Viếng Hồn Trinh Nữ – Thơ Nguyễn Bính


Bài thơ Viếng Hồn Trinh Nữ – Nguyễn Bính.

nguyen_binh

Một lần Nguyễn Bính cùng Vũ Trọng Can đang đứng ở nhà số 20 phố Hàng Ngang, Hà Nội, thấy có một đám ma đi qua. Người ta nói đó là đám tang một cô gái mới 16 tuổi đẹp nhất phố Hàng Đào, ai cũng xuýt xoa thương tiếc. Nhìn những cỗ xe tang trắng, đôi ngựa trắng, vòng hoa trắng, và những khăn xô trắng… đầy đường, hai nghệ sĩ rất xúc động.

Chiều, Vũ Trọng Can làm xong một bài thơ đưa Nguyễn Bính xem, Bính không nói gì. Hôm sau, Nguyễn Bính đưa bài thơ của mình cho Can xem, đó là bài “Viếng hồn trinh nữ”. Can bèn rút túi áo, xé bài thơ mình và nói:

– Ngày xưa Lý Bạch không làm thơ vịnh lầu Hoàng Hạc vì trước đó đã có thơ của Thôi Hiệu rồi. Nay có bài thơ của cậu thì thơ mình nên xé đi! Cả bài đều hay, nhưng mình thích nhất mấy câu:

“Có một chiếc xe màu trắng đục,
Hai con ngựa trắng bước hàng đôi.
Đem đi một chiếc quan tài trắng,
Và những vòng hoa trắng lạnh người.
Theo bước những người khăn áo trắng,
Khóc hồn trinh trắng mãi không thôi.”

Kể cũng là một chuyện biết người biết mình, bởi đánh giá thơ mình thường rất khó.

(Thơ & Giai thoại Nguyễn Bính – Vũ Nam)

Viếng Hồn Trinh Nữ

Chiều về chầm chậm trong hiu quạnh,
Tơ liễu theo nhau chảy xuống hồ,
Tôi thấy quanh tôi và tất cả
Kinh thành Hà Nội quấn khăn sô.

Nước mắt chạy quanh, tình thắt lại,
Giờ đây tôi khóc một người về,
Giờ đây tôi thấy hồn cay đắng,
Như có ai mời chén biệt ly.

Sáng nay vô số lá vàng rơi,
Người gái trinh kia đã chết rồi.
Có một chiếc xe màu trắng đục,
Hai con ngựa trắng bước hàng đôi,

Đem đi một chiếc quan tài trắng,
Và những vòng hoa trắng lạnh người.
Theo bước những người khăn áo trắng,
Khóc hồn trinh trắng mãi không thôi.

Để đưa nàng đến nghĩa trang này,
Nàng đến đây rồi ở lại đây.
Ờ nhỉ! Hôm nay là mấy nhỉ,
Suốt đời tôi nhớ mãi hôm nay…

Sáng nay, sau một cơn mưa lớn,
Hà Nội bừng lên những nắng vàng.
Có những cô nàng trinh trắng lắm,
Buồn rầu theo vết bánh xe tang.

Từ nay xa cách mãi mà thôi,
Tìm thấy làm sao được bóng người,
Vừa mới hôm nào còn thẹn thẹn.
Tay cầm sáp đỏ đặt lên môi.

Chiếc áo màu xanh tựa nước hồ,
Nàng vừa may với gió đầu thu.
Gió thu còn lại bao nhiêu gió,
Chiếc áo giờ đây ở dưới mồ!

Chắc hẳn những đêm như đêm qua,
Nàng còn say mộng ở chăn hoa.
– Chăn hoa ướp một trời xuân sắc –
Đến tận tàn canh, rộn tiếng gà.

Chắc hẳn những đêm như đêm kia,
Nửa đêm lành lạnh gió thu về.
Nàng còn thao thức ôm cho chặt
Chiếc gối nhung mềm giữa giấc mê.

Nhưng sáng hôm nay nàng lặng im,
Máu đào ngừng lại ở nơi tim.
Mẹ già xé vội khăn tang trắng,
Quấn vội lên đầu mấy đứa em.

Người mẹ già kia tuổi đã nhiều,
Đã từng đau khổ biết bao nhiêu!
Mà nay lại khóc thêm lần nữa,
Nước mắt còn đâu buổi xế chiều?

Những đứa em kia chưa khóc ai,
Mà nay đã khóc một người rồi!
Mà nay trên những môi ngoan ấy,
Chả được bao giờ gọi: Chị ơi!

Nàng đã qua đời để tối nay,
Có chàng đi hứng gió heo may,
Bên hồ để mặc mưa rơi ướt,
Đếm mãi bâng quơ những dấu giầy…

Người ấy hình như có biết nàng,
Có lần toan tính chuyện sang ngang.
Nhưng hồn nàng tựa con thuyền bé,
Vội cắm nghìn thu ở suối vàng.

Có gì vừa mất ở đâu đây?
Lòng thấy mềm như rượu quá say.
Hốt hoảng chàng tìm trong bóng tối:
Bàn tay lại nắm phải bàn tay.

Chỉ một vài hôm nữa, thế rồi
(Người ta thương nhớ có ngần thôi.)
Người ta nhắc đến tên nàng để,
Kể chuyện nàng, như kể chuyện vui.

Tôi với nàng đây không biết nhau,
Mà tôi thương tiếc bởi vì đâu?
“Mới hay tự cổ bao người đẹp,
Chẳng hẹn trần gian đến bạc đầu.”

Hà Nội, 1940

Bài thơ này đã được nhạc sĩ Trịnh Lâm Ngân phổ nhạc thành bài hát Hồn trinh nữ.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Viếng Hồn Trinh Nữ – Thơ Nguyễn Bính

Chữ Quốc Ngữ Bài của TS Nguyễn Tường Bách

CHỮ QUỐC NGỮ

Tiến sĩ Nguyễn Tường Bách (Đức Quốc)

Bồ Đào Nha là dân tộc của những người đi biển. Hơn thế nữa, từ xưa, họ là những người chịu bỏ xứ đi tha hương.

Lisboa là cảng biển thiên nhiên duy nhất của bán đảo Iberia, từ trước công nguyên đã là một trung tâm chính trị và kinh tế. Lisboa nằm ngay trên cửa biển, hòa nước ngọt của sông Tejo vào nước mặn của Đại Tây Dương, mênh mông một màu nước, khơi gợi lòng viễn du của một dân tộc sẵn sàng lên đường. Thực vậy, kể từ thế kỷ thứ 15, khi tài đi biển của người Bồ Đào Nha lên đến đỉnh cao, quốc gia này bành trướng thành cường quốc số một ở Châu Âu, chiếm lĩnh nhiều thuộc địa ở Brazil, Châu Phi, Ả-rập, Ấn Độ và Trung Quốc.

. . .

Năm 1511 thuyền nhân Bồ Đào Nha bắt đầu nhắm đến Trung Quốc và Nhật Bản. Họ vòng từ miền nam Ấn Độ, đi đường biển dọc theo miền Trung Việt Nam để lên đảo Macau.

missionaire

Hẳn họ đã dừng chân tại Hội An để buôn bán và tiếp tế lương thực, nên năm 1524 họ dựng một tấm bia đá ở cù lao Chàm. Song song, các nhà truyền giáo lần lượt đến Nhật Bản, Trung Quốc và Việt Nam. Trong những năm cuối của thế kỷ thứ 16 các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha của hai dòng thánh Francisco và Agustino đến Việt Nam, nhưng cuối cùng bỏ cuộc.

Đầu thế kỷ thứ 17 các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha lại đến Việt Nam một lần nữa và lần này họ thành công. Dòng Tên* chính thức được thành lập ở Đàng Trong năm 1615. Đàng Ngoài năm 1627. Trong giới giáo sĩ dòng Tên người Bồ có một nhân vật xuất sắc, đóng một vai trò lịch sử trong nền văn hóa Việt Nam, đó là Francisco de Pina. Pina sinh năm 1585, đến Macau năm 1613, đặc biệt rất giỏi tiếng Nhật. Năm 1617 ông đến Đàng Trong truyền giáo và bắt đầu dịch một số văn bản của Ki Tô giáo ra tiếng Nôm, một thứ chữ Hán được bản địa hóa.. Thế nhưng Pina nhận thấy các nhà truyền giáo đồng nghiệp có một khó khăn trầm trọng , đó là họ không sao học được chữ Nôm. Chàng linh mục trẻ tuổi Pina thấy chữ Nôm không thể là phương tiện giao tiếp với người bản xứ, ông nghĩ ra một cách đơn giản. Ông thử lắng nghe người Việt phát âm ra sao rồi dùng mẫu tự la tinh để diễn tả âm tiết theo cách mà tiếng Bồ Đào Nha thường làm. Đó là thời điểm khai sinh của chữ quốc ngữ chúng ta ngày nay. Theo lời xác nhận của chính Pina, kể từ năm 1622, ông đã xây dựng một hệ thống chuyển mẫu tự la tinh cho hợp với thanh điệu và lối phát âm của tiếng nói Việt Nam. Pina cũng soạn cả một tập văn phạm thô sơ cho loại chữ viết mới mẻ này. Có lẽ trên thế giới không có nơi nào có một thứ chữ viết được hình thành trong điều kiện như thế.

Năm 1624 Francisco de Pina mở trường dạy tiếng Việt cho các nhà truyền giáo khác. Trong số người đến học với ông có hai vị quan trọng, một người đã lớn tuổi là António de Fontes (1569 -?), sinh tại Lisboa. Vị kia chính là Alexandre de Rhodes (1591-1660), sinh tại Avignon, Pháp.Hai vị này lãnh hai trọng trách, de Fontes là trụ cột cho giáo xứ truyền giáo ở Đàng Trong, còn de Rhodes sẽ ra Đàng Ngoài vào năm 1626, lúc đó trong thời kỳ của Chúa Trịnh Tráng. Một ngày nọ trong tháng12 năm 1625, một chiếc tàu của Bồ Đào Nha bỏ neo ở vịnh Đà Nẵng, Pina lên tàu để mang hàng hóa vào bờ. Khi đến bờ chẳng may thuyền chìm, Pina chết tại đó, ông chỉ sống được 40 tuổi.

