Chuyện cà phê vườn và oan trái H.O.

Chuyện cà-phê vườn và oan trái H.O.

Toàn Như

(Dựa theo một câu chuyện có thật của một cựu sĩ quan CSQG,

nhưng tên các nhân vật đã được thay đổi)

Kể từ khi quán cà phê L.H. ở một góc đường Westminster đóng cửa để remodel vì thay đổi chủ nhiều khách hàng quen thuộc của quán này cũng buồn vì họ đã mất đi một nơi hội họp vào mỗi cuối tuần.

            Thông thường cứ vào cuối tuần, quán LH rất đông khách. Đa số khách của quán là những anh em cựu H.O. nên quán còn có tên gọi thân mật là Quán Hát Ô, hay quán Ông Gìa Đầu Bạc vì ông chủ quán cũng là một H.O. gốc TQLC có mái tóc húi cua kiểu nhà binh bạc trắng. Có lẽ vì nhân thân của ông chủ quán như vậy nên đã được các anh em H.O. hết mình ủng hộ. Họ tụ họp ở đây cả giờ mà chỉ với một ly cà phê. Thật ra đối với họ, ly cà phê chỉ là cái cớ để có dịp ngồi lại bên nhau chuyện gẫu cho vui mà thôi. Họ thường tụ lại thành từng nhóm, nhưng đông nhất là nhóm các cựu TQLC, bạn cùng binh chủng với ông chủ quán.

            Kể từ ngày quán LH đóng cửa, các nhóm trên đã mất đi một nơi để gặp nhau cuối tuần hầu có dịp cà kê dê ngỗng chuyện trên trời dưới đất. Không còn LH, mọi người đành di tản tìm đến những quán cà phê khác.

         Cũng giống như các nhóm bạn khác, không có LH, nhóm chúng tôi cũng buồn năm phút. Sau ít lần đi uống cà phê ở một vài nơi khác, một hôm, để thay đổi không khí, anh Tôn trong nhóm đã ngỏ ý mời các bạn đến vườn nhà anh uống cà phê thay vì ra quán. Mọi người hưởng ứng ngay và thế là từ đó hàng tuần nhóm bạn chúng tôi có mục cà phê vườn thay cho việc ra quán.

            Vườn sau nhà anh Tôn là một sân rộng có khá nhiều cây lá xum xuê, phần lớn là những loại cây ăn trái rất thông dụng trong những vườn nhà của người Việt. Như cam, quýt, ổi, chanh, hồng, lựu, thanh long,…; hay những loại rau lá, bầu bí, mướp, dưa ,v.v… Anh Tôn dành ra hẳn một góc sân để làm nơi cho bạn bè tụ tập cà phê. Mọi người ngồi quanh một cái bàn dài với những ghế xếp hay ghế đẩu nhiều ít tùy theo số người có mặt. Để tránh mưa nắng, anh Tôn còn dựng lên một cái lều nhỏ, loại tiền chế, để làm chỗ cho các bạn tụ họp. Đặc biệt, vào những ngày có những trận thi đấu thể thao hấp dẫn như World Cup hay Super Bowl, v.v… anh Tôn còn đem cả TV ra ngoài lều để anh em đến xem và uống cà phê. Mọi người vừa xem TV vừa reo hò bàn tán ồn ào không kém gì ở những tụ điểm bên ngoài. Còn những lần khác, mọi người đến vào cuối tuần, vừa nhâm nhi cà phê, vừa nghe chim hót và ngắm nhìn cây cối quanh vườn cũng rất vui. Không khí lúc nào cũng ồn ào náo nhiệt chẳng khác gì ở quán. Đến lúc cà phê xong, nhiều bạn còn tiện tay “chôm” về những trái cây, rau lá từ vườn nhà của khổ chủ.

            Ở quán L.H., mọi người uống cà phê phải trả tiền, dĩ nhiên, nhưng ở quán cà phê vườn này, các bạn được anh Tôn đãi cà phê miễn phí. Cà phê được anh pha chế sẵn trong coffeemaker, ai muốn uống cứ tự nhiên selfservice với đường hay sữa tùy thích. Cà phê vườn như vậy lúc đầu cứ tưởng chỉ là tạm thời trong khi chờ đợi quán L.H. tái xuất giang hồ, nào ngờ việc này đã được kéo dài chưa biết đến bao giờ mới dẹp tiệm. Có lẽ vì các bạn thấy thuận tiện vì vừa được uống cà phê ‘chùa’, vừa được có một chỗ ngồi đấu hót hàng giờ mà chẳng sợ bị phiền hà như khi ngồi ở quán.

         Một ngày cuối năm, một bạn trong nhóm cho biết mới nhận được tin nhắn từ Việt Nam về một người bạn mà nhiều người trong nhóm có quen biết. Đó là anh Sáng hiện đang sống ở Mỏ Cày, Bến Tre. Theo bạn này, hoàn cảnh của anh Sáng thật éo le tội nghiệp. Mặc dù bị ở tù cộng sản tới 13 năm nhưng anh vẫn bị từ chối không được vào Mỹ theo diện H.O.

            *
Như mọi người đã biết, sau ngày 30 tháng Tư, 1975, anh Sáng cũng như bao quân cán chính VNCH khác phải đi tù ‘cải tạo’. Anh Sáng là một thiếu tá ngành cảnh sát đặc biệt nên mãi 13 năm sau mới được trả tự do. Ngày anh vào tù, vợ anh đang mang bầu đứa con út được ba tháng. Sau một tháng vẫn không thấy chồng trở về, chị đành mang mấy đứa con về Mỏ Cày tá túc nhà cha mẹ ruột. Nhưng rồi chị chờ đợi mỏi mòn mãi mà tin tức chồng vẫn bặt tăm. Sáu tháng sau, chị hạ sanh một bé trai. Để ghi nhớ ngày vợ chồng vì thời cuộc phải chia ly xa cách chị đặt tên cho con là thằng cu Ly.

            Về quê sinh sống, chị Sáng chẳng biết làm gì để kiếm sống ngoài việc phụ giúp công việc đồng áng trên một công đất của cha mẹ. Nhưng rồi khi mọi người bị buộc phải vào hợp tác xã nông nghiệp thì cái công đất ấy cũng không còn nữa. Cha mẹ chị đã thành một xã viên hợp tác xã làm việc như những tá điền làm thuê ngay trên mảnh đất của mình để được chấm công điểm. Công điểm sau đó mới được qui ra thóc gạo và nhu yếu phẩm như một hình thức trả lương. Còn chị, vì là vợ của một sĩ quan “ngụy” ngành cảnh sát sát đặc biệt “ác ôn”, bóc lột nên không được thâu nhận vào làm trong hợp tác xã. Không những vậy, chúng còn muốn chị phải đi lập nghiệp ở vùng kinh tế mới nhưng chị lấy lý do các con chị còn qúa nhỏ để cứ nấn ná ở lại.

            Tuy nhiên, để được như vậy, chị phải lo lót cho bọn cán bộ xã ấp. Đó là bài học “đầu tiên” (tiền đâu) mà chị học được dưới chế độ xã hội chủ nghĩa. Từ đó, chị đã tận dụng cái khoảnh đất còn lại ở sau nhà cha mẹ tập tành trồng rau, trồng bắp, trồng cải,… rồi thu hoạch đem bán kiếm sống qua ngày. Cũng may hồi nhỏ chị có ở dưới quê một thời gian nên nay công việc ruộng vườn chị làm quen cũng mau chóng.

            Mãi hơn một năm sau ngày 30/4/1975, khi đi làm sổ mua gạo và nhu yếu phẩm chị mới sực nhớ chưa làm giấy khai sanh cho thằng Ly. Thời gian đó, gạo và các nhu yếu phẩm phần lớn được bán theo sổ phân phối, không có giấy khai sanh, nó sẽ bị mất khẩu phần gạo và có thể sẽ không được đi học khi lớn lên. Thế nên chị đi làm khai sanh cho nó trễ mất một năm. Đó cũng là lý do mà sau này đã làm cho gia đình anh chị không được xuất cảnh đi Mỹ theo diện H.O. như những cựu tù “cải tạo” khác.

            Đến giữa năm 1988, anh Sáng mới được trả tự do sau hơn 13 năm tù trải qua nhiều trại tù từ Nam ra Bắc. Ngày anh ra tù cũng là lúc có tin đồn các cựu tù nhân chính trị nguyên là những sĩ quan chế độ cũ nếu đã bị tù từ ba năm trở lên sẽ được đi Mỹ định cư theo một thỏa thuận giữa Hoa Kỳ và Việt Nam. Dĩ nhiên, chẳng riêng gì anh Sáng mà có thể nói hầu hết các anh em tù đều rất vui mừng đón nhận tin này. Mọi người đều mong mỏi tin đó sẽ là sự thực để được thoát ra khỏi cảnh đày đọa, phân biệt đối xử dưới chế độ cộng sản sau khi đã bị trải qua nhiều năm tù đói khổ.

            Khi nghe tin chương trình tái định cư các tù “cải tạo” nói trên đã chính thức bắt đầu vào năm 1989, vợ chồng anh Sáng đã chạy vạy khó nhọc mới đủ tiền để nhờ dịch vụ nộp đơn xin xuất cảnh theo chương trình mà sau này gọi là H.O. Sau bao nhiêu ngày chờ đợi, cuối cùng cả gia đình anh đã được gọi đi lên Sài Gòn phỏng vấn. Tưởng là với 13 năm tù, anh và gia đình sẽ dễ dàng được Mỹ chấp thuận cho đi Mỹ. Thế nhưng oái oăm thay khi vào phỏng vấn, phía Mỹ đã nghi ngờ anh khai man lý lịch. Họ cho rằng thằng Ly không phải là con anh vì theo giấy khai sanh của nó, nó được sanh ra lúc anh đã vào tù được hơn một năm.

            Anh Sáng đã giải thích cho người phỏng vấn hiểu rằng, thằng Ly chính là con anh. Vợ anh đã mang thai nó khi anh bắt đầu vào tù. Sáu tháng sau, trong lúc anh đang ở tù thì chị sanh nó. Vì cuộc sống qúa cực khổ ở thôn quê và vì qúa bận rộn để mưu sinh nên vợ anh đã quên và làm khai sanh trễ cho nó. Nhưng dù đã giải thích như thế, người phỏng vấn viên vẫn không tin và không chấp nhận. Ông ta từ chối hồ sơ H.O. của anh vì cho rằng anh “man khai lý lịch”, ghép tên con của người khác làm con mình để mang sang Mỹ (!).

            Qúa tức giận về kết luận của người phỏng vấn viên, anh Sáng đã lớn tiếng phản đối sự quy chụp này và yêu cầu được thử nghiệm DNA để xác minh thằng Ly có phải là con anh hay không.

            Sau đó, nghĩ rằng mình không có gì gian dối, anh Sáng đã viết thư cầu cứu các bạn ở Mỹ nhờ khiếu nại giùm trường hợp của anh. Nhờ vậy, anh đã được tái phỏng vấn và được thử mẫu DNA của anh và thằng Ly. Mặc dù kết qủa DNA của cha con anh là đồng nhất, nhưng không hiểu sao phía Mỹ vẫn không thay đổi quyết định. Anh Sáng vẫn bị Mỹ khước từ hồ sơ xuất cảnh. Theo anh Sáng, có thể người phỏng vấn viên ban đầu đã có ác cảm với anh vì anh lớn tiếng cãi lý nên đã bị người này đưa tên vào “hồ sơ đen”. Cho nên sau này dù được tái phỏng vấn, anh vẫn bị Mỹ từ chối vì đã có “hạnh kiểm xấu” trong hồ sơ (?).

            Thế là giấc mộng đi Mỹ của anh Sáng đành phải gác lại. Vợ chồng anh lại đành phải trở về Mỏ Cày để tiếp tục công việc chân lấm tay bùn chẳng khác gì những ngày lao động ở trong và ngoài nhà tù. Đúng là cái vận số anh qúa đen, nó cứ mãi đeo bám theo anh cho đến tận hôm nay.

            Đã gần ba mươi năm kể từ ngày bị rớt H.O., cuộc đời anh Sáng vẫn chẳng có gì khá hơn. Mới đây anh Bửu, một bạn khác trong nhóm, trong chuyến về VN thăm nhà có gặp hai vợ chồng anh Sáng ở Mỏ Cày thấy rất tội nghiệp. Họ chẳng khác gì hai ông bà gìa lam lũ ở miệt vườn dù tuổi đời của họ cũng xấp xỉ các bạn trong nhóm. Cả hai mặc những bộ quần áo cũ bạc màu, thậm chí sờn rách. Anh Sáng vẫn tiếp tục công việc trồng trọt cực nhọc như ngày nào khiến cho có lần anh đã bị té ngất xỉu ở trong vườn, may mà vợ anh thấy kịp thời cứu cấp.

            Biết tin này, anh Bửu khi trở lại Mỹ đã vận động bạn bè gởi giúp anh chị Sáng một số tiền. Nhờ vậy, chị Sáng đã có một số vốn nhỏ để buôn bán lặt vặt kiếm thêm thu nhập cho gia đình. Riêng các người con của anh chị Sáng nay đều đã trưởng thành và lập gia đình nhưng chúng cũng chẳng khá gì hơn bố mẹ. Vì hoàn cảnh đặc biệt của gia đình sau 1975 nên chúng không được học hành đến nơi đến chốn. Vì vậy nay chúng cũng chỉ là những công nhân tầm thường với những đồng lương khiêm tốn.

            Kể chuyện về anh Sáng đã làm Tuấn, một bạn trong nhóm, nhớ đến một trường hợp tương tự nhưng may mắn hơn. Anh Tuấn kể, tình cờ quen biết anh Thơ, một người bạn H.O. Giống như anh Sáng, Thơ có một người con được sanh ra trong lúc anh còn đang ở trong tù. Người con này không bị làm khai sanh trễ như con anh Sáng, nhưng đặc biệt hơn, nó được sanh ra mãi mấy năm sau khi anh Thơ đã đi tù. Lý do vì có lần anh Thơ được trại cho phép thăm gặp gia đình ở lại qua đêm. Cũng vì lần thăm gặp đó mà kết qủa vợ anh đã mang bầu thằng con út. Cái bầu đã làm cho chị Thơ bị nhiều tai tiếng dị nghị, nhưng vốn là một người công giáo nên chị đành câm lặng, không giải thích và cũng không hủy hoại cái thai nhi. Chị nhẫn nhịn vì nghĩ dù sao nó cũng là giọt máu của vợ chồng chị.

            Nay đến ngày nộp đơn xin định cư theo diện H.O., cả hai vợ chồng anh Thơ đều băn khoăn chưa biết phải xử trí như thế nào. Nếu khai tên thằng con út thì sợ bị loại, mà bỏ nó lại thì cũng không đành vì không biết sau này có bảo lãnh nó qua Mỹ được hay không. Cho nên sau cùng hai vợ chồng đánh liều cứ để tên hết cả nhà trong danh sách rồi hạ hồi phân giải.

            Trong những ngày chờ đợi để được gọi đi phỏng vấn, anh Thơ suy nghĩ sẽ nên khai như thế nào về trường hợp đứa con út. Nếu khai nó là con của hai vợ chồng trong lúc anh còn đang ở tù thì có thể sẽ bị nhân viên phỏng vấn nghi ngờ anh khai man lý lịch, ghép tên của người không phải là con mình vào danh sách gia đình như nhiều người đã từng bị loại. Thật là tình ngay mà lý gian. Còn nói nó chính là con anh do kết qủa của một lần vợ thăm nuôi chồng trong tù thì lại càng làm tăng thêm nghi vấn. Chẳng lẽ chế độ lao tù cộng sản tốt đẹp đến độ cho người tù được thăm gặp gia đình thân mật đến thế sao? Suy nghĩ mãi, cuối cùng anh Thơ đã nghĩ ra một cách để sẽ khai với người phỏng vấn.

            Đến ngày phỏng vấn, đúng như anh Thơ dự đoán, phỏng vấn viên người Mỹ đã hỏi ngay rằng, thằng Út có đúng là con của vợ chồng anh không. Anh trả lời nói dối nó đúng và không đúng là con anh. Anh nói: “Nó đúng là con vợ chồng chúng tôi vì nó do chính vợ tôi sanh ra nó. Nhưng nó không phải là con của tôi, hiểu theo nghĩa nó là giọt máu do tôi tạo ra, vì thời gian nó ra đời tôi còn đang ở trong tù. Sở dĩ như vậy vì trong lúc tôi đang ở tù, vợ tôi phải tần tảo bán buôn để có tiền nuôi con và đi thăm nuôi tôi. Trong một lần đi buôn đường xa, vợ tôi đã bị một tên bạn hàng hãm hại cưỡng hiếp khiến cho bả bị mang bầu. Qúa xấu hổ sau đó, vợ tôi đã toan tính tự tử nhưng vì thương chồng, thương con nên bả đành nhịn nhục. Ngoài ra cũng vì lý do nhân đạo, và hơn nữa, vợ chồng tôi là những tín đồ công giáo nên không được phép phá thai. Đó là lý do ngày nay có sự hiện của thằng Út của chúng tôi ở đây.”

            Nghe kể như vậy, ông phỏng vấn người Mỹ gật gù có vẻ thương cảm. Ông nói, đó là một thảm cảnh của gia đình ly tán vì tù đày bởi cộng sản mà gia đình anh là một nạn nhân; cho nên ông chấp thuận cho cả gia đình anh được sang Mỹ tái định cư. Vợ chồng anh Thơ cám ơn ông Mỹ rối rít ra về mà lòng vui vô hạn.

            Nghe kể chuyện về anh Thơ, mọi người không khỏi tội nghiệp cho anh bạn Sáng kém may mắn. Phải chi ngày ấy có người “cố vấn” mách cho anh Sáng cái câu chuyện của anh Thơ thì có lẽ số phận của anh đã khác. Phải chăng đó cũng là số phận? Mỗi người ai cũng có một số phận, có ai biết trước được số phận của mình sẽ như thế nào.

Toàn Như

(Việt Báo -VVNM 2015)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Chuyện cà phê vườn và oan trái H.O.

Học Thêm Pháp Văn_LHN

Học Thêm Pháp Văn

– Hồi ký của Lê Hữu Nghĩa aka Nghĩa Lựu Đạn

Hồi đó học trò THĐ có nhiều bạn ở xa như Bến-Cát, Bến-Cỏ, Dầu-Tiếng, An-Hòa ….và cả Sàigòn nên nhiều bạn phải tìm nhà xung quanh trường để ở trọ. Do vậy nhà tui vì gần trường nên cũng có một số học trò tới ở trọ. Đối diện xeo xéo với nhà tui bên kia đường là nhà con nhỏ Bạch-Tuyết cũng có mấy trò ở trọ. Đằng sau nhà tui là nhà của Nguyễn-văn-Thi cũng có nhiều trò ở trọ.

Bên nhà tui, đứa thì học sinh-ngữ chính là Anh, đứa thì Pháp, nên mỗi khi học bài thì mạnh đứa nào nấy đọc “rân ba toong”. Tiếng học bài lớn vang qua cả bên nhà Bạch-Tuyết cũng nghe được. Ba Bạch-Tuyết là Thầy Tư, một thầy giáo đã về hưu vì sức khỏe, là người giỏi tiếng Pháp. Thầy Tư là người rất dễ mến, tốt bụng, có đôi mắt sáng và nụ cười hiền hòa. Thầy Tư nói nghe tụi nầy học chia động từ mà thấy thương mấy đứa siêng học nên thầy có ý muốn giúp mấy đứa học thêm Pháp văn. Khi nghe Bạch-Tuyết thông báo thì bên nhà tui có bốn năm đứa, cả trai lẫn gái đều xin học. Học miễn phí mà, tội gì bỏ uổng. Phần tui sinh ngữ chính là Anh văn nhưng ba tui cũng bắt tui phải học. Vì ổng quan niệm học cũng như ăn, hổng bổ bề dọc thì cũng bổ bề ngang, hễ có là cứ xực.

Lớp học ngay cái chái phía sau nhà Bạch-Tuyết. Tổng cộng cả trai gái khoảng bảy tám đứa. Mỗi khi đi học thì con trai tụi nầy phải khiêng cái băng ghế dài ở nhà tui qua để ngồi vì nhà Bạch-Tuyết hổng có đủ ghế.

Có lần, lúc thầy Tư cho ra chơi thì tụi con gái bày trò chơi xuống nái. Xuống nái là đứng hơi dạng hai chưn ra rồi ngửa đầu về phía sau, uốn cong ngược cái xương sống để mà chống hai tay xuống đất. Cái trò chơi nầy chỉ có tụi con gái làm thôi, con trai tụi nầy hổng thèm làm, chỉ coi tụi nó làm. Có đứa mới làm nửa chừng là té, cả bọn cùng cười hắc-hắc. Có đứa chạm được mấy đầu ngón tay xuống đất. Đứa nào làm hây là chạm được nguyên lòng bàn tay xuống mặt đất, được cả bọn vỗ tay.

Mấy đứa con trai tụi nầy coi một hồi thì đứa nầy ghé lỗ tai đứa kia mà nói xì-xầm. Bạch-Tuyết thấy vậy bèn bước lại chỉ vào tụi nầy mà nói:

– Ê ! tụi bây nói bậy phải hôn?

Một thằng nào đó chống chế:

– Ai nói cái gì bậy đâu.

– Tao biết tụi bây nói bậy, tụi bây dòm bậy. Con nhỏ Bạch-Tuyết quyết-liệt nói.

Khi con nhỏ Bạch-Tuyết nói tụi bây nói bậy thì có đứa còn chống chế. Nhưng khi nó nói tụi bây dòm bậy là cả bọn con trai tụi nầy cứ ngớ ra như bị má bắt quả tang đang ăn vụng. Thằng nầy dòm qua thằng kia, thằng kia dòm qua thằng nọ mà hổng chối cãi được gì hết. Trong đầu mỗi thằng đều đặt câu hỏi là tại sao con Bạch-Tuyết nầy nó khôn quá vậy ta, nó biết tụi mình xì-xầm chuyện gì hết trơn. Con nhỏ Bạch-Tuyết bèn nói như ra lịnh:

– Bây giờ tụi bây đi chỗ khác chơi. Còn muốn ngồi đây thì phải quây mặt ra ngoài vườn. Hổng cho dòm tụi tao nữa .

