đã đi về đầu non. “Việt Nam, Việt Nam”, bài hát ấy, tiếng hát ấy, đã như một giấc mơ rạn vỡ.

Một trùng hợp ngẫu nhiên, ít hôm sau đó, vào những phút cuối của đám táng người nhạc sĩ, trong lúc người người đứng vây quanh huyệt mộ, trong lúc những nắm đất, những bông hoa đủ sắc màu lần lượt thả xuống nắp áo quan, một tiếng nói bỗng cất lên, “Chúng ta hãy cùng hát bài Việt Nam, Việt Nam.” Rồi một giọng hát cất lên, Việt Nam, Việt Nam nghe từ vào đời… Rồi những giọng hát khác cất lên, cất lên, hòa quyện vào nhau. Những câu hát bật ra, bài hát bật ra, càng lúc càng lớn, trong lúc những nắm đất, những nhánh hoa vẫn không ngừng thả xuống nắp áo quan… Người ta đã chọn bài hát ấy để nói lời chia tay với người nhạc sĩ.

Việt Nam, hai câu nói trên vành nôi…
Việt Nam, hai câu nói sau cùng khi lìa đời…

Vẫn là những câu hát ấy:

Tình Yêu, đây là khí giới
Tình thương đem về muôn nơi
Việt Nam, đây tiếng nói đi xây tình người

Ở ngoài nước, kết thúc đêm nhạc tưởng niệm người nhạc sĩ, người ta cùng hát với nhau bài “Việt Nam, Việt Nam”. Ở trong nước, kết thúc đám táng người nhạc sĩ, người ta cùng hát với nhau bài “Việt Nam, Việt Nam”.

Đoàn người cất cao tiếng hát bài “Việt Nam, Việt Nam” trong nghĩa trang mông mênh ấy là những ai? Nhiều phần là những người lớn tuổi, những người từng sống ở miền Nam trước năm 1975. Những người trẻ tuổi, một số đã không hát theo được vì không thuộc hay không biết bài hát ấy.

Một bà cụ tóc trắng nêu thắc mắc, “Sao không in ra thành nhiều bản phát ra cho mọi người để cùng hát với nhau cho có khí thế hơn?!” (Bà cụ không rõ bài hát chưa được nhà nước… cho phép hát).

Vài người quay sang hỏi nhau, “Tại sao một bài hát có ý nghĩa như thế lại không được nhà nước cấp phép?”

Những câu hỏi không có câu trả lời.

Khác với tác giả bài hát, người ta không phải đợi “nhà nước” duyệt hay cấp phép. Hàng ngàn người đồng hành với ông trong ngày Chủ Nhật Buồn ấy đã “duyệt” cho ông bài hát ấy. Hoặc, nói như cách nói ở trong nước, “một bộ phận quần chúng nhân dân” đã cấp phép cho bài hát ấy; hơn thế nữa, đã “biểu diễn” bài hát ấy như một dàn đồng ca tự phát.

Bài hát, lần đầu tiên được cất lên kể từ ngày ông về nước. Phải đợi đến lúc hạ huyệt, đến lúc xác thân ông được gửi vào lòng đất mẹ thì bài hát ấy mới cất lên. Cũng đâu có gì là muộn màng, phải không? Có còn hơn không, có còn hơn không, như câu hát trong một bài hát quen thuộc của ông. Bây giờ thì ông không còn phải chờ đợi thêm nữa.

“Việt Nam, Việt Nam” từng là một trong những bài hát cộng đồng khá phổ biến trên môi tuổi trẻ, sinh viên, học sinh ở miền Nam tự do một thời nào. Bài hát vang lên trong những sân trường, lớp học, trong những đêm không ngủ, trong những ngày lên đường, xuống đường rực lửa đấu tranh. Mọi người vừa hát vừa vỗ tay rất nhịp nhàng, rất khí thế, rất sôi nổi. Bài hát ấy, nhiều năm sau lại vang lên bên huyệt mộ người nhạc sĩ một ngày cuối đông. Người ta đã hát cho ông nghe bài hát bao năm ông hằng chờ đợi, bài hát ông gửi vào những tâm huyết, tâm nguyện, tâm tình. Ông còn mong gì hơn nữa!

Việt Nam, hai câu nói trên vành nôi. Tôi nhớ, ngày trước có lần tôi hỏi nhạc sĩ Phạm Duy, “Trên vành nôi, hay bên vành nôi?” Ông nói, “Trên vành nôi”. Thực sự, “trên” hay “bên”, ý nào cũng hay. Chỉ có điều, cả ông và tôi đều không ngờ được rằng, ngày hôm ấy, trong nghĩa trang mênh mông ấy, câu hát ấy đã hóa thành “Việt Nam, hai câu nói trên… chiếc áo quan” của tác giả bài hát.

Hát “Việt Nam, Việt Nam” là hát về những giấc mơ, những khát vọng của người dân Việt tội tình. Giấc mơ “Việt Nam, Việt Nam”, giấc mơ của Phạm Duy, giấc mơ của tuổi trẻ ngày ấy, của tuổi trẻ hôm nay, của người Việt khắp nơi khắp chốn, giấc mơ ấy vẫn còn… xa vời vợi.

“Việt Nam, Việt Nam”, sau năm mươi năm, bài hát vẫn còn là giấc mơ.
“Việt Nam, Việt Nam”, chung khúc ấy là viễn mơ.

Bài chung khúc ông viết cho Mẹ Việt Nam, cho dân Việt Nam và cho tâm nguyện của riêng ông cách nay nửa thế kỷ, chung cục trở thành “Bài hát tiễn đưa” ông về lòng Đất Mẹ, như là những gì thuộc về ông nay chính thức trả về ông, cho ông mang theo làm hành trang của Những gì sẽ đem theo về cõi chết.

Nhạc sĩ Phạm Duy, trong bài trả lời phỏng vấn của đài RFA (23/6/2012), gọi là “Những bộc bạch cuối đời”, đã không giấu nỗi chua xót trong lòng mình: “Các anh yêu tôi thì nói là tôi có sự nghiệp hơi lớn một tí đấy, nhưng mà riêng tôi, cho đến giờ phút này, tôi thấy là tôi hoàn toàn thất bại. Bởi vì đất nước đã thống nhất rồi mà lòng người thì không thống nhất, thành thử nếu tôi có chết đi thì gần như là tôi không có được thỏa mãn.” Trả lời câu hỏi “Tại sao?” ông nói, “Giản dị lắm, các anh muốn biết tại sao như vậy thì các anh phải hỏi thẳng chính quyền ấy.”

Ngày ông nằm xuống, người Việt vẫn chưa đi đến được một “chung khúc”.

“Việt Nam, Việt Nam”, bài hát ông viết ra từ thời chiến như gửi đi một thông điệp của thương yêu và hòa giải, của thống nhất đất nước và thống nhất lòng người. Thông điệp ấy đến nay người ta vẫn chưa sẵn sàng đón nhận.

Nếu có “thống nhất” được với nhau điểm nào thì chỉ là cả “hai phía” đều gọi ông là “cây đại thụ” của làng nhạc Việt. Sau ngày cây đại thụ ấy bật gốc, cả hai phía ấy và cả những người yêu ông và ghét ông đều nói rằng đến cả trăm năm nữa cũng khó mà có được một tài năng âm nhạc nào như ông.

Người ta vẫn hay gọi một văn nghệ sĩ tên tuổi là “tác giả”, theo sau là tên tác phẩm phổ biến nhất và được yêu chuộng nhất. Cách gọi ấy gọi được cả “tác giả và tác phẩm”.

Phạm Duy, tôi chắc nhiều người sẽ gọi ông là “Tác giả Việt Nam, Việt Nam

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Nhạc phẫm “Việt Nam, Việt Nam” và giấc mơ của Phạm Duy

Mình Ơi – Tác giả Đoàn Thị (ST)

Minh oi

Tháng 5 năm 1968, tuổi trẻ Paris xuống đường đưa ra chủ trương “Cấm, không được cấm đoán”, đòi cải tiến xã hội, thuốc ngừa thai xuất hiện giải phóng phụ nữ, nam nữ bình quyền…

Trai gái tự do lập tổ uyên ương, chả cần cưới hỏi lập hôn thú, con cái mang họ cha hay mẹ tùy thích, tự do chăm phần chăm, thời đại Peace & Love có khác với gia phong xứ Việt.

Mối tình đầu của chú Vĩnh bộc phát từ đó, lãng mạn đến bạt mạng. Sau vài tuần đi biểu tình ngoài phố, cô đầm học chung trường đại học xách túi đến ở với chú, hôm đó Cécile thì thầm bên tai chú,

– Tối nay “moa” tới ngủ với “toa”.

Cécile làm chú bất ngờ đến á khẩu, lòng vui như mở hội, đang thích em mà chưa biết nói làm răng, tự dưng em tình nguyện hiến thân, bị đờ đẫn là phải rồi.

Cơn sốt khuynh tả lôi chú vào cuộc với những thay đổi mới lạ, nam nữ không còn ranh giới nên chú lăn vào bếp nấu cơm, rửa chén chùi soong chảo…, đi làm về chú mang “tạp dề” xuất sắc trong vai nội trợ.

Sau đó Léon và Manon ra đời, thay tã pha sữa bi chừ là việc thường ngày của đờn ông, may mà má của chú còn ở bên Sàigòn, nếu tận mắt chứng kiến cảnh này chắc cụ khóc như mưa.

Léon tuy giống Tây hơn Ta nhưng tính trầm như bố, con bé Manon bộp chộp như mẹ, bạ đâu nói đó, có lần nó ôm cổ chú, tíu tít,

– Các bạn đứa nào cũng thích cái đuôi mắt xếch của con, có đứa kẽ đuôi mắt dài ra nhưng làm sao giống y như con được, phải không bố?

Con nhỏ có đuôi mắt xếch của bố, cái miệng lanh chanh của mẹ nên hớp hồn tụi con trai trong lớp dễ như chơi, chả bù thằng anh ít nói, mặt tây mà nết mít đặc.

Cuộc tình của chú trôi nổi theo phong trào “kỵ không được cấm” kia đến lúc hai đứa tây lai lớn đại, và một ngày nắng chói chan bà đầm xách túi ra đi bất chợt như ngày bà đến với chú, vẫn câu ngắn gọn,

– “Moa” ra ngoài ở vài hôm để “toa” dọn đồ như tụi mình đã thỏa thuận.

Mười mấy năm ấm lạnh, cuộc tình ngoại lai đã kết thúc, cuộc sống lứa đôi vừa khép lại, từ nay đôi ngả chia ly.

Trong bất cứ cuộc chia tay nào cũng có lỗi của hai bên, hòa nhập xã hội tây không khó, nhiêu khê là chú không thể xóa gốc mít của mình.

Đờn ông xứ Việt phải ra dáng trượng phu, chú lở vận nhập cuộc vào thời loạn của nam giới bị xuống cấp nên đôi khi chú bất bình, gia đình sinh bất hòa.

Buổi sáng đứng soi gương cạo râu, đôi khi chú tự hỏi, gía mình có vợ mít…, giả thuyết đó ám ảnh chú đã lâu và chỉ thoáng qua, nhưng khi chú thật sự thèm húp nước mắm, sống đúng gốc mít của mình, chú cảm thấy bí lối.

Bà đầm cũng rứa, bỗng thèm phong cách tây, thích tự do, sống dưới hàng dậu nhiệt đới của chú đôi khi bà thấy ngột ngạt, bà ví mình như loại phô mai đặc sản, móc meo, ngon tuyệt, chú lại thấy khó ngửi.

Thế là họ quyết định chia tay, không dằng co níu kéo giọt ngắn giọt dài, chú sợ nước mắt mỹ nhân, bà đầm không trá hình thục nữ, tình phai nghĩa cạn, chúng mình nghỉ chơi với nhau, đơn giản thế thôi.

Xổng chuồng bà đầm chú vào phố Á Châu nối lại gốc mít đứt đoạn khá lâu, trà trộn mãi vẫn chưa hòa đồng nỗi.

Lúc này chú mới thấy đờn bà mít màu mè hoa lá cành, tình trong như đã mặt ngoài còn e, làm gì có chuyện “tối nay moa ngủ với toa” như tây đầm, bông hoa tặng nàng tưng bừng mà có thấy gì đâu, em vẫn ởm ờ e thẹn.

Hình như gốc mít của chú bị bật gốc mười mấy năm nay nên khi quay về với đồng hương chú bị lạc lối, chú thích phụ nữ dịu dàng nhưng thẳng tính như đầm, kiểu này chắc chú phải tìm đầm lai mít mới hợp.

Bố mẹ chú xót con trai hiến đời trai trẻ cho bà đầm, bi giờ trắng tay, họ bảo lãnh chú qua Mỹ đoàn tụ gia đình.

Mẹ chú nghĩ, bên ni thiếu chi đàn bà con gái Việt, chuyến này ông bà sẽ cưới cho chú cô vợ chính gốc, bù lại năm tháng chú phất phơ với bà đầm.

beauty-logo-beautiful-floral-vector-icon-program-black-white-gold-background-79712474

Từ ngày bố nối lại tình bạn với cô hàng xóm cũ ở Sàigòn, ngoài giờ làm việc bố lên “phâybúc” dán hình, đưa mấy đoạn “du túp” cầm đàn hát hò inh ỏi trong góc trời riêng của bố.

Ban đầu là bạn, rồi tình cảm nẩy sinh bất tử, trái tim ngủ yên của bố bỗng bừng tỉnh, biết chuyện mẹ muốn bất tỉnh, thế là chiến sự bùng nổ.

Chịu hết nỗi, mẹ than với Kim,

– Bố mi lúc này làm thơ nữa đấy, về đến nhà là “về Sàigòn”, hát, chát, ngâm thơ … cứ như nghệ sĩ thứ thiệt.

Kim an ủi mẹ,

– Mẹ cứ mặc kệ bố đi, có nói yêu đương hứa hẹn gì thì cũng chỉ qua màn hình chứ có nắm tay nắm chân thật đâu, để từ từ con nói chuyện với bố.

Bù đầu bù cổ với chồng con Kim quên béng bố gìa của mình đang hồi xuân, đến lúc mẹ gọi điện thoại than thở thì bố đã “bỏ cơm nhà” từ mấy tháng nay và đang “ninh nồi phở” bóc khói thơm lừng gia vị Sàigòn.

Kim có vặn vẹo thế nào bố cũng chối leo lẻo,

– Bố chỉ kết bạn văn nghệ chứ bồ bịch gì, mẹ mi khéo tưởng tượng.

Chuyện bố mẹ càng ngày càng tệ, và bố cố tình gây hấn với mẹ để có cớ xách vali về Sàigòn, bên nớ bi chừ vui hơn Las Vegas nhiều. Đờn ông dẫn xác về làm răng thoát nỗi nang vuốt mỹ nhân, kẻ đang hờn vợ như bố, quả thật không có nơi nào băng bó vết thương lòng tuyệt vời, vì “nắng Sàigòn anh đi mà chợt mát…».

Bố đi rồi, mẹ thất thần leo lên mạng tìm thuốc giải độc cho bố, mẹ lục tung bao nhiêu trang mạng tìm thầy lang mát tay, “thầy bà” chưa tìm ra mà thấy bố du dương bên nớ phây phây ngã nghiêng với em nhỏ trên phâybúc.

