Các Danh Mục

Nước Mỹ có mơ cũng không ngờ có ngày hôm nay – Tác giả Bùi Chien Bài sưu tầm trên Internet
Mất đi những đồng minh gần gủi nhất.
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Nước Mỹ có mơ cũng không ngờ có ngày hôm nay – Tác giả Bùi Chien Bài sưu tầm trên Internet
Happy Thanksgiving
HAPPY THANKSGIVING

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Happy Thanksgiving
Vũ Hoàng Chương dịch bài “Hoàng hạc Lâu” tác giả Vũ Quý Khang K 30 – Tôn thất Biên sưu tầm
Kính thưa toàn thể quý vị Thành viên Diễn đàn.
Tôi là Cựu SVSQ Vũ Quý Khang, K.30.
Hôm nay tôi xin giới thiệu đến Diễn đàn một bài thơ dịch rất hay của Thi sĩ Vũ Hoàng Chương.
Bài thơ nhan đề Hoàng Hạc Lâu, được xếp vào danh sách những bài thơ Đường nổi tiếng của một thi sĩ Trung Hoa, tên Thôi Hiệu.
Bài này được rất nhiều thi sĩ Việt Nam phỏng dịch ra tiếng Việt như Tản Đà, Ngô Tất Tố, Trần Trọng Kim, Vũ Hoàng Chương, …
Trước hết tôi xin giới thiệu cùng bạn đọc bài thơ này được phiên âm, nghĩa tiếng Việt.
I/ Dịch âm.
Hoàng Hạc Lâu.
Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ,
Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu.
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản,
Bạch vân thiên tải không du du.
Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ,
Phương thảo thê thê Anh Vũ châu.
Nhật mộ hương quan hà xứ thị?
Yên ba giang thượng sử nhân sầu.
II/ Dịch nghĩa
Lầu Hoàng Hạc
Người xưa cưỡi hạc vàng bay đi,
Nơi đây còn lại lầu Hoàng Hạc
Hạc vàng bay đi không trở lại
Mây trắng ngàn năm vẫn phiêu lưu.
Mặt sông Hán Dương cây mồn một
Cỏ thơmi Anh Vũ vẫn xanh rờn
Trời đã về chiều quê đâu hỡi
Sóng gợn trên sông não lòng người
Bài thơ được tác giả Thôi Hiệu sáng tác khi đến thăm lầu Hoàng Hạc, một trong 04 lầu đài bên Trung Hoa, là nơi các thi sĩ nội tiếng thường hay đến đây để đề thơ.
Cảm tác trong một buổi chiều, ngồi trên lầu Hoàng Hạc, nhìn ra sông Hán Dương, ngang qua bãi cỏ Anh Vũ, tác giả đã đề ra bài thơ này khi đang tha hương, lang bạt giang hồ.
Bài này được làm theo thể thơ Thất ngôn Bát cú với niêm luật rất chặt chẽ của Đường thi.
Nhiều thi sĩ Việt Nam đã phỏng dịch nó.
I/ Theo thể thơ Lục bát:
1. Thi sĩ Tản Đà, Nguyễn Khắc Hiếu.
Gác Hoàng Hạc.
Hạc vàng ai cưỡi đi đâu?
Mà đây Hoàng Hạc riêng lầu còn trơ!
Hạc vàng đi mất từ xưa,
Nghìn năm mây trắng bây giờ còn bay.
Hán Dương sông tạnh cây bày,
Bãi xa Anh Vũ xanh dày cỏ non.
Quê hương khuất bóng hoàng hôn,
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai?
2. Nhà giáo Trần Trọng Kim.
Lầu Hoàng Hạc
Người đi cưỡi hạc từ xưa,
Đất này Hoàng Hạc còn lưu một lầu.
Hạc vàng đi mất đã lâu,
Ngàn năm mây trắng một màu mênh mông.
Hán Dương cây bóng lòng sông,
Bãi kia Anh Vũ cỏ trông xanh rì.
Chiều hôm lai láng lòng quê,
Khói bay sóng vỗ ủ ê nỗi sầu.
II/ Thất ngôn Bát cú :
1.Thi sĩ Ngô Tất Tố.
Hoàng Hạc Lâu.
Người xưa cưỡi hạc đã cao bay
Lầu hạc còn suông với chốn này
Một vắng hạc vàng xa lánh hẳn
Nghìn năm mây bạc vẩn vơ bay
Vàng gieo bến Hán, ngàn cây hửng
Xanh ngát châu Anh, lớp cỏ dày
Hoàng hôn về đó quê đâu tá?
Khói sóng trên sông não dạ người.
– Và gần đây nhất là của Thi sĩ Vũ Hoàng Chươhng.
Ông dịch bài thơ này vào năm 1975 tại một căn gác hẹp, trong một con hẻm nhỏ của Quận 04, Sàigòn .
Bài thơ dịch từ bài Hoàng Hạc Lâu, nhưng thực ra chất chứa tâm trạng của một cuộc đời về chiều nhưng lại phải sống trong một không gian tù túng về tinh thần.
Bản dịch được gởi ra nước ngoài cho bạn bè và sau này được nhạc sỹ Cung Tiến phổ nhạc, được ca sỹ Quỳnh Giao hát ( nghe trên Youtube, Hoàng Hạc Lâu). với thủ bút ghi: Đường Thi chuyển sang thơ Việt, xa tặng Đặng Tiến, ngày 06 tháng 10 năm 1975
Xưa hạc vàng bay vút bóng người.
Đây lầu Hoàng Hạc chút thơm rơi.
Vàng tung cánh hạc đi đi mãi.
Trăng một màu mây vạn vạn đời.
Cây bến Hán Dương còn nắng chiếu.
Cỏ bờ Anh Vũ chẳng ai chơi.
Gần xa chiều xuống đâu quê quán.
Đừng giục cơn sầu nữa sóng ơi.
Tho Đường, Thất ngôn bát cú ngoài quy định nghiêm ngặt về niêm luật ra, nó cò đòi hỏi người sáng tác phải có sự đối chọi giữa những vần thơ
Ta có thể đọc qua một bài thơ loại kinh điển thuộc thể Thất ngôn Bát cú của Nữ thi sỹ Huyện Thanh Quan.
Qua Đèo Ngang
Bước tới Đèo Ngang, bóng xế tà,
Cỏ cây chen đá, lá chen hoa.
Lom khom dưới núi, tiều vài chú,
Lác đác bên sông, chợ mấy nhà.
Nhớ nước, đau lòng, con quốc quốc,
Thương nhà mỏi miệng, cái gia gia.
Dừng chân đứng lại, trời, non, nước,
Một mảnh tình riêng, ta với ta.
Còn đây, Hoàng Hạc Lâu của Thi sỹ Vũ Hoàng Chương.
– Với hai câu mở,
Thi sỹ đã cho ta một cảm nhận về không gian và thời gian
Xưa hạc vàng bay vút bóng ngưới.
Đây lầu Hoàng Hạc chút thơm rơi.
Quá khứ đã đem chim hạc đi, nhưng người vẫn còn ở lại đây, dù chỉ là cái bóng: Vật và người ; hình và bóng, một đối một thật hài hoà
Nhưng lầu Hoàng Hạc vẫn còn lại nơi đây với một chút hương còn lại cho đời sau: thời gian trôi đi không bao giờ trở lại, nhưng lầu này vẫn để lại cho không gian những tiếng thơm của nó..
Xưa và nay, chim hạc vàng và lầu Hoàng Hạc,bóng người voi thơm rơi, vật chất đối với tinh thần, một chọi một, thật là tương xứng.
– Rồi hai câu thực
Hạc vàng bay đi không trở lại
Tiếng Việt khi viết tính từ vì là bổ túc cho danh từ nên nó phải đi sau danh từ, câu thơ trên phải viết:
Cánh hạc vàng đi không trở lại.
Nhưng nhà thơ đã biến cái bình thường thành cái vô thường khi viết:
Vàng tung cánh hạc đi đi mãi.
Trắng một màu mây vạn vạn đời.
Đặt tính từ làm chủ câu làm cho câu mang một âm vang thật khác lạ, nhưng hai câu thực vẫn chọi nhau: vàng với trắng; hạc với mây, đi đi mãi theo thời gian với vạn vạn đời theo không gian kéo dài.
– Kế là hai câu luận.
Cây bến Hán Dương còn nắng chiếu.
Cỏ bờ Anh Vũ chẳng ai chơi.
Cây đối với cỏ, nắng vẫn còn chiếu sáng nhưng tịnh không một bóng người.
Khi còn ở trong nước vào những năm tháng sau 30 tháng tư năm 1975, giới văn nghệ sỹ bị kiểm soát ngặt nghèo, Vũ Hoàng Chương cũng không ngoại lệ. Ông bị bắt giam ở khám Chí Hoà cho đến tháng 09 năm 1975 thì được cho về nhà vì lý do sức khoẻ.
Để diễn tả tâm trạng của mình, nhà thơ chỉ còn cách dùng cách dịch thơ để nói lên tâm trạng của mình mà không bị kiểm duyệt và còn có thể lọt được ra nước ngoài, nên Ông bèn tìm cách dịch thơ của Tàu để bọn cờ đỏ vì kiến thức nông cạn và cũng vì những gì thuộc Trung quốc vĩ đại làm chúng e dè.