Cả bọn con trai lẳng-lặng ngồi quây mặt ra vườn. Mèn ơi! Làm như con trai đứa nào cũng có cái tánh bẩm sinh là sợ và tuân lịnh con gái. Cái tánh bẩm sinh nầy đã phát-tiết ra ngay từ lúc nhỏ nên cả bọn tuân theo lịnh con Bạch-Tuyết răm-rắp mà hổng cãi lại tiếng nào. Chắc cũng do đó mà khi lớn lên rồi cưới vợ, đứa nào cũng tuân răm-rắp theo lịnh bà xã hết.

Tuy bị phạt quây mặt ra ngoài nhưng tụi nầy đều lắng nghe động tĩnh bên trong và tưởng-tượng coi tụi con gái đang làm tới đâu. Nhưng chỉ được một lúc là tò-mò chịu hết nổi, tụi nầy lại quây mặt vô mà dòm. Con nhỏ Bạch-Tuyết như canh chừng sẵn, thấy tụi nầy vừa quây vô là nó la lên liền:

– Ê ! Ai cho tụi bây quây vô dòm. Quây ra ngoài mau!

Tui chống chế:

– Ai dòm đâu nà. Tụi tao muốn coi tới giờ vô học chưa mà mậy .

Con nhỏ Bạch-Tuyết trề môi xí một cái rồi nói:

– Cha ! Siêng học quá ha. Tụi bây khỏi cần lo. Khi nào vô học là tao kêu liền. Hổng được dòm vô nữa đó nha. Quây ra ngoài hết đi!

Thế là cả bọn con trai lại quây ra ngoài. Mà phen nầy là hổng còn lý-do gì để quây trở vô nữa. Cả bọn lại tụm đầu nhỏ to với nhau. Mà có chuyện gì để nói ngoài chuyện thời-sự đang nóng bỏng đằng sau lưng. Cả bọn xì-xầm làm công việc của các nhà phê-bình vĩ- đại. Thằng thì nói con nhỏ nầy u hơn con nhỏ kia. Thằng thì nói con nhỏ kia bự hơn của con nhỏ nọ. Có thằng lại thắc-mắc tại sao có đứa nguyên còn có đứa lại chẻ hai. Câu hỏi nầy được thằng khác giải- đáp liền là tại tụi nó bận quần đáy giữa, hễ cái đáy nằm một bên thì nguyên, còn hễ cái đáy nằm ngay giữa thì chẻ. Cả bọn vừa xì-xầm nhưng lại cười khúc-khích theo từng câu nói của mỗi thằng. Con nhỏ Bạch-Tuyết nãy giờ vừa chơi xuống nái nhưng vẫn luôn canh chừng tụi con trai, Nó thấy tụi nầy nói cười khúc-khích như vậy bèn đi tới la lên:

– Nè ! Tụi bây lại nói bậy nữa phải hôn?

Mèn ơi! Con nhỏ nầy sao mà hây quá vậy ta. Tụi tui làm cái gì nó cũng biết. Chắc là nó cũng đoán mò thôi. Hồi nãy nó đoán tụi tui dòm bậy thiệt là trúng chóc. Nhưng cũng có thể hiểu được. Bởi vì mình mẩy tụi nó suông đuộc thì có chỗ nào để mà dòm ngoài cái chỗ u lên khi tụi nó xuống nái. Hổng dòm chỗ đó thì còn dòm chỗ nào. Còn bây giờ tụi tui xì-xầm với nhau nó đâu nghe được, chắc cũng chỉ đoán mò thôi. Nghĩ vậy nên tui cãi lại:

– Mầy có nghe tụi tao nói cái gì hôn mà mầy nói tụi tao nói bậy?

Nhỏ Bạch-Tuyết gân cổ lên:

– Tao hổng cần nghe tao cũng biết tụi bây nói cái gì.

Tui nói lại:

– Cha chả. Bộ mầy là thầy bói hả?

Con nhỏ Bạch-Tuyết gằn từng tiếng:

– Tao hổng phải là thầy bói. Mà tao đi guốc trong bụng tụi bây.

Tui đột-nhiên ôm bụng, mặt mày nhăn-nhó vừa rên nho nhỏ:

– Ui da! Ui da!

Con nhỏ Bạch-Tuyết đang oai-phong lẫm-liệt cũng dịu xuống hỏi:

– Ê ! Bộ mầy bị đau bụng hả Nghĩa?

Tui vừa rặn vừa nói:

– Chớ còn gì nữa mậy. Mầy đi guốc trong nầy thì cái bụng của tao hổng đau sao được mậy.

Con nhỏ Bạch vừa lườm tui vừa bỏ đi và nói:

– Đồ cái thằng quỉ!

Cả bọn con trai cười ha ha, tui nghe có cả tiếng tụi con gái cũng cười chen vô.

Mới đó mà đã hơn nửa thế-kỷ rồi!

Các bạn THĐ/4 ơi,

Sau khi tui viết bài Học Thêm Pháp Văn, trong đó có nhắc tới con nhỏ Bạch-Tuyết, thì có vài bạn hồi báo mail riêng cho tui.

Nói chung các bạn đều nói đọc bài đó nín cười hổng được, biểu tui viết nữa đi. Ngoài ra có bạn nói thêm là: “Nhỏ Bạch-Tuyết bây giờ đi tu rồi mầy còn lôi nó ra chọc phá làm chi, để yên cho nó tu.” . Có bạn nói: “Nó mà nổi giận lột bỏ bộ đồ già lam ra đi kiếm mầy là mầy chết với nó đó.”

Thiệt ra tui cũng muốn được gặp lại Bạch-Tuyết lắm đó. Nó có bận đồ hay lột đồ gì tui cũng hổng sợ. Tui sẽ để yên cho nó muốn làm cái gì tui thì làm. Bởi vì tui biết chắc là nó hiền queo. Nếu gặp tui thì nó sẽ nói liền: “ Mầy đó hả Nghĩa . Mầy dạo nầy có khỏe hôn?”.

Các bạn biết hôn. Tui đã từng gặp lại Bạch-Tuyết nhiều lần ở Minnesota rồi. Lần đầu tiên tới nhà nó, tui muốn kêu nó bằng chị cho lịch-sự mà sao thấy ngượng cái miệng quá chừng. Nên tui kêu đại nó bằng mầy và nó cũng kêu lại tui bằng mầy liền. Vậy là hai bên đều thấy thoải-mái. Lần gặp đầu tiên nầy, chuyện đầu tiên mà tui để ý và hỏi nó là:

– Tao nhớ hồi đó mầy có cái răng khểnh mà?

– Nhổ lâu rồi. Bạch-Tuyết trả lời.

Tui thấy như tiên tiếc một cái gì đã mất. Hồi đó cái răng lòi xỉ nầy làm cho nó rất có duyên. Nói vậy chớ lúc đó dù nó hổng còn răng khểnh, dù đã hơn năm bó nhưng nó vẫn còn đẹp mê hồn. Các bạn hổng tin thì cứ coi hình của Bạch-Tuyết mà tui gởi kèm trong attachment. Đó là hình đám cưới của tui, có hai má con Bạch-Tuyết cùng đi.

This image has an empty alt attribute; its file name is lhn.jpg

Gần đây tui có coi lại hình của Bạch-Tuyết chụp chung với các bạn được gởi qua email thì thấy nó vẫn còn đẹp dù cái đầu trọc lóc. Thì ra Bạch-Tuyết lúc nào cũng đẹp, bận cái gì cũng đẹp, có răng khểnh hay không cũng đẹp, mà thậm chí no hair cũng vẫn cứ đẹp. Tu chung với người đẹp như vầy thì mấy ông sư chịu sao thấu!

Nghĩa LĐ.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Học Thêm Pháp Văn_LHN

Danh Sách Đồng Môn yểm trợ cho K1 Nguyễn Văn Suốt

Danh Sách yểm trợ
cho K1 Nguyễn Văn Suốt

( Phan Quang Nghiệp cập nhật lúc 9:00PM ngày 5/6/2021)

-K1 Bửu Hồng                                               50$00
-K9 Nguyễn Linh                                           50$00
-K1 Đinh Văn Hạp                                         50$00
-K1 Phan Quang Nghiệp                              50$00
-K1 Trần Quốc Nại                                        50$00
-K1 Nguyễn Văn Hải+ Ph.Thị Loan              100$00
-K1 Nguyễn Thị Máy                                     50$00
-K1 Trương Ngọc Mỹ                                    50$00
-K6 Nguyễn Bạch Túc (Nghiệp nhận )        100$00
-K3 Thái Văn Hoà                                          50$00
-K1 Nguyễn Văn Vinh                                   50$00
-K1 Nguyễn Thanh Hoàng                            50$00
-K1 Tống Phước Kiên                                    50$00
-K1 Phan Tấn Ngưu                                      100$00
-K1 Dương Mộng Oanh                                 50$00
-K1 Nguyễn   Thị Cẩm Y                                 50$00
-K3 Nguyễn Ngọc Tuấn                                  50$00
-K3 Nguyễn Văn Hiền                                     50$00
-K6 Nguyễn Tấn Lực (Hội Tr.Bắc CA)             100$00
-K1 Lê Quang Phú                                           50$00
-K1 Phan Hữu Nghi                                       100$00
-K1 Lê Hữu Nghĩa                                            50$00
-K1 Lê Phát Minh                                          100$00
-K1 Nguyễn Văn Tăng                                     50$00
-K1 Hồ Thị Hoa                                               50$00
-K1 Nguyễn Ngọc Kính                                   50$00
-K1 Lê Văn Thao                                              50$00
-K1 Nguyễn Công Vinh  (Check gởi Toán)      50$00
-K2 Nguyễn Ngọc Thuỵ                                   50$00
-K1 Trần Đức Túc ( Nghiệp nhận )                   50$00
-K1 Lê Thế Viên                                                50$00
-K3 Nguyễn Thanh Giàu                                   50$00
-K1 Trần Pháp                                                   50$00
-K1 Nhữ Đình Toán                                           50$00
-K1 Nguyễn Thanh Thuỷ                                   50$00
-K1 Võ Đăng Ngọc                                            50$00
-K1 Nguyễn Vô Lượng                                       50$00
-K1 Trần Viết Tường                                           20$00
-K1 Võ Thiệu                                                       20$00
-K1 Trang Thiện Nhơn                                        20$00
-K2 Lê Sỹ Tài                                                       30$00
-K3 Hồ Cảnh Phùng                                         100$00
-NT Phạm Tấn Ngọc SF                                   100$00
-K1 Nguyễn Văn Tính                                        50$00
-K1 Cao Trung Trực                                            50$00
-K1 Huỳnh Vĩnh Hưng                                       50$00
-K1 Nguyễn Văn Thế                                         50$00
-K1 Trần Quang Hiệp                                        50$00
-K1 Nguyễn Hữu Thời                                        30$00
-NT Trần Quan An                                           100$00
-K1 Phạm Bá Lộc                                               50$00
-K1 Nguyễn Văn Hoàng                                    50$00
-K1 Nguyễn Tiến Ích                                         50$00
-K1 Võ Quang Lâu                                            50$00
-K1 Lê Ngọc Thịnh                                            50$00
-K8 Hà Đình Huy (Duy Văn )                              50$00

-K1 Hà Văn Côn                                                 50$00
-K2 Trần Bửu Giao                                              50$00
-K1 Ngô Thị Lành                                               50$00
-NT Lý Hoài Ân (K.Rạch Dừa )                            50$00
-K6 Nguyễn Đăng Tuấn                                     50$00

-TOTAL:  .   .   .   .   .     .   .   .          3,370$00 So far so good

Ai gởi Zelle cho BH qua tên HUONG VO (1) 408-724-7296

Ai gởi check nhờ Trưởng Khoá Nhữ Đình Toán Địa chỉ: 323 N.Euclid St.#150 Santa Ana CA 92703 Phone 714-265-9187. Đề tên người nhận Nguyễn Vô Lượng.

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Danh Sách Đồng Môn yểm trợ cho K1 Nguyễn Văn Suốt

Tình Hình Sức Khỏe của bạn Nguyễn Văn Suốt

Vào lúc 6:25 PM chiều nay mình (CNN) có nói chuyện với bạn Nguyễn văn Suốt đang nằm trong bệnh viện. Nói chuyện với Suốt hơi khó vì Suốt lãng tai, may nhờ có cô con dâu nên được biết vài thông tin như sau. Hai động mạch cổ bị nghẹt nên máu không lên được tới đầu. BS cho biết sẽ mỗ vào sáng thứ Ba tới.  Kèm theo đây là hình của Suốt mình nhờ con dâu chụp và mấy dòng tâm sự của bạn VNS

Hello bạn vàng!! Tôi bị tai biến mạch máu não, nhập BV Đại Học Y Dược Thành phố HCM từ ngày 27.5.2021 và đã làm các xét nghiệm (10 ngày nay như chụp CT, MRI não 2 lần rồi)! 2 chân yếu, tay trái xệ, đầu luôn luôn xây xẫm.!!! Nhưng vẫn còn minh mẫn, chưa quên, nhớ..!!). Anh Ngọc Bửu có liên lạc và giúp đỡ một ít trước, và Bửu cho biết ngày thứ ba tuần tới sẽ mổ và đặt sten(??). Tôi nhắn tin cho Anh bây giờ là ngày chúa nhật, vậy là còn 2 ngày nữa mới mỗ!! Sức khoẻ có kém, nhưng hiện tôi còn tỉnh táo!!. Kính cảm ơn Anh và các Bạn hiền đã quan tâm chia sẻ trong hoàn cảnh khốn khó của tôi!!. Tình yêu thương của Quý “Bằng hữu đồng môn” là nguồn động viên lớn cho trong thời điểm khổ đau nầy!! Trân trọng kính chúc Anh Vinh cùng tất cả Bằng hữu đồng môn cùng Quyến :bình an, khỏe mạnh và hạnh phúc!!.

2122

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Tình Hình Sức Khỏe của bạn Nguyễn Văn Suốt

Yểm Trợ K1 Nguyễn Văn Suốt SOS

THƯỢNG KHẨN

K1 Bửu Hồng cho biết vừa nhận tin từ K1 Bửu ở VN : K1 Nguyễn Văn Suốt bệnh nặng phải vào Nhà Thương và phải giải phẫu.
K1 Bắc Cali Hạp Đinh ,Nghiệp Phan và Nại Trần  xin đóng góp mỗi người 50 (150$) . Xin quý anh chị cho biết con số đóng góp . Bửu Hồng sẽ gọi điện thoại về cho Bửu VN để ứng trước . Sau đó sẽ gởi hoàn lại cho K1 Bửu Hồng lo việc nầy .
Đinh Văn Hạp                    50$00
Phan Quang Nghiep         50$00
Trần Quốc Nại                   50$00
……………………………………
TM K1 Bắc Cali
Hạp+Nghiệp
4/6/2021

Danh Sách yểm trợ Nguyễn Văn Suốt
( cập nhật lúc 10 giờ tối 4/5/2021)

– K1 Bửu Hồng                                             50$00

-K9  Nguyễn Linh                                         50$00

-K1 Đinh Văn Hạp                                        50$00

-K1 Phan Quang Nghiệp                             50$00

-K1 Trần Quốc Nại                                       50$00

-K1 Nguyễn Văn Hải+ Ph.Thị Loan            100$00

-K1 Nguyễn Thị Máy                                    50$00

– K1 Trương Ngọc Mỹ                                  50$00

-K6 Nguyễn Bạch Túc                                100$00

-K3 Thái Văn Hoà                                         50$00

-K1 Nguyễn Văn Vinh                                  50$00

-K1 Nguyễn Thanh Hoàng                           50$00

-K1  Nguyễn công Vinh                                50$00

– K1 Phan Tấn Ngưu                                    100$00

– K1 Lê Hữu Nghĩa                                         50$00

– K1 Lê Phát Minh                                        100$00

– K1 Phan Hữu Nghi                                    100$00

– K1 Lê Quang Phú                                        50$00

– K1 Nguyễn Văn Tăng                                  50$00

– K1 Hồ thị Hoa                                     50$00

– K1 Nguyễn Ngọc Kính                              50$00

– K1 Lê Văn Thao                                         50$00

Tạm Kết: .  .  .  .  .   .   .   .   .   .  .   .   .     1350$00

(Lưu ý: Các bạn không nên gởi check cho BH mà dùng hệ thống ZELLE để gởi, cần gì thì gọi BH)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Yểm Trợ K1 Nguyễn Văn Suốt SOS

Nhân Quả Có Thật Không?_Đào Văn Bình

Nhân Quả Có Thật Không?

Nói tới chuyện Nhân Quả có khi người ta cho đó là “quê mùa”  giống như chuyện “Rắn Báo Oán” chẳng hạn. Thế nhưng Luật Nhân Quả lại là định luật bất biến chi phối sự tồn vong của khoa học. Nếu mai đây khí Hydrogen và khí Oxygen hợp lại mà không thành nước thì khoa học xụp đổ, cuộc sống con người và thiên nhiên đảo lộn hòan tòan. Luật Nhân Quả (Cause and Effect Law) chi phối mọi họat động của con người, từng giờ , từng phút, từng sát na nhưng con người không thèm để ý. Chỉ khi hậu quả xảy đến người ta mới chịu tin. Chẳng hạn một cậu thanh niên gia nhập băng đảng, trộm cướp rồi vào tù. Trong tù cậu hối hận suy nghĩ. Cái chuyện ngồi tù ngày hôm nay chẳng phải tình cờ mà có hoặc do Thần Linh làm ra. Nguyên do, nguyên nhân hay cái Nhân của nó bắt nguồn từ lúc cậu không nghe lời cha mẹ, thầy cô, chơi bời lêu lổng. Từ chơi bời lêu lổng cho nên có dịp (có duyên) gần gũi với băng đảng, du đãng, trộm cướp, xã hội đen. Từ chuyện gia nhập băng đảng du đãng đưa tới việc làm phi pháp, bất chính. Việc làm phi pháp, bất chính đưa đến tù tội. Ngày hôm nay, dù cậu có ăn năn, hối hận thì cũng quá muộn màng. Muộn màng ở đây có nghĩa là cậu không thể thay đổi cái Quả – tức là bản án tù, hoặc cảnh tù tội đang diễn ra sờ sờ trước mắt. Cậu phải nhận lãnh cái Quả do việc mình làm. Tuy nhiên sự hối cải, sự ăn năn, sám hối lại rất tốt đẹp và không có gì muộn màng nếu nhìn về tương lai. Giả sử cậu thanh niên thật sự hối hận và không muốn sau này cuộc đời u ám nữa. Cậu bắt đầu hiểu sơ sơ  về Luật Nhân Quả tức là sẽ không gieo nhân xấu nữa. Muốn gieo nhân lành thì không gì bằng không làm việc xấu hoặc làm việc tốt lành. Trong hòan cảnh tù tội, việc làm tốt lành có thể là: Tuân thủ mọi luật lệ của trại giam, giữ gìn hạnh kiểm tốt. Không kết bè, kết đảng trong tù để tranh giành một chút lợi lộc, thanh tóan lẫn nhau. Tham gia các chương trình huấn nghệ để sau này có một nghề nghiệp chân chính để sinh sống (Chánh Nghiệp). Xin phép giám thị trại giam đem sách vở, kinh Phật vào trau giồi thêm vì cuộc sống tù tội cách ly với thế giới bên ngòai khiến người tù trở nên lạc hậu. Nếu đêm đêm ngồi Thiền, quán tưởng được thì càng tốt. Trong những lúc đêm khuya vắng lặng hãy quán xét về những việc mình làm trong quá khứ xem có thật sự là những việc đúng đắn không? Nhớ giữ gìn sức khỏe, đừng bi quan, tiêu cực, hủy họai thân thể. Luôn luôn quán tưởng rằng “vạn vật vô thường” cho nên cái cảnh tù tội ngày hôm nay cũng là vô thường, tạm bợ. Rồi ngày mai đây sẽ là một ngày mới. Ngày mới có tốt đẹp hay không là tùy nơi ta. Rồi cậu có thể hình dung tới cha già, mẹ yếu, gia đình anh chị em đang ray rứt khổ đau vì đứa con, người cha, người chồng, người anh, đứa em đang trong vòng tù tội. Rồi quán tưởng tới bạn bè cũng đang mong ngóng mình trở về với thế giới an lành. Rồi nguyện rằng trong ngày trở về, cậu sẽ ôm cha mẹ khóc rồi hứa từ đây sẽ tu chỉnh lại, sẽ làm ăn chân chính, sẽ không ngại khó ngại khổ, sẽ cố gắng vươn lên với đời để đền đáp công ơn dưỡng dục. 

Đấy là câu chuyện cậu thanh niên hư hỏng, còn chuyện hâm nóng địa cầu thì sao? Hơn 100 năm nay, do nhu cầu sản xuất đại quy mô, vừa để tiêu thụ, vừa để xuất cảng, các nhà máy  cứ “ung dung” nhả khói lên trời và tưởng như chẳng gây hậu quả gì. Có ngờ đâu khí CO2 bốc lên đã làm cho lớp Ozone – có nhiệm vụ che chở trái đất bởi hơi nóng của mặt trời, mỏng đi. Hậu quả là trái đất nóng dần. Nơi thì lụt lội, nơi thì biến thành sa mạc. Trong tương lại một số hòn đảo sẽ vĩnh viễn chìm xuống mặt biển. Rồi còn nhiều tai họa nữa mà các khoa học gia chưa khám phá hết. Nhân lọai thấy cái Quả hiện lù lù trước mắt bèn cuống cuồng họp nhau ở Copenhagen (Đan Mạch) từ ngày 7-18/12/2009 để tìm phương giải quyết. Nhưng liệu những cam kết có được tôn trọng không? Hay lại tiếp tục tạo nghiệp, gieo Nhân tức là tiếp tục nhả khói lên trời? Chuyên địa cầu hâm nóng ngày hôm nay lại thêm một bằng chứng hùng hồn cho thấy sự tồn vong của trái đất, sinh mệnh của trái đất là do con người quyết định chứ chẳng phải do Thần Linh Tối Thượng nào cả. Dầu sao thì sự “ăn năn hối lỗi” (ở đây là ý thức của nhân lọai) dù muộn màng nhưng “có còn hơn không” giống như sự ăn năn của cậu thanh niên nói ở trên. 