Mẹ bèn réo Kim,

– Muộn mất rồi con ơi, cô hàng xóm nhỏ hơn bố đến cả chục tuổi.

Kim thắc mắc,

– Ai nói cho mẹ biết nó trẻ hơn mẹ

Mẹ chán nản,

– Vào phâybúc là thấy ngay, em trẻ thơm phức, đâu có khắc khổ như mẹ.

Kim trấn an,

– Chỉ là qua đường thôi, mai mốt về đây là giảng tuồng, mẹ tin con đi, lần này con sẽ làm dữ với bố.

Ngày bố trở về Kim chưa kịp hỏi cung hay hâm he, bố đã hiên ngang tuyên bố một câu xanh rờn,

– Bố sẽ dọn ra riêng, bố chán cuộc sống này lắm rồi, bố muốn làm lại cuộc đời.

Mẹ bị bất ngờ đến chết lặng, Kim gục đầu vào hai bàn tay, nước mắt tràn mi, thế là hết, tình nghĩa bố mẹ chỉ thế thôi sao.

Từ ngày bố ra đi, mẹ buồn tình đời chả thèm nhuộm tóc, mặc cho mái đầu đổi màu trắng phau, Kim la làng,

– Tội gì mẹ tự làm khổ, mẹ đổi kiểu tóc mới đi, coi như xóa sạch dĩ vãng.

Hôm sau mẹ ra tiệm uốn tóc, chưa kịp hỏi mẹ muốn gội đầu hay cắt tóc, cô thợ trố mắt nhìn mẹ,

– Bà là phụ nữ gốc Á đầu tiên ở khu này có màu tóc thời thượng đấy, chỉ cắt tóc bà gọn lại một tý, bà sẽ y như mấy bà mấy cô xướng ngôn TV hiện nay.

Vừa nói cô vừa đưa cho mẹ xem tạp chí chương trình TV, chỉ vào một bà trung niên, cô đề nghị,

– Tôi sẽ cắt tóc của bà vài phân, gội và sấy theo kiểu bà này đây, bà sẽ trẻ ra và hợp thời nữa.

Bỗng mẹ thấy hứng thú với đề nghị của cô thợ, và để cô toàn quyền chỉnh đốn mái tóc rối bời của kẻ chán đời.

Ai đó đã nói, cắt tóc xả xui, mẹ cắt tóc vì Kim xúi, nhưng từ khi có kiểu tóc mới mẹ lại thấy bớt buồn, và nối lại với cuộc sống dạo trước, ngoài giờ làm việc mẹ ra ngoài đi chơi với các bạn.

Hôm gặp mẹ trong chợ bác Lâm gái trố mắt,

– Bạn của tôi hết buồn chưa, bữa ni có mái tóc lạ nhe, nhìn sau lưng tưởng cụ, nhìn chính diện vẫn ngon lành.

Mẹ cười cười,

– Thì cũng phải sống vì con, vì cháu.

Bác Lâm nhìn mẹ chăm chú,

– Hỏi thật đây, muốn có bạn mới không ?

Không đợi mẹ trả lời, bác tiếp,

– Gã này chia tay vợ đầm, lang thang mấy năm nay chưa tìm được người ưng ý.

Mẹ phì cười,

– Ông kẹ khó như rứa bà bảo tôi nhảy vô chỗ cù nhày làm gì.

Bác Lâm phân trần,

– Tại gã “lai Tây”, quen sống với đầm, bây giờ muốn tìm bà mít nhu mì nhưng phải sòng phẳng như Tây.

Mẹ lắc đầu,

– Mình làm gì có phong cách đầm mà bà biểu mình giao du với gã.

Bác vẫn không tha,

– Không bàn cãi nữa, cứ đến dự sinh nhật mình đi rồi tính tiếp.

Trong tiệc sinh nhật, mẹ được xếp ngồi cạnh chú Vĩnh, chủ nhà cố tình xếp hai tâm hồn cô độc ngồi bên nhau, dĩ nhiên là chú đã được báo trước tình trạng “bỏ ngõ” của mẹ.

Phút đầu gặp “toa” tinh tú quay cuồng thật, chú thấy mẹ bắt mắt, lại thêm mái tóc thời thượng của mấy “xì ta” truyền hình, nói năng tự tin như “đầm”, nhưng phải nhu mì cơ, hãy đợi đấy.

Chờ người bên cạnh chuyển chai rượu đến tay, chú hạ giọng mời mẹ,

– Chị dùng chút rượu.

Mẹ gật đầu cảm ơn, chú cố tình rót một phần ba ly, nếu mẹ không quen rượu, chừng đó vừa đủ, nếu mẹ có tửu lượng cao, chú có cớ phục vụ dài dài.

Bác Lâm trai mục kích từ đầu, chờ chú rót rượu cho mẹ xong, bác nhắc khéo,

– Mời rượu như ông không đủ tráng miệng, chị Hiền là tay cao thủ đấy.

Chú tỉnh bơ,

– Mời rượu phải từ tốn, “toa” làm như chuốc rượu không bằng, yên trí đi “moa” lo liệu được mà.

Không biết ai chuốc rượu ai mà sau bữa tiệc chú ngà ngà chào mẹ,

– Rất vui được quen với chị, đây danh thiếp của tôi.

Mẹ vừa cầm danh thiếp, bác Lâm pha trò,

– “Toa” sắp về hưu làm ăn gì nữa mà đưa danh thiếp, muốn xin số điện thoại chị Hiền thì nói đại đi.

Chú Vĩnh thanh minh,

– “Toa” chỉ nói quá.

Bác Lâm cạnh khoé,

– Chứ không phải ý “toa” là, quen đâu quen đại đây, cho đây nhờ.

Mẹ không nhịn được cười,

– Tôi xin can, đã là bạn anh chị Lâm thì tôi cũng sẽ là bạn của anh mà.

Từ đó chú Vĩnh tự động làm bạn với mẹ, cuối tuần chú lân la đến nhà phụ mẹ làm cơm, vợ chồng Kim là khách tự mời, có hôm rửa chén xong chú đon đã,

– “Moa” vét nồi thịt kho trứng này về ăn đở ghiền.

Kim chen vào,

– Con bê nồi chè về cho công bằng.

Mẹ phì cười,

– Kiểu này chắc mình chuyển nghề nấu cơm tháng cho khỏi lỗ công lỗ vốn

Chú mừng húm,

– Ý kiến hay lắm, vậy cuối tuần chú chở Kim đi chợ coi như trả công mẹ nấu ăn cho mọi người.

Kim nheo mắt,

– Muốn chở mẹ đi chợ chú nói đại cho rồi, kéo con vô làm gì tội nghiệp con.

Vậy là chú tự nguyện làm tài xế cuối tuần chở mẹ đi chợ, mẹ trở thành chủ quán cơm gia đình, gọi quán cho oai chứ thực khách đâu có quyền chỉ trỏ món này món nọ, bữa ăn có ba món chuẩn, mặn, xào, canh và chè hoặc trái cây tráng miệng.

Từ ngày bố lấy gái trẻ, mẹ đâm lười ăn, người gầy nhom chán lắm, vậy mà có bà lại khen,

– Ở tuổi này mà bồ còn thon như vậy là giỏi đó, có bí quyết gì bật mí đi.

Mẹ cười buồn,

– Bị chồng bỏ rơi buồn tình đời ăn không vô mới ra nông nỗi, bạn không thương hại còn nói mát làm gì.

Bà bạn khoát tay,

– Bộ ai buồn cũng sụp cân như bồ sao, càng buồn càng ăn vặt nên tròn ú như con nít sổ sữa mới đáng ngại.

Chú Vĩnh cũng chê mẹ gầy, nhưng mẹ bỏ ngoài tai, sống với bố hơn ba mươi năm, từ ngày vắng bố đến giờ mẹ vẫn chưa hoàn hồn, chú có săn đón cách chi cũng không vực mẹ ra khỏi cú sốc lớn trong đời mẹ.

Đúng là Chú lai căng, mất đứt nó cái gốc mít nên mới an phận làm bạn với mẹ, chứ đàn ông Việt thứ thiệt làm gì kiên nhẫn quá trớn như rứa, không có mợ chợ vẫn đông gái đẹp, về Sàigòn một chuyến là đời lên hương ngay.

Chú nhát hơn mấy ông mít đâu dám về quê, cố ăn vạ cuối tuần nhà mẹ mặc cho Kim sốt ruột lên tiếng,

– Chú định im lặng đến chừng nào đây?

Chú ra vẻ kinh nghiệm,

– Cứ để mẹ cháu suy nghĩ, ở tuổi này đâu còn vướng bận gì, càng không ngại tai tiếng vì cả hai đều tự do, chỉ tại mẹ cháu chưa sẳn sàng thôi.

Kim trợn mắt,

– Chú cam phận “hòn vọng thê”?

Chú nhíu mày,

– Theo cháu, chú có thể làm được gì nào?

Kim gãi đầu,

– Thì chú phải ra tối hậu thư.

Chú gõ nhẹ vào đầu Kim,

– Con khỉ xíu bậy, nhở mẹ cháu cho chú de thật thì sao, chú đang ninh nồi thần dược để chiêu dụ mẹ cháu đây.

Kim há hốc,

– Đừng nói thần dược của chú uống vào cả hai lăn cổ ra chết như Roméo & Juliette nhe.

Chú tự tin,

– Chờ đến lúc chín mùi chú sẽ tung chưởng cho mà xem.

Tưởng chú nói đùa, mấy tháng sau, mẹ quýnh quáng gọi điện thoại cho Kim,

– Mi coi chú Vĩnh có ba phải chưa, tự dưng đòi làm đám cưới với mẹ.

Kim khó chịu,

– Vậy chứ mẹ muốn gì, đàng hoàng đến vậy mà mẹ chê, mẹ đòi hái sao trên trời mới vừa ý à.

Mẹ nhăn nhó,

– Làm bạn như vậy đủ rồi, tuổi này mà đòi cưới hỏi, vớ vẩn thật.

Kim bực bội,

– Mẹ thích làm bạn rề rề như vầy cho đến hết đời sao.

Mẹ ngạc nhiên,

– Bấy lâu nay làm bạn với chú ấy mẹ có thấy trăng sao gì đâu, chú cháu mi lắm trò thật.

Hẹn chú Vĩnh ra quán cà phê, vừa ngồi vào ghế Kim rên,

– Thua rồi chú ơi, mẹ không chịu làm đám cưới, chú bảo chờ thuốc chín mùi, chín nhừ ra đó cũng chả ăn nhầm gì, mà nếu mẹ không chịu cưới thì chú cứ mặc kệ đi.

Chú chậm rãi,

– Chú thương mẹ cháu thật, dù biết mẹ chưa siêu lòng, chú định làm đám cưới để mẹ cháu dứt khoát với dĩ vãng, vả lại chú cũng muốn làm chú rể một lần trong đời cho biết với người ta.

Kim tròn mắt,

– Chú đừng nói là chú mơ một lần lên xe hoa như con gái Việt nhe.

Chú gật đầu,

– Đúng vậy, chú mơ một đám cưới đúng truyền thống việt nam.

Kim hất hàm,

– Chú mơ vợ Việt, đám cưới Việt, tóm lại là “mít đặc”, mà chú cứ liền miệng xưng “moa” còn gì là gốc Mít nữa.

Chú trầm mặc,

– Vậy thì chú xưng anh, gọi mẹ cháu là cưng được chưa?

Kim lắc đầu,

– Vẫn còn “ba rọi”, xưng anh nghe được, gọi cưng là Tây chứ đâu phải Ta.

Chú gật gù,

– Gọi em là xong.

Kim cười bí hiểm,

– Xoàng quá phải gọi thật mùi như mít rụng kìa, để khi nào chú cưới được mẹ cháu sẽ mách cho chú biết.

Hôm sau Kim nỉ non với mẹ,

– Người ta làm kỷ niệm hai mươi lăm, năm mươi năm hôn phối, chỉ là kỷ niệm thôi mà vẫn đình đám, còn mẹ làm đám cưới hẳn hoi sao lại lắc đầu, làm một cú cho bố biết tay, ổng khăn đóng áo dài đi cưới vợ trẻ, mẹ dại gì…

Mẹ cắt ngang,

– Mẹ cũng phải giống bố mặc áo dài đi lấy chồng chứ gì, cần gì mấy thứ màu mè hoa lá cành đó, cái chính là người trong cuộc có thật lòng với nhau chưa.

Kim bất bình,

– Quen chú Vĩnh chừng đó thời gian mẹ vẫn chưa tin chú sao, lần này bố mẹ chú sẽ đứng ra cưới mẹ cho chú đó.

Mẹ hoảng vía,

– Thật vậy sao, chú Vĩnh mi rắc rối thật.

Kim ra vẻ trịnh trọng,

– Mẹ ơi cả đời chú mơ một đám cưới, mẹ nở nào làm chú thất vọng, tàn nhẫn quá, mẹ nghĩ lại đi.

Mẹ thảng thốt,

– Giời ạ, con gái tôi bênh người ngoài đến nỗi chì chiết cả mẹ nó đây.

Kim vừa xoa vừa đấm,

– Nói thế để mẹ thương tình chú Vĩnh, mà này mẹ sắp có bố mẹ chồng hẳn hoi, mẹ liệu đấy, quên bố giùm đi, mẹ sắp già mất rồi phải tìm một bóng tùng mà nương thân, mai này con có dọn nhà đi xa cũng yên lòng.

Con nhỏ hù dọa vậy mà “ếp phê”, mẹ cuống cuồng đi vấn ý bạn hiền, dĩ nhiên là thiên hạ ủng hộ hết mình, cưới đi bạn ơi để chúng mình lên quần áo ăn chơi, chú rể cô dâu ấm lạnh ra sao, hậu xét.
beauty-logo-beautiful-floral-vector-icon-program-black-white-gold-background-79712474

Ngoài cổng vòm hoa tươi kết chữ “Lễ cưới”, trong phòng khách má chú mở mâm quả, đeo kiềng, bông tai cho mẹ, chú tra nhẫn vào ngón tay trơ trọi mấy năm nay của mẹ, mẹ đeo nhẫn cho chú, chả nghe ai thề thốt chi cả.

Chú rể cảm động thấy thương, lạy bàn thờ, lạy cha mẹ rồi ôm cứng mẹ làm Kim thầm ganh tị, chuyến này mi “mất mẹ” vào tay chú Vĩnh rồi.

Sau đó cô dâu chú rể quay ra chào, khách Tây Ta vỗ tay dòn tan, có tiếng ai nói nhỏ,

– Thấy tóc trắng của mẹ con Kim tội nghiệp quá, mới chừng đó tuổi đã bạc đầu.

Nghe vậy bác Lâm bèn chạy đến cạnh cô dâu chú rể cầm micro giải oan,

– Có cháu xót cho cô dâu tóc trắng bạc phơ đến tội nghiệp, thật ra nên tội cho anh bạn của tôi mới đúng, tại ham mái tóc trắng thời thượng của mấy xì ta phát ngôn viên TV nên lận đận đeo đuổi cô dâu đến mòn gót, bây giờ bạn đã đến đích chúc bạn vui chơi quảng đời còn lại với “Ma đàm”.

Lại có tiếng xì xầm,

– Chết cha mi chưa, tóc trắng tài tử minh tinh tàn hình rất thịnh hành mà mi tuyên bố bậy bạ.

