Hội Ngộ K1 Lê Phát Minh tại Nam Cali

Nhân dịp K1 Lê Phát Minh cùng bà xã từ Houston (TX) ghé Little Saigon để dự một tiệc cưới của người thân, các K1 tại Little Saigon đã có một buổi gặp gỡ thân mật tại nhà hàng Seafood Cove lúc 5pm ngày 27/6/2019

Cùng hiện diện còn có AC NT trần Quan An và 2 thân hữu K3. Vì không có mặt phó nhòm Võ Thiệu nên xin các bạn xem đỡ một vài hình ảnh chụp bằng cell phone. (nhưng quá đẹp)

(ToanNhu)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ

BOLÉRO, Dấu hiệu của sự suy tàn_Phạm Tín An Ninh

Image result for Boléro nhạc tình

Có lẽ chưa bao giờ, kể cả thời VNCH, nhạc Bolero thịnh hành và được người trong nước mê mẩn như bây giờ, đặc biệt ở miền Bắc, nơi mà trước 1975 Bolero được dán cho cái nhãn “nhạc vàng” và không còn đất sống, một số người thích hát loại nhạc này đã bị tù đày 10-15 năm, để phải chết hay khốn khổ cả một đời, trường hợp Phan Thắng Toán (tức Toán Xồm) và Nguyễn Văn Lộc (Lộc Vàng) ở Hà Nội là những điển hình. Bây giờ Bolero như trận cuồng phong, phá tan mọi thành trì, chiếm ngự tất cả mọi nơi, từ thành phố đến nông thôn, từ các “tụ điểm”, sân khấu “hoành tráng” nhất, len lỏi đến tận các hang cùng ngõ hẻm, “vùng sâu vùng xa”, kể cả trong các đám ma, đam cưới; làm mê mẩn từ người già đến con trẻ, từ những ông quan lớn, đại gia đến dân dã, bần cùng. Ở đâu cũng nghe Bolero.

Người ta không còn đếm được các chương trình tìm giọng hát cho loại nhạc này: “Hát Cùng Bolero”, “Thần Tượng Boleo”, “Solo Cùng Bolero”, “Tình Bolero”, “Tình Bolero Hoan Ca”… Những cuộc thi hát nhạc Bolero thu hút hằng vài chục ngàn thí sinh, đủ mọi thành phần, cán bộ, sĩ quan, thầy cô giáo, các em bé 7, 8 tuổi, đến từ “mọi miền đất nước”. Từ những danh ca, “nghệ sĩ ưu tú”, “nghệ sĩ nhân dân” đến anh bán kẹo kéo dạo đều đua nhau hát và kiếm tiền bằng Nhạc Bolero. Và không cần biết cho phép hay không, họ hát đủ mọi đề tài: miền Nam thanh bình, tình yêu, tình lính, đời lính (VNCH), kể cả những bản nhạc chiêu hồi, như “đêm nay trăng sáng quá anh ơi, sao ta lìa cách bởi dòng sông bạc hai màu”, “miền Nam có nắng thanh bình có đồng lúa đẹp có tình quê hương, anh ơi mau sớm lên đường, bình minh còn đợi ruộng nương còn chờ…” v.v…

Trong cái khát khao Bolero ấy, thực chất chính là nỗi khát khao khung trời, con người, nếp sống, tình cảm, tấm lòng đối với quê hương đất nước của quân dân miền Nam thuở trước, và đặc biệt là tính nhân bản đã hoàn toàn thiếu vắng tại miền Bắc trên bảy mươi năm và tại miền Nam hơn bốn mươi năm dưới chế độ Cộng Sản. Khi một ca sĩ hát, họ thả hồn vào từng lời ca, cùng bâng khuâng với những hình ảnh, tình tự trong nhạc phẩm, họ có cảm giác đang được sống trong cùng không gian và thời gian mê đắm ấy. Người nghe thì hồn như bay bỗng đến chốn thiên thai nào đó, họ đắm chìm trong cảm xúc của một thời hạnh phúc, mà người miền Nam đã mất đi trong tiếc nuối, và người miền Bắc thì khát khao nhưng chưa bao giờ được sống. Và như thế, một thiên đường Miền Nam trước 1975 thực sự đã sống lại trong lòng mọi người, thiết tha và mãnh liệt.

Văn chương hay âm nhạc là những phạm trù phản ảnh trung thực nhất cho một xã hội. Bolero, một loại nhạc bình dân, dù được ai đó gán cho cái tên nhạc “sến”, đã làm đúng vai trò ấy, đã suốt một thời thăng hoa qua cuộc sống chan hòa yêu thương, nhân bản, và nhạc Bolero cũng chính là tiếng than ai oán, bi phẩn của người dân miền Nam thời ấy, khi mà cuộc chiến phi lý và bẩn thỉu nhất do bọn người CS rừng rú gây ra để phá hoại đất nước, giết chết bao thế hệ thanh niên của hai miền, và tạo cảnh huynh đệ tương tàn, làm hệ lụy lâu dài cho cả một dân tộc. Những thế hệ ở Việt Nam bây giờ có cảm xúc như thế nào khi nghe những bài Tám Điệp Khúc, Đêm Nguyện Cầu, Kẻ Ở Miền Xa, Hai Chuyến Tàu Đêm, Đường Xưa Lối Cũ, Sương Trắng Miền Quê Ngoại, Những Đóm Mắt Hỏa Châu…? Và trong tất cả những bài ca về lính mà họ đang say mê hát, họ có tìm được câu nào hô hào “sinh Nam tử Bắc” hay “thề phanh thây uống máu quân thù” như trong chính bài quốc ca CS?

Nhạc Bolero đã đè bẹp tất cả các loại nhạc “đỏ”, nhạc ăn cắp, bắt chước, lai căng của nhiều nhạc sĩ trong nước, viết theo lệnh đảng hay làm dáng, đua đòi “vươn ra biển lớn!” Ca sĩ thì “thặng dư giá trị” đủ hạng đủ cỡ, mà nhạc sĩ thì hiếm hoi như lá cuối mùa thu và cũng chẳng sáng tác được bao nhiêu ca khúc ra hồn, ngoài một vài bài của các nhạc sĩ Thanh Tùng, Bắc Sơn, Phú Quang, Trần Tiến, Phan Đình Điểu… và bài Phượng Hồng phổ từ thơ Đỗ Trung Quân.

Những ca sĩ miền Nam chuyên hát nhạc “sến” đã hết thời ở hải ngoại cỡ Chế Linh, Giao Linh, Phương Dung, Thái Châu, Tuấn Vũ… về Việt Nam làm nhiều show đã cháy vé, được ca ngợi đón tiếp như những ông bà hoàng Bolero, mang về quê hương những làn gió mới! Nhiều người được trang trọng mời ngồi ghế “nóng” làm giám khảo cho các kỳ thi tuyển lựa ca sĩ Bolero!

