Sau gần 50 năm mới gặp lại

 Sau  gần 50 năm kể từ ngày xa trường Mẹ thì đây là lần đầu tiên bạn ta mới được gặp lại anh em đồng môn, đồng khóa. Từ những ngày đầu còn bỡ ngỡ, còn e dè; bạn ta đã nhận ra được tình K1 là một niềm Hạnh Phúc không thể chối từ. Do đó, sau khi thăm gặp anh em K1 Bắc Cali, hôm nay bạn ta đã có thêm một cuộc hội ngộ đầy chân tình trong vòng tay của các Niên trưởng, bạn bè đồng khóa, đồng trường. DSC_4184Người bạn ta đó chính là bạn K1 Trần Ngọc Bửu, vì một hoàn cảnh đặc biệt nên bạn còn ở lại quê nhà. Chúng tôi rất vui khi thấy bạn còn trẻ khỏe. Mong rằng năm tới trong lần Đai Hội Ngộ 50 Năm Học Viện CSQG sẽ được gặp lại bạn, nhất là những người bạn ở xa như chúng tôi. Mến chúc bạn nhiều sức khỏe. Cho chúng tôi gởi lời thăm gia đình bạn và những người bạn của chúng ta còn ở lại Việt Nam.
NCV
Một số hình ảnh của cuộc hội ngộ tai Nam Cali do bạn Vỏ Thiệu ghi lại.

Trình chiếu này yêu cầu JavaScript.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Sau gần 50 năm mới gặp lại

HỌP MẶT KỶ NIỆM 25 NĂM H.O.

image001

Mời các bạn phe ta nguyên là các H.O. xem Thông Cáo của BTC v/v Kỷ niệm 25 Năm H.O. để nếu có thể thì ghi tên tham dự. Hạn chót là ngày 30/10/2015. Lưu ý: Trong BTC có K1 Nguyễn Thanh Thủy (Thủy Thiên Nga) làm Thủ Quỹ.

Thiep mời 25 nămjpg-1

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở HỌP MẶT KỶ NIỆM 25 NĂM H.O.

Tin về Đại Hội Kỷ Niệm 50 Năm HVCSQG

NỘI DUNG BUỔI HỌP SƠ KHỞI
CỦA BAN TỔ CHỨC ĐH 50 NĂM HỌC VIỆN CSQG (1966-2016)

Vào lúc 11 giờ sáng ngày chủ nhật 20/9/2015, ban tổ chức sơ khởi của Đại Hội Kỷ Niệm 50 Năm Thành Lập Học Viện CSQG (1966-2016) gồm các anh Nguyễn Doãn Hưng (K6/Trưởng Ban tổ chức), Phan Tấn Ngưu (K1/Phó BTC), Nguyễn Ngọc Tiến (K3/Phó BTC) và Nhữ Đình Toán (K1/Thư Ký) đã có buổi họp đầu tiên tại tư gia của K1 Phan Tấn Ngưu.
Buổi họp đã kéo dài trong 2 giờ để bàn về việc tổ chức đại hội với một số chi tiết sơ khởi như sau:
– Ngày tổ chức Đại Hội sẽ là Ngày Chủ nhật 17 tháng 7 năm 2016 như đã định trong buổi họp ngày 13/9/2015); ngoài ra sẽ có 01 ngày Tiền Đại Hội (16/7) dành cho các Khóa họp riêng và 01 ngày dành cho tour Du lịch (18/7) sẽ nghiên cứu sau.
I/- BAN CỐ VẤN: BTC sẽ mời một số Niên trưởng và cựu Giảng sư HVCSQG sau đây tham gia Ban Cố Vấn:
– Cựu VT Trần Minh Công
– Cựu PVT Lê Sơn Thanh
– GS/TS Nguyễn Văn Canh
– GS/TS Trần An Bài
– NT Trần Quan An
– NT Trần Quang Nam
– NT Nguyễn Kim Phùng
– NT Nguyễn Hữu Trương
– NT Phan Trung Chánh
– NT Trần Ngọc Uyên
– NT Nguyễn Ngọc Võ
– NT Ngô Bá Phước
II/- BAN TỔ CHỨC:
– Trưởng Ban: Nguyễn Doãn Hưng, K6
– Phó TB: Phan Tấn Ngưu, K1
– Phó TB: Nguyễn Ngọc Tiến, K3
– Thư Ký: Nhữ Đình Toán, K1
Ngoài các TB, PTB và Thư Ký nói trên, mọi người đã đồng ý cần có thêm những Ban chuyên môn như sau:
– Ban Phối Trí và Chương Trình (cho 3 ngày Đại Hội): sẽ đề cử sau
– Ban Vận Động Tài Chánh: Phan Tấn Ngưu (K1), Lê Phát Minh (K1), Nguyễn Ngọc Tiến (K3), Nguyễn Doãn Hưng (K6),…
– Thủ Quỹ: Từ Tấn Bình (K9), thủ quỹ của Hội CSQG Nam CA kiêm nhiệm
– Ban Đưa Đón: Các Khóa HV đảm trách đưa đón các cựu SV/Khóa của mình, riêng với các NT và GS cũng như các Khóa không có ban đại diện, BTC sẽ cử người đưa đón.
– Phụ trách Khách Sạn: Nguyễn Văn Khôi
– Đặc trách Truyền Thông/Báo Chí: Phan Tấn Ngưu
– Phụ trách phổ biến hình ảnh: Võ Thiệu
– Phụ trách Đặc San ĐA NĂNG (kỷ niệm 50 Năm HV): Nhữ Đình Toán
– Ban Nghi Lễ: Nguyễn Hữu Thời: (K1), Hà Văn Tiên (K2), Đỗ Quang Sơn, + …. (sẽ bổ sung thêm 2 hoặc 3…) và cố gắng thành lập một toán hầu kỳ riêng cho ĐH.
– Phụ trách Web master: sẽ lập một trang web riêng cho 50 Năm HVCSQG, tạm thời đã có các trang web của các Khóa để phổ biến tin tức:
K1: https://khoa1hocviencsqg.com/ (Ng.Công Vinh+Nhữ Đ. Toán), K2: khoa2canhsatquocgia.com/ (Nguyễn V. Lợi),
K3: http://www.khoa3hocviencsqg.com/ (Ng. Ngọc Tuấn),
K6: http://www.k6hvcsqg.com/ (Ng. Hải Sơn),…
– Thiết Kế & Trang Trí nơi tổ chức (nhà hàng): Phan Tấn Ngưu
– Khánh Tiết & Tiếp tân: Chị Cẩm Y (K1), Nguyễn V Lợi (K2), Huỳnh Thiện (K3),…
– Ban Văn Nghệ: Trần Quang Kỳ (K8), Lệ Ngọc (dâu K3) ; sẽ mướn 01 Full Band (ban nhạc đầy đủ)
– Đại Diện các Khóa tham gia BTC: BTC sẽ mời gọi Đại Diện các Khóa tham gia BTC và hy vọng trong những phiên họp sau sẽ có sự hiện diện của các Đại Diện này.
– Đại Diện ngoài Hoa Kỳ (Canada, Âu châu, Úc đại lợi): Anh Phan Tấn Ngưu sẽ liên lạc, thông báo và mời tham dự.
III/- LINH TINH:
– Sẽ thông báo các nơi ghi tên tham dự, hạn chót là ngày 15/6/2016.
– Lệ phí tham dự Dạ Tiệc Hội Ngộ là $50 USD/người; sẽ in vé tham dự gởi đến các tham dự viên.
– Kêu gọi các mạnh thường quân ủng hộ để Ngày Đại Hội 50 Năm HV được tổ chức chu đáo và ý nghĩa; tránh việc thu tiền bổ túc trong ngày Đại Hội.
– Chi tiết về Đặc San và Qùa Lưu Niệm đại hội sẽ thảo luận sau.
– Thủ Quỹ và Trưởng BTC sẽ thực hiện một spreadsheet được cập nhật thường xuyên mọi khoản chi thu liên hệ.

Little Saigon, ngày 20 tháng 9 năm 2015

(K1 NĐ. Toán tường trình)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Tin về Đại Hội Kỷ Niệm 50 Năm HVCSQG

HỘI NGỘ TẠI LITTLE SAIGON

HỘI NGỘ TẠI LITTLE SAIGON

Little Saigon tại Nam California luôn luôn là địa điểm cho nhiều bạn K1 dừng chân hội ngộ với bạn bè cùng Khóa và không cùng khóa. Cuối tuần vừa qua (20/9/2015), các bạn K1 và thân hữu ở Little Saigon (Nam CA) đã có dịp đón tiếp 2 bạn K1 từ phương xa đến. Đó là bạn nữ K1 Huỳnh Thị Nhẫn đến từ Canada và bạn K1 Lê Phát Minh đến từ Houston (TX). Dưới đây là những hình ảnh do phó nhòm K1 Võ Thiệu chộp được trong buổi sáng 20/9 tại “Quán cà-phê-vườn” của NT (K14 Rạch Dừa) Nguyễn Hoàng Nam.

Trình chiếu này yêu cầu JavaScript.

 

Còn đây là Youtube  buổi tiệc hội ngộ do K1 Toán Phạm quay phim:

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở HỘI NGỘ TẠI LITTLE SAIGON

Một Cái Nhìn Khác Về Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu

Một Cái Nhìn Khác
Về Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu
* Lewis Sorley
(Toàn Như chuyển ngữ)

Đọc những báo chí Mỹ trong thời kỳ Chiến Tranh Việt Nam, người ta có thể nghĩ rằng vị cựu tổng thống Việt Nam Cộng Hòa từ 1965 đến 1973 (1) là một kẻ bất tài, làm theo sự sai khiến của Hoa Kỳ. Nguyên nhân là vì cái tinh thần phản chiến mạnh mẽ trong thời gian đó và cái khuynh hướng nghi ngờ việc chọn lựa các vị tổng thống đang phải đương đầu với một cuộc chiến bất bình thường. Cho nên, ông Thiệu không là gì khác hơn là một gã bù nhìn.

Trong những giai đoạn đẫm máu nhất của cuộc chiến, ông (Thiệu) đã chủ trì những diễn biến chính trị phức tạp và sôi nổi và mỗi chuyển động của ông đều được ghi lại trên trang nhất của báo chí Hoa Kỳ mô tả chiến tranh trong đầy rẫy khổ ải. Mặc dù vậy, trong khi chiến đấu chống lại một sự xâm lấn từ bên ngoài và một sự nổi dậy từ bên trong đang được ủng hộ và yểm trợ bởi Trung Quốc và Liên Sô, ông đã thực hiện được các chính quyền dân cử từ cấp quốc gia cho tới các xã ấp. Ông đã mở rộng và – với sự yểm trợ cố vấn và trang bị của Hoa Kỳ – chấn chỉnh quân lực để đảm nhận cái gánh nặng từ việc rút lui của quân lực Hoa Kỳ. Ông Thiệu đã đích thân chỉ huy một chương trình bình định để phá vỡ sự xâm nhập (của VC) đang diễn ra tại nông thôn qua cưỡng ép và khủng bố, bằng cách ban hành một chương trình cải cách ruộng đất cấp cho 400.000 nông dân chủ quyền khoảng 2,5 triệu mẫu ruộng. Ngoài ra, ông còn tổ chức cho 4 triệu dân vào Lực Lượng Nhân Dân Tự Vệ, một lực lượng bán quân sự với 600.000 vũ khí.

