Tin vui thuốc chửa Covid-19 : PAXLOVID™ 

PAXLOVID™ 

Tin vui đến với mọi người

Virus Outbreak-Pfizer Pill

FILE – This Feb. 5, 2021, file photo shows the Pfizer logo displayed at the company’s headquarters in New York. Pfizer says its experimental pill for COVID-19 cut rates of hospitalization and death by nearly 90% among patients with mild-to-moderate infections. The company announced Friday, Nov. 5, it will soon ask the U.S. Food and Drug Administration and international regulators to authorize its pill, which is taken twice a day for five days. (AP Photo/Mark Lennihan, File)

Thứ Sáu ngày 5/11/2021, Albert Bourla, Tổng Giám đốc Pfizer, thông báo: Cuộc chơi đã đổi chiều. Sự cố gắng của nhân loại để chống đỡ sức tàn phá của đại dịch đã thành tựu. Pfizer cho ra mắt loại thuốc ở dạng viên, uống, tiện lợi, giá vừa phải, tên là PAXLOVID™ có khả năng giảm thiểu số bệnh nhân nhiễm Sars-CoV-2 phải nằm viện hoặc tử vong tới 89%, sẽ đến tay bệnh nhân rất sớm.

Thành phần của PAXLOVID™

PAXLOVID™ được kết hợp bởi hai hợp chất PF-07321332 và Ritonavir.

PF-07321332 nhằm vào mục đích ức chế sự sinh sản của virus. Nghĩa là, enzyme giúp cho virus nhân lên bị trung hòa. Virus không thể tăng lên về số lượng.

Ritonavir (có tên khác Novir) đã được áp dụng trong điều trị HIV từ nhiều năm nay. Đội ngũ khoa học của Pfizer đã sử dụng liều thấp ritonavir nhằm vào mục đích giảm thiểu hoặc bẻ gãy quá trình chuyển hóa của virus, giúp cho cơ thể chống đỡ với virus hiệu quả hơn.

Kết quả thử nghiệm lâm sàng

Nhóm 1:  – những người nhiễm virus có triệu chứng đã ba ngày, và được chia thành hai nhóm nhỏ hơn.
1.1) Nhóm sử dụng PAXLOVID™ thật cho kết quả 3/398 người (0.8%) phải nằm viện, không ai tử vong.
1.2) Nhóm sử dụng PAXLOVID™ giả (placebo) thấy 27/385 người (7.0%) phải nằm viện hoặc tử vong (7 người tử vong)

Nhóm 2: – những người nhiễm virus có triệu chứng đã 5 ngày, và cũng được chia làm hai nhóm nhỏ hơn.
2.1) Nhóm sử dụng PAXLOVID™ thật cho kết quả 6/607 người (1.0%) phải nằm viện, không có tử vong.
2.2) Nhóm sử dụng PAXLOVID™ giả (placebo) cho kết quả 41/612 người (chiếm 6.7%) phải nằm viện với 10 người chết.

Bằng những thuật toán thống kê, Pfizer đưa ra kết luận PAXLOVID™ có khả năng giảm số người nhiễm Sars-CoV-2 phải nằm viện hoặc tử vong đến 89%.

Đây chỉ là một phần nhỏ những thử nghiệm lâm sàng mà Pfizer đã thực hiện trên khắp thế giới. Pfizer đang hoàn tất hồ sơ để chuyển đến U.S Food and Drug Administration (FDA) trước Lễ Tạ Ơn (28/11/2021) phê duyệt sử dụng trong tình trạng khẩn cấp.

Albert Bourla nói đây là tin vui lớn cho nhân loại. Ông đưa ra một con số để mọi người dễ hiểu: Thay bằng 10 người nhiễm virus phải đi nằm viện, giờ đây có PAXLOVID™ giúp, chỉ còn một người phải trông cậy tới nhà thương.
Sự khám phá ra PAXLOVID™ đúng một năm tròn kể từ ngày Pfizer tuyên bố sản xuất thành công mRNA vaccine chống Covid-19 vào 9/11/2020.

Bourla còn nói rằng PAXLOVID™ sẽ cứu được hàng triệu người, nhưng ông vẫn nhấn mạnh vai trò quyết định của vaccine. Tuy vậy, vaccine không hiệu quả 100%, số người chống đối vaccine cao gây nên tình trạng bệnh viện bị quá tải.

Cho đến nay mới chỉ có remdesivir được sử dụng điều trị coronavirus, nhưng remdesivir truyền tĩnh mạch, không thể dùng nó tại nhà.

Đại công ty dược MERCK của Mỹ cũng vừa cho ra đời MOLNUPIRAVIR ở dạng viên bọc (con nhộng), và đang đang chờ FDA duyệt. Nhưng tác dụng của MOLNUPIRAVIR giảm thiểu số nằm viện hoặc tử vong chỉ ở mức 50%.

Pfizer tuyên bố những tiêu chuẩn về đạo đức, an toàn, chất lượng, và công bằng trong mọi sinh phẩm của hãng. Với hơn 150 năm phát triển, Pfizer đã đã không mệt mỏi, không chùn bước, khám phá vươn lên trở thành đại công ty sinh dược được tin tưởng trên trái đất.

Pfizer sẽ áp dụng giá cả hợp lý với những quốc gia có thu nhập thấp để bảo đảm sự công bằng cho mọi người trên trái đất có quyền sử dụng những sinh dược phẩm của Pfizer.

Calgary, Alberta, Canada

November 7, 2021

Trần Gia Huấn

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Tin vui thuốc chửa Covid-19 : PAXLOVID™ 

55 CÂU CA DAO DÂN GIAN BẤT HỦĐƯỢC LƯU TRUYỀN SAU NGÀY 30/4.

55 CÂU CA DAO DÂN GIAN BẤT HỦ
ĐƯỢC LƯU TRUYỀN SAU NGÀY 30/4.

0_7NUuz88DFuos71ij

1. Nam Kỳ Khởi Nghĩa tiêu Công Lý
Đồng Khởi vùng lên mất Tự Do.

2. Đôi dép râu dẵm nát đời son trẻ
Nón tai bèo che khuất nẻo tương lai.

3. Chim xa rừng còn thương cây nhớ cội
Việt Cộng về thành làm tội dân ta.

4. Năm đồng đổi lấy một xu
Thằng khôn đi học, thằng ngu làm thầy.

5. Có miệng không nói lại câm
Hai hàng nước mắt chan dầm như mưa.

6. Lương chồng, lương vợ, lương con
Đi ba buổi chợ chỉ còn lương tâm.
Lương tâm đem chặt ra hầm
Với rau muống luộc khen thầm là ngon.

7. Anh Đồng, anh Duẩn, anh Chinh
Ba anh có biết dân tình cho không ?
Rau muống nửa bó một đồng
Con ăn bố nhịn, đau lòng thằng dân.

8. Có áo mà chẳng có quần
Lấy gì hạnh phúc hỡi dân cụ Hồ ?
Có đói mà chẳng có no
Lấy gì độc lập, tự do hỡi người ?

9. Bác Hồ chết phải giờ trùng
Nên bầy con cháu dở khùng dở điên
Thằng tỉnh thì đã vượt biên
Những thằng ở lại nửa điên nửa khùng.

10. Nhà ai giàu bằng nhà cán bộ?
Hộ nào sang bằng hộ đảng viên?
Dân tình thất đảo bát điên
Đảng viên mặc sức vung tiền vui chơi.

11. Ai về qua tỉnh Nam Hà
Xem lũ đầy tớ xây nhà bê tông.
Tớ ơi, mày có biết không ?
Chúng ông làm chủ mà không bằng mày!

12. Phong lan, phong chức, phong bì
Trong ba thứ ấy, thứ gì quý hơn?
Phong lan ngắm mãi cũng buồn
Phong chức thì phải cúi luồn vào ra
Chỉ còn cái phong thứ ba
Mở ra thơm nức, cả nhà cùng vui.

13. Đảng ta là đảng thần tiên
Đa lô (đô-la) thì được, đa nguyên thì đừng.

14. Ngày đi, đảng gọi “Việt gian”
Ngày về thì đảng chuyển sang “Việt kiều”
Chưa đi: phản động trăm chiều
Đi rồi: thành khúc ruột yêu ngàn trùng.

15. Chiều chiều trên bến Ninh Kiều
Dưới chân tượng bác, đĩ nhiều hơn dân!

16. Trăm năm bia đá cũng mòn
Bia chai cũng vỡ, chỉ còn bia ôm.

17. Thầy giáo, lương lãnh ba đồng
Làm sao sống nổi mà không đi thồ
Nhiều thầy phải đạp xích lô
Làm sao xây dựng tiền đồ học sinh?

18. Tìm em như thể tìm chim
Chim bay biển Bắc, anh tìm biển Đông
Tìm chi cho phải mất công
Đài Loan, Hàn Quốc em dông mất rồi.

19. Trách ai sinh thứ họ Hồ
Để cho cả nước như đồ vất đi!

20. Bác Hồ đại trí, đại hiền
Chơi Minh Khai chán, gá liền Hồng Phong
Minh Khai phận gái chữ tòng
Bác Hồ sái nhất, Hồng Phong sái nhì.

21. Ngày xưa giặc Pháp mộ phu
Ngày nay đảng bán dân ngu lấy tiền
Đảng ta là đảng cầm quyền
Đảng bán ruộng đất lấy tiền đảng tiêu.

22. Dịch heo nối tiếp dịch gà
Bao giờ dịch đảng cho bà con vui.

23. Bao giờ Hồ cạn, Đồng khô
Chinh rơi, Giáp rách, cơ đồ mới yên.

24. Tiên sư Cộng sản Việt Nam
Suốt đời bán cả giang san nước nhà !

25. Dân đói mà đảng thì no
Sức đâu ủng hộ, hoan hô suốt ngày
Đảng béo mà dân thì gầy
Độn bắp, độn sắn biết ngày nào thôi?

26. Hoan hô độc lập tự do
Để cho tớ nhá bo bo sái hàm

27. Nhân dân thì chẳng cần lo
Nhà nước lo sẵn bo bo mỗi ngày
Hãy chăm tay cấy tay cầy
Nhịn ăn nhịn mặc chờ ngày vinh quang

28. Bắt trồng mà chẳng thu mua
Tại sao đảng nỡ dối lừa nhân dân
Tiền cầy, tiền giống, tiền phân
Một trăm thứ thuế đổ thân gầy gò
Dân đói mà đảng thì no
Kêu trời, kêu đất, kêu Hồ chí Minh

29. Thi đua làm việc bằng hai
Để cho cán bộ mua đài mua xe
Thi đua làm việc bằng ba
Để cho cán bộ xây nhà lát sân

30. Đi làm hợp tác hợp te
Không đủ miếng giẻ mà che cái l…

31. Công nhân, vợ ốm con côi
Lãnh đạo nhà gác, xe hơi bộn bề
Bao giờ cho hết trò hề?

32. Ông Đồng, ông Duẩn, ông Chinh
Vì ba ông ấy, dân mình lầm than

33. Ngày xưa đại tướng cầm quân
Ngày nay đại tướng cầm quần chị em

34. Giỏi a đồng chí Đỗ Mười
Lớp ba chưa đỗ đã ngồi bí thư

35. Vẻ vang thay lãnh tụ ta
Đem dân xuất khẩu bán ra nước ngoài

36. Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa
Cúi đầu dâng đảo Trường Sa cho Tàu

37. Ngày xưa chửi Mỹ hơn người
Ngày nay nịnh Mỹ hơn mười lần xưa
Ngày xưa đánh Mỹ không chừa
Ngày nay con cái lại lùa sang đây
Ngày xưa Mỹ xấu, Ðảng hay
Ngày nay Ðảng ngửa hai tay xin tiền !

38. Đảng ta chọn tướng họ Lê
Đức Anh thất đức nên bê lên ngồi

39. Liên bang Xô Viết vỡ rồi
Văng Linh, văng Kiệt, Đỗ Mười văng luôn

40. Nước ta bầu cử tự do
Lọc qua, lừa lại toàn lò Mác Lê

41. Không đi không biết Tam Đảo
Đi thì không biết nơi nào mà ngu.

42. Trung ương chỉ thị ba cùng
Đảng viên phải bám quần chùng nhân dân.

43. Tin đâu như sét đánh ngang
Bác Hồ đang sống chuyển sang từ trần
Tin đâu như sét đánh gần
Bác Hồ đang sống từ trần chuyển sang

44. Bác Hồ thuở nhỏ bồi Tây
Đến già Bác lại đu giây Nga Tàu.

45. Đảo kinh là cái đỉnh cao
Trí tuệ nên đảng hô hào văn minh
Đảng viên cán bộ thất… kinh
Văn minh cho lắm vẫn mình cán ngô

46. Chị em du kích giỏi thay
Bắn máy bay Mỹ rớt ngay cửa mình

47. Tin buồn noan báo trên đài
Xe tăng bác nái nật hai ba nần!

48. Tin thua như sét đánh ngang
Làm Bác chết cứng, lúc đang thay quần
Hôm qua còn sống sờ sờ
Mà nay bác đã cứng đơ cái mình

49. Khôn hồn thả cải tạo ra
Kẻo Ngụy trở lại chết cha Đỗ Mười

50. Tổ cha cái bọn đười ươi
Đỗ Tám, Đỗ Chín, Đỗ Mười ăn… “biu”

51. Trạch Dân có họ Giang mai
Này dân Trung Quốc đói dài vì ông

52. Đỗ Mười sang lạy Trung Hoa
Kính dâng quần đảo Trường Sa cho Tầu

53. Anh mò địa đạo Củ Chi
Củ chi là cái củ gì? Củ anh?!

54. Ngày xưa chống Mỹ chống Tây
Ngày nay chống gậy ăn mày áo cơm

55. Trồng mía, trồng ớt, trồng hành
Vì nghe lời đảng mà thành bể niêu
Trồng tiêu rồi lại trồng điều
Vì nghe lời đảng mà niêu tan tành.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở 55 CÂU CA DAO DÂN GIAN BẤT HỦĐƯỢC LƯU TRUYỀN SAU NGÀY 30/4.

Bò ăn thịt bò. Thơ cay Tuyến Sydney Australia

  BÒ ĂN THỊT BÒ
tolam-hihoa-dep-4

Công An dân gọi Bò vàng
Bò không ăn cỏ, ăn hàng thượng lưu
Đồng loại khuyển, mã, hợi, ngưu
Thân người óc thú lanh mưu ma đầu
Bò Việt công du Châu Âu
Đói ăn khát uống kéo nhau nhà hàng
Bò ăn món Bò dát vàng
Một phần tính giá một ngàn chín trăm (dollars)
Đầu bầy dắt đám kiếm ăn
Tô Lâm khói chí nhăng răng đớp liền
Đưa tay đầu ngã nghiêng nghiêng
Quan tham tận hưởng dân phiền mặc dân.

Tuyến, Australia
( Sau 75 dân miền Nam gọi Công An là Bò vàng )

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Bò ăn thịt bò. Thơ cay Tuyến Sydney Australia

NGUY CƠ MẤT NƯỚC ĐANG ĐẾN TỪ BỘ GIÁO DỤC (CSVN)_Trần Mạnh Hảo

NGUY CƠ MẤT NƯỚC ĐANG ĐẾN TỪ BỘ GIÁO DỤC

This image has an empty alt attribute; its file name is tran-manh-hao.jpg

Nhà văn Trần Mạnh Hảo

NGUY CƠ MẤT NƯỚC ĐANG ĐẾN TỪ BỘ GIÁO DỤC XUỐNG CẤP, VONG THÂN, KHÔNG CHÍNH DANH, KHÔNG TRUNG THỰC, THIẾU TRI THỨC VÀ KHÔNG CÓ TẦNG LỚP TRÍ THỨC

            Sau ngày thống nhất đất nước, Trần Mạnh Hảo từ rừng vào Sài Gòn và ở hẳn thành phố này cho đến nay. Cuối năm 1975, qua anh Trịnh Công Sơn, anh Nguyễn Mộng Giác, bạn Bửu Chỉ và một số bạn bè khác như họa sĩ, nhà văn Khánh Trường, họa sĩ Nguyễn Trọng Khôi, nhà văn Ngụy Ngữ, nhạc sĩ Trương Quốc Khánh… chúng tôi bắt đầu giao du với tầng lớp trí thức văn nghệ sĩ Sài Gòn cũ (mặc dù phần lớn tầng lớp ưu tú nhất này của Việt Nam Cộng Hòa đã di tản, đã vượt biên hoặc còn trong trại tù cải tạo).

            Các bạn kể trên nhiều người đã qua đại học, có người mới đậu tú tài ngang tôi hết cấp 3 ngoài Bắc, mà sao các bạn giỏi thế, uyên bác thế, lại biết Pháp ngữ, Anh ngữ. Tôi có dẫn vài ba bạn ngoài Bắc vào đã học ở Liên Xô, có học vị Phó tiến sĩ hẳn hoi, đến giao du với các bạn đồng lứa Sài Gòn được nền giáo dục VNCH đào tạo, thì than ôi chúng tôi quả là mới i tờ rít…

            Trong khi chế độ mới (CS) luôn vỗ ngực khoe khoang chế độ ta ưu việt nhất từ chính trị, văn hóa, kinh tế, giáo dục…

            Trong lòng mình, tôi mặc cảm tự ti với các bạn Sài Gòn mà không dám nói ra vì xấu hổ. Rằng thế hệ chúng tôi ngoài Bắc dốt hơn, được giáo dục sai lệch và sơ sài hơn các bạn được “chế độ Mỹ-ngụy” đào tạo… Ai thắng ai không phải so về chiếm giết, súng đạn, mà phải so găng bằng tri thức, bằng học vấn…

            May mà kho sách dịch Sài Gòn cũ đã dạy tôi thoát nạn mù tri thức, cho tôi có đủ kiến thức có thể ngồi phản biện ngon ơ tất cả luận án tiến sĩ văn học, triết học, luật học, văn hóa học, sử học, mỹ học, ngôn ngữ học…

            Nhắc lại điều này, lòng tôi cũng chẳng vui vẻ gì cho cam, nhưng trước sự thật, tôi không thể tảng lờ, câm miệng. Nền giáo dục của Việt Nam Cộng Hòa trước 1975 nhân bản theo cách giáo dục của người Pháp, nên nó chính là nền giáo dục đúng nghĩa. Còn nền giáo dục của “phe thắng trận” chúng ta là một nền giáo dục bị vong thân, nền giáo dục phục vụ chính trị, bị chính trị hóa. Mà chính trị là gì, là thủ đoạn. Còn GIÁO DỤC, VĂN HÓA VĂN NGHỆ… không lấy cai lợi, cái thủ đoạn làm mục đích, mà nó lấy CHÂN THIỆN MỸ LÀM MỤC ĐÍCH vậy.

            Khẩu hiệu của Đảng Cộng Sản Đông Dương từ năm 1930 và Đảng Lao Động Việt Nam từ năm 1951 vẫn cứ là “TRÍ PHÚ ĐỊA HÀO ĐÀO TẬN GỐC TRỐC TẬN RỄ” Chao ôi, từ cổ đại đến nay, có nhà nước nào, chế độ nào diệt trí thức hay không, hay chỉ có ĐẢNG TA mới dám làm như thế ?

            Cho đến nay, chúng tôi chưa hề thấy ĐẢNG TA công khai thừa nhận KHẨU HIỆU DIỆT TRÍ THỨC kia là ấu trĩ, là sai lầm tả khuynh, cứ “làm thinh Việt Minh đồng ý”. Đã chủ trương diệt trí thức thì làm sao tạo ra xã hội có học vấn, có văn minh ? Chẳng lẽ nền giáo dục của chúng ta chủ trương diệt trí thức chỉ tạo ra các thế hệ thiếu tri thức làm công cụ cho chính trị mà thôi hay sao?

            Thời chúng tôi học cấp 3, có một thầy giáo dạy văn rất hay, lại đẹp trai, nho nhã có nhiều bạn nữ khá nhan sắc muốn chọn thầy làm chồng tương lai, mới điều tra lý lịch thầy, biết cha thầy là ông quan huyện, lại là trí thức học trường hậu bổ do Tây đào tạo, bèn giật thót người không dám tiến tới nữa; vì thầy là thành phần xấu, con ông quan huyện là xấu, bố lại là trí thức còn xấu nữa, than ôi !

            Thời chúng tôi đi học, hầu hết bọn con địa chủ, con tư sản … đều học giỏi và đều không được đi đại học. Con bần cố nông dù dốt đặc cán mai cũng được cử đi đại học bên Liên Xô, Đông Đức… HỌC GIỎI THI LÝ LỊCH là vậy đó.

            Một chế độ diệt người giỏi từ trong trứng nước, ưu tiên người dốt, DỐT NÁT MUÔN NĂM, HỒNG HƠN CHUYÊN MUỐN NĂM… thì giáo dục ơi, ta chào mi, vì mi lấy cái dốt, cái ngu làm mục đích…

            Sau năm 1954, trong khoa học xã hội nhân văn, các giáo sư giỏi nhất như Cao Xuân Huy, Trương Tửu – Nguyễn Bách Khoa, Trần Đức Thảo, Đào Duy Anh…sau này là Cao Xuân Hạo… đều bị cấm lên bục giảng đại học, cho đi chăn bò hay ngồi dịch sách.

            Từ đó, người giỏi bị loại ra ngoài cơ chế xã hội, tôn trọng người dốt nát ngu đần thì giáo dục ơi mi còn sinh ra làm gì nữa. Do vậy, mấy chục năm qua hầu hết học vị tiến sĩ là học bị phong bì, hầu hết học hàm PGS, GS là học hàm phong bì…

            Một xã hội mua bằng cấp, mua học vị học hàm, mua quan bán chức công khai như ngày nay, thì giáo dục ơi, coi như em đã chết, sự thật đã chết, chân lý đã chết…

            Do nền giáo dục lấy bần cố nông làm gốc lâu dài quá nên dân tộc Việt Nam hôm nay hầu như không còn đời sống tinh thần mang tính chân thiện mỹ nữa, tất cả phải nói dối lẫn nhau để tồn tại…

            Than ôi, họa mất nước ở đây chứ đâu.,.

Sài Gòn ngày 19-8-2021

T.M.H.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở NGUY CƠ MẤT NƯỚC ĐANG ĐẾN TỪ BỘ GIÁO DỤC (CSVN)_Trần Mạnh Hảo

NGƯỜI VIỆT TỰ DO CÓ NÊN TỰ NHẬN MÌNH LÀ “BÊN THUA CUỘC”?_Trần Trung Đạo

NGƯỜI VIỆT TỰ DO

CÓ NÊN TỰ NHẬN MÌNH LÀ “BÊN THUA CUỘC”?

Trần Trung Đạo

           Lý luận cần thiết nếu không muốn nói là quyết định. Một người đi lạc trong rừng không có đầu óc lý luận để biết việc gì nên làm trước và việc gì nên làm sau có thể phải chết trong rừng già.

            Mục tiêu trước mắt của người đi lạc là tồn tại chứ không phải là ra khỏi khu rừng. Do đó, việc nên làm trước là bình tĩnh đi tìm chung quanh mình một con suối hay ít nhất một khe nước thay vì hoảng sợ chạy tứ tung để tìm một lối thoát cho đến khi tuyệt vọng quỵ xuống và chết trong đói khát.

            Một nhận xét tôi thường gặp trên Facebook “Nói hoài, nói mãi, vấn đề là làm gì”. Người viết nhận xét đó thật ra không có ý khinh thường hay nặng lời với các tác giả cặm cụi suốt ngày đọc và viết nhưng chứng tỏ tâm lý thất vọng trước các vấn nạn của đất nước.

Lý luận bắt đầu từ những khái niệm căn bản.

            Qua trung gian bạn bè tôi biết đến tác phẩm “Bên Thắng Cuộc” khá sớm. Khi chưa đọc, một người bạn hỏi tôi về cái tựa sách. Tôi nhớ mình đã trả lời “Không thích lắm vì có vẻ hụt hẫng, phải chi có thêm vài chữ để chỉ rõ hơn nội dung mà tác phẩm tập trung vào, “Bên thắng cuộc” thôi tổng quát quá.” Nhưng sau khi sách phát hành, đọc và thấy có thêm hai tiểu đề “giải phóng” và “quyền bính” đánh dấu mốc thời gian và chỉ rõ nội dung hơn, tôi nghĩ khác về tựa sách. Đảng CSVN đúng là “bên thắng cuộc”.