Sau cái chết bi thảm của Pina, các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha vẫn tiếp tục xây dựng chữ quốc ngữ mà hai nhân vật có công nhất chính là hai người Bồ, Gaspar de Amaral (1549-1646) và Antonio Barbosa (1594-1647). Còn Alexandre de Rhodes thì bị chúa Trịnh Tráng trục xuất năm 1630, phải đi Macau. Mười năm sau, năm 1640 de Rhodes trở lại Đàng Trong và đến năm 1645 bị Chúa Nguyễn vĩnh viễn trục xuất khỏi Việt Nam. De Rhodes trở về La Mã và năm 1651 ông cho xuất bản tập tự điển Việt-Bồ Đào Nha-La Tinh (Dictionarium annamiticum seu tunquinense lusitanum et latinum).

Trong các đời sau, nhiều người tôn Alexandre de Rhodes là người sáng tạo chữ quốc ngữ nhưng thực ra đó là công của các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha, mà người đầu tiên phải là Francisco de Pina.

Một tình cờ của lịch sử đã đưa các vị giáo sĩ Bồ Đào Nha phát minh ra một loại chữ viết cho cả một dân tộc xa lạ, trong đó họ buộc phải dùng mẫu tự và âm tiết của ngôn ngữ mình để diễn tả một tiếng nói khác, vốn mang đầy thanh âm trầm bổng như tiếng chim. Mục đích ban đầu của chữ quốc ngữ là để cho các nhà truyền giáo nói được tiếng Việt và giao tiếp với cộng đồng tôn giáo của mình bằng chữ viết. Về sau, khi các nhà cai trị người Pháp đến Việt Nam, họ cũng không kham nổi chữ Hán lẫn chữ Nôm. Giải pháp thuận tiện của người Pháp là buộc mọi người Việt Nam phải sử dụng chữ quốc ngữ và có lẽ đó cũng là lý do tại sao vai trò của Alexandre de Rhodes được nêu bật.

Từ 1930 chữ quốc ngữ trở thành chữ viết chính thức của người Việt.

Chú thích* Bài viết trích từ chương Những Người Đi Biển, trong tập bút ký “Đường Xa Nắng Mới” của TS Nguyễn Tường Bách, tên bài viết do blog tự đặt.

 

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Chữ Quốc Ngữ Bài của TS Nguyễn Tường Bách

Tuổi già là vậy! Thơ TPK

TUỔI GIÀ LÀ VẬY

361360310_1539588216572129_2809799724420725083_n

Gắng lên em, tuổi già là như vậy
Sáng nắng chiều mưa mình mẩy rêm hoài
Đêm thao thức nghe gió thoảng hiên ngoài
Ngày mấy bữa cháo cơm nhai hờ hững
Ăn kém ngon bụng nê nê lơ lững
Mâm cỗ đầy mà mắt cũng làm ngơ
Nhớ những năm mình nghèo xác nghèo xơ
Nhai bo bo mà chỉ mơ cơm nguội
Chẳng buồn chi vì mình nay có tuổi
Mấy mươi năm sống ở Mỹ còn chi
Những sơn hào hải vị có thiếu gì
Mọi thứ rồi đều đi không trở lại
Trên đời nầy có ai dừng chân mãi
Đường có đi thì phải đến mà thôi
Trời cho ta nhiều ơn phúc lắm rồi
Còn chặng cuối xin Trời cho thanh thản.
TPK

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Tuổi già là vậy! Thơ TPK

Bạn K1 Trần Lộc thăm K1 Nam Cali

Hội Ngộ K1 Trần Lộc tại Nam Cali

Vào lúc 5pm chiều qua Thu sáu 14/7/2023, một số anh chị K1 tại Quận Cam nam CA đã có một buổi gặp gỡ thân mật với anh chị Trần Lộc và Nguyễn Thị Sum nhân dịp anh chị và gia đình từ Hawaii ghé thăm Cali. Vi buổi họp mặt diễn ra khá bất ngờ nên số anh em tham dự không đông. Hiện diện trong buổi hội ngộ này, ngoài AC Lộc Sum, còn có các bạn Ngưu, Toán, Thời, Hưng, Lượng, Cẩm Y, Vân Hoà.

Một vài hình ảnh ghi lại bằng Iphone sau khi 2 bạn Ngưu và Cẩm Y đã ra về và vì không có phó nhòm Võ Thiệu:

unnamed (11)unnamed (10)unnamed (9)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Bạn K1 Trần Lộc thăm K1 Nam Cali

Tưởng nhớ Cố Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Quốc Gia VNCH – Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Loan – Bài của Tuyến Đinh

Tướng Nguyn Ngc Loan (1930–1998)

116321076_287289509362993_1222469130824146928_n

Ông sinh ngày 11 tháng 12 năm 1930 tại Huế, Thừa Thiên, miền Trung Việt Nam, trong một gia đình khá giả. Cha ông nguyên là một Công chức trung cấp tùng sự tại Chi nhánh Hỏa xa ở Huế. Thời niên thiếu, ông học phổ thông các cấp ở Huế. Năm 1951, ông tốt nghiệp Trung học chương trình Pháp tại trường Khải Định với văn bằng Tú tài toàn phần (Part II). Sau đó ông thi lên Đại học, là sinh viên năm Dự bị Đại học Y khoa Sài Gòn.
Cuối tháng 9 năm 1951, thi hành lệnh đông viên, ông nhập ngũ vào Quân đội Quốc gia (thành phần trong Quân đội Liên Hiệp Pháp), mang số quân: 50/600.198. Theo học khóa 1 Lê Văn Duyệt tại trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức, khai giảng ngày 1 tháng 10 cùng năm. Ngày 1 tháng 6 năm 1952, mãn khóa tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu úy. Ra trường, ông được đi phục vụ ở Tiểu đoàn 62 Việt Nam với chức vụ Trung đội trưởng. Thời gian phục vụ ở đơn vị này, ông được theo học lớp Huấn luyện Biệt kích. Mãn khóa Biệt kích, ông được chuyển nhiệm vụ sang Lực lượng Xung kích. Hạ tuần tháng 12 cùng năm, ông trúng tuyển vào Binh chủng Không quân.

Đầu năm 1953, ông sang Pháp thụ huấn khóa Huấn luyện Hoa tiêu Khu trục tại trường Võ bị Không quân Salon de Provence. Đầu năm 1955 mãn khóa về nước, ông được thăng cấp Trung úy chỉ huy Phi đội trong Phi đoàn Vận tải ở Tân Sơn Nhất.

Tháng Giêng năm 1956, sau một thời gian từ Quân đội Quốc gia biên chế vào Quân đội Việt Nam Cộng hòa, chuyển sang đơn vị tác chiến, ông giữ chức vụ Phi đội trưởng trong Phi đoàn 1 Khu trục ở Biên Hòa do Đại úy Huỳnh Hữu Hiền làm Chỉ huy trưởng đầu tiên. Đầu năm 1957, ông được thăng cấp Đại úy giữ chức vụ Chỉ huy phó Phi đoàn 1 Khu trục.
Giữa năm 1958, chuyển ra Duyên hải miền Trung, ông đảm nhiệm chức vụ Chỉ huy trưởng Phi đoàn 2 Quan sát tại Nha Trang thay thế Đại úy Nguyễn Hữu Tần.

Ngày Quốc khánh Đệ Nhất Cộng hòa 26 tháng 10 năm 1959, nhận lệnh bàn giao chức vụ Chỉ huy trưởng Phi đoàn 2 Quan sát lại cho Đại úy Võ Công Thống. Cùng ngày ông được thăng cấp Thiếu tá chuyển về Bộ Tư lệnh Không quân để giữ chức vụ Tham mưu phó. Tháng 6 năm 1960, ông được cử vào chức vụ Chỉ huy trưởng Trung tâm Kiểm soát Không chiến.

Đầu tháng 11 năm 1963, tham gia cuộc đảo chính Tổng thống Ngô Đình Diệm (1 tháng 11).
Ngày 3 tháng 11, ông được thăng cấp Trung tá và được cử làm Tham mưu trưởng Không quân, thay thế Đại tá Đỗ Khắc Mai lên làm Tư lệnh Binh chủng thay cho Đại tá Huỳnh Hữu Hiền bị Hội đồng Quân nhân Cách mạng buộc giải ngũ. Trung tuần tháng 12 cùng năm, ông bàn giao chức vụ Tham mưu trưởng lại cho Trung tá Phạm Long Sửu, cùng ngày ông được cử giữ chức vụ Tư lệnh phó Không quân, do Đại tá Nguyễn Cao Kỳ làm Tư lệnh.

Đầu năm 1965, trong chiến dịch “Mũi Tên Lửa” (Flaming Dart). Ngày 11 tháng 2, ông chỉ huy các Phi tuần Bắc phạt A.1E Skyraider vượt qua vĩ tuyến 17 để oanh tạc các doanh trại của quân Bắc Việt tại Chánh Hòa, Hà Tĩnh và Chấp Lễ, Quảng Bình. Tiếp đến vào ngày 2 tháng 3, ông chỉ huy hai Phi đội A.1E bay ra oanh tạc căn cứ Hải quân Bắc Việt tại Quảng Khê, Quảng Bình.

Ngày Quân lực 19 tháng 6 năm 1965, Quân đội Việt Nam Cộng hòa được cải danh thành Quân lực Việt Nam Cộng hòa, ông được chuyển về Bộ Tổng Tham mưu để giữ chức vụ Giám đốc Nha An ninh Quân đội thuộc Tổng cục Chiến tranh Chính trị thay thế Đại tá Trang Văn Chính.
Ngày Quốc khánh Đệ Nhị Cộng hòa 1 tháng 11 cùng năm, ông được thăng cấp Đại tá tại chức.

Ngày 29 tháng 4 năm 1966, biệt phái sang Bộ nội vụ ông được bổ nhiệm chức vụ Tổng Giám đốc Tổng Nha Cảnh sát Quốc gia, thay thế Đại tá Phạm Văn Liễu.

Ông vẫn kiêm nhiệm chức vụ Giám đốc Nha An ninh Quân đội thêm 2 tháng, cho đến ngày 24 tháng 6 bàn giao Nha này lại cho Đại tá Vũ Đức Nhuận để kiêm thêm chức vụ Đặc ủy trưởng Trung ương Tình báo Quốc gia nhưng ngay sau đó bàn giao chức Đặc ủy trưởng cho Trung tướng Linh Quang Viên đương nhiệm Tổng trường Nội vụ kiêm nhiệm.
Ngày Quốc khánh 1 tháng 11 cùng năm, ông được thăng cấp Chuẩn tướng tại tại chức..