Ông Thiệu sinh ra ở Ninh Thuận và đi học tại những trường Thiên Chúa Giáo tại Huế. Ngay sau Thế Chiến II, ông đã có thời gian ngắn theo Việt Minh, nhưng đã sớm từ bỏ vì những khuynh hướng thiên về cộng sản của nó. Ông Thiệu sau đó theo học trường Võ Bị Quốc Gia ở Huế rồi chiến đấu cho Pháp chống lại Việt Minh. Sau khi người Pháp ra đi và Việt Nam bị chia đôi, ông Thiệu đã tiến rất nhanh trong Quân Lực VNCH và trở thành một sĩ quan cấp tướng năm 1962 (2). Năm 1963, ông là một trong những người lãnh đạo cuộc đảo chánh lật đổ Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Năm 1967, ông Thiệu được bầu làm tổng thống theo một bản hiến pháp mới.

Đại Sứ Ellsworth Bunker biết rất rõ về ông Thiệu. Bunker nhận xét, “Ông ta giải quyết vấn đề một cách khôn khéo và thông minh. Ông ta là một cá nhân có khả năng hiểu biết rất sâu sắc. Ông ta quyết định ngay từ đầu tuân thủ theo hiến pháp, chứ không cai trị theo kiểu các ông tướng mà nhiều người trong số đó mong muốn ông thực hiện.”

Ông Thiệu bị áp lực phải thay thế những kẻ tham nhũng và kém khả năng đang ở trong những vị trí cao, và chỉ giữ lại một số trung thành, nếu không thể loại trừ tất cả. Thời gian đầu trong nhiệm kỳ tổng thống, ông đã giải thích lý do với một sĩ quan cao cấp Hoa Kỳ rằng: “Việc thanh lọc toàn bộ số sĩ quan Miền Nam không thể nào đơn giản, bất cứ sự thay đổi chỉ huy chính yếu nào cũng phải được nghiên cứu phối hợp một cách cẩn thận. Quân đội không thể để cho chính trị loại bỏ trong một đêm. Quân đội đã và đang là người hỗ trợ về chính trị chủ yếu và là lực lượng duy nhất nối kết quốc gia.”

Bunker và vị tư lệnh Hoa Kỳ (ở Việt Nam), Tướng Creighton Abrams, hiểu rõ chuyện này và cả hai đều kiên nhẫn và thông cảm, nhưng họ cũng đưa ra những đề nghị nhắm vào một số sĩ quan cao cấp không thích hợp. Vì vậy thỉnh thoảng đã có những sự thay đổi trong việc chỉ huy ở miền Nam Việt Nam. Nhưng chưa bao giờ có thể có một sự trong sạch hóa toàn diện. Không chỉ vì e sợ những xáo trộn về chính trị, mà còn vì một số những sự thay đổi thiết yếu vẫn chưa sẵn sàng.

So sánh với sự lãnh đạo của Hoa Kỳ trong cùng thời gian người ta có thể có những kết qủa thú vị. Chẳng hạn như ông Nguyễn Văn Thiệu khi tranh luận có thể được coi là một người lương thiện và đứng đắn hơn cả Lyndon Johnson và – tuy khác biệt trong một một số trường hợp – hoàn toàn như là một vị tổng thống có ảnh hưởng hơn của quốc gia ông. Vào lúc đó, người ta cũng cho rằng ông Thiệu có nhiều tự do quyết định cho xứ sở ông hơn cả LBJ (3) đối với nước Mỹ.

Những viên chức hàng đầu của Mỹ đều nhìn nhận tầm quan trọng của ông Thiệu, đặc biệt trong việc bình định. Abrams nhận xét, “Ông ấy biết về bình định hơn bất kỳ người Việt Nam nào.” William Colby (4) cũng nói, “Thiệu là viên chức bình định số một.”

Tại Vũng Tàu, 1400 trưởng ấp, đại diện cho khoảng ba phần tư các trưởng ấp ở Miền Nam Việt Nam, đã tham dự một khóa huấn luyện trong năm 1969. Ông Thiệu đã đến thăm từng người trong các lớp học này, khuyến khích các trưởng ấp trở về nhà hãy nói lại rằng “Tổng thống Thiệu đã nói với tôi rằng …”

Cuối năm 1969, tình hình đã tiến triển khả quan đến nỗi John Paul Vann (5), người đã đóng một vai trò rất quan trọng trong công tác bình định (ở VN), đã nói với cử tọa ở Princeton rằng, “Hoa Kỳ đã thắng cuộc chiến tranh quân sự và đang thắng một cuộc chiến tranh chính trị thông qua ông Thiệu.”

Mặc dù Cộng Sản không ngừng tiên đoán về một “cuộc tổng nổi dậy” ở Miền Nam Việt Nam, nhưng trên thực tế đã không hề có một cuộc tổng nổi dậy nào như thế. Đối với bất kỳ một nhà quan sát cụ thể nào, dường như chẳng ai ngạc nhiên về những thành tích của cộng sản qua những vụ ám sát, bắt cóc, đánh bom khủng bố, cưỡng bách và pháo kích bừa bãi vào những khu dân cư ở Miền Nam Việt Nam. Đó là những hành động khó mà chinh phục được trái tim và khối óc của các nạn nhân.

Vào tháng 4 năm 1968, Tổng Thống Thiệu đã chống lại lời khuyên của tất cả các vị cố vấn để tổ chức Lực Lượng Nhân Dân Tự Vệ. Ông biện luận, “chính phủ phải dựa vào sự ủng hộ của dân chúng, và nó cũng chẳng có gía trị gì nếu chúng ta không dám trang bị vũ khí cho họ.”

Sau cùng khoảng 4 triệu người, những người qúa gìa hoặc qúa trẻ cho quân vụ chính quy, được ghi danh vào Lực Lượng Nhân Dân Tự Vệ. Qua sự thiết lập này, chính quyền Thiệu đã có sự ủng hộ của chính dân chúng, qua Lực Lượng Tự Vệ với những vũ khí mà nó có, không phải để chống lại chính quyền, mà là để chiến đấu chống lại sự thống trị của Cộng Sản. Tháng Mười năm 1971, trong một cuộc chiến đấu cam go, Tổng Thống Thiệu đã được tái cử trong một cuộc bầu cử độc diễn. Nhiều người chỉ trích ông về việc này, và đề nghị không công nhận cuộc thắng cử của ông. Nhưng trong cuộc bầu cử đó, mặc dù kẻ thù kêu gọi tẩy chay và cử tri là mục tiêu bị đe dọa, nhưng kết qủa 87.7 % cử tri đi bầu và 91.5 % bầu cho ông Thiệu đã là một sự ngạc nhiên. Đó là con số cử tri đi bầu lớn nhất trong lịch sử Việt Nam. Nếu nó chẳng ra gì (vì không có đối thủ), hay nếu công chúng không chấp thuận sự lãnh đạo của ông Thiệu, tại sao họ lại đi bầu đông như thế, với những rủi ro cá nhân có thể hay thực sự xảy ra, nếu không phải để biểu lộ sự ủng hộ việc tái cử của ông Thiệu? Câu trả lời rõ ràng là đại đa số đồng bào đánh gía cao các việc làm của ông Thiệu và mong mỏi ông tiếp tục ở lại nhiệm vụ.

Khoảng tháng Giêng năm 1972, John Paul Vann nói, “Thực tế không thể chối cãi là đại đa số dân chúng … khoảng 95 phần trăm – thích chính quyền Việt Nam Cộng Hòa hơn là một chính quyền Cộng Sản hay là chính quyền trao cho phía bên kia.”

Thật đáng buồn, ngày nay nhiều người miền Nam Việt Nam đang chỉ trích theo quan điểm riêng của họ về Tổng Thống Thiệu. Tôi đã nói chuyện về vấn đề này với nhiều người bạn Việt Nam đang sống ở Mỹ. Gần đây, một người đặc biệt, có học thức và thông thái, đã làm tôi ngạc nhiên khi nói rằng người Việt đã cho rằng Tổng Thống Thiệu đã lừa dối họ. Tôi đã hỏi lại ông ấy là lừa dối như thế nào. Người bạn đó đã trả lời: “Ông ấy biết người Mỹ sẽ bỏ chúng tôi, nhưng đã không nói cho chúng tôi biết.”

Tôi cho rằng đó là một quyết đoán qúa khe khắt và còn cần tranh luận. Đại Sứ Bunker còn nhớ đã trao riêng cho Tổng Thống Thiệu ba lá thư của Tổng Thống Nixon mà trong đó “ông đã cam kết” sẽ trợ giúp miền Nam Việt Nam “trong bất kỳ sự vi phạm hiệp ước bởi phía bên kia.” Nhưng, Bunker nhận xét, “Quốc Hội … đã làm cho nó bất khả thi.”

Kết quả ra sao? Bunker nói một cách rõ ràng rằng “Tôi nghĩ đó thực sự là một sự phản bội miền Nam Việt Nam.” Cũng thật khó cho Tổng Thống Thiệu có thể tiên đoán được cái hành động đáng hổ thẹn như vậy của Hoa Kỳ.

Vài ngày trước khi Sài Gòn thất thủ trong năm 1975, ông Thiệu đã phải sống cuộc đời lưu vong, mới đầu là ở Đài Loan, sau tới Anh quốc và cuối cùng là Hoa Kỳ. Ông đã từ trần trong năm 2001 (tại Boston, Massachesetts, USA). Ông Nguyễn Văn Thiệu đã đương đầu một cách anh hùng trong những năm dài chiến tranh đầy cam go, ông đã nhận được – dù ông có nhận hay không – sự ngưỡng mộ và lòng biết ơn của tất cả những ai mong muốn cho một miền Nam Việt Nam tốt đẹp.

TOÀN NHƯ chuyển ngữ
(dịch từ “South Vietnamese President Nguyen Van Thieu was far from the American patsy he is often portrayed to have been”, nguồn: Vietnammag.com)

Chú thích:

(1) Đúng ra ông Nguyễn Văn Thiệu (1923-2001) làm tổng thống từ năm 1967 cho đến ngày ông từ chức 21/4/1975 (chứ không phải đến năm 1973); còn từ năm 1965 đến 1967, ông là Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia (chức vụ tương đương Quốc trưởng).
(2) Năm 1962, ông Thiệu còn là đại tá, sau cuộc đảo chánh TT Diệm, ông mới được thăng cấp Thiếu Tướng 2 sao (khi đó QLVNCH chưa có cấp Chuẩn Tướng 1 sao).
(3) LBJ là chữ viết tắt tên Lyndon Baine Johnson (1908-1973), tổng thống thứ 36 của Hoa Kỳ.
(4) William Colby (1920-1996) là trưởng Chi Nhánh CIA tại Việt Nam (1959-1962), sau giữ chức giám đốc CIA tại Hoa Kỳ từ 1973 đến 1976.
(5) John Paul Vann (1924-1972), nguyên là một Trung Tá trong quân lực Hoa Kỳ sau đã giải ngũ, phục vụ 2 nhiệm kỳ tại Việt Nam trong vai trò cố vấn. Từ năm 1962 đến 1963, là cố vấn cho Đại Tá Huỳnh Văn Cao (sau là thiếu tướng), Tư lệnh Sư Đoàn 7. Trở lại VN năm 1965 làm việc cho cơ quan USAID, sau là cố vấn cho Vùng II Chiến Thuật và bị tử nạn máy bay năm 1972 tại Kontum.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Một Cái Nhìn Khác Về Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu

Bài Tình Ca Một Thuở_Lê Hữu Nghĩa và Con Gà Què

image001

Mời các bạn thưởng thức bài hát “Bài Tình Ca Một Thuở“, sáng tác mới, hợp soạn của Lê Hữu Nghĩa và Con Gà Què.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Bài Tình Ca Một Thuở_Lê Hữu Nghĩa và Con Gà Què

Cảm Nghĩ Của Ông Hoàng Đức Nhã

Cảm Nghĩ Của Ông Hoàng Đức Nhã,
Cựu Bí Thư Tổng Thống và
Cựu Tổng Trưởng Dân Vận và Chiêu Hồi, VNCH
(Tại Lễ Tưởng Niệm lần thứ 14 Cố Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu ngày 19/9/2015 tại Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ, thành phố Westminster, California)

Ngày 19 tháng 9 năm 2015
Kính thưa Phu Nhân Cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu,
Kính thưa Quý Vị Lãnh Đạo Tinh Thần các Tôn Giáo,
Kính thưa Quý Vị dân cử,
Kính thưa Quý Vị Đại Diện các Tổ Chức, Đoàn Thể,
Kính thưa Quý anh chị em Dân Quân Cán Chính VNCH, các quý vị truyền thông báo chí, và quý đồng hương.

