Ba tôi_ Thơ Nguyễn Phiến

Ba toi leble                                             Nguyễn Phiến

Ba tôi đó, như dòng sông nhỏ
Tháng ngày xuôi biển, lặng lờ trôi
Xuân Hạ qua rồi,Thu Đông tới
Phù sa mang kiếp mãi đắp bồi
Hẩm hiu số phận Nội mất sớm
Cơ hàn thảm thiết cảnh mồ côi.
Lam lũ áo cơm lo kiếm sống
Gian nan gầy dựng cả đàn con
Chiến tranh điêu tàn gieo tang tóc
Kẽ trứơc ngừơi sau chết lần mòn
Giặc lùng giặc bắt em Tây bắn
Thân nhân bằng hữu chẳng ai còn
Thân phận Ba tôi tận cùng khổ
Khóc Mẹ chưa vơi, vợ lìa đời
Gia đình nhà cửa ôi tan nát
Xây dựng bao lần vẫn nổi trôi.
Một đàn con lớn bao hy vọng
Ngục tù đày đọa lệ nào vơi
Sóng gío cuộc đời mãi tàn khốc
Nhiều phen kề chết rợn cả ngừơi
Ngày lụn tháng qua hơi sức yếu
Gian nan chồng chất xác hao mòn
Rũ sạch bụi trần buông tay trắng
Một kiếp trần ai đã vuông tròn.

Cầu Trời ban phứơc cho Ba đựơc    
Ngàn thu an hưởng chốn Thiên Đình
Lai láng một trời tình phụ tử           
Trăm năm khắc đậm mãi trong tim.

NGUYỄN PHIẾN

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Ba tôi_ Thơ Nguyễn Phiến

Thẩm Định Lại Quân Lực VNCH_ Bài của Toàn Như

9487670_orig
image001                                                                TOÀN NHƯ

Người Mỹ biết rất ít về Chiến Tranh Việt Nam, mặc dù nó đã chấm dứt gần một nửa thế kỷ. Điều này một phần cũng bởi những người phản chiến Mỹ đã cố tình xuyên tạc cuộc chiến đấu của quân dân Miền Nam bằng những hình ảnh tồi tệ nhất để phủ nhận sự thất bại của họ tại Việt Nam.

            Sự thất bại của Hoa Kỳ trong cuộc chiến Việt Nam bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân.

Sự thiếu tin cậy QLVNCH

            Ngay từ những năm đầu tham dự vào cuộc chiến Việt Nam, người Mỹ đã tỏ ra thiếu tin cậy Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (QLVNCH) vì nghĩ rằng đó là một quân đội còn qúa trẻ, chưa có kinh nghiệm chiến trường. Vì không tin tưởng vào sự chiến đấu của QLVNCH, họ đã muốn giành lấy cuộc chiến từ người Việt và cố gắng muốn thắng nó về mặt quân sự một cách chớp nhoáng. Họ nghĩ rằng với những vũ khí tối tân và một lực lượng hùng hậu với hơn nửa triệu binh sĩ Mỹ có mặt ở Việt Nam, họ sẽ dễ dàng đạt được chiến thắng.

            Tuy nhiên Hoa Kỳ đã không thành công. Nhưng, phải đợi đến khi có cuộc tấn công của VC vào dịp Tết Mậu Thân 1968, trước sự chiến đấu dũng cảm của người lính VNCH, Hoa Kỳ mới có một cái nhìn khác về QLVNCH. Tướng Creighton W. Abrams, người thay thế Tướng Westmoreland trong chức vụ tư lệnh các lực lượng Mỹ ở VN (MACV) sau đó, đã có một cái nhìn rất khác về bản chất cuộc chiến và đồng thời chỉ ra nó nên được thi hành như thế nào. Ông nhấn mạnh đến một cuộc chiến tranh của những cuộc hành quân chiến đấu, sự bình định, và đặc biệt cần nâng cấp QLVNCH. Đáng chú ý là hai nhiệm vụ sau đã từng bị bỏ quên trong một thời gian dài nay được xem là quan trọng và ưu tiên ngang với những cuộc hành quân quân sự.

            Những sự thay đổi và tiến bộ

            Từ trên căn bản đó, kể từ sau Tết 1968, mục đích của các cuộc hành quân cũng đã có sự thay đổi. Thay vì “tìm và diệt” (search and destroy) như dưới thời Tướng Westmoreland thì nay là “bình định và chiếm giữ” (clear and hold), có nghĩa là khi các lực lượng cộng sản bị đẩy ra khỏi các khu dân cư, những khu vực này phải được đồn trú bởi các lực lượng đồng minh, không thể để cho địch tái chiếm lại sau này. Với ý tưởng đó, lực lượng diện địa Miền Nam – chủ yếu là các đơn vị Địa Phương Quân và Nghĩa Quân –  đã được phát triển một cách rộng lớn qua nhiệm vụ an ninh lãnh thổ. Trung Tướng Nguyễn Duy Hinh đã nói rằng “việc mở rộng và nâng cấp các lực lượng Địa Phương Quân và Nghĩa Quân là một trong những đóng góp quan trọng và xuất sắc nhất của Hoa Kỳ trong nỗ lực giải quyết chiến tranh.” Thiếu Tướng Ngô Quang Trưởng cũng coi những lực lượng này như là “lực lượng chủ yếu của guồng máy chiến tranh” và cho rằng “những sự thành công như bình định thôn ấp, con số người dân sống dưới sự kiểm soát của chính quyền VNCH, hay sự giao thông thuận lợi phần lớn nhờ vào những hành động can đảm nhưng ít được ca tụng của các đơn vị Địa Phương Quân và Nghĩa Quân”.

            Trong thời gian chiến tranh, nhiều quan sát viên – kể cả một số người Mỹ làm việc tại VN – đã chỉ trích QLVNCH hoạt động kém hiệu qủa. Những sự chỉ trích như vậy không căn cứ vào một số những yếu tố liên hệ. Họ chỉ căn cứ trên những kết qủa trên chiến trường mà không cần tìm hiểu những nguyên nhân. Chẳng hạn như, họ không quan tâm đến sự yểm trợ tiếp liệu, vũ khí của Mỹ cho QLVNCH trong thời gian đầu rất giới hạn, phần lớn gồm toàn những vũ khí cũ kỹ có từ thời Đệ II Thế Chiến, trong đó có loại súng trường M-1 nặng nề và thô kệch. Trong khi đó, kẻ thù (VC) đang được cung cấp những vũ khí hiện đại nhất từ những quan thầy Trung Quốc và Liên Sô của chúng.

            Sau cuộc tấn công Tết Mậu Thân của cộng sản, Hoa Kỳ mới bắt đầu chuyển giao một số súng trường M-16 cho các đơn vị nhảy dù và một vài đơn vị nổi bật của Miền Nam; tuy nhiên mức độ và cấp số vẫn còn thua kém địch quân. Thiếu Tướng Đồng Văn Khuyên, sĩ quan tiếp vận cao cấp của VNCH, đã kể lại rằng, “Trong cuộc tấn công Tết 1968 của địch, những tiếng súng AK-47 vang liên hồi, ròn rã ở Sài Gòn và một số thành phố khác dường như đã tạo ra một sự chế riễu về những tiếng súng đơn lẻ, yếu hơn của những khẩu Garants và carbines được bắn bởi những người lính VNCH thân thương một cách tội nghiệp.”