Cũng trong năm 1966, ông được Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ, Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban Hành pháp Trung ương cử ra miền Trung bình định vụ Biến động Phật giáo trong cuộc bạo động ly khai, được xem là có sự hậu thuẫn của tướng Nguyễn Chánh Thi Tư lệnh Quân đoàn I và Vùng 1 Chiến thuật. Do thành công trong cuộc bình định, ông được xem như là cánh tay mặt của tướng Kỳ.

Giữa năm 1967, ông được làm Trưởng đoàn, hướng dẫn Phái đoàn công du thăm viếng Nam Hàn.

Trong sự kiện Tết Mậu Thân 1968, tướng Nguyễn Ngọc Loan đã cầm súng bắn thẳng vào đầu một tù binh đặc công Việt Cộng với hai tay đang bị trói, tại Thị Nghè (có tài liệu nói là trên đường Lý Thái Tổ, Ngã Bảy, Sài Gòn). Vụ việc được ký giả Eddie Adams nhanh tay chụp được. Cùng lúc ấy, phóng viên đài ABC của Úc là Neil Davis cũng quay phim rất rõ ràng.

Vụ việc được ký giả Eddie Adams nhanh tay chụp được. Bức ảnh của Eddie Adams ngay lập tức đã lên trang nhất các báo quốc tế, làm xôn xao dư luận, gây sốc cho nhiều người trên thế giới, làm đẩy mạnh Phong trào phản chiến ở Mỹ. Nó trở thành một trong những hình ảnh được nhớ tới nhiều nhất của cuộc Chiến tranh Việt Nam và giúp Adams giành được giải Pulitzer trong năm 1969 về chụp hình tin tức tại chỗ.

Chỉ bốn tháng sau sự kiện Saigon Execution, ngày 5/5/1968 Quân Bắc Việt lại mở cuộc tổng công kích lần thứ hai. Lần này, Tướng Loan cùng với lực lượng Cảnh Sát tiếp tục chiến đấu ngoài đường phố Sài Gòn. Ông bị trọng thương ở chân trên cầu Phan Thanh Giản, tức đường Điện Biên Phủ ngày nay. Tướng Nguyễn Ngọc Loan bị thương và được Quân Cảnh Mỹ đưa đi cấp cứu (General Nguyễn Ngọc Loan was wounded and carried by American Military Police to Ambulance).

Sau đó, Tướng Loan được chở sang Úc chữa trị, nhưng vì bị công luận Úc phản đối, nên ông lại được chuyển sang bệnh viện Walter Reed Army Medical Center ở Washington, DC., Hoa Kỳ. Nhưng thật đau đớn cho Tướng Loan, các dân biểu ‘phản chiến’ tại Quốc hội Hoa Kỳ vào lúc đó cũng phản đối.Tướng Loan bị cắt cụt chân phải (Gen.Loan, whose right leg had been amputated),Trở về Sàigòn với đôi chân khập khiễng.

Ngày 3 tháng 6 cùng năm, ông được thăng cấp Thiếu tướng. Bốn ngày sau (ngày 7 tháng 6), ông bàn giao chức vụ Tổng Giám đốc Tổng Nha Cảnh sát Quốc gia lại cho Đại tá Trần Văn Hai (nguyên Chỉ huy trưởng Biệt động quân ).

Tháng 12 cùng năm, ông chuyển sang Bộ Quốc phòng với chức vụ Chánh Thanh tra. Đầu năm 1969, ông được cho giải ngũ và được hưởng chế độ phụ cấp dành cho tướng lĩnh về hưu.

Ngày 30 tháng 4 năm 1975, Tướng Loan và gia đình đến lập nghiệp ở thành phố Springfield, tiểu bang Virginia, Hoa Kỳ. Ông mở một tiệm bán bánh pizza mang tên Pháp là ‘Les Trois Continents’ (Ba Đại Lục). Đã có lần, Eddie Adams đến tiệm pizza này thăm Tướng Loan. Khi nhắc đến tấm hình oan nghiệt năm xưa, Tướng Loan không hề nói một lời oán trách tác giả tấm hình. Ông còn an ủi Adams: “Ông làm nhiệm vụ của ông, tôi làm nhiệm vụ của tôi. Chỉ có thế thôi!” Chính vì câu nói này, Adams càng thêm mến phục Tướng Loan và họ đã trở thành đôi bạn tri kỷ.

Năm 1991, tướng Loan phải đóng cửa tiệm pizza, vì một số dân địa phương đã nhận diện được ông. Có kẻ đã vào nhà vệ sinh của tiệm và viết lên tường một câu khiếm nhã: “We know who you are” (Chúng tao biết mày là ai).

Thiếu Tướng Nguyễn Ngọc Loan đã qua đời lúc 20 giờ ngày 14/07/1998 vì bệnh ung thư tại Burke, Virginia, thuộc vùng ngoại ô của Washington, D.C, thọ 68 tuổi. Ông để lại vợ, bà Mai Chính, 5 người con.

Sau khi tướng Loan chết, nhà báo Eddie Adams đã gửi lời viếng và bày tỏ sự ân hận vì những tác động của bức ảnh lên cuộc sống của ông sau này: “Người này là một anh hùng. Nước Mỹ đáng lẽ phải tiếc thương ông ta. Tôi rất tiếc là đã để cho ông ta ra đi như thế này, trong khi người ta không hề biết một chút gì về ông ta cả”

Nhà báo Eddie Adams đã gửi thư tới viếng và bày tỏ sự ân hận vì những tác động của bức ảnh lên cuộc sống của tướng Loan sau này.
Eddie Adams không cho rằng việc bắn chết tù binh là hành động đúng, nhưng ông thông cảm cho nỗi dằn vặt mà tướng Loan phải chịu đến khi chết.
Eddie Adams nói: “Ông ấy chiến đấu cho cuộc chiến của chúng ta (người Mỹ), không phải cuộc chiến của họ (người Việt). Vậy mà mọi điều nhục nhã lại đổ trên đầu con người này. Nước Mỹ đáng lẽ phải tiếc thương ông ta. Tôi rất tiếc là đã để cho ông ta ra đi như thế này, trong khi người ta không hề biết một chút gì về ông ta cả. Bức ảnh này đã thực sự làm đảo lộn cuộc sống của ông ta. Ông không bao giờ đổ lỗi cho tôi. Ông nói với tôi nếu tôi không chụp bức ảnh này, thì người khác cũng sẽ chụp thôi, nhưng tôi đã cảm thấy áy náy trước ông và gia đình ông trong một thời gian dài.
Tôi đã giữ liên lạc với ông ta. Lần cuối cùng chúng tôi nói chuyện với nhau là cách đây khoảng sáu tháng, khi bệnh tình của ông ấy đã rất nặng rồi.
Khi hay tin ông mất, tôi đã gửi hoa chia buồn”. Trong các vòng hoa phúng điếu có vòng hoa của ông Eddie Adams, trên đó có đính kèm danh thiếp ghi dòng chữ bằng tiếng Anh: “General: I’m so…sorry. Tears in my eyes” (Thưa Thiếu tướng, tôi rất ân hận. Lệ đã tràn đầy mắt tôi).
Bản điếu văn chia buồn của ông Eddie Adams sau đó được tuần báo Time đăng tải vào ngày 27 tháng 7 năm 1998. Sáu năm sau đó, vào ngày 12 tháng 9 năm 2004, ông Eddie Adams cũng từ trần, hưởng thọ 71 tuổi. 

116426187_286932546065356_6472529575090671375_n

15-12-1966_Quận Trưởng CSQG Đàm Trung Mộc, Viện Trưởng Học Viện CSQG hướng dẫn Đại Tá Nguyễn Ngọc Loan, Tổng Giám đốc CSQG duyệt hàng quân danh dự trong buổi lễ Mãn Khoá Khoá 1 Sĩ Quan Cảnh Sát tại Học Viện CSQG tại trại Lê văn Duyệt, trong khu Biệt Khu Thủ Ðô Sài Gòn.

-Col. Nguyen Ngoc Loan , Director General of the National Police inspecting the honor guard at the Graduation Ceremony of Police Officer Course 1 of the National Police Academy on December 15, 1966.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Tưởng nhớ Cố Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Quốc Gia VNCH – Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Loan – Bài của Tuyến Đinh

Tin Buồn Khóa 1

1688510880391blob

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Tin Buồn Khóa 1

Video mừng Quốc Khánh Hoa Kỳ

Happy July 4th

Thân chúc gia đình K1 có ngày hội mừng Quốc Khánh Hoa Kỳ vui vẻ và Hạnh Phúc.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Video mừng Quốc Khánh Hoa Kỳ

Ân Sâu Nước Mỹ – Thơ TPK

ÂN SÂU NƯỚC MỸ

Nha tpk

Ta ra đi kể từ dạo ấy
Vượt sóng cồn vượt mấy sơn khê
Sau lưng núi biếc làng quê
Giả từ thân tộc bạn bè yêu thương
Bỏ lại hết trăm đường cay đắng
Tháng tư buồn mất trắng non sông
Đoạ đày tủi nhục chất chồng
Tự do chẳng có,ánh hồng mây che
Nhờ ơn trên đưa ghe tới bến
Được Hoa Kỳ cho đến định cư
Nơi nầy thơm thảo có dư
Trãi lòng từ ái đẹp như thiên thần
Quê hương mới nghìn lần thông thoáng
Khắp phố phường rợp bóng cờ hoa
Đa văn đa sắc hài hòa
Người người như thể một nhà bên nhau
Nhờ tự do cháu con thăng tiến
Xóa niềm đau quốc biến gia vong
Hết rồi một thuở xiềng gông
Ân sâu nước Mỹ tấc lòng khắc ghi .

TPK

HAPPY JULY 4th 2023

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Ân Sâu Nước Mỹ – Thơ TPK

30 năm Ly Hương – ncv


30 năm ly huong

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở 30 năm Ly Hương – ncv

Tâm tình của Tuyến Đinh – Tại sao ta mất nước

TẠI SAO TA MẤT NƯỚC  –
TÂM TÌNH CỦA TUYEN DINH

Screen Shot 2021-07-24 at 10.28.36 AM copy 6

Trước Ngày đứt phim tôi phục vụ tại Tỉnh Khánh Hoà, thuộc Vùng 2.