Thưa quý bạn. Nếu hiểu được như thế, nếu nhìn được như thế thì Luật Nhân Quả có gì gọi là “quê mùa” ? Có gì là mê tín dị đoan? Hiểu Luật Nhân Quả sẽ giúp chúng ta sống chừng mực, làm chuyện đúng đắn trong cuộc sống. Không tạo khổ đau cho chính mình. Không tạo khổ đau cho người, tạo sự an lành cho thế giới, như thế gọi là sống với tâm hồn cao thượng. Nếu mọi người, mọi nhà đều thực hành Luật Nhân Quả họăc biết sợ Nhân Quả thì thế giới này biến thành một Cung Trời mà chẳng cần phải bôn ba tìm kiếm Thiên Đường ở đâu khác. 

Trong suốt 45 năm thuyết pháp độ sinh, giáo hóa đệ tử, Đức Phật nói rất nhiều về Nhân Quả, đặc biệt tại pháp hội Linh Sơn. Trong pháp hội này, Đức Phật đã nói chi tiết hơn về Nhân Quả không ngòai mục đích nhắc nhở để chúng ta:

-Giúp đỡ kẻ nghèo túng.

-Kính trọng người cô quả, cô độc

-Không gian dâm với vợ người

-Không buông lung khinh rẻ chồng mình

-Không quên ơn phụ nghĩa

-Làm hết bổn phận trong việc giảng dạy, chỉ dẫn, cố vấn kẻ khác

-Không ác khẩu, mắng nhiếc, chửi rủa cha mẹ mình

-Không làm nghề trộm cướp

-Không quỵt nợ

-Không phỉnh gạt, dụ dỗ người khác

-Không làm ác

-Không âm mưu hại người

-Không buôn gian bán lận, cân non, cân thiếu, giả vờ quên rồi tính cao giá

-Không ghen tị, dèm pha 

-Không làm ai phải mất danh dự, tủi nhục.

-Không giết hại bừa bãi các lòai vật.

-Cúng dường chư tăng/ni để quý vị có phương tiện sinh sống và cũng là dịp bày tỏ tấm lòng tôn kính đạo đức, tôn kính kẻ hy sinh cả đời mình cho lý tưởng cao cả.

Xét cho kỹ, đây là những lời giảng dạy thiết thực trong đời sống chứ không phải chuyện “trên trời dưới biển”, ban bố phép mầu, khấn vái cầu nguyện vu vơ. Dưới đây chúng ta sẽ bàn thêm về Luật Nhân Quả.

1) Việc mình làm là Nhân ( Nguyên Nhân), kết quả gây ra gọi là Quả (Hậu Quả). Quả có quả tốt, quả xấu. 

-Trèo cao là Nhân, ngã đau là qủa. 

-Học hành chăm chỉ là Nhân, thi đậu là Quả.

-Hành thiền là Nhân, an tĩnh tâm hồn là Quả.

-Tu là Nhân, giải thóat là Quả.

-Giết người là Nhân, bị người ta trả thù, hoặc bị giết hại là Quả.

-Nói dối là Nhân, người ta không còn tin tưởng mình nữa (bad credit) là Quả.

-Ham muốn là Nhân, bị khổ đau, dày vò vì lòng ham muốn là Quả.

-Yêu si mê là Nhân, phát điên phát cuồng rồi tự tử chết khi thất vọng là Quả. 

-Phù thủy luyện âm binh để làm phép thuật là Nhân, lụy âm binh – tức không còn kiểm sóat được âm binh nữa, để âm binh làm loạn hoặc quật lại mình là Quả.

-Mắng chửi người ta là Nhân, bị người ta chửi lại, hoặc đi thưa kiện bị tù hoặc phải bồi thừơng là Quả.

-Lộng giả (dùng thủ đọan tuyên truyền lừa mị để cho người ta tin) gọi là Nhân. Anh em, bà con, bạn bè, quyến thuộc, tín đồ, dân chúng của mình tưởng đó là sự thực (Lộng Giả Thành Chân). Sau này mình nói ngược lại hoặc thú nhận mình nói dối người ta sẽ mắng chửi mình và cho là đồ gian dối, thậm chí có khi giết hại vì cho mình bất lương, đó là Quả.

-Ăn mặn là Nhân, khát nước là Quả.

-Tranh ảnh, báo chí, truyền hình, Internet phổ biến dâm ô là Nhân, trẻ con mang bầu, phá thai, hung bạo, bắt cóc, hãm hiếp phụ nữ là Quả.

-Phim ảnh bạo lực là Nhân, đem súng vào trường bắn giết bạn bè thày cô, đem súng vào công sở, chỗ làm, bắn giết đồng nghiệp là Quả.

-Tham vọng bành trướng, chạy đua vũ trang là Nhân, chiến tranh là Quả.

-Phá rừng là Nhân. Lụt lội là Quả.

-Nhả khói lên trời, thải thán khí, phá hủy môi trường là Nhân, quả đất nóng dần rồi từ từ biến thành sa mạc là Quả. 

-Đánh cá bừa bãi là Nhân. Cá bị diệt chủng là Quả.

-Không nghe lời cha mẹ, thầy cô là Nhân. Bỏ học, chơi bời lêu lổng, xì ke ma túy, du đãng phá làng phá xóm rồi cuối cùng vào tù là Quả.

-Cha mẹ khắc nghiệt là Nhân. Con cái bỏ đi là Quả.

-Nuông chiều con cái là Nhân. Con cái hư hỏng là Quả.

-Dạy tín đồ giáo điều cuồng tín. Tín đồ hung dữ, gây bất ổn xã hội, xung đột với các tôn giáo khác là Quả.

-Chi tiêu bừa bãi là Nhân, thiếu hụt, nợ nần là Quả.

-Thi ân, bố đức là Nhân, tiếng thơm để đời cho con cháu là Quả.

2) Nhân có nhiều nguyên nhân gộp lại. 

Ví dụ: 

-Lười biếng+ u tối khiến thi rớt

-Báo chí + tranh ảnh dâm ô+ tự do phóng túng đưa tới nạn thiếu niên mang bầu, bắt cóc hãm hiếp phụ nữ diễn ra hằng ngày như ở Hoa Kỳ.Tại Thái Lan, người ta làm thống kê cho thấy phần lớn các cô gái bị bắt cóc, hãm hiếp là vì mặc váy ngắn khiêu gợi quá mức.

-Nghèo túng + giao du với băng đảng đưa tới trộm cướp.

3) Một Nhân nhưng có nhiều Quả:

Ví dụ: 

– Gian dối khi bị phát giác đưa tới quả báo là xấu hổ, mất uy tín, không còn làm ăn được nữa, công ty đổ vỡ, sự nghiệp tiêu tan v.v..

3) Quả sinh ra rồi lại thành Nhân sinh ra Quả mới. 

Ví dụ:

– Giáo điều cực đoan + giáo sĩ cuồng tín đẻ ra tín đồ cuồng tín. Từ tín đồ cuồng tín đưa đến việc giết hại lẫn nhau, giết hại, khủng bố tín đồ các tôn giáo khác. Từ đó đưa đến thù hận. Từ thù hận lại đưa đến giết chóc khủng bố. Càng giết chóc khủng bố lại càng cuồng tín, giáo điều. Thế là chuỗi Nhân-Quả 

kết chặt lại không sao thóat ra được và luân hồi, quay đảo kiếp này sang kiếp khác trong cái trục gọi là Vô Minh. 

– Giáo dục tốt lành, tôn giáo Từ Bi sản sinh ra thiện tri thức. Thiện tri thức vừa cứu đời vừa hoằng dương tư tưởng tốt lành. Thuấn nhuần tư tưởng tốt lành lại sản sinh ra Thiện Tri Thức. Thiện tri thức lại củng cố và phát huy giáo dục tốt lành. Chuỗi nhân quả cứ như thế mà tiếp nối liền liền không dứt, kiếp này sang kiếp khác. Do đó khi tư tưởng tốt lành bị hủy diệt thì trái đất này cũng bị hủy diệt theo do gian ác và tham vọng cuồng điên lên ngôi thống trị.

4) Có khi Quả đến liền, có khi phải đợi một thời gian:

– Trồng bầu, trồng bí vài tháng là có bầu bí ăn.

– Trồng nhãn, trồng xòai phải vài năm mới có quả. 

– Một vụ án mạng, do may mắn, do nhiều nhân duyên yếu tố mà phát giác ngay ra thủ phạm và đưa thủ phạm ra tòa xét xử.

– Nhiều vụ án mạng, nhiều vụ thủ tiêu người mờ ám phải nhiều năm sau mới khám phá ra thủ phạm. 

– Song cũng có nhiều vụ không sao tìm ra thủ phạm. Dù không tìm ra thủ phạm nhưng hồ sơ của nhà hữu trách đã ghi chép và lưu giữ sự kiện giết người đó. 

5) Câu hỏi hóc búa cuối cùng phải trả lời: “Tại sao bao nhiêu kẻ làm tội ác tày trời mà vẫn sống khơi khơi, chẳng chịu quả báo gì cả?” Chúng ta phải công nhận rằng có những tổ chức, cá nhân gây tội ác kinh thiên động địa với nhân lọai nhưng nó vẫn chưa bị trừng phạt, chưa bị “trả quả”. Vì sao vậy? Lịch sử nhân lọai đã từng chứng tỏ rằng không phải con người chỉ đứng lên bảo vệ lẽ phải, bảo vệ chính nghĩa, nhiều khi con người cũng còn liều chết để bảo vệ tội ác khi họ bị lừa dối và tưởng tội ác đó là thánh thiện. Những tổ chức, những cá nhân tạo ra tội ác như vậy thế lực của họ rất lớn. Họ có khả năng mua chuộc báo chí, truyền thông tuyên truyền lừa mị, liên kết với các thế lực quốc tế hùng mạnh để khỏa lấp tội lỗi. Họ có khả năng trả thù tất cả những ai dám nói lên sự thực về tổ chức của họ. Thế nhưng ngày hôm nay do tư tưởng tiến bộ, một số thiện tri thức đã dũng mãnh đứng lên tố cáo tội ác của những tổ chức và những cá nhân này. Dù họ chưa bị “trả quả” nhưng Nhân tội lỗi đã nằm sẵn ở đó, nằm trong trí nhớ, nằm trong lương tâm của nhân lọai.  Rất tiếc đời sống của chúng ta quá ngắn ngủi, không đủ dài để chứng kiến “ngày tàn” của những con người và tổ chức gian ác này. Nếu đời sống của chúng ta “đủ dài” chúng ta sẽ có dịp chứng kiến ngày “trả quả” của họ. 

6) Bồ Tát sợ nhân, chúng sinh sợ quả: 

Khi đã hiểu Luật Nhân Quả rồi thì sợ không dám làm điều bất thiện chứ đừng nói tới làm điều ác. Bồ Tát là bậc đại trí, nhìn xa trông rộng mà lại tu Thánh Đạo cho nên rất sợ gieo nhân. Còn hàng chúng sinh như chúng ta coi thường Luật Nhân Quả cho nên “rất thích” gieo nhân. Khi quả xảy đến hối hậncũng quá muộn màng. Một vài thí dụ sau đây cho thấy thế nào là “gieo nhân”. Gặp một cô gái đẹp/một chàng trai đẹp, động tâm, nói lời bóng gió như vậy gọi là “gieo nhân”, thế nào cũng mơ mộng rồi có ngày “cá mắc câu”. Thấy sì-ke ma túy hút thử chơi thôi, tức là đã “gieo nhân” thế nào cũng có ngày dính vào nghiện ngập. Thấy của cải của người ta sinh lòng tham, như vậy gọi là “gieo nhân” thế nào cũng có ngày tìm cách cướp bóc, chiếm đoạt. Thấy chuyện đời, bàn tán, mỉa mai chơi như vậy gọi là “gieo nhân”, thế nào cũng có ngày bị vạ miệng, gây thù chuốc oán. Đem bài bạc về nhà chơi, đem gia đình con cái viếng Casino giải trí, thế nào trong số con cái cũng có đứa “Cửa nhà bán hết tra chân vào cùm.”

Tôi có một kỷ niệm gặp gỡ một vụ “gieo nhân” cười ra nước mắt như sau: Tại một trường trung học đệ nhất cấp (Middle School) ở California mà tôi phục vụ, có một nữ sinh Việt Nam, lớp 8 mới 13 tuổi. Cô bé thường xuyên trốn học và hút xì-ke ma túy. Vì thường xuyên bỏ học, không theo kịp chương trìnhcho nên bà giáo nhờ tôi kèm và giảng thêm bài cho em. Nhìn cô bé tôi thương cảm vì cô bé ngoan, thông minh và chịu khó nghe giảng bài. Tôi nói, “Con à, con thông minh và xinh xắnnhư thế này, thế nào con cũng có một tương lai vô cùng tốt đẹp. Con ráng đi học và đừng làm cái gì bậy bạ nghe con.” Tôi không biết cô bé có xúc động gì với lời khuyên của tôi không. Nhân dịp này nhà trường cũng cho mời phụ huynh lại để thông báo. Trong lúc chờ đợi phiên họp với ông phó hiệu trưởng, tôi hỏi mẹ cô bé, tuổi chừng 40, “Em làm nghề gì vậy?” Người mẹ đáp, “Dạ, em mở quán cà-phê.” Tôi hỏi tiếp, “Cà-phê tên gì vậy em?” Người mẹ nói, “Cà-phê Quên Đời!” (2) Nghe thế tôi buột miệng kêu lên, “Trời đất quỷ thần ơi! Thiếu gì tên đẹp như Cà-phê Ban Mai, Cà-Phê Nắng Mới, Cà-phê Vui v.v.. sao em không đặt mà chọn cái tên Cà-phê Quên Đời?” Nghe phê bình vậy, người đàn bà nhìn tôi không nói gì. Có thể cô ta hối hận vì con cái hư hỏng, nhưng cũng có thể là, “ Trời ơi! Cái ông thầy này ở Mỹ sao lạc hậu quá! Chọn những cái tên như thế thì quán cà-phê làm sao sống được.” Quả thật vậy! Nếu quý vị tới Thành Phố Tacoma Tiểu Bang Washington, Nam hoặc Bắc Cali như Los Angeles, Westminster hoặc San Jose quý vị sẽ thấy những quán cà-phê Việt Nam với đèn mờ mờ, bồi bàn bưng cà-phê là những cô gái trẻ, đi giày cao gót, ăn mặc hở hang (sexy) quá mức và được quảng cáo công khai trên báo. Sở cảnh sát địa phương rất bực bội với những quán cà-phê này vì nó còn là nơi lén lút tiêu thụ xì-ke ma túy. Nhưng thành phố lại cho mở, vì thương mại phát triển, thành phố thu được nhiều thuế. Khách hàng thường trực của những quán này là thanh niên độc thân, hoặc gia đình đổ vỡ, thảng hoặccũng thấy một vài ông già đầu bạc. Họ tới uống cà-phê, ngắm nghía “ rửa mắt” hoặc tán dóc (tán gẫu) với mấy cô hầu bàn, hoặc coi truyền hình rồi cá độ, nhất là các trận đấu bóng bầu dục (Football). Họ cho tiền “típ” hay ” pour bois” rất nhiều. Cứ thử tưởng tượng với một khung cảnh mờ mờ, ảo ảo “quyến rũ” như thế, một cô bé học sinh ngây thơ, một ngày nào đó vì mẹ bận, thay mẹ ngồi ở quầy tính tiền, sẽ thấy những gì và sẽ nghĩ như thế nào? Với cái Nhân xấu như thế thì cô bé có hư hỏng cũng là chuyện đương nhiên thôi. Nghĩ thật đáng thương.

Vậy các bạn trẻ ở Việt Nam đừng tưởng Mỹ không có Luật Nhân Quả. Đừng tưởng Luật Nhân Quả chỉ ứng dụng cho các xứ nghèo như Việt Nam, Lào, Kampuchia, Miến Điện…chứ ở Mỹ, Úc, Âu Châu thì chẳng có Nhân-Quả gì hết. Đừng nghĩ vậy. Thống kê của Bộ Tư Pháp năm 2002 cho biết con số tù nhân bị giam giữ tại các nhà tù Tiểu Bang và Liên Bang Hoa Kỳ đã vượt quá 2 triệu người – con số cao nhất trong lịch sử lập quốc. Còn tại Tiểu Bang Victoria, Úc Châu, số nữ tù nhân gốc Việt đông đảo nhất, chiếm 16% trong tổng số 312 người. Trồng cần sa, gian lận trợ cấp, buôn bán ma túy, và nhất là ham mê cờ bạc đã là những lý do khiến những người phụ nữ này phải vào tù. (Thời Báo Online)

Thưa các bạn, vì cuộc sống và vì “ đắm nhiễm trần cấu” mà con người đã gây Nhân, tạo Nghiệp một cách “ngay tình”mà không hề hay biết. Chúng ta tự “gieo nhân xấu” để gây khổ lụy cho gia đình, bạn bè, làng xóm, xã hộivà đất nước chứ chẳng có Thần Linh(God) nào can dự vào đây. Khi Quả vụt tới thì cuống cuồng cầu nguyện van vái Thần Linhcứu giúp. Nếu Thần Linh có thật, có một chút hiểu biết và Thần Linh nói được chắc chắn đã quát mắng, “Ngươi tự gây ra tai họa thì ngày hôm ngươi phải nhận lãnh hậu quả. Giả sử ta có khả năng cứu giúp nhà ngươi thì tại sao ta không hóa phép để cả thế giới này không bao giờ có khổ đau để cho ta đỡ mệt? Khổ đau do chính các ngươi tạo ra. Ta thì giờ đâu, từng giây, từng phút tạo ra hàng vạn, hàng vạn thứ khổ đau? Thôi đừng nói chuyện ba lơn nữa!”

Vậy nếu không muốn “gieo nhân”, ngoài việc ý thức về Luật Nhân Quả, hành giả lúc nào cũng phải giữ gìn “Chánh Niệm” không để Tâmmình buông thả mông lung như “Ngựa phi ngoài đồng. Khỉ leo trên cành”. Hành giả luôn luôn ở trong trạng thái cảnh giác, giống như Lão Tử nói rằng phải luôn luôn ý thức như mình đang đi trên nước sông nước đóng băng. Nếu cảnh giác được thì gọi là Định. Nói khác đi, biết mà không nói, thấy mà không bình phẩm, nghe mà không khen chê, không động tâm, đó là trạng thái “Đối cảnh vô tâm” của Sơ Tổ Trúc Lâm Trần Nhân Tông. Đối cảnh mà vô tâm thì chẳng “gieo nhân” gì hết. Nếu có “gieo nhân” thì gieo nhân lành chứ không phải nhân xấu. Khi không “gieo nhân” nữa thì không có Quả. Không Nhân – Quả thì Luân Hồi chấm dứt. Không gieo nhân, không tạo ác nghiệp, an nhiên tự tại là cảnh giới của Chư Phật và Chư Vị Bồ Tát vậy.

Kết Luận: 

Dù bạn có coi thường Luật Nhân Quả, dù bạn không tin Luật Nhân Quả, dù bạn phủ nhận Luật Nhân Quả nhưng không bao giờ bạn thóat khỏi Luật Nhân Quả. Làm ác sẽ gặp ác (Ác Giả Ác Báo) dù bạn có chạy trốn lên cung trời nào, thế giới nào, dù Thần Linh Tối Thượng nào có che chở cho bạn cũng không được. Thi hành luật pháp, truy tố kẻ phạm pháp ra trước pháp đình là ứng dụng Luật Nhân Quả. Thế giới hiện nay vẫn tiếp tục truy lùng những tòng phạm giết người hàng lọat trong các lò sát sinh thời Đức Quốc Xã ra trước Tòa Án Quốc Tế, cho dù kẻ đó đã thay đổi quốc tịch, thay đổi tên họ, cho dù có kẻ ngày nay đã già yếu nhưng vẫn phải điệu ra trước tòa để “trả quả”. Có nhìn thấy, có hiểu được như thế mới thấy Luật Nhân Quả thật đáng sợ. Hệ thống luật pháp, tòa án để trừng trị kẻ có tội là sự ứng dụng hiển nhiên của Luật Nhân Quả. Nếu không có luật pháp, không có tòa án để trừng trị kẻ có tội thì thế giới này sẽ biến thành thế giới của lòai muôn thú, tức là làm ác mà không bị trừng phạt gì cả.  Để tạm thay cho lời kết luận không gì bằng trích dẫn ở đây lời nhận xét của Tỳ Kheo Thích Chơn Quảng trong cuốn sách Luận Về Nhân Quả xuất bản ở trong nước năm 1988 và tái bản ở Hoa Kỳ năm 2551 (Phật Lịch) tức năm 2007 (Tây Lịch) nơi trang 11 viết như sau “ Luật Nhân Quả là nền đạo đức, công bằng hơn mọi nền đạo đức nào khác và chính Luật Nhân Quả cũng chính là lương tri của nhân lọai.” Và lời phát biểu của Bà Christa Bentendieder, pháp danh Agganyani – Tổng Thư Ký Liên Đoàn Phật Tử Đức Quốc: “Đạo Phật chính là quy luật tự nhiên của trí tuệ, đó là Luật Nhân Quả.” (Buddhism as the natural law of the mind, the law of cause and effect.) 