            Mặc dù như vậy, lực lượng quân sự VNCH vẫn đẩy lui được cuộc tấn công Tết một cách đáng khâm phục như tạp chí Time đã báo cáo, “QLVNCH đã đương đầu với cuộc giao tranh ngay từ lúc khởi đầu với sự dũng cảm và quyết chiến làm ngạc nhiên nhiều giới chức Mỹ và làm khiếp đảm bọn Cộng sản, họ đã thực hiện tốt hơn cả sự mong đợi của bất cứ ai.”

            Chính Tướng Abrams đã phải nhìn nhận rằng, trong cuộc “Tấn Công Thứ Ba” của cộng sản trong năm 1968, từ tháng 8 đến tháng 9, “QLVNCH đã giết hại địch quân nhiều hơn tất cả các đồng minh khác cộng lại.” Ông nói, “Trong thời gian này, họ cũng phải chịu đựng số tử trận nhiều hơn, so với các đơn vị bạn.” Ông nói với Tướng Tham Mưu Hỗn Hợp Earle Wheeler, “Đây là một nhiệm vụ mà người Miền Nam VN đã thực hiện rất tốt, mặc dù họ tương đối được yểm trợ ít hơn so với các lực lượng Mỹ có pháo binh, không trợ, hỏa lực và trực thăng vận hỗ trợ.”

            Bắt đầu từ năm 1969 với kế hoạch Việt Nam hóa chiến tranh, Hoa Kỳ bắt đầu tiến hành việc rút lui các lực lượng trên bộ của Mỹ. Cũng kể từ đó, các lực lượng diện địa của VNCH – từ lâu vẫn bị thờ ơ – nay mới được cung cấp các súng trường M-16, để làm nhiệm vụ trấn giữ trong kế hoạch bình định và chiếm giữ (clear and hold). Nhờ những lực lượng này mà càng ngày càng có thêm nhiều lãnh thổ được kiểm soát, một số lớn VC đã “qui thuận” VNCH và phía đồng minh. Sự việc này đã lên đến cao điểm là 47.000 vào năm 1969, và 32.000 người khác trong năm 1970. Với con số 8.689 bộ đội của một sư đoàn Bắc Việt thì con số địch quân bị mất vì đào ngũ (hay hồi chánh) đó đã tương đương với khoảng chín sư đoàn chỉ trong hai năm.

            Lewis Sorley, một sử gia cựu chiến binh từng phục vụ tại Việt Nam, đã từng đưa ra nhận định từ năm 1972 là, “Chiến tranh sẽ tất thắng. Tuy cuộc chiến chưa chấm dứt, nhưng chiến tranh nhất định sẽ thắng. Lý do nó sẽ thắng là Nam VN đã chứng tỏ khả năng với sự yểm trợ của Mỹ để duy trì độc lập và tự do. Đây là sự thành công của Miền Nam VN.”

            Một phần của sự thành công này là VNCH đã loại bỏ được các hạ tầng cơ sở của địch tại các xã, ấp ở nông thôn Miền Nam VN qua một chương trình phối hợp vừa quân sự vừa tình báo có tên là “Chương Trình Phượng Hoàng”. Chương trình được triển khai nhằm vô hiệu hóa các thành viên của các hạ tầng cơ sở. Kết qủa, trong năm 1968, đã có khoảng 15.000 thành viên của cơ sở hạ tầng VC bị vô hiệu hóa, 15 % đã bị giết, 13 % qui thuận chính quyền và 72 % bị bắt giữ.

            Tiếp đó, Miền Nam ngoài việc đảm nhiệm tác vụ chiến đấu từ phía những người Mỹ đang rút đi, còn phải đương đầu với nhiều thay đổi trong chính sách. Trong số những sự thay đổi chính sách, quan trọng nhất là bỏ những kế hoạch lưu trú dài hạn cho một lực lượng đồn trú Mỹ ở lại Nam VN vô hạn định, và thay thế bằng các đơn vị của QLVNCH. Tướng Abrams đã minh định rõ làm thế nào cho VNCH đạt được yêu cầu càng ngày càng cao. Ông nói, “Chúng ta bắt đầu từ năm 1968, chúng ta sẽ đạt được những điều này trước năm 1974 để họ có thể thắng được VC. Sau đó họ có thể thay đổi mục tiêu để càn quét cả VC và quân đội Bắc Việt ở Nam VN.”

            Trong tháng giêng năm 1972, John Paul Vann, một sĩ quan cố vấn cao cấp trong kế hoạch bình định, đã nói với các người bạn: “Chúng ta hiện đang ở mức độ thấp nhất của cuộc chiến tranh. Ngày nay không thể chối cãi, nông thôn ở VN đã có một vẻ thịnh vượng. Đường xá ngày nay đã được mở rộng, nhiều cầu đã được xây dựng, và các bạn có thể gặp rủi ro vì những chiếc xe Honda và Lambretta đang chạy hối hả, ồn ào, chen lấn trên đường lộ ở VN hơn là bởi VC.”  Vann nói tiếp, “Chuơng trình Việt Nam hóa rõ ràng đã thành công ngoài mơ ước của tôi.” Đó là những sự thành công của Nam VN.

            Vào cuối tháng 3 năm 1972 (Mùa hè đỏ lửa), quân đội Bắc Việt đã tung ra một cuộc xâm lăng qui mô Miền Nam VN với 20 sư đoàn trong một cuộc chiến thật đẫm máu. “Kế hoạch của địch dù đã được chuẩn bị công phu vẫn bị đánh bại”, ký gỉa Douglas Pike đã viết như thế, “bởi vì không yểm đã ngăn chặn những lực lượng lớn, và nhờ cuộc chống trả kiên quyết, thật anh hùng của Nam VN. Sự thiệt hại nặng nề đã giáng xuống cho Quân đội Nhân Dân Bắc Việt, và hệ thống giao thông liên lạc của địch.” Nhưng quan trọng hơn cả, theo Pike là “binh sĩ của QLVNCH và ngay cả các lực lượng địa phương đã đứng vững và chiến đấu anh dũng chưa từng thấy.”

            Sự dũng cảm đáng vinh danh

            Nhưng chiến thắng của QLVNCH trong “mùa hè đỏ lửa” đã bị truyền thông Mỹ hạ thấp khi họ nói rằng VNCH đã đẩy lui được những kẻ xâm lăng là nhờ có sự yểm trợ của không quân Mỹ. Tuy nhiên, Tướng Abrams đã phản bác lại một cách mạnh mẽ. Ông nói với các cấp chỉ huy dưới quyền rằng: “Tôi không nghĩ rằng kết qủa này là do có sự không yểm của Mỹ; kết qủa này có được là do người Việt Nam, một số lớn trong số họ đã quyết tâm chiến đấu. Nếu họ không có quyết tâm như vậy thì dù có mười lần không yểm của chúng ta, họ cũng chẳng thể ngăn chặn được sự tấn công.”

            Người lính VNCH với lòng dũng cảm hòa với máu, họ đã đánh bại kẻ thù trong Mùa Hè Đỏ Lửa 1972. Nhưng truyền thông Mỹ lại chỉ trích tỏ ra coi thường các lực lượng võ trang của Miền Nam vì cho rằng VNCH đã có sự trợ giúp của Mỹ mới đạt được như vậy. Thật là không công bằng khi họ quên rằng, cùng lúc đó, có khoảng 300.000 lính Mỹ đồn trú tại Tây Đức để giúp cho NATO ngăn chặn Sô Viết và khối Warsaw (liên minh quân sự Đông Âu) không xâm lấn Tây Âu. Ngoài ra, còn có 50.000 quân Mỹ ở Nam Hàn cũng để giúp cho quốc gia này đương đầu với sự xâm lăng từ phương Bắc.