Tiếng pháo át tiếng lào xào, cô dâu lộng lẫy trong chiếc áo dài màu vàng nhũ với vòng kiềng bạc, nhỏ bạn của Kim phỏng đoán,

– Bây giờ mặc áo dài, tối chắc cô dâu mặc áo đầm.

Kim chắc cú,

– Tối nay cô dâu mặc áo dài màu đỏ Bordeaux đeo kiềng vàng chứ không diện áo đầm, chú rể sợ đầm mất vía rồi, bộ mi muốn mẹ tao hù dọa chú nữa sao.

Đúng 20 giờ gia đình hai họ lên sân khấu, cô dâu chú rễ mặc quốc phục mở lời chào đón quan khách.

Chồng Kim bật nhạc, “Đôi chim là chim ríu rít trên cành, em yêu là yêu tiếng gọi của mình, là mình ơi”.

Chú Vĩnh dìu mẹ đi xuống, thì thầm bên tai mẹ,

– Thì ra chữ này đây, vậy mà “moa” không nhớ.

Mẹ ngớ người,

– Chữ này là chữ gì.

Chú ra vẽ bí mật,

– Tối sẽ nói.

Tiễn khách ra về, chú Vĩnh ôm mẹ thều thào,

– Đêm nay “moa ngủ với toa”.

Mẹ véo tai chú,

– Lấy vợ mít có khác, tha hồ tuyên bố tuyên mẹ.

Kim thích thú,

– Vợ nào cũng ngủ được, chỉ khác là bi giờ chú “đòi ngủ” chứ không bị áp đặt như lúc trước.

Mẹ lườm Kim, chú gật đầu ưng ý,

– Cảm ơn Kim thông cảm cho chú, bi giờ chú bật gốc Tây rồi, ông Mít chính hiệu đây.

Kim nhắc khéo,

– Ông Mít hồi nào, sao lại moa toa, đừng nói chú đang nhớ Cécile nhe, mà này cái từ tình tứ kia biến đâu rồi.

Chú hí hửng,

– Cảm ơn cháu nhắc nhở, từ nay chú sẽ gọi mẹ là “mình ơi”.

Mẹ lắc đầu,

– Chú cháu mi sến quá, mình đầu cái gì, gìa ngắt chứ còn trẻ gì.

Chú khoát tay,

– Khuya rồi vợ chồng cháu đưa con về nghỉ đi, để chú đưa “mình” của chú về nhà.

Tiễn vợ chồng Kim ra cửa, chú quay sang ôm mẹ hát khẽ,

“Đôi chim là chim ríu rít trên cành…, mình ơi”.

Đoàn Thị

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Mình Ơi – Tác giả Đoàn Thị (ST)

Hoa Kỳ Sẽ Về Đâu? Thơ TPK

giac-mo-my-la-gi-1593067672-width497height280

HOA KỲ SẼ VỀ ĐÂU

Ngày tôi nhập tịch nước Cờ Hoa
Sung sướng làm sao mắt lệ nhòa
Hãnh diện vô cùng lòng rộn rả
Làm công dân Mỹ , giấc mơ hoa

Khắp nơi ríu rít tiếng chim ca
Xã hội đa văn chỉ một nhà
Chan chứa tình người không đố kị
Xẻ chia vinh nhục vượt phong ba

Ngày tháng trôi qua thật hỡi ôi
Cuộc đời đảo lộn mất tăm rồi
Đốt nhà cướp của , phường vô pháp
Đoạt lợi tranh quyền , lủ thịt xôi

Bầu cử bây giờ thật khó coi
Đếm gian tráo phiếu ối trời ơi
Truyền thông thổ tả như loài sản
Đổi trắng thay đen trái đạo trời

Người ta lợi dụng tới màu da
Xé nát tan hoang cả nước nhà
Có phải màu da là thượng đẳng ?
Hay là chính trị tạo phong ba

Bây giờ nước Mỹ giống đồng hoang
Cấp tiến mở toang cả xóm làng
Dân lậu tràn vào như thác lủ
Cũng vì lá phiếu mới đa mang

Hoa Kỳ không biết sẽ về đâu
Ý thức phân chia thật qúa rầu
Nhiều kẻ muốn theo đường xã nghĩa
Để mong đảng trị đến ngàn sau

Tống Phước Kiên
Tháng Mười 2021

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Hoa Kỳ Sẽ Về Đâu? Thơ TPK

Tiểu Sử Bà Nguyễn Thị Mai Anh

TIỂU SỬ BÀ NGUYỄN THỊ MAI ANH
ĐỆ NHỨT PHU NHÂN VNCH

(Copy từ Website Cochinchine- Saigon  –  QUÊ H ƯƠNG TA NHỚ )
Người viết: David Trần

Bà Nguyễn Thị Mai Anh, phu Nhân Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu sinh năm 1931, là con gái thứ bảy (nên còn có biệt danh Cô Bảy Mỹ Tho) trong một gia đình Công giáo ở Mỹ Tho có mười anh chị em.

https://youtu.be/UksNVKeVVz0

Lúc còn niên thiếu, Phu Nhân Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cùng người em gái Tám Hảo thường xuyên lên Sài Gòn để đi học và thăm thân nhân. Do gia đình quen biết với dược sĩ Huỳnh Văn Xuân, làm việc ở viện bào chế Trang Hai, hai chị em Bà được giới thiệu làm trình dược viên tại Viện bào chế Roussell. Chính ông Huỳnh Văn Xuân làm mai mối cho Nguyễn Văn Thiệu (lúc đó đang đeo lon Trung úy) quen Mai Anh. Mặt khác, cậu Mai Anh là Đặng Văn Quang cũng là bạn đồng khóa Trường Võ bị Đà Lạt với Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu nên cả hai người được se duyên thành vợ chồng, dù có đôi chút trở ngại vì Mai Anh theo đạo Công giáo. Ông Bà chính thức làm lễ cưới vào năm 1951. Sau này, vào năm 1958, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu mới rửa tội theo Công giáo.

Phu Nhân Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu hoàn toàn không can dự vào chính trường, mà chỉ chú tâm vào các hoạt động xã hội.
Ở cương vị là Phu Nhân của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, Bà rất thông cảm với sự thiếu thốn những trung tâm y tế phục vụ người dân. Vì thế, sau nhiều năm hoạt động xã hội, Bà Nguyễn Thị Mai Anh là người đã gợi ý và khởi xướng thành lập một bệnh viện phục vụ người dân ngay tại thủ đô Saigon.
Bệnh viện Vì Dân tọa lạc tại ngã tư Bảy Hiền, thường được giới bình dân Sài Gòn hay kêu đó là bệnh viện Bà Thiệu. Bệnh viện được xây dựng do Bà vận động quyên tiền từ thiện của nhiều người bao gồm: Thân hào Nhân sĩ, Thương gia, Kỹ nghệ gia…
Bệnh viện Vì Dân là bệnh viện tư nhân, nhưng được điều hành như bệnh viện công. Người dân vào khám và chữa bệnh được miễn phí hoàn toàn. Sau khi Bác Sỹ khám bệnh xong thì bệnh nhân được phát thuốc theo toa. Nếu ai bị bệnh nặng thì được nằm lại bệnh viện để chữa bệnh.

Nguyễn-Thị-Mai-Anh-Đệ-Nhất-Phu-Nhân-Nguyễn-Văn-Thiệu-5Lễ đặt viên đá đầu tiên đã cử hành ngày 17 tháng 8 năm 1971. Nhờ sự tín nhiệm và giúp đỡ của các nhà Hảo tâm, các Cơ quan Từ thiện trong nước và ngoại quốc, các Cơ quan quốc tế, và các quốc gia bạn, nên việc xây cất và trang bị các phương tiện y khoa được tiến hành một cách nhanh chóng và đầy đủ.
Bệnh Viện Vì Dân được khánh thành ngày 20 tháng 3 năm 1973 với 400 giường bệnh và nhiều phân khoa khác nhau: khoa Ngoại và Nội trú, khoa giải phẫu, khoa xét nghiệm, khoa tai mũi họng, khoa quang tuyến, nhãn khoa, khoa nhi đồng, nhà thuốc tây…Bệnh Viện Vì Dân là bệnh viện lớn và tân tiến nhất ở miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ. Bệnh viên có nhiều vị Bác Sỹ và Y Tá chuyên môn, cũng như xử dụng những dụng cụ y khoa tân tiến nhất. Sau khi Bà Nguyễn Thị Mai Anh phát biểu trong buổi lễ, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu cùng với Phu nhân cắt băng khánh thành.

Nguyễn-Thị-Mai-Anh-Đệ-Nhất-Phu-Nhân-Nguyễn-Văn-Thiệu-4Ngày 21 tháng 4 năm 1975, do những áp lực từ chiến trường, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố từ chức trên đài truyền hình. Sau đó Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cùng gia đình rời khỏi Việt Nam vào đêm 25 tháng 4 và bay tới Đài Bắc để phúng điếu Tưởng Giới Thạch với tư cách là Đặc sứ của Việt Nam Cộng hòa. Lúc đầu cả gia đình sang sống tại Đài Loan, nơi trước đó ông Nguyễn Văn Kiểu, anh ông Thiệu làm Đại sứ.

Sau khi con trai thứ hai, Nguyễn Quang Lộc sang Anh Quốc học, thì cả nhà lại sang London định cư, và sống ở đó trong suốt 15 năm. Khi mấy người con sang Mỹ để tiếp tục con đường học vấn năm 1985, thì cả nhà cũng đến định cư tại thành phố Boston vì Bà Mai Anh muốn ở gần những người con của mình.
Ông bà có 3 người con là:
– Nguyễn Thị Tuấn Anh (Trưởng nữ)
– Nguyễn Quang Lộc (Trưởng nam)
– Nguyễn Thiệu Long (Thứ nam)

Ngày 29 tháng 9 năm 2001, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu từ trần tại Trung tâm Y tế Beth Israel Deaconess Medical Center thuộc thành phố Boston, tiểu bang Massachusetts, Hoa Kỳ sau khi bị đột quỵ ở nhà. Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu được an táng tại Boston. Lúc mất ông hưởng thọ 78 tuổi.

Phu Nhân Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu nói: “Tôi mong có dịp về lại Việt Nam thăm mồ mả Ông Bà, và mang tro cốt của ổng (chồng, Nguyễn Văn Thiệu) về khi đất nước bình yên; Ông Già có trối rằng: “Nếu được thì đem chôn tại quê ông ở Phan Rang, nếu không thì rải một nửa xuống biển và một nửa trên núi”, Bà nói như vậy về ước vọng của Bà như một phụ nữ Việt Nam bình thường không quên ơn Tổ tiên dòng họ.

Nguyễn-Thị-Mai-Anh-Đệ-Nhất-Phu-Nhân-Nguyễn-Văn-Thiệu-3Một người từng làm việc trong Dinh Độc Lập dưới thời Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã nói về Bà như sau: “Tôi luôn luôn giữ lòng quý mến đối với Tổng thống Phu nhân. Bà lúc nào cũng giữ nếp sống bình dị của người đàn bà phúc hậu, bao dung của sông nước vùng đồng bằng sông Cửu Long. Đối với tôi, Bà Thiệu là hình ảnh một người mẹ, một người vợ hiền đảm đang hơn là một vị Đệ Nhất Phu nhân sống trong tột đỉnh của quyền thế và nhung lụa giàu sang. Bà Thiệu là người đáng kính, không có cái kênh kiệu của một người có quyền thế vì Bà là một người đứng cạnh chồng, chỉ biết lo cho gia đình mà thôi.

Phu Nhân Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu lúc nào cũng vui vẻ và thân thiện với tất cả mọi người chung quanh. Khuôn mặt phúc hậu và nhân cách của Bà làm người đối diện cảm thấy gần gũi và kính trọng. Bà không bao giờ câu nệ về cách cư xử của nhân viên thuộc cấp. Mỗi lần gặp mặt, Bà luôn luôn lên tiếng hỏi thăm sức khỏe chúng tôi trước, không kịp để chúng tôi chào Bà. Điều đặc biệt là Bà không bao giờ đề cập đến bất cứ chuyện gì có liên quan đến việc làm của Tổng Thống Thiệu với chúng tôi. Trong suốt thời gian làm việc tại đây, chỉ có một lần duy nhứt tôi nghe Bà than phiền với ông Thiệu bằng lời lẽ rất ôn tồn về một nhân vật có đầy quyền thế tại Phủ Tổng thống trong lúc tôi đang đứng bên cạnh.

Nguyễn-Thị-Mai-Anh-Đệ-Nhất-Phu-Nhân-Nguyễn-Văn-Thiệu-2

Phu Nhân Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu thường đi ủy lạo Thương binh ở khắp bốn vùng chiến thuật cũng như tại Tổng Y Viện Cộng Hòa. Đồng thời bà còn tham gia rất nhiều hoạt động xã hội và từ thiện nữa. Nhận thấy xã hội còn nhiều nhiễu nhương nên Bà Nguyễn Thị Mai Anh, Phu Nhân Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã thành lập “Hội Phụ Nữ Phụng Sự Xã Hội” vào ngày 1 tháng 6 năm 1968 để an ủi và giúp đỡ người dân. Bà nói: “Xã hội bây giờ đang nhiễu nhương. Phụ nữ phải tham gia làm công tác xã hội với sự yêu thương và đồng cảm để có thể xoa dịu phần nào sự đau khổ của họ“.

Phu Nhân Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu dành hầu hết thì giờ của mình để cứu trợ những người tỵ nạn chiến tranh, quả phụ mất chồng trong cuộc chiến và đặc biệt là những cô nhi bị bỏ rơi. Trong một lần đi thăm trẻ em mồ côi ở cô nhi viện Don Bosco tại Saigon thì Bà bồng một em bé lên, với khuôn mặt rạng rỡ và nụ cười rất tươi Bà nói với mọi người hiện diện rằng: “Một trong những đặc ân mà tôi thích nhất là cái ngày mà tôi được quyền gọi các em cô nhi là các con của tôi.

Nhân lúc bế giảng khóa học dành cho những bà vợ của thành viên nội các tại Dinh Độc Lập vào ngày 30 tháng 4 năm 1968, Phu Nhân Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu nói: “Phụ nữ, ngoài nhiệm vụ ở hậu phương là yểm trợ tiền tuyến bằng cách giúp băng bó những vết thương mà còn có thể xông pha ngoài chiến trận để đánh giặc như Hai Bà Trưng Trắc và Trưng Nhị nữa. Tôi nghĩ rằng phụ nữ nên tự nguyện học một khóa căn bản về quân sự để có chút hiểu biết hầu có thể giúp đỡ tiền tuyến lúc cần thiết“.

Nguyễn-Thị-Mai-Anh-Đệ-Nhất-Phu-Nhân-Nguyễn-Văn-Thiệu-1Không những thường xuyên đi hiến máu, Bà còn khuyến khích mọi người đi hiến máu như Bà. Năm nào Bà cũng tham dự ngày lễ diễn hành nhân ngày giỗ Hai Bà Trưng. Ngay cả hiện tại ở Mỹ Bà vẫn tham dự ngày lễ giỗ Hai Bà hằng năm.