Đào Văn Bình

(Trích sách Đạo Phật: Đất Nước, Cuộc Sống và Tâm Linh xb năm 2017 phát hành trên Amazon)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Nhân Quả Có Thật Không?_Đào Văn Bình

Mai Nầy về Già _ NVV sưu tầm trên Internet

MAI NÀY VỀ GIÀ

Nguyễn Văn Vinh Sưu tầm


Tinh-Gia

Mai này về già ông với tôi
Có còn quấn quýt tựa đôi mươi
Tôi còn nũng nịu hay hờn dỗi
Ông còn lúng túng dỗ mãi thôi

Mai này về già ông với tôi
Tóc chẳng còn xanh bạc trắng rồi
Chân chậm, mắt mờ, tay run rẩy
Vẫn mãi vai kề gọi “Mình ơi!”

Mai này về già chẳng rong chơi
Mình ngồi uống trà trước hiên thôi
Ta kể nhau nghe dăm chuyện cũ
Một thời hai đứa rất đẹp đôi

Mai này về già ngắm nhau thôi
Da mồi đã nổi khắp muôn nơi
Nụ cười nhăn nhúm theo ngày tháng
Lãng đãng cùng nhau kể chuyện đời

Mai này về già ta nghỉ ngơi
Chẳng bận tâm chi việc trên đời
Bao nhiêu hoài bão thời trai trẻ
Chớp mắt nhẹ thôi đã xa rồi.

Mai này về già ông với tôi
Nhớ nhớ quên quên cái tuổi đời
Ông cười trách nhẹ ôi bà lão
Thật là đãng trí quá đi thôi.

Mai này về già ông với tôi
Cứ mãi bên nhau chẳng chịu rời
Nguyện mãi cùng nhau vui tối sớm
Êm đềm yên ả đón ngày trôi!

 

(Nguyễn Văn Vinh sưu tầm)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Mai Nầy về Già _ NVV sưu tầm trên Internet

NHÀ THƯƠNG_Đỗ Duy Ngọc

Bệnh viện Sài Gòn hay còn gọi là Nhà Thương Sài Gòn trước 1975

NHÀ THƯƠNG

Đỗ Duy Ngọc

(Bài sưu tầm lượm lặt trên “net”)

Bây giờ mà ngồi nói chuyện với ai đó, hoặc đọc đoạn văn của ai đó mà gọi bệnh viện là nhà thương thì chắc chắn rằng ai đó chánh hiệu con nai vàng là dân Sài Gòn trước 75. Chắc chắn là như thế.. 
Bởi trước 1975 ở Sài Gòn dù các bảng tên đều ghi là Bệnh viện, nhưng dân Sài Gòn vẫn gọi là nhà thương. Bởi theo quan niệm của họ đây là nơi nhà chữa trị cho người thương tật bịnh hoạn, là nơi xoa dịu nỗi đau, giúp họ khỏi bệnh tật.
Người miền Nam trước 1975 gắn liền nhà thương với tình thương, là nơi thể hiện tình cảm của những người làm ngành y tế với bệnh nhân, là nơi các soeur Công giáo hi sinh trọn đời để chăm sóc và thương yêu từng bệnh nhân, là nơi các bác sĩ, y tá hết lòng cứu chữa bệnh nhân với tình thương và trách nhiệm. Nên họ gọi bệnh viện là nhà thương, tiếng gọi bao hàm nhiều tình thân và nhân bản.
Sài Gòn thời đó có nhiều bệnh viện công do nhà nước quản lý như nhà thương Chợ Rẫy, nhà thương Chợ Quán, Bình Dân, Nguyễn Văn Học, Từ Dũ, Hùng Vương hay nhà thương Hồng Bàng, Vì Dân…Bệnh nhân vào chữa trị ở các bệnh viện này đều được miễn phí hoàn toàn, nên còn gọi là nhà thương thí. Mang danh nhà thương thí nhưng y bác dĩ vẫn tận tâm, chữa trị đến nơi đến chốn.
Đương nhiên ở nhà thương thí thì điều kiện sinh hoạt không được tốt như những nhà thương tư. Nhưng không bao giờ có cảnh ba bốn người một giường hay điều kiện vệ sinh quá nhếch nhác như một số bệnh viện bây giờ. Cũng không có cảnh phải phong bì bồi dưỡng từ y công, y tá đến bác sĩ như bây giờ.
Thuở đó Sài Gòn cũng có nhiều bệnh viện tư dành cho người có tiền như bệnh viện Đồn Đất (Grall của Pháp) hay các bệnh viện của bang hội người Hoa như Triều Châu, Quảng Đông, Phúc Kiến, Sùng Chính…mở ra nhiều ở Sài Gòn. Nhiều nhà sinh tư nhân thì gọi là nhà bảo sanh, cũng là nơi giúp các sản phụ khi sinh nở. Ở nhiều nhà bảo sanh có các bà mụ là y tá lâu năm, tay nghề còn giỏi hơn bác sĩ
Thế nhưng, nằm nhà thương tư thì sạch sẽ, thoáng mát nhưng nếu gặp biến cố hay ca khó, bệnh nhân cũng đều phải chở vào nhà thương công, bởi mang danh là nhà thương thí nhưng ở đó đều quy tụ bác sĩ giỏi và các sinh viên y khoa ưu tú nội trú ở đấy.  Họ giỏi về chuyên môn và đối xử với bệnh nhân bằng y đức. Sanh con so hay khó sinh thì phải vào nhà thương Từ Dũ, Hùng Vương, lao phổi thì phải vào bệnh viện lao Hồng Bàng.
Cả một thời gian dài mấy chục năm, chưa bao giờ có cảnh người nhà bệnh nhân hành hung nhân viên y tế mà chỉ có một thái độ kính phục, trân trọng và biết ơn.
Thời thế đổi thay, chẳng còn ai gọi bệnh viện là nhà thương nữa. Gọi thế thành châm biếm. Bởi bây giờ chốn ấy chẳng còn tình thương, không còn là nơi để sẻ chia những đau đớn của người bệnh nữa. Giờ bệnh viện là chốn kinh doanh, có nơi tiền phòng đắt như khách sạn bốn năm sao. Vào nhập viện dù đang cấp cứu sắp chết thì cũng phải đóng tiền mới có người đến khám. Mọi sinh hoạt đều phải trả tiền, từ miếng nước cho đến giấy chùi cầu, từ ngọn đèn cho đến bông băng. Chẳng còn phân biệt công tư, chỗ nào cũng phải có tiền mới chữa. Giờ mang bệnh thì giàu có không nói làm chi, chứ khá sẽ xuống nghèo, nghèo xuống mạt và chẳng còn chi để sống, bán vợ đợ con, bán hết đất hết vườn hết ruộng hết nhà vì bệnh. Tiếc cái nhà thương thí biết bao nhiêu.
Cái tên nhà thương thí đã trở thành dĩ vãng.
Bỗng dưng nhớ tiếng nhà thương tha thiết và tiếc một thời gọi thân thương nhà thương thay cho bệnh viện.

DODUYNGOC

 

 

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở NHÀ THƯƠNG_Đỗ Duy Ngọc

Nước Mắm Của Riêng Tôi – Tác giả Bruce Weigl

NƯỚC MẮM CỦA RIÊNG TÔI. ( hay)

Tác giả : Bruce Weigl

nuoc mam 3

Giáo sư Bruce Weigl được biết đến như một hiện tượng của thi ca Mỹ . Sinh ngày 27-1-1949 tại Lorain , Ohio , ông từng tham chiến ở chiến trường Quảng Trị từ năm 1967 đến 1968 và đã chứng kiến những sự thật kinh hoàng của cuộc chiến tranh Việt Nam . Trở về sau cuộc chiến , ông tìm đến văn chương như một sự cứu rỗi linh hồn . Sau tập thơ đầu tay Một mối tình (1979) , ông là tác giả của 13 tập thơ riêng và quyển hồi ký nổi tiếng mang tên Vòng tròn của Hạnh . Giáo sư Bruce Weigi nguyên là chủ tịch Chương trình viết văn quốc gia , chủ tịch hội đồng thẩm định thơ của giải thưởng Văn học quốc gia Mỹ . Ông đã nhận được nhiều giải thưởng văn học . Tập thơ Bài hát bom na-pan viết về chiến tranh Việt Nam của ông đã được đề cử cho giải thưởng Pulitzer .

Nước mắm của riêng tôi là một trong những câu chuyện có thật mà ông viết riêng cho tập sách Khi mưa thôi nã đạn .

Tôi ngửi thấy mùi nước mắm lần đầu tiên trong lúc tên lửa và đạn cối pháo kích dữ dội tại một nơi chúng tôi đặt tên là Trại Evans , một căn cứ của lữ đoàn kỵ binh bay số 1 , trong chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam , cách Huế 35 km về phía bắc theo quốc lộ số 1 .

Đối diện với hầm trú ẩn của chúng tôi – cái hầm đã cứu mạng chúng tôi rất nhiều lần -là một chiếc lều và hầm trú ẩn của những người lính Việt Nam Cộng Hoà . Lúc đó chúng tôi đã bị hai quả tên lửa 122 li nổ rất gần , một mảnh tên lửa đã xé toang chiếc lều ngủ của những người lính Việt Nam Cộng Hoà dù lúc đó họ thoát chết vì đã kịp ẩn náu dưới hầm sau đợt pháo kích , tôi và một số đồng đội bước khoảng năm mươi mét để quan sát mảnh tên lửa đã xé rách chiếc lều . Khi cách lều chừng mười lăm mét , chúng tôi bị choáng váng bởi một mùi nồng nặc hơn tất cả các loại mùi mà tôi đã từng tiếp xúc . Lúc đó tôi nghĩ phải có một người hoặc con thú to lớn nào đó đã chết và thối rữa gần đó . Tôi không kìm nén dược cơn ho dữ dội , cơn ho đã khiến tôi phải hít thở rất sâu và điều đó làm tôi mắc nghẹn , tiếp tục ho không thể kiềm chế . Tôi di chuyển càng nhanh càng tốt xa khỏi cái lều đã bị tên lửa đánh trúng , nơi những người lính Việt Nam Cộng Hoà đã trữ một lu nước mắm trên dưới 80 lít , một thứ không thể thiếu trong bữa ăn của người Việt . Sau đó tôi mới biết điều này và biết rằng lu nước mắm đậm đặc đó bị mảnh tên lửa bắn vỡ . Nước mắm tràn vào lều , chảy xuống chiếc mương nhỏ gần đó .

Nhưng có điều gì trong cái mùi nồng nặc đó làm tôi thích thú và nó lưu lại trong tôi . Một đôi lần ở trại căn cứ trên quốc lộ số 1 , nơi chiến trường đầy bom và lửa đạn , hoặc ở bãi đậu máy bay gần đó , tôi đã ăn cùng những người lính Việt Nam Cộng Hoà – những người đã vui vẻ cho tôi nhập cuộc . Tôi rất biết ơn họ vì tôi ghét cay ghét đắng lương khô được cung cấp cho lính Mỹ . Có một lần trong những bữa ăn chung đó , tôi hỏi họ về nước mắm . Họ rất vui khi tôi đề cập đến nó – lúc này tôi đã biết đôi chút về tính cách của người Việt – và họ nhanh nhảu rót ra một ít , chan lên một chén cơm trắng nhỏ và đưa cho tôi . Thật là ngon : một sự phối hợp tuyệt vời giữa sự đậm đà và ngọt ngào , và sự trù phú của một dòng sông chảy về bóng tối nơi thời gian chiếm hữu .

Kể từ lúc đó tôi ăn với nước mắm bất cứ khi nào có thể ở chiến trường Việt Nam , nhưng cơ hội đó không nhiều .Dĩ nhiên nước mắm không nằm trong khẩu phần lương khô hoặc trong những bữa ăn được chuẩn bị cho lính Mỹ nơi căn cứ trại . Nhưng tôi luôn giữ hương vị của nó trong tâm trí tôi và chỉ cần nghĩ về nước mắm là tôi đã ứa nước bọt . Tôi tìm hiểu nhiều hơn về nước mắm : nước mắm dùng làm nước chấm , dùng nấu ăn để thêm hương vị và thay cho muối . Trong chiến tranh , một số người Việt thậm chí còn uống nước mắm để giữ cho thân thể họ ấm áp , đặc biệt là khi họ phải ngâm mình xuống nước trong thời gian dài . Với cái mùi đặc biệt của nước mắm , nó cũng giúp mồi hoặc bẫy thú lợi hại hơn . Và nước mắm làm cho tất cả những thứ bạn ăn ngon hơn .

Khi rời chiến trường Việt Nam , tôi nghĩ rằng tôi sẽ không bao giờ quay trở lại . Tôi mang theo rất ít văn hoá Việt về cùng , lý do chính là bởi nền văn hoá đó đã bị ngăn cách với chúng tôi . Tôi biết rằng nó đã bị biệt lập với chúng tôi vì nó là một nền văn hoá lâu đời , giàu có . Nó bị ngăn cách với chúng tôi để chúng tôi không thể nhìn thấy con người Việt Nam như những con người thật , nhất là những con người đang chiến đấu cho miền Bắc , chống lại chúng tôi ở chiến tuyến bên kia , để chúng tôi cảm thấy dễ dàng hơn khi giết họ . Tôi không mang nhiều văn hoá Việt theo về cùng tôi sau chiến tranh , nhưng tôi mang theo tình yêu về một đất nước xanh như thiên đàng , nơi mà những con người tôi gặp luôn luôn tỏ ra tốt bụng và rộng lượng . Tôi cũng đem theo về một balô đầy những nỗi buồn sâu thẳm , một sự trống vắng niềm tin đối với chính phủ của mình . Và tôi đem theo một sự nghiện ngập đối với nước mắm .

Ở Lorain , bang Ohio , một thị xã có nhiều xưởng chế biến sắt nơi tôi sinh ra và lớn lên , không thể nào tìm thấy nước mắm vào tháng 12 năm 1968 . Tôi cũng không thể tìm thấy nước mắm ở Cleveland , không có một nhà hàng , cửa hiệu hoặc chợ bán đồ ăn Việt Nam nào . Lúc đó chưa có một người Việt nào sống ở khu vực xung quanh . Sau khi rời chiến trường , trở về quê hương , tôi thường nhìn đăm đắm qua cửa sổ căn nhà cha tôi , quan sát tuyết phủ đầy những khoảng sân để biết rằng không có ai đang trốn sau bụi cây để tìm cách giết tôi . Tôi cảm thấy an toàn nhưng tôi cũng thấy rất nhớ Việt Nam . Nhưng tôi không thể bày tỏ nỗi nhớ đó với những cựu binh khác và với cả gia đình của mình . Nếu biết , họ sẽ nghĩ rằng có điều gì không ổn với tôi và chiến tranh đã làm tôi mất trí . Vì thế tôi giữ nỗi nhớ đó cho riêng mình . Sau đó thời gian trôi đi như những mảnh vụn trên sông , tôi bị lạc vào cơn mộng tưởng không thể gọi tên . Tôi không là con người của một năm về trước , tôi đã bỏ lại một phần hồn vía của mình ở Việt Nam .

Khi mùa xuân tới , tôi làm một việc mà tôi luôn làm trong mỗi mùa xuân : câu những con cá hồi to đã nảy nở sinh sôi nơi những con sông , dòng suối gần nhà . Sau một ngày may mắn , tôi đem về ba con cá to , mỗi con nặng khoảng hai đến ba cân . Khi làm vảy chúng sau gara ôtô của cha tôi , tôi ngửi thấy mùi cá . Lúc đó tôi nhớ về cuộc trò chuyện với một người lính Việt Nam Cộng Hoà . Chúng tôi đã nói về nước mắm , về việc nó là gia vị quan trọng và đặc biệt nhất trong nghệ thuật ẩm thực của người Việt Nam , rằng nó có sức mạnh huyền bí để biến đổi hương vị của những loại thức ăn khác nhau , theo những cách khác nhau và về cách làm nước mắm . Cuối câu chuyện , anh ta cho tôi biết cách làm nước mắm tại nhà . Tôi đã quên câu chuyện này cho đến khi tôi làm vảy cá vào mùa xuân mà tôi trở về nhà và bỏ lại rất nhiều trí nhớ của tôi nơi chiến trường xưa . Tôi nhớ anh ấy đã bảo tôi rằng chỉ cần mổ bụng , mổ ruột , xẻ đôi con cá , ướp muối và trải chúng trên những chiếc que xếp sẵn , sau đó cứ chờ chúng rã xuống chiếc nồi bên dưới . Anh ấy nói rằng khi mà chúng đã rã hết ra , tôi sẽ nấu chúng với lửa nhỏ cho đến khi chúng thật nhừ và quánh đặc thành một chất lỏng tuyệt đẹp . Ý nghĩ về nước mắm nơi căn lều của những người lính Việt Nam Cộng Hoà tại trại Evans đưa tôi trở về Việt Nam , và mùi nước mắm rất nặng thật sự đã trở thành mùi của một đất nước .

Vì thế tôi quyết định mà không cần suy nghĩ nhiều là mình sẽ tự làm nước mắm . Tôi ra cửa hàng vật liệu tìm mua dây thép và đinh . Dùng những thanh gỗ thừa trong gara ôtô của cha tôi , tôi dựng một giàn phơi nhỏ . Tôi lấy một chiếc chảo từ bếp của mẹ tôi , dùng gạch kê nó dưới giàn phơi để đón lấy chất lỏng từ những con cá đang rữa ra .

Tôi biết rằng tôi phải chờ chúng rữa , vì thế tôi vào nhà và quên mất nước mắm của riêng tôi đang lên men đằng sau gara ôtô của cha tôi tại thị xã Lorain , bang Ohio , cách cuộc chiến vẫn đang ác liệt mười hai nghìn dặm . Tôi quên như tôi đã để quên phần lớn trí nhớ của mình tại cuộc chiến ấy . Tôi quên cho đến một buổi tối , tôi đang ngồi trong nhà của cha tôi nhìn ra cửa sổ . Tôi không nhớ tôi đã nghĩ gì , nhưng tôi nhớ rằng lúc đó tôi đã loay hoay tìm lối đi cho mình . Tôi biết rằng chiến tranh đã ăn vào tôi và bám riết , không buông tha tôi . Ngồi trong ngôi nhà của cha , tôi nghe có sự náo động bên ngoài và bước sát đến cửa sổ , nhìn ra ngoài và thấy nửa tá xe cảnh sát đang đỗ bên đường và những khoảng sân ngập xanh màu áo cảnh sát . Tôi đi ra ngoài và nhập vào đám đông nơi hàng xóm của tôi đang tụ tập . Tôi hỏi người cảnh sát thường tuần tra quanh khu vực tôi sống rằng điều gì đang xảy ra vậy .

“Có người báo với chúng tôi có một xác chết ở một trong những căn nhà này” – anh ta nói .

“Tại sao họ nghĩ thế ?” – tôi hỏi .

“Chúa ơi – anh ta thốt lên – Vì cái mùi nồng nặc này . Anh không ngửi thấy nó sao ?”

Đứng giữa con phố , ban đêm , xung quanh tôi hàng xóm đang tụ tập như thể một nghi lễ, những khoảng sân nhà đầy cảnh sát , tôi hít hơi thở sâu đầu tiên từ khi tôi ra ngoài . Tôi biết ngay vấn đề và bảo cảnh sát tôi biết mùi nồng nặc phát sinh từ đâu . Ba người cảnh sát và một số hàng xóm đi theo tôi đến giàn phơi , đằng sau gara ôtô của cha tôi . Trước khi họ thấy cảnh tượng phơi cá của tôi , họ choáng váng bởi mùi nồng nặc và buộc phải quay chân .

“Đây là xác chết của anh” – người cảnh sát thường tuần tra khu vực của tôi đứng đằng xa và nói , chỉ tay vào những con cá đang thối rữa .

Sau khi mọi việc đã được giải quyết với cảnh sát và với những người hàng xóm tốt bụng của tôi , tôi hứa với họ rằng tôi sẽ tiêu huỷ những con cá càng sớm càng tốt . Tôi nhặt nhạnh những thứ còn lại của ba con cá hồi và bỏ chúng vào nồi . Bên ngoài nhà , tôi nhóm lửa và nấu những con cá này với lửa thật nhỏ , thật lâu cho đến khi chúng thật nát và hầu như biến thành chất lỏng . Tôi lược bỏ phần xác qua một chiếc rây và lại nấu tiếp . Cuối cùng , màu của chất lỏng trở nên giống màu mặt trời trước khi lặn xuống chân trời .Tôi đổ đầy chất lỏng vào một cái lọ , đậy nắp thật chặt và giấu nó trong phòng ngủ của mình .

Năm 1968 , ở cao nguyên Trung phần Việt Nam , một số người lính Việt Nam Cộng Hoà đã chia cho tôi ăn nhu yếu phẩm của họ , đã dạy tôi cách làm một loại nước từ cá lên men , loại nước giống như thuốc trường sinh bất lão diệu kỳ , như một phương thuốc chữa cho tất cả các loại bệnh thể xác và linh hồn . Đối với riêng tôi , mùi nước mắm đã trở thành mùi của đất nước Việt Nam khi tôi ở Mỹ và thương nhớ về đất nước thứ hai của tôi . Mùa xuân năm ấy , tôi làm nước mắm của riêng mình nơi sân sau của ngôi nhà cha tôi – một người công nhân làm ở xưởng chế biến sắt . Nước mắm ấy tôi đã đậy nắp thật chặt như một loại tinh hoa mà tôi cần phải mãi mãi giữ gìn . Tôi dùng nước mắm một cách bí mật cùng thức ăn , nhưng luôn luôn phải rất cẩn trọng vì mùi của nó rất nặng và vì cảnh sát đã đến thăm hỏi tôi chính vì cái mùi đó .