Khi nói về “ Sài Gòn thất thủ tôi lại bùi ngùi nhớ lại ngày đau buồn đó.

Không biết các bạn nghĩ thế nào, chứ bản thân tôi , tôi thấy chúng ta mất ” Nước Việt Nam Cộng Hoà “ cũng có phần lỗi của chúng ta.

Tôi đã chứng kiến cảnh đoàn quân và dân miền Trung di tản từ Ban Mê Thuột về qua ngã ba Ninh Hoà (Dường đi khánh Dương, Ban Mê Thuột và Quốc lộ 1) và đoàn người di tản từ Kontum ,Pleiku về Tuy Hoà dọc theo Quốc Lộ 1 về hướng Nam. Thật khủng khiếp.

Khi họ đi qua hết thì tới phiên chúng tôi.

Tôi liên lạc máy truyền tin gọi về Tỉnh để xin lệnh , thì Quan Tỉnh Trưởng của chúng tôi là Đại tá Lý Bá Phẩm đã lên trực thăng biến mất rồi, gọi máy xin gặp Trung tá Phương Chỉ huy trưởng CSQG Tỉnh Khánh Hoà thì ngài cũng biến mất dạng ! 

Tôi đứng ngắm từng đoàn xe quân đội của Huấn Khu Dục Mỹ lần lượt rút quân đi ngang qua chỗ tôi tại Ngã ba Ninh Hoà ( Dục Mỹ+Quốc Lộ 1) mà buồn , không biết tính sao đây.. 

Bây giờ tôi như rắn mất đầu ! chẳng còn lệnh lạc gì nữa , các cấp chỉ huy trên tôi đều  biến hết rồi. 

Tôi tập họp nhân viên 20 cuộc và Bộ chỉ huy Quận, cho lệnh giải tán, tự ai nấy lo thân và tìm đường di tản về Sài Gòn. 

Phải nói là chúng ta bỏ ngỏ thành phố, không chính phủ, không quân đội, cảnh sát , Việt Cộng không đến kịp để tiếp thutóm lại chẳng có đánh đấm gì cả, mạnh ai nấy chạy ! 

thảm cảnh là như vậy, làm sao không mất nước được .

Vật vả di tản về tới Sài Gòn ở nhờ nhà bà con khu Chí Hoà.

Vào ngày 25 tháng 4-1975 nghe nói Ông Nguyễn Cao Kỳ đến nói chuyện với đồng bào Công Giáo tại khu Nhà thờ Lộc Hưng , gần Khu nhà thờ Nam Hoà do Uỷ Ban Hành Động Cứu Nước của Linh mục Trần Hữu Thanh lãnh đạo đứng ra tổ chức.

Tôi cũng đến tham dự. Nghe Ông Kỳ kêu gọi ở lại, tử thủ thấy cũng phấn khởi một chút 

Ông Kỳ tuyên bố :

“Nếu đồng báo nhất trí đoàn kết, thì chúng ta sẽ còn con đường sống. Chúng ta phải cương quyết chiến đấu cho đến hơi thở cuối cùng. Quân cộng sản chỉ chờ đợi nơi chúng ta tự chia rẽ và tự tan rã mà thôi. Tôi sẽ ở lại Sài Gòn và chiến đấu cho tới chết. Tôi muốn nói lên quyết tâm này với dân chúng Sài Gòn. Những người bỏ chạy ngay bây giờ trước khi quân địch tấn công vào đều là những kẻ hèn nhát”.

Nhưng chỉ 4 ngày sau (29-4-1975) , Ông Kỳ đã bay ra Hàng Không Mẫu hạm đậu ngoài khơi !

Hôm nay tình cờ tôi tìm lại đoạn video xưa về Ông Kỳ :

Tôi upload lên Youtube mời các bạn xem, cùng với  “Sài Gòn thất thủ “ by Komori Yoshihisa _ Khôi Nguyên dịch , trích đoạn ký sự của nhà báo Nhật Bản kể lại khá trung thực :

Các bạn click vào link dưới đây để xem tiếp

” Sài Gòn thất thủ ” by Komori Yoshihisa _ Khôi Nguyên dịch

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Tâm tình của Tuyến Đinh – Tại sao ta mất nước

Happy Father’s Day – Có Những Người Cha – Thơ TPK

2249362

CÓ NHỮNG NGƯỜI CHA

Có những người cha một thời oanh liệt
Bước oai hùng cầm súng diệt xâm lăng
Cho hậu phương giấc ngủ mộng an lành
Cho con trẻ được học hành vui thoả.

Đường hành quân núi đồi chia trăm ngả
Mang trên vai hoài bão giữ non sông
Giữ tự do cho giòng giống Lạc Hồng
Đời lính chiến nhọc nhằn dâng quê mẹ.

Có những đêm nơi tiền đồn quạnh quẻ
Nhớ thương về người vợ trẻ sắc son
Đang thay cha nuôi dạy một đàn con
Và mơ ước rồi không còn chinh chiến.

Đến một ngày lệnh truyền ra tiền tuyến
Lịnh lui quân,buông súng khiến đau lòng
Bóng mây mờ phủ xuống khắp non sông
Dòng lịch sử sang trang đầy oan nghiệt.

Có nhiều người đau buồn nên tuẩn tiết
Còn bao nhiêu chịu rên xiết lưu đày
Ngày lại ngày nếm sỉ nhục chua cay
Bị hành hạ bởi chẳng may chiến bại.

Ra khỏi tù với thân tàn ma dại
Đưa vợ con ra hải ngoại dung thân
Nhờ tự do nên con cái thành nhân
Tạ ơn trên với phước phần có được.

Và giờ đây những người cha thuở trước
Theo thời gian kẻ bước khỏi trần đời
Người thì già ngồi ngắm ánh chiều rơi
Lắng hồn về một thời xa xưa cũ.

TPK

Mùa Từ Phụ 2023

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Happy Father’s Day – Có Những Người Cha – Thơ TPK

Thơ TPK Đôi Cảnh

ĐÔI CẢNH

( Bạn TPK gan cùng mình. Vừa rồi dẫn vợ về thăm quê mà dám trốn vợ tìm đến thăm người tình xưa, rồi còn nói ” Ánh mắt chừng như muốn tỏ bày. . . )

1310langco1

Anh đến thăm em một buổi chiều
Em chờ trước cổng bóng liêu xiêu
Bên thềm nắng trãi màu phai úa
Mái tóc ngang vai bạc khá nhiều.

Dáng ngọc ngày xưa nhuộm tháng ngày
Thời gian bào mõng chẳng nương tay
Tách trà rung nhẹ mời anh uống
Ánh mát chừng như những tỏ bày.

Thuở ấy tơ vương mộng lỡ làng
Bởi vì chiến cuộc phá tan hoang
Hay là duyên phận ngăn hai lối ?
Để đến hôm nay thấy ngỡ ngàng.

Em đã sang ngang tự thuở nào
Thuyền tình sóng dập đến lao đao
Anh thì nghiêng ngã đời đen bạc
Đôi cảnh phân ly luống nghẹn ngào.

Bây giờ còn lại chút hương xưa
Giữ trọn trong tim dạ cũng vừa
Quên hết trái ngang đời tục lụy
Để lòng chẳng bận với hơn thua.

TPK

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thơ TPK Đôi Cảnh

Người bạn làng Tam Ích – Tác giả: Phạm Tín An Ninh

Người Bạn Làng Tam Ích –


Phm Tín An Ninh

1679212606743blob

(gởi Phạm văn Nếp)

Bạn về gõ cửa đêm thâu
Ta nghe âm vọng nỗi sầu xa xưa

Sau ba năm ngồi bên nhau ở trường Võ Tánh, chia tay, mỗi thằng đi mỗi ngã. Anh bạn của tôi thì vào trường luật, còn tôi thì vào trường…lính. Khi còn đi học, bạn chăm chỉ và giỏi hơn tôi nhiều. Hai đứa học trò nghèo, cùng ở quê lên tỉnh học, nên dễ dàng là bạn tâm giao. Con nhà nghèo nhưng tôi lại mê truyện François Sagan và thơ Xuân Diệu, biết yêu hơi sớm, nên thay vì theo bạn học thêm vài ba chữ, thì tôi lại đắm say ngụp lặn trong một cuộc tình kiểu Aimez-vous Brahms. Mà dường như tình yêu nó làm cho người ta đổi thay ghê gớm lắm.

Không biết tình yêu ngày ấy có làm tôi “…chết ở trong lòng một ít, và… lạc lối giữa u sầu mù mịt” như ông Xuân Diệu hay không, nhưng nó đã biến tôi thành một thằng lính. Để cho có vẻ lãng mạn một chút, tôi tự cho mình là một thằng lính đa tình.

Trước ngày chia tay, anh bạn dẫn tôi về thăm quê. Từ Nha trang chúng tôi di xe đò Khánh Hòa. một trong những chiếc xe Renault sơn màu nửa xanh nửa trắng, quen thuộc một thời với đám học trò từ Vạn Giã, Ninh Hòa vào Nha Trang đi học. Qua khỏi đèo Rọ Tượng một lúc, xuống xe, anh bạn đèo tôi trên xe đạp về làng. Đi dọc theo con đường đất, hai bên bát ngát những ruộng đồng, hun hút phía xa xa, nằm ẩn hiện sau ngôi đình với bao tàn cây cổ thụ, là làng Tam Ích. Cái làng quê đẹp như bức tranh vẽ và thần tiên như trong cổ tích. Ngay cả cái tên của bạn tôi cũng mộc mạc dễ thương như cánh đồng tôi vừa mới đi qua. Làng Tam Ích hiền hòa, êm đềm với tiếng gió đồng nội hòa cùng tíếng sóng rì rào tạo thành khúc nhạc huyền dịu của đất trời, và hun đúc cái hiền lành thánh thiện trong tâm hồn người bạn thời niên thiếu của tôi… Vậy mà chiến tranh cũng đã một thời cướp đi cái yên bình đầm ấm của ngôi làng. Ăn cơm chiều sớm, hai đứa chúng tôi chào những người thân, rồi đèo nhau ra phố Ninh Hòa ngủ qua đêm. Nếu chiến tranh ngày đó đã cướp mất của tôi bao nhiêu điều tốt đẹp, thì trong đó có cả cái lần tôi không được ở lại làng Tam Ích một đêm để cùng anh bạn tôi kéo giành bắt cá, đi câu, và ngồi ngắm ánh trăng lung linh trên đầm Nha Phu trong một vùng biển trời tĩnh mịch.

