Thông Báo của Trưởng K1 về việc Tương Trợ K1 Lê Việt Hằng

**Các bạn K1 thân mến,

Tôi mới nhận được thư của K1 Tống Phước Kiên từ North Carolina báo tin cho biết:

K1 Lê Việt Hằng (cựu Trưởng Phòng HQ/BCH/CSQG Đà Nẵng) hiện lâm trọng bệnh tại Sàigòn phải ngồi xe lăn.

Như đã b/c các bạn trong thư trước, tổng kết việc trợ giúp cho K1 Ng. Viết Lộc tôi đã thu được $1090 (đã nhận đủ cash và check) trong đó ban đại diện Khóa đã gởi về đợt I cho Lộc $400, số còn lại ($690) sẽ gởi tiếp vào dịp Tết này. Riêng những check trợ giúp cho K1 Lộc nhận được trễ, tôi sẽ nhập chung gởi về cho K1 Lê Việt Hằng cùng với phần tiền trích từ Quỹ Tương Trợ K1 trong vài ngày tới. Nếu các bạn có ý kiến gì khác v/v giúp K1 Hằng xin cho biết. Cám ơn các bạn.

Thân mến,

K1 Nhữ Đ. Toán

PS: Tôi đã nhận được check $100 của Kiên ($50 cho Hằng + $50 cho Phượng Hoàng). Cám ơn Kiên

**Thân báo,

Hôm nay tôi nhận được check 50$ của Lê Quang Phú, trợ giúp cho Nguyễn Viết Lộc. Tôi đồng ý ý kiến của bạn Toán, sẽ chuyển tiếp để giúp cho bạn Hằng.

Ngưu

**Các anh thân mến,

Tôi thấy việc nầy nói ra sẽ mắt lòng. Việc trợ giúp các bạn ở VN là cần thiết, nhưng dùng quỹ của Hội sẽ không chịu nổi. Sở dĩ Hội khóa 1 có chút ít tiền là dùng để thăm viếng anh bên nầy như đau ốm, qua đời viếng thăm phúng điếu… Hội chịu trách nhiệm phổ biến tình trạng các bạn ở VN, để theo đó tùy anh em nào muốn giúp đở thì đóng góp thì dễ giải quyết hơn. Mong các anh xét lại

việc trợ giúp còn lâu dài, tránh tình trạng người được, người không cũng tốt đâu.

Thân chào,

Đoàn Ngọc Nam

**Cám ơn Nam đã cho ý kiến. Tuy nhiên, Quỹ K1 không phải chỉ để tương trợ các bạn cùng khóa ở đây mà thôi mà còn để trợ giúp các bạn ở VN nữa (nhiều ít, bao nhiêu tùy hoàn cảnh).
Toán

***Tin thêm về K1 Lê Viết Hằng:
Sau khi thông báo tin về K1 Lê Viết Hằng, tôi đã nhận được một số ý kiến của các bạn v/v tương trợ các bạn đồng khóa. Riêng về trường hợp K1 Lê Viết Hằng, một số K1 đã đ/t thăm hỏi K1 Hằng theo phone # trong thư K1 Tống Phước Kiên. Được biết, K1 Hằng hiện sống ở SG, do tuổi gìa bị đau lưng (cột sống) nhưng không đến nỗi trầm trọng. Hằng có 5 người con đều đã trưởng thành, tốt nghiệp đại học, và đã lập gia đình; 2 trong số 5 người con của Hằng hiện làm việc cho Cty ngoại quốc lương rất khá. Nói chung, tình trạng tài chánh của gia đình Hằng không có khó khăn gì, cho nên có lẽ chúng ta không cần giúp đỡ Hằng về tài chánh, mà chỉ cần đ/thoại thăm hỏi cũng là quý rồi. Vài hàng thông báo cho các bạn.
Còn các bạn nào có ý kiến gì khác v/v này xin cho biết. Cám ơn.
Chúc tất cả các bạn một cuối tuần vui vẻ.
K1 Toán.

Như vậy việc tương trợ cho bạn K1 Lê Viết Hằng đã đựơc giải quyết. Tuy nhiên rất cám ơn  bạn Tống Phứoc Kiên đã cho biết tin tức mà qua đó anh em có dịp gọi phone về Việt Nam  thăm hỏi bạn Hằng. Riêng số tiền đóng góp, chúng tôi đề nghị anh Trưởng K1 gởi lại cho bạn Kiên. Một lần nửa xin cám ơn bạn Kiên.

CNN


 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thông Báo của Trưởng K1 về việc Tương Trợ K1 Lê Việt Hằng

Thơ Đường Cóc số 3

Thơ Đường số 1 đã được giới thiệu trên CNN. Đúng ra sẽ tới Thơ Đường số 2, nhưng vì Thơ Đường số 2 chọn đề tài Xuân cho nên chúng tôi để dành cho Tết Quý Tỵ. Hôm nay Cóc Nghĩa  trình làng bài Đường Cóc số 3  . Lần nầy Cóc Nghiệp được quyền ưu tiên nên bạn ấy chọn đề tài là : VỀ HƯU. Đề tài nầy rất hợp thời hợp cảnh của tuổi anh em chúng ta, nên mấy con Cóc kia nhảy ra xơi tái liền. Và đây bài thơ do Ngũ Lão Cóc hợp xướng : Toán (câu 1,2), Lệ Khanh (câu 3,4),Thanh Hoàng(câu 5,6) Nghĩa (câu 7,8)

  

             

Mấy chục năm cày mệt đứt hơi .
Chỉ mong đến lúc về hưu thôi
Vì câu trách-nhiệm đang tròn ý .
Bởi chữ  hy sinh đã vẹn lời .
Cạnh luống Quỳnh Hương nhìn bướm lượn.
Bên giàn Thiên-Lý ngắm sao rơi .
Cà-phê sáng tối vui bè bạn .
Lên mạng trưa chiều mặc sức chơi .

                Ngũ Lão Cóc .

Các bài họa tiếp theo: 

XẢ LÁNG

Liệu chúng ta còn được mấy hơi ?
Có vui cứ xả láng đi thôi !
Bia mời , dựng gậy vô theo ý .
Rượu phạt , kề môi nhúng nể lời .
Nấm cứng lợi trơ đâu ngại mấp .
Đùi dai răng giả chẳng lo rơi .
Iphone mở nút tay khều móc .
Latop lên giường chuột nhấp chơi .

LHN

VỀ HƯU (số 2)

Tuổi già hưu trí bóng xì hơi
Lực bất tòng tâm phải thế thôi
Bảy thiếp ba thê nào chịu lỗ
Lục giao ngũ tử cố ham lời
Thanh niên súng đạn ria bừa bãi
Tuổi trẻ cày bừa thả rụng rơi
Đến lúc lưng đau và gối mỏi
Không chừa tật cũ  chết như chơi

(Phan Quang Nghiệp kính họa)

Theo 2 niên trưởng Quang-Nghiệp và Hữu-Nghĩa, tôi xin họa tiếp, anh Nguyễn-Công-Vinh khoan đóng  cửa CNN nghe

Chúc quý anh một cuối tuần thật vui vẻ

         VẪN CÒN HƠI

Dù trên sáu bó miễn còn hơi,
Cái nợ non-sông phải trả thôi.
Nước mất, nỡ nào trơ mắt ngó?
Nhà tan, sao lại chịu im lời?
Chung vai quang-phục: sơn-hà vững,
Góp sức diệt trừ: Cộng-sản rơi.
Tổ-Quốc từ đây yên bốn cõi,
An nhàn, mượn bút họa thơ chơi.

Lệ Khánh

NGHỈ XẢ HƠI

Bảy chục về hưu  nghỉ xả hơi
Công  nhà việc nước được  xin thôi !
Cộng Đồng  xây dựng kêu khan tiếng
Đoàn Kết  thương yêu gọi hết lời
Mắt  mũi lờ mờ ly nước đổ
Tay chân  luộm thuộm  bát cơm  rơi
Lão lai tài tận  xin nhường bước
Thế hệ  kế thừa  tiếp cuộc chơi.
Phan Quang Nghiệp họa 2

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thơ Đường Cóc số 3

Nụ cười cuối tuần

Mời đọc câu chiện thật lại như đùa!

   Tôi từ Sàigòn ra Hà Nội đến Hồ Gươm xem xong gọi xích lô đến, hỏi đi đến chợ Đồng Xuận giá bao nhiêu ?Anh đạp xích lô bảo 70 nghìn , tôi trả 50 nghìn anh ta đồng ý chở tôi đi

 Đến cách chợ Đồng Xuân chừng 300 mét anh bảo tôi xuống, tôi hỏi anh ta sao lại xuống đây? anh ấy trả lời: “ 50 nghìn chỉ đến đây thôi!”

 Tôi hỏi sao anh đồng ý giá ban đầu là 50 nghìn mà bây giờ anh nói thế?  Rồi anh ta đáp gọn hơ: “ Anh thông cảm cho ở đây Đảng lừa dân cho nên dân chúng em phải lừa nhau mà sống!”

 Tôi vừa tức mà phải cười rồi trả tiền và bỏ đi. Anh ta còn nói thêm:
“Không lừa không phải Cộng Sản, Không đi chàng hảng không phải Việt Minh, không ăn nói linh tinh không phải uỷ viên bộ chính trị, không có học vị mới vào trung ương.”

Chán thật !

     Trích “Dân Làm Báo”.

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Nụ cười cuối tuần

Thơ Đường cóc số 1

Bài Đường Cóc số 1:
Trước tiên bạn Lệ-Khanh ra đề bài thơ với hai chữ: Anh và Tôi.
Bạn PQ Nghiệp hưởng ứng ngay với hai câu 1,2

Anh, tôi sau trước cũng chung nhà .(1)
Học Viện “Ông Cò” tốt nghiệp ra.(2)

Bắc Cali chơi hai câu đầu, Nam Cali sao không chơi hai câu cuối. Nghĩ vậy bạn  NĐ Toàn liền viết hai câu 7,9 như sau:

Anh , tôi sau trước cũng chung nhà.(1).
Học Viện “Ông Cò” tốt nghiệp ra.(2)

 

Hào khí năm xưa bầu nhiệt huyết,(7)
Mơ ngày quang phục khúc hoan ca.(8)

Độc nhé, độc nhé, anh trưởng K1 chơi độc nhé; vì 4 câu ở giữa phải đi theo hai câu đầu mà không chạy trật đường rầy ra khỏi hai câu cuối, nhưng ý thơ cả bài phải đồng nhất, không được lạc hướng. Nhưng bạn Nghĩa nhà ta đã chứng tỏ là một cây thơ đường nên cho ra hai đối 3,4 rất là tuyệt.

