HERO hay ZERO?_Nguyen Hong Lam

Hero or Zero?

BM

Ngày này cách đây 60 năm, một nhát kiếm samurai vung lên làm thay đổi hoàn toàn lịch sử nước Nhật.

Ngày 12/10/1960, nghị sĩ Inejiro Asanuma, người được xem như Thủ tướng Nhật Bản tương lai, tổ chức diễn thuyết tại Tokyo.

Đầu thập niên 60 thế kỷ trước, “làn sóng Đỏ” (chủ nghĩa xã hội) lan rộng khắp châu Á do được giới bình dân ủng hộ. Người Mỹ phải đổ rất nhiều tiền của và nhân lực vào miền Nam Việt Nam không ngoài mục đích tạo một tiền đồn (chốt chặn) chống lại sự lan tràn của làn sóng này (Hoa Kỳ chẳng bao giờ làm gì mà không có mục đích).

Chính quyền các nước Đông Nam Á như Thailand, Indonesia, Malaysia, Phillippines… phải trấn áp rất mạnh tay mới chấm dứt được hoạt động của đảng cộng sản tại các nước này (nếu không thì Việt Nam ta hiện nay đã có vài đồng minh cứng ở ASEAN rồi).

Tình thế ở Nhật Bản lúc đó không khác. Đảng Xã hội chủ nghĩa với thủ lĩnh Inejiro Asanuma sẽ lên nắm quyền nếu thành công trong cuộc bầu cử quốc hội cuối năm 1960.

Chủ tịch Đảng XHCN Nhật Asanuma là ngôi sao sáng trên chính trường Nhật lúc đó. Xuất thân là một nhà hùng biện, ông này mê hoặc cử tri Nhật Bản bằng những bài diễn thuyết hùng hồn được Đảng (tôi viết hoa từ này) tổ chức khắp đất nước. Thắng lợi của Đảng là điều được dự báo trước qua các cuộc thăm dò ý kiến tổ chức hai tháng trước ngày bầu cử. Điều đó đồng nghĩa với việc Asanuma ngồi vào ghế Thủ tướng, đất nước Nhật sẽ tiến nhanh, tiến mạnh theo con đường CNXH.

Trở lại buổi diễn thuyết ngày 12/10/1960.

BM
BM

Khi Asanuma chuẩn bị phát biểu thì Otoya Yamaguchi lao lên sân khấu, vung một cây yoroidoshi (một loại đoản kiếm của Samurai) đâm lút cán vào sườn Thủ tướng tương lai. Nhát kiếm quyết định này được Đài truyền hình NHK ghi lại và hiện rất phổ biến trên Youtube.

BM

Asanuma chết ngay sau đó. Cùng chết theo ông là giấc mơ lãnh đạo nước Nhật của Đảng XHCN (họ thất bại nặng nề trong cuộc bầu cử sau đó).

BM
Otoya Yamaguchi

Ba tuần sau sự kiện trên, trong nhà giam Hibya, chàng trai 17 tuổi Otoya Yamaguchi dùng kem đánh răng viết lên tường phòng giam: “Bảy lần sống chết vì Tổ quốc, Thiên hoàng Bệ hạ vạn tuế”, rồi xé ra giường treo cổ tự sát.

Cho đến ngày hôm nay, nhát kiếm của Otoya vẫn còn gây nhiều tranh cãi trong lòng nước Nhật. Người thì cho anh là người anh hùng cứu cả đất nước (Hero), kẻ lại gọi anh là tên sát nhân với kiếm pháp kinh hồn (Zero).

BM

PS: xin đừng gọi tôi là “phản động” hay “Việt Tân” khi viết bài này. Tôi chỉ kể lại một câu chuyện có thật trong lịch sử, mà tôi đoán chắc 90% số người đọc bài chưa từng nghe đến. Việc phán xét Otoya Yamaguchi là quyền của bạn. Còn tôi, mỗi lần đi ngang tuyến cao tốc Cát Linh – Hà Đông ngổn ngang như một đống rác, tôi lại lẩm nhẩm niệm vài thời kinh Giải oan cho người anh hùng trẻ tuổi Otoya Yamaguchi.

Anh hãy lắng lòng nghe kinh mà siêu thoát.