Tất cả những cảnh vật trước và sau 30 tháng Tư vẫn còn đó nhưng chẳng còn con người tốn tại, có chăng chỉ còn lại những bóng người sống vật vờ, vất vưởng.
– Sau cùng là kết.
Gần xa chiệu xuống nào quê quán.
Đừng giục cơn sầu nữa sóng ơi.
Buổi chiều ngồi trên căn gác nhỏ tồi tàn, trong căn hẻm nhỏ bên Quận 04 xác sơ, nghèo đói, nhìn và chẳng thấy đâu là quê xưa quán cũ, tất cả chỉ là dĩ vãng, rồi van xin đừng hối thúc thêm nữa cái não ruột của sóng lòng.
Cuối đời, Thi sĩ Vũ Hoàng Chương đã chính Ông vận đời Ông khi Ông viết,
Gió lùa căn gác xép.
Đời tàn trong ngõ hẹp.
(Hà Nội 1943)
Vũ Hoàng Chương mất vào ngày 14 tháng 08 năm Bính Thìn (07/10/1976), bốn ngày sau khi làm giỗ Đại Thi hào Nguyễn Du.
Xin thắp một nén hương cho người thi sỹ tài hoa nhưng bạc mệnh.
Kính chúc mọi người sức khoẻ.
Cựu SVSQ Vũ Quý Khang, K.30.
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Vũ Hoàng Chương dịch bài “Hoàng hạc Lâu” tác giả Vũ Quý Khang K 30 – Tôn thất Biên sưu tầm
Happy Thanksgiving
Các bạn K1 thân mến.
Sau một thời gian rất dài chờ đợi các bạn gởi hình cho CNN, nhưng rất ít các bạn có hình gởi về. Có hình thì chất lượng quá yếu không rõ. Trong lúc đó tôi mạn phép lục lạo vào Facebook của một số bạn để chọn hình. Nhiều bạn không có FB. Một số bạn có FB mà không có hình hoặc không có hình ảnh gia đình để thực hiện Video nầy.
Bên cạnh đó cái laptop cũng muốn nghỉ hưu, hư lên hư xuống, software cũng lỗi thời nên việc thực hiện video nầy cũng gặp nhiều điều bất tiện.
Video nầy dự định gởi đến các bạn vào dịp Tết Dương lịch 2024, nhưng sợ để đến đó liệu cái laptop có còn work nữa hay không. Do đó mình kết thúc video tại đây và gởi đến mừng Thanksgiving các bạn.
Mình cũng xin lỗi các bạn nào không có tên và hình trong video nầy.
MẾN CHÚC CÁC BẠN MÙA TẠ ƠN
ĐẦM ẤM VÀ HẠNH PHÚC
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Happy Thanksgiving
Niềm Vui Cho Đi – Copy từ FB Lan Le Nguyen
NIỀM VUI CHO ĐI
Người Phương Nam
Bán Tạp Hóa
Ba mươi lăm năm về trước, tôi làm chủ một tiệm tạp hóa nhỏ gọi là corner shop trong một xóm lao động ở vùng ngọai ô.
Shop của tôi bán đủ thứ nhu yếu phẩm như bánh mì, bơ, sữa, trứng, đậu, đường, muối, dầu ăn, đồ hộp, kẹo bánh, mứt, rau cải trái cây, thuốc lá vv…Khách hàng của tôi đa số là những người hàng xóm, họ thường đến quán cóc của tôi mua tạm khi hết đồ ăn thình lình mà chưa cần đi shopping ở những siêu thị lớn. Mấy đứa con nít thì cứ nhắm vào mấy lọ kẹo, đi học về xin ba má hay anh chị được vài cắc là chạy u qua mua kẹo và cà rem.
Hồi thuở đó người ta còn xài tiền xu tiền cắc. Từ 1 cent, 2 cents, cho tới 5 cents và 10 cents. Mấy đứa lớn lớn 9 – 10 tuổi còn có tiền mua cây cà rem 20- 50 cents, còn bọn nhóc tì cở 6 – 7 tuổi chỉ đủ tiền mua vài miếng kẹo lẻ như freckles, milk bottle, strawberry&cream hay vài viên jelly beans. Mỗi một cái kẹo là 3 cents, cứ gom được chừng 10 cái 1 cent là bọn chúng hí hửng chạy vô shop tôi đòi mua kẹo.
Thấy mấy thằng nhóc đưa ra một nắm bạc cắc 1cent, 2 cents, tôi thấy tội nghiệp, lấy một cái bao giấy hốt cho bọn chúng một nắm kẹo nói:
– Thôi đếm ba cái bạc cắc của tụi bây mệt quá, cho tụi bây nè, đem về chia nhau ăn đi. Để dành tiền cho đủ rồi qua mua cà rem nha con.
Bọn nhóc mừng lắm, cám ơn lia lịa. Tôi nhìn theo bọn chúng mà cảm thấy vui trong lòng.
Có lần, một bà hàng xóm muốn mua một góc bí rợ. Tôi có một trái bí to khỏang 7 kg bày trên quày nhưng bưng không nổi mà muốn cắt cũng xoay trở không xong nên nói với bà ta:
– Trái bí trên kệ kìa, bà rinh lại đây rồi muốn bao nhiêu thì cắt đem về ăn đi. Láng giềng không mà bán buôn gì.
Bà hàng xóm trợn mắt nhìn tôi nói:
– Bà mở shop bán hàng hay làm từ thiện vậy? Cứ cho không rồi lấy đâu trả tiền shop?
Lại còn có cái màn mua chịu nữa chớ. Họ xin ghi sổ, chừng nào lãnh lương sẽ trả. Nhưng khi trả nợ này thì thiếu nợ sau. Cũng vô đó thôi. Có người tới ngày phải trả thì than con đau, tiền wellfare mua thuốc hết sạch nên phải khất nợ tiếp.
Tôi không biết nói sao để đòi, tự nhủ coi như kiếp trước mình thiếu người ta, kiếp này phải trả lại. Thôi kệ, ai trả thì tốt không trả thì thôi coi như làm phước vậy.
Bán buôn như tôi riết rồi thâm vốn, tôi bàn với ông xã thôi sang mắc sang rẻ gì kiếm người sang quách cái shop cho xong. Coi bộ mình không có số làm ăn mua bán như người ta.
Chắc tại ông trời sanh ra tôi với cái tánh hay cho, có ít cho ít, có nhiều cho nhiều thì phải chịu. Nhưng thật lòng tôi thấy rất vui khi cho ai được chút gì.
Hộp Nho Cuối Mùa
Mua đồ trong siêu thị xong, tôi nói ông xã đứng sắp hàng chờ trả tiền dùm tôi trong lúc tôi đi qua shop rau cải trái cây kế bên coi có gì mua được.
Là người nội trợ trong gia đình, tôi phải nấu ăn mỗi ngày cho tám miệng ăn. Làm bếp mấy chục năm, gần cả đời, ngày nào cũng phải tính coi nấu món gì cho dễ, cho đỡ cực thân mà hạp khẩu mọi người. Đó là một vấn đề nan giải hóc búa đau đầu bởi vì:
Người không ăn cá, kẻ kiêng bò
Đứa thì tuyên bố ghét thịt kho
Kẻ cử đường, người cao máu, mỡ
Biết liệu làm sao thiệt phát khờ
Nhiều khi tính nấu món nào đó nhưng mua không có nguyên liệu cũng không nấu được. Thành thử mỗi khi đi shop, tôi thường rảo từ shop này qua shop nọ tìm những thứ mình cần.
Thấy cà tím hôm nay mơn mởn, tươi tốt quá, giá lại rẻ, tôi chợt nảy ý mua cà về làm một nồi mắm kho chia cho má và con gái tôi ăn luôn. Tôi gọi phone cho ông xã đang còn chờ trả tiền ở siêu thị, hỏi ông muốn ăn mắm kho không, cà tím hôm nay rẻ quá. Ông xã nói hết sảy, cả năm rồi không làm món này, mắm và rau còn phải hỏi. Ông bảo mua đi, cứ mua nhiều nhiều, mắm kho phải có nhiều cà mới ngon.
Lựa xong bốn ký cà, ông xã vẫn chưa qua tới, tôi bê lại quày trưng bày nho. Lọai nho không hột bản xứ tháng này đã cuối mùa nên người ta không bày bán lẻ như lúc giữa mùa đang rộ mà đóng gói sẵn từng hộp carton khỏang ký rưởi trở lên. Thấy những trái nho vàng hực chuyển nâu, có trái teo tóp chín khô như đã được phơi vài nắng, tôi nghĩ chắc là nó ngọt hết biết.
Tôi thì thích trái cây ngọt lịm, ngọt đậm đà chớ không thích lọai có hậu chua chua. Vì vậy tôi bèn cầm một hộp lên săm soi kỹ lưởng coi có hư hao nhiều không vì tôi biết đồ gói sẵn thường không được toàn vẹn, thế nào cũng có pha trộn xấu tốt lẫn nhau. Thấy coi bộ OK, tôi lấy một hộp và tự nhủ cho dù có hư một mớ ở dưới đáy hộp đi nữa cũng không đáng kể vì giá tiền đã quá rẻ so với lúc đầu mùa.