Tôi xin cảm ơn quý vị bỏ thì giờ quí báu trong cuộc sống hằng ngày và không ngại cơn nắng Hè giao mùa và cơn nóng bức của thời tiết đến quãng trường Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ hôm nay để tưởng nhớ vị Tổng Thống cuối cùng của VNCH.
Đây cũng là một hân hạnh lớn cho tôi có mặt hôm nay với quý vị để tưởng niệm cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và chia sẻ với quý vị những hồi tưởng về vai trò và thành tựu của Tổng Thống trong sứ mạng Bảo Quốc, An Dân và Xây Dựng một chế độ dân chủ pháp trị cho miền Nam Việt Nam.
Bất cứ một hồi tưởng quá khứ nào cũng có thể có khuynh hướng tự bào chữa hay trình bày trở lại những thành kiến trước đây, hoặc nhắc lại những nhận thức và quan điểm được bàn tán từ lâu. Tuy nhiên, với sự lùi lại của lịch sử và những tài liệu được giải mật trong mấy năm gần đây độc giả và thính giả Việt Nam, Mỹ và ngoại quốc khác đã ý thức được sự phức tạp của cuộc đấu tranh của người Việt
quốc gia và đồng thời vai trò và trách nhiệm của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu.
Đã từ lâu vấn đề Việt Nam được đa số chính giới, truyền thông, học giả và chuyên gia Việt Nam, quốc tế, đặc biệt là của Hoa kỳ , bố cục và mổ xẻ trong bối cảnh quân sự và chánh trị. Nhưng, tệ hơn nữa, vấn đề Việt Nam được phổ thông hóa theo lăng kính người Mỹ, phản ảnh những thành kiến có tánh chất một chiều, cường điệu, và những tự bào chữa của họ tại sao người Việt quốc gia không bảo vệ được đất nước của họ.
Kính thưa quý vị,
Nói đến điều này hẳn quý vị cũng nhớ rằng cuộc sống của người dân Việt Nam hai miền bị chi phối bởi chiến tranh từ đầu thập niên 1930, dần dần bị lôi vào cơn lốc tranh giành ảnh hưởng của hai siêu cường quốc trên thế giới. Hiệp định Geneve 1954 phân chia đất nước ra hai miền với tánh chất hoàn toàn khác biệt: miền Bắc với chế độ Cộng Sản liên minh với phong trào Cộng sản quốc tế và miền Nam với chế độ phi Cộng Sản thể hiện tinh thần quốc gia dân tộc. Việt Nam Cộng Hòa ra đời trong bối cảnh tranh hùng giữa hai siêu cường quốc thế giới.
Người Việt quốc gia đã trải qua nhiều thăng trầm chánh trị với sự thành lập của nền Đệ Nhất Cộng Hòa do Tổng Thống Ngô Đình Diệm lãnh đạo, bắt đầu chống xâm lăng của Cộng Sản Bắc Việt vi phạm trắng trợn Hiệp định Geneve 1954, và sự sụp đổ của chế độ này vào cuối năm 1963.
Tiếp theo đó, giai đoạn giao thời từ tháng 11 năm 1963 đến tháng 10 năm 1967, với những tranh giành giữa các tướng lãnh và quân nhân lãnh đạo quốc gia trong lúc đó tạo thêm sự bất ổn chánh trị và xã hội trong lúc chiến tranh nới rộng với lực lượng quân đội của Hoa Kỳ và Cộng sản Bắc Việt ngày càng gia tăng tại miền Nam. Trong bối cảnh này người Việt quốc gia tại miền Nam vẫn tiếp tục cấu tạo một căn bản để duy trì tinh thần quốc gia, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và xây dựng một chế độ đa nguyên chánh trị với một nền dân chủ đại nghị thực thi quyền tự quyết dân tộc. Trong tinh thần đó Hiến Pháp 1967 khai trương một kỷ nguyên mới với sự thành lập của nền Đệ Nhị Cộng Hòa do Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu lãnh đạo
sau cuộc bầu cử tháng 10 năm 1967.
Như tôi nói trên đây, với sự lùi lại của lịch sử, với việc nhiều tài liệu liên quan đến cuộc đấu tranh của người Việt quốc gia và sự lãnh đạo của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã được giải mật, một khuynh hướng nhìn lại vấn đề Việt Nam và đặc biệt là thành quả của nện Đệ Nhị Cộng Hòa đã dần dần phát hiện trong các giới đại học, giới khảo cứu, giới truyền thông tại Hoa Kỳ và một số quốc gia khác.
Vào giữa tháng Sáu năm 2012 phân khoa Á Châu Vụ của đại học Cornell tại tiểu bang Nữu Ước, đầu não của phong trào chống chiến tranh Việt Nam trước đây, có tổ chức một hội thảo trong hai ngày. Mục đích của hội thảo này là để cho một số viên chức đã phục vụ trong chánh quyền và hoạt động trong giới đối lập chánh trị của nền Đệ Nhị Cộng Hòa, trong đó có chúng tôi và chín viên chức khác, trình bày những sự kiện xác thực trong những công trình mà chúng tôi đã đóng góp.
Kết qủa của hai ngày hội thảo là một cuốn sách nhan đề Hồi Tưởng Của Những Người Đóng Góp Xây Dựng Nền Đệ Nhị Cộng Hòa Của Miền Nam Việt Nam (1967-1975). Đại học Cornell đã phát hành cuốn sách này cách đây vài tháng. Trong Phần Giới Thiệu của cuốn sách này, Giáo Sư Keith Taylor, người chủ xưởng
và điều khiển cuộc hội thảo và cũng là chuyên gia về Việt Nam đứng hàng đầu tại Hoa Kỳ , viết rằng đã có rất ít nỗ lực đánh giá những thành tựu của Việt Nam Cộng Hòa trong tám năm cuối.
Hầu như tất cả các tác giả viết về những năm cuối của cuộc chiến đều lờ đi thành tích đạt được của nền Đệ nhị Cộng hòa dưới sự lãnh đạo của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, trong đó thành quả quan trọng nhất là chế độ miền Nam đạt được sự ổn định chánh trị và ngày càng đảm nhiệm vai trò lớn hơn trong cuộc chiến bảo vệ đất nước khi quân đội Mỹ rút lui dần dần và hoàn toàn vào năm 1973.
Giáo Sư Taylor viết thêm rằng “những thành tích đó làm cho người Mỹ xấu hổ vì một trong những lập luận chính của những người có lập trường chống chiến tranh Việt Nam là chánh phủ Saigon là một chế độ độc tài không thể thay đổi được, không xứng đáng nhận sự giúp đỡ của Mỹ, và dù thế nào đi nữa cũng phải thất bại.
Lập luận này giúp cho người Mỹ bớt dằn vặt về đạo đức vì Hoa Kỳ đã bỏ rơi một đồng minh trong cơn hoạn nạn. Nhưng thật ra lập luận đó phản ảnh nỗi thất vọng của người Mỹ nhiều hơn là thực tế những gì đang xảy ra do người Việt đảm nhận”.
Cộng vào đó Cộng Sản Việt Nam hiện nay rất tích cực thực thi chương trình viết lại lịch sử theo ý họ và cố xóa bỏ lý do người Việt quốc gia tại miền Nam chống lại họ vì muốn sống trong một chế độ dân chủ thật sự.
Kính thưa quý vị,
Qủa thật trong khi Việt Nam Cộng Hòa đang phải chiến đấu chống lại kẻ xâm lược từ miền Bắc để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và ngăn chận cảnh máu đổ thịt rơi, chánh quyền đã xúc tiến tích cực công cuộc xây dựng đất nước bằng cách kiến tạo một xã hội dân chủ với đầy đủ định chế như một lưỡng viện Quốc Hội, một Tối Cao Pháp Viện, kiến tạo một xã hội dựa trên pháp quyền, một nền kinh tế dựa trên thị trường, một xã hội tôn trọng quyền tư hữu – tất cả nhằm mục đích cải thiện đời sống của trên 20 triệu người miền Nam thời đó, hầu đưa phần lớn những người này ra khỏi tình trạng nghèo đói.
Chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa dưới sự lãnh đạo của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, trong khi phải đồng thời đương đầu với chiến tranh khốc liệt, với sự tàn phá các mục tiêu chiến lược dân sự, và đặc biệt là với nỗi lo âu về mức độ viện trợ của Hoa Kỳ , cũng đã đặt được nền móng cho một sách lược với ba hướng phát triển. Sách lược này dựa trên nỗ lực phát triển nông nghiệp với sự bải bỏ
chế độ tá canh và thi hành chương trình Người Cày Có Ruộng, nỗ lực khuếch trương các ngành kỹ nghệ thâu nhận nhiều nhân công và nỗ lực khai thác các tài nguyên thiên nhiên, nhất là sau khi dầu khí được khám phá ngoài khơi miền Nam vào đầu năm 1975 và chánh quyền chuẩn bị khai thác.
Kính thưa quý vị,
Những bài học về Việt Nam dưới thời Đệ nhị Cộng hòa đã vượt quá phạm vi của những chiến thắng hay thất bại quân sự, hơn cả tiến trình và mức độ thành công trong nỗ lực xây dựng một xã hội dân chủ và pháp trị, và ngay cả các quan điểm bắt nguồn từ những nhận thức đôi khi đầy luận cứ ác ý muốn chứng minh rằng Quân Lực miền Nam Việt Nam thiếu động lực chiến thắng, hay chính quyền
dân sự thiếu nghị lực để tự vệ và phát triển đất nước.
Những bài học cần phải được nhấn mạnh và ghi nhận ở đây là, nền Đệ nhị Cộng hòa đã cố gắng xây dựng một xã hội dân chủ, và đã nỗ lực phát triển một nền kinh tế năng động và lành mạnh trong khi phải đương đầu với một cuộc chiến chống xâm lược.
Hẳn quý vị cũng đã đọc, đã nghe, đã thấy qua những hình ảnh và phóng sự truyền thanh truyền hình điện ảnh rằng Đệ nhị Cộng hòa đối với người Mỹ vào lúc đó và sau này, cho đến tận hôm nay, là một chế độ độc tài đáng để cho sụp đổ.
Như Giáo Sư Keith Taylor kết luận trong bài viết của ông đó là một sự vu khống; một sự vu khống rất tiện lợi để biện hộ cho việc Mỹ bỏ rơi VNCH, nhưng bản chất nó là một sự vu khống.
Nỗ lực có thật của nhiều người Việt để kiến tạo một xã hội dân chủ trong thời chiến vẫn chưa xuyên phá được cái huyền thoại tiện lợi nhưng không có thật về một đồng minh bị bỏ rơi và bị miệt thị vào bậc nhất trong lịch sử Hoa Kỳ. Và đó chính là điều tôi muốn gửi đến quý vị hôm nay khi chúng ta tưởng nhớ Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và hàng triệu dân quân cán chính đã phục vụ với ông trong công cuộc bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và xây dựng nền dân chủ thật sự
tại miến Nam Việt Nam.
Đó là lòng dũng cảm và những thành tựu không được tuyên dương của mỗi người trong chúng ta, là những người đã có cơ hội và vinh dự phục vụ quê hương.
Xin cám ơn Quý vị.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Cảm Nghĩ Của Ông Hoàng Đức Nhã