Nguyen Hong Lam

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ

KHỎE VÌ NƯỚC – TINH HOA NƯỚC VIỆT 2019

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ

Biên Giới Mong Manh Tác giả: Nguyễn Văn Tới

Tác giả từng nhận giải Danh Dự Viết Về Nước Mỹ 2018. Là một cựu tù cải tạo vượt ngục và là người lái tầu vượt biển. Định cư tại Mỹ từ 1990, hiện làm việc theo một hợp đồng dân sự với quân đội Mỹ, từng tình nguyện tới chiến trường Trung Đông và Châu Phi. Người thuyền nhân trại Pallawan 30 năm trước, nay là một công dân Mỹ trở lại Philippinnes, giúp mảnh đất ơn nghĩa năm xưa chống khủng bố. Sau đây, thêm bài viết mới nhất.

Khi nói về biên giới, ai cũng nghĩ đến lằn ranh chia đôi giữa nước này với nước kia, mà ít ai nghĩ đến cái biên giới giữa cái sống và cái chết, giữa sự tự do và tù tội, giữa thời gian và không gian, và còn rất nhiều những biên giới khác nhau hữu hình và vô hình. Có những biên giới mà tôi đã đi qua rất dễ dàng khi du lịch hay đi công tác qua các lục địa khác nhau. Lại có những biên giới khi vượt qua đã để lại trong tôi những khắc khoải, thổn thức sâu đậm, không dễ gì quên và nó cứ sống lại mỗi khi tôi nghe, thấy, hoặc đọc được trên tin tức hay truyền hình hằng ngày.

Thập niên 80 ở Việt Nam, biên giới của Sống hay Chết và của Tự Do hay Tù Tội là những chuyến vượt biên đường biển âm thầm mà dữ dội với những tin vui lẫn tin chết chóc bay về các gia đình còn ở trong nước. Cũng cái biên giới mong manh đó, ngày nay đang lập lại ở phía Nam nước Mỹ, đang nóng lên từng ngày nơi bức tường ngăn cách mà những di dân Nam Mỹ đang kiếm đường vượt qua để đi về phía Bắc mà họ gọi là El Norte hay Đường về phương Bắc (The North). 

Mới đây, vào cuối tháng 6 năm 2019 một thảm kịch đau lòng xảy ra tại tại con sông Rio Grande (nghĩa là  Sông Lớn) đã làm bàng hoàng người dân hai bên bờ đất nước. Con sông ranh giới giữa 2 nước Mễ và Mỹ, gần thị trấn Brownsville, tiểu bang Texas. Hình ảnh xác hai cha con nằm úp mặt xuống nước, bé gái được kẹp bên trong lưng áo thun bố, cánh tay của đứa bé chưa đầy 2 tuổi này vẫn quàng qua cổ cha như cố bám vào sự che chở cuối cùng. Bức hình đã làm rung động sâu sắc và chạm đến từng con tim của nhân loại khiến người ta phải đặt lại vấn đề lương tâm và lòng nhân đạo của con người (1).

Con sông này bắt nguồn từ tiểu bang Colorado, từ trên dãy núi Rocky Mountains, chảy ngang qua tiểu bang New Mexico, xuôi Nam xuống đến tiểu bang Texas, rồi đổ ra vùng biển Gulf of Mexico. Tổng cộng chiều dài khoảng 1900 miles. Được coi là ranh giới tự nhiên giữa Mỹ và Mễ Tây Cơ, giòng sông này nước chảy xiết, lòng sông rộng, những khúc hẹp nhất (khoảng 100-150 ft.) được những “coyote”, người đưa lậu dân vượt biên, dùng thuyền nhỏ đưa người qua sông, hoặc những người trẻ, khỏe mạnh, thường tự mình bơi qua để vào nước Mỹ. Ca nô của lực lượng biên phòng Mỹ thường xuyên đi tuần nhưng cũng không thể kiểm soát được hết mọi nơi.

Hơn ai hết, vì từng là người tỵ nạn, tôi xúc động đến bàng hoàng. Tôi nhìn thấy trong bức hình đó cái biên giới mong manh giữa cái sống và cái chết của con người. Không biết người cha trẻ từ El Salvador này nghĩ gì khi chỉ còn vài sải tay nữa, anh và con gái sẽ chạm được bến bờ tự do ở bên kia sông, trước khi đuối sức bị giòng nước cuốn đi. Con sông là một biên giới giữa tương lai đầy hứa hẹn và quá khứ nghèo khổ, bạo lực mà cha con anh bỏ lại sau lưng.