Mua xong thấy nặng quá, tính xách lại trả tiền mà thấy không kham, tôi bỏ các thứ vào trolley để đó rồi đi lựa vài trái dưa leo và một bụi cần tây. Khi trở lại chỗ để trolley, tôi thấy một ông già râu ria, bề ngòai có vẻ nghèo nàn đang cầm hộp nho của tôi lên ngắm nghía. Tôi bèn lên tiếng:
– Ông ơi đồ trong trolley đó là của tôi đó ông.
Ông già nói:
– Xin lỗi, tôi tưởng để bán. Cô lấy ở đâu vậy.
Tôi chỉ ra ngòai :
– Đó kìa, nhiều lắm, ngon mà rẻ nữa. Ông lại đó lựa một hộp đi. Còn từng dưới mấy hộp nữa kìa.
Ông già cầm một hộp lên xem xét hết hộp này tới hộp kia, cuối cùng không lấy hộp nào cả.
Phần tôi vì đã mua xong, chỉ chờ ông xã lại xách phụ nên đứng xớ rớ quan sát theo dõi ông già. Ông già đi tới đi lui, món nào cũng cầm lên coi rồi để xuống, có vẻ như đắn đo. Tôi thấy hơi lạ, ngẫm nghĩ một hồi sực nghĩ có lẽ ông không đủ tiền. Tôi bỏ cái trolley ở đó, chạy đi lấy một hộp nho lại hỏi ông;
– Ông thích hộp nho này không?
Ông nhìn tôi có vẻ ngạc nhiên nói:
– Không đâu, tôi mua thứ khác cần hơn. Mà hộp đó bao nhiêu tiền vậy cô?
– Chỉ có 3 đồng 55 cents thôi. Tôi biếu ông một hộp nha.
Ông lắc đầu:
– Cô tử tế quá nhưng tôi không dám nhận đâu.
Tôi khẩn khỏan nói:
– Không sao mà, đâu có bao nhiêu. Nho cuối mùa còn sót lại, ngọt lắm. Tôi thấy ngon quá, đi không đành nên mua một hộp cho gia đình tôi và cũng muốn chia với ông chút vị ngon ngọt thiên nhiên trời ban này.
Và không đợi ông có ý kiến gì nữa, tôi dúi vào tay ông hai cái đồng tiền 2 dollar coins.
Ông cảm động nói:
– Cô tử tế quá. Cám ơn cô. God bless you.
Không cần biết God bless như thế nào, tôi chỉ ao ước sao tôi có thể chia xẻ cho mọi người bất kỳ lúc nào tôi muốn. Như vậy là God đã bless tôi rồi đó.
Người Phương Nam
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Niềm Vui Cho Đi – Copy từ FB Lan Le Nguyen
Ngưỡng Mộ – Thơ TPK
NGƯỠNG MỘ
Những khuôn mặt thiên thần
Xông pha ra tiền tuyến
Bởi tổ quốc nguy biến
Sá chi phận nữ nhi
Khoác lên bộ chinh y
Quyết ra đi giữ nước
Mắt thẳng nhìn phía trước
Hùng dũng bước chinh nhân
Bỏ sau lưng người thân
Cùng phố phường thương mến
Giặc ngoại xâm đã đến
Thì tuổi trẻ hiến dâng
Cả sắc đẹp vô ngần
Để giữ gìn bờ cõi
Nghe người ta thường nói
Khi quốc gia hưng vong
Thì tất cả non sông
Thất phu cũng hữu trách
Nhìn nét mặt khí phách
Hiển hách mà phong lưu
Trong ánh mắt vô ưu
Nên đem lòng ngưỡng mộ.
TPK
Hình trên Fb
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Ngưỡng Mộ – Thơ TPK
Mẹ và Mừa Đông _ Thơ TPK
MẸ VÀ MÙA ĐÔNG
Thuở ấy đông sang nước ngập đường
Mẹ vai quang gánh buổi tinh sương
Xóm làng lầy lội trơn như mỡ
Chợ búa gió lùa lạnh thấu xương
Bươn chải lo toan cho cuộc sống
Chia bùi xẻ ngọt với người thương
Một đời lam lũ không than vãn
Phút cuối chia lìa mắt lệ vương .
Phút cuối chia lìa mắt lệ vương
Không còn nghe được tiếng yêu thương
Cuộc đời cô quạnh len vào dạ
Kiếp sống đau buồn thấm tận xương
Xuân đến u hoài mai kém sắc
Hè về khắc khoải vạc kêu sương
Mùa thu không mẹ khung trời xám
Con gánh sầu đông mỗi dặm đường.
TPK
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Mẹ và Mừa Đông _ Thơ TPK
Nhiều vợ mệt lắm ông ơi – ST trên email
NHIỀU VỢ MỆT LẮM ÔNG ƠI
Một gia đình tiều phu kia rất nghèo, nhà chỉ có hai vợ chồng. Ngày ngày anh chồng phải vác cái rìu cũ kỹ sứt mẻ vào trong rừng kiếm củi đem ra chợ bán để hai vợ chồng độ nhật. Ngày nọ khi lội ngang qua một con suối anh ta lỡ tay đánh rơi cái rìu xuống suối, nước cuốn đi mất. Tuyệt vọng quá nên anh ta ngồi ôm mặt khóc. Bất chợt thấy có một cụm khói từ dưới suối bay lên, rồi ông Hà Bá hiện ra.
Hà Bá:
“Sao anh ngồi khóc ở đây?”
Tiều phu:
“Dạ, cả gia tài con có cái rìu để vào rừng kiếm củi độ nhật, nhưng rìu bị rớt xuống suối mất rồi, hôm nay không biết kiếm được cái gì ăn để đem về nuôi vợ.”
Hà Bá tội nghiệp, lặn xuống suối rồi một tích tắc sau lại trồi lên, tay cầm một cái rìu bằng vàng khối rồi hỏi,
“Có phải anh đánh mất cái này không?”
Anh tiều phu nói,
“Thưa không phải, cái rìu của con cũ kỹ xấu xí lắm, không phải cái này!”
Thấy anh này lương thiện, Hà Bá lại lội xuống lấy cái rìu của anh ta lên và tặng cho anh luôn cả cái rìu bằng vàng khối.
Từ khi có vàng anh ta không phải vào rừng đốn củi nữa. Một hôm hai vợ chồng buồn quá, anh chồng bảo vợ,
“Hôm nay bà theo tôi vào rừng, tôi chỉ cho xem chỗ tôi hay kiếm củi ngày xưa.”
Khi hai vợ chồng lội qua đúng con suối lần trước thì chị vợ trượt chân ngã xuống suối, chìm lỉm và bị nước cuốn đi mất. Anh này lại ngồi ôm mặt khóc. Hà bá lại hiện lên.
Hà bá:
“Sao lại ngồi đây khóc nữa?”
Tiều phu:
“Dạ vợ con trượt chân ngã xuống suối, chìm lỉm rồi.”
Hà bá lại chắc lưỡi lặn xuống, chút sau trồi lên, hai tay ôm một cô gái trẻ đẹp, quyến rũ, trên người không có mảnh quần áo nào.
Hà bá:
“Phải cô này không?”
Tiều phu (ngẫm nghĩ một lúc):
“Dạ phải.”
Đến đây thì Hà bá nổi điên lên mắng,
“Lần trước tao tưởng mày là thằng lương thiện nên tao cho vàng. Lần này thì rõ ra mặt chuột. Con vợ mày nó nằm dưới kia kìa, nếu chưa chết thì cũng sắp chết, thế mà mày nỡ bỏ nó mà theo con này.”
Tiều phu:
“Dạ, xin Hà Bá thông cảm. Lần trước Hà bá hỏi cái búa vàng có phải của con không, con bảo không thì Hà bá lại lượm cái kia lên rồi cho cả hai cái. Thú thật là con chịu đựng một bà vợ đã đủ khổ lắm rồi, nó cứ lải nhải những chuyện không đâu suốt cả ngày, rức đầu lắm. Bây giờ Hà bá hỏi mà con lại trả lời không phải thì Hà bá lại lội xuống dưới đó kéo vợ con lên, rồi lại cho luôn cả hai đứa thì làm sao con chịu đời cho thấu? Thôi một cô này đủ rồi, nhiều quá mệt lắm!”
Đố phe ta biết Hà Bá sẽ “xử ní” ra sao?
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Nhiều vợ mệt lắm ông ơi – ST trên email
Mùa THu Sài Gòn – Thơ TPK
NHỚ THU NÀO

Chiều hôm nay mây giăng sầu trên ấy
Giữa muôn trùng thăm thẳm mấy tầng cao
Gió heo may gợi nhớ tới thu nào
Trời êm ả nắng hanh vàng bát ngát
Bữa gặp em sóng hồ thu dào dạt
Ta bền nhau lát đát lá me bay
Đường Nguyễn Du tàng cây xõa lung lay
Lá me rụng điểm tóc mây óng ả
Tay trong tay bên hàng hiên thong thả
Ánh mắt nhìn chan chứa cả trời yêu
Gió vờn bay tà áo lụa diễm kiều
Như vẫy gọi tia nàng chiểu dịu mát
Trời Sài Gòn bỗng nhiên mưa rớt hạt
Trong nắng vàng lóng lánh hạt kim cương
Anh dìu em vào quán nước bên đường
Em khẽ nói : nhớ mây vương ngoài đó
Nhớ chiều vơi cánh diều bay trước ngỏ
Lá vàng rơi từng chiếc đổ bên đường
Buổi bình minh dòng Hương toả hơi sương
Mùa nhập học lễ khai trường áo trắng
Em phải về sánh vai cùng chúng bạn
Mình chia tay mắt lắng đọng u buồn
Em đi rồi trời mờ mịt mưa tuôn
Cây trút lá , chim muôn ngừng tiếng hót .