            Hiệp Định Paris “nhằm chấm dứt chiến tranh và tái lập hòa bình cho Việt Nam” được ký kết vào tháng Giêng 1973 có những điều khoản bị xem là tai hại cho VNCH (như Bắc Việt được phép giữ lại một lực lượng lớn ở Miền Nam). Nhằm thuyết phục VNCH đồng ý ký kết, Tổng Thống Richard M. Nixon đã nói với Tổng Thống Thiệu rằng nếu Bắc Việt vi phạm những điều khoản của bản hiệp định và thực hiện sự xâm lăng Miền Nam, Hoa Kỳ có thể can thiệp bằng quân sự để trừng phạt họ. Ngoài ra, Nixon còn nói rằng nếu cuộc chiến bùng nổ trở lại, Hoa Kỳ sẽ thay thế trên nền tảng “một đổi một” bất cứ một chiến cụ chính yếu nào (xe tăng, pháo binh và vân vân) bị thất thoát bởi Nam VN, như được cho phép bởi Hiệp Định Paris. Và cuối cùng, Nixon đã nói, Hoa Kỳ có thể tiếp tục yểm trợ mạnh mẽ về tài chánh cho VNCH. Nhưng khi những sự việc sau này bị bật mí người ta mới thấy rằng Hoa Kỳ đã mặc nhiên làm ngơ cả ba lời hứa hẹn đó.

            Trong khi đó, Bắc Việt vẫn tiếp tục nhận được sự ủng hộ với mức độ chưa từng có từ những quan thầy của nó. Theo một cuốn sử được xuất bản ở Hà Nội năm 1994, từ tháng 1 đến tháng 9 năm 1973, chín tháng tiếp theo Hiệp Định Paris, con số tiếp liệu gởi từ Miền Bắc cho những lực lượng của nó ở trong Nam đã tăng gấp bốn lần so với toàn năm trước.

            Theo nhiều nhà phân tích, nếu VNCH tránh né không ký hiệp định Paris, không chỉ chắc chắn rằng Hoa Kỳ đã sắp đặt không cần họ, mà cả Quốc Hội Mỹ cũng có thể sẽ cắt ngay sự viện trợ cho Miền Nam. Nói một cách khác, nếu VNCH chấp thuận ký, để tiếp tục được nhận viện trợ của Hoa Kỳ, họ phải chấp nhận là để quân Bắc Việt ở lại đe dọa trong lãnh thổ của mình. Với những dự báo chết người như vậy, VNCH đã chọn giải pháp sau, mà sau đó họ đã nhanh chóng nhận ra – thật đáng sợ – cả hai đều tệ hại: các lực lượng Bắc Việt được an toàn ở lại trong Nam, còn sự viện trợ của Mỹ cuối cùng rồi cũng vẫn bị cắt.

            Nhiều người Mỹ không muốn nghe nói rằng các nước độc tài toàn trị như Trung Quốc và Liên Sô đã chứng tỏ tốt hơn và là những đồng minh đáng tin tưởng hơn là nuớc Mỹ dân chủ. William Tuohy, người đảm trách (tin) chiến tranh trong nhiều năm cho tờ The Washington Post ở VN, đã viết “Thật không thể tưởng tượng và chắc chắn không thể tha thứ được rằng, một nước lớn lại bỏ mặc người bạn đồng minh vô vọng này cho sự thương xót của Bắc Việt. Thế nhưng đó là cái chúng ta đã làm.”

            Đại tá William LeGro đã phục vụ tại văn phòng Tuỳ Viên Quân Sự Mỹ ở Sài Gòn (D.A.O.) cho đến khi chiến tranh chấm dứt. Từ vị trí này ông đã thấy rõ ràng những gì đã xảy ra. Ông nhận xét “sự cắt giảm hầu như là tới con số không các viện trợ của Hoa Kỳ chính là nguyên nhân của sự sụp đổ sau cùng. Chúng ta đã làm một điều thật qúa đáng đối với Nam VN.”

            Vào lúc gần cuối cuộc chiến, Tom Polgar, Trưởng Phòng CIA tại Sài Gòn, đã gởi một bức điện tóm tắt tình hình như sau: “Khó còn nghi ngờ kết qủa cuối cùng, bởi vì Miền Nam VN không thể sống sót mà không có sự yểm trợ quân sự của Mỹ trong khi khả năng gây chiến của Bắc Việt thì không hề bị yếu đi và được hỗ trợ bởi Liên Sô và Trung Quốc.”

            Một kết cuộc cay đắng

Cái gía phải trả của người dân Miền Nam cho cuộc chiến thật bi thương. Như đã được dự báo từ cái hiệp định Paris, chiến tranh Việt Nam đã kết thúc vào cuối tháng 4-1975, cùng với sự bức tử của VNCH. Kiểm điểm lại, lực lượng quân sự Miền Nam đã bị tử thương khoảng 275.000. Khoảng 465.000 thường dân khác đã bị giết, nhiều người trong số đó đã bị ám sát bởi bọn khủng bố VC hoặc bị chết vì pháo kích của địch vào các thành phố, và khoảng 935.000 người bị thương hoặc tàn phế.

            Sau tháng 4-1975, hơn một triệu người đã trở thành “thuyền nhân”, một số chưa rõ đã bỏ mình trên biển cả – có thể trên 100.000, theo lời ông Bộ Trưởng Di Trú của Úc Đại Lợi Michael MacKellar. Riêng tại VN khoảng 65.000 người khác đã bị hành quyết bởi những người tự nhận là giải phóng. Khoảng 250.000 hay hơn đã bị hành hạ trong những trại tù được mệnh danh là “học tập cải tạo” thật khắc nghiệt. Cho đến nay, đã có khoảng 2 triệu người đã rời bỏ quê nhà tạo nên một quê hương VN mới tại hải ngoại.

                                                     ***

            Để kết luận, chiến tranh VN là một cuộc chiến tranh chính nghĩa mà người dân Miền Nam VN và những đồng minh của họ đã chiến đấu cho những mục đích thật đáng ca ngợi. QLVNCH đã từng chiến đấu vì mục đích cao cả đó. Họ đã hết lòng vì nó, và họ đã gần như gần đạt được mục đích của họ là nhằm đưa Miền Nam VN trở thành một quốc gia tự do và độc lập, nhưng tiếc thay họ đã bị người bạn đồng minh phản bội khiến cho giấc mộng của họ đã không thành.

                                               TOÀN NHƯ

(Phỏng theo Reassessing The ARVN – Vietnam Magazine)

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thẩm Định Lại Quân Lực VNCH_ Bài của Toàn Như

Kỷ Niệm Ngày Quân Lực VNCH

Mung ngay qLVNCH

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Kỷ Niệm Ngày Quân Lực VNCH

K1 Phan Tấn Ngưu và đài Tiếng Hát Hậu Phương

Kính mời Quý NT và các bạn xem video ” Đài Tiếng Hát Hậu Phương phỏng vấn cựu Thiếu Tá CSQG Phan Tấn Ngưu

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở K1 Phan Tấn Ngưu và đài Tiếng Hát Hậu Phương

Happy Father’s Day_ Thơ Phương Trúc NHA

Sắp đến Father’sDay, như một hoài niệm không thể thiếu của một người con hiếu thảo, một lần nửa nhà thơ K1 Phương Trúc NHA  gởi đến CNN bài thơ ” Có Những Người Cha” để chia xẽ tâm tình đến quý NT và các bạn.
Happy Dad's day

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Happy Father’s Day_ Thơ Phương Trúc NHA

Ngày Cảnh Lực 1/6 tại Minnesota

Kính gởi đến quý NT và các bạn video Ngày Truyền Thống Cảnh Lực 1/6 tại Minesota do K1 Lê Hữu Nghĩa thực hiện và ưu ái gởi đến CNN. Cám ơn bạn Nghĩa.