Aki Tanaka – Một người bạn của “Tự Lực Văn Đoàn”

Aki Tanaka – Một người bạn của “Tự Lực Văn Đoàn”
Mặc Lâm (RFA) 2015/09/05

1052670_562697663776915_300149667-622.jpgKhông có gì lạ trong nền giáo dục Việt Nam
Ngày 9 tháng 1 năm 2007, trong trò chơi “Ai là triệu phú” trên đài Truyền hình VTV3 Hà Nội, do MC Lại Văn Sâm điều khiển, người được mời lên chiếc “ghế nóng” tham dự chương trình là cô Nguyễn Thị Tâm, 27 tuổi, giảng viên trường Đại học Sư phạm thành phố Thái Bình.
Câu hỏi nguyên văn như sau: “Trong tứ trụ của Tự Lực Văn Đoàn: Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Khái Hưng; ai là người không phải anh em ruột với ba người kia?”
Cô giảng viên Đại học Sư phạm suy nghĩ một lát rồi nói:
– Tự Lực Văn Đoàn, tôi chưa nghe nói đến bao giờ cả. Hình như đó là một gánh cải lương. Còn Nhất Linh chắc chắn là một nghệ sĩ cải lương. – Riêng Hoàng Đạo, Thạch Lam, Khái Hưng… tôi không biết ba ông này có phải nghệ sĩ cải lương như Nhất Linh không.
– Vậy chị kết luận ai không phải anh em ruột với ba người kia?
– Tôi đề nghị cho tôi được hưởng quyền trợ giúp, gọi điện thoại cho người thân.
– Chị muốn gọi cho ai?
– Cho anh Nam, một bạn đồng nghiệp cũng dạy trong trường. Anh Nam là người đọc rất nhiều sách, kiến thức rất rộng, chắc chắn anh ấy biết.
Phòng máy liên lạc với người tên Nam đang chờ sẵn ở nhà để trợ giúp, “cứu bồ” cho cô Tâm.
Cô Tâm lập lại câu hỏi như chương trình đã hỏi: “Trong tứ trụ của Tự Lực Văn Đoàn…”, “Anh cho em biết Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Khái Hưng, ai không phải là anh em ruột với ba người kia…” Đầu dây có tiếng trả lời rất lớn và dứt khoát, nghe rõ mồn một:
– Hoàng Đạo, Hoàng Đạo không phải là anh em ruột với Nhất Linh, Thạch Lam và Khái Hưng.
– Chắc chắn không anh?
– Chắc trăm phần trăm.
– Ba mươi giây của chị đã hết. Xin chị cho biết câu trả lời.
– Tôi tin vào kiến thức của người bạn đồng nghiệp của tôi. Tôi trả lời, Hoàng Đạo không phải anh em ruột với ba người kia.
– Chị quyết định như thế?
– Vâng, câu trả lời của tôi là phương án B, Hoàng Đạo.
– Sai. Giải đáp của chúng tôi là phương án D, Khái Hưng. Khái Hưng không phải anh em ruột với Nhất Linh, Hoàng Đạo và Thạch Lam. Hoàng Đạo tên thật là Nguyễn Tường Long, sinh năm 1906, em ruột nhà văn Nhất Linh, anh ruột nhà văn Thạch Lam. Như vậy phần thưởng của chị từ năm triệu đồng còn lại một triệu đồng. Nhưng không sao, chúng ta lấy vui làm chính. Xin cám ơn chị đã tham dự chương trình.
Câu chuyện về cô giáo giảng viên trường Đại học sư phạm thành phố Thái Bình thật ra không có gì lạ trong nền giáo dục Việt Nam bởi lẽ chương trình giáo dục không hề có bốn chữ Tự Lực Văn Đoàn mặc dù đây là một nhóm tác giả quan trọng bậc nhất trong nền văn học hiện đại của Việt Nam. Điều làm cho Tự Lực Văn Đoàn bị gạt ra khỏi dòng văn học là chủ trương chính trị của nó. Nguyễn Tường Tam, thủ lãnh của nhóm cũng là một chính khách với quan điểm chính trị đi ngược lại hoàn toàn quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam.

Tự Lực Văn Đoàn chủ trương đổi mới văn học, nâng cao dân trí, chống cường quyền phong kiến, bài thực dân, trong đó không quên những người cùng khổ và bị áp bức dưới bất cứ hình thức nào. Sức mạnh của Tự Lực Văn Đoàn bắt đầu từ sự ủng hộ của trí thức tiểu tư sản sau đó lan rộng trong quần chúng bình dân và ảnh hưởng trực tiếp tới nền báo chí An Nam đang có xu hướng hòa nhịp cùng đời sống đô thị.
Chẳng những tại miền Bắc Tự Lực Văn Đoàn bị cấm xuất hiện nhưng sau năm 1975 ngay cả khi hai miền Nam Bắc đã hoàn toàn thống nhất thì số phận của nó cũng không may mắn gì hơn, vẫn bị vùi dập, che giấu và cấm đoán ngay trong từng tù sách gia đình. Những tên tuổi như Nhất Linh, Thạch Lam, Khái Hưng, Hoàng Đạo… hoàn toàn biến mất trong mái trường xã hội chủ nghĩa, mãi tới hơn hai mươi năm sau một vài tác phẩm của họ mới được in lại từ những chiếc máy in của nhà nước với nội dung bị cắt xén cho vừa với tầm nhìn của cách mạng vô sản, vốn bất đồng với các tác giả này.
Aki Tanaka
Vậy mà từ nước Nhật xa xăm, lại xuất hiện những con người yêu văn hóa Việt Nam trong đó Tự Lực Văn Đoàn được nhắc tới như một dấu son của nền văn học Việt.
Một trong những người ấy là cô sinh viên Aki Tanaka.
Từ Tokyo, Aki Tanaka đã lặn lội tới Việt Nam, tìm hiểu về Tự Lực Văn Đoàn với mục đích học chữ Việt để rồi mê đắm nó đến nỗi bỏ hơn 13 năm theo dõi, nghiên cứu, viết tham luận rồi luận án về Tự Lực Văn Đoàn. Aki đã bay sang Hoa Kỳ nơi có khá nhiều tư liệu lẫn thân nhân của các tác giả để từ đó thấy yêu mến thêm nhóm tác giả đặc biệt này.
Mặc Lâm có duyên may gặp Aki Tanaka tại California trong lần cô sang Mỹ tìm kiếm thêm tư liệu về nhà văn Khái Hưng, người mà Aki Tanaka đặc biệt yêu thích. Cuộc phỏng vấn ngắn nhằm mang cô sinh viên người Nhật này tới gần với người Việt Nam hơn bởi cô đáng được người Việt mở lòng ra đón nhận như một người bạn chân thành của văn hóa Việt.
Aki Tanaka, trước tiên cho biết thời gian đầu cô tới Việt Nam:
Aki Tanaka: Khoảng năm 2000 khi sang Việt Nam tôi đã gặp ông Huy Tưởng thì ông ấy nói nếu Aki muốn học tiếng Việt thì nên tìm đọc Tự Lực Văn Đoàn để biết được tiếng Việt chính xác cho nên tôi đã tìm mua các cuốn sách về Tự Lực Văn Đoàn. Ban đầu thì tôi không hiểu hết, chỉ hiểu sơ sơ thôi nhưng mà đã cảm thấy tác phẩm của Tự Lực Văn Đoàn rất hay cho nên tiếp tục mua sách Tự Lực Văn Đoàn. Ước mơ của tôi là muốn nghiên cứu về Tự Lực Văn Đoàn nhưng lúc đó cảm thấy là điều thực tế chỉ là ước mơ thôi.
Mặc Lâm: Aki vừa nói là tìm mua những cuốn sách Tự Lực Văn Đoàn trong nước, không biết là sách cũ đã được in từ xưa hay những cuốn vừa được in lại trong nước?
Aki Tanaka: Tôi chỉ mua được sách tái bản thôi lúc đó không để ý là sách của nhà nước in hay sách cũ nó có gì khác nhau hay là sự khác biệt như thế nào cho nên chỉ mua được sách tái bản thôi.
Mặc Lâm: Sau này khi nghiên cứu sâu về Tự Lực Văn Đoàn thì Aki có thấy sự khác biệt nào giữa bản in gốc và bản in đã được in lại sau năm 1975 và nếu có thì những khác biệt ấy có quan trọng không?
Aki Tanaka: Dạ có. Tôi có học với thầy giáo người Nhật thì thầy này sử dụng sách cũ là sách trước 75 còn tôi thì cầm sách tái bản mới. Cuốn tôi thất vọng nhất là cuốn Đời mưa gió. Khi hai người đọc chung với nhau thì chúng tôi phát hiện sách tái bản và sách gốc nó khác biệt nhau. Tôi thấy nếu mình nghiên cứu văn học Việt Nam mà có sự khác biệt quá nhiều như thế này, mà mình là người phân tích mà tài liệu sai thì rất nguy hiểm cho việc nghiên cứu của mình.
Mặc Lâm: Khi Aki sang Mỹ để tìm gặp thân nhân những người trong nhóm Tự Lực Văn Đoàn thì Aki đã gặp được ai và câu chuyện gặp gỡ ấy như thế nào?
Aki Tanaka: Hai năm trước có một buổi hội thảo về Tự Lực Văn Đoàn tại Mỹ lúc đó gia đình con cháu của nhóm Tự Lực Văn Đoàn tập họp lại cho nên lúc đó tôi gặp được nhiều người nhưng lúc đó tôi không có dịp nói chuyện nhiều với họ. Tháng Ba năm nay tôi có dịp thăm riêng ông Nguyễn Tường Triệu là con nuôi của ông Khái Hưng và Nguyễn Tường Thiết là con trai út của ông Nhất Linh. Tôi đã thăm được hai người này.
Mặc Lâm: Về ông Nguyễn Tường Thiết là con ruột thì đã đành rồi riêng về ông Nguyễn Tường Triệu là con nuôi của Khái Hưng thì Aki có nắm vững những nhận định hay lời kể lại của ông Triệu có chính xác và phù hợp với những gì Aki tìm hiểu không?
Aki Tanaka: Aki cũng biết được sơ sơ thôi vì lúc ông Khái Hưng mất thì ông Triệu còn rất nhỏ cho nên ông Triệu không biết gì nhiều. Tuy nhiên ông Triệu có cung cấp một số tài liệu cho Aki.
Mặc Lâm: Trong khi nghiên cứu Tự Lực Văn Đoàn và có dịp gặp gỡ hay thông qua tư liệu thì tác già nào trong nhóm làm cho Aki ấn tượng và yêu thích nhất?
Aki Tanaka: Tôi rất thích ông Khái Hưng. Lý do ông là người có tư tưởng sâu sắc nhất trong Tự Lực Văn Đoàn cho nên đọc tác phẩm của ông thì thấy rất hay.
Mặc Lâm: Nhưng rất nhiều người cho rằng ông Nhất Linh là người lãnh đạo của nhóm và là linh hồn của Tự Lực Văn Đoàn … Aki thấy thế nào về tác phẩm của ông?
Aki Tanaka: Theo tôi thì Nhất Linh là một người hành động, ông có cái ý tưởng cách mạng tuy nhiên so với ông Nhất Linh thì ông Khái Hưng là người suy nghĩ và theo sự tìm hiểu của tôi thì ông Khái Hưng không quan tâm mấy đến chính trị.
Mặc Lâm: Trong một thời gian khá dài sống ở Việt Nam Aki quan sát và thấy giới trẻ Việt Nam, đặc biệt là sinh viên khoa văn họ có chú ý tới Tự Lực Văn Đoàn hay không?
Aki Tanaka: Tôi thấy họ không chú ý đâu. Tôi nói chuyện với bạn bè đồng nghiệp với cái ý là tôi thích Tự Lực Văn Đoàn nhưng bạn bè đồng nghiệp của tôi lại không biết Tự Lực Văn Đoàn là ai nữa! Bây giờ ở Việt Nam không giảng dạy tác phẩm của nhóm này cho nên không ai biết, không được ai quan tâm đến.
Mặc Lâm: Có một thời gian rất dài Aki đã sang Mỹ tiếp xúc với người viết văn hay hoạt động văn hóa…Aki thấy họ có còn tha thiết khi nói về Tự Lực Văn Đoàn nữa hay không hoặc thời gian đã quá lâu khiến họ dần dần quên Tự Lực Văn Đoàn luôn, không giống như cách đây 40 năm?
Aki Tanaka: Do tôi tiếp xúc với nhiều người làm văn nghệ cho nên họ thường bảo rất còn quan tâm tới Tự Lực Văn Đoàn và họ muốn bảo tồn tác phẩm của nhóm này cho con cháu để sau biết được việc làm của nhóm Tự Lực Văn Đoàn cho đời sau. Tôi cảm thấy như vậy
Mặc Lâm: Aki cũng có bạn bè người Nhật yêu mến văn hóa Việt Nam trong số họ có ai nghiên cứu về Tự Lực Văn Đoàn như Aki hay không?
Aki Tanaka: Thầy cũ của tôi đã nghỉ hưu rồi ông ấy hồi trước cũng có nghiên cứu về Tự Lực Văn Đoàn trong trường đại học của tôi và ông cũng đã dạy Tự Lực Văn Đoàn cho sinh viên Nhật. Nhưng bây giờ vị giáo sư mới không quan tâm tới Tự Lực Văn Đoàn nên không dạy nữa cho nên sinh viên không biết gì về Tự Lực Văn Đoàn nữa
Mặc Lâm: Một lần nữa xin cám ơn Aki Tanaka rất nhiều và hy vọng những công trình nghiên cứu của Aki về Tự Lực Văn Đoàn sẽ mang lại nhiều kết quả mong đợi.