TPK
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Mùa THu Sài Gòn – Thơ TPK
Khi dòng sông vào Thu _ Thơ và nhạc Lê Hữu Nghĩa
KHI DÒNG SÔNG VÀO THU
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Khi dòng sông vào Thu _ Thơ và nhạc Lê Hữu Nghĩa
Thôn Nữ Quê Tôi – Thơ Trần Quốc Bảo
Thôn Nữ Quê Tôi –Thơ Trần Quốc Bảo

Những nàng thôn nữ quê tôi,
Không son phấn, vẫn xinh tươi mặn mà.
Xuân thì óng ả thướt tha,
Hương đồng cỏ nội, thật thà dễ thương!
Nghề nông, một nắng hai sương!
Quanh năm chăm việc, ruộng nương hoa màu.
Trên đồng cạn, dưới đồng sâu,
Thời nào việc nấy, ngõ hầu chẳng sai.
Bao giờ cho đến tháng hai,
Con gái tát nước, con trai be bờ!
Be bờ giữ nước cho vừa,
Để ngâm ải đất, cày bừa khoan thai.
Ruộng cao, em tát gầu giai,
Ruộng thấp, em tát khoan thai gầu sòng.
Chờ cho lúa có đòng đòng,
Cày sâu cuốc bẫm, em không quản gì!
Vẫn yểu điệu, vẫn nhu mì,
Nhưng lao động giỏi, khác chi lực điền!
Tháng ba cấy lúa đồng chiêm,
Từng hàng giẻ mạ, tay tiên cắm đều.
Bón phân giữ nước cho nhiều,
Lúa mùa con gái mĩ miểu đơm bông!
Nắng lên ửng cặp má hồng
Tiếng cười thôn nữ vui đồng quê tôi!
Ruộng đồng ơi!… Thôn nữ ơi!
Hình xưa bóng cũ, một trời nhớ thương!
Than ôi!… xương máu quê hương!
Sao nay thành những… Công trường Đặc khu? (!)
Trần Quốc Bảo
Richmond, Virginia
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Thôn Nữ Quê Tôi – Thơ Trần Quốc Bảo
Mùa Thu Paris – Sưu tầm của Tuyen Dinh
Mùa thu Paris
với Cung Trầm Tưởng và Phạm Trọng Cầu
Vĩnh Đào
Cung Trầm Tưởng đặt chân đến Pháp vào đầu thập niên 1950. Ông ghi tên thi vào trường Kỹ sư Không quân ở Salon en Provence, ở miền Nam nuớc Pháp. Trong thời gian học ở Pháp từ 1952 đến 1957, sinh viên Cung Trầm Tưởng cũng hay về Paris và rất quen thuộc với khu Latin, khu trẻ trung và trí thức, nơi tập trung các cửa hàng sách lớn của Paris, các tiệm café, nơi có công viên Luxembourg, các giảng đường của viện Đại học Sorbonne, và đông đảo sinh viên đủ các nước. Nơi đó Cung Trầm Tưởng có một mối tình với một người bạn gái tóc vàng mắt xanh.
Một ngày đang giữa niên học, nàng nhuốm bệnh phải về quê tịnh dưỡng dài ngày. Chàng sinh viên thi sĩ tiễn nàng ra nhà ga để đáp một chuyến xe lửa về miền Provence.
Lên xe tiễn em đi
chưa bao giờ buồn thế
trời mùa đông Paris
suốt đời làm chia ly
Bài thơ “Chưa bao giờ buồn thế” đã được Phạm Duy phổ nhạc thành một bài hát mang tên “Tiễn em”. ( Mời xem youtube dưới cùng)
Cung Trầm Tưởng cũng nhắc đến mối tình đó khi nhớ lại những lúc bồi hồi chờ người yêu trong công viên Luxembourg dưới làn mưa thu:
Mùa thu Paris
Trời buốt ra đi
Hẹn em quán nhỏ
Rưng rưng rượu đỏ tràn ly
Mùa thu đêm mưa
Phố cũ hè xưa
Công viên lá đổ
Ngóng em kiên khổ phút, giờ
Mùa thu âm thầm
Bên vườn Lục-Xâm
Ngồi quen ghế đá
Không em buốt giá từ tâm
Mùa thu nơi đâu?
Người em mắt nâu
Tóc vàng sợi nhỏ
Mong em chín đỏ trái sầu
Mùa thu Paris
Tràn dâng đôi mi
Người em gác trọ
Sang anh, gót nhỏ thầm thì
Mùa thu không lời
Son nhạt đôi môi
Em buồn trở lại
Hờn quên, hối cải cuộc đời
Mùa thu! mùa thu
Mây trời âm u
Yêu người độ lượng
Trông em tâm tưởng, giam tù
Mùa thu!… Trời ơi! Tình thu!
Bài thơ “Mùa thu Paris” của Cung Trầm Tưởng đã được Phạm Duy phổ nhạc thành một bài hát cùng tên.
Mười năm sau Cung Trầm Tưởng, một sinh viên Việt Nam khác là Phạm Trọng Cầu cũng đặt chân đến Paris để theo học lớp đào tạo của Học viện Cao cấp Âm nhạc. Và ông cũng đã có một mối tình sinh viên giữa khung cảnh của khu Latin. Trong thời gian du học tại Pháp từ 1962 đến 1969, nhạc sĩ Phạm Trọng Cầu đã sáng tác bài “Mùa thu không trở lại” khi cuộc chia tay xảy ra vào mùa thu.
Ông tâm sự: “Thời ấy mình có yêu một cô bạn gái có mái tóc đen dài, đôi mắt buồn vời vợi. Đối với tôi… là một mối tình xa xưa thời còn trai trẻ. Gặp nàng vào mùa xuân, mùa hạ tình nồng cháy và mùa thu nàng ra đi. Nàng về nước để từ đó không bao giờ trở lại Paris nữa. Hôm tiễn đưa nàng đi rồi, mình trở về, bước từng bước như người say rượu, ngang vườn Luxembourg. Khu vườn đó, khi tôi đi ngang, tôi chợt nhận ra mùa thu, vì chân mình đá rất nhiều lá vàng, trong tôi tự nhiên vang một giai điệu “Em ra đi mùa thu, mùa thu không trở lại…” Dù là mùa thu ở Paris rất đẹp, nhưng mà từ mùa thu đó, với tôi, mùa thu không bao giờ trở lại nữa.”
Em ra đi mùa thu,
Mùa thu không trở lại.
Em ra đi mùa thu,
Sương mờ giăng âm u.
Em ra đi mùa thu,
Mùa thu không còn nữa.
Đếm lá úa mùa thu,
Đo sầu ngập tim tôi.
Ngày em đi,
Nghe chơi vơi não nề,
Qua vườn Luxembourg,
Sương rơi che phố mờ,
Buồn này ai có mua?
Từ chia ly,
Nghe rơi bao lá vàng,
Ngập dòng nước sông Seine,
Mưa rơi trên phím đàn,
Chừng nào cho tôi quên?
Hôm em ra đi mùa thu,
Mùa thu không trở lại,
Lá úa khóc người đi,
Sương mờ dâng lên mi.
Em ra đi mùa thu,
Mùa lá rơi ngập ngừng,
Đếm lá úa sầu lên,
Bao giờ cho tôi quên?
Phạm Trọng Cầu và Cung Trầm Tưởng đều đã có một thời gian du học tại Paris, vào một thời buổi mà ít có người có cơ hội xuất ngoại và du học sinh Việt Nam tại Kinh đô Ánh sáng cũng rất hiếm. Cả hai đều có một bài thơ nói về mùa thu Paris, với khung cảnh rất giống nhau: cũng công viên Luxembourg với lá vàng bay trong gió, cũng sương mù và bầu trời âm u, một bên thì buồn vì nàng đã ra đi, người thì khắc khoải chờ người yêu đến… Tác phẩm của Phạm Trọng Cầu là một bài thơ gồm những câu ngắn 5 chữ; nhà thơ cũng là nhạc sĩ nên đã phổ nhạc thành một bài hát rất được mến chuộng tại miền Nam trong các thập niên 60-70. Bài thơ của Cung Trầm Tưởng gồm những câu ngắn 4 chữ, được Phạm Duy phổ nhạc. Bài hát cũng rất được ưa thích. Trong cả hai bài đều phảng phất bầu không khí thơ mộng, lãng mạn, u buồn của thành phố Paris vào mùa thu với những cơn gió lạnh thổi bay lá vàng giữa cơn mưa lất phất.