Anh , tôi sau trước cũng chung nhà.(1).
Học Viện “Ông Cò” tốt nghiệp ra.(2)
Luật-pháp công-minh , tiền chẳng chuộc .(3)
Uy-quyền liêm-chính , Cộng không tha.(4)

 

 Hào khí năm xưa bầu nhiệt huyết,(7)
Mơ ngày quang phục khúc hoan ca.(8)

 Như vậy là còn hai câu đối số 5,6, tới phiên bạn nào đây. Bạn Lệ Khánh nghĩ thầm mình đưa ra đầu đề nên mình có nhiệm vụ kết thúc nó, và bài thơ do bốn người bạn ở cách xa nhau cùng viết rất nhịp nhàng và ăn ý với nhau. Bài thơ như sau:

Anh, tôi sau trước cũng chung nhà
Học Viện “Ông Cò” tốt nghiệp ra.
Luật-pháp công-minh, tiền chẳng chuộc .
Uy-quyền liêm-chính, Cộng không tha .
Cơ trời ngục thất gìn danh tiết .
Vận nước quê người vọng quốc-gia .
Hào khí năm xưa bầu nhiệt huyết,
Mơ ngày quang phục khúc hoan ca. 

Tứ Lão Cóc .

Từ bài “Anh và Tôi 1” Bạn Nghiệp họa nguyên một bài có tên

Anh, tôi Việt Tộc vốn cùng nhà
Cộng Sản du vào chẻ tách ra
Dân Chủ Tự Do không chấp nhận
Địa hào trí phú chẳng dung tha
Biên cương dâng hiến quân buôn nước
Cướp của tham tiền lũ phá gia
Hướng thiện hồi đầu mau kẻo trể
Thù đền, oán trả chớ kêu ca.
(Phan Quang Nghiệp Kính họa)

Trăm trứng ngày xưa vốn một nhà .
Núi cao mẹ trấn , biển cha ra .
Ngàn đời nối tiếp lòng nhân-ái .
Muôn kiếp lưu-truyền tánh vị-tha .
Ác quỷ đành gây cơn quốc phá .
Giống nòi phải chịu cảnh vong gia .
Đông Tây nội ngoại dù xa cách .
Vẫn khắc ghi lòng chung khúc ca .

LHN

Bạn Thanh Hoàng cũng ấm ức lắm nên họa một bài không có tựa đề như sau:

Giặc Bắc vào Nam loạn nước nhà 
Muôn ngàn tội ác Cộng gây ra
Anh vương lao lý  đời cơ cực
Tôi chuốc xích xiềng khám thúi tha
Anh nguyện diệt Tàu loài hiểm ác
Tôi thề  sát Cộng lũ oan gia
“Thanh Bình” khúc nhạc dân mừng đón
Tay nắm tay cùng múa, hát ca

                         THANH  HOÀNG
                        (Cali., 19-10-2012)

 Và để kết thúc trò chơi hôm nay, bạn Lệ Khánh làm bài họa có tên:

Ai gây thảm họa nước-non-nhà?
Chính lũ giặc Hồ tạo dựng ra.
Chủ-nghĩa ngoại lai, cha chẳng dưỡng,
Giáo-điều man rợ, mẹ đâu tha!
 Bì oa chử nhục, san bằng núi,
Huynh đệ tương tàn, phá nát gia.
Sáu bảy năm trời, dân khổ nhục,
Bao giờ quang-phục, khải-hoàn ca?!

                  LK  * 67 năm

 

 

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thơ Đường cóc số 1

Thơ K1 Nguyễn Phiến

Bến bờ thất thập đến rồi
Thuyền nan gác mái êm xuôi buông chèo
Dặm dài ghềnh thác cheo leo
Vượt trùng sóng gío cánh bèo thuyền ta
Sinh thành giữa buổi phân qua
Quê hương chia cắt, sơn hà điêu linh
Mịt mù khói lửa chiến chinh
Cửa nhà đổ nát, gia đình tan hoang
Xác xơ phố chợ xóm làng
Đạn bom hủy diệt, tham tàn tiếp tay
Chập chờn thần chết bủa vây
Đẩy đưa sinh mệnh vào tay tử thần
Giữa cơn bão táp sóng gầm
Đường tơ kẽ tóc mấy lần thác vong
Thân nhân, đồng đội, đồng song
Lần hồi dẫy chết theo dòng thời gian
 Đoạ đày tù ngục chưa tan
Vết thương rướm máu bạo tàn chưa nguôi
Giật mình nhìn lại đường đời
Buồn vui thổn thức biết lời nào đây
Đọan trường xin gởi gió mây
Thảnh thơi con cháu quây quần hỷ hoan

Cali  10 / 1972
K1 Nguyễn Phiến

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thơ K1 Nguyễn Phiến

Thể Thơ Đường Luật _ Vĩnh Hồ

 Bạn Lê Hữu Nghĩa rất vui khi thấy gần đây các bạn hào hứng tham gia họa thơ với nhau. Nhưng họa thơ thường áp dụng cho thể thơ đường, phải giữ đúng nghiêm luật bằng trắt, đối câu đối chữ…vân vân và vân vân … Có lần mình cũng hứng chí làm bài thơ gọi là “họa” bây giờ đọc lại thấy sai bét, hí hí. Do đó bạn Nghĩa có gợi ý cho mình đưa bài “Thể Thơ Đường Luật” của Vĩnh Hồ vào CNN để chúng ta cùng nghiên cứu lại (Bởi vì khi học trung học tụi mình đều  đã có học qua ) rồi xuất chiêu họa thơ với nhau cho vui tuổi già. Có lý, có lý phải không các bạn. Xin mời đọc.

      

 Thơ Ðường Luật phổ biến trên thi đàn Việt Nam xưa, xuất xứ từ đời Ðường (618-907) bên Tàu, có luật lệ nhất định, thường gọi là Thơ Luật để phân biệt với Thơ Cổ Phong xuất hiện trước đời Ðường không có luật lệ nhất định.

        Thơ Luật có 4 thể: Ngũ Ngôn Tứ Tuyệt, Ngũ Ngôn Bát Cú, Thất Ngôn Tứ Tuyệt, Thất Ngôn Bát Cú. Thất Ngôn Bát Cú có luật lệ gò bó khó làm nhất nhưng lại được các Cụ ưa thích nhất, thường dùng để bày tỏ tình cảm ý chí, ngâm vịnh, trào phúng, xướng họa, thù tạc, chúc mừng quan hôn, khai bút đầu Xuân… Lúc đầu làm bằng chữ Hán, đến đời Trần, Hàn Thuyên là người đầu tiên làm bằng chữ Nôm, nên Ðường luật còn gọi là Hàn Luật. Từ đó thể Thất Ngôn Bát Cú trở thành độc tôn trên thi đàn, ngay trong các kỳ thi cũng bắt thí sinh làm một bài. Sau đây xin trình bày khái quát về bố cục và luật lệ căn bản của thể thơ này:

I. BỐ CỤC: Một bài thơ Thất Ngôn Bát Cú có 4 phần:

1- Mạo: là mào đầu (vào bài) còn gọi là Ðề, gồm:

– Phá đề (câu 1) nghĩa là mở ra, giới thiệu tựa đề.

– Thừa đề (câu 2) nghĩa là chuyển xuống.

2- Thực hay Trạng: gồm câu 3 + 4: giải thích, khai triển tựa đề.

3- Luận: gồm câu 5+6: bàn luận ý nghĩa của bài.

4- Kết: gồm câu 7+8: tóm tắt ý nghĩa, bày tỏ tình cảm, thái độ.

II. LUẬT LỆ CĂN BẢN:

1- Vần: là bộ phận chủ yếu của âm tiết trong tiếng Việt là âm tiết trừ đi phụ âm đầu nếu có. Ví dụ: “tà, hoa, nhà, gia, ta” trong bài Qua Ðèo Ngang có cùng một vần “a”.
Vần có vần bằng, vần trắc, độc vận, ép vận. Trong thất ngôn bát cú chỉ gieo 1 vần, gọi là độc vận rơi vào 5 chữ cuối của 5 câu: 1, 2, 4, 6, 8 thường là vần bằng, ít khi dùng vần trắc, 5 chữ này tránh trùng nhau, phải hiệp vận cho đúng nếu gieo sai gọi là lạc vận, gieo vần không sát gọi là gượng ép.

 Ghi chú:

  Vần có cước vận (vần ở cuối câu), và yêu vận (vần ở lưng câu).

  Vần điệu: Ðiệu là đều đặn, là số chữ đều đặn trong mỗi câu thơ, như điệu thất ngôn mỗi câu 7 chữ, điệu lục bát gồm 1 câu 6, 1 câu 8. Riêng điệu ca trù mỗi câu bao nhiêu chữ cũng được, trừ câu chót bắt buộc 6 chữ.
Nhịp điệu: Nhịp là cách ngắt đoạn đều đặn trong câu thơ. Nhịp điệu là cái dáng đi khi mau khi chậm trong thơ.

  Tiết tấu: tiết là đốt, là đoạn ngắn, tấu là đánh nhạc, là đọc cao lên.

  Thi nhạc (gồm vần, điệu, nhịp, tiết tấu): Nhà thơ dùng âm thanh (tượng thanh), dùng sự thay đổi của của âm, độ cao thấp của thanh, sự đều đặn của vần điệu nhịp điệu, sự nhịp nhàng của tiết tấu… làm cho bài thơ đọc lên như một bản nhạc gọi là thi nhạc. 

 2. Ðối: là phép đặt 2 câu thơ đối nhau gồm có:

  Ðối chữ: bằng đối trắc, trắc đối bằng, danh từ đối danh từ, động từ đối động từỳ…

Ðối ý: ví dụ cảnh dưới núi đối cảnh bên sông, cảnh động đối cảnh tĩnh như trong 2 câu thực của bài Qua Ðèo Ngang.

  Trong thể thơ này, 2 câu thực phải đối nhau, 2 câu luận phải đối nhau.