Tôi như nghe và thấy hình ảnh người cha trẻ đang ngụp lặn, tuyệt vọng chiến đấu với giòng nước chảy xiết, dùng hết sức bình sinh, nhét con mình vào bên trong lưng áo dặn dò phải bám chặt cổ cha, đừng buông tay nghe con. Con chào đời trong nhọc nhằn nước mắt yêu thương của cha mẹ, cha sẽ đưa con đến bến bờ bình yên. Dù giòng đời, giòng nước nổi trôi, dù thân phận con người bấp bênh, cha vẫn luôn là chỗ dựa để con nương vào, cùng cha đi đến cuối cuộc đời, con nhé.

 Đoạn cuối của cuộc hành trình, hai cha con người di dân mãi mãi vẫn không đến được bến bờ bên kia, người ta tìm thấy thi thể của họ dật dờ ở bên này biên giới, cạnh đám lau sậy thưa thớt ven bờ sông. Theo lời kể của người vợ, anh đã đưa con gái an toàn qua bên kia bờ, định trở lại để tiếp tục đưa vợ qua; đứa bé gái, vì sợ hãi tưởng bị cha bỏ, chạy trở lại xuống sông rồi bị nước cuốn đi. Anh vội lao theo để cứu con. Thế là cả một giấc mơ chưa trọn đã bị giòng nước cuốn trôi, đem theo cả cái biên giới mong manh gia đình anh tưởng sắp sửa chạm tới.

Vẫn trong tôi chưa phai, ngày chiếc tàu Berge Helene, một tàu chở bột mì của Na-Uy đang trên đường đến Saudi Arabia, sau khi ra tay cứu vớt, họ đã đưa chúng tôi vào hải cảng Singapore. Chính phủ nước này từ chối không cho chúng tôi lên bờ dù con tàu được phép cặp bến. Họ thông báo trại tỵ nạn đã đóng cửa, rồi gởi đến một toán cảnh sát biên phòng với súng lăm lăm trên tay, mắt lúc nào cũng nhìn về chiếc tàu để chắc chắn rằng không ai trong chúng tôi có thể tìm cách đặt chân lên đất nước họ. 

Khi ánh nắng chiều nhạt dần, không khí mát dịu lại, cả tàu chúng tôi đổ ra boong nhìn xuống cảng Singapore đèn đuốc sáng rực, xe cộ qua lại như mắc cửi, với cặp mắt thèm thuồng cái tự do vô cùng bình thường ấy. Biên giới ngay trước mặt mà hình như rất xa, chỉ vài mươi thước mà chúng tôi không thể nào đặt chân lên được. Những con người của thế giới tự do dưới kia, họ vẫn vô tư, từng đôi nắm tay nhau đi dạo trên bến cảng. Vài em bé vẫn hồn nhiên chạy đùa trong công viên bên kia đường. 

Cả đêm, tôi và những người bạn cùng ghe, ngồi trên boong tầu với điếu thuốc cháy đỏ trên môi, mắt nhìn xuống đường phố mà như không thấy gì, với một tâm trạng ngổn ngang tơi bời. Năm đó (1989) các trại tỵ nạn Đông Nam Á đã và đang đóng cửa mà chúng tôi không biết, vẫn còn bám víu vào lòng nhân đạo của thế giới đối với thuyền nhân tỵ nạn. Số phận 48 người chúng tôi đang nằm trong tay chính phủ Singapore, như tử tù dưới tay ông quan tòa, sống chết do họ quyết định. 

Chỉ khi bị cướp mất sự tự do, quyền được sống, chúng tôi mới biết trân quý tất cả những gì mình vừa đánh mất. Để trốn chạy bạo quyền, chúng tôi liều chết ra đi, vượt bao hải lý, đến được một đất nước dân chủ, hít thở không khí tự do chung với họ mà vẫn không được quyền bước vào. Cái giá của tự do thật không dễ dàng chút nào! Chúng tôi thẫn thờ, bất lực nhìn cái biên giới bi hài của chính chúng tôi, một nhóm người vừa bỏ nước ra đi, sẽ lang thang lưu đày trong sự im lặng nhẫn tâm của loài người. 

Sáng hôm sau, một phái đoàn gồm nhiều người ăn mặc rất đẹp bước lên tàu, họ đại diện cho cao ủy liên hiệp quốc về người tỵ nạn, lên tàu vấn an và đem một số tặng phẩm đến cho chúng tôi, đặc biệt cho trẻ em và phụ nữ. Trong đoàn có 2 người thông dịch viên Việt Nam, một nam và một nữ. Đầy vẻ tự tin, da dẻ hồng hào, không còn gì sót lại của một thuyền nhân tỵ nạn, họ cho biết họ cũng là người vượt biển Việt Nam trong trại tỵ nạn Singapore, đang chờ ngày lên đường định cư ở nước thứ ba.  