Nguồn: RFA (Đài Á Châu Tự Do)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Aki Tanaka – Một người bạn của “Tự Lực Văn Đoàn”

TRƯỜNG XƯA BẠN CŨ

image001K1 DO THAM_0002

Hàng trên, từ trái sang phải: Cố VT Đàm Trung Mộc, PVT Lê Sơn Thanh, Đào Thị Điệp, Phạm Thị Chích, Trần Chính, Dương T Nguyệt Ánh, Võ Thị Tuyết, Bùi T Khánh Hòa (đã chết), Võ T Tố, Kim Hạnh, Lý Mũi Liềm Hàng dưới, từ trái: Ng. Năng Thỏa, Phan Hữu Nghi, Phạm V Bé, Ng Đắc Thành, Ng Thanh Quang, Nhữ Đ Toán, Đinh V Hạp, Ng Gia Hân, Phan Kỷ Niệm, Lâm v Quận (đã chết) , Hồ Đắc Biên, Phạm v Bổn, Ng Ngọc Kính (Cò Tém), Phạm v Chu , Ng V Hoàng, Phan Tấn Ngưu, Hồ Xỹ Báu (đã chết), Ng V Trai

Các bạn K1 về thăm Trường cũ (Học Viện CSQG/Trại Lê Văn Duyệt) chụp hình kỷ niệm với Thầy VT Đàm Trung Mộc và Phó VT Lê Sơn Thanh (hình chụp năm 1967)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở TRƯỜNG XƯA BẠN CŨ

MỪNG SINH NHẬT THÁNG 9 (tiếp)

Sept BdayNhân dịp có nhiều phe ta sinh vào Tháng Chín, CNN đã sưu tầm được một bài thơ “Mừng Sinh Nhật Tháng Chín” phổ biến đến các bạn và đã được nhiều bạn họa lại rất hay:

image001Xướng:

Năm nào tháng chín, mẹ sinh ra
Thấm thoắt thoi đưa, tuổi đã già
Má hóp da mồi, mưa gió nhuộm
Vai sờn tóc bạc, tuyết sương pha
Giao lưu bạn hữu, tai còn thính
Xướng hoạ thơ ca, mắt chửa loà
   Vui cảnh điền viên, bên cháu chắt
  Chăm vườn hòe quế, nở đầy hoa !
(không rõ tác gỉa)

Họa 1: MẸ
Mười ngày chín tháng mẹ sinh ra
Mài miệt nuôi con cho tới già
Khó nhọc công lao không thể tính
Hao mòn sức lực coi như pha
Nên người khôn lớn chân mòn mỏi
Đỗ đạt thành tài mắt đã lòa
Sung sướng vui mừng tâm mãn nguyện
Chu toàn bổn phận miệng đơm hoa .
TQN.

Họa 2: MONG CON
Chiều chiều lững thững bước dần ra
Trước ngõ liêu xiêu bóng mẹ già
Nhìn núi mây mờ màu xám nhạt
Ngắm đồng lúa chín sắc hồng pha
Con đi chiến đấu, đời còn khổ
Mẹ ở chờ mong, mắt đã lòa
Mai mốt hòa bình mừng họp mặt
Cuộc đời tươi sáng ngát hương hoa.
Cóc Huế TPK

Họa 3: MẸ THĂM CON
Sáng sớm đi làm trại gọi ra
Xa xa bóng dáng một bà già
Bước đi xiêu vẹo thân còm cõi
Nét mặt ưu sầu tóc tuyết pha
Tù tội mịt mù đầu cũng bạc
Ngày về vô định mắt mờ loà
Khi con được thả không còn mẹ
Ra viếng mộ phần một bó hoa
Cóc QT-TP

Họa 4: CẢNH GIÀ
Tháng chín năm nào mẹ đẻ ra
Nay con tuổi đã tới hồi già
Da nhăn tóc rụng phô đầu hói
Bụng phệ lưng còng lộ cốt pha
May quá xem hoa gai chẳng chích
Cũng hên ngắm cảnh mắt chưa lòa
Ban ngày săn sóc khu vườn nhỏ
Đợi tối xem quỳnh chợt nở hoa
ĐNN
Họa 5: THÁNG CHÍN MÙA THU
Tháng Chín mùa thu đã bước ra,
Vi vu gió thổi rặng thông gìa.
Lá cành xơ xác màu phai nhạt,
Cây cỏ tiêu điều sắc úa pha.
Ngắm cảnh hữu tình tim lỗi nhịp,
Nhìn trời mê mải mắt như lòa.
Vườn chiều hoang vắng chim về tổ,
Một đóa quỳnh hương ngát cánh hoa
CX/NĐT
Họa 6: CHÀO ĐỜI
Tháng chin chào đời mở mắt ra
Bao nhiêu tuổi đã thở than già
Răng nguyên phải lúc xương còn gậm
Nướu cứng đúng thời gân chẳng pha
Nhấm nháp đôi ly cho đỡ khát
Nhâm nhe mấy chén đủ say loà
Con tim lỗi nhịp chân chao đảo
Mở cửa hang bồng ngắm nhũ hoa.
CÓC NÚI – NHA

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở MỪNG SINH NHẬT THÁNG 9 (tiếp)

MỪNG SINH NHẬT THÁNG 9 PQN

Happy Sept bday

Ngày 13/9/2015 là ngày sinh nhật thứ 73 của Cóc Khô Phan Quang Nghiệp, nhân dịp này bạn ta đã làm một bài thơ tự mừng sinh nhật mình như sau:

MỪNG SINH NHẬT THÁNG 9
Tháng Chín nầy sinh nhật bảy ba
Được làng Đường Cóc chúc thăng hoa
Tình thời chinh chiến càng son sắt
Nghĩa buổi lưu vong vẫn đậm đà
Gặp gỡ tha hương mừng sống sót
Chia niềm viễn xứ tủi thân già
Thất tuần sở đắc tuỳ tâm dục? *
Bạc tóc còn lo chuyện nước nhà !!
Cóc Khô Phan Quang Nghiệp
(Sinh Nhật Tháng 9-2015)
*Thất thập nhi tuỳ tâm sở dục

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở MỪNG SINH NHẬT THÁNG 9 PQN

K1 Trần Ngọc Bửu viễn du Mỹ Quốc

K1 TN Buu

Đại gia K1 Trần Ngọc Bửu viễn du Mỹ Quốc

Theo tin từ  Bắc California, “đại gia” K1 Trần Ngọc Bửu từ Việt Nam  viễn du Mỹ quốc đã ghé lại San Jose thăm các bạn bè K1 từ hôm 9/9/2015. Ngày 13/9 vừa qua, các bạn K1 tại San Jose đã có một bữa tiệc hội ngộ với “đại gia” Bửu tại nhà K1 Đinh Văn Hạp. Nhân dịp này, Trưởng Khóa 1 kiêm Phụ tá “dám đốc” CNN Toán Nhữ đã điện thoại thăm hỏi đại gia và được biết, mặc dù bạn ta phải gỡ gần 9 cuốn lịch nhưng vì bị rắc rối về hộ khẩu nên vẫn bị rớt Hát Ô như bạn Nguyễn Văn Suốt của chúng ta. Nhưng khác với K1 Suốt, K1 Bửu may mắn hơn, sau khi thi rớt H.O. phải ở lại nhưng nay đã trở thành một “big skin” không như bạn Suốt. Chúc mừng bạn ta.

TN Buu den My

Riêng về bạn Suốt, theo lời bạn Bửu, K1 Suốt hiện nay bị bệnh thoái hóa khớp cột sống nên đi lại rất khó khăn, chỉ quanh quẩn trong nhà, ít đi đâu xa.

Nhân dịp hội ngộ K1 Bửu, K1 Nguyễn Hoài Ân tức Cóc Núi đã làm ngay một bài thơ chúc mừng bạn ta và ngay sau đó, bài thơ đã được các bạn ta họa lại rất hào hứng.