Ngày 30.4.75, trên đường vào “tiếp thu” miền Nam, bà Dương Thu Hương ngồi khóc bên vệ đường khi nhìn thấy một miền Nam văn minh, hiền hòa, trù phú gấp vạn lần miền Bắc. Bà đã nhận ra cả một quá khứ bị lừa dối. Một số trí thức miền Nam, như chú cháu Đỗ Trung Hiếu, Đỗ Hữu Ưng (ở cùng quê và học trung học cùng trường Võ Tánh-Nha Trang với người viết) khi bỏ miền Nam vô bưng, lòng nô nức đi làm “cách mạng”, nhưng đến khi được chuyển ra miền Bắc mới giật mình biết đã “lạc đường” nhưng quá muộn, đành phải “nín thở qua sông”. Trước khi vô bưng, Đỗ Hữu Ưng từng theo học Khóa 11 Đốc Sự tại Viện QGHC thời VNCH. Sau 75, về “tiếp thu miền Nam” giữ chức chủ tịch của một huyện nào đó ở Sài Gòn, đã tìm gặp lại những đồng môn cũ, khuyến khích mọi người nên sớm tìm đường vượt biển, nhưng chẳng mấy ai dám tin! Ông chú gốc giáo sư thì làm đến chức ủy viên tôn giáo của thành ủy, nhưng bất mãn nên cùng đám Nguyễn Hộ, Trần Văn Trà lập ra Câu lạc bộ Kháng Chiến Cũ. Để phản ứng cho sự ăn năn hối hận của mình, hai chú cháu đã bị lột hết các chức tước, riêng ông chú phải nhận những bản án tù và đã chết dưới tay người đồng chí CS!

Nhiều thanh niên miền Bắc, điển hình là Nguyễn Viết Dũng, đang là một sinh viên giỏi, từng đoạt giải “Đường Lên Đỉnh Olympia”, với một tương lai tươi sáng, nhưng đã dám công khai treo cao cờ vàng ba sọc đỏ trên nóc nhà, mặc quân phục và mang phù hiệu QLVNCH như là một hình thức tôn vinh, luyến tiếc một chính thể, một quân đội chính danh đã bị bức tử. Bị cầm tù ra, anh con khắc trên cánh tay hai chữ “Sát Cộng” và rủ nhiều bạn bè tìm vào Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa thắp hương kính cẩn tưởng niệm những người lính miền Nam đã vị quốc vong thân. Những người mê hát, mê nghe nhạc Bolero, chắc hẳn ít nhiều đều mang trong lòng những hoài niệm, suy tư, cảm xúc như thế. 

Những nhạc sĩ miền Nam, đang còn sống như Lam Phương, Lê Dinh, Song Ngọc… hay đã mất ở hải ngoại như Trần Thiện Thanh, Trịnh Hưng, Hoàng Thi Thơ, Duy Khánh, Nhật Ngân, Anh Bằng,… hoặc chết ở quê nhà trong nghèo nàn khốn khó như Trúc Phương, Thanh Sơn… khi sáng tác những bản nhạc Bolero chắc họ không ngờ đã tạo thành những vũ khí vô hình nhưng ghê gớm, làm mê mẩn hàng mấy chục triệu người sống trong chế độ Cộng sản, có sức xoi mòn và làm sụp đổ chế độ tàn ác man rợ này. Mặc dù bọn tà quyền vẫn đang sống thoi thóp, dựa vào bạo lực, và sự kết họp mong manh của đám đồng chí cùng băng đảng, để chia chác quyền lợi, tài sản cướp bóc của nhân dân và sẵn sàng “mỏi gối quì mòn sân Tàu phủ”, nhưng bên trong thực sự đã mục rữa, thối tha, chia bè kết nhóm để tranh giành, thanh toán lẫn nhau. Lòng dân sẽ thay đổi nhanh chóng khi Nhạc Bolero ngày càng xoáy sâu vào trí não và tâm hồn họ, cộng với một thực trạng xã hội rệu rã, xuống cấp ở tất cả mọi lãnh vực, tất yếu sẽ tạo thành một hệ quả khôn lường.

Cả một đất nước như đang bị ngón sóng thần Bolero tràn ngập, làm thay đổi não trạng và nỗi khao khát của con người, biết đâu sẽ dẫn đến việc sụp đổ cả thành trì của một chế độ từng lên án, tìm mọi cách để ngăn cấm, triệt tiêu nó. Thêm một chỉ dấu báo hiệu cho ngày tàn của CSVN.

Phạm Tín An Ninh

(Vương Quốc Na Uy)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ

Người Sài Gòn Xưa_Nhị Nguyên

saigon

Lần đầu tiên tôi lên Sài Gòn là để đi thi đại học. Tôi và một thằng bạn thi chung trường nên đi chung với nhau. Ở thì không lo vì đã có nhà người quen ở bên kia cầu chữ Y, bọn tôi chỉ lo cái chuyện ăn uống giữa hai buổi thi.

Ngay sau khi thi xong môn đầu tiên, hai đứa kéo nhau ra quán cơm cạnh trường kêu hai dĩa cơm sườn. Cầm cái muỗng, cái nĩa để ăn cơm dĩa mà cứ lọng cọng. Ăn hết dĩa cơm, uống cạn mấy ly trà đá tự múc ở trong cái xô để ở góc quán mà bụng vẫn trống không. Nhỏ tới lớn ở quê khi nào đi đâu xa thì cơm đùm cơm bới mang đi theo chứ có khi nào ăn cơm tiệm để mà biết kêu cơm thêm. Kêu thêm dĩa nữa thì không dám vì sợ không đủ tiền ăn cho ngày mai, ngày kia…

Hai đứa ngó quanh ngó quất, thấy bàn nào cũng để một nải chuối, mọi người ăn xong cứ thuận tay bẻ, người một trái, người hai trái. Thế là hai đứa sáng mắt, chuối này chắc người ta cũng cho không như trà đá. Vậy là, chỉ một loáng nguyên cả nải chuối để trên bàn chỉ còn đống vỏ.

Khi tính tiền, thấy phụ quán cứ đếm đi đếm lại mấy cái vỏ chuối để trên bàn rồi nhìn chằm chằm, thi thoảng lại liếc qua bà chủ quán đang đứng gần đó cười mím chi thì hai đứa đâm lo, không biết tiền mang theo có đủ để trả không.Image result for quán cơm bình dân

Nhìn hai đứa gom từng đồng bạc để bỏ lên bàn, bỗng nhiên chủ quán bước lại: “Thôi, tính hai dĩa cơm thôi. Phần chuối chắc là không biết có tính tiền nên lỡ ăn chị không tính. Ngày mai ăn có thiếu thì cứ kêu cơm thêm mà ăn, để bụng đói không làm bài được đâu”.

Chỉ có nải chuối đã cho thấy tính cách người Sài Gòn.

Cuộc sống không thẳng tắp. Bon chen lên Sài Gòn không phải lúc nào cũng dễ kiếm tiền. Cũng trong những năm 1980, có lần, tôi thử sức mình với nghề đạp xích lô. Mượn chiếc xe của ông chú vào buổi sáng, lúc ấy chú cho xe ở nhà để ngủ sau một đêm chạy mối chở hàng.