Cả hai đều ăn mặc rất đẹp, hợp thời, và thơm phức “mùi” văn minh, mùi của sự tự do so với những khuôn mặt ngơ ngác, khắc khổ, và những bồ quần áo nhăn nhúm trên cơ thể hôi hám của chúng tôi. Họ đứng đó cười nói với chúng tôi mà sao nghe xa lạ quá. Họ như đến từ một thế giới khác. Cùng tiếng nói, cùng dân tộc mà như bị ngăn cách bởi một bức tường vô hình, mong manh nhưng không chạm tới được, một biên giới mà mới đây không lâu, họ vừa vượt qua một mốc thời gian “trước khi đóng cửa”, và chúng tôi “sau khi đóng cửa”. Họ đã lột xác khi bước qua ngưỡng cửa của thế giới tự do, trong khi chúng tôi vẫn còn lay hoay trong biên giới của lưu đày, và lạc hậu. 

Khi biết không thể nào thuyết phục được chính phủ Singapore, thuyền trưởng tàu Na-Uy liên lạc với chính phủ của ông ta, xin đất nước Bắc  u này hãy đón nhận chúng tôi. Đồng thời ông cũng xin Singapore cho chúng tôi tạm dung, công ty của ông sẽ trả tiền cho thời gian chúng tôi ở trại tỵ nạn, sau đó sẽ đón chúng tôi đến đất nước Na-Uy.

Tàu phải chờ thêm 1 ngày nữa để đợi quyết định chính thức của hai quốc gia về số phận của chúng tôi. Cuối cùng, giờ “phán xét” lên thiên đàng hay xuống địa ngục cũng đến, chính phủ của cả hai nước không muốn nhận thêm người tỵ nạn. Lòng nhân đạo của con người đã cạn và trái tim của họ đã đóng cửa. Chúng tôi phải rời Singapore ngay chiều nay, tiếp tục trở ra biển khơi.

Để lại sau lưng ánh đèn rực rỡ của hải cảng Singapore mà lòng nặng trĩu âu lo, chúng tôi nhìn ra mênh mông phía biển, trời tối đen, mịt mù như tương lai của chúng tôi ở phía trước. Tàu chạy một hồi lâu, ông thuyền trưởng xuất hiện với một nụ cười tươi tắn rất khác với khuôn mặt lo âu hai hôm nay, ông thông báo “có tin vui trong giờ tuyệt vọng”, trại tỵ nạn Philippines còn mở cửa. 

Tin vui như những giọt nước Cam Lồ tưới lên những đôi môi rạn nứt, khô cằn. Ông đã mang lại cho chúng tôi một sự hồi sinh và cả một trời hy vọng mà chúng tôi tưởng không còn nữa. Ông cho biết vừa liên lạc và mướn được một chiếc tàu hàng Pháp để chở chúng tôi đến thẳng Philippines, còn tàu của ông phải tiếp tục cuộc hành trình để không bị trễ hẹn thêm với khách hàng. 

Nửa đêm hôm đó, hai tàu cặp vào nhau ở một điểm “Rendez-vous” giữa biển khơi. Trời đổ mưa và sóng khá to, nên chúng tôi được chuyển qua tàu bên kia thật là vất vả. Nhiều người lại ói mửa đến mật xanh vì tàu Pháp là một tàu chở hàng rất nhỏ so với chiếc tàu chở bột mì khổng lồ của Na-Uy. Chúng tôi nằm la liệt trong khoang chứa hàng, và hơn 1 ngày sau, tàu cặp bến Puerto Princesa, Philippines. 

Chúng tôi vui mừng chưa được bao lâu thì 10 ngày sau đó chính phủ Philippines cũng tuyên bố chính thức đóng cửa trại tỵ nạn PFAC. Lần này cái lằn ranh thời gian, lại một lần nữa lại giăng lên ngăn chia những đồng bào của tôi, những người đến trại sau ngày đóng cửa. Họ bị cách ly trong một hàng rào kẽm gai để chờ làm giấy tờ phân loại PA (Philippines Asylum) và PS (Philippines Screening). 

