LK Nhớ nhau hoài, Tạ từ trong đêm và Chuyến xe lam chiều

Cuối tuần mời các bạn giải trí qua đoạn Video nầy.

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở LK Nhớ nhau hoài, Tạ từ trong đêm và Chuyến xe lam chiều

Happy Birthday K1 in July

Happy Birthday in JulyList

Lỗi
Video không tồn tại
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Happy Birthday K1 in July

Gà Tre tập dượt văn nghệ

Chuẩn bĩ cho ngày hội ngộ 50 Năm Khoá 1 và HV Gà Tre Lê Quang Phú đang tập dượt ráo riết phần văn nghệ. Đây là một bài sẽ được bạn ta trình diễn trong ngày đai hội. Mời các bạn nghe tráng miệng.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Gà Tre tập dượt văn nghệ

Bài tự truyện của một cô dâu K1

image001

Kính tặng những người mẹ, những người vợ đã trải qua một thời nuôi tù. Riêng tặng chị Bé-Bông và những người thân yêu nhất của tôi.

Chúng tôi gặp lại nhau khi cả hai chúng tôi đã vào buổi hoàng hôn của cuộc đời. Cơ duyên chúng tôi được gặp mặt lại nhau thật đúng với câu nói: “Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ; vô duyên đối diện bất tương phùng”.  Chúng tôi, nhân vật chính trong câu chuyên này là những nhân chứng sống – những người đã “khóc cười theo mệnh nước nổi trôi”. Bối cảnh của câu chuyện khởi đầu rất đẹp tại hai thành phố Sài gòn – Đà lạt và kết thúc cảm động tại hai tiểu bang California – Oregon.

Tôi chưa được gặp mặt Bông mà chỉ biết qua lời kể của ông xã.  Việc gặp lại nhau là do sau khi ông xã Bông đột ngột qua đời, những trống vắng, hụt hẫng càng khiến Bông muốn tìm liên lạc lại với các bạn cũ.  Rồi ngày tháng qua với mạng lưới tin học tân tiến Bông đã tìm được email và số điện thoại của chúng tôi qua hội Cảnh Sát. Kể từ đó nhịp cầu Cali-Ori trở thành “đường dây nóng”. Tôi cũng có những người bạn rất thân nhưng chưa gặp được người nào có cùng chung số phận, hoàn cảnh sống trong giai đoạn đau thương của lịch sử dân tộc. Để cùng cười vang khi nhắc đến những kỷ niệm của cái “thuở ban đầu” và rồi để cho mắt cay, ruột xót, cùng thổn thức cho những ngày đau thương, ly hận tràn đầy. Chúng tôi lại cùng là những người yêu thơ văn, ca nhạc. Nên khi nghe Bông nói sẽ đến thăm chúng tôi rất vui mừng. Riêng tôi rất nôn nóng để được gặp mặt một người mà tôi tin là cũng thích được kể và được nghe những kỷ niệm một thời mà tôi không hề bao giờ muốn lãng quên.

Thật là trời không phụ lòng người! Khi gặp nhau chúng tôi đã bồi hồi xúc động kể cho nhau nghe và rồi những thước phim của quá khứ đã được quay chậm lại.  Tôi muốn viết những câu chuyện thật này như một thiên hồi ký khi còn đầu còn nhớ và tay còn viết lại được và cũng có thể gọi là “gia tài của mẹ để lại cho các con”.

Ngày xa xưa ấy khi Bông còn là một cô nữ sinh của trường Bùi thi Xuân tại xứ hoa anh đào. Tại đây lại có hai chàng Cảnh Sát Dã Chiến mà sau này đã trở thành phu quân của chúng tôi. Đó là anh Nguyễn ngọc Bé, tức “Bé hạt sen” và anh Nguyễn văn Vinh, tức “Vinh đen”.  Hai chàng là “bạn đồng môn” theo đúng cả hai nghĩa Hán-Viêt.  Hai anh cùng là sĩ quan khóa I Biên tập viên cảnh sát – mà lúc mới quen chàng tôi chả hiểu là cái thứ vị gì vì chỉ thấy anh đeo trên cầu vai một cái gạch và cái hai lăng quăng – cùng phục vụ tại Đà Lạt, ăn cùng mâm – cùng một quán nấu cơm tháng- ngủ cùng nhà trọ!

Theo lời Bông kể lại thì tuy gia đình ở Đà lạt nhưng khi học xong trung học Bông lại làm việc cho Air Việt Nam tại Nha Trang. Và bà mai cho đôi tình nhân này là cô em họ tên Hòa. Lần đầu gặp gỡ là khi Bông từ Nha Trang về thăm nhà. Cô Hòa này mời cả hai đi xem phim. Rồi “từng bước từng bước thầm” cả hai đã nhẹ bước vào đời nhau lúc nào không hay! Sau lần đó thì mỗi lần Bông được về thăm nhà thì anh “Bé hạt sen” lại xuất hiện, xử dụng tài tình chiến thuật vừa lãng mạng vừa thực dụng với bó Bông hồng trên tay đi kèm với một bịch khoai lang mật dẻo! Và cô nhân viên Air Việt Nam đã rơi ngay vào cái bẫy êm ái này.  Mặc dù “lúc đầu Bông không ưng lắm vì ngoại hình trông không được bắt mắt” nhưng nhờ anh đã áp dụng tâm lý chiến đạt tới “đỉnh thượng thừa”! Người sĩ quan cảnh sát này trông vậy mà đầy nghệ sĩ tính.  Anh thường tặng cho người yêu sách vở, các tuyển tập thi ca, trong đó Bông nhớ rất rõ là có rất nhiều sách học làm người của nhà văn Nguyễn Hiến Lê. Thế là cô cựu nữ sinh trường Bùi thị Xuân đã tự chui vào cái tổ kén để dệt thành “Truyện tình 2 B” – có thể dịch sang tiếng Anh là “The ‘to Be’ Love Story”!

Còn tôi đã chui vào tổ kén để dệt chuyện tình mình trong trường hợp như sau: là học sinh trung học Đắc Lộ đến năm Đệ Tam, khi khám phá ra vài “dấu lạ” trong quyển “lưu bút ngày xanh”, bố mẹ tôi chuyển cô con gái lên trường trung học Nguyễn Bá Tòng, nơi có hai khu nam sinh và nữ sinh riêng biệt. Năm cuối của bậc trung học tôi chơi thân và thường sang học thi tú tài II với Oanh. Cô này lại cũng là em họ và nhà cô lại ở đối diện với đối tượng đang “chiếu tướng” tôi! Thời gian này anh Vinh đang được về nhà sau khi học xong khóa huấn luyện quân sự tại trường bộ binh Thủ Đức. Chiến sự Mậu thân bùng nổ! Anh không trở lại Đà lạt ngay được. Ngày Tết bố mẹ tôi hay chơi bài Tam cúc, nhất là bài chắn tại nhà. Thế là tối đến thường xuất hiện thêm một chân chơi bài chắn trong gia đình tôi! Và rồi “mũi tên nào say đắm, bắn trúng con tim hồng”! Bưu điện Sài gòn – Đà lạt đã phải làm việc “overtime” để chuyển thư của chúng tôi mà đã được tôi ghi dấu “mật mã” bằng phong bì mầu trắng dán con tem in hình cô gái đang đánh đàn tranh màu tím! Nhờ tín hiệu đặc biệt này mà anh Vinh đã thoát được âm mưu giữ bức thư tình giả mạo làm “con tin” để đòi tiền chuộc của mấy ông bạn quý!

Rồi thì những lần “24 giờ phép” về Sài gòn thay vì “hái hoa rừng” (có biết ở đâu mà hái!) thì anh chàng cứ ra chợ Đà lạt mua hoa đem về tặng cho “bé yêu” khiến mấy anh bạn phải thốt lên rằng:” Thằng này bây giờ chỉ thích ôm Lan!” Rồi cũng từ đó sân trường Văn Khoa thỉng thoảng có thêm một anh chàng sinh viên dự thính! Con đường Tú Xương đã trở thành “con đường tình ta đi”! Và con đường Cường Để đã ghi nhận một “tai nạn lưu thông”! Khi ấy trên đường tan học về, tôi đang chạy chiếc Honda PC, tà áo dài và “tóc thề thả gió lê thê”, bỗng phát giác có một xe Jeep cảnh sát đang “bám sát”ở đàng sau, giật mình nhìn thấy khuôn mặt “quen quen” đang ngồi trong xe! Hết hồn! Lúynh quýnh thế nào mà té nhào ngay trước mũi xe Jeep!

Nói đến té xe tôi lại nhớ lời Bông kể chuyện anh Bé tập xe chạy Honda cho Bông. Thoạt tiên anh ngồi vào tay lái, Bông ngồi phía sau. Anh dọt xe chạy một lúc, thấy đàng sau im re! Mới quành xe lại để “nhặt người yêu”! Chúng tôi cũng có một chuyện tương tự. Anh chàng Cò nhà tôi một hôm mượn được cái xe “Vespa thùng” để đón tôi đi học về. Ngày xa xưa ấy, con gái ngồi yên sau thì khép nép vén tà áo dài ngồi để hai chân qua một bên. Tôi vừa leo lên yên sau chưa kịp “sửa tướng khép nép” thì anh cũng dọt xe chạy một đỗi mới quay lại “tìm trẻ lạc”!

Cuộc sống êm đềm, hạnh phúc của chúng tôi vút qua tầm tay! Tình hình chiến sự từ đầu năm 1975 dồn dập những tin dữ và anh Vinh cũng miệt mài trong công vụ. Khi tôi sinh cháu gái thứ ba vào cuối tháng 3/1975, anh vào nhà bảo sanh của bệnh viên Vì Dân để đón mẹ con tôi về nhà với cái đầu bị thương băng trắng xóa và chỉ kịp thả mẹ con tôi xuống đầu ngõ rồi lại vội vã ra đi. Cũng trong những ngày khốc liệt ấy anh Bé đưa Bông với cái bụng bầu và bốn cháu nhỏ di tản về Sài gòn. Trong lúc dầu sôi lửa bỏng anh Vinh cũng chỉ kịp gom góp cho anh chị Bé những vật dụng cần thiết trong thời gian tạm trú tại đây. Rồi chúng tôi không gặp lại nhau nữa mà tan tác theo vận nước nổi trôi kể từ đấy!

30/4/1975! Lời đầu hàng của Dương văn Minh là tiếng súng bức tử! Cả thành phố Sài Gòn như điên cuồng! Một đám lửa chất đống quần áo, quân trang, quân dụng được đốt lên ngay đầu ngõ nhà tôi! Tôi cũng mê man vừa khóc nức nở vừa vất vào đấy những gì tôi có thể quơ cào được! Đến bây giờ tôi chỉ tiếc quyển album chứa đầy kỷ niệm và bức ảnh phóng lớn của cháu trai đầu lòng bụ bẫm, kháu khỉnh trong bộ quần áo Cảnh Sát Dã Chiến!

Mấy ngày sau anh Vinh mới về nhà cùng gia đình tôi đi tìm tung tích mẹ tôi bị trúng đạn pháo kích vào phi trường Tân sơn Nhất của Việt cộng ngay sáng30/4. Mẹ tôi được tìm thấy tại bệnh viện Bình Dân và rồi bị cắt nguyên cái chân phải vì vết thương đã bị làm độc!

Khi còn nhỏ tôi đã được xem các bộ phim “Chúng tôi muốn sống”, Về miền Nam” v…v…Tôi đã biết tội ác của Việt cộng. Nhưng không thể nào đo lường cái ác này nếu không sống dưới sự trả thù của họ.

Bông kể cho tôi nghe những cơ cực của gia đoạn sau 1975, nhất là khi gia đình gồm sáu mẹ con cùng bà mẹ chồng bị đẩy đi “kinh tế mới”.