            Lịch sử đảng CSVN chứng minh CS hóa miền Nam là cuộc cờ, là canh bạc của đời họ. Các thế hệ lãnh đạo CS trước chiến tranh, trong chiến tranh và ngay bây giờ đều xem dải đất hình cong chữ S là một bàn cờ. Duy trì quyền lực đảng là tối thượng và tất cả nỗ lực, mọi hoạt động đều nhằm phục vụ cho các mục đích thắng cuộc cờ của đảng.

            Từ 1930 đến nay, đảng CS đưa ra nhiều văn bản chỉ đạo từ Luận Cương (10-1930) đến Chính Cương của Đảng Lao Động Việt Nam (2-1951), Cương Lĩnh Xây Dựng Đất Nước Trong Thời Kỳ Quá Độ Lên Chủ Nghĩa Xã Hội (6-1991) và các văn bản khác nhưng nội dung vẫn thống nhất. Đảng CS đã, đang và sẽ làm tất cả những gì cần để bảo vệ cho được quyền cai trị của đảng.

Sau hiệp định Geneva, nếu có tổng tuyển cử thì tốt. Họ sẽ chiếm miền Nam không cần súng đạn. Nếu không có tổng tuyển cử cũng không sao. Họ vẫn chiếm miền Nam nhưng bằng xương máu Việt Nam và súng đạn Nga, Tàu. Dù qua phương cách tuyên truyền, gian lận hay phải “đốt cháy cả dãy Trường Sơn”, mục tiêu toàn trị vẫn không thay đổi.

            Đương đầu với Mỹ, một cường quốc dư thừa bom đạn, các lãnh tụ CS biết nhiều triệu người Việt sẽ phải chết, viễn ảnh một Việt Nam nghèo nàn thua sút phần lớn nhân loại có thể phải xảy ra. Biết thì biết nhưng đảng không hề bận tâm. Không có văn bản nào cho thấy các lãnh đạo CS đặt số phận 20 triệu dân miền Nam lên bàn tính. Khi cần có đàn anh bảo bọc, đảng bán nước không một chút đắn đo. Năm 1958, Mao Trạch Đông chưa chính thức mở miệng đòi Hoàng Sa, Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng và Bộ Chính Trị CSVN đã biết ý nên tặng trước để lấy lòng.

            Trải qua nhiều thời kỳ, có khi đảng phải tự diễn biến để thích nghi với những đổi thay trên thế giới hay làm dịu lòng công phẩn của người dân nhưng bộ máy công an, nhà tù, các biện pháp đàn áp, trừng phạt, các bản án dành cho những người chống lại các chính sách hà khắc của đảng CS không hề thay đổi.

            Năm 1990, Bác sĩ Nguyễn Đan Quế bị kết án 20 năm tù vì đòi hỏi CSVN phải tôn trọng nhân quyền. Năm 2017, anh Lê Đình Lượng đòi hỏi CSVN tôn trọng nhân quyền nên bị kết án 20 tù. Hai mươi bảy năm nhưng giá một người Việt Nam yêu chuộng tự do phải trả không bớt được một ngày.

            Ba chữ “đảng CS” khắc trong tim, hòa trong máu của các thế hệ lãnh đạo CSVN.

            Không ai trong số 13 đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng lên đoạn đầu đài ngày 17 tháng 6, 1930 tại Yên Báy đã hô “Việt Nam Quốc Dân Đảng muôn năm”. Ngược lại, không ai trong số các lãnh tụ CS bị xử bắn tại Hóc Môn ngày 28 tháng 8 năm 1941 như Võ Văn Tần, Nguyễn Thị Minh Khai, Nguyễn Hữu Tiến v.v.. đã hô “Việt Nam muôn năm.”

            Báo đảng CS viết về cái chết của Võ Văn Tần, Bí thư Xứ Ủy Nam Kỳ thuộc đảng CS Đông Dương: “Trước lúc hy sinh, tất cả các đồng chí đã giật tung mảnh vải bịt mắt và hô vang khẩu hiệu: “Đảng Cộng Sản Đông Dương muôn năm”, “Cách mạng Việt Nam thành công muôn năm” (Cách mạng đây là cuộc cờ, canh bạc của đảng CS).

            Báo đảng CS viết về cái chết của Nguyễn Thị Minh Khai, Bí thư Thành Ủy Sài Gòn Chợ Lớn: “Sau khi Khởi nghĩa Nam Kỳ thất bại, bà bị thực dân Pháp kết án tử hình và bị xử bắn tại Ngã ba Giồng, Hóc Môn ngày 26 tháng 8 năm 1941. Trước khi bị xử tử, bà đã khẳng khái lên án tội ác thực dân Pháp và hô to: “Đảng Cộng sản Việt Nam muôn năm!”, thể hiện tinh thần bất khuất, kiên trung của bà.”

            Lê Hồng Phong không bị xử bắn. Ông ta bị bịnh và chết ngoài Côn Đảo. Trước khi qua đời, ông Phong không nhờ các bạn tù thắp nén hương trên mộ mẹ hay chào vĩnh biệt nơi chôn nhau cắt rốn, không, theo các báo đảng, ông nhắn nguyên văn thế này: “Xin chào tất cả các đồng chí. Nhờ các đồng chí nói với Đảng rằng: Tới giờ phút cuối cùng, Lê Hồng Phong vẫn một lòng tin tưởng ở thắng lợi vẻ vang của cách mạng”. (Cách mạng đây là cuộc cờ, canh bạc của đảng CS)

Di chúc Hồ Chí Minh, bản do đảng CSVN công bố có 22 chữ “đảng” và 1 chữ “dân tộc”.

            Giống như Võ Văn Tần, Lê Hồng Phong, Nguyễn Thị Minh Khai và các lãnh tụ CS khác, Hồ Chí Minh sống là lãnh tụ CS và chết cũng về với các lãnh tụ CS khác: “Vì vậy, tôi để sẵn mấy lời này, phòng khi tôi sẽ đi gặp cụ Các Mác, cụ Lênin và các vị cách mạng đàn anh khác, thì đồng bào cả nước, đồng chí trong Đảng và bầu bạn khắp nơi đều khỏi cảm thấy đột ngột.”

            Tóm lại tất cả lãnh tụ CS chết vì bị xử tử, chết già, chết bịnh đều chỉ nghĩ tới đảng, không ai trong số họ nghĩ tới dân tộc Việt.

            Nhưng sau khi tác phẩm “Bên Thắng Cuộc” được phát hành, một phong trào gồm những người dễ dãi bắt đầu dùng chữ “Bên Thua Cuộc” để chỉ phía Việt Nam Cộng Hòa nói riêng và khối người Việt yêu tự do nói chung.

            Đảng CS tự đánh cuộc với chính họ. Người Việt tự do không đánh cuộc nên không “thua cuộc” ai cả.

            Dân tộc Việt Nam không ký vào Hiệp Định Geneva 1954. Đây là dây thòng lọng của các cường quốc quấn trên cổ dân tộc Việt. Dân tộc Việt phải chấp nhận để sống cho đến khi đủ lớn mạnh.

            Sự phân cực tự do và CS sau Thế chiến Thứ Hai không chỉ diễn ra trong phạm vi ý thức hệ mà còn diễn ra về địa lý tại một số quốc gia, trong đó có Việt Nam. Không một người Việt Nam nào muốn đất nước phải chia đôi và lòng người ly tán, nhưng phải chấp nhận và thuận theo hướng đi của thời đại mà phát triển cho đến một cơ hội thích hợp để đoàn viên dân tộc.

            Một lãnh đạo sáng suốt là lãnh đạo biết vận dụng chính sách đối ngoại của các cường quốc và đi theo hướng đi của thời đại.

            Konrad Adenauer của Đức là một chính trị gia yêu nước và thức thời. Mục đích trước mắt của Thủ tướng Adenauer sau 1945 không phải là thống nhất nước Đức mà xây dựng Tây Đức thành một quốc gia độc lập, dân chủ, có chủ quyền và một cường quốc được thế giới công nhận.

            Chỉ 10 năm sau Thế Chiến thứ Hai, 1955, Cộng Hòa Liên Bang Đức (Tây Đức) trở thành hội viên của NATO hùng mạnh. Chỉ 12 năm sau Thế Chiến thứ Hai, 1957, Tây Đức trở thành một trong những quốc gia lãnh đạo của Cộng Đồng Kinh Tế Châu Âu.

            Tương tự, Việt Nam Cộng Hòa không có ý định chiếm đoạt lãnh thổ miền Bắc hay lật đổ cơ chế CS miền Bắc. Chính phủ và nhân dân VNCH hoàn toàn không muốn chiến tranh. Sau một trăm năm chịu đựng không biết bao nhiêu đau khổ dưới ách thực dân, mục đích trước mắt của nhân dân miền Nam là có được cơm no, áo ấm, có được cuộc sống tự do và xây dựng miền Nam thành một nước cộng hòa hiện đại.

            Dân chủ là một tiến trình chứ không phải là một cái máy cày hay máy xay lúa được nhập từ nước ngoài và xử dụng giống nhau dù ở Mỹ, Pháp hay Việt Nam.

            Trong quá trình xây dựng nền dân chủ, nước Mỹ đã phải hy sinh trên bảy trăm ngàn thanh niên trong Nội Chiến Hoa Kỳ 1861-1865. Miền Nam Việt Nam cũng có những vấn đề riêng của một quốc gia đang tìm cách vươn lên sau thời kỳ bị lệ thuộc quá dài. Tuy nhiên, đó là chuyện riêng của VNCH, không dính líu hay liên can gì đến chế độ CS ở miền Bắc.

            Nhưng đảng CS không tha.

            Tháng 5, 1959, Ban Chấp hành Trung ương đảng Lao Động (CS) sau khi biết rằng việc chiếm miền Nam bằng phương tiện chính trị không thành, đã quyết định đánh chiếm miền Nam bằng võ lực dù phải “đốt cháy cả dãy Trường Sơn” như Hồ Chí Minh nói. Gần hết đồng bào miền Bắc bị đảng lừa vào cuộc chiến “giải phóng dân tộc” và hàng triệu người đã uống phải viên thuốc độc bọc đường “chống Mỹ cứu nước” nên bỏ thây trên khắp hai miền.

            Suốt 20 năm, quân dân miền Nam đã phải chiến đấu trong cuộc chiến tự vệ mà họ không chọn lựa. Miền Nam Việt Nam là nạn nhân của đảng CSVN chứ không “thua cuộc”.

Hàng ngàn người dân vô tội chết ở Huế trong Tết Mậu Thân không “thua cuộc” với ai cả, họ chết vì bị chôn, trong nhiều trường hợp bị chôn sống.

            Các em bé chết trong tay mẹ ở nhà hàng Mỹ Cảnh không “thua cuộc” với ai cả, các em bị giết bằng bom của đặc công CS tối 25, tháng 6, 1965.

            Những em bé học sinh tuổi mới lên mười ở trường tiểu học Cai Lậy, Định Tường không “thua cuộc” với ai cả, các em chết oan ức vì đạn pháo kích sáng ngày 9 tháng 3, 1974.

            Những bà mẹ che đạn cho con bằng chiếc nón lá và những bà mẹ gánh con chạy giặc trên trên “Đại Lộ Kinh Hoàng” 1972 không “thua cuộc” với ai cả, nước mắt của các mẹ là máu chảy nhiều năm.

            Việt Nam Cộng Hòa là một quốc gia bị CS cưỡng chiếm và một ngày sẽ được phục hồi. Ngày phục hồi không chỉ Miền Nam thôi mà cả nước Việt Nam sẽ yên vui dưới chế độ Cộng Hòa.

 Trần Trung Đạo

 

 

 

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở NGƯỜI VIỆT TỰ DO CÓ NÊN TỰ NHẬN MÌNH LÀ “BÊN THUA CUỘC”?_Trần Trung Đạo

HẠ NẮNG CÒN VƯƠNG_Thơ: Thanh Hoàng; Nhạc: Phạm Lynh Phương

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở HẠ NẮNG CÒN VƯƠNG_Thơ: Thanh Hoàng; Nhạc: Phạm Lynh Phương

ÔNG GIÀ VÀ CÔ CA SĨ_Đỗ Duy Ngọc


ÔNG GIÀ VÀ CÔ CA SĨ

Sáng đến quán cà phê quen theo lời hẹn của người bạn. Nó chưa đến. Bên trái quán các bàn đều có khách ngồi, có lẽ bên đó gần máy lạnh. Bên phải có ba bàn trống, chọn bàn giữa gọi ly trà  Lipton nhiều chanh như mọi khi. Định nhồi tẩu thuốc đầu ngày chưa kịp đốt lửa thì có ba cậu thanh niên vào ngồi bàn bên cạnh. Vừa đặt đít xuống ghế, thằng tóc nhuộm vàng hoe vừa tiếp tục nói điện thoại, nghe giọng miền ngoài oang oang:

            – Địt mẹ, bố bảo là mười ba tỉ, đéo bớt, được thì chơi, không thì chấm dứt tại đây nhé. Thế nhé!!!

            Bỏ điện thoại xuống bàn, hắn rút điếu thuốc, bật lửa, nhả một vùng khói trắng. Thằng bên cạnh, mặt trắng như diễn viên tuồng, đôi lông mày kéo cong như vẽ, ẽo ợt:

            – Được giá thì cho lên đường đi, kèo nài làm đéo gì, mua con dưới Láng Hạ đẹp như mơ mười chín tỉ ở cho nó mát, lâu lâu mời cậu về hầu một bữa hoành tráng.

            Thằng thứ ba hếch mặt lên, nói như gầm gừ trong cổ họng:

            – Về dưới Láng Hạ ấy làm đếch gì cho xa, vào đây qua Phú Mỹ Hưng làm con biệt thự, đang xuống giá ào ào kia kìa, chỉ cần hai nhăm tỉ.

            Nghe tiền tỉ từ mấy khuôn mặt trai không ra trai, gái không ra gái bỗng dưng tôi mất hứng, chẳng hút thuốc nữa, dù đang thèm một cối thuốc đầu ngày. Chẳng biết chúng đang làm trò khoe sang giàu hay là chúng giàu thật, nhưng nghe vẫn chói tai. À! Mà thật lạ, sao ngoài ấy người ta hay nói tiền tỉ với xe hơi, với biệt thự ở nơi chốn đông người thế nhỉ? Cái kiểu ấy không hạp với tạng dân trong này, ở đây người ta thường dấu biệt cái vẻ giàu sang, hoà mình cùng với mọi người, ngoại trừ mấy thằng khoe khoang để lừa đảo. Bực cả mình, tự nhiên có cảm giác ngày này chẳng làm được cái quái gì. Thằng bạn hẹn vẫn chưa thấy tăm hơi. Bấm số gọi lần nữa, lần này chuông không reo mà toàn nghe ò í e. Mẹ! Cái thằng này, hẹn cho đã rồi tắt máy là sao. Lại bực. Khuấy ly nước, định uống một ngụm rồi đi. Không chịu được mấy chàng bàn bên, không chịu được cảnh ngồi chờ người không biết có đến không mà cũng chẳng có tin tức gì. Ngoài trời lất phất mưa, tự hỏi trong cốp xe có áo mưa không, tần ngần nên chưa đứng dậy. Đúng lúc đó, cửa mở.

            Hai người khách vừa bước vào. Đó là một ông lão khoảng bảy mươi nhưng xem còn tráng kiện lắm. Người thấp đậm, tóc dài bạc trắng cột đuôi ngựa với bộ râu rậm cũng bạc trắng trên môi. Hình như cả quán đều đồng loạt ngước nhìn và cũng hình như mọi người đều nhận ra cô gái đang nắm tay lão già. Nhìn qua ai cũng hiểu họ là đôi tình nhân.

            Đó là cô ca sĩ đang nổi như cồn, đang làm mưa làm gió trên sân khấu âm nhạc của cả nước. Cô này không những có giọng hát rất hay, ru hồn người mà lại có một nhan sắc trời cho hiếm có. Một khuôn mặt đẹp, nền nã, quí phái và cũng rất trí thức. Gần ba năm nổi tiếng, cô chưa bị một vụ scandal nào, báo chỉ khen, người người ái mộ. Cô chọn loại nhạc tiền chiến và những nhạc sĩ lớn của âm nhạc Việt để thể hiện với giọng hát tuyệt vời.

            Cô cũng có một thân hình đẹp, không khiêu khích nhưng gợi cảm, một sự gợi cảm rất thanh lịch đầy nữ tính. Mang chiếc váy trắng và xách tay giản dị nhìn như đối nghịch với chiếc áo ca rô nhiều màu mở banh cả hai hàng nút ngực trông rất ba gai của lão già. Bên lão, cô như cánh chim thanh thoát đậu vào thân cây xù xì nhưng vững chãi. Đôi khi trong cuộc đời, có những cái nhiều khi tưởng đối lập nhau nhưng đặt cạnh nhau lại thấy hoà hợp một cách kỳ lạ. Đó là sự bổ sung để làm thành bức tranh hoàn chỉnh. Hai người chọn chiếc bàn còn lại cạnh tôi, tôi lại có điều kiện để quan sát lão già. Một khuôn mặt không đẹp, nhưng rất đàn ông. Đôi chân mày rậm, lốm đốm bạc trên đôi mắt sáng bên những vết chân chim, vầng trán rộng thấp thoáng mấy nếp nhăn, tai to, dày với giái tai rất đẹp, tất cả nằm sau cặp kính trắng lớn gọng đồi mồi khiến lão vừa có chút trí thức lẫn một chút du côn. Phải công nhận lão có hàm râu khá đẹp, dày, bạc đều chạy trên đôi môi đầy đặn hơi thâm của người nghiện thuốc lá. Lão gọi cà phê đen, cô gái gọi ly cà phê sữa. Lão rút gói thuốc từ túi áo, rút điếu thuốc gắn lên môi, bật hộp quẹt đốt, tất cả đều được tiến hành rất điệu đà như đang diễn. Tôi cũng là thằng nghiện thuốc và tôi cho rằng hình ảnh đẹp nhất của cánh đàn ông là hình ảnh người đàn ông nghiêng đầu, tóc bờm dưới gió, đốt điếu thuốc, khói nhè nhẹ bay lên. Đó là một cảnh đẹp và vô cùng lãng mạn đầy nam tính.

            Có tiếng huýt gió ở bàn bên, tôi quay lại thấy ba chàng thanh niên nhìn chòng chọc vào lão già và cô ca sĩ. Sau tiếng huýt, thằng tóc vàng nói vừa cho ba bàn cùng nghe:

            – Địt mẹ, con ca sĩ này kiếm đâu thằng già nhìn chông chênh đéo chịu được, như hoa nhài cắm bãi cứt trâu.

            Cả ba thằng cười hô hố, phun khói mờ mịt, không biết chúng hút thuốc gì mà mùi khét lẹt như nhựa cháy.

            Cô gái có vẻ hơi khó chịu, nhìn đám thanh niên với ánh mắt như trách móc nhẹ nhàng, ánh mắt lão già hơi đanh lại, nhưng giãn ra ngay. Bực mình, tôi đốt cối thuốc, khói bay lên, mùi Jubilee lan ra nhè nhẹ. Không gắt thơm, thoảng chút mùi rượu, nhưng quyến rũ và thấy lòng mình cũng dịu lại trước trò khả ố của đám thanh niên. Lão già nhìn tôi, gật nhẹ đầu và nhoẻn miệng cười, trời ơi, có ai nghĩ được một nụ cười như trẻ thơ trên khuôn mặt phong trần của người ấy. Nụ cười của kẻ đạt đạo, thấy tất cả là vô thường. Nụ cười khiến người đối diện cảm thấy ấm lòng và tin cậy.

            Ở bàn bên, ba thanh niên chụm đầu lại, nói với nhau khe khẽ như đang âm mưu chuyện gì. Thế rồi, thằng tóc vàng khệnh khạng bước qua bàn lão già, hai thằng kia lật đật đi theo. Hắn chống nạnh, hất hàm:

            – Bố già, tôi muốn nói chuyện với bố. Bố già rồi, không vào viện dưỡng lão hay ở nhà cho con cháu chăm nom, lại đèo bồng chơi trống bỏi, trâu già gặm cỏ non. Để dành cho đám trẻ đi, bố có còn gì đâu mà tranh với trẻ.

            Lão già cười, nụ cười hiền mà quyến rũ không chịu nổi, lão đưa tay:

            – Chào chàng trai, có gì thì cứ ngồi xuống đây, ta cùng nói chuyện.

            Cô gái có vẻ lo lắng, ngước nhìn ba gã thanh niên rồi nhìn lão già, lão xoay đầu, nhìn như trấn an cô gái, ánh mắt hiền dịu như người cha đang nhìn con gái rượu của mình. Lão chìa tay bắt, thằng tóc vàng miễn cưỡng bắt tay, hai bàn tay vừa nắm, mặt hắn nhăn nhó rút ngay tay về, lão bắt tay thằng lại cái, nó suýt xoa:

            – Quỷ sứ! Bóp gì đau thế!

            Thằng còn lại thấy vậy, lảng đi, dấu tay sau lưng. Cả ba ngồi trước mặt hai người, dáng thủ thế. Lão già nhìn từng thằng, rồi ánh mắt đậu lại nơi thằng tóc vàng, có vẻ là đầu đảng.

            – Các cậu có biết phụ nữ người ta yêu người đàn ông cái gì không? Trước tiên là trí tuệ, mà trí tuệ là thứ không thể khoe ra như vàng bạc, châu báu được. Nó biểu hiện ở cách ứng xử, ở ngôn ngữ trao đổi, ở cách suy nghĩ và lối sống. Có trí tuệ để hiểu mình là ai và hiểu đời là gì? Các cậu lại chưa trang bị cho mình thứ đó.

            Thằng tóc vàng hậm hực:

            – Lão cho rằng chúng tôi là lũ vô học chứ gì? Địt mẹ, lão là ai mà tinh tướng thế?

            – Đừng nóng, anh bạn trẻ. Điều thứ hai mà người phụ nữ yêu kính ở người đàn ông là bản lĩnh, đó là sự tự tin, là người làm chủ được mọi hoàn cảnh. Người phụ nữ tin rằng đến với người như thế, họ sẽ được chở che, sẽ giải quyết được mọi tình thế khó khăn trong cuộc sống, họ sẽ không bao giờ run sợ trước cuộc đời khi ở bên cạnh người như vậy. Các cậu chỉ là những đứa trẻ con mới lớn, yếu đuối, sống nhờ thế lực, tiền bạc của cha mẹ mà cứ tưởng mình là anh hùng. Hãy nhìn lại mình xem, các cậu giống y như lũ giòi bọ ký sinh trên đống thịt thối mà thôi.
Thằng tóc vàng chồm tới, định đánh lão già, hai thằng kia đứng dậy, sửng cồ. Lão già không nói nữa, chụp chiếc ly đựng nước trà. Cả quán dáo dác, chờ một cuộc tranh hùng. Mấy cô bé phục vụ lo lắng, sợ xanh mặt.

            Từ nắm tay lão già, những giọt máu đỏ rơi nhanh xuống mặt bàn loang ra. Cô gái nhìn lão già lo âu, tay níu vào vai lão. Lão già mở nắm tay, chiếc ly đã vỡ vụn từng mảnh nhỏ, rớt lả tả xuống bàn, tay lão đầy máu đỏ. Ba thằng thanh niên mặt xanh như đít nhái, tự nhủ chắc lão này võ công thâm hậu. Chúng bắt đầu lo.

            Lão từ tốn bảo:

            – Phụ nữ yêu đàn ông bởi đàn ông là phái mạnh, sẽ che chở cho họ suốt một đời. Bởi thế, đàn ông còn phải cần có sức mạnh, cái đấy các cậu cũng không có nốt. Thế thì người phụ nữ nào đến với các cậu, sẽ không vì tình yêu mà vì sự thỏa mãn. Các cậu mang cho họ tiền bạc, nhà cửa. Cái đó không phải là tình yêu. Bởi sẽ có người sẽ cho họ nhiều tiền hơn, nhà to xe đẹp hơn và họ sẽ đá các cậu như đá một miếng giẻ rách.

            Lão quay lại, vuốt tóc cô gái, cô gái nhìn lên, ánh mắt đầy yêu thương pha chút tự hào. Cả ba thằng thanh niên đứng sững sờ. Cô gái lấy từ trong túi xách chiếc khăn trắng, băng tay cho lão, chiếc khăn lốm đốm máu. Lão quay sang cô phục vụ :

            – Con tính tiền cho chú nhé, tính luôn tiền cái ly chú vừa bóp nát.