BẠN TÔI
           Bạn chốn phương xa đến viếng tôi,
     Gặp nhau dạ luống thấy bồi hồi.
               Lem nhem đôi mắt long tròng kính,
Lác đác nếp nhăn vẽ nét môi
  Ông tạo trớ trêu trò phỉnh gạt,
        Trời xanh bướng bỉnh tóc hoa rồi.
        Ngành xưa dáng dấp đâu còn nữa
Gặp lúc tuổi già tủi phận thôi.
CÓC NÚI – NHA
Các bài họa:

MỪNG GẶP LẠI
Biến cố bảy lăm trên nước tôi
Nhân dân cả nước phải bồi hồi
Tự do mất hết đành câm miệng
Thống nhất mà đâu dám hở môi
Chống đối đưa đi không vướng bận
Im hơi ở lại chẳng yên rồi
Giang san tan nát làm trăm mảnh
Gặp lại mừng vui có vậy thôi .
TQN
TRI KỶ ĐẾN THĂM
Lâu ngày tri kỷ đến thăm tôi
Trò chuyện huyên thuyên được một hồi
Dưới bếp vợ hiền lo chế nước
Trên nhà khách khứa đỡ khô môi
Nghẹn ngào quá khứ đang quay lại
Hy vọng tương lai đã hết rồi
Khúc cuối cuộc đời cần bạn hữu
Tủi buồn cô quạnh sớm đi thôi
Cóc QT
CỐ NHÂN
Thử hỏi bạn hiền có nhớ tôi?
Xa nhau những muốn cố nhân hồi.
Tao phùng rượu nhắp tê đầu lưỡi,
Gặp mặt trà chiêu ngọt khóe môi.
Nhắc lại thuở xưa còn hoa mộng,
Tiếc hoài quá khứ đã xa rồi.
Thời gian điểm bạc trên làn tóc,
Bóng nước qua cầu lặng lẽ thôi.
Cóc Huế TP
ĐẠI GIA & CHÂN DÀI *
Đại gia đa dại cũng như tôi ?
Dính chấu “ta liêm” biết mấy hồi !
Khe suối chui đầu rêu cả tóc ,
Đào tiên múp hột nhớt đầy môi .
Lỗ then tạo hóa còn mơn mởn ,
Cái trụ càn khôn tét bét rồi .
Tật khoái chân dài e khó bỏ ,
Tới chừng nào chết mới chừa thôi .
LHN

* Đại gia Trần-ngọc-Bửu đăng bảng tuyển chân dài.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở K1 Trần Ngọc Bửu viễn du Mỹ Quốc

Ý Kiến về Ngày Tổ Chức 50 Năm HVCSQG

ga tre

Ý kiến của 2 con Gà Tre

về Ngày Kỷ Niệm 50 Năm HVCSQG:

“Kính thưa quý niên trưởng và các chiến hữu ,

Chúng tôi – hai con gà tre Houston – xin hoan hô quý niên trưởng, quý chiến hữu đã cho chúng tôi một tiếng thở ra nhẹ nhõm cả lòng. Bấy lâu nay khi cuộc họp lần vừa qua quý vị quyết định ngày 3, 4, 5 tháng bảy (2016) làm chúng tôi rất lo lắng, sẽ khó mà tham dự được vì những lý do hết sức thực tế: vé máy bay sẽ không là 300 mà sẽ là 600, 700 đô cho một vé, khách sạn sẽ không còn chỗ ….. khó khăn mọi bề ! . Chúng tôi cảm thấy buồn, lo ! 

   Nhưng bây giờ thì rất vui rồi. Hoan hô quý niên trưởng và các chiến hữu .

  Chúng tôi sẵn sàng có mặt . 

Kính chúc quý niên trưởng và các chiến hưu nhiều sức khoẻ và hạnh phúc .

   Gà Tre Lê Quang Phú

    & Gà mái tre htko .”

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Ý Kiến về Ngày Tổ Chức 50 Năm HVCSQG

Về Việc Tổ Chức Kỷ Niệm 50 Năm HVCSQG

Thưa các bạn K1,

Vừa qua, vào lúc 9g30 sáng chủ nhật 13/9/2015, tôi có tham dự một buổi họp gồm đại diện nhiều Khóa tại Nam California để bàn về việc tổ chức Kỷ Niệm 50 Năm Học Viện CSQG. Trong buổi họp này, tôi đã được đề cử làm thư ký và đã có bản tường trình cùng những hình ảnh của K1 Võ Thiệu chụp như sau:

“Kính thưa Quý NT và các bạn cựu HVCSQG:

Là thư ký của buổi họp tôi xin bổ túc bản tường trình của anh Võ Thiệu thêm những chi tiết sau:

– Tiếp theo buổi họp vào tuần trước (6/9) để bàn v/v tổ chức Kỷ Niệm 50 Năm HVCSQG phải hoãn lại vì số SV cựu HV hiện diện qúa ít, buổi họp hôm nay CN 13/9/15 mục đích để thảo luận tiếp v/v bầu cử Trưởng BTC và chọn ngày tổ chức.

– Buổi họp đã bắt đầu vào lúc khoảng 9g30 dưới sự chủ toạ của các NT Trần Quan An, Trần Quang Nam, Phan Trung Chánh và Ngô Bá Phước; cùng với sự hiện diện của khoảng gần 30 nam nữ cựu SV các khóa (nhiều nhất là các K1, K2, K3, K6 và một vài bạn thuộc các khóa khác)

– Sau phần tuyên bố lý do buổi họp của NT Trần Quan An (chủ nhà), anh Phan Tấn Ngưu (K1), đại diện TH/CSQG, người triệu tập buổi họp, đã cho biết,trong buổi họp lần trước, mọi người dự kiến sẽ tổ chức vào ngày Lễ Độc Lập HK July 4th, 2016. Tuy nhiên, sau khi thông báo ngày này trên các Diễn Đàn CSQG online thì đa số đều không tán thành ngày này vì những trở ngại như gía vé máy bay, khách sạn cao và khó mua vé; thêm nữa vấn đề an ninh trong ngày lễ lớn di chuyển rất bất tiện, và ngày lễ July 4th cũng là ngày họp mặt của nhiều gia đình, v.v… Vì những lý do đó, anh Ngưu đề nghị nên dời lại ngày kỷ niệm 50 Năm HVCSQG 1 tuần hay 2 tuần sau ngày lễ July 4th hay một ngày nào khác tùy mọi người quyết định. Sau phần thảo luận sôi nổi, mọi người đã biểu quyết bằng cách giơ tay 24/28 đồng ý chọn ngày 17/7/2016 là ngày tổ chức 50 Năm HVCSQG.

– Qua phần bầu cử trưởng Ban Tổ Chức. Có 3 người được để cử là: Anh Nguyễn Doãn Hưng K6, anh Phan Tấn Ngưu K1 và anh Nguyễn Ngọc Tiến K3. Kết qủa: anh Nguyễn Doãn Hưng được đa số tín nhiệm vào chức vụ Trưởng BTC. Các anh Ngưu và Tiến tuy không đắc cử nhưng được mọi người đề cử làm Phó BTC, phụ tá cho anh Hưng.

– Chi tiết v/v tổ chức ĐH 50 Năm HVCSQG như thế nào sẽ được BTC mời thêm đại diện các Khóa tham gia và sẽ có những buổi họp kế tiếp để thảo luận chi tiết sau.

Trân trọng thông báo,

Nhữ Đ. Toán K1

Mời các bạn xem một số hình ảnh do K1 Võ Thiệu làm phó nháy:

Trình chiếu này yêu cầu JavaScript.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Về Việc Tổ Chức Kỷ Niệm 50 Năm HVCSQG

CÁI ĐÓI TRONG TÙ_Thơ Nguyễn Phiến

tu cai tao copy           

Cái Đói Trong Tù
Cái đói trong tù, đói trầm kha
Đói xanh máu mặt, đói vàng da
Bụng đói cồn cào, kêu ọc ạch
Chân tay bủn rủn, mắt tóa hoa

Cái đói bù tóc, đói ù tai
Tứ chi co cụm sụm đôi vai
Bứơc đi không vững thân xiêu vẹo
Đói không điều khiển nổi chân tay

Cào cào, châu chấu, rau tàu bay
Mối rừng, rắn, chuột, trái cây dầu
Tìm đựơc loại gì ăn thứ đó
Lâu ngày tuyệt chủng tù trắng tay

Đói mà không có lá rau rừng
Không còn tìm thấy một côn trùng
Cái đói hãi hùng trùm tâm tưởng
Đói cả trong mơ, đói chập chùng

Triền miên đói khổ mấy năm trời
Đói chẳng bao giờ đựơc nghỉ ngơi
Ngày ngày bị cưỡng bức lao động
Cái đói trong tù, đói chết thôi

Trăm nghìn cái chết đến trong đời
Cái càng dai dẳng, càng khổ hơn
Cận kề chết đói, tận cùng khổ
Nhiều người trải nghiệm, chẳng riêng tôi
NGUYỄN PHIẾN

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở CÁI ĐÓI TRONG TÙ_Thơ Nguyễn Phiến

NHỮNG NGÀY XƯA THÂN ÁI

NHỮNG NGÀY XƯA THÂN ÁI

(Hình  do K1 Phạm Văn Toán cung cấp)

Trình chiếu này yêu cầu JavaScript.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở NHỮNG NGÀY XƯA THÂN ÁI

NGẬM NGÙI 48 Năm Trước, 48 Năm Sau

IMG_1101_resized

48 năm trước (1966), K1 Nguyễn Văn Trung (người đứng thứ 3 từ bên phải), trước 1975 phục vụ tại TTHL/CSDC/ĐàLạt, sau đổi về Khối Tiếp Vận/BTL.CSQG

IMG_9348_resized

Nguyễn Văn Trung (cùng vợ) 48 năm sau (2014), hiên đang định cư ở tb Louissiana

image001

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở NGẬM NGÙI 48 Năm Trước, 48 Năm Sau

SÀI GÒN, H.O. VÀ TÔI_Toàn Như

Saigon H.O.

Tuần báo Sống # 213 ngày 04/9/2015

SÀI GÒN, H.O. VÀ TÔI
• Toàn Như
Cuốn phim tài liệu “The Last Days in Vietnam” (Những Ngày Cuối Cùng ở Việt Nam, đạo diễn Rory Kennedy, một hậu duệ của dòng họ Kennedy) kể về những ngày cuối cùng hỗn loạn trong những ngày tàn của cuộc chiến Việt Nam vào tháng Tư năm 1975. Trong số những hình ảnh của những ngày cuối cùng u buồn đó có cảnh hàng chục ngàn người đang tìm cách trốn thoát khỏi miền Nam bằng mọi cách trước khi quân cộng sản tràn đến. Tôi không nằm trong số những người may mắn ra đi trong những thước phim đó, nhưng những hình ảnh này đã gợi lại trong tôi ký ức về những ngày cuối cùng của chính mình trước khi rời khỏi Việt Nam ra đi theo chương trình H.O.