Sau rất nhiều năm , chiến tranh đã di trú vào tôi , mặc dù làm đủ cách để quên nó , có những điều cứ khắc sâu vào tâm khảm . Khi tôi ăn ở những cửa hiệu , nhà hàng Việt Nam trên đất Mỹ , tôi luôn nói với họ rằng hãy đừng cho tôi nước mắm kiểu Mỹ mà phải là kiểu chính hiệu Việt Nam . Tôi đã học được rằng thức ăn Việt Nam ngon hơn khi nấu với nước mắm ngon , hoặc chấm với nước mắm được pha khéo léo với đủ lượng tỏi , ớt , chanh , nước và đường . Từ một người hâm mộ nước mắm , tôi trở thành một người sành sõi khó tính , lùng sục những cửa hiệu châu Á ở Mỹ để tìm nước mắm ngon . Ở quê hương tôi , trong thập niên 1980 và 1990 , mặc dù người Việt bắt đầu di cư sang , rất khó tìm được nước mắm ngon .

Một số loại nước mắm hình như chỉ được pha bằng nước , muối và màu thực phẩm nhưng đã đánh lừa được những cái mũi to . Chỉ qua một quá trình tìm kiếm công phu , tôi mới tìm được những cửa hiệu tin cậy có thể cung cấp nước mắm tốt cho tôi . Thỉnh thoảng , khi nấu ăn mời bạn bè , tôi dùng một ít nước mắm để nấu những món ăn châu Âu mà họ yêu thích . Và thường sau bữa ăn , bạn tôi sẽ nói rằng thức ăn thật ngon và mùi vị rất đặc biệt , rồi hỏi “Anh đã dùng gia vị gì trong công thức chế biến đấy …? Cái vị này rất đặc biệt” … Tôi không bao giờ kể cho họ nghe . Cho đến hôm nay , tôi muốn giữ bí mật đó cho mình .

Nguyễn Phan Quế Mai dịch

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Nước Mắm Của Riêng Tôi – Tác giả Bruce Weigl

Thơ ngũ ngôn -TPK

KHỦNG BỐ

Hai mươi năm gây chiến
Việt cộng gieo đau thương
Bằng chính sách khủng bố
Giết hại lắm dân thường

Rình mò trong đêm tối
Chôn mìn khắp nẻo đường
Xe đò luôn lâm nạn
Dân chết nát thịt xương

Chiều cuối tuần vui nhộn
Đường phố rộn tiếng cười
Bỗng tiếng bom bùng nổ
Quán ăn chết bao người

Giữa giao thừa hương khói
Vẹm từ đâu tràn về
Lùng bắt người chôn sống
Mậu Thân luống não nề

Pháo kích vào trường học
Cọng sản giết trẻ thơ
Chúng là loài tàn độc
Gây thống hận vô bờ

Suốt mùa hè đỏ lửa
Bắc quân nã pháo sang
Dân Quảng Trị chết thảm
Trên đại lộ kinh hoàng

Trời tháng tư bão nổi
Cộng sản chiếm Sài Gòn
Nam quân đi “cải tạo”
Vợ con sống mỏi mòn

Xua người đi “kinh tế”
Để cướp đất lấy nhà
Học sinh bị đuổi học
Bởi con “ngụy” đó mà

Cải tạo công thương nghiệp
Đánh tư sản, đổi tiền
Dân trở thành tay trắng
Nhiều kẻ bỗng hóa điên

Giờ nầy khắp cả nước
Vẫn nơm nớp lo âu
Vẫn chính sách khủng bố
Dân Việt vẫn âu sầu.

Tống Phước Kiên
Tháng Năm 2021

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thơ ngũ ngôn -TPK

Lễ Tưởng Niệm Chiến Sĩ Trận Vong tại Little Saigon (Phóng sự Ảnh của K1 Võ Thiệu)

Hình ảnh về buổi Lễ Tưởng Niệm Chiến Sĩ Trận Vong tại Little Saigon, Nam California. (Hình ảnh do K1 Võ Thiệu chụp)

Lễ Tưởng Niệm Chiến Sĩ Trận Vong 31/5/2021 tại Little Saigon, Westminster, Nam California

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Lễ Tưởng Niệm Chiến Sĩ Trận Vong tại Little Saigon (Phóng sự Ảnh của K1 Võ Thiệu)

Câu Chuyện về 3 con khỉ_Nguyễn Nhung

Câu Chuyện về 3 con khỉ

Chuyện về 3 con khỉ: một con che hai mắt, một con bịt hai tai và một con bịt miệng là hình tượng khá ρhổ biến nhưng về ý nghĩa của nó, không ρhải ai cũng hiểu cặn kẽ.
Ở một số ngôi chùa ở Việt Nam, Ấn Độ và cả Nhật Bản hiện naγ, tượng ba con khỉ vẫn được trưng bàγ trong sân chùa. Ba con khỉ nàγ, một con che hai mắt, một con bịt hai tai và một con bịt miệng.
Thoạt nhìn, có lẽ nhiều người sẽ ngaγ lậρ tức suγ luận rằng, hình ảnh trên có nghĩa là “không thấγ, không nghe và không nói”.
Nói cách khác, bức tượng nàγ muốn dạγ con người rằng, trong cuộc sống, đừng quan tâm đến chuγện của người khác haγ những gì đang xảγ ra xung quanh.
Tuγ nhiên nếu hiểu theo cách nàγ, sẽ là rất thiếu chính ҳάc. Vậγ, ý nghĩa sâu xa mà người xưa muốn truγền dạγ lại cho thế hệ sau qua bức tượng nàγ là gì?

Ý nghĩa của bức tượng “bộ khỉ tam không”
Từ vài ngàn năm về trước, bức tượng nàγ đã xuất hiện tại Ấn Độ. Lúc đầu, đó là bức tượng về vị thần Vajrakilaγa. Đâγ là vị thần có sáu taγ, mỗi đôi taγ dùng để bịt hai mắt, hai tai và miệng.
Bức tượng được khắc nhằm răn dạγ mỗi người không được nói điều xấu, không nhìn điều xấu và không nghe điều xấu.
Không rõ tư tưởng “ba không” nói trên theo các nhà tu hành Phật giáo vào Trung Quốc vào thời kì nào nhưng vào khoảng thế kỷ thứ 9, một thiền sư người Nhật Bản trong chuγến đi làm việc ở Trung Quốc đã mang theo về xứ sở ρhù tang tư tưởng nàγ.
Tại Nhật Bản, trong đền Toshogu hiện naγ còn lưu giữ một bức điêu khắc cổ có tượng ba con khỉ tên là Kikazaru, Mizaru và Iwazaru, nghĩa là: không nghe điều xấu, không nhìn điều xấu và không nói điều xấu bằng gỗ của nghệ nhân Hidari Jingoro nổi tiếng từ thế kỉ 17.
Vì từ “zaru” gần âm với “saru” có nghĩa là con khỉ, nên người ta khắc hình ba con khỉ bịt miệng, bịt mắt, bịt tai với vẻ mặt ngộ nghĩnh để biểu đạt triết lý nàγ.
Sâu xa hơn, người Nhật còn muốn thể hiện triết lý của riêng mình vào trong ba bức tượng, đó là: “bịt mắt để dùng tâm mà nhìn, bịt tai để dùng tâm mà nghe, bịt miệng để dùng tâm mà nói”.

Đền Toshogu nơi có bộ khỉ tam không của nghệ nhân Hidari Jingoro.
Khi tâm ở trạng thái tịnh, không bị quấγ rầγ bởi những điều xấu thì từ tâm mới ρhát sinh những điều thiện. Trong xã hội hiện naγ bức tượng ba con khỉ càng có ý nghĩa hơn bao giờ hết.
Bản chất của con người vốn là sự tò mò và trên thực tế, không ít người dành quá nhiều thời gian để nghe, nhìn, soi mói tất cả mọi chuγện, dù không liên quan đến mình và sau đó nói lại cho người khác, nói những điều không nên nói.
Đâγ là một tật xấu, làm cho cái tâm trở nên “động”. Và với những người mắc tật xấu nàγ, hình tượng “bộ khỉ tam không” là một bài học có giá trị to lớn.

 Nguγễn Nhung

(Bài do Vinh Nguyễn sưu tầm và chuyển)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Câu Chuyện về 3 con khỉ_Nguyễn Nhung

Happy Memorial Day 2021

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Happy Memorial Day 2021

Thằng Ngụy Con_ Tác giả Ngô Viết Trọng

THẰNG NGỤY CON.

Ngô Viết Trọng
(Sài Gòn trong tim tôi)

unnamed (8)Khi bị chuyển về khám đường Bà Rịa, tôi bị nhốt vào một căn phòng rất nhỏ. Trong phòng ấy đã có sẵn một người: ông Đoàn. Cửa phòng là một bửng sắt khá dày, bị sét rỉ toàn bộ, chứng tỏ nó đã khá lâu đời. Sét rỉ đã xoi tấm cửa này thủng nhiều lỗ cỡ đầu ngón tay. Đặc biệt có một lỗ dưới cùng rộng có thể thò lọt cả bàn tay. Những lỗ đó đã cho chúng tôi chút ánh sáng trong căn phòng ít khi được mở này.

Một hôm, tôi đang rầu rĩ bỗng nghe nhiều giọng nữ xôn xao bên ngoài. Tôi chạy lại cửa dán mắt vào mấy lỗ thủng. Thì ra phòng tù nữ ở gần phòng tôi được cho ra tắm giặt. Thật là một cảnh sinh hoạt rộn ràng. Tiếng gàu thau chạm nhau rổn rảng, tiếng người thúc giục nhau, chen lấn cãi cọ nhau ỏm tỏi. Họ giặt đồ, tắm rửa, chải tóc, phơi quần áo….trông ai cũng làm việc với vẻ gấp rút. Người quá đông mà chỉ có hai cái giếng, thì giờ cho phép lại giới hạn, nên họ sợ hết phần…

Tôi bỗng giật mình khi thấy một thằng nhỏ từ trong hiên nhảy ra. Nó chạy vụt lại phía hai con vịt xiêm đang rỉa lông cho nhau trước cửa phòng tôi làm chúng hoảng hốt bay xa một đoạn. Một người đàn bà gọi với:

-Không được nghịch, mẹ đánh đấy!

Thằng nhỏ đứng lại. Qua giây phút hoảng hốt, đôi vịt lại tiếp tục rỉa lông cho nhau. Thăng nhỏ khoảng chừng ba bốn tuổi, trắng trẻo, kháu khỉnh làm sao! Tại sao nó lại lọt vào chốn tù ngục này? Nó làm sao chịu được cảnh thiếu ăn, thiếu bạn bè, thèm khát đủ thứ, ngày ngày ru rú trong một căn phòng chật hẹp với không khí ngột ngạt, hôi hám ấy? Tâm tính nó sẽ ra sao về sau?

Thằng nhỏ có vẻ khoái đôi vịt xiêm lắm. Nó đang say sưa ngắm chúng thì mẹ nó gọi trở về phòng. Nó vừa đi vừa ngoái cổ nhìn lui làm mẹ nó phải giục mấy lần. Tôi quay lại hỏi ông Đoàn:

-Bên phòng nữ có một thằng nhỏ dễ thương quá! Vì sao nó phải vô trong này ông biết không?

Ông Đoàn nói:

-Nghe đâu cha nó là một viên thiếu tá đã đi Mỹ còn mẹ nó là một nhân viên Thiên Nga. Khi tôi vô đây đã thấy có nó rồi! Lúc đó nó mới biết đi lẫm đẫm.

Tôi tức cười thốt lên:

-Sau này có thể nó phải ghi vào lý lịch: Mới một tuổi tôi đã phải sống trong lao tù khổ sai của bọn cộng sản man rợ…

Mấy hôm nay tôi chỉ được phát mỗi ngày hai vắt nhỏ bột sắn xay chia làm hai bữa với một ít canh cải bẹ xanh mặn chát. Không hiểu thằng nhỏ có được phát tiêu chuẩn khẩu phần không hay phải ăn vào phần của mẹ nó? Tôi nói:

-Thằng nhỏ mặc sức mà thèm đường thèm sữa!

Ông Đoàn cười:

-Ông khỏi lo! Mấy ngày thăm nuôi nó được cán bộ thả đi lung tung, người ta cho nhiều quà lắm. Ngay tại phòng nó lại có rất nhiều người đã từng làm mẹ, làm chị, chẳng ai nỡ để một đứa nhỏ dễ thương như thế đói đâu! Tôi đã từng thấy một con chó mẹ nằm cho mấy con mèo con bị mất mẹ bú. Thiên tính thương trẻ của các bà làm mẹ hẳn còn cao hơn nhiều!

Tôi cảm thán:

-Vậy sao? Hoá ra nó lại sướng hơn lũ con tôi! Tôi có ba thằng con, thằng út có lẽ cũng cỡ tuổi nó. Khi tôi đi tù nó mới vừa đúng một tuổi, chưa biết đứng. Trước kia mình đâu biết dành dụm lo xa, khi vào tù tôi chẳng có chút gì để lại cho vợ con cả. Nghĩ đến cảnh một người đàn bà chân yếu tay mềm phải chạy vạy để nuôi sống ba đứa con giữa lúc này tôi đau ruột lắm Nhưng ăn năn cũng muộn mất rồi!

Mấy hôm sau phòng tù nữ lại được mở cho ra tắm giặt. Thằng nhỏ sau khi tắm rửa xong lại chạy sang trước phòng tôi. Không thấy đôi vịt, nó ngồi vào bậc thềm lưng dựa vào cửa phòng. Tôi thò ngón tay ra lỗ thủng chọt vào lưng nó một cái. Nó giật mình nhỏm dậy quay lại:

-Hết hồn!

Tôi lấy làm thú vị khi nghe một thằng tí hon lại dùng cái tiếng “hết hồn” có vẻ người lớn đó. Biết tôi đùa, thằng nhỏ lại ngồi xuống chỗ cũ. Tôi hỏi:

-Cháu tên gỉ?
-”Ngụy con”!

Tôi ngạc nhiên hỏi lại:

-Chú hỏi cháu tên là gì?
-”Ngụy con”!
-Ai đặt tên ấy cho cháu?
-Mấy chú cán bộ!
-Thế mẹ cháu không đặt tên cho cháu à?
-Có, mẹ cháu đặt tên “con”, mấy chú cán bộ thì kêu “ngụy con” rồi các cô dì trong phòng cũng kêu cháu là ” ngụy con”!

Trời đất ơi! Cái tên này có thể tạo một ấn tượng khó đoán khi thằng nhỏ khôn lớn! Tôi định hỏi vài câu nữa nhưng nó đã bị mẹ nó gọi về phòng.

Rồi ngày thăm nuôi đến – ngày đó coi như ngày Tết của khám đường. Các phòng giam đông người đều được mở cửa suốt thời gian cho thăm để người ta tiện đưa đồ thăm cũng như dẫn dắt những người được gặp mặt người thân ra vào. Những người được ra gặp người thân phải mặc đồ lành sạch. Ai không có phải đi mượn đồ của người khác. Vì vậy, ngày thăm nuôi tù vẫn ăn mặc sáng sủa khác hẳn ngày thường. Các tên cán bộ cũng giả dối dẹp bớt cái vẻ nghiêm khắc hàng ngày để hồ hởi thưởng thức những hơi khói thơm…

Những người không được thăm cũng vui hơn vì ít nhất cửa phòng mở họ cũng hưởng được chút ánh sáng và không khí dễ thở. Họ cũng có thể hưởng ké được chút quà tươi hoặc sớt được phần ăn tiêu chuẩn của những người được thăm không dùng tới. Những phòng ít người phần nhiều đang bị kỷ luật, ít được thăm, cửa đóng im ỉm, nhưng ít nhất ngày đó họ cũng yên trí không bị cán bộ quấy rầy.

Nói chung, trong ngày thăm nuôi, bất cứ ai đang sống tại khám đường cũng chia được ít nhiều niềm vui, dù chỉ là niềm vui tạm bợ giữa một hoàn cảnh bất hạnh. Kẻ hưởng được hạnh phúc thật sự hoạ chăng chỉ có một người: “thằng ngụy con”!

Trong lúc cán bộ và tù trật tự bận rộn mang đồ thăm hoặc dẫn tù đi gặp người thân thì thằng nhỏ tung tăng chạy hết phòng này đến phòng khác. Nó rất khôn, cứ gặp cán bộ lại cất giọng lảnh lót “chào cán bộ” thật dễ thương. Vì thế không ai la rầy, cản trở nó cả.

Tôi nghĩ chính thằng nhỏ là một nhân tố làm giảm bớt vẻ ngăn cách giữa cán bộ và tù. Đến đâu nó cũng được tiếp đón nồng hậu, quà cứ nườm nượp vào tay nó. Bao nhiêu lần nó sung sướng ôm đầy quà trên tay: bánh tráng, cốm bắp, kẹo…về giao cho mẹ nó. Trông nét mặt hớn hở của nó vào những lúc ấy ai mà chẳng vui lây!

Rồi một tháng trôi qua, lại đến kỳ thăm nuôi. Hôm ấy trời mưa lâm râm và có gió hiu hắt. Tôi lại dán mắt trước cửa hưởng ké niềm vui của mọi người. Thằng nhỏ lại thả sức tung tăng đi nhận quà. Thấy trời hơi lạnh, lại sợ con bị ướt nên mẹ nó đã cẩn thận bận thêm cho nó một cái áo mưa bằng nylon khá gọn.

Lần ấy, có lẽ vì quà tặng hơi nhiều, thằng nhỏ lại không biết sợ lạnh, nó cởi cái áo mưa làm đồ đựng. Khi nó đang ôm bọc quà hí hửng chạy về phòng thì gặp Sơn, một tên cán bộ hung ác, nghiêm khắc nhất khám đường. Gã tươi cười một cách đểu cáng đón nó lại:

-”Ngụy con” có nhiều quà quá, chia cho chú với nào!

Thằng nhỏ lính quýnh giẫm vào chỗ đất trơn, té oạch một cái làm quà văng lung tung. Tên Sơn cúi xuống lượm giùm. Xong, gã vờ bốc lấy một gói giấy, bảo:

-Gói này cho chú xin nghe!

Thằng nhỏ tưởng thật hoảng hốt:

-Không được đâu! Gói này không được đưa cho cán bộ coi!

Nghe thằng nhỏ nói hơi lạ tai, tên Sơn nghi ngờ mở cái gói ra xem. Gã bỗng trừng mắt đạp vào ngực thằng nhỏ một cái làm thằng bé ngã bật ngửa. Thằng nhỏ nằm lặng đi một hồi rồi mới khóc nấc ra tiếng. Ai nấy chới với chưa hiểu chuyện gì thì nghe tiếng tên Sơn nạt lớn:

– Đ.M. đồ cái giống nguỵ ra khác, chưa ráo máu đầu đã học phản động!

Quay lại phía tù trật tự, tên Sơn hét:

-Bắt nó quỳ dưới cột lưới bóng rổ!

Lập tức thằng nhỏ bị lôi dậy, kéo đi. Liền đó tên Sơn dẫn một anh tù trật tự khác đến phòng B5. Gã đứng trước cửa hoạnh hoẹ hỏi chuyện. Lát sau một anh tù vừa mới được thăm nuôi hồi sáng bước ra khỏi phòng. Tên Sơn bắt anh tù đứng nghiêm rồi tha hồ đấm đá người tù tội nghiệp. Anh tù nhiều lần bị ngã nhưng tên Sơn lại bắt đứng lên để đấm đá tiếp hết sức tàn bạo.

Trong chốc lát anh tù đã xác xơ, rục rã. Nhưng tên Sơn vẫn chưa tha, gã còng cắp cánh tay anh ta lại rồi sai người đưa vào phòng kỷ luật.

Trời vẫn mưa lâm râm, gió vẫn hiu hắt. Thằng nhỏ vẫn quỳ dưới chân cột lướí bóng rổ. Tên Sơn vẫn tiếp tục ra vào kiểm soát việc thăm nuôi.

Quá nóng ruột, người mẹ phải liều vói mặt ra khỏi phòng van xin chéo véo. Nhưng tên Sơn cứ phớt lờ, cả giờ sau gã mới chịu cho thằng nhỏ tội nghiệp về phòng. Người nó lạnh như cục nước đá, run lập cập, nói không thành tiếng….

Buổi tối, khi đưa cơm vào phòng tôi, tên Sơn còn ác độc cảnh cáo:

-Các anh coi chừng, chớ lợi dụng “thằng ngụy con” để thông tin tức với nhau! Dù là chỉ hỏi thăm sức khoẻ tôi cũng trị trắng máu ra!

Giờ thì tôi đã hiểu là anh bạn tù ở phòng B5 đã phạm nội quy của khám đường. Về sau tôi được biết rõ hơn là anh này đã gởi quà với mấy lời nhắn cho một người quen ở phòng tù nữ. Vụ trừng phạt ấy cứ lởn vởn ở trong đầu tôi suốt đêm. Tội nghiệp thằng nhỏ đã bị đòn lại phải chịu đựng ướt lạnh suốt mấy giờ.

Sáng sơm hôm sau, tôi đã phải thức giấc bởi tiếng kêu cứu từ phòng tù nữ:

-Báo cáo cán bộ A5 có người bệnh nặng!

Tôi giật mình: biết đâu lại là thằng nhỏ? Tiếng từ phòng trực hỏi lại:

-Nặng bao nhiêu ký?

Tiếng kêu cứu từ phòng nữ có vẻ khẩn thiết hơn:

-Báo cáo cán bộ, phòng A5 có người sắp chết!

-Nghe rồi, đợi đó giải quyết!

Chừng nửa giờ sau tôi nghe có người nói chuyện ồn ào trước sân. Có lẽ cán bộ y tế đã đến.

Rồi cả khám đường yên ắng trở lại. Gần sáng tôi lại bị ông Đoàn đánh thức:

-Ông nghe gì không?

Tôi lắng tai để nghe. Trời ơi, rõ là tiếng kêu khóc thảm thiết của một người đàn bà:

-Con ơi con, sao nỡ bỏ mẹ mà đi như thế con ơi! Con tôi chưa đầy ba tuổi đã biết gì đâu mà phản động, đau đớn lắm trời ơi!…

Tôi giật mình thở dài: Trời ơi, thằng nguỵ con!

Liền đó tôi nghe có tiếng nạt nộ:

-Để con bị sưng phổi không chiụ lo báo cáo sớm, bây giờ không để người ta chôn cất còn khóc gào đổ thừa cho ai?