Phần 1:

Phần 2:

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Ngày Cảnh Lực 1/6 tại Minnesota

Mừng sinh nhật tháng Sáu

 

Slide2

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Mừng sinh nhật tháng Sáu

Một ngày tại Washington DC

Cuối tháng 5 vừa qua mình có một chuyến đi đến vài tiểu bang Đông Bắc Hoa Kỳ. Trước khi đi mình có nhờ bạn Toán cho vài địa chỉ K1 để có thể thăm nhau.
-Tại Virginia mình may mắn gặp được K1 Nguyễn văn Hoàng tai khu Eden Shopping Center. Đây là khu thương mại của người Việt gồm hơn 120 của hàng, nơi mà trước khi về hưu giữ cháu Nội cháu Ngoại, Hoàng cai quản khu nầy.
IMG_0976Muốn thăm thêm vài K1 ở đây nhưng gọi phone chẳng ai bắt máy.
Ngày thứ Bảy 23/5 mình tháp tùng một nhóm PT đạo tràng Liên Hoa ở Virginia đi Washington DC để cầu siêu cho các chiến binh Hoa Kỳ bỏ mình trong cuộc chiến VN chống Cộng sản bảo vệ thế giới tự do và Miền Nam Việt Nam.IMG_1159 IMG_1179 IMG_1217IMG_1050

Đúng ra đến thứ Hai 25/5 mới là ngày Memorial Day, nhưng thân nhân và bè bạn cựu quân nhân Hoa kỳ đến vào ngày thứ Bảy để xịt nước rửa bụi bám trên” Bức Tường Đen” ( giống như người VN mình đi trẩy mã vậy).IMG_1065 IMG_1076 IMG_1083 IMG_1089

Không thấy có cộng đồng Người Việt, chỉ có hơn 10 người thuộc Câu Lạc Bộ Nhiếp ảnh VN. Nhưng khi thấy bà con mình đi đến cắm hoa  với lá cờ vàng ba sọc đỏ, nhiều người Mỹ rất xúc động và nói lời cám ơn chúng ta.IMG_1208 IMG_1211IMG_1221 IMG_1224

Mình cũng có ghé thăm bức tường có vẻ chân dung các người lính Hoa Kỳ chết trong cuộc chiến Triều Tiên.IMG_1144 IMG_1145 IMG_1153

Muốn ghé thăm Nguyễn Năng Thỏa, nhưng bạn Hoàng cho biết  bạn Thỏa bị bệnh giờ hay quên, không nhớ nhiều và ở quá xa , không ai hướng dẫn nên không thăm K1 NN Thỏa được.
Đến Washington DC nhưng không được đến gần tòa Bạch Ốc vì đang sửa chửa và rào chắn từ xa. Một vài hình ảnh của Washington DC gói gọn trong slideshow dưới đây xin được chia xẽ với các bạn.

Trình chiếu này yêu cầu JavaScript.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Một ngày tại Washington DC

Gia Đình K1 Nguyễn-Thị-Cẩm-Y Đón Mừng Đồng Môn K1 HV/CSQG Tai Tư Gia

Vừa qua, nhân dịp có một số K1 về dự Đại Hội TH/CSQG Kỳ 7 tại Nam CA, các ACE K1 tại Little Saigon đã có buổi họp mặt “mini” tại nhà K1 Cẩm Y. DSC_5362 (1)

Nhân dịp nầy K1 Cẫm Y trổ tài nấu món  “Bún Bò Huế” đải bạn ta . Trong buổi Hội Ngộ Mini nầy thấy có NT Trần Minh Công.DSC_5340

Phó nhòm Võ Thiệu ghi lại một số hình ảnh  xin được post lên CNN để cho các bạn ở xa cùng xem.

Trình chiếu này yêu cầu JavaScript.

 

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Gia Đình K1 Nguyễn-Thị-Cẩm-Y Đón Mừng Đồng Môn K1 HV/CSQG Tai Tư Gia

Cặp Gà Tre thăm K1 Bắc Cali

Tiếp nối K1 NV Tăng, cặp Gà Tre Houston cũng làm một chuyến đi Bắc Cali thăm anh em K1. Hình do Khĩ đột BH cung cấp. Hí Hí

Trình chiếu này yêu cầu JavaScript.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Cặp Gà Tre thăm K1 Bắc Cali

K1 Nguyễn văn Tăng thăm K1 Bắc Cali

unnamedNhân dịp về Cali tham dự Đại Hội Tổng Hội CSQG và hội ngộ anh chị em K1 tai Nam Cali. K1 Nguyễn văn Tăng đã dành một ngày họp mặt với một số K1 tại San Jose Bắc California.
Một số hình ảnh của buổi họp mặt do K1 Hạp gởi cho CNN sau đây.

unnamed (1) unnamed (2) unnamed (3) unnamed (4) unnamed (5) unnamed (6) unnamed (7) unnamed (8) unnamed (9) unnamed (10) unnamed (11) unnamed (12) unnamed (13) unnamed (14) unnamed (15) unnamed (16) unnamed (17) unnamed (18) unnamed (19) unnamed (20) unnamed (21) unnamed

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở K1 Nguyễn văn Tăng thăm K1 Bắc Cali

Ngày Truyền Thống CSQG tại Bắc California

Kính mời quý NT và ACE xem video: Ngày Truyền Thống Cảnh Sát Quốc Gia 1/6 năm 2015 tổ chức tại San Jose Bắc California. Video do đài SBTN thực hiện

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Ngày Truyền Thống CSQG tại Bắc California

Thư Chúc Mừng của Tổng Hội

Thu chuc mung cua Tong Hoi

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thư Chúc Mừng của Tổng Hội

Happy Birthday in June

Mặc dầu mình có công việc phải đi xa vài tuần, nhưng mình cũng chuẩn bị sẵn thiệp Chúc Mừng Sinh Nhật tháng Sáu cho các bạn.

Các bạn có sinh nhật vào cuối tháng sáu thì chờ mình về sẽ gởi sau.

HAPPY BIRTHDAY!

Slide1

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Happy Birthday in June

K1 Bắc Cali San Jose dự cúng 100 ngày Đổ Thám

Thưa Qúy bạn.    Sáng nay, Chủ nhật/ 17/5/15  luc 11.30 đai diện các k1/ Vùng Bắc CA gồm :

     -K1 Phan quang Nghiệp  -K1 Phạm văn Bổn  -K1 Nguyễn Hoài Ân  K1Võ Lâu  K1 B.Hồng  K1 ĐVHạp đã tới  tư thất của Gia Đình  K1 Đỗ Thám tại  Gilroy nam Sạnjose để cúng 100 ngày cho  K1 ĐỖ THÁM. Chị Thám còn khỏe mạnh, ở với  gia đình con trai lớn, chị vẫn còn đi làm cho một hãng điện . Chi vui với công việc đang làm, chăm lo các cháu . Cúng 100 ngày cho Thám, tất cả con , cháu dâu ,rể thân tộc, ban be đều tề tựu đông đủ..  Sau khi cúng mọi người  dùng cơm gia đình do chính các con gái . con dâu nấu rất ngon các món chay và mặn…!!..Môt điều đặc biệt là…các con, dâu , rể cháu đã tiếp khách rất ân cần…vui vẻ , thoải mái…!!..Bố Thám mất…chúng quây quần bên  Mẹ…chăm lo cho Mẹ…!