            Rồi cả hai rời quán, khi đi ngang qua tôi, lão đưa cánh tay băng trắng vẫy chào tôi, lúc này tôi mới để ý thấy dáng đi của lão hơi khập khiễng. Chắc là lão bị bệnh gout.

            Thế là tưởng buổi sáng nay gặp toàn chuyện khó chịu, ai dè lại được chứng kiến một câu chuyện hay

 DODUYNGOC

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở ÔNG GIÀ VÀ CÔ CA SĨ_Đỗ Duy Ngọc

Thế hệ 5G (Phần 2) – tác giả Trúc Giang Minnesota

Tóm lại áp dụng hệ 5G, giúp việc quản lý thành phố một cách có hiệu quả hơn.

11*. Quân đội Mỹ đã chế tạo thành công áo choàng tàng hình cho binh sĩ qua hệ 5G.

Slide3

 Bộ quần áo tàng hình của quân đội Mỹ 
Máy bay không người lái

Quân đội Mỹ hiện đang phát triển một bộ quần áo tàng hình cho binh sĩ. Các loại vải tàng hình đã được thử nghiệm các nguyên mẫu đầu tiên trong vòng 18 tháng

Bộ quân phục tàng hình này có thể làm việc trong mọi địa hình, từ sa mạc đến rừng rậm, và ở mọi nhiệt độ.

Quân đội Mỹ cho biết: “Một hệ thống ngụy trang giống như tắc kè hoa, sẽ liên tục cập nhật những màu sắc và hoa văn, theo thời gian thực, giúp che giấu sự hiện điện của những binh sĩ trên chiến trường”.

Tắc kè với khả năng thay đổi màu sắc theo môi trường để ngụy trang, thì bộ quần áo tàng hình này sẽ hoạt động với nguyên lý tương tự của tắc kè. Về quân sự, Không Quân Mỹ đã sản xuất nhiều loại máy bay không người lái, làm nhiều nhiệm vụ khác nhau như trinh sát, tấn công, tiếp nhiên liệu trên không.

12*. Áp dụng hệ 5G để sản xuất xe không người lái.

         g5

Xe tự lái Uber đã vận chuyển 50,000 lon bia trên quảng đường 193Km

Xe không người lái tự động chạy trên đường phố, thả chủ chiếc xe xuống chỗ làm, rồi tự động chạy ra bãi đậu xe, và nằm chờ”. Đó là dự án mà công ty Google đã thực hiện.

Một cách tổng quát, xe không người lái được trực tiếp điều khiển bằng smartphone, mà smartphone được nối kết với internet, như việc hướng dẫn đường đi bằng hệ thống định vị toàn cầu GPS (Global Positioning System) do hệ thống vệ tinh cung cấp.

Riêng “bản thân” chiếc xe phải có một bộ nhu liệu (software) nối kết tần số với smartphone. Chiếc xe được trang bị bằng những máy radar, những bộ cảm biến (sensor), những máy camera và những dụng cụ điện tử khác vô cùng phức tạp.

Tất cả những thông tin về giao thông, thời tiết, và về tình trạng xe, được đưa vào smartphone trước khi người chủ bước lên xe. Trên xe, người chủ dùng màn hình cảm ứng chọn điểm đến và xe tự động chạy đến nơi an toàn.

Nói chung, chiếc xe không cần người tài xế ngồi sau tay lái, nhưng cần người có trình độ làm việc với software, và biết sử dụng smartphone để điều khiển chiếc xe theo ý muốn.

Ở Mỹ, chương trình huấn luyện người điều khiển chiếc xe tốn 3,000USD.

Trường hợp chiếc xe chỉ chạy một mạch từ nơi khởi hành đến điểm đến, không ngừng dọc đường, thì không cần phải có người ngồi trên xe. Đó là vào năm 2016, Công ty Otto, hãng phát triển xe tự lái thuộc Uber đã vận chuyển thành công 50.000 lon bia Budweisers bằng xe tự lái trên quãng đường dài 193 km.

Những bộ cảm biến về ánh sáng, âm thanh, những radar, camera…sẽ giúp cho xe dừng lại khi đèn vàng, đèn đỏ. Tự động bật đèn pha khi qua đường hầm hoặc trời tối. Xe giữ đúng làn xe của mình, giữ khoảng cách an toàn với xe trước. Tốc độ xe cũng tự điều chỉnh tùy theo khung cảnh trên đường phố…

1). Ưu điểm vượt trội của xe không người lái

Hạn chế tắc nghẻn giao thông. Ít va chạm. Giảm bớt sự tham gia của con người. (Người chủ có thể ngủ, xem phim, đọc sách…)

Gia tăng số người lái xe, như người già, người khuyết tật.

Không còn lo lắng tìm chỗ đậu xe. Khả năng tìm bãi đậu xe và tự động đi vào chỗ đậu.

Khi nhậu say ngà ngà chủ xe có thể về nhà một cách an toàn mà không sợ bị cảnh sát bắt làm “chim bay, cò bay” giữa công lộ. Nếu quên mất chỗ đậu xe hồi sáng thì chiếc xe sẽ tìm đến ông chủ, khi nghe lịnh gọi.

2). Những trở ngại phức tạp

Trong thành phố, xe gặp phải những trở ngại phức tạp bao gồm những người đi bộ băng ẩu qua đường, những người đi xe đạp, một tài xế vượt ẩu trước ngã tư có 4 bảng stop, và những góc khuất tầm nhìn… là những thách thức lớn cho máy điện toán trong xe. 

Thành phố đầy xe ma. Tin tặc có thể kiểm soát xe không người lái để tấn công khủng bố.

13*. Ứng dụng 5G để quản lý tổ ong

Loài ong mật rất nhạy bén với nhiệt độ, độ ẩm trong không khí, và tiếng động. Nếu những điều kiện nầy không phù hợp với cuộc sống thì loài ong bỏ “nhà”, bay sang tổ ong khác.

Mật ong có giá trị kinh tế khá cao vì thế những người nuôi ong phải tìm ra phương pháp tốt nhất để quản lý tổ ong. 

Công ty công nghệ NimbeLink hợp tác với The Bee Corp đã phát triển ra một thiết bị 5G để quản lý và bảo vệ ong, theo đó những dữ liệu cần thiết như nhiệt độ, độ ẩm, chuyển động…liên quan đến đời sống của ba loại ong trong tổ, là ong chúa, ong đực và ông thợ.

Loại ong mật sống từng đàn, có đàn trên 25,000 con. Tổ chức, phân công rõ ràng. Ong chúa lớn nhất, ong cái có nhiệm vụ đẻ trứng, nhưng không làm ra mật. Ong chúa sống từ 3 đến 5 năm. Ong đực chỉ có nhiệm vụ duy nhất là giao phối với ong chúa, sống từ 1 đến 2 tháng. Ong thợ đông nhất. Làm đủ mọi việc, từ việc bay đi lấy mật hoa, nuôi ấu trùng, bảo vệ và xây dựng tổ. Sống từ 2 đến 6 tháng.

14*. Áp dụng hệ 5G để sản xuất thịt nhân tạo

Thịt nhân tạo đã được cơ quan NASA (National Aeronautics and Space Administration-Cơ quan Hàng không và Không gian Hoa Kỳ) sản xuất đầu tiên, để phục vụ bữa ăn của các phi hành gia và những người làm việc lâu ngày trong không gian.

Các nhà khoa học lấy tế bào của bò, heo, gà nuôi trong ống nghiệm. Cho dung dịch protein phù hợp với mỗi loại tế bào, và đồng thời dùng thiết bị năng lượng để tế bào hoạt động và nhân đôi để tăng trưởng. Và sản xuất ra thịt thật sự.

Quá trình sản xuất thịt nhân tạo rất nhiều tốn kém, mặc dù không cung cấp thức ăn để nuôi heo, bò từ nhỏ đến ngày mổ thịt. 

Một số nhà nghiên cứu cho rằng, với 10 tế bào của con heo, họ có thể tạo ra 50,000 tấn thịt nhân tạo trong hai tháng.

15*. Đồng hồ thông minh

Tính đến quý III năm 2013, hệ điều hành Android là phổ biến nhất, chiếm 81.9% trong tổng số 211.6 triệu điện thoại được sử dụng trên thế giới.

Năm ngoái, đứa con gái nhận được quà sinh nhật, là cái đồng hồ thông minh của hãng Apple. Giá 350USD. Đồng hồ chỉ giờ, phút, giây. Ngày, tháng, năm. Nhiệt độ bên ngoài nhà. Chỉ nhịp tim (Heart rate). Số bước đi trong ngày được tính bằng mile, tiêu chuẩn là 10,000 bước. Đặc biệt là nghe, và nói như một điện thoại di động, khi cho số cell phone vào đó.

16*. Cuộc chạy đua giành vị trí hàng đầu thế giới về 5G

Hiện nay, các quốc gia đang nổ lực tham gia cuộc chiến tàn khốc để giành vị trí hàng đầu về 5G trên thế giới.

1). Hoa Kỳ đứng hàng đầu.

Theo báo cáo từ trang Business Insider, thì Mỹ là quốc gia chiếm vị trí hàng đầu thế giới, do những đại công ty lớn nhất như AT&T, Sprint, Verizon Wireless (Mỹ)…

Các công ty tư nhân nầy có những chiến lược riêng, cạnh tranh nhau ráo riết để thúc đẩy sự đổi mới và chiếm khách hàng trên thế giới.

2). Hàn Quốc thứ hai.

Vị trí thứ hai thế giới là Hàn Quốc. Với những đại công ty như Samsung KT, LG (Lucky Goldstar), LG Uplus. Hàn Quốc hiện có trên một triệu người đang sử dụng 5G thương mại.

3). Trung Quốc hạng thứ ba

Thứ ba là Trung Quốc với những công ty như ZTE (Zhongxing Telecommunication Equipment), China Mobile, China Telecom, Huawei.

17*. Thế hệ mạng di động 6G

          6g

Mặc dủ thế hệ 5G chưa được áp dụng rộng rãi trên toàn thế giới, nhưng các nhà mạng hàng đầu thế giới như Samsung (Hàn Quốc), Huawei (Trung Quốc) và Nokia (Phần Lan), Ericsson (Thụy Điển) đã triển khai những phương tiện thử nghiệm về mạng 6G.

Hệ 6G đang ở trong thời kỳ thử nghiệm, dự đoán là sẽ đưa vào sử dụng thương mại vào năm 2028 hoặc 2030.

Đặc điểm của 6G là tốc độ cao, nhanh 50 lần hơn 5G. Độ trễ nhỏ, chỉ bằng 1/10 của 5G. Tín hiệu rất lớn, chứa nhiều data hơn 5G. Và băng thông cũng rất lớn để tín hiệu nhẹ nhàng phóng qua, tạo độ trễ rất nhỏ.

Điểm khác biệt giữa 5G và 6G là, trạm gốc phát tuyến của 5G đặt trên mặt đất, trái lại, trạm gốc phát tuyến của 6G là một hệ thống vệ tinh ở quỹ đạo thấp, có thể phủ sóng toàn cầu. Trung Quốc đã phóng thành công một vệ tinh thử nghiệm vào không gian, và theo kế hoạch, sẽ phóng 10,000 vệ tinh phục vụ cho 6G.

Về mạng lưới vệ tinh, thì Mỹ đang dẫn đầu với 1,300 vệ tinh quỹ đạo thấp của hệ thống Starlink, thuộc SpaceX của tỷ phú Elon Musk. Starlink đã phóng thêm 120 vệ tinh mỗi tháng. Mỹ sẽ phóng 12,000 vệ tinh quỹ đạo thấp nhằm mục đích phủ sóng toàn thế giới.

17.1. Huawei của Trung Quốc đặt mục tiêu dẫn đầu 6G

Ngày 16-9-2021, hãng tin Nikkei (Nhật) đưa tin, ông Nhậm Chính Phi, Giám đốc Huawei, cho biết, công ty của ông đã đầu tư vào 20 công ty trong nước, để sản xuất chíp bán dẫn hiện đại. Huawei cũng tiếp tục thuê nhân tài hàng đầu thế giới, đặc biệt là ở Châu Âu và Mỹ, với mức lương cao nhất, để Huawei dẫn đầu công nghệ 6G.

 Nhà mạng Trung Quốc nầy sẽ chú trọng mở rộng thị trường công nghệ 6G vào những quốc gia đang phát triển (Nghèo) ở Châu Phi và Trung Đông, bằng cách cho thuê tài chánh nhẹ lãi, để thực hiện công nghệ 6G nầy.

17.2. Hàn Quốc với 6G

Hàn Quốc muốn trở thành quốc gia đầu tiên triển khai dịch vụ thương mại 6G. Samsung và LG Electronics (LG=Lucky Goldstar) đã thiết lập trung tâm nghiên cứu, Seoul đã có dự án phát triển trị giá 976 tỷ won (800 triệu USD)

17.3. Hoa Kỳ thành lập Liên Minh 6G

Liên Minh 6G gồm những thành viên nổi bật, những gã khổng lồ trong lãnh vực truyền thông như: AT&T, Sprint, Verizon Wireless, Microsoft, Qualcomm, Apple, Google, Nokia (Phần Lan), mục đích chiếm vị trí hàng đầu trong cuộc tranh đua với Huawei.

Liên minh nầy không cho Huawei và ZTE của Trung Quốc tham gia.

Chính phủ Mỹ hợp tác với Nhật để phát triển 6G. Tổng thống Joe Biden và Thủ tướng Nhật, Yoshhide Suga đã ký một quỹ đầu tư 4.5 tỷ USD để phát triển công nghệ 6G.

Với nguồn vốn khổng lồ của các thành viên trong Liên Minh 6G,  Hoa Kỳ quyết ăn thua đủ với Trung Quốc.

18*. Kết luận

Thế hệ mạng di động 5G là một cuộc cách mạng trong công nghệ và công nghiệp thế giới. So với thế hệ 4G, 5G đã có những bước tiến nổi bật. Tín hiệu lớn mang rất nhiều dữ liệu, lại có thêm một băng thông rộng rãi, là phương tiện để có tốc độ cao, mà độ trễ nhỏ.

Đặc tính kỹ thuật cao độ của 5G được ứng dụng để sản xuất, tạo ra những thiết bị và công trình thần kỳ, giúp cho đời sống của con người trong những ngành nghề như sau: kinh tế, y tế, giáo dục, quân sự, giao thông vận tải, sản xuất…Những nhà mạng di động nổi bật thế giới như Samsung của Hàn Quốc, Huawei của Trung Quốc, riêng Hoa Kỳ đã có những đại gia mạng di động như AT&T, Google, Apple, Qualcomm, Sony, Microsoft, Sony…

Trong khi những ứng dụng của hệ 5G chưa được thực hiện rộng rãi trên toàn thế giới, thì các nhà khoa học về mạng di động đã triển khai nghiên cứu thế hệ 6G. Trung Quốc đặt mục tiêu sẽ chiếm vị trí hàng đầu thế giới. Tuy nhiên, ý đồ đó chưa chắc gì đã đạt được. Mặc dù Trung Quốc đã chai mặt, ăn cắp kỹ thuật màn hình gập (có thể xếp lại được), và ý đồ dùng tiền bạc mua chuộc các nhà khoa học hàng đầu thế giới thuộc Châu Âu và Mỹ.

Vì Liên Minh 6G của Hoa Kỳ rất mạnh, nhiều vốn như 8 đại gia tư nhân ở Mỹ, cộng thêm Nokia của Phần Lan và Nhật Bản.

Hoa Kỳ cũng sẽ chiếm hạng nhất trong cuộc chay đua với Trung Quốc.

Trúc Giang MN

Minnesota ngày 21-10-2021



 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thế hệ 5G (Phần 2) – tác giả Trúc Giang Minnesota

Thế Hệ 5G (Phần 1) Bài viết của Trúc Giang Minnesota.

Thế hệ 5G và những ứng dụng
thần kỳ trong đời sống.

image12

Trúc Giang MN

1*. Mở bài

image13

5G (5 gờ) là chữ viết tắt của 5th Generation, là thế hệ thứ năm của mạng di động, tiếp theo sau 3G và 4G. Căn cứ vào 3G và 4G, các nhà khoa học đã nâng cấp, cải tiến, tạo ra những đặc tính kỹ thuật vượt trội, về tốc độ cao, về tín hiệu (Signal) lớn cho phép chứa nhiều dữ liệu (data) hơn.

Để tín hiệu lớn nầy được phóng đi nhanh, các nhà khoa học tạo ra đường đi lớn, gọi là băng thông rộng (Bandwidth). Băng thông rộng để tín hiệu đi nhanh, với tốc độ cao, nên thời gian đi thấp, gọi là độ trễ (Latency) nhỏ.

5G là công nghệ (Technology) cao, tạo ra công nghiệp (Industry) thần kỳ. Dựa vào đặc tính quan trọng, là nối kết, công nghiệp nầy sản xuất ra những dụng cụ, gọi là thiết bị, thông minh.

Hệ 5G cho phép tạo ra những thiết bị (Device, equipment) thông minh phục vụ đời sống con người trong nhiều lãnh vực như: y tế, kinh tế, quản lý, quân sự, giao thông vận tải, thực phẩm…

Những thiết bị thông minh như điện thoại thông minh, điện nhà thông minh, nhà thông minh và thành phố thông minh, các robot thông minh…

Hệ 5G làm căn bản để phát triển hệ 6G, mà các đại gia nhà mạng di động đang ra sức tranh đua nhau để chiếm vị trí hàng đầu, đưa vào thương mại để hốt bạc.

2*. Những đặc điểm của hệ 5G

Bảng so sánh tốc độ của các hệ 3G, 4G và 5G

g 2

1). Tín hiệu lớn cho phép truyền tải dữ liệu khổng lồ.

2). Băng thông lớn cho phép tín hiệu được phóng đi rất nhanh. Về tốc độ. So sánh việc tải một bộ phim dài 2 tiếng đồng hồ xuống máy tính.

Hệ 3G mất 26 giờ. Hệ 4G mất 6 phút. Hệ 5G chỉ mất 3.6 giây.

3). Độ phủ sóng to, Tín hiệu ở 1 Km2 trên không gian, có khả năng kết nối với một triệu thiết bị dưới đất.

4). Khả năng kết nối của 5G rất hữu hiệu, dẫn đến tự động hóa, tự hành trong những thiết bị phục vụ đời sống con người.

3*. Điện thoại thông minh hoạt động như thế nào?

      3.1. Hoạt động của điện thoại thông minh

Bên trong điện thoại thông minh

               ghep

Smartphone là thiết bị di động, kết hợp điện thoại di động với computer di động. Một điện thoại có hai bộ phận, phần cứng (Hard drive) và phần mềm (Software). Phần cứng là một circuit board gồm những mạch in dẫn điện li ti nối liền chân của những con chip với nhau, và với những linh kiện điện tử như điện trở (Resistor), tụ điện (Capacitor) để cho điện thoại vận hành được.

Phần mềm, còn gọi là nhu liệu (Software) được chứa trong những con chip, còn được gọi là IC (IC=Integrated Circuit). Những con chip nầy điều hành hệ di động bằng cách kết nối với internet, có những chức năng thực hiện những phương tiện như: âm nhạc, video, máy ảnh, máy quay phim, chơi game. Do đó, smartphone dần dần sẽ thay thế những dụng cụ giải trí như máy nghe nhạc cầm tay MP3, máy chụp hình, máy ghi âm, máy quay phim cầm tay.

     3.2. Bảng xếp hạng của các điện thoại thông minh

Những điện thoại thông minh hiện đang thịnh hành trên thế giới như của những hãng Samsung, Huawei (Trung Quốc), Apple, Xiaomi (Trung Quốc), Sony.

Theo thống kê của Counterpoint Research, thì vào quý 3 của năm 2018, 5 hãng sản xuất điện thoại trên thị trường thế giới, được xếp hạng theo thứ tự như sau: Samsung 19%, Huawei 14%, Apple 12%, Oppo (Trung Quốc) 9% và Xiaomi (Trung Quốc) 9%.

   3.3. Những biện pháp giữ an toàn của chủ điện thoại thông minh

1). Công nghệ cảm biến vân tay.

Dùng chỉ tay để xác định chủ máy.

2). Nhận diện khuôn mặt

Máy iPhoneX của Apple. Năm 2017, Apple cho ra mắt điện thoại đầu tiên có bộ cảm biến đo gương mặt để xác định chủ máy.

3). Bảo mật bằng quét tĩnh mạch ở bàn tay. (Hand ID).

Tháng 2 năm 2019, LG (Lucky Goldstar) (Hàn Quốc) cho ra mắt LG G8 ThinQ, quét tĩnh mạch bàn tay để xác định chủ máy. Ngay cả anh em sinh đôi cũng có tĩnh mạch bàn tay khác nhau.

4). Nói thêm về chữ “i” trong iPhone

Chiếc iPhone của Apple đầu tiên ra mắt năm 2007. Chữ “i” được hiểu là Internet, Sau đó, “i” được hiểu là Individual (Tính cá nhân), Instruct (Hướng dẫn), Inform (Truyền thông tin) và Inspire (Truyền cảm hứng).

4*. Hàn Quốc sản xuất robot 5G khử trùng, để ngăn chặn sự lây lan của COVID-19

Ngày 19-4-2021, nhà mạng viễn thông lớn nhất Hàn Quốc, SK Telecom Co, cho biết đã sản xuất robot thế hệ 5G nhằm mục đích khử trùng. Con robot nầy tự di chuyển chung quanh bịnh viện, được trang bị bằng tia cực tím để diệt vi trùng và vi khuẩn, nhằm mục đích chống lây lan dịch COVID-19. Đó là robot 5G đầu tiên thế giới, hoạt động tại bịnh viện Yongin Severance. Con robot nầy tự di chuyển chung quanh bịnh viện, để theo dõi nhiệt độ của mỗi người và phát hiện họ có đeo khẩu trang hay không.

5*. Quán cà phê robot áp dụng mạng 5G đầu tiên trên thế giới

            g3

Ngày 25-12-2018, hãng viễn thông KT (Hàn Quốc) cho biết đã áp dụng mạng viễn thông 5G cho quán cà phê robot tên “B;eat” không có con người phục vụ, quán được đặt tại trụ sở công ty bảo hiểm nhân thọ Samsung ở quận Seocho, thủ đô Seoul.

“B;eat” hoàn toàn do người máy phục vụ.

Các robot barista tại quán cà phê, lịch sự và nhanh nhẹn tiến về phía khách hàng nói: “Đây là trà hạnh nhân của quý khách, mờithưởng thức. Sẽ ngon hơn nếu quý khách khuấy nó”, robot nhẹ nhàng nói, khi một khách hàng với tay lấy đồ uống của cô trên một cái khay được đặt sẵn trên thân robot.

Với một đơn đặt hàng gồm 6 món đồ uống phức tạp, robot chỉ pha chế mất 7 phút.

Robot còn có khả năng nhận ra tiếng nói để biết khách hàng quen thuộc hay mới đến. Khả năng nhận dạng để biết khách hàng ở lớp tuổi nào.

Nhà sản xuất và viện khoa học đã phát triển robot barista có mục tiêu cung cấp ít nhất 30 hệ thống robot quán cà phê như vậy trong năm 2020.

6*. Nhật Bản sử dụng mạng 5G cho robot phẩu thuật bịnh nhân từ xa.

Theo bản tin tiếng Nhật, ngày 17-4-2021, nhóm nghiên cứu của Đại học Kobe (Nhật) đã bắt đầu thử nghiệm phẩu thuật từ xa, thông qua robot Hinotori, do Nhật chế tạo.

Trước kia robot Hinotori đã thành công trong ca phẩu thuật cho bịnh nhân ung thư, nhưng các bác sĩ phải có mặt tại phòng mổ để theo dõi. Tuy nhiên, trong thử nghiệm lần nầy, các nhà khoa học Nhật Bản đã thành công trong việc thử nghiệm bằng cách sử dụng công nghệ 5G của công ty truyền thông NTT Docomo, để tiến hành cắt bỏ một mẫu giả trong thành bụng của một bịnh nhân giả.

Nhóm nghiên cứu cho biết, không có độ trễ trong các thao tác của robot. Tức là, mặc dù bác sĩ ở khoảng cách xa nhưng vẫn nhìn thấy tức khắc những thao tác của robot. Xem như bác sĩ đang có mặt tại ca mổ. Đó là ứng dụng tốc độ cao của công nghệ 5G được xem như không có độ trễ.

