MINH OAN CHO TRẦN KHẮC CHUNG VÀ HUYỀN TRÂN CÔNG CHÚA_Hoàng Hương Trang

Từ xưa đa số người Việt mặc nhiên cho rằng Trần Khắc Chung và Huyền Trân công chúa là một mối tình. Họ kể truyền miệng đời này qua đời khác thành ra vô tình đã “Đóng Đinh” đó là một mối tình như có thực. Chính tôi từ mấy chục năm qua cũng tin như vậy. Cứ cho là trước khi đi làm vợ vua Chiêm Chế Mân, Huyền Trân công chúa đã có ý tình dan díu với Trần Khắc Chung, nên khi Chế Mân chết, vua Trần sai Khắc Chung đi cứu con gái khỏi bị hỏa thiêu chết theo chồng theo phong tục của hoàng gia Chiêm Thành, thì hai người “Tình cũ” lại được “tái hợp”. Cuộc cứu hộ công chúa thành công và hai người lênh đênh trên biển một thời gian khá dài có đến hàng năm, mới về tới Thăng Long.

Mãi cho đến khi thành phố Huế xây dựng Trung tâm văn hóa Huyền Trân, mà dân Huế gọi là Đền thờ Huyền Trân công chúa; tôi có dịp đến viếng, tìm hiểu cặn kẽ, đọc kỹ sử liệu và văn bia tại đền thờ, thật sự tôi đã sững sờ, ngỡ ngàng khi biết ra sự thật có trong sử liệu và văn bia tại Đền Thờ do Ban Nghiên Cứu Sử uy tín đã viết lại cho đúng sự thật. Ôi! Một nỗi oan đã kéo dài với thời gian mấy thế kỷ, mà không ai minh oan cho hai người. Theo sử liệu, khi công chúa Huyền Trân còn ở Thăng Long, chỉ mới 13 tuổi, đã được vua cha hứa gả cho Chế Mân. Khi đó, lão tướng Trần Khắc Chung đã rất già, vốn không phải họ Trần, mà là họ Đỗ, vì có nhiều công chiến trận nên được vua cho cải ra họ Trần. Lão tướng ngoài tài trận mạc, còn có tài thêu thùa rất khéo tay, vì vậy các công chúa trong triều được lão tướng dạy cho học thêu thùa. Công chúa Huyền Trân lúc đi lấy chồng mới 15 tuổi, là cháu ngoại của danh tướng Trần Hưng Đạo, bạn lão tướng chí thân của lão tướng Trần Khắc Chung. Lúc đó, lão tướng Khắc Chung đã già, đã có 3 đời vợ, con cháu đầy đàn, không thể nào lại dan díu với cô công chúa 13 tuổi là cháu ngoại của bạn mình được. Thuở xa xưa trên 700 năm trước đó, một cô gái nhỏ mới 13, 14 tuổi có dám yêu một ông già bạn của ông ngoại, và đã có vợ, con, cháu đầy đàn? Ngay thời đại ngày nay, điều đó cũng khó có thể xảy ra.

Cho đến khi vua Trần sai đi cứu công chúa là vì lão tướng đáng tin cậy, có nhiều mưu kế, từng trải trận mạc, mới có thể cứu được công chúa thoát khỏi lên giàn hỏa thiêu. Lúc này công chúa mới sinh hoàng tử được 2 tháng. Lão tướng Khắc Chung đã tương kế tựu kế, vừa thay mặt vua Trần để phúng điếu với triều đình Chiêm Thành (Chế Mân chết, Chế Cũ lên nối ngôi vua cũng chỉ mới trên dưới 15 tuổi, là con trai của bà Hoàng hậu lớn của Chế Mân, còn con của Huyền Trân là Chế Chí mới sinh được 2 tháng) vừa đề nghị với triều đình Chiêm Thành cho phép công chúa Huyền Trân ra biển Đông để hướng về quê hương bái biệt vua Cha, rồi sẽ trở vào để lên giàn hỏa. 

Triều đình Chiêm Thành đã bị mắc mưu của lão tướng Việt Nam, đã bằng lòng cho công chúa Huyền Trân ra biển để bái biệt vua cha. Vừa hay trời phù hộ cho lão tướng, sương mù dày đặc bao phủ cả biển khơi, ba bên bốn bề đều không thấy rõ, nhân cơ hội đó, lão tướng đưa công chúa qua thuyền nhẹ, và dông tuốt về phía Bắc. Trên thuyền chỉ có mấy thủy binh chèo thuyền, thuyền nhẹ đi rất nhanh, sương mù đã che khuất bóng họ. Khi thuyền vào đến vùng biển Quảng Trị thì bị bão lớn, sóng đánh dữ dội suýt chìm thuyền, phải tấp vào bờ. Vùng đất Quảng Trị bấy giờ thuộc hai Châu Ô, Lý là đất mà Chế Mân đã dâng cho vua Trần làm sính lễ để cưới công chúa nhà Trần. Đất đã là của nước Việt, có quan trị nhậm do vua Trần cử đến cai quản. Chính quan cai quản đất mới này đã giấu nhẹm rất bí mật tung tích của lão tướng và Huyền Trân, chờ hết mùa giông bão, sửa chữa thuyền xong mới có thể tiếp tục hành trình ra Bắc. Tại sao phải giấu tung tích? Bởi thủy quân Chiêm Thành rất giỏi thủy trận, đã từng đánh ra tận Thăng Long thời Chế Bồng Nga, do đó họ có thể cho thuyền truy lùng thuyền của Khắc Chung và công chúa. Hai người được vị quan Việt Nam giấu kỹ đồng thời lo sửa chữa thuyền bè đã bị bão làm hư hỏng nặng. Hơn năm sau, hết mùa bão, trời yên biển lặng, quân Chiêm không truy đuổi nữa, thuyền cũng đã sửa chữa xong, họ mới tiếp tục cuộc hải trình ra Bắc. 

Tuy được cứu thoát, nhưng công chúa trong tâm trạng mất một đứa con trai đầu lòng mới 2 tháng tuổi, cùng với nỗi đau vừa mất chồng, cùng nỗi sợ hãi vừa thoát lên giàn hỏa thiêu. Thử hỏi trong tâm trạng đau buồn mất chồng, mất con, và lo sợ như thế, còn tâm trạng đâu để dan díu, ngoại tình? Sở dĩ người đời sau thêu dệt nên mối tình Trần Khắc Chung và công chúa Huyền Trân là do họ đồng hóa với mối tình Tây Thi – Phạm Lãi bên Tàu. Sau khi báo thù vua Tàu, Tây Thi đã theo người tình cũ là Phạm Lãi chèo thuyền chu du vào Ngũ Hồ sống với nhau, lênh đênh bềnh bồng trên sóng nước, bỏ lại thế gian sau lưng. Do đó người Việt đời sau cứ thản nhiên đồng hóa mối tình Tây Thi – Phạm Lãi và Huyền Trân – Trần Khắc Chung như là một. Đó là nỗi oan của Lão Tướng Trần Khắc Chung và là nỗi oan của sương phụ Huyền Trân mà ngày nay chúng ta phải hiểu và đánh giá lại cho rõ ràng. 

Khi về đến Thăng Long, Huyền Trân lên núi Yên Tử trình diện vua cha là Phật Hoàng Trần Nhân Tông, rồi quy y đi tu, lấy pháp danh là Hương Tràng ni sư. Bà vừa tu hành vừa dạy dân dệt vải và làm thuốc cứu bệnh cho dân. Tôi ước mong rằng người Việt Nam ta ai cũng có dịp đến viếng đền thờ Huyền Trân công chúa ở Huế để có dịp tận tường đọc kỹ văn bia và sử liệu chính thức đáng tin cậy để minh oan cho công chúa Huyền Trân và Lão tướng Trần Khắc Chung. Riêng tôi, sau lần có dịp đến viếng đền thờ và đọc cặn kẽ sử liệu, văn bia. Tôi đã thắp hương cúi đầu chân thành tạ lỗi với người xưa, vì mình đã lầm tưởng mấy chục năm qua chỉ vì hai chữ “tương truyền”, oan cho một người phụ nữ đoan hạnh và một vị lão tướng tài ba.

Hoàng Hương Trang (20/7/2020)

(Bài do Nguyễn Văn Vinh chuyển)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ

Bài Thơ NHỚ MẸ của K1 TPK

Mùa Vu Lan năm nay lại về. Chúng ta là những đứa con dù nay tuổi cũng đà 70-80, nhưng trong lòng luôn nhớ về người Mẹ Yêu Thương không lúc nào vơi. Tình cảm ấy, tâm tình ấy được bạn Tống Phước Kiên thể hiện qua bài thơ ” NHỚ MẸ”.
Căn Nhà Nhỏ K1 xin được giới thiệu bài thơ nầy đến quý bạn và thân hữu cùng với phần phụ họa của nhạc phẫm “Vu Lan Nhớ Mẹ”
Xin mời thưởng thức và cám ơn bạn TPK quý mến.

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ

BÁO HIỆU CỦA TUỔI GIÀ- BE CAREFUL

Căn Nhà Nhỏ K1 xin chúc mừng hai bạn Lê Hữu Nghĩa và Trưởng K1 Toán Như được bình yên sau hai tai nạn của tuổi già.
Với bạn Nghĩa có lẽ vì trời quá nóng mà uống thiếu nước (không thấy bạn Nghĩa nói đến uống nước trước khi lái xe về nhà).
Đây là những trường hợp thường xảy ra cho những người già. Khi chúng ta ngồi xuống, chân chúng ta bị khép lại, ngăn không cho máu máu lưu thông lên đầu, nên khi đứng dậy thường hay bị chóng mặt, xây xẫm không thấy đường. Trường hợp nầy dễ bị té. Và té thì rất là nguy hiễm.
Mình tin rằng ngoài hai câu chuyện của Nghĩa LĐ và TN chắc cũng có vài anh chị em trong chúng ta đã từng bị như vậy và đã thoát qua.
Chúng ta đều được lên danh sách sắp hàng rồi.

                 HÃY CẨN THẬN NGHE CÁC BẠN

Sau đây mời các bạn nghe lại hai câu chuyện đã xảy ra cho hai bạn của chúng ta.

1- Câu chuyện của bạn Lê Hữu Nghĩa:

Các bạn K1 ơi,

Bữa nay tui mới biết người ta bị xỉu hay bị ngất là như thế nào.
Khoảng 4:30 chiều Chúa Nhật 23/8/2020, tui tính ra vườn để đào mấy gốc cây mọc ở hàng rào sau nhà. Có khoảng 10 cây như vậy. Năm nào cũng phải cắt nhánh vì nó cứ mọc che vô vườn. Năm nay đã cắt xong nhánh rồi nhưng sẳn vừa nghỉ hưu nên tui tính đào bứng cả gốc cho tiệt luôn khỏi mất công mỗi năm mỗi cắt nhánh . Tui rị mọ hổm nay được 3 gốc rồi. Chiều nay muốn đào tiếp thì phải qua phía ngoài hàng rào, tức phía sau cái hãng bên kia nhà. Phải lái xe vòng qua, đậu ở parking lot của hãng, nên chỉ có thể tranh thủ ngày weekend mới làm được. Trước giờ tui vẫn làm vậy. Chắc là họ có gắn camera nên sau khi tui phát quang dọc bên ngoài hàng rào thì sau đó họ cũng cho người dọn tiếp phía đất bên kia hàng rào.

Bữa nay trời nóng quá, 4:30 pm mà vẫn nóng. Tui đào được xong 2 gốc, qua gốc thứ 3 thì thấy người hơi khó chịu nên quyết định về nhà nghỉ, chờ chiều mát qua làm tiếp. Tui tự đặt ra quy tắc là “làm không theo giờ, không theo chỉ tiêu, chỉ theo lịnh của cái xác già”. Hể nó thấy hết muốn làm là nghỉ chớ hổng đợi thấy mệt mới nghỉ.

Khi đứng dậy thì tui thấy xây xẩm . Đứng yên vài giây chờ hết chóng mặt nhưng hổng hết nên tui bước từ từ ra xe. Khi tới xe thấy khó chịu thêm nên tui dựa vô xe chờ khỏe lại. Thấy cũng hổng khá nên tui ngồi xuống xem sao. Vậy mà tui bị ngất hồi nào hổng biết. Khi tỉnh dậy tui thấy mình nằm co gục chớ hổng phải ngồi. Mèn ơi, vậy là tui vừa bị ngất một thời gian mà hổng biết trong bao lâu.

Dòm quanh hổng có ai, chỉ thấy chói lòa vì bị hoa mắt luôn. Tui lồm cồm đứng dậy, mở cửa vô xe, nổ máy để kéo 4 cửa kiếng xuống cho bớt nóng. Tui tính ngồi nghỉ một hồi cho khỏe rồi mới dám lái xe. Ngồi một lúc mà vẫn hổng thấy khá hơn nên tui quyết định về nhà nằm mới được. Tui biết nếu lái xe trong lúc đó rất không nên vì trong người khó chịu, mắt thì chói lòa nhìn mọi vật hổng rõ, nhưng cũng phải làm. Tui chỉ “nhắm chừng” theo ngả đường quen để về chớ nhìn hổng thấy lề đường.

Khi chạy xe vô và đậu trước garage tính vô nhà thì thấy đường ra sân sau hổng phải nhà mình vì nhà tui hổng có cái cửa bằng cây. Tui nhìn kỹ lại thì mọi thứ đúng y nhà mình, chỉ khác cái cửa rào bằng cây. Như vậy chắc là vô lộn nhà kế bên rồi. Tui de xe ra đường coi lại thì đúng là vị trí nhà mình, vì nhà kế bên là nhà ngay ngả tư rồi. Coi lại cái nhà và cái garage thì giống y nhà mình. Lúc đó đầu óc tui cũng “lơ mơ”, nếu tỉnh thì đã thấy cây cối trước nhà hổng phải rồi. Tui tự hỏi vầy là sao ha? Bộ mình đang nằm mơ? Rồi tui nghĩ chắc là chạy trật đường rồi, nên thử chạy ngược lại. Đúng y như rằng, tui đã chạy lố một block đường. 

Vậy là tui về được nhà. Vô nhà, uống mấy đợt nước, nằm nghỉ, cả tiếng sau mới khỏe lại và hết chói mắt.

Như vậy mấy người bị ngất xỉu mà chết luôn thì thiệt là…nhẹ nhàng và hổng biết mình chết đâu.

Nghĩa LĐ

2- Câu chuyện của bạn Toán Nhữ:

Đúng là chúng ta đã già thật sự từ lâu rồi các bạn ơi. Đừng nên ảo tưởng rằng mình còn khỏe chưa già lắm. Tôi cũng vừa trải qua một tai nạn vào buổi sáng thứ bảy vừa qua (22/8) mà cho đến hôm nay tôi vẫn còn chưa hiểu tại sao tôi lại bị như vậy. Khoảng 10 giờ sáng thứ 7, vì đang bị đau thần kinh tọa nên tôi có nhờ thằng con trai tới phụ giúp cắt tỉa ‘trim’ cây và nhổ cỏ ở cái miếng vườn nhỏ ở căn mobile home của tôi. Trong khi nó cắt cây ở phía sau thì tôi gom lá cây đi đổ rác. Tôi đã đổ rác 2 chuyến và chuẩn bị làm chuyến thứ 3 thì không biết có phải tôi bị choáng hay không mà tôi bị té xuống đập đầu vào cái bờ gạch ngăn cái vườn phía trước làm cho đầu tôi bị tét chảy máu quá trời phải vào urgent care rồi sau đó vào bệnh viện. Tại đây họ phải thực hiện 6 staples cho vết thương trên đầu của tôi cầm máu (giống như khâu 6 mũi vậy) và chụp CT scan xem có tụ máu trong não hay không. Kết quả CT của tôi may mắn normal nên tôi được cho về nhà theo dõi, 1 tuần sau sẽ trở lại tái khám để remove các staples. Đó là kinh nghiệm của tôi gần tương tự như bạn Nghĩa, nhưng bạn Nghĩa may mắn vô sự, tuy nhiên dù sao đó cũng là dấu hiệu của sự lão hóa của chúng ta đang ngày một yếu đi. Chúng ta phải “Be careful” nhe các bạn.

Toán Nhữ

 

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ

Vọng Cổ Buồn (Tác giả Tiểu Tử hiện sinh sống tại Pháp Quốc)

VỌNG CỔ BUỒN…

(Tiểu Tử)

Tôi vượt biên một mình rồi định cư ở Pháp. Năm đó tôi mới 49 tuổi, vậy mà đi tìm việc làm đến đâu người ta cũng chê là tôi già! Vì vậy, một hôm, khi chải tóc, tôi nhìn kỹ tôi trong gương. Tôi bỗng thấy ở đó có một người có vẻ như quen nhưng thật ra thì rất lạ: mắt sâu, má hóp, mặt đầy nếp nhăn trên trán, ở đuôi mắt, ở khóe môi, mái tóc đã ngả bạc cắt tỉa thô sơ như tự tay cắt lấy. Từ bao lâu nay tôi không để ý, bây giờ soi gương vì bị chê già, tôi mới thấy rằng tôi của hồi trước “Cách mạng thành công” và tôi của bây giờ – nghĩa là chỉ sau có mấy năm sống dưới chế độ gọi là ưu việt – thật không giống nhau chút nào hết. Tôi già thiệt, già trước tuổi. Cho nên, tôi nhìn tôi không ra. Từ đó, mỗi ngày tôi tập nhìn tôi một lần, nhìn kỹ, cho quen mắt !

Một người bạn làm việc lâu năm ở Côte d’ Ivoire (Phi Châu) hay tin tôi đã qua Pháp và vẫn còn thất nghiệp, bèn giới thiệu tôi cho Công ty Đường mía của Nhà nước. Không biết anh ta nói thế nào mà họ nhận tôi ngay, còn gởi cho tôi vé máy bay nữa!

Xưa nay, tôi chưa từng quen một người da đen gốc Phi Châu nào hết. Và chỉ có vài khái niệm thô sơ về vùng Phi Châu da đen như là: ở đó nóng lắm, đất đai còn nhiều nơi hoang vu, dân chúng thì da đen thùi lùi, tối ngày chỉ thích vỗ trống, thích nhảy tưng tưng v.v.. Vì vậy, tôi hơi ngán. Nhưng cuối cùng rồi tôi quyết định qua xứ da đen để làm việc, danh dự hơn là ở lại Pháp để tháng tháng vác mặt Việt Nam đi xin trợ cấp đầu nọ, đầu kia

Nơi tôi làm việc tên là Borotou, một cái làng nằm cách thủ đô Abidjan gần 800km! Vùng này toàn rừng là rừng. Không phải là rừng rậm rì cây cao chớn chở như ở Việt Nam.

Rừng ở đây cây thấp lưa thưa, thấp thấp cỡ mươi, mười lăm thước coi khô hóc. Không có núi non, chỉ có một vài đồi trũng, nhưng đồi không cao và trũng không sâu

Nhà nước phá rừng trồng mía. Ruộng mía ngút ngàn! Nằm ở trung tâm là khu nhà máy, khu cơ giới, khu hành chánh, khu cư xá v.v.. Khu này cách khu kia cỡ vài cây số.

Muốn về thủ đô Abidjan, phải lái xe hơi chạy theo đường mòn xuyên rừng gần ba chục cây số mới ra tới đường cái tráng nhựa. Từ đó chạy đi Touba, một quận nhỏ với đông đảo dân cư. Từ đây, lấy máy bay Air Afrique về Abidjan, mỗi ngày chỉ có một chuyến.

Phi trường Touba nhỏ xíu, chỉ có một nhà ga xây cất sơ sài và một phi đạo làm bằng đất đỏ, mỗi lần máy bay bay lên đáp xuống là bụi bay đỏ trời !

Tôi hơi dài dòng ở đây để thấy tôi đi “làm lại cuộc đời” ở một nơi hoang vu hẻo lánh mà cảnh trí thì chẳng có gì hấp dẫn hết! Thêm vào đó, tôi là người Á Đông duy nhứt làm việc chung với Tây trắng (chỉ có năm người) và Tây đen (đông vô số kể).

Ở đây, thiên hạ gọi tôi là ” le chinois” – thằng Tàu – Suốt ngày, suốt tháng tôi chỉ nói có tiếng Pháp. Cho nên, lâu lâu thèm quá, tôi soi gương rồi nói chuyện với tôi bằng tiếng Việt, trông giống như thằng khùng! Chưa bao giờ tôi thấy tôi cô đơn bằng những lúc tôi đối diện tôi trong gương như vậy.

Một hôm, sau hơn tám tháng ” ở rừng” , tôi được gọi về Abidjan để họp (Đây là lần đầu tiên được về thủ đô!).

Anh tài xế đen đưa tôi ra Touba. Chúng tôi đến phi trường lối một giờ trưa.

Sau khi phụ tôi gởi hành lý, anh tài xế nói:

– Tôi ra ngủ trưa ở trong xe. Chừng Patron (ông chủ) đi được rồi tôi mới về.

Ở xứ đen, họ dùng từ “Patron” để gọi ông chủ, ông xếp, người có địa vị, có tiền, người mà họ nể nang v.v Nghe quen rồi, chẳng có gì chói lỗ tai hết!

Tôi nói:

– Về đi! Đâu cần phải đợi!

Hắn nhăn răng cười, đưa hàm răng trắng toát:

– Tại Patron không biết chớ ở đây lâu lâu họ lại hủy chuyến bay vào giờ chót, nói tại máy bay ăn-banh ở đâu đó. Máy bay cũng như xe hơi vậy, ai biết lúc nào nó nằm đường.

Rồi hắn đi ra xe. Tôi ngồi xuống một phô-tơi, nhìn quanh : hành khách khá đông, nhiều người ngồi với một số hành lý như thùng cạc-tông, bao bị, va-ly v.v Không phải họ không biết gởi hành lý, nhưng vì những gì họ đã gởi đã đủ số ký-lô giành cho mỗi hành khách, nên số còn lại họ xách tay, cho dầu là nhiều món vừa nặng vừa cồng kềnh!