Tiếp đó, tôi lại nghe nhiều tiếng khóc nấc nghẹn ngào, đau khổ, uất hờn của người đàn bà tội nghiệp …

(Nguồn: Sài Gòn trong tôi – Ngô Viết Trọng)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thằng Ngụy Con_ Tác giả Ngô Viết Trọng

Gỏi Khô Bò Của “Ông Già Chemise Noire” _ Phạm Công Luận

Kỷ niệm của một thời Sài Gòn xưa:

Gỏi Khô Bò Của “Ông Già Chemise Noire” 

Phạm Công Luận

Một truyện ngắn đăng trên báo Tuổi Ngọc trước 1975 có chi tiết đáng nhớ. Chàng trai trong truyện đi chuyến công tác vào Sài Gòn. Khi quay ra miền Trung, tới đèo Hải Vân anh chợt thấy tiếc vì chưa kịp ăn món gỏi khô bò của “ông già áo đen” ở khu nước mía Viễn Đông đường Pasteur, Sài Gòn. Anh đã tìm cách quay lại Sài Gòn để thực hiện ước mơ ấy… Không dễ thực hiện chuyến đi xa xôi như vậy trong thời chiến chỉ để được ăn món gỏi khô bò. Có lẽ đó chỉ là một ẩn dụ về nỗi tiếc nuối của chàng trai trẻ xa thành phố, lao vào vùng chiến sự và nhớ về những niềm vui đời thường trên phố xá phồn hoa. Nhưng cái tên “ông già áo đen” đã luôn là thắc mắc của tôi. 

Những anh chị tôi, lứa tuổi nay đã bước vào tuổi 60, 70 rất quen thuộc với hàng bò khô, nay gọi là gỏi khô bò của ông già áo đen bán trên đường Pasteur. 

Họ vẫn nhớ những buổi chiều chưa tắt nắng của Sài Gòn nửa thế kỷ trước, tan trường Sư Phạm, trường Luật là phóng xe ra ngay góc ngã tư Lê Lợi – Pasteur, ngồi trên xe gọi mấy dĩa khô bò đu đủ cùng một lúc. Từ xa đã thấy bóng ông chủ xe khô bò, luôn luôn bận áo đen nên chết tên. Phải canh làm sao để ăn được gỏi khô bò của “ông già chemise noire” hay “ông già áo đen” này dù khu đó có tới bốn người bán gỏi khô bò đu đủ bào. Không mấy ai biết ông tên gì, chỉ gọi biệt danh như vậy.

Ai sống tại thành phố này hay đã từng đến Sài Gòn những năm trước 1975 đều biết khu nước mía Viễn Đông. Ngay góc ngã tư Lê Lợi – Pasteur, đó là nơi bán nước mía đắt khách dưới chân tòa nhà hãng bảo hiểm Viễn Đông nên được gọi vậy cho gọn, theo những người lớn tuổi kể lại. Quây quanh góc đường, trên lề dành cho người đi bộ là nhiều hàng quán, xe bán hàng rong. Tuy là hàng rong, hàng bán vỉa hè nhưng hình thành một khu ẩm thực hẳn hoi, gọi chung là khu nước mía Viễn Đông, nổi tiếng đến độ đến hơn bốn mươi năm sau, nhiều bài viết vẫn còn nhắc tới. 

Trong đó, có hồi ức của nhà thơ Cao Thoại Châu: “Hồi còn học đại học, thường chiều hay trốn học ra vỉa hè ngã ba Pasteur – Lê Lợi. Vỉa hè khá rộng, cây cối nhiều mà lại có tới hai thứ quà nổi tiếng. Những chiếc tủ kính nhỏ bán bò khô của người Bắc, không dát mỏng nhuộm phẩm đỏ như khô bò Chợ Lớn từ Hà Nội mang vào. Nó dày và mềm màu hơi xỉn vì nướng, ăn với đu đủ sống bào thành sợi. Lách cách tiếng kéo của người bán, xuýt xoa cay của người ăn đủ dạng, đủ tuổi. Không biết cái nào có trước nhưng hai thứ quả là dìu nhau cùng nổi tiếng và đông nghẹt, bò khô ăn xong có ngay nước mía chen và đứng – nước mía Viễn Đông!” 

Buổi sáng cuối năm 2016, tôi ngồi với anh Nguyễn Văn Tuynh trong một quán cà phê. Anh là con trai của “ông già áo đen” bán gỏi khô bò xưa kia. Anh Tuynh đã trên 60, còn khỏe và trí nhớ còn tốt. Đầu thập niên 1960, ba anh bắt đầu bán gỏi khô bò ở đó, và chú bé Tuynh theo phụ cha suốt chín năm trời cho đến tuổi trưởng thành thì đi quân dịch. Chín năm trời trên vỉa hè là chín năm đáng nhớ với anh. Anh chứng kiến cuộc sống trên phố xá trung tâm Sài Gòn, những thay đổi của thời cuộc qua mắt nhìn của một chú bé mới lớn. 

Sài Gòn thời ấy, không có nhiều hàng quán cầu kỳ như bây giờ. Không chỉ giới bình dân, giới có học không câu nệ phải ăn hàng quán sang trọng mắc tiền. Do đó, các xe bán hàng ăn trên lề đường rất đông khách, có đủ cả sinh viên, thầy cô giáo, tiểu thương, công tư chức và quân nhân. 

Tuy nhiên, mãi cho đến đầu năm 1960, khu hàng ăn Viễn Đông nổi tiếng mà dân trong nghề gọi là “Bến nước mía Viễn Đông” mới hình thành. Ở đó có nhiều món ăn, ngoài gỏi khô bò còn có phá lấu, bò bía, bánh ướt, bò viên, chè thạch, nước sinh tố các loại, nước ngọt…. nhưng ba món Gỏi khô bò, Phá lấu và Nước mía được xem là ba món chính ngon nhất Sài Gòn thời bấy giờ.

Ông Nguyễn Văn Huỳnh, tức “ông già áo đen” người gốc Hưng Yên di cư vào Nam năm 1954. Lúc đầu ông ở Trị An, Đồng Nai rồi chuyển xuống Sài Gòn. Ông có ông bạn làm lính Partisan ở Hà Nội cùng vào Nam nên đi tìm, thì biết ông kia bán bò khô ở các trường Chu Văn An, Nguyễn Bá Tòng. Ông Huỳnh thấy bạn làm ăn được, xin học nghề rồi cùng bán với ông bạn, bắt đầu từ năm 1956.

Anh Tuynh nói: “Bây giờ có người làm bò khô bằng phổi bò, phơi khô sau khi luộc chín nên rất dễ bị bẩn, sau đó thắng với nước đường. Ngày xưa, nhà tôi làm khô bằng lá lách bò, thịt thì bằng thịt ở má bò vì má bò có gân nên vừa mềm vừa dai, khi chín tới ăn rất thơm ngon. Lá lách bò dài như miếng gan heo, luộc chín, khứa từng khứa để khi xào nấu thì gia vị thấm vào bên trong mới ngon. Xong đem xào với sả, ngũ vị hương, muối, đường, gừng (để khử mùi nồng của lá lách bò) rồi đổ nước vào cho ngập mặt, đun hơn một giờ cho sệt lại. Sau đó vớt ra cho vào chảo chiên. Qua ba công đoạn luộc, xào rồi lại chiên nên mới có miếng sém cạnh, vừa bùi vừa giòn, ngon vô cùng. 

Khi ba tôi bán ở trường Chu Văn An, tôi mới hơn mười tuổi, buổi sáng đi học, chiều đi phụ bán. Ba bán sát hàng rào, học trò trường này toàn là nam sinh nhưng ăn hàng bạo lắm. Họ đưa tiền ra, ba tôi chuyền dĩa nhôm đựng gỏi bò khô chan giấm ớt nước tương vào. Việc của tôi là hết giờ thì leo vào cổng trường để gom dĩa nhôm mà các anh nam sinh ăn xong vất vào một góc. Giá một dĩa gỏi khô bò lúc đó là 2 đồng, gấp đôi ly nước mía”.

Đến năm 1958, ông Huỳnh ra bán ở chợ Bến Thành, góc đường Lê Thánh Tôn với Tạ Thu Thâu. Bán ở đó đắt khách nhưng bị lính ở bót Lê Văn Ken phía gần nhà thương Sài Gòn hốt ghế hoài nên ông nản. Sau hai năm, ông đẩy xe ra bán ở góc đường Pasteur – Lê Lợi thì tiếp tục gặp chuyện đang bán thì bị đuổi. Sau khi bàn bạc, suy tính cùng với vài người bán hàng ở địa điểm này, ông đến bót Lê Văn Ken xin lập một “bến”, tức là khu tập trung buôn bán, đóng thuế đàng hoàng cho cảnh sát hằng tháng. Ông đứng ra đảm nhận việc thu tiền để nộp. “Bến nước mía Viễn Đông” chính thức được cho phép, rất thuận tiện thu hút khách dạo phố trên con đường Lê Lợi đã vào thành ngữ “Bát phố Bô-na” (trước 1954 đường Lê Lợi mang tên Bonard)

An tâm rồi, ông Huỳnh cùng bạn bè ngoài “bến” lo tổ chức việc làm ăn. Đoạn lề đường Pasteur chạy dài từ đường Tôn Thất Đạm đến Lê Lợi chia thành hai dãy hẳn hoi, dãy phía trong là các xe bán gỏi khô bò, nước ngọt. Dãy phía ngoài, sát đường xe chạy thì bán hủ tíu bò viên bánh cuốn, bò bía. Phía lề đường Lê Lợi bán phá lấu nhiều hơn. Ông Huỳnh tiếp tục dùng cái tủ đựng thức ăn bằng gỗ gắn kính đặt trên cái xe đẩy. Tủ chia làm ba phần theo bề ngang, ở giữa là ngăn tủ để dĩa, hai ngăn hai bên đựng thịt bò khô và gỏi đu đủ đã bào sẵn ở nhà. Hai rìa tủ là các thành gỗ thiết kế để đặt đũa, các chai nước tương, nước giấm, ớt…Thùng xe phía dưới để được chục cái ghế xếp. 

Mỗi ngày từ ba giờ chiều, ông Huỳnh cùng cậu bé Tuynh đẩy xe từ cổng xe lửa số 6 đường Trương Minh Ký (nay là Lê Văn Sỹ) suốt một giờ đồng hồ mới tới điểm bán. Sau một thời gian, việc làm ăn phát triển, ông Huỳnh thuê hẳn một chiếc xe xích lô máy để chở ông và Tuynh cùng cái xe đẩy. Hai cô con gái đạp xe ra để phụ bán. Buổi trưa sau buổi học, Tuynh cùng mấy anh chị em lo bào đu đủ, ngâm cho ra nhựa và vắt ráo nước trong khi vợ chồng ông Huỳnh lo chế biến thịt. 

Chiều tà là bắt đầu thời gian cao điểm. Một mình ông Huỳnh đứng ôm cái tủ, đặt hàng loạt dĩa nhôm lên mặt tủ và thoăn thoắt bỏ đu đủ sợi, khô bò (lúc đó không có đậu phộng rang, bánh phồng tôm như hiện nay), rồi hai tay cùng lúc xịt nước giấm, nước tương, ớt vào dĩa thật nhanh. Các con lo thu tiền, bưng và thu dĩa để rửa, xếp ghế, bưng ra cho khách. 

Đa số khách đứng ăn cho nhanh, không mấy ai ngồi. Nhiều người ăn bận lịch sự là các giáo sư trường học gần đó, lính và sĩ quan, công chức. Không ai chỉ ăn một dĩa, có người ăn tới bốn dĩa và có người ngày nào cũng ra ăn. Ai nấy vừa ăn vừa xuýt xoa chảy nước mắt nước mũi vì cay, nhăn mặt vì nước giấm chua và khoái chí nhai miếng lá mía bò khô màu đen cháy, ngọt đậm đà trong tiếng kéo lắt xắt. Dăm lần, Tuynh thấy ông Tướng Không Quân râu kẽm ghé đến ăn. Ông ngồi trên xe Jeep, sai lính xuống mua và ông ăn ngay trên xe. Việc buôn bán của ông Huỳnh phát đạt đến độ khi nào ông bán hết thì các hàng khác mới có khách.

Phụ cha buôn bán ở đó, Tuynh có dịp quan sát thế giới ăn uống của người lớn sao mà vui quá. Món Phá lấu ở đây được chiếu cố đặc biệt. Ông người Tàu bận áo xá xẩu bán những miếng phá lấu màu vàng nâu ghim vào những cây tăm đặt trong cái xửng nhôm gác trên một chạc gỗ, trông ngon lành lắm. Mỗi miếng khách cầm lên ăn, ông Tàu dùng một cây tăm khác ghim vào sợi dây thun cột sẵn ở cổ tay. Đó là cách ghi nhớ của ông về số miếng phá lấu khách đứng ăn tại chỗ. Ngoài đó có ông A Sáng, cũng người Tàu bán bò viên rất ngon (lúc đó chỉ bán bò viên chấm tương, không thấy ai bán chung với hủ tíu).

Gỏi khô bò có tới bốn người bán, đều là người Bắc di cư, ngoài ông Huỳnh có ông Thung, ông Chiểu, ông Dần. Ngoài ra, món bánh cay vàng ruộm mà Tuynh rất thích. Lê la trên hè phố nhiều năm, Tuynh chứng kiến những người Ấn chuyên buôn bán vải trên đường Tôn Thất Đạm gần chùa Ấn, bán các loại vải tetoron, dacron cho trả dần và ngày nào cũng đi thu tiền góp.

Nhớ những buổi chiều trời sắp mưa, hàng đàn bồ câu cả ngàn con từ chùa Ấn bay ra, có cả những con cà cuống bay xuống từ các tàng cây trên đường Pasteur. Thời ông Diệm, trên đường Pasteur nhân công đào một đường dẫn nước sinh hoạt lớn, sâu và rộng. Mùa mưa nước đầy, có người té xuống la chói lói vì không biết bơi và chú bé Tuynh đã kịp nhảy xuống cứu.

Anh Tuynh kể có đọc được bài thơ của ông Bác Sĩ Lê Văn Lân làm thơ về khu nước mía Viễn Đông như vầy:

Người về còn nhớ quà rong năm nào

Đầu đường nghe thoáng lời rao

Là tha hồ biết quà nào rẻ ngon

Dăm bông, thịt nguội, mì giòn

Hai đồng một ổ, bà con mua giùm

Anh ơi, “Nước mía Viễn Đông”

Hai ly chưa đã, mát lòng em luôn

Thêm đĩa bò bía chấm tương

Ăn kèm phá lấu, em thương anh nhiều…

 Anh nói: “Tuy không nhắc đến gỏi khô bò ông già áo đen”, mấy câu thơ này làm tôi nhớ quá…”. Tuổi không còn trẻ, anh Tuynh vẫn đau đáu mong muốn khôi phục lại nghề gia truyền của cha. Anh kể sau 1975, buồn vì không tiếp tục làm nghề trên lề đường Pasteur nữa, ba anh mất chỉ sau một năm nghỉ ở nhà. Anh Tuynh sau đó đi bán bò viên trên đường Nguyễn Thông, cũng đắt khách không thua cha mình xưa kia cho đến khi nghỉ vì lớn tuổi.

Cho dù thảnh thơi vì con cái đã trưởng thành, anh vẫn nôn nao khi nghe tiếng kéo lắt xắt nhắp trước khi cắt bò khô ở các hàng quán gỏi khô bò trên đường Nguyễn Văn Thủ hay trước công viên Mạc Đĩnh Chi.

 Phạm Công Luận

(Trích Sài Gòn Chuyện Đời Của Phố tập 4 – Công ty sách Phương Nam xuất bản 2017)

Nguồn: tongphuochiep.com

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Gỏi Khô Bò Của “Ông Già Chemise Noire” _ Phạm Công Luận

Nhật ký của một nàng dâu phố cổ Hà Nội ( St trên internet)

 Nhật ký nàng dâu phố cổ:

(Nơi tôi ở, người ta nhịn “yêu” vì nhà chật, ăn theo cữ, tắm theo ca…)

Đằng sau những con phố 1 mét vuông đất giá triệu đô là những con ngõ dài hun hút, những “tổ chim cúc cu”, là những phận người phải nhịn làm tình, ăn cơm chia ca, đi vệ sinh theo cữ, hấp hối là được khiêng ra đường…unnamed (7)

Sau đây là những dòng nhật ký đọc trộm của một nàng dâu phố cổ:

Ngày… tháng… năm. . .

Đêm nay là đêm tân hôn. Đêm nay là đêm thấm thía nhất cái cảnh “ngõ nhỏ, phố nhỏ, nhà tôi ở đó” mà lão chồng mình ngày xưa vẫn nghêu ngao hát lúc tán nhau. Hồi ấy cứ nghĩ lão hát thế cho có vẻ phong trần lãng mạn, hai đứa đi chơi, anh chỉ vào ngõ bảo: “nhà anh trong ấy“, mình biết thế thôi chứ chẳng đòi vào, gặp bố mẹ chồng tương lai cũng chỉ vẫy tay chào ngoài ngõ, ai mà lường được nhà nhỏ nhường ấy.

Đang ở nhà bố mẹ ở quê vườn rộng bát ngát, khi lên Hà Nội cũng ở phòng trọ hai mấy mét vuông, mình tí ngất khi nhìn cơ ngơi 6m2 nhà chồng. Ở dưới nhà, bố chồng trải chiếu nằm ngủ gần cửa ra vào. Mẹ chồng ngủ ngay sát tủ đựng quần áo và cái ti vi. Còn mình và chồng được “ưu tiên” cho nằm trên cái gác xép thấp thảm hại, thấp đến mức leo lên phải bò vào chứ không thể ngồi. Hai đứa nằm bẹp cạnh nhau, lão chồng cười hi hí, choàng tay qua ôm vợ định tâm sự đôi câu thì cái sàn “phòng tân hôn” làm bằng cốt ép kêu cọt cà cọt kẹt. Thôi thế là bật cười, nín thở quay sang ngắm nhau. Chồng bảo: “Để hôm khác anh bù…”
h1

Có một khoảng không gian để vợ chồng trẻ “yêu” nhau
là chuyện không dễ ở phố cổ – nơi nhà ai chũng chật. 

Ngày… tháng… năm. . .

Cái gác xép tự dưng rung lên bần bật. Mình đang thiu thiu ngủ, cứ tưởng động đất, theo phản xạ bật phắt dậy định chạy, cộc đầu luôn vào tường. Chồng vội vàng kéo tay bảo nằm xuống, chỉ là ôtô đi qua thôi mà.

Ngày… tháng… năm . . .

Mình dỗ mãi mới chợp mắt được một tí thì đã nghe í ới tiếng nói chuyện ồn ào, mặc cả mua bán gì đấy. Giật mình nhìn đồng hồ, mới 4 giờ sáng. Mình run cầm cập. Lay ông chồng dậy thì lão còn ngái ngủ, bảo: “Đấy là tiếng của chợ bán buôn sớm, nhà mình gần chợ, ngay sát mặt đường nên em nghe rõ thế thôi“.

Lúc này thì mình buồn đi vệ sinh quá, định tụt xuống nhà giải quyết nỗi buồn, thì nhòm thấy bố chồng đang ngủ say, chân tay chắn lối cửa ra vào. Nhà chồng không có vệ sinh riêng, mà đi ở ngoài chung với cả khu, giờ mà xuống, vớ vẩn giẫm phải bố chồng, thế là mình đành nằm yên, nín thở chờ đến sáng.

Ngày… tháng… năm . . .

Hôm nay có việc quan trọng ở cơ quan, mình đặt báo thức dậy sớm, tranh thủ đi vệ sinh, tắm rửa trước, đỡ phải xếp hàng. Ở khu này, 8 – 9 gia đình chung nhau một cái xí xổm và một cái nhà tắm ở đầu hồi, sáng sáng xếp hàng đi vệ sinh, đánh răng rửa mặt, tắm táp đông hơn xem hội. Bọn trẻ con và người đi làm giờ hành chính được ưu tiên, nhưng có khi mình phải đợi gần tiếng mới đến lượt vào trong, mà vừa vào đã thấy tiếng réo rắt bên ngoài giục ra.

h2

Muốn thoải mái tắm rửa, đi vệ sinh? Phải dậy thật sớm,
hoặc tranh thủ đêm muộn.

Ngày… tháng… năm. . .

Sáng nay vội đi, mình quên mất hợp đồng đã hẹn ký với đối tác ở nhà. Trưa, mình tranh thủ tạt về lấy. Hồn nhiên đẩy cửa vào, mình giật nảy khi thấy bố mẹ chồng đang… tình cảm. Mình “ối” một tiếng rồi vội đóng cửa đứng bên ngoài đợi. Một lúc sau, ông bà ra, đi thẳng ra ngoài không liếc nhìn mình một cái, còn mình lí nhí: “Con về lấy giấy tờ“.

Mình ngượng quá, sau vụ này chắc không dám nhìn ông bà cả tháng mất. Nghĩ cũng thương, mới gần 50 chứ đã già lắm đâu, chắc buổi đêm có vợ chồng mình, ông bà cũng ngại. Vợ chồng mình cũng khác gì đâu, cưới nhau cả năm, những lần yêu trong nhà đếm được trên đầu ngón tay, còn toàn hẹn hò ăn trưa, rồi dẫn nhau ra nhà nghỉ gần cơ quan hai đứa.

h3

Có những nhà như thế này, 5m2 được chia thành 2 khu
cho 2 cặp đôi, và chuyện yêu cũng phải giữ ý.

Ngày… tháng…năm. . . 