Mặc dầu là vợ của một Tổng Thống, nhưng vì sinh trưởng ở Mỹ Tho, nên giọng nói và tánh tình của Bà hiền hậu và dễ thương như những người sinh trưởng ở miền Nam.

Vào năm 1972, một người Hoa Kỳ làm việc tại Việt Nam đã xin phép lấy tên Bà Nguyễn Thị Mai Anh đặt cho một giống Lan: Brassolaeliocattleya Mai Anh. Nhân dịp này tên của Bà Đinh Thúy Yến (Phu nhân Thủ tướng Trần Thiện Khiêm) cũng được đặt tên cho một giống Lan: Brassolaeliocattleya Dinh Thuy Yen.

Năm 2009 Bà dọn qua sống với gia đình con trai là anh Nguyễn Quang Lộc tại Orange County thuộc tiểu bang California vì Bà muốn ở gần con cháu của mình. Bây giờ Bà đã lớn tuổi nên sức khỏe của Bà không còn được như xưa.

Người viết : David Tran

0

Partages

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Tiểu Sử Bà Nguyễn Thị Mai Anh

Tin trong nước về sự ra đi của Cựu Đệ Nhất Phu Nhân VNCH

Cựu Đệ nhứt Phu nhân VNCH qua đời

246047915_4807807282571524_411727006906058569_nMới đọc báo và biết được bà Nguyễn Thị Mai Anh, phu nhân của cựu Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu qua đời ở Mĩ. Bà thọ đúng 90 tuổi. Những ai làm trong ngành y có lẽ biết được di sản của bà là Bệnh viện Vì Dân (nay là Bệnh viện Thống Nhất).

Theo wiki, bà Mai Anh sanh năm 1931 ở Mỹ Tho, trong một gia đình trung lưu theo đạo Công giáo. Gia đình có đến 10 anh chị em, và bà Mai Anh thứ Bảy, nên mới có biệt danh là ‘Cô Bảy Mỹ Tho’.

Thuở nhỏ, bà lên Sài Gòn học hành và có thời làm trình dược viên cho công ti dược Roussell, mà giám đốc lúc đó là ông Huỳnh Văn Xuân. Ông Xuân làm mai, giới thiệu bà Mai Anh gặp ông Nguyễn Văn Thiệu, lúc đó mới là trung uý. Ông Thiệu có một người bạn học thời theo học ở trường Võ Bị Đà Lạt là Đặng Văn Quang, là cậu ruột của bà Mai Anh. Ông Thiệu và bà Mai Anh thành hôn vào năm 1951. Năm 1958 ông Thiệu mới rửa tội theo đạo Công giáo. Hai ông bà có 3 người con là Nguyễn Thị Tuấn Anh (trưởng nữ), Nguyễn Quang Lộc (trưởng nam) và Nguyễn Thiệu Long (thứ nam).

Ngày 21/4/1975 ông Thiệu từ chức Tổng thống. Ngày 25/4/1975, ông cùng gia đình rời Việt Nam, và nơi dừng chân đầu tiên là Đài Bắc để ông phúng điếu Tưởng Giới Thạch với tư cách là ‘Đặc sứ của Việt Nam Cộng hòa’. Anh ông Thiệu là Nguyễn Văn Kiểu làm Đại sứ VNCH tại Đài Loan. Nghe nói thoạt đầu gia đình định sống ở Đài Loan, nhưng khi người con thứ hai sang Anh du học, thì cả nhà dọn sang London định cư. Họ sống ở đó 15 năm trước khi theo con sang Mĩ (Boston) định cư vào năm 1985. Năm 2009, Bà Mai Anh dọn về Quận Cam sống với gia đình con trai, và bà qua đời tại đây.

Những ngày sống ở nước ngoài, bà Mai Anh rất kín tiếng. Sau khi ông Thiệu qua đời năm 2001, bà nói “Tôi mong có dịp về lại Việt Nam thăm mồ mả Ông Bà, và mang tro cốt của ổng (chồng, Nguyễn Văn Thiệu) về khi đất nước bình yên; Ông Già có trối rằng: ‘Nếu được thì đem chôn tại quê ông ở Phan Rang, nếu không thì rải một nửa xuống biển và một nửa trên núi’.” Ước nguyện là như vậy, nhưng hình như cho đến cuối đời bà vẫn không thực hiện được.

Những người quen biết và hay tiếp kiến ai cũng nói rằng bà Mai Anh có tánh tình rất bình dị, giống như bất cứ phụ nữ nào ở miền Nam. Một người mô tả rằng “Bà Thiệu là người đáng kính, không có cái kênh kiệu của một người có quyền thế vì Bà là một người đứng cạnh chồng, chỉ biết lo cho gia đình mà thôi.”

Bệnh viện Vì Dân

Mà chắc đúng vậy. Có thể nói rằng trong các đệ nhứt phu nhân, có lẽ bà Mai Anh là người âm thầm nhứt. Trong thời gian ông Thiệu làm Tổng thống, bà không hoạt động chánh trị hay phát biểu những câu mang tính chánh trị. Bà chọn hoạt động xã hội. Chính vì công việc xã hội và từ thiện, nên bà cảm nhận được hoàn cảnh của người nghèo, và có ý tưởng xây dựng một bệnh viện phục vụ cho người dân. Bà vận động tài trợ từ các mạnh thường quân trong và ngoài nước để xây dựng bệnh viện ở khu Ngã tư Bảy Hiền.

Ngày 17/8/1971 diễn ra buổi lễ đặt viên đá đầu tiên xây dựng bệnh viện. Sau 3 năm xây dựng, ngày 20/3/1973, Bệnh Viện Vì Dân được khánh thành. Lúc đó, Bệnh viện Vì Dân có 400 giường bệnh và các phân khoa Ngoại và Nội trú, giải phẫu, xét nghiệm, tai mũi họng, quang tuyến, nhãn khoa, nhi đồng, nhà thuốc. Theo báo chí mô tả, Bệnh viện Vì Dân lúc đó là bệnh viện hiện đại nhứt ở miền Nam.

Sau năm 1975, Bệnh viện Vì Dân bị đổi tên thành Bệnh viện Thống Nhất. Điều trớ trêu là ngày xưa, bệnh viện này là ‘Vì Dân’, nhưng bệnh viện Thống Nhất thì lại ưu tiên cho các quan chức đảng Cộng sản Việt Nam.

Một “di sản” khác của bà Mai Anh là một … loài hoa.
Năm 1972, một người Mĩ từng làm việc tại Việt Nam đã xin phép lấy tên bà đặt cho một loài hoa lan “Brassolaeliocattleya Mai Anh“. Theo wiki, bà Đinh Thúy Yến (Phu nhân Thủ tướng Trần Thiện Khiêm) cũng được đặt tên cho một loại hoa lan khác là “Brassolaeliocattleya Dinh Thuy Yen“.

Những người như bà Mai Anh, Tuyết Mai, Thuý Yến, v.v. có thể xem như đại diện cho một thời đã mất ở miền Nam. Không biết có quá nếu xem họ là biểu tượng nhân, tài và sắc của phụ nữ Việt Nam. Họ có lòng nhân đạo, trắc ẩn trước nỗi đau của người kém may mắn. Họ có học thức tốt và có tài, không cần phải lệ thuộc vào uy thế của chồng để tạo cho mình một chỗ đứng trong xã hội. Họ có thể không là hoa hậu nhưng cũng có nhan sắc thật. Họ đi nước ngoài công cán, dù là đi độc lập hay tháp tùng theo chồng, đều tỏ ra là những người lịch lãm, có khi ‘haute culture’, tự tin, nói tiếng Anh lưu loát có khi dí dỏm, không hề tỏ ra thấp kém với đồng cấp nước ngoài. Bây giờ nhìn lại, tôi phải thú nhận là thấy tiếc cho một thời đã qua. Thời nay, khó tìm thấy những ‘phu nhân’ lãnh đạo có trình độ và tài năng như họ.

Nay thì cả hai bà cựu Đệ Nhứt và Đệ Nhị phu nhân VNCH đều đã qua đời. Sự qua đời của họ cũng giống như một dấu chấm cho một thời VNCH”

____

Thông tin về bà Mai Anh có thể xem ở đây:

https://www.cochinchine-saigon.com/vai-hang-nho-lai-ba…

[Bài viết từ facebook của Bác Nguyễn Tuấn]

Seen by 4

Like

Comment

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Tin trong nước về sự ra đi của Cựu Đệ Nhất Phu Nhân VNCH

Tin Buồn: Phu nhân cố TT Nguyễn văn Thiệu qua đời

TIN BUỒN.

PU

Bà Nguyễn Thị Mai Anh cựu Đệ Nhất phu nhân của cố Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã qua đời ngày 15 tháng 10 năm 2021 tai San Diego.
Hưởng Đại Thọ 91 tuổi

Sinh thời bà Nguyễn Thị Mai Anh là người phụ nữ tài sắc và đức độ .

Bà luôn luôn mang trong lòng nỗi lo y tế cho các bệnh nhân có hoàn cảnh khó khăn, bà thường vận động khắp nơi để cứu giúp những con người khốn khổ trong cuộc sống.

Bà ra đi , để lại bệnh viện Vì Dân , một minh chứng cho tấm lòng nhân ái yêu người của bà .

Thành kính chia buồn cùng tang quyến và xin dâng lời cầu nguyện cho bà NGUYỄN THỊ MAI ANH  được an nhàn về sống nơi cõi Vĩnh Hằng.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Tin Buồn: Phu nhân cố TT Nguyễn văn Thiệu qua đời

10 Bài Thơ Dịch Rất Hay (Do bạn Tuyến Dinh sưu tầm)

Dịch một bài thơ Anh ngữ hay

(theo văn phong các thi sĩ Việt Nam)

Có bài thơ tình rất nổi tiếng, tương truyền là của nhà văn, nhà viết kịch vĩ đại nhất nước Anh
William Shakespeare. Một số nguồn khác lại nói bài thơ này của nhạc sĩ và ca sĩ loại nhạc Reggae người Jamaica là Bob Marley; có nơi thì nói rằng bài thơ này của một thi sĩ người Thổ Nhĩ Kỳ tên là Qyazzirah Syeikh Ariffin.

(Nguyên bản bài thơ Anh ngữ)

hinh-anh-co-gai-di-duoi-mua
You say that you love rain,
But you open your umbrella when it rains.
You say that you love the sun,
But you find a shadow spot when the sun shines.
You say that you love the wind,
But you close your windows when the wind blows.
This is why I am afraid,
You say that you love me too!

Tạm dịch xuôi ra Việt ngữ như sau:

Em nói em yêu mưa,
Nhưng em lại mở ô khi trời mưa.
Em nói em yêu mặt trời,
Nhưng em lại đi tìm bóng mát khi mặt trời tỏa nắng.
Em nói em yêu gió,
Nhưng em lại đóng cửa sổ khi gió lùa.
Đó là lý do tôi sợ,
Em nói em cũng yêu tôi.

beauty-logo-beautiful-floral-vector-icon-program-black-white-gold-background-79712474

Trên facebook group “Đại Việt cổ phong,” tác giả Lê Tiên Long ghi lại các bài thơ dịch phỏng theo văn phong các thơ của những thi sĩ nổi tiếng Việt Nam, lần lượt như sau đây…

1.Dịch theo văn phong bài thơ “Lấy Chồng Chung” của nữ sĩ Hồ Xuân Hương:

Chém cha mấy đứa thích trời mưa
Mưa xuống che ô, chẳng chịu vừa
Năm lần bảy lượt mê trời nắng
Lại núp bóng vườn lúc giữa trưa
Thích có gió lên, hiu hiu thổi
Nhưng rồi khép cửa, chẳng khe thưa
Thân này ai nói yêu thương nhớ
Chẳng biết thật không, khéo lại lừa!

2. Dịch theo văn phong bài thơ “Qua Đèo Ngang” của Bà Huyện Thanh Quan:

Ai ước trời mưa hắt bóng tà
Mưa về xuống chợ, mở ô ra
Bâng khuâng khách trú, mong trời nắng
Nắng sáng trời trong, núp bóng nhà
Nhớ gió chưa về đưa chút chút
Then cài bỏ mặc gió xa xa
Dừng thơ ngẫm lại lời non nước
Biết có thật không, người với ta?

3. Dịch theo văn phong “Truyện Kiều” của đại thi hào Nguyễn Du:

Trăm năm trong cõi người ta
Yêu mưa yêu nắng khéo là dễ quên
Núp tán dâu lúc nắng lên
Che ô mưa xuống mà thê thảm lòng
Lạ gì kẻ thích gió đông
Những là quen thói gió lồng cài then
Thơ tình lần giở trước đèn
Liệu chàng còn nhớ thề nguyền ngày xưa?

4. Dịch theo văn phong bài thơ “Xa Cách” của Xuân Diệu:

Có một dạo, em thèm cơn mưa quá,
Hạt rơi là, em vội lấy ô sang
“Em những mong, có một chút nắng vàng!”
Vầng dương lên, em dịu dàng nấp bóng
Em thủ thỉ: “Ước gì… con gió lộng…”
Cơn mùa về, bên cửa đóng, xoa tay
Anh mỉm cười, nhưng bỗng thấy lo ngay
Vì anh sợ, lời yêu em cũng thế…

5. Dịch theo văn phong bài thơ “Đây Thôn Vỹ Dạ” của Hàn Mặc Tử(bản dịch này của Nguyễn Văn Thực):

Sao em không còn yêu mưa nữa?
Mà vội xoè ô đợi nắng lên?
Nắng lên gắt quá, em không chịu
Núp bóng râm che, mặt chữ điền
Em thích những ngày mây gió lên
Sao đóng cửa rồi then cài then?
Lời ai ong bướm sao ngon ngọt
Yêu mến thật lòng được mấy phen?

6.Theo văn phong bài thơ “Tương Tư” của Nguyễn Bính:

Nắng mưa là chuyện của trời,
Thế mà nàng cứ hết lời yêu thương.
Thôn Đoài mượn chút mưa vương,
Thôn Đông đội nón trên đường che vai.
Hàng cau gọi chút nắng mai,
Giàn giầu tay níu tay cài nấc thang.
Dẫu rằng cách trở đò giang,
Gió lên bến đợi, đò càng phụ ai.
Thôn Đông nói nhớ thôn Đoài,
Tương tư này lại thức hoài bao đêm.

7. Dịch theo văn phong bài “Bạch Đằng Giang Phú” của Trương Hán Siêu:

Khách thường nói:
Mưa rơi là hạt ngọc trời,
Nắng thời soi tỏ lòng người yêu đương.
Gió kia dịu mát càng thương,
Mang theo mùi cỏ ngát hương khắp trời.
Khách đi:
Che hạt ngọc trời, che nghiêng bóng mát, trốn ngày nắng to.
Thường khi đóng cửa tránh cho,
Ngày gió thổi đến, ngày lo gió nhiều.
Khách về:
Đừng nói thương yêu,
Khuê phòng dù lạnh lòng không muốn chào.

8. Dịch theo văn phong bài “Bảo kính cảnh giới bài 43”của Nguyễn Trãi:

Rồi hóng mưa thuở ngày trường,
Lọng tía đùn đùn tán rợp trương.
Vọng nhật lâu còn tràn thức đỏ,
Hoàng đàn hiên đã tịn ánh dương.
Lao xao gió hát thương trong dạ
Vội vã rèm buông tránh tà phong.
Lẽ có ái nương cầu một tiếng,
Thê thiếp đủ khắp đòi phương.