Không khí nóng bức. Mấy cái quạt trần quay vù vù, cộng thêm mấy cây quạt đứng xoay qua xoay lại, vậy mà cũng không đủ mát. Thiên hạ ngủ gà ngủ gật, tôi cũng ngã người trên lưng ghế, lim dim

Trong lúc tôi thiu thiu ngủ thì loáng thoáng nghe có ai ca vọng cổ. Tôi mở mắt nhìn quanh rồi thở dài, nghĩ: “Tại mình nhớ quê hương xứ sở quá nên trong đầu nghe ca như vậy” . Rồi lại nhắm mắt lim dim. Lại nghe vọng cổ nữa. Mà lần này nghe rõ câu ngân nga trước khi “xuống hò” : “Mấy nếp nhà tranh ẩn mình sau hàng tre rũ bóng đang vươn lên ngọn khói á lam à chiều”

Đúng rồi ! Không phải ở trong đầu tôi, mà rõ ràng có ai ca vọng cổ ngoài kia. Tôi nhìn ra hướng đó, thấy xa xa dưới lùm cây dại có một người đen nằm võng. Và chỉ có người đó thôi. Lạ quá ! Người đen đâu có nằm võng. Tập quán của họ là nằm một loại ghế dài bằng gỗ cong cong.. Ngay như loại ghế bố thường thấy nằm dưới mấy cây dù to ở bãi biển họ cũng ít dùng nữa.

Tò mò, tôi bước ra đi về hướng đó để xem là ai vừa ca vọng cổ lại vừa nằm võng đong đưa. Thì ra là một anh đen còn trẻ, còn cái võng là loại võng nhà binh của quân đội Việt Nam Cộng Hòa hồi xưa. Tôi nói bằng tiếng Pháp:

– Bonjour!

Anh ta ngừng ca, ngồi dậy nhìn tôi mỉm cười, rồi cũng nói ” Bonjour” . Tôi hỏi, vẫn bằng tiếng Pháp:

– Anh hát cái gì vậy?

Hắn đứng lên, vừa bước về phía tôi vừa trả lời bằng tiếng Pháp :

– Một bài ca của Việt Nam. Còn ông? Có phải ông là le chinois làm việc cho hãng đường ở Borotou không?

Tôi trả lời, vẫn bằng tiếng Pháp:

– Đúng và sai! Đúng là tôi làm việc ở Borotou. Còn sai là vì tôi không phải là người Tàu. Tôi là người Việt Nam.

Bỗng hắn trợn mắt có vẻ vừa ngạc nhiên, vừa mừng rỡ, rồi bật ra bằng tiếng Việt, giọng đặc sệt miền Nam, chẳng có một chút lơ lớ:

– Trời ơi! Bác là người Việt Nam hả?

Rồi hắn vỗ lên ngực:

– Con cũng là người Việt Nam nè!

Thiếu chút nữa là tôi bật cười. Nhưng tôi kềm lại kịp, khi tôi nhìn gương mặt rạng rỡ vì sung sướng của hắn. Rồi tôi bỗng nghe một xúc động dâng tràn lên cổ. Thân đã lưu vong, lại “trôi sông lạc chợ” đến cái xứ “khỉ ho cò gáy” này mà gặp được một người biết nói tiếng Việt Nam và biết nhận mình là người Việt Nam, dù là một người đen, sao thấy quý vô cùng. Hình ảnh của quê hương như đang ngời lên trước mặt

Tôi bước tới bắt tay hắn. Hắn bắt tay tôi bằng cả hai bàn tay, vừa lắc vừa nói huyên thuyên:

– Trời ơi! Con mừng quá! Mừng quá! Trời ơi! Bác biết không? Bao nhiêu năm nay con thèm gặp người Việt để nói chuyện cho đã. Bây giờ gặp bác, thiệt con mừng ” hết lớn” bác à!

Rồi hắn kéo tôi lại võng:

– Bác nằm đi! Nằm đi!

Hắn lại đống gạch “bờ-lóc” gần đấy lấy hai ba viên kê bên cạnh võng rồi ngồi lên đó, miệng vẫn không ngừng nói:

(Ảnh phụ họa)

– Con nghe thiên hạ nói ở Borotou có một người Tàu. Con đâu dè là bác. Nếu biết vậy con đã phóng Honda vô trỏng kiếm bác rồi! Đâu đợi tới bây giờ

Hắn móc gói thuốc, rút lòi ra một điếu, rồi đưa mời tôi:

– Mời bác hút với con một điếu.

Hắn đưa gói thuốc về phía tôi, mời bằng hai tay.. Một cử chỉ mà từ lâu tôi không còn nhìn thấy. Một cử chỉ nói lên sự kính trọng người trưởng thượng. Tôi thấy ở đó một “cái gì” rất Việt Nam.

Tôi rút điếu thuốc để lên môi. Hắn chẹt quẹt máy, đưa ngọn lửa lên đầu điếu thuốc, một tay che che như trời đang có gió. Tôi bập thuốc rồi ngạc nhiên nhìn xuống cái quẹt máy. Hắn nhăn răng cười:

– Bác nhìn ra nó rồi hả?

Tôi vừa nhả khói thuốc vừa gật đầu. Đó là loại quẹt máy Việt Nam, nho nhỏ, giẹp lép, đầu đít có nét cong cong. Muốn quẹt phải lấy hẳn cái nắp ra chớ nó không dính vào thân ống quẹt bằng một bản lề nhỏ như những quẹt máy ngoại quốc. Hắn cầm ống quẹt, vừa lật qua lật lại vừa nhìn một cách trìu mến:

– Của ông ngoại con cho đó! Ổng cho, hồi ổng còn sống lận.

Rồi hắn bật cười:

– Hồi đó ổng gọi con bằng “thằng Lọ Nồi”.

Ngừng một chút rồi tiếp:

– Vậy mà ổng thương con lắm à bác!

Hắn đốt điếu thuốc, hít một hơi dài rồi nhả khói ra từ từ. Nhìn cách nhả khói của hắn tôi biết hắn đang sống lại bằng nhiều kỷ niệm Tôi nói:

– Vậy là cháu lai Việt Nam à?

– Dạ. Má con quê ở Nha Trang.

– Rồi má cháu bây giờ ở đâu?

Giọng của hắn như nghẹn lại:

– Má con chết rồi. Chết ở Nha Trang hồi Việt cộng vô năm 1975.

– Còn ba của cháu?

– Ổng hiện ở ParisTụi này nhờ có dân Tây nên sau 1975 được hồi hương. Con đi quân dịch cho Pháp xong rồi, về đây ở với bà nội. Con sanh ra và lớn lên ở Sài Gòn, về đây, buồn thúi ruột thúi gan luôn!

Tôi nhìn hắn một lúc, cố tìm ra một nét Việt Nam trên con người hắn. Thật tình, hắn không có nét gì lai hết. Hắn lớn con, nước da không đến nỗi đen thùi lùi như phần đông dân chúng ở xứ này, nhưng vẫn không có được cái màu cà phê lợt lợt để thấy có chút gì khác khác. Tóc xoắn sát da đầu, mắt lồi môi dầy

Tôi chợt nói, nói một cách máy móc:

– Thấy cháu chẳng có lai chút nào hết!

Hắn nhìn thẳng vào mắt tôi, giọng nghiêm trang:

– Có chớ bác. Con có lai chớ bác.

Hắn xòe hai tay đưa ra phía trước, lật qua lật lại:

– Bên nội của con là nằm ở bên ngoài đây nè.

Rồi hắn để một tay lên ngực, vỗ nhè nhẹ về phía trái tim:

– Còn bên ngoại của con, nó nằm ở bên trong. Ở đây, ở đây nè bác.

Bỗng giọng hắn nghẹn lại:

– Con lai Việt nam chớ bác!

Trong khoảnh khắc, tôi xúc động đến quên mất màu da đen của hắn, mà chỉ thấy trước mặt tôi, một thanh niên Việt Nam, Việt Nam từ cử chỉ tới lời lẽ nói năng. Tôi vói tay vỗ nhẹ lên vai hắn mấy cái, gật đầu nói:

– Bác thấy. Bây giờ thì bác thấy !

Hắn mỉm cười:

– Ở đây người ta nói con không giống ai hết, bởi vì con hành động cư xử, nói năng không giống họ. Bà nội con cũng nói như vậy nữa! Còn con thì mỗi lần con nhìn trong kiếng, con vẫn nhận ra con là người Việt Nam. Bác coi có khổ không?

Rồi nó nhìn tôi, một chút trìu mến dâng lên trong ánh mắt:

– Bây giờ con gặp bác rồi, con thấy không còn cô đơn nữa. Gặp một người giống mình, ở cái xó xa xôi hẻo lánh này, thiệt là Trời còn thương con quá!

Tôi im lặng nghe hắn nói, nhìn hắn nói mà có cảm tưởng như hắn đang nói cho cả hai: cho hắn và cho tôi. Bởi vì cả hai cùng một tâm trạng

Hắn vẫn nói, như hắn thèm nói từ lâu:

– Nhớ Sài Gòn quá nên con hay ca vọng cổ cho đỡ buồn. Hồi nãy bác lại đây là lúc con đang ca bài ” Đường về quê ngoại ” đó bác.

– Bác không biết ca, nhưng bác rất thích nghe vọng cổ.

Giọng nói của hắn bỗng như hăng lên:

– Vọng cổ là cái chất của miền Nam mà bác. Nó không có lai Âu lai Á gì hết. Nó có cái hồn Việt Nam cũng như cá kho tộ, tô canh chua. Bác thấy không? Bởi vậy, không có gì nhắc cho con nhớ Việt Nam bằng bài ca vọng cổ hết.

– Bác cũng vậy.

Tôi nói, mà thầm phục sự hiểu biết sâu sắc của hắn. Và tôi thấy rất vui mừng có một người như vậy để chuyện trò từ đây về sau

Có tiếng máy bay đang đánh một vòng trên trời. Chúng tôi cùng đứng lên, hắn nói:

– Nó tới rồi đó. Con phải sửa soạn xe trắc-tơ và rờ-mọt để lấy hành lý. Con làm việc cho hãng Air Afrique, bác à.

Rồi hắn nắm tay tôi lắc mạnh:

– Thôi, bác đi mạnh giỏi. Con tên là Jean. Ở đây ai cũng biết ” Jean le vietnamien ” hết. Chừng về bác ghé con chơi, nghen.

Bỗng, hắn ôm chầm lấy tôi siết nhẹ, rồi giữ như vậy không biết bao nhiêu lâu. Tôi nghe giọng hắn lạc đi:

– Ghé con nghe bác Ghé con

Tôi không còn nói được gì hết. Chỉ vừa gật gật đầu, vừa vỗ vỗ vào lưng hắn như vỗ lưng một người con

Khi hắn buông tôi ra, tôi thấy hai má của hắn ướt nước mắt. Tôi vội vã quay đi, lầm lũi bước nhanh nhanh về nhà ga mà nghĩ thương cho “thằng Jean le vietnamien” . Hồi nãy, nó ôm tôi, có lẽ nó đã tưởng tượng như là nó đang ôm lại được một góc trời quê mẹ

Trên máy bay, tôi miên man nghĩ đến “thằng Jean” rồi tự hứa sẽ gặp lại nó thường. Để cho nó bớt cô đơn. Và cũng để cho tôi bớt cô đơn nữa!

Bây giờ, viết lại chuyện thằng Jean mà tôi tự hỏi:

Trong vô số người Việt Nam lưu vong hôm nay, còn được bao nhiêu người khi nhìn trong gương vẫn nhận ra mình là người Việt Nam?”

Và có được bao nhiêu người còn mang mểnh trong lòng bài ca vọng cổ, để thấy hình ảnh quê hương vẫn còn nằm nguyên trong đó?”

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ

Thơ Tinh Nguyễn Phiến

Mời các bạn thưởng thức thơ tình Nguyễn Phiến và cùng nghe nhạc “Ai ra xứ Huế”. Mến chúc các bạn một ngày cuối tuần thật an lành

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ

Tìm Hiểu về Bầu Cử ở Mỹ (BBC Tiếng Việt)

Lý Văn Quý

Trả lời phỏng vấn của BBC News Tiếng Việt, Nha sĩ Lý Văn Quý, một thành viên đảng Cộng hòa cho biết có ba lý do chính tại sao ông ủng hộ TT Donald Trump và mong ông sẽ tái đắc cử.

Lý Văn Quý: Thứ nhất, TT Trump là một người lãnh đạo “làm được việc” như người Mỹ thường nói: “he gets things done” và đã giữ lời hứa, thực hiện được hầu hết các mục tiêu đã đề ra; thứ hai TT Trump là một người có bản lĩnh thật sự, dám nói dám làm và không khoan nhượng với những thế lực đang lũng đoạn sinh hoạt chính trường Mỹ. Ông đã dám vạch trần và đối đầu với truyền thông thiên tả mà theo tôi đã góp phần lớn trong sự sụp đổ của VNCH vào năm 1975; thứ ba, TT Trump là một người yêu nước và yêu dân tộc Hoa Kỳ chân chính. Các hoạt động của ông đều nhằm mục tiêu tối hậu là “Làm Cho Nước Mỹ Hùng Mạnh Trở Lại” (MAGA) trên mọi lãnh vực.

BBC: Ông có phản ứng gì về việc bà Kamala Harris được chọn là ứng cử viên phó tổng thống?

Lý Văn Quý: Tuy thành tích cũng như hoạt động chính trường của TNS Harris chưa nhiều, nhưng có lẽ đó là một sự lựa chọn khá nhất của đảng Dân Chủ, vì bà Kamala Harris có thể thu hút được một số phiếu của cử tri phụ nữ, của các cộng đồng thiểu số, cũng như của quân đội. Tôi nghĩ rằng ít nhất sự lựa chọn này của PTT Biden còn hay hơn khi John McCain chọn Sarah Palin đứng phó cho ông vào năm 2008.

BBC: Nếu đắc cử, thì theo ông, trong 4 năm tới TT Trump sẽ làm được gì cho dân Mỹ, và cho vị trí của Hoa Kỳ trước quốc tế?

Lý Văn Quý: Tôi tin chắc ông sẽ làm được nhiều chuyện bất ngờ nữa, như việc ông thắng cử trước bà Hillary Clinton. Về đối ngoại, TT Trump đã có những thành công lớn mang lại bình an cho Hoa Kỳ và thế giới, gồm: Tiêu diệt mối đe dọa ISIS; giải quyết êm thắm hiểm họa hỏa tiễn nguyên tử của Bắc Hàn; cứng rắn với Iran khiến họ phải phải chùn chân, không dám tiến hành chương trình nguyên tử một cách lộ liễu cũng như không dám “trêu chọc” các chiến hạm Hoa Kỳ trong vùng vịnh Ba Tư nữa.Ngoài ra TT Trump đã mạnh dạn giải quyết vấn đề thâm hụt cán cân thương mãi giữa Hoa Kỳ với phần còn lại của thế giới, trong đó quan trọng nhất là đối với Trung Cộng. Nay đã có thỏa hiệp mới USMCA với Mexico và Canada giúp cho Hoa Kỳ “đỡ” bị thiệt hại hơn. Chuyện thương thảo với Trung Cộng còn đang tiếp diễn gay go nhưng đã có kết quả đáng khích lệ.

Về mặt đối nội thì đưa ra một loại chính sách mới về kinh tế, cải thiện luật lệ về kinh doanh khiến cho Thị Trường Chứng Khoán tăng trưởng một cách ngoạn mục, giúp cho gìới đầu tư tích lũy được tài sản một cách đáng kể và làm thuận lợi thêm cho công cuộc phát triển kinh tế. Đại dịch Covid-19 đã làm khựng lại kinh tế Hoa Kỳ, nhưng gần đây TTCK đã khởi sắc trở lại, báo hiệu niềm tin của giới đầu tư đối với các chính sách đúng đắn của TT Trump.

Do đó tôi tin là nếu TT Trump có thêm một nhiệm kỳ nữa thì ông sẽ hoàn thành sứ mệnh đưa nước Mỹ trở lại một vị trí hùng cường chưa bao giờ có trong lịch sử nước Mỹ, dân giàu thêm và nước sẽ mạnh hơn.

BBC: Cử tri không thích TT Trump cho rằng sự coi thường đại dịch coronavirus, và không tin vào chuyên gia y tế, đòi mở cửa kinh tế sớm của ông, khiến cho Mỹ có số ca nhiễm và tử vong cao nhất thế giới, ông nghĩ sao về điều này?

Lý Văn Quý: Trên thực tế thì ngay từ lúc đầu, tất cả mọi người có trách nhiệm tại Mỹ, bao gồm chính khách của cả hai đảng Dân Chủ và Cộng Hòa, cả giới chức y tế Hoa Kỳ, đều có thái độ coi thường đại dịch coronavirus. Lý do chính là vì Trung Cộng, với sự hỗ trợ của WHO, đã bưng bít thông tin cần thiết nhằm đối phó với Covid-19.

Tuy nhiên cách ông đối phó với nạn dịch đã chứng tỏ ông đã dồn hết tâm hết sức huy động các nguồn tài lực để giải quyết vấn đề.

Tôi nghĩ rằng chỉ có TT Trump mới làm nổi những chuyện như xây dựng các bệnh viện dã chiến trong vòng ba ngày, điều động hai chiếc tàu bệnh viện đến nơi đúng hẹn, buộc một số công ty phải chuyển giây chuyền sản xuất qua làm những chiếc máy thở và các trang thiết bị bảo hộ PPE một cách khẩn cấp v.v…

Với hệ thống hành chánh Mỹ chằng chịt các luật lệ và qui định, công việc thúc đẩy cho đến nơi đến chốn đòi hỏi một sự quyết tâm và nỗ lực phi thường để vượt qua. Có thêm một nhiệm kỳ nữa thì TT Trump ông sẽ hoàn thành sứ mệnh đưa nước Mỹ trở lại một vị trí hùng cường chưa bao giờ có trong lịch sử nước Mỹ dân giàu thêm và nước sẽ mạnh hơn.

Theo tôi thì số ca nhiễm và tử vong cao nhất thế giới về covid-19 của Mỹ không liên quan đến chuyện TT Trump “không tin” vào chuyên gia y tế và đòi mở cửa kinh tế sớm. Sự kiện đã xảy ra từ trước khi chính quyền Trump khuyến khích các tiểu bang mở cửa kinh tế. Cụ thể là bà Hillary Clinton đã tweet: “He did promise America First” vào ngày 27/3/2020.

Ngoài ra còn do nhiều yếu tố khác tác động vào sự kiện này như yếu tố sinh hoạt xã hội, người Mỹ không quen đeo khẩu trang và chính CDC ban đầu còn khuyến cáo dân không cần đeo, để dành cho giới y tế, yếu tố di chuyển (travel), yếu tố chủng tộc v.v… Tại sao không đổ lỗi cho các cuộc biểu tình của Antifa và Black Lives Matter?

BBC: Về đối ngoại, phe khuynh tả phê bình TT Trump việc rút ra khỏi các qua các hiệp định quốc tế, thoái vị khỏi vai trò lãnh đạo toàn cầu của Hoa Kỳ khiến nước Mỹ hiện đang bị cô lập và mất vai trò lãnh đạo. Xin nghe nhận định của ông?

NS Lý Văn Quý: Tôi thấy TT Trump rất đúng khi rút hay dọa rút ra khỏi các hiệp định quốc tế bất lợi cho Hoa Kỳ. Điển hình là NATO. Trách nhiệm của NATO sau chiến tranh lạnh đã hết ý nghĩa chống Cộng Sản và nếu các quốc gia trong khối muốn duy trì NATO thì phải bỏ tiền ra cho sòng phẳng, Hoa Kỳ không thể đài thọ một phần quá lớn như trong thời kỳ còn Chiến Tranh Lạnh. Tổ chức WHO cũng vậy. Mỹ đa tài trợ cho WHO nhiều nhất mà tổ chức này lại liên kết với Trung Cộng che dấu thông tin cần thiết về coronavirus.

Tôi tin rằng ngày nào Hoa Kỳ còn là một quốc gia hùng mạnh nhất thế giới thì sẽ không bao giờ bị cô lập cả. Đó cũng là mục tiêu của TT Trump khi phát động MAGA.

Tin tức cập nhật ngày 13/8/2020 là TT Trump đã thành công trong việc đứng ra thương lượng một thỏa hiệp hòa bình có tính cách lịch sử giữa UAE và Israel, mang lại một sự ổn định mới cho vùng lò lửa Trung Đông. Như vậy rõ ràng Hoa Kỳ không bị cô lập hay mất vai trò lãnh đạo chút nào.

BBC: Ông nhận định gì về sự phân rẽ quá lớn, và hiện tượng tấn công sỉ nhục nhau trong cộng đồng người Mỹ gốc Việt và người Việt vì quan điểm trái ngược về TT Trump?

NS Lý Văn Quý: Tôi rất buồn khi nhận ra hiện tượng này. Sau đó tôi cố tránh những cuộc tranh luận về chính trị trên các diễn dàn nếu không cần thiết hoặc đụng chạm đến quan điểm của người khác. Tôi nghĩ rằng bản chất ngông cuồng của TT Trump đã khiến một số người khó chịu, cộng thêm sự tô vẽ của truyền thông thiên tả thành một con người “vĩ cuồng” bệnh hoạn mà văn hoá Đông Phương chúng ta không thể chấp nhận được. Từ đó nảy sinh ra mối ác cảm của một thành phần “trí thức” trong cộng đồng người Việt và lôi kéo theo các ủng hộ viên của cả hai phe, làm hố chia rẽ ngày càng trầm trọng hơn. Nhưng tôi tin chắc sau ngày bầu cử dù ai thắng ai thua, mọi chuyện sẽ trở lại bình thường thôi.

BBC: Theo một giám đốc tình báo của Mỹ, Trung Quốc, Nga và Iran nằm trong số các quốc gia đang tìm cách tác động lên cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ năm nay. Theo ông thì Trung Quốc có muốn TT Trump tái đắc cử không, tại sao?

NS Lý Văn Quý: Theo tôi nghĩ thì dĩ nhiên ba quốc gia nêu trên đều muốn, ít hay nhiều, tác động lên cuộc bầu cử Tổng Thống Hoa Kỳ vì lợi ích riêng của họ. Tuy nhiên từ ước muốn cho đến hành động cụ thể còn là một bước quá xa. Tôi không tin họ tìm cách tác động một cách bất hợp pháp nhưng nếu họ vận động tranh cử cho ứng cử viên của họ trong khuôn khổ luật pháp cho phép thì tại sao không?

Tôi tin chắc Trung Cộng không muốn TT Trump tái đắc cử. Cuộc chiến tranh mậu dịch giữa hai nước đã gây thiệt hại cho Trung Cộng rất nhiều. Nếu PTT Joe Biden làm Tổng Thống Hoa Kỳ thì chắc họ sẽ dễ thở hơn.