Mình mang bầu. Nhạy cảm kinh khủng với mùi. Đã nghén không ăn được thì chớ, trời nóng như lò thiêu, tối tối lại bị tra tấn bởi mùi xú uế từ dãy nhà vệ sinh tập thể bốc ra. Chồng phải mua 2 cái quạt con bắt vào gác xép, bật liên tục cả ngày lẫn đêm, tối mình mới chợp mắt nổi một tí. Chuyện cơm nước thì chán hẳn, mình không thể nấu cơm nổi với cái bếp để ngay lối đi, sát nhà vệ sinh nữa, mùi thức ăn và mùi khai nồng quện vào nhau xộc thẳng vào mũi, mình nôn liên tục. Thành thử cả ngày hai vợ chồng xách nhau đi ăn hàng, tối muộn mới về ngủ.

h4

Chỗ nấu nướng sát khu vệ sinh là chuyện dễ gặp ở phố cổ.

Ngày… tháng… năm. . .

Mình đã khá nặng nề, nên mệt kinh hoàng mỗi khi lách qua con ngõ nhỏ, tối tăm, ẩm thấp và sâu hun hút để vào nhà. Với mình, nó như một đường hầm tối tăm dẫn tới mặt trái của sự hào nhoáng nơi phố cổ, nếu không được thắp đèn cả ngày lẫn đêm, nó chẳng khác nào hầm mỏ: bí bách, ngộp thở và tối đen. Hài nhất là sáng sáng, cứ đến giờ cao điểm đi làm, đi học là cả xóm, từng người một phải xếp hàng dài để lần lượt đi ra, xôm tụ chả kém lúc xếp hàng đi vệ sinh là mấy.

Bình thường, cái ngõ đã bé chỉ vừa khít một chiếc xe máy, ai muốn đi vào phải ngồi lên trên, hai chân “bơi” đẩy xe khỏi mắc kẹt hai bên đường. Xe máy ở xóm này, vì thế toàn bị xước hai bên. Còn mình, từ lâu đã xác định tháng mất thêm hơn trăm để gửi xe bên ngoài, nhưng để lách được thân hình “gấu mẹ vĩ đại” vào nhà chẳng dễ dàng gì.

h6

Những con ngõ phố cổ, chả hiểu ai xui, cứ bé tí teo
chẳng lọt nổi hai thân người.

Ngày…tháng…năm. . .

Mình sắp sinh con. Đề nghị chồng mua cái tủ lạnh và lò vi sóng để ít hôm nữa mình nằm ổ, không thể ra ngoài ăn hàng thì ai đó nấu sẵn đồ ăn, để vào tủ rồi hâm lại cho tiện. Hai vợ chồng bàn tính mãi, nâng lên đặt xuống mới quyết định mua một cái tủ 210 lít, vì to quá chẳng có chỗ để. Cái lò vi sóng thì đơn giản, ôm vào là xong, nhưng đến lúc khiêng tủ lạnh thì đúng là ác mộng. Chồng mình phải nói khó, nhờ những nhà mặt đường cho khiêng lên tầng thượng, rồi vần cái tủ từ tầng thượng nhà này sang nhà khác, chật vật lắm mới nhồi được vào nhà.

Mình tự dưng thấy tủi thân, nghĩ đến đứa bé sắp sinh ra trong chật chội, tù túng, cả ngày có khi khó thấy ánh mặt trời, rồi lớn lên phải ăn, học, chơi ngoài đường ngoài ngõ như bọn trẻ trong xóm, rơm rớm nước mắt khóc. Chồng dỗ: “Thôi cứ ở đây đến khi con đầy tháng, rồi hai mẹ con về ngoại ít hôm“.

Ngày… tháng… năm. . .

Mình sinh bé, họ hàng đến thăm chẳng có chỗ tiếp khách, chồng mình mời mọi người ngồi quán cà phê, dắt lần lượt từng người vào thăm. Có người chúc: “Mấy năm nữa đẻ thêm thằng cu cho có nếp có tẻ“, ông bà nội cười bảo: “Chật chội thế này chắc chỉ đẻ 1 đứa thôi. Đẻ con trai làm gì cho khổ, sau lấy nhà đâu mà cho vợ con nó ở“, nghe chí lý mà sao vẫn xót xa.

Mẹ mình lên chăm con đẻ, xót xa nhìn cảnh nhà con rể, mang tiếng giai phố cổ tất đất tấc vàng, mà cái nhà đúng nghĩa chỉ là chỗ chui ra chui vào. Bà phải thuê trọ gần nhà mình, ngày ngày nấu nướng rồi mang cơm nước sang, đưa cả quần áo của con gái và cháu sang nhà trọ giặt giũ, phơi phóng cho có ánh nắng, không thì mốc hết người ra. Mẹ bảo: “Ít hôm nữa về ngoại. Ở đến lúc con cứng cáp hãy lên, nhưng tìm chỗ khác xa xa một tí mà ở con ạ, chả cần cái tiếng ở phố cổ đâu!“.

Ngày… tháng… năm. . .

Hôm nay, chồng mình đã xin phép bố mẹ cho gia đình mình thuê nhà ra ở riêng. Đồ đạc không nhiều, nhưng dọn cũng khá mệt vì phải bê từ trong ngõ ra ngoài đường, chỗ xe ba gác đỗ. Vất vả nhất vẫn là cái tủ lạnh, lại bê lên tầng thượng cá nhà, rồi kéo dây thả xuống nhờ nhà có cửa hàng mặt tiền.

Mấy người đang bê thì trong ngõ dậy lên tiếng khóc, người nhà một ông cụ trong ngõ chạy ra dẹp đường để một người khác cõng ông cụ ra đầu ngõ đợi xe cấp cứu. Hàng xóm ngó ra, chúc ông khỏe để trở về. Cũng có người chép miệng: “Sống trong nhà phố cổ, muốn chết trong nhà cũng không được. Chật chội thế này, đưa quan tài vào ngõ thế nào. Cụ nào bệnh tật, con cháu cũng phải cố cõng ra ngoài đón xe cấp cứu, chứ cáng cũng không vào được.“

h7

Ngõ như những đường hầm, mà bên ngoài và bên trong
là hai thế giới xa lạ.

Xe cấp cứu vừa đi, một xe khác lại đến, nhưng lần này là xe chở phông rạp đám cưới. Ngày mai, hàng xóm nhà mình cưới vợ cho con. Cỗ bàn thì đặt nhà hàng, nhưng chỗ làm lễ, tiếp khách thì dựng rạp ngay ngoài đường cho rộng rãi. Ở ngõ sắp có thêm một nàng dâu. Mình chuyển nhà rồi, nếu không, hai chị em thể nào cũng có nhiều chuyện bi hài để kể nhau nghe, về trải nghiệm làm dâu phố cổ, oai đấy, mà cũng khổ đấy!

(Ghi lại từ lời kể của 1 nàng dâu ở phố cổ)

__._,_.___

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Nhật ký của một nàng dâu phố cổ Hà Nội ( St trên internet)

Tâm Thư Tổng Hội về Ngày Truyền Thống CSQG

Tong hoi

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Tâm Thư Tổng Hội về Ngày Truyền Thống CSQG

Ấn Độ: Thiên Đường và Địa Ngục_TamAn

Hồi Ký: Ấn Độ, Thiên Đường và Địa Ngục (TamAn)

 Nhiều người từng đến Ấn Độ chắc đều có chung một cảm giác là đã đến một đất nước với hai thái cực, vừa là địa ngục vừa là thiên đường. Bẩn thỉu và thánh thiện, ồn ào và lười nhác, xảo trá và chính trực. Sự biến đổi ở đây là không thể lường trước được, nhưng lại không thể cưỡng lại được. Sáu nghìn năm văn hiến đã khiến cho Ấn Độ toát lên khí chất mạnh mẽ giữa thần tiên và ma mị, đồng thời cũng khiến tâm trạng một du khách như lão PP thăng trầm như chiếc xe vượt núi băng đèo trong suốt cuộc hành trình.

Hơn 20 năm trước, lão lần đầu tiên đến sân bay Delhi, cảm thấy không khác gì những sân bay quốc tế khác. Nhìn thấy quầy taxi, lão bước đến trả tiền trước cho một chiếc xe, vừa bước ra khỏi sảnh một mùi ẩm nóng phả vào mặt mang theo đủ vị, xăng, dầu, mồ hôi, cứt chó, cứt bò, mùi hoa, mùi nước hoa, mùi gia vị…hỗn độn khó tả. 

Đang loay hoay tìm phương hướng đi về bãi đậu taxi thì một tia chớp loé sáng, chiếc xe Hindustan Ambassador cũ kỹ tưởng chui ra từ đống rác đỗ xịch trước chân, một chiếc đầu xù tóc, khuôn mặt đen xì với đôi mắt chỉ lòng trắng thò ra bên ngoài xe (Ấn Độ vô lăng bên phải) “Sir, you book a car?” (Thưa ngài, ngài đặt xe chứ?). Lão hơi ngần ngại nhìn chiếc xe như đồ chơi nhưng vì là một tay lão luyện từng trôi nổi giang hồ nên rất dễ thích nghi mọi điều, lão “Yes” xong thì mở cửa xe định chui vào ngồi ghế bên tay trái lái xe thì trên ghế đầy rác rưởi, nào là vỏ hộp đồ ăn nhanh, vỏ chai, thuốc lá, giấy, khăn…

Tay lái xe chỉ tay ra hàng ghế sau, lão chui vào chưa yên vị thì hắn đã rồ ga phun khói lao đi.

Cậu ta tăng ga lạng lách trên đường, vượt qua nhiều ô tô có vết đâm xước lồi lõm, xe nào cũng muốn tranh lao đi trước, chạm nhau là chuyện thường tình. Nhiều người chắc sẽ hoảng hồn về kiểu lái như một thằng điên cầm lái này, nhưng đối với lão quen trò mạo hiểm nên không hề lo lắng về điều này, dường như tốc độ điên cuồng của chiếc xe đã mang lại cho lão một cảm giác cực kỳ thú vị, lão luôn miệng cổ vũ  “Hey, very good, try faster!” 

(Này, được lắm, thử đi nhanh hơn). 

Một phần cũng để răn đe hắn rằng, bố mày đến từ New York, dọa bố mày đéo được đâu, và đừng giở những trò gì khác.

Không khí nóng ẩm phả mạnh vào mặt, nhìn xung quanh, dọc đường có rất nhiều cây xanh khiến lão hơi ngạc nhiên. 

Bỗng tay tài xế phanh gấp, một thằng cha khoác một chiếc bị hơi to đứng bên đường. 

Xe đậu lại, hắn tự nhiên như ruồi mở cửa chui lên xe ngồi cạnh lão, hắn chào lão cũng rất tự nhiên. Cậu lái xe cũng rất thản nhiên bắn cho lão hai câu cộc lốc “My friend “ (bạn tôi). Lão chưa kịp hoàn hồn thì chiếc xe lại lao đi như bay rồi dừng lại ở một khu chợ ven đường, tay bạn đi nhờ xe lao xuống nhưng cũng không quên quay đầu vẫy tay chào lão “Thank you sir!” (Cảm ơn ông). 

Lão bị cứng lưỡi sau khi tay này lên ngồi cạnh và hít đủ mùi cà ri và mồ hôi của hắn. Lão chỉ kịp bật ra câu “Địt mẹ, chuối thật!”.

Điểm đến của lão là khách sạn 5 sao “The Park New Delhi” nhưng một người bạn từ Hồng Kông đến trước hẹn gặp lão tại sảnh nhà ga xe lửa New Delhi. Tay lái xe đậu xe trên một con đường bẩn thỉu và nói với lão rằng đây là chợ Main Bazaar đi bộ xuyên vào bên trong là ga xe lửa, hỏi sao không đưa tới đến tận cửa?  

Hắn nói phải về đi lễ với vợ, nếu đi đến cửa lại phải vòng hơi xa. 

Thôi đành vậy, tức giận cũng chẳng giải quyết được gì. 

Lão lê bước trên một con đường gập ghềnh đầy bùn đất và rác thải, không khí nồng nặc mùi phân bò, hai bên là những tòa nhà cũ nát tưởng chừng như sắp đổ sập, những cửa hàng nhỏ bày bán đầy quần áo, khăn quàng, thảm đủ màu sắc, dân tình đi lại nháo nhào, tiếng rao hàng, tiếng hét tìm người, tiếng đọc kinh kệ, tiếng chó sủa, tiếng còi xe cũng kinh thiên động địa.

Đến sảnh ga thì đã thấy thằng bạn đứng đấy bên cạnh là một chiếc xe Tuktuk. Cậu ta làm ăn ở đây nên rất thông thạo New Delhi. Cậu ta giải thích, giờ này đi Tuktuk sẽ nhanh hơn taxi vì tắc đường trầm trọng. 

Thế là lại ngồi lên Tuktuk, rồi như một cơn lốc, xe luồn lách lao đi như một con chó điên xổng chuồng khiến người ngồi trên rớt tim nếu như chưa từng trải. Một hồi rồi cũng đến được khách sạn.

Bước vào khách sạn là thiên đường, là một thế giới hoàn toàn khác chỉ cách một bức tường với bên ngoài. Kẻ hầu người hạ giúp xách hành lý, đưa tận tay những chiếc khăn, đồ uống mát lạnh. Mọi tiện nghi từ nhà hàng, quầy bar, mát xa, bể bơi cho đến phục vụ đều tiêu chuẩn thế giới. 

Tắm rửa thay đồ xong, hai thằng xuống sảnh khách sạn. 

Một chiếc xe Mercedes-Benz đen mới cứng từ từ lăn bánh vào trước sảnh, một cậu lái xe ăn mặc áo trắng quần Tây đen là lượt phẳng phiu nhẩy xuống mở cửa xe mời hai vị lên. Ngồi trong xe mát lạnh thơm tho nên cũng không cảm thấy đường dài sau đấy đến một dinh thự ở khu người giàu Sunder Nagar bên cạnh là dòng sông Sunder Nagar tuyệt đẹp. 

Chủ nhân là một cặp vợ chồng trẻ thuộc giới thượng lưu Ấn Độ kinh doanh trong ngành công nghiệp phim ảnh Ấn Độ Bollywood. Mỗi năm họ làm vài chục bộ phim và thu nhập vài trăm tỷ VNĐ như chơi.

Đừng hình dung biệt thự 40 nghìn mét vuông của hai vợ chồng này như biệt thự Ecopark Việt Nam hay thậm chí như biệt thự bình thường ở Beverly Hills, Los Angeles, California, Mỹ. 

Nó kinh khủng hơn nhiều, nó rộng và chiếm cả một quả đồi. Hai vợ chồng hai đứa con có hơn 50 người hầu hạ. Lão cũng không muốn tả lại căn biệt thự này làm chi, bởi nói như vậy là đủ. 

Riêng căn phòng làm rạp chiếu phim của họ thì lão thực sự ngưởng mộ.  Màn hình rộng, ghế ngồi như ghế máy bay hạng thương gia 5 sao cho khoảng 30 người, mỗi người một tủ lạnh một bàn đủ đồ uống, rượu và đồ ăn vặt. Âm thanh nổi, sự phân giải màu sắc thì tuyệt đỉnh. 

Lão đã từng tự hào về căn phòng xem duyệt phim của hãng phim Gia Hoà, Hồng Kông và cứ đinh ninh là nhất châu Á, khi nhìn thấy căn rạp mini thượng lưu này mới cảm thấy hổ thẹn.

Chiều hôm ấy được hai vợ chồng chiêu đãi một bữa ăn nửa Âu nửa Á do một đầu bếp thuê từ Hồng Kông. Suốt bữa ăn, lão được nghe chủ nhân kể về sự khác biệt trong xã hội Ấn Độ và ngành điện ảnh mà họ đang kinh doanh. Nói tóm lại, họ đã giải thích trước những cái mà lão sẽ được chiêm nghiệm vào vài ngày tới.

3 giờ sáng hôm sau vợ chồng này cho lái xe đến đón lão tại khách sạn đi 3 tiếng đồng hồ thì đến Taj Mahal để vừa kịp ngắm bình minh ở đây. 

Taj Mahal là một trong bảy kỳ quan thế giới và còn được biết đến như một đài tưởng niệm tình yêu tuyệt đẹp do Hoàng đế Shah Jahan xây dựng cho vợ mình là Mumtaz Mahal. 

Đây là một kỳ quan kiến trúc được làm bằng đá cẩm thạch trắng và khảm 33 loại đá quý khác, các nghệ nhân đã mất gần 22 năm để xây dựng lăng mộ kỳ diệu này. Nếu để chiêm ngưỡng kỹ càng lăng mộ này thì cần khoảng vài ngày. Nhưng cưỡi ngựa xem hoa thì cũng nhìn ra một mối tình đáng ca tụng đến muôn thuở. 

Lão nhớ khi bước vào cổng Taj Mahal, có một dòng chữ viết như sau: 

“O Soul, thou art at rest. Return to the Lord at peace with Him, and He at peace with you.” 

(Này linh hồn, ngươi đã yên nghỉ. Hãy trở về bên Thượng đế, bình yên với Ngài, và Ngài sẽ bình yên với bạn.)

Mấy ngày sau, lão muốn tự mình đi khám phá  New Delhi và lang thang hết hang cùng ngõ hẻm. Từ New Delhi hiện đại đến Old Delhi cũ kỹ rách nát. Ghé thăm Chandni Chowk, Jama Masjid, Kinari Bazaar, Silver Market và Chợ Gia vị lớn nhất Châu Á. Rồi đi thăm Cổng Ấn Độ, Tòa nhà Tổng thống, Quốc hội Ấn Độ và Quảng trường Connaught.

Những con đường nhỏ hẹp, quanh co và lề đường của Delhi cũ là minh chứng cho sự cai trị của Mughal trước đây. 

Old Delhi có một trong những khu chợ lâu đời nhất và sầm uất nhất của đất nước – Chandni Chowk (Moonlight Square). Ở đây bạn có thể chiêm nghiệm những món ăn dân gian của Ấn Độ. Đây cũng là một con phố khác thường, một địa điểm tôn giáo nổi tiếng mà các tôn giáo khác nhau cùng tồn tại. 

Ở đây có Đền Tianyi Sect Jain, Đền Gaoli Sankha của Ấn Độ giáo, Nhà thờ Christian Central Baptist, nhà thờ Đạo Sikh, Nhà thờ Hồi giáo vàng Islam, Nhà thờ Hồi giáo Islam Fatehpur. Nhà thờ Hồi giáo nổi tiếng nhất ở Delhi, Jama Masjid, cũng nằm gần đó và được xây dựng vào năm 1650.

Đi bộ trên đường phố New Delhi, thủ đô của Ấn Độ, những khác biệt rất lớn ở thành phố này thật đáng ngạc nhiên. Bên cạnh những khu ổ chuột đổ nát là những khu dân cư cao cấp, với những con chim cùng con người kiếm ăn trên bãi rác, những con khỉ trên dây điện trong khu phố cổ … 

Sự nghèo đói và giàu sang được bộc lộ quá ư là sắc nét.

Lão đi vào khu ổ chuột Tughlakabad, không khí nồng nặc đầy mùi nước tiểu. Ngoài ra, nhiều con đường ngập rác và chất thải không rõ nguồn gốc, nhiều lúc không biết đặt chân vào đâu, phân trẻ em chỗ nào cũng có, lão thấy vài bà mẹ bế con để chúng ỉa ngay trên đường. 

Lão len lõi vào một chiếc hẻm, có đoạn chỉ rộng bằng một người đi vào để theo chân một anh bạn lái xe Tuktuk vào thăm nhà anh ta ở đây. Căn nhà có 5 mét vuông kê 2 giường tầng ở đến 6 người. Tuy họ nghèo khổ nhưng họ vẫn vui vẻ nhiệt tình và không hề ái ngại với người bạn mới quen.

Ngược lại ở New Delhi, đặc biệt là trong khu vực trung tâm thành phố, cây cối rậm rạp, sạch sẽ và thoáng rộng, trong khi tình trạng lộn xộn ở Old Delhi thật sự gây sốc, hai cảnh tượng chỉ ngăn cách nhau bởi một bức tường cổ.

Khoảng cách giàu nghèo ở Ấn Độ lớn như thế nào? 

5 mét vuông nhà cho người nghèo và 40 nghìn mét vuông dinh thự cho người giàu. Nói vậy dễ hình dung hơn.

Ấn Độ luôn được biết đến là nghèo đói trong mắt người nước ngoài. 

Nhưng điều mà nhiều người không biết là đất nước bị người khác chê nghèo, nhưng số lượng tỷ phú lại đứng thứ ba thế giới, chỉ sau Hoa Kỳ và Trung Quốc. 

Lấy ví dụ như người đàn ông giàu nhất Ấn Độ, Mukesh Ambani. 

Thu nhập hàng ngày của ông có thể đạt 10,7 tỷ Rupee. Ông đã vượt qua người giàu nhất Trung Quốc Jack Ma trước khi trở thành người giàu nhất châu Á và đứng thứ 16 trong danh sách người giàu toàn cầu.

Ở đất nước này, những khu nhà giàu và khu ổ chuột thường được ngăn cách chỉ một bức tường, nhưng những người giàu lại ngoảnh mặt làm ngơ trước những đồng bào đang chật vật với cơm ăn áo mặc, và cảm thấy không cần thiết phải giúp họ thoát nghèo. Ở phía đông và phía tây của một bức tường, phía đông là thiên đường tráng lệ trên trái đất, phía tây là địa ngục kinh hoàng của trần gian.

Những người giàu sống trong biệt thự, lái những chiếc xe hơi sang trọng và được kẻ thấp hèn hầu hạ. Họ sống như đế vương. Khi màn đêm buông xuống, họ lái những chiếc xe thể thao đắt giá gầm rú trên đường phố và ngõ hẻm. Họ có thể vung phí tiền kể cả ở Paris và hô phong hoán vũ bắt những người da trắng hầu hạ dưới ma lực của đồng tiền.

Còn những người “hàng xóm” của họ sống như chuột cống, tiền sinh hoạt hàng ngày thường chỉ vẻn vẹn một Đô La, họ phải sống trong những căn nhà dột nát, tối tăm ẩm thấp với bốn bức tường, suốt ngày quanh quẩn ở bãi rác tìm kiếm thức ăn có thể nuôi sống bản thân.