Sau đây xin mời quý vị thưởng thức những cặp đối thần sầu của các thi sĩ tiền bối:

 * Thi hào Nguyễn Trãi:

 – Hương cách gác vân thu lạnh lạnh
Thuyền kề bãi tuyết nguyệt chênh chênh
 – Khách đến chim mừng hoa xẩy rụng
 Chè tiên nước kín nguyệt đeo về
 – Miệng thế nhọn hơn chông mác nhọn
 Lòng người quanh nữa nước non quanh 

 * Bà Chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương:

 – Năm thì mười họa chăng hay chớ
 Một tháng đôi lần có cũng không
– Cố đấm ăn xôi, xôi lại hẩm
Cầm bằng làm mướn, mướn không công

 (Làm Lẽ)

 (“Cố đấm ăn xôi” và “Làm mướn không công” là 2 câu tục ngữ)

 – Duyên thiên chưa thấy nhô đầu trọc
 Phận liễu sao đà nảy nét ngang

 (Không Chồng Mà Chửa)

 (Trong Hán tự, chữ THIÊN nếu kéo nét phẩy nhô lên thì thành ra chữ PHU là chồng. Chữ LIỄU nếu thêm nét ngang thì thành ra chữ TỬ là con)

 – Ðôi gò bồng đảo sương còn ngậm
Một lạch đào nguyên suối chửa thông

 (Thiếu Nữ)

 – Chày kình tiểu để suông không đấm
 Tràng hạt vãi lần đếm lại đeo

 (Chùa Quán Sứ)

 (“suông không đấm” và “đếm lại đeo” đều có nghĩa nói lái rất tục)

 – Khi cảnh, khi tiu, khi chũm chọe
 Giọng hi, giọng hỉ, giọng hi ha

 (Sư Hổ Mang)

 – Gió giật sườn non kêu lắc cắc
Sóng dồn mặt nước vỗ long bong

 (Kẽm Trống)

 * Thi sĩ Nguyễn Khuyến:

 – Lưng giậu phất phơ màu khói nhạt
Làn ao lóng lánh ánh trăng loe
– Sóng biếc theo làn hơi gợn tí
 Lá vàng trước gió sẻ đưa vèo
 – Tầng mây lơ lững trời xanh ngắt
Ngõ trúc quanh co khách vắng teo

* Thi sĩ Trần Tế Xương:

 – Học đã sôi cơm nhưng chửa chín
Thi không ngậm ớt thế mà cay
 – Ðì đẹt ngoài sân tràng pháo chuột
 Om sòm trên vách bức tranh gà
 – Chí cha chí chát khua giày dép
 Ðen thỉ đen thui cũng lụa là
– Van nợ lắm khi tràn nước mắt
Chạy ăn từng bữa mướt mồ hôi
 – Sỉ khí rụt rè gà phải cáo
Văn chương liều lĩnh đấm ăn xôi
 – Một tuồng rách rưới con như bố
 Ba chữ nghêu ngao vợ chán chồng
– Ví cho thi đỗ làm quan lớn
Thì cũng nhỏ to cưới chị hầu
– Tiễn chân cô mất hai đồng lẻ
 Sờ bụng thầy không một chữ gì

 (“Gà phải cáo” và “Cố đấm ăn xôi” là 2 câu tucỳ ngữ)

3. Luật: tức thanh luật là quy tắc xếp đặt thanh bằng (B) thanh trắc (T) cho mỗi chữ trong một câu thơ theo lệ:

  “Nhất tam ngũ bất luận”: bất luận là không ràng buộc,
  “Nhị tứ lục phân minh”: phân minh là rõ ràng bắt buộc đồng thời phải tuân theo thanh: “nhị bằng tứ trắc lục bằng”, hay ngược lại: “nhị trắc tứ bằng lục trắc”

 – Sau đây là bài thất ngôn bát cú luật bằng vần bằng:

 Câu 1: BBTTTBB
Câu 2: TTBBTTB
Câu 3: TTBBBTT
Câu 4: BBTTTBB
 Câu 5: BBTTBBT
Câu 6: TTBBTT
 Câu 7: TTBBBTT
 Câu 8: BBTTTBB

 – Sau đây là bài thất ngôn bát cú luật trắc vần bằng:

 Câu 1: TTBBTTB

 Câu 2: BBTTTBB
 Câu 3: BBTTBBT
 Câu 4: TTBBTTB
 Câu 5: TTBBBTT
 Câu 6: BBTTTBB
 Câu 7: BBTTBBT
 Câu 8: TTBBTTB

        Âm là tiếng động phát ra khi đọc một nguyên âm. Thanh là độ cao thấp của âm. Mỗi âm trong tiếng Việt có 6 bực độ quy định bởi 6 dấu: 2 thanh BẰNG gồm trầm (dấu huyền) và phù (không dấu), bốn thanh TRẮC gồm thượng (dấu sắc, dấu ngã), và khứ hay nhập (dấu hỏi, dấu nặng).

        Trong một câu thơ, tất cả những chữ cùng một thanh nên thay đổi bực độ.
        Trong bài thất ngôn, chữ thứ 3 các câu chẵn và chữ thứ 5 các câu lẻ, đáng là bằng mà đổi ra trắc gọi là khổ độc (nghĩa là khó đọc). Trong 1 câu thơ, chữ nào đáng đặt tiếng bằng mà lại đặt tiếng trắc, hay đáng đặt tiếng trắc mà lại đặt tiếng bằng thì gọi là thất luật.

4. Niêm: nghĩa là dán cho dính lại. Phép niêm trong thơ là quy tắc sắp xếp các câu thơ trong bài dính lại với nhau về âm điệu, hay nói một cách khác NIÊM là sự liên lạc về âm luật của 2 câu thơ với nhau. Trong bài Ðường Luật, hai câu 1 và 8, 2 và 3, 4 và 5, 6 và 7 niêm với nhau.

        Hai chữ thứ hai cùng một thanh đượỳc sắp xếp như sau đây hay ngược lại:

 Chữ thứ 2 câu 1: trắc
Chữ thứ 2 câu 2: bằng
 Chữ thứ 2 câu 3: bằng
Chữ thứ 2 câu 4: trắc
Chữ thứ 2 câu 5: trắc
Chữ thứ 2 câu 6: bằng
Chữ thứ 2 câu 7: bằng
 Chữ thứ 2 câu 8: trắc

 Nếu không theo đúng như thế gọi là thất niêm.

 III. VÍ DỤ: một bài thơ mẫu:

Qua Ðèo Ngang

 Bước tới Ðèo Ngang bóng xế tà
 Cỏ cây chen đá, lá chen hoa
 Lom khom dưới núi, tiều vài chú
 Lác đác bên sông, rợ mấy nhà
 Nhớ nước đau lòng con quốc quốc
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia
 Dừng chân đứng lại trời non nước
 Một cảnh tình riêng ta với ta.

 Bà Huyện Thanh Quan

        Ðây là bài thơ Ðường luật thất ngôn bát cú luật trắc (chữ TỚI) vần bằng (chữ TÀ). Niêm luật vần đối đúng phép. Bố cục chia làm 4 phần rõ rệt:

  Mạo: giới thiệu tổng quát cảnh Ðèo Ngang.
  Thực: tả cảnh Ðèo Ngang.
  Luận: nhớ nước thương nhà
  Kết: tình riêng tác giả. 

Về vần: Năm chữ: tà, hoa, nhà gia, ta: vần với nhau rất chỉnh.
Về đối: Hai cặp thực và hai cặp luận đối nhau chan chát: chữ đối chữờ, ý đối ý.
Về luật: Luật trắc (ở chữ TỚI). Cả 8 câu thơ đều đúng luật.
Về niêm: Rất chặt chẽ: chữ TỚI niêm với chữ CẢNH cùng là trắc, chữ CÂY niêm với chữ KHOM cùng là bằng, chữ ÐÁC niêm với chữ NƯỚC cùng là trắc, chữ NHÀ niêm với chữ CHÂN cùng là bằng. 

IV. KẾT LUẬN:

        Trên đây chỉ là những quy tắc căn bản, khi làm thơ có nhiều thi gia đôi lúc không răm rắp tuân theo trăm phần trăm mà bài thơ vẫn hay, vì tác giả đặt cái thần/ hồn của bài thơ cao hơn luật tắc. Ví dụ như bài “Thu Vịnh” của Nguyễn Khuyến gieo vần “ao” nhưng câu 2 lại gieo vần “iu”:

 Trời thu xanh ngắt mấy từng cao
Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu

         Và bài “Tổng Vịnh Truyện Kiều” của Chu Mạnh Trinh gieo vần “ương” nhưng câu 4, câu 8 lại gieo vần “ang” là “chàng” và “vàng”:

 Cuốn ngỏ rèm xuân trải mấy sương
Sắc tài chi lắm để làm gương
Công cha bao quản liều thân thiếp
 Sự nước xui nên phụ với chàng
 … Ðem bắt đồng cân đáng mấy vàng.

 Chữ “chàng” tuy gieo không chính vận, nhưng khi đọc lên… nó phát ra một âm thanh nghe não nề, trầm buồn, vang dội trong tâm hồn ta. 

        Bài “Thu Ðiếu” của Nguyễn Khuyến về bố cục, tác giả say mê “tả cảnh” suốt cả 8 câu; còn về vần thì trong 5 chữ : “veo, teo, vèo, teo, bèo”, đã có đến 2 chữ “teo” trùng nhau vốn là điều cấm kỵ trong 1 bài thơ luật, nhưng ở đây cụ Tam Nguyên Yên Ðỗ vẫn mạnh dạn sử dụng, vì Cụ thấy 2 từ ngữ ấy (tẻo teo, vắng teo) diễn đạt được tình cảm của Cụ. Ðiều này cho thấy Cụ là một nhà Nho phóng khoáng có bản lĩnh trong sáng tạo. Và bài Thu Ðiếu xưa nay vẫn được nhiều người công nhận là một trong những bài thơ tả cảnh mùa Thu hay nhất trong thơ ca Việt Nam.

   Cũng chính vì luật tắc quá gò bó khó khăn của nó mà giới Nho sĩ Việt Nam đã bị kiềm hãm trong suốt một nghìn năm, chẳng để lại cho hậu thế được bao nhiêu bài thơ hay so với thể thơ mới. Thời tiền chiến xảy ra một trận bút chiến vang dội cả ba miền giữa thơ mới và thơ cũ, cuối cùng thơ cũ đại bại nhường thi đàn lại cho thơ mới thống trị đến ngày nay. Ngay nhà thơ Quách Tấn chuyên làm Thất ngôn bát cú với tác phẩm “Mùa Cổ Ðiển”, về sau cũng từ giã nhảy qua thể Thất ngôn tứ tuyệt với thi tập “Ðọng Bóng Chiều”.