(Trích : của tg. Vĩnh Đào. Bạn có thể xem trọn bài theo
link https://viethocjournal.com/2020/10/mua-thu-paris/)
Bạn Tuyen Đinh sưu tầm và mời các bạn thưởng thức các nhạc phẫm Thu dưới dây trước khi Thu tàn Đông đến. Cám ơn bạn Tuyên Đinh rất nhiều.
– Tiển em với tiếng hát Sĩ Phú
-
Mùa Thu Paris – Tiếng ca Vũ Khanh
Mùa Thu Không Trở Lại– Tuấn Ngọc
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Mùa Thu Paris – Sưu tầm của Tuyen Dinh
Thơ TPK – Thu đến sau vườn
THU ĐẾN SAU VƯỜN
Sau vườn kìa thu đến
Lá ửng đỏ hây hây
Nàng thu đẹp ngất ngây
Dáng thu đầy quyền rủ
Nhớ những ngày xưa cũ
Gặp em buổi thu về
Em năm ngón mân mê
Đong đưa tà áo tím
Môi em cười chúm chím
Mắt lóng lánh hạt huyền
Em đẹp tựa nàng tiên
Từ thiên thai vừa đến
Trao ánh mắt trìu mến
Trao tiếng nói dịu dàng
Suối tóc nhuộm nắng vàng
Sợi tơ vương nhè nhẹ
Anh ghé tai nói khẽ
Em là ánh trăng thanh
Là dòng suối an lành
Cho đời anh êm ả
Rồi đôi đời đôi ngả
Bởi chiến cuộc lan tràn
Giờ ngắm ánh thu vàng
Hồn gởi về dĩ vãng.
TPK
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Thơ TPK – Thu đến sau vườn
Ông cha ta thời phong kiến đã sống tử tế – TPK sưu tầm
ÔNG CHA TA THỜI PHONG KIẾN
ĐÃ SỐNG TỬ TẾ
Khi người Pháp chiếm được nước ta, họ tự hào là đã chiếm được một cường quốc vào bậc nhất ở Châu Á. Tôi không tin là Doumer hay Gosselin viết xạo điều này. Vậy ta thử tìm hiểu tại sao?
Tại vì vua Gia Long làm việc suốt ngày, đêm chỉ ngủ 6 tiếng, ăn cơm với cá mắm, xắn tay đào hố, đắp thành cùng với tướng sĩ.
Tại vì vua Minh Mạng mua cân đường, cân nhãn cũng ghi vào Hội điển.
Tại vì vua Tự Đức tôn trọng sự phân quyền giữa hành pháp và tư pháp: khi bộ hình đã xử án, vua cũng không dám can thiệp.
Tại vì những người trong hoàng gia không được phép giao du mật thiết với các quan, tránh sự đút lót, lạm quyền.
Tại vì anh, em, cha, con không được làm quan cùng một chỗ, tránh sự thông đồng.
Tại vì những đại thần như Nguyễn Tri Phương, khi thắng trận, được vua ban cho một bài thơ hay một chiếc áo gấm, khi thua trận bị xuống chức, bị luận tội nặng nề…
Khi ta thấy những người như Trịnh Hoài Đức, Nguyễn Tri Phương, Phan Thanh Giản, Hoàng Diệu… một đời hy sinh cho đất nước mà không có được một ngôi nhà khang trang để ở, thì hẳn ta phải ngần ngại khi muốn làm đại gia vì cha chú ta là những Đại Thần.
Khi ta tìm trong bộ sách đồ sộ nhiều nghìn trang của các sử gia triều Nguyễn, mà không nhặt ra được một hàng tâng bốc nhà vua, thì ta phải nghĩ lại, khi viết những điều xu nịnh, trong những trang được gọi là lịch sử.
Khi quân Tàu chiếm Hoàng Sa, thì ta phải chạnh lòng nhớ đến chúa Nguyễn đã tạo đội Hoàng Sa, để giữ quần đảo Hoàng Sa, đội Bắc Hải để kiểm soát Trường Sa, Côn Lôn, Phú Quốc, từ thế kỷ XVII.
Vì vậy, khi đã biết sử, ta không thể sống tồi tàn, bệ rạc, ăn cắp của công, vì cha ông ta, cách đây mấy trăm năm đã sống có nhân cách, sống tử tế, sống lương thiện…”
Tác giả: Thụy Khuê
(Thụy Khuê là nhà nghiên cứu nổi tiếng, sống tại Pháp. Bà có nhiều tác phẩm đồng thời cũng là các công trình nghiên cứu rất có giá trị.)
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Ông cha ta thời phong kiến đã sống tử tế – TPK sưu tầm
Bắc Kỳ 9 nút – Bắc Kỳ 2 nút Lỗ Trí Thâm
BẮC KỲ 9 NÚT – BẮC KỲ 2 NÚT
Lỗ trí Thâm
“Anh hãy đi cho khuất mắt tôi, các anh đeo dai như con đỉa. Chúng tôi đã sợ các anh quá rồi! Hai mươi mốt năm trước, chúng tôi đã phải bỏ cả nhà cửa làng xóm để chạy xa các anh vào đây, vậy mà bây giờ các anh vẫn lại theo bám, không buông tha!”
Đó là lời người con gái ở Hố-Nai Biên-Hòa (bắc kỳ 9 nút) nói với tên bộ đội (bắc kỳ 2 nút) khi hắn theo tán tỉnh cô sau 30-4-1975. Cô là thế hệ thứ hai của một gia đình di cư vào Nam sau 20-7-1954. Tội nghiệp cô gái bắc kỳ! Chúng tôi, những người lính thời ấy, trách nhiệm thế nào với nỗi nghẹn ngào cay đắng này của cô?
Ván bài thắng ngược! Tại sao con số 9 nút (1954) lại thua con số 2 nút (1975)? Cái gì khiến cô gái bắc kỳ này lại sợ tên bộ đội bắc kỳ kia? Trải nghiệm thực tế, đơn thuần trong sinh hoạt xã hội của “bác” Hồ trước và sau những năm 1975 để giải mã những nguyên nhân căn bản khiến con số 9 nút phải thua con số 2 nút:
Ở năm thứ 5 của đời tù tội, lần đầu tiên mẹ tôi đi thăm tôi ở trại Ba-Sao Nam-Hà, quà cho tôi thật khiêm tốn, trong đó có hai hộp sữa đặc là đáng quý nhất. Tôi nói đường xá xa xôi, mẹ mang làm chi hai hộp sữa này cho nặng, thì mẹ tôi cho biết bà mua ở Hà-Nội khi đi ngang qua. Chia tay, tôi ôm hai hộp sữa vào lòng, nghĩ tới chiều nay có được cái “ngọt ngào của cuộc đờiˮ, cái ngọt ngào đã biến mất trong suốt hơn 5 năm trong đời tù đày, mà đôi chân tôi bước đi khấp khểnh, cao thấp như đang ở trên mây.
Thế nhưng, trời sập rồi! cái đinh vừa đâm lút vào hộp sữa thì một dòng bùn đen túa ra, tôi mềm người rũ gục như một tàu lá úa. Ngồi cạnh tôi, người bạn thân trong tù đang chờ được chia xẻ, đôi mắt trợn tròn rồi rủ xuống như muốn khóc! Bóc nhãn hiệu ra, thấy cạnh hộp sữa có một vết hàn. Như thế là người Hà-Nội đã tinh vi sáng tạo: Rút ruột sữa ra, bơm bùn đen vào rồi hàn lại. Quả thật (mẹ tôi), Bắc Kỳ 9 nút đã thua Bắc kỳ 2 nút!
“Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất”. Tôi đã học cái văn hóa đó ở nhà trường. Ở nhà, trong hoàn cảnh nghèo, mẹ tôi thường nhắc nhở anh em chúng tôi phải luôn giữ cái chất“bần tiện bất năng di” ấy. Đó là cái nhân cách căn bản được giáo huấn ở học đường miền Nam Việt-Nam, ở cái đất nước mà con người hiền hòa, chân chất, đơn thuần, vô tư không ôm hận thù, không biết cướp bóc, lừa bịp, đểu cáng v.v. Đó chính là cái đất nước ở phía sau vĩ tuyến 17 kia.
Còn ở miền Bắc, cái đất nước trước vĩ tuyến 17 thì sao? Người ta dạy nhau cái gì ở nhà trường và ngoài xã hội? Người ta dạy nhau rằng“bần cùng sinh đạo tặc”. Hậu quả là sau 30- 4-1975, người Bắc Kỳ, tay cầm dao, tay cầm súng, tràn vào miền Nam điên cuồng giết người cướp của, hành động của “kẻ dã man thắng người văn minh” mà nhà nữ văn sĩ C/S Hà-Nội Dương-thu- Hương đã nhận xét.
Sự thật đã chứng minh “con người ít nhiều là sản phẩm của xã hội”, vậy thì xã hội man rợ tất nhiên sản xuất ra con người dã man. Từ cái bản chất dã man này, tự nó, sinh ra tệ trạng sinh hoạt đầy tính chất nguy hiểm, độc ác, gian manh, quỷ quyệt khó lường v.v. Đó là kết quả tất yếu không cần lý giải.