Hiện thực là vậy, một trong số ít họ đang đứng trên đỉnh của kim tự tháp và nhiều người còn lại đang quỳ dưới đáy của kim tự tháp, sự khác biệt là không thể tránh khỏi. Nhưng tuy vậy, tầng lớp dưới đáy sống rất vừa lòng với thực trạng, với số mệnh an bài và họ lại rất lãng mạn yêu đời. Bất cứ ở đâu, các bạn đều thấy nụ cười và ánh mắt chan chứa tình cảm của họ. 

Họ thích múa, thích hát, thích pha trò, chỉ cần đốt lửa và âm nhạc nổi lên, cho dù họ đang bận tay làm gì cũng vứt đấy ra tụ tập nhẩy múa hát hò đã. Mọi người đều không vì nghèo đói mà mất đi sự nhiệt tình và trung thực, một sự thành kính với tôn giáo tuy đơn giản nhưng vững vàng như đá hoa cương không hề suy suyển trước gió mưa, tháng ngày.

Không còn nghi ngờ gì nữa, Ấn Độ là đất nước huyền diệu và lãng mạn, là cõi Cực Lạc mà Đường Tam Tạng đã trải qua muôn vàn gian nan đi đến để thỉnh kinh. Ấn Độ cũng là một đất nước đầy mâu thuẫn, đầy tranh cãi, nhưng lại đầy hấp dẫn. 

Một số người khi đã bước chân đến đây đều không khỏi yêu nó đến say đắm và khó có thể rời xa, coi nó như thiên đường, nhưng một số người lại chế nhạo Ấn Độ, mô tả nó như một khu chợ ồn ào, bẩn thỉu, nghèo nàn và lạc hậu, và coi nó như địa ngục. 

Nhà văn Mỹ Mark Twain đã từng nói rằng “vì sự phức tạp của Ấn Độ nên bất kỳ sự đánh giá nào cũng đều đúng”. Bản thân Ấn Độ là nơi giao thoa giữa thực tế và mộng cảnh. Câu trả lời nằm trong trái tim mỗi người, ngay trong mắt bạn. Bạn hy vọng nhìn thấy điều gì? Bạn muốn ngăn chặn điều gì? 

Chỉ bạn mới có thể giải thích Ấn Độ.

Ấn Độ là đất Phật, tuy rằng nó lộn xộn bẩn thỉu phản ảnh lên muôn kiếp nhân sinh trong cõi ta bà. Nhưng nếu bạn đến đây với một tấm lòng hành hương để trải nghiệm, thì ngoại cảnh không cần thiết. Bạn nhìn thấy dấu ấn của Phật, chạm tay vào cổ tích, đấy là thiên đường. 

Bạn nhìn thấy và chứng kiến hiện thực, đấy là địa ngục.

Lão đã chứng kiến  những cảnh tượng không thể hiểu nổi này mà rơm rớm nước mắt, khi đã ngộ ra thấu hiểu mới cảm thấy sự ngu dốt và tầm thường của chính mình. Điều kỳ diệu của Ấn Độ là trong sự hoang tàn và hỗn loạn vẫn tỏa sáng trí tuệ của nền văn minh triết học cổ đại. 

Nếu nhìn nó bằng bộ óc văn minh hiện đại, bạn sẽ không hiểu hết Ấn Độ. 

Chúng ta chỉ nhìn thấy sự bất công của chế độ đẳng cấp và sự mê muội vào nhiều vị thần, nhưng chúng ta không thể cảm nhận được sự cân bằng của việc chấp nhận luân hồi ở mỗi người nơi đây, bởi vì tất cả những điều này có thể bị cho là mê tín.

Mặc dù Ấn Độ là một quốc gia, nhưng có hai thế giới cực đoan. 

Mặc dù họ cực đoan chia rẽ, nhưng lại khăng khít với nhau. Tầng lớp trên bóp cổ tầng lớp dưới, tầng lớp giàu sụ thành công là nhờ sự bóc lột tầng lớp dưới. 

Vậy trong thế kỷ 21, tại sao Ấn Độ vẫn chưa thay đổi được tình trạng này?

Thứ nhất, chế độ đẳng cấp phân tầng xã hội đã được lưu truyền hàng nghìn năm. Xã hội Ấn Độ được chia thành bốn đẳng cấp, Bà la môn, Kshatriya, Vaisha và Sudra. Theo quan điểm của họ, Bà La Môn là cửa miệng của người nguyên thủy và thuộc tầng lớp cao nhất của xã hội. 

Họ thuộc hàng tăng lữ và có quyền giải thích mọi kinh điển. Kshatriya  là cánh tay của người nguyên thủy, do Bà-la-môn trực tiếp điều khiển, phụ trách quyền lực quân sự và chính trị. Vaisha là đùi của người nguyên thủy, là những người bình thường bao gồm nông dân, người chăn nuôi và thương gia. Sudra là chân của người nguyên thủy, thuộc về thấp nhất. 

Những người thuộc đẳng cấp này bao gồm những người hầu, thợ thủ công, bồi bàn và đầu bếp. Đây là giai cấp đông dân nhất. Những người thuộc dạng Bà La Môn sẽ không hề coi người thuộc dạng Sudra là “người”, không chạm tay vào họ thậm chí nếu đang đi trên đường mà chiếc bóng của họ bị chiếc bóng của người Sudra đè lên cũng lập tức về ngay để tắm rửa sạch sẽ.

Những người ở khúc cuối thấp nhất của kim tự tháp cam chịu phục tùng và không bao giờ cảm thấy rằng có bất kỳ vấn đề gì. Theo quan điểm của họ, ngay từ khi sinh ra, họ đã có một định mệnh bi thảm, nếu không phục tùng tầng lớp thượng lưu, họ sẽ vi phạm ý trời và bị ông trời trừng phạt.

Chế độ đẳng cấp ban đầu chỉ là lời nói xảo quyệt được tạo ra bởi những người ở cấp cao để hưởng sự thịnh vượng và giàu có vĩnh viễn, nhưng lời xảo quyệt này đã được lưu truyền trong 3000 năm và mọi người đều biết bộ mặt thực sự của nó. Người Anh khi thống trị nước này cũng đã từng nghĩ đến việc xóa bỏ chế độ này nhưng cũng không thành.

Ấn Độ đã độc lập trong nhiều năm và chưa bao giờ cảm thấy rằng chế độ đẳng cấp là một tệ hại. Chừng nào nó còn tồn tại, giai cấp xã hội sẽ tiếp tục cố định theo cách này, những người ở dưới đáy sẽ không bao giờ có cơ hội đứng lên và nắm quyền kiểm soát, và khoảng cách giàu nghèo sẽ tiếp tục được nới rộng.

Thứ hai, những mặt hạn chế của Ấn Độ giáo. Tôn giáo này cho rằng phụ nữ là hiện thân của cái ác. Họ được sinh ra để làm mê hoặc thế giới, họ chỉ là kẻ hầu của đàn ông, họ không xứng đáng với bất kỳ phẩm giá nào, và họ không có nhân quyền nào cả. 

Chừng nào sự nguyên thuỷ và hạn chế của Ấn Độ giáo không bị phá vỡ, thì phụ nữ Ấn Độ sẽ không bao giờ có thể phá vỡ gông cùm. 

Sự bất công bằng giữa nam và nữ của Ấn Độ khiến các vụ hiếp dâm vẫn sẽ tiếp tục cho đến khi đất nước suy sụp.

Cả chế độ đẳng cấp và Ấn Độ giáo đều đã ăn sâu vào đất nước này và không thể xóa bỏ nó. Bởi vì một khi chạm đến những điều này thì đụng chạm đến lợi ích của tầng lớp trên khi tầng lớp này dù chỉ có 1% dân số nhưng nắm giữ đến hơn 70% tài sản cả nước. Và làm sao họ có thể chịu đựng được chiếc bánh của mình bị kẻ khác chia cắt?

Lần bùng phát thứ hai của đại dịch ở Ấn Độ là hình ảnh thu nhỏ cho những khiếm khuyết của Ấn Độ. Trước hết, họ biết rằng dịch bệnh vẫn chưa qua đi nhưng vẫn tổ chức các nghi lễ tôn giáo hoành tráng và tụ tập tranh cử. Thứ hai, họ tin tưởng một cách mù quáng, mê tín rằng với sự phù hộ của thần linh, họ có thể vượt qua dịch bệnh.

Dịch bệnh bùng phát, người chết như rạ, những người giàu đã đáp máy bay riêng trốn sang châu Âu để hưởng thụ tiếp, để lại những người nghèo vật lộn với dịch bệnh ở vùng đất thảm họa này.

Cầu nguyện cho họ, cầu nguyện cho một đất nước đáng yêu, đáng nhớ và huyền bí.

TamAn (Nguồn Chính Nghĩa Việt)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Ấn Độ: Thiên Đường và Địa Ngục_TamAn

Hiện Tượng Mất Trí Nhớ Và Bệnh Alzheimer_BS Hồ Ngọc Minh

Hiện Tượng Mất Trí Nhớ Và Bệnh Alzheimer

BS Hồ Ngọc Minh

alzheimer

Nói đúng ra, trí nhớ của tất cả mọi người đều không hoàn hảo. Có những dữ kiện chúng ta tưởng là nhớ đúng 100% nhưng trên thực tế theo thời gian, trí nhớ bị phai mờ với những “lỗ hổng”. Bộ não chúng ta sẽ tìm cách điền vào những “chỗ trống” đó bằng những hư cấu không có thực hay không chính xác. Vì thế khi chúng ta lớn tuổi, chuyện giảm trí nhớ xảy ra cho tất cả mọi người, nhưng mức độ và tốc độ suy sụp tùy theo bản chất của mỗi cá nhân. Riêng những người bị Alzheimer, tốc độ suy sụp rất nhanh, có khi trong vòng vài tháng đã thấy sự khác biệt.
Thế thì, những dấu hiệu khác biệt đó là gì?

Hầu hết các sách y khoa đều nói rằng dấu hiệu sớm nhất của bệnh Alzheimer là mất trí nhớ. Khổ nỗi là sự mất trí nhớ không xảy ra qua đêm trong thời gian đầu nên rất khó mà nhận biết. Mà nếu có chút lãng trí xảy ra thì thường bị bỏ qua, hay bị người thân phán cho những chữ như “già rồi, lẩm cẩm” là xong câu chuyện.
Một khi sự mất trí nhớ xảy ra có thể nhận thấy được thì thường là quá trễ. Người có triệu chứng Alzheimer thường bắt đầu lặp lại những câu chuyện hay câu hỏi nhiều lần và bất chợt. Ví dụ, có khi họ đang nói chuyện thời năm 1975, đùng một cái nhảy qua nói chuyện đánh football năm 2015, rồi quay lại thời cụ Diệm bị đảo chánh và vài ngày sau lại nhắc lại những chuyện đó.
Hoặc, họ có vấn đề theo dõi câu chuyện của người khác. Ví dụ người ta đang bàn chuyện đám cưới, người có vấn đề lại “đóng góp” chuyện lính Mỹ đổ bộ ở Normandy! Nghĩa là, nhớ đâu nói đó, không có thứ tự. Không nên nhầm lẫn với thói quen suy nghĩ của người bệnh. Đa số, thường bị bỏ qua là “lâu nay tánh vẫn thế!”.

Cùng lúc với chuyện lãng trí, quên chỗ này, chỗ kia, dấu hiệu sớm nhất của bệnh Alzheimer là việc đi đứng không vững và hay té ngã. Dĩ nhiên là khi người lớn tuổi, hay bị té ngã có thể do nhiều nguyên do khác nhau đưa đến, nhưng không nên bỏ qua mà phán cho câu “già yếu nên như vậy”. Có người đang ngồi trên ghế vẫn bị té lăn quay xuống đất vì không giữ được thăng bằng, như vậy không phải hoàn toàn là yếu! Người bị Alzheimer thường có dáng đi như lê lết trên mặt đất như chim cánh cụt.
Họ không nhấc được bàn chân khỏi mặt đất và hai chân thường hay bị quíu, như không biết chân nào phải bước trước và chân nào theo sau. Có khi họ như lúng túng muốn bước hai chân tới trước cùng một lúc. Đó là lý do tại sao họ dễ bị té.
Ngoài ra, lý do dễ mất thăng bằng, và hay bị té là khả năng nhìn vật thể chung quanh theo định thức không gian 3 chiều không còn chính xác nữa. Thí dụ cái bàn, cái ghế có thể bị nhìn méo đi, hay khoảng cách ước lượng từ điểm A đến điểm B không còn đúng nữa.

Khoa học vẫn chưa tìm ra gene di truyền gây ra bệnh Alzheimer. Người ta đã tìm khắp bộ DNA của con người và ghi nhận được 33 điểm khả nghi. Tuy nhiên những người có gene apolipoprotein E (APOE) ở trên nhiễm sắc thể số 19 sẽ có nguy cơ tăng cao. Ngoài ra nguy cơ có thể thay đổi qua sự tương tác giữa gene và môi trường.

Căn nguyên của bệnh Alzheimer là do những vẩy (plaques) chung quanh tế bào não, tương tự như vẩy đóng trong mạch máu.
Khác với vẩy cholesterol trong máu, những vẩy trong não này được tạo thành bởi chất protein. Những vẩy protein như những chất cách điện, hệ quả là những tín hiệu được truyền đi từ một tế bào thần kinh nầy đến tế bào khác bị ngăn chặn. Hiện tượng cách ly này không chỉ xảy ra giữa tế bào này với tế bào khác mà còn ở ngay trong tế bào thần kinh, như những chùm tơ nhện, gọi là “tangles of Tau protein”. Ngoài việc cách ly sóng điện, những vẩy protein còn tiết ra chất độc để hủy diệt tế bào thần kinh, vì thế não bộ dần dần teo nhỏ lại.

Hiện tượng đóng vẩy không xảy ra qua đêm mà kéo dài có khi cả chục năm trước khi triệu chứng đầu tiên xuất hiện. Nói cho dễ hiểu, “người thường” không có bệnh Alzheimer cũng bị đóng vẩy trong não chút đỉnh khi… già yếu. Nhưng đối với người có bệnh, tốc độ suy sụp, đổ dốc sẽ rất nhanh.
Dĩ nhiên, triệu chứng mấu chốt của bệnh mất trí nhớ phải là sự mất khả năng tư duy, khả năng nhớ, nhưng những triệu chứng khác do sự suy yếu của não bộ đưa đến, ví dụ như khả năng nói và vệ sinh cá nhân sẽ xảy ra cùng lúc, chứ không theo thứ tự.
Như thế, sự suy yếu xảy ra một cách toàn bộ, từ trí nhớ, đến suy yếu thị giác và khả năng giữ thăng bằng.

Khi bệnh càng nặng, người bệnh sẽ mất khả năng tư duy, không còn nhận biết người quen, không nhớ những chuyện mới xảy ra gần như tức thì.
Họ sẽ có vấn đề hiểu câu hỏi, sử dụng từ ngữ để diễn tả hay tốn nhiều thì giờ để trả lời một câu hỏi có khi rất đơn giản.
Khuôn mặt như khờ đi, không biểu lộ được cảm xúc. Họ mất khái niệm về thời gian và không gian.

Tâm tính của người bị mất trí nhớ cũng thay đổi, có khi họ trở nên trầm cảm, cô đơn nhưng có lúc hung dữ, bướng bĩnh vì trong tư duy hạn hẹp, không ai hiểu được họ.
Cuối cùng là mất luôn khả năng vệ sinh cá nhân như tiểu tiện và đại tiện. Người bệnh chỉ nhận biết được một vài người thân săn sóc cho họ. Khi thiếu những người này, hay khi phải rời xa những môi trường quen thuộc, thường sẽ bị kích động những cơn sợ khủng hoảng tinh thần, gọi là panic attacks, làm cho họ cứng người đi, càng dễ bị té ngã thêm.
Trong phạm vi bài viết này, tôi không đi sâu vào việc chẩn bệnh và thuốc chữa trị. Tuy nhiên, dựa trên những kiến thức cơ bản ở trên, tôi hy vọng bạn đọc có thể phát hiện ra bệnh tình của người thân và đưa họ đến gặp bác sĩ càng sớm càng tốt.
Nên nhớ tất cả các loại “thuốc chữa” hiện nay không có khả năng chữa dứt bệnh mà chỉ làm cho tốc độ phát triển của bệnh chậm đi. Và nếu thuốc chữa càng sớm thì phẩm chất đời sống của bệnh nhân cũng như của người thân săn sóc cho bệnh nhân sẽ đỡ khổ hơn nhiều.
Nói chung, mọi người khi lớn tuổi đều có nguy cơ bị mất trí nhớ. Để giảm bớt nguy cơ bị mất trí nhớ, một số biện pháp cần thực thi ngay từ bây giờ:
Trước hết, bạn phải có một chế độ ăn uống cân bằng, điều độ, nhiều rau trái, tập thể dục đều đặn, như đi bộ ba tới năm giờ mỗi tuần, và ngủ đủ tám tiếng mỗi ngày.

Ngủ đêm không đủ thì tranh thủ ngủ ngày! Những người ngủ đầy đủ và có ngủ trưa thường sống lâu và ít bị mất trí nhớ.

1. Học khiêu vũ:

Ta nói nôm na là tập… “nhảy đầm”. Nghiên cứu đăng trên tờ New England Journal of Medicine năm 2003 cho biết khiêu vũ vừa là một môn thể dục thể thao, vừa là một trò chơi đòi hỏi suy nghĩ, tiến thoái trong mỗi bước.

Khi khiêu vũ, lượng máu không những chỉ dồn về bắp thịt mà còn đổ về phía não bộ nhiều hơn vì khiêu vũ đòi hỏi cả thể lực lẫn trí tuệ.

2. Học chơi một thứ nhạc cụ hoặc nghe nhạc:

Nhiều nghiên cứu cho thấy người chơi nhạc cụ trên 10 năm sẽ có trí nhớ tốt hơn một người không chơi nhạc. Trong trường hợp bạn không có đủ thời giờ hay năng khiếu âm nhạc, nên tập nghe và thưởng thức âm nhạc.

3. Học một ngôn ngữ khác:

Một nghiên cứu đăng trên tờ Neurology năm 2013 cho biết những người nói thông thạo hai thứ tiếng, khả năng bị mất trí nhớ chậm đi bốn năm rưỡi so với người chỉ biết một thứ tiếng.

4. Học đánh cờ hay chơi video game:

Một nhiên cứu của Pháp năm 2013 cho thấy những ai chơi cờ, hay chơi các loại game như bingo, xì lát, poker… (nhưng đừng ghiền quá, và cũng tránh “ngồi computer” hay TV nhiều nhé), khả năng bị mất trí nhớ giảm đi 15%.

5. Đọc sách:

Không cần phải đọc nhiều, nhưng khi đọc sách nên bỏ thì giờ suy nghĩ, nghiền ngẫm nội dung của sách, truyện. Đọc truyện mới lạ có lợi hơn là đọc chuyện cũ đã biết. Đừng đọc Thiên Long Bát Bộ hay Tam Quốc Chí đến lần thứ 10!

6. Chú tâm làm một việc cho xong, đừng ôm đồm nhiều thứ vô một:

Người chú tâm làm xong một việc ít bị lãng trí hay mất trí nhớ hơn người làm hai ba việc cùng một lúc. Ví dụ khi ăn thì đừng xem TV! Ngoài ra nên biết dùng thời giờ một cách hữu hiệu.

7. Học đan, may vá, hay làm vườn:

Khảo sát thống kê năm 2013 cho biết những người có những thú vui kể trên, trí óc minh mẫn hơn những người không có “thú vui ” để tiêu khiển.

8. Sống có mục đích:

Sống lạc quan, yêu đời và có giao thiệp với bạn bè người thân làm bớt tình trạng cô độc, sầu muộn.

9. Tập viết:

Viết văn, viết truyện, viết thơ cho bạn bè, viết nhật ký, viết hồi ký… làm giảm khả năng mất trí nhớ về sau.

10. Cuối cùng, tập làm việc nhà:

Những người làm lụng chân tay, làm việc trong nhà ít bị mất trí nhớ hơn người ngồi một chỗ xem TV hay nhìn “bóng câu qua khung cửa sổ”.
Nói chung là phải tích cực “động não”. Tất cả các hoạt động trên đây nên bắt đầu từ hôm nay, bất kỳ ở lứa tuổi nào. Không nên đợi tới 60, 70 mới lo ngăn ngừa mất trí nhớ!
BS Hồ Ngọc Minh

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Hiện Tượng Mất Trí Nhớ Và Bệnh Alzheimer_BS Hồ Ngọc Minh

SÀI GÒN VÀ EM_Nguyễn Phiến (Thơ)

SÀI GÒN VÀ EM

Ngày buông xuống hoàng hôn về trên phố

Những con đường nhộn nhịp áo dài bay

Ta đến đây khi phượng hồng say nắng

Sài gòn rực rỡ sánh bước trong tay

 

Xuôi ngược ngựa xe dập dìu ong bướm

Trai thanh gái lịch tha thướt lượt là

Mắt huyền mơ long lanh cành mai liễu

Duyên dáng trần đời phong gấm thướt tha

 

Gío mơn man chiều vàng loang tóc biếc

Tia nắng tà hờ hững rớt trên vai

Dáng kiêu sa chập chờn cơn mộng ảo

Nét đoan trang huyền hoặc cả hồn ai

 

Em ở đâu Sài Gòn luôn ở đó

Mất Em rồi thành phố cũng thay tên

Sài Gòn và Em song đôi nhịp sống

Em đi rồi Thành phố đứng buồn tênh

 

Sài Gòn trong ta một thời hoa lệ

Em trong ta lồng lộng cuộc tình say

Mất Sài thành còn em đâu biền biệt

Mấy chục năm rồi nỗi nhớ khôn khuây

 

Cuộc hạnh ngộ chan hòa bao tình tự

Con tim hồng nồng cháy lửa yêu thương

Em trong ta cả một trời thần thoại

Sài gòn còn lại hình bóng quê hương

Nguyễn Phiến

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở SÀI GÒN VÀ EM_Nguyễn Phiến (Thơ)