9. Người đang biên tập lại những câu viết này, cũng xin nhái lại 6 câu đầu trong bài thơ bài thơ “Ngập Ngừng” nổi tiếng của thi sĩ Hồ Dzếnh như sau:

Em tâm sự: yêu mưa và nắng, gió
Nhưng khi mưa lại lủi vội vào hiên
Nắng kia lên, em té chạy vào nhà
Khi có gió, đóng liền khung cửa nhỏ
Tôi cứ sợ, khi nghe lời em nói
“Em yêu anh,” là có phải thật không?

Bài đọc thêm (Bonus):

10. Dịch theo văn phong Nam bộ của một phó thường dân, bài “Thấp Thỏm” của bạn già Đỗ Chiêu Đức:

Thấp Thỏm

Bậu rằng bậu rất CHỊU mưa,
Mưa vừa nhỏ giọt… bậu vừa giương ô,
Bậu rằng  bậu THÍCH nắng khô,
Trời vừa hé nắng… bậu vô mái nhà.
Bậu rằng bậu MẾN gió qua,
Gió vừa thoang thoảng… rèm đà buông xuôi,
Bây giờ bậu nói THƯƠNG tui,
Lòng tui thấp thỏm rối nùi… hỏng yên !

Đỗ Chiêu Đứ

Trần Văn Giang (sưu tầm và ghi lại)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở 10 Bài Thơ Dịch Rất Hay (Do bạn Tuyến Dinh sưu tầm)

TPK mời thưởng thức nhạc phẫm: One Moment In Time

Cuối tuần nầy, bạn Tống Phước Kiên chuyển tiếp đến cho chúng ta mời thưởng thức nhạc phẩm: ONE MOMENT IN TIME được trình  bày bởi DANA WINNER LIVE.
Với nhạc phẫm nầy chúng ta những người yêu mến tiếng hát Phi Nhung, sẽ tưởng nhớ và luyến tiếc người ca sĩ xinh đẹp, có cuộc đời thánh thiện và tiếng hát của cô đã đi vào lòng người khắp năm châu.
VĨNH BIỆT PHI NHUNG.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở TPK mời thưởng thức nhạc phẫm: One Moment In Time

MA XỨ ĐÀ LẠT_Nguyễn Ngọc Tuấn

MA XỨ ĐÀ LẠT

Nguyễn Ngọc Tuấn

Là một người Cảnh Sát Dã Chiến mà nói chuyện ma nghe nó lạ làm sao ấy và cũng hơi kỳ kỳ nữa. Viết bài để đăng trên Đặc San kỷ niệm 50 năm khóa 3 Học viện CSQG mà cứ nhắc lại chuyện ngày xưa, những chuyện mà các bạn đã đọc qua, tôi cũng cảm thấy hơi nhàm nên muốn thay đổi đề tài một chút cho nó hấp dẫn người đọc. Do đó tôi đành chọn đề tài “Ma xứ Đà Lạt mù sương”, mong là các bạn sẽ không chê bai, nhất là không chê tôi là “CSDC mà sợ ma”.

          Tháng 10 năm 1968, trong ngày mãn khóa 3 Học Viện CSQG và trong ngày chọn đơn vị sau khi ra trường, ba tôi đã xin với ông Viện Trưởng giữ tôi làm một Cán Bộ để phục vụ tại Học viện CSQG. Cùng ở lại làm việc cho Học Viện có các bạn Nguyễn Văn Sơn, Đặng Thanh Thủy, Nguyễn Phú Thịnh, Lê Thanh Sơn và hai người SVSQ Ngoại Trú.

          Tháng 1 năm 1969, sau khi trụ sở của Học Viện đã được di chuyển từ Biệt Khu Thủ Đô Saigon lên quận Thủ Đức, Tổng Nha CSQG có lệnh, tất cả mọi nhân viên CSQG, trừ CSĐB, tuổi sinh năm 1948 và 1949 phải chuyển qua để phục vụ trong ngành CSDC. Tôi về trình diện Khối CSDC Saigon và đã làm đơn xin lên phục vụ tại Đà Lạt. Tôi muốn lên làm việc trên Đà Lạt vì tôi rất mê thích cái thành phố sương mù này, một thành phố có rất nhiều cảnh đẹp, khí hậu thì mát mẻ quanh năm. Trung Tá Nguyễn Văn Đại, Trưởng Khối CSDC đồng ý cho tôi lên phục vụ trên Đại Đội 209/1 CSDC Tuyên Đức nhưng không giữ chức vụ chỉ huy vì hiện lúc đó đã có Đại Đội Trưởng là Thiếu Úy Nguyễn Hoài Ân, một Sĩ Quan Quân Đội biệt phái và K3 Lê Lang là Đại Đội Phó. Đại Đội 209/2 CSDC do một ông Thẩm Hiến Binh là Trần Đình Nhã làm ĐĐT.

         Cả hai Đại Đội CSDC được trú đóng cùng chung với Phòng CSĐB, Ty CSQG Đà Lạt/Tuyên Đức trên một ngọn đồi cao, quay mặt ra đường Trần Bình Trọng, Đà Lạt. Khu vực này gồm có hai biệt thự rất lớn. Biệt thự phía trước gồm hai tầng với rất nhiều phòng, đây là trụ sở của Đại Đội 209/1 và của Phòng CSĐB. Văn phòng làm việc của Th/U Nguyễn Hoài Ân và phòng ngủ của ông nằm trên lầu hai. Biệt thự phía sau cũng rất lớn và có 3 tầng với rất nhiều phòng. Building này là văn phòng của ĐĐ 209/2, nhưng lầu hai của căn này lại gồm văn phòng các Ban của Đại Đội 1 (hai Ban Quản Trị và Hành Quân),  một phòng nhỏ được dùng làm phòng truyền tin của ĐĐ 1 và trên lầu ba là phòng ngủ của K3 Lê Lang. Tôi được cho một chỗ ngủ tạm trong phòng truyền tin, phía dưới của phòng ngủ của bạn Lê Lang. Tại phòng này, ngay đêm đầu tiên, khi đang ngủ thì tôi bị bóng đè, không nhúc nhích được. Mắt tôi mở lớn và tôi đã thức dậy. Tôi thấy rất rõ một người đứng lù lù cách tôi chưa đến một thước. Tôi cố lấy tay luồn xuống dưới gối tôi đang nằm để nắm lấy cây súng rouleau. Với mãi thì nắm được chuôi súng. Ngay lúc đó bóng đen bên cạnh tôi liền biến mất. Lúc đó tôi toát mồ hôi vì sợ, mặc dù trời khi đó rất lạnh. Tôi ra khỏi phòng, đi lên cầu thang gỗ và gõ cửa phòng Lê Lang. Tôi nói Lê Lang là phòng tôi có ma. Lê Lang nói với tôi, mình ở trong khu này, chuyện đó là chuyện thường tình, đừng có sợ. Đêm hôm sau, tôi nói với Hạ Sĩ Quan Truyền Tin Nguyễn Mẹo đem cái ghế bố lên phòng của tôi để trong phòng có hai người cho bớt sợ. Tôi không còn dám nằm trong căn phòng đó một mình nữa.

       Khoảng một tháng sau ngày tôi lên phục vụ tại Đà Lạt thì Thiếu Úy Nguyễn Hoài Ân được trả về Quân Đội để phục vụ (Sư Đoàn 18). K3 Lê Lang lên làm ĐĐT. Tôi được “lên chức” làm Đại Đội Phó. Bạn Lang vẫn giữ phòng ngủ của mình trên lầu ba của căn biệt thự phía sau. Tôi dời phòng ngủ lên lầu hai của biệt thự phía trước, căn phòng ngủ cũ của Thiếu Úy Ân. Căn phòng này sáng sủa hơn vì có cửa sổ nhìn ra sân sau và ra rặng núi Lang Biang xa xa. Đêm đầu tiên ngủ trong phòng này, tôi thấy cảm giác hơi là lạ, tôi có cảm tưởng có một người nào đó đang ở trong phòng chung với mình. Tôi mặc kệ cảm giác đó với ý nghĩ là, dù sao căn phòng này cũng khá hơn căn phòng trước, nơi tối tăm và tôi đã bị bóng đè, sợ hãi đến nỗi phải gọi nhân viên truyền tin vào ngủ chung phòng cho bớt sợ.

       Tôi vốn rất thích hoa hồng Đà Lạt. Hoa hồng bán ngoài chợ vừa to, vừa đẹp mà tại Saigon rất là khó tìm ra và giá tiền hoa tại Saigon cũng rất là đắt. Tại chợ Đà Lạt, lúc thời bấy giờ (đầu năm 1969) giá tiền một chục hoa hồng chỉ có mười đồng trong lúc một ly cafe là năm đồng. Buổi chiều hôm đó, tôi mua một chục hoa hồng màu đỏ thắm đem về cắm trong một bình để trên cái tủ quần áo, loại chest có 4 ngăn kéo. Ngủ dậy sau một đêm, tôi thấy cả mười cành hoa hồng đều gãy gập xuống như có một ai đã cố tình bẻ gẫy những cành hoa đó. Tôi rất là ngạc nhiên. Tôi nghĩ là tôi đã mua nhằm một bó hoa hồng đã bị hư hỏng. Buổi trưa cùng ngày tôi đi ra chợ Đà Lạt mua lại một chục hoa hồng khác và đem về cắm vô bình. Đêm hôm đó, khoảng 12 giờ đêm, tôi nằm chùm chăn để hở đầu nhưng chưa ngủ. Tôi chợt nghe tiếng ai như đang thở phì phò chỗ cửa sổ nhìn ra sân sau, ngay cạnh cái chest trên có đặt bình hoa. Tôi hơi sờ sợ. Tôi không dám quay đầu lại nhìn bình hoa và chỉ nằm im. Tôi chợt nghe những tiếng cắc cắc, âm thanh nghe giống như những cành hoa đang bị ai đó bẻ gãy từng cái một. Tôi sợ quá, không dám thở mạnh, không dám nhìn sang bên cạnh. Tôi chùm chăn kín đầu và ngủ thiếp đi lúc nào tôi cũng không rõ. Sáng hôm sau thức dậy. Vẫn còn nằm trên giường và nhìn sang bên phải nơi có bình hoa hồng. Hỡi ôi, cả mười cành hoa hồng đều gãy gập hết. Tôi lại hết hồn, nổi da gà vì sợ. Nhìn ra cửa phòng thì cái chốt của vẫn còn khóa nguyên như đêm qua tôi đã cài rất cẩn thận trước khi vô giường ngủ. Như vậy là phòng này có ma. Xuống văn phòng để hỏi thăm mấy nhân viên đã tùng sự nhiều năm tại đơn vị này. TS Nguyễn Quang Sơn, Trưởng Ban Công Xa của Đại Đội cho tôi biết, hai tòa nhà lớn nơi chúng tôi đang trú đóng ngày xưa là hai đồn Công An thời Tây còn ở tại Việt Nam và rất nhiều người đã bị nhốt, tra tấn hoặc chết tại đây. Sơn nói căn phòng mà tôi đang ngủ ngày xưa có thể là một phòng tra tấn nào đó. Tôi nói với Sơn về việc hoa hồng cắm trong bình đều gãy gặp sau một đêm. Sơn nói có thể con ma phòng đó không thích hoa hồng. Tôi ra chợ mua một bó hoa loại khác không phải hoa hồng và đem về cắm trong phòng ngủ. Qua sáng ngày hôm sau, nguyên bình hoa vẫn nở đẹp như thường. Như vậy thì đúng như Sơn nói, con ma trong phòng này không thích hoa hồng hoặc là một cô gái nào đó tên là Hồng, ngày xưa đã bị Tây tra tấn và chết tại căn phòng này.

Vào tháng 3 hay tháng 4 năm 1969, K3 Nghiêm Xuân Phúc Cương cưới vợ và hai vợ chồng lên Đà Lạt hưởng tuần trăng mật. Vợ chồng Cương ở tại nhà người ông nội vợ tại khu Chi Lăng, gần trường Võ Bị Đà Lạt. Khi đó K3 Lê Lang đang đi phép thăm nhà tại Quảng Ngãi và 3 Trung Đội CSDC của Đại Đội chúng tôi đang đóng quân tại 3 quận Tùng Nghĩa (Đức Trọng), Đơn Dương và Lạc Đương. Trên Hậu Cứ chỉ còn Trung Đội Hậu Cứ lo giữ an ninh cho doanh trại. Tôi có thì giờ rảnh rỗi để đưa vợ chồng Cương đi chơi khắp Đà Lạt, từ thác Cam Ly đến đèo Prenn, vườn hoa Bích Câu, hồ Than Thở, hồ Xuân Hương v.v… và chiều nào tôi cũng theo vợ chồng Cương về nhà ông Nhượng, ông nội của vợ Cương để ăn cơm tối và ở lại chơi cho đến khuya mới trở về doanh trại. Tôi kể cho ông Nhượng nghe về việc hoa hồng trong phòng tôi bị ai đó hay là ma bẻ gãy hết. Ông Nhượng nói ngày xưa ông từng đi thầu bên Lào, ông có học được một số bùa chú trừ tà. Ông cho tôi một bài chú và bảo tôi trước khi đi ngủ đọc 7 lần thì ma quỷ trong phòng sẽ đi hết, không còn gì phải sợ. Ngay đêm hôm đó, tôi về trại và trước khi đi ngủ, tôi đọc bảy lần bài thần chú mà ông Nhượng mới cho rồi chùm chăn đi ngủ. Đà Lạt khí hậu lúc nào cũng lạnh và ngày đó không có heater trong phòng. Tôi mặc cái quần CSDC, một áo thun, một áo len chui cổ cho ấm và chân thì đi vớ để đi ngủ như thường lệ. Buổi sáng thức dậy tôi giật mình kinh hãi khi thấy mình hoàn toàn trần truồng trong chăn. Tất cả quần áo của tôi kể cả áo thun, quần lót đều nằm một góc trong phòng, sát cánh cửa ra vào. Tôi biết tôi chưa bao giờ có bệnh mộng du, có nghĩa là khi tôi đang ngủ, nếu tôi có làm gì tôi đều biết. Thế mà bây giờ ai đã lột hết quần áo của tôi ra và vứt xuống đất như vậy. Tôi sợ quá vì nghĩ rằng con ma trong phòng ngủ của tôi muốn nói cho tôi biết rằng, bùa chú tôi vừa đọc đêm qua trước khi đi ngủ chỉ là con số không, không có “áp phê” gì với nó cả. Chiều hôm đó, lúc gặp ông Nhượng và kể lại cho ông ấy nghe chuyện vừa xảy ra. Ông Nhượng nói với tôi là con ma trong phòng tôi là một con quỷ chứ không phải ma.

       Ngay ngày hôm sau, tôi gặp Thiếu Úy Trưởng Phòng CSĐB  (tôi tạm giấu tên ) để điều đình với ông ấy cho tôi đổi căn phòng ngủ của tôi qua một phòng khác gần bên cạnh. Tôi ngủ trong căn phòng sau này thì không còn thấy chuyện gì lạ trong phòng hay có hiện tượng ma quỷ gì nữa cả. 