Thử nghiệm nầy nhằm mục đích để các bác sĩ chuyên khoa tài giỏi, nhiều kinh nghiệm, giúp các bác sĩ mới ra trường ở các vùng xa thủ đô Tokyo.

7*. Ứng dụng 5G trong y tế

Hệ thống chăm sóc sức khỏe tại nhà và theo dõi tình trạng sức khỏe từ xa.

Một hệ thống thiết bị (equipment) y tế nối kết qua internet (Internet of Medical Things) tiếp xúc với bộ cảm biến (Sensor) được đặt trên cơ thể bịnh nhân, về đo huyết áp, nhịp tim và những tình trạng sức khỏe khác. Việc theo dõi sức khỏe từ xa được tự động kiểm soát suốt 24/7. Những con số thu được, sẽ lập thành một hồ sơ bịnh án.

Khi phát hiện những dấu hiệu không tốt, thì được báo ngay với thiết bị tự động của bác sĩ. Và việc chữa trị được thực hiện ngay tức khắc.

Trường hợp cấp cứu.Biện pháp cấp cứu thông thường hiện nay có thể gặp những bất tiện về thời gian xe cứu thương đến nhà bịnh nhân. Sự chậm trễ có thể tạo ra những tai biến ngoài ý muốn, hoặc tử vong trên đường đi.

Với những tiến bộ vượt bực của thế hệ 5G, xe cứu thương sẵn sàng chạy đến địa chỉ đã được cho vào bộ nhớ. Các bác sĩ đã có sẵn bịnh án trong tay, nên rất thuận tiện cho việc chữa trị.

8*. Dùng hệ 5G để thiết lập thiết bị “điện thông minh” trong nhà

Thiết bị điện thông minh trong nhà là sự kết hợp với những bộ cảm biến về tiếng động (Sound sensor), cảm biến về ánh sáng (Light sensor) là một hệ thống kỹ thuật tự động hóa, kết nối với những dụng cụ chạy bằng điện trong nhà, để tự động giải quyết rồi thông báo cho chủ nhà qua điện thoại. Điểm đặc biệt của hệ thống điện tinh khôn trong nhà, là không cần bàn tay trực tiếp điều khiển của con người, như bấm vào remote control hay điện thoại, máy tính…

Thiết bị “Điện thông minh” trong nhà còn thông báo về kẻ trộm xâm nhập vào nhà, về khói và gas… Ví dụ như khi kẻ trộm vào nhà, đèn trong nhà bật sáng lên, các tấm màng tự động vén lên, hệ thống báo động vang lên…Và chủ nhà được thông báo, mặc dù đang ở xa.

Tóm lại, điện thông minh trong nhà đem lại sự an toàn và tiện nghi cho con người.

9*. Áp dụng hệ 5G trong “Nhà thông minh”

Nhà thông minh, (Smart home, Intellihome) có mục đích bảo đảm an toàn và an ninh cho gia đình của chủ nhà. Hệ thống nầy hoạt động 24/24, được lắp đặt các thiết bị điện và điển tử, tự động hóa, giao tiếp với chủ nhà ở bất cứ nơi nào có mạng di động.

10*. Áp dụng hệ 5G trong việc xây dựng thành phố thông minh

Thành phố thông minh hay đô thị thông minh (Smart city) là một khu đô thị được dùng những phương pháp điện tử, và những bộ cảm biến (Sensor) khác nhau để thu thập dữ liệu (Data) trong việc quản lý tài sản và tài nguyên của thành phố.

Đó là việc kiểm tra, giám sát mức độ ô nhiễm trong không khí, đo lường chất lượng không khí, nhằm kịp thời cung cấp thông tin cảnh báo cho người dân. Nhất trong thời kỳ dịch bệnh COVID-19 hoành hành. Như những người dân trong thành thị có nguy cơ nhiễm bệnh, hệ thống sẽ giám sát cũng như thông báo cho cơ quan chức năng nhằm ngăn chặn kiệp thời.

Dùng cảm biến theo dõi tình hình rò rỉ nước sạch. Hệ thống chiếu sáng công cộng. Kiểm soát giao thông, đỗ xe trên đường, liên lạc với xe tự hành, phát hiện tình trạng đường sá…

Tóm lại áp dụng hệ 5G, giúp việc quản lý thành phố một cách có hiệu quả hơn.
(Xem tiếp phần 2)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thế Hệ 5G (Phần 1) Bài viết của Trúc Giang Minnesota.

Những điều khiến TQ không đuổi kịp Hoa Kỳ- Tác giả Nguyễn Hải Hoành

Những điều khiến Trung Quốc
không bao giờ đuổi kịp được Mỹ

unnamed (2)

Người Trung Quốc giờ đây đang phấn khởi trước dự báo năm 2025 nước họ sẽ vượt Mỹ, trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới. Nhưng để vượt Mỹ một cách toàn diện thì không phải dễ, chính người Trung Quốc đang ngày càng nhận ra điều đó.

Tác giả: Nguyễn Hải Hoành.

Nhà kinh tế nổi tiếng Trung Quốc Long Vĩnh Đồ (Long Yong-tu, sinh năm 1945), Thứ trưởng Bộ Ngoại thương, nguyên trưởng đoàn đàm phán WTO của Trung Quốc, có kể lại chuyện ông  đọc trên báo Australia một bài viết nêu ra 3 câu hỏi về Trung Quốc.

Ba câu hỏi ấy chẳng khác gì gáo nước lạnh giội lên đầu vị Thứ trưởng họ Long; đó là :

1. Đến bao giờ mới có chuyện giới tinh hoa phần lớn các nước trên thế giới đều gửi con em họ sang Trung Quốc học, chứ không gửi sang Mỹ hoặc châu Âu?

2. Đến bao giờ mới có chuyện phần lớn dân các nước, nhất là giới trẻ, đều xem phim Trung Quốc, nghe nhạc Trung Quốc và đọc sách Trung Quốc?

3. Đến bao giờ những người tiêu dùng trên toàn cầu khi mua hàng sẽ chọn mua hàng Trung Quốc chứ không phải hàng Mỹ hoặc châu Âu?

Ông Long Vĩnh Đồ cho rằng 3 vấn đề này đánh trúng “chỗ hở sườn” trong sự phát triển kinh tế của Trung Quốc. Chỉ bao giờ nền kinh tế Trung Quốc phối hợp được sức mạnh mềm với sức mạnh cứng thì Trung Quốc mới thực sự có ảnh hưởng trên thế giới. Rõ ràng, sức mạnh mềm của nước này hiện nay chưa theo kịp sức mạnh cứng, cho nên nói Trung Quốc đuổi kịp hoặc vượt Mỹ vẫn là chuyện khá xa vời.

Khái niệm Sức mạnh mềm (Soft power) do Joseph Nye nêu ra gồm sức mạnh trên nhiều mặt văn hoá, giáo dục, môi trường pháp lý, năng lực quản trị của Nhà nước, hình ảnh của quốc dân, v.v… Dễ thấy, sức mạnh, sức thu hút của Trung Quốc trong các lĩnh vực kể trên, nhất là văn hoá, còn khá yếu. Thế giới còn cảm thấy xa lạ với văn hoá truyền thống Trung Quốc mà đại diện là nhân vật Khổng Tử cùng mấy bộ tiểu thuyết cổ như Tam Quốc Diễn nghĩa, Tây Du Ký, Thuỷ Hử … hoặc y học cổ truyền Trung Y. Các học thuyết tư tưởng Khổng Mạnh, Lão Tử,  Mặc Tử, v.v… của họ không có mấy tác động tới sự tiến bộ của loài người…

Lãnh tụ Singapore Lý Quang Diệu nói, có một thứ Trung Quốc không bao giờ đuổi kịp Mỹ. Đó là tiếng Anh : người Mỹ dùng tiếng Anh còn người Trung Quốc thì không. Mà tiếng Anh lại là thứ ngôn ngữ chủ yếu dùng trong giao dịch kinh tế, thương mại và khoa học kỹ thuật. Vì thế từ thập niên 1960, ông Lý đã thực thi chủ trương công dân Singapore phải biết tiếng mẹ đẻ và tiếng Anh. Mới đầu nhiều người phản đối chủ trương này của ông Lý, nhưng bây giờ cả thế giới ai cũng khen ông có tầm nhìn, nhờ đó Singapore mới tiến nhanh như thế.

Một nhược điểm nữa của Trung Quốc là thiếu người tài. Ai cũng biết hiện nay nước này nhất thế giới về ngoại tệ dự trữ – hơn 3 nghìn tỷ USD, chưa kể đang nắm giữ hơn 1000 tỷ USD trái phiếu Chính phủ Mỹ. Thế nhưng, Trung Quốc chẳng khác gì bà già được con cháu gửi cho nhiều tiền mà chẳng biết dùng tiền ấy để đầu tư vào đâu. Bà lão ấy đã không biết chơi chứng khoán, cũng không biết kinh doanh nhà đất, lại chẳng biết buôn ngoại tệ; rốt cuộc bà đem tiền gửi tất vào ngân hàng, dù biết rằng làm thế chỉ thiệt cho mình, lợi cho ngân hàng thôi. Trung Quốc nay đem số ngoại tệ tương đương hơn một phần ba lượng ngoại tệ dự trữ của nước mình đi mua công trái Mỹ để hưởng lãi suất vài phần trăm mỗi năm, thì chỉ có lợi cho Mỹ, vì Mỹ đang thiếu tiền thì lại được Trung Quốc chủ động cho vay.

Tại sao Trung Quốc cứ khư khư ôm bọc tiền mà không đầu tư vào những vụ kinh doanh ê hề trên thị trường tài chính quốc tế, nhất là những vụ mua lại các công ty lớn bị phá sản?

“Chúng ta chẳng thể hôm nay mua công ty Morgan Stanley, ngày mai mua công ty Lehman Brothers; bởi lẽ chúng ta không có nhân tài làm nổi những việc ấy!” – Long Vĩnh Đồ giải thích.

Đầu tư trên thị trường tài chính là việc vô cùng khó, nếu dại dột là mất hàng tỷ đô la như chơi. Năm 2009, khi công ty đầu tư Lehman Brothers xin phá sản, một số công ty lớn của Trung Quốc gồm Bảo hiểm Bình An đã dự định bỏ 1,6 tỷ USD mua lại Lehman, nhưng không đi tới cùng vì sợ “hố”. Hiện nay, không ít công ty lớn của Trung Quốc đang sử dụng Giám đốc điều hành (CEO) hoặc Giám đốc Tài chính (CFO) người phương Tây. Chẳng hạn Tập đoàn Máy tính lớn nhất Trung Quốc là Lenovo Group Ltd, năm 2005 mua lại bộ phận sản xuất máy tính cá nhân toàn cầu của công ty IBM (Mỹ), trở thành nhà chế tạo máy tính cá nhân lớn hàng đầu toàn cầu, năm 2020 có doanh số hơn 50 tỷ USD. Năm 2005, Lenovo thuê một người Mỹ là ông Stephen Ward (người của IBM) làm CEO.

Trong khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008, khá nhiều công ty Trung Quốc đã sang Mỹ tìm kiếm … các chuyên gia tài chính đang bị thất nghiệp.

Long Vĩnh Đồ cho biết Trung Quốc không thể dự trữ ngoại tệ bằng đồng Euro hoặc đô la Australia, vì như thế rất mạo hiểm. Ai chả biết nền kinh tế Mỹ ổn định nhất thế giới, đầu tư tiền rảnh rỗi vào trái phiếu Mỹ là cách đầu tư chắc ăn nhất, tiền lãi hàng năm được thanh toán sòng phẳng. Người Nhật đi trước người Trung Quốc về khoản đầu tư này. Nực cười là rốt cuộc, có đại biểu Quốc hội Trung Quốc thấy tình thế nghe có vẻ bí quá bèn đề nghị đem số ngoại tệ dự trữ ấy chia đều cho toàn dân! Nhưng người dân dùng đô la để làm gì? Lại cất vào két sắt thôi.

Thiếu các chuyên gia tài chính giỏi tầm cỡ quốc tế là một nhược điểm lớn của Trung Quốc. Nhưng nước Mỹ lại có rất nhiều các nhân tài như vậy, chưa kể khoa học công nghệ Mỹ có khả năng sáng tạo đổi mới rất mạnh, vì thế trong cuộc khủng hoảng tài chính từ năm 2008 cho tới nay, nền kinh tế thực của Mỹ chưa bị thiệt hại gì đáng kể, trong khi kinh tế châu Âu lao đao mãi không thôi.

Tạp chí “Proceedings of the National Academy of Sciences of the United States of America” (PNAS) của Viện Khoa học Quốc gia Mỹ số ra ngày 14/5/2012 có đăng báo cáo Mức độ hài lòng với cuộc sống của Trung Quốc 1990-2010 (China’s life satisfaction, 1990-2010). Báo cáo cho biết cho dù trong 20 năm qua kinh tế Trung Quốc phát triển nhanh chóng nhưng mức độ hài lòng với cuộc sống của người dân nước này năm 2010 lại thấp hơn 20 năm trước.

Tác giả bản báo cáo nói trên là một nhóm chuyên viên do giáo sư Richard A. Easterlin ở Đại học Nam California đứng đầu. Trong 4 tác giả này có một chuyên gia Trung Quốc đại lục.

Kết luận kinh tế phát triển nhanh mà mức độ hài lòng với cuộc sống lại sút kém do bản báo cáo này đưa ra đã chứng minh tính đúng đắn của lý thuyết Kinh tế học hạnh phúc (Happiness economics), còn gọi là Nghịch lý Easterlin (Easterlin Paradox) do Richard A. Easterlin (sinh 1926, giáo sư tại University of Southern California) lần đầu nêu ra năm 1974 : Khi thu nhập tăng trưởng đến một mức nào đó thì cảm giác hạnh phúc của người dân sẽ không tăng theo sự tăng trưởng thu nhập. Báo cáo Easterlin tiến hành điều tra phân tích rất chi tiết, rất khoa học, có sử dụng kết quả điều tra của các đơn vị như World Values Survey, Asiabarometer, Gallup World Poll, Horizon Research Consultancy Group, Pew Research Center.

Theo thống kê chính thức, trong 20 năm từ 1990 đến 2010, GDP bình quân đầu người Trung Quốc từ 1644 Nhân dân tệ (1 RMB tương đương 0,15 USD) tăng lên tới 29.748 Nhân dân tệ, tăng 18 lần, thế nhưng cảm giác hạnh phúc của người Trung Quốc lại kém đi. Đây là một vấn đề rất đáng suy nghĩ.

Rõ ràng kinh tế Trung Quốc đang phát triển nhanh, GDP bình quân đầu người nước này năm 2020 tăng lên tới 72.447 Nhân dân tệ, tương đương 10.504 USD. Trong khi sức mạnh cứng tăng trưởng khả quan như vậy thì sức mạnh mềm của Trung Quốc lại tăng trưởng chậm, nhất là sức mạnh văn hoá.

Chính ông Tập Cận Bình năm 2016 từng nói “Trên các lĩnh vực mệnh đề học thuật, tư tưởng học thuật, quan điểm học thuật, tiêu chuẩn học thuật và lời lẽ học thuật, năng lực và trình độ của ta còn chưa tương xứng lắm với quốc lực tổng hợp và địa vị quốc tế của ta.” Ông kêu gọi : “Chúng ta phải kiên định sự tự tin về đường lối Chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc, tự tin về lý luận, tự tin về chế độ, nói cho đến cùng là phải kiên trì tự tin về văn hóa”.

Bài “Vì sao người Trung Quốc thiếu tự tin văn hoá” có nêu ra một số nguyên nhân làm cho nền văn hoá Trung Hoa ít có ảnh hưởng toàn cầu và do đó dân Trung Quốc chưa tự tin về nền văn hoá của mình. Văn học, kể cả văn học truyền thống và văn học đương đại của họ, đều chưa có sức hút tương xứng trên thế giới. Trung Quốc đưa Khổng Tử ra làm nhân vật tượng trưng cho văn hoá nước mình, nhưng chính họ từng vùi dập vị “thánh nhân” ấy. Chữ Hán được coi là biểu trưng của văn hoá Trung Hoa cũng bị chính họ phê phán thậm tệ và bị cải cách lên xuống trong cả trăm năm. Tiếng Trung Quốc cho dù được miễn phí dạy trên toàn cầu đi nữa, e rằng cũng vì khó học khó dùng mà khó lòng giành được vai trò ngôn ngữ thông dụng toàn cầu của tiếng Anh.

Tóm lại, Trung Quốc đã tự thấy họ còn phải phấn đấu lâu dài trên tất cả các mặt, sao cho giành được sự phát triển toàn diện nhằm đuổi kịp Mỹ.

Theo NGHIÊN CỨU QUỐC TẾ 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Những điều khiến TQ không đuổi kịp Hoa Kỳ- Tác giả Nguyễn Hải Hoành

Giọt Thu Rơi – Thơ TPK

chiec-la

GIỌT THU RƠI

Mùa thu về nhè nhẹ
Lãng đãng lá vàng rơi
Trên bầu trời xanh thẳm
Mây trắng lững lờ trôi
Rừng cây thay sắc áo
Rực rỡ đỏ tím vàng
Mặt hồ in bóng nắng
Chiều xuống đẹp mơ màng
Sương lam mờ bóng nguyệt
Huyền ảo ánh trăng vàng
Vẳng nghe hồn sâu lắng
Tiếng sáo diều mênh mang
Nhớ mùa thu thuở nhỏ
Vui chơi dưới trăng rằm
Tay cầm đèn nhảy múa
Tung tăng khắp xóm làng
Rồi mùa thu Việt Bắc
Sương đêm xuống não nề
Gieo sầu trên láng trại
Nằm thổn thức nhớ quê
Giờ mái đầu sương điểm
Ngồi nhìn giọt thu rơi
Gợi về bao nỗi nhớ
Bàng bạc một phương trời.

TPK

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Giọt Thu Rơi – Thơ TPK

Tên Việt, tên Mỹ – Khổ Vì Cái Tên! (ST)

Tên Việt, tên Mỹ – Khổ Vì Cái Tên!

Số là tui có một cô bạn gái người gốc Bắc kỳ 9 nút, cô ta được Cha Mẹ đặt cho một cái tên cúng cơm rất đẹp, Đái thị Xinh Xinh, (bên nội của cô ta chính là họ hàng của nhà thơ Đái Đức Tuấn).

Ấy thế mà cô ta có được yên thân với lũ quỷ bạn học cùng lớp đâu.

Cô ta rất đau khổ vì cái tên Đái thị Xinh Xinh của mình trong suốt những năm tiểu học. Ngày nào cũng bị các bạn đem cái tên của cô ta ra trêu cợt để làm trò đùa, như là con Đái nầy, con Đái nọ, Đái mà xinh cái gì, con nhỏ nầy khai quá!…v.v…

Bẳng đi một thời gian, sau năm 1975, đám nhóc tì tụi tui năm xưa tình cờ gặp lại nhau tại Ca li ở tuổi thất tuần, trong số nầy cũng có mặt vợ chồng cô bạn học cũ, họ Đái tên Xinh Xinh năm xưa.

Hôm gặp nhau, bạn bè ai cũng vui vẻ giành nhau nhắc lại chuyện cũ, và đương nhiên phải có câu chuyện cô bạn họ Đái năm xưa….

Thiệt là “chạy Trời không khỏi nắng”, cô ta vừa cười, vừa thở, vừa than, rằng….

Cái số của Xinh nó không xinh chút nào, các bạn có biết không, sau khi được chồng bảo lãnh sang Mỹ đoàn tụ, sau đó mình thi đậu vô Quốc tịch, họ cho mình được đổi tên, Mình tính không đổi, nhưng tên của mình người Mỹ họ không phát âm nghe không rõ, cho nên mình quyết định thay tên XINH XINH thành một tên Mỹ, tên Cindy, và từ đó mình bắt đầu có tên mới, tên CINDY ĐÁI.

Có một lần ngồi chờ nhận Va li bị lạc tại phi trường, họ kêu tên mình mãi mà nào mình có hay biết chi!!!

– Có ai Xin Đi Đái không ? Ai là Xin Đi Đái ???

Thiệt là “Quỷ tha ma bắt“ cho mình, ở trong xứ đã khổ vì cái họ Đái, cho đến nửa thể kỷ sau, ra nước ngoài ngỡ rằng sau khi đổi tên sẽ được yên thân, ai dè lại phải gặp thêm cái nạn tên họ lần nữa…

XIN ĐI ĐÁI (CINDY Đái, người Mỹ gốc Mít)

(ST)

  • Ghi lại theo lời kể của chị Đái thị Xinh Xinh, tự Cindy Đái, một “nạn nhơn“ của cái vụ đặt tên. (Bài sưu tầm của Hoa Phạm/Hội CSQG Nam CA)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Tên Việt, tên Mỹ – Khổ Vì Cái Tên! (ST)

NHỮNG SỰ THẬT CẦN PHẢI BIẾT- Tác giả Đặng Chí Hùng.

NHỮNG SỰ THẬT CẦN PHẢI BIẾT

( Quyển sách nầy được lưu giử lại để làm tài liệu chống cộng. Trước khi vào các link bên dưới để xem từng đề mục, chúng ta hảy nghe ông Nguyen Lien Huong nói gì về tác giả của cuống sách “Những Sự Thật Cần Phải Biết” này nhé.)

DC Hung

Không biết quý vị còn nhớ Ông Đặng Chí Bình hiện ở Mỹ là tác giả của tác phẩm hồi ký tù CS ” THÉP ĐEN ”  nổi tiếng rất là hay , và Ông Đặng Chí Bình là người mà cậu thanh niên Đặng Chí Hùng ngưỡng mộ nên Ông ĐCB đã đồng ý để câu lấy 2 chữ đầu của tên Ông là Đặng Chí cho bút hiệu ĐẶNG CHÍ HÙNG

Ông Đặng Chí Bình từng có đến canada thăm cậu Đặng Chí Hùng nầy .

( Nếu ai chưa đọc, “Thép Đen “xin tìm đọc để thấy mấy chục năm dài đăng đẳng trong ngục tù VC Ông Đặng Chí Bình đã sống thế nào , hay vô cùng có thể nói lôi cuốn từ đầu đến cuối , tác phẩm Thép Đen ” gồm 2 tập )

Nói về cậu Đặng chí Hùng nầy , cậu đã viết rất nhiều sách nói về tội ác của Đảng CSVN , và chế độ XHCNVN phải nói hay nhất là những quyển liên quan đến tên già gian ác Hồ Chí Minh

” Tội ác của HCM và Đảng CSVN ” cậu Hùng viết quyển nầy rất hay .

Câu này hiện sống tai Toronto Canada , cậu là tội phạm chính trị bị truy nã chỉ còn không đầy 2 tiếng nữa là cậu bị Chính phủ Thailan trao trả cho VC rồi .

 May mắn nhờ sự can thiệp của Thượng Nghị sĩ Canada gốc Việt Ngô thanh Hải và cộng đồng người Việt, nhất là cựu Quân nhân VNCH ở Canada rất là kịp thời .

Cậu được lên máy bay chỉ cách chưa được 2 tiếng đồng hồ là bị dẫn độ về lại thiên đường VC rồi .

Cậu Hùng này được Cựu Quân Nhân VNCH ở Canada giúp đỡ rất nhiệt tình

Khách quan mà nói , cậu này rất siêng năng chào cờ ngày 30 tháng 4 đen. Lần nào đi chào cờ tôi đều gặp cậu Hùng này cả. ..dù mưa gió lạnh lẽo thế nào cậu đều có mặt .