BBC: Ông còn điều gì muốn nói thêm về cuộc bầu cử tổng thống năm nay?

NS Lý Văn Quý: Xin các cử tri gốc Việt hãy đi bầu thật đông để nói lên tiếng nói và sức mạnh của cộng đồng chúng ta vì lần này không những chỉ bầu cử TT mà còn bầu cho các chức vụ dân cử đia phương khác, cũng như bỏ phiếu cho một số các nghị quyết có tầm quan trọng trực tiếp đến cuộc sống của quý vị.

Bầu ai cũng được, các ủng hộ viên đảng Cộng Hòa hãy bỏ phiếu cho TT Trump và các ủng hộ viên đảng Dân Chủ hãy dồn phiếu cho PTT Biden. Chúng ta sẽ tôn trọng ý kiến của đa số. Đó chính là ý nghĩa đích thực của Tự Do Dân Chủ. Xin Thượng Đế phù hộ cho nước Mỹ. (BBC)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ

J&J sắp thử vaccine ngừa COVID trên 60 ngàn người

Một sản phẩm của công ty Johnson & Johnson được trưng bày tại New York, ngày 24/2/2016.

Một sản phẩm của công ty Johnson & Johnson được trưng bày tại New York, ngày 24/2/2016.

Công ty Johnson & Johnson nhắm thử vaccine ngừa virus corona lên 60.000 người tình nguyện trong giai đoạn cuối dự trù bắt đầu vào tháng 9, theo dữ liệu của chính phủ về các cuộc thử nghiệm lâm sàng.

Cuộc thử nghiệm của J&J sẽ được tiến hành tại gần 180 địa điểm trên toàn nước Mỹ và những nước khác, bao gồm Brazil và Mexico, theo tin đăng trên trang mạng của chính phủ clinicaltrials.gov hôm 10/8.

“Chúng tôi có thể xác nhận là công tác hoạch định và tuyển mộ đang được xúc tiến cho chương trình giai đoạn 3 của chúng tôi,” một phát ngôn viên của Johnson & Johnson cho biết.

“Chúng tôi dự định tiến hành chương trình Giai đọan 3 càng mạnh càng tốt, có thể bao gồm đến 60.000 người tham gia và sẽ được thực hiện tại những nơi có tỉ lệ lây nhiễm cao.”

Người phát ngôn này cho biết thêm J&J đang sử dụng dữ liệu kiểm soát dịch bệnh để quyết định nơi tiến hành và sẽ sớm đưa ra quyết định cuối cùng. Giai đoạn 3 thử nghiệm có phần chắc sẽ kết thúc vào cuối tháng 9, những vaccine đầu tiên có thể được sử dụng vào đầu năm 2021, nguồn tin này nói.

Các công ty đối thủ như Moderna và Pfizer đang nhắm tuyển mộ đến 30.000 người tình nguyện cho những cuộc nghiên cứu giai đoạn cuối.

Tuần trước, Reuters đưa tin dự án vaccine ngừa COVID của chính quyền Trump đang tuyển dụng các nhà khoa học tại Nam Phi và Châu Mỹ Latin để giúp thử nghiệm các vaccine khả dĩ trong các cuộc thử nghiệm lâm sàng do Mỹ hỗ trợ. (VOA)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ

Thơ đường

THUYỀN TRĂNG

Thưa quý Cóc K1.

Lại múa rìu qua mắt thợ đây.

Thấy trên net có hai bài thơ Đường, áp dụng bút pháp đối ” Giao Cổ Đối” Cóc tôi  thử làm bài họa dưới đây xin các huynh góp ý chỉ bảo thêm và cùng họa cho vui. Cám ơn

Bài xướng: NỐI MÙA SAY!
             (Giao cổ đối)*

THUYỀN cập bờ đưa khách mỗi ngày
AI người kết cỏ nối mùa say
ĐẬU cung lộ vắng, sương mờ mịt
BẾN rạt rào, neo giấc mộng gầy
SÔNG hững hờ trôi cùng góc bể
TRĂNG vàng võ dọi cuối chân mây
ĐÓ còn giữ vẹn câu nguyền ước
CÓ CHỞ TRĂNG VỀ KỊP TỐI NAY

Thích Thiện Thông

 

 

Bài họa: THUYỀN TRĂNG 2.
             (Giao cổ đối)*

THUYỀN nhỏ đón đưa khách mỗi ngày
AI chiều bờ bãi đến mê say
ĐẬU ghềnh̀ đêm vắng, trời sương phủ
BẾN sóng chao, xua ánh nguyệt gầy
SÔNG ngậm gương nga lồng lộng bóng
TRĂNG chìm đáy nước lặng lờ mây
ĐÓ đang mời mọc Hằng Nga tới
CỐ CHỞ TRĂNG VỀ KỊP TỐI NAY

Mỹ Ngọc

Aug.13/2020

(Hai bài trên copy từ intermet)

 

 Họa 2TRÒN CÂU ƯỚC.
(Sau khi được cóc Chát LHN góp ý) 

THUYỀN nhổ neo lui tới mỗi ngày.
AI đưa khách đến dạ mê say
ĐẬU bờ bến vắngchiều mây phủ
BẾN gió mưaxua mái tóc gầy
SÔNG chập chờn từng cơn sóng nhỏ
TRĂNG mơ màng ẩn hiện trời mây
ĐÓ chờ lữ thứ tròn câu ước
ĐỂ chở trăng về kịp tối nay.

Cóc Nhà NCV Aug 15/20

Họa 3: BIỆT XỨ ĐÀY

THUYỀN chở tù đi Bắc mỗi ngày
AI buồn chẳng muốn thỏa lòng say
ĐẬU bờ xa vắng, dân không biết
BẾN vẫn soi, trông họ ốm gầy
SÔNG lặng lẽ tiễn về góc biển
TRĂNG u hoài xé toạc tầng mây
ĐÓ còn chờ gã tù không án?
biết ai thầm khóc tối nay?

CQT

Họa 4MONG NGƯỜI TRỞ LẠI

(Thiếp đợi chỗ xưa nhiều bữa trước
Bến chờ quê cũ mấy hôm nay)

Thiếp ra cửa biển giữa ban ngày
Đợi khách chung tình nắng gắt say
Chỗ tạm trần gian, lâu xiết kể
Xưa muôn thuở, cõi thế thân gầy
Nhiều ân oán xóa, câu thề hẹn
Bữa tiễn đưa, nguyền gởi tóc mây
Trước mắt mong rằng sum họp sớm
Bến chờ chỗ cũ mấy hôm nay

Đoàn Ngọc Nam

Họa 5:   CHUỐC CHÉN SAY

Thuyền trôi lơ lững giữa ban ngày
Ai đứng trên khoang chuốc chén say
Đậu ngắm liễu mềm nghiêng bóng xế
Bến nương tre rũ dáng hao gầy
Sông lam mở rộng chờ sương tỏa
Trăng tỏ soi mình đợi bóng mây
Đó đã ra đi từ dạo ấy
còn hoài cố vốn xưa nay 

CH

Họa 6CHUYỆN TÌNH MƠ.

Thuyền tình chuyên chở khách hàng ngày
Ai đã trồng cây si đắm say
Đậu lại một chiều MÂY KÉO TỚI
BẾN DỜI THEO ánh nắng hao gầy
Sóng li ti gợn hơi làn gió
Trăng rụng rời rơi qua đám mây
Đó dõi nhìn trông mơ mộng tưởng
Có chở người về kịp tối nay.

TQN.

Họa 7: NGỦ ĐÒ

THUYỀN ả nằm chờ khách mỗi ngày
AI tìm lạc thú hưởng vui say
ĐẬU Vân Lâu đón, đêm thanh vắng
BẾN đợi chờ, chàng lãng tử gầy
SÔNG nước Hương Giang mờ khói tỏa 
TRĂNG soi phố Huế sáng trời mây
ĐÓ đây khách viếng mua hương phấn
CÓ CHỞ TRĂNG VỀ KỊP TỐI NAY. 

Tuyến Sydney, 

Họa 8:  NHỚ NGƯỜI XƯA

Thuyền cũ buông neo đợi mỗi ngày, 
Ai người khách lạ tưởng như say. 
Đậu bên bờ vắng, sương đêm xuống, 
Bến sáng lên, soi cạnh dáng gầy  
Sông nước quê xưa xa vạn dặm,
Trăng thanh chốn cũ biệt trời mây.
Đó còn tri kỷ thời niên thiếu,
biết tôi về thăm tối nay?!   

Chinh Luu 
08/18/20

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ

CÁI DUYÊN NAM BẮC_Lê Thiên Tường

BM: Cái duyên Nam BắcCÁI DUYÊN NAM BẮC (Lê Thiên Tường)

Khi ngồi viết những giòng chữ này thì vợ cháu đang ngủ say sưa trên giường. Nhìn đôi chân dài thườn thượt của bà thò ra khỏi chăn, tự nhiên cháu bật cười. Thì ra vợ cháu cũng thuộc loại…chân dài ra phết, cao xấp xỉ 1,70 mét chứ chẳng phải chơi. Năm ngoái gặp lại đám bạn cũ cùng binh chủng, trong lúc chụp ảnh chung bỗng có thằng la lớn : „Chúng mày ơi ! đứng bên cạnh bà này chắc ông phải kiễng chân lên mời xứng!“, làm vợ cháu ngượng chín người. Nghe nói bên Việt Nam bây giờ người ta tung hô tán tụng „những cô gái chân dài“ dữ lắm, làm phim, lên ảnh, quảng cáo rùm beng, làm các cô cứ tưởng mình là cái rốn của vũ trụ không bằng. Có điều lạ là hầu như các mợ toàn là gốc miền Bắc, nói năng giọng Bắc, nhìn đời với con mắt người Bắc và cư xử thì cứ „tự nhiên như người Hà Nội“.(Bật mí cho các cụ nhé: bây giờ thì đa số các mợ Hà Nội chính gốc đã thi nhau làm „con chim đa đa“ bay qua xứ khác lấy chồng xa hay đi kiếm cơm hết ráo, còn lại toàn là gốc Hà-Nam-Ninh hay Thanh- Nghệ-Tĩnh lên Hà Nội lập nghiệp). Hay là ông Trời sinh ra người càng ở vùng phương Bắc thì da càng trắng, mũi càng cao và chân càng dài, cứ nhìn mấy ông Tây bà Đầm là biết ngay. Thế nhưng ”bà già chân dài” vợ cháu lại là dân Nam kỳ tuốt luôn tận phương Nam, là thứ Nam kỳ chính hiệu con nai vàng, quê Cái Bè, nội Cái Răng, ngoại Cái Dồn. Hoá ra „mũi cao, chân dài“ đâu phải độc quyền của các mợ Bắc Kỳ 75, các mợ nhờ „tàn dư đế quốc“ nên chỉ mới xuất hiện sau này thôi, chứ ngay trong „thời kỳ chiến tranh“ cách đây mấy mươi năm thì “mũi cao, chân dài” như Nam kỳ vợ cháu đã nhởn nhơ đầy đường. Đúng là một cọng giá thời kỳ chiến tranh vẫn hơn một gánh rau muống thời kỳ hoà bình đổi mới !

Bố mẹ cháu sinh cháu ra tại miền Bắc, học hành và lớn lên cùng với gia đình trong miền Nam, để rồi trưởng thành tận ngoài miền Trung. Từ những tính chất của ba miền đã hợp lại tạo nên cháu thành một thứ “hẩu lốn” như canh chua nấu với…rau muống, giá sống ăn với…bún riêu, nhậu bia với ché mà lại chấm với …xì dầu. Thế nhưng cái bản chất Bắc kỳ vẫn là cái cốt lõi trong con người cháu từ lúc sơ sinh, vẫn Bắc kỳ rau muống mắm tôm, Bắc kỳ truyền thống, Bắc kỳ muôn thuở…Nhưng ông Trời oái oăm lại sai ông Tơ bà Nguyệt xe duyên cháu làm thằng tù khổ sai chung thân cho một bà vợ Nam kỳ quốc. Lạ thật ! Duyên hay nợ đây Trời !

Hồi còn bé, thú thật cháu chẳng ưa gì Nam kỳ. Còn ghét, còn hận nữa là khác. Chuyện cũng dễ hiểu thôi : lần đầu cắp sách đến trường tiểu học Bàn Cờ ở quận 3, Sài Gòn, chỉ có cháu với một thằng nhô nữa là Bắc kỳ. Thằng này có hàm răng đưa hơi xa ra phía trước, mà văn chương Bắc kỳ gọi là “vẩu”, còn Nam kỳ gọi đơn giản và rất tượng hình là cái “bàn nạo dừa“. Bố nó (không vẩu tí nào) rất thân với bố cháu (cũng chẳng có bàn nạo dừa) vì cả hai gia đình cùng đi chung chuyến tàu “há mồm“ vào Nam năm 54. Hai thằng Bắc kỳ con nhất định ngồi cạnh nhau tạo thế liên hoàn “dựa nhau mà sống“ trong cái lớp học 27 trự Nam kỳ con. Bọn chúng hè nhau trêu chọc, ăn hiếp hai đứa chúng cháu. Mỗi lần ra chơi hai thằng Bắc kỳ con luôn tìm chỗ ít người mà đứng để khỏi nghe bọn Nam kỳ đọc thơ chọc quê chửi bới. Thằng Vọng, đứa đầu xỏ và to con nhất đám (bây giờ đang ở Canada) leo lên cây vú sữa giữa sân, đọc thơ rang rảng:
“Bắc kỳ ăn cá rô cây, ăn nhằm lựu đạn…chết cha Bắc kỳ” Một thằng khác sẵn giọng phụ họa :
Có cái thằng nhỏ nó “đao“ làm sao
Lỗ đ. nó dính cái cọng “rau”, Người ta ai mà kỳ như “dzậy” ?
Thế là cả bọn đồng loạt chỉ ngay vào bọn cháu rồi rống lên : “Thôi rồi ! Bắc kỳ, Bắc kỳ !”
Cháu tủi thân lắm ! Ôi thôi ! buồn da diết, buồn vô biên, buồn phát nghiền !

Về nhà hỏi mẹ tại sao gia đình mình lại vào đây làm quái gì để chúng nó trêu con suốt ngày. Mẹ cháu rướm nước mắt, xoa đầu cháu giải thích đơn giản :
– Tại vì người ta đánh nhau quá nên gia đình mình phải “ri cư “ vào đây con ạ ! Thôi chịu khó đi con, mẹ biết làm sao bây giờ !
Nào đâu đã hết, chúng nó còn hè nhau tụ tập trước cửa nhà cháu. Mẹ cháu cầm chổi lông gà ra đuổi. Chẳng đứa nào sợ, trái lại còn tru tréo to hơn. Chợt thấy hàm răng của mẹ cháu nhuộm đen ngòm và bóng loáng, thế là chúng nó cứ thế mà gào :
“Bắc kỳ ăn cá rô cây, ăn nhằm cục c. , hàm răng đen thùi ”

Trong gia đình, chỉ có bố cháu là chẳng thằng Nam kỳ con nào dám giỡn mặt. Có lẽ nhờ khuôn mặt có oai hay nhờ đôi mắt nghiêm khắc của ông, mà chúng sợ một vành không dám trêu chọc một lời ?
Ngày tháng qua mau, cứ thế mà đám Bắc kỳ ”ri cư”, trong đó có gia đình cháu, vẫn sống phây phây trên mảnh đất Nam bộ lạ hoắc nhưng trù phú này. Những cảnh chọc quê dần dần biến mất, bạn bè nhiều hơn, trong đó dĩ nhiên không ít đứa Nam kỳ. Đứa Sài Gòn chính tông, đứa Sa Đéc, đứa Vĩnh Long, đứa Mỹ Tho, Cần Giuộc…Nhưng đứa nào cũng chửi cháu là ”thằng Bắc kỳ lắm mồm”. Không ”lắm mồm” chứ để chúng mày ăn hiếp ông hả ? Nghĩ cho cùng, không ”lắm mồm” thì đâu còn là Bắc kỳ nữa ! Thứ ”lắm mồm” được việc, ”lắm mồm” nghe vẫn bùi tai, ”lắm mồm” dễ mến, thiếu thì nhớ, vắng thì mong, ”tay chơi” nhưng vẫn ”chân tu”, gái Nam kỳ cứ thế mà…”lắc lư con tàu đi”. Càng lớn lên cháu càng khoái Miền Nam, khoái Sài Gòn, nơi dễ có nhiều bạn, mà bạn lại không tồi. Nơi đó có dừa xiêm dzú sữa, có chè đậu xanh bột báng nước dừa, có bánh bèo trét mỡ trắng phau phau, có nước mắm đường ngọt lịm, có cá bống trứng kho tiêu, có trái cóc ngâm đường cắm que cà rem chấm muối ớt, có quán cơm bà Cả Đọi, có cả những con đường hẻm ngoằng nghoèo dẫn đến nhà …chị Tình. Miền Nam và Sài Gòn thật trong veo khoáng đạt, không tự tôn như cái Bắc kỳ đã có sẵn từ bẩm sinh trong bụng cháu, không rườm rà ”màu mè ba lá hẹ”, chân thành thật thà, thẳng ruột ngựa, không làm vẫn có ăn, chơi xả láng sáng về sớm, để rồi vẫn cứ yêu người, yêu đời. Có lẽ cũng cùng một cảm nhận như thế nên đám Bắc kỳ ”ri cư” chúng cháu mới vào Nam chỉ có cái quần xà loỏng trên ”tàu há mồm” đã lợi dụng thời cơ hè nhau tung ra dành dân chiếm đất khắp cõi Nam bộ, mà lại ăn nên làm ra trên mọi lãnh vực, trong đủ tầng lớp xã hội, nhất là vùng Sài Gòn Gia Định và các vùng phụ cận, chỗ nào làm ăn ngon lành thuận lợi là mấy mợ Bắc kỳ rau muống sang tay hàng loạt, ngoại trừ phía bên trong chợ Bến Thành và vùng Chợ Lớn, vì chẳng thèm ”kèn cựa” với các chú Ba. Đã bảo rồi mà…: ” Bà đã nàm thì nàm thật chứ không thèm nàm nấy ne, nàm nấy nệ !” Từ sau năm 75 thì Bắc kỳ lại càng ăn trên ngồi trốc, các cụ không tin cứ mở cái máy ”dzô tuyến chuyền hình” hay cái ”ra dzô” ra thì thấy liền, các ”xướng ngôn dziêng” hầu như ”chăm phần chăm” đều là Bắc kỳ, không cậu thì mợ. Còn các mợ tiếp dziêng ”E Việt Nam”, mợ nào mợ nấy đều khoe ”em người Hà Lội” hết ráo ! Chẳng biết tại ”dziêng dzáng” hay ”phe đảng” ?

Bố cháu trái lại, cái chất Bắc kỳ đã ăn vào máu, thấm vào cốt lõi xương tủy của ông từ bao đời, nhất quyết bắt anh em cháu phải thi vào trường Chu Văn An (CVA), con em gái phải thi bằng được vào trường Trưng Vương, toàn là những trường nổi tiếng từ miền Bắc, kéo theo các thày cô ”ri cư” vào Nam. Phần vì bố cháu là cựu học sinh trường Bưởi, phần vì ông cũng có chút thiên kiến và ít tin tưởng vào các trường miền Nam như Petrus Ký hay Gia Long.
”Mình dân Bắc thì phải học trường của người Bắc, chúng mày đừng có bàn với bạc lôi thôi !”, bố cháu phán cứ như đinh đóng cột. Mà lạ thật ! Vào học Chu Văn An mới thấy toàn đám học sinh Bắc kỳ, le que vài trự Nam kỳ lạc lõng vô duyên, đếm chưa đủ mười đầu ngón tay đã hết đứa Trung kỳ. Cho đến các thày đa số cũng lại Bắc kỳ nốt, từ thày hiệu trưởng Dương Minh Kính đến thày thi sĩ Vũ Hoàng Chương. Còn bên Petrus Ký thì ngược lại, hầu hết Nam kỳ. Hóa ra vung nào thì vẫn cứ đi tìm nồi nấy, hay hoặc giả có chính sách của chính quyền thời đó hay không ? Chẳng thành vấn đề, chỉ biết bọn Nam kỳ Petrus Ký châm biếm đổi tên Chu Văn An thành …Chết Vì Ăn ! Cháu tức máu trả đũa, rằng chúng mày ghen ông vì chúng mày chiêm ngưỡng các em Bắc kỳ Trưng Vương mà thèm nhỏ dãi, nhưng sờ vào thì chúng mày sẽ thành con dế mèn để các em Bắc kỳ thọc cọng nhang sau gáy thổi quay vòng vòng ! Tức quá, mấy trự Petrus Ký chỉ biết ”ngậm ngùi” đồng ca bản ”Khúc nhạc đồng quê” rằng thì là :
”Quê hương tui Bắc kỳ nhào dzô quá trời
Bên bờ sông bên bờ ao..trồng rau muống !”

Hay cũng là : ”Quê hương tui cái mùng mà kêu cái màn !….”

Thôi thì cũng đúng thôi ! Mấy trự Nam kỳ hay Trung kỳ chỉ cần nghe một mợ Bắc kỳ uốn éo ra chiêu vài đường lưỡi thì đã nhũn như chi chi, mắt trợn ngược, mồm há hốc, quên luôn cả tên họ mình. Chỉ có trai Bắc kỳ mới trị nổi các mợ Bắc kỳ thôi ! Này nhé, các cụ cứ chịu khó nhìn chung quanh đi, cứ một trăm trự Nam kỳ chưa chắc có được một trự vớ được một mợ Bắc kỳ. Tìm mỏi con mắt mới có một trự ”diễm phúc” bế được một mợ mang về nhà thì bảo đảm suốt cuộc đời còn lại chỉ biết bốn chữ ”gọi dạ bảo vâng”, răm rắp tuân lệnh bà, chẳng bao giờ còn nhìn thấy mặt trời, mặc dù suốt ngày ngửa mặt than Trời ! Đấy mới chỉ là các mợ Bắc kỳ 54 thôi nhé ! Gặp cỡ các mợ 75 hay các mợ quê quán Hà Đông hay Bắc Ninh ”…cầm roi dạy chồng” thì ôi thôi ! cái te tua nó kéo luôn theo cả tông ti họ hàng, suốt đời hưởng ”cái thú đau thương”, nghe chửi cứ tưởng nghe…hát. Hỡi các chú Nam kỳ hậu sanh: chớ chơi dại! Đừng nghe ông Phạm Duy hát bài ”Cô Bắc kỳ nho nhỏ” mà ham, lừa đấy ! Gặp Nam kỳ thì cái ”nho nhỏ” kia sẽ phình to hơn cái vại, mà cái vại có nanh ! Ngược lại, một cậu Bắc kỳ rau muống quơ được một cọng giá Nam kỳ ”đem về dinh” –vụ này nhiều lắm- thì cứ như ”rồng thêm cánh”, như ”diều gặp bão”, như lái ô tô không cần Navigation… cả đời có người ”nâng khăn sửa túi” không công. Hóa ra hôn nhân cũng có quy luật đấy chứ :

Chồng Bắc kỳ + vợ Bắc kỳ = Vợ chồng đề huề, nếu biết cách
Chồng Bắc kỳ + vợ Nam kỳ = Chồng phây phả, phè cánh nhạn.
Chồng Nam kỳ + vợ Bắc kỳ = Chồng te tua, lưng còng.