Chỉ có một mẩu cá khô lấy trộm trong khi vận chuyển lương thực, ông chiến hữu của tôi miệng phải ngậm miếng cá đó, cổ đeo cái bảng viết hai chữ “ăn cắp”, đứng trước cổng trại suốt ba ngày! Miếng ăn quý hơn mạng người! Ông ngục sĩ Nguyễn-chí-Thiện khi còn sống đã nói rằng: “miền bắc thắng miền nam là do chế độ lương thực tem phiếu”. Ông đúng hay sai? Đây là câu trả lời: “Em xin anh, chúng em mà nói trên đài thì ở ngoài kia, cha mẹ và vợ con em sẽ bị cắt hộ khẩu, họ sẽ chết đói!”. Đó là lời của ba tên tù binh bị bắt trong trận đánh cuối cùng ở Long-Khánh.
Tôi còn nhớ, ngày 3/9/1978, ngày giỗ “bác” Hồ của nhân dân bắc kỳ (2 nút), tại trại giam ở Yên-Bái, địa danh có cái tên nghe rợn người: “Ma thiên lãnh!”, tù nhân được nghỉ một ngày để chuẩn bị làm giỗ “bác”. Bàn thờ được trải khăn đỏ, sau bàn treo lá cờ to, trên bàn có hình “bác”, trước “bác” đặc biệt có một mâm hoa quả bằng hình vẽ mà trước đó, nguyên một ngày, ông tù nhân Lê-Thanh, họa sĩ kiêm điêu khắc gia có tiếng trong quân đội miền Nam “thua cuộc”, đã phải vẽ trên cả chục bản để ông cai tù trưởng trại lựa chọn.
Sau khi đã nhuần nhuyễn nói về tài thao lược và đạo đức của “bác”, trưởng trại để ý thấy tù nhân xì xầm về bức họa trái cây kia, ông bèn rất là trân trọng và tự tin nói rằng: “bác thường dạy “trong đấu tranh gian khổ, tính chất khắc phục là quan trọng”, cho nên khả năng “biến không thành có,.(?) biến khó thành dễ” là thành tích luôn được biểu dương, khen thưởng”!
Giỗ “bác” hôm nay, “bác” được ăn hoa quả giấy. Quả nhiên gậy “bác” đập lưng “bác”!. Phần tù nhân, nghe xong chỉ thấy họ lặng im. Tôi đoán họ đang nghĩ đến nhờ ngày giỗ “bác”, bữa ăn trưa nay được tăng thêm trọng lượng.
Ông chiến hữu (bắc kỳ 9 nút) nằm cạnh tôi kể chuyện anh: “Bọn công an (bắc kỳ 2nút) cùng người giúp việc nhà anh, là chị đã xin nghỉ việc vài ngày sau 30/4/1975, đạp cửa bước vào và lớn tiếng hỏi anh: “lương lính, quân hàm thiếu tá, một tháng anh lãnh bao nhiêu? Anh trả lời chỉ vừa đủ sống cho hai vợ chồng và năm đứa con. Tên công an quát lớn: chỉ đủ sống thì làm sao anh có cái nhà to thế này? Đây là anh đã lấy của nhân dân, vậy bây giờ anh phải trả lại cho nhân dân. Anh có ba ngày để dọn ra khỏi căn nhà này.”
Một hơi thở dài, rồi một cơn ngủ thiếp của một ngày “chém tre, chặt gỗ trên ngàn, hữu thân, hữu khổ phàn nàn cùng ai” của ông chiến hữu (bắc kỳ 9 nút) đã thay cho phần kết của chuyện kể mà tôi thiển nghĩ, những người dân miền Nam, cái đất nước ở sau con sông Bến-Hải kia đều đã biết cái số phận căn nhà đó ra sao.
Những ngày vừa qua, nhân lễ kỷ niệm anh em Tổng Thống Ngô-đình-Diệm bị sát hại, vài đài truyền hình có chiếu lại hình ảnh của gần một triệu người bắc kỳ (9 nút) bồng bế, gồng gánh, mang theo những chổi cùn, rế rách, luộm thuộm dắt díu nhau lên con tàu “há mồm” xuôi nam. Sau đó họ được định cư ở những vùng xa, vùng sâu, hoang vu hẻo lánh, lập nghiệp. Mơ ước cư ngụ ở giữa thành phố ồn ào, xôn xao, đối với họ chỉ là hoài bão.
Thế còn 30-4-1975, bắc kỳ (2 nút) xuôi nam thì sao? Vai đeo súng, tay cầm dao, nghênh ngang tràn vào thành phố cướp của, lấy nhà, chiếm đoạt, chễm chệ ở trong những căn nhà lớn ngay giữa thị thành. Áp đẩy khổ chủ đến vùng xa, vùng sâu có tên gọi là “kinh tế mới”! Cái tư thế “chễm chệ” kể trên, mỗi ngày một phát triển lớn, tới độ, bây giờ, những năm sau, gần như toàn thể những thành thị ở miền nam, trên những đường phố lớn, trong những căn nhà to, chủ nhân đều là bắc kỳ (2 nút). Như vậy, chẳng phải rõ ràng bắc kỳ (2 nút) không những chỉ thắng bắc kỳ (9 nút), mà còn thừa thắng xông lên, áp đảo luôn cả những nam kỳ chủ nhà, không nút nào hay sao?
Tên công an chính trị viên, phó trại giam, tốt nghiệp viện triết học Marx, trong đối thoại về chủ nghĩa Cộng-Sản, hỏi tôi rằng “chân lý có thay đổi không?” Tôi trả lời: “đã là chân lý thì không thay đổi”. Hắn cười.
Hôm nay, hắn đúng, tôi sai. Chân lý của Marx quả đã thay đổi. Thế giới C/S của Marx đã xây dựng gần một thế kỷ, hoàn toàn sụp đổ. Học trò của Marx đã chia tay ý thức hệ với Marx, lũ lượt bỏ chạy qua vùng đất tư bản, thấy của cải vật chất phong phú thừa thãi mà chóng mặt, hoa mắt nên làm càn làm loạn”. “Hy sinh đời bố, củng cố đời con”, thế hệ sau tiếp nối thế hệ trước, gia sức trấn lột, cướp bóc, lừa bịp, điên đảo, tham nhũng bừa bãi, trơ tráo tới độ vô văn hóa, vô nhân tính.
Trở lại con số 9 nút (1954) và con số 2 nút (1975) mà người ta mệnh danh là bắc kỳ cũ và bắc kỳ mới, với những chuyện xảy ra ở trên một đất nước xa Hà-Nội tới ngàn dậm này: Đất nước Hoa-Kỳ.
“Này chị kia, ở nước Mỹ chợ nào cũng có chỗ cất shopping- car, sao chị lại bỏ bừa sau xe của tôi?ˮ “Cứ tự nhiên như ở Hà-Nội!ˮ, “Nhà tôi” (bắc kỳ 9 nút), bực mình la lớn. Hai bà (bắc kỳ 2 nút) tỉnh bơ, nổ máy xe biến mất. Còn lại là hai tôi, mỗi người đẩy một xe đưa vào chỗ cất.
Một lần khác, người bạn tôi kể rằng “Đi chợ, mua vội, tay chỉ cầm có hai gói cà-phê, đang xếp hàng chợt một chị bắc kỳ (2 nút) chen ngang vào đứng trước anh, anh phản đối thì chỉ hỏi lại: “xe của ông đâu?” Anh giận quá la lớn: “Đây là ở nước Mỹ, mua nhiều hay ít đều phải xếp hàng chứ không phải ở Hà-Nội của chị”.
Tại một nhà hàng, cháu gái của tôi cầm tờ biên lai tính tiền do bạn trai là người Mỹ trả, tới nói với người thâu ngân rằng: “chúng tôi gọi hai tô bún thịt nướng chứ đâu phải chả cá thăng-long mà tính nhiều thế này?” thì được thâu ngân viên buông gọn một chữ “nhầm”, rồi đếm tiền hoàn lại, không một lời xin lỗi. Tôi đoán chắc người Hà-Nội, chủ nhân (2 nút) tưởng Mỹ khờ khạo (đã bị “ bác” và đảng đánh bại), nên mập mờ đánh lận con đen.
Trên đường về nhà, dọc hai bên đường, ở giữa lòng cái thủ đô có tên Little Saigon này, lác đác những căn nhà to như dinh thự mà người Hà-nội đã bỏ tiền triệu để sở hữu một cách ngạo nghễ, khiến tôi chợt nhớ đến ông chiến hữu bại trận của tôi năm xưa đã phải “trả nhà cho nhân dân” (nhân dân Hà-Nội), mà xót xa!
Tôi miên man tự hỏi, chẳng lẽ từ niềm tự hào “đánh thắng hai đế quốc lớn” của người Hà-Nội đang được thể hiện một cách ngang ngược, lỗ mãng, vô văn hóa ngay giữa cái thủ đô của người Việt tị nạn trên đất nước Hoa-Kỳ này đến vậy sao? Lý do gì họ có mặt nơi này? phần đất nơi cư ngụ cuối cùng, mà những người hoảng sợ đã phải bỏ nhà bỏ của để chạy xa họ? Tôi đang nghĩ đến người con gái bắc kỳ (9 nút) ở đất Hố-Nai Biên-Hòa năm xưa. Tôi ước ao được gặp lại cô ở nơi này, nơi cư ngụ cuối cùng của những người kinh hoàng, hoảng hốt bỏ lại quê hương, chạy trốn những kẻ bạo tàn! Tôi muốn lại được nghe cô nói rằng: “Các anh hãy đi cho khuất mắt tôi, tôi đã sợ các anh quá rồi, chạy xa các anh tới nửa vòng trái đất mà các anh vẫn không buông tha!”