Lần đầu tiên chạy xích lô chỉ có chạy xe không từ bên này sang bên kia cầu chữ Y đã muốn hụt hơi. Thế nhưng vẫn ráng vì trong túi không còn tiền. Chạy lòng vòng Sài Gòn cả tiếng đồng hồ, ngang qua rạp Quốc Thanh (đường Nguyễn Trãi), thấy một đôi nam nữ đi ra, tay ngoắt, miệng kêu: “Xích lô!”

Luồn tay kéo thắng ngừng xe lại hỏi:

– Anh chị đi đâu?

– Cho ra bến xe Miền Tây. Nhiêu?

Dân miền Đông mới lên Sài Gòn tập tành chạy xe kiếm sống, biết bến xe Miền Tây đâu mà cho giá. Thôi đành chơi trò may rủi: “Dạ, em mới chạy xe chưa rành đường, anh chị chỉ đường em chở. Tới đó cho nhiêu thì cho”. Tưởng không biết đường thì người ta không đi, ai dè cả hai thản nhiên leo lên. Người con trai nói: “15 đồng mọi khi vẫn đi. Cứ chạy đi tui chỉ đường”.

Sức trẻ, thế mà vẫn không chịu nổi đường xa, đạp xe chở hai người từ rạp Quốc Thanh đến chân cầu Phú Lâm thì đuối, liệu sức không thể nào qua khỏi dốc cầu đành tính chước bỏ của chạy lấy người. Xuống giọng: “Em mới chạy xe, đi xa không nổi. Anh chị thông cảm đi xe khác giùm”. Ai ngờ người con trai ngoái đầu lại: “Tui biết ông đuối từ hồi nãy rồi. Thôi leo lên đằng trước ngồi với bà xã tui. Đưa xe đây tui đạp cho. Tui cũng từng đạp xích lô mà!” Thế là, vừa được khách chở, lại vừa được lấy tiền. Không phải 15 đồng mà tới 20 đồng. Chắc cũng chỉ có người Sài Gòn mới khoáng đạt như vậy!

Người Sài Gòn tốt bụng, chia sẻ không từ những chuyện cá biệt, người nơi khác vào Sài Gòn hỏi đường thật dễ chịu. Già trẻ lớn bé, gặp ai hỏi người ta cũng chỉ dẫn tận tình. Có nhiều người còn bỏ cả công việc để dẫn kẻ lạc đường đi đến đúng địa chỉ cần tìm. Có những địa chỉ nhiều người hỏi quá, thế là người Sài Gòn nghĩ cách viết hoặc bỏ tiền ra đặt làm một cái bảng đặt bên lề đường, gắn vào gốc cây. Đôi khi, kèm theo một câu đùa, câu trách rất Sài Gòn ở cái bảng này khiến ai đọc cũng phì cười. Như cái bảng viết trên nắp thùng mốp trên đường Sư Vạn Hạnh mới đây: “Bà con nào đi photo thì qua bưu điện bên đường. Hỏi hoài mệt quá!”

Đi xe ôm, taxi, gặp đúng dân Sài Gòn thì mười người hết chín không lo bị chặt chém, vẽ vời. Đôi khi, kêu giá là vậy, nhưng khách không có tiền lẻ hoặc hết tiền người ta còn bớt, thậm chí cho thiếu mà không cần biết khách ở đâu, có trả hay không. Với người Sài Gòn, đó là chuyện nhỏ.

Ở Sài Gòn, cho tới bây giờ vẫn còn nhiều nhà để một bình nước suối trước nhà kèm thêm một cái ly, một cái bảng nước uống miễn phí. Và bình nước này không bao giờ cạn, như lòng tốt của người Sài Gòn. Có người đã phát hiện, khi bạn chạy xe trên đường phố Sài Gòn, nếu có ai đó chạy theo nhắc bạn gạt cái chân chống hay nhét lại cái ví sâu vào túi quần thì đích thị đó là người Sài Gòn.

Năm 1978 khi ra tù tại ga xe lửa đường Lê Lai, một anh xích lô đến hỏi tôi: “Về đâu?”, nhưng rồi chợt anh nói một câu mà tôi nhớ đời: “Lên đi thằng ông nội, tui chở về… Không có tính tiền đâu”. Làm sao tôi quên được câu nói đó. Người Sài Gòn là như vậy!

*** Đó là “Người Sài Gòn Xưa”, còn “Người Sài Gòn Nay” thì sao !?!?!?

Nhị Nguyên

(Nguồn: trithucvn.net)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ

Đếm Vui Thay Buồn -Lê Phương Lan.

Bây giờ đã qua dần những ngày của tháng Sáu.  Cơn nóng đầu tuần của tháng này tại San Jose đã vượt ba con số độ Fahrenheit báo hiệu mùa hè đang đến. Buông tay cầm bút chấm bài cho lớp dạy kèm học sinh sau giờ học, tôi lại cầm bút hý hoáy trải tâm tư trên trang giấy để nhắc nhở mình và cũng là để dạo lên một vài nốt nhạc để tự thưởng thức và biết đâu chừng sẽ có được một âm hưởng nào đó trong những môi trường mình đang tiếp xúc?

Tuổi đời càng cao thì bộ nhớ lưu trữ càng nhiều dữ kiện. Ngày lại ngày những điều mắt thấy tai nghe càng chồng chất mà trong đó xem chừng nỗi buồn cứ mãi lấn sân sang niềm vui! Cuộc chiến giữa Thiện và Ác vẫn diễn ra khốc liệt mà tỷ số Ác cứ leo thang khiến cho nhà văn Huy Phương trong một bài viết đã để lại phần kết luận một câu hỏi cho lời tuyên cáo của Nguyễn Trãi trong bài Bình Ngô Đại Cáo là có hay không “Đem đại nghĩa để thắng hung tàn. Lấy chí nhân mà thay cường bạo” trong thế giới ngày nay?

Trong tâm trạng này thì thống kê về sức khỏe đưa tín hiệu cảnh giác rằng 70% các bệnh trạng về thể lý đến từ những vấn đề về tâm lý! Còn nhớ trong số những nạn nhân của biến cố 9/11/2001 cũng kể đến cái chết của hai vị cao niên người Mỹ bị đứng tim khi họ chứng kiến trên truyền hình cảnh tượng sụp đổ của tòa tháp đôi Empire State Building trong tro bụi lửa khói mịt mù. Bên cạnh đó còn có một nhắc nhở về hiệu ứng của “tự kỷ ám thị” đến từ kết quả của một cuộc khảo sát.  Trong đó người tham dự được mời phân tích mùi của một chất khí “khó chịu” đang tỏa ra trong căn phòng. Kết quả cho thấy là 70% người tham gia nhận xét đó là mùi hôi của tỏi, 30% cho là mùi hôi của những hóa chất khác. Thực chất đó chỉ là một chất khí không mùi, không vị gì cả!