Nhưng đã là ”luật” thì bao giờ cũng có ”luật trừ”, nghĩa là cháu không dám vơ đũa cả nắm đâu, với lại cháu chỉ lợi dụng cái ”tự do ngôn luận” trên xứ người, xin bàn bậy vài chữ ngu ngơ để các cụ trong lúc ”trà dư tửu hậu” đem ra trước là mua vui, sau là cho bớt chút căng thẳng trong cái cuộc đời … đen như mõm chó này. Xin lỗi các cụ, nẫy giờ nói loanh quanh mãi, bây giờ cháu xin trở lại chuyện của cháu.

Bố cháu nghiêm khắc lắm và dĩ nhiên giáo dục con cái theo truyền thống Bắc kỳ. Đã có gốc có ngạnh, có cả sự nghiệp bề thế trong Nam nhưng vẫn…thờ cơm Bắc kỳ, vẫn lễ phép Bắc kỳ, vẫn giữ giọng nói Bắc kỳ và thậm chí còn ra lệnh, dâu rể cũng phải…Bắc kỳ ! Mỗi lần cháu dẫn bạn gái về nhà, bố cháu liếc mắt một cái là biết ngay cô nàng Bắc hay Nam. Có một ông bố tinh đời như thế đôi khi lại…phiền. Với một mợ Bắc kỳ, bố cháu thân mật tươi cười ”Cháu vào nhà chơi ! bố mẹ cháu khỏe mạnh không ?”, cứ làm như quen biết từ lâu vậy. Gặp cô ả Nam kỳ thì lạnh nhạt khinh khỉnh ”Không dám, chào cô !” Cô bạn gái Nam kỳ mặt nghệt ra thưởng thức văn chương Bắc kỳ, còn cháu nghe qua mà thốn từ dạ dầy đến ruột non. Nghe Bắc kỳ chê, nghe Bắc kỳ chửi, mà cứ tưởng mình đang nghe thơ phú hay nghe nhạc êm dịu mới chết chứ ! Nếu quen cô nào Trời sinh có mấy cái vòng hơi…sexy một tí, Bắc cũng như Nam, cháu phải dấu biệt vì sợ lựu đạn nổ tung trong nhà. Điệu này coi bộ hơi khó sống. Thôi thì Bắc Trung Nam cũng một nhà, hạnh phúc lứa đôi đâu phải do thằng hàng xóm, mà là do chính mình. Thế rồi cháu đã từng hạ quyết tâm với bố: lấy vợ Bắc kỳ, cho phải đạo làm con. Em nào Bắc kỳ, rước về nhà cho bố xem mặt mà bắt hình dong (cứ như đi mua gà chọi). Em nào Nam kỳ, điểm hẹn sẽ là mấy ống cống dưới gầm cầu xa lộ Đại Hàn.

Thiên bất dung nhan! cháu lại phải lòng một ả Nam kỳ, Nam kỳ không lai giống, cái thứ Nam kỳ Gia Long kên kên xí xọn. Hồi đó cháu đi lính Không Quân của miền Nam, thấy đám phi công trời đánh đa số cũng đều là Bắc kỳ, chẳng hiểu tại sao? Dân Nam kỳ cũng có, Trung kỳ lại càng ít hơn, nhưng đứa nào cũng có …”cái mồm Bắc kỳ”. Cháu còn nhớ khi thi gia nhập Không Quân, phải đủ ký lô, đủ kích thước, lục phủ ngũ tạng bị khám tuốt luốt, phải trần trùng trục như con nhộng rồi nhẩy lên nhẩy xuống cho mấy ông bác sĩ …”vạch lá tìm sâu”, chứ đâu có thi tuyển đứa nào ”lắm mồm”! Thế mà thằng nào thằng nấy đều có cái ”chứng chỉ lắm mồm” cao hạng dấu kỹ trong túi áo bay. Một hôm đang trực phòng hành quân thì ông xếp (ông này Nam kỳ quốc) hỏi có thằng nào rảnh ra phi đạo chở con cháu gái vợ của xếp theo tàu từ Sài Gòn ra Nha Trang đem về nhà bà vợ đang có bầu sắp đẻ. Tưởng đi biệt phái hành quân chứ cái màn này cháu khoái lắm : ”Chuyện nhỏ mà xếp, có tui ngay !” Ông xếp của cháu cũng chẳng vừa, nhìn thấu tim gan thằng đàn em : ”Lẹ lẹ lên coi, tàu sắp đáp rồi đó, sách tao mày học hết còn dư có cái bìa, nhưng mà từ từ thôi nghe cha nội, lạng quạng con mẻ chửi tao thấy bà !” Lúc đó cháu đâu có ngờ rằng, cái chuyện nhỏ như mắt muỗi này lại thành chuyện lớn, lớn khủng khiếp, ảnh hưởng đến hết cả cuộc đời cháu !

Cô cháu gái ông xếp không có cái dạng ”ngực tấn công, mông phòng thủ” như trong ”xi la ma”, thế mà ngay từ phút ban đầu cháu đã bị dáng ngay tim một cái búa tạ chình ình chứ chẳng phải tiếng sét tầm thường.
”Cô đi máy bay có mệt lắm không ?”
”Dạ !”.
”Ra thăm cô dượng hả ?”
”Dạ !”.
”Cô lên xe đi, tôi đèo cô về”
”Dạ !”…

Chèng đéch ơi ! sao mà cụt ngủn cộc lốc thế bà nội ? Cái gì cũng ”dạ” hết ráo thì cháu biết đâu mà rờ ! Đúng gái Nam kỳ ! Chợt nghĩ, không biết bà dzợ xếp tới giờ này có còn ”ngây thơ”, ”dạ dạ” với xếp như dzậy nữa hay không ? Xếp cháu đang ở San José, nếu xếp có đọc những giòng chữ này thì xếp cũng bỏ qua dùm vì thằng em đã thuộc lòng trọn bộ sách của xếp từ khuya rùi !

Từ đó cháu với nàng rủ rỉ rù rì cùng nhau đánh vần mấy chữ ”hình như là tình yêu”. Cuộc tình của cháu với nàng êm ả như quả lắc đồng hồ treo trên tường phòng khách nhà cháu, nhưng mỗi khi nghĩ đến bố cháu thì quả lắc đồng hồ bỗng ngất ngư như bị đứt dây thiều. Thương quá, cháu đánh liều, ”mấy sông anh cũng lội, mấy đèo anh cũng qua”, chuyến này nhất quyết không chui ông cống gầm cầu xa lộ, mà dắt nàng về nhà trình diện bố. Bố vẫn khinh khỉnh:
”Không dám ! chào cô”. Nàng vui tính: ”Ba anh coi ngầu quá hén!”, cháu tỉnh bơ: ”Không ngầu sao làm bố anh được !”

Thật ra thì bố cháu đâu có ghét Nam kỳ, ông chỉ phàn nàn rằng dân Nam kỳ được trời đãi, cho sống trên mảnh đất mầu mỡ phong phú, không làm vẫn có ăn, mà lại ăn ngon nữa, nên có tính lè phè, hoang phí, không chăm chỉ hạt bột, không cần cù tiết kiệm như Bắc kỳ. Ông chỉ vì thương con, lo cháu lấy nhằm cô vợ Nam kỳ cả ngày chỉ biết…phè cánh nhạn, ăn no lại nằm, thì con cưng của ông sẽ thành thân trâu ngựa suốt đời. Còn mẹ cháu, vốn dĩ nhà quê răng đen mã tấu bảo rằng, nghe Nam kỳ nói chuyện cứ tưởng nghe tiếng nước ngoài, chỉ hiểu một nửa ! Cháu cãi lại, Bắc kỳ cũng có khối đứa lười, lười như..cháu đây là hết mức rồi ! Một hôm cháu đưa nàng về nhà, gặp lúc bố mẹ cháu sửa soạn mở tiệc đãi ông bác từ Hố Nai lên thăm. Ông bác vui tính bảo tiện bữa ngồi ăn luôn, cháu đang chần chừ thì nàng vén áo hạ ngay cái bàn tọa tròn lẳng xuống ghế, cháu kéo lên không kịp. Cháu thủ thỉ giải thích cho nàng rằng, đi đâu gặp khách Bắc kỳ mời ăn thì chớ có ăn liền, cứ để người ta mời dăm lần bẩy lượt, ăn liền người ta chửi mình…chết đói ! Nam kỳ thì thẳng ruột ngựa, mời là cháp lẹ, không cháp dọn xuống bếp, đói ráng chịu, không mời lần thứ hai, ai biểu mời không ăn ! Bỗng mấy đứa em cháu thay phiên nhau : ”Mời bác xơi cơm, mời bố xơi cơm, mời mẹ xơi cơm, mời anh xơi cơm, mời chị xơi cơm”, mời… mời.. mời tùm lum!. Thằng em út cháu mời dài nhất, mời lâu nhất, mời từ trên xuống dưới , trong nhà chỉ có con Tô Tô đang nằm chực dưới gầm bàn là nó không mời. Nó lại chẳng được ai mời để xơi, út mà ! nhưng rồi vẫn xực ào ào ! Cô bạn Nam kỳ của cháu trố mắt nhìn cháu chẳng hiểu chuyện gì xảy ra. Cháu vội ghé tai thì thầm :
– Em mời gia đình ăn cơm đi !
– Ủa ! gia đình anh mời em ”ăng” mà ? Bộ ”ăng” cũng phải mời…mời…xơi …xơi sao ? Nàng ấp a ấp úng cũng ráng mời :
– Dạ mời bác, mời bác, dạ mời… à… à… mời anh, mời em…

Chợt bố cháu lên tiếng :
– Thôi đủ rồi, cháu mời người trên thôi, còn mấy em cháu không phải mời…Mà hay thật ! con bé này vui vẻ, ngoan ngoãn lắm ! sao con cứ ăn hiếp nó mãi !
Nghe bố cháu nói mà bụng cháu cứ như mở cờ, ông còn cao hứng bảo khi nào nàng nấu cơm Nam kỳ cho gia đình cùng ăn. Cô nàng hí ha hí hửng nói liền :
– Dạ ! (lại dạ!), để bữa nào cháu nấu bún(g) mắm dzới thịt heo ba rọi cho bác ăn(g), bún(g) mắm thịt ba rọi Trà Dinh ngoong nhức miền Nam nghe bác !
– Sao ? cô muốn búng hả ? Lỗ tai tôi đây này, muốn búng bao nhiêu thì cứ búng đi ! Thế là cả nhà cháu được một trận cười nắc nẻ. Nào đã hết đâu, mẹ cháu chợt bảo:
– Cháu xuống bếp lấy cho bác mấy cái ”cùi dìa” với cái ”muôi” để trong ngăn kéo đấy !
Nàng ngớ ra cứ như được nghe tiếng…Tây, nhìn cháu cầu cứu. Cháu cười hì hì khoái tỉ, ra cái điều thông thái giải thích ngay :
– Cái ”cùi dìa” Nam kỳ kêu là cái ”muỗng”, tại Bắc kỳ sống lâu với bọn Tây, chúng nó gọi là ”la cuiller” thì Bắc kỳ gọi luôn là cái ”cùi dìa” cho tiện. Còn cái ”muôi” Nam kỳ kêu là cái ”vá”, chữ ”vê” thì đọc là ”dê” cho nên gọi là cái ”dzá”, phải không ? Nàng đỏ mặt, bĩu môi : ”Cái đồ dzô dziêng, tui đi dzìa à nghen !”

Sau bữa cơm hôm ấy, hình như bố cháu bắt đầu ”chuyển hệ”, có vẻ gần gũi thân mật với nàng hơn vì thấy nàng thật thà, có sao nói dzậy, không bãi bôi, không vòng vo tam quốc, nhất là…không lười như ông nghĩ. Thừa thắng xông lên, cháu thủ thỉ với mẹ cháu là cháu muốn lấy nàng làm vợ. Mẹ bàn với bố, bố vẫn ngần ngừ. Tại bố cháu không biết đấy chứ, cháu đọc lóm từ một quển sách nào đó người ta viết rằng, trong lịch sử nước ta hầu hết các vua chúa miền Trung đều có nhiều bà vợ bé, mà hầu như bà nào là Chánh Cung Hoàng Hậu cũng đều là Nam kỳ: vua Minh Mạng có rất nhiều vợ, đa số là các bà Nam kỳ, Chánh Cung là bà Hồ Thị Hoa, người Biên Hòa; Chánh Cung của vua Thiệu Trị là bà Từ Dũ, người Gia Định; Vợ chánh của vua Bảo Đại là bà Nguyễn Hữu Thị Lan (tức Nam Phương Hoàng Hậu), là người Gò Công. Mấy ông vua cũng tinh đời đáo để ! Nhưng cháu ”không phải là vua, nên mộng ước thật bình thường”, chỉ xin ”…quỳ lậy Chúa trên Trời, sao cho lấy được …con nhỏ Cái Bè con thương !” Thật là oái oăm: cá đã cắn câu mà bố cháu vẫn chưa cho giựt cần! Tuy thế, thỉnh thoảng bố cháu cũng dò hỏi về gia đình nàng. Thì cháu đã nói rồi mà, ”quê Cái Bè, nội Cái Răng, ngoại Cái Dồn”, ruộng đất mênh mông, sông nước dập dình, ăn nói ”ngắn gọn và dễ hiểu” chứ không ”dài dòng nhưng khó hiểu”… kiểu Bắc kỳ ! Chấm hết!

Ngày vui nhất đời cháu là ngày bố cháu ra lệnh sửa soạn ”lên đồ dzía” đến thăm gia đình nàng. Sao bố cháu không nói thẳng thừng ra là đi ”hỏi vợ”, đi ”chạm ngõ” cho xong. Nhưng mà cần gì phải ”chạm ngõ” với lại ”chạm cổng” cho rườm rà rắc rối, nhà của nàng cháu biết từng phòng, quen từng góc, rõ từng cột. Mỗi lần cháu từ đơn vị ”dù” về đều có chút quà biếu ba má nàng, cho mấy đứa em nàng và cho cả cô Ba giúp việc trong nhà (học theo sách dụ khị của xếp cháu đấy !). Lần nào gặp ba nàng là lần đó có…nhậu. Đồ nhắm lúc nào cũng có sẵn, lúc củ kiệu tôm khô, khi ra sau hè ngắt mấy trái xoài tượng chấm mắm nêm ngào ớt, kẹt quá cột sợi ny-lông dzô ngón chân cái, đầu kia cặm mấy con trùng liệng xuống sông, cũng câu được mấy con cá lên nướng làm mồi. Nam kỳ trù phú mà ! Ổng không nhậu bia nhậu rượu, mà nhậu đế; không nhậu bằng cốc hay ly mà nhậu bằng tô, tô nào tô nấy bằng cái bát ăn cơm nhà cháu. Thế mà ổng lúc nào gặp cháu thì cứ nói rằng: ”Dô dzới tao dăm ba sợi nghe mày !” Chưa tới nửa sợi cháu đã guắch cần cẩu ! ”Lính tráng như mày chi mà yếu xìu sao oánh giặc nổi ? Dzô cái coi !” Ổng thương, ổng coi như con như cháu, ổng mới kêu cháu bằng ”mày”. Tiếng ”mày” của Nam kỳ biểu lộ cái chân tình, sự gần gũi thân thương, không như Bắc kỳ khi đã xổ ra tiếng ”mày” rồi thì … ô hô ! ô hô ! thiện tai ! thiện tai ! chạy cho lẹ !
Một hôm đang nướng con mực khô nhậu lai rai với ổng, bỗng có khách gõ cửa bước vào, mặt ổng sáng lên như sao băng, vừa cười vừa nói :

– Chèng đéc ơi anh Sáu Lèo ! hôm qua tui chờ qua qua mút chỉ cà tha, hôm qua qua nói qua qua mà qua hổng qua, hôm nay qua nói qua hổng qua mà qua lại qua, nay qua rồi có thằng rể tương lai tới thăm, nhào dzô chơi vài xị, hôm nay có ớt nè qua !

Nói chi mà cứ qua đi qua lại, qua tới qua lui, nói cũng như thơ phú đấy chứ, thế mà mẹ cháu cứ nói tiếng Nam kỳ nghe sao như tiếng…nước ngoài !

Bắc kỳ vẫn có câu ”dâu là con, rể là khách”, nhưng Nam kỳ thì ”dâu là con, rể cũng là…con luôn”. Bố dzợ chịu chơi lại gặp thằng rể cũng chịu chơi luôn, dzô ba xị rồi thì coi như…bạn, chơi xả láng sáng dzề sớm, còn má dzợ bỗng nhiên thành… chơi chịu ! Nàng kể cho cháu nghe, nhiều lần ổng đi nhậu quá giờ giới nghiêm chưa chịu về, cả nhà trông đứng trông ngồi. Chợt nghe tiếng xe Vespa quen thuộc chạy ngang nhà, cứ thế nghe cái ”dzù” rồi lại chạy mất tiêu, lại nghe cái ”dzù” rồi đi tuốt luốt ! Sinh nghi, nàng chạy ra cổng đón đường chặn xe : ”Ba ui ! Ba ui ! Tới nhà rồi nè !”. Ổng chợt tỉnh, quẹo dzô thắng cái ”két”, xe đổ cái rầm, ổng té cái đụi, miệng lèng nhèng ” Ủa, nhà mình đây rồi sao? Dzậy mà tao chạy dzòng dzòng kiếm hoài hổng ra !”

Ngày cưới, cháu chọn nhà hàng Đại La Thiên của chú Ba tuốt bên Chợ Lớn cho có vẻ trung dung, không Nam cũng không Bắc mà là cơm Tàu. Không xài Karaoke nhưng chơi nhạc sống. Có ông chú dzợ tên là Ba Phoóng làm nhạc trưởng cho mấy bà xồn xồn Nam kỳ lên sân khấu ca cải lương hà rầm. Hình như 7 thứ nghệ thuật của nhân loại đối với Nam kỳ đều tóm gọn trong mấy câu dzọng cổ thiệt mùi. Đám cưới cháu người ta chụp nhiều hình lắm. Ông bố vợ coi hình gục gặc cái đầu : ”Chèng đéch ơi ! thằng rể tao chụp hình coi phông độ dzữ hén ! Ráng nghe mày !” Cháu chẳng hiểu ổng nói cháu phải ráng cái gì ? Nhưng có một cái cháu phải ráng là cái chắc, ai biểu ham dzợ Nam kỳ…mũi cao chân dài ! Còn bố cháu xem ảnh thì lại phán một câu xanh rờn : ”Con dâu bố chụp với bố ảnh này đẹp quá, giá mà đứng cạnh bố con khoanh tay lại thì còn đẹp hơn biết bao !”. Ông xếp cháu, khơi khơi tự nhiên thành ông dượng, sẵn có dăm ba ly nhưng mắt vẫn láo liên ngó bà cô, rồi len lén kể lể làm oai : ”Thấy chưa mày! Hồi đó tao xách máy bay xuống Vĩnh Long rồi lạng qua Cái Bè, mới lạng chơi dzài ba dzòng là dzớt luôn bà cô mày, ngon chưa !” Cám ơn ”ông xếp dượng” đã có công ”nối giáo cho giặc” rồi rước luôn giặc vào nhà. Còn mấy thằng bạn Không Quân quỷ sứ thì xúm nhau ca bản ”Mùa thu chết ”… đã chết rồi, cho mày…chết luôn!

Ngày qua ngày, cháu không chết mà vẫn sống nhăn răng với bà vợ ”quý phái bình dân”, bây giờ đã có 4 con với 3 đứa cháu ngoại để nựng Nam kỳ cũng chăm chỉ đấy chứ ! Thế là xong một đời phiêu bạt giang hồ, bay bướm, quậy phá ! Được cái vợ cháu cưng cháu lắm (Nam kỳ mà!), bao nhiêu công việc trong nhà từ lau nhà, rửa chén, hút bụi, trồng cây, giặt đồ…vợ cháu dành làm hết ráo. Bả nói ”tay chân ông như thằng cùi, làm đâu hư đó, để tui làm luôn cho lẹ !”. Cháu đi làm mang tiền về, bả cũng không thèm động tới, bảo rằng ”tui hỏng cần anh nuôi tui !” Thế nhưng vợ cháu ghen khỏi nói, trong vườn trồng nhiều ớt hơn trồng hoa, ghen có đẳng có cấp, ghen có kế hoạch, có phương án đàng hoàng. Ghen thì ghen, lâu lâu cháu cũng theo bạn bè…nhảy dù vài sô, về nhà im thin thít, thế mà bả cũng ”nghe” được mùi, lườm lườm, nguýt nguýt, rồi cũng huề tiền. Sau này cháu mới khám phá ra vợ cháu rất sòng phẳng, đâu ra đó, nếu ”ăn bánh trả tiền” là…cho qua cầu gió bay, không thèm chấp. Một hôm vô tình đọc báo thấy tin cô Quờn, người Sóc Trăng, ghen chồng lăng nhăng, lẳng lặng lựa lúc chồng đang say túy lúy, xách con dao bếp cắt luôn…của quý của chồng đem quăng sau vườn. Cô Quờn ra tòa ngồi chơi 4 năm tù. Trời đất Thiên địa ơi! Nam kỳ mà ghen kiểu này chắc cháu chết sớm, cháu dấu luôn tờ báo, ai dè vợ cháu chu môi oỏng ẻng : ”Cái đó còn đỡ à nghen ! gặp tui là tui cho luôn dzô cái máy xay thịt rồi quăng cho bầy gà ăn, chớ giờ người ta dzăng minh lắm, khâu nối lại mấy hồi !” Má ơi là má ! Cháu nghe mà ớn lạnh xương sống! Chơi kiểu này thì hơn xa các mợ Bắc kỳ rồi ! Nhưng cháu lại được phép kéo bạn bè về nhậu…xả láng, nhậu ”vô tư”.
Xỉn quá thì : ”Anh mệt rồi nghen, uống ly nước đá chanh nè, rồi dzô đây em cạo gió hết liền !”.
Bạn bè ói mửa tùm lum thì : ”Hổng sao đâu, anh ngồi tiếp mấy ảnh đi, em dọn cho !”
Mấy thằng bạn có vợ Bắc kỳ ngó phát thèm !