“Chú phỉnh tôi rồi chính phủ ơi”! Chế độ cộng sản tồn tại nhờ vào sự lường gạt người dân và khủng bố làm tê liệt mọi chống đối. Sau khi anh Bé đi tù, Bông đưa mẹ già và năm con dại “tự nguyện” đi KTM với hy vọng cho chồng được thả về sớm. Cùng với một vài gia đình khác, mọi người bị lùa vào xe tải chở đến nơi chỉ cho mấy căn lều trống vừa lợp xong mái lá, không có vách, không có cửa!  Lương thực được phát lúc đầu là ít gạo hẩm, nước mắm, muối và hai con cá khô lép kẹp bằng hai ngón tay. Các cháu ngày ngày phải ra bìa rừng hái rau tàu bay, rau dền dại,và lá giang.  Đem bỏ tất cả vào nồi nấu với muối và chút bột ngọt cộng với ớt sim cay xé lưỡi để tránh bị sốt rét. Trời cũng thương nên ăn uống kham khổ như thế mà các cháu lại không bị đau bệnh trầm trọng chi cả.  Dân KTM cũng được phát hạt bắp và khoai mì để tự trồng trọt.  Nhưng trời thì nóng cháy da, đất đai khô cằn lại thêm mẹ già và bầy con nhỏ làm sao mà canh tác? Lương thực cấp phát tiêu chuẩn bị cạn dần: vài ký gạo đã bị quy một nửa thành khoai mì khô xắt lát. Để kiếm một chút thu nhập, Bông đã nghĩ cách mua khoai mì của các hộ dân để bán lại cho các con buôn.  Dần dà tìm ra đầu mối thu mua khoai mì là một nhà thờ nhỏ cách xa nơi ở khoảng 16 km.  Các sơ ở đấy mua khoai mì khô để xay ra làm thành bún. Thấy hoàn cảnh chồng tù tội, đàn con còn nhỏ dại nên các sơ đã cấp vốn để thu mua khoai mì về bán lại cho nhà dòng. Phương tiện chuyên chở duy nhất là cái đòn gánh bằng thân cây tre trên đôi vai gầy guộc đi lại mỗi ngày trên con đường rừng gồ ghề, ngoằn ngoèo.  Mỗi buổi sáng Bông và một chị bạn thức dậy thật sớm để chuẩn bị lên đường. Ngày đầu tiên đúng là đổi mồ hôi, nước mắt để lấy gạo nuôi con. Chỉ gánh khoảng 20 kg khoai mì thôi mà nghỉ dọc đường không biết bao nhiêu lần.  Hai vai sưng tấy lên, rướm máu, trong làn nước mắt dàn dụa, hình ảnh đàn con đang nheo nhóc chờ mẹ về có được chén cơm đã thúc đẩy từng bước nhọc nhằn kế tiếp. Rồi “bao đau thương thành chai đá” trọng lượng gánh hàng sau khi bị giảm xuống 15kg đã tăng lên thành 30kg cho mỗi chuyến.

Trong hoàn cảnh đánh đổi cật lực sức lao động lấy miếng ăn cho 7 người trong gia đình. Hoàn cảnh mà cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, dép đi của các cháu được chế biến từ các đôi dép đứt quai của các công nhân làm rừng, nhặt về cắt nhỏ lại, mua quai nhỏ hơn để xỏ vào cho các cháu đi thì phương tiện để đi thăm nuôi anh Bé khi anh còn ở trong trại cải tạo tại miền Nam đều phải cậy trông vào ông bà ngoại khi đó còn ít đồ đạc trong nhà có thể đem bán đi được.

 Trại tù của anh Bé có tên là Madagui. Từ Đà lạt đi xe đò từ 6g sáng đến điểm tập trung khoảng 9g. Từ đó thân nhân phải gồng gánh đi đò qua con sông La Ngà rồi lại phải đi bộ vào đến trại thì đã 5g chiều. Lần thăm nuôi không thể nào quên là khi hay tin anh Bé bị sốt rét, Bông cùng đi với chị Bá cũng đi thăm nuôi chồng.  Khi anh Bé được một chị cán bộ dắt ra, căn bệnh sốt rét đã hủy hoại thân thể đến nỗi Bông không nhận ra được nếu không nghe anh  cất tiếng gọi ”Em!”. Đau lòng Bông nhào đến ôm anh thì bị tên cán bộ này phạt bằng cách cắt giờ thăm gặp chỉ còn 15 thay vì 30 phút! Còn chị Bá thì chỉ được gửi quà mà không cho biết lý do. Thật ra anh Bé thì thầm là anh Bá đã chết hơn một tuần nay mà bọn chúng vẫn nhận đồ thăm nuôi.  Anh còn dặn kỹ là chỉ cho chị Bá biết tin này trên đường về vì sợ chị phẫn uất kêu khóc anh Bé sẽ bị trại kỷ luật! Bị kỷ luật trong tù là đồng nghĩa với sự đón nhận cái chết nếu không có ơn trên che chở! Anh Bé cũng đã nếm thử kinh nghiệm “chết hụt” khi một người tù lấy cắp đồ ăn của anh để trốn trại. Anh bị đưa ra làm tờ tự kiểm trong 3 ngày vì bị nghi là đồng lõa. Rất may là sau khi bị bắt lại người này khai là chính mình ăn cắp nên anh ấy đã bị tử hình, còn anh Bé thì được thoát chết!

 Một chuyến đi khác cũng là một kỷ niệm với người bạn đồng hành là chị Diệp, anh Diệp cũng là Trung úy Cảnh sát (hiện nay anh chị Diệp đang ở Santa Ana).  Lần đó đi thăm nuôi vào mùa mưa, không có đò qua vì nước sông đang chảy xiết. Cũng may được người dân trong vùng cũng thuộc thành phần KTM cho ngủ lại qua đêm. Hôm sau vào thăm nuôi thì trời đổ mưa.  Các anh nhận đồ xong thì xót xa hối thúc vợ về mau mau còn dặn với theo là “nếu mưa lũ thì đừng đi thăm nữa nhé!” Còn chúng tôi những lần đi thăm nuôi, lúc đi gánh vác đồ thì thể xác nặng trĩu mà không biết mệt, thế mà lúc về chứng kiến thân phận tù tội, nghiệt ngã và hình ảnh tiều tụy của chồng làm tâm hồn trĩu nặng đau thương đến ngơ ngẩn hàng tháng chưa vơi.  Ra về lần này hai chị em lại cũng vẫn không gặp may vì không có xe đò nào ngừng lại. Sau cùng thì có được một chuyến xe, nhưng chỉ đưa về đến Bảo Lộc và nhà trọ nào cũng từ chối không cho trú ngụ có lẽ vì hai đứa nhìn giống như hai bà điên! Thế là vừa đói vừa rét, dùng áo mưa che thân, ngồi ngoài hàng hiên nhà người ta ca bài “Giọt Mưa Thu” suốt đêm!  Đến khi anh Bé phải đổi ra các trại ở miền Bắc thì nguồn tiếp viện từ ông bà ngoại đã cạn kiệt.  Bông chỉ có thể vài tháng gửi đồ tiếp tế cho anh qua phiếu gửi quà mà thôi!

Riêng thân phận tôi thì may mắn hơn phần nào vì còn bám được ở thành phố.  Đó cũng là một phép lạ cho gia đình tôi. Trong lúc tinh thần bị khủng bố cực độ! Ngày đêm loa phóng thanh của phường dội bom vào tai những lời thúc ép đi kinh tế mới! Lại chứng kiến cảnh vợ con ông thiếu tá Lâm nửa đêm bị “xúc” đi. Mẹ chồng tôi bàn định là sẽ phải bán căn nhà để mua đất tại Gia Kiệm vì cũng có người quen đang ở đấy.  Trước ngày đi đặt cọc tiền đất, bà cụ đến nhà thờ cầu nguyện thì khi về nhà nhận được thư thăm nuôi anh Vinh từ khám Chí Hòa cùng với thư của Sở giáo dục cho tôi đi dạy lại tại trường Đắc Lộ (sau đổi tên là Ngô Quyền)

Người chinh phụ trong Chinh Phụ Ngâm của Đặng Trần Côn và Đoàn thị Điểm đã rất đau khổ trong cảnh: “Nay một thân nuôi già dạy trẻ. Nỗi quan hoài mang mể xiết bao” nhưng nàng chắc chắn không thể nào khổ bằng chúng tôi, những chinh phụ dưới chế độ Cộng Sản.

Tôi dạy học trong nhà trường xã hội chủ nghĩa, mỗi ngày được mua theo tiêu chuẩn nửa ổ bánh mì, mỗi tháng nửa ký thịt heo lại phải nói khó với người phụ trách “tổ đời sống” để xin được mua thịt ba rọi. Bánh mì được xắt lát để dành phơi khô. Thịt ba rọi thắng để lấy nước mỡ cho nhà dùng, còn phần mỡ cùng ít thịt thì để ngào với đường chảy để đi tiếp tế.  Khoai lang mua thay gạo từ hợp tác xã cũng được xắt lát để dành phơi khô. Đến đây tôi lại rớt nước mắt với hình ảnh bà nội ngồi bóc vỏ khoai. Cháu bé gái bò bên cạnh nhặt hết vỏ khoai bỏ vào miệng ăn ngon lành!

Trước khi được gọi đi dạy lại tôi đã cơ cực làm đủ mọi việc. Tôi rất kinh hãi giống đỉa nhưng đã phải lội ruộng để hái rau muống cho mẹ tôi đem ra chợ bán! Rồi sau đó, hai ba giờ sáng đã đi theo thím em họ để đón xe Long Khánh mua chuối, cà ghém, rau cải … nhưng vì yếu và chậm nên phải bỏ vì chỉ dành được toàn là chuối đẹt và cà xấu! Rồi lại cùng cậu em trai thư sinh kéo chiếc xe tự chế chở phụ tùng xe đạp đi ra chợ xe đạp Minh Mạng bày bán. Chiếc xe này còn nặng hơn trọng lượng của hai chị em nên đã có lần lật nhào đổ tung tóe ra mặt đường! Tôi cắn răng thu nhặt đồ đạc vương vãi trong nước mắt! Khi bột mì được phát thay gạo, lại xoay ra bán đủ loại bánh! Đến mùa Trung Thu hay Tết Nguyên Đán lại tranh thủ bán bánh, mứt. Cô em kế tôi còn nhớ mãi hình ảnh của tôi gầy gò, đi nghiêng nghiêng vì vết mổ lao hạch còn đang băng vải ở cổ, tay ôm thùng bánh ế, lội bì bõm trong con hẻm trở về nhà trong cơn mưa buổi tối.

Các cháu vì không đủ dinh dưỡng nên cứ đau ốm liên miên! Có một lần cả hai cháu trai bị sốt xuất huyết nặng phải điều trị ở hai lầu cách xa nhau tại bệnh viên Nhi Đồng.  Cháu gái ở nhà khát sữa mẹ đã phải ngậm vú da của bà cố ngoại. Vừa phải lo chạy mua chợ đen thuốc để chữa bệnh cho con, vừa phải chạy lên lên xuống xuống một ngày không biết bao nhiêu lần để lo cho hai con. Tim gan thắt lại theo nhịp thở yếu ớt của các con! Tôi đã kiệt sức! Và cái chết đã lởn vởn trong đầu! Nhưng niềm tin tôn giáo, khuôn mặt của những người thân yêu đã vực tôi đứng dậy!

Tuy nhiên Chúa đã thương gia đình chúng tôi! Sau khi đồng tiền kiếm được từ nghề dạy học của tôi và cô em kế tôi đã trở thành đồng lương chết đói thì cậu em tôi đã sáng chế ra nghề vẽ các hoa văn trên guốc bằng bút điện. Đến khoảng đầu năm 1980 khi hàng ngoại quốc được gửi về thì tôi đã bỏ nghề giáo để đi buôn hàng ngoại quốc vì có chút vốn liếng ngoại ngữ nên xoay nghề “chạy” thuốc tây! Đời sống toàn gia đình đã được cải thiện.

Khi anh Vinh còn bị tù ở Chí Hòa, tôi đi tiếp tế anh bằng xe đạp. Thỉng thoảng thân nhân được cho gặp mặt. Đến ngày đi thăm cả gia đình chất lên chiếc xích lô đạp: bao tải lớn được gác trên càng xe. Hai cháu trai đứng sát bên trong. Tôi bà bà nội các cháu ngồi co chân lên để cháu gái ngồi lên trên hai bị cói đặt ở đưới cùng!  Vào đến nơi thì tù nhân và gia đình ngồi hai bên, cách ngăn bằng một tấm lưới mắt cá! Cháu bé nhất chui qua gầm bàn sang ngồi với bố! Chúng tôi “mắt trong mắt, tay trong tay, chân…trên chân” cố truyền sức sống cho nhau! Chưa kịp hỏi han thì đã hết giờ!