        Ngày nay, thể Thất Ngôn Bát Cú được nhiều người làm sống lại bằng những hình thức cách tân noi theo bước chân tiền phong của các nhà thơ tiền bối có bản lĩnh sáng tạo như Nguyễn Trãi, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương… mạnh dạn từ bỏ phong cách quý phái, đài các, cung đình: ưa xài điển tích, thích dùng Hán tự, vọng ngoại, vong bản, bắt chước, sáo mòn… để trở về với tình tự cội nguồn dân tộc Việt Nam đầy sinh động và sáng tạo của mình.

VINH HỒ
Sưu tầm

18/11/2008

 

  

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thể Thơ Đường Luật _ Vĩnh Hồ

Giớ thiệu K1 Lê Ngọc Thịnh_ Tống Phước Kiên

Hôm qua, Chúa Nhật 14 tháng 10, 2012 anh chị Lê Ngọc Thịnh cùng anh chị Hoàng văn Hùng (cựu Đại Đội Trưởng CSDC Phước Long) đi lễ Phật tại Chùa QUAN ÂM tọa lạc trong thành phố Greensboro, nơi gia đình Tống Phước Kiên đang cư ngụ. Nhân tiện,vợ chồng anh Thịnh và vợ chồng anh Hùng ghé thăm tệ xá. Để cuộc đón tiếp thêm đông vui Kiên có mời 2 láng giềng là anh Trương Ca (quân nhân biệt phái cựu Trưởng Cuộc CSQG An Hải Bắc, Quận Ba Đà Nẵng) và anh Bùi văn Hiệp K4/HVCSQG (Biệt Đoàn 222). Cách đây hơn một tháng nhân một chuyến tình cờ đi Charlotte tôi có tạc qua nhà thăm Thịnh,nhưng lần đó chỉ có hai anh em. Cuộc họp mặt lần nầy có sự đón tiếp.
Lê Ngọc Thịnh may mắn vượt thoát gông cùm cộng sản trong ngày 30-4-1975 và định cư tại Charlotte, Tiểu Bang North Carolina từ đó đến nay. Còn Tống Phước Kiên chuyển từ Texas đến Tiểu Bang nầy vào đầu năm 1996. Thế mà hai anh em chẳng liên lạc được với nhau.
Nhân ngày truyền thống CSQG năm 2012 Lê Ngọc Thịnh về Nam Cali tham dự đại hội và nhờ Nguyễn thị Cẩm Y dẫn lối nên anh Thịnh mới gọi cho Kiên. Nhờ đó mà nơi Tiểu Bang NC xa xôi nầy mới có một cộng đồng K1 gồm có hai người. Cảm ơn Cẩm Y.
Nhờ bạn Nguyễn Công Vinh cho cộng đồng nhỏ bé nầy “đăng ký hộ khẩu”nơi CNN để quý thầy, quý niên trưởng cùng đồng môn K1 “kính tường”.
Nếu ai có dịp đến North Carolina thì xin liên lạc với Lê Ngọc Thịnh ĐT (704)340-6106 hoặc Tống Phước Kiên (336)457-7144. Tiểu cộng đồng chúng tôi hứa đón tiếp đàng hoàng. Xin gởi đến CNN mấy tấm hình về cuộc họp mặt nầy. Kính chúc quý thấy,quý niên trưởng cùng tất cả đồng môn và gia quyến luôn an vui,hạnh phúc.

Tống Phước Kiên

CNN chào mừng bạn Lê ngọc Thịnh. Nhìn hình thấy bạn còn ngon lành lắm.  Bạn Kiên tiếp đón bạn bè thật là chu đáo. Phải chi cỏi xe đạp tới được thì mình đi ngay vì mấy đĩa đồ ăn trông hấp dẫn quá. Như vậy kể tứ nay có một ông Hội Trưởng và một ông Hội Phó là vui rồi.

Ở nơi xa xôi có được một người bạn mà là bạn cùng Khóa thì quý hóa gì bằng. Ráng mà nịnh bà xã để mấy chỉ làm đồ nhậu cho hai bạn đối ẫm nhé. Chúc hai bạn nhiều sức khỏe và thường xuyên vào căn nhà nhỏ giải trí cùng anh em.

Vinh

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Giớ thiệu K1 Lê Ngọc Thịnh_ Tống Phước Kiên

Anh Hùng Vô Danh thơ Đoàn ngọc Nam họa bài Chiến Sỹ Vô Danh của Tha Nhân

            Cả đời vì nước đã hy sinh
Chẳng nghĩ hơn thua đến phận mình
Giết giặc xả thân nơi hỏa tuyến
Diệt thù vong mạng chốn điêu linh
Một lòng bảo quốc son son sắt
Một dạ an dân nghĩa nghĩa tình
Tận tụy âm thầm không kể biết
Cả đời vì nước đã hy sinh

  

(Họa bài: “Chiến Sĩ Vô Danh” của Tha Nhân)

Vì nước vì dân nên hy sinh
Thắng thua sá chi đến phận mình
Sa trường xông pha nơi chiến tuyến
Sống chết gan tấc chốn điêu linh
Quốc biến nêu cao lòng son sắt
Nhiệm vụ an dân trọn nghĩa tình
Âm thầm nghĩa cử mấy ai biết
Gìn giữ non sông quyết hy sinh

  Đoàn Ngọc Nam

 

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Anh Hùng Vô Danh thơ Đoàn ngọc Nam họa bài Chiến Sỹ Vô Danh của Tha Nhân

Tin về bạn K1 Trần hữu Tá

Thưa Quý Vi. Chiều thứ Năm tuần rồi, K1/Trần Hữu Tá phone cho K1/Hạp hỏi về k1/HUYNH ĐIỀN tai Redwood City CA qua tin tuc trên  CNN của K1/Vinh.
Nhân dip nầy Hạp hỏi “nghĩ hưu rồi…khỏe không..?” thì Tá cho biết bốn tháng trước , phải dô Hospital , giải phẩu tim. Case giải phẩu 08hours, đặt  Pace maker trong tim.
Hiện nay sức khỏe đang bình phục. Bà xã Tá còn đi làm, phần lớn chi phi do hảng trả.
Nhờ sự hoạt bát khéo léo, tiếng Anh khá nên Doctors…nurse chăm sóc thân tình, thoái mái hơn…Tá rất biết ơn và cảm động…trong thời gian nằm điều trị..!được sự chăm sóc chu đáo. yêu thương của BV va Vợ con…!

Xin thông báo để Quý vị rõ. Xin Ơn Trên Phù Hộ để K1/Tá mỗi ngày sức khỏe một better …để Tá dự 50 NĂM HOC VIEN “Như K1/Tá hứa.”

Chúng ta cũng không quên cám ơn Chị TRẦN HỮU TÁ đã chăm sóc “Bạn Ta” trong lúc khó khăn nhất..! Trong khi đó bạn bè thì rất đông nhưng lại ở xa…!!  

Xin các bạn  K1 phe ta hãy gọi:(203) 371-2280 or (203) 400-2000 (c) ; hoặc email thăm hỏi động viên chúc mừng K1 Trần Hữu Tá hiện ở Connecticut cho bạn ta lên tinh thần.

K1 Đinh văn Hạp

*CNN xin chúc mừng bạn Trần Hữu Tá đã qua đựoc con hiễm nghèo. Chúc bạn mau hồi phục và chúng ta sẽ gặp nhau một lần nữa trong dịp kỷ niệm 50 năm Học Viện CSQG như bạn Hạp vừa nói ở trên.

(Bản tin trên do K1 Hạp gởi tới, không dấu, sửa lại ngất ngư con tàu đi, mà không biết có đúng không. Chịu khó cài chương trình tiếng Việt cho tui nhờ nghe ông bạn già. Hi..hi! )

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Tin về bạn K1 Trần hữu Tá

Đoàn ngọc Nam họa bài thơ Rợp Bóng Cờ của Lệ Khanh

Tương lai Việt Nam trong mong chờ
Non sông xâm lấn đừng làm ngơ
Truyền hịch muôn đời còn vang dội
Giang san gấm vóc đẹp như mơ
Giặc Tàu muôn đời vẫn như thế
Mà nay lắm kẽ còn ngây thơ
Bao giờ quét sạch phường gian ác
Toàn dân đứng dậy dựng nước cờ

Đoàn Ngọc Nam
(Họa lại bài “Rợp bóng cờ” của Lệ Khanh)

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Đoàn ngọc Nam họa bài thơ Rợp Bóng Cờ của Lệ Khanh

Seattle vao Thu

.

             

 

Gởi Gió cho mây ngàn bay…

 Seattle vào thu anh có hay ?
Nắng chiều phai nhạt lá vàng bay.
Thu xưa…lá đổ…anh chợt đến,
Trải xuống hồn ai một bóng mây…

Seattle vào thu anh nhớ chăng?
Hồn thu xào xạc, lá thu vàng,
Chân quen nhẹ gót bên thềm cũ,
Khúc nhạc khơi chi lại tiếng lòng…

 Seattle vào thu rồi đó anh.
Mây chiều phai nhạt lá xa cành
Ngoài sân nắng đổ ai thầm nhớ
Bóng dáng người yêu với gió mây.

 Có phải anh quên từ thu nầy?
Tình thu man mác lá thu bay
Ngàn sau không thể còn nhau nữa
Hong lại tình ai với tháng ngày…

                                   Trúc Ngọc (9-2012)

(Theo báo Người Việt Ngày Nay
số 225 ngày 28/9/2012 tại Seattle)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Seattle vao Thu

Đố bạn nhớ tên bạn ta không

Hôm nay bạn K1 Nguyễn văn Nhì từ Georgia gởi đến chúng ta 3 tấm hình trong đó có hai hình giống nhau và đố anh em chúng ta có không nhớ tên bạn ta trong hình nầy hay không. Các bạn hảy cố nhớ xem  tên các bạn trong  hình nầy là ai nhé, có ghi số từ 1 đến 7

Hi All !!!

Gữi 3 tấm hình chụp sáng nay K.1 Georgia ăn phở tại  ” I Love PHO “. Mời nhìn lại dung nhan các lão cựu SQ/CSQG xuất thân K.1 hiện ngụ tại GA.
K.1 Nhì

 PS: Nếu vị nào nhìn không nhớ ra thì xin gữi mail hỏi đừng e ngại.

Mình thì trí nhớ hơi kém nên ba bạn có số 1, 2 và 7 chưa nhớ ra. Còn từ số 3 đến số 6 là : Nam, Thiệt, Nhì, Niệm.

Nè mà sao không rũ Ngô quang Liêm đi cho vui???