Chắc khí thiêng sông núi Bắc kỳ linh thiêng hùng vĩ , hay nói theo khoa học hiện đại là cái ”dzen” Bắc kỳ quá mạnh, nên vợ cháu nửa dưới vẫn còn là Nam kỳ, nhưng nửa trên đã hóa thành Bắc kỳ: không nói ”bự bành ky” mà nói ”to vật vã”; không gọi ”trái bom” mà gọi ”quả táo”; thích ăn canh rau muống hơn nấu canh chua; nhưng đặc biệt nhất là ăn nói không còn ”ngắn gọn và dễ hiểu” như xưa, mà bây giờ thì.. ôi thôi ! ”dài dòng, ào ào như thác đổ”, nghe riết muốn khùng ! Bố cháu ăn ”bún(g) mắm thịt ba rọi” của vợ cháu nấu, đến phát nghiền, nghiền luôn cả chén nước mắn pha đường. Nhà cháu có bốn anh em trai thì bố cháu có tới ba ả dâu Nam kỳ, nhưng cả đám hợp lại vẫn thua xa một mợ dâu Bắc kỳ, ăn nói ngọt như đường phèn, dịu dàng khoai thai như thiên nga, thêm cái tài…chửi như hát di truyền. Thế là cái mộng ”dâu rể phải là Bắc kỳ” của bố cháu bị nước sông Cửu Long vùng Nam bộ cuốn trôi tiêu tùng. Bố cháu bây giờ cũng rành ”sáu câu” về Nam kỳ lắm, ông bảo người ta nói rằng:
– ”Tính tình gái Nam kỳ giống như mưa Sài Gòn: đỏng đảnh nhưng mau quên; tính tình gái Bắc kỳ giống như mưa Hà Nội: âm ỉ và dai dẳng”.
Lợi dụng lúc ông đang vui vẻ, cháu bèn phụ họa :
– Bố biết không, người ta cũng bảo : ”Ở Sài Gòn nhiều em sinh viên giống như ca ve;
Ở Hà Nội nhiều em ca ve giống như sinh viên”, đúng không bố ?
Bố cháu quắc mắt : ”Sao dám ăn nói lăng nhăng thế hả ?”. Cháu chuồn nhanh kẻo ông nổi giận. Thôi thì đến nước này rồi, cúi xin các cụ cũng rộng lòng bỏ qua cho cháu nếu có gì gọi là thiên vị, bởi vì con gái Nam kỳ bây giờ đã là ”cây nhà lá vườn” của cháu, nên cháu đành phải ”ta về ta tắm ao ta”, ôm lấy cái ao Nam kỳ, ôm cứng cái cây sầu riêng Nam bộ cho phải đạo ”tình Bắc duyên Nam”, nếu không cháu phải ôm thùng mì gói suốt đời. Mong sao các cụ đọc xong rồi bỏ qua, cứ coi như một chuyện tầm phào, bởi vì cháu đã liều mình như mấy mợ Hà Nội làm con chim đa đa, không lấy vợ gần mà lấy vợ xa, xa tuốt luốt tận cái xứ Nam kỳ với giòng sông 9 cửa.

Lê Thiên Tường

(K1 Tâm Nguyễn chuyển)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ

WHAT DO YOU WANT?

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ

Chúng ta đã chữa trị Covid-19 tốt hơn chưa?_Bs Wynn Trần

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ

NGUYÊN SA LÀM THAY ĐỔI CẢM NHẬN VỀ THI CA MIỀN NAM

Nguyên Sa  -Người làm thay đổi
cảm nhận về thi ca ở Miền Nam

Những câu thơ mà Nguyên Sa đem từ Pháp về Việt Nam năm 1956 đã thay đổi rộng khắp cảm nhận thi ca của đa số thanh niên Việt Nam. Giống như một nhạc cụ mới, có âm hưởng sâu và đánh thức giác quan thẩm mỹ của thời đại, thơ Nguyên Sa đã góp phần làm bản hòa tấu đa âm của thi ca Việt Nam thêm những rung động lạ lẫm cuốn hút người đọc mà Thơ Mới tỏ ra không còn đủ sức hấp dẫn như lúc khởi đầu.

Thơ Nguyên Sa nhanh chóng tràn vào từng lớp học, nơi trái tim học trò đập những nhịp điệu đầu tiên của tình yêu. Nguyên Sa yêu và chia sẻ cách yêu của mình qua kinh nghiệm một chàng trai có những thời khắc tuyệt vời tại Pháp, thủ đô của tình yêu trai gái, thủ đô của những giòng thơ trác tuyệt từng một thời là bệ phóng cho hàng trăm thi tài thế giới.

Nguyên Sa đem cái hồn phách của Châu Âu tái sinh sau khi thế chiến thứ II chấm dứt về Sài Gòn và nhanh chóng chiếm trọn sự cổ vũ nồng nhiệt của sinh viên học sinh. Ông đem ánh đèn vàng Paris nơi có những nhà ga là nguồn cảm hứng vô tận cho những cuộc chia tay. Ông mang theo hơi hám của sông Seine của nhà thờ Notre Dame về lại Sài Gòn nơi mà nhiều thế hệ thanh niên chịu ảnh hưởng của nền văn hóa Pháp.

Về tới Sài Gòn ông lại hỏi thăm Paris. “Paris có gì lạ không em?”. Hỏi nhưng ông biết Paris vẫn thế, vẫn những quán café nho nhỏ xinh xinh trên đường phố Montmartre thuộc quận 18 của Paris. Vẫn giòng sông Seine cuốn hút gợi tình. Câu hỏi của Nguyên Sa về Paris đã làm thanh niên học sinh Sài Gòn thổn thức như chính họ đã từng ở Paris nay về lại quê hương mà lòng không tránh được nhớ nhung một thuở.

Thanh niên Sài Gòn nhớ cái mà họ chưa từng trải nghiệm qua thơ Nguyên Sa. Bắt đầu từ đây ông bước vào lãnh thổ khép kín của nhiều người. Ông cùng với họ thở hơi thở thi ca bằng những ngôn từ mới, rất mới, cho tới bây giờ sau hơn nửa thế kỷ vẫn còn mới tinh. Paris có gì lạ không em?

Paris có gì lạ không em?
“Paris có gì lạ không em?
Mai anh về em có còn ngoan
Mùa xuân hoa lá vương đầy ngõ
Em có tìm anh trong cánh chim

Paris có gì lạ không em ?
Mai anh về giữa bến sông Seine
Anh về giữa một giòng sông trắng
Là áo sương mù hay áo em ?
….

Anh sẽ chép thơ trên thời gian
Lời thơ toàn những chuyện hờn ghen
Vì em hay một vừng trăng sáng
Đã đắm trong lòng cặp mắt em?”

Paris không những là kinh đô của ánh sáng mà nó còn là thủ phủ của tình yêu. Có lẽ yếu tố tình yêu của Paris dính liền với lứa tuổi học trò Việt Nam thời đó. Thời của những trang lưu bút, những cánh hoa ép vào trong vở học, những hò hẹn ngây thơ và đầy tiếng ve, xác phượng là khoảng thời gian đẹp nhất trong một đời người. Trong lứa tuổi ấy tình yêu bắt đầu với những giai điệu mong manh và huyền ảo nhất.

Nguyên Sa nói đó là sự cần thiết, là điều không thể thiếu của con người. Xác quyết ấy của Nguyên Sa nhanh chóng được giới trẻ gật đầu thừa nhận, và vì thế, thơ ông từ đó có mặt trong lưu bút, trong sân trường thời trẻ dại và ngay cả sau này khi họ đã thành gia thất.

“Không có anh lấy ai đưa em đi học về
Lấy ai viết thư cho em mang vào lớp học
Ai lau mắt cho em ngồi khóc
Ai đưa em đi chơi trong chiều mưa
Những lúc em cười trong đêm khuya

Lấy ai nhìn những đường răng em trắng
Đôi mắt sáng là hành tinh lóng lánh
Lúc sương mờ ai thở để sương tan
Ai cầm tay cho đỏ má hồng em
Ai thở nhẹ cho mây vào trong tóc…”

Thơ Nguyên Sa không những trau chuốt về ngôn ngữ nó còn lấn sâu tới một vùng khác đầy hấp dẫn nhưng cũng rất nguy hiểm đối với thể loại văn học dễ làm nhưng khó hay và nhất là khó nổi tiếng: thơ tự do.

Trước đây hơn nửa thế kỷ, một câu thơ đẹp sẽ bị quay lưng khi nó thể hiện hình ảnh, ý tưởng có vẻ “nhạy cảm” đối với người yêu thơ. Trong mỗi cá nhân có thể không giống nhau cách chia sẻ một bài thơ hay nhưng rất giống nhau khi nhìn thấy một câu thơ kỳ khôi, vượt lên trên cảm nhận bình thường của thi ca.

Cảm giác đó vẫn còn đầy đối với người đọc thơ đương đại vậy mà Nguyên Sa làm cho người đọc thơ ông cách đây hơn nửa thế kỷ phải mỉm cười, dù cách so sánh của ông lập dị đến nỗi không ai có thể nghĩ tới. Trong một bài thơ có tên người yêu và cũng là vợ ông sau này, ông viết:

“Hôm nay Nga buồn như một con chó ốm
Như con mèo ngái ngủ trên tay anh
Ðôi mắt cá ươn như sắp sửa se mình
Ðể anh giận sao chả là nước biển!…”

Hình ảnh đôi mắt cá ươn thật sự gây thích thú cho sinh viên học sinh Việt Nam ngay cả cái mùi không dễ chịu của nó cũng làm họ ngây ngất. Ẩn dụ của Nguyên Sa làm học trò tròn mắt và người lớn mỉm cười. Từ đôi mắt cá ươn, đỏ lên sự nhớ nhung, cho tới cách mà hai con chó ốm quấn quýt nhau đã nâng Nguyên Sa lên bệ của thần tượng trong lòng họ:

“Em nhớ không, anh đã van em đừng buồn
Anh đã van em đừng để những nụ cười chắp nối
Mắt anh sẽ mờ vì những vết kim khâu
Và anh buồn, rồi lấy ai mà dỗ nhau
Lấy ai mà dỗ hai con chó ốm!…

Em đã khóc, anh đã khóc và chúng mình đã khóc
Bước chân lê trên những hè phố không quen
Chúng mình đã khóc vì không được gần nhau như hai con chim
Chúng mình đã khóc vì không có tiền làm lễ cưới, lễ xin

Và em nhớ không, chúng mình đã hỏi nhau:
Tại sao phải làm lễ tơ hồng
Tại sao phải nhờ người ta buộc chỉ vào chân
Khi tay em đã vòng ra đằng sau lưng anh
Khi tay anh đã vòng ra đằng sau lưng em
Người ta làm thế nào cắt được
Bốn bàn tay chim khuyên!…”

“Áo nàng vàng tôi về yêu hoa cúc, áo nàng xanh tôi mến là sân trường” Có lẽ là hai câu thơ làm thành tên tuổi Nguyên Sa. Cảm xúc ngây ngô của chàng thanh niên trong lứa tuổi 16 nói với em, một cô học trò 13 tuổi. Những lời lẽ nếu xuất hiện hôm nay có lẽ cuộc đời sẽ giảm bớt biết bao nhiêu bụi bặm của thời đại.

Em Mười ba tuổi của thời Nguyên Sa rất nguyên sơ và thánh thiện. Chàng thư sinh Nguyên Sa không hề dám tơ tưởng vóc hình em mà chỉ dám chạm đến nhè nhẹ một màu áo, một sân cỏ nơi em bước qua. Đẹp và lãng mạn đến thế là cùng.

“Trời hôm ấy mười lăm hay mười tám?
Tuổi của nàng tôi nhớ chỉ mười ba
Tôi phải van lơn ngoan nhé, đừng ngờ…
Tôi phải dỗ như là… tôi đã nhớn

Và đôi mắt nhìn tôi ngập ngừng chim sẻ
Đôi mắt nhìn trời nhè nhẹ mây nghiêng
Tôi biết nói gì? Cả trăm phút đều thiêng
Hay muốn nói nhưng lòng mình ngường ngượng

Chân díu bước và mắt nhìn vương vướng
Nàng đến gần tôi chỉ dám… quay đi
Cả những giờ bên lớp học, trường thi
Tà áo khuất thì thầm: “chưa phải lúc…”

Áo nàng vàng tôi về yêu hoa cúc
Áo nàng xanh tôi mến lá sân trường
Sợ thư tình không đủ nghĩa yêu đương
Tôi thay mực cho vừa màu áo tím…”

Trở về Việt Nam trong hoàn cảnh miền Nam đang hít thở bầu không khí chính trị mới, Nguyên Sa đóng góp vào nền văn học Việt Nam trên nhiều lãnh vực. Ngoài thơ, ông còn là một nhà báo, một cây viết phê bình văn học, một nhà lý luận và còn là một nhà giáo dục.

Là Hiệu trưởng trường Văn Học, dạy môn Triết tại trường Chu Văn An cũng như đại học Văn Khoa và nhiều trường trung học nổi tiếng khác tại Sài Gòn như Văn Lang, Hưng Đạo, Thủ Khoa, Thượng Hiền, Nguyễn Bá Tòng… ông có cơ hội tiếp cận với học sinh, sinh viên và để lại trong lòng nhiều lớp người ký ức đẹp đẽ khi theo học thầy Trần Bích Lan, tức nhà thơ Nguyên Sa.

Nguyên Sa, Hạt cát nguyên sơ ấy đã theo chân học trò và người yêu thơ ông góp vào hành trang của họ những luận lý Tây phương cũng như cảm nhận cái đẹp với ý thức hoàn toàn vượt ra khỏi sự cũ kỷ nhàm chán của một nền Hán học vẫn đậm đặc trong xã hội. Thầy Trần Bích Lan không giảng bài mà ông thầm thì với học trò của ông những vần thơ tuyệt đẹp để từ đó nhiều người nhận ra rằng thơ có khả năng mở sáng trí tuệ chứ không chỉ là giai điệu hay những nỗi buồn, niềm vui bình thường của con người.

Giống như hầu hết văn thi sĩ miền Nam, thơ Nguyên Sa trong những năm chiến tranh có thay đổi tuy không lớn và máu lửa như nhiều nhà thơ khác. Trong những bài thơ mang tính thời cuộc ấy vẫn thoang thoảng cá tính Nguyên Sa, một thiên sứ tình yêu, một cung bậc mới trong cảm nhận văn học.

Nguyên Sa đốt lên ngọn lửa trong “Bài hát Cửu Long” nhưng không phải là lửa chống quân thù mà là lửa soi đường cho thanh niên, lửa tin yêu của những chàng trai cô gái hội tụ bên nhau trước vận mệnh mới của dân tộc.

“Có gì đâu em: có một đoàn người
Có một đoàn người góp sức góp vai
Cùng rủ nhau về góp một thành hai
Những bước chân góp đi làm đến!
Họ không dại khờ: góp trăng làm nến!
Chỉ những miệng cười góp lạ thành quen

Góp những giọng hò làm trống ngũ liên
Góp những bàn tay dựng thành đại hội
Cánh tay chắp cánh tay cho dài thêm nửa với
Gạo quanh nồi góp lại bữa cơm chung
Họ cùng đi cùng góp tháng, góp năm…
Để sáng ngày mai làm sông làm biển

Có gì đâu, có một đoàn người
Bên bờ Cửu Long gõ nhịp
Cả giòng sông gõ nhịp vịn bờ sông
Họ rủ nhau về sương gió vui chung
Dù có phút nước mắt chạy quanh
Hay miệng cười hớn hở
Vẫn bát gạo Hậu Giang, vẫn nụ cười huynh đệ
Mắt nghẹn ngào sáng tỏ nắng phương Nam
Màu nắng vàng không màu nhiệm hào quang
Nhưng dù má bừng lửa cháy
Trán đổ mồ hôi
Họ cùng không đóng cửa mừng vui
Những bàn tay ngượng ngập díu môi cười
Không phải khóc
Một đời người tầm gửi”

Thủy chung Nguyên Sa vẫn yêu tận tình con người, yêu như trai gái yêu nhau, như những cặp tình nhân bất tử. Có lần ông giật mình khi nhìn lại chung quanh và chính bản thân để rồi thở dài cho đời người sao quá nhiều cay đắng, đặc biệt những con người trong thế hệ bị bộ máy chiến tranh bào mòn, nghiến nát:

“Thế kỷ chúng tôi chót buồn trong mắt
Dăm bảy nụ cười không đủ xóa ưu tư
Tay quờ quạng cầm tay vài tiếng hát
Lúc xòe ra chẳng có một âm thừa

Cửa địa ngục ở hai bên lồng ngực
Phải vác theo trăm tuổi đường dài
Nên có gửi cho ai vài giọng nói
Cũng nghe buồn da diết chạy trên môi

Hai mắt rỗng phải che bằng khói thuốc
Chúng tôi nằm run sợ cả chiêm bao
Mỗi buổi sáng mặt trời làm sấm sét
Nên nhìn đêm mở cửa chẳng đi vào”

Nhà thơ của chúng ta cuối cùng rồi cũng không ra khỏi chiếc vòng tròn tự vấn. Trong bài thơ Sám Hối, cái tựa trước tiên gây cảm giác tê tái và lạnh căm, nhưng qua bài thơ này Nguyên Sa phủ trùm lên nó thứ ánh sáng tái sinh của sự tận hiến. Chàng trai xưng tội với một người đàn bà, biểu tượng lòng thành mà một đời chàng trân trọng.

Chàng không sám hối điều chàng đã làm cho nàng. Những điều mà chàng thốt ra thật khó hình dung, diễn đạt lại vì thế cái cảm giác ăn năn, tự trách vẫn bồng bềnh trong bài thơ khiến chúng ta không thể hiểu tại sao.

Bài thơ này có lẽ mang tính triết học đậm đặc nhất trong toàn bộ cuộc đời làm thơ của ông. Sám hối, trở về với nguyên ủy sự sống. Vòng quay bất tận của tái sinh hay sự trở về gục đầu vào lòng người nữ vẫn luôn là đớn đau bất tận của nhân loại.

“Khi nắng mở cửa một bầu trời nạm bạc,
anh sẽ trở về trên con đường không có mùi cỏ ải
mà chỉ có nắng vàng hanh.

Anh sẽ trở lại bên em – mà cúi đầu – mà quỳ gối –
mà nghe rụng trong lòng ánh sáng hành tinh.

Anh sẽ quỳ gối bên em nhưng không dám nói chuyện trần gian.

Anh không dám kể lể dài dòng như một người giang hồ
nói với người giang hồ về những chuyện quê hương.

Anh chỉ dám dâng em chút ít đớn đau với nỗi niềm sám hối.

Nỗi niềm của một kiếp người đã nhiều tháng ngày ngồi trong ngõ tối.

Anh không dám nhắc đến cuộc đời xa cũ.
E sợ rằng lời lẽ chua cay sẽ biến thành bốn con ngựa già
kéo linh hồn anh chạy về bốn phía chân trời
trong những ngày giá lạnh.

Anh cũng không dám khóc. Nước mắt em ơi, đã đóng đinh
vào lòng bàn tay anh và linh hồn dớm máu…

Anh chỉ ngồi nhìn sao khuya rung động.
Nghe bờ môi tát cạn nhưng hơi thở yếu dần.”

Nhắc đến Nguyên Sa người yêu thơ ông vẫn tưởng nhà thơ đang rong chơi đâu đó vì ngôn ngữ vẫn sát với khung cảnh thường nhật hôm nay. Mặc dù nhà thơ đã từ trần vào ngày 18 tháng Tư năm 1998, nhưng thơ ông vẫn được nhiều người nhắc tới như xưa, đặc biệt trong hoàn cảnh tình yêu tuổi học trò ngày một biến mất để thay vào đó là những trò chơi tình cảm nhục dục của thanh niên trong thời đại mới.

Mỗi tiếng thở dài tiếc nuối quá khứ là một câu thơ của Nguyên Sa. Mỗi câu thơ của ông có khả năng làm mới tâm hồn để biết rằng trong bất cứ thời đại nào nhịp đập tình yêu vẫn là suối nguồn sự sống.