    Con gái lớn nói :  ” Bác Hạp, có sinh hoạt gì của Cảnh Sát…nhớ cho con biết….ở đâu con cũng chở Mẹ con đi…!!..”

      Thắp nhang cho Thám…. thương Bạn vô vàn…!!..bao năm chiến tranh…tù đày…tỵ nạn…định cư…khó khăn nào rồi cũng qua đi…!!  Đúng lý ra , thời gian này…là lúc  Bạn được hưởng…những gì đang có…!! Nhưng không..!! bỏ lại tất cả…lặng lẽ ra đi…cho tới nay đã 100 ngày….!!  Mưu sự tại nhân….nhưng,..thành sự tại …Thiên..!!  Đinh mệnh đã an bài…!!…Phái đoàn K1/ BắcCA  dời Gilroy lúc 2pm.

Cám ơn GiaĐình K1/ Thám  đã dành cho phái đoàn sự tiếp đãi thân tình, vui vẻ..!!

       Đinh văn Hạp tường trình:

Trình chiếu này yêu cầu JavaScript.

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở K1 Bắc Cali San Jose dự cúng 100 ngày Đổ Thám

Đời Học Sinh_ NCV

image001

TQC Nguyễn Công Vinh

IMG_0001Học xong lớp đệ tứ tại trường trung học Trần Cao Vân – Tam Kỳ thì đám học trò nhà quê chúng tôi được ra trường tỉnh học. Năm đó ở Tam Kỳ chưa có đệ nhị cấp nên một số phải ra Đà Nẵng hay theo cha mẹ dời đi các tỉnh khác, còn lại đa số chúng tôi đều ra học tại trường Trung Học Trần Quí Cáp Hội An.

Từ nhỏ đến lớn, tôi chưa bao giờ đặt chân đến Phố Hội nên không biết nó ra sao. Trước khi vào năm học mới, vài thằng bạn cùng lớp ở quê tôi rủ nhau ra Hội An chơi cho biết. Từ Hà Lam Thăng Bình, bọn tôi đi xe đạp dọc theo Quốc lộ số 1 ra Vĩnh Điện rồi rẽ phải xuống Hội An. Đến chùa Cầu, chúng tôi dừng lại ngắm nhìn tượng mấy chú Chó và Khỉ ngồi giữ hai bên đầu cầu. Sau đó, chúng tôi đạp xe đi thẳng xuống đường Cường Để. Điểm lôi cuốn chúng tôi nhất là hai tiệm sách Bình Minh và Nhất Tiếu. Đứa nào cũng mua vài quyển sách Toán Lý Hóa lớp đệ Tam đem về học trước (dân học gạo mà). Đạp lanh quanh mấy đường phố, cái gì đối với chúng tôi cũng đều mới lạ. Thấy mấy anh thanh niên đánh bóng bàn chúng tôi dừng lại xem. Mê quá, trong quê tôi chưa bao giờ có trò chơi nầy. Tôi bèn nảy ra ý nghĩ mua vài trái banh mang về, rồi lấy gỗ hay bìa cứng làm vợt rủ mấy đứa bạn đánh trên bộ ván mít cũng được. Thế là tôi đem về quê tôi cái trò chơi đó cho tụi con nít chúng tôi chơi. Sau nầy, môn bóng bàn được phổ biến rộng rãi, nhưng có ai biết chính thằng Vinh tui là người đầu tiên đem môn thể thao nầy về quê hương Thăng Bình.

Rồi năm học đến, tôi từ giã mẹ và mấy em để ra tỉnh học. Cha tôi mất khi tôi vừa học xong lớp đệ Ngũ, ông để lại cho tôi một cái cặp da và bây giờ nó là vật quý giá đối với tôi. Sách vở và vài bộ đồ bỏ vào trong cặp theo tôi suốt cuộc đời học sinh. Nhà tôi ở chợ Hà Lam, từ đó xuống bến xe chừng nửa cây số, tôi xách chiếc cặp da đi trước, mẹ tôi đội nón lá đi theo sau miệng lúc nào cũng cười tươi, nhất là khi có người hỏi, “Đi đâu đó chị Dinh”; mẹ tôi trả lời, “Đưa thằng Dinh đi học” (quê tôi thường gọi tên người cha hay mẹ bằng tên của đứa con đầu. Tôi tên Vinh nên bà con gọi cha tôi là anh Vinh, gọi mẹ tôi là chị Vinh). Mẹ tôi vui lắm, mà không vui sao được khi con của bà là một trong số mấy đứa học trò đầu tiên ở quê ra tỉnh học.