Những người tỵ nạn khốn khổ, trong đó có những người anh, người chị, người em, cha mẹ, vợ chồng, và con cái, khi nhận ra gia đình mình đang ở ngoài hàng rào cách ly, chỉ biết hoang mang, ngơ ngác nhìn nhau với những cặp mắt đỏ hoe, ngấn lệ. Có những người yêu nhau trước ở Việt Nam, mà người đi trước, kẻ đi sau, cũng chỉ ngậm ngùi tìm tay nhau qua hàng rào kẽm gai. Cái biên giới không gian rất gần, bàn tay nắm được bàn tay, nhìn thấy nhau mà cái biên giới thời gian sao mà cách xa nhau diệu vợi. Giữa hai người bây giờ là một lằn ranh vô hình của việc thanh lọc những người không may mang số PS. 

Chúng tôi thực sự biết ơn và suốt đời ghi tạc tấm lòng của vị thuyền trưởng người Na-Uy đã vì những người tỵ nạn chúng tôi, những người xa lạ, không cùng chủng tộc, ngôn ngữ; ông đã đưa cánh tay ra cứu vớt chúng tôi, trong khi những người cùng tiếng nói, màu da, mang tiếng là đồng bào đã ra tay tận diệt người dân của họ, đẩy chúng tôi đi tìm cái chết ngoài biển khơi. 

Sau này, nhờ internet, rồi qua tòa đại sứ Na-Uy ở Washington DC, tôi liên lạc được với ông. Lần đầu gọi phone cho ông, giọng xúc động, tôi chỉ nói được hai chữ cám ơn ông mãi mãi và mãi mãi. Tôi có hỏi hai ngày đậu ở cảng Singapore, chắc ông và công ty thiệt hại số tiền đến khoảng trên dưới $200,000.00 phải không? Ông chỉ nhỏ nhẹ khuyên tôi đừng bận tâm hay lo lắng, vì mọi chuyện đã là dĩ vãng, hãy tập trung cho tương lai. 

Vâng, chúng tôi đã và vẫn đang tập trung cho tương lai của chúng tôi và các thế hệ con cháu chúng tôi bằng cách làm việc chăm chỉ, hòa nhập vào đời sống ở đất nước tươi đẹp này. Chúng tôi phá vỡ được những biên giới ngăn cách về khác biệt văn hóa và thành kiến chủng tộc để có được một cuộc sống tốt hơn nơi quê hương thứ hai này.

Chúng tôi tin vào nước Mỹ vì chúng tôi có những ước mơ cháy bỏng và vì chúng tôi có cơ hội để biến những ước mơ đó thành sự thật. Vì thế chúng tôi có cái nhìn bao dung, luôn trân trọng ước mơ của tất cả những người di dân khác, những người bị chà đạp bởi độc tài, bạo lực, không có cơ hội sống một đời đúng nghĩa. Nhà thơ nổi tiếng Khalil Gibran, người Lebanese, đã viết: “Cuộc sống không có tự do là một thể xác không có tâm hồn”.

 Life without Liberty is like a body without a Spirit.

Nước Mỹ trở nên vĩ đại và tuyệt vời là do sự kết hợp của nhiều sắc tộc di dân khác nhau làm nên một quốc gia cường thịnh ngày nay. Đừng quá tự hào cho rằng mình xứng đáng hơn những dân tộc khác vì mình phải vượt biển trên những con thuyền mong manh, đối diện với sóng to gió lớn, nhiều rủi ro hơn. Bất cứ di dân nào cũng là những con người khát vọng tự do, họ tìm kiếm một cơ hội đổi đời trên một vùng đất mới, một xứ sở an bình với ước mong sẽ không còn bạo lực và nghèo đói triền miên đe dọa lên gia đình họ. Họ đang cố vượt qua những cái biên giới mong manh đó, những biên giới tưởng gần mà hóa ra rất xa.

Tháng 7, 2019 viết từ Philippines.

Nguyễn Văn Tới

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ

Lễ Truy Điệu Cố Chuẩn Tướng CSQG Trang Sĩ Tấn

(Tường trình của K1 Lê Văn Thao/HT Hội CSQG Houston-TX): Ngày 20/10/19 tại tượng đài chiến sĩ Việt Mỹ Houston, lễ truy điệu cố chuẩn tướng Trang Sĩ Tấn 1937-2019 ( Nguyên chỉ huy trưởng CSQG/ VNCH thủ đô SG, sáng lập viên và cố vấn hội CSQG/Houston)do đài Apple TV ông Michael Hoà, ông Hồ Sắc tổ chức cùng nhiều hội đoàn quân, dân , cán , chính , hội CSQG/VNCH, quí vị lảnh đạo tôn giáo, dân cử, CĐ, ban hợp ca Hồn Việt, ATTN và đồng hương tham dứ đông đảo. Buổi lễ rất trang nghiêm, mọi người đều quí mến và thương tiếc ông.