Nguồn: Mặc Lâm – RFA

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ

NHỚ NHÀ_BS Nguyễn Sơ Đông

Nhớ Nhà_BS Nguyễn Sơ Đông

Image result for NHỚ NHÀ (Bác sĩ Nguyễn Sơ Đông)
 NHỚ NHÀ
Pourquoi le prononcer ce nom de la patrie?
Dans son brillant exil mon coeur en a frémi
II résonne de loin dans mon âme attendrie,
Comme les pas connus ou la voix d’un ami.
Tôi muốn đổi chữ “brillant” thành “douloureux” vì trốn chui, trốn nhủi, vượt biên còn thua con chó đói, thì có gì là “brillant”. Sợ mang tội với Lamartine, lại thừa một “pied”.
Tôi là thằng “lăn chai”, lúc nhỏ suốt ngày ở ngoài đồng, lội hết mương nầy đến rạch kia. Tôi không phải đi chăn trâu, nhưng tôi cỡi trâu “nghề lắm”. Leo lên lưng trâu đâu có dễ. Tôi mới sáu, bảy tuổi, đứng vừa qua khỏi ngang nửa bụng trâu, mà trâu đâu có “mọp” xuống như voi cho mình leo lên. Vậy mà thằng tui phóng lên ngang hông trâu cũng được, kẹp “đầu gối” (trâu) trước cũng xong, phăng lên bằng đầu gối sau cũng “phẻ” mà kéo đuôi cũng yên. Trâu tốt hơn “người ta”: không khi nào “đá giò lái”, không “đá ngược” bạn bè.
Nắng, mưa tôi có coi ra gì đâu? Mưa xối xả, mưa nặng hột,… tắm mưa càng vui. Tắm đến chừng da tái mét, run lập cập mới thôi. Một lát – có khi cả giờ nữa, nắng lên, khô queo,… thì lội nữa.
Tụi chăn trâu “nhà nghề” chỉ tôi đủ thứ hết: làm sao “cột dàm” con nghé để nó khỏi ăn mạ. Người ta vác chổi chà mà đập mầy đó (không đập trâu đâu, vì chổi chà có thắm thìa gì nó). Nhìn dấu ở cửa hang là biết có cua ở trỏng hay không, cua lớn hay cua “nghé” (cua con, kẹp đau lắm). Bắt cá bóng kèo thì phải dùng một chân chận cái ngách nó lại, câu cá trê phải sửa soạn mồi trước : đập mấy con ốc bươu, để qua bữa sau có mùi hôi hôi là cá trê nó đớp nhanh lắm, xúc cá ròng ròng coi chừng bị cá mẹ táp cẳng, vì bênh con (ròng ròng là cá lóc con, cỡ 1/2 ngón tay út, kho tộ mặn mặn, cay cay… ngon hơn caviar nữa. Mà tôi có bao giờ được ăn caviar đâu mà xạo vậy!). Bọt trắng nhuyễn trên mặt “mương”, nhưng bọt nào là ổ cá chìa vôi, chả làm gì được hết, bọt nào là ổ cá “xiêm”, loại cá lia thia xanh mun, đá chết bỏ chứ nhứt định không chạy.
Lên Saigon, “lội” gần hết “hang cùn ngỏ hẹp” của quận Tư (sau nầy là quận Năm, dành tên quận Tư cho bên Khánh Hội), chui vào Đại Thế Giới coi hát “cọp”, băng cầu chữ Y, qua giang sơn của ông Bảy (Bảy Viễn), đi chen lấn giựt cái “lưỡi” ông Tiêu cúng rằm tháng Bảy.
“Nắng Saigon, anh đi mà chợt mát
Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông ”
Tôi có biết lụa là gì đâu? Hà Đông ở đâu? Thôi, tôi xin phép Nguyên Sa mà sửa lại:
“Nắng Saigon, tui đi mà chẳng ngán
Bởi vì da mốc thích “đui then” rồi.
Ra Chasseloup, đến mùa me chín, leo lên “rung” mạnh. Me rụng đầy đầu tụi ở dưới đất. Thằng nào ở “trển” vậy? Thằng Đông chớ ai vô đây.
Trước Bộ Y Tế có hai cây gừa, trái tròn, ngọt, cây chót vót, lại cũng thằng Đông leo. (Sau 75, tôi vẫn còn thấy hai cây nầy, già lão rồi, có ai để ý tới làm chi)
Vào lính, theo đơn vị hành quân, nhớ từng con suối nhỏ, từng gò mối, từng cây cầu khỉ,… nhứt là những nơi “đụng” nặng. Lính tử trận. Quan cũng đền nợ nước. Thứ hai, người vợ trẻ đưa chồng lên Đức Hòa. Thứ bảy, đã chít khăn tang. Nhưng tôi vẫn thương vẫn nhớ cái quận “nắng bụi, mưa bùn”… nghèo xơ nghèo xác nhưng đầy ấp tình người. Hoàng hôn xuống, nghe ảnh ương, nhái bầu, nhái bén, cả bao nhiêu thứ côn trùng hòa tấu “symphonie pastorale” nghe mà rụng rún.
Giờ đây, lưu lạc xứ người, muốn nghe… có đâu mà nghe.

“Lòng quê đi một bước đường một đau ”
(Kiều)

Tâm trạng nhớ nhà là vậy.
Tôi không dám “nghĩ” hoặc “đoán” tình cảm của ai khác. Riêng với tôi thì: tình đầu, tình đuôi, tình giữa… gì gì, thì với thời gian cũng sẽ khuây khoả, rồi phai, rồi tàn và rồi thuộc về dĩ vãng, dù nó “apporte chaque jour tout le bien, tout le mal”.
Nhưng, nhớ nhà thì hoàn toàn khác, lạ. Như một định luật tự nhiên, “tên” nào “lội” nhiều, lăn lóc với “đất nước” nhiều,.. khi về già, nhớ nhà càng ray rứt, càng nhức nhối.
Cái khổ là càng muốn quên, càng lại nhớ. Có những đêm thức giấc, nhớ quá, không tài nào ngủ lại được. Nhớ ai, ai đâu mà nhớ. Nhớ NHÀ!
Lúc ở Chasseloup, đọc sách tả Tour Eiffel, Montparnasse, Les Invalides, Chateaux de la Loire.. náo nức muốn xem lắm. Giờ xem qua rồi thì “thôi”. Nó không “thấm” vào xương, vào tủy, vào tim, vào óc như cái nhớ nhà.
“… Quê tôi chìm chân trời mờ sương
Quê tôi là bao nguồn yêu thương
Quê tôi là bao nhớ nhung se buồn
Là bao vấn vương tâm hồn người bốn phương. ”
(Làng Tôi – Chung Quân)

Chắc tại tôi là đứa “chả giống ai”. Thôi đành chịu vậy.
Mấy trang viết nầy không đầu, không kết, ý tứ lung tung, “à bâtons rompus”, “du coq – à – l’âne”. Bà con có xem thì “xính xái”, từ bi hỷ xã dùm. Thiện tai, thiện tai
Thôi thì cứ xem như :“mémoires d’outre tombe” của tôi vậy.
Trước sau gì, cát bụi cũng sẽ về cát bụi
QUANDO SATIS DIXISTI, PERISTI
(Quand tu auras dit assez, tu seras mort)
(St Augustin)
“Mai đây trong chuyến tàu vạn cổ
Nếu có người thương đến tiễn đưa
Xin hãy rắc thêm vào huyệt mộ
Chút tình hệ lụy núi sông xưa”
(Giang Hữu Tuyên)
Đúng, hệ lụy núi sông xưa!
“Objets inanimés, avez vous donc une âme
Qui s’attache à notre âme et la force d’aimer“
Thôi đành
“Nhật mộ hương quan hà xứ thị
Yên ba giang thượng thử nhân sầu ”Thôi Hiệu
Vậy, tôi đã làm được gì?
* Gia Đình: Trả hiếu?
– Má tôi mất sớm quá, tôi có nhớ gì đâu, nhứt là mấy tháng cuối cùng, mỗi lần tôi muốn tới gần Má tôi, thì các dì, cô, cậu… (đều ở nhà tôi để săn sóc má tôi) bảo: “Con ra ngoài chơi đi, để má con ngủ”, ngủ yên… Yên Giấc Ngàn Thu.
– Tôi có làm được gì giúp Ba tôi đâu. Chưa xong y khoa, niềm an ủi duy nhứt của tôi là: tôi đã cố hết sức nghe lời Ba tôi, dĩ nhiên, đôi lần chuyện nầy, chuyện nọ, chuyện “đâu đâu” làm Ba tôi không vui.
– Tôi rất mừng là đã cùng vợ tôi quyết định “sinh tử”: chết thì chết chung, không thể sống với vc được. Tụi nó không lương tâm, không tim, không óc, không cả tình người. Ít nhứt, dung thân ở xứ lạ, không ai ngăn cấm con tôi: “Mầy là con sĩ quan ngụy, không được lên cấp ba”. Đó là nguyên văn của tên “giám hiệu” trường Petrus Ký (tôi khôngmuốn nhắc tên mới của trường) khi đứa con trưởng của tôi học xong lớp 9 (classe de 3è) không được lên lớp 10 (classe de seconde). Đuổi học.
* Tổ Quốc: xin cho tôi mượn hai câu thơ của một nhà văn “gốc lính“
“Cúi đầu tạ với quê hương
Tôi còn một nửa đoạn đường chiến binh”.

Tôi đã đội trên đầu sáu chữ: DANH DỰ, TỔ QUỐC, TRÁCH NHIỆM. Ngày nào còn thở tôi còn tôn thờ. Chỉ khi nhắm mắt thì trách nhiệm của tôi với tổ quốc VNCH mới kể là hết.
Je ne fléchirai pas ! Sans plainte dans la bouche,
Calme, le deuil au coeur, dédaignant le troupeau,
Je vous embrasserai dans mon exil farouche,
Patrie, ô mon autel ! Liberté, mon drapeau !.
Victor Hugo (ultima Verba)
THAY LỜI CUỐI
Những dòng sau đây, tôi:
– Kính dâng quý Trưởng Thượng, Niên Trưởng đã rời Việt Nam trước 30-04-1975
– Gởi đến thế hệ trẻ, những người chưa “nếm” mùi vc.
Tôi dạy vạn vật ở Petrus Ký từ năm 1963. Lúc bấy giờ, thi Tú Tài 1 và 2 còn vấn đáp. Chưa khi nào tôi hỏi lý lịch thí sinh trước khi cho điểm. Nói chung, trong suốt lịch trình thi, tất cả Giáo sư đều xử sự như thế..
Tết Mậu Thân, con đường tiếp liệu (y dược, y cụ..) của đơn vị tôi bị vc (đã chiếm Vinatexco, Vifon, và các hãng kế cận) đóng chốt. Tôi phải liên lạc với cố vấn đơn vị tôi, trình với cố vấn trưởng (cố vấn cho Tư Lệnh Sư Đoàn) cho phép tôi dùng trực thăng riêng của ông về căn cứ 73 tồn trữ y dược, nhứt là bông, băng, băng cá nhân, nước biển và trụ sinh..
Trớ trêu thay: người thương binh đầu tiên được truyền chai nước biển “nóng hổi” vừa được trực thăng mang về là một vc..
Trong hơn bốn năm trấn ở Đức Hòa, tôi đã gọi tản thương bằng trực thăng về Tổng Y Viện Cộng Hòa ít nhứt là mười vc bị thương nặng. Không tản thương thì chắc chắn 100% chúng đi “chầu Bác” rồi.
Dù mưa, dù nắng, một giờ khuya, hai giờ sáng,… chưa lần nào phi hành đoàn hỏi tôi tản thương lính nào vậy? QLVNCH hay vc. Tất cả đơn vị Quân Y QLVNCH đều làm như thế.
Tôi muốn viết thật rõ, hét thật to, ý nghĩ thật trong sáng: Tôn chỉ của dân VNCH, của QLVNCH, của chính phủ VNCH là TÔN TRỌNG CON NGƯỜI, cách hành sự chứa đầy tình người.
Sau 04/1975, bọn khát máu chóp bu vc đã ra lệnh phá tan nát xã hội miền Nam, mà nền tảng là gia đình.. Bao nhiêu gia đình sĩ quan QLVNCH, viên chức VNCH bị gây áp lực đến đổ vỡ.
Bao nhiêu dân miền Nam bị lừa gạt, rồi bị ép tử, bỏ cho chết, chết đói, chết vì bệnh tật,… ở những khu gọi là kinh tế mới..
Bao nhiêu thanh thiếu niên “con ngụy” bị ép buộc qua Miên làm bia đỡ đạn cho vc.
Bao nhiêu trăm ngàn người VNCH đã thiệt mạng trên đường tìm tự do, thoát ách vc.
Trong mấy ngàn năm lịch sử dân tộc, có lần nào mà người dân Việt Nam, vốn rất gắn bó với “quê cha đất tổ”, với “mồ mả ông bà” liều chết, bỏ nước ra đi tìm tự do đông đến số triệu.
Tôi viết để quý vị Trưởng Thượng và thế hệ trẻ hiểu được mức độ khát máu, tàn ác, vô nhân đạo, đầy thú tính của vc.
Riêng cá nhân tôi, tôi không thù hằn vc vì:
1- Tôi đã hấp thụ nền giáo dục nhân bản miền Nam
2- vc không xứng đáng để tôi thù hằn, vì vc đã mất hẳn tính và tình người.
Tôi rất cám ơn, thương mến, kính yêu “bà xã” tôi đã chịu bao nhiêu cay đắng, cực khổ tảo tần giữ vững gia đình, lo cho bốn đứa con tôi.
Hiện giờ, chúng là công dân đơn thuần (simple citoyen) của quốc gia tạm cư, không là “quan to, quan bé” gì hết. Nhưng, người ta đã đối xử với chúng tôi rất ấm áp tình người.
Nguyễn Sơ Đông

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ

Từ Việt Nam, Nghĩ Về Donald Trump_Ng. Quang Chơn

Từ VIỆT NAM, từ vùng dịch, nghĩ về DONALD JOHN TRUMP --- (Tác giả ...

Trời âm u, mưa rả rích, Đà Nẵng như chìm trong nỗi buồn của sự tái nhiễm cúm Tàu. Dân ĐN kiên cường, nhưng dường như dân ĐN hơi chủ quan, để lọt những kẻ tình báo Hoa nam mang bom Vũ hán nhập vào. Để dịch nhiễm ra cộng đồng, để đất nước hoang mang….Từ sự kiện này, lại nghĩ đến vị tổng thống thứ 45 Hoa Kỳ. Vị tổng thống tỷ phú đầu tiên của nước Mỹ. Vị tổng thống dùng twitt như một phương tiện truyền thông. Vị tổng thống nói thẳng thừng “Trung cộng là bịp bợm”, Tập là…”không đàng hoàng”. Vị tổng thống không e ngại phê phán các vị tiền nhiệm đã lơ là, chủ quan, để Tàu cộng bước vào nước Mỹ, thâm ngập vào mọi ngóc ngách đời sống…, để ăn cắp, để trục lợi, để âm mưu xây Trung cộng thành một đế chế toàn cầu Hitler, và đã, hình thành được giai đoạn cơ bản đầu tiên!…Việc thẳng thừng. Việc không úp mở. “Thiếu chính trị” của vị tổng thống này đã khiến thế giới xôn xao. Giới truyền thông không ủng hộ. Người đồng đảng phẫn chí. Kẻ đối đảng chê bai. Người gốc Mỹ hoan hô. Dân định cư chửi rủa. Dân da đen xuống đường….Bởi vì ông, lãnh tụ thế giới đều ngẫm nghĩ nhìn lại mình, nhìn lại Tàu cọng, Tập Cận Bình hoang mang, nao núng!…Phàm ở đời. Có ai thẳng thắn mà được lòng người! Con người ta vốn thích được bưng bê, thích kẻ ba phải, thích lời tụng xưng…Donald Trump, vị tổng thống đương nhiệm Hoa kỳ đã quá thẳng thắn để mích lòng nhiều người, ông có biết không? Biết chứ. Một người con gốc New York, theo gia đình kinh doanh từ nhỏ, tài sản hàng tỷ đô la, viết bao cuốn sách về nghệ thuật đàm phán, kinh doanh, thành công trên mọi lãnh vực đầu tư. Há không biết chuyện cỏn con: Vạch trần sai trái kẻ khác sẽ bị họ chửi mắng. Chỉ ra âm mưu kẻ khác, sẽ bị họ thù hằn…. Nhưng lợi ích nước Mỹ là trên hết. Trên cả danh dự cá nhân, lợi ích gia đình…Trump có cần gì tiền. Trump có cần gì danh. Trump có cần gì được chiều chuộng yêu mến. Ông có quá nhiều rồi, quá đủ rồi. Trump đâu có cần làm tổng thống, ông chỉ cần du lịch đến một nước nào, lãnh tụ nước đó sẽ tiếp ông, đó là điều chắc chắn, bởi ông giàu có, ông uy tín!… Thế nhưng cái ông cần trên hết là nước Mỹ thân yêu của ông phải thức tỉnh lại sau những năm tháng bị các vị tiền nhiệm ru ngủ quên, để cộng sản Trung quốc, mà hiện tại là tên độc tài đầy mưu mẹo Tập Cận Bình đang thao túng, đang lộng hành, vì vậy ông cần phải làm tổng thống nước Mỹ, lèo lái, dựng nước Mỹ great again, hỗ trợ thế giới đập tan Tàu cộng!…Từ bên này bờ đại dương. Ở giữa lòng thành phố miền trung đang bị tái dịch cúm tàu. Tôi đang uất giận những tên Tàu giặc, những kẻ Việt tội đồ, thì tôi lại nghĩ đến ông. Biển Đông chúng tôi có được bình yên để ngư dân dong thuyền ra biển? Biên giới chúng tôi có bình yên để người người trồng trọt cuốc cày? Đất nước chúng tôi có bình yên để thở làn không khí tự do, dân chủ? Có lẽ sẽ nhờ những hành động quyết liệt của ông, thẳng tay trừng trị cộng Tàu. Cộng mà tan thì Tàu sẽ yên. Tàu mà yên thì Việt sẽ sống. Việt sẽ sống thì con cháu chúng tôi mới được hạnh phúc làm người….Và, tự nhiên tôi đặt niềm tin vào ông, thưa ông Trump kính mến. Tôi sợ ông bịnh. Tôi sợ ông thất cử. Tôi sợ cái phe nào đó bước lên sẽ vuốt ve bợ đỡ Tàu…Nên tôi cầu mong ông khoẻ mạnh, ông chiến thắng. Tôi viết những lời này từ trái tim để nếu những người dân Mỹ đọc được, sẽ suy nghĩ kỹ càng thêm, khi cầm lá phiếu trên tay chuẩn bị bỏ vào thùng phiếu…Đất nước tôi kiên cường. Dân tộc tôi anh hùng. Hơn bốn ngàn năm nay chúng tôi đâu sợ giặc tàu. Nhưng hôm nay tôi cảm thấy rất cần một đồng minh vững mạnh. Tôi nhìn quanh. Không một ai khác, ngoài một lũ đu dây, chờ đợi gió chiều nào để vặn mình đổ theo chiều đó. Chỉ có ông. Lừng lững. Tự tin…Một người Mỹ cho tôi nhiều hy vọng!…Chúa sẽ phù hộ ông, Donald kính mến!

Nguyễn Quang Chơn

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ

Mời các bạn xem giải trí

Thấy 2 bà cụ mang dép Lào nhảy đầm sao dễ thương quá.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ

EM PHẢI GÁNG (truyện ngắn)_Phạm Diễm Hương

hinhEm phải gáng…

– Phạm Diễm Hương –

 -Cô biết chỗ nào cần người làm việc, cô kêu tui nghe.
-Chi vậy bác?
-Ờ, hỏi cho con vợ  tui!
-Ủa, cổ có chỗ làm rồi  mà?
-Thì có rồi, nhưng sao nó cũng còn mạnh cùi  cụi!
-Nghĩa là sao, tui hổng  hiểu?
-Cô tính coi, người ta làm như nó, thì mệt  đứ đừ rồi, nhưng con vợ tui, bây nhiêu việc đó sá gì! Tui đón nó đi làm về, trên  đường nó hát ong ỏng, khoẻ re.
-Vậy thì đỡ quá rồi. Cổ có sức khoẻ là mừng  rồi bác ơi. Đừng bắt cổ làm thêm nữa, lỡ kiệt sức thì mệt  lắm.
-Nhưng cô hổng có  hiểu…
Ông Tài chợt lặng thinh. Hiếu vẫn chưa hiểu  lý do tại sao ông muốn vợ làm thêm việc, nhưng không dám hỏi. Nhìn nét mặt ưu tư  của ông Tài, Hiếu nhớ  chuyện hai năm  trước…
Trong buổi tiệc liên hoan cuối năm của hãng,  bất ngờ ông Tài tuyên bố sẽ lấy vợ. Mọi người xôn  xao:
-Bác Tài, bác nói chơi hay nói giỡn vậy?  Đừng làm tụi tui đau tim nha!
-Đã ở tới tuổi này rồi thì đi tới luôn, chớ hành xác chi vậy cha nội?
-Nè, ông không thấy tụi tui hả? Cái vòng kim cô vợ con nó siết chặt đời trai đó cha! Người ta muốn chui ra, chả muốn chui  vô!
-Hổng hiểu sao khi không cha Tài mót  vợ!
Mỗi người một câu vừa đùa vừa thật, khiến không khí trở nên vui nhộn. Ông Tài không nói gì thêm, mặc cho bạn bè suy đoán  bàn ra tán vào.
Vài tuần lễ sau, ông cho mọi người xem tấm  hình một cô gái thật trẻ, bầu bĩnh trong chiếc aó dài trắng. Đám đồng nghiệp trẻ  ồn ào: “Bác Tài, cháu gái bác đó hả? gả cho con đi bác”. Ông Tài liếc xéo nói:  “Chaú gái gì, bà xã sắp cưới của tui đó” Tin ông Tài dứt khoát cưới vợ được truyền đi nhanh chóng.
Ông Tài đã ngoài lục tuần, nổi tiếng đứng đắn, không có khiếu trêu chọc phụ nữ, chưa hề lập gia đình. Vài đồng nghiệp láu lỉnh từng liệt ông vào hàng ngũ cù lần, nhưng ông chỉ cười hiền lành. Nghe tin ông sẽ cưới vợ, có người cắc cớ nói:
-Con gái Việt Nam bây giờ tụi nó ngầu lắm. Nó mượn ông như chuyến đò để nó đổi đời thôi. Tui coi bộ dạng con nhỏ mạnh bạo, ông lấy nó ba bảy hai mươi mốt ngày là nó truất ngựa đó ông  à!
Ông Tài từ tốn trả  lời:
-Tui thấy mấy đứa con gái cỡ này dễ xiêu  lòng mấy thằng Đài Loan, chi bằng mình đem nó qua đây, nó chịu thì nó ở với  mình, bằng không, mình cho nó đi lấy chồng. Dễ mà! Tui tính kỳ này về, khỏi cần coi mắt gì ráo trọi, tui xin cưới con nhỏ cho gọn!.
Bạn bè không ai tin chính mình đã nghe những lời đơn giản và nhân hậu đó. Nhất là trúng vào thời kỳ mấy ông già xăm xăm về Việt Nam cưới vợ trẻ.
Ông Tài xin nghỉ hai tuần về Việt Nam cưới  vợ. Một đồng nghiệp trẻ nhắn nhủ: “Bác nhắm thấy con nhỏ được nước, bác làm ơn  đừng đụng tới nó, bác đóng thùng gởi qua đây cho con nghe!” Ông Tài cười vui:  “Lỡ con nhỏ chịu tao rồi sao?”
Hai tuần lễ sau, buổi sáng thứ  hai đầu  tuần, Hiếu uể oải bước vào hãng, ngang phòng ông Tài, Hiếu thấy ông  đang chăm chú xem hình trên computer. Hiếu gõ nhẹ vào cửa, ông Tài quay ra vui vẻ:  “Coi hình đám cưới tui nè”.
Hiếu chăm chú nhìn hình cô gái trẻ  hiền lành, e thẹn trong chiếc áo dài trắng cô dâu đứng cạnh ông Tài. Hiếu chợt  bùi ngùi khi nhìn đôi vợ chồng quá chênh lệch tuổi tác. Nhưng nàng tự trấn tĩnh biết đâu cô gái sẽ được hạnh phúc vì ông Tài là người tốt và hiền  lành.
Tin ông Tài đã đám cưới lan nhanh trong  hãng. Một vài người hỏi thẳng ông: “Nè cha, cha có động phòng không đó? Có giữ  lời hứa để con nhỏ đi lấy chồng không đó?. Ông Tài nói nhỏ bẽn lẽn: “Ờ thì đám cưới xong, tui trở lại khách sạn, con nhỏ kéo tay tui nói bây giờ hai đứa là vợ chồng, nó ngủ ở đâu tui phải ngủ ở đó!”, “Rồi ông trả lời sao?”, “Thì trả lời gì nữa, tui đi theo nó” Tiếng cười, tiếng chúc mừng ông Tài đã hội nhập vào đời  sống lứa đôi lại được dịp bùng lên. Có người thắc mắc: “Chắc tía má cổ còn trẻ  há?”, “Ừa, nhỏ tuổi hơn tui, má cổ thua tui tới 8, 9 tuổi”, “Rồi ông xưng hô làm  sao?”, “Thì kêu ông tía bằng anh, tính kêu bà má bằng chị, nhưng bị bả nhỏ tuổi  quá, nên tui kêu bằng em” Cả bọn lại được một phen cười lăn lộn trước sự thành  thật khai báo của ông Tài.
Ông Tài xúc tiến việc bảo lãnh vợ, ông được  văn phòng dịch vụ di trú cho biết diện vợ chồng phải chờ lâu hơn diện hôn thê,  hôn phu. Thế nên ông bảo lãnh vợ theo diện hôn thê cho nhanh. Bạn bè chia vui  với ông cho đến ngày ông ra phi trường đón người vợ mới cưới.
Quà tặng và tiệc chúc mừng được bạn bè thay phiên nhau tổ chức. Cho đến một hôm ông nói: “Vậy đủ rồi, con vợ tui nó thấy có  tiệc mừng, nó hứng chí, tối nào nó cũng khều, tui mệt muốn nổ đom đóm!”.
Tin ông Tài…mệt muốn nổ đom đóm lan nhanh như điện xẹt. Bạn bè tra hỏi ông: “Nè, khai thiệt đi cha nội! đã quá rồi bày đặt than hả?”. “Tui nói thiệt, nó khều hoài. Tui mệt muốn đứt hơi, mà nó tỉnh queo!”.
Từng tràng cười thích thú nổi lên,  ông Tài vẫn nghiêm trang kể tiếp: “Mấy ông bà biết không, mỗi tối ăn cơm xong, tui  làm bộ đau lưng mệt mỏi, nằm coi TV rồi ngáp ngủ, đắp mền ngủ đại ngoài salon,  chớ chun vô giường là chết mẹ. Ai dè nó nói để nó đấm bóp cho giãn gân cốt, rồi  nó mần tới luôn, tui thở hổng nổi!”, “Thì ông nói cổ từ từ, sức người có hạn!”,  “Trời ơi, nó hổng có hiểu, nó nói ba cái vụ vợ chồng hổng được lơ là! vậy mới chết!”, “Ngó cổ hiền lành mà cũng dữ dội há?”, “Ở đó mà hiền lành, gái quê mà,  nó đơn giản lắm, nghĩ sao làm vậy hà, thiệt tình tui hổng biết tính sao, để lâu dám phải bò, chớ đi gì nổi”. Trong lúc bạn bè vui cười về những thố lộ mộc mạc của ông, thì ông Tài lại càng lo âu bấn loạn.
Hai tháng trước, ông Tài vui mừng tuyên bố  đã tìm được việc làm cho vợ. Ai cũng nghĩ hai vợ chồng ông cùng đi làm, tài chánh gia đình sẽ khá hơn,. Nhưng với ông Tài, ông tin khi có việc làm, vợ ông sẽ phải chú tâm vào công việc, chuyện kia sẽ tự động giảm bớt. Ông hy vọng đời  sống chăn gối của vợ chồng ông sẽ cân bằng hơn.  Viễn tượng được ngủ đẫy giấc như ngày còn độc thân đã khiến ông vui vẻ khác thường. Ông tâm sự với bạn  bè: “Đây rồi có công ăn việc làm, nó sẽ tiêu hao nhiều …năng lượng. Làm việc ngày 8 tiếng là hết xí quách rồi! Hy vọng vụ kia nó bớt bớt, thì mình cũng  khoẻ”.
Nhưng nét  tươi vui của ông Tài từ từ  chùng xuống và trở lại trầm tư như cũ. Ông bộc bạch với bạn bè: “Tui tưởng 8  tiếng đồng hồ làm việc, nó sẽ bớt cái vụ kia, dè đâu càng làm việc nó càng khoẻ  mấy ông ơi! Nó vui nữa, sau giờ làm việc tui đón về, nó ca cải lương ỏm tỏi trên xe. Về tới nhà, nó nhào vô bếp nấu cơm, ăn xong nó rửa chén ào ào, rồi tắm rửa,  nói tui đi ngủ sớm. Đêm qua nó khều tui mấy trận, tưởng phải kêu xe cấp cứu.”,  “Thôi cha nội, cha kể cho bạn bè thèm chớ gì? Cha là trai tân mới lấy vợ, nói  vậy, chớ tụi tui kinh qua hết rồi, muốn thì tụi này truyền kinh nghiệm cho”. Ông Tài với nét mặt thành khẩn: “Tui nói thiệt, tui tính kiếm thêm việc cho nó làm,  đặng nó bớt cái vụ kia, chớ không hiểu sao nó xung quá  mạng!”
Nghe ông Tài tâm sự, Hiếu bỗng muốn gặp cô gái. Hiếu hỏi: “Bác nói thiệt không? Bác muốn cổ làm thêm việc, bác không sợ lỡ  cô quá sức rồi sanh bệnh sao?”, “Tui biết cái sức của nó cô à, con gái dưới quê mà, nó mạnh lắm không bệnh tật gì đâu!”, “Tui muốn mai mốt ghé thăm cổ cho có  bạn”, “Ừa không chừng có bạn, nó khuây khoả cái vụ kia, để cuối tuần tui dắt nó tới thăm cô!”.
Ông Tài dắt vợ đến thăm Hiếu. Cô gái đi sau ông len lén nhìn quanh nhà. Khuôn mặt bầu bĩnh linh động với nhiều nét trẻ thơ khiến Hiếu có cảm tình. Ông Tài giới thiệu: “Bữa nay tui dắt cổ tới giới thiệu với cô đặng chị em quen biết. Chào cô Hiếu đi!” Cô gái nhìn Hiếu cười: “Chị mạnh giỏi há?”, “Chị cũng O.K, em ngồi ghế đi, em thấy ở Mỹ đời sống dễ chịu không?”,  Cô gái kéo ghế ngồi, vừa nhìn quanh căn phòng, vừa trả lời: “Dạ sướng quá sướng!  Bên bển nghe nói đi Mỹ là tới Thiên Đàng gồi! Hồi mới tới em gung lắm, bị họ hổng nói tiếng mình, nhờ anh Tài dạy nói mấy chữ hé lô, hao a du này nọ nên cũng  đỡ”, “Nghe nói em đi làm rồi hả? có vui không?”, “Dạ, dzui”, “Có cực không?”,  “Dạ không, công chiện nhẹ hều, hồi còn ở bên bển, em xắt chuối cho heo ăn từ  sáng tới chiều, gụng gời cánh tay lun, còn công chiện ở đây đâu thấm gì!”.
Ông  Tài cười mím chi: “Ừa hổng thấm gì, thì kiếm thêm công chiện làm tiếp, chớ tui  cũng  mệt quá rồi!”.
Cô gái ngạc nhiên nhìn ông Tài: “Ủa, sao anh hổng nói,  anh nghỉ làm đi, để em đi làm em nuôi anh được mà”, “Không phải vụ đi làm, vụ kia kìa, cô hành tui, tui mệt, hiểu không?”, “Vụ gì, em đi làm dzìa, em nấu cơm,  em rửa chén, em mần hết công chiện trong nhà, em biết anh lớn tuổi, em đâu dám để anh làm chiện gì!”.
Ông Tài lẩm bẩm: “Tui hổng có nói công chuyện nhà, tui  nói vụ kia kìa, vụ lên giường đi ngủ á”. Cô gái quay sang Hiếu phân trần: “Chị  biết hông, khi ảnh cưới em, ba má em nói ảnh lớn tuổi gồi, gáng chăm sóc cho ảnh để trả cái ơn, cái nghĩa  ảnh đem em sang đây, đừng ham đời sống xa hoa  trai gái mà guồng gẫy ảnh, là có tội với ông bà, trời đất. Hồi nào tới giờ ảnh chưa có vợ con, phải gáng kiếm cho ảnh đứa con nối dòng. Em đi làm dzìa em mệt muốn đứt hơi dzị, nhưng nhớ lời má, em gáng tươi dzui, đặng ảnh dzui, đặng vợ chồng dzui dzầy kiếm đứa con, em cũng thèm có đứa con hủ hỉ. Em biết ảnh già gồi, nên cũng khó, em phải gáng…”. Cô gái bỗng khóc mùi mẫn, ông Tài ngồi chết  trân.
Chừng như không kềm giữ nổi tâm sự bị đè nén, cô gái khóc sướt mướt thố  lộ: “Chị biết hông, tuần trước ảnh nói mấy tháng nữa ảnh về hưu, ảnh muốn về  Việt Nam sống, nhưng ảnh không cho em theo. Em hỏi tại sao? Ảnh nói em còn trẻ,  ảnh muốn em ở lại đây lấy chồng có con, chớ ảnh không muốn có con với em, ảnh sợ  ảnh già gồi,  lỡ ảnh chết, khi đó con cái còn nhỏ hổng có cha, em hổng đủ sức nuôi. Em nói bằng giá nào em cũng ở bên ảnh, lỡ ảnh có đau yếu gì em chăm sóc cho ảnh. Em hổng cần có con nữa, em thương ảnh mà ảnh không thương  em…”
Mặt ông Tài trắng bệch, ông nắm tay vợ, thương cảm: “Thiệt tình ban đầu tui không để ý nhiều, nhưng hơn một năm nay, vợ chồng gần gũi, quen hơi, tui thương em chớ, vì thương em nên không muốn em khổ  vì tui. Tui biết em làm đúng bổn phận và thiên chức làm vợ, tui biết ơn em. Phải  chi em sanh trúng cái thời tui còn trẻ, thì vợ chồng mình xà quần cũng con đàn cháu đống rồi”. Ông Tài đứng lên nói với Hiếu: “Thôi vợ chồng tui về, tới thăm cô mà than van chuyện gia đình riêng tư thiệt tình ngoài ý muốn của tui, nhưng  cũng nhờ vậy mà tui hiểu được cái bụng của vợ tui”, “Không sao đâu bác à, tui  thấy bác may mắn lắm đó. Có bà xã trẻ thương yêu hết lòng!” Ông Tài cười dễ dãi: “Tui cũng biết vậy, nhưng phải chi tui còn trẻ, chớ già quá rồi, đâu còn hơi  sức mà chạy cô”. Cô gái đứng lên, đôi mắt vẫn đỏ hoe: “ Em cảm ơn chị hiểu em,  đây gồi ảnh hất hủi em, em tự tử em chết cho ảnh vừa lòng”. Ông Tài nhìn vợ:  “Nói bậy nà, ai hất hủi em, người ta chỉ nói từ từ cái vụ kia thôi! Tự tử rồi lấy ai có con với tui đây!”.
Trời bỗng mưa xối xả, ông Tài ôm vai vợ chạy  ra xe, Hiếu thấy cô gái nhanh nhẹn mở cửa đẩy ông Tài lên xe và mở cửa bước vào  băng ghế sau. Cô vươn người ra phía trước cài seatbelt cho ông, lau mặt cho  ông, vuốt vài sợi tóc lòa xòa trên trán ông. Hai tay cô âu yếm để trên vai ông,  và chiếc xe từ từ lăn bánh.
Phạm Diễm  Hương

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ

MỘT PHIÊN GÁC ĐÊM (truyện)_Phương Lan

MỘT PHIÊN GÁC ĐÊM

* truyện của Phương Lanhinh

Đêm đã khuya, đường vắng không một bóng người.   Chiếc xe tuần tiễu của cảnh sát chạy chầm chậm một vòng quanh thành phố, rồi đổi hướng đi dọc theo bờ biển.  Không thấy có gì khác lạ, viên cảnh sát dừng lại, cho xe tấp vào lề đường và bước xuống đi bộ.  Đêm nay ông có nhiệm vụ đi tuần tra an ninh ở khu vực này.  Đây là khu bãi sau Vũng Tàu, một vùng biển rất đẹp, bãi cát sạch, và nước biển xanh trong.  Vào mùa hè, thiên hạ ra đây nghỉ mát đông lắm, nhưng ít ai dám bơi ra xa, vì nơi đây có sóng lớn nguy hiểm.  Một lá cờ màu đen, vẽ hình sọ người với hai khúc xương chéo nhau, để cảnh báo du khách.  Thế mà vẫn có những người bất chấp hiểm nguy, cứ liều lĩnh bơi ra thật xa để chơi trò nhảy sóng, hoặc trượt ván nuớc.  Đã xảy ra nhiều vụ chết đuối, nên người ta dựng một chòi canh để quan sát, và báo động cho toán cứu cấp trên cái tầu đậu ở ngoài khơi, để kịp thời cứu những người đang bị sóng cuốn.

Căn chòi mái lá đơn sơ, mỗi khi có trận gió lớn, lại nghe lá khua lào xào.  Chòi cao độ bốn, năm mét, nên lên xuống phải dùng thang.  Chòi xây trên một cái sàn hình vuông, bằng gỗ thông sơn màu nâu đậm.  Sàn được chống bởi bốn cái cột gỗ tròn to, trông có vẻ vững chắc.  Nhưng cái chòi lại nhỏ xíu, giống như một túp lều nhỏ, diện tích chưa tới bốn mét vuông, vừa đủ cho một người ngồi thoải mái để nhìn ra xa, dùng ống nhòm quan sát.  Vây chung quanh cái sàn, là bốn bức vách lửng làm bằng ván ép, chỉ cao tới ngực, phía trên tứ bề đều để hở.  Một trong bốn bức vách để chừa một khoảng trống nhỏ, để làm cửa ra vào.  Dưới bậc cửa là một cái thang bằng sắt có tay vịn, dựng thoai thoải xuống tới mặt đất, dùng để lên xuống.

Bây giờ đang là mùa đông, không ai đi bơi, hay tắm biển vào thời tiết lạnh như thế này, nên chòi bỏ trống, không có ai canh gác.  Bóng đêm bao trùm vạn vật, cái chòi nhỏ bé, chênh vênh, đứng chơ vơ một mình trên bãi cát mênh mông, hoang vắng đến rợn người.

Viên cảnh sát nhìn đồng hồ, đã hơn 11 giờ khuya, đang giờ giới nghiêm.  Thành phố thời chiến tranh im lìm như thành phố chết.  Ngoài đường không một bóng người, những bóng điện đường toả ánh sáng vàng vọt, càng tăng thêm vẻ thê lương.  Xa xa, biển đang gầm thét, sóng lớn ầm ầm xô vào bờ, gió ào ạt đem theo hơi nước, càng làm không khí thêm lạnh lẽo.

Tay cầm cây đèn pin, ông bước những bước thong thả, dọc theo bãi vắng.  Ngang qua cái chòi, ông dừng lại, châm một điếu thuốc.  Khói thuốc làm ông cảm thấy ấm hơn, ông nhìn bóng mình đổ dài trên bãi cát, rồi lại nhìn ra ngoài khơi.  Biển cả mênh mông bây giờ trông giống như một khối đen khổng lồ đang dập dềnh lên xuống.  Nước triều lên làm mặt biển như bị nâng cao.  Thiên nhiên về đêm đầy vẻ bí hiểm và đe dọa.

Ông nghĩ giờ này mà được chui vào chăn ấm thì sướng biết mấy.  Rồi ông lại tặc lưỡi nhủ thầm, cũng chỉ còn hơn một tháng nữa là mình sẽ đổi qua làm ca ngày, thôi ráng chịu khó thêm một thời gian ngắn nữa.  Ở đồn cảnh sát này, người ta chia phiên làm đêm, mỗi người phải làm ca đêm hai tháng, sau đó sẽ đến lượt người khác.

Năm nay, thời tiết mùa đông có vẻ khắc nghiệt hơn mọi năm.  Ông quấn lại cái khăn quàng cổ cho bớt lạnh, thì bỗng nghe có tiếng trẻ khóc, tiếng khóc yếu ớt nghe như tiếng mèo kêu, chỉ vài giây rồi im bặt.  Thoạt đầu ông cứ tưởng mình nghe lầm, có lẽ chỉ là tiếng gió.  Nghe ngóng một hồi, không thấy động tĩnh gì thêm, ông rụi tắt điếu thuốc, rồi lại tiếp tục nhiệm vụ tuần tra.  Nhưng khi ông vừa dợm cất bước, thì tiếng khóc lại cất lên, lần này rõ hơn, đó là tiếng khóc của một đứa bé sơ sanh chừng vài tháng tuổi.  Ông nhìn quanh quất, không thấy ai cả, ông rợn người nghĩ đến chuyện ma quỉ.

          –  Hừ, có lẽ nào…

Như để trả lời, tiếng khóc lại vang lên ngằn ngặt.  Xen lẫn trong tiếng khóc là những tiếng nói ngắt quãng như xoa dịu, hay dỗ dành chẳng biết, nhưng rõ ràng là tiếng người.  Ông định hướng và thấy những tiếng động đó phát ra từ phía cái chòi canh.   Vội vàng đề cao cảnh giác, ông đặt tay lên báng súng, thận trọng bước tới.  Khi còn cách cái chòi chừng vài thước, ông dừng lại quan sát.  Chòi cao ngang cột điện, nên ánh đèn soi vào bên trong, cái chòi cũng sáng như có đèn.  Ông nhìn thấy rõ có người đang ngồi gần cửa.  Theo thói quen nghề nghiệp, ông lùi lại mấy bước, cất tiếng hô dõng dạc, ra lệnh:

          –  Cảnh sát đây!  Những người ở trên đó hãy xuống hết!

Không có tiếng trả lời, cả tiếng trẻ khóc cũng im bặt, dường như đang bị bịt miệng.  Chờ thêm vài phút vẫn không thấy động tĩnh, ông dùng cán cây đèn bấm gõ mạnh vào cái thang sắt, nói lớn hơn:

          –  Tôi lập lại, đây là cảnh sát!  Ra lệnh những người trên chòi phải xuống hết, nếu không tôi sẽ bắn.

          –  Ấy chớ, đừng bắn!  Tôi xuống ngay đây, ông cảnh sát.

Tiếng một người phụ nữ kêu lên hốt hoảng.  Tiếp theo là những tiếng khua động lịch kịch, và từ trên khung cửa, một người đàn bà xuất hiện, một tay bế đứa bé, tay kia vịn thang, run rẩy leo xuống.  Ông sửng sốt nhận ra đó là một cô gái rất trẻ, chỉ chừng mười bẩy, mười tám tuổi, trên khuôn mặt hốc hác, đôi mắt mệt mỏi vì thiếu ngủ đang mở to, đầy vẻ sợ hãi.  Cô ta mặc một cái áo lính đã cũ và bẩn thỉu, chân đi đôi dép nhựa, dáng nghèo khổ, lam lũ, nhưng không có vẻ bất lương.  Xuống tới mặt đất, cô ta ôm vội ôm chặt đứa bé vào lòng để che cho nó khỏi lạnh.  Ông hỏi:

          –  Trên kia còn ai nữa không?

Bấy giờ cô ta mới ngẩng lên, thấy trước mặt mình là viên cảnh sát già, tóc bạc hoa dâm, trông có vẻ hiền lành, cô yên tâm và giọng đã hết run:

          –  Dạ không!  Chỉ có mình cháu và đứa bé thôi ạ.

          –  Để tôi kiểm tra lại đã.
Ông nói và leo lên thang, tới lưng chừng, ông bật đèn pin, lia chùm ánh sáng rà một vòng khắp căn chòi nhỏ để kiểm soát.  Không thấy có dấu hiệu gì khả nghi, ông đi xuống và dịu giọng hỏi:
–  Con ai thế? không phải cô bắt cóc nó để đòi tiền chuộc đấy chứ?
–  Dạ cháu đâu dám.  Đứa bé này là con của cháu.

          –  Có gì chứng minh không?

          –  Cháu sẽ cho nó bú, chắc nó cũng đang đói.

Vừa nói, cô ta vừa vạch áo, sửa soạn cho con bú.  Ông vội vã xua tay:
–  Thôi khỏi, để lát nữa đi!  Tôi tin cô.  Bây giờ cho tôi coi thẻ kiểm tra.
–  Thưa ông, cháu không có.  Tại vì… Cô cúi mặt ngượng ngùng, vì… người ta đâu có cấp căn cước cho những người không có nơi cư ngụ như cháu.

Nhìn khuôn mặt non choẹt của đứa con gái, ông cau mày thở dài:

          –  Hừm!  Mới tí tuổi đầu mà đã bụi đời, bỏ nhà đi hoang?

          –  Thưa, ông nói vậy là oan cho cháu, sự thật không phải thế đâu ạ.

          –  Không phải à?  Không phải thì tại sao cô lại ở đây giờ này?  Cô có gia đình không?  Nhà cửa, cha mẹ cô đâu?

          –  Cháu không có nhà… Cô ngập ngừng, đúng ra là cháu bị buộc phải rời khỏi nhà, chứ cháu đâu có muốn làm một kẻ lang thang…

          –  Thật thế ư?   Chuyện ra sao, nói nghe coi!