Hành trang của tôi gồm vài ký gạo và 5- 10 đồng mẹ cho đem theo đi học. Đến Hội An việc đầu tiên là kiếm chỗ ở trọ. Tôi may mắn được một chị nhà ở gần khu Công Chánh cho trọ học. Tôi gởi chị hết số gạo và tiền để nhờ chị lo cơm nước. Nhà chị rất nghèo nhưng chị lúc nào cũng vui vẻ lo giúp cho chúng tôi như người chị lo cho mấy đứa em. Chúng tôi không phải trả tiền nhà hay bất cứ tiền gì khác.
Học sinh con trai chúng tôi phần lớn có khiếu về toán nên tôi chọn học ban B. Học Ban B oai lắm, đi lúc nào ngực cũng ưỡn lên vì trên túi áo có thêu bảng tên “Đệ Tam B2” màu xanh rất nổi. Có lẽ nhờ học ban B mà ba bốn tháng sau tôi được người quen giới thiệu đi làm gia sư, một nghề không khác chi làm đầy tớ, kẻ giúp việc để trông coi, nhắc nhở mấy đứa nhỏ học bài, giúp mấy đứa nhỏ làm bài tập, dạy cho tụi nhỏ làm toán….Có vài đứa bạn gia đình khá giả nhưng cũng chịu khó đi làm gia sư như chúng tôi để kiếm them tiền. Các bạn ấy chỉ đến dạy mỗi tối vài giờ xong rồi về, cuối tháng chủ nhà cho ít tiền. Còn tôi thì được ăn ở lại luôn trong nhà người chủ, nên hàng tháng về quê không phải cõng gạo ra nữa. Làm gia sư là thế đó, bỏ công sức và kiến thức ra, đổi lấy miếng cơm, để đi học. Nghề gia sư lý tưởng, cao đẹp lắm chứ, nhưng bọn tôi ít khi chịu nhận hai chữ gia sư, gọi thế nghe cổ lỗ sĩ quá, nhà quê quá. Chúng tôi thường gọi là Précepteur cho nó oai, cho ra vẻ Tây một chút. Làm gia sư, nếu gặp được chủ nhà tử tế nhân hậu coi mình như con em thì được thoải mái hơn. Nhiều bạn có phước gặp được gia đình quý mến, được trò yêu nhất là học trò gái, nên có nhiều trường hợp gia sư sau nầy trở thành con rể trong gia đình mới hay chứ. Còn bạn nào vô phước gặp được chủ nhà khó khăn, coi mình như người làm, thì cuộc sống quả là vất vả. Nhưng thành thật mà nói bọn học trò nghèo chúng tôi rất biết ơn những gia đình nầy, dầu sao cũng nhờ có họ mà cha mẹ chúng tôi đỡ vất vả, việc học hành của chúng tôi mới được thăng tiến. Năm Đệ Tam, tôi dạy kèm cho hai cậu bé nhỏ hơn tôi 5-6 tuổi, ở với bà nội. Bà già làm nghề trồng hoa nên bận rộn suốt ngày, còn cha mẹ hai cậu nhỏ đi làm công chức tận ngoài Huế lâu lâu mới về. Mỗi đêm, cơm tối xong tôi bắt đầu kèm cho hai em học từ 2 đến 3 tiếng đồng hồ, chờ cho chúng thuộc bài mới cho đi ngủ, sau đó tôi mới có thì giờ lo cho mình. Tôi được bà chủ dành cho một chỗ ngủ, sâu trong một góc nhà đủ chỗ để nằm, nên rất chật vật. Hội An lúc bấy giờ điện đóm còn hạn chế, gặp mấy ngày trời nóng mà nằm trong góc tối om nầy với ngọn đèn dầu leo lắt thì làm sao mà học đây. Mấy đứa bạn cùng trang lứa với tôi rủ nhau ra ngoài nhờ ánh đèn đường để học. Đường khuya vắng vẻ, không xe cộ, không người qua lại, ngoài trời về đêm mát dễ chịu, và ánh đèn đường sáng trưng. Đó chính là nơi học tập lý tưởng của chúng tôi. Bầy thiêu thân bay đầy trên đầu, thỉnh thoảng vài con cà cuống xẹt qua xẹt lại và đâu đây tiếng gõ lốc cốc của người bán phở dạo vọng lại, làm cho buổi học của chúng tôi thêm vui. Thường thì bọn tôi chia nhau mỗi đứa một trụ điện. Đứa nào cũng có sẵn trong túi vài ba viên phấn trắng, phấn màu và lấy mặt đường nhựa làm bảng đen để viết, để vẻ, để làm bài. Nhiều bài học, bài toán, hình học được vẽ trên mặt đường trông rất đẹp mắt. Sáng hôm sau xe cộ và khách bộ hành đi qua đi lại xóa mờ đi, để rồi tối hôm sau chúng tôi có chỗ học tiếp . . .
Lấy kinh nghiệm từ năm trước, qua năm Đệ Nhị, trước ngày khai giảng chúng tôi qua trường Nam Tiểu học sát bên trường Trần Quý Cáp nhờ giáo viên ở đó hỏi xem có gia đình nào cần người dạy kèm không. Ngày hôm sau tôi được một gia đình nhà trên đường Trần Hưng Đạo nhờ tôi đến dạy kèm cho một em học sinh lớp Nhứt. Gần đó có bạn Lê Bá Mỹ và Trần văn Đằng người cùng quê cũng đang làm gia sư nên anh em chúng tôi thường lui tới chơi thân với nhau. Cố gắng thi lấycho được bằng Tú Tài I nên chúng tôi học hành rất căng. Tôi không có đủ tiền mua sách nên thường đến các bạn mượn về học. Trong số đó có bạn Trần văn Phát (tên Phát, nhưng họ thì có thể đã quên) người Hoa. Nhà của ba mẹ Phát một mặt hướng ra đường Bạch Đằng (bờ sông), một mặt mở ra đường Nguyễn Thái Học. Những gia đình nầy mỗi năm đến mùa mưa lụt, nước sông dâng lên ngập đến ba con đường, nên phải dùng ghe đi lại trong nhà.
Trong lớp, tôi là cậu học trò nhà quê, rụt rè ít nói, không giống như thằng Vạng, thằng Viết (dân Bắc Kỳ) phá trời không sợ thiên lôi. Một hôm trong giờ toán, thầy Tuệ ra một bài phương trình bậc hai. Nhiều đứa còn ngậm bút thì tôi làm xong rồi. Thằng bạn ngồi bên thúc, “Mầy lên đi, mầy lên đi”. Thầy Tuệ thấy thế bèn gọi tôi lên và tôi đã giải bài toán đó một cách gọn ghẽ. Thầy biết tôi thiếu sách vở nên vài tháng sau thầy về thăm gia đình ở Saigòn rồi đem ra cho tôi một chồng sách cũ của thầy. Nhờ những quyển sách nầy mà tôi đậu Tú tài I ngay trong lần thi đầu tiên. Ơn nầy tôi không bao giờ quên. Đầu năm 1989, cựu học sinh Trần Quý Cáp Hội An tổ chức họp mặt lần đầu tiên (tôi nghĩ thế) tại Sàigòn. Vừa ở tù cải tạo ra nên tôi chỉ đứng từ xa nhìn vào chứ không dám lại gần. Tôi cố đến gặp thầy, lòng tôi rất mừng, nhưng thầy thì đã quên tôi, vì sau 26 năm lìa xa trường củ và với 13 năm trong lao tù cộng sản, cậu học trò ngày xưa nay đã tàn tạ rồi.

Trở lại câu chuyện gia sư. Tôi ở nhà nầy được ba bốn tháng thì bỗng dưng xuất hiện hai đứa con gái, một đứa lớn hơn tôi mấy tuổi, còn đứa kia thì nhỏ hơn năm sáu tuổi. Hai đứa con gái nầy chắc là chị em với nhau, cháu con của bà chủ quê ngoài Quảng Trị, bả đem tụi nó về để lo cơm nước trong nhà. Mỗi khi tôi học bài hay dạy cho cậu học trò của tôi thì hai đứa thường lần mò đến hỏi han chuyện nầy chuyện nọ, trêu ghẹo . . . Chết, tôi nghĩ, thế nầy thì không học hành gì được rồi, mà tôi cũng không thể nói cho ông bà chủ biết. Thôi thì tự tìm cách lánh xa là thượng sách. Tôi nhờ mấy đứa bạn tìm cho chỗ khác, tụi bạn cười chê tôi ngu, đồ nhác gan, mèo chê mỡ . . . Nhưng thấy tôi quyết tâm nên tụi nó thông cảm nên cố gắng tìm cho tôi một chỗ mới. Giữa năm học mà tìm một chỗ để dạy quả thật là khó, nhưng ở hiền gặp lành, cuối cùng bạn bè cũng giới thiệu cho tôi một chỗ gần Ty Công Chánh, cách chỗ tôi dạy năm trước chừng 100 mét. Trước khi về quê ăn đón Xuân cùng gia đình, tôi nói dối với ông bà chủ sau Tết tôi không trở lại, vì mẹ tôi bảo để thời gian học thi . Ông bà chủ cứ nài nỉ tôi trở lại, nhưng tôi nói cám ơn và giới thiệu cho một người bạn khác đến thay tôi.

Về quê ăn Tết, Nội giao cho tôi lau bộ lư đồng, dọn dẹp sữa soạn bàn thờ Tổ tiên , lo nhang khói trang nghiêm ba ngày Tết. Có tôi, không khí trong nhà trở nên ấm cúng hơn. Ngày Xuân bà con tới thăm, thấy tôi ai cũng hỏi, “Thằng Dinh học đâu con?”, tôi chưa kịp trả lời thì cô tôi, thím tôi đã dành nhau nói, “ Hén hẹc ở Hội En chứ hẹc ở mô”. Mấy đứa con gái lấy cớ đến chơi với em gái tôi, cũng thập thò e thẹn bắt chước gọi tôi bằng anh Hai . Còn tôi thì quá u mê, chỉ biết có học với hành mà không biết để ý đến đứa nào. Hết Tết, trước khi trở lại trường, Bà Nội cho vài cái bánh tổ, vài hộc bánh nổ, Bà dặn đem theo làm quà cho chủ nhà. Mẹ tôi lại đội chiếc nón lá đi bộ theo sau tôi, đưa tôi xuống tận bến xe và chờ cho đến khi xe lăn bánh bà mới lủi thủi quay về. Nhìn bóng dáng mẹ xa dần mà lòng thương mẹ vô ngần . Và đây chính là động lực để tôi trở thành đứa học trò chăm chỉ.