Ông nhà văn Hoàng-hải-Thủy của miền nam cũ, cay đắng than rằng “Nếu một ngày nào đó trên đất nước Hoa-Kỳ này, giữa nơi ở của những người Việt tị nạn có phất phới lá cờ đỏ sao vàng thì xin cho tôi được chết trước!” Nghe mà xót xa cay đắng quá! Mong là con bài 2 nút sẽ không thắng ngược 9 nút thêm lần nữa…
Lỗ Trí Thâm
Little Saigon
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Bắc Kỳ 9 nút – Bắc Kỳ 2 nút Lỗ Trí Thâm
Đại sứ quán Mỹ viếng Ngĩa Trang Quân Đội Biên Hòa – FB Nguyen Ken.
ĐẠI SỨ QUÁN MỸ VIẾNG NGHĨA TRANG
NƠI CÁC TỬ SĨ VNCH AN NGHỈ.
Đại sứ quán Mỹ đưa tin ngày 13/10, Đại sứ Knapper và Tổng Lãnh sự Burns đã đến viếng Nghĩa trang Biên Hòa (tên khác là Nghĩa trang Bình An), trước đây còn gọi là Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa.
Trước năm 1975, đây từng là nơi chôn cất khoảng 16.000 tử sĩ của Quân lực Việt Nam Cộng hòa (VNCH). Sau khi chính thể VNCH thất thủ, chốn an nghỉ của các chiến sĩ VNCH đã nhiều năm bị bỏ hoang phế do Quân Khu 7 thuộc Bộ Quốc Phòng không cho người trông coi và chăm sóc. Với lý do là khu vực quân sự “nhạy cảm”, nhà cầm quyền CSVN cấm không một ai được vào thăm mộ. Trong nhiều năm ròng, nghĩa trang không được trùng tu. Tượng Thương tiếc bị kéo đổ vào năm 1975. Nghĩa Dũng đài bị cắt cụt một đoạn.
Thăm viếng và thắp hương trước anh linh các tử sĩ của “chế độ cũ, đại sứ Mỹ đã viết trên trang Facebook rằng họ “gửi lời chia buồn sâu sắc nhất tới gia quyến của những người đã ngã xuống.” Đây là một nghĩa cử mang nhiều ý nghĩa cho một mối bang giao đã trải qua nhiều thăng trầm lịch sử.


Xin cảm ơn Đại sứ Mỹ tại Việt Nam!
“Anh nằm xuống sau một lần đã đến đây, đã vui chơi trong cuộc đời này, đã bay cao trong vòm trời đày rồi nằm xuống, không bạn bè không có ai…..”
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Đại sứ quán Mỹ viếng Ngĩa Trang Quân Đội Biên Hòa – FB Nguyen Ken.
Thu rồi sao anh! Thơ Phu nhân Nguyễn văn Vinh
THU RỒI SAO ANH
Trong ta lửa hạ vẫn chưa tàn,
Thu trời, thu đời đã vội sang.
Nhìn anh đã tiêu hao thần sắc,
Mới hay còn ít quỹ thời gian.
Còn ít thời gian có sao đâu?
Đã sống bên nhau đến bạc đầu.
Đừng đếm thời gian dài hay ngắn,
Hãy tính những gì làm cho nhau.
Chấp nhận khác biệt qua cảm thông
Chậm giận để tìm sự khoan dung.
Thay cho những bất hòa, trái ý.
Quà tặng là lời nói ấm lòng.
Thu đời đã đến rồi đó anh.
Bên đàn con ngoan, lũ cháu xinh,
Cùng dâng lời tạ ơn Thiên Chúa
Ban cho tuổi hoàng hôn an lành.
Đã dìu nhau qua suối ưu phiền,
Đã cùng nhau vượt nỗi truân chuyên,
Bàn tay sứt mẻ xây hạnh phúc,
Giờ thì sống chậm hưởng an nhiên
Mọi sự đều có buổi, có thời
Mình đang đến đích điểm cuộc đời.
Thận trọng từng bước đi thanh thoát.
Thu liễm, đông tàng (*) sẽ đến thôi!
Lê Phương Lan
Cảm tác sau một ngày nhìn anh nằm trong chiếc giường tại bệnh viện.
(*) Ngạn ngữ: ”Xuân sinh, hạ trưởng, thu liễm, đông tàng”
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Thu rồi sao anh! Thơ Phu nhân Nguyễn văn Vinh
Thơ Nguyễn Phiến mừng thọ Phạm văn Minh
Nguyễn Phiến
Mừng Thọ Phạm Văn Minh
“Thành phố buồn” là một bài hát nhạc vàng gắn liền với tên tuổi nhạc sĩ Lam Phương. Nội dung bài hát miêu tả về mối tình giữa đôi nam nữ trong bối cảnh thành phố Đà Lạt với rừng thông bao phủ sương khói tạo nên cảm giác buồn. Bài hát viết theo điệu Slow rock. Nội dung kể về mối tình tan vỡ của một đôi nam nữ với những kỷ niệm thơ mộng ở Đà Lạt. Trích đoạn như sau:
Thành phố nào nhớ không em?
Nơi chúng mình tìm phút êm đềm.
Thành phố nào vừa đi đã mỏi.
Đường quanh co quyện gốc thông già.
Chiều đan tay nghe nắng chan hòa.
Nắng hôn nhẹ làm hồng môi em.
Mắt em buồn trong sương chiều anh thấy đẹp hơn.
Wikipedia tieng viet
TÂM TÌNH MẦNG THỌ BẠN PHẠM VĂN MINH
Khởi từ sau cuộc bể dâu
Ông Tơ bà Nguyệt bắc cầu xe duyên
Trai hùng một thuở chiến chinh
Sánh vai cùng gái thuyền quyên một thờ
Tinh hoa hương sắc đầu đời
Người đem trao hết cho người tình chung
Nam thanh nữ tú tương phùng
Trai lương đống gái công dung rạng ngờ
Uyên ương Loan Phụng đẹp đôi
Sắt cầm hòa hợp đường đời đoàn viên
Mưu cầu cuộc sống ấm êm
Gia đình hạnh phúc an nhiên phận ngườ
Nào đâu bèo dạt mây trôi
Tháng ngày trôi nổi ngược xuôi theo dòng
Bao nhiêu ước nguyện vun trồng
Đất trời đão lộn đời không còn gì
Người người lâm cảnh khốn nguy
Dân tình ai oán bi thương nảo lòng
Tháng ngày trôi giạt bềnh bồng
Trăng sao lịm tắt gía đông lạnh lùng
Ngờ đâu Mỹ quốc bao dung
Muà xuân tân cảnh muôn trùng đổi thay
Bàn tay nắm chặt bàn tay
Đồng tâm hợp lực miệt mài dựng xây
Phước phần cơ sự xuôi may
Đường trăng mở lối hoa bay ngập trời
Cám ơn mảnh đất tình người
Cháu con thành đạt sáng ngời tương lai
Ung dung tuổi hạc thân trai
80 Sinh Nhật vắn dài mừng anh
Phiến Nguyễn
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Thơ Nguyễn Phiến mừng thọ Phạm văn Minh
Nơi nào người Việt không bị khinh bỉ
NƠI DUY NHẤT NGƯỜI VIỆT NAM KHÔNG BỊ KHINH BỈ

* Năm 2006, một công ty của người gốc Việt ở Mỹ thuê tôi về Việt Nam làm một nghiên cứu cho một dự án đầu tư kinh tế. Vài người quen đưa tôi đi làm việc với chính quyền một vài tỉnh để tìm hiểu các kế hoạch kinh tế của địa phương. Đi đến đâu, tôi cũng nhận được một lời khuyên tương tự là, tôi nên đưa theo một người Mỹ trắng, dù người đó là một nhân viên bảo vệ hay là một lao công cho công ty tôi ở Mỹ, miễn sao người đó nói “xí bô xí ba” gì đó, rồi tôi dịch ra tiếng Việt, thì tôi mới được tiếp đón nồng hậu và nhiệt tình!
* Trở lại thành phố Sài Gòn, gặp một cậu “Việt kiều” 26 tuổi, sinh ở Mỹ, tốt nghiệp Cao học Anh ngữ tại Đại học Los Angeles (UCLA). Với nguyện vọng tha thiết được làm việc tại Việt Nam, cậu xin vào dạy tại một trung tâm Anh ngữ trực thuộc một trường Đại học lớn của Việt Nam. Ở đây, người ta trả lương theo giờ cho cậu ít hơn ba lần so với mấy người Tây ba lô. Họ nói, cho dù anh có trình độ và khả năng hơn hẳn mấy người Tây đó, nhưng vì anh là người “gốc Việt” nên không có… giá cao!