Nhưng khi anh Vinh bị chuyển lên trại tù Xuân Phước là một huyện nhỏ nằm sâu trong một vùng thung lũng thuộc thị xã Quy Nhơn, thì mới đúng là “đoạn trường tân thanh!” Những lần thăm nuôi đầu tiên thật gian nan, vất vả. Tôi phải chen chúc trong những toa tàu chợ hôi hám với đoàn người lam lũ đi buôn hàng chuyến. Khi có tiếng hô lớn báo động sự xuất hiện của lũ công an kinh tế hay quản lý thị trường thì đám người này thảy liên tục hàng hóa qua các cửa sổ, rồi đạp cả lên đầu hành khách như chúng tôi để nhảy ra ngoài cửa sổ thoát thân. Đến ga Chí Thạnh người đi thăm nuôi phải ôm đồ đạc nhảy xuống tàu thật nhanh. Từ đó sẽ đón bất cứ phương tiện di chuyển nào có được để đi đến trạm kiểm soát: xe trâu, xe ngựa, hay xe hàng chạy bằng hơi nước từ thùng than đá nóng như thiêu đốt, ra khỏi xe người lọ lem như vừa chui ra khỏi lò sưởi đầy mồ hóng.  Có lần tôi và chị bạn đồng hành xin quá giang được một xe chở bột mì vào trại. Xe lồng lên chạy trên những con đường dốc ngoằn nghèo xóc chúng tôi lăn lóc như hai con cóc từ góc này sang góc kia trong thùng xe. Đến khi xuống xe, chúng tôi bơ phờ, nhừ tử nhưng nhìn nhau phá lên cười ngặt nghẽo vì hai người trông giống như hai cục bột di động. Chưa xong! Từ trạm kiểm soát chúng tôi phải lúp xúp, chạy tất tả theo sau những người dân địa phương được mướn gánh đồ thăm nuôi vào đến nhà “tiếp tân”. Một lần thăm nuôi khác, tôi lại một lần nữa được phép mầu nhiệm tăng sức và gìn giữ. Lần đó khi chúng tôi vào đến trại A cũng đã xế trưa thì cán bộ trại báo tin là chồng tôi đã bị đưa qua trại B. Nếu ở lại trại A đến sáng mai thì sợ trễ, làm người bạn đồng hành phải chờ đợi thêm một ngày nữa mới về được.  Sau khi hỏi thăm biết rằng đường đi bộ mất khoảng chừng hơn một tiếng đồng hồ.  Tôi liều mạng đi sang trại B một mình! Khoảng cách từ hai trại qua đường đèo phải tính nhân lên gấp hai, gấp ba lần là do tôi không đủ sức mang hết đồ tiếp tế mà phải chia ra, cứ đi được một đoạn thì bỏ hai giỏ cói xuống, rồi trở lại vác bao đồ kia đi tiếp. Trên đường đi nghe chim kêu não nuột, nghe vượn hú rợn người! Cứ thế vừa đi vừa ngước mặt lên trời cầu xin tha thiết:”Xin Chúa gìn giữ mạng sống này không phải chỉ để cho con mà cho những người thân yêu đang cần đến con!” Khi tôi vào đến trại B thì trời đã tối đen! Đau đớn cho tôi! Chờ đến sáng hôm sau thì tên cán bộ lạnh lùng cho hay là anh Vinh không được thăm gặp ngay cả gửi quà vì đã bị kiên giam, kỷ luật! Và nhờ ơn trên gìn giữ anh đã sống sót sau khi bị kiên giam 3 năm!

Những lần thăm nuôi về sau do kinh tế gia đình đã khá hơn và thân nhân những tù nhân Xuân Phước đã cùng nhau tổ chức thuê bao một chiếc xe hàng nhỏ chở vào đến tận trại nên các cháu đã được thay phiên nhau đi thăm bố. Cháu gái sau khi sang Mỹ, nhớ lại kỷ niệm của những chuyến đi này đã viết thư cho cậu em tôi rằng: “Ngày đó chúng cháu đã được mẹ biến những chuyến đi thăm nuôi bố cháu thành những chuyến du lịch nhỏ mà đâu biết được rằng đó là kết quả của những ngày tháng cơ cực của mẹ và những khổ nhọc lao tù của bố!”

Cuối năm 1987 chồng tôi được thả về!  15 tháng 5 năm 1991 gia đình chúng tôi được đi định cư tại Mỹ! Sang đến đây tôi miệt mài đi học để được trở lại nghề dạy học. Anh Vinh hy sinh làm những việc lao động: rửa xe cho các dealers, cắt cỏ, bỏ báo. Cả nhà chỉ có cái xe Buick cũ kỹ to như con khủng long cho ba cha con thay phiên nhau để vừa đi học vừa đi làm mà khi cháu trai thứ nhì ngồi vào tay lái thì thực là cảnh “ô tô không người lái”. Tôi đi học tại San Jose State bằng xe bus. Ngày ngày vác ba lô chất đầy sách mà quyển nào quyển nấy dầy như cuốn tự điển của Nguyễn văn Khôn. Tôi luôn tự khuyến khích mình rằng: “ Còn diễm phúc hơn là vác bị cói đi thăm nuôi!”. Nhiều buổi tối đi về nhà trong chiếc xe bus lạnh lẽo, kỷ niệm của những chuyến thăm nuôi lại tràn về trong ký ức!

Thời gian trôi qua vun vút! Cháu lớn cùng tôi ra trường! Hai mẹ con cùng qua được các đợt phỏng vấn và có việc làm. Anh Vinh cũng nhận được việc làm ở hãng điện tử. Sau bảy năm cả gia đình gồm bảy người chen chúc trong một căn townhouse chỉ có hai phòng ngủ trên lầu. Mùa hè thì nóng như cái lò bánh mì.  Mùa đông thì chống cây phủ cái mền bên trên như cái igloo của người Eskimo để chui vào ngủ buổi tối cho đỡ lạnh. Chúng tôi đã có một căn nhà riêng.

Rồi các cháu lần lượt ra trường, có việc làm, lập gia đình và ra ở riêng. Căn tổ ấm trở nên trống vắng. Hai chúng tôi cũng lần lượt nghỉ hưu. Kiểm điểm lại bạn bè cũng đã từ từ ra đi vào miền miên viễn. Hơn bao giờ hết thời gian còn lại chúng tôi bên nhau, bên bạn bè, người thân đang được “counting down”. Ở tuổi này tôi ý thức được rằng còn được người tri kỷ bên cạnh mình đã là diễm phúc rồi, mà nếu vẫn còn có được những người bạn tri âm nữa thì đúng là một hồng ân.  Theo như tác giả của bài viết “Tình Bằng Hữu” thì khi về già ngoài việc có được một sức khỏe tốt, thì tình bạn lâu năm là một hành trang quý giá mà người lớn tuổi đã mang theo được cho tới giai đoạn cuối của cuộc đời.

Tôi viết bài này để tạ ơn cho những gì tôi đã có được trong cuộc đời. Trên hết là Thiên Chúa của tôi, rồi đến hai đấng sinh thành. Mẹ tôi, một người rất mực thương yêu con cái, một người rất đảm đang, tháo vát mà cuối đời phải chịu cảnh bệnh hoạn, tật nguyền. Bố tôi, người đã truyền cho tôi tinh thần lạc quan và đạo đức làm người để tôi biết sống vươn lên trong cảnh lầm than, cơ cực. Mẹ chồng tôi, một góa phụ chồng mất khi còn rất trẻ tuổi, đã hy sinh nuôi dưỡng chồng tôi rồi đến các con của tôi và cũng đã là một thành lũy che chở cho tôi khi phải xa cách chồng trong lúc cũng còn rất trẻ. Các em tôi đã sống đùm bọc lấy nhau trong cơn hoạn nạn, cùng chia sẻ miếng cơm, manh áo và cùng tôi săn sóc, yêu thương các cháu.Tôi cũng biết ơn những người hàng xóm tốt bụng: ông cụ Đặng sẵn sàng cho  bà nội các cháu gửi các cháu khi đi chợ hay có công việc gì cần thiết; bà cụ Sáu làm thày lang chữa bệnh cho các cháu lúc trái gió trở trời; cô Hùng khi hay tin anh Vinh bị sốt rét đã đi tìm cây ớt hiểm phơi khô đưa cho tôi để gửi đi làm thuốc chữa bệnh, bà cụ Tung sau khi hỏi giá các mặt hàng con cái từ Pháp gửi về đã đưa cho tôi đi bán trên giá thì giữ lấy, chỉ đưa tiền vốn lại cho bà. Tôi cũng tri ơn các bạn giáo viên Mỹ -Việt đã nâng đỡ, nhất là những người bạn quý Việt Nam đã tận tình giúp tôi trong những ngày đầu bỡ ngỡ khi mới bước vào nghề tại các nhà trường Mỹ. Sau nữa là người bạn đời đã cùng chia nhau những ngọt ngào, đắng cay của 45 năm chung sống mà hoa trái bây giờ là đàn con hiếu và lũ cháu ngoan. Với các con, “gia tài của mẹ để lại cho các con” là niềm cậy trông nơi Thiên Chúa, sống theo lương tâm đạo đức, tin tưởng vào chính mình và thủy chung trong đời sống hôn nhân. Các con của các con đang được gieo trồng trong mảnh đất tốt của tự do, của cơ hội, hãy cho chúng bám rễ thật sâu truyền thống dân tộc thì cây sẽ được vươn lên mạnh mẽ, tươi tốt.

Sau cùng bài này cũng để tặng chị Bé- Bông, người bạn mà duyên hạnh ngộ đã cho gặp nhau lúc xế chiều nhưng không muộn màng và cũng là nguồn cảm hứng cho thiên hồi ký này.

Lê Phương Lan

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Bài tự truyện của một cô dâu K1

Vương Hữu Nhị

Sáng nay dậy sớm, xem mail thì được bạn Trần Ngọc Thcạch cho biết số phone của Vương Hửu Nhị và Nguyễn thị Tố. mình gọi ngay và gặp được chị Tố. Qua giọng nói thì chị Tố còn khỏe nhưng bạn Vương Hữu Nhị thì giọng nói khò khè. Hai bạn hoàn toàn không biết gì về ngày Hội Ngộ 50 Học Viện. Mình rũ về Cali tháng Bảy nầy nhưng hai bạn nói mắc giữ cháu Nội không đi được. Tuy nhiện hai ông bà cũng vừa đi chơi New York 2 tuần mới về, và sắp tới con cái dẫn cha mẹ đi Cruie chơi nửa. Nghe vậy mình cũng vui. Mình nhắc lại tên các bạn cũ thì Nhị nhớ rõ lắm.   Nhị còn xem TV 2079 thấy hình Nguyễn văn Suốt được đài truyền hình phỏng vấn mới đây về nông nghiệp.Mình và Nhị ở tù chung với nhau từ đầu cho đến cuối và khi về ngoài xã hội vẫn thường lui tới gặp nhau và chia xẽ nhiều tâm sự.
Đây là địa chỉ và số phone của Vương Hữu Nhị, bạn nào rảnh thì gọi nói chuyện cho vui.
13825 Decatur St. Denver. CO 80219 cell:720-936-7218 ( Nhị) or 720-936 7219 ( Tố)
Cám ơn bạn Trần Ngọc Thạch

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Vương Hữu Nhị

Biên Bản Chuẩn bị cho ngày Hội Ngộ K1

Thưa các bạn,

Trong buổi họp để chuẩn bị cho buổi Hội Ngộ Kỷ Niệm 50 Năm K1 diễn ra ở nhà K1 Cẩm Y ngày 9/6/2016 vừa qua, một số công tác đã được phân công như sau:

Về Tiệc Hội Ngộ:

– Chị Thuỷ (Thiên Nga); Trưởng Ban ẩm thực với sự phụ tá của Chị Hướng, Chị Cao Trung Trực, Cẩm Y, Lý Mũi Liềm, và bạn Nguyễn Trọng Trí.

– Bạn Huỳnh Vĩnh Hưng: Mua đĩa giấy (loại lớn) + tô nhựa + ly+ muỗng + nĩa + đũa + Napkins [đề nghị mua dư (khoảng 200) cho khoảng 150 thực khách] +  Bia + Nước Ngọt + Nước lạnh +Nước đá

– Bạn Nguyễn Vô Lượng: Cung cấp khoảng 3 cooler lớn để ướp các loại nước uống lạnh.