Từ bến xe Hội An, tôi đi bộ ngang qua Khổng Miếu để tới nơi ở mới. Nắng Xuân chan hòa khắp nơi, những con chim sẻ nhảy tung tăng trên các cành cây trứng cá. Những chậu hoa vạn thọ vàng rực, hoa thược dược đủ màu còn nguyên trước mỗi căn nhà sau ba ngày Tết. Con đường nầy tôi vẫn thường đi qua nhưng hôm nay hình như dài hơn, bước chân tôi trở nên líu quýu vì trong tôi hình như đang có sự nôn nao, hồi hộp đợi chờ. Trước Tết tôi đã có đến để làm quen, nên khi vừa tới thì cô học trò chờ sẵn mời tôi vào. Năm nay, học trò của tôi không phải là các cậu con trai ngủ gà ngủ gật mỗi khi học bài, mà là hai cô gái xinh đẹp. Cô chị học lớp Đệ Ngũ, đứa em học lớp Đệ Thất. Cả hai rất quý mến tôi, coi tôi như người anh có lẽ vì trong nhà chỉ có ba mẹ con, không có con trai. Việc dạy kèm của tôi không bị gò bó, không nhất thiết mỗi đêm 2 giờ như những chỗ khác mà chỉ khi nào cần thì các em hỏi, tuy vậy cũng rất bận. Cô chị nhan sắc rất dễ thương nên ong bướm thường lui tới. Nhiều khi đang dạy nửa chừng thì phải ngưng vì có bạn trai đến…. Xin được tạm gọi tên em là Hội để nhớ về Phố Hội. Trong số ong bướm lui tới có thằng bạn cùng lớp, hắn là người giới thiệu tôi đến đây, hắn thường dặn tôi: “ Mầy canh chừng giùm tau, có đứa nào ngắm nghía Hội thì cho tau biết”. Bạn bè chơi độc thiệt, ý hắn muốn ám chỉ mình chứ gì. Nhưng tôi không giận hắn vì tâm trí tôi đâu có nghĩ đến chuyện gái trai lúc nầy. Cứ mỗi lần thằng bạn mò đến thì tôi tìm cách rút lui, nhường không gian ấm cúng ấy lại cho hắn cùng cô học trò xinh xắn của tôi, còn tôi ôm sách ra cột đèn ngoài đường làm bạn với mấy con thiêu thân.

Hè 1962 tôi thi đậu Tú tài I, bà chủ nhà và hai em mừng lắm muốn tôi ở lại luôn ba tháng hè để kèm thêm vì năm tới Hội vào đệ Tứ rồi. Nhưng tôi đã hứa với em gái tôi sẽ về quê mở lớp luyện thi đệ Thất cho nó và bạn của nó. Nói đến lớp dạy hè nầy, tôi không thể nào quên được những kỷ niệm đẹp và thơ ngây hồi đó. Có khoảng 18-19 đứa học trò, đa số là con gái, mà con gái ở tuổi này thì thích làm dáng, nũng nịu hơn là học. Đứa nào cũng hỏi, “Anh Hai, học phí bao nhiêu anh Hai?” thú thật tôi ngu lắm, hay xấu hổ khi ai hỏi đến tiền, thích dạy cho vui thôi mặc dù gia đình tôi không khá giả gì. Tôi nói, “chưa học mà đòi trả tiền, rủi rớt hết thì sao.” Tụi nó cười và càng hỏi tới. . .Gần 20 đứa học trò đều thi đậu vào đệ Thất. cha mẹ mấy em vui mừng lắm khen tôi dạy giỏi ( nhưng thực ra các em đã giỏi sẳn rồi). Họ đến nhà cám ơn tôi, cho tôi tiền, có người cho mấy cặp đường bát, có người đem cho cặp gà. Tôi mắc cở không nhận. Mẹ tôi cười nói: Mấy cô Chú cho, con nhận đi để mua sách mà học.
Mấy tháng hè ở quê thật là vui, vì vừa được làm người lớn đối với bọn con gái, vừa được mẹ cưng chiều. Cha tôi mất sớm để lại cho mẹ tôi gánh nặng vì phải tảo tần nuôi sáu đứa con. Tôi là đứa lớn nhất, là anh Hai của năm em. Tôi chưa giúp được gì cho mẹ và các em mà lại được mẹ thương nhiều hơn. Ngày nào mẹ cũng mua hàng cho ăn như thịt heo luộc ăn với bánh tráng đập, cá nục hấp quấn bánh tráng, hoặc một bát nước hến bóp bánh tráng nướng bỏ vào . . . các món ăn dân dã không cầu kỳ nhưng ngon làm sao, bây giờ nhắc lại vẫn còn thấy nhớ và thèm.

Có bằng Tú tài I, bạn bè nhiều đứa nghỉ học để chọn cho mình con đường binh nghiệp. Trong số các bạn từ Tam Kỳ ra có bạn Hà Như Tốn, người bạn rất thân với tôi. Tốn gia nhập vào trường Sĩ Quan Thủ Đức. Ra trường, mang cấp bậc Chuẩn úy và được đưa về một đơn vị tác chiến. Năm, sáu tháng sau tôi được tin như sét đánh, Cố Thiếu úy Hà Như Tốn đã hy sinh trong một cuộc hành quân đụng độ với Việt Cộng tại một tỉnh miền Trung, bỏ lại vợ và đứa con gái. Mẹ con chị Tốn hiên nay đang định cự tại một tiểu bang miền Đông Hoa Kỳ.

Mùa hè qua mau, mẹ tôi cũng với chiếc nón lá đó dịu dàng đi sau tôi đưa tôi đi như mọi lần. Nhờ có tiền dạy hè nên sách vở cho năm đệ Nhất tôi sắm cũng đầy đủ hơn. Năm nay tôi dạy kèm cho một gia đình người quen trước đây khi tôi học ở Tam Kỳ. Gia đình nầy được thuyên chuyển ra làm việc ở Tòa Hành Chánh tỉnh Quảng Nam, thuê nhà ở đường Nguyễn Thái Học gần Chùa Cầu. Ông bà biểu mấy thằng con lớn rủ tôi về ở trong nhà để tiếp tục làm gia sư cho mấy đứa vì trước đây đã dạy cho mấy em ở Tam Kỳ rồi. Ông bà thương tôi như con trong gia đình, lo cho tôi cái ăn cái mặc, còn cho tiền tiêu và tiền dẫn mấy em đi ciné. Tôi nhớ mỗi bữa ăn, đến chén cơm thứ ba thì bà chủ đơm thật đầy đưa cho tôi và dặn “ăn cho no có sức mà học, sắp là Ông Tú rồi đó”. Nhà có cả thảy 7 đứa nhưng dạy 5 đứa nhỏ là chính, còn hai thằng lớn khi nào bí thì mới nhờ đến tôi. Bọn nhỏ rất quý tôi coi tôi như người anh trong gia đình. Nhờ đó việc học của tôi rất thuận lợi. Bạn cùng lớp có thằng tên Trương Duy Hào. Hắn lùn hơn tôi một chút. Tôi ở đầu trên, hắn ở đầu cuối đường Nguyễn Thái Học . Mỗi buổi sáng, hai đứa hẹn gặp nhau rồi cùng đi thật nhanh tới trường không ai theo kịp. Ngày nào cũng vậy vui ơi là vui. Năm nay chúng tôi không học với thầy Tuệ mà học toán với thầy Kiên người Hội An. Sau khi chúng tôi xa Hội An một thời gian thì được tin thầy Lưu Chí Kiên (lúc bấy giờ là Giám đốc Sở Học Chánh tỉnh Quảng Nam) đã bị tử nạn máy may trên đường công tác vào Sài Gòn.