Ra khỏi quân trường tôi về Nha Trang tìm thăm bạn tôi một lần. Hai thằng rủ nhau ra tiệm sách Vĩnh An Thành, bên cạnh chợ Đầm, vờ mua sách để ngắm dung nhan cô chủ mà anh bạn của tôi đã từng say đắm một thời. Rồi kể từ đó biền biệt xa nhau. Chiến trường ngày càng ác liệt, những thằng lính đánh giặc như tôi chỉ biết có súng đạn và mục tiêu trước mặt. Phố phường, bạn cũ trường xưa, là một quá khứ thật dễ thương, nhưng cũng đành phải mờ nhạt phía sau lưng.

Mười năm sau, khi cùng đơn vị sống chết từng phút từng giờ với chiến trường Kontum trong “mùa hè đỏ lửa”, bất ngờ tôi gặp lại người bạn làng Tam Ích ngày xưa. Anh sinh viên trường luật ngày nào bây giờ chỉ huy một đơn vị CTCT, vừa từ Ban Mê Thuột lên hỗ trợ tinh thần cho đơn vị tôi. Bộ “chinh y” chưa làm cho chàng ta thay đổi. Vẫn nét mặt thư sinh cùng nụ cười hiền hậu ngày xưa. Hai thằng ôm nhau trong lúc đạn pháo trên các chiến xa T-54 thi nhau bắn vào căn cứ. Nửa khuya hôm ấy đơn vị tôi nhận lệnh di chuyển bất ngờ. Vậy là tâm tình chưa cạn thì hai thằng đã phải lặng lẽ chia tay, chưa kịp bắt chước nhà thơ Nguyễn Bắc Sơn nắm tay hò hẹn:

“Mai ta đánh trận may còn sống
Về ghé Pleiku* phá phách chơi..
Chia sớt nỗi sầu cùng gái điếm
Đốt tiền mua vội một ngày vui “

Chiến tranh đã làm bạn bè tan tác, nhưng đến khi kết thúc lại còn tan tác bi thảm hơn. Sau tháng 4/75, cái cổng trại “cải tạo” của nhà nước đã làm chia ly biết bao tình cảm con người. Bạn bè kẻ chết ở đầu non, người mỏi mòn góc bể. Người bạn làng Tam Ích bây giờ chỉ còn mờ mịt đâu đó trong ký ức hiu hắt của tôi.

Vậy mà Trời thương, hai thằng còn sống. Mang tấm thân tàn tạ về với gia đình. Tội nghiệp, nghe tin tôi về, anh bạn trọn tình, tìm đến nhà ông bà già vợ tôi ở Ninh Hòa thăm thằng bạn cũ. Lúc ấy “chính quyền Cách Mạng” không cho phép “tạm trú” với vợ con ở Ninh Hòa, tôi phải về sống với một bà cô ngoài quê nội, nên bạn tôi không gặp. (Ô hay, chẳng lẽ trên quê hương tôi đã từng có cái cảnh “gần trong gang tấc mà xa nghìn trùng ” như thế hay sao ?)

Đúng ba mươi năm sau, từ những phương trời xa lạ, bất ngờ đọc trang web Ninh Hòa, bạn nhắn tìm tôi. Kẻ bên bắc Mỹ, người tận bắc Âu xa tít mịt mù, vậy mà tôi có cảm giác hai thằng đang ngồi bên nhau như lúc còn ở trường Võ Tánh. Trên đầu giây điện thoại, hai đứa nhắc nhau bao kỷ niệm vui buồn về bạn cũ trường xưa, cùng chia sẻ mọi nỗi niềm oan khổ từ những ngày “vì sao mà ra nông nỗi..“.

Tội nghiệp người bạn một thời học hành chăm chỉ và khi làm lính thì vẫn hiền lành như một thư sinh, vậy mà hơn sáu năm tù đày trở về phải bỏ cái làng quê Tam Ích với biết bao dấu chân suốt một thời thơ ấu, dắt vợ con lang thang vào vùng kinh tế mới Đồng Bò. Chỉ hai năm sau, rừng thiêng nước độc đã cướp mất của bạn tôi người vợ hiền chung thủy cùng đứa con trai mà ngày cha vào tù nó chưa gọi được tiếng Ba.

Bạn chôn cất vợ con và chôn theo nỗi đau đớn tột cùng của đời mình, rồi trốn khỏi vùng kinh tế mới, đem hai đứa con còn lại gởi cho ông bà ngoại, đi làm bất cứ công việc gì để nuôi hai đứa con thơ. Con gà trống nuôi con trong túng quẫn, mà mỗi ngày vẫn nhìn con mình như nhìn về phía chân trời để có thêm nghị lực đứng lên và đi tới.

Cám ơn Trời Đất đã mở ra một lối thoát cho những người cuối đường bất hạnh. Mang hai đứa con đến Mỹ khi chúng vừa mới lớn, bạn tôi, con gà trống bây giờ lại nuôi con trên xứ lạ quê người. Bằng tấm lòng độ lượng của người cha, cuối cùng hai đứa con thơ cũng đến được chân trời. Ngày hai đứa con thực sự trưởng thành, như những con chim bắt đầu tự bay lên bằng chính đôi cánh vững chải của mình, người bạn của tôi tiễn cô con gái lớn theo chồng rồi trở về sống một mình với nỗi hiu quạnh của tuổi sáu mươi.

Hai năm trước đó, nhờ một nhịp cầu tao ngộ, bạn tôi gặp một cô “con gái” Long Khánh. “Hai người sống giữa cô đơn, hinh như nàng có nỗi buồn giống…tôi “ nên trở thành đôi bạn tâm giao. Nhưng chờ lo cho con cái lớn khôn và có cuộc sống riêng, mới đây hai người mới về chung một mái nhà, cùng san sẻ nỗi niềm và cho nhau một chút hơi ấm ở chặng tuổi cuối đời.

Gặp nhau trên điện thoại viễn liên, tôi nghe được một giọng nói phúc hậu hiền lành. Chị cho tôi biết anh bạn tôi có thú làm thơ, đọc sách, còn chị thì thích trồng và chăm sóc mấy cành hoa. Tôi đùa: ” thì chị cũng đang mỗi ngày chăm sóc một cành hoa Tam Ích đẹp đẽ đó thôi. Tôi hy vọng qua những ngày thiếu nắng thiếu nước, bây giờ cây hoa ấy được trồng trên vùng đất màu mỡ hiền hòa Long Khánh, chắc nó sẽ còn cho chị và cho đời nhiều bông hoa lắm đó “. Chị cười như cùng đồng cảm với những điều tôi vừa mới nói.

Tôi không biết nhiều về Long Khánh, ngoại trừ một lần duy nhất tôi ghé lại đây. Đó là cái ngày tôi ra khỏi trại tù Z 30 C. Sáu thằng tù vừa được thả, tiều tụy xanh xao, trong túi chỉ có vài đồng bạc, đứng giữa rừng buổi trưa nắng cháy, đón xe quá giang về Sài Gòn, nơi có gia đình của ba trong sáu đứa. Anh tài xế xe lam còn nặng tình với những thằng lính cũ, không đón khách mà dành cả chiếc xe chở bọn tôi về bến xe Long Khánh và hứa sẽ tìm xe quen gởi chúng tôi về tận Sài gòn. Thời buổi ấy, muốn mua được cái vé xe đò có khi phải nằm ở bến chờ đợi mấy hôm, huống hồ gì chuyện quá giang. Đến bến xe Long Khánh, không còn chiếc xe nào, anh tài xế xe lam tốt bụng mời chúng tôi vào quán ăn, đãi một chầu phở. Trong quán cũng có mấy người đàn bà, hình như buôn bán gần đâu đó. Biết chúng tôi là tù cải tạo mới thả, họ bàn với chủ quán, thay vì mang phở ra, dọn cho sáu thằng chúng tôi một bữa cơm thịnh soạn. Chúng tôi từ chối, nhưng các bà nhất định không cho, bảo chúng tôi đừng phụ lòng của người Long Khánh. Khi xe đến, các bà gặp tài xế, trả tiền xe trước cho chúng tôi. Đã vậy, khi về đến Sài Gòn, anh tài xế còn chuyển lại cho chúng tôi một gói tiền của các bà gởi biếu. Chúng tôi cầm tiền mà muốn rơi nước mắt. Trong cái cảnh bi thương giữa một thời nhá nhem tình nghĩa, vẫn còn có biết bao tấm lòng như người Long Khánh.

Bây giờ bất ngờ gặp chị, nghe lại giọng nói hiền từ của một người Long Khánh, tôi bất giác nhớ lại chuyện xưa, và càng trân trọng chị. Chị đã mở rộng tấm lòng, đón nhận một người bạn đời trên tuổi sáu mươi, mà những vết thương trong tâm hồn vẫn chưa lành được. Xin cám ơn Long Khánh, đã sản sinh cho đời những người con gái giàu tình nặng nghĩa. Tôi mừng cho người bạn thật dễ thương, hiền hậu của tôi, tìm được vòng tay, an ủi, vỗ về, sau những đớn đau mất mát tưởng chừng chẳng còn gì lớn lao hơn

Ngồi nghe bạn kể về cuộc đời gió mưa của bạn, lòng tôi lắng xuống bâng khuâng. Tôi chợt nhớ một vài kỷ niệm thuở hai thằng còn đi học và cảm nhận có đôi điều dường như đã vận vào số phận của bạn, của tôi.

Ngay từ lúc còn là học sinh trung học, hai thằng đã nghèo mà lại còn mang cái bệnh “đa sầu đa cảm”. Tôi thì mồ côi mẹ từ lúc mới lên ba, cả một thời ấu thơ và lớn lên trong vòng tay tình nghĩa của cô, dì, ông bà nội ngoại, nên lòng sớm biết u sầu. Vậy mà tôi không mau nước mắt và biết làm thơ buồn như người bạn làng Tam Ích. Mới học đệ ngũ đệ tứ gì đó mà dám đứng ra thành lập một “thi văn đoàn” giữa đất Ninh Hòa. Cái xứ mà dường như bây giờ mỗi người là một nhà thơ.