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Đố bạn nhớ tên bạn ta không

Các bài thơ lấy cảm hứng từ anh đờn cò Nguyễn chính Minh

Các bạn biết hôn ,
Lúc tui đi Kansas thăm Nguyễn-chính-Minh , buổi tối ngồi nghe Minh kể lại chuyện xưa , chuyện hắn theo ban nhạc đám ma kéo đờn cò , tui vừa nghe vừa thấy nghèn nghẹn xót-xa . Câu chuyện đọng lại trong tui một hình ảnh không phai : một Nguyễn-chính-Minh , một ông bố gầy còm đạp xe cọc-cạch giữa trưa nắng khát nước mà hổng dám uống một ly nước mía , dù trong túi có một ít tiền vừa được chia từ đám ma vì tiền chỉ đủ để mua quà cho con .

Khi viết bài Ly Nước Mía Trưa Hè , tui vừa viết vừa khóc trong hãng .Minh cám ơn tụi mình , nhưng tụi mình cũng phải cám ơn Minh đã cho nguồn cảm-hứng để xướng họa .

Nghĩa

Bàn tay lả-lướt phím ghi-ta .
Dâu bể : đờn cò kéo đám ma !
Hận nghẽn cung ai , đời mất nước .
Hờn nghiêng điệu oán , phận tan nhà .
Cổ khô . Cơn khát mờ đôi mắt .
Nắng cháy . Trưa hè rát lớp da .
Ly mía . Trời ơi xa cách quá !
Nhịn thôi ! Cho trẻ có phần quà .

* Mến tặng bạn Nguyễn-chính-Minh ._LHN

Kính họa bài Ly Nước  Mía Trưa Hè của Bạn Lê Hữu Nghĩa và cũng để tặng NGUYỄN CHÍNH MINH -NghiệpPhan

Pha mì cống xự đủ tây ta
Nhạc sĩ tài hoa khảy tế ma
Trống cái kêu hồn vang khắp xóm
Thầy Phù  gọi vía kể om nhà
Phùng mang thổi sáo đà khô cổ
Bấm phím tay đàn tróc cả da
Độc tấu Tây Ban Cầm bụng đói
Thà theo đám chết kiếm tiền quà


Kính họa bài thơ Ly Nước Mía Trưa Hè và Đờn Đám Ma gởi tặng các anh Lê H. Nghĩa, Nguyễn Chính Minh, Phan Q. Nghiệp.

Cộc cộc khua tiếng mõ phèng la
Kèn trống vang vang khắp xóm nhà
Người khóc kẻ đưa bày đình đám
Bầy trẻ nhao nhao thấy món quà
Lẵng hoa đèn khói hương nghi ngút
Đàn kìm khéo gảy tiếng bi ca
Buồn ơi! sao kéo hoài thảm thiết
Khóc phận ai đây, Đảng chết mà…

Nguyễn Ngọc Đa

*Các bạn đối họa vui qúa, tôi cũng xin ké một bài và đặc biệt để tặng Nguyễn Chính Minh _Nhữ Đình Toán.


 Một thời lãng tử chiếc ghi ta
Bỗng chốc tan tành ra khói ma
Phận cũng nổi trôi theo vận nước
Duyên đành tan vỡ với tình nhà
Phèng la đưa tiễn hồn lìa xác
Chiêng trống tạ từ xương bọc da
Thất thế anh hùng khi lỡ vận
Chỉ là cơm áo để làm qùa.

NĐT

Xin cám  ơn đồng  môn   PHAN QUANG NGHIỆP 
đã cho biết tin đồng môn NGUYỄN CHÍNH MINH.
 
Mến họa :
Bài thơ LY NƯỚC MÍA TRƯA HÈ
của đồng môn  LÊ HỮU NGHĨA.

CẢM  PHỤC 

 
Bạn Nguyễn Chính Minh giỏi quá ta
Cũng đàn,cũng địch diệt tà ma

Ma cô,ma cạo,ma buôn nước
Quỷ dữ quỷ gian,quỷ cướp nhà
Kiếp sống tối tăm sầu bạc tóc

Đường tình dang dở  khổ vàng da
Phân thây Hồ tặc bằm tan xác
Cho chó,kên kên một chút quà !!!  *

K1 THANH  HOÀNG

Không ngờ chuyện mình theo ban kèn đám ma bây giờ thành đề tài cho các bạn thơ. Rất cảm động và rất vui trước lòng ưu ái của các bạn. Xin đa tạ tấm lòng tri kỷ các bạn Lê hữu Nghĩa, Phanquang Nghiệp, Nguyễn ngọc Đa, và Nhữ đình Toán “thằng” bạn nối khố đã lâu không gập.

Nguyễn chính Minh.

 

Đăng tải tại Tâm Tình K1 | Chức năng bình luận bị tắt ở Các bài thơ lấy cảm hứng từ anh đờn cò Nguyễn chính Minh

Đọc chuyện Xưa cùa K2 Ngô Viết Trọng

ĐỌC CHUYỆN XƯA: LẠN TƯƠNG NHƯ

 

Chuyện rút từ Đông Châu Liệt Quốc: Vào thời chiến quốc, vua nước Triệu có viên ngọc họ Hòa rất quí. Vua Tần nghe tiếng động lòng tham muốn chiếm lấy. Thừa tướng Ngụy Nhiễm hiến kế giả đánh tiếng đem 15 thành Tây Dương để đổi, Triệu vốn yếu hơn Tần tất nhiên sợ Tần giận, phải cho đem ngọc đến, khi ấy cứ việc đoạt lấy mà chẳng cần giao thành cũng xong.

Vua Tần mừng rỡ liền sai sứ sang Triệu đề nghị xin đổi ngọc. Vua Triệu lo sợ, hội quần thần lại hỏi ý. Liêm Pha nói:

-Nếu trao ngọc cho Tần tất bị lừa. Ngọc mất mà thành chẳng lấy được đâu!

Lý Khắc khuyên nên chọn một dũng sĩ dắt ngọc theo mình đến đó, nếu nhận được thành thì trao ngọc, nếu không thì đem ngọc về.

Vua Triệu nhìn Liêm Pha hỏi ý nhưng Liêm Pha cúi đầu không đáp. Mục Hiền nói:

-Tôi có một xá nhân tên Lạn Tương Như vừa có sức mạnh lại nhiều mưu trí. Nếu cần đi sứ nước Tần không ai hơn người ấy.

Vua Triệu liền cho đòi Lạn Tương Như đến và hỏi:

-Vua Tần xin đem 15 thành để đối lấy viên ngọc của ta, tiên sinh nghĩ thế nào?

Lạn Tương Như đáp:

-Tần đem 15 thành đổi viên ngọc, như thế là viên ngọc được giá lắm rồi, nên đổi.

Vua Triệu nói:

-Nếu Triệu giao ngọc mà Tần không giao thành thì sao?

-Thì đó là lỗi của nước Tần.

-Nhưng những kẻ mạnh thường lấy sức mạnh làm lẽ phải?

-Nếu Đại vương sợ, tôi xin đem ngọc sang Tần. Nếu lấy được đất thì đổi, nếu không, tôi sẽ bảo vệ ngọc đến cùng!

Vua Triệu mừng rỡ phong Lạn Tương Như chức Đại phu và cử làm sứ giả đem ngọc sang Tần.

Lạn Tương Như đến Hàm Dương, vua Tần hay tin ngồi trên chương đài họp cả triều thần lại rồi cho Lạn vào yết kiến. Lạn dâng ngọc nhưng giữ cái hộp lại, chỉ dâng cái bao gấm. Vua Tần mở bao gấm lấy ngọc ra xem, quả nhiên là viên ngọc quí, không dấu vết gì, chạm khắc tinh vi, ánh sáng lấp lánh. Vua Tần tấm tắc khen ngợi rồi truyền chuyển cho quần thần mỗi người xem một chút, xong lại đưa vào cung cho các cung nữ cùng xem. Sau đó ngọc được đem ra đặt trên án vua.

Lạn Tương Như đứng một bên chờ đợi nhưng không thấy nói đến việc cắt đất giao thành, liền sinh ra một kế, quì trước mặt vua Tần tâu:

-Viên ngọc ấy quí thật, nhưng cũng có một ít tì vết, tôi xin chỉ cho Đại vương xem.

Vua Tần sai kẻ tả hữu lấy ngọc trao cho Lạn. Lạn cầm viên ngọc lui mấy bước, đứng dựa vào cột điện, trợn mắt nói với vua Tần:

-Ngọc bích họ Hòa là ngọc quí trong thiên hạ. Đại vương muốn đổi 15 thành lấy viên ngọc này. Lúc tiếp được thư của Đại vương, quần thần nước tôi đều cho là Tần ỷ mạnh, sẽ cướp lấy ngọc chứ không giao thành. Riêng tôi, tôi nghĩ bọn quần cộc áo vải như chúng tôi giao du với nhau còn không phụ lời huống là một ông vua. Vì thế tôi khuyên vua Triệu nên kính nể Đại vương, lấy chữ tín làm trọng. Vua Triệu nghe lời sai tôi đem dâng ngọc. Trước lúc tôi ra đi, vua Triệu trai chay 5 ngày, tỏ ra rất cung kính. Nay Đại vương tiếp tôi rất ngạo mạn, ngồi mà nhận ngọc, đưa cho kẻ tả hữu xem chán rồi lại đưa vào hậu cung cho mỹ nữ xem, quả là Đại vương không có ý cắt đất giao thành để đổi ngọc, cho nên tôi phải lấy lại. Nếu Đại vương bắt tội, tôi quyết đập nát viên ngọc với cái đầu của tôi nơi chân cột này để thiên hạ rõ lòng dối gạt của Đại vương.

Nói xong, Lạn Tương Như cầm ngọc bích đưa lên chực đập vào cột. Vua Tần tiếc viên ngọc, sợ đập bể mất, nói:

-Quan Đại phu chớ nóng giận, bản quốc đâu dám thất tín với Triệu.

Liền sai các quan lấy bản đồ nước Tần ra, chỉ 15 thành nói:

-Đây là những thành ta định giao cho Triệu để đổi lấy ngọc.

Lạn Tương Như quì tâu:

-Vua Triệu lúc sai tôi đem dâng ngọc có trai giới 5 ngày. Nay Đại vương nhận ngọc xin cũng làm y như vậy tôi mới dám dâng.

Vua Tần bèn cho Lạn Tương Như trở về nghỉ ở công quán và hứa sẽ trai giới 5 ngày để nhận ngọc.