– Bạn Phạm Văn Toán: Quay video để thực hiện DVD kỷ niệm

– Bạn Võ Thiệu: Chụp hình lưu niệm

– Bạn Nhữ Đình Toán: Thuê bàn ghế (15 bàn dài và 100 ghế xếp + sử dụng số bàn ghế có sẵn của nhà Cẩm Y) + Thuê vẽ banner + poster kỷ niệm

– Bạn Phạm Văn Cư + Cao Trung Trực + các bạn khác ở Quận Cam xin vui lòng đến sớm giúp BTC một tay (khoảng 2PM ngày 16/7/2016) để sắp xếp bàn ghế và trang trí nơi họp mặt. Nhớ thiết kế 1 bàn thờ nhỏ có hình cố VT Đàm Trung Mộc và 2 cố Trưởng Khoá Lê Văn Phi + Lê Văn Hướng + Bài vị các K1 đã quá vãng (nhờ bạn Vinh CNN design giùm).

– Chị Cẩm Y: Liên lạc ban nhạc, chuẩn bị âm thanh

– Bạn Bửu Hồng: Sắp xếp chương trình văn nghệ

– Bạn Đinh Văn Hạp + Phan Quang Nghiệp: giúp phụ trách làm MC cho chương trình thật vui nhộn

Về việc Đón các bạn khi đến Phi trường:

Đến nay, Ban đại diện K1 đã nhận được lời yêu cầu của các bạn sau nhờ đón ở phi trường:

– Lưu Diệu Nam: Thứ sáu 15/7: United Airline # 265 lúc 12:40PM phi trường LAX

– Phan Kỷ Niệm: Thứ sáu 15/7: SouthWest Airline # 320, 11:00AM LAX

– Lê Quang Phú (Gà Tre) + Nguyễn Văn Tăng: Thứ bảy 16/7 Spirit Airline # 217, 8:05 AM LAX

(3 chuyến bay này sẽ được bạn Nguyễn Vô Lượng phụ trách đi đón)

– Nguyễn Chính Minh: Thứ bảy 16/7 SouthWest Airline # 5040  10:45 AM, phi trường John Wayne

(Bạn Phạm Văn Minh ở Oceanside sẽ giúp đón bạn Ch.Minh đưa về Little Saigon Inn)

– Ngoài ra không kể còn một số bạn đã liên lạc trực tiếp nhờ bạn Huỳnh Vĩnh Hưng đi đón; và có một số bạn đã tự túc phương tiện khi đến.

Đó là tóm tắt một số công tác chuẩn bị, rất mong các bạn ở quanh vùng Little Saigon vui lòng giúp một tay với BTC để cho ngày Hội Ngộ của K1 chúng ta được thành công tốt đẹp. Cũng rất mong nhận được những ý kiến của các bạn, nếu xét thấy chương trình còn thiếu sót. Cám ơn các bạn.

Thân mến,

Nhữ Đình Toán

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Biên Bản Chuẩn bị cho ngày Hội Ngộ K1

Tặng lê Ngọc Thịnh và lê Thế Viên

Thân mến mời các bạn xem một slideshow ” Thành Phố Buồn” ghi lại hình ảnh của 2 bạn Lê Ngọc Thịnh và Lê Thế Viên ghé thăm Seattle vài năm trước đây. Đây là một trong những đề tài của DVD chào mừng 50 Khóa 1.

 

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Tặng lê Ngọc Thịnh và lê Thế Viên

Danh sách 97 K1 về dự Hội Ngộ 50 năm HV

Dach sách k1 về dự 50 năm HV-CSQG

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Danh sách 97 K1 về dự Hội Ngộ 50 năm HV

Thơ Tống Phước Kiên

(R) Mui Long_ TPK

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thơ Tống Phước Kiên

Thương Cha vất vả suốt đời _ Thơ TP

(R) Thuong ch vat va suot doi_ Tho TP

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thương Cha vất vả suốt đời _ Thơ TP

Cha Tôi_ Thơ Phương Trúc NHA

Cha toi_NHA

(Tặng  cho những ai còn cha trong ngày Father’s day)

Cha tôi Vất vã trăm phần
Nuôi tôi khôn lớn  không cần trả ơn
Cha tôi cực khổ chẳng sờn
dầm mưa dãi nắng, sớm trưa nhọc nhằn
Cha tôi cực khổ trăm phần
vì đàn con dại trở thành già nua
Nhớ khi nắng hạn mất mùa
Cha tôi bươi chãi kiếm tiền nuôi con
Cha tôi hình vóc gầy mòn
miễn là tôi được ăn ngon, mặc lành
Ngày xưa biếng nhác học hành
vì còn nhỏ dại cứ tranh đua đòi
có khi cãi lại lời cha
công cha chưa trả, làm cha phiền lòng
Cha tôi ghét bỏ cũng không
còn tìm tiếng ngọt, lời ngon dỗ về
Cha tôi ngày nay cửa Phật quay về
trần gian bỏ lại cha về Tây Phương
Nhớ cha tôi mãi vấn vương
ơn cha to lớn sánh dường non cao
Nhớ câu chin chữ cù lao (1)
mà lòng hổ thẹn, biết sao tẩy trừ
Tuổi tôi giờ quá bảy mươi
cha không còn nữa đền bù ơn cha
Suy tư rồi lại nghiệm ra
ơn cha cao cả, nghĩa cha ngàn trùng
suy ra nghĩ lại cho cùng
khác nào bể rộng, sánh cùng non cao.
Hỡi ai kia! còn mẹ, còn cha
Phải làm bổn phận mới là khôn ngoan
Hiếu nhi phải giữ vẹn toàn
Gọi phone mỗi bữa, ghé ngang thăm người
Làm cho cha cất tiếng cười
còn hơn báo đáp vàng mười mà chi,
Xử cho vẹn nghĩa tu mi
bên chồng, bên vợ việc thì trọn hai
Ngày kia cha mẹ đi rày
muốn đền báo đáp, tìm hoài chẳng ra
Bây giờ cha sống bên ta
món ngon vật lạ gọi là báo ơn

PHƯƠNG TRÚC

Chú thích: (1). Cù lao: Cù là siêng năng, nhọc nhằn. Lao là tận lực, hết sức. Chín chữ cù lao do chữ: Cửu tự cù lao. Tức là cha mẹ nuôi con có  chin điều khổ cực: 1) Sinh: đẻ.  2) Cúc: nâng đỡ. 3) Phủ: vuốt ve, che chở. 4) Xúc; cho bú. 5). Trưởng: nuôi cho lớn. 6). Dục: dạy   dỗ. 7) Cố: trông nom. 8). Phục: săn sóc. 9). Phúc: bảo vệ.

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Cha Tôi_ Thơ Phương Trúc NHA

Hai Bài Thơ của Lệ Khanh và Tống Phước Kiên

image001

635538054421900018-AP-SENATE-KERREY-47527989

Hỏi ông nghị sĩ Bob Kerry
Xưa đến Việt Nam mục đích gì ?
Vào xã Thanh Phong vùng việt cộng
Bắn vài chục mạng, chuyện ly kỳ.

Ông đã ăn năn cũng phải thôi
Giết người “cách mạng” tội to rồi
Tội ông xem kỹ không to lắm
Tội giúp “ngụy quân” mới quá trời.

Cộng sản giết dân chẳng tội chi
Mạng người dân Việt chỉ li ti
To bằng cái móng tay con nít
Hàng triệu chết oan thấm tháp gì.

Từ ngày lập đảng tới ngày nay
Lắm cảnh đau thương với đọa đày
Hàng vạn nông dân thành địa chủ
Đem ra đấu tố, giết phơi thây.

Rồi đến Mậu Thân tết mới về
Giao thừa vẹm đến thấy mà ghê
Sáu ngàn dân Huế đem đi giết
Chôn sống đó đây thật não nề.

Mùa hè đỏ lửa nhớ không anh ?
Quảng Trị người dân nếp sống lành
Bắc Việt xua quân qua Bến Hải
Giết dân chạy giặc xác tanh bành.

Học sinh Cai Lậy tuổi xuân thì
Hớn hở tới trường chẳng biết chi
Cộng sản pháo bừa vào lớp học
Hàng trăm em chết bỏ bài thi.

Ông Bob biết không ? sách có ghi :
Cộng quân ác đức chẳng ai bì
Xua bầy con trẻ đi cầm súng
Phụ nữ, ông già cũng phải đi.

Việt cộng lu loa Bob bắn dân
Tưởng mình sai quấy đến trăm lần
Cúi xin việt cộng lòng tha thứ
Sĩ nhục Hoa Kỳ, có biết không ?

Ông xin dạy học ở Sài Gòn
Cộng sản bắt ông phải nỉ non
Để chúng vênh vang : ta chính nghĩa
Đánh cho “Mỹ cút, ngụy không còn”.

Quân dân Nam Việt mới đau lòng
Xương máu hy sinh giữ nước non
Bảo vệ tự do cho tổ quốc
Nhưng ai bóp nát tấm lòng son ?

Thế sự rối ren lắm lụy phiền
Cuộc đời đen bạc nghĩ mà điên
Bạn bè trở mặt vì ham lợi
Nhân nghĩa chẳng qua một chữ TIỀN.

Tống Phước Kiên
Tháng sáu 2016

image001

Đường ngay chẳng bước lại theo tà,
Sớm tối chui lòn đám quỷ ma.
Chủ nghĩa ngoại lai tan nát cửa,
Giáo điều man rợ xác xơ nhà.
Bốn mươi năm lẻ con lường bố,
Bảy thập niên dư cháu gạt bà.
Cha mẹ vốn dòng tôn thất quý,
Oan khiên nên khiến đẻ mi ra ?!

            LỆ-KHANH

Bài hoạ:

Tôn Xuẩn Ngốc

     Mê muội nên không biết chánh, tà

     Thị Ninh con cháu cẩu Hồ ma

     Lưu manh, lươn lẹo ngu dân tộc

     Xảo quyệt, mưu mô chột nước nhà

     Dẫm nát luân thường tình chú, bác

     Phá tan đạo lý nghĩa ông, bà

     Nâng bi Tàu chệt tôn thờ giặc !

     Hỏi mụ khi nào trí mở ra ?

           THANH-HOÀNG

            ( Vào Hạ 2016 )

 

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Hai Bài Thơ của Lệ Khanh và Tống Phước Kiên

Biên Bản buổi họp của BTC 50 năm HV

image001

Vào lúc 10g30 sáng ngày Thứ Bảy, 11 tháng 6 năm 2016, Ban Tổ Chức (mở rộng) Đại Hội Kỷ Niệm 50 Năm Thành Lập Học Viện CSQG đã có buổi họp tại nhà Niên Trưởng Trần Quan An để thảo luận về các công tác chuẩn bị cho ngày Đại Hội với những nội dung như sau:

I/- Thành phần tham dự: ÔB. NT. Trần Quan An, ÔB. NT. Phan Trung Chánh, NT. Trần Quang Nam, NT. Ngô Bá Phước, Các đồng môn (Cựu SVSQ): Nguyễn Doãn Hưng (Trưởng BTC), Phan Tấn Ngưu (Phó BTC), Nguyễn Ngọc Tiến (Phó BTC), Nhữ Đình Toán (Thư Ký), Từ Tấn Bình (Thủ Quỹ), Chị Nguyễn Thanh Thủy + Cẩm Y (Ban Tiếp Tân), Chị Lệ Ngọc (Ban Văn Nghệ), Hà Văn Tiên + Phạm Văn Cư + Phan Thanh Thắng (Ban Nghi Lễ)

II/- Báo Cáo Tổng Kết: Mở đầu buổi họp, anh Nguyễn Doãn Hưng (Trưởng BTC) đã báo cáo tình hình tham dự Đại Hội tính đến nay như sau:

-Tổng số người đã ghi tên tham dự là 684 người, trong số đó còn 60 người chưa đóng tiền. BTC chỉ có thể gia hạn thêm 1 tuần lễ nữa cho những ai đã ghi tên mà chưa đóng tiền cho đến hết ngày 20/6/2016 là thời hạn chót (gia hạn lần 2). Sau ngày này, BTC sẽ không nhận thêm 1 người nào nữa, kể cả những người đã ghi tên mà không gởi tiền về BTC vì số người tham dự Đại Hội đã qúa đông, nếu kể cả các quan khách (Niên Trưởng + Thân Hữu) đã lên tới con số 750 người hoặc hơn.