Có lẽ từ sau vụ nấm độc Như Quỳnh , cậu Hùng đã thông báo mọi người nên đề phòng nấm độc NQ nầy , lúc đó tôi không tin có phản đối lại cậu Đặng chí Hùng nầy , vì gia đình nấm độc NQ có cha là Thương phế binh, ông ngoại qua Mỹ diện HO. Vậy mà nào ai có ngờ nấm độc NQ nầy lại là tay trong tay ngoài cửa VC chứ ! Sau đó thì bộ mặt thật của nấm độc NQ mới lộ diện ra . Một bài học để đời cho tôi chớ vội tin vào gia cảnh …

Bệnh dịch Covid này không ai gặp ai , nên đến hôm nay cũng không biết cậu Hùng này còn sống hay chết (Covid không phải chỉ viếng thăm người lớn tuổi đâu mà , cả người trẻ cũng bị )

Nguyen Lien Huong

NHỮNG SỰ THẬT CẦN PHẢI BIẾT

– Những sự thật không thể chối bỏ (phần 1): Sự thật thứ nhất: Bác đi tìm đường cứu nước hay cứu bác?
– Những sự thật không thể chối bỏ (phần 2): Hồ Chí Minh và vai trò trong công hàm 1958
– Những sự thật không thể chối bỏ (phần 3): Bác, đảng đã bán những gì và để làm gì?
– Những sự thật không thể chối bỏ (phần 4): Bán nước trong thân phận kẻ chư hầu
– Những sự thật không thể chối bỏ (phần 5): Nỗi đau Cải Cách
– Những sự thật không thể chối bỏ (phần 6): Dù đau đớn nhưng vẫn là sự thật!
– Những sự thật không thể chối bỏ (phần 7): Trí thức cũng chẳng khá hơn
– Những sự thật không thể chối bỏ (phần 8): Ai đã bán đứng cụ Phan Bội Châu?
– Những sự thật không thể chối bỏ (phần 9): Hồ Chí Minh và âm mưu Hán hóa toàn diện Việt Nam
– Những sự thật không thể chối bỏ (phần 10): Triệt tiêu nội lực dân tộc
– Những sự thật không thể chối bỏ (phần 11): Lừa dối dân tộc!
– Những sự thật không thể chối bỏ (phần 12): Sự ngụy tạo về “Mùa Thu Độc Lập”
– Những sự thật không thể chối bỏ (phần 13): Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn!
– Những sự thật không thể chối bỏ (phần 14): Ai làm cho Huế đau thương?
– Những sự thật không thể chối bỏ (phần 15): Người chồng, người cha tồi tệ
– Những sự thật cần phải biết (Phần 1): Sự thật về “đại thắng mùa xuân 1975”
– Những sự thật cần phải biết (Phần 2): Việt Nam Cộng Hòa – Nạn nhân của chính sách “Ngậm máu phun người”
– Những sự thật cần phải biết (Phần 3): Nổi dậy hay khủng bố?
– Những sự thật cần phải biết: (Phần 4): “THỐNG NHẤT” : Xin đừng xảo ngôn!
– Những sự thật cần phải biết (Phần 5): Mất!
– Những sự thật cần phải biết (phần 6): Lê Duẩn: Kẻ đồng mưu với Hồ Chí Minh tàn sát nhân dân Mậu Thân 1968
– Những sự thật cần phải biết (phần 7): Lê Duẩn và sự tàn ác với quân dân cán chính Việt Nam Cộng Hòa
– Những sự thật cần phải biết (Phần 8): Lịch sử lá cờ của dân tộc
– Những sự thật cần phải biết (Phần 9): Tinh thần dân tộc tiếp nối qua lá cờ
– Những sự thật cần phải biết (phần 10): Cộng sản Việt Nam: Trẻ em là một con bài trong chiến tranh
– Những sự thật cần phải biết (phần 11): Sinh Bắc tử Nam
– Những sự thật cần phải biết (phần 12): Tại sao không là lễ phục Dân Tộc?
– Những sự thật cần phải biết (phần 14): Trường Chính – Kẻ vong bản
– Những sự thật cần phải biết (phần 15): Đàn áp và phỉ báng tôn giáo
– Những sự thật cần phải biết (phần 16): Võ Văn Kiệt: Kẻ ăn vụng biết chùi mép
– Những sự thật cần phải biết (phần 17): Ngu dân và mị dân để giữ đảng
– Những sự thật cần phải biết (phần 18): Tội ác của Phạm Văn Đồng
– Những sự thật cần phải biết (phần 19): Sự thật về Võ Nguyên Giáp
– Những sự thật cần phải biết (phần 20): Nông Đức Mạnh – Tội ác của một đứa con rơi
– Những sự thật cần phải biết (phần 21): Song tướng “cướp” Trần Quốc Hoàn và Mai Chí Thọ
– Những sự thật cần phải biết (Phần 23): Phan Văn Khải – Từ bàn tay nhuốm máu đến bán nước
– Những sự thật cần phải biết (phần 24): Tội bán nước và tham nhũng có tên Lê Khả Phiêu
– Những sự thật cần phải biết – (Phần 25): Lê Đức Anh – Kẻ bán nước
– Những sự thật cần phải biết (Phần 27): Nguyễn Văn Linh – Một trong những ông trùm bán nước
– Những sự thật cần phải biết (Phần 28): Nguyễn Minh Triết : Anh Hề bán nước
– Những sự thật cần phải biết (Phần 29): Trần Đại Quang – Khai man để đàn áp
– Những sự thật cần phải biết – (Phần 30): Bằng chứng bán nước toàn diện của cộng sản Việt Nam
– Những sự thật cần phải biết (Phần 32): Gián điệp và bán nước – Nguyễn Chí Vịnh
–Những sự thật cần phải biết (Phần 33): Nô tài cho giặc – Phùng Quang Thanh
– Những sự thật cần phải biết (Phần 34): Tư “Sâu” tham nhũng và bán nước
– Những sự thật cần phải biết (Phần 36): “ X, Hai Bao, Mr.Bean” : Tất cả chỉ là một tên tội đồ.
– Những sự thật cần phải biết (Phần 37): Trọng lú – Thái thú cho giặc
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở NHỮNG SỰ THẬT CẦN PHẢI BIẾT- Tác giả Đặng Chí Hùng.

Thê Thảm Cuộc Đời _ Hồi ký của Thiếu Úy CSQG Lê Thị Xuân

THÊ THẢM CUỘC SỐNG

Của Cựu Thiêu-Úy CSQG Lê Thị Xuân

Tối ngày 28.6.1975 tôi bị di chuyển cùng chung với chồng từ Trường Trung Học Nguyễn Bá Tòng tại Sài Gòn đến Trại Suối máu được khoảng 1 tuần lại bị chuyển đến trại Thành Ông Năm, Hóc Môn do đoàn 500 cộng sản quản lý. Trại chia làm hai khu: Nữ Sĩ Quan (SQ) Quân đội, và Nữ SQ/ CSQG. Chúng tôi bị chia thành từng B và phải chen lấn lẫn nhau trong một diện tích chỉ đủ để nằm nghiêng .

 Lúc nầy tôi mang thai cháu đầu lòng gần 7 tháng. Đây là thời gian thai nhi phát triển, nên thai phụ cần được nghĩ ngơi, thoãi mái, tránh bị những áp lực và thai phụ cần phải được thực phẫm dinh duỡng vừa tinh khiết vừa đầy đủ. Nhưng với tôi thì hoàn toàn trái ngược. Ngoài môi truờng sống quá thiếu vệ sinh, lại phải ngồi nghe học tập, thảo luận. đấu tố.

 Thể chất mệt mõi, tâm trí lúc nào cũng lo sợ cho bản thân, cho gia đình, và cho chồng . Thai nhi càng lúc càng phát triển nên tôi thèm ăn lắm, nhưng bụng thì lúc nào cũng đói, dinh dưỡng chẳng có, áp lực càng lúc càng nặng và rồi hai chân tôi bị qụy, chỗ kín bị ra máu, không đuợc chữa trị hoặc thuốc men . Tôi đuối sức! Trước tình trạng sức khỏe tồi tệ và mạng sống của tôi bị đe dọa, ngày 12.8.75 Cộng sản (CS) thả tôi về với lý do :”tạm hoãn quản huấn vì sắp đẻ”(nguyên văn).

Về đến nhà thì ba mẹ và các em nhỏ của tôi đã bị lùa ra khỏi Sài gòn theo chương trình gọi là hồi hương lập nghiệp tại Sa-Đéc. Sức khỏe quá yếu, không đi được tôi đành ở lại căn nhà củ (bấy giờ thì gia đình thím tôi đang ở). Đến đầu tháng 9.75 đau chuyển bụng, tôi đến bảo sanh viện Từ Dũ . Sau khi sinh cháu bé, tôi mệt lắm, nhưng gắng gượng xem mặt cháu, biết cháu là gái, thấy khuôn mặt con hao hao giống bố, lòng mình dâng nỗi nhớ chồng và dào dạt thương con, tôi ôm con vào lòng và ngất đi vì bị băng huyết.

Tĩnh dậy tôi trở về tâm trạng củ, May mắn cho tôi là CS chưa kịp đưa người của chúng vào nên nhân viên và bác sĩ vẫn còn tấm lòng nhân ái và phong cách Miền Nam và nhờ đó tôi thoát khỏi luỡi hái tử thần. Vì lý lịch, nên tôi bị tống ra khỏi bịnh viện sau 4 ngày mặc dầu tôi còn yếu và cháu bé gầy guộc chỉ được 2kg. Tôi lại phải bé cháu tìm đường về Sa Đéc.

Khi chiếc tàu đò đậu trước cửa nhà, lòng tôi càng thêm não nề. Đây là khu hoang địa, xưa kia là khu oanh kích tự do và không có dân cư, vì thế vùng nầy có rất nhiều hố bom. Thấy gia đình lam lũ, tôi vô cùng xót sa, vì vậy tôi ráng sức phụ giúp gia đình và tôi lại thêm lần nữa ngã qụy. Đúng vào thời gian nầy, khi cháu được hơn một tháng thì mẹ con tôi bị bắt trở lại trại giam.

Sáng hôm ấy ,đang cho con bú, tôi nghe tiếng ghe máy và tiếng người, rồi tiếng chân dồn dập nhảy lên bờ. chạy phía nhà tôi. Sống trong vùng cộng sản kiễm soát tâm trạng tôi luôn luôn hồi hộp lo sợ..

Đang còn hoang mang thì tôi đã thấy họ bao quanh nhà tôi, những mũi súng chĩa thẳng vào mẹ con tôi. Tôi nghe đạn lên nòng và tiếng ra lịnh của tên chỉ huy: – Các đồng chí vào vị trí sẳn sàng tác chiến.

Sau đó tiếng quát ra lịnh: – Chị Lê Thị Xuân, tuyệt đối tuân theo mệnh lệnh, không được chống đối, chấp hành lệnh quản chế, thì sẽ đuợc cách mạng khoan hồng !

Tiếp theo là hai tên có võ trang tiến sát vào giường mẹ con tôi. Tôi biết là tôi đã bị bắt. Tôi không sợ, nhưng tôi thương con quá, phần không muốn phải xa con, phần sợ con phải chịu cảnh lao tù. Tôi thật sự lúng túng vì cả nhà tôi đang làm ngoài ruộng. Tôi ngỏ ý chờ người nhà tôi về.. Nhưng chúng nhất định không cho. Bị thúc hối quá cấp bách; tôi chỉ viết vội là đã bị bắt lại cho gia đình biết, rồi gom nhanh ít tả lót, ít quần áo, vật dụng cho hai mẹ con và theo chúng xuống xuồng máy giữa hai hàng súng “ dàn chào bảo vệ”của chúng.

 Sau nầy tôi biết tên hung tợn chỉ huy cuộc vây bắt hai mẹ con tôi tên là Hiếu. Tôi đã có lần gặp hắn tại sài gòn trong nhà người cùng quê với mẹ tôi. Người nầy là SQ Quân Lực VNCH che chở cho hắn trốn quân dịch, lúc ấy hắn làm phụ thợ hồ.Trước ngày tôi định cư tại Mỹ thì hắn là Phó chủ tịch Nông nghiệp huyện Thạnh Hưng, tỉnh Đồng tháp và dĩ nhiên là rất hống hách, ngang tàng và giàu có.

Bọn chúng chở hai mẹ con tôi về trại giam Đám Lát thuộc huyện Lấp Vò, Tỉnh Đồng Tháp. Trại giam nằm trên gò đất, chung quanh có nhiều hàng rào giây kẽm gai bao bọc, chúng cẩn thận gài mìn và chất nổ đề phòng sự trốn trại của tù. Trại nầy giam đủ thứ thành phần từ SQ chế độ củ, tôn giáo, đảng phái chính trị… đến thường phạm. Vì có con nhỏ nên chúng cho mẹ con tôi ở riêng một góc xó nhà bếp. vách nhà làm bằng đất sình trộn với trấu, nên hôi hám và nhiều bụi dơ; gió mang theo hơi nóng làm rát da.

 Tôi mượn nhà bếp hai tấm bao bố gạo làm chiếu và mền đắp cho con, còn mình thì nằm hẳn trên đất. Mỗi buổi chiều mẹ con tôi đuợc nữ quản giáo dẫn xuống một cái đìa nhỏ để tắm giặt. Vì cái đìa nhỏ nầy khi nuớc triều cường mới có chút ít nuớc từ sông cái tràn vào, do vậy mà những chất dơ bẩn không kịp thóat ra, vì thế nuớc có màu đen của dơ, màu váng của phèn; mùi hôi thối luôn luôn phản phất, đó cũng là mần mống bịnh hoạn.

Thức ăn không đủ nuôi cơ thể thì làm sao có sữa để nuôi con! Vì thế, các bạn tù đồng ý cho tôi mỗi ngày đuợc lưng chén nuớc cơm có lẫn dăm hạt gạo đang sôi để phụ cùng với giòng sữa hiếm hoi nuôi con. Phải sống trong hoàn cảnh tù đày dưới chế độ cộng sản mới hiểu thế nào là đói, mới hiểu giá trị miếng ăn và mới hiểu đó là sự hy sinh, là tấm lòng nhân ái mà Xã hội Quốc Gia đã giáo dục cho họ.Tôi biết ơn các bạn tù, cơn đói không lúc ngưng dày vò, trí óc chỉ ước mơ đến chưyện ăn, như mơ được một chén cơm lưng, thẻ đường, hột muối, giọt mỡ. Ôi miếng ăn sao “vĩ đại” đến thế!

Ngoài cái đói triền miên hành hạ, tôi lại phải đối phó với muỗi. Khi bóng đen tràn tới cũng là lúc từng đàn muỗi xuất hiện. Chiếc mùng củ lúc mang theo, bây giờ cũng rách mục như số phận làm người trong xã hội “thiên đường”cộng sản.

Tôi ngậm ngùi thương con, tôi lo cho sự an nguy của chồng, tôi lo cuộc sống lao đao vất vả của gia đình, thấy nhớ ba mẹ và các em thơ dại của tôi, tôi tội nghiệp cho bà mẹ chồng hiền lành và nỗi bất hạnh triền miên đè lên số phận bà. Dường như giọt lệ lúc nào cũng lưng lưng trong khóe mắt, thế nhưng miệng tôi thì lúc nào cũng phải nói những điều trái ngược. Tôi cảm thấy danh dự xúc phạm.

Do thiếu thốn vật chất, tinh thần hoang mang lo sợ cho tương lai mờ mịt tối tăm, và thương nhớ người thân – tôi mõi mòn và dần dần kiệt sức, con tôi thì còm cõi, yếu ốm và những bệnh do thiếu dinh dưỡng, do môi trường dơ bẩn cùng một lúc “hiệp đồng” tấn công trên cơ thể èo uột của tôi và của cháu. Lúc nầy thì con tôi tóc bết dính và lầy lụa mũ máu vì bị sài lở, toàn thân cháu nổi lên những mụn nhọt nhỏ li ti như muỗi đốt, móng tay như bị long và sứt rớt ra.

 Tôi lo qúa, có lần tôi đành gạt nước mắt chịu nhục, hạ mình xin thuốc cho cháu; nhưng bọn người lòng thú ấy dững dưng, lạnh lùng và dường như trong ánh mắt chúng có đôi chút hả hê của lòng thù hận. Ôi đồng bào tôi đấy, ôi phẫm cách và lòng khoan hồng “cách mạng!”. Sự tàn nhẫn kinh khiếp ấy của giống “người” cộng sản làm ý chí tôi bỗng dưng phát triển mãnh liệt. Tôi hối hận về sự cầu cứu ấy và tự nhủ lòng sẽ không bao giờ cầu xin chúng, tôi dấu nỗi uất hận, không để lộ niềm đau. Dù chưa biết phải làm gì, nhưng tôi thấy tinh thần của lý sinh tồn và lòng tự trọng trong tôi vững vàng lắm!

Sắp đến ngày 2 tháng 9, ngày “quốc khánh” của chúng, một phái đoàn không biết từ đâu và cấp nào đến thanh tra. Một người trong bọn họ thoáng dừng lại trước mẹ con tôi, chúng phải bịt mũi vì mùi hôi từ chúng tôi. Có lẻ nhờ thế mà hôm sau, ngày 30.8.76 mẹ con tôi được chúng thả ra về với ba năm quản chế.

Về đến nhà, toàn cả gia đình tôi sống héo hắc, cùng cực vất vả, thiếu thốn, tôi đã hiểu tại sao gần năm qua tôi không có thư từ tin tức gia đình và tôi lại khóc, lòng tự trọng thúc đẩy tôi lao hết sức mình cho gia đình, cho đứa con muôn ngàn yêu dấu. Cậu em trai kế tôi, có gia đình, còn ở Sài gòn cho tôi hay rằng người mẹ chồng hiền lành của tôi đã chết! Tôi thương và mừng cho bà đã thóat được cái thiên đường man rợ của lũ “vượn người cộng sản”Tôi nguyện cầu cho bà sớm đuợc về cõi Phật như lòng bà hằng mong ước. Tôi xót sa cho chồng và mẹ chồng trong cuộc chia tay vĩnh viễn không được gặp nhau, không đuợc có mảnh khăn trắng ghi nhớ công ơn của mẹ hiền, không được cầm tay đứa con trai út mà bà nuôi nhiều kỳ vọng. Bỗng dưng tôi thở dài ngao ngán cho kiếp nhân sinh trong chế độ cộng sản.

Gần sáu năm sau kể từ ngày tôi đuợc thả ra lần thứ hai thì chồng tôi mới đuợc thả về. Giây phút đầu tiên gặp lại nhau, tôi quá đỗi bất ngờ và cũng quá xúc động. Toàn thân tôi điếng lặng. Tôi không nhúc nhích, cử động gì được, nhưng giọt lệ cứ trào ra, lăn dài xuống đôi gò má thanh xuân nhưng đã sớm tàn phai vì thống thiết đau buồn, thương nhớ.

Nhìn cảnh nhà sa sút nghèo khổ và cũng vì có lần quá cơ cực tôi có ý định cùng với chồng con quyên sinh, nên ngay hôm sau ngày sum vầy chồng tôi bắt tay ngay vào cuộc sinh tồn. Dù cường quyền địa phuơng ngăn cản, luôn tìm cách tạo bất an, gây phiền nhiễu, khó khăn, anh vẫn quyết chí phấn đấu từ làm thuê, vác mướn, bán dạo… gia đình tôi lần hồi bước dần ra cảnh bần hàn. Nhưng tai họa lại ập đến! Bởi lao nhọc, thiếu thốn và di hại trong lao tù, chồng tôi ngã bịnh nặng.

Bác sĩ cho biết một lá phổi anh bị khô nước, màng phổi bị dày dính nên kéo và làm trái tim bị lệch và thòng xuống, có dấu hiệu bị sạn thận, xơ gan. Bao nhiêu tiền bạc do công lao và tiện tặn dành dụm được đành phải bỏ hết ra để giành mạng sống của anh. Khi đồng bạc cuối cùng ra đi thì may thay, tôi gặp đuợc người chị cả của chồng tôi, hai chị em thất lạc từ thửơ anh chưa chào đời. Nhờ chị, chúng tôi thoát nạn. Cũng kể từ đó, đời sống tinh thần và vật chất của chúng tôi được an ủi, khuyến khích và nâng đở. Chị trở thành người mẹ thứ hai của chồng tôi,

Bây giờ nhớ lại và kinh rợn chuỗi ngày sống dưới ách bạn tàn khắc nghiệt cộng sản , lòng bùi ngùi thương cảm cho những người còn trong nanh vuốt man rợ cộng sản. Xin thành kính nghiêng mình trước những bậc anh hùng đã ngã xuống vì muốn cứu nỗi bất hạnh của quê huơng, xin được khóc những giòng lệ cho những oan khuất tội tình của đồng bào tôi bị bàn tay máu của cộng sản áp bức khống chế.

Xin cúi đầu tưởng niệm hằng triệu chiến sĩ Quốc Gia, Con yêu của Tổ Quốc Việt Nam đã không tiếc máu xương vì sự an tòan và phát triển cho quê hương. Xin tưởng niệm 58 ngàn con yêu của Hiệp Chủng Quốc Hoa kỳ vĩnh viễn nằm xuống trong cuộc chiến đấu cho công lý và tự do trên quê huơng tôi.

Xin cám ơn lòng hào hiệp của nhân dân và chính phủ Hoa kỳ đã cứu vớt và đưa chúng từ nơi tối tăm bi thãm, nơi tầng cuối cùng của địa ngục trần gian đến vùng đất hứa, nơi tuyệt đối tôn trọng nhân phẫm con người.

Xin cám ơn những ân nhân, vì tình nhân ái, vì nghĩa Đồng Bào mà điển hình là bà Khúc Minh Thơ và hội Gia Đình Cựu Tù nhân Chính Trị đã không bỏ rơi chúng tôi, đã không quản ngại gian khó tốn kém cả tiền của lẫn thời gian và sức lực, đã ra sức đánh động cho Thế giới và nhất là Hoa kỳ biết nỗi thống hận ngút ngàn mà cộng sản trả thù bằng cách làm khô máu lên cuộc đời những chiến sĩ Quốc gia từng một thời dũng lược, nay đành thúc thủ.

Học theo Quý vị, chúng tôi nhất định không bỏ quên những người đang cần đến chúng tôi,. Chúng tôi giữ gìn đạo lý và văn hóa Việt, chúng tôi nuôi dưỡng giáo dục các thế hệ tiếp nối về lòng nhân bản để trở thành công dân hữu dụng cho xã hội và cho sự tồn vong của Dân tộc. Thiết nghĩ đó là lời cảm ơn chân thành và thiết thực nhất.

Việt Nam là Dân tộc biết mang ơn và biết cách đền ơn . Đó là lời cuối cùng của giòng tâm sự hôm nay của chúng tôi.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thê Thảm Cuộc Đời _ Hồi ký của Thiếu Úy CSQG Lê Thị Xuân

Nhạc Phẫm ” Tình Xa Tầm Với” của K1 Lê Hữu Nghĩa.

Mới các bạn thưởng thức nhạc phẫm “Tình Xa Tầm Với” sáng tác mới của Lê Hữu Nghĩa với tiếng ca của Quang Châu.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Nhạc Phẫm ” Tình Xa Tầm Với” của K1 Lê Hữu Nghĩa.

Toàn Bộ Lãnh Thổ VN Đã An Bài- ( TPK Sưu tầm)

TOÀN BỘ LÃNH THỔ VIỆT NAM ĐÃ AN BÀI

(Bài của một kỹ sư trong nước_ Facebook Dao Thu)

* Tôi có ông bạn học hiện làm cấp tướng trong hải quân VN, trong một buổi nhậu bạn bè với nhau cách đây gần năm ở HN, tôi hỏi hắn:

– Nếu bây giờ TQ tấn công trên biển, quân của cậu chống được bao lâu?

Hắn cười: – Chắc là chưa đến 3 ngày!

Tôi ngạc nhiên: – Sao chết nhanh vậy?

Hắn lại cười: – Không phải chết, mà là chạy. Thời đại này ai dại gì chết cho ai?!
– Đấy là cậu nói về lính hay sĩ quan các cậu?
– Cả hai, nhưng sĩ quan chạy trước rồi lính mới chạy. Lính không dám chạy trước, chỉ trốn thôi. Sĩ quan mới chạy!

Tôi thắc mắc: – Tại sao thế? Sĩ quan tinh thần cao hơn và phải làm gương cho lính cơ mà?

– Ừ, nhưng sĩ quan lại biết mình toàn nói dối và thấy cấp trên cũng toàn nói dối, và ai cũng biết chết thì mình chịu, thắng thì là chiến công của sếp, tội gì chết thế!

Chúng tôi cười xòa, coi đó là câu chuyện cười nói cho vui, vì ông bạn trong Bộ tổng tư lệnh ở HN, nó đâu có phải ra trận. Nhưng nó cũng không cần phải mua vui với tôi, nó nói có phần nhiều là thật. Thế nên tôi không quên được.

** Một bữa khác cách nay khoảng nửa năm, trong chuyến xe đêm từ Sài gòn đi Nha Trang, tôi nằm cạnh anh lính trẻ trả phép ra Cam Ranh. Tôi hỏi chuyện ăn ở sinh hoạt của lính nghĩa vụ ngoài đó, cậu thật thà:

– Cháu mới đi mấy tháng, nhờ có người quen chạy cho nên không phải đi vùng xa hay đảo, chỉ ra Cam Ranh thôi, được về phép đều đặn, nếu biết quà cáp cho sĩ quan còn được kéo dài phép…

– Thế sĩ quan có về phép thường xuyên không?