(Tôi còn nhớ lúc tôi còn nhỏ, ba tôi thường bảo, những đứa trẻ sớm có tính đa sầu đa cảm thì sau này cuộc đời sẽ buồn ghê lắm. Ông kể cho tôi nghe chuyện nữ thi sĩ Tiết Đào bên Trung Quốc. Lúc còn rất nhỏ, nàng đã thích thơ phú. Cụ thân sinh là một nhà thơ nổi tiếng, nên bà thường theo cha để học làm thơ. Năm Tiết Đào mới lên mười, trong một hôm mưa bão, thân phụ nhìn ra ngoài trời thấy một cây ngô đồng bị gió mưa tơi tả, bảo Tiết Đào làm mấy câu thơ vịnh thử, nàng liền ứng khẩu:
Chi nghênh nam bắc điểu
Diệp tống vãng lai phong

Thân phụ nàng nghe xong thất sắc, vừa phục tài nhưng vừa lo lắng điều không may cho hậu vận của con mình. Sau này, khi một triều đại Trung Hoa thay đổi, gia đình bị tù đày khổ ải, nên Tiết Đào đã có thời phải đi làm kỹ nữ. Từ ấy trong văn chương mới có câu ” Gió lá cành chim”, “đón đưa ai gió lá chim cành”.

Chuyện ba tôi kể đã trên năm mươi năm, không biết tôi nhớ sai hay đúng, nhưng nó vẫn cứ nằm mãi trong lòng, để liên tưởng tới miền Nam nước tôi,  sau thang 4/1975 đã có biết bao nhiêu nàng Tiết Đào như thế !)

oo0oo

Năm đệ tam, trong giờ Việt văn của thầy Nguyễn Văn Châu, lúc cả lớp tranh luận về bài Tổng Vịnh Truyện Kiều, bạn và tôi đứng về phía Chu Mạnh Trinh hết lời bênh vực nàng Kiều:

“ Giả sử ngay khi trước Liêu Dương cách trở, duyên chàng Kim đừng dở việc ma chay, quan lại công bằng, án viên ngoại tỏ ngay tình oan uổng, thì đâu đến nỗi son phấn mấy năm lưu lạc, đem thân cho thiên hạ mua cười, mà chắc rằng biên thùy một cõi nghênh ngang ai xui được anh hùng cởi giáp…”

…”Ta cũng nòi tình thương người đồng điệu…..”

Năm đệ nhất, hai thằng lại cùng say mê những giờ văn học sử Pháp của Thầy Cung Giủ Nguyên, nên đã nắn nót viết vào tập và đọc đi đọc lại đến độ thuộc lòng mấy bài thơ lãng mạn của Lamartine, Chateaubriand, Jacques Prévert, Victor Hugo.

Cuối cùng thì cuộc đời hai thằng, dù là nam nhi, nhưng nào có khác gì thân phận trôi nổi của nàng Kiều:

Một phen thay đổi sơn hà …
Mảnh thân chiếc lá biết là về đâu
(Nguyễn Du)

hay của những chàng thủy thủ mịt mờ trong Oceano Nox:

Où sont-ils les marins sombrés dans les nuits noires ?….
O flots ! Que vous savez de lugubres histories !
(Victor Hugo)

Gặp lại tôi sau gần bốn mươi năm, trong những lời tâm tình, bạn cho tôi biết thêm một điều nuối tiếc:
“Tớ buồn quá, vì không tìm thấy cái làng Tam Ích nhỏ nhoi, nghèo mà quá đổi thân thương của mình trên tấm bản đồ Ninh-Hòa.. Cái làng mà ngày xưa bạn có lần về thăm với mình rồi vội vã ra đi ấy ! “

Tôi nghe lòng lắng xuống và thấy thương người bạn hiền thời thơ ấu rồi thương cả chính mình. Thế hệ chúng tôi sao bỗng dưng phải mất đi bao nhiêu điều quí giá, để cuối cùng lại trở thành “khúc ruột ngàn dặm” của quê hương?

Hình ảnh bạn tôi cùng cái Làng Tam Ích ngày xưa như đang nhạt nhòa trong nước mắt. Im lặng giây lát, tôi lấy lại bình tĩnh, rồi cười với bạn :
” Thì bạn hãy viết thật nhiều về cái làng của bạn đi, để bạn có cái cảm giác của một Từ Thức trở về nơi xưa chốn cũ, tìm lại dấu vết một thời cùng những “hang động tuổi thơ”. Còn với mình, cái “làng Tam Ích dù không trọn một ngày” ấy vẫn mãi mãi còn lại trong lòng như một kỷ niệm dễ thương.

Một ngày lập đông
phạm tín an ninh

* Trong nguyên tác của Nguyễn Bắc Sơn: “Về ghé Sông Mao phá phách chơi.”.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Người bạn làng Tam Ích – Tác giả: Phạm Tín An Ninh

Thơ Nguyễn Phiến – Thú Vui Người Già

THÚ VUI NGỪƠI GÌA

PN

Cái thú lâu nay của kẻ già
Tối thời vọng nguyệt sáng xem hoa
Bình minh buổi sớm nghe chim hót
Bóng xế chiều tà ngắm ráng pha
Kết bạn Thu Đông ĐÀO Sứ Nhật
Giao tình Xuân Hạ Cúc Mai TA
Bốn muà hương sắc nguồn tiêu khiển
Cây cảnh vườn nhà mãi thiết tha
Phiến Nguyễn

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thơ Nguyễn Phiến – Thú Vui Người Già

K1 PV Minh thăm K1 Nam Cali- Vỏ Thiệu tường trình.

K1 Phạm văn Minh
thăm đồng môn K1 Nam Cali.

DSC_5453

Kinh goi quy AC Khoa I Hoc Vien CSQG.

Luc 10:00 AM ngay 8/6/2023, Cac AC Khoa I o khu Little Saigon gom K1 Nhu-dinh-Toan cung Phu Nhan K1 Tran-Ngoc-Dung,

k1 Phan-Tan-Nguu, K1 Vo-Dang-Ngoc & Phu Nhan, K1 Nguyen-Huu-Thoi & Phu Nhan,K1 Tran-Viet-Tuong & phu nhan,

K1 Trang-Thien-Nhon & Phu nhan

Nguyen-Thi-Van-Hoa va K1 Vo-Thieu da tap hop tai quan Pho Lovers trong Khu thuong xa Tam-Da tp Westminster de don

chao K1 Pham-Van-Minh tu tp San Diego ve tham Little Saigon. Buoi tiec hom nay con co su hien dien cua NT Tran-Quan-An

va phu nhan, CH Pham-Van-Gia va phu nhan.

Buoi tiec han huyen tam su vui ve, coi mo.

Mot so hinh anh ghi lai duoc, xin kinh chuyen den Quy AC xem de biet mot so sinh hoat cua nhom Khoa 1 tai dia phuong.

Xin click vao hinh duoi de xem hinh.

Tran trong kinh chao.

K1 Vo-Thieu.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở K1 PV Minh thăm K1 Nam Cali- Vỏ Thiệu tường trình.

Ngậm ngùi_ ST từ FB Nhóm TQC Seattle

NGẬM NGÙI…

343417574_1406720696749794_8026302253296864829_n

Lúc phi cơ xoay qua một độ nghiêng, lấy hướng qua Bangkok, tôi nhìn xuống Sài Gòn lần chót.

Tự nhiên trong lòng tôi dâng lên một niềm ngậm ngùi thương tiếc tất cả những gì đang xảy ra dưới đất.

Tôi như người bại trận, hay nói cách khác, tôi xin được làm bạn với người bại trận, một người bạn đã không chia sẻ mà còn bắt buộc Việt Nam Cộng Hòa phải gánh chịu hết tất cả… trong những ngày sắp tới.

Việt Nam và tôi có rất nhiều kỷ niệm, có quá nhiều quan hệ mật thiết suốt đời không phai lạt.

Sống ở Việt Nam lâu năm, tôi cảm thấy thương xứ sở này.

Tội nghiệp cho họ, họ có thừa khả năng dựng nước, nhưng cái quyền làm chủ quê hương đã bị các cường quốc chuyền tay nhau định đoạt.

Tôi xin lỗi người Việt Nam. Tôi đã làm hết sức mình nhưng không cứu vãn được nền hòa bình cho dân tộc Việt.

Vĩnh biệt Sài Gòn, Sài Gòn vẫn hồn nhiên với những mạch sống dạt dào ơn nghĩa, một khi đã chọn bạn hữu thâm giao.

Năm 1979, Đại sứ Võ văn Sung có thư mời tôi trở lại thăm Sài Gòn. Tôi từ chối với lý do không quen với cái tên Hồ chí Minh.

Sài Gòn đã mất, tôi trở lại đó thăm ai?

Ở đời có khéo lắm cũng chỉ gạt được người ta lần thứ hai, làm sao lừa dối được người ta lần thứ ba?

Người cộng sản giả bộ ngây thơ (ở một khía cạnh nào đó) nên tưởng nhân loại cũng đều ngây thơ như họ. Liên tục nói dối hàng bao nhiêu năm, tưởng như vậy quần chúng sẽ nhập tâm tin là thật.

Họ lầm.

Nói láo để tuyên truyền chỉ có lợi trong chốc lát, nhưng về lâu về dài thì chân lý của loài người sẽ đè bẹp họ.

Ngày xưa Liên Xô đã xiết chặt sai khiến họ, dùng Việt Nam làm phương tiện đóng góp cho Nga. Họ có muốn thoát ly, có muốn nhờ Tây Phương tháo gở cho họ cũng không được nữa, vì đã từng phạm lỗi lớn là đã lường gạt Tây Phương…

Sau hết, chế độ Việt Nam Cộng Hòa thua, nhưng thật ra người Việt Nam chưa thua cộng sản. Trận chiến chưa chấm dứt vào ngày 30 tháng 4 năm 1975..

Mỗi năm, vợ chồng chúng tôi đều đi xuống Lourdes để kính lễ Đức Mẹ Lộ Đức. Luôn luôn tôi nhắc nhở nhà tôi. Chúng tôi cùng cầu nguyện cho người Việt Nam đạt được nền hòa bình theo sở nguyện của họ.