Kiểm điểm qua từng thập niên mới thấy rằng từ cái chặng 60 năm cuộc đời trở đi nhất là bước vào cái tuổi “thất thập” thì sức khỏe đổ dốc thấy rõ từng ngày qua ngày! Đôi vai đầy “gồng gánh nỗi điêu linh” ngày nào đã trở nên xương xẩu, xuôi xệ với thời gian! Chứng phong thấp đau nhức khởi đầu chạy từ cổ xuống vai, đổ bộ xuống thắt lưng, nằm ụ tại hai đầu gối một thời gian rồi trở lại vùng cổ theo thế liên hoàn!

Sức chịu đựng cũng hao mòn! Ngày trước, chưa kịp bước vào độ tuổi 30 đã phải một mình chống chỏi kiên cường với những khủng bố đe dọa từ phường khóm qua nhiều đợt đuổi những gia đình sĩ quan quân lực VNCH đi các vùng “kinh tế mới”.  Cho tới những ngày từng bữa chạy chợ nuôi sống gia đình, đeo theo những bị cói chứa đựng số vốn ít ỏi từ vài ký nhu yếu phẩm đến những lọ thuốc tây, mỹ phẩm ngoại quốc … vượt thoát sự săn đuổi, chặn bắt của lũ cướp cạn là bọn công an đường phố hoặc bọn quản lý thị trường. Thế nhưng đến tuổi 60 thì cách đối xử kỳ thị của người hiệu trưởng cũng khiến cho mình bị tổn thương “anxiety attack” đến nỗi phải vào bệnh viện cấp cứu! Bây giờ thì độ nhậy cảm càng trở nên mỏng manh như sợi dây đàn của thanh âm cao nhất: những hình ảnh bạo lực, cảnh tượng đàn áp bất công; những bất trắc xảy đến cho người thân; ngay cả một lời nói vô tình của người trong gia đình cũng đủ làm mình bị mất ngủ liên tục!

Từ đó suy ra là trong buổi hoàng hôn của cuộc đời để duy trì sức khỏe thể lý nhất thiết từ nay phải tìm cách ổn định tâm lý, nói khác đi là phải biết cách “đếm vui thay buồn”.

Trước hết chúng ta phải đồng ý với nhau rằng sống trong cõi đời này không ai có thể tránh được các nỗi buồn phiền. Vui thế nào được khi cụ Nguyễn Công Trứ đã có câu thơ rằng:”Vừa sinh ra thì đà khóc chóe! Trần có vui sao chẳng cười khì!?” Trong cõi hồng trần này những điều nghịch ý sẵn sàng đến với ta trong mọi nơi, mọi thời, mọi lúc! Chính những điều xảy ra không theo ý muốn này là nguyên nhân của nhiều nỗi khổ sầu! Tìm hiểu và thấm nhuần giáo lý của các chính giáo cũng đã giúp chúng sinh lý giải và hóa giải phần nào nỗi khổ đau trong cuộc đời.

Bên cạnh đó nếu chịu để ý quan sát thiên nhiên chúng ta cũng khám phá ra những định luật không chỉ trong lãnh vực khoa học mà còn tìm thấy ở đó những bài học về triết lý sống nữa. Điển hình là khi quan sát hiện tượng luân lưu của một giòng nước và sự chuyển hóa của cỏ hoa chúng ta có thể nghiệm ra rằng trong thiên nhiên những sự chuyển hóa đó cũng đi theo một chu kỳ, một con đường hay một “đạo”. “Đạo” của nước bắt đầu từ nguồn tinh khiết trên núi cao đổ xuống, giòng nước rồi sẽ phải trải qua giai đoạn chịu thẩm thấu bùn đất, rác rưởi. Nhưng giòng nước sẽ chuyển hóa những chất thải này thành phù sa nuôi sống biết bao sinh vật và con người. Cũng vậy, “đạo” của hoa cũng đi theo con đường chuyển hóa các chất thải trong đất cát, phân bón thành những chất dinh dưỡng đem đến cho đời những đóa hoa tươi thắm, những trái cây chín mọng. Từ đó suy ra tại sao chúng ta không tìm cách chuyển hóa những rác rưởi của nghịch ý, não phiền để tạo cho mình niềm vui mà sống?

Giòng suy tưởng không ngừng lại ở đây, tôi nghĩ rằng con người khi sinh ra cũng khởi đầu như một dòng nước tinh khiết “nhân chi sơ, tính bản thiện”. Khi lớn lên tiếp xúc với môi trường xung quanh con người sẽ bị thẩm thấu cả cái tốt lẫn cái xấu. Do đó trong tuổi niên thiếu khi chưa có đủ khả năng nhận thức các thanh thiếu niên rất cần có được sự hướng dẫn nơi các bậc cha mẹ, ông bà, thày cô giáo để giúp rèn luyện nhân cách được hình thành từ những thói quen tốt ngay từ buổi bình minh của cuộc đời. Một mai khi khôn lớn bước vào đời với hành trang đã được học hỏi, các cháu sẽ biết”gạn đục khơi trong” để tự mình sống tốt và làm đẹp cho đời.

Ngắm nhìn đời sống ngắn ngủi của kiếp hoa cũng là dịp để ta so sánh với đời sống chóng qua của một kiếp người. Trải qua những thăng trầm của cuộc đời ta sẽ nghiệm ra rằng loài hoa đẹp nhất mà ta được thưởng thức đó chính là “tình yêu”. Một tình yêu chân thật ta được thụ hưởng từ ông bà, cha mẹ, anh chị em trong gia đình. Để khi bước vào đời sống hôn nhân lại thêm thấm đậm từ tình yêu đôi lứa chuyển sang tình nghĩa vợ chồng và tình yêu lại tiếp tục chan hòa xuống cho con cháu. Song song với tình thương yêu của gia đình đời sống tình cảm của chúng ta sẽ phong phú hơn với những bạn bè thân thiết từ môi trường làm việc cho đến các cộng đoàn, tổ chức xã hội. Để thưởng thức trọn vẹn hương thơm và vẻ đẹp của đóa hoa thương yêu này xin hãy bỏ qua phần thân lá gai góc, phần gốc rễ xù xì là những va chạm, mâu thuẫn không thể tránh được. Điều quan trọng nữa là để cho cây khỏi bị chết yểu cũng không nên quên luôn luôn chăm sóc cho đóa hoa tình thương này bằng ba yếu tố chính: đất tốt là bầu khí an hòa; năng lượng mặt trời là những hy sinh, nâng đỡ, khích lệ, lòng bao dung tha thứ; và nước mát là những “lời nói không mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau” vì không gì tàn phá tan tác những mối tương quan trong chúng ta cho bằng những lời chỉ trích cay độc, những phê phán chủ quan, độc đoán.