– Sĩ quan của bọn cháu toàn sĩ quan chuyên nghiệp, gia đình họ ở Cam Ranh và Nha Trang luôn, họ đâu cần về phép, và họ có thể về nhà bất cứ lúc nào họ muốn, họ sướng lắm!

– Thế họ có ăn chung với các cháu không?

– Không, họ có tiêu chuẩn riêng cao gấp mấy lần lính bọn cháu! Họ ăn ở riêng.

– Thế tiêu chuẩn lính bọn cháu thế nào?

– Chúng cháu được 35 ngàn đ/ngày. Thế là cao đấy chú ạ, vì chúng cháu gần Ban chỉ huy Vùng. Mấy thằng bạn cháu đóng quân ở xa kêu khổ lắm, chỉ có 28 ngàn đ/ngày thôi…

– Sao lại 28 ngàn thôi?!

Tôi xót xa nhẩm tính: lính của mình (công nhân và kỹ sư của tôi) ở công trường cảng Vân Phong này được ăn 80 nghìn đ/ngày mấy năm nay, vừa tăng lên 100 nghìn/ngày do giá cả lên, mà tôi vẫn thương chúng khổ, gầy và đen, bắt chúng cố ăn, và lo chúng bỏ về Sài gòn, thế mà chiến sĩ của ta…

Tôi lại đi lạc đề muốn nói rồi. Ý của tôi là, chỉ chuyện ăn ở thôi thì lính của ta cũng thiếu sức chiến đấu rồi, chưa nói đến tinh thần chiến đấu và niềm tin vào cấp trên. Giờ nói về chủ đề chính, đó là bảo vệ lãnh thổ.

Xin kể câu chuyện thứ ba.

*** Cách đây mấy tháng, chúng tôi tổ chức một đoàn “du lịch-thám hiểm” ra điểm Cực Đông trên đất liền của đất nước với mục đích: sống 1 ngày gần với Hoàng Sa Trường sa nhất (về kinh tuyến).

Trên đường ra đó rất khó khăn, chúng tôi không ngờ cả một khu bán đảo rộng lớn bờ biển dài mấy chục cây số không có dân cư (đã bị đuổi đi hết) và chỉ có một đồn biên phòng gần ra đến Cực Đông đã bị bỏ hoang do chuyển vào gần quốc lộ 1 hơn, trong khi đường lớn do các “dự án lớn” của Vinalines làm đến cũng bỏ hoang không bóng người. Hỏi ra mới biết đó là tình trạng của hàng loạt đồn biên phòng ven biển và trên các đảo khu vực bắc và nam Vân Phong (thuộc Khánh Hòa và Tuy hòa): họ đã rút hết vào sống trong dân và để quản dân, không quản bờ biển nữa.

Hàng trăm cây số ven biển không có ai canh giữ, nhưng đã có sẵn đường lớn nhập vào quốc lộ 1… Ngày xưa họ ở đó là để bắt người vượt biên thôi… Biên phòng VN không quay súng ra biển mà quay súng vào dân!

Câu chuyện thứ tư.

**** Đơn vị chúng tôi tham gia rất nhiều công trình lớn dọc biển miền Trung, lắp ráp các thiết bị kỹ thuật hiện đại (rất ít khi là đồ TQ). Từ Dung Quất đến Vũng Áng, Vân Phong… Nhưng ở đâu chúng tôi cũng thấy các đơn vị TQ đấu thầu và thắng thầu thi công phần các cầu cảng. Họ chỉ quan tâm và bỏ mọi giá để nhận phần việc đó dù rất nhiều đơn vị VN làm được, nhưng các nhà thầu VN phải lè lưỡi bỏ ra cho họ vì giá của họ quá thấp… Sau đó họ luôn quây kín cả một vùng biển và bờ biển lớn người khác không được vào để họ thi công trong suốt nhiều năm trời. Và họ thường là đơn vị làm kéo dài các dự án lớn nhưng không ai làm gì được. Khui họ thi công xong chúng tôi mới lên lắp thiết bị và không ai biết bên dưới và bên trong những khối bê tông cầu cảng lớn đó có những gì. Chúng tôi thường đùa nhau: ngày đầu tiên TQ đánh VN họ sẽ cho nổ tung tất cả những cầu cảng trị giá vài chục đến vài trăm triệu đôla này (có thể cặp mạn những con tàu lớn đến 150.000-300.000dwt)… hoặc họ sẽ khống chế chúng để làm điểm đổ quân tuyệt vời cho họ, ở Dung Quất, Vân Phong, Vũng Áng và nhiều nơi nữa phía Bắc và Nam, nhất là Kiên Giang cũng sẵn sàng…

Câu chuyện thứ năm.

***** Tôi về quê ngoại Quảng Ninh, ra Hạ Long gặp mấy thằng bạn cũ, trong đó có thằng đại gia chuyên san đất lấp biển bán nền, giầu không để đâu hết tiền, luôn khoe có đội xe máy húc ủi đào đông như quân nguyên, đã phá không biết bao đồi núi, lấp biết bao bờ vịnh san hô và sú vẹt để bán trên giấy, từ Quảng yên đến Hải Hà…

Gặp nó tôi bảo:

– Tội phá hoại môi trường Vịnh Hạ Long và Bái Tử Long của mày phải đem ra bắn!

Nó cười khẩy:

– Bắn tao hơi khó! Mày phải bắn hết các bí thư và chủ tịch, phó chủ tịch tỉnh và các huyện thị Quảng Ninh này đi đã!” Rồi nó quàng vai người ngồi cạnh:

– A, cả thằng này nữa, giám đốc Sở Tài nguyên Môi trường mà…

Tôi nhăn mặt nghĩ:
“Đúng thật, nếu muốn bảo vệ môi trường Vịnh Hạ Long và Bái Tử Long mà tôi yêu quí, tôi sẽ phải bắn gần hết các bạn học cũ của mình, vì chúng nó làm quan chức kín cả cái tỉnh quê ngoại của tôi rồi…” – rồi phán tiếp:

– Mày còn một tội lớn nữa! Mày đem xe máy lên Tiên Yên, Ba Chẽ (hai huyện núi biên giới) làm đường từ biên giới xuống cho bọn Ba Tàu sau này tấn công mình lần nữa. Lần trước nó tấn công không có đường xuống, tự vệ dân quân còn cản được. Lần này chỉ mấy giờ là xe nó chạy đến Hạ Long này, lại có cầu bãi chấy rồi; công chúng mày to quá!

Thằng đại gia xẹp hẳn xuống lẩm bẩm:

– Đéo mẹ bọn Tàu! Chúng nó còn không chịu trả tiền công cho tao nữa! Đau quá!
(Đó là nó chửi mấy công ty Đài loan thuê rừng 50 năm rồi thuê nó làm đường lên “trồng rừng”. Đường làm xong lên các đỉnh núi biên giới, không trả tiền và rừng tất nhiên cũng không…).

Và câu chuyện cuối cùng.

****** Tôi đưa con trai lên Tây Nguyên chơi, mới đây thôi, để nó biết Tây Nguyên là thế nào. Một số đoạn đi qua đường HCM mới làm lớn mà vô cùng hoang vắng, thằng bé rất ngạc nhiên hỏi:
– Bố, sao mình làm đường lớn đẹp dài mà không có người đi thì làm gì vậy?

Tôi thở dài chua chát:
– Bố chịu!
Chả lẽ nói ra ý nghĩ thật của mình:
“Bố sợ rằng người ta làm đường để sau này TQ đánh VN sẽ dễ chiếm và khống chế Tây Nguyên và rồi cả đất nước này?

Sau chuyến đi Tây Nguyên về, tôi đùa với con trai:

– Con ơi, hãy học tiếng Anh giỏi để du học rồi ở lại đó luôn, như chị con vậy đó. Bằng không, hãy học tiếng Tàu! Nước mình sắp thay quốc ngữ rồi!**

Vâng, ý của tôi là thế đó. Người Việt nam, chính quyền Việt Nam hiện nay đã chuẩn bị sẵn sàng địa thế và mọi cửa ngõ Lãnh thổ quốc gia để TQ tràn vào dễ dàng nhất. Tinh thần quân đội và sức chiến đấu thì rất bạc nhược rồi, cảnh giác thì… chĩa súng vào dân rồi.
Các “chiến sĩ” Trung Hoa cứ yên tâm mà đến!

Đất nước này dường như đã có chỉ đạo bàn giao nhẹ nhàng để sát nhập vào TQ?

Chỉ còn một điều:
Liệu dân Việt ta có chịu thế hay không???!!!

** đúng theo ước muốn, sách lược của đa số người Việt khá giả trong nước (?!)

(Bài viết của một Kỹ sư trong nước -Facebook Dao Thu)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Toàn Bộ Lãnh Thổ VN Đã An Bài- ( TPK Sưu tầm)

Một vài Kỷ Niệm về Phu Nhân Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu của Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng

Một vài Kỷ Niệm về Phu Nhân
Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu

October 22, 2021: Tiến Sĩ Nguyễn Tiến Hưng

DD-Ky-Uc-Ve-Ba-Thieu

Mùa Đông năm 1976, chúng tôi bay sang London, Anh, để thăm ông bà cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Trước khi đi, chúng tôi viết thư cho ông biết ngày giờ tới phi trường Heathrow và số chuyến bay. Ông trả lời là sẽ có người ra đón. Tới nơi thì vừa ra cửa đã thấy ông đứng ngay ở đó vẫy tay chào. Thật là cảm động gặp lại ông sau hơn một năm trời và sau bao nhiêu biến cố.

Sau khi bắt tay nhau thật chặt và trao đổi mấy lời thăm hỏi, ông tự lái xe đưa chúng tôi về nhà. Đây là một căn nhà nho nhỏ, xinh xinh nằm ở vùng Surrey, ngoại ô London. Một cái bảng treo trên cửa với mấy chữ khá lớn “The White House.” Chúng tôi hỏi ông là bảng này vẫn có từ trước hay ông treo vào? Ông nói villa bên này hay mang tên cho dễ nhận, và cái bảng này là của chủ cũ để lại. Ông tự tay xách giúp cái valise và đưa chúng tôi lên một phòng trên lầu hai, vặn hộp sưởi điện cho ấm, rồi dặn là nếu thấy vẫn còn lạnh thì cứ vặn thêm cái hộp sưởi thứ hai.

Buổi chiều hôm ấy ông nói nên đi ngủ sớm cho đỡ mệt sau chuyến bay dài từ Washington, DC và nói là sáng hôm sau thì cứ thủng thẳng lúc nào dậy cũng được.

Sáng hôm sau, từ trên tầng thứ hai xuống nhà, chúng tôi thấy ông đang đọc báo. Còn bà thì loay hoay trong bếp. Chỉ mấy phút sau đã thấy hai tô hủ tiếu đúng hương vị miền Nam và cà phê thơm phức bày trên bàn. Bà Thiệu là người Mỹ Tho mà hủ tiếu Mỹ Tho thì ngon có tiếng.

Bà mời chúng tôi tới ăn cho nóng. Khi hỏi sao bà không cùng ăn thì bà nói: “Tôi ăn rồi, để cho hai ông dễ nói chuyện.” Câu nói giản dị nhưng phản ảnh thật rõ cái lối sống của bà trong suốt thời gian 10 năm ông là người lãnh đạo của VNCH. Chúng tôi không biết nhiều nhưng có cảm tưởng là bà luôn luôn xa cách, không xen vào chính trị, vào những công việc của ông, chỉ đứng sau để lo cho gia đình và tham gia vào công việc xã hội. Trong thời gian chúng tôi làm việc ở Dinh Độc Lập thì ít khi thấy bà xuất hiện, kể cả khi Tổng Thống Thiệu tiếp khách xã giao ngoại quốc.

Ngồi xuống bàn ăn buổi sáng hôm ấy, thấy ông hết còn căng thẳng như những buổi ăn sáng hồi Tháng Ba, Tháng Tư năm trước. Chỉ hơn một năm không gặp mà thấy ông cũng có phần già đi, tuy phong độ vẫn còn chững chạc như ngày còn tại chức. Còn bà thì hầu như không thay đổi. Vẫn trẻ trung, vẫn dịu dàng, nồng ấm.

Lưu lại nhà ông bà cả tuần lễ, chúng tôi bắt đầu bằng những câu chuyện vui vui về các món ăn bên Anh, bên Mỹ, nhiều khi không hợp khẩu vị. “Tổng thống còn nhớ cái món ‘pín voi hầm thuốc bắc’ không,” tôi hỏi. Ông hỏi lại là tôi ăn món ấy bao giờ? Khi tôi nhắc là ăn trong bữa tiệc mừng sinh nhật của ông cuối năm 1974 gần ven sông Sài Gòn, ông nhớ ngay và phá ra cười: “Ừ thì họ nói là pín voi chứ tôi cũng chẳng biết là pín gì.”

Trong bữa cơm chiều, bà Thiệu cho ăn canh chua, cá kho tộ. Năm 1976 thì ở London cũng chưa có chợ búa Việt Nam nên bà phải cố gắng thì mới có được gia vị để nấu ăn. Hình như là phải nhờ người từ bên Pháp gửi sang. Bà nói ông thích ăn canh chua nấu với lá me non như mẹ ông thường nấu ở Phan Rang, nhưng “làm sao tôi tìm được lá me non ở bên Anh.” Để làm cho ông vui, tôi gợi ý nói đến một đề tài mà ông rất ưa thích: hải sản, làng chài và ngư nghiệp ở Việt Nam. Ông kể lại những kỷ niệm đi câu cá ở sông Sài Gòn và đôi khi câu được cả cá thu ở ngoài Côn Sơn.

Bệnh viện Vì Dân

Còn bà thì hay nói đến bệnh viện Vì Dân. Đối với bà thì đây là một niềm vui lớn và nó còn ghi dấu ấn trong tâm trí. Đây cũng là một di sản quý hóa mà bà để lại cho người dân, nhất là những người nghèo. Chúng tôi đã có dịp tới thăm nhà thương này và thấy nó được xây cất theo tiêu chuẩn quốc tế, được trang bị rất hiện đại, với 400 giường bệnh. Người khám bệnh và chữa bệnh luôn được miễn phí. Các bác sĩ, y sĩ, y tá được chọn lọc cẩn thận. Ngoài ra, lại còn những sinh viên y, dược, xung phong làm việc từ thiện.

Bà kể là sở dĩ nảy ra ý muốn xây một bệnh viện là vì bà hay vào nhà thương Chợ Rẫy thăm bệnh nhân. Nhiều khi thấy hai người phải chen chúc nhau nằm trên một cái giường nhỏ, làm bà hết sức mủi lòng. Vì vậy, ba bỏ ra nhiều công sức đi vận động để xây nhà thương như là một bước đầu để cải thiện nền y tế Việt Nam.

Tài trợ cho bệnh viện này hoàn toàn không dính dáng gì đến ngân sách quốc gia mà do sự đóng góp của những cơ quan từ thiện, những người có lòng hảo tâm trong nước cũng như ngoại giao đoàn. Bà nói tới sự đóng góp đặc biệt của bốn tòa tòa đại sứ Đài Loan, Nam Hàn, Nhật, và Hòa Lan. Bà đi vận động xây nhà thương là do sự đam mê công tác xã hội, hoàn toàn không có mục đích chính trị như một số người đồn thổi.

Ném bom Dinh Độc Lập

Nói tới chính trị, có một biến cố làm bà rúng động và còn nhớ mãi. Đó là vụ ném bom Dinh Độc Lập ngày 8 Tháng Tư, 1975 do một phi công VNCH nổi loạn thực hiện. Một trong hai quả bom thật to chọc thủng bãi trực thăng trên nóc dinh, lọt xuống rồi nổ tung. Ông Thiệu vừa ngồi xuống ăn sáng ở một bàn nhỏ ở ngoài hành lang, lấy đôi đũa gắp sợi bánh đầu tiên trong bát phở nóng thì cận vệ vội tới đưa ông vào ngay thang máy để xuống lầu hầm. Bà Thiệu kể lại là ngay chỗ gần thang máy, một quả bom “dài thòng” rơi sát bên nhưng không nổ. Đầu Tháng Tư là thời gian có nhiều chống đối từ mọi phía đòi ông Thiệu phải từ chức. Ông vẫn bình tĩnh, chỉ hơi cáu kỉnh khi nghe báo cáo về một số quý vị thuộc đảng Dân Chủ “thân chính” tại Quốc Hội quay lại chống ông.

Về biến cố ngày hôm ấy, bà kể là trái bom rơi trúng ngay chỗ mỏng nhất của bãi trực thăng. Mùi khét tỏa ra khắp nơi khi những tấm thảm dầy bốc cháy dữ dội. Lúc ấy bà bị kẹt cứng trong cái phòng của gia đình “vì cháu bé người làm đang lo sắp xếp quần áo đã sợ quýnh lên, tay run lẩy bẩy, không tìm và mở được cái khóa vào cầu thang.” Một lúc sau mới có sĩ quan đến giúp bà xuống hầm trú ẩn. Khói bay lên nghi ngút làm bà như ngạt thở.

“Ông già định ở lại”

Chưa tới hai tuần sau vụ ném bom, ngày 20 Tháng Tư, 1975, Đại Sứ Graham Martin của Mỹ, theo chỉ thị của Ngoại Trưởng Henry Kissinger, tới Dinh Độc Lập thuyết phục ông Thiệu từ chức (với kế hoạch là để Đại Tướng Dương Văn Minh lên thay) và nói: “Nếu ông không chịu từ chức thì các tướng lãnh dưới quyền ông sẽ bắt buộc ông làm điều này.”

Ông Thiệu hỏi ông Martin: “Nếu tôi từ chức thì liệu viện trợ có đến hay không?”

Ông Martin trả lời: “Tôi không dám hứa nhưng cũng có thể.”

Ông Thiệu kể lại rằng ngày hôm sau, ông mời các tướng lãnh đến Dinh Độc Lập. Trong buổi họp, ông cho họ biết về những chuyện Đại Sứ Martin đề cập tới. Ông Thiệu nói nếu các tướng lãnh coi ông như một chướng ngại vật cho hoà bình của đất nước thì ông sẽ từ chức. Không ai phát biểu gì hết. “Thế là đã rõ họ không muốn tôi ngồi lại ghế tổng thống nữa, cho nên tôi tuyên bố từ chức để Phó Tổng Thống Trần Văn Hương lên thay, theo đúng Hiến Pháp.”

Chiều ngày 22 Tháng Tư, 1975, ôngThiệu lên TV tuyên bố từ chức. Với tâm tư thật cay đắng, ông tố cáo Hoa Kỳ đã thất ước, đã phản bội VNCH, và nói các ông đã cắt hết quân viện, “để chiến sĩ của chúng tôi chết đuối dưới làn mưa đạn của địch. Đó là một hành động vô nhân đạo.”

Trong bài diễn văn từ chức, ông nói sẽ cùng với nhân dân và quân đội chiến đấu, và “tôi từ chức nhưng tôi không đào ngũ.” Vậy tại sao ông lại ra đi?

Nhiều anh em chiến sĩ và đồng hương vẫn còn đặt vấn đề “ông Thiệu đào ngũ” cho nên  chúng tôi đã viết chi tiết về bối cảnh lịch sử của việc Tổng Thống Thiệu ra đi (sách Tâm Tư Tổng Thống Thiệu, Chương 18). Ông ra đi ngày 25 Tháng Tư là vì chính tân Tổng Thống Trần Văn Hương đã làm áp lực, yêu cầu ông phải ra đi. Ông Thomas Polgar (giám đốc CIA ở Sài Gòn) cũng thuật lại là Tổng Thống Hương gọi cho ông Thiệu khuyên ông sớm rời khỏi Việt Nam, vì “nếu không, Cộng Sản sẽ nói tôi đang điều khiển một chính phủ Thiệu không Thiệu.” Về phía Đại Tướng Dương Văn Minh thì lúc ấy chưa lên tổng thống, cũng muốn ông Thiệu phải ra đi. Trong cuốn “Decent Interval,” tác giả Frank Snepp (nhân viên cao cấp của CIA ở Sài Gòn) viết lại (trang 435): “Ông Minh yêu cầu tướng Charles Timmes là người của CIA phải làm cách nào để ông Thiệu đi lưu đầy (He asked the CIA’s Timmes to see to it that Thiêu was sent into exile).”

Nhân tiện có một cơ hội: Tổng thống Đài Loan là ông Tưởng Giới Thạch vừa qua đời. Tổng Thống Hương liền viết sắc lệnh: “Nay đề cử cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và cựu Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm đại diện tổng thống VNCH đến Đài Bắc để phân ưu cùng chánh phủ và nhân dân Trung Hoa Dân Quốc nhân dịp Tổng Thống Tưởng Giới Thạch tạ thế…” Bản văn do Đại Tá Cầm viết tay. May mắn là Thiếu Tá Nguyễn Tấn Phận (một người trong đoàn tùy tùng đi theo cựu Tổng Thống Thiệu) còn giữ được một bản sao của sắc lệnh này.beauty-logo-beautiful-floral-vector-icon-program-black-white-gold-background-79712474

Chỉ ba tuần trước đây, ngày 26 Tháng Chín, khi viết một đôi lời về cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, nhân dịp lễ giỗ lần thứ 20 của ông, chúng tôi có nói: “Rất tiếc rằng vì lý do sức khỏe, ngày hôm nay phu nhân Tổng Thống Thiệu không thể tới đây để dự buổi lễ tưởng niệm này. Trong cảnh về hưu cô đơn ở gần San Clemente, California, thỉnh thoảng chúng tôi có tới thăm bà.

Bà sống rất thanh đạm và một mình với một con chó, trong căn nhà nhỏ bé. Trong bếp chúng tôi thấy mì ăn liền Mama chất đầy từng đống. Bà nói cũng không buồn vì quen rồi. Quen từ lúc “ông già’ còn làm tổng thống.

Bà hay dùng hai chữ “ông già” để nói về người chồng. Có lần chúng tôi hỏi bà về ngày bà ra đi khỏi Sài Gòn, bà kể: “Ông già định ở lại.” Hỏi thêm thì bà nói: “Sau khi từ chức, ông già mặc cái quần xà lỏn và nói: ‘Mẹ con mày đi đi, tôi ở lại.’”

Chúng tôi chưa hề biết chuyên này nên hỏi thêm thì bà mới kể: “Ông già ngậm một cái cục gì ở trong hàm răng.” Chúng tôi giật mình, vì ý bà muốn nói là ông ngậm một loại thuốc độc mà điệp viên thường dùng để phòng hờ trường hợp phải đối đầu với tình huống bi cực nhất.

Dọn sang Mỹ sau khi ông Ronald Reagan lên ngôi

Ông bà Thiệu chọn nước Anh để lưu vong trong giai đoạn đầu. Chính phủ Anh cũng rất kính trọng đời sống riêng tư của ông và gia đình. Bà Thiệu kể lại là ngay từ khi tới London, chính phủ đối xử với gia đình ông bà rất chu đáo, lại còn cử một đại úy coi về an ninh để tiếp cận và yểm trợ, hướng dẫn ông cùng gia đình về đời sống xã hội trong thời gian tới trên một năm.

Gia đình chỉ dọn sang Mỹ dưới thời Tổng Thống Ronald Reagan. Bối cảnh là như thế này: Sau Hiệp Định Paris, Tổng Thống Richard Nixon mời ông Thiệu sang thăm Hoa Kỳ. Nhưng ông Nixon lại mời ông về tư dinh là Casa Pacifica ở San Clemente chứ không đón tiếp ông với tư cách là một vị quốc trưởng ở Washington, DC. Tiệc khoản đãi ông Thiệu ở Casa Pacifica chỉ vỏn vẹn có 12 người, kể cả chủ lẫn khách. Lý do đưa ra là “không đủ chỗ ngồi.” Điều yên ủi đối với ông Thiệu là thái độ và tình cảm của Thống Đốc Ronald Reagan lúc đó. Trước đó, ông Thiệu đã đón tiếp ông Reagan nồng hậu khi ông thăm viếng Sài Gòn. Nhân dịp này, ông có tặng ông Reagan một cặp ngà voi và nói đùa với ông: “Một ngày nào đó, ngài sẽ lên voi.”