This slideshow requires JavaScript.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ

CHINAZI_Trần Trung Đạo

CHINAZICHINAZI là gì?

Trên internet đang tràn ngập hình ảnh, biểu tượng ChinaZi. Chinazi một cách dễ hiểu là ghép hai chữ China và Nazi. Đây không phải là danh từ mới mà bắt nguồn từ tác phẩm ChinaZi của nhà văn Trung Quốc lưu vong Yu Jie xuất bản năm 2018 và đang được dùng một cách phổ biến trong cuộc nổi dậy tại Hong Kong hiện nay.

Việc tố cáo chế độ CS dưới thời Tập Cận Bình tương tự như Đức Quốc Xã Hitler cũng không phải chỉ phát xuất từ sự “nổi giận” của tuổi trẻ Hong Kong mà còn là nhận xét của nhiều lãnh đạo quốc gia, chính trị gia trên thế giới.

Thế giới còn khá nhiều nước độc tài như Bắc Hàn, CSVN, Cuba, Lào, Uzbekistan, Turkmenistan v.v.. nhưng chỉ có Trung Cộng là được đem ra so sánh với Đức Quốc Xã vì cả hai có nhiều đặc điểm giống nhau.

NHỮNG ĐẶC ĐIỂM GIỐNG NHAU CĂN BẢN GIỮA CHINAZI VÀ NAZI

Trung Cộng, Đặng Tiểu Bình và ngày nay Tập Cận Bình, giống như Hitler đều dùng yếu tố chủng tộc để khích động lòng yêu nước cực đoan; triệt để khai thác hận thù trong quá khứ giữa các quốc gia; tận dụng các kỹ thuật tuyên truyền tinh vi để tẩy não, đầu độc, vận dụng và điều khiển nhận thức người dân; chủ trương bành trướng, mở rộng biên giới để chiếm đoạt tài nguyên nhằm phục vụ cho các mục đích kinh tế và bá quyền nước lớn.

1) Yếu tố chủng tộc ưu việt

Giống như quan điểm của Hitler đề cao chủng tộc Aryan, Đặng Tiểu Bình và ngày nay Tập Cận Bình đề cao chủ nghĩa dân tộc cực đoan Đại Hán.

Edward Friedman, một chuyên viên về Trung Cộng tại đại học Wisconsin phát biểu “Khi Đặng Tiểu Bình nắm quyền 1977, chủ nghĩa dân tộc và tinh thần chống Nhật đã trở thành chất keo giữ chặt xã hội lại với nhau.”

Ngoài 1.2 tỉ người gốc Hán đang sống tại lục địa còn có 22 triệu người gốc Hán tại Đài Loan, 6 triệu người gốc Hán tại Hong Kong, 10 triệu người gốc Hán tại Nam Dương, gần 4 triệu người gốc Hán tại Singapore và hầu như khắp nơi trên thế giới nước nào cũng có người gốc Hán.

2) Khai thác hận thù trong quá khứ giữa các quốc gia.

Giống như chủ trương thù hận của Hitler khai thác nội dung hiệp ước Versailles trừng phạt nước Đúc sau đệ Nhất thế chiến, Đặng Tiểu Bình và ngày nay Tập Cận Bình đề cao chủ nghĩa dân tộc cực đoan bằng cách khích động lòng thù hận với các nước Tây phương qua các hiệp ước bất bình đẳng dưới thời nhà Thanh.

Các lãnh tụ CS Trung Quốc nhiều lần nhắc đến “100 năm sỉ nhục”, thời gian Trung Quốc bị các đế quốc khinh thường. Phần dẫn nhập của hiến pháp Trung Cộng 1982 nhấn mạnh đến những vết nhục trong thời gian bị nước ngoài chia năm, xẻ bảy và công lao thống nhất đất nước của đảng CS. Quá khứ “100 năm sỉ nhục” để lại dấu ấn sâu đậm trong nhận thức của người dân và được đảng CS khai thác tận tình. Bất cứ hành động nào trong quan hệ ngoại giao quốc tế, bất lợi cho Trung Cộng, câu chuyện “100 năm sỉ nhục” lại được nhắc đến.