Khi đã về công quán, Lạn Tương Như liền gọi một tên hầu cận bảo giả cách ăn mặc ra người nghèo khổ, bỏ bích ngọc vào một túi vải buộc sau lưng theo đường tắt trốn về tâu với vua Triệu:

-Xét thấy vua Tần không thật tình đổi thành lấy ngọc nên kẻ hầu này mang ngọc về trả lại.

Năm ngày qua, vua Tần làm một tiệc lễ mời các nước chư hầu và cả triều thần đến để khoe ngọc. Lạn Tương Như ung dung vào triều. Vua Tần thấy Lạn không mang ngọc liền hỏi:

-Ta đã trai giới 5 ngày, bày trọng lễ để nhận ngọc, cớ sao không mang ngọc đến?

Lạn Tương Như đáp:

-Nước Tần từ đời Mục Công đến nay, kể đến hai mươi đời vua, đời nào cũng dùng việc dối gạt để mưu lợi. Kể xa thì Kỷ Tư lừa Trịnh, Mạnh Minh lừa Trần. Kể gần thì Thương Ưởng lừa Ngụy, Trương Nghi lừa Sở. Việc trước còn rành rành không giữ được tín nghĩa. Tôi nay sợ Đại vương lừa, làm thất tín với vua nước tôi nên đã sai người mang ngọc về Triệu rồi.

Vua Tần giận tái mặt thét:

-Như vậy là sứ giả khinh ta quá lắm!

Nói xong hô kẻ tả hữu trói Lạn Tương Như lại. Lạn tâu:

-Xin Đại vương nguôi giận. Nếu sợ chết tôi đã trốn đi chứ đâu còn ở lại đây. Tôi biết cái tội đánh lừa Đại vương đáng chết nên đã gởi lời về tâu với vua Triệu đừng mong tôi trở về nữa. Xin Đại vương cứ giết. Nay chư hầu đã biết cái cớ nước Tần vì muốn được ngọc mà giết sứ Triệu, phải trái không còn che giấu được.

Vua Tần suy nghĩ giây lát rồi nói với quần thần:

-Giết Lạn Tương Như cũng không lấy được ngọc lại mang tiếng bất nghĩa. Chi bằng liệu cách khác thì hơn.

Nói rồi hậu đãi Lạn Tương Như mà cho về nước. Sau chuyến đi sứ ấy Lạn Tương Như được vua Triệu thăng chức Thượng đại phu.

Lấy ngọc không được, vua Tần lại tìm cách khác. Ông sai sứ đến ước với vua Triệu gặp nhau ở Mãnh Trì để giao hiếu. Vua Triệu nói:

-Trước kia Tần dùng mưu hội kiến, lừa bắt vua nước Sở giam nơi Hàm Dương đến phải bỏ mạng. Nay lại mời ta đi hội, ắt cũng âm mưu như thế chăng?

Liêm Pha và Lạn Tương Như bàn với nhau rồi tâu với vua Triệu:

-Tần mời hội kiến, nếu không đi tỏ ra ta yếu. Xin Đại vương cứ đi!

Thấy vua Triệu còn e ngại, Lạn Tương Như nói:

-Tôi xin theo bảo vệ Đại vương.

Liêm Pha nói:

-Tôi ở lại giúp Thái tử giữ nước!

Vua Triệu mừng rỡ nói:

-Được Lạn Tương Như theo hộ giá ta còn sợ gì!

Bình Nguyên Quân nói:

-Trước kia Sở Hoài vương tin theo lời Tần, chỉ đi một cỗ xe đến Hàm Dương, khi lâm biến không biết đâu gỡ gạt. Nay tuy có Lạn Tương Như theo, Đại vương cũng phải cho 5 ngàn quân tinh nhuệ đóng cách Mãnh Trì 30 dặm để yểm trợ mới được!

Các quan bèn đề nghị cử Lý Mục làm tướng chỉ huy 5 ngàn quân theo yểm trợ. Vua Triệu hài lòng cùng Lạn Tương Như thẳng đến Mãnh Trì.

Tới ngày hội kiến, vua Tần mở tiệc đãi vua Triệu để bàn quốc sự. Tiệc rượu nửa chừng vua Tần nói:

-Tôi trộm nghe vua Triệu giỏi về âm nhạc, nay nhân cuộc vui, xin nhà vua cho tôi được thưởng thức tài nghệ ấy. Nói xong sai người hầu lấy đàn bảo sắc ra để trước mặt vua Triệu. Vua Triệu đỏ mặt nhưng không dám từ chối, cầm đàn gảy một khúc Tương Linh. Vua Tần hết lời khen ngợi rồi bảo quan Thái sử ghi chép việc ấy. Quan Thái sử lấy thẻ ra, cầm bút viết:

“Năm… tháng… ngày…, vua Tần cùng vua Triệu họp ở Mãnh Trì, vua Tần sai vua Triệu gảy đàn sắc!”.

Lạn Tương Như thấy vua Tần làm nhục vua Triệu vội vã bước đến cầm cái phẫu đựng rượu nói với vua Tần:

-Vua Triệu biết Đại vương giỏi về âm nhạc nước Tần, yêu cầu Đại vương đánh cái phẫu này giúp vui.

Vua Tần giận tái mặt. Lạn Tương Như nói tiếp:

-Đại vương cậy nước Tần mạnh chỉ muốn sai khiến các nước khác mà không kính nể lân bang chăng? Nếu vậy là Đại vương đã làm nhục nước tôi! Tôi xin dùng cái chết để đổi lấy cái chết của Đại vương mà rửa mối quốc nhục!

Thấy bọn tả hữu của vua Tần muốn can thiệp, Lạn Tương Như hét lớn:

-Các người tới một bước ta cùng vua các người không còn!

Vua Tần sợ hãi ra hiệu bảo bọn tả hữu lui ra rồi đưa tay gõ vào cái phẫu rượu. Lạn Tương Như nói:

-Xin Đại vương bảo quan Thái sử chép việc này.

Vua Tần phải nghe theo, quan Thái sử lại chép:

“Năm… tháng… ngày…, vua Triệu cùng vua Tần hội kiến ở Mãnh Trì, vua Triệu sai vua Tần gõ cái phẫu rượu giúp vui!”.

Thấy không thể ép chế vua Triệu được, vua Tần bèn giả say, cùng vua Triệu ăn uống chuyện trò thân mật rồi bãi hội.

Vua Triệu về triều nghĩ đến cái công lao của Lạn Tương Như, hớn hở nói với các quan:

-Ta được Lạn Tương Như chẳng khác nào được ngồi trên tảng núi, chẳng lo gì sóng gió. Nay ta phong cho Lạn Tương Như chức Thượng tướng tưởng cũng chưa xứng đáng.

Liêm Pha thấy vậy bất bình, về đến dinh hằn học:

-Ta có công đánh thành cướp đất, còn Lạn chỉ lấy chút công chót lưỡi mà thứ vị lại ở trên ta. Vả lại, hắn là tên xá nhân của một kẻ hoạn quan, xuất thân hèn mọn, ta đời nào chịu đứng dưới hắn. Nếu trông thấy mặt hắn ta giết ngay!

Từ khi Lạn Tương Như nghe những lời nói ấy, ông thường tránh mặt Liêm Pha. Nhiều người thấy vậy thì chê Lạn Tương Như hèn. Một hôm ra đường gặp Liêm Pha từ xa đi tới, Lạn Tương Như bảo tên đánh xe tránh vào ngõ hẻm, chờ Liêm Pha đi xong mới đi. Bọn xá nhân thấy vậy buồn lòng nói với Lạn:

-Chúng tôi bỏ làng xóm, xa thân thích, đến đây để hầu hạ ngài, coi ngài là bậc trượng phu. Ngày nay ngài cùng Liêm tướng quân làm quan một triều, ngôi thứ lại ở trên, thế mà bị Liêm tướng quân dọa một câu ngài lại sợ đến nỗi luôn né tránh Liêm tướng quân! Chúng tôi thật xấu hổ không muống theo phò ngài nữa!

Lạn Tương Như buồn bã nói:

-Ta tránh Liêm Pha không phải vì sợ mà vì một duyên cớ khác các ngươi chưa hiểu đấy thôi!

Bọn xá nhân hỏi:

-Duyên cớ nào xin ngài cho biết?

Lạn Tương Như hỏi:

-Các người xem Liêm tướng quân uy lực bằng vua Tần không?

-Không bằng!

-Uy lực của vua Tần trong thiên hạ không ai dám chống thế mà ta lại dám mắng vào mặt vua Tần, làm nhục cả quần thần nước Tần nữa, vậy sao ta lại sợ Liêm tướng quân chứ? Ta biết nước Tần không dám đánh nước Triệu chỉ vì sợ ta và Liêm tướng quân. Nếu ta và Liêm tướng quân xung đột lẫn nhau, ắt nước Tần sẽ thừa cơ đánh Triệu. Ta nhịn Liêm tướng quân chỉ vì coi việc nước là trọng mà thù riêng là nhẹ vậy.

Bọn xá nhân nghe nói vỡ lẽ rất kính phục Lạn Tương Như.

Mấy hôm sau, hai bọn xá nhân của hai nhà gặp nhau tại một quán rượu tranh nhau chỗ ngồi. Xá nhân họ Lạn nói:

-Chủ ta vì nước mà phải nhường Liêm tướng quân, chúng ta cũng nên vì chủ mà nhường khách họ Liêm vậy!

Lạn Tương Như càng nhường nhịn thì Liêm Pha càng kiêu ngạo. Chẳng bao lâu có một người ở Hà Đông tên Ngu Khanh đến nước Triệu chơi, biết được chuyện bèn vào yết kiến vua Triệu nói:

-Trọng thần của Đại vương có phải là Lạn Tương Như và Liêm Pha không?

Vua Triệu đáp phải. Ngu Khanh nói:

-Đại vương có hai trọng thần sao lại để họ thù ghét nhau như thế thật không phải là điều phúc cho nước Triệu đó.

Vua Triệu ngạc nhiên hỏi:

-Có gì xảy ra giữa Liêm Pha và Lạn Tương Như sao?

Ngu Khanh bèn đem những lời nghe được kể lại và nói:

-Hai người chống nhau như thế tất lúc hoạn nạn khó mà giúp nhau. Như vậy Đại vương làm sao trông cậy họ được! Tôi xin vì Đại vương tìm cách nối lại mối tình giữa hai kẻ ấy.

Vua Triệu khen phải, nhờ Ngu Khanh dàn xếp.