Năm 1976, ông Reagan ra vận động làm ứng cử viên của đảng Cộng Hòa để tranh chức tổng thống, nhưng ông không được đảng chọn, và thua ông Gerald Ford dù rất ít phiếu. Vì uy tín của đảng Cộng Hòa xuống quá thấp trong thời Nixon và thời Ford, cho nên ông Jimmy Carter trúng cử. Dưới triều đại Carter, uy tín của Hoa Kỳ lại tiếp tục suy giảm hơn nữa, phần lớn vì thù địch đã coi thường nước Mỹ sau khi tháo chạy khỏi Việt Nam.

Sau cùng thì ông Reagan thắng trong cuộc bầu cử Tháng Mười Một, 1980. Ngày 20 Tháng Giêng, 1981, ông Reagan lên ngồi chắc trên lưng voi và lời tiên đoán của ông Thiệu đã đúng.

Ra đi sau biến cố 9/11

Ở Boston khi chớm Thu thì cũng đã bắt đầu lạnh. Nhân dịp kỷ niệm 50 năm ông bà Thiệu thành hôn, cháu Nguyễn Quang Lộc mời bố mẹ sang du lịch bên Hawaii. Vừa tới nơi vài hôm là biến cố 9/11 xảy ra. Bà Thiệu kể lại là ông rất “lo ra” khi thấy chiếc máy bay cất cánh ngay từ phi trường ở Boston (là nơi ông đang cư ngụ) rồi đâm vào Trung Tâm Thương Mại Quốc tế tại New York và một chiếc khác lại nhào vào Ngũ Giác Đài. Xúc động này ảnh hưởng nhiều tới sức khỏe của ông.

Trong mấy năm ông bị bệnh tim, bà Thiệu phải lái xe chở ông vào nhà thương. “Tiếc rằng không còn bệnh viện Vì Dân để chị săn sóc cho ông già,” bà tâm sự. Bây giờ tuổi đã cao, bà phải lái xe ban đêm một mình trên xứ người, đi vòng vèo khá lâu mới tới bệnh viện. Bà kể có hôm mãi tới 1 giờ sáng mới về tới nhà. Lúc về lại phải đi tìm xe ở dưới cái hầm nhà thương tối lù mù nên bà còn sợ ma, có lúc phải đi giật lùi. “Thôi thì cũng còn tôi để lái xe cho ông tổng thống,” bà nói cho ông vui hôm sau trở lại nhà thương thăm ông. “Cám ơn bà,” ông Thiệu nhoẻn nụ cười đáp lại.

Sau vụ 9/11, ông rất muốn rời Hawaii để trở về Boston ngay, nhưng tất cả các máy bay đều án binh bất động, cả tuần sau mới về được. Về tới nhà thì bệnh ông thêm nặng. Thứ Năm, ngày 27 Tháng Chín, 2001, ông bị té xỉu, rồi hôn mê. Tại Trung Tâm Y Tế Beth Israel Deaconess, ông đi vào giấc ngủ ngàn thu chiều Thứ Bảy, 29 Tháng Chín, 2001.

Tổng Thống Thiệu ra đi chưa tới ba tuần sau biến cố 9/11. Trong một bài bình luận thật dài đăng trên mạng với tựa đề “Nguyễn Văn Thiệu và Cuộc Khủng Bố 11 Tháng Chín,” tác giả David Bennett bình luận: “Cái chết của ông Thiệu trong Tháng Chín vừa qua nêu lên một câu hỏi: Liệu Hoa Kỳ có quyết tâm để chiến thắng cuộc chiến chống khủng bố này (tại Afghanistan) hay không…và liệu Hoa Kỳ có nhất định giúp xây dựng lâu dài một quốc gia Afghanistan hay không?” Lúc ấy thì ở thế giới bên kia, ông Martinô Nguyễn Văn Thiệu đã có câu trả lời.

Sau khi ông mất, trong cảnh cô đơn giá lạnh ở Boston vào mùa Đông, chúng tôi cùng người bạn là Tiến Sĩ Tạ Văn Tài ở đại học Harvard University đến thăm bà. Bà sống đạm bạc, vẫn giữ nguyên bộ xa lông cũ kỹ nay đã sờn. Trên một cái bục cao bà để hình ông và một chai rượu xâm banh. Hỏi về chai rượu thì bà kể là cứ mỗi năm khi đến ngày kỷ niệm thành hôn của hai vợ chồng, ông mua một chai sâm banh, tự tay mở ra và mời bà uống với ông một ly, dù bà không biết uống rượu. Như vậy là bà muốn cùng ông giữ lại suốt đời cái kỷ niệm không bao giờ nhạt nhòa. Bà nói là người ta dèm pha là ông già với bà này cô kia, nhưng bà cũng chẳng để ý vì “tía đi rồi tía lại về.” Nghe vậy, anh bạn Tài phá ra cười, còn tôi thì lúc ấy cũng không hiểu tía là gì nên không cười. Thì ra con người bình dị, hiền hậu vùng đồng bằng Cửu Long còn khoan dung cả với người chồng.

beauty-logo-beautiful-floral-vector-icon-program-black-white-gold-background-79712474

Có lần ông Thiệu hỏi người Mỹ nghĩ thế nào về ông, chúng tôi nói về một hai khía cạnh: Khen có, chê có, rồi thêm: “Tôi nghe một tướng Mỹ nói là tổng thống nhu nhược.” Ông Thiệu hỏi tại sao? Tôi trả lời là ông ấy nói “Tổng thống không cương quyết đủ để ra lệnh tử hình khi cần thiết để làm gương.” Ông nhìn tôi giây lát rồi chậm rãi nói: “Suốt đời, tôi đã tránh không có cái nợ máu.”

Xét ra thì trong suốt thời gian 10 năm ông lãnh đạo, thực sự đã không có tội nhân nào phải ra pháp trường. Trên bàn thờ nhà bà Thiệu ở Newton, Massachusetts, vẫn còn treo một cái bảng với phương châm do chính ông viết rồi cho người thêu chữ thật to “Đức Lưu Quang” (Ánh sáng của đạo đức tồn tại mãi). Bà luôn chỉ vào đó mà dạy con cái phải ăn ở cho có đức.

Nếu chúng ta tin rằng mọi việc trên cõi đời này đều do Trời an bài xếp đặt, thì Trời cũng phù hộ ông Thiệu trải qua nhiều nguy hiểm trong gần 10 chèo lái con thuyền miền Nam Việt Nam qua bao nhiêu sóng gió. Theo như những chuyện ông kể lại thì đếm ra cũng có tới sáu lần ông bị đe dọa làm ông cảnh giác về đảo chính. Như vậy thì Trời cũng đã giúp cho bà Thiệu không phải trở thành quả phụ của một tổng thống khi còn đương nhiệm.

Ngày 15 Tháng Mười, 2021, bà đã theo ông về thế giới bên kia. Ở đó thì “Cô Bảy Mỹ Tho” Nguyễn Thị Mai Anh sẽ mãi mãi được gần “Cậu Tám Phan Rang” Nguyễn Văn Thiệu. [đ.d.]

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Một vài Kỷ Niệm về Phu Nhân Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu của Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng

Bản tin Nội Bộ K1 (23/10/2021)

BẢN TIN NỘI BỘ K1 TỪ AUSTIN TEXAS

Cách nay mấy hôm, trong lúc ngồi trên xe chờ bà xã đi chợ  thì có phone của chị Tố Tâm từ Austin Texas gọi tới. (Trong gia đình K1 chỉ có và chỉ có chị Tố Tâm thường hay gọi đến hỏi thăm động viên Căn Nhà Nhỏ).
Mình cần phone lên: “Hello, chào chị Tố Tâm, chị khỏe không?”
Bên đầu kia có tiếng trả lời, nhưng không phải K1Tố Tâm mà là ông xã của Tố Tâm.
– “Chào anh Vinh, anh khỏe không? Tôi Cấp đây.”
Sau vài câu hỏi xã giao, chúng tôi trao đổi với nhau vài tin tức xem được trên mạng youtube và đài Việt Ngữ trong, ngoài nước.
Sau đó tôi nói gởi lời thăm chị Tố Tâm, chỉ có khỏe  không?
Anh Cấp tâm sự: – “Bà xã tôi (Tố Tâm) bây giờ yếu lắm rồi, trí nhớ giãm rất nhiều, không còn nhớ nữa. Nhưng chỉ quên những gì hiện tại gần đây thôi, chứ những chuyện xa xưa thì còn nhớ.”

Theo anh Cấp cho biết anh ta bây giờ là Osin đúng nghĩa. Mọi việc trong nhà anh Cấp phải lo hết, không dám để cho vợ làm. Từ nấu nướng, giăt giũ cả việc tắm rữa cho vợ nữa. Lúc nào cũng để mắt canh chừng vợ, sợ chị Tố Tâm đi ra vườn rồi lạc ra đường, không biết tìm lối về. Anh Cắp cho biết bây giờ chợ búa, mau thức ăn anh lo hết và cũng dẫn vợ theo. Tôi khen ông bà tình quá nhé, thì anh cấp nói tình gì nữa, không dám để Tố Tâm ở  nhà một mình, lở đi lạc biết đâu mà tìm.

Anh Cấp tâm sự: “Thấy hoàn cảnh Phan Tấn Ngưu thật là tội nghiệp, giờ tới mình”
Nghe vậy tôi mới lên giọng thầy đời (sorry các bạn vì không thể nói gì khác hơn).
“Thôi thì anh Cấp cố gắng đi. Đây là lúc mình chứng tỏ tình yêu chân thật cho vợ mình, dù không còn như những giờ phút âu yếm ngày xưa, nhưng đây là lúc chúng ta thể hiện mối “TÌNH GIÀ”. Tình Già được trân quý là giá trị đạo đức của một tình yêu cao quý mà anh em chúng ta đang và sẽ có dịp thể hiện”.
Đó là mẫu tâm sự giữa Căn Nhà Nhỏ với anh Cấp phu quân của K1 Tố Tâm, xin được gởi đến tất cả các bạn để biết đến sức khỏe của bạn mình, và các bạn nhất là các chị , có thể, dành chút thì giờ gọi phone thăm hỏi để giúp Tố Tâm lấy lại trí nhớ mà chị ấy đang quên.

Biết rằng bọn mình đến tuổi nầy không bịnh nầy thì cũng bịnh khác, tuy nói vậy nhưng vẫn mong và cầu chúc cho nhau luôn được khỏe mạnh.

Mến chúc tất cả gia đình cuối tuần vui vẻ hạnh phúc bên người thân.

Căn Nhà Nhỏ.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Bản tin Nội Bộ K1 (23/10/2021)

Ơn Đời Chứa Chan của Phan Cao Trí- NVV Sưu Tầm

ƠN ĐỜI CHỨA CHAN

16022021211442 (1)

Phan Cao Tri

Tuổi già, buổi sáng thức dậy, nghe gân cốt đau rêm mà mừng, vì biết mình còn sống. Đại ý viết như vậy, trong một cuốn sách Mỹ mà ông Tư đọc được, làm ông thấm thía cái hạnh phúc lâng lâng của từng sớm mai khi vừa tỉnh giấc. Bạn bè cùng trang lứa với ông, nhiều người đã về với Diêm Vương khi còn trẻ măng, vì cuộc tương tàn khốc liệt dài ngày trên quê hương. Nhiều người khác gục ngã trong trại tù vì đói khát, bệnh tật, mồ hoang vùi cạn. Một số khác nữa, vì khao khát tự do mà chôn thân dưới đáy biển, hoặc chết khô giữa rừng sâu. Không ít người còn lại, tử thần cũng đã đón mời vì bạo bệnh, khi tuổi năm sáu mươi. Phần ông vẫn còn dai dẳng sống sót cũng là ân huệ trời ban, không vui hưởng tháng ngày, cũng uổng lắm sao!

Ý nghĩ đó làm ông mỉm cười sung sướng. Ông vẫn trùm thân trong chăn ấm. Tội chi mà dậy sớm cho mệt. Mỗi khi nghe tiếng khởi động máy xe từ hàng xóm vọng qua trong buổi tinh sương, ông càng vui sướng hơn, vì không còn phải vùng dậy giữa đêm đen, lặn lội đi kiếm cơm hàng ngày như mấy gã trẻ tuổi ở cạnh nhà. Về hưu rồi, mỗi tuần hưởng bảy ngày chủ nhật, bảy ngày thảnh thơi. Hết áp lực của công việc hàng ngày, không phải lo lắng bị thất nghiệp khi kinh tế khủng hoảng xuống dốc. Khoẻ re.

Cứ nằm trùm chăn ấm nghe nhạc mềm văng vẳng ru đưa, phát ra từ cái radio nhỏ, có khi ông chợp thêm được một giấc ngủ ngắn ngon lành. Ngủ chán thì dậy. Bước xuống giường, dù khớp xương sưng đau, đi khập khễnh ông cũng thầm cám ơn cái chân chưa liệt, còn lê lết được. Chưa phải nằm dán lưng vào giường như một số người bất hạnh khác. Những kẻ này mà nhích được vài bước cà thọt như ông, thì chắc họ cũng sướng rân người. Ông thầm bảo, có thêm được một ngày để sống, để vui, để yêu đời. Bệnh hoạn chút chút, thì phải mừng, chứ đừng có nhăn nhó than vãn ỉ ôi.

Mỗi khi đánh răng rửa mặt, ông lầm thầm:
“Mình sướng như vua rồi, có nước máy tinh khiết để dùng. Giờ nầy, cả thế giới, có hơn một tỉ người thiếu nước để nấu ăn, để tắm giặt và nhiều tỉ người khác không có nước sạch, phải uống nước dơ bẩn.” Dù cái bàn chải đánh răng đang ngọ ngoạy trong hàm, ông cũng ư ử hát ca. Khi áp cái khăn tẩm đầy nước lên mặt, ông cảm được cái mát lạnh và niềm sung sướng chứa chan đang lan tỏa chạy khắp người. Ông biết đang được ân sủng của trời đất ban cho trong tuổi già.

Ngồi lên cái bồn cầu êm ái, nhà cầu sạch sẽ, trắng toát, thơm tho, không vướng một chút mùi vị hôi hám, đèn đóm lại sáng trưng, có nhạc văng vẳng từ radio, ông cầm cuốn sách thưởng thức chữ nghĩa của “thánh hiền”, tư tưởng của Đông Tây. Không bao giờ ông quên cùng giờ phút nầy, có hơn ba tỉ nhân loại không có cầu tiêu để làm cái chuyện khoái lạc thứ tư. Có người phải ra đồng lồng lộng gió, mà làm chuyện “nhất quận công, nhì ị đồng”.

Phải gấp gấp cho xong chuyện, không nhẩn nha được, vì hai tay phải múa lia lịa hất ra đàng sau, để xua đuồi lũ ruồi đồng đang vo ve “oanh tạc”. Xong việc, may mắn lắm thì có lá chuối khô mà lau chùi, còn không thì dùng đất cày, đá cục, nắm cỏ, que nhánh cây tươi, khô. Ông cứ nhớ thời làm việc ở quận lị, chỉ có nhà tiêu lộ thiên, hai tấm ván bắt ngang qua một hầm cầu lộ thiên, nắng xông hơi phân người lên nóng hừng hực rát cả mặt, bên dưới giòi bọ lúc nhúc lổm nhổm làm thành một tấm màn trắng-ngà chuyển động. Có con gà ở đáy hầm, nó đang thưởng thức ngon lành món giòi bọ, thấy ông xuất hiện bất thần, sợ hãi hoảng hốt đập cánh bay lên kêu quang quác và vung vãi ‘ám khí’ khắp trong không gian, làm ông cũng khiếp viá, ôm đầu phóng chạy dài. Nghĩ đến chừng đó thôi là ông đủ cảm được cái sung sướng đang có ngay bây giờ. Ngồi thật lâu, đọc cho xong mấy trang sách, mới nhởn nhơ rời phòng.

Ông Tư tự đãi một bình trà nóng, một ly cà phê thơm, rồi nấu nồi cháo gạo tẻ đặc rền ăn với cá kho mặn. Dọn ra bàn, đèn vàng soi một khoảng ấm cúng. Ông thong thả vừa hớp nhâm nhi, vừa ăn từng muỗng cháo, chất gạo béo tạo vị giác đi qua trong cổ họng. Ông lầm thầm: “Ngon, cao lương mỹ vị cũng không bằng”. Ông thường ngâm nga hai câu thơ:
“Vợ cũ, chó già, tô cháo nóng.
Ba nguồn thân thiết dạt dào thương”.

Mắt ông dán vào trang thơ đang cầm trên tay, gật gù thưởng thức ý lời hoa gấm. Ông trầm mình vào những giòng thơ, tim xao xuyến xúc động mênh mang. Thỉnh thoảng ông dừng lại, và nói nhỏ cho chính ông nghe: “Tiên trên trời cũng chỉ sướng và thong dong như thế này là cùng”. Ông nhớ đến cái thời “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên xã hội chủ nghĩa”, buổi sáng bụng đói meo, vác cuốc đi làm lao động tay chân nặng nhọc, ráng uống một bát nước lã để cầm hơi và đánh lừa cái bụng đang sôi sồn sột. Bây giờ được như thế nầy, phải biết cám ơn ân sủng của trời ban cho. Biết bao nhiêu tỉ người trên thế giới này mơ ước được có một buổi sáng thảnh thơi và no ấm như ông mà không được nhỉ?

Nhìn xuyên qua cửa phòng ngủ, ông thấy bà vợ nằm ngủ giấc yên bình, lòng ông dạt dào niềm thương. Bà đã cùng ông mấy mươi năm dắt dìu nhau trong phong ba bão táp của giòng đời nghiệt ngã. Đã chia sẻ ngọt ngào cũng như đắng cay của một thời khói lửa điên đảo. Giờ này, may mắn vẫn còn có nhau trong cuộc đời, thương yêu thắm thiết, nhường nhịn nâng đỡ chăm sóc ngày đêm. Không như những cặp vợ chồng già khác, cứ lục đục gây gổ nhau, tranh thắng thua từng li từng tí, làm mất hạnh phúc gia đình. Ông thương bà biết an phận thủ thường, không đứng núi nầy trông qua núi nọ. Ông thấy bà hiền lành và có trái tim đẹp như thánh nữ. Ông muốn vào phòng, hôn bà lên trán, nhưng ngại làm vợ mất giấc ngủ ngon buổi sáng. Ông lại cám ơn trời đã đem bà buộc vào đời ông. Ông cười và nhớ câu nói của một nhà văn nào đó:

“Đời sống không thể thiếu đàn bà, nhưng sống được với một người đàn bà không phải dễ.”
Ông Tư ra vườn. một mảnh đất nhỏ trồng vài cây hoa, hương thơm thoang thoảng, có tiếng chim kêu đâu đó líu lo vọng lại. Mấy đoá hoa sặc sỡ còn đọng sương đêm lóng lánh. Nắng mai ấm áp phả lên da thịt ông, tạo thành một cảm giác dịu dàng, êm ái. Ông vươn vai, xoay người trong thế thể dục chậm, xương sống được thư giãn kêu răng rắc, đã đời. Hít thở và phất tay chừng mười lăm phút cho máu huyết lưu thông. Loại thể dục nầy đã giúp ông bớt được những cảm mạo thông thường, ông tin vậy.

Ông Tư thay áo quần để đi ra đường. Cầm cái áo lành lặn bằng vải tốt trên tay, ông thường nhớ đến thời đi tù, khâu bao cát làm áo, rách tả tơi, không đủ che gió lạnh thấu xương của núi rừng. Thế mà cũng có nhiều tù nhân khéo tay và nghịch ngợm, khâu bao cát thành bộ đồ lớn, đủ ba mảnh, và làm luôn cả cái “cà vạt”, mang vào trông cũng sang trọng như đi ăn đám cưới. Nhớ lại thời đó mà rùng mình. Còn sống sót, và đến được đất nước tự do này, cũng là một điều mầu nhiệm lạ lùng.

Ông Tư đi ra đường, xe cộ vùn vụt qua lại liên miên. Lề đường rộng, phẳng phiu, sạch sẽ. Bên kia là giao điểm của hai xa lộ, các nhánh cầu cao đan uốn éo chồng chất lên nhau, vòng vèo trên không, như những nùi rối. Ông Tư thầm cám ơn tiền nhân đã đổ sức lực, mồ hôi, tài nguyên khai phá và xây dựng nên những tiện nghi nầy cho ông nhảy xổm vào hưởng dụng, mà không ai có một lời ganh ghét, tị hiềm. Ông, từ một trong những nước lạc hậu nhất của hành tinh nầy, bị chính quyền cuả xứ ông bạc đãi, kỳ thị, kềm cặp và lấy hết các tự do cơ bản. Đến đất nước này, ông được bình đẳng, có công ăn việc làm hợp với khả năng, con cái ông được đến trường, học hành thành tài, có nghề nghiệp vững chắc và sống với mức trung lưu. Ông cảm thấy còn nợ quê hương mới nầy quá nhiều thứ, từ tinh thần đến vật chất, mà biết không bao giờ trả lại được một phần nhỏ nào. Ông Tư vừa đi bộ vừa ca hát nho nhỏ.

Một người cảnh sát cao lớn dềnh dàng đi ngược đường chào ông, ông chào lại bằng lời cám ơn đã giữ gìn an ninh cho dân chúng sinh sống. Người cảnh sát cười và nói đó là bổn phận, vì lương bổng của ông ấy được trả bằng thuế của dân chúng, trong đó có ông. Ông Tư thấy trong lòng bình an, ông không làm điều gì phạm pháp, thì không sợ ai cả. Ông đọc trong báo, thấy có những xứ, dù không làm gì sai quấy cả, cũng bị cảnh sát giao thông chận lại đòi tiền, nếu không cho tiền, thì bị quy kết đủ thứ tội mà mình không có.

Nắng chiếu hoe vàng cả dãy phố của một ngày thu, ông Tư bước đi mà lòng rộn rã. Gặp ai cũng chào, cười vui vẻ. Nghe ông chào hỏi nồng nhiệt, mọi người đều vui theo. Thấy một ông cụ mặt mày đăm đăm rầu rĩ đi ngược đường, ông Tư lớn tiếng:

“Chào cụ? Có mạnh khỏe không? Hôm nay trời nắng đẹp quá!”
Ông cụ trả lời qua loa: “Tàm tạm, chưa chết! Chán cái mớ đời.”
Ông Tư nói to: “Việc chi mà chán đời cho mệt cụ ơi. Chưa chết là vui lắm rồi. Cụ có biết là chúng ta đang sung sướng phước hạnh, tội chi phí phạm thời gian để buồn nản?”
Ông cụ thở dài: “Ai cũng có nhiều việc âu lo! Đời đâu có giản dị! À, nầy, mà hình như ông đau chân, bước đi không được bình thường? Thế thì vui nỗi gì?
Ông Tư cười lớn:“Vâng, tôi đau chân, nhờ đau chân mà tôi thấy được niềm vui hôm nay lớn hơn, vì còn đi được, bước được, chứ chưa phải nằm nhà. Cụ ơi, nếu lo âu mà giải quyết được những khó khăn, thì nên lo. Nhưng nếu lo âu, mà không giải quyết chi được, thì hãy vui lên, cho đỡ phí phạm ngày tháng trời cho” .
Ông cụ già lắc đầu bỏ đi.