* Bản thân tôi, trong một lần trú tại một khách sạn của công ty Du lịch thành phố Sài Gòn, có hôm tôi gọi tiếp tân yêu cầu cử người giúp sửa đường dây internet, gọi đến lần thứ ba vẫn chỉ hứa hẹn. Sau đó, khi tôi gọi và nói chuyện bằng tiếng Anh, thì cô tiếp tân rối rít “Yes, sir” và vài phút sau, một nhân viên xuất hiện!
* Tương tự, vài lần đi máy bay Vietnam Airlines từ Đài Loan về Việt Nam, tôi đã rút được kinh nghiệm là phải sử dụng tiếng Anh nếu muốn được phục vụ tốt và lịch sự!
Hết biết! Người Việt tự kỳ thị nhau và bị kỳ thị ngay chính ở Việt Nam!
Thế còn người nước ngoài, họ nghĩ gì về Việt Nam?
Một người tôi quen, là cán bộ lãnh đạo của một cơ quan văn hóa thành phố Sài Gòn. Trong một bữa “nhậu”, ông ấy vừa nhai ngồm ngoàm cái đùi gạ, vừa thuyết trình với anh bạn người Mỹ bên cạnh tôi (tất nhiên tôi là thông dịch viên bất đắc dĩ), rằng Việt Nam tuy còn nghèo nhưng nhờ có độc lập nên giữ được phẩm giá. Ông lấy ví dụ, vừa rồi, trong một chuyến du lịch ở Mỹ, trong lúc ông bị lạc khi tham quan Hollywood, ông đã được 2 viên cảnh sát Mỹ “hết sức lễ phép, trân trọng, và nhiệt tình” giúp ông tìm đường. Họ luôn gọi ông bằng “sir,” tức là “ngài.” Ông kết luận, vì họ biết ông là cán bộ của Việt Nam, nên họ đã đối xử với ông một cách trọng thị như vậy!
Anh chàng Mỹ ngồi bên cạnh tôi tròn mắt và… không nói gì cả!
Nghe ông cán bộ này nói, tôi nhớ lại 3 câu chuyện:
* Năm 2005, tôi đưa cậu con trai 4 tuổi, trên đường về thăm Việt Nam, ghé lại tham quan và nghỉ ngơi ở Nhật 3 ngày. Chúng tôi trú tại một khách sạn ở Tokyo. Thấy 2 cha con chúng tôi trao đổi qua lại bằng tiếng Anh, hầu như tất cả nhân viên làm việc ở đây đều cư xử với chúng tôi một cách hết sức thân tình và trân trọng. Họ nghĩ chúng tôi là người Mỹ gốc Nhật. Thế nhưng, khi nghe tôi cải chính lại là người Việt Nam, thì thái độ họ thay đổi hẳn!
* Một anh bạn tôi là một nhà giáo và một nhà báo nghiệp dư ở vùng Vịnh San Francisco kể rằng: Trong chuyến đi du lịch vùng Đông Âu như Ba Lan, Tiệp Khắc, Nga… anh luôn gặp rắc rối vì cái hộ chiếu Việt Nam của vợ anh. Lúc nào vào ra cửa khẩu của các nước này, thì cả đoàn du lịch 20 người có passport Mỹ đều cho qua một cách thoải mái, chỉ duy nhất vợ anh với hộ chiếu Việt Nam là bị tách ra vào phòng riêng xét hỏi. Lần nào anh cũng phải viết giấy bảo lãnh! Mà mấy nước này vốn là “anh em xã hội chủ nghĩa” của Việt Nam mấy năm trước đây!
* Chuyện thứ ba, trong một lần du lịch tại Jakarta, Indonesia, tôi đi với một người bạn địa phương vào một câu lạc bộ khiêu vũ (dancing). Mấy cô vũ nữ nghe tôi nói chuyện bằng tiếng Anh thì vồ vập và tỏ ra rất tình cảm. Thế nhưng, khi nghe tôi nói là “người Việt Nam”, thì mấy cô dần dần lảng ra! Trời, ngay cả mấy cô… bán hoa mà cũng… đối với người Việt Nam như vậy!
Tôi định kể cho ông bạn cán bộ nghe 3 câu chuyện này, nhưng lại thôi vì e là ông cũng không hiểu, và nếu hiểu ra thì không khéo ông lại quy cho tôi tội “theo đuôi đế quốc, xúc phạm dân tộc” thì mệt lắm!
Còn người Việt Nam xem người ngoại quốc thế nào?
* Vợ chồng người bạn khác của tôi tại Hà Nội đều là “trí thức”, thuộc gia đình quyền thế và khá giả tham vấn tôi về kế hoạch mở một trường Mẫu giáo cao cấp, trong đó có quy định là chỉ nhận con em của người nước ngoài da trắng. Tôi hỏi lại vài lần chữ “da trắng” và xin được giải thích thêm.
Họ nói rằng, ở Việt Nam đã có 2 trường như vậy và đã tồn tại nhiều năm (?!), nói rõ là chỉ nhận học sinh người “da trắng.” Người ngoại quốc mà da màu cũng không được, thậm chí ngay cả con cái cán bộ Việt Nam cao cấp hoặc đại gia cũng không được nhận. Vợ chồng anh bạn này khẳng định, tiền bạc chỉ là một vấn đề nhỏ, điều anh chị muốn là thể hiện “đẳng cấp” của anh chị, và của cơ sở do anh chị thành lập!
Tôi sống ở Mỹ, một đất nước do người da trắng thành lập và xây dựng nên, thế nhưng trên cả nước Mỹ, không nơi nào có một trường học với quy định như vậy cả! Nếu ai đó ở Mỹ mà có cái ý tưởng như vậy, thì có lẽ trước khi bị lôi ra tòa án cho phá sản, chắc chắn là sẽ bị dư luận ném xuống loại “đẳng cấp” man rợ!
Tôi không biết thật sự ở Việt Nam đang có kiểu trường “quốc tế” như vậy không, nhưng chỉ riêng thái độ tận tụy phục vụ người “da trắng” của 2 vị trí thức trẻ và quyền lực Hà Nội cũng đủ để nhận ra một thế hệ “quí tộc” Việt vô cùng… quái đản!
Kể lại những câu chuyện này, một người bạn của tôi nói rằng, trên thế giới hiện nay chỉ có duy nhất một nơi mà người Việt Nam không bị khinh rẻ, đó là nước Mỹ!
Thật mỉa mai, nhưng đó là sự thật! Tôi sống ở Việt Nam 30 năm, 15 năm ở Mỹ, và đi đây đó khoảng chục nước, tôi công nhận điều anh bạn này nói. Ít ra, đây cũng là điều an ủi cho những kẻ “tha hương” người Việt ở Mỹ như chúng tôi. Và đó cũng là lý do, mà tôi đã bỏ ý định trở lại quê hương Việt Nam sau khi học hành xong ở Mỹ, như kế hoạch của tôi ngày ra đi!
Khánh Hưng
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Nơi nào người Việt không bị khinh bỉ
Quà Tặng – Thơ Ngô Minh Hằng
QUÀ TẶNG

Đoá hoa hồng này xin tặng
Mẹ yêu, người Mẹ Việt Nam
Vì con, nhọc nhằn vất vả
Suốt đời nhẫn nhục đảm đang
Đoá hoa hồng này xin tặng
Người Cha yêu kính Việt Nam
Dìu con đi từng bước nhỏ
Dạy con hát khúc da vàng !
Đoá hoa hồng này xin tặng
Cho Thầy, Cô giáo Việt Nam
Đã dạy cho em hiểu biết
Rồng Tiên quốc sử son vàng
Đoá hoa hồng nay xin tặng
Con yêu Tổ quốc Việt Nam
Đời trai hiến dâng quê Mẹ
Đất sâu gởi nắm xương tàn
Đoá hoa hồng nay xin tặng
Chứng nhân lịch sử Việt Nam
Hồn đau từng đường dao chém
Hờn căm trước lệnh đầu hàng !
Đoá hoa hồng nay xin tặng
Cho người chiến sĩ Việt Nam
Thương anh nửa đời dâu biển
Chìm theo vận nước điêu tàn !
Đoá hoa hồng nay xin tặng
Cho người vợ trẻ Việt Nam
Gặp cơn đau buồn quốc nạn
Chia đời cay đắng gian nan
Đoá hoa hồng nay xin tặng
Thuyền Nhân của nước Việt Nam
Thành công vượt qua hải nạn
Hay trong lòng biển kinh hoàng
Đoá hoa hồng nay xin tặng
Cho người con gái Việt Nam
Cánh hồng chưa tròn hương nụ
Ai gây mưa gió phũ phàng ?
Đoá hoa hồng nay xin tặng
Cho em, em bé Việt Nam
Vì đâu mà em lớn vội
Vì đâu em phải cơ hàn ???
Đoá hoa hồng nay xin tặng
Dân tôi, dân tộc Việt Nam
Kẻ đi ngàn phương lưu lạc
Người thì ở lại lầm than !
Còn trái tim này xin tặng
Giang sơn tôi, nước Việt Nam
Hồn xin làm cơn gió lộng
Vinh danh một sắc cờ vàng !
Ngô Minh Hằng
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Quà Tặng – Thơ Ngô Minh Hằng







Bạn phải đăng nhập để bình luận.