       Sau thời gian vợ chồng Nghiêm Xuân Phúc Cương nghỉ, hưởng tuần trăng mật tại Đà Lạt, hai người trở về Saigon. Vì nghe tôi nói tôi đã học Anh Văn trong thời gian khá lâu tại Hội Việt Mỹ Saigon, ông Nhượng mời tôi làm thày dạy kèm Anh Văn cho Phillip, con trai riêng của vợ ông và Kim Oanh, cháu ngoại của ông. Phillip và Kim Oanh lúc đó đang học lớp Đệ Tam tại trường Tây Lycee Yersin Đà Lạt, theo chương trình Pháp. Kể từ ngày đó, sau giờ làm việc, mỗi buổi chiều tôi đều lái xe lên trường Lycee Yersin và đón Phillip cùng Kim Oanh đưa họ về nhà ông Nhượng. Sau khi dạy họ học Anh Văn theo chương trình sinh ngữ hai của lớp Đệ Tam trường Pháp, tôi cùng gia đình ăn cơm tối tại nhà ông Nhượng. Sau khi dùng cơm xong, tối nào cũng vậy, ông Nhượng giữ tôi ở lại uống cafe, uống trà và chơi bài “binh xập xám chướng” đến gần khuya tôi mới từ giã để lên xe trở về trại CSDC. Nhà ông Nhượng trong khu Chi Lăng cách xa chợ Đà Lạt khoảng 6 cây số về hướng Đông Bắc khu chợ. Như vậy là mỗi đêm tôi đã lái xe gần 8 cây số để trở về trại. Mọi sinh hoạt như tôi vừa nêu trên đã diễn ra bình thường được hai ba tuần lễ.

Một buổi tối, lúc đó khoảng gần 12 giờ đêm, tôi lái xe một mình từ nhà ông Nhượng đi ra đường Chi Lăng để đi về. Trời sương mù hơi đặc. Mới chạy được vài phút, tôi thấy hai cô gái tuổi chừng trên dưới hai mươi đứng trên lề đường bên phải vẫy tay xin quá giang. Tôi dừng xe lại. Tôi mở cửa xe và hỏi họ muốn đi về đâu. Một cô nói là họ muốn về khu Hòa Bình Đà Lạt (tức là khu chợ Đà Lạt). Tôi nói hai cô lên xe. Cả hai đều ngồi chung trên ghế xe Jeep phía trước. Tôi vòng tay để gài cửa xe lại và lái đi. Tôi không hỏi chuyện mà cũng chẳng nhìn sang họ vì lúc đó sương mù khá dày, tôi muốn chăm chú lái xe cho an toàn. Xe chạy đến ngã ba bờ Hồ Xuân Hương, chỗ đó nếu quẹo trái sẽ về Tư Dinh của Cố Đại Tướng Đỗ Cao Trí, một cô nói tôi dừng xe lại. Tôi dừng xe và hỏi, sao nói là về khu Hòa Bình mà lại xuống đây. Họ mở cửa và bước xuống xe. Cùng một lúc, đó tôi rút một điếu thuốc lá Camel trong túi áo jacket CSDC và châm lửa hút. Tổng cộng thời gian không quá ba mươi giây đồng hồ. Đưa tay để đóng chốt cửa xe bên phải thì tôi rất ngạc nhiên khi không còn nhìn thấy ai cả. Tại ngã ba này có rất nhiều cột đèn đường sáng trưng, có lẽ vì tại đây đã xảy ra rất nhiều tai nạn xe cộ. Tôi vội nhìn phía trước qua kính xe cũng không thấy ai. Tôi quay đầu nhìn ra phía sau xe, xuyên qua miếng nylon trong suốt của xe Jeep cùng không thấy ai. Tôi nhìn sang bên trái phía tôi ngồi thì nhìn thấy cái Miếu “Hai Cô”. Trong miếu này có gắn đèn màu hồng và hơi mờ mờ. Đến lúc đó tôi mới chợt nhớ câu chuyện về Miếu Hai Cô tại ngã ba bờ Hồ Xuân Hương. Nghe câu chuyện thì hai cô gái này đã nhảy xuống hồ tự tử tại chỗ này vì lý do gì thì tôi không nhớ rõ. Kể từ thời gian đó, năm nào cũng có một hai tại nạn xe cộ đụng nhau chết người tại đây. Dân chúng hoặc một nhóm người nào đó đã cất một cái miếu dưới một gốc cây để thờ cúng hai cô. Tại khu ngã ba bờ hồ này thì hoàn toàn không có một nhà dân nào cả. Tôi chưa bao giờ có cảm giác sợ dựng tóc gáy, hôm nay thì điều đó đã xảy ra cho tôi. Tôi sợ quá. Tóc gáy tôi dựng lên. Tôi vội lái xe thật nhanh chạy về đến khu Hòa Bình thì nhìn thấy một xe Tuần Cảnh đang đậu ngay trước rạp hát Hòa Bình. Tôi đậu xe Jeep bên cạnh xe Tuần Cảnh và bi ba bi bô nói chuyện với mấy người Cảnh Sát trên xe đó cho bớt sợ. Tôi không kể cho họ về việc tôi có thể đã vừa chở ma “hai cô” trên xe Jeep. Một lúc sau, khi đã bớt sợ, tôi mới lái xe về trại. Sáng ngày hôm sau, tôi xuống gặp anh em nhân viên trong Ban Chỉ Huy của Đại Đội CSDC. Tôi kể cho họ nghe sự việc xảy ra ngày hôm qua. Rất nhiều nhân viên CSDC tại Đà Lạt là dân đã sinh đẻ tại Đà Lạt hoặc đã từng cư ngụ lâu năm tại địa phương này. Anh em cho tôi biết, hằng năm đều có một hai xe đang chạy trên đường Chi Lăng và đã nhẹ nhàng đi thẳng rồi chìm nghỉm xuống hồ Xuân Hương. Cũng có một gia đình kia, ông bố mới mua xe hơi từ Saigon về. Ông ấy lấy xe chở vợ và 3 con trên xe để chạy vòng quanh bờ hồ này cho vui. Không biết sao lại chạy xe thẳng xuống hồ và cả nhà đều chết chìm chung với cái xe. Một người nói với tôi là tôi may mắn đã không lái xe thẳng xuống hồ Xuân Hương, có thể vì tôi đã không trêu ghẹo, không nói điều gì sàm sỡ với hai cô gái khi họ đang ngồi trên xe của tôi, do đó tôi đã không bị tai nạn xe. Họ tiếp, nếu tôi nhìn kỹ hai cô gái khi họ còn đứng trên lề đường và vẫy tay xin quá giang, tôi sẽ thấy là hai cô này không có chân. Họ đứng trên chân không. Tại ngã ba miếu hai cô, bên phải đường là một bờ cỏ thoai thoải, chổ khu đường cong cong. Khi xe đang đổ dốc, nếu không chạy xe chậm lại và bẻ tay lái về bên trái một chút, xe sẽ êm dịu mà chạy thẳng xuống hồ nước. Họ kể cho tôi là, có một số người lái xe bị lao xuống hồ nhưng không chết, đã kể lại rằng, khi xe đến ngã ba, khi họ bẻ tay lái một chút sang trái theo con đường cong thì tay lái xe đã bị cứng lại, không di chuyển được. Đạp thắng xe cũng không ăn. Thế là xe lao xuống hồ.          

Nghe kể xong, tôi và người tài xế lái xe ra chỗ Miếu Hai Cô để xem lại vị trí nơi đó. Tôi thấy giống y như anh em đã mô tả. Tôi vô Miếu “Hai Cô”, thắp một nén nhang cho họ. Thật là hú hồn.          

Buổi chiều hôm đó, sau khi đón Phillip và Kim Oanh tại trường và đưa họ về nhà ông Nhượng. Tôi lấy lý do là công việc Cảnh Sát hơi bận nên không thể tiếp tục đón hai cháu cũng như dạy Anh Văn cho họ nữa. Tôi chấm dứt ghé nhà ông Nhượng hàng ngày kể từ thời gian đó.

CHUYỆN MA CUỐI CÙNG TẠI ĐÀ LẠT:

           Từ tháng 2 năm 1969, sau khi Thiếu Úy Nguyễn Hoài Ân trở về bên Quân Đội và K3 Lê Lang lên thay, bạn Lê Lang đã dời văn phòng ĐĐT CSDC 209-1 từ lầu hai của biệt thự bên ngoài cổng vô căn phòng nằm trên lầu ba của biệt thự bên trong vì phòng ngủ của bạn Lang nằm cùng lầu, cách văn phòng này một cầu thang bằng gỗ. Bàn làm việc của tôi, ĐĐP cùng ở trong văn phòng này. Tầng hai của biệt thự này là văn phòng Ban Quản Trị, Ban Hành Quân. Phòng Truyền Tin thì nằm bên dưới phòng ngủ của ĐĐT.

        Tháng 1 năm 1970, bạn Lê Lang nhận lệnh đi học bổ túc quân sự khóa 2/70 tại trường Bộ Binh Thủ Đức. Tôi lên thay để giữ chức vụ XLTV/Quyền ĐĐT Đại Đội 209-1 CSDC Tuyên Đức (Đại Đội 209-2 CSDC Đà Lạt vẫn do TSV Trần Đình Nhã làm ĐĐT). Sau khi bạn Lê Lang rời Đà Lạt, tôi dời phòng ngủ của tôi từ lầu hai biệt thự bên ngoài vô phòng ngủ của bạn Lê Lang, trên lầu ba của căn biệt thự phía sau. Lý do tôi dời phòng ngủ vì từ căn phòng này, tôi chỉ bước qua cầu thang là sang văn phòng làm việc, không phải đi xa và căn phòng ngủ này tuy nhỏ nhưng rất yên tĩnh.

        Văn phòng của tôi có khá nhiều cửa sổ hai phía nên căn phòng rất sáng về ban ngày. Một hôm, tôi đi suốt ngày đến tối mới về đến đơn vị. Tôi bước qua văn phòng để xem trên bàn có giấy tờ công văn nào quan trọng không. Đây là lần đầu tiên tôi đi phòng này vào ban đêm. Tôi bật đền điện thì không thấy sáng. Tôi gọi Mẹo, nhân viên Truyền Tin lên để hỏi. Mẹo nói với tôi là văn phòng này từ xưa đến giờ không có đèn vì gắn bóng đèn nào lên thì hôm sau bóng đèn đó đều bị bể và rớt xuống sàn nhà. Tôi không tin chuyện quái lạ này nên sáng hôm sau tôi nhờ nhân viên đi mua bóng đèn và gắn lên. Bật đèn thì đèn vẫn sáng như thường. Ngay buổi tối ngày hôm đó, khi đi ăn cơm về, tôi bước vào văn phòng thì thấy cái bóng đèn tròn không còn nằm trên vị trí của nó. Bóng đèn đã vỡ tan và nằm trên sàn nhà trong khi cái chuôi đèn vẫn dính trên dây điện. Tôi cho là có người phá phách. Tôi nhờ Mẹo gắn một bóng đèn khác lên, bật thử cho sáng. Tôi ra khỏi phòng và khóa cửa lại chứ không để mở như thường lệ. Tôi trao một chìa khóa cho TS Trần Phan Hưng, trưởng ban Quản Trị để hắn có thể mở khi muốn đưa công văn giấy tờ đến và đi mỗi khi tôi không có mặt tại đơn vị.

           Buổi sáng ngày hôm sau, tôi bước vào văn phòng làm việc. Tôi nhìn lên ngọn đèn điện trên gần trần nhà. Bóng đèn vẫn còn đó và sáng lên khi tôi bật đèn. Sau khi xem xét công văn giấy tờ, tôi rời căn phòng lúc trưa để đi ra ngoài sau khi đã khóa cửa phòng vì tôi biết Hưng có chìa khóa. Tôi trở về doanh trại lúc 8 giờ tối. Trước khi vô phòng ngủ tôi đã mở cửa văn phòng để xem có công văn đi và đến hay không. Khi tôi bật công tắc điện thi không thấy sáng. Lấy đèn pin rọi lên trên trần nhà. Cái bóng đèn đã vỡ tan và nằm trên sàn gỗ.

           Vào cuối tháng 2 năm 1970, tôi trở về doanh trại lúc gần nửa khuya và đi vào phòng ngủ của tôi. Mới thay quần áo xong và chuẩn bị nấu nước pha trà thì có tiếng gõ cửa. Mẹo bước vô. Hắn hỏi tôi lúc 11 giờ khuya tôi có về phòng ngủ không. Tôi nói với Mẹo là lúc 11 giờ đêm tôi còn đang uống cafe tại phòng trà Chic Cabare trên đường Hoàng Diệu và bây giờ tôi mới về đến nơi. Mẹo nói, khoảng 11 giờ khuya, hắn nghe tiếng chân đi lên cầu thang gỗ, ngang qua phòng hắn lên lầu ba (phòng Mẹo ở lầu hai dưới phòng ngủ của tôi). Mẹo tưởng tôi vừa về đến phòng nên đi lên gõ cửa. Thỉnh thoảng, vào ban đêm, tôi thường mời hắn vô phòng uống trà cho ấm bụng. Mẹo nói, khi lên đến cửa phòng tôi hắn thấy phòng tôi còn tối thui. Hắn gõ cửa nhưng không thấy tôi mở. Tôi nói với Mẹo, ông lại dọa tôi nữa. Mẹo vội đưa ngón tay lên miệng hắn ra dấu tôi im lặng. Mẹo thì thầm nói với tôi, ông có nghe thấy gì không? Tụi nó đang uống trà trong văn phòng của ông đó. Tôi im lặng và lắng nghe thì quả tình nghe thấy tiếng lách cách như có ai đó cứ đưa tách lên rồi đặt xuống cái đĩa nhỏ nhiều lần. Trong phòng làm việc của tôi rất trống và rộng. Trong đó có một bàn ‘bureau”, một bộ salon 4 ghế và có một bộ tách trà trên chiếc bàn salon nhưng bộ tách trà này chỉ dùng để làm kiểng cho đẹp. Đằng sau cái bàn làm việc của tôi là một bảng gỗ ghi sơ đồ tổ chức Đại Đội. Tôi cầm khẩu súng ruleau trong tay trái, tay phải cầm cái đèn pin. Tôi ra đấu cho Mẹo theo tôi. Tôi lấy chìa khóa mở cửa văn phòng rồi đạp cửa thật nhanh và đi vào phòng. Ngay lập tức tôi dùng đèn pin quét một vòng thật nhanh quanh cả căn phòng. Tôi không nhìn thấy gì khác lạ. Bộ tách trà vẫn nằm yên vị trên bàn salon. Lúc đó tôi mới cảm thấy sợ. Mẹo và tôi ra khỏi căn phòng. Mẹo đi xuống phòng hắn để đi ngủ và tôi cũng vào phòng ngủ, chùm chăn kín đầu để đi ngủ chứ không còn hứng thú gì trong việc uống trà ban đêm nữa. Nằm mãi vẫn không ngủ được. Tôi chợt có cảm giác như có ai đang đứng bên ngoài, sát cửa phòng ngủ của tôi và thở phì phì. Tôi lại bật dậy mở cửa ra thì không thấy ai. Chui lại vô bên trong chăn thì lại nghe có tiếng thở phì phì bên ngoài cửa. Tôi lại ra xem xét một lần nữa thi cũng chẳng thấy gì cả. Tôi nghĩ, có lẽ vì tôi sợ nên bị thần hồn nát thần tính, tiếng thở phì phì là tiếng do hơi thở của tôi phát ra chứ không phải tiếng thở của ai cả. Tôi bèn nín thở xem sao. Sau khi nín thở và chỉ hít thở thật nhẹ, tôi vẫn rõ ràng nghe thấy tiếng thở phì phì phát ra rất rõ ràng bên ngoài cánh cửa phòng ngủ của tôi. Lúc bấy giờ thì tôi đã có quyết định. Tôi gọi Mẹo và nói hắn đi xuống gọi CVS Lê Phát Đạt, người tài xế của tôi lên. Tôi nói với Đạt là, kể từ thời gian đó, Đạt mang cái ghế bố của hắn lên phòng ngủ của tôi để hai người cùng ngủ chung trong căn phòng này. Đạt nằm chung phòng với tôi từ ngày đó cho đến giữa tháng 4 năm 1970, khi tôi rời Đà Lạt để cùng Đại Đội Phó Nguyễn Hữu Hiếu về thụ huấn bổ túc khóa 4/70 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức.