Ngu Khanh bèn đến yết kiến Liêm Pha, trước tiên ca tụng công lớn của Liêm Pha. Liêm Pha mừng lắm. Ngu Khanh lại nói:

-Kể về công không ai bằng tướng quân, nhưng kể về đức thì không ai bằng Lạn Tương Như được!

Liêm Pha cau mặt nói:

-Lạn là kẻ hèn mạt, lấy chót lưỡi lập nên công danh, có gì mà gọi rằng đức?

Ngu Khanh nói:

-Lạn Tương Như đâu phải hèn nhát. Nếu hèn nhát Lạn đâu dám hai lần mắng vua Tần trước công chúng? Chẳng qua Lạn nghĩ đến việc lớn mà nhường tướng quân đó thôi!

Liêm Pha giật mình hổ thẹn nói:

-Nếu tiên sinh không nói tôi không bao giờ thấy được điều lỗi của tôi! Tôi thật kém Lạn Tương Như nhiều lắm!

Nói xong Liêm Pha tự trần vai áo, cầm roi đến tận cửa nhà họ Lạn tạ tội:

-Bỉ nhân hẹp hòi không hiểu đức khoan hồng của tướng quốc. Bỉ nhân dẫu chết cũng chưa hết tội!

Nói xong quì mãi ở giữa sân. Lạn Tương Như đỡ Liêm Pha dậy mà nói:

-Hai ta sánh nhau chung phò xã tắc. Tướng quân hiểu lòng nhau như thế là một ân huệ đối với tôi rồi. Xin đừng áy náy nữa!

Từ đó Liêm Pha và Lạn Tương Như kết tình sinh tử với nhau cùng giữ vững nền an ninh nước Triệu trước móng vuốt của bạo Tần.

                                              *

Nước Tàu xưa kia gồm hàng ngàn nước lớn nhỏ luôn đánh giết nhau không dứt. Đến thời Chiến Quốc các nước nhỏ yếu lần lượt bị các nước mạnh thôn tính, chỉ còn 7 nước đáng kể là Tề, Sở, Tần, Hàn, Ngụy, Triệu, Yên vẫn tiếp tục xâu xé nhau. Khoảng năm thứ 300 trước công nguyên thì thế lực nước Tần vượt trội hẳn các lân bang. Chẳng còn mấy nước có thể tự mình cự nổi Tần. Trước nguy cơ đó, nhà chính trị Tô Tần đưa ra kế sách “hợp tung” (liên kết các nước yếu) để chống Tần, đã áp dụng hữu hiệu được một thời gian. Câu chuyện Lạn Tương Như kể trên xảy ra vào thời điểm ấy.

Lạn Tương Như biết rõ hơn ai hết “sức mạnh lớn nhất của một dân tộc chính là sức mạnh ở sự đoàn kết”! Vì thế, khi bị Liêm Pha khiêu khích, Lạn đã âm thầm nhường nhịn Liêm để giữ sức mạnh của nước Triệu khỏi sứt mẻ. Điều đó sau này Ngu Khanh đã giải thích cho Liêm biết. Khi được biết Lạn nhịn mình chỉ vì đại sự quốc gia chứ không phải sợ mình thì Liêm tỉnh ngộ và bày tỏ thái độ phục thiện ngay. Liêm đã thành khẩn xin lỗi Lạn và hai người đã ôm nhau, thông cảm nhau. Từ đó họ đoàn kết một lòng phò Triệu chống Tần.

Đọc đến đoạn này chúng ta lại nhớ đến vụ đức Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn và Thượng Tướng Chiêu Minh vương Trần Quang Khải, con thứ ba của vua Trần Thái Tôn, cũng chịu bỏ qua mối thù riêng giữa hai bên để cùng nhau đoàn kết chống quân Mông Cổ xâm lược (1284-1288) đời Trần. Là người Việt, đã đọc kỹ sử Việt, mang tâm tình người Việt, hẳn chúng ta biết rõ mối thù đó sâu sắc đến mức nào! Đó là mối thù của người con, Trần Hưng Đạo, lẽ ra phải thực hiện theo lời trăn trối của người cha, Trần Liễu, lúc lâm chung. Trần Liễu, anh ruột vua Thái Tôn, đã đau đớn nhìn vợ mình, Thuận Thiên công chúa, bị Trần Thủ Độ ép gả cho Trần Thái Tôn khi bà đang mang thai 3 tháng. Một mối thù gia tộc, một tội ác loạn luân khó tha thứ! Thế mà vì sự sống còn của đất nước, của dân tộc, hai vị tiền bối đã bỏ qua tất cả để xích lại gần nhau, đức Trần Hưng Đạo được phong Thánh cũng phải thôi!

Nhưng chúng ta hãnh diện với người xưa bao nhiêu thì chúng ta lại buồn tủi cho số phận dân tộc Việt Nam ngày nay bấy nhiêu!

Việt Nam hiện tại đang nằm dưới ách thống trị của một chế độ chính trị độc tài tàn ác. Các nhà cầm quyền hiện hữu đang nhẫn tâm lần lượt nhường đất bán biển cho giặc Tàu để cầu sự che chở, để yên thân thủ lợi. Giặc Tàu thì mỗi ngày mỗi xâm nhập lấn lướt thêm. Đại họa mất nước của chúng ta xem chừng còn nặng nề hơn nước Triệu thời Chiến Quốc và nước Đại Việt ta thời Trần rất nhiều. Dân trong nước ai cũng muốn nổi lên lật đổ bạo quyền cùng chận bước giặc Tàu xâm lăng! Và ở thế tức nước vỡ bờ, chắc chắn việc “khởi nghĩa” sớm muộn cũng phải xảy ra. Tất nhiên dân trong nước cũng cần phải có sự tiếp tay của đồng bào hải ngoại. Cộng đồng người Việt hải ngoại là nguồn tiếp sức chính và có nhiều điều kiện để vận động quốc tế ủng hộ sự vùng dậy của dân Việt hơn ai hết! Mọi sự chia rẽ của cộng đồng người Việt hải ngoại đều có thể làm cho đồng bào trong nước giảm lòng tin  và chùn bước.

Thế mà không hiểu sao vẫn còn vài thế lực chính trị cùng chiến tuyến quốc gia ở hải ngoại, một mặt hô hào đấu tranh giải phóng dân tộc, một mặt lại cố tình báng bổ, bôi bác nhau để tranh giành ảnh hưởng trong cộng đồng! Tìm sai lầm của đối phương hiện tại không được, họ cố bươi móc những sai lầm mơ hồ đã tam sao thất bổn đâu ba bốn chục năm trước để làm cớ. Họ không hề nghĩ, việc đời luôn luôn biến cải, ý thức về chính trị, xã hội của cùng một con người, thời thanh niên 20 và thời lão thành 60 có thể khác nhau rất xa, có khi trái nghịch nhau nữa! Phải chăng vì quyền lợi của phe nhóm, của tổ chức riêng, người ta đã quên đi mối đại họa đang lơ lửng trên đầu của dân tộc? Giữa lúc quân xâm lăng đang hầm hè chực tiêu diệt mình, mình lại đem những lỗi lầm của nhau trong quá khứ ra mổ xẻ, chỉ trích, phỉ báng nhau là một việc làm thất sách, gây mất tình đoàn kết. (Ở đây tôi chỉ nói với những người Việt yêu nước đang nóng lòng vì sự sống còn của dân tộc chứ không phải nói với những người đã có chủ trương bán nước cầu vinh, làm tay sai cho giặc Tàu, cố sức đặt điều, vu vạ lung tung làm cho cộng đồng người Việt thêm hoang mang, chia rẽ nhau để dễ bề thủ lợi). Nếu cộng đồng người Việt ở hải ngoại mà cứ xâu xé nhau thì còn gì là niềm tin, là hậu thuẫn cho những lực lượng đấu tranh trong nước?

Bài học của người xưa còn đó, nếu chúng ta ai cũng suy nghĩ sâu xa, biết nhường nhịn nhau như Lạn Tương Như hay ít ra cũng sớm giác ngộ như Liêm Pha, biết được người ta nhường nhịn mình chỉ vì không muốn gây xung đột giữa những kẻ cùng chiến tuyến chứ không phải vì có lỗi mà sợ mình thì hay biết chừng nào!

 K2 Ngô Viết Trọng

(Phan Quang Nghiệp sưu tầm)

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Đọc chuyện Xưa cùa K2 Ngô Viết Trọng

Đi Thăm K2 Nguyễn Duy Cơ

Đi thăm K2 Nguyễn Duy Cơ

Được tin bạn K2 Nguyễn Duy Cơ phải vào bệnh viện để Bác sĩ mỗ động mạch vành nơi cổ.

Sáng thứ Sáu 5 tháng 10 năm 2012 chúng tôi gồm K1 Nguyễn công Vinh và K3 Nguyễn văn Diệp đến Renton thăm gia đình anh Cơ.

Sau khi mỗ được  hơn một tuần đến nay vết thương chưa lành nhưng sức khỏe đã hồi phục tốt.

Cách nay mấy năm, anh Cơ đã đựợc mỗ tim một lần rồi. Vừa qua trong khi khám định kỳ, bác sĩ nghi ngờ động mạch dẫn máu lên đầu có vấn đề, để lâu có thể nguy hiệm vì tai biến mạch máu não sẽ xảy ra, nên vội vả đưa anh Cơ qua một bác sĩ chuyên khoa để khám lại. Và sau khi khám thì anh Cơ liền đựợc đưa vào phòng mỗ ngay.

Ngày 12 tới đây anh Cơ sẽ đi khám lại. Trong thời gian nầy anh Cơ không đựoc đi ra ngoài một mình mà phải có người nhà đi bên cạnh để đề phòng chuyện rủi ro xảy ra.

Chúng tôi chúc anh Cơ mau hồi phục để còn tham gia sinh hoạt với anh em cho vui.

Đó là một số thông tin về K2 Nguyễn Duy Cơ. Các bạn K2 muốn  hỏi thăm thì  gọi số phone nhà của anh Cơ sau đây (425) 271.5840. Mời xem vài hình ảnh.