Trong phim “The Last Days in Vietnam” có một cảnh thật cảm động. Khi chiếc chiến hạm chở đồng bào di tản đến gần bờ biển Phi Luật Tân, mọi người Việt, gồm cả quân và dân, đứng trên boong tàu đã nghẹn ngào hát bản quốc ca VNCH lần cuối cùng trong khi lá cờ vàng ba sọc đỏ từ từ hạ xuống. Tôi đã nhìn thấy những khuôn mặt đẫm lệ đang cất cao lời hát “Này công dân ơi, quốc gia đến ngày giải phóng…”. Cảnh tượng đó làm cho tôi nhớ đến những ngày ở Bangkok, Thái Lan. Trong khi chờ đợi làm thủ tục nhập cảnh vào Mỹ theo diện H.O., chúng tôi đã được xem một cuốn phim tài liệu về một cuộc diễn hành Ngày Quân Lực ở Sài Gòn trước 1975. Lúc đó, lần đầu tiên sau mười sáu năm tôi mới được nhìn lại lá cờ vàng qua màn ảnh nhỏ, chỉ như vậy thôi mà tôi đã rưng rưng xúc động, nói gì những người trên chiếc chiến hạm kia…

Vào giữa thập niên 1980, ở Sàigòn và có lẽ ở cả nhiều nơi khác tại Việt Nam, đã có những tin đồn rằng, những cựu tù nhân chính trị cộng sản, tức những người từng bị cộng sản bắt đi “học tập cải tạo”, thực chất là đi tù, sau tháng Tư 1975, sẽ được phép xuất cảnh đi định cư tại Mỹ theo một sự thỏa thuận hay thỏa hiệp giữa Hoa Kỳ và Việt Cộng.

Tôi cũng như các bạn cựu tù cải tạo khác rất phấn khởi trước tin đồn trên. Mọi người phấn khởi vì hy vọng nhờ đó có thể thoát khỏi một cảnh sống tù túng đầy rẫy những âu lo có thể bị bắt lại bất cứ lúc nào mặc dù đã được trả tự do sau nhiều năm bị tù đày trong những trại cải tạo. Hầu hết các cựu tù cải tạo sau khi được thả về đều rất chật vật trong cuộc mưu sinh. Họ hầu như không thể xin vào làm việc ở bất cứ một cơ quan nào. Một số phải sống bằng nghề đạp xích lô, buôn bán chợ trời, hoặc về quê làm ruộng, làm rẫy, v.v… Cho nên, tin đồn đã như một cái phao cứu sinh, một niềm hy vọng giúp họ được đổi đời, dù chưa biết cuộc sống mới ở một nơi xứ sở xa lạ sẽ như thế nào, nhưng ai cũng nghĩ chắc chắn sẽ được hít thở một bầu không khí tự do.

Cá nhân tôi, sau gần bảy năm bóc lịch ở trong nhà tù Chí Hòa mới được thả về. Tôi bị bắt bị ghép vào tội “ngụy quân, ngụy quyền trốn học tập cải tạo” mặc dù mình chẳng hề trốn tránh đi đâu cả. Do lệnh “trình diện học tập” dành cho các sĩ quan cấp đại úy quân đội và cảnh sát không cùng một ngày nên bọn “cách mạng ba mươi” vì muốn lập công đã chỉ điểm cho an ninh phường đến bắt tôi vì tình nghi tôi là một đại úy trốn trình diện học tập. Mặc dù tôi đã giải thích ngày trình diện của tôi chưa đến vì tôi là đại úy ngành cảnh sát, nhưng vì chủ trương của VC là “thà bắt lầm hơn bỏ sót” nên tôi vẫn bị chúng bắt giam vào khám Chí Hòa.

Sau gần bảy năm “nằm ấp” ở Chí Hòa, tôi đã được trả tự do. Nhưng dù được trả tự do, cuộc sống hàng ngày của tôi cũng chẳng được tự do. Hết trình diện lại báo cáo, hết họp tổ đến họp phường; lúc nào cũng nơm nớp lo sợ bị công an hạch hỏi. Vào mỗi thứ hai hàng tuần, tôi phải đến trình diện cái gọi là “Ủy Ban Quản Lý Người Học Tập Cải Tạo Trở Về” để báo cáo những công việc mình đã làm trong tuần. Báo cáo này phải được ghi chép vào một cuốn sổ trình cho tên cán bộ chủ tịch ủy ban là tên phó chủ tịch Phường phụ trách. Tuy nhiên, tôi chỉ báo cáo một cách chung chung những công việc hàng ngày chả có gì đặc biệt. Như, buổi sáng đưa con đi đến trường, buổi trưa đến trường đón con về, thời gian còn lại là những công việc lặt vặt như dọn dẹp nhà cửa, rửa chén, lau nhà, dạy kèm con học ở nhà, hay phụ vợ buôn bán lặt vặt mưu sinh (bán chợ trời), v.v… Nghĩa là toàn những công việc linh tinh, vô thưởng vô phạt.

Có lẽ việc báo cáo của tôi như vậy, có cũng như không, nên khoảng hai tháng sau, tên cán bộ phụ trách đã nới lỏng việc trình diện cho tôi. Thay vì bắt tôi phải báo cáo mỗi tuần một lần, hắn đã ra lệnh cho tôi chỉ phải báo cáo mỗi tháng một lần. Thế nhưng, hàng tháng tôi vẫn bổn cũ soạn lại, vẫn báo cáo công việc hàng ngày chẳng khác gì hơn những sinh hoạt thường nhật mà tôi đã báo cáo trước đó. Sau mấy tháng như thế, có lẽ thấy báo cáo của tôi chẳng khai thác được gì, nên một hôm tên cán bộ này đã nói, “Thôi từ nay anh không phải trình báo cáo nữa”. Tuy nói thế, nhưng hắn lại thòng thêm câu, “Nhưng anh có thể đến báo cáo – bất cứ khi nào – có gặp những việc bất thường”. Mặc dù hắn đã ra lệnh như vậy, nhưng tôi chẳng bao giờ trở lại gặp hắn.

Mãi hai năm sau, để chuẩn bị cho tôi được “xả chế, trả quyền công dân”, tôi phải đến dự một buổi họp tổ dân phố để họ lập biên bản trình lên Phường, lên Quận. Xui cho tôi là cái tổ dân phố nơi tôi ở có nhiều cán bộ VC và tổ trưởng lại là một tên cán bộ phường. Lý do vì khu vực tôi ở trước đây là khu có nhiều căn nhà của những sĩ quan, viên chức chế độ cũ đã di tản năm 1975 nay bị bọn VC chiếm ngụ. Trong buổi họp, một tên cán bộ đã phê bình tôi không đi họp tổ nên họ không biết gì về tôi để báo cáo. Những tên khác cũng nói, chúng cần có một thời gian để tìm hiểu thêm về tôi trước khi có ý kiến. Sau buổi họp, có người đã mách tôi, muốn được “xả chế” thì phải biết cái “thủ tục đầu tiên” (tức đâu tiền hay chung tiền) cho tên tổ trưởng dân phố. Thế là tôi phải “biết điều” lo lót cho hắn để hắn viết cho một cái biên bản khác.

Sau đó, để tránh bị làm khó dễ và bị ép phải đi kinh tế mới, tôi đã xin làm thiện nguyện viên cho Hội Chữ Thập Đỏ (tức Hội Hồng Thập Tự, theo cách gọi của VC). Vào đầu thập niên 1980, mọi sinh hoạt của người dân vẫn còn bị VC kiểm soát chặt chẽ chứ đừng nói gì với những người cựu tù cải tạo. Đó là lý do tôi phải xin làm việc bán thời gian (nửa ngày) cho Hội Chữ Thập Đỏ không lương, chỉ thỉnh thoảng được cấp cho một ít nhu yếu phẩm, để có tấm lá chắn làm việc cho nhà nước. Nửa ngày còn lại tôi phụ với vợ buôn bán quần áo cũ ở chợ trời An Đông và dạy kèm thêm Anh Văn cho mấy em học sinh trung học ở gần nhà. Nhưng việc dạy học cũng chẳng được bao lâu, một hôm tôi đang dạy học thì tên công an khu vực đến hỏi tôi có giấy phép dạy học của Phòng Giáo Dục Quận không. Dĩ nhiên là tôi không có. Không muốn bị rắc rối thêm, tôi đành phải dẹp cái lớp học này.

Khi những tin tức về việc tái định cư các cựu tù cải tạo lan truyền ở Sàigòn, tôi và các bạn tù rất náo nức hy vọng. Mọi người ai cũng mong đó là sự thật để được thoát ra khỏi cảnh tù túng dưới chế độ cộng sản. Biết bao nhiêu những tin đồn được rỉ tai nhau hàng ngày chẳng biết hư thực thế nào. Nơi phát xuất ra những tin đồn loại này nhiều nhất là ở bãi cỏ công viên phía trước Sở Ngoại Vụ Thành phố (Bộ Ngoại Giao VNCH cũ), phía trước Dinh Độc Lập, gần nhà thờ Đức Bà. Thỉnh thoảng tôi cũng đến đây để nghe ngóng tin tức. Ở đây, các anh em cựu tù thường tụ tập thành từng nhóm để bàn tán truyền tai nhau những tin tức thu lượm được. Vì không có một thông cáo chính thức nào về chương trình này, nên những tin đồn tha hồ được thêu dệt. Nào là tin từ đài VOA, đài BBC. Nào là tin đáng lẽ việc ra đi này đã được thực hiện từ trước ngày 30-4-1975, giống như cuộc di cư của đồng bào miền Bắc sau hiệp định Genève năm 1954. Hay, việc ra đi này để đổi lại, Hoa Kỳ sẽ nới lỏng cấm vận cho Việt Cộng và từ từ đi tới tái lập bang giao. Thậm chí còn có tin đồn, các cựu tù khi đến Mỹ còn được truy lãnh lương tính từ năm 1975 cho đến nay. Mặc dù đa số đều nghĩ, đó chỉ là tin vịt cồ, nhưng cũng có một vài người vẫn nuôi một ảo tưởng nghĩ rằng biết đâu đó là sự thật để tự an ủi mình.

Mãi đến khoảng giữa năm 1989, chương trình tái định cư các cựu tù cải tạo sau được gọi là chương trình H.O. mới bắt đầu chuyển động. Nhưng vẫn không có thông cáo chính thức nào về việc này được đưa ra cho đến khi một số cựu tù bổ túc hồ sơ bảo lãnh (ODP), lúc đó họ mới biết mình đã được chuyển vào danh sách HO1, HO2… Mặc dù vậy, mọi người vẫn còn bán tín bán nghi. Đa số vẫn còn dè dặt chưa dám xúc tiến nộp hồ sơ vì chỉ sợ bị gài bẫy, rồi tiền mất mà tật mang, nghĩa là vẫn chẳng được đi đâu cả. Chính vì biết tâm lý này nên công an VC đã bày ra cơ quan Trung Tâm Dịch Vụ Xuất Cảnh để thâu gom những dịch vụ về việc nộp đơn xin xuất cảnh theo diện cựu tù cải tạo. Trụ sở của trung tâm này nằm trên đường Võ Tánh, đối diện ngay cổng Bộ Tư Lệnh CSQG/VNCH (Tổng Nha Cảnh Sát) cũ.

Sau nhiều ngày “điều nghiên” cho chắc ăn, mãi đến cuối năm 1989, tôi mới mang hồ sơ của mình tới trung tâm này nộp. Lúc đến nơi tôi mới thấy nhiều người cũng đến nộp đơn khá đông. Mọi người nộp đơn phải đóng một số tiền lệ phí khá lớn khoảng 200.000 đồng tiền Hồ cho mỗi đầu người trong gia đình cộng thêm một vài phụ phí linh tinh khác. Gia đình tôi bốn người gồm vợ chồng và hai con đã tốn mất gần một triệu.