Một nghiên cứu được thực hiện trên 1.600 sinh viên của Đại Học Havard đã cho thấy sức mạnh của sự hỗ trợ xã hội trong đó các mối quan hệ là một yếu tố dự báo hạnh phúc chính xác hơn bất cứ yếu tố nào khác như địa vị, thu nhập, sắc đẹp. Con số tương quan giữa hạnh phúc và sự hỗ trợ từ xã hội cho biết những mối quan hệ càng tốt thì bạn càng hạnh phúc hơn. Chưa hết, từ các nghiên cứu Grant (nghiên cứu trong suốt cuộc đời) các chuyên gia phát hiện ra rằng:”khả năng yêu và được yêu là yếu tố duy nhất tạo nên sự hạnh phúc cho con người đặc biệt là vào những năm cuối của cuộc đời”. Vì vậy, còn chần chờ gì nữa, ngay từ ngày hôm nay xin hãy “đầu tư” vào các mối quan hệ từ trong gia đình cho đến ngoài xã hội. Chắc chắn chúng ta sẽ hưởng được hương hoa thơm, thu hoạch được quả ngọt từ chúng.

Trở lại với những suy tư, phiền muộn, điều khắc khoải của chúng ta, những thân cây bị đốn ngã đem trồng sang miền đất mới, tâm tư tôi vẫn khao khát mong muốn cho người dân tôi được sống trong tự do, dân chủ và nhân quyền. Trong mong chờ, tôi đã đếm thời gian kể từ ngày được sang định cư tại Mỹ. Nhưng do kinh nghiệm “đếm thời gian” tù đầy của ông xã: ban đầu đơn vị thời gian được tính bằng tháng, rồi bằng năm, đến năm thứ 10 trở đi khi tôi thôi không muốn đếm nữa thì … vài năm sau anh trở về! Do đó bây giờ tôi sẽ đếm thời gian bằng đơn vị “thập kỷ”. Có nghĩa là thay vì nói rằng đã “hơn 40 năm xa quê hương” đổi thành “hơn 4 thập kỷ xa quê”. Con số 4 bớt được một con số 0 nghe như “ngắn” hơn các bạn ạ! Chiêu thức này chẳng qua chỉ giống như một kiểu ”tự kỷ ám thị”mà thôi!

Thật ra thì tôi đang tập trang bị cho mình nhìn sự việc “mất nước”với một “lăng kính lạc quan”. Có nghĩa là phải gạt bỏ đi những ảnh hưởng tiêu cực của kinh nghiệm đau thương cũ cho dù đó mãi mãi là một trang sử đau thương nhất trong lịch sử dân tộc. Khi gạt bỏ những tư tưởng tiêu cực thì tôi nghĩ rằng chúng ta sẽ trút bỏ ám ảnh qui trách nhiệm hay mặc cảm thua trận. Từ đó chúng ta sẽ không còn bực tức, oán trách về sự bỏ rơi của chính phủ Mỹ trong cuộc chiến Việt Nam. Và rằng trong cuộc chiến anh em tàn sát lẫn nhau thì cộng sản miền bắc và những đảng viên mê muội không hề là kẻ thắng trận. Sự thật là nếu người trong nước không vùng dậy để thay đổi chế độ cộng sản với sự tiếp tay của người Việt hải ngoại thì kẻ thắng trận trên xương máu của hàng triệu con người Việt Nam chính là bọn xâm lược trung cộng! Một khi đất nước đã tan hoang và bọn cầm quyền đã thoát thân, chuyển tài sản ăn cướp và thân nhân của chúng ra nước ngoài thì ngườI thua cuộc đau thương chính là hơn 80 triệu người dân Việt Nam!

Trang bị với một “lăng kính lạc quan” cũng sẽ giúp tôi gạt bớt những mây mù nhiễu nhương của các tin tức hàng ngày để thấy được gương can đảm của các tù nhân lương tâm, những tiếng nói cất lên cho sự thật, những bài giảng đốt cháy lên ngọn lửa đấu tranh của các linh mục Nguyễn Ngọc Nam Phong, Lê Ngọc Thanh, Nguyễn Duy Tân, Đặng Hữu Nam v..v..

Gần đây nhất là không khí cuộc biểu tình sôi sục của giới trẻ cùng với gần hai triệu người dân Hồng Kông. Âm hưởng của nó đã vang vọng sang eo biển Đài Loan và trong tương lai với thủ lãnh phong trào dù vàng Hoàng Chí Phong là một hậu duệ người Việt vì mẹ của em là một thuyền nhân Việt Nam tỵ nạn tại Hồng Không từ năm 1975 hy vọng hiệu ứng của nó sẽ lan tới và truyền cảm hứng cho giới trẻ đất Việt.

“Lăng kính lạc quan” còn cho tôi niềm hy vọng, tự hào với thế hệ nối tiếp “hậu duệ Việt Nam Cộng Hòa” đang bước vào dòng chính của xã hội Hoa Kỳ , đang vươn lên trong mọi lãnh vực.  Điển hình phải kể đến nữ khoa học gia Dương Nguyệt Ánh hiện là giám đốc an ninh biên giới và lãnh hải thuộc Bộ An Ninh Hoa Kỳ. Phan Giao, nữ tổng giám đốc điều khiển đóng 3 hàng không mẫu hạm hiện đại nhất thế giới. Thiếu tướng Lương Xuân Việt tư lệnh lục quân tại Nhật Bản. Linh Định chỉ huy trưởng Cảnh Sát người Việt đầu tiên tại thành phố Montebello, California. Chuẩn tướng không quân Huỳnh Trần Mylene, Chuẩn tướng Vũ Thế Thùy Anh, Chuẩn tướng Flora Châu Lập Thể, Đại tá Nguyễn Mạnh Hùng và xúc động nhất khi được biết Phó Đề Đốc Nguyễn Từ Huấn chính là người con sống sót duy nhất của trung tá Nguyễn Tuấn đã bị tên đặc công việt cộng Bảy Lốp sát hại toàn bộ gia đình trong biến cố Tết Mậu Thân.

Vì thế, bên cạnh hoa trái ngọt đang được hưởng với gia đình, bạn bè và cộng đoàn tôi sẽ để thời gian còn lại tìm nhiều nguồn vui hơn qua việc thăng tiến đời sống tâm linh, qua văn chương, nghệ thuật, du lịch và vui với những khuôn mặt học trò thơ ngây đang cố gắng nói chuyện tiếng Việt vẫn còn mùi hamburger. Nhất thiết từ nay dù gì dẫu gì tôi cũng sẽ “đếm vui thay buồn”!

Lê Phương Lan

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ

Sức Mạnh Của Mỹ_QLAC260

Sức mạnh của Mỹ không phải chỉ nằm ở mấy chiếc hàng không mẫu hạm hay phi đạn Tomahawk mà nó còn nằm ở chỗ:

1-  Ở chỗ dù mồm bạn đang chửi Mỹ xoen xoét nhưng tay bạn vẫn thích bấm cái phone do Mỹ làm ra, mắt vẫn thích lướt Fb do người Mỹ viết mà thành, đít vẫn thích ngồi xe hơi do Mỹ chế, hay bay trên máy bay là thứ cũng do người Mỹ phát minh để chu du khắp bốn phương trời.