Tường trình từ CNN 10/8/12)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Đi Thăm K2 Nguyễn Duy Cơ

Nhờ tìm bạn mất tích

Thưa quý vị và quý bạn,

Một ngưòi bạn của tôi là Cựu Sỹ Quan Khóa 1 Học Viện CSQG/VNCH nhờ tìm bạn, tin tức như sau:

 1. Cựu Đại Úy CSQG Trần Ngọc Điều, Khóa 1 Học Viện CSQG, trước 1975 tùng sự tại Sở Tiếp Liệu BTL/CSQG

2. Cựu Đại Úy CSQG Nguyễn Văn Biên, Khóa 1 Học Viện CSQG, trước 1975 tùng sự tại BCH/CSQG/Long An.

Sau năm 1975 hai anh bị Cộng Sản đưa đi tù tại Trại Tù Cao Lãnh sau chuyển qua Trại Tù tại Mộc Hoá.

Từ trại Tù Mộc Hoá, anh Biên trốn trại tù và anh Điều cũng trốn trại trước hoặc sau một hai ngày.

Anh Biên bị bắt và bị VC xử tử. Anh Điều mất tích từ ngày đó cho đến nay gia đình không có tin tức.

 Quý vị hay quý bạn nào biết hoặc nhờ bạn bè báo chí tìm kiếm giùm tin tức về hai anh BiênĐiều cũng như tin tức liên về mộ phần của hai anh tại đâu, xin vui lòng liên lạc với K1 Nhữ Đình Toán qua địa chỉ email:  “toan_nhu91@yahoo.com”. 

Trân trọng

K1 Nhữ đình Toán.

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Nhờ tìm bạn mất tích

Thăm bạn K1 Huỳnh Diễn – Bản tin từ San Jose

Kính thưa các bạn,

Hôm nay K1 Nghiệp và K1 Hạp đi Red Wood City thăm vợ chồng K1 Huỳnh Diễn. Sức khỏe còn tốt. Ăn ngủ OK. Tuy nhiên trí nhớ đã kém dần , không còn lái xe được nữa.Vợ Diễn không lái xe được nên việc đi lại vui chơi với bạn bè bị hạn chế. Được Hạp và Nghiệp lên thăm vợ chồng Diễn rất mừng. Đải ăn đồ Huế : Bánh canh Nam Phổ, bánh bèo Vỹ Dạ,bánh nậm, bánh bột loc…món nào cũng xuất sắc làm NG+HP nhớ Huế quá. Kính báo các bạn rõ. Xin xem hình.
Chúc cuối tuần vui vẻ.

K1  Đinh Văn Hạp & K1 Phan Quang Nghiệp.

Trình chiếu này yêu cầu JavaScript.

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thăm bạn K1 Huỳnh Diễn – Bản tin từ San Jose

Rợp Bóng Cờ của Lệ Khánh và Mơ Một Ngày Về của PQ Nghiệp

 

Noi gương Hưng Đạo cam thề cứ,
Nối chí Quang-Trung quyết để mà.
Gióng trống Hà-Hồi tô sử Việt,
Thì Xuân Chiến Thắng chẳng còn xa.

                                   XXX

Quang phục quê-hương mãi ngóng chờ,
Ai người dân Việt há làm ngơ?
Xua tan giặc Cộng hằng ao ước,
Tô lại giang-sơn thỏa giấc mơ.
Anh vẫn bền gan mài kiếm báu,
Chị luôn vững dạ tải văn thơ*
Hà-Hồi trống giục Mùa Xuân Mới,
Ngày ấy non-sông Rợp Bóng Cờ.

 Lệ-Khanh
*Văn dĩ tải đạo

(Phan Quang Nghiệp kính họa)

Thanh bình ước vọng bấy lâu chờ
Quê cũ ta về dạ ngẩn ngơ !
Xóm nhỏ bờ tre ru giấc mộng
Con đò bến nước thả hồn mơ
Tự do dân chủ vui lời hát
Hạnh phúc an nhàn đẹp ý thơ
Tỵ nạn ra đi rơi nước mắt
Hồi hương hớn hở vẫy cao cờ.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Rợp Bóng Cờ của Lệ Khánh và Mơ Một Ngày Về của PQ Nghiệp

Xin Tiển Bước Anh Ngừoi Thơ Bất Khuất _ Thơ Ngô Minh Hằng

XIN TIỄN BƯỚC ANH, NGƯỜI THƠ BẤT KHUẤT

(Tiễn chân Ngục sĩ NGUYỄN CHÍ THIỆN, người Thi Sĩ Đấu Tranh cho một Việt Nam Không Cộng Sản, từng bị bạo quyền Việt cộng nhốt tù 27 năm, vừa bỏ lại đau thương của dâu biển kiếp người để về nơi bình an miên viễn sáng ngày 2/10/2012 tại miền đất tạm dung, Nam California, Mỹ Quốc)

Người bạn gọi báo tin anh vừa mất
Tôi thấy lòng mình chùng xuống, mênh mông 
Anh đi rồi à ? Người Thơ Bất Khuất …
Để lại dòng thơ máu lệ Lạc Hồng ! 

Ôi những dòng thơ viết trong ngục tối
Xiềng xích, gông cùm, đói, bịnh, hờn đau 
Đấy, tội ác của tà quyền Hà Nội
Bán nước, lừa dân, bức hại đồng bào ! 

Tôi đọc thơ anh, lòng đau muối xát
Thương quá tài năng, xót quá phận người
Hai muơi bảy năm hung đồ chà đạp
Thơ vẫn hiên ngang, hào khí tung trời

Thơ đã bay cao vang rền bốn cõi
Lay gọi người trúng độc tỉnh cơn mê
Giục nhân loại, lương tâm, lên tiếng nói
Về một Việt Nam thảm khốc, ê chề … 

Đã sắp rồi anh ngày quê quang phục
Dân vùng lên đòi quyền sống con người
Lấy máu Tiên Rồng rửa hờn quốc nhục 
Chính nghĩa, cờ Vàng rực rỡ muôn nơi

Sáng hôm nay tôi nghe tin anh mất
Bỏ lại đau thương dâu biển kiếp người
Anh biết đấy, khi buồn vui chất ngất
Bút sẽ thành thơ chảy với dòng đời 

Tôi viết bài thơ tiễn anh về đất
Lòng đất hiền, anh ngủ nhé, ngàn thu …
Thôi, đã hết những hờn đau oan khuất
Chỉ còn Thơ chiến đấu diệt quân thù

Ngô Minh Hằng
2/10/2012

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Xin Tiển Bước Anh Ngừoi Thơ Bất Khuất _ Thơ Ngô Minh Hằng

Vĩnh Biệt Bạn Tù Nguyễn Chí Thiện_Bài của Vỏ Đại Tôn

VĨNH BIỆT BẠN TÙ: NGUYỄN CHÍ THIỆN

 (Kính gửi hương hồn Bạn Tù Nguyễn Chí Thiện,
khi nhận được tin Bạn đã ra đi… ngày 2.10.2012 tại Nam Cali, Hoa Kỳ)

 VÕ ĐẠI TÔN

 Một vài bi thuốc lào
Ném qua khung rào kẽm.
Ông bạn ơi,
Bọn mình bụng teo mắt kém
Tôi có thấy gì đâu ?
Trong vũng lầy địa ngục thâm sâu
Tôi chỉ nhặt được Tình nhau, thông cảm.
Tôi : xà lim số 8, tay trong còng số 8,
Còn Ông nằm số 7, thở ra Thơ.
Thoáng nhìn nhau qua khung cửa tò vò
Hai bóng ma chập chờn, lạng quoạng.
Ông miền Bắc, tôi miền Nam, chung kiếp nạn
Cùng toàn dân lũ lượt vào tù.
Tôi từ hải ngoại, vượt rừng núi thâm u
Trong một phút sa cơ đành ôm hận.
Giờ quanh tôi chỉ toàn rệp rận
Nhưng còn Thơ – và Bạn mới trong Đời.
Giữa đêm khuya, thoáng nghe giọng khàn hơi
Gõ vách tường, Ông “trao” vần, chuyển vận.
Bóng tối trùm đen, tôi “cảm” lòng hưng phấn
Đánh thức Nàng Thơ, “đáp” lại vài câu.
Bóng cai tù, sè sẹ dép râu
Đang rình rập. Nàng Thơ vờ im tiếng.

 …….

 Dòng sông Đời nước trôi bến chuyển
Ta lại cùng nhau chung kiếp lưu vong.
Từ Mỹ sang Âu, đến Úc, quay vòng
Cười kể lại chuyện thuốc lào, gai kẽm.
Giọng Ông vẫn khàn, mắt Ông vẫn kém
Nhưng còn Thơ, đúc đạn xuyên thù.
Ông : hai mươi bảy năm tù
Tôi : mười năm có lẻ.
Nhưng sá gì chuyện Đời, như gỡ ghẻ,
Miễn lòng son dâng hiến Núi Sông.
Rồi Sông Con về Biển Mẹ xuôi dòng
Khi Đất Nước bừng Xuân cùng vũ trụ.
Giờ ngồi bên nhau, cười vang vui thú
Không cần xua ruồi muỗi vẫn vây quanh.
Ta rít thuốc lào, mặt vẫn còn xanh,
Nhưng tim nóng, vẫn hồng chung huyết mạch.
Dân Tộc ta còn nhục nhằn, đói rách
Nhưng còn Hoa từ đáy ngục bừng lên. (Hoa Địa Ngục)
Một Đời Thơ không màng đến tuổi tên
Chỉ Tâm Nguyện góp hương đường Tổ Quốc.

 …….

 Rồi hôm nay, tôi cảm lòng cô độc
Nhìn mây trời thấy bóng của Ông xa.
Thơ của Ông : từng viên đạn vút qua
Nghe tiếng rít, cùng hơi cười khản giọng.
Tôi cúi nhìn, chỉ thấy còn một bóng
Bạn tù xưa, còn lại chỉ riêng tôi.
Thơ còn đây, xin gửi mấy vần thôi,
Ông đã hiểu lòng tôi qua Lẽ Sống :
–     Đời Vô Thường, chỉ là hơi thoáng mộng
Nhưng trọn Tình, xin giữ mãi, bên nhau.
Dù bến Quê hay lưu lạc địa cầu
Ta vẫn mãi còn Thơ vì Dân Tộc !
Tạm biệt Ông, Đời sẽ qua cơn lốc
Trước sau gì cũng hẹn Bến Xuân Quê !

 Võ Đại Tôn
3.10.2012
Úc Châu.

 Ghi chú : Tôi bị tù tại trại Thanh Liệt (B-14) ngoại ô Hà Nội, 10/1981-12/1991, phòng giam số 8, Khu D, một thời gian có biết Ông Bạn Nguyễn Chí Thiện ở phòng giam số 7, cùng Khu D.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Vĩnh Biệt Bạn Tù Nguyễn Chí Thiện_Bài của Vỏ Đại Tôn