Ông Tư xà vào ngồi trên ghế đá mát lạnh của công viên dưới tàng cây có bóng nắng lung linh. Nhìn bọn trẻ con chơi đùa la hét lăn lộn trên bãi cát, ông vui lây với cái hồn nhiên của chúng. Bên kia đồi cỏ, có đôi nam nữ nằm dưới gốc cây, kê đầu lên tay nhau, tóc đổ dài óng ánh, thỉnh thoảng vang tiếng cười rúc rích. Đất nước nầy ấm no và thanh bình quá, sao có nhiều người còn kêu ca đời sống khó khăn? Phải chăng những kẻ này chưa biết an phận, muốn được nhiều hơn điều đang có, đang đủ. Không thấy được phước hạnh là lỗi tại họ. Ông dong tay bắt vài tấm lá rơi đang quay cuồng trong gió và lấy bút ghi lên mặt lá mấy giòng thơ vừa thoáng qua trong trí để ca ngợi cuộc đời. Thấy bãi cỏ êm mát, ông nằm dài, những vòng tròn sáng màu vàng rải rắc trên mgười ông. Gió hiu hiu mát từ hồ nước vờn qua làm mơn trớn thịt da. Ông Tư rút từ túi quần một cuốn sách nhỏ có nhan đề “14 ngàn điều làm nên hạnh phúc”. Tác giả tập sách nhỏ nầy, thấy đâu đâu cũng là hạnh phúc tràn đầy. Vấn đề là cảm nhận được cái sung sướng, cái hạnh phúc đang có. Từ việc đặt chân lên một tấm thảm mềm êm ái, đến việc cắn một trái ngọt chín mọng trong miệng, đến mơ mộng được hát trên bục một hộp đêm, nghe một lời nói dịu dàng yêu thương…

Hạnh phúc và sung sướng cảm nhận được từ những điều rất nhỏ nhặt, đơn sơ, tầm thường nhất trong sinh hoạt hàng ngày. Không cần phải là ôm chặt người yêu trong vòng tay, cũng chẳng phải vật nhau lăn lộn trên giường, cũng không cần đến việc cầm trong tay cái vé số trúng độc đắc, hoặc làm chủ được một tòa lâu đài sang trọng… Ông nghĩ, chắc sẽ có người cho tác giả tập sách nầy là kẻ “lạc quan tếu”. Nhưng thà lạc quan tếu hơn là bi quan. Đời nầy, có nhiều người đắm mình trong hạnh phúc, mà cứ tưởng đang ngụp lặn trong bể khổ. Hoặc đang được phước hạnh mà không biết và xem thường, chỉ khi mất đi, hay đã trôi qua, mới biết, thì đã quá muộn màng.

Nắng đã xông hơi nồng nóng, ông Tư đón chuyến xe buýt ra về. Cái vé xe cho người già rẻ rề, chỉ bằng một phần ba vé bình thường. Ông nói lời cám ơn tài xế, và thấy mang ơn những người cùng đi xe công cộng nầy, vì xem như họ đã gián tiếp gánh một phần tiền vé cho ông.

Về nhà, bà Tư đã dọn sẵn cơm trưa, mời ông rửa ráy cho sạch sẽ mà ra ăn. Thấy ly nước chanh muối, ông cầm uống, chất nước ngọt ngào mằn mặn chua chua, ngon lành đi qua cổ họng. Ông nhìn vợ với ánh mắt thương yêu và nói lời cám ơn cho bà vui. Chưa ăn, mà thấy bát canh bông bí nấu tôm đã biết ngon. Những món ăn thanh đạm này, với ông, còn ngon hơn sơn hào hải vị.

Ăn xong, còn chút cơm thừa, bà Tư bỏ vào chén, cất vô tủ lạnh, không dám đổ đi, vì sợ phí phạm của trời. Bà nhắc câu nói của ông: “Ngay giờ khắc nầy, trên thế giới có hơn năm trăm triệu người đang đói rã, không có một miếng gì đề ăn, và có hơn vài tỉ người ăn chưa no bụng, và nhiều tỉ người khác quần quật ngày đêm, cũng chỉ mong có đủ no mà thôi.” Đã từng đói, nên ông bà không dám phí phạm thức ăn.

Ông Tư mừng vì ăn còn thấy ngon miệng, không như một số người khác, ăn gì cũng như nhai đất sét, không muốn nuốt, vì nhạt miệng, mất vị giác. Một số người khác còn tệ hại hơn nữa, họ không còn ăn bằng miệng được, mà ăn bằng bụng, nhờ ống dẫn thức ăn nối với dạ dày, như đổ xăng cho xe hơi.

Ông Tư ngồi vào bàn mở máy vi tính lướt mau tin tức thế giới biến động. Đôi khi thấy gía thị trường chứng khoán tụt dốc xuống thấp, làm nhiều nhà bình luận lo ngại. Nhưng ông Tư cười, ông chẳng thèm để ý, không cần quan ngại chi cả. Chứng khoán lên hay xuống, cũng thế thôi. Ông có lo ngại hay quan tâm cũng chẳng thay đổi được gì. Với số tiền hưu khiêm tốn, và cách ăn tiêu trong khả năng tài chánh, ông bà Tư chưa bao giờ thấy thiếu thốn cái gì. Có một ông bạn khoe rằng nay đã thành triệu phú. Bà Tư đùa và hỏi, triệu phú thì khác người không là triệu phú cái gì? Ông bạn lúng túng ấp úng không biết phải trả lời ra sao. Nhưng ông bà Tư chắc chắn rằng, họ ít tiền, nhưng được sung sướng, đầy đủ hơn nhiều người giàu triệu phú khác.

Ông Tư rà mắt qua các tin tức và các biến cố mới nhất. Thật là tuyệt diệu và thần kỳ. Chuyện vừa xảy trong giờ trước, đã được tường thuật ngay. Dạo một vòng tin tức xong, ông quay qua mở vi-thư của bạn bè. Có những người bạn xa cách hàng ngàn dặm, mấy chục năm nay chưa gặp lại nhau, mà thư từ qua lại liên miên, tưởng như gần gũi trong gang tấc. Tha hồ hàn huyên tâm sự. Tình cảm qua lại thân thiết chứa chan. Nhờ máy vi-tính, khi viết, tha hồ bôi xoá tẩy sửa lung tung, mà không cần phải xé tờ nầy, viết lại tờ kia, vô cùng tiện lợi. Thư viết xong, chỉ cần một cái nhấp con chuột, bạn ông nhận được ngay tức thì. Không cần phải nhờ bưu điện chuyển đi có khi cả tuần mới đến. Hàng chục lá thư của bạn bè khắp nơi trên thế giới chuyển đến ông đủ điều hay, lạ, nhiều bài thuốc hiệu nghiệm, trăm bản nhạc du dương, ngàn hình ảnh tuyệt vời của các thắng cảnh thiên nhiên, các đoạn phim ngắn đủ thể loại của nhiều vấn đề khác nhau. Ông cám ơn khoa học kỹ thuật tiến bộ, đem thế giới mênh mông lại gần gũi trong không gian và cả thời gian.

Mỗi khi nghe tin một người già bệnh hoạn qua đời, ông Tư mừng cho họ thoát được thời gian đau yếu sống không chất lượng. Nhiều người nằm liệt vài ba năm, không sống, không chết. Còn có những kẻ phải cưa tay cưa chân. Ông vẫn thường mong sau này, nếu được chết, thì chết mau chóng, yên lành, khỏi qua thời gian bệnh hoạn lâu ngày.

Có một bạn già mỉa mai, cho ông Tư là “kẻ tự sướng” ông chỉ cười và nói: “Thà tự sướng hơn là tự khổ”

Ông Tư thường nghĩ rằng, ông đã và đang được quá nhiều phước hạnh của trời ban, nhiều ân nghĩa của nhân loại, xã hội, nhiều tình thương của gia đình, bạn bè, người quen và cả chưa quen. Ông thấy sung sướng hạnh phúc. Ông tội nghiệp cho những người suốt đời than van, nắng không ưa, mưa không chịu, và tự bôi đen ngày tháng đẹp đẽ của họ, và dìm đời vào bất mãn, khổ đau.

Phan Cao Tri

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Ơn Đời Chứa Chan của Phan Cao Trí- NVV Sưu Tầm

Nhạc phẫm “Việt Nam, Việt Nam” và giấc mơ của Phạm Duy

VIỆT NAM, VIỆT NAM
GIẤC MƠ RẠN RỠ CỦA PHẠM DUY

Pham-Duy

Tác giả: Lê Hữu

Tôi nhớ, trong một lần được nhạc sĩ Phạm Duy chia sẻ tin vui có thêm ít ca khúc của ông vừa được cấp phép phổ biến ở trong nước, tôi nói rằng có một bài tôi thực sự mong cho ông, hơn bất cứ bài nào khác, được phép lưu hành.

“Bài gì?” ông hỏi.

“Việt Nam, Việt Nam” tôi nói.

Ông im lặng. Tôi nói thêm là tôi chờ cái ngày bài hát ấy được hát vang vang trên khắp mọi miền đất nước, hát vang vang trong màn kết thúc một chương trình nhạc Phạm Duy. Ông im lặng. Tôi gửi ông nghe/xem cho vui ít màn trình diễn bài hát ấy ở nước ngoài trước và sau ngày ông về nước. Ông im lặng. Tôi nghĩ mình hiểu được sự im lặng ấy, và không nhắc tên bài hát ấy nữa.

Vì sao bài hát ấy, bài “Việt Nam, Việt Nam”, vẫn chưa được cấp phép? Có gì lấn cấn chăng? Có “vấn đề” gì chăng?

Bài hát có những lời lẽ khơi dậy lòng nhân ái, tình yêu thương đồng loại và những giá trị phổ quát của các quyền làm người trong một đất nước tự do dân chủ.

Việt Nam đem vào sông núi
Tự Do, Công Bình, Bác Ái muôn đời
Việt Nam không đòi xương máu
Việt Nam kêu gọi thương nhau
Việt Nam đi xây đắp yên vui dài lâu…
Việt Nam ta nguyền tranh đấu cho đời
Tình Yêu đây là khí giới
Tình Thương đem về muôn nơi
Việt Nam đây tiếng nói đi xây tình người…

Những lời lẽ ấy là không phù hợp chăng?

Bài hát có nhịp điệu khỏe khoắn, tiết tấu mạnh mẽ, nghe phấn chấn, thúc giục tựa những bước chân hăm hở xốc tới, rất thích hợp để hát hợp ca, đồng ca trong những cuộc họp mặt, những sinh hoạt văn hóa văn nghệ hay xuống đường, tuần hành.

Nhạc điệu ấy là không thích hợp chăng?

Bài hát có nhạc điệu trang nghiêm, hùng tráng với lời ca khơi dậy tinh thần yêu nước, mang tính cách của một bài quốc ca. Nhiều người vẫn nhớ rằng “Việt Nam, Việt Nam” từng hơn một lần được đề nghị làm bài quốc ca Việt Nam Cộng Hòa (thay cho bài “Tiếng gọi công dân” của Lưu Hữu Phước, một nhạc sĩ miền Bắc). Bài hát “Việt Nam, Việt Nam” vì thế, rất “gần” với bài quốc ca của miền Nam ngày trước.

Những điểm ấy là “nhạy cảm” nên bài hát không được phép sử dụng chăng?

Liệu còn có những lý do nào khác? Hoặc, chẳng có lý do nào cả. Chưa duyệt, chưa cấp phép là vì chưa duyệt, chưa cấp phép, thế thôi.

“Việt Nam, Việt Nam” là một “chung khúc” (cách gọi của nhạc sĩ Phạm Duy), là một kết thúc có hậu cho bản trường ca “Mẹ Việt Nam” (1964) của Phạm Duy. Là chung khúc nhưng “Việt Nam, Việt Nam” vẫn thường được trình diễn như một bài hát được tách rời, độc lập. Chung khúc ấy thể hiện những ước mơ, khát vọng của người dân Việt cho một vận hội mới về trên quê hương, cho đất nước yên bình, cho không còn những cách chia, cho người biết thương người.

Sau ngày nhạc sĩ Phạm Duy qua đời, một bài báo ở trong nước (Thanh Niên, 30/1/2013) có tựa là “Nhạc sĩ Phạm Duy: Tâm nguyện cuối đời” cho phổ biến một lá thư của ông (không đề ngày) gửi đến “giới chức có thẩm quyền” xin cấp phép phổ biến ca khúc “Việt Nam, Việt Nam”. Thư có đoạn:

“Tôi nghĩ rằng tôi có quyền nuôi một nguyện vọng đóng góp vào sinh hoạt âm nhạc trong nước bằng một ca khúc có tính chất xưng tụng nước ta nhan đề ‘Việt Nam, Việt Nam’ sáng tác từ 1960, rút trong trường ca ‘Mẹ Việt Nam’, là một tổ khúc kêu gọi sự đoàn kết dân tộc dưới bóng Mẹ Tổ Quốc thiêng liêng và độ lượng. Sau đây là ca khúc đó (lời ca bài ‘Việt Nam, Việt Nam’). Tôi mong có ngày ca khúc này được phép phổ biến.” (thư kèm một CD gồm hai bài hợp ca “Việt Nam, Việt Nam”).

Một lá thư khác, cũng theo bài báo ấy, dài đến gần mười trang của Giáo sư Trần Văn Khê (6/2012), người bạn cố tri của nhạc sĩ Phạm Duy, nội dung đề nghị cấp phép phổ biến hai trường ca của Phạm Duy là “Con đường cái quan” và “Mẹ Việt Nam” (kết thúc bằng chung khúc “Việt Nam, Việt Nam”). Thư có đoạn:

“Tâm nguyện của Phạm Duy đối với quê hương là một tâm nguyện trọn vẹn… Tôi ước mong chính phủ, Bộ Văn Hóa xem xét đến trường hợp hai tác phẩm trường ca của Phạm Duy để giúp cho hai tác phẩm rất sâu sắc, nhân văn này được phổ biến đến đại chúng toàn quốc, giúp cho tư tưởng rất đẹp trong lời nhạc, lời ca đi sâu vào lòng người dân… Với hai trường ca này, Duy đã nói về một Việt Nam hoàn toàn chung nhất, vẽ nên một bức tranh Việt Nam đầy đủ địa lý tới văn hóa, từ chiều dài lịch sử đến bề sâu tâm hồn, từ tư tưởng triết lý đến quan niệm nhân sinh… để thấy rằng Việt Nam đẹp đến nhường nào, từ trong nội tại tâm hồn đến cảnh vật bên ngoài, luôn lấp lánh cái bóng dáng hòa bình, yêu thương, nhân ái, người vì người, sống chết cho nhau.”

Cả hai lá thư với lời lẽ thiết tha, tâm huyết ấy đều “thư đi” mà không có “tin lại”.

Mỗi năm lại có thêm một vài đợt duyệt xét, lại có thêm một ít ca khúc của Phạm Duy được cấp phép phổ biến (gồm cả những bài một thời được xem là “dị ứng” với nhà cầm quyền trong nước, như “Bên cầu biên giới”, “Mùa thu chết,” “Tìm nhau”…). Không có bài “Việt Nam, Việt Nam”. Đợt cấp phép mới nhất, mười ngày trước khi người nhạc sĩ qua đời, có thêm tám ca khúc của Phạm Duy được cho phép lưu hành trên cả nước. Vẫn không có bài “Việt Nam, Việt Nam”. Bài hát vẫn biệt vô âm tín. Người nhạc sĩ già vẫn tiếp tục chờ đợi, chờ đợi trên giường bệnh. Nỗi đợi chờ trong câm lặng, trong khắc khoải, mỏi mòn, như người ngồi đợi hoài những giấc mơ không bao giờ đến.

“Việt Nam, Việt Nam”, bài hát ấy hoặc được duyệt rất sớm, hoặc rất muộn, hoặc chẳng bao giờ, vì không thích hợp, vì khá “nhạy cảm”; hoặc hơn thế nữa, vì khá “dị ứng”, như cách nói ở trong nước.

                                                  * * *

Ít hôm sau ngày nhạc sĩ Phạm Duy mất, ở Mỹ người ta tổ chức một đêm nhạc để tưởng nhớ ông.

“Nếu ông ở đây thì tối nay tôi rủ ông đi nghe nhạc,” người bạn ở Nam Cali gọi cho tôi. “Một chương trình nhạc đặc biệt, chỉ phổ biến trong thân hữu.”

“Nghe nhạc Phạm Duy phải không?” tôi hỏi.

“Sao biết?” người bạn hỏi lại.

“Nhạc Phạm Duy thì người ta vẫn hát vẫn nghe dài dài từ bao nhiêu năm nay,” tôi nói, “chứ đâu phải đợi đến lúc ông ấy nằm xuống mới rủ nhau đi nghe.”

Tôi không rõ những “thân hữu” trong đêm nhạc ấy gồm những ai ai, và vì sao lại “chỉ phổ biến trong thân hữu”. Theo lời người bạn kể, một “tiết mục” khá ấn tượng trong đêm Phạm Duy, Ngàn Lời Ca ấy: Kết thúc chương trình, không ai bảo ai tất cả mọi người đều cùng đứng dậy và cùng cất cao tiếng hát bài “Việt Nam, Việt Nam”.

“Cảm động nhất là màn cuối ấy,” người bạn nói.

Vì sao lại “cảm động”? Phải chăng vì những cảm xúc rưng rưng pha trộn: vì cảm thương cho con người nghệ sĩ lắm tài hoa mà cũng nhiều nghiệt ngã, cho đến những năm tháng cuối đời vẫn cứ nuôi mãi một “giấc mộng dài”. Hoặc vì cảm thương cho thân phận đất nước, dân tộc mình, cho những kiếp người nổi trôi, những số phận lênh đênh không bờ không bến. Hoặc vì bài hát gợi nhớ về những năm tháng nào xa xăm, những năm tháng tươi đẹp nhất của một thời tuổi trẻ với ước mơ trong veo về một ngày hòa bình trên quê hương đổi mới.

Người nhạc sĩ già đã nhắm mắt xuôi tay, “người tình già” đã đi về đầu non. “Việt Nam, Việt Nam”, bài hát ấy, tiếng hát ấy, đã như một giấc mơ rạn vỡ.

Một trùng hợp ngẫu nhiên, ít hôm sau đó, vào những phút cuối của đám táng người nhạc sĩ, trong lúc người người đứng vây quanh huyệt mộ, trong lúc những nắm đất, những bông hoa đủ sắc màu lần lượt thả xuống nắp áo quan, một tiếng nói bỗng cất lên, “Chúng ta hãy cùng hát bài Việt Nam, Việt Nam.” Rồi một giọng hát cất lên, Việt Nam, Việt Nam nghe từ vào đời… Rồi những giọng hát khác cất lên, cất lên, hòa quyện vào nhau. Những câu hát bật ra, bài hát bật ra, càng lúc càng lớn, trong lúc những nắm đất, những nhánh hoa vẫn không ngừng thả xuống nắp áo quan… Người ta đã chọn bài hát ấy để nói lời chia tay với người nhạc sĩ.

Việt Nam, hai câu nói trên vành nôi…
Việt Nam, hai câu nói sau cùng khi lìa đời…

Vẫn là những câu hát ấy:

Tình Yêu, đây là khí giới
Tình thương đem về muôn nơi
Việt Nam, đây tiếng nói đi xây tình người

Ở ngoài nước, kết thúc đêm nhạc tưởng niệm người nhạc sĩ, người ta cùng hát với nhau bài “Việt Nam, Việt Nam”. Ở trong nước, kết thúc đám táng người nhạc sĩ, người ta cùng hát với nhau bài “Việt Nam, Việt Nam”.

Đoàn người cất cao tiếng hát bài “Việt Nam, Việt Nam” trong nghĩa trang mông mênh ấy là những ai? Nhiều phần là những người lớn tuổi, những người từng sống ở miền Nam trước năm 1975. Những người trẻ tuổi, một số đã không hát theo được vì không thuộc hay không biết bài hát ấy.

Một bà cụ tóc trắng nêu thắc mắc, “Sao không in ra thành nhiều bản phát ra cho mọi người để cùng hát với nhau cho có khí thế hơn?!” (Bà cụ không rõ bài hát chưa được nhà nước… cho phép hát).

Vài người quay sang hỏi nhau, “Tại sao một bài hát có ý nghĩa như thế lại không được nhà nước cấp phép?”

Những câu hỏi không có câu trả lời.

Khác với tác giả bài hát, người ta không phải đợi “nhà nước” duyệt hay cấp phép. Hàng ngàn người đồng hành với ông trong ngày Chủ Nhật Buồn ấy đã “duyệt” cho ông bài hát ấy. Hoặc, nói như cách nói ở trong nước, “một bộ phận quần chúng nhân dân” đã cấp phép cho bài hát ấy; hơn thế nữa, đã “biểu diễn” bài hát ấy như một dàn đồng ca tự phát.

Bài hát, lần đầu tiên được cất lên kể từ ngày ông về nước. Phải đợi đến lúc hạ huyệt, đến lúc xác thân ông được gửi vào lòng đất mẹ thì bài hát ấy mới cất lên. Cũng đâu có gì là muộn màng, phải không? Có còn hơn không, có còn hơn không, như câu hát trong một bài hát quen thuộc của ông. Bây giờ thì ông không còn phải chờ đợi thêm nữa.

“Việt Nam, Việt Nam” từng là một trong những bài hát cộng đồng khá phổ biến trên môi tuổi trẻ, sinh viên, học sinh ở miền Nam tự do một thời nào. Bài hát vang lên trong những sân trường, lớp học, trong những đêm không ngủ, trong những ngày lên đường, xuống đường rực lửa đấu tranh. Mọi người vừa hát vừa vỗ tay rất nhịp nhàng, rất khí thế, rất sôi nổi. Bài hát ấy, nhiều năm sau lại vang lên bên huyệt mộ người nhạc sĩ một ngày cuối đông. Người ta đã hát cho ông nghe bài hát bao năm ông hằng chờ đợi, bài hát ông gửi vào những tâm huyết, tâm nguyện, tâm tình. Ông còn mong gì hơn nữa!

Việt Nam, hai câu nói trên vành nôi. Tôi nhớ, ngày trước có lần tôi hỏi nhạc sĩ Phạm Duy, “Trên vành nôi, hay bên vành nôi?” Ông nói, “Trên vành nôi”. Thực sự, “trên” hay “bên”, ý nào cũng hay. Chỉ có điều, cả ông và tôi đều không ngờ được rằng, ngày hôm ấy, trong nghĩa trang mênh mông ấy, câu hát ấy đã hóa thành “Việt Nam, hai câu nói trên… chiếc áo quan” của tác giả bài hát.

Hát “Việt Nam, Việt Nam” là hát về những giấc mơ, những khát vọng của người dân Việt tội tình. Giấc mơ “Việt Nam, Việt Nam”, giấc mơ của Phạm Duy, giấc mơ của tuổi trẻ ngày ấy, của tuổi trẻ hôm nay, của người Việt khắp nơi khắp chốn, giấc mơ ấy vẫn còn… xa vời vợi.

“Việt Nam, Việt Nam”, sau năm mươi năm, bài hát vẫn còn là giấc mơ.
“Việt Nam, Việt Nam”, chung khúc ấy là viễn mơ.

Bài chung khúc ông viết cho Mẹ Việt Nam, cho dân Việt Nam và cho tâm nguyện của riêng ông cách nay nửa thế kỷ, chung cục trở thành “Bài hát tiễn đưa” ông về lòng Đất Mẹ, như là những gì thuộc về ông nay chính thức trả về ông, cho ông mang theo làm hành trang của Những gì sẽ đem theo về cõi chết.

Nhạc sĩ Phạm Duy, trong bài trả lời phỏng vấn của đài RFA (23/6/2012), gọi là “Những bộc bạch cuối đời”, đã không giấu nỗi chua xót trong lòng mình: “Các anh yêu tôi thì nói là tôi có sự nghiệp hơi lớn một tí đấy, nhưng mà riêng tôi, cho đến giờ phút này, tôi thấy là tôi hoàn toàn thất bại. Bởi vì đất nước đã thống nhất rồi mà lòng người thì không thống nhất, thành thử nếu tôi có chết đi thì gần như là tôi không có được thỏa mãn.” Trả lời câu hỏi “Tại sao?” ông nói, “Giản dị lắm, các anh muốn biết tại sao như vậy thì các anh phải hỏi thẳng chính quyền ấy.”

Ngày ông nằm xuống, người Việt vẫn chưa đi đến được một “chung khúc”.

“Việt Nam, Việt Nam”, bài hát ông viết ra từ thời chiến như gửi đi một thông điệp của thương yêu và hòa giải, của thống nhất đất nước và thống nhất lòng người. Thông điệp ấy đến nay người ta vẫn chưa sẵn sàng đón nhận.

Nếu có “thống nhất” được với nhau điểm nào thì chỉ là cả “hai phía” đều gọi ông là “cây đại thụ” của làng nhạc Việt. Sau ngày cây đại thụ ấy bật gốc, cả hai phía ấy và cả những người yêu ông và ghét ông đều nói rằng đến cả trăm năm nữa cũng khó mà có được một tài năng âm nhạc nào như ông.

Người ta vẫn hay gọi một văn nghệ sĩ tên tuổi là “tác giả”, theo sau là tên tác phẩm phổ biến nhất và được yêu chuộng nhất. Cách gọi ấy gọi được cả “tác giả và tác phẩm”.

Phạm Duy, tôi chắc nhiều người sẽ gọi ông là “Tác giả Việt Nam, Việt Nam

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Nhạc phẫm “Việt Nam, Việt Nam” và giấc mơ của Phạm Duy