2-  Nó nằm ở chỗ dù bạn có lôi tổng thống Mỹ ra mà chửi cha mắng mẹ cũng chẳng người Mỹ nào quan tâm, chẳng ai thèm đến nhà kiếm bạn để hăm he trả thù, và con cái của bạn vẫn cứ đường hoàng đến Mỹ ăn học mà chẳng có ai làm khó dễ chúng điều gì.

3-  Nó nằm ở chỗ khi các nước bị Mỹ đến Xâm Lược như Tây Âu, Nhật Bản hay Hàn Quốc thì đều trở nên phồn thịnh và văn minh, còn các nước được Liên Xô hay Trung Quốc đến Giải Phóng như Đông Âu hay Tây Tạng thì hổng đổ máu cũng bầm mình.

4-  Nó nằm ở chỗ chính kẻ thù của Mỹ cũng cảm thấy chỉ có Mỹ là nơi an toàn để nương thân mỗi khi bị đồng chí của mình hãm hại. Ngay cả cố tổng bí thư Liên Xô một thời lừng lẫy Khruschev mà rồi con trai ông ấy cũng có được yên thân ở Liên Xô đâu, cũng phải chạy sang Mỹ mà áp tay lên ngực để chào lá cờ hoa một thời cha ông mình chửi rủa.

5-  Nó nằm ở chỗ nếu như hôm trước bạn còn xuống đường hò hét chửi Mỹ như thể bạn thù nước Mỹ không đội trời chung thì hôm sau bạn vẫn sẽ vứt hết tất cả để đi Mỹ nếu như bạn được cấp một chiếc thẻ xanh.

Tôi đã thấy rồi, tôi đã thấy có người chửi Mỹ xoen xoét khi còn ở Việt Nam nhưng rồi cũng rất hồ hởi khi được có mặt ở cái xứ tư bản giãy chết này dù nói chuyện vẫn còn cố vớt vát “đi là vì tương lai của các con thôi”.

Tôi đã thấy rồi, tôi đã thấy có người chửi Mỹ xoen xoét khi đã sang đây rằng “ở Mỹ cực như chó” nhưng lại cứ ráng ở lại chịu cực mà chẳng thấy quay về.

6- Sức mạnh của Mỹ nó nằm ở chỗ nó là cái nơi thu hút con người ở khắp mọi miền trên thế giới đổ về, chứ không phải là cái nơi mà ai cũng muốn bằng mọi giá phải dứt áo từ bỏ. Nó không ràng buộc ai phải ở lại nhưng chẳng ai tự nguyện ra đi.

7- Sức mạnh của Mỹ nó nằm ở chỗ 4 người đàn ông lực lưỡng chung tay khiêng cái nón nhẹ hều một cách trang nghiêm để tôn trọng người quá cố, dù rằng người quá cố đó từng là một đối thủ. Chứ không phải đưa hài cốt của đồng đội mình về trong một cái túi xách đàn bà.

Các nhà bồi bút ở Việt Nam hãy thôi chỉ nhìn vào mấy trái tên lửa rồi cố hạ thấp sức mạnh của Mỹ và nâng bi sức mạnh của Nga hay Tàu làm gì.

Bởi Mỹ có những điều mà hai xứ này cả trăm năm nữa cũng chưa chắc có, Mỹ có một nền dân chủ đã 242 năm.

Còn Nga và Tàu? ngoài độc tài và súng đạn thì họ còn gì?

QLAC260

(Nguồn: thoibao.com)

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ

CON KỲ NHÔNG XANH TRÊN LUỐNG DÂU- Gia Hiếu

Ở Úc họ trồng dâu tây (Strawberry) trên những luống đất thật dài, được bọc kỹ bởi một loại vải nhựa dệt thưa, nhưng có độ bền để có thể chịu đựng được nắng mưa, ở giữa luống họ khoét những lỗ tròn trên tấm bọc đất, cây dâu được trồng vào đấy, và cứ thế luống dâu liên tục kéo dài, những luống dâu chạy dài thành nhiều hàng trông thật đẹp mắt, thân cây dâu không phải là loại thân mộc, nằm xòe trên luống, nên khi ra trái, trái dâu sẽ được nằm trên luống đất đã được bọc kỹ bằng vải nhưa, nhờ thế mà trái dâu không bị tiếp xúc trực tiếp với đất, nên trái dâu chín sẽ không bị hư hoại.
Đám thanh niên VN tỵ nạn chúng tôi, những ngày mới đến Úc, chưa thể tìm một công việc thích hợp ngay , nên thường thì đành kéo nhau đi làm ở farm ( nông trại ) để kiếm tiền mà có thể dành dụm gửi về VN cho gia đình ở bên nhà. Đến mùa dâu thì đi hái dâu ở các farm dâu, nghe công việc đi hái dâu tưởng đâu là nhàn hạ và thơ mộng lắm, nhưng thật ra chúng tôi phải khom lưng suốt cả ngày, vì bởi như đã nói ở trên, dâu tây ra trái trên những luống dâu chỉ cách mặt đất chừng 3 tấc, vì vậy người hái dâu phải đứng khom lưng bên vồng dâu, một cái khay được quàng ở khủyu tay, tay kia thì hái trái, trong điều kiện là phải cong lưng xuống để hái, và cứ thế khom lưng đi lần theo chiều dài của vồng dâu mà tìm hái những trái dâu vừa chín đỏ lẫn trong đám lá dâu xanh…
Ôi, lứa dâu đầu mùa và cũng là lứa trái đầu tiên của loạt trồng mới nầy, nên trái nào trái nấy to tướng, chín đỏ, căng phồng, nhất là trong buổi sớm tinh mơ, lấp lánh dưới ánh nắng hồng qua những hạt sương mai còn đọng lại, trái dâu trông lại càng hấp dẫn làm sao…, chủ nhân của nông trại trồng dâu nầy, họ là một cặp vợ chồng người Úc chính thống, Farmer (nông gia) ở Uc không phải như những người nông dân chân lấm tay bùn ờ bên nhà, mà người chồng là một Kỹ Sư Nông Nghiệp chính hiệu, nên họ đối xử với đám tỵ nạn VN đi làm công chúng tôi rất ư là thân thiện, lịch sự, đầy hiểu biết và cảm thông, nhất là bà chủ nông trại, với một gương mặt hiền hòa, miệng luôn nở một nụ cười và kèm theo là những lời nói rất ân cần, tử tế…-“các bạn hái dâu, nếu thấy bất cứ trái dâu nào ngon nhất và nuốn ăn thì cứ hái ăn tại chỗ tự nhiên nhé!, mình làm việc trên farm dâu mà không được ăn những trái ngon nhất thì cũng không hợp lý phải không?”. Nghe những lời nói ấy, bọn chúng tôi thật thấy mát cả lòng, và cũng có cơ hôi để…tha hồ thưởng thức những trái dâu nào to nhất, mọng đỏ nhất và đặc biệt là với nụ cười rất ân cần của nhị vị chủ nhân thật dễ thương kia.
Vừa khom lưng lần theo luống dâu chạy dài, vừa tay làm và hàm nhai những trái dâu còn mát lạnh trong buổi sớm tinh sương, vừa trầm trồ xuýt xoa sao mà họ trồng giỏi quá, vụ dâu này họ thu hoạch chắc khẳm tiền…và đôi khi thả hồn đi lạc với nỗi buồn mênh mang của kiếp đời tỵ nạn, của phận đời lưu vong với những ngày mới đặt chân nơi xứ người…