Ngay cả việc chính phủ các nước tiếp đức Đạt Lai Lạt Ma, bán võ khí cho Đài Loan, chỉ trích chính sách ngăn chận Internet của Trung Cộng, cũng được bộ máy tuyên truyền CS giải thích cho nhân dân Trung Quốc đó là những hành động khơi dậy “100 năm sỉ nhục” và xúc phạm đến danh dự của Trung Quốc.

3) Tận dụng các kỹ thuật tuyên truyền để đầu độc nhân dân.

Giống như Hitler chủ trương “Một dân tộc, một quốc gia, một lãnh tụ”, bộ máy tuyên truyền của Trung Cộng lập đi lập lại rằng chỉ có đảng CS mới là cứu tinh để phục hồi Trung Quốc như một cường quốc vốn từng vang danh năm ngàn năm. Một trong những lý luận quan trọng là việc thay đổi khái niệm từ “trung thành với giai cấp” sang “trung thành với quốc gia” nhưng “trung thành với quốc gia” trước hết phải “trung thành với đảng Cộng Sản”.

Tại Trung Cộng không có báo chí đúng nghĩa để chuyển tải tin tức giữa hai nguồn một cách khách quan nhưng chỉ là phương tiện tuyên truyền độc quyền của đảng.

Không giống như giai đoạn đầu của chính sách đổi mới chỉ có vài tờ báo đảng, Trung Cộng hiện có trên hai ngàn tờ báo, chín ngàn tạp chí nhưng tất cả tập trung vào mỗi một mục tiêu là củng cố vai trò lãnh đạo của đảng CS.

Trang đầu của các báo gần như giống nhau với khuôn mặt tươi cười của các lãnh đạo đảng và nhà nước CS, với những thành tựu kinh tế chính trị.

Không có tờ báo nào có bộ phận tin quốc tế độc lập và tất cả đều trích từ bản tin thế giới tổng hợp hàng ngày của Tân Hoa Xã. Bản tin quan trọng quốc nội và quốc tế lúc 7 giờ tối của hệ thống truyền hình cũng đọc lại tin của Tân Hoa Xã.

Để tiết giảm chi phí, sau này nhà nước tư hữu hóa các đài truyền hình, tuy nhiên, các tin tức quan trọng ảnh hưởng đến chính sách đối nội và đối ngoại vẫn bị kiểm duyệt và chi phối bởi một cơ quan thông tin trực thuộc trung ương đảng CS.

4) Bành trướng, mở rộng biên giới để chiếm đoạt tài nguyên nhằm phục vụ cho các mục đích kinh tế và bá quyền nước lớn.

Đây là điểm quan trọng nhất vì không chỉ ảnh hưởng trong khu vực mà cả thế giới.

Giống như Hitler, Đặng Tiểu Bình và ngày nay Tập Cận Bình chủ trương chiếm các nguồn tài nguyên năng lượng để nuôi dưỡng bộ máy chiến tranh, mở rộng biên giới, độc chiếm tài nguyên để nuôi dưỡng sự phát triển kinh tế. Song song với phát triển kinh tế, Trung Cộng, nơi cư ngụ của một phần năm nhân loại, cũng chuyển mình từ một nền kinh tế tự túc xã hội chủ nghĩa để dần dần trở thành một xã hội tiêu thụ. Nhu cầu năng lượng, vì thế, trở nên bức thiết.

Tháng 8, 2018, Andrew Hastie, một lãnh đạo quốc hội Úc có ảnh hưởng trong lãnh vực tình báo cũng cảnh cáo Úc chính sách bành trướng đầy tham vọng của Tập Cận Bình và sự ngây thơ của các lãnh đạo thế giới tự do rằng Trung Cộng sẽ tự dân chủ hóa qua phát triển kinh tế. Ông đưa ra một thí dụ hay về lòng tự mãn của Pháp vào phòng tuyến Maginot để rồi cường quốc thực dân hùng mạnh nhất nhì thế giới phải đầu hàng Hitler chỉ sau 46 ngày.

Chủ nghĩa Đại Hán là con dao hai lưỡi: Giáo sư Susan L. Shirk, nguyên Phụ tá Bộ Trưởng Ngoại Giao đặc trách Trung Cộng nhận xét trong lúc ảnh hưởng của Trung Cộng ngày càng mạnh trên trường quốc tế, quốc gia này lại rất mong manh trong nội bộ.