Tôi tin rằng Đức Chúa Trời và Đức Mẹ không bỏ rơi dân tộc Việt Nam.

Jean-Marie MÉRILLON
Cựu Đại Sứ Pháp tại Việt Nam

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Ngậm ngùi_ ST từ FB Nhóm TQC Seattle

Video Memorial Day 2023 by Vinh Nguyen

This video honors and appreciates the American soldiers who died for world peace and generations to come

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Video Memorial Day 2023 by Vinh Nguyen

Bài phỏng vấn với một cựu Trung đội trưởng Nghĩa Quân – Cao bá Tuấn

Nói chuyện với một cựu
Trung đội Trưởng Nghĩa Quân

(Cao bá Tuấn)

 

– Rất vui được nói chuyện với chú. Chú có thể cho biết tên tuổi, cấp bậc, đơn vị…

– À, tôi tên Nguyễn Văn Ba, Trung Đội trưởng Nghĩa Quân, sáu mươi sáu tuổi.

– Ngày 30/4/75 chú còn ở trong quân đội?

– Tới ngày 6/5/75…

– Nghĩa là chú vẫn cầm súng sau 30/4/75?

– Tụi tôi vẫn chiến đấu mặc dù đã biết có lệnh đầu hàng.

– Chú nghĩ gì về cuộc chiến tranh Việt Nam?

– Rất đơn giản: bên mình Cộng Hòa phải tự vệ vì bị bên kia là Việt cộng tấn công. Hễ buông súng là chết….

– Chú có thể giải thích rõ hơn một chút.

– Tụi nó đánh mình, phá hoại nhà cửa đất nước mình, bổn phận mình là phải chống trả để tự vệ. Cũng giống như bị cướp vào nhà, mình không muốn vợ con bị hại thì mình phải chống lại.

– Nhiều người cho rằng chiến tranh Việt Nam là chiến tranh ý thức hệ, chú nghĩ sao?

– Ý thức hệ cái con mẹ gì. Lính Việt Nam Cộng Hòa chiến đấu để tự vệ, chiến tranh ý thức hệ là sản phẩm của mấy cha mấy mẹ trí thức chồn lùi, sa lông. Mấy cha mấy mẹ muốn chứng tỏ mình “học giỏi, thông minh hơn người khác” nên chế ra vụ ý thức hệ để hù con nít…

– Vậy đánh nhau giữa Bắc Việt và Nam Việt không phải do ý thức hệ?

– Để tôi cho em một thí dụ dễ hiểu: nếu Cộng sản miền Bắc (CSMB) không xúi dục đám “Giải phóng miền Nam” (GPMN) và không đưa lính vào phá miền Nam liệu chiến tranh có xảy ra hay không? Nếu tụi nó cứ ở yên ngoài đó mà xây dựng “chủ nghĩa Cộng Sản,” dân miền Nam có đi lính không? Trả lời được câu này em sẽ thấy chẳng ý thức hệ con mẹ gì hết!

– Có người lại cho rằng chiến tranh Việt Nam là nội chiến, chú đồng ý không?

– Theo suy nghĩ của tôi nội chiến là người cùng một nước đánh nhau vì tranh dành hay bất đồng gì đó. “Việt Nam Cộng Hòa” và “Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa” là hai nước độc lập không phải anh em trong nhà.

– Nói về anh em trong nhà lại có người cho rằng miền Nam và miền Bắc đánh nhau theo kiểu huynh đệ tương tàn. Chú nhận xét thế nào?

– Đó là ý nghĩ của đám trốn lính. Tụi nó là thứ hèn nhát sợ chết nên phải chế ra vụ “huynh đệ tương tàn” để từ chối đi lính. Tụi nó nại cớ “không muốn bắn vào anh em.”

– Một người viết cho rằng Việt Nam Cộng Hòa điên cuồng chống Cộng. Tác giả này còn đưa ra hình ảnh của hai nhân vật mà tác giả gọi là đại diện của hai quân đội. Một anh tên Lưu Quang Vũ lính miền Bắc, và Nguyễn Bắc Sơn của VNCH. Tôi xin phép đọc thơ của cả hai cho chú nghe (đọc thơ)…

– ĐM thằng nào viết ngu vậy?

– Chú có vẻ tức giận… xin cho biết lý do…

– Việt Nam Cộng Hòa mà điên cuồng chống Cộng thì đâu có chính sách Chiêu hồi, đâu có bắt tù binh cả trăm ngàn nuôi ăn cho mập rồi trao trả? Thằng cha này chắc chưa bao giờ cầm súng! Cũng chưa bao giờ biết rõ về Việt cộng. Chú em về biểu chả đọc bài của Trần Đức Thạch, cựu lính trinh sát Việt cộng về vụ thảm sát ở miền Đông. Hèn gì VNCH mất sớm chỉ vì còn có nhiều người quá khờ khạo và ngu xuẩn. Cha tác giả này chắc không biết vụ tết Mậu Thân, Đại Lộ Kinh Hoàng… Tui nói cho chú biết Việt cộng được “chính huấn” là đằng trước mũi súng của tụi nó kể cả con gà con chó đều là kẻ thù. Cho nên chúng giết dân vô tội không gớm tay. Được bao nhiêu người trong lính Việt cộng giống như ông Lưu Quang Vũ nào đó? Còn cha Nguyễn Bắc Sơn làm thơ để giải sầu chứ đâu có Sĩ quan nào đem bi đông rượu đi hành quân. Lính khát nước cần nước chứ đâu cần rượu, hơn nữa giữa trận tiền mà say rượu thì chỉ huy sao được? Mạng sống của lính nằm trong tay mình, đâu có giỡn được?

– Xin phép hỏi chú câu khác: chú có thể kể lại diễn biến những ngày cuối cùng tại sao chú vẫn còn cầm súng cho tới sau 30/4?

– Tôi là Trung đội Trưởng Nghĩa Quân. Nhiệm vụ của tôi là đóng đồn ở địa phương… Có mười tám anh em dưới quyền tôi. Ngày tan hàng tôi biết tụi du kích sẽ không tha mạng nếu bị bắt sống, do đó tôi ra lệnh anh em giải tán về nhà. Còn tôi thì xách cây M16 vô rừng. Tôi tính thí mạng cùi, nếu bị phát giác trước sau gì cũng chết vậy nên chọn cái chết cho đáng. Trong số mười tám anh em có sáu thằng tình nguyện theo tôi…

– Rồi sau đó thì sao?

– Khi thấy êm êm tôi nói tụi nhỏ giải tán, trốn đi xứ khác đừng trở về nhà…

– Vậy là chú không trở về nhà? Chú có ân oán gì với du kích địa phương không?

– Thì chiến tranh mà, tránh sao được…

– Vậy có lần nào chú bắn tù binh khi bắt sống không?

– Để tôi kể cho em nghe vụ này: Một lần lính đi phục tóm được du kích dẫn về trình diện tôi. Thằng du kích cỡ khoảng mười bốn mươi lăm tuổi, nhìn đã thấy ngờ ngợ. Tới chừng hỏi ra mới biết là con trai của thằng Ba Cội…

– Ba Cội là ai vậy?

– Bạn cùng quê, lớn lên nó theo Việt cộng… Nó là Đội Trưởng du kích, tụi tôi thỉnh thoảng cũng chạm nhau.

– Rồi chú xử con Ba Cội ra sao?

– Xử gì, con nít mà…. tôi đá đít, bạt tai nó mấy cái rồi đuổi về. Tôi biểu nó: Nói với tía mày có ngu thì ngu một mình đừng xúi dại con mình đi theo… Vụ này Ban Hai Chi Khu làm hồ sơ chuyển tôi lên Quận. Cũng may ông Quận biết tánh khí tôi nên vỗ vai cười rồi cho tôi về. Ổng biếu tôi chai rượu nói: Tôi biết anh mà anh Ba….

– Sau này chú gặp lại Ba Cội không?

– Không, Ba Cội chết rồi. Bị Thám Sát Tỉnh dứt…

– Còn con Ba Cội?

– Nghe nói nó qua Công An bây giờ làm lớn lắm. Thời gian tôi trốn, nó có ghé nhà vợ tôi hỏi thăm. Có cho mấy chục kí gạo. Nghe nói nó có cám ơn tôi ….

– Rồi chú ra trình diện hay bị bắt?

– Bị bắt. Trốn hoài mệt quá, cũng mấy năm sau nhớ vợ con mò về thăm…

– Chú bị bao lâu?

– Sáu năm tám tháng mười bốn ngày!

– Vậy sao chú không xin đi HO?

– HO gì tôi, mình đâu phải sĩ quan, mà chữ Anh chữ U mình đâu có biết gì…

– Sau khi trở về nhà chú có bị khó dễ gì không?

– Nói thiệt chú nghe, Việt cộng nó ghét lính Tổng Trừ Bị (ND, TQLC, BDQ…) một, nó ghét tụi tôi mười. Lính đánh giặc xong rồi rút còn tụi tôi, đây là tài sản vợ con xóm giềng, địa phương mình nên tụi tôi sống chết cũng cố thủ, tụi nó đánh hoài mà không chiếm được. Nó đì tôi sói trán, nhưng mình thua rồi thì cứ làm câm làm điếc mà sống.

– Chú có cơ hội nào gặp lại mấy anh em dưới quyền?

– Có, hai thằng em giờ nghèo lắm, còn ba thằng đi vượt biên. Tội nghiệp, huynh đệ chi binh thỉnh thoảng hùn tiền gởi về cho mấy đứa nghèo.

– Họ có giúp chú không?

– Có, mà tôi không nhận. Vợ con buôn bán cũng sống được, để dành cho mấy đứa em khổ hơn mình.

– Xin phép chú được hỏi một câu về chính trị: Có vài người đang hô hào hòa hợp hòa giải với Việt cộng chú nghĩ sao?

– Tôi cảm ơn chú em đã tôn trọng mà hỏi tôi, cỡ Trung Đội trưởng Nghĩa Quân học hành bao nhiêu. Nhưng như tôi đã nói hòa hợp hòa giải là anh em trong nhà có chuyện xích mích mới ngồi xuống mà nói chuyện. Còn đàng nầy nước mình là “Việt Nam Cộng Hòa” bị nước khác là “Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa” đánh chiếm thì làm sao mà có chuyện đó. Tôi hỏi chú em: Tàu lục địa đánh chiếm Tây Tạng, Duy Ngô Nhĩ… liệu dân mấy nước đó có chịu hòa hợp hòa giải với Tàu không?