Ồ, không được rồi, chuyện gì vậy, những trái dâu chín đỏ trên vồng dâu được phát hiện là đã bị con gì ăn loang lổ khắp cùng, không phải một vài trái mà là cả một vạt dâu chín trái nào cũng bị cắn dang dở rất ư là bực mình, người nầy nói với người kia, và hiện tượng lạ nầy đã được truyền nhanh đến nhiều người trên các vồng dâu khác…và đây rôi, thủ phạm cắn phá dâu đã được một vài anh em người Việt tìm thấy là một con kỳ nhông xanh khá to và dài cở một cánh tay, đang “thoải mái” bò giữa luống dâu với những trái dâu bị cắn ăn loang lổ, thế là phản ứng rất tự nhiên, một vài anh em đã bỏ khay dâu xuống và tìm nhặt những khúc cây quanh đấy,rồi hè nhau rượt đuổi và đánh đập chú kỳ nhông xanh kia không chút nương tay.

2d254ae9ac1c7ce

Lấy làm lạ với hiện tượng nhốn nháo ở ngoài farm, tiếng rượt đuổi, reo hò, tiếng đập cây bình bịch, bà chủ farm đã vội vàng chạy ra và hỏi: “what’s the matter?” (chuyện gì vậy?) vừa chạy nhanh đến nơi những thanh niên người Việt với những khúc cây trên tay, bà đã sững sờ nhìn họ và thốt lên tiếng kêu thảng thốt “Oh! My God” khi bà nhìn thấy vẻ mặt hớn hở của mấy người kia, vì đã lập được thành tích với chủ nhân là đã tiêu diệt được kẻ phá hoại trên các vồng dâu chín nầy. Con Kỳ Nhông xanh đang nằm sóng xoải trên mặt đất, với nỗi đớn đau quằn quại, không biết còn sống được không! Một vài anh em đã vội hái một số trái dâu bị cắn ăn dang dở, đưa cho bà chủ xem và nói:
– Bà xem đây nầy, may mà chúng tôi tìm thấy nó, chứ không thì nó sẽ còn phá hoại dâu của bà không biết bao nhiêu nữa đấy!
– Oh! No, nó không phá hoại gì cả!
Vừa nói câu ấy xong để trả lời với mấy công nhân người Việt, bà chủ vừa quỳ xuống đất, đưa hai tay run rẩy bồng con kỳ nhông xanh lên và khóc nức nở:
– “Sorry darling…, xin lỗi cưng ơi, sao họ có thể đánh cưng ra nông nỗi nầy…”
Quay sang các bạn VN mình, bà chủ vừa khóc vừa nói:
– Nó là một con vật rất dễ thương, nó không cắn hay làm hại ai cả, vậy sao các bạn lại đánh nó và làm nó bị thương trầm trọng thế nầy?
Câu trả lời của các anh em VN là:
– Có chứ, nó cằn phá rất nhiều trái dâu chín của Bà kia kìa…
– Không đâu, nó không hề phá hoại, nó chỉ đi kiếm ăn thôi mà…mà dẫu cho nó vừa ăn, vừa cắn phá chút ít thì nó cũng không làm hại ai cả, nó cũng không làm tôi nghèo, nó là người bạn rất dễ thương của chúng tôi, chúng tôi mời nó cứ thoải mái ăn kia mà… xin làm ơn đừng làm hại chúng nữa!
Nói xong, bà đã vội vàng bồng con kỳ nhông chạy nhanh vào nhà và gọi chồng bà tích tốc lái xe đưa con kỳ nhông đến “Vet” (bác sĩ thú y) để chăm sóc và trị liệu vết thương cho con kỳ nhông. Khoảng nửa giờ sau bà trở về với con kỳ nhông đã được băng bó ở chân và ở lưng, bà nhẹ nhàng đặt nó nằm giữa vồng dâu có nhiều trái chín nhất và ân cần nói:
– Bạn cứ ăn thoải mái nhé, tôi đã nói với họ rồi, họ sẽ không rượt đánh bạn nữa đâu, hãy mau chóng khỏe lại nhé, chúc may mắn!…

Qua chuyện con Kỳ Nhông ăn trái chín trên vồng dâu này, tôi tự hỏi:
– Từ tâm phát sinh từ đâu nhỉ? – từ trong bản chất? hay từ sự được dạy dỗ và khuyên bảo?
– Bản chất của người Việt chúng ta rất hiền từ nhân ái cơ mà?, nhưng có lẽ “Cái khó nó bó cái Khôn” việc gì cũng nghĩ đến cái lợi của mình, và có lòng tốt muốn bảo vệ của cải của người, nhưng lại vì cái lợi rất nhỏ nhoi mà có thể đánh mất đi cái từ tâm cao quý của bản chất con người!
– Sự dạy dỗ, khuyên bảo trong đối xử, chúng ta chỉ đặt nặng sự tử tế giũa con người với con người mà quên đi quyền sống của các loài vật khác cũng cần được tôn trọng và bảo vệ.
Câu chuyện đã xảy ra hơn 35 năm rồi, vẫn còn ghi đậm trong lòng tôi một nỗi niềm cảm phục tính nhân hậu của vợ chồng ông bà chủ farm dâu nói riêng và có lẽ của hầu hết những người Úc nói chung. Cám ơn rất nhiều, không phải chỉ bởi cuộc sống ở nơi đây mà thôi, mà những bài học về nhân ái của xứ sở nầy luôn là một dấu ấn đậm nét trong tâm thức của chúng tôi trên đất nước vô cùng xinh đẹp nầy.

Gia Hiếu

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ

CHUYỆN ĐÁI ĐƯỜNG & CÁM ƠN NƯỚC MỸ_Dương Lan Chi

DAI DUONG

(Diễn Đàn Tuổi Hạc): Tôi là một bà già quê dốt đặc cán mai, nửa chữ bẻ đôi mà hỏi tui còn hổng biết, làm sao mà nói được tiếng Mỹ. Những người quen biết, ai gặp tui cũng hỏi thăm sao tui hay quá vậy.

Thật ra, chuyện tui “tự nhiên “ được chữa khỏi con mắt bị hỏng, lãnh  tiền trợ cấp và được ở nhà housing thiệt hoàn toàn ngoài sức tưởng tượng của tui và tất cả những người quen biết với tui.