– Về số tiền ủng hộ BTC do các NT, CH và Thân Hữu đóng góp (không kể tiền ghi danh tham dự Đại Hội) đến nay BTC đã thu được tổng cộng là $11,180

-Tổng số người ghi danh đi Bus Tour là 101 người (vừa đủ cho 2 xe buýt lớn) nên BTC không nhận ghi danh thêm cho Bus Tour. Nhờ anh Ngưu hợp đồng với công ty xe buýt (Xe Đò Hoàng?) thuê giùm 2 xe buýt lớn chuyên chở số người tham dự Bus Tour nói trên. Anh Toán đề nghị: Địa điểm tập trung ở bãi đậu xe phía sau sân vận động Garden Grove gần trường Bolsa Grande High School (có thể đậu xe ở đó chiều về lấy); tập trung ở đó lúc 8 giờ sáng, khởi hành lúc 8:30am. Ngoài ra, BTC cũng cần 1 hoặc 2 tình nguyện viên làm Trưởng Xa cho mỗi xe buýt (Anh Toán đã tình nguyện phụ trách 1 xe); người Trưởng Xa chỉ có nhiệm vụ kiểm soát, điểm đủ số người trên xe trước khi cho xe chạy)

III/- Những Công Tác cần làm ngay:

– Đã và Đang chuyển Thiệp Mời tới các NT, các cựu Giảng Sư và Quan Khách. Riêng đối với các cựu SVSQ, sẽ không gởi TM mà nhờ các Đại Diện Khóa thông báo đến các bạn như đã quyết định trong những buổi họp trước.

– Sẽ phân phối các Badge vào cửa cho các tham dự viên (nhờ các Đại Diện Khóa trao lại trong Ngày Tiền Đại Hội); riêng với các Khóa không có Đại Diện hoặc không tổ chức Ngày Tiền Đại Hội, BTC sẽ trao Badge tại bàn tiếp tân.

– Nhắc nhở việc đặt phòng khách sạn cho các bạn ở xa (anh Tiến và Đại Diện các Khóa)

– BTC sẽ thực hiện 2 banners (1 treo phía trước nhà hàng + 1 phía trước sân khấu bên trong nhà hàng). Ngoài ra, BTC cũng đã thực hiện xong 1 poster lớn có logo “50 năm HVCSQG” để làm nền cho các bạn chụp hình lưu niệm.

IV/- Quà Lưu Niệm: sẽ gồm có:

-Áo thun (loại thường) màu trắng có in logo “Kỷ Niệm 50 Năm HVCSQG” (Anh Hưng thông báo đã đặt làm gần xong)

-DVD ca nhạc của Thầy Trần An Bài gồm 10 ca khúc trong đó có bài “HVCSQG Hành Khúc”

– Đặc San ĐA NĂNG: Anh Toán báo cáo đã thực hiện xong phần layout và đã giao nhà in để in 1000 ấn bản xong trước ngày Đại Hội.

– DVD Đại Hội sẽ thực hiện sau khi Đại Hội bế mạc. Tuy nhiên vì cước phí gởi đi trên 700 DVD đến từng người sẽ rất tốn kém nên BTC quyết định sẽ chỉ upload DVD Đại Hội lên share drive để mọi người cùng xem và tự upload và save, nếu muốn. (Anh Hưng sẽ phụ trách công tác này).

V/- Linh Tinh:

– Về Lễ Tưởng Niệm và Đặt Vòng Hoa ở Tượng Đài Chiến Sĩ:

(1)  Anh Ngưu báo cáo đã xin được giấy phép, nhưng GP không được sử dụng âm thanh; tuy nhiên có thể sử dụng loại âm thanh cầm tay (portable) dùng battery, không sử dụng điện của Tượng Đài thì OK.

(2) Sĩ Quan Nghi Lễ, theo đề nghị của NT An, nên để các bạn cựu SVSQ tự điều khiển dưới sự cố vấn của NT Ngô Bá Phước. Do đó, mọi người đã đồng ý nhờ anh Thái Văn Hòa cùng Toán Hầu Kỳ của Bắc Cali đảm trách công tác này.

(3) Vòng Hoa Tưởng Niệm nhờ anh Ngưu thực hiện giùm; nếu có thể thực hiện được logo HVCSQG và màu cờ vàng ba sọc đỏ trên vòng hoa thì càng tốt.

(4) Đề nghị mọi người khi tham dự lễ tưởng niệm và đặt vòng hoa; xin có mặt tại Tượng Đài lúc 8:30 am ngày 17/7/2016 để chấn chỉnh đội hình trước khi hành lễ. Lễ tưởng niệm sẽ bắt đầu lúc 9:00am.

– Nam: Mặc Cảnh phục thường hoặc Đại Lễ, nếu có, đội mũ lưỡi trai (không đội mũ nồi). Nếu không có Cảnh phục, xin vui lòng mặc veston + ca vát.

– Nữ: Mặc Cảnh phục, nếu có; hoặc áo dài.

– Về Chương Trình Đại Hội: Tại nhà hàng Seafood Palace từ 5:00PM ngày 17/7/2016:

(1)  Nhắc nhở các bạn khi tham dự tiệc tại nhà hàng nếu có mặc Cảnh phục thì xin đừng đội mũ trong nhà hàng.

(2)  Không sử dụng Toán Quốc Cảnh Kỳ vì đã tổ chức ngoài Tượng Đài buổi sáng cùng ngày.

(3)  Nhờ anh Toán viết Script diễn tiến buổi lễ trong nhà hàng như đã làm với Hội CSQG Nam CA.

(4)  Về chỗ ngồi, để cho công bằng, sẽ chia chỗ ngồi trong nhà hàng thành nhiều section theo chiều dọc rồi bốc thăm phân chia cho các khóa.

(5)  Đặt mua cho mỗi bàn 1 chai rượu vang đỏ (red wine). Riêng bánh sinh nhật, nhà hàng hứa tặng BTC. Chị An sẽ liên lạc với nhà hàng để trang trí bánh theo ý BTC.

(6)  Sẽ liên lạc với nhà hàng đặt những phần ăn chay cho các tham dự viên có nhu cầu.

Little Saigon, ngày 11 tháng 6 năm 2016

TRƯỞNG BTC/ĐH/50 NĂM HVCSQG                    THƯ KÝ

               (Ký tên)                                         (Ký tên)

  NGUYỄN DOÃN HƯNG                      NHỮ ĐÌNH TOÁN

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Biên Bản buổi họp của BTC 50 năm HV

Hy Vọng Còn Gặp Lại_ Thơ Trần Pháp

Hy vong con gap nhau _ TP

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Hy Vọng Còn Gặp Lại_ Thơ Trần Pháp

Nghe biển, nhớ xưa_ Thơ Lan Lê

Nho bien

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Nghe biển, nhớ xưa_ Thơ Lan Lê

Theo Em Xuống Phố Trưa Nay_ Toàn Như

image001

TOÀN NHƯ (Tạp ghi)

“Theo em xuống phố trưa nay…” là lời mở đầu một bài hát nổi tiếng của Lê Uyên Phương mà nhiều người đã biết, nhưng hôm nay, với tôi thì đó là một mệnh lệnh của bà nội … tướng nhà. “Anh ơi, trưa nay đưa em xuống phố mua một ít nước mắm về để dành nghe anh.” Tôi cười nói: “Nước mắm ăn cả tháng mới hết một chai, lo gì phải mua dự trữ?”. “Ở đó mà cả tháng. Người ta đang rủ nhau mua rần rần kia kìa. Anh không thấy cá chết ở trong nước cả tháng nay sao? Không lo mua bây giờ, mai mốt không còn nước mắm sạch mà ăn đâu.” Nghe bả nói thế thì tôi hết dám có ý kiến. Thôi thì thi hành trước khiếu nại sau theo đúng kỷ luật quân đội mà tôi đã từng phải chấp hành mấy chục năm trước cho nó … lành.

Theo lệnh bả, tôi lái xe đưa bả đi các chợ ở Little Saigon. Trên đường đi, bả tiếp tục ‘lên lớp’ tôi về hiện tượng cá chết hàng loạt đang diễn ra ở trong nước mà bả nghĩ rằng tôi thờ ơ chẳng chú ý gì cả. Bả làm như chỉ có mình bả quan tâm đến thời cuộc. Nói vậy thật là oan cho tôi. Chuyện cá chết ở trong nước đang là chuyện to lớn đại sự, xôn xao ở trong và ngoài nước, ai mà chả biết. Ngày nào mà chẳng có tin tức về cá chết ở VN đầy rẫy trên báo. Từ đầu tháng Tư đến nay, hàng ngàn tấn cá chết đã xuất hiện dọc theo bờ biển Vũng Áng / Hà Tĩnh, nơi có nhà máy thép Formosa. Mà không chỉ ở Vũng Áng, cá chết đã lan tới bốn tỉnh miền Trung, chạy dài từ bờ biển Nghệ An/Hà Tĩnh xuống tới tận Thừa Thiên, Huế và Đà Nẵng. Đã hơn hai tháng rồi mà tình hình cá chết vẫn chưa thấy có dấu hiệu chấm dứt. Không những vậy, nó có vẻ như đang lan xuống phương Nam. Thậm chí, ngay ở Sài Gòn, trên kênh Nhiêu Lộc cũng đã có cá chết nổi lên trắng đầy kênh, một hiện tượng từ trước đến giờ chưa bao giờ xảy ra.

Trước một lượng cá chết phơi xác trắng trôi nổi đầy dọc theo bờ biển miền Trung, chẳng cần phải điều tra hay là một nhà khoa học người ta cũng biết nguyên nhân là do nước biển đã bị ô nhiễm trầm trọng. Lý do có thể là do trong nước biển đã có các chất cực độc nên cá mới chết nhiều như thế, chỉ có điều người ta chưa biết đó là những chất gì và từ đâu tới thôi. Tuy nhiên, nếu muốn biết nguyên nhân cũng không khó; chỉ cần lấy các mẫu nước biển ở những nơi có cá chết (ở trên mặt và sâu dưới đáy biển) và cả những con cá chết đem về phân chất, giảo nghiệm thì sẽ có ngay câu trả lời. Thế nhưng, cho đến nay, nhà nước VC vẫn chưa đưa ra một kết luận chính thức nào về nguyên nhân cá chết. Không những vậy, họ còn đổ thừa cho đó là một hiện tượng thiên nhiên thủy triều đỏ do tảo nở hoa. Nhưng các nhà khoa học đã bác bỏ lý do này cho là không xác đáng và thiếu thuyết phục. Dư luận chung đều cho rằng nguyên nhân chính bắt nguồn từ nhà máy thép Formosa đã thải ra các loại hóa chất độc hại xuống biển và không loại trừ còn có cả âm mưu thâm độc của Trung Cộng bí mật đổ các hóa chất độc xuống biển để hủy hoại môi trường của Việt Nam.

“Bức xúc” trước cảnh cá chết hàng loạt và biển bị ô nhiễm nghiêm trọng đang làm ảnh hưởng đến đời sống, không chỉ của ngư dân mà còn cả mọi người dân, nhiều cuộc biểu tình đòi hỏi “cá sạch, biển sạch, và một trường sạch” đã diễn ra ở khắp nơi trong và ngoài nước từ đầu tháng Năm đến nay. Ngay cả ở Little Saigon, để hỗ trợ cho đồng bào trong nước, nhiều cuộc biểu tình cũng đã diễn ra trên phố Bolsa với hàng trăm đồng hương tham dự.

Trước những tin tức như thế, làm sao mọi người không khỏi lo âu. Ai cũng sợ rồi đây nước mắm không làm từ cá chết thì cũng vẫn bị nhiễm độc vì phải sử dụng tới muối lấy từ nước biển ở Việt Nam không nhiều thì ít cũng đã bị ô nhiễm vì vụ cá chết này. Thế nên, bà con ở Little Saigon cứ thế mà kháo nhau đi mua dự trữ nước mắm kẻo những đợt nước mắm sau này không biết có còn bảo đảm hay không.