– Bây giờ nói chơi cho vui một chút, chú biết Nguyễn Tấn Dũng chớ?

– Biết…

– Thí dụ nếu ngày xưa chú đi kích bắt được Nguyễn Tấn Dũng thì chú làm sao, cha này nghe nói trước đây cũng là du kích mà.

– Nguyễn Tấn Dũng cũng cỡ tuổi tôi. Hồi đó có bắt được chắc cũng bớp tai đá đít vài cái rồi gởi về cho Ban Hai.

– Nếu chú biết trước Nguyễn Tấn Dũng sẽ là Thù Tướng sau nầy chú tính sao?

– Làm sao biết được? Nhưng như chú em nói nếu có thiên lý nhãn thấy được vị lai tôi sẽ tính cách khác!

– Cách nào chú có thể cho biết…

– Bị mật quân sự mà chú em, làm sao cho biết được… thì cũng cỡ như người nhái Mỹ với Osama Bin Laden vậy thôi (cười….) – Vậy chớ bây giờ hỏi vui chú em điều này: đố chú em biết đám mới về hưu kỳ rồi (NTD, TTS, NSH…) đang làm gì? Bí hả? Tụi nó đang viết kiến nghị! Thằng Cộng sản nào về hưu cũng giỏi viết kiến nghị hết. (cười…)

– Cụng ly cái chú Ba… Tôi thấy chú lớn tuổi rồi và cũng đã cống hiến phần vụ của mình cho Tổ Quốc. Giả sử bây giờ nếu đất nước Việt Nam Cộng Hòa cần, chú dám cầm súng trở lại không?

– Già rồi, giờ chỉ nghỉ ngơi vui với con cháu. Nhưng nếu phải chiến đấu để lấy lại đất nước Việt Nam Cộng Hòa từ bất cứ ai chết tôi cũng chịu chú à. Cầm súng không nỗi thì cầm dao, bất cứ cái gì…

– Chiến tranh qua rồi giờ nghĩ lại chú có thấy căm thù lính bên kia không?

– Không, lính chỉ biết theo lệnh. Căm thù là căm thù đám lãnh đạo. Đám này đã lừa gạt lính của nó vào trong nầy chết cả triệu. Cả triệu gia đình ngoài kia mất người thân đến nỗi không có cái xác mà chôn. Hồi đó thiếu gì dịp bắn chết tù binh rồi quẳng xuống sông phi tang mà mình làm không được, ngoài chiến trường bắn nhau thì OK nhưng bắt tù binh rồi tôi chuyển qua cho Ban Hai thẩm vấn coi như mình xong nhiệm vụ… Cũng là con người với nhau cũng có gia đình, cha mẹ, vợ con sung sướng gì bắn người đã ngã ngựa?

– Theo chú những người Cộng sản có nghĩ như vậy không?

– Tôi đã nói rồi, tụi nó được chính huấn coi mỗi thứ trước đầu súng là kẻ thù cần phải giết hết. Thương binh của nó nó còn giết phi tang huống hồ gì lính mình. Bởi vậy mình thua nó vì phía bên mình còn nhân đạo quá!

– Dạo này có nhiều cuộc biểu tình về môi trường mà lượng người tham gia không đông. Có vẻ như dân Saigon rất thờ ơ cho chính tương lai của đất nước và của gia đình họ. Chú có ý nghĩ gì không?

– Giỡn hoài chú em mày! Để tôi nói cho chú em mày rõ: dân Saigon thứ thiệt thì hoặc là ở nước ngoài hoặc là chết tù chết biển hết. Còn dân “Saigon” bây giờ đa số toàn tụi Ba Ke 75 (?) Tụi nầy thừa hưởng biết bao quyền lợi từ “bác” và “đảng” đâu có ngu gì chống! Cỡ phân nữa Saigon bây giờ là dân nguyên thủy Việt Nam Cộng Hòa thì Việt cộng hết nước sống!

– Chắc chú biết chuyến thăm của Obama. Ổng còn ghé ăn bún chả rồi thăm chùa Tàu gì đó ở Saigon…

– Biết chớ, có điều Tổng Thống của chú em đi lộn chỗ! Đáng lẽ ổng phải ghé mấy cái quán “phở chửi” “cháo mắng” để biết “văn hóa của Xã Hội Chủ Nghĩa.” Thay vì viếng chùa Tàu ổng nên đi thăm Nguyễn Trường Tô và Sầm Đức Xương (mấy thằng cô hồn các đãng môi giới và mua trinh nữ sinh) để học thêm về “đỉnh cao trí tuệ của loài người…”

– Chú Ba vui quá! cảm ơn chú về cuộc nói chuyện này. Chú có muốn nhắn gì với anh em không?

– Ai?

– Những người lính cùng chung chiến tuyến ngày xưa.

– À, vậy thì tôi xin có chút lời: Thưa anh em tôi Nguyễn Văn Ba, Trung Đội trưởng Nghĩa Quân xin có lời chào hỏi anh em mình: Tôi chỉ muốn nói là tôi hãnh diện từng chiến đấu dưới cờ của Việt Nam Cộng Hòa như anh em. Tuổi trai trẻ của tụi mình đã không phí phạm. Tôi cũng có nhiều dịp gặp anh em thương binh thỉnh thoảng ngồi uống cà phê, hút điếu thuốc. Anh em coi vậy chớ hãnh diện lắm vì đã cống hiến phần thân thể mình cho đất nước. Khổ thì có khổ, nhưng tới ngày chết tụi tôi còn ở trên quê hương không bao giờ mất đi niềm hãnh diện từng là người Lính Việt Nam Cộng Hòa. Đi dân nhớ, ở dân thương. Phải không các chiến hữu?

 

Cao Bá Tuấn

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Bài phỏng vấn với một cựu Trung đội trưởng Nghĩa Quân – Cao bá Tuấn

Đôi Bàn Tay Yêu Thương _ Như Nhiên TTT

HAPPY MOTHER,S DAY TO ALL !

345638879_1286297628654154_6335541343210534064_n

Đôi Bàn Tay Yêu Thương

Bất chợt chiều nay nhìn lại
Bàn tay mẹ hái hoa hường
Đôi tay một thời nhẫn nại
Bây chừ.., ngón đã trơ xương.

Từ lâu đôi bàn tay ấy
Con quên cầm lấy một lần
Ôi bàn tay…thương biết mấy
Dịu dàng, độ lượng, từ tâm .

Bàn tay thuở ngồi khâu vá
Đèn khuya bóng mẹ âm thầm
Nâng niu, vỗ về thơ ấu
” Canh chầy thức đủ vừa năm ..”

Bàn tay dắt dìu tuổi nhỏ
Ngày thơ chẳng chịu đến trường
Buổi mai đưa vào lớp học
Dặn dò: ” con gắng, Mẹ thương!”

Mo cau đựng đầy hạt dẻo
Thương con Mẹ bới ra đồng
Rồi tay cấy từng luống mạ
Thu nào lúa đã đầy bông.

Một thời tay là sen búp
Từng đêm chắp lại nguyện cầu
Thương Cha miệt mài chinh chiến
không về . Mẹ sống lo âu …

Bàn tay dạn dầy sương nắng
Đời con một sớm xuân hồng
Vì con tận tình lo lắng
Nên người, ấy Mẹ chờ mong

Thương sao đôi bàn tay Mẹ !
Nghìn năm vẫn cứ mặn mà
Ngàn lời thơ con muốn kể
Đâu bằng Mẹ tháng ngày qua …

Xin hôn đôi bàn tay Mẹ
Bàn tay đẹp đẽ lạ thường
Sức sống vươn lên mầu nhiệm
Đong đầy tất cả yêu thương.

Như Nhiên – TTT
K Chúc cả nhà một ngày Mother,s Day HẠNH PHÚC.

___(())___

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Đôi Bàn Tay Yêu Thương _ Như Nhiên TTT

Project trợ giúp các con của cố K1 Nguyễn Viết Lộc

Trợ giúp các con của Cố K1
Nguyễn Viết Lộc

Thưa Quý Bạn,

Như đã báo cáo Quý Bạn về Project Trợ Giúp 3 người con của Cố K1 Nguyễn Viết Lộc đang gặp nhiều khó khăn sau khi cả Cha và Mẹ của họ đều đã qua đời, chúng tôi đã nhận được sự giúp đỡ của nhiều bạn đồng môn Mạnh Thường Quân tổng cộng số tiền thu được là $1750 USD (có thêm $50 của anh Huỳnh Vĩnh Hưng (K1) gởi đến vào giờ chót). Hôm nay, ngày 16/5/2023, tôi đã chuyển số tiền này về cho 3 người con của Cố K1 Nguyễn Viết Lộc, mỗi người $560 USD. Đáng lẽ tiền lệ phí chuyển tiền là 3% nhưng được họ chiếu cố bớt 50% vì mình được coi như một hội đoàn; nhờ vậy số tiền quyên góp còn dư $44 USD xin được hoàn trả lại cho Quỹ K1.

Xin kính báo và cám ơn những tấm lòng vàng của Quý Bạn.

TM. Gia Đình K1-HVCSQG:

Nhữ Đình Toán

DS các MTQ đã đóng góp:

1- Quỹ K1-HVCSQG:        $300
2- K1-HVCSQG Bắc CA     $300
3- K1 Võ Đăng Ngọc         $100
4- K9 Nguyễn Linh           $100
5- K1 Bửu Hồng               $50
6- K1 Phạm Bá Lộc           $100
7- K6 Ng. Doãn Hưng       $50
8- Tồng Hội CSQG.           $200
9- K1 Tôn Thất Biên         $100
10- K1 Phạm Bá Nhạc      $200
11- K1 Ng. Ngọc Kính       $50
12- K3 Ng. Ngọc Tiến       $50
13- K3 Phin Nguyễn         $100
14- K1 Huỳnh V. Hưng      $50

            Cộng:               $1750

   Chi: $560 x 3 =         $1680
   Lệ phí dịch vụ :         $26

   Số dư :                       $44 (xin hoàn lại Quỹ K1)

unnamed (2)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Project trợ giúp các con của cố K1 Nguyễn Viết Lộc