Tui qua Mỹ theo làn sóng vượt biên, cũng nhờ gia đình tui làm nghề đánh cá, một chiếc tàu vượt biên lớn sợ “bể” đã cho tui đi “chùa” nghĩa là không phải đóng “cây”. Thuyền tui đi lại gặp may nên chẳng gặp một thằng cướp biển nào, khi đến đảo lại được “bốc” vô Mỹ rất nhanh.

Thế là tui được ở một đất nước mà mọi người đều mơ ước.

Tui nghe nói nhiều người có tiền mà đi hoài không được, nhiều khi còn bị bắt giam cả mấy năm, ở tù phải lao động cực khổ không thua mấy ông sĩ quan học tập cải tạo.

Một hôm, cũng như mọi ngày, tui đi bộ để vừa chiêm ngưỡng những nhà cửa sang trọng với những bãi cỏ xanh và đủ loại hoa đẹp rực rỡ như cảnh tiên. Đang đi bỗng mắc đái không chịu được, sẵn thấy chân cầu có vẻ kín đáo, tui bèn bước vội đến đó, nhìn trước nhìn sau thấy coi bộ hổng có ai dòm, chỉ có xe hơi chạy nườm nượp hàng hàng lớp lớp, yên chí lớn, ai mà thèm dòm đít bà già. Thì tui đã quen làm như vậy khi ở Việt Nam mà!

Tui ung dung ngồi chồm hỗm xuống, khoai khoái dễ chịu vô cùng. Vừa đứng lên thì xe cảnh sát ở đâu bất ngờ trờ tới, thắng nghe một cái réec, ra dấu biểu tui để hai tay lên xe, tui vừa để lên thì nó lấy hai tay tui bẻ quặt ra đàng sau, tui nghe một tiếng “cắc” rồi cảm thấy hai cổ tay lạnh ngắt, thì ra tui đang bị còng tay.

Tui sợ điếng người nhưng đành chịu vì có biết tiếng Mỹ nào đâu mà nói với chẳng nói. Mấy ổng dìu tôi vô xe, thật ra mấy ổng vừa dìu vừa đẩy thì đúng hơn vì tui thấy sợ quá, không muốn vô xe cảnh sát chút nào. Mấy ông cảnh sát đưa tui tới một chỗ gì mà thấy rùng rợn lắm, chỗ nào cũng có máy móc thấy ngộp, muốn xỉu. Một ông đi đâu một hồi rồi trở lại với một ông khác, nhìn thấy ông này tui càng sợ hơn vì ổng mặc cái áo choàng màu xanh và lại còn đeo mặt nạ màu xanh, không biết họ sẽ
làm gì tui đây! Tự nhiên tui nổi gai ốc khắp người.

Ông mới ra dấu biểu tôi nằm vô giữa máy rồi ấn hết nút này đến nút khác, một hồi cái đầu tui bị kẹp chặt, tui cố cựa quay mà hổng ăn thua gì. Tui nhắm mắt lại thật chặt, bụng nghĩ là chắc tụi nó cho tui lên máy chém, tui niệm Chúa niệm Phật lung tung. Biết vậy thà ở Việt Nam cho sướng hơn, muốn đái đâu cũng được, cùng lắm thì bị chọc quê chứ làm gì mà tới phải lên máy chém!

Nhớ lại hồi còn ở Việt Nam, mỗi lần đi xe đò, lâu lâu xe đậu lại là mấy ông mấy bà mạnh ai nấy đái: mấy ông thì cứ đứng đái đại lề đường, còn mấy bà thì kiếm lùm cây.

Tui tưởng mình đã chết, chợt nghe hai bên đầu được nới rộng dần, rồi có người lay tôi dậy. Thì ra tui vẫn còn sống! Để chắc ăn, tui lắc thử cái đầu và sờ vào cổ không thấy máu me gì cả. Hú hồn!

Rồi có một người Việt Nam đến, ông ta tự giới thiệu là thông dịch, họ đua nhau hỏi tại sao tui có sẹo trên mặt phía trên con mắt bên phải, họ nói trong óc của tui có dấu vết tổn thương nặng. Hèn chi tui nhức đầu hoài. Họ hỏi tui nhiều câu lắm. Tui giải thích là do bị VC đánh bằng báng súng trong lúc họ đuổi tui đi kinh tế mới mà tui hổng chịu, tui cho họ biết con mắt phải của tui bị hư là do lần bị đánh đó.

Kết quả gởi về tận nhà cho biết tui bị thần kinh và bị mù một mắt. Họ còn gởi cho tui nhiều giấy tờ khác nữa. Nhờ những giấy tờ này mà sau này tui được hưởng đủ thứ giúp đỡ: được Mỹ chữa khỏi con mắt bị hư, được cấp thuốc uống không mất tiền, rồi lại còn được ở nhà housing đến bây giờ, mỗi tháng tui còn được lãnh một món tiền nho nhỏ, tui xài tiện tặn, lâu lâu gởi về chút đỉnh cho bà con, hàng xóm.

Nếu tui còn ở Việt Nam thì giờ này vẫn còn ngày hai bữa ăn cơm với rau muống luộc chấm nước mắm, một giỏ cá nục phải chia ra ăn cho đủ hai ngày.. Con mắt của tui làm gì mà có tiền chữa, mà có tiền chưa chắc đã chữa được. Cái đầu của tui bây giờ không còn bị giựt giựt như trước khi được Mỹ mổ. Thiệt không uổng công tui vượt biên đi Mỹ chút nào.

Nhưng xin bà con đừng bắt chước tui mà đái ngoài đường à nghen! May mà họ tưởng tui điên. Người không điên làm sao dám làm chuyện đó ở xứ văn minh lịch sự này! Tui nghe người ta nói tội đái bậy bị phạt rất nặng mà còn bị ghi vào lý lịch suốt đời.Nước Mỹ có nhà vệ sinh sạch và tiện
nghi lắm, bởi vậy nên nó được đặt tên là “Rest room” là “nhà để nghỉ” đó mà. Nghe nói đi xa vài chục dặm là có một “rest area” để khách du lịch đi vệ sinh và nghỉ ngơi thoải mái không những thế còn có những bàn ghế bằng đá, có thùng đựng rác khắp nơi và nhất là có phong cảnh rất hữu tình. Vậy thì đái bậy bị phạt nặng cũng phải.

Tui cũng muốn nói thêm điều này, vì đây là điều tui rất khoái: Người nào đến xứ Mỹ cũng biến thành người lịch sự, đi đâu làm gì cũng “get line” chớ không có thói quen chen lấn như ở nước mình nên bà con cứ yên tâm. Tui bây giờ cũng lịch sự lắm.

Mỗi lần kể chuyện này, tui chỉ muốn đi tìm lại hai ông cảnh sát Mỹ để nói lời cám ơn đã còng tay tui lúc đó. Nếu không thì làm gì tui có ngày nay.

Dương Lan Chi

(Nguồn: Diễn Đàn Tuổi Hạc)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