           Sau này tôi có hỏi chuyện một số nhân viên kỳ cựu của Phòng CSĐB Đà Lạt. Một vài người có cho tôi biết, văn phòng mà tôi và bạn Lê Lang dùng làm phòng làm việc, ngày xưa, lúc thời Tây và sau năm 1954, phòng này được xử dụng làm phòng điều tra và hỏi cung phạm nhân. Trong một thời gian không rõ năm tháng, cũng trong căn phòng này, một phạm nhân nam, tay đang bị trói để chuẩn bị được hỏi cung, trong lúc mọi người không để ý, người phạm nhân này đã phóng mình lao qua một cửa kính. Cửa kính vỡ tan và người này đã rơi từ lầu ba xuống đất và chết tại chỗ.

          Trừ một lần tôi đã lái xe Jeep để chở hai cô “ma” từ khu Chi Lăng Đà Lạt về đến Miếu Hai Cô bên bờ hồ Xuân Hương, ngoài ra thì tôi chưa bao giờ chính mắt nhìn thấy một con ma nào. Tuy nhiên, qua những hiện tượng tôi vừa kể ra như trên, tôi vẫn tin rằng thế giới vô hình là có thật mà chúng ta không nhìn thấy hoặc không biết đến. Quý bạn nào không tin ở ma quỷ, xin tùy nghi nhận định.

NGUYỀN NGỌC TUẤN (K3)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở MA XỨ ĐÀ LẠT_Nguyễn Ngọc Tuấn

Kể chuyện Chợ Không Đồng Ở Mỹ

CHỢ 0$ Ở MỸ.

IMG-9583Xin giới thiệu chợ không đồng ở Mỹ đến cả nhà.

Chợ $0 ở Mỹ có từ lâu rồi và ở thành phố nào cũng có một vài locations.

Các chợ nầy dành cho các gia đình có lợi tức thấp. Hồi mới qua Mỹ tôi cũng thường hay đi chợ nầy, sau đó đi làm có lương có đồng ra đồng vào, cuộc sống khá hơn nên dành lại cho các gia đình đến sau có cuộc sống còn khó khăn .

Từ khi có đại dịch covid, cuộc sống rất nhiều người trở nên khốn khó vì không có công ăn việc làm, không có tiền trả tiền nhà, điện, nước, insurance .. .. .. ôi đủ thứ, trong khi đó vật giá mỗi ngày mỗi leo thang thấy chóng mặt.. THÌ CHỢ $0 LÀ CHỖ DỰA LÝ TƯỞNG CHO NGƯỜI NGHÈO.

Nói là người nghèo chứ đi chợ thấy toàn xe sang không hà.

Gia đình mình được đi 2 chợ mỗi tuần. Có chợ không cần ghi tên trước, chỉ đến nói tên và gia đình có mấy người là OK. Còn chợ thứ hai phải ghi tên trước cho họ lập danh sách theo dỏi hàng tuần để điều phối thực phẫm cho đủ. Tuần nầy mình đi chợ thứ hai nầy thôi.

Bây giờ kể chuyện đi chợ nhé. Đến đia điễm nhận hàng phải đeo khẩu trang và đi đứng giữ khoảng cách xã hội 2met. Trình số thứ tự của mình ra để họ đánh dấu vào danh sách ( tránh trường hợp đi chợ 2 lần), sau đó cô nhân viên rất dễ thương đưa cho một miếng giấy có ghi thêm một số mặt hàng nếu mình muốn chọn.

Sau đó mình xếp hàng theo thứ tự trước sau. Quầy hàng đầu tiên là dầu ăn và xà phòng rửa chén. Muốn lảnh 2 thứ nầy thì mình phải đem theo 2 cai lọ để đựng. Hôm qua mình đi không đem theo. ” Oh Sorry I forgot container with me” thì bà Mỹ phụ trách nói “OK, I have container for you” rồi bã lấy 2 chai nước ngọt không, khô ráo, chế dầu ăn và xà phòng rồi đưa cho mình. Có ai tử tế như vậy không hè.

Tiếp đến là quầy phân phát thùng thực phẩm trong đó có trứng, có sửa, có rau, có thịt . . . đủ thứ, thay đổi hằng tuần. Mình xem có thứ nào không thích thì trả lại.

Sau khi lãnh thùng thực phẫm thì đến chỗ thứ hai để lãnh những thứ cần thiêt mình đã đánh dấu ghi trong tờ giấy. GIẤY ĐI CẦU, GIẤY LAU TAY và đặc biệt 2 món là TẢ CHO EM BÉ 1 TUỔI VÀ GIẤY ƯỚT ĐỂ LAU CHO BABY. Phụ trách cửa hàng nầy là một cô gái khoảng trên dưới 30, người Hoa, sau khi xem tờ kê liền nhìn mình một cách thán phục. ( Trong bụng chắc cô ta nghĩ: ÔNG GIÀ NẦY CÒN GÂN NHÉ.) rồi lấy hàng cho mình và còn tặng thêm một galon sửa 2%. Khi mình đẩy xe đi tiếp thì cô còn nhìn theo và nói CONGRATULATIONS.( Mình cười trong bụng và biết cô ta đang nghĩ gì về ông già nầy, hí hí . . )

Đến quày thức ăn khô và làm sẳn thì mình chỉ lựa vài thứ thôi, đồ ăn của người Mễ mình không quen nên xin gởi lại.

Và cuối cùng là hàng tự chọn như bánh mì, cake, bành ngọt, rau quả. Tuần rồi có rau lá KALE mệnh danh là VUA của các loại rau, nhưng nhiều người không biết ăn, mình hốt về được 6 bó rồi bỏ ra 2 ngày sấy khô thành Kale Chip ăn cũng vui.

Rồi, giờ xem ngày hôm qua mình đi chợ được gì nào. Chỉ có hai vợ chồng làm sao ăn hết trong một tuần đây: có sửa, trứng, có rau , ngò, tỏi, cà chua, chuối, củ dền đỏ, có cả chai nước rửa tay diệt khuẩn . . .

Còn Baby Diapers và giấy ướt lau đít baby thì xin về cho đứa cháu kêu mình bằng Bác, vì còn 2 tháng nữa nó sinh con đầu lòng.

Đó là câu chuyện đi chợ không đồng ở Mỹ kể cho cà nhà nghe xem cho vui.

Đừng sợ ở Mỹ sẽ chết đói. Những thứ mình nhận về , chỉ dành một ít vừa đủ cho hai vợ chồng còn lại đem trao cho hai gia đình hàng xóm , một nhà có người khiếm thị và một nhà có hai con nhỏ.

Nghĩ lại thấy thương một số bà con nghèo của mình ở quê hương vẫn còn khốn khổ trong mùa đại dịch covid và delta như hiện nay.

CHÚC CẢ NHÀ VUI KHỎE VÀ AN LÀNH, THẬT AN LÀNH NGHE CẢ NHÀ.

Thiên Tâm NCV

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Kể chuyện Chợ Không Đồng Ở Mỹ

Miếng dán Vi Kim 3D Vaccine-19

MIẾNG DÁN VI KIM 3D VACCINE  COVID-19

SKĐS – Các nhà khoa học đã chế tạo ra một loại miếng dán vi kim vaccine COVID-19, được in theo công nghệ 3D. Miếng dán này có thể dùng như một giải pháp thay thế kim tiêm để tránh gây đau cho bệnh nhân.

Miếng dán vi kim 3D vaccine COVID-19 tiện dụng trong tiêm chủng

Trước đó, trong các thử nghiệm lâm sàng trên chuột, miếng dán vaccine sinh ra phản ứng miễn dịch cao gấp 10 lần. Các phản ứng kháng thể đặc hiệu với kháng nguyên và tế bào T lớn hơn 50 lần, nếu so với dùng kim tiêm vào bắp tay.

Đây là miếng dán polymer có kích nhỏ cỡ một hơn đồng xu, dùng một liều lượng vaccine ít hơn và đặc biệt là có thể chuyển đến tận nhà người dân thông qua bưu điện và người dân có thể tự dùng… Từ đó giảm thiểu sự có mặt của lực lượng y tế qua đào tạo.

unnamed (1)(Miếng dán vaccine vi kim in 3D được chế tạo bởi công trình nghiên cứu của 2 đại học Stanford và Bắc Carolina, Mỹ. Ảnh nguồn: UNC)

Miếng dán vaccine 3D cũng mang đến tâm lý hào hứng đón nhận đối với những người sợ hãi khi nói đến “kim tiêm”‘ (trypanophobia) – là nguyên nhân khiến một số người ngại tiêm chủng.

Dù chưa thử nghiệm lâm sàng miếng dán vaccine 3D trên người, nhưng hứa hẹn nó sẽ là một giải pháp tiêm chủng mới trong tương lai.

Miếng dán vaccine được phát triển bởi các nhà nghiên cứu tại Đại học Stanford và Đại học Bắc Carolina ở Chapel Hill. Tác giả nghiên cứu chính là GS.Joseph M. DeSimone, chuyên gia về kỹ thuật hóa học tại Đại học Stanford. Ông giải thích: “Khi phát triển công nghệ này, chúng tôi hy vọng rằng sẽ thúc đẩy sản xuất vaccine nhanh trên toàn cầu, ở dạng liều thấp và là một giải pháp không gây đau đớn hay lo âu cho người tiêm”.

Miếng dán vaccine COVID-19 hoạt động thế nào?

Miếng dán vi kim được in bằng công nghệ 3D, bằng cách dùng máy in 3D nguyên mẫu CLIP do GS DeSimone phát minh. In 3D là cách dùng phần mềm để tạo ra một thiết kế 3 chiều trước khi thiết bị robot in nó ra. Ngoài dùng trong vaccine COVID-19, nó còn được sử dụng trong vaccine các bệnh cúm, sởi, viêm gan.

unnamed (2)(GS.Joseph M. DeSimone, nhà phát minh ra máy in 3D
in ra các miếng dán vaccine. Ảnh nguồn: TED)

Trong khi các loại vaccine hiện tại chỉ được tiêm dưới da, các nhà khoa học đang quan tâm đến việc tiêm trong da. Nghĩa là các mũi tiêm nông hơn chỉ tiếp xúc đến lớp hạ bì của da.

Các nhà nghiên cứu chỉ ra rằng, tiêm trong da rất thích hợp để tiêm chủng vì da người về cơ bản rất phong phú các tế bào miễn dịch (tế bào Langerhans và tế bào đuôi gai ở da). Đại dịch COVID-19 hiện nay là một lời cảnh tỉnh rõ ràng về sự khác biệt của việc tiêm chủng kịp thời. Nhưng chủng ngừa lại cần sự phối hợp của phòng khám, bệnh viện hoặc các trung tâm tiêm vaccine.

Quy trình tiêm vaccine nhìn qua có vẻ đơn giản. Song cũng có những vấn đề đáng lưu ý trong tiêm chủng đại trà: Từ kho trữ lạnh vaccine đến việc đào tạo nhân viên y tế tiêm đúng cách. Trong khi đó, miếng dán vaccine có thể được chuyển đến bất kỳ đâu trên thế giới mà không cần phải có nhân lực đặc biệt đi theo. Người dân tự dán vaccine giống như cách tự xét nghiệm COVID-19 tại nhà. Các vi kim trên miếng dán sẽ được phủ dịch vaccine, đặc biệt là không đau khi cắm trên da.

Các vi kim có thể được chế tạo bằng công nghệ in 3D từ đủ loại vật liệu khác nhau như kim loại đặc, silicon và polymers. Bà Shaomin Tian – nhà nghiên cứu tại Khoa Miễn dịch và Vi trùng học, thuộc trường y Đại học Bắc i

Carolina, phát biểu: “Trước đây, với phương pháp truyền thống, sẽ tạo ra vi kim trong các khuôn mẫu sẵn, khiến vi kim không linh hoạt, đồng thời làm giảm độ sắc nét của kim. Nhưng với công nghệ in 3D sẽ tạo ra những vi kim có dạng hình học được kiểm soát tốt – thích ứng với các loại vaccine khác nhau”.

Việc dễ dàng dùng miếng dán vaccine sẽ làm tăng tỷ lệ chủng ngừa và tránh tâm lý ngại vaccine trong các đại dịch tương lai. Nhóm các nhà vi sinh học và kỹ sư hóa đang tiếp tục đổi mới bằng cách điều chế vaccine RNA (như các loại vaccine Pfizer và Moderna dùng trong đại dịch COVID-19) thành những miếng dán vi kim cho xét nghiệm tương lai. Nghiên cứu mới đã được công bố trên Kỷ yếu Hàn lâm khoa học quốc gia.

Miếng dán vaccine COVID-19 giúp giảm sợ hãi với mũi tiêm

Những chiếc kim siêu nhỏ sẽ không gây đau khi chích vào cơ thể và triệt tiêu chứng sợ kim tiêm của nhiều người. Theo các báo cáo gần đây thì chứng sợ kim tiêm là căn nguyên gây nên 10% tình trạng ngại tiêm chủng COVID-19 ở Anh.

unnamed (3)

Continuous liquid interface production helps 3D printing live up to its namesake.

Máy in 3D do GS DeSimone phát minh ra (Ảnh nguồn: Architect Magazine)

Các nhà nghiên cứu của Đại học Oxford đã yêu cầu 15.014 người Anh trưởng thành đánh giá mức độ lo lắng của họ về kim tiêm và máu, cũng như thái độ sẵn sàng của họ khi đón nhận tiêm chủng. Tổng cộng có 3.927 người (chiếm 26.2%) được xét nghiệm dương tính rơi vào tâm lý sợ máu – chấn thương. Các cá nhân sàng lọc dương tính (chiếm 22%) có tâm lý ngại ngần hơn so với những người xét nghiệm âm tính (chiếm 11.5%).

Các nhà nghiên cứu cho rằng ngoài các lý do khác sinh ra việc e ngại tiêm chủng, thì nỗi sợ hãi chấn thương khi tiêm chiếm 10% các trường hợp lo ngại vaccine COVID-19.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Miếng dán Vi Kim 3D Vaccine-19

CUỘC TRÙNG PHÙNG HỘI NGỘ_Đỗ Ngà

Mới năm xưa, được toà cho phép ly dị, chia đôi tài sản và con cái, Lạc Long Quân dẫn 50 người con xuống biển, còn bà Âu Cơ thì dẫn 50 người con lên núi.

Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, năm nay hai người lại gặp nhau tại khu nhà trọ gần lò thiêu Bình Hưng Hoà, quận Bình Tân, TP/ HCM. Cả hai đều già, khá tiều tụy, gương mặt không còn giữ được mấy những nét thần thoại của một thuở hồng hoang.

Bà Âu Cơ dè dặt nắm lấy bàn tay gầy rộc của Lạc Long Quân, giọng cảm động:

– Ông và các con thế nào ? Cuộc sống chắc cũng cơ cực lắm?

– Thì đã hẳn. Nghề biển bây giờ khó sống lắm. Trước ra khơi xa thì còn kiếm ăn được, nhưng sau này giặc Tàu hung hãn quá, ngư dân cứ ló mặt ra là nó giết. Con mình bị chúng nó ủi chìm tàu, chết hết 10 đứa, chỉ còn 40 đứa, tôi sợ quá bèn cho chúng nó đi lao động xuất khẩu một mớ, số còn lại chỉ đánh bắt loanh quanh gần bờ, nhặt nhạnh con tôm, con cá sống qua ngày…

Bà Âu Cơ cắt ngang:

– Con ông còn được ở ngoài đời bươn chải là may rồi. Con tôi đi tù gần hết. Từ ngày dẫn con lên núi làm cái nghề phá sơn lâm, tôi thấy không khá được ông ạ. Tiền bạc và gỗ quý thì chạy vào nhà các quan với lại tụi kiểm lâm, lâu lâu có bắt đi tù thì toàn là thợ rừng như đám con mình. Thấy thế tôi mới dắt mấy đứa còn lại xuống đồng bằng, cho chúng nó học lấy cái chữ những mong đổi đời. Ai dè tốt nghiệp đại học ra, không đứa nào có việc làm, toàn chạy shipper.

Lạc Long Quân nhìn sâu vào mắt vợ, ông thấy dù sao trong đôi mắt buồn của bà vẫn còn phảng phất đôi nét quý phái triều đình, và hỏi:

– Sao bà không lo cho đứa nào vào đảng để dễ kiếm ăn?

– Vào đảng thế nào được ? Tại ông cả đấy. Thấy tên cha là Lạc Long Quân là chúng nó gạch bỏ ngay thôi, bảo xuất thân phong kiến.

– Lạ nhỉ. Lạc Long Quân gằn giọng, đôi lông mày bạc phếch chau lại, hàm râu bạc rung rung. Đúng ra họ phải ưu tiên cho con của bậc tiền nhân.

– Không dám đâu. Bà Âu Cơ nói giọng uất ức: Cái chế độ này nó thế rồi. Chỉ ôm lấy cái vỏ bọc chuyên chính vô sản nhằm giữ ghế và phục vụ cho lợi ích của thằng bạn vàng 4 tốt thôi. Nói thật chứ, nếu bây giờ Hai bà Trưng có sống dậy đánh đuổi giặc Tàu thì chúng nó cũng sẽ cho cả voi lẫn hai bà lên thớt.

Nghe nói tới chuyện chính trị, Lạc Long Quân rét run lên, bèn hỏi lảng qua chuyện khác:

– Dưng mà bà ở khu trọ này bao lâu rồi, mà hôm nay ta mới gặp nhau?

– Tôi chỉ mới tới thuê ở tạm hai ngày nay thôi, trong lúc chờ lấy tro cốt của thằng Út, ông nhớ thằng này không, cái thằng mà vừa sinh ra đã kêu “khổ, khổ” đó. Nó bị F0, người ta nhốt nó vô khu cách ly, được 7 ngày thì chết vì đói và vì bịnh nền. Bà Âu Cơ sụt sùi, đưa cái khăn tay thêu rồng phượng, mà ngày xưa ông tặng bà, lên lau nước mũi. Còn ông sao lại ở đây ?

– Tôi trọ ở đây lâu rồi, tôi ở với mấy thằng con lớn nhất của mình. Tụi nó làm đạo tỳ với lại làm công cho lò thiêu Bình Hưng Hòa này chứ đâu.

– Ồ, vậy là con mình sẽ thiêu con mình à?

– Chắc vậy đó. Lạc Long Quân khóc nấc lên: “Củi đậu đun hạt đậu, cùng sinh ra một gốc, nỡ đun nhau thế ư”. Khóc chán xong, lại nín, rồi rụt rè đề nghị: Thôi, hoàn cảnh nó thế rồi, hay là bà ở lại đây luôn, tụi mình góp gạo thổi cơm chung. Tôi thề sẽ không ly dị bà nữa.

Bà Âu Cơ ngồi lại ngay ngắn, nói giọng nghiêm trang:

– Em cũng muốn lắm, thưa Lang quân. Nhưng truyền thuyết đã bắt đôi ta phải chia lìa. Cả nước đều biết chuyện này. Chả nhẽ bây giờ ta lại bắt học sinh phải học lại là: Lạc Long Quân và bà Âu Cơ cuối đời về sống chung với nhau, đẻ thêm 100 cái trứng…

Lạc Long Quân xem chừng hiểu ra, ông sửa lại mũ áo và nói với giọng cũng nghiêm trang không kém:

– Ái khanh nói chí phải. Mệnh trời đã đặt thế rồi, khiên cưỡng mà chi. Thôi để hôm nào hết giãn cách, ta sẽ đưa nàng đi cơm tiệm một bữa, rồi mình lại chia tay vĩnh viễn…

Ngoài kia, trời đang nắng, bổng giông bão từ đâu vần vũ kéo tới và trời bắt đầu đổ mưa. Chỉ chốc nữa thôi, cái thành phố HCM khốn nạn này lại sẽ ngập đến… lưng quần.

 Đỗ Ngà 

(Bài lượm lặt trên net)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở CUỘC TRÙNG PHÙNG HỘI NGỘ_Đỗ Ngà

Lời phát biểu của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu vào ngày 24 tháng Mười 1972

“Tôi thiết tha kêu gọi những ai, ở miền Nam này, đang ăn cơm miền Nam, đang thở không khí miền Nam, đang được sự che chở của xương máu Dân Quân miền Nam, mà đến ngày nay, còn âm thầm tiếp tay với Cộng sản, còn lén lút đi đêm với Thực dân, Ngụy hòa, còn tính đâm sau lưng chiến sĩ đồng bào…Tôi kêu gọi lương tri của mấy người, vì đất nước, vì dân tộc, hãy dừng chân lại, hãy dừng tay lại, hãy từ bỏ ý định đó đi mà cùng với 17 triệu rưỡi Dân Quân miền Nam chiến đấu chống kẻ thù Cộng sản. Tôi kêu gọi mấy người hãy suy nghĩ, nếu thích Cộng sản thì hãy có can đảm ra ngoài Bắc ở với Cộng sản, như vậy Cộng sản còn ít khinh rẻ mấy người hơn là làm tay sai cho chúng ở miền Nam này.

Có thể không ai ở miền Nam tự do này giết mấy người đâu, nhưng chính Cộng sản sẽ giết mấy người.

Mấy người nếu muốn có tên trong lịch sử, thì cũng có hai lối có tên trong lịch sử. Một đàng khi nhắc đến, thì toàn dân cúi đầu khâm phục,con cháu lại ngẩng đầu lên hãnh diện. Một đàng khác, khi nhắc đến, thì toàn dân ngẩng đầu lên nguyền rủa, còn con cháu mấy người lại cúi đầu tủi nhục. Tôi chắc mấy người sẽ được lịch sử ghi tên vào hạng thứ hai này.

Nếu mấy người không cầm súng xông pha lửa đạn để chiến đấu, nếu không làm được một việc gì hữu ích cho hậu phương thì mấy người đừng làm gì hại dân bán nước.

Một hành động ngu xuẩn, phản bội Tổ Quốc, Chiến Sĩ và Nhân Dân, dù có gạt được ai 5, 3 tháng, 5, 3 năm, rồi cũng sẽ bị lịch sử lôi ra chứng minh và cũng sẽ bị trừng trị nghiêm khắc.”

VỀ NHỮNG KẺ NỐI VÒNG TAY LỚN.

Họ là những kẻ góp phần lớn vào sự sụp đổ của Việt Nam Cộng Hòa. Họ không ngừng cực lực lên án chính phủ Quốc gia và không ngừng xuống đường liên tục với đủ sắc áo màu cờ nhân danh phản chiến và hòa bình. Những chiến sĩ VNCH hy sinh biết bao xương máu ngoài mặt trận trong suốt 21 năm trời để bảo vệ hậu phương cho họ tự do lợi dụng và khai thác thể chế dân chủ và tự do để gây rối loạn ở hậu phương. Vô tình hay hữu ý hay thơ ngây, họ trở thành ngọn giáo nối dài của Cộng sản đâm vào hậu phương từng nuôi dưỡng, giáo dục và bảo vệ họ và gia đình. Họ là những sinh viên, trí thức, văn nghệ sĩ, chính trị gia, tu sĩ, và thành phần thứ ba ở miền Nam.

Những kẻ phản chiến và ngụy hòa này, tức những kẻ đối lập cửa trước rước giặc cửa sau vì, xét cho cùng, trung lập trong chiến tranh chính là bạn của kẻ thù. Nhưng cuối cùng khi cuộc chiến tàn, họ bị Cộng sản bỏ rơi, coi thường, hay cả bị tù đày. Họ chính là những kẻ mà Lenin đặt tên là “những kẻ ngu xuẩn có ích” cho cộng sản. Họ hiện diện thường xuyên trên các đường phố ở miền Nam và Mỹ kêu gọi hòa bình mà thực tế mở đường cho cuộc chiến tranh mới không tiếng súng nhưng tàn ác gấp bội lần.

Nhân dịp kỷ niệm bốn mươi năm Việt Nam Cộng hòa bị cộng sản cưỡng chiếm, chúng tôi trích lại lời phát biểu của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu vào ngày 24 tháng Mười 1972,

ĐỌC, CẢM THẤY THẤM THÍA

MỘT NÉN HƯƠNG CHO TT THIỆU

(ST)

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắtLời phát biểu của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu vào ngày 24 tháng Mười 1972

Tự Hào Hai Chữ SÀI GÒN (ST)

Tự Hào Hai Chữ SÀI GÒN

sai gon

SAIGON – cái tên địa danh 1 trong 40 thành phố nổi tiếng trên thế giới được khắc tên trên mặt đồng hồ Thuỵ Sỹ từ những năm 1953.TT

Chiều qua uống cafe với đứa em, buôn chuyện khắp thế giới mới biết em cũng cùng sở thích mê đồng hồ (mình chỉ mê thôi nha). Em gởi hình cái đồng hồ và hỏi có biết tin thú vị này không ? Xem xong thật sự mình rất rất ngạc nhiên xen lẫn tự hào cái tên SAIGON được khắc trên mặt đồng hồ của một thương hiệu nổi tiếng nhất thế giới – PATEK PHILIPPE – model 2523 của Thuỵ Sỹ. Tin quá hay và quá thú vị không phải ai mê đồng hồ cũng biết. Tối mình về nhà lật đật “lục tung” internet tìm hiểu mới càng “nổi da gà”, khi biết nó được sản xuất năm 1953, khi miền Nam lúc đó do Pháp đô hộ, nhưng thành phố SAIGON được khắc tên 1 trong 24 múi giờ thế giới. Cái tên được ngạo ngễ đứng chung với 40 thành phố nổi tiếng đại diện trên thế giới: Sydney, Montreal, Moscow, New York, California, Rio De Janeiro, London, Paris, Geneva, Tokyo,…..có cả Singapore (mình hơi thắc mắc nước Singapore thành lập năm 1965, nhưng đồng hồ này lại được sản xuất năm 1953 ?).

Tương truyền, vào năm 1876 sau khi lỡ chuyến tàu ở Ireland, kỹ sư đường sắt người Scotland – Mr.Stanford Fleming bắt đầu tìm cách chuẩn hóa thời gian. Phát biểu trước Viện Hoàng gia Canada ở Toronto năm 1879, ông đề xuất chia trái đất thành 24 múi giờ, mỗi múi cách nhau một tiếng với thời gian chung cho từng múi giờ riêng lẻ. Ý tưởng của ông đã vấp phải sự phản đối đáng kể từ các chính phủ và cộng đồng khoa học nhưng sự kiên trì của ông đã được đền đáp khi khái niệm mang tính cách mạng của ông cuối cùng được thông qua vào năm 1884 tại Washington, khi 25 quốc gia tham gia hội nghị Kinh tuyến Quốc tế quyết định rằng kinh tuyến gốc của kinh độ 0 ° sẽ đi qua Greenwich, nước Anh.

Đồng hồ giờ thế giới dường như ít được các tín đồ đồng hồ quan tâm cho đến khi nhà chế tác đồng hồ thiên tài Mr.Louis Cottier thiết kế một bộ máy đồng hồ bỏ túi có giờ địa phương với kim giờ và kim phút ở trung tâm, được liên kết với một vòng xoay 24 giờ và được bao quanh bởi một vòng quay số cố định bên ngoài với tên của các thành phố khác nhau được ghi trên đó. Đồng hồ bỏ túi giờ thế giới, tiền thân của tất cả đồng hồ giờ thế giới, hiển thị đồng thời mọi múi giờ trên thế giới, đồng thời cho phép xem giờ địa phương dễ dàng và chính xác, và tất cả trên một mặt số duy nhất.

Cottier đã thu nhỏ phát minh của mình vào cuối những năm 1930, xuất hiện trên chiếc Patek Philippe model 1415. Đến năm 1953, Patek Philippe model 2523 có hệ thống hai núm vặn mới, một để lên dây cót và một ở vị trí 9h để điều khiển đĩa các thành phố. Khi được giới thiệu ra thị trường, đồng hồ hai núm mới này không thành công về mặt thương mại, nên rất ít sản phẩm được sản xuất. Chỉ có 7 cái được chế tác bằng vàng hồng, 5 cái có bản đồ thành phố Âu châu và Bắc Mỹ. Trong đó, 1 trong 2 cái duy nhất dùng bản đồ Âu Châu & Á châu có mặt sứ màu xanh nước biển, khi lặn xuống nước màu trên mặt có một chiều sâu như dưới biển. Đồng hồ duy nhất này có cả 2 thứ trên mặt mà các nhà sưu tập đồng hồ mong muốn là mặt bằng men Enamel (loại sứ trên cái mặt tròn ở giữa) phải nung 2 lần mới thành. Và mặt trang trí vói những pattern bằng máy (do huyền thoại Louis Cottier phát minh, sau đó hãng Patek Philippe sử dụng). Đặc biệt được sản xuất trong thập niên 50 thế kỷ trước, thập niên hoàng kim của chế tạo, thiết kế, kỹ thuật điêu luyện của đôi tay những bậc thầy.

Và…..chiếc đồng hồ Patek Philippe 2523 giờ thế giới có khắc tên SAIGON được sản xuất năm 1953 trở thành chiếc đồng hồ đắt nhất được bán ở Á châu. Nghe nói đâu tầm vài triệu đô chứ mấy ?!? Ahihi…!

Bài viết & hình ảnh của Minh Hoà

SaiGon – Nov. 16, 2020.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Tự Hào Hai Chữ SÀI GÒN (ST)