Trong tác phẩm “Trung Quốc, Siêu Cường Dễ Vỡ” (China Fragile Superpower), Giáo sư Susan L. Shirk nhận xét giới lãnh đạo Trung Cộng luôn sống trong tình trạng bất an khi nghĩ về ngày vĩnh biệt không thể tránh khỏi của chế độ CS tại lục địa Trung Hoa.

Để kéo dài sự sống, họ không có chọn lựa nào khác hơn là tiếp tục giương cao ngọn cờ chủ nghĩa dân tộc và bằng mọi cách để phát triển kinh tế. Ngày nay, chủ nghĩa dân tộc cực đoan phát triển đến một giai đoạn không còn kiểm soát được đang trở thành mối đe dọa cho sự tồn tại của đảng CS và bộ máy độc tài.

Trần Trung Đạo

(Nguồn: bacaytruc.com)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ

11 sự khác biệt giữa Phở và Cơm_Phiếm (sưu tầm)

11 sự khác biệt giữa Phở và Cơm

Từ lâu câu chuyện “bồ là phở, vợ là cơm” được cả 2 phe mày râu và cánh chị em bàn tán không ngớt. Cũng từ đây có hàng ngàn bài thơ, bài vè, bài viết, với ý so sánh giữa “cơm” và “phở” đã ra đời. Mới đây cộng đồng mạng lại được phen “nghiêng ngả” với danh sách “11 sự khác biệt giữa phở và cơm”.

Theo tác giả khuyết (No Name) này, nếu xét về cấu tạo thì cơm và phở rất giống nhau, đều được làm  từ gạo tẻ. Phở có thịt có hành thì cơm cũng có, đã vậy cơm còn an toàn hơn vì không bao giờ trộn hàn the.

Đàn ông vẫn dễ chán cơm thèm phở bởi 11 lý do “khó đỡ”. Ảnh minh họa.

Tuy nhiên, đàn ông vẫn dễ chán cơm thèm phở bởi 11 lý do dưới đây. Infonet xin đăng lại 11 sự “khác biệt” này để chúng ta cùng suy ngẫm!

—-****—-

1. Đàn ông thèm phở vì ít được ăn phở. Muốn ăn phở, nhất là phở đặc biệt phải có tiền, có xe, hoặc có cả tiền cả xe. Trong khi đó, cơm ngày nào cũng được ăn, và phải ăn.

2. Đàn ông dùng cơm ở nhà trong không khí quen thuộc, ấm áp đến nhàm chán; còn phở ở nơi xa nhà, trang trí lạ mắt, và có cả âm nhạc nữa.

3. No thì khó ăn thêm cơm. Còn với phở, dù no tới mấy nếu làm thêm một tô cũng chẳng sao.

4. Ăn phở xong là đứng dậy, đi ngang, hoặc ngồi, hoặc nằm một chút tùy thích. Còn ăn cơm xong nhiều khả năng phải thu dọn và rửa bát đĩa.

5. Phở không quán nào giống quán nào, thậm chí không tô nào giống tô nào. Còn cơm bao nhiêu năm vẫn thế, chỉ có nguội hơn.

6. Phở thì có thể ăn chung với bạn bè. Cơm thì rất ít, phần lớn ăn chung với… bà nấu cơm !.

7. Lúc ăn phở thì dễ dàng yêu cầu thêm tí hành, tí bánh, hoặc thêm tí ớt cho mặn nồng, thêm cả nước béo. Còn cơm thì có gì trên mâm xơi nấy, yêu sách lôi thôi có khi còn mắng, hoặc bị gắt gỏng “không ăn thì thôi”. Ai gắt xin tự hiểu !.

8. Phở tuy cùng một chỗ nhưng có thể tái chín, nấu nạm, gân tùy ta quyết định. Cơm thì do người nấu cơm quyết định, đàn ông chỉ có chấp hành.

9. Nếu ăn phở tới mức độ trở thành khách quen, ta có thể ăn chịu.. Còn nếu không đưa tiền lương, cơm sẽ dừng ngay.

10. Bỏ tiệm phở này có thể tìm tiệm phở khác. Bỏ cơm thì nan giải vô cùng.

11. Cuối cùng thì phở bao giờ cũng nhiều nước hơn cơm. Cơm muốn có nước thì phải thêm canh, rất phức tạp.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ

Phân Ưu NT Trang Sĩ Tấn

Hình ảnh | Posted on by