Đúng là ông bà ta đã dạy “có công mài sắt, có ngày nên kim”. Mùa hè 1963 tôi đã lấy được mảnh bằng Tú Tài II. Có được kết quả nầy, ngoài sự chịu khó học hành của bản thân, tôi cũng phải tri ân các bậc làm cha mẹ có tấm lòng nhân hậu đã giúp đỡ cho tôi suốt gần 3 năm trời ở tại cái thành phố cổ kính và hiếu học Hội An nầy.

Sau đó tôi ra Huế học. Lúc bấy giờ tình hình chiến sự từ Bến Hải đến Cà Mâu càng ngày càng khốc liệt, ngày nào cũng có người thương vong. Quốc lộ 1 từ Hà Lam ra Vĩnh Điện, Đà Nẵng, luôn bị VC đào bới tan nát, đặt mìn, đắp mô, hằng ngày giết chết biết bao sinh linh của người dân vô tội. Thấy không thể tiếp tục học được nữa nên mấy năm sau tôi và vài người bạn như Nguyễn Đức Xứng , Võ Lâu, đều là học sinh Trần Quý Cáp… thi vào lớp Sĩ quan Khóa I Biên Tập Viên Học Viện CSQG. Ra trường, tôi chọn ở lại trong Nam làm việc, nên ít khi về quê. … Có một lần mẹ viết thư báo cho tôi biết tin tức về Hội, cô học trò xinh đẹp của tôi ngày nào. Mẹ nói Hội có vô nhà thăm mẹ mấy lần, lần nào cũng ở lại chơi ba bốn hôm. Hồi tôi còn ở nhà, có vài lần tôi dẫn Hội về Hà Lam chơi nên Hội và mẹ tôi quen biết nhau. Mẹ nói Hội có chồng Sĩ quan Thiếu Úy Trung Úy gì đó ( không phải anh bạn cũ của tôi) nhưng không may chồng của Hội đã hy sinh, mồ chôn trong nầy nên thỉnh thoảng Hội vào thăm mộ chồng, và ghé lại thăm mẹ tôi, ở chơi ba bốn ngày. Hội thấy mẹ tôi đơn chiếc, các em tôi còn nhỏ nên xin với mẹ tôi được ở lại để chăm sóc bà thay cho tôi. Nhưng . .. .

Từ ngày vào Nam làm việc cho đến ngày đen tối 30 tháng Tư 1975, tôi chưa có dịp nào trở lại thăm Phố Hội, cũng như chưa có lần nào trở về để nhìn lại mái trường xưa, ngôi trường Trần Quí Cáp thân yêu của tôi ngày nào, cũng không được thêm tin tức gì về Hội. Mỗi khi nhắc đến Hội An hay nói đến tên trường Trần Quí Cáp là như gợi dậy trong tôi những nơi chốn thân thương, những con người thân thiện đã cho tôi nhiều ân tình và kỷ niệm êm đềm của một thời từng là một cậu học sinh nghèo đệ nhị cấp.
TQC Nguyễn Công Vinh

Ghi chú: Tất cả tên các nhân vật trong truyện là thật, ngoại trừ tên Hội là ảo.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Đời Học Sinh_ NCV

Happy Mother Day K1

Mother Day

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Happy Mother Day K1

Mừng Sinh Nhật Tháng 5

Happy Birthday tháng 5

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Mừng Sinh Nhật Tháng 5

Lễ Tưởng Niệm và Vinh Danh CSQG Quảng Ngãi

Kỷ niệm tháng Tư đen, kính mời quý NT và các bạn xem video lễ tưởng niệm và Vinh Danh các Chiến sĩ CSQG tại Quảng Ngãi đã hy sinh trong cuộc chiến chống công tổ chức tại Houston Texas
https://youtu.be/850-3iDNg3U?t=88

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Lễ Tưởng Niệm và Vinh Danh CSQG Quảng Ngãi

Hận Tháng Tư Đen_ Thơ Trần Pháp

image001

Tháng Tư là tháng hoang tàn,
Cộng quân tràn xuống, xóm làng khổ đau
Cha con chồng vợ xa nhau
Người kinh tế mới, kẻ sau bức tường

Tháng tư tan nát phố phường
Mất nhà mất cửa ruộng nương không còn
Con thơ nằm khóc nỉ non
Bo bo không đủ mẹ còn sữa đâu

Tháng tư cha nhỏ lệ sầu
Đứa ra biển cả đứa sâu trong rừng
Mẹ già vợ yếu con cưng
Không nơi nương tựa ghé lưng chỗ nào

Tháng tư mẹ phải kiếm rau
Cha đi mót sắn chia nhau đở đần
Còn dư cho cháu một phần
Phần kia còn lại để dành ngày mai

Tháng tư dân chúng thở dài
Cơm ăn phải độn sắn khoai đa phần
Áo quần thiếu vải che thân
Thuốc men chẳng có bệnh nhân lìa đời

Tháng tư xác nỗi ngoài khơi
Thân đã nuôi cá mẹ thời chẳng hay
Đêm đêm mẹ nguyện mong thay
Cho con tui được có ngày tự do

Tháng tư Việt Cộng ăn no
Đồng hồ cửa sổ radio rò rè
Của cải chúng chất đầy xe
Nối đuôi từng tốp chạy về Bắc phương

Tháng tư ngoài Bắc bỏ vườn
Từng đoàn lũ lượt tìm đường vô Nam
Bỡi vì nghe tiếng đồn ran
Miền Nam giàu có gấp ngàn quê ta

Tháng tư tù đi Bắc xa
Xuống bến Tân Cảng quê cha bỏ lìa
Bo bo cả võ mấy thìa
Mỗi ngày ba lạng phải chia cho đồng

Tháng tư vợ phải nuôi chồng
Từ Nam ra Bắc bế bồng nhau đi
Xa xôi cách trở sơn khê
Lâu lâu một chuyến khó bề thường xuyên

Tháng tư lao động đảo điên
Non cao Bắc Việt leo triền đẳn cây
Có kẻ thay trâu kéo cày
Người thì phát rẩy mai rày trồng rau

Tháng tư đày đọa gian lao
Bạn bè bỏ xác đồi cao mộ phần
Nhắm mắt chẳng có người thân
Cô đơn một xó trong phòng cách ly
Mẹ cha con vợ biết gì
Thân tù đày đọa đến khi hơi tàn
Xác nằm chuột bọ lang thang
Mắt không ai vuốt khăn tang ai thờ

Tháng tư nước mắt tràn bờ
Dân Việt xa giờ biết mẹ đau thương
Ly hương bốn chục năm trường
Lối mòn phục Quốc con đường tự do
Trần Pháp

                 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Hận Tháng Tư Đen_ Thơ Trần Pháp