Khoảng sáu tháng sau, gia đình tôi nhận được giấy mời đi bổ túc hồ sơ ở văn phòng (quản lý xuất nhập cảnh ?) nằm ở góc đường Nguyễn Du và Lê Văn Duyệt (nay là đường Cách Mạng Tháng 8) đối diện với vườn Tao Đàn. Theo rỉ tai của những người đi trước, để việc bổ túc hồ sơ được dễ dàng thuận lợi thì nhớ “bồi dưỡng” cho tên cán bộ phụ trách một bao thuốc lá ba số 5. Có người vì chủ quan hay vì không biết chuyện này nên đã phải ra về, đi tới đi lui bổ túc nhiều lần mà vẫn chưa xong việc. Nghe nói vậy, nên trước khi vào trình giấy tờ, tôi đã ghé sạp bán thuốc lá lẻ của một bà ngồi trên lề đường phía trước văn phòng. Bà bán thuốc lá đưa cho tôi một gói thuốc lá 555 có vẻ đã cũ, tôi nói bà đổi cho gói khác nhưng bà nói: “Cậu mua thuốc mang vào cho cán bộ bên trong phải không? Không sao đâu. Nó vào trong rồi chiều nó cũng ra lại đây thôi.” Tôi hiểu ý bà muốn nói gì nên trả tiền mua gói thuốc đó. Quả nhiên, khi vào gặp tên công an phụ trách, trong lúc y đang xem hồ sơ, tôi để gói thuốc lá 555 lên bàn và nói: “Mời cán bộ hút thuốc.” Nói là mời nhưng gói thuốc lá của tôi vẫn còn nguyên chưa xé bao. Tên công an vẫn lầm lỳ, mặt lạnh như tiền, không nói gì và cũng không ngẩng đầu lên. Hắn lấy tay lẹ làng gạt gói thuốc lá vào trong ngăn kéo bàn đã mở sẵn mà tôi nhìn thấy đã có sẵn mấy gói thuốc lá 555 ở trong. Trong khi đó hắn gỉa bộ kiểm soát những giấy tờ tôi mang theo xem đã đầy đủ chưa một lúc rồi nói tôi đã bổ túc giấy tờ đầy đủ, có thể ra về.

Thế rồi, sau nhiều lần bổ túc hồ sơ ở nhiều chỗ khác, rồi khám sức khỏe, chụp hình, lăn tay, phỏng vấn tôi mới nhận được giấy báo hồ sơ của tôi đã được chấp thuận để chờ ngày lên đường. Nhưng trước khi để được lên đường, tôi còn phải trải qua nhiều thủ tục cũng nhức đầu không kém. Nào là phải có giấy không thiếu nợ ngân hàng. Ngân hàng VC còn nợ tôi thì có chứ tôi nào có vay mượn gì của ngân hàng VC đâu mà thiếu nợ. Trước 1975, tôi có khoảng mấy trăm ngàn đồng tiền VNCH trong sổ tiết kiệm của ngân hàng Việt Nam Thương Tín chưa kịp rút ra nhưng nay VC nói họ không có trách nhiệm gì về số tiền này. Trái lại, đối với những ai có vay mượn tiền của ngân hàng trước 1975 thì chúng lại nói, chúng là người tiếp quản ngân hàng nên chúng có quyền truy thu những món nợ đó. Đúng là lưỡi không xương. Có những người trước đây chỉ vay nợ khoảng vài chục ngàn tiền cũ nay chẳng hiểu chúng tính toán làm sao đã bị kết toán nợ lên đến mấy trăm triệu đồng. Dĩ nhiên, những người này phải “chạy chọt” chứ làm sao họ có đủ số tiền lớn như vậy để thanh toán. Hơn nữa, dù có nợ hay không có nợ ngân hàng như tôi thì ai cũng phải chi một khoản tiền mới có được tấm giấy chứng nhận không thiếu nợ ngân hàng.

Một loại giấy tờ khác rắc rối nữa là giấy xác minh không vướng bận về vấn đề nhà đất. VC đưa ra một quy định vô lý là cấm mua bán, sang tên chủ quyền nhà đất đối với những người xuất cảnh nguyên là những sĩ quan chế độ cũ: từ cấp Thiếu tá trở lên cho các sĩ quan quân đội và từ cấp Trung úy trở lên cho các sĩ quan cảnh sát. Tôi là một sĩ quan cảnh sát cấp đại úy nên phải giao căn nhà của chúng tôi ở chúng cư Minh Mạng/Q.10 – Saigon cho chúng; đã thế, chúng còn bắt tôi phải làm đơn xin nhà nước quản lý giùm căn nhà này vì vắng chủ (một kiểu tịch thu nhà thật tinh vi). Thiệt là tức. Không những vậy, chúng còn truy thu, bắt tôi phải nộp tiền thuế thổ trạch cho căn nhà này kể từ khi chúng được xây cất cho đến nay. Thiệt là một điều vô lý nữa vì nhà chúng cư, mà lại ở trên lầu như nhà của tôi, thì làm gì có đất đâu mà phải nộp thuế thổ trạch. Nhưng thôi, coi như “thí cô hồn” cho chúng, tôi nghĩ vậy. Thế là tôi lại phải tốn mất mấy chục ngàn tiền thuế thổ tả này cho chúng.

Để tránh bị trục trặc vào giờ chót, tôi đã nhờ một văn phòng dịch vụ lo trước các giấy tờ liên hệ. Lúc các giấy tờ đã xong, hai ngày trước khi lên đường, tôi hẹn sẽ giao chìa khóa nhà cho phường rồi đến ở tạm nhà chị tôi chờ đến ngày ra phi trường cho chắc ăn. Tuy nhiên, trước khi giao nhà cho phường, tôi đã tháo gỡ hết những cửa sắt, bóng đèn, ổ điện trong nhà đem bán ve chai hay cho người nhà cho bõ ghét. Đến ngày hẹn, hai tên cán bộ phường đến nhà tôi để nhận chìa khóa. Chúng hỏi:

– Nhà sao không có bóng đèn và ổ điện sao hư hết rồi?
Tôi nói:
– Đây là nhà của chúng tôi, chúng tôi nhờ nhà nước quản lý giùm trong thời gian chúng tôi đi ra nước ngoài. Nó như thế nào thì các anh cứ tiếp nhận như vậy. Hôm nay, tôi chỉ có nhiệm vụ giao chìa khóa cho các anh thôi. Còn các giấy tờ liên hệ tôi đã được cấp đầy đủ rồi.

Hai tên cán bộ hơi bị quê, biết không thể làm khó dễ gì được tôi nên quay sang nói chúc chúng tôi lên đường may mắn.

Hai ngày cuối cùng tôi đến ở nhà chị tôi, hầu như tôi không ngủ được. Đêm nào chị và em tôi cũng thức ngồi nói chuyện với vợ chồng tôi đến tận nửa đêm. Chúng tôi ôn lại những kỷ niệm và dặn dò nhắn nhủ nhau đủ điều.

Buổi chiều cuối cùng trước ngày đi, tôi mượn chiếc xe đạp của em tôi đạp vòng quanh qua mấy con đường trong thành phố như để nhìn lại Sài Gòn một lần chót. Tôi đạp xe loanh quanh mà chẳng biết mình đi đâu. Đường phố về chiều xe cộ vẫn tấp nập. Tôi chậm rãi đạp xe dọc theo đường Công Lý, qua Dinh Độc Lập, hướng về Nhà Thờ Đức Bà, rồi rẽ theo con đường Duy Tân nhìn lại ngôi trường đại học cây dài bóng mát… Những con đường xưa, phố cũ đã ghi dấu bao nhiêu kỷ niệm trong tôi rồi sẽ chỉ còn là dĩ vãng. Sài Gòn ơi, thôi gĩa từ bạn nhé, chưa biết đến bao giờ ta mới gặp lại nhau.

Sáng ngày hôm sau chúng tôi chính thức ra phi trường Tân Sơn Nhất để ra đi, cảnh chia tay chị em tôi thật là bịn rịn. Lúc chúng tôi phải bước vào phòng cách ly để đi ra sân bay, chị tôi rưng rưng nắm tay tôi chúc tôi lên đường bình an. Qua cửa sau của phòng cách ly, chúng tôi bước ra sân bay để đi ra máy bay. Tôi không dám quay đầu lại vì tôi sợ tôi sẽ xúc cảm đến khóc khi thấy chị tôi đang đứng khóc nhìn theo chúng tôi. Tôi biết từ nay tôi sẽ xa chị, người chị cả thương yêu của tôi. Và cả cái đất nước này, chỉ trong chốc lát nữa thôi, tôi sẽ xa rời nó mà chưa biết đến bao giờ mới trở lại.

Trong lúc đi đến chiếc máy bay đậu ở đằng xa, tôi bỗng thấy một ông trung niên đang bước lên cầu thang máy bay. Khi đến trước cửa máy bay, người đàn ông này đã quay đầu lại nhìn về phía phòng khách phi trường, rồi bất ngờ ông quỳ xuống chắp tay lạy ba lạy trước khi bước vào bên trong khoang máy bay. Tôi không hiểu, ông lạy gĩa từ đất mẹ, hay ông lạy cám ơn trời đất đã cho ông được thoát ra khỏi cái “thiên đường” cộng sản này.

Khi chiếc máy bay vừa cất cánh, từ trên cao nhìn qua khung cừa sổ, tôi thấy Sài Gòn của tôi ở dưới đang lùi dần, nhỏ dần rồi mất hút. Bỗng dưng nước mắt tôi ứa ra; buồn bã, tôi nhủ thầm, Sài Gòn ơi, ta xa nhau từ đây !
TOÀN NHƯ

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở SÀI GÒN, H.O. VÀ TÔI_Toàn Như

HOA MÀU ĐẤT_Thơ Thanh Hoàng

ThanhHoang

K1 Ng.~ Thanh Hoàng

HOA MÀU ĐẤT

Thương quá thương !!! Hoa màu đất quê mẹ
Đẹp vô vàn trân quý mãi trong tôi !!!
Giờ nhìn lại lòng không khỏi bồi hồi
Vì màu áo trọn cuộc đời tận hiến !
Nhớ năm nao, ngày giã từ Học Viện
Bộ Cảnh phục Dã Chiến khoác vào người
Rất hào hùng phong cách tuổi đôi mươi !
Gót giày lê khắp bốn vùng chiến thuật
Chí nam nhi quyết kiên cường bất khuất
Tuổi thanh xuân, tuổi uy dũng, hiên ngang
Bầu nhiệt huyết đầy khí phách tiềm tàng
Nguyện sắt son vẹn câu thề : “sát Cộng” !!!

THANH HOÀNG
(CA 16-12-2013)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở HOA MÀU ĐẤT_Thơ Thanh Hoàng

Bài ca Vu Lan_ Nhớ Ơn Cha

Hôm nay để cho công bình, mình mời các bạn thưởng thức 3 bài ca Vu Lan nói về ân nghĩa của người Cha.

Mến chúc các bạn và gia đình một mùa Vu Lan đầy hiếu hạnh

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Bài ca Vu Lan_ Nhớ Ơn Cha