Trạm ngừng đầu tiên của tôi theo nàng xuống phố là Chợ SG. Vì là ngày thường trong tuần nên chợ không đông lắm. Tôi theo bả đi lại khu để nước mắm thì thấy ở khu này đã có lố nhố một số bà đang bàn tán. Không thấy có bày hàng IMG_4251.pngnước mắm nguyên thùng như trước đây, mà chỉ có một ít chai trên kệ. Hầu hết là nước mắm made in Vietnam, còn nước mắm made in Thailand hay HongKong thì không thấy hay rất ít, chẳng lẽ bà con đã mua hết rồi (?). Giá cả thì cũng đã tăng. Theo lời bà xã tui, trước đây nước mắm các loại chỉ trên dưới $3 / chai, nay giá đã thấy lên trên $4 USD; không kể các loại nước mắm nấu (hiệu con mực Thái Lan) chỉ trên $1/chai nhưng nay cũng thấy tăng chút ít. Thế cho nên bả nói, thôi đi qua Chợ HB cũng ở gần đó vì chợ này giá bán nới hơn và có cô bạn bả nói, mới mua được giá “on sale” dưới $3/chai nhưng ở đó người ta “limit” mỗi người chỉ được mua 2 chai thôi.

Nghe lời bả, tôi đưa bả tới Chợ HB để xem hư thực. Đi lại khu bày nước mắm ở một góc chợ thấy những thùng nước mắm đã vơi nhiều. Chỉ còn nước mắm Việt Hương 3 con cua giá niêm yết là $3.89/chai chứ không phải là dưới $3/chai như cô bạn bả đã nói. Giá đã lên nhưng vẫn “limit” mỗi người chỉ được mua 2 chai. Hỏi người bán hàng, muốn mua hơn 2 chai giá như thế nào thì được trả lời là phải trả thêm 50 cent cho mỗi chai.

Gặp mấy bà cũng đang đứng ngắm nghía những thùng nước mắm đang “tám” với nhau:

Nước mắm Việt Hương ở đây giá như vậy là còn… rẻ. Ở chợ X. kia, cũng nước mắm VH mà giá đã lên tới 6 đô rồi (?), nay nghe nói đã hạ xuống nhưng cũng còn trên 5 đô (?). Còn nước mắm Phú Quốc sư tử bay (cũng của công ty VH) trước đây giá chỉ trên dưới $3 tùy theo chợ, nay cũng đã lên từ trên $4 tới $5/chai.

Các bà còn kháo nhau. Ráng mua ít chai để dành, hay nếu có thể mua cả thùng thì càng tốt, nhưng phải là nước mắm Thái Lan hay Hong Kong, chứ nước mắm made in Vietnam trong tình hình như thế này thấy cũng ớn.

Một bà khác nói: Có chắc gì nước mắm Thái Lan và Hong Kong là của nó hay không. Người Thái hay người Tàu đâu có ăn nước mắm, nước mắm của họ chắc là nước mắm họ mua của Việt Nam rồi vô chai mang qua đây bán, chứ làm sao dân Thái và mấy anh Tàu biết làm nước mắm. Kể cả cái hiệu nước mắm gì đó nói là sản xuất ở Mỹ nhưng thực ra là nước mắm lấy nước cốt làm tại Việt Nam nhập qua đây rồi vô chai ở đây thôi, chứ đâu phải nước mắm làm tại Mỹ. Các bà không thấy nước mắm đó ghi trên chai là “Pakaged in USA” tức là đóng gói, vô chai ở Mỹ đó sao. Ở Mỹ, muốn lập một nhà máy sản xuất nước mắm đâu phải dễ, và từ trước đến giờ có nghe nói tới nhà máy này bao giờ đâu, và nếu có thì nó ở đâu.

Một chị bàn ra, tình trạng này kéo dài chắc phải chuyển qua ăn xì-dầu quá. Mà ăn xì-dầu cũng phải coi chừng, vì ăn xì dầu mà made in China thì chẳng khác gì “tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa”, cũng như không. Thiệt rầu quá. Bây giờ muốn ăn chay coi bộ cũng khó.

Nhưng nói gì thì nói, bà vợ tôi vẫn lựa hai chai nước mắm Việt Hương 3 con cua và bắt tôi cầm hai chai tương tự ra tính tiền vì chợ chỉ cho “limit” mỗi người 2 chai. Trong lúc xếp hàng chờ tính tiền, nhìn quanh tôi thấy hầu như trên các xe mua hàng của các bà đều có mấy chai nước mắm hoặc có xe còn có cả thùng. Thảo nào, nước mắm không lên gía và hết.

Trên đường về, khi đi ngang qua chợ TP, bả lại kêu tôi tấp vô để xem nước mắm ở đó có hết như phóng viên NL viết trên báo NV hay không, nhưng tôi gạt đi nói, còn hay hết thì cũng vậy thôi. Có thay đổi được gì đâu, xem làm chi cho mất thì giờ.

Sau khi hoàn thành công tác theo nàng xuống phố mua nước mắm, trở về nhà tôi nghe bả gọi điện thoại khoe với cô bạn và cô em. Bà nhắc họ hãy đi mua nước mắm, nếu chưa mua, và mách họ nơi còn bán nước mắm giá rẻ (tương đối so với nơi khác) mà bả vừa mua. Cứ tưởng nói vậy sẽ nhận được lời cám ơn từ những người này, nhưng không ngờ “bé cái lầm”, họ nói, họ đã phòng xa mua trữ từ mấy tuần trước rồi.

        – Trễ rồi chị ơi, chúng em đã mua từ… khuya rồi.
– Trời! vậy sao mấy người không nói cho tôi biết?
– Em tưởng chị cũng biết rồi nên không nói.

Cứ như vậy, cơn sốt cá chết coi bộ còn lâu mới hạ màn. Nỗi phẫn nộ của người dân trong nước trước hiểm họa môi trường sống đang bị đe dọa đang bùng phát. Đã có những cuộc biểu tình lên đến cả ngàn người diễn ra ở Sài Gòn, Hà Nội, và nhiều nơi ở trong nước. Lúc ban đầu VC còn làm ngơ để xoa dịu nỗi phẫn uất của người dân để cho họ xả đi bớt những bực dọc do cá chết; nhưng những lần sau, chúng đã đàn áp thẳng tay vì e sợ rằng những cuộc biểu tình này, nếu không ngăn chặn có thể biến thành một cuộc “Cách Mạng Cá” làm sụp đổ chế độ cộng sản của chúng như những cuộc Cách Mạng Hoa Lài, Cách Mạng Mùa Xuân Ả Rập,v.v… như đã từng xảy ra ở Thổ Nhĩ Kỳ, Ai Cập,…

Biết đâu nỗi lo sợ của VC lại trở thành sự thực nhỉ? Cũng mong lắm. Chúng ta hãy chờ xem!

TOÀN NHƯ

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Theo Em Xuống Phố Trưa Nay_ Toàn Như

image001

Cô giáo Lan Lê

Ngôn ngữ là linh hồn của một dân tộc. Noam Chomsky, một nhà ngữ học người Mỹ rất nổi tiếng đã nhận định rằng:” Language is not an abstract construction of dictionary makers, but is something arising out of the work, needs, ties, joys, affections, tastes of long generations of humanity.” (Ngôn ngữ không phải chỉ là một cấu trúc trừu tượng được viết trong tự điển, mà là những gì nảy sinh ra từ những sinh hoạt, những nhu cầu, những gắn bó, niềm vui, cảm xúc,sở thích trải qua nhiều thế hệ của con người). Quả thật, tự thuở hoang sơ tại vùng châu thổ sông Hồng, ngôn ngữ và chữ viết của giòng giống Lạc Việt đã được tổ tiên gìn giữ, lưu truyền để chuyển tải tình  yêu nước và quyết tâm giữ nước của dân tộc.

Về nguồn gốc văn hóa dân tộc, trong bài “Chữ Việt của Đức Thánh Trần Hưng Đạo” Luật sư Nguyễn Công Bình đã chứng minh rằng dân Lạc Việt đã có tiếng nói và chữ viết. Để tiếng nói và chữ viết ấy được trường tồn là cả một công lao khó nhọc mà nhiều phen đã phải trả giá bằng máu và nước mắt của tiền nhân. Tương truyền rằng từ 2000 năm trước công nguyên cho đến đời nhà Trần chỉ một chữ “Việt” thôi, một chữ nhưng là một biểu tượng cho nòi giống Việt kiêu hùng đã năm lần được tổ tiên ta viết lại trên các văn kiện để phản kháng âm mưu thâm độc của người Tàu khi sang đô hộ nước ta đã xóa đi, đục bỏ, và viết lại để nhục mạ dân tộc ta.  Chữ Việt thứ I được viết với hình tượng đàn chim Lạc mang cánh bay cao.  Chữ Việt thứ II được viết mang hình lưỡi cày.  Chữ Việt thứ III mang hình Tiên Rồng. Chữ Việt thứ IV mang hình trống đồng.  Và chữ Việt thứ V mang hình cày cấy.  Người Tàu từ khi áp đặt chế độ đô hộ tại nước ta vào năm thứ III trước công nguyên đã cố tình hạ nhục người Việt bằng cách viết chữ đó ghép thêm bộ “tẩu” hàm ý dân Việt khiếp nhược, hễ thấy quân Tàu là tháo chạy.  Đến đời nhà Trần, Đức Thánh Trần Hưng Đạo đã cho xóa bỏ quá khứ mất gốc đó bằng chữ Việt dạng mới.  Từng nét viết trong chữ Việt của Đức Trần Hưng Đạo đều có ý nghĩa.  Ngài muốn làm sống lại trong lòng dân Việt lịch sử oai hùng của nước Việt và đòi hỏi ta lòng thành kính biết ơn tổ tiên và các đấng anh hùng đã có công dựng nước và giữ nước.  Đức Lê Lợi cùng công thần Nguyễn Trãi cũng đã dùng chữ Việt thiêng liêng lịch sử này để viết trên các văn kiện đánh đuổi giặc Minh.  Sau đó năm 1479, vua Lê Thánh Tông đã trịnh trọng cho viết chữ Việt của Đức Thánh Trần Hưng Đạo đầy uy linh ngạo nghễ vào trang bìa sách Đại Việt Sử Ký Toàn Thư.

Ý thức gìn giữ, lưu truyền tiếng Việt còn được thể hiện qua cách sáng chế ra chữ Nôm.  Với chủ đích tránh cho con cháu không thể quên tiếng Việt, các cụ ngày xưa đã mượn xác chữ Tàu có âm gần với tiếng Việt rồi ghép thêm vào đó nét viết để chỉ ý nghĩa của chữ đó. Nhờ sáng kiến ấy mà tiếng Việt đã được ghi chép thành văn bản và nâng lên hàng thi ca.  Bài “Văn Tế Cá Sấu” của Hàn Thuyên đã được ghi nhận như bài thơ chữ Nôm đầu tiên.  Và ngôn ngữ Việt mượt mà, phong phú đã được thiên tài Nguyễn Du chuyển đạt bằng chữ Nôm qua tác phẩm “Đoạn Trường Tân Thanh” bất hủ.

Biến cố 30 tháng tư 1975 đã đẩy đưa hàng triệu người dân Việt định cư trên toàn thế giới.  Sau khi đã ổn định đời sống trên các quê hương mới, tình hoài hương trong lòng người Việt hải ngoại thúc đẩy nhu cầu phải duy trì tiếng Việt cho các thế hệ sau.  Với tinh thần chống cộng tích cực,  đồng bào hải ngoại rất dị ứng với những gì do chính quyền cộng sản chủ trương hay xử dụng.  Một lần tôi tình cờ nghe được mẩu đối thoại giữa hai bà đứng tuổi.  Một bà nói:”Tôi nói với vợ chồng thằng Tân là không được cho con nó học Việt ngữ tại một trung tâm nọ vì tôi nghe thằng nhỏ đánh vần theo kiểu “a, bờ, cờ” của tụi Việt cộng!”

Với những kinh nghiệm học và dạy qua ba môi trường giáo dục: được đào tạo và dạy trong nền giáo dục của Việt Nam Cộng Hòa, rồi 3 năm dạy trong nhà trường Xã Hội Chủ Nghĩa, nhất là 20 năm dạy tại các trường công lập tại Hoa Kỳ, tôi đã được biết rằng ngôn ngữ được thể hiện qua âm thanh và chữ viết. Victoria Fromkin và Robert Rodman trong sách “An Introduction to Language” đã viết rằng:”Knowing a language is knowing that certain sound sequences signify certain concepts or meaning.”(sự hiểu biết về một ngôn ngữ là hiểu biết về những chuỗi âm thanh biểu thị những khái niêm hay ý nghĩa nhất định.) Những âm thanh ấy được biểu thị bằng những nét vẽ như những chữ viết tượng hình của người Trung hoa, Ả rập v…v… hoặc được ký hiệu bằng những mẫu tự như chữ viết của hầu hết các nước Âu Tây.  Dân tộc ta được thừa hưởng công lao sáng tạo của cố Alexander Rhode (người Việt gọi là cha Đắc Lộ) mà có được thứ chữ quốc ngữ rất tiện lợi để chuyển tải ngôn ngữ và văn hóa. Theo cách dạy trẻ học ngôn ngữ tại nhà trường Mỹ thì phải dạy các cháu cả hai yếu tố căn bản là: ngữ âm (phonetics) và mẫu tự (alphabets). Ở đây tôi không đi sâu vào ngữ học mà chỉ nói qua phương pháp dạy đọc để các phụ huynh yên lòng khi thấy các thày cô tại Mỹ mà lại dạy các cháu học vỡ lòng tiếng Việt đánh vần theo kiểu “a, bờ, cờ”.

Trước 1975, chúng ta đã được dạy đánh vần theo mẫu tự.  Ví dụ: chữ “tiền” được đánh vần như sau: tê- i- en- nờ- tiên huyền tiền. Cách đánh vần như thế thực sự khó nhưng vì là tiếng mẹ đẻ, nghĩa là các cháu học sinh đến trường khi đã biết nói tiếng Việt rồi nên không cảm thấy khó khăn. Sau 1975, trong cách dạy học tại nhà trường XHCN  các mẫu tự được phiên âm thành a, bờ, cờ, dờ, đờ và rồi ghép vần theo các âm đó mà đọc thành chữ.

Khi dạy học tại các nhà trường Mỹ, chúng tôi được huấn luyện phải dạy song song ngữ âm và mẫu tự. Trong tiếng Anh các cháu sẽ được học alphabets A,B,C,D,E,F,G cùng với  phonetic alphabets – the correspondence between one sound to one letter – (sự liên hệ giữa một âm thanh và một chữ viết). Do vậy, khi  một bé được học để biết đọc và viết chữ “cat” thi sẽ được dạy là: hãy phát âm (sound out k/a/t/), hãy đánh vần (spell out xi-ây-ti) và hãy viết (write- cat-). Theo phương pháp này thì phải bắt đầu dạy trẻ ghép vần từ các phụ âm và nguyên âm đơn. Ví dụ: cat, dog, hut, sit … rồi mới đến các phụ âm và nguyên âm kép như: mate, dough, huge, sight …Với di sản chữ quốc ngữ các mẫu tự tiếng Việt chúng ta cũng có cách ghép vần tương tự như Anh ngữ. Dĩ nhiên là khó hơn một chút vì ngoài số nguyên âm nhiều và phức tạp hơn, các cháu còn phải học các dấu giọng khi học Việt ngữ.  Kinh nghiệm dạy Việt ngữ cho thấy các cháu gặp khó khăn nhiều nhất là phần bỏ dấu cho đúng khi viết cùng như khi đọc.

Diễn giải như thế để  các phụ huynh yên tâm khi thấy thày cô dạy Việt ngữ được huấn luyện tại Mỹ dạy các cháu theo phương pháp ngữ âm + mẫu tự.  Tuy nhiên, nhu cầu học tiếng Việt thì rất lớn mà các lớp Việt ngữ đa số do các thày cô dạy thiện nguyện phụ trách.  Vả lại, các lớp Việt ngữ chỉ được dạy vào cuối tuần.  Mỗi tuần chỉ dạy được tối đa từ 2 đến 3 giờ đồng hồ.  Do đó, nếu không được sự hướng dẫn, dạy kèm của phụ huynh thì e rằng kết quả không mấy khả quan.  Để gữi lấy văn hóa dân tộc cho con cháu thiết tưởng phụ huynh cần phải tìm hiểu thêm qua các tài liệu, sách vở, nhất là cần nói chuyện bằng tiếng Việt thường xuyên với các cháu. Tôi cũng muốn nhắc lại câu:”vô tri bất mộ” hay nói rõ ra là không biết tiếng Việt thi không thể yêu mến tiếng Việt được.

“Rằng trăm năm cùng từ đây. Của tin gửi một chút này làm ghi” Vâng, cần 100 năm nữa để xây dựng lại cơ đồ Việt Nam cũng đang bắt đầu từ đây.  Công cuộc chuyển tải lòng yêu nước của người Viêt hải ngoại cho các thế hệ sau phải được bắt đầu từ những bài học đánh vần, học cách đặt câu, đọc truyện, để tiến lên trình độ đọc được và hiểu biết văn thơ. Học giả Phạm Quỳnh đã đánh giá rất đúng tầm quan trọng của thơ ca Việt Nam mà biểu hiện tuyệt vời là truyện Kiều. Ông đã quả quyết:” Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn”. Di sản văn hóa mà cha ông chúng ta dã dày công gầy dựng, vừa qua đã được chính tổng thống Obama xử dụng trân trọng trong bài diễn văn hết sức thu phục nhân tâm. Vậy chúng ta, thế hệ người Việt thứ nhất,thứ hai đã có “ của tin gửi một chút này làm ghi” cho con cháu chúng ta hay chưa? Xin đừng để rồi ra “Bất tri tam bách dư niên hậu, thiên hạ hà nhân khấp ‘Việt Nam‘” vì chưng đến lúc đó  “Thế giới này đã không còn Việt Nam”!
Lê Lan San Jose

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở

K1 Nam CA Mừng Ngày Cảnh Lực_2016

Thưa các bạn K1
Hướng về ngày Hội Ngộ 50 năm K1 và Học Viện CSQG, mình muốn giúp các bạn lưu giữ lại những hình ảnh mà chúng ta cùng nhau sinh hoạt bấy lâu nay. Còn chỉ có 5 tuần nũa, thời gian không còn dài, nhưng mình sẽ cố gắng thực hiện một DVD Slideshows để làm kỷ niệm. Đời là vô thường, do đó không làm sợ không còn kịp. Vì vậy mình đầu tư lớn cho việc làm nầy  bằng một sofware được mệnh danh là “The King of the Slideshow Software” Đó là ProShow Proceducer. Mời các bạn xem một slideshow vừa  làm xong ” K1 Nam Cali mừng ngày cảnh lực”

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở K1 Nam CA Mừng Ngày Cảnh Lực_2016

Nguyễn Chính Minh và Truyện Kiều

Kieu Kim Trong

image001

 NGUYỄN CHÍNH MINH

Tôi không có ý định nghiên cứu, phê bình gì ở đây. Chỉ một điều là sau khi đọc xong một số bài về Truyện Kiều (1), tôi cũng muốn nói lên vài cảm nghĩ của mình, vài cảm nghĩ riêng tư và vụn vặt.

1. NGUỒN GỐC ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH

Các cụ học giả bảo rằng “ Kim Vân Kiều truyện” của Tầu là một tiểu thuyết tầm thường thô lỗ, nhờ  tài năng của Nguyễn Du mà Truyện Kiều trở nên một áng văn trác tuyệt. Đành là thế. Nhưng tôi vẫn ấm ức việc ấy, việc Nguyễn Du viết Đoạn Trường Tân Thanh dựa theo Kim Vân Kiều truyện của Tầu. Phải chi Cụ đừng phóng tác đừng vay mượn thì có phải trọn vẹn hơn không?

Có lẽ để giải tỏa nỗi ấm ức ấy, có người bảo rằng Việt Nam là một giống dân xuất phát từ Trung Hoa, đã từ Trung Hoa mà ra thì không còn gọi là vay mượn nữa (2).

Tôi không đồng ý Việt Nam là giống dân xuất phát từ Trung hoa. Vả lại, nếu Nguyễn Du là người Hoa thì vẫn cứ là vay mượn.

Tôi tin rằng dân Việt là một giống dân khác hẳn Tầu, bị Tầu đô hộ hàng ngàn năm dùng mọi thủ đoạn đồng hóa. Nhưng dân Việt vẫn là dân Việt, tiếng Việt vẫn là tiếng Việt.

Nhất nhị tam là dấu tích lệ thuộc Tầu.
Một hai ba là niềm tự hào của một dân tộc nhất quyết không bị đồng hóa.
Vay mượn Kim Vân Kiều truyện là dấu tích lệ thuộc Tầu.
Đoạn Trường Tân Thanh là niềm tự hào của văn chương Việt.
Vì thế, “ Truyện Kiều còn, tiếng ta còn. Tiếng ta còn, nước ta còn.”
2. CÓ TRỜI MÀ CŨNG TẠI TA

Công kích thuyết Thiên Mệnh thì không khó.
Hai giáo sư triết học Nguyễn văn Trung và Trần bích Lan dùng luận cứ Tự Do của con người để đánh đổ thuyết Thiên Mệnh. Rất hay.

Nhưng bảo rằng Kiều đẻ ra nỗi đoạn trường của nàng thì nghe …thế nào ấy (3). Và bảo rằng thông điệp của Nguyễn Du là “ thông điệp về cuộc sống của con người như một phiêu lưu tự do” thì e rằng đã đi quá xa.

Thiền sư Nhất Hạnh cũng đánh đổ Thiên Mệnh bằng Tự do của con người, nhưng nói thêm : Tự do khởi từ Chánh Niệm

Chánh Niệm là gì ?

“ Là khi đi thì phải biết mình đi, khi đứng thì phải biết mình đứng, khi uống nước thì phải biết mình uống nước…”(4).

Một đằng là phiêu lưu tự do, một đằng là khi đi thì phải biết mình đang đi. Đây quả là nơi đàm luận của những bậc thức giả, tôi không nên mon men lại gần.
Nhưng lại nghĩ, Truyện Kiều là của tất cả mọi người, không phải của riêng ai. Nên đánh bạo thưa rằng :Nguyễn Du không chỉ nói tới Thiên Mệnh mà còn nói tới nhiều thứ : trời, ta, tài, tai, thiện, tâm, nghiệp, mệnh. Trong nhiều thứ  pha trộn ấy, ẩn dấu một chân lý rất đơn sơ                        có trời mà cũng tại ta
3. KIỀU YÊU AI NHẤT ?

Anh bạn rất thích đề tài này đố tôi : trong ba người Kim Trọng, Thúc Sinh, Từ Hải, Kiều yêu ai nhất. Tôi nói làm sao mà biết được Kiều yêu ai nhất, nhưng chắc là Nguyễn Du cho Kiều yêu Từ Hải nhất nên có câu thơ hay như vầy :

   Cánh hồng bay bổng tuyệt vời
   Đã mòn con mắt phương trời đăm đăm

Anh bạn không đồng ý. Anh nói Kiều yêu Thúc Sinh nhất, câu thơ tả nỗi tương tư của hai người này hay và nổi tiếng hơn câu kia gấp mấy chục lần :

   Vầng trăng ai xẻ làm đôi
   Nửa in gối chiếc nửa soi dậm trường

Nghe có lý. Nhưng có người phản đối, bảo rằng Kiều không bao giờ yêu Thúc và Từ. Lý do là hai ông này không tương xứng, không trai tài gái sắc như Kim Trọng (5). Nghe vậy tôi lại muốn không đồng ý. Nhưng thôi, Thúc và Từ là chuyện đã qua, xin hãy nói về chuyện bây giờ, Kiều đoàn tụ với Kim Trọng :

Nhà văn Vũ Khắc Khoan nói rằng Nguyễn Du quan niệm hôn nhân hạ thấp tình yêu, vì thế Kim và Kiều như hai giáo sĩ lập nên một bàn thờ để tôn thờ mối tình của họ (6). Cái quan niệm này mới mẻ quá,tôi e rằng cụ Nguyễn Du không có ý như vậy đâu.
Thiền sư Nhất Hạnh thì nói rằng lần này Kiều quyết chí tu thật rồi, kéo theo Kim Trọng cùng tu nữa (7).
Tôi không tin. Nếu muốn tu thì phải cất một cái am sau vườn, một mình tụng kinh gõ mõ. Cứ như thế này thì tu nỗi gì :

   Khi chén rượu khi cuộc cờ
   Khi xem hoa nở khi chờ trăng lên

Kiều vẫn yêu Kim Trọng lắm. Như bao giờ. Như chưa hề yêu ai :

   Chữ trinh còn một chút này

Kiều cũng biết rằng Kim Trọng vẫn yêu Kiều lắm. Trong mắt Kim, Kiều còn đẹp hơn cả ngày xưa :

   Hoa tàn mà lại thêm tươi
  Trăng tàn mà lại hơn mười năm xưa

Vậy tại sao ? Cái gì ngăn trở ?
Có lẽ sự ngăn trở đó là mười lăm năm luân lạc của Kiều rất khác với mười lăm năm học hành, làm quan, sinh con đẻ cái của Kim Trọng. Kiều cần sự hiểu biết tri kỷ của Kim Trọng.

   Lọ là chăn gối mới ra sắt cầm

 Phải là chăn gối mới ra sắt cầm chứ. Tôi nghĩ rằng cả Kim và Kiều đều hiểu điều đó. Nhưng cần có thời gian. Khi tương tri đã thật là tương tri thì tình yêu Kim Kiều không còn gì ngăn trở, và ranh giới cầm sắt cầm cờ sẽ không còn nữa.
4. CÁI HAY CỦA TRUYỆN KIỀU

Nếu không biết tác giả, tôi đoán ngay câu này là của Vũ Hoàng Chương hay Đinh Hùng :

   Hương gây mùi nhớ trà khan giọng tình

Cái mới trong thơ Nguyễn Du thật đáng kinh ngạc. Cái mới, cái hay về văn chương này không phải là điều tôi muốn nói tới.
Năm 1979, ở trại tù cải tạo Nam Hà, anh bạn đưa tôi xem tấm postcard  người yêu gửi vào, trên đó chỉ ghi một dòng :

Mai sau dù có bao giờ

Câu thơ này tôi đã từng biết đâu có gì lạ đâu, lúc ấy sao bỗng nghe buồn quá. Cánh đồng mùa đông trơ trụi bỗng như trải dài vô tận. Phút giây ấy bỗng như  thiên thu.
Đây là lần đầu tiên tôi biết đến cái “ hay “ của Truyện Kiều. Tôi ngạc nhiên về sức mạnh ghê gớm của câu thơ.
Tôi cho là Truyện Kiều có linh hồn. Biết được cái hay của Truyện Kiều là khi mình rung động không chỉ vì vẻ đẹp bên ngoài mà là sự hoà nhập sâu thẳm của hai tâm hồn.
Một lần khác, ở Mỹ, được nghe anh bạn nhắc đến câu :

Tưởng bây giờ là bao giờ

Tôi thích câu này quá chừng. Trời ơi, sao mà hay thế. Tôi muốn viết một bài luận văn ca ngợi cái hay của câu thơ, bàn đến hết mọi vẻ đẹp của nó và nói lên lòng mình rung động thế nào. Nhưng  không thể nào viết nổi.
Có những cảm xúc lớn lao người ta không thể diễn tả được, ngôn ngữ trở nên quá thiếu thốn. Chẳng hạn như nói đến nỗi đau khổ, ngoài mấy chữ đoạn trường đứt ruột, không còn biết nói sao hơn.

Tưởng bây giờ là bao giờ cũng thế. Còn biết nói sao hơn.

Có một hình ảnh có thể so sánh : Ngày mới qua Mỹ, đứng trơ vơ trên đường Bolsa trước khu Phước Lộc Thọ. Bỗng gặp người bạn đồng khoá, đồng tù, cũng mới qua. Mừng ơi là mừng. Không chỉ là “ tha hương ngộ cố tri “ mà trong nỗi mừng vui có cái bóng của mười mấy năm qua.
Đời tôi có hai lần cảm xúc mãnh liệt với Truyện Kiều như thế. Tôi nghĩ, nếu mình không đi tù cải tạo thì chắc gì đã có dịp biết được cái hay của Truyện Kiều. Hơn hai trăm năm nay và nhiều trăm năm nữa, người ta rung động với Kiều mỗi người mỗi cách. Riêng tôi, rung cảm của tôi với Kiều không tách rời khỏi những ngậm ngùi của cuộc chiến vừa tàn.

NCM

 

CHÚ  THÍCH :

  1. : Gồm có :
  • Nhất Hạnh, Thả một bè lau, Truyện Kiều dưới cái nhìn Thiền quán, Lá Bối xb San Jose 2000.
  • Vũ Hoàng Chương, Góp phần hiểu biết

http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=14253&rb=08

  • Nguyễn văn Trung, Đặt lại vấn đề Truyện Kiều hay phê bình văn học.

http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=14253&rb=08

  • Nguyễn sỹ Tế, Triết lý đoạn trường.

http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=14257&rb=08

  • Trần bích Lan, Nguyễn Du trên những nẻo đường tự do.

http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=14257&rb=08

  • Doãn Quốc Sỹ, Tình quê hương của Thúy Kiều.

http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=14272&rb=08

  • Vũ Khắc Khoan, Nguyễn Du và tình yêu.

http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=14272&rb=08

  • Trần Thanh Hiệp, Để giải quyết mâu thuẫn trong ĐTTT

http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=14272&rb=08

  • Thanh Tâm Tuyền, Cửa vào ĐTTT

http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=14284&rb=08

  • Đàm Trung Pháp, Đọc lại Truyện Kiều để yêu thêm tiếng Việt.

http://thienmusic6.free.fr/TruyenKieu-ThoNhac-12-DamTrungPhap.pdf

  • Phạm thị Nhung, Tiếng đàn Thuý Kiều.

tp://thienmusic6.free.fr/TruyenKieu-ThoNhac-17-PhamThiNHung.pdf

  • Dương anh Sơn, Nguồn gốc ĐTTT

http://thienmusic6.free.fr/TruyenKieu-ThoNhac-13-DuongAnhSon.pdf

  • Nguyễn thị Hoàng, Tâm hồn, tư tưởng, nghệ thuật của Nguyễn Du qua Truyện Kiều

http://thienmusic6.free.fr/TruyenKieu-ThoNhac-19-NguyenThiHoang.pdf.

  • Tạ Quang Khôi : – Vay mượn trong văn học cổ Việt Nam.

-Có nên định lại giá trị ĐTTT không.

-Nhân vật Truyện Kiều.

-Minh oan cho Hoạn Thư

(2) : Tạ Quang Khôi, Vay mượn trong văn học cổ Việt Nam : “ Tổ tiên chúng ta phát xuất từ vùng Triết Giang bên Trung Hoa, là một trong nhóm Bách Việt ở Tây Nam Trung Hoa, như nước Việt trong thời chiến quốc( Câu Tiễn), Việt Đông ( Từ Hải). Từ Trung hoa mà ra, tất nhiên ta phải theo văn hóa Trung hoa. Như vậy không còn gọi là ảnh hưởng nữa.”

http://cothommagazine.com/index.php?option=com_content&task=view&id=508&Itemid=49

  1. : Nguyễn văn Trung, Đặt lại vấn đề Truyện Kiều hay phê bình văn học:” Kiều luôn luôn hành động như một tự do quyết định và lựa chọn, và nếu có định mệnh thì chính Kiều đã chọn định mệnh : Tự do của Kiều đã đẻ ra định mệnh, vì nếu nàng không tự ý bán mình chuộc cha, còn đâu là định mệnh.”
  2. : Nhất Hạnh, Thả một bè lau, trang 461.
  3. : Vũ Khắc Khoan, Nguyễn Du và tình yêu:” Thúc Sinh có thể say mê Kiều, nhưng đáp lại Thúc, Kiều chỉ cảm thấy cái ý nghĩa lứa đôi. Từ Hải có thể thành thật yêu Kiều, nhưng đối với Từ, Kiều chỉ có long kính phục…

“ Về mọi phương diện phải công nhận rằng hai bên Kim Kiều đã rất xứng đôi vừa lứa. Tài ngang nhau, sắc ngang nhau, gia thế xấp xỉ như nhau…”

  1. : Vũ Khắc Khoan, bài đã dẫn :” Và cả hai chợt hiểu : đối với họ, đối với mối tình của họ, giai đoạn thứ ba không thể là giai đoạn hôn nhân. Mối tình đầu đã thăng hoa đến chỗ tuyệt vời. Giai đoạn thứ ba chỉ có thể là giai đoạn mặc niệm.

“ Và một thái độ : thái độ của một đôi giáo sĩ cùng chung một niềm thông cảm trước bàn thờ, nơi yên vị tự mười lăm năm cũ, một mối tình đầu đã thăng hoa đến chỗ tuyệt vời.”

  1. : Nhất Hạnh, sách đã dẫn, trang 388 và tiếp theo :” Thứ tình đam mê mười lăm năm trước bây giờ đối với Thúy Kiều đã lạnh như tro tàn. Kiều đã học được tình thương trong đạo Bụt, thứ tình giải thoát từ bi.”

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Nguyễn Chính Minh và Truyện Kiều

Mùa hè đỏ lữa_ Thơ Trần Pháp

Presentation1

Mời các bạn xem bài thơ ” Mùa Hè Đỏ Lửa” Kể lại thảm cảnh gia đình người lính Địa Phương Quân ( ở quê tôi ), Anh bị lạc vợ, một mình dẫn hai đứa con. Cầu bị sập , Anh dắt đứa lớn vượt sông, đứa nhỏ ở lại trên bờ đợi cha trở lại. Nhưng Anh và con bị nước cuốn mất tích đến giờ nầy. Dứa bé ở trên bờ bị thất lạc, hơn 40 năm sau mới tìm về được với gia đình, nhờ một tấm ảnh trong túi áo.
Trần Pháp

Tôi kể ra đây một chuyện buồn
Chuyện buồn người lính địa phương quân
Anh là lính trận đang thua trận
Lạc vợ một mình hai đứa con

Thủa ấy mùa hè năm bảy hai
A-K đạn pháo trên đường dài
Xác người chồng chất đường loang máu
” Đại lộ kinh hoàng ” chẳng có sai

Trên đường tới Huế có cây cầu
Bị sập một vài chỉ ít lâu
Giặc pháo ngăn đường dân thoát nạn
Đồng bào lặn lội vượt sông sâu

Chàng lính địa phương hai đứa con
Theo cha, anh cả vượt qua sông
Đứa em, ngồi lại bờ chờ đợi
Từ sáng tới chiều cha biệt tăm

Binh sĩ cộng hoà lúc tháo lui
Gặp em đói khát sắp tàn hơi
Dắc dùi bé gái theo chân họ
Tới chỗ an toàn mới nghỉ ngơi

Tạm gởi nhà dân sống lất lây
Nỗi trôi tới chốn sương mù bay
Dần dà em trưởng thành khôn lớn
Vẫn có chồng con, cháu đủ đầy

Mới bốn tuổi đầu, em thật khôn
Giử gìn tấm ảnh ” mẹ bồng con”
Bảo rằng: hồi đó cha bồng chạy
Thiên hạ cho rằng trận bảy hai

Càng lớn em càng có quyết tâm:
Đi tìm cho được những người thân
Lần về Quảng Trị tìm chưa được
Trở lại cao nguyên ôm nỗi buồn

Năm thứ bốn mươi em lại về
Tấm hình nhờ báo chí ” lăng xê ”
Dân tình lam lũ ai xem báo ?
Chưa được tin vui dạ não nề

Buồn rầu trở lại chốn Pleiku
Vui sướng làm sao khi được thư
Thư bảo: tấm hình đây chính mẹ
Ra đi tức tốc chẳng chần chừ

Về quê gặp lại hai người em
Mẹ đã mất rồi vào một đêm
Nhớ chị, cha, anh còn biệt dạng
Chẳng chờ, chẳng đợi tới đoàn viên

Chuyện nầy tôi kể chính quê tôi
Hai đứa cùng nhau đã một thời
Tuổi trẻ thả dều khi gió lớn
Vô vàn kỷ niệm chẳng hề vơi

Trần Pháp

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Mùa hè đỏ lữa_ Thơ Trần Pháp