Cô gái cúi đầu buồn bã, ngần ngại một hồi, rồi mới bắt đầu kể:

          –  Thưa ông!  Má cháu mất rồi, cháu ở với cha và mẹ ghẻ.  Ba cháu làm nghề đi biển, lâu lâu mới về nhà, ông chẳng bao giờ ngó ngàng tới cháu, phó mặc cháu cho mẹ kế, bà ấy muốn đối xử với cháu ra sao cũng mặc kệ.  Cháu học hết tiểu học thì phải ở nhà giữ em và làm việc nhà cho mẹ ghẻ cháu rảnh rang đi đánh bài.  Cách đây mấy tháng, ba cháu bị tai nạn đắm tàu.  Hôm đó bão lớn lắm, ghe đánh cá của ba cháu bị lật, ba cháu bị sóng cuốn đi mất tích.  Mẹ ghẻ cháu đổ thừa vận đen là tại cháu, bà không muốn chứa đứa con gái chửa hoang ở trong nhà xui xẻo, nên đuổi cháu đi…

          –  Thì ra là vậy, thế cô không có chồng à?

Cô gái cúi mặt dấu vẻ xấu hổ, ngượng ngùng, một lúc mới lí nhí nói:

          –  Cháu có bạn trai.  Tụi cháu yêu nhau, nhưng không có tiền làm đám cưới.
–  Cha đứa nhỏ đâu rồi? anh ta phải có trách nhiệm chứ?

Cô nhìn đứa con còn đỏ hỏn đang bế trên tay, thở dài:

          –  Anh ấy thương cháu thật lòng, nhưng chưa có điều kiện đem cháu theo.  Anh Bình là lính, đang đi hành quân.

          –  Cơ khổ!  Chưa có điều kiện lập gia đình mà lại để cho có con, tệ quá.  Thế gia đình anh ta có biết việc này không?  Họ phải giúp đỡ cô chứ, chẳng lẽ lại khoanh tay làm ngơ?

          –  Thưa ông! anh Bình mồ côi cả cha lẫn mẹ từ thuở nhỏ, anh sống trong viện mồ côi, lớn lên đi lính nhảy dù, bây giờ là hạ sĩ nhất.  Bình không có bà con thân thuộc nào hết ạ.

Viên cảnh sát thấy lòng se lại, cô gái này lâm vào đường cùng rồi, không biết nên giúp cô ta bằng cách nào?  Nghĩ ngợi một hồi, ông thở dài:

          –  Tội cho cô quá, nhưng cô không thể ở đây được.  Tôi sẽ đưa cô vào viện tế bần, ở đó họ nuôi cơm, và có chỗ trú cho hai mẹ con.

          –  Lậy ông đừng làm vậy, cháu chết mất.

          –  Sao thế? vì lẽ gì cô không muốn vào đó?  Cho dù viện tế bần chẳng phải là một nơi sung sướng, thoải mái, nhưng ít nhất cô cũng có cơm ăn, và không phải ở ngoài trời những đêm lạnh như thế này.

          –  Cháu còn chút tiền.  Trước khi theo đơn vị đi hành quân, Bình cho cháu một số tiền, và hẹn tết này về phép, sẽ lo cho mẹ con cháu.  Từ giờ đến tết cũng chỉ còn chưa tới một tháng nữa…

Thấy ông làm thinh, cô năn nỉ:

          –  Thưa ông!  Tiền anh ấy cho, cháu nhín nhút cũng còn lại chút ít, nhưng không đủ để mướn nhà.  Xin ông cho cháu ở tạm đây ban đêm thôi, ban ngày cháu sẽ làm bất cứ việc gì người ta mướn, để kiếm tiền nuôi con, trong khi chờ ba nó về.

          –  Nhưng ở đây lạnh lắm, cô và đứa bé sẽ bị ốm mất.
–  Đỡ hơn là ở ngoài trời, vì dù sao mẹ con cháu cũng có được cái mái che, và bốn bức vách, tuy thấp nhưng cũng chắn gió được phần nào, nếu nằm ngay xuống sàn.

Ông cau mày, hoàn cảnh cô gái này đáng thương quá, nhưng ông không thể làm sai nguyên tắc.  Buồn bã, ông lắc đầu:

          –  Không được đâu!   Đây không phải là chỗ trú cho những người vô gia cư.  Địa điểm này thuộc khu vực an ninh do tôi phụ trách, nếu có ai báo cáo có người ở lậu nơi đây, thì tôi sẽ bị khiển trách vì không làm tròn nhiệm vụ.

Cô ta oà lên khóc:

          –  Cháu không muốn ông bị rắc rối, nhưng quả thật cháu không biết phải làm thế nào…  Bình không biết là cha cháu mới chết, và cháu bị đuổi ra khỏi nhà.  Nếu cháu bị bắt vô viện tế bần thì anh ấy làm sao kiếm được cháu?  Bình hẹn khi về phép sẽ tới đây tìm mẹ con cháu, vì truớc kia tụi cháu vẫn hẹn hò ở chỗ này.  Ngày nào cháu cũng bồng con ra đây chờ…

Viên cảnh sát chợt thấy tim xao động, ông nhìn người mẹ trẻ đang ôm con đứng co ro trong gió lạnh, với vẻ thương cảm.  Ông bối rối không biết phải hành động như thế nào?  Bao nhiêu năm tận tụy trong nghề cảnh sát, ông được tiếng là một người có tinh thần trách nhiệm, làm việc đúng nguyên tắc.  Chưa bao giờ ông gặp một trường hợp khó xử như lần này.  Đúng lý ra thì ông phải đưa cô ta về bót, và chắc chắn cô ả sẽ bị tống vào viện tế bần, cùng chung với đủ mọi hạng người cặn bã của xã hội: những tên lưu manh, du thủ du thực, những gái điếm ăn sương, những tên ghiền ma tuý, lưu manh, bụi đời… Viện tế bần, tiếng là trạm cứu tế, nhưng thật sự chỉ là một trại giam lỏng, điều kiện sinh sống rất tồi tệ, luật lệ lại khắt khe, nên chẳng ai muốn vào cả.  Những người vô gia cư vẫn thích ở bên ngoài, cho dù có bị đói khát.  Đưa cô gái này về bót, thì ông không nỡ, nhưng nếu làm ngơ cho cô ta ở trong cái chòi này, là bất hợp pháp.

Ông thừ người suy nghĩ, giữa lương tâm và chức nghiệp, ông không biết phải nghe theo bên nào.  Cô gái này có vẻ lương thiện và ngây thơ rất đáng thương, cô ta chỉ có một hoài bão nhỏ là đợi người tình về, anh ta sẽ có kế hoạch để lo cho mẹ con cô.  Một mối tình nghèo thật cảm động, và những lời van xin của cô làm ông mủi lòng, nên ông cứ đứng đó mà suy nghĩ, đắn đo cân nhắc mãi.  Sau cùng lòng trắc ẩn đã thắng, ông nghĩ thầm cũng chỉ còn hơn ba tuần nữa, thôi thì hãy cho cô ta một cơ hội, biết đâu…  Còn việc làm sai nguyên tắc, ta sẽ giải thích với cấp trên sau.  Đứng thẳng người lên, ông nói:

          –   Thôi được, tôi sẽ lờ đi cho cô.  Cô có thể ở đây cho tới hết ngày mùng 3 Tết.  Đó là tất cả những gì tôi có thể giúp cô trong quyền hạn của tôi.  Sau đó, tôi sẽ không nhân nhượng với cô nữa.

          –   Cháu cũng chỉ xin có thế, cám ơn ông ngàn lần.

Vừa nói, cô ta vừa quì xuống, chắp tay lạy như tế sao.  Ông bất nhẫn quay đi, nói:
–   Đứng lên đi! đừng làm thế.   Cô có thể ở tạm lúc ban đêm, nhưng ban ngày cô phải rời khỏi đây trước khi trời sáng, kẻo mọi người qua lại sẽ thấy.

          –  Dạ! cháu hứa sẽ ra đi thật sớm, cháu cũng giữ sạch sẽ, không xả rác và không để lại dấu vết gì, ông yên tâm.

          –  Thôi bây giờ hai mẹ con lên chòi, đi nghỉ đi!

Nghĩ ngợi làm sao, ông cởi cái khăn len trên cổ, đưa cho cô ta:

          –  Ở đây gió máy, cô hãy dùng tạm cái khăn quàng của tôi quấn cho cháu bé, đừng để nó bị lạnh.

Rồi ông ra xe, lái tới một khách sạn đang xây cất ở gần đó.  Đi vòng ra phía sau, chỗ người ta để những vật liệu phế thải, ông tìm được mấy miếng giấy cạc tông lớn.  Quay trở lại cái chòi, ông đưa cho cô gái:
–  Cô lấy mấy tấm bìa cứng này, che lên chỗ trống để chắn gió.  Nhớ dẹp đi khi trời sáng, đừng để người ta thấy.

Đứa bé bỗng ré lên khóc làm ông giật mình, nghĩ ngợi một lúc, ông lục trong túi áo, lấy hết số tiền lẻ đưa cho cô ta:

          –  Cầm đi, mai mua sữa cho đứa nhỏ, đừng để nó đói tội nghiệp.
Nói xong, không cần nghe cô ta cám ơn, ông bỏ đi, lòng nửa vui, nửa buồn nhưng nhẹ nhàng thanh thản vô cùng.  Từ đó, mỗi khi đi tuần ở khu vực này lúc ban đêm, ông vẫn nhìn thấy bóng hai mẹ con người đàn bà khốn khổ nọ trong cái chòi bỏ hoang.

* * *

Ba ngày sau Tết nguyên đán, viên cảnh sát được nghỉ phép, ông đưa cả gia đình về quê vợ ở Bạc Liêu, ở chơi vài tuần.  Khi trở lại, ông không thấy hai mẹ con họ đâu nữa, căn chòi bỏ trống, mọi vật vẫn y như cũ.  Cô ta đã giữ lời hứa, ra đi không một lời từ giã.  Ông băn khoăn không biết số phận hai mẹ con họ ra sao? trôi nổi về đâu?  Ông bồi hồi thương cảm một lúc rồi quay bước, ông phải tiếp tục nhiệm vụ.

Thời gian qua, mọi việc chìm vào quên lãng, cho tới hơn ba tháng sau, ông nhận được một bức thư gởi về ty cảnh sát Vũng Tàu, một bức thư rất đặc biệt, không có tên người nhận, ngoài phong bì chỉ đề có dòng chữ “Gởi người cảnh sát tuần tiễu khu bãi sau, trong khoảng thời gian trước Tết.” Thơ gởi về ty cảnh sát Vũng Tàu, địa chỉ và tên người nhận đều mơ hồ như vậy, mà cũng tới tay ông.  Tò mò, ông mở phong bì, một lá thơ rơi ra:

          “Trại gia binh Long Bình ngày..tháng.. năm 1969

Thưa ông cảnh sát

Cháu rất ân hận đã sơ ý không hỏi để biết tên ông, ân nhân của gia đình cháu.  Chắc ông còn nhớ người thiếu phụ trẻ với đứa con nhỏ ông gặp trong cái chòi hoang ở bãi sau Vũng Tàu, cách đây vài tháng?  Chính là cháu đó,  nhờ lòng nhân của ông, mẹ con cháu đã sống sót qua mùa đông.  Chồng cháu đã về kịp lúc để lo cho mẹ con cháu.  Anh Bình đã xin được một căn nhà ở trong trại gia binh, và đón mẹ con cháu về.  Căn nhà tuy nhỏ, nhưng rất ấm cúng.

Trước khi rời khỏi nơi đây, vợ chồng cháu có đi tìm ông để từ giã, nhưng không được gặp.  Cầu mong thư này sẽ tới được tay ông, để ông được biết một tin vui về hai mẹ con cháu.  Anh Bình và cháu mới làm hôn thú, và khai sanh cho đứa nhỏ.  Bây giờ cuộc sống của vợ chồng cháu đã tạm thời ổn định, Bình có lương hạ sĩ, được thêm tiền trợ cấp vợ con, còn cháu buôn bán lặt vặt phụ thêm, nên cũng đủ sống.  Gia đình cháu có được ngày nay, một phần cũng là nhờ ông đã cho cháu một cơ hội.

Cháu rất mong được gặp lại ông, một người cảnh sát rất nhân từ, tốt bụng.  Khi nào có dịp đi ngang qua trại gia binh ở dưới chân đồi Long Bình, cách Biên Hoà chừng một cây số, xin mời ông ghé chơi, nhà chúng cháu ở dãy H, nhà số 32.  Vợ chồng cháu mong được nói vớ ông một lời tri ân.  Cầu xin Phật trời phù hộ cho ông và gia đình ông được mọi điều tốt lành.

Kính thư

Nguyễn Thị Nhiên và chồng là Đỗ An Bình”

Đọc xong lá thư, viên cảnh sát mỉm cười cảm động, không ngờ một hành vi nhân đạo nhỏ nhoi, không đáng gì lại có thể cứu vãn cuộc tình của hai người trẻ tuổi đáng thương.  Ông nhủ thầm, bây giờ ta có thể yên tâm về họ, nhưng còn ta, danh dự của một người cảnh sát không cho phép ta nói dối, không thể cứ dấu nhẹm mãi chuyện này.  Bổn phận của ta là phải báo cáo hết sự thật, rồi tới đâu thì tới, cho dù có bị khiển trách hay bị hình phạt nào chăng nữa, ta vẫn không buồn vì đã làm được một việc đúng với lương tâm.  Nghĩ vậy, ông mạnh dạn cầm lá thư tới sở cảnh sát, xin gặp ông trưởng phòng.

Chậm rãi ông kể lại hết sự việc, nghe xong, viên cảnh sát trưởng tên Hoà cười ha hả, vỗ vai ông mà rằng:

          –  Nếu cậu cứ lờ đi không nói thì cũng chẳng ai biết, nhưng mà chính cậu đã tự ý khai ra… Hà hà! cũng tốt thôi, nhưng pháp bất vị thân, mặc dù cậu là bạn tôi, nhưng đã biết cậu vi phạm nội qui, thì tôi không thể không phạt cậu.  Lẽ ra, vì tinh thần tự giác, có thể cậu sẽ được hưởng trường hợp giảm khinh nếu báo cáo sớm, đàng này để tới bây giờ, gạo đã nấu thành cơm rồi mới chịu thú thiệt, trễ quá…

Ông ngưng lại để suy nghĩ, đắn đo cân nhắc một hồi, rồi mới nói tiếp:

          –  Tôi phạt cậu phải gác đêm hai tuần liền, bắt đầu từ thứ hai tới, thay thế cho một viên cảnh sát được nghỉ phép vì vợ đẻ.  Thế nào? có kêu ca oan ức gì không?

Ông lắc đầu, cười ngượng nghịu:

          –  Nếu đem lên bàn cân, thì hai tuần lễ phạt chắc chắn sẽ nhẹ hơn cái lá thư này nhiều.

          –  Tôi cũng nghĩ thế.

Cả hai cùng cười xoà, họ bắt tay nhau từ giã.  Rời khỏi văn phòng, ông bước những bước nhẹ tênh trên hè phố.  Ông phóng tầm mắt nhìn ra xa xa, cảnh vật hôm nay sao đẹp quá, chim chóc ca hót ríu rít, gió xôn xao và hoa cỏ dường như xanh tươi hơn mọi ngày.  Mùa xuân đã về trên khắp nơi, thành phố biển dường như sinh động hẳn lên với những tiếng sóng rạt rào từ ngoài khơi xô vào bờ tung bọt trắng xoá, tiếng sóng nghe như tiếng reo vui, hay lòng ông đang vui?  Ông nghĩ về đôi vợ chồng trẻ nọ, về cái gia đình nhỏ bé của họ và mỉm cười, thấy lòng ấm áp lạ thường.

PHƯƠNG  LAN

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ

Cheyrea Hà Nguyễn, Cô Gái Việt nói về Black Lives Matter

Cô gái Việt nói về Black Lives Matter

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ

Bạn Đòi Gì Nữa Ở Đất Nước Hoa Kỳ ??_Mã Phương Liễu

LGT: Tác giả bài viết là Cô Mã Phương Liễu, một người trẻ, con của cố Đại Tá Mã Sanh Nhơn, đã nêu rõ về lập trường của người Việt Nam Cộng Hòa tự do chống Cộng và chống kẻ phá hoại Nước Mỹ. Hoan hô một hậu duệ của VNCH.
 
Bạn Đòi Gì Nữa Ở Đất Nước Hoa Kỳ ??

Bạn trốn chạy cộng sản để tìm tự do cho chính bản thân và gia đình của bạn. Ngày hôm nay bạn đã có tất cả. Bạn nghĩ bạn bám lấy nước Mỹ để giúp nước Mỹ vĩ đại hơn à, hay bạn bám nơi đây để sử dụng Tu Chánh Án số 1 để bôi nhọ nước Mỹ?.

Tôi nói thật với bạn một điều là cho dù bạn có ở đây thêm 45 năm nữa thì bạn cũng chưa đạt tầm của những người bản xứ nếu bạn như những con cừu dễ bị xỏ mũi bởi mấy đài thổ tả CNN. Bạn còn nhỏ bé lắm trong một xã hội văn minh. Bạn còn kém cỏi lắm trong một đất nước quyền lực.

Bạn suy ngẫm đi. Người da trắng để con cái kết hôn với người da đen. Còn bạn có khuyến khích con bạn date với người da đen để xoa dịu màu da của họ không? Hay bạn xách giò lên cổ khóc lóc kể công để con bạn phải ráng theo sự lựa chọn của bạn. Bạn là những người kì thị mà bạn chưa nhìn thấy đấy thôi. Tư duy của bạn chưa mở rộng như người da trắng đâu. Còn lâu lắm bạn ạ.

Quay lại BLM

Tại sao giới trẻ ủng hộ BLM?

Những đứa trẻ độ tuổi 19, 20 làm sao hiểu được sự dối trá của chính trị. Chúng như những tờ giấy trắng chưa bẩn mực và chúng cũng chưa đi một hành trình dài như chúng ta. Chúng đang bị chiêu dụ bởi hai từ “nhân đạo”. Chúng được tiêm nhiễm bởi nền giáo dục “chờ sung rụng” rao giảng trong nhiều lớp học. Tôi từng bị như thế trong thời gian dài khi nghĩ rằng nước Mỹ “miễn phí”.

Bạn có biết???

Ai đã giữ ông Obama ở lại Toà Bạch Ốc 2 nhiệm kỳ nếu không phải người da trắng. Ai đã xem chương trình của bà Oprah để bà dễ dàng trở thành tỷ phú nếu phần lớn khán giả không phải người da trắng. Ai đã xem football để những anh chàng cầu thủ da đen trở thành triệu phú. Người Mỹ luôn trọng người tài dù người đó màu da gì thì đó không phải kỳ thị màu da. Nếu họ kỳ thị bạn nghĩa là bạn phải coi lại cách ăn ở trước khi nhìn màu da của mình.

Tại sao mùa bầu cử năm nay bạo động hơn nhiều đời tổng thống khác?

Ông Trump là một tỷ phú. Ông ra tranh cử khi ông thấy đất nước đang cần ông chứ không phải ông tranh cử để trở thành tỷ phú. Điều đó nói lên sự khác biệt giữa cựu TT Obama và TT Trump.

Ông vì nước Mỹ thì chúng ta cũng vì ông. Đừng để Đảng Dân Chủ và Trung Cộng tiếp tay chia rẻ đất nước của chúng ta bởi cụm tự BLM biến chất.

Ông đang dẹp những thành phần lobby và vạch mặt từng người phản bội lại đất nước và đó là nguyên nhân Đảng Dân Chủ làm ngơ trước những bạo động. Hành động ngụy quân tử trơ trẽn gần đây nhất là ông thị trưởng NY đã ủng hộ sơn BLM màu vàng trước Trump Town. Một sự xu nịnh hèn hạ mà tôi thấy ở một người giữ chức vụ này.

Nước Mỹ đã đi qua 244 năm và chính trị Mỹ luôn được thế giới quan tâm vì chính trị Mỹ ảnh hưởng trực tiếp đến toàn thế giới. Nếu bạn không hài lòng với đất nước này bạn có quyền dọn đi nơi khác như lời TT Trump từng nói. Bạn đừng ở đây lên án ăn tàn phá hại khi kiến thức của bạn còn quá hạn hẹp.

Tôi cũng có đôi lời gởi đến người da đen.

Hành trình đấu tranh của các bạn đã đạt American Dream rồi. Các bạn đừng quá khích bởi những tên đang kiếm phiếu. Họ đang lợi dụng màu da của các bạn để đổi lấy chức vụ và tiền bạc chứ họ là những kẻ đang tiếp tay phân biệt chủng tộc và chia rẽ nước Mỹ.

Nếu các bạn để họ dẫn dắt thì chính các bạn phải trả giá cho hành động này. Các bạn đừng để người khác mỗi lần nhìn các bạn lại nghĩ đến “BLM” vì tất cả chúng ta là công dân Hoa Kỳ xứng đáng được hưởng quyền bình đẳng như nhau.

Túi của Đảng DC đang bị rách và họ mượn tay của các bạn vá nó lại nên các bạn cần sáng suốt bầu cho người mang lại công việc làm cho các bạn và giữ nước Mỹ Vĩ Đại.

MaPhuongLieu

Kính Chúc Bình An.(Trích từ FB Nga Bích Phạm)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ

Tâm sự của bạn Lê Hữu Nghĩa với RadioVNHN

Anh Dương Thượng Trúc ơi ,
Quả thật là tui vừa rất bất ngờ , vừa vui và cũng vừa ngại khi biết anh cho phát thanh giới thiệu mấy bài hát của tui trên RADIOVNHN.com

Bất ngờ vì hổng ngờ được anh và các bạn cộng sự giới thiệu LHN trong một chương trình phát thanh riêng của VABC .

Rất vui vì anh đã chấp cánh cho các bài hát được bay xa thêm , đến với nhiều người hơn trên khắp mọi nơi .

Rất ngại vì anh và các bạn đã giới thiệu LHN là một “nhà thơ , nhạc sĩ” . Nghe hết hồn luôn ! Nếu biết trước thì tui sẽ yêu cầu giới thiệu là “tác giả” thôi . Vì thực tế tui tuy là người thích viết nhạc nhưng hổng phải là nhạc sĩ ; thích làm thơ nhưng cũng hổng phải là nhà thơ .
Rất cám ơn tình cảm của anh và các bạn dành cho LHN .

Xin phép được giới thiệu VABC và phần phát thanh nầy với các bạn khác .

Thân chúc anh và các bạn cộng sự luôn vui khỏe , bình an để tiếp tục làm thêm các chương trình khác cho mọi người thưởng thức . Chúc VABC luôn đứng vững và phát triển .
Thân ,
LHN

Mời các bạn  nghe nhạc của LHN

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
%d bloggers like this: