Các Danh Mục

Chúc Mừng 55 Năm Ngày Cưới của Bạn Võ Quang Lâu.
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Chúc Mừng 55 Năm Ngày Cưới của Bạn Võ Quang Lâu.
Hương Xưa Còn Đọng- Nhạc cuối tuần
Cuối tuần mời các bạn thưởng thức một sáng tác mới của bạn Lê Hữu Nghĩa
Hương Xưa Còn Đọng – Khánh Vy
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Hương Xưa Còn Đọng- Nhạc cuối tuần
Chuyện Buồn Việt Nam (ST)
Chuyện buồn Việt Nam
(Bài do Đinh Văn Hạp chuyển)
Mời các Bạn đọc đoạn kết cuốn sách của tác giả người Đức này, quá hay, khi nào sách in ra, mỗi người chúng ta phải mua một vài cuốn để dành cho con cháu, chắt chung ta đọc để chúng hiểu sự thật lịch sử.
MC
Người Đức… nhưng anh nầy có vẻ hiểu chuyện VN hơn rất nhiều người…
MỘT PHÓNG VIÊN NGƯỜI ĐỨC VIẾT VỀ VIỆT NAM…
Phóng viên người Đức Uwe Siemon-Netto thuộc báo Springer Foreign News Service chụp tại Việt Nam năm 1968
Cuốn sách Đức: “A reporter’s love for a wounded people” của tác giả Uwe Siemon-Netto đã được viết xong và đang chờ một số người viết “foreword” và endorsements.
Bản dịch cũng đã xong, được phép của tác giả chúng tôi xin giới thiệu đoạn kết rất xúc động mà tác giả đã nói lên ước muốn cùng với người Việt Nam nuôi dưỡng niềm hy vọng một ngày không xa Tự Do Dân Chủ sẽ trở lại với quê hương khốn khổ của chúng ta:
Đoạn kết
Hậu quả của khủng bố và đức hạnh của hy vọng
Hơn 40 năm đã trôi qua kể từ khi tôi giã biệt Việt Nam. Vào năm 2015, thế giới sẽ chứng kiến kỷ niệm lần thứ 40 chiến thắng của Cộng sản và nhiều người sẽ gọi đó là ngày “giải phóng”.
Ga xe lửa Huế, nơi một đầu máy và một toa hành lý khởi hành chuyến tầu tượng trưng 500 thước mỗi buổi sáng vào lúc 8 giờ sẽ không còn đáng đi vào kịch trường của sự phi lý nữa. Nó đã được phục hồi đẹp đẽ và sơn phết lại mầu hồng. Một lần nữa, tương tự như những ngày dưới sự thống trị của người Pháp, nó là nhà ga xe lửa đẹp nhất vùng Đông Dương và tài xế tắc-xi không phải chờ đợi vô ích bên ngoài.
Mười chuyến tầu thong dong chạy qua mỗi ngày, năm chuyến xuôi Nam và năm chuyến ra Bắc. Gộp chung lại chúng được mệnh danh một cách không chính thức là Tàu Tốc Hành Thống Nhất.
Chẳng lẽ nào tôi lại không mừng vui? Chuyện này có khác nào bên Đức khi bức tường Bá Linh đổ xuống và những bãi mìn biến mất, và nay những chuyến tầu cao tốc phóng ngược xuôi giữa hai xứ nguyên là Cộng sản bên Đông và Dân chủ bên Tây với tốc độ lên tới 200 dặm một giờ?
Hiển nhiên là tôi rất vui khi chiến tranh kết thúc và Việt Nam được thống nhất và phát triển, những chuyến xe lửa đã hoạt động trở lại và các bãi mìn đã được tháo gỡ. Nhưng đến đây thì sự tương đồng với nước Đức chấm dứt.
Nước Đức hoàn thành sự thống nhất, một phần nhờ người dân tại Đông Đức đã lật đổ chế độ độc tài toàn trị bằng những cuộc biểu tình và phản kháng ôn hòa, một phần nhờ vào sự khôn ngoan của các nguyên thủ quốc tế như các vị Tổng thống Ronald Reagan và George G.W. Bush, của Thủ tướng Helmut Kohl, của lãnh tụ Sô Viết Mikhail Gorbachev, và cũng phần khác vì sự sụp đổ có thể đoán trước được của hệ thống xã hội chủ nghĩa sai lầm trong khối Sô Viết. Không có ai bị thiệt mạng trong tiến trình này, không một ai bị tra tấn, chẳng có ai phải vào trại tù và cũng không có ai bị buộc phải trốn chạy.
Có một khuynh hướng khó hiểu, ngay cả trong số các vị học giả đáng kính của phương Tây đã diễn tả sự kiện Cộng sản cưỡng chiếm miền Nam như là một cuộc “giải phóng”. Điều này đặt ra một câu hỏi: giải phóng cái gì và cho ai?
Có phải miền Nam đã được “giải phóng” khỏi sự áp đặt một nhà nước độc đảng toàn trị được xếp hạng chung với những chế độ vi phạm tồi tệ nhất thế giới về các nguyên tắc tự do tôn giáo, tự do phát biểu, tự do ngôn luận, tự do hội họp và tự do báo chí?
Một cái thứ giải phóng gì đã làm chết 3,8 triệu người dân Việt từ 1954 đến 1975 và đã buộc hơn một triệu người khác phải trốn ra khỏi đất nước, không những từ miền Nam bại cuộc mà cả từ những bến cảng miền Bắc và làm từ 200.000 đến 400.000 người gọi là thuyền nhân bị chết đuối?
Có phải là hành động giải phóng không khi xử tử 100.000 người lính miền Nam và viên chức chính phủ sau ngày Sài Gòn thất thủ? Phải chăng chỉ là một màn trình diễn nhân đạo của bên thắng cuộc bằng cách lùa từ một triệu đến 2 triệu rưỡi người miền Nam vào các trại tù cải tạo, trong đó có khoảng 165.000 người mất mạng và hàng ngàn người khác đã bị tổn thương sọ não lâu dài và bị các vấn đề tâm thần do hậu quả của tra tấn, theo một cuộc nghiên cứu của một nhóm học giả quốc tế do Bác sĩ tâm thần Richard F. Molina của đại học Harvard dẫn đầu?
Từ giữa những năm 1960, những tay bịa đặt chuyện huyền thoại về chính trị và lịch sử của phương Tây, hoặc ngây thơ hoặc bất lương, đã chấp nhận lời giải thích của Hà Nội rằng cuộc xung đột là một cuộc “chiến tranh nhân dân.” Cũng đúng thôi nếu chấp nhận định nghĩa của Mao Trạch Đông và Võ Nguyên Giáp về cụm chữ đó. Nhưng theo luật văn phạm về sở hữu tự theo cách Saxon Genitive qui định thì “chiến tranh nhân dân” phải được hiểu là cuộc “chiến tranh của nhân dân”.
Thực tế không phải như vậy. Ðã có khoảng 3,8 triệu người Việt Nam đã bị giết giữa các năm 1954 và 1975. Khoảng 164.000 thường dân miền Nam đã bị thủ tiêu trong cuộc tru diệt bởi Cộng sản trong cùng thời kỳ, theo nhà học giả chính trị Rudolf Joseph Rummel của trường Đại học Hawaii. Ngũ Giác Ðài ước tính khoảng 950.000 lính Bắc Việt và hơn 200.000 lính VNCH đã ngã xuống ngoài trận mạc, cộng thêm 58.000 quân Hoa Kỳ nữa. Đây không thể là một cuộc chiến tranh của nhân dân mà chính là chiến tranh chống nhân dân.
Trong tất cả những lập luận đạo đức giả về cuộc chiến Việt Nam ta gặp quá thường trong vòng 40 năm qua, cái câu hỏi quan trọng nhất đã bị mất dấu hay AWOL, nếu dùng một từ ngữ viết tắt quân sự có nghĩa là “vắng mặt không phép,” câu hỏi đó là: Dân Việt Nam có mong muốn một chế độ Cộng sản hay không? Nếu có, tại sao gần một triệu người miền Bắc đã di cư vào Nam sau khi đất nước bị chia cắt năm 1954, trong khi chỉ có vào khoảng 130.000 cảm tình viên Việt Minh đi hướng ngược lại?
Ai đã khởi đầu cuộc chiến tranh? Có bất kỳ đơn vị miền Nam nào đã hoạt động ở miền Bắc hay không? Không. Có du kích quân miền Nam nào vượt vĩ tuyến 17 để mổ bụng và treo cổ những người trưởng làng thân cộng, cùng vợ và con cái họ ở đồng quê miền Bắc hay không? Không. Chế độ miền Nam có tàn sát cả một giai cấp hàng chục ngàn người trên lãnh thổ của họ sau năm 1954 bằng cách tiêu diệt địa chủ và các đối thủ tiềm năng khác theo cách thống trị theo lối Sô Viết của họ hay không? Không. Miền Nam có thiết lập chế độ độc đảng toàn trị hay không? Không.
Với cương vị một người công dân Đức, tôi không can dự gì đến cuộc chiến này, hay nói theo lối người Mỹ là “I have no dog in this fight” (tôi chẳng có con chó nào trong vụ cắn lộn này cả). Nhưng, nhằm chú giải cho cuốn sách “Lời nguyện của nhà báo”, tương tự như các phóng viên kỳ cựu có lương tâm, lòng tôi đã từng và vẫn còn đứng về phía dân tộc Việt Nam nhiều đau thương. Lòng tôi hướng về những người phụ nữ tuyệt vời với tính tình rất thẳng thắn và vui vẻ; hướng về những người đàn ông Việt Nam khôn ngoan và vô cùng phức tạp đang theo đuổi giấc mơ tuyệt hảo theo phong cách Khổng giáo; hướng về các chiến binh giống như trẻ con đi ra ngoài mặt trận mang theo cái tài sản duy nhất là một lồng chim hoàng yến; hướng về các góa phụ chiến tranh trẻ với cơ thể bị nhào nặn méo mó chỉ vì muốn bắt một tấm chồng lính Mỹ nhằm tạo một ngôi nhà mới cho con cái và có thể cho chính họ, còn hơn là đối mặt với độc tài Cộng sản; hướng về nhóm trẻ em bụi đời trong thành thị cũng như ngoài nông thôn săn sóc lẫn nhau và những con trâu đồng. Với trái tim chai cứng còn lại, lòng tôi thuộc về những người trốn chạy khỏi lò sát sinh và vùng chiến sự, luôn luôn đi về hướng Nam mà không bao giờ về hướng Bắc cho đến tận cùng, khi không còn một tấc đất nào vắng bóng Cộng sản nữa để mà trốn. Tôi đã chứng kiến họ bị thảm sát hay bị chôn sống trong những ngôi mồ tập thể và mũi tôi vẫn còn phảng phất mùi hôi thối của những thi thể đang thối rữa.
Tôi không có mặt vào lúc Sài Gòn thất thủ sau khi toàn bộ các đơn vị Quân Lực VNCH, thường xuyên bị bôi bẩn một cách ác độc bởi truyền thông Hoa Kỳ, giờ đây bị những đồng minh người Mỹ của họ bỏ rơi, đã chiến đấu một cách cao thượng, biết rằng họ không thể thắng hay sống sót khỏi trận đánh cuối cùng này. Tôi đang ở Paris, lòng sầu thảm khi tất cả những chuyện này xẩy ra và tôi ước gì có dịp tỏ lòng kính trọng năm vị tướng lãnh VNCH trước khi họ quyên sinh lúc mọi chuyện chấm dứt, một cuộc chiến mà họ đã có thể thắng: Lê Văn Hưng (sinh năm 1933), Lê Nguyên Vỹ (sinh năm 1933), Nguyễn Khoa Nam (sinh năm 1927), Trần Văn Hai (sinh năm 1927) và Phạm Văn Phú (sinh năm 1927).
Khi tôi viết đoạn kết này, một ký giả đồng nghiệp và một loại học giả sinh năm 1975 khi Sài Gòn bị thất thủ, đã tự tạo cho bản thân một thứ tên tuổi bằng cách bêu xấu tội ác chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam. Vâng, họ thật đáng bị bêu xấu. Đúng, đó là sự thật. Mỹ Lai có thật. Tôi biết, tôi đã có mặt trong phiên tòa mặt trận khi Trung úy William Calley bị kết án là có tội. Tôi biết cái tiêu chuẩn đếm xác chết được tôn sùng bởi đầu óc méo mó của các cấp chỉ huy quân sự cũng như dân sự thời đại Mc Namara tại Washington và bản doanh Hoa Kỳ tại Sài Gòn đã làm tổn hại hàng ngàn mạng sống của người dân vô tội.
Nhưng không có hành vi tàn ác nào của các đơn vị rối loạn Hoa Kỳ và VNCH có thể sánh bằng cuộc tàn sát do lệnh nhà nước giáng xuống đầu người miền Nam nhân danh Hồ Chí Minh. Những tội ác mà cho đến ngày nay những kẻ kế thừa thậm chí vẫn không thừa nhận vì không ai có cái dũng cảm hỏi họ: Tại sao các anh thảm sát tất cả những người vô tội mà các anh rêu rao là đi chiến đấu để giải phóng họ?
Với tư cách một người Đức, tôi xin được thêm một đoạn chú thích như sau: tại sao các anh giết người bạn của tôi là Hasso Rüdt von Collenberg, tại sao lại giết các bác sĩ người Đức ở Huế, và anh Otto Söllner tội nghiệp mà “tội ác” duy nhất là dạy trẻ em Việt Nam cách điều khiển một ban nhạc hòa tấu?
Tại sao các anh bắt cóc những thanh niên thiện nguyện Knights of Malta, làm cho một số bị chết trong rừng rậm và số khác thì bị giam cầm tại Hà Nội?
Tại sao các anh không bao giờ tự xét lương tâm về những hành động đó, theo cách những người Mỹ chính trực trong khi họ đã được xác định một cách đúng đắn là họ thuộc về phía lẽ phải trong cuộc Đại Chiến Thứ Hai, vẫn bị dằn vặt bởi cái di sản khủng khiếp để lại vì đánh bom rải thảm những khu dân cư trong nước Đức và tấn công bằng bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki?
Hồi tưởng lại cuộc thử thách trên con đường mòn Hồ Chí Minh trong tạp chí Der Spiegel, cô y tá Tây Đức Monika Schwinn nhớ lại cuộc gặp gỡ với các đơn vị chiến đấu Bắc Việt trên đường xuống phía Nam như là một trong những kinh nghiệm khủng khiếp nhất. Cô diễn tả cái cường độ của mối hận thù trên khuôn mặt của những tên lính đó và cô viết chính những tên Việt Cộng canh chừng phải khó khăn lắm mới ngăn chận họ không giết những người Đức ngay tại chỗ.
Không có ai sinh ra là biết hận thù cả. Sự thù hận chỉ có thể có được do dậy dỗ. Nuôi dưỡng tính giết người trong lòng thanh niên là một khuôn phép huấn luyện chỉ có trường phái chủ nghĩa toàn trị là giỏi nhất. Trong cuốn tiểu sử rất hay nói về tay chỉ huy SS Heinrich Himmler, sử gia Peter Longerich diễn tả là ngay cả gã sáng lập viên cái lực lượng tàn độc gồm những tên côn đồ mặc đồ đen cũng khó lòng buộc thuộc hạ vượt qua sự kiềm chế tự nhiên để thi hành lệnh thảm sát Holocaust (Longerich. Heinrich Himmler. Oxford: 2012).
Chính cái ánh mắt thù hận của những tên sát nhân Bắc Việt tại Huế làm ám ảnh những người tôi phỏng vấn hơn cả. Nhưng dĩ nhiên phải dành nhiều thời gian với họ, chịu sự đau khổ cùng họ, tạo niềm tin và trò chuyện với họ thì mới khám phá ra cái cốt lõi của một phần nhân tính con người, một hiểm họa về mặt chính trị và quân sự vẫn còn quanh quẩn bên chúng ta từ bốn thập niên qua. Chỉ phán ý kiến về nó từ trên tháp ngà đài truyền hình New York hay các trường đại học Ivy League thì không bao giờ đủ cả.
Trong một cuốn sách gây chú ý về đoàn quân Lê Dương Pháp, Paul Bonnecarrère đã kể lại cuộc gặp gỡ lịch sử giữa Đại tá đầy huyền thoại Pierre Charton và Tướng Võ Nguyên Giáp sau khi Pháp thất trận tại Điên Biên Phủ (Bonnecarrère. Par le Sang Versé. Paris: 1968). Charton là tù binh trong tay Cộng sản Việt Minh. Giáp đến thăm Charton nhưng cũng để hả hê. Cuộc gặp gỡ xẩy ra trong một lớp học trước mặt khoảng 20 học viên đang tham dự một buổi tuyên truyền chính trị. Cuộc đối thoại giữa hai nhân vật đối chọi nhau đã xẩy ra như sau:
Giáp: “Tôi đã đánh bại ông, thưa Đại tá!”
Charton: “Không, ông không đánh bại tôi, thưa Đại tướng. Rừng rậm đã đánh bại chúng tôi… cùng sự hỗ trợ các ông đã nhận được từ người dân bằng các phương tiện khủng bố”.
Võ Nguyên Giáp không ưa câu trả lời này và cấm các học viên không được ghi chép nó. Nhưng đó là sự thật, hay chính xác hơn: đó là một nửa của sự thật. Cái nửa kia là các nền dân chủ như Hoa Kỳ đúng là không được trang bị về chính trị và tâm lý để theo đuổi một cuộc chiến trường kỳ. Sự nhận thức này, cùng với cách sử dụng các phương tiện khủng bố đã trở thành trụ cột trong chiến lược của Võ Nguyên Giáp. Hắn đã đúng và hắn đã thắng. Thậm chí nguy hiểm hơn nữa là ngày nay các chế độ toàn trị đang chú ý đến điểm này.
Cho đến tận ngày hôm nay tôi vẫn còn bị ám ảnh bởi cái kết luận tôi bắt buộc phải rút ra từ kinh nghiệm về Việt Nam là:
Khi một nền văn hóa bê tha hủ hóa đã mệt mỏi về lòng hy sinh, nó sẽ có khả năng vứt bỏ tất cả. Nó đã chín mùi để bỏ rơi một dân tộc mà đáng lẽ nó phải bảo vệ. Nó còn thậm chí sẵn sàng xóa đi những mạng sống, sức khoẻ về thể chất và tinh thần, nhân phẩm, trí nhớ và danh thơm của những thanh niên đã được đưa ra mặt trận.
Điều này đã xẩy ra trong trường hợp các cựu chiến binh Việt Nam. Tác động của sự khiếm khuyết đã ăn sâu trong các nền dân chủ tự do này rất đáng sợ vì cuối cùng nó sẽ phá hỏng chính nghĩa và tiêu diệt một xã hội tự do.
Tuy nhiên tôi không thể kết thúc câu chuyện ở đây bằng điều tăm tối này được. Là một người quan sát về lịch sử, tôi biết là lịch sử, mặc dù được khép kín trong quá khứ, vẫn luôn luôn mở rộng ra tương lai. Là một Ki-Tô hữu tôi biết ai là Chúa của lịch sử.
Chiến thắng của Cộng sản dựa vào những căn bản độc ác: khủng bố, tàn sát và phản bội. Hiển nhiên tôi không biện minh cho chuyện tiếp tục đổ máu nhằm chỉnh lại kết quả, cho dù có khả thi đi chăng nữa. Nhưng là một người ngưỡng mộ tính kiên cường của dân tộc Việt Nam, tôi tin là họ sẽ cuối cùng tìm ra phương cách ôn hòa và các lãnh tụ chân chính để họ có thể thoát khỏi những tay bạo chúa. Có thể sẽ phải mất nhiều thế hệ, nhưng điều đó sẽ xẩy ra.
Trong ý nghĩa này, tôi bây giờ chỉ muốn xếp hàng vào đoàn xích-lô bên ngoài ga xe lửa Huế vào năm 1972, nơi chẳng có người khách nào quay trở lại. Chỗ của tôi ở đâu bây giờ? Tôi còn lại gì nữa ngoài niềm hy vọng?
(Nguồn: https://chinhnghiavietnamconghoa.com/)
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Chuyện Buồn Việt Nam (ST)
Lời Người Ở Lại Ukraina – Thơ Trang Châu
LỜI NGƯỜI Ở LẠI

Sonia, em hãy bồng con
Theo đoàn người Vượt qua biên giới Ba Lan
Anh ở lại
Bầu trời xanh mát Ukraina của chúng ta
Hôm nay không còn mây trắng
Không còn chim bay
Mà chỉ còn lửa khói
Gây nên bởi kẻ mộng cuồng
Anh ở lại
Những điện đài nguy nga
Ghi dấu lịch sử oai hùng của đất nước chúng ta
Đang bốc cháy
Những mái ấm gia đình yên vui hạnh phúc
Nay tan tành vì bom đạn
Bởi bàn tay một kẻ độc tài hung bạo
Anh ở lại
Anh phải ở lại
Vì không thể đứng từ xa
Nhìn quê hương bị dập nát
Dưới gót giày xâm lược
Không thể đứng từ xa
Nhìn dân tộc mình bị câm tiếng
Anh phải ở lại
Anh phải trở về
Đứng chung hàng ngũ
Những người cầm súng bảo vệ biên cương
Vẹn toàn lãnh thổ
Sonia ơi, em hãy tin
Nếu có phút giây nào lắng tiếng đạn bom
Anh ôm súng ngồi im
Gởi hồn sang bên kia biên giới
Nhớ tới em, nghĩ đến con
Gợi lòng sống lại những ngày hạnh phúc
Thời gian dưới mái ấm êm đềm
Những tháng năm đất nước thanh bình, tự chủ
Sonia ơi
Càng nhớ thương em, càng nghĩ đến con
Lòng anh không mềm, không lơi tay súng
Trái lại hồn anh thêm dũng mảnh quyết tâm
Dành lại những gì chúng ta sắp mất
Em ở bên kia vùng yên lành
Hãy cầu nguyện cho anh
Xin có một ngày hân hoan tái ngộ
Hãy cầu nguyện cho đất nước chúng ta
Sớm đạt hoà bình, vinh quang, chiến thắng
Nhưng Sonia ơi,
Chiến tranh nào không làm mất mát
Chiến tranh nào không có người đi không về
Nếu lỡ một ngày
Em không thấy anh trở lại
Anh chỉ xin em
Khi con của chúng mình khôn lớn
Em hãy chỉ hình anh
Và nói với nó
Con hãy hãnh diện có một người cha
Đã sống không hèn
Và đã chết không nhục
TRANG CHÂU
02/03/2022
WORDS OF THE MAN WHO STAYS
(TO FIGHT)
Sonia, please carry our child and follow the crowd to cross the Polish border
I will stay
Today in our Ukrainian blue sky, there are no more white clouds.No more birds flying But only fires and smokes Caused by an insane dreamer
I will stay
The grandiose palaces symbols of our country’s valiant history are now ablaze. The peace and happiness of family homes are now shattered by bombs by the hands of a cruel dictator
I will stay
I have to stay
Because I can’t stand from afar to watch our homeland being crushed
under the heels of invaders. I can’t stand from afar to watch our nation being silenced
I have to stay
I have to go back to join the ranks of people who with guns protect our borders to keep our national territory intact
Sonia, please believe
If there iwere a moment free of sounds of bombs. I will hold my gun and sit still to send my soul across the border.
Thinking of you, thinking of our child prompting my heart to relive the happy days of the cozy times under our roof in the years of our country still sovereign and peaceful
Dear Sonia
The more I miss you, the more I think of our child, My heart does not soften, my hand does not release the gun.
On the contrary, my soul gets stronger and more determined to get back all what we’re about to lose Staying on the other side in a peaceful area
Please pray for me for our joyful day of reunion
please pray for our country to soon attain peace, glory and victory
But, Sonia,
Is there a war without losses? Is there a war in which there are people
going and all of them come back alive?
If there will be a day you don’t see me coming back
I only have a request that when our child grows up and matures
Please show him a picture of me. And tell him to be proud to have a father
who lived without cowardice.and died without shame
Trang Chau
02/03/2022
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Lời Người Ở Lại Ukraina – Thơ Trang Châu
Cách xin lại thẻ chích ngừa Covid-19 bị mất (Bạn LHN sưu tầm)
Mất thẻ chích ngừa COVID-19,
làm sao xin lại?
WASHINGTON, DC (NV) – Trước đại dịch COVID-19, không ai có thể hình dung thẻ chích ngừa sẽ trở nên quan trọng như vậy. Hiện tại, đây là tấm vé đi xem ca nhạc, đi du lịch ở một số quốc gia và làm nhiều việc khác, theo CNN hôm Thứ Ba, 15 Tháng Hai.
Do đó, mất tấm thẻ này dễ khiến người ta lo lắng. Sau đây là vài cách giải quyết trường hợp mất thẻ chích ngừa.
Thẻ chích ngừa COVID-19
Đừng liên lạc CDC
Gọi Trung Tâm Phòng Ngừa Dịch Bệnh (CDC) xin cấp thẻ mới nghe có vẻ hợp lý vì logo cơ quan này nằm trên thẻ.
Tuy nhiên, CDC thực ra không phát thẻ cho từng người, mà chỉ cung cấp cho nơi chích ngừa, rồi nơi đó mới phát thẻ cho người đến chích. Như vậy cũng có nghĩa là CDC không theo dõi hồ sơ chích ngừa, do đó cũng không nên tốn thời gian hỏi CDC về chuyện này.
Có lẽ nằm trên mạng
Một số tiểu bang như Arizona cho phép cư dân xem hồ sơ chích ngừa trên mạng. Arizona dùng dịch vụ MyIR Mobile, một công ty hợp tác với vài cơ quan tiểu bang để kiểm tra hồ sơ chích ngừa, lấy hẹn chích ngừa, và quan trọng nhất là in ra hồ sơ chích ngừa chính thức.
Washington, DC, Louisiana, Maryland, Mississippi, North Dakota, Washington và West Virginia cũng sử dụng dịch vụ này.
California, Colorado, Connecticut, Hawaii, Illinois, Indiana, Massachusetts, New Jersey, New York, Rhode Island và Utah dùng hệ thống trực tuyến riêng hoặc công ty bên ngoài để cư dân xem hồ sơ chích ngừa.
Cư dân Michigan, Minnesota, New Mexico, North Carolina, Oklahoma và Wisconsin có thể nộp đơn yêu cầu cung cấp hồ sơ chích ngừa.
Ai không thấy tiểu bang của mình được liệt kê ở trên thì nên chuyển sang kế hoạch B.
Liên lạc với nhà thuốc tây
Hàng triệu người Mỹ chích ngừa COVID-19 ở Walgreens, Walmart, CVS hay Rite Aid. Nếu mất thẻ chích ngừa, những người này coi như rất may mắn.
Khách hàng Walgreens nên liên lạc với tiệm Walgreens địa phương để lấy thẻ mới, theo phát ngôn viên Walgreens.
Người nào chích ngừa ở Walmart nào thì chỉ cần ghé qua nơi đó để lấy thẻ mới, phát ngôn viên Walmart cho hay. Nhân viên Walmart sẽ xác minh hồ sơ chích ngừa của khách, xác nhận hồ sơ thông qua hệ thống thông tin chích ngừa của tiểu bang, rồi cấp thẻ mới cho họ, phát ngôn viên này giải thích.
Người chích ngừa ở CVS thì có vài cách. Trước hết, có thể xem hồ sơ chích ngừa trong ứng dụng (app) CVS hay trên CVS.com, theo phát ngôn viên công ty này. Bất kỳ tiệm CVS nào cũng có thể in hồ sơ COVID-19, phát ngôn viên này cho biết thêm. Cuối cùng, nếu khách cung cấp địa chỉ email khi lấy hẹn chích ngừa online, CVS sẽ tự động gửi hồ sơ chích ngừa qua email cho khách.
Nếu chích ngừa ở Rite Aid, có thể vào tài khoản Rite Aid trên mạng để in hồ sơ chích ngừa. Công ty này còn hợp tác với dịch vụ thẻ chích ngừa điện tử CLEAR để khách có thể làm thẻ chích ngừa điện tử.
Còn cách nào khác?
Nếu không có cách nào nêu trên hiệu quả, hãy vào hệ thống thông tin chích ngừa của tiểu bang. Theo quy định, nơi chích ngừa phải nộp hồ sơ chích ngừa cho hệ thống này, theo CDC.
Họ có thể cung cấp bản sao hồ sơ chích ngừa nhưng không thể cấp thẻ mới.
Nếu đem hồ sơ chích ngừa đến phòng mạch bác sĩ, nhân viên ở đó có thể cấp thẻ mới.
(Th.Long) [qd]
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Cách xin lại thẻ chích ngừa Covid-19 bị mất (Bạn LHN sưu tầm)
Bài thơ cảm động làm chạm đáy tim người của người lính Ukraine
BÀI THƠ CỦA MỘT NGƯỜI LÍNH UKRAINE
cảm động làm chạm đáy tim người (phỏng dịch)

Nếu tôi chết trong vùng chiến sự,
hãy đóng hộp quan tài cho tôi và được gửi về nhà.
Đặt huy chương của tôi trên ngực áo,
nói với mẹ tôi là tôi đã làm hết sức đứa con trai
Nói với bố tôi đừng cúi đầu,
ông ấy sẽ không còn buồn lo cho tôi thêm lần nữa
Nói với em trai của tôi nhớ đi học tốt,
chìa khóa xe đạp của tôi gởi lại cho nó đi
Nói với em gái tôi đừng buồn tủi,
sau khi mặt trời lặn không lâu, anh trai của nó sẽ ngủ say
Hãy nói với dân tộc tôi đừng khóc:
“Bởi vì tôi là một người lính, sinh ra để chết cho quê hương!”
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Bài thơ cảm động làm chạm đáy tim người của người lính Ukraine
Chết Thẹn – Bài của Phan Đăng
CHẾT THẸN!
PHAN ĐĂNG

Chết thẹn!
Năm 1905, khi đang hoạt động ở Nhật Bản thì Phan Bội Châu và Tăng Bạt Hổ rủ nhau lên Tokyo để tìm một người bạn Trung Quốc có tên Ân Thừa Hiến.
Khi xuống tàu hỏa, Phan Bội Châu liền gọi một người phu xe và đưa cho anh ta tấm danh thiếp của Ân Thừa Hiến để nhờ tìm địa chỉ. Người phu xe này không biết chữ Hán, nên đã đề nghị Phan Bội Châu đợi, để mình tìm một người phu xe khác biết chữ Hán để có thể giúp đỡ.
Cuối cùng, người phu xe biết chữ Hán cũng xuất hiện và đã đưa Phan Bội Châu – Tăng Bạt Hổ đến địa chỉ của Ân Thừa Hiến. Nhưng khi xe đến Chấn Võ Học Hiệu – nơi tá túc của Ân Thừa Hiến thì mới vỡ lẽ, người bạn Trung Quốc này đã chuyển đi nơi khác, và không ai biết “nơi khác” cụ thể ở đâu.
Nghĩ ngợi một lúc, người phu xe liền nói với hai vị khách Việt Nam: “Xin các ngài cứ chờ tôi một chút, tôi sẽ đi tìm địa chỉ mới của Ân Thừa Hiến rồi quay lại đón 2 ngài”.
Hai vị khách Việt Nam đứng chờ từ 2 giờ chiều, đến 3 giờ, rồi 4 giờ chiều vẫn không thấy người phu xe quay lại, liền nghĩ: Tokyo rộng thế này, biết tìm Ân Thừa Hiến ở đâu. Nhưng đến 5 giờ chiều thì người phu xe bất ngờ quay lại và cho biết đã tìm được nơi cần tìm.
Thế là người phu xe đưa hai vị khách Việt đi thêm 1 tiếng nữa đến một lữ quán có treo biển “Thanh quốc Vân nam lưu học sinh Ân Thừa Hiến”. Tất cả cho thấy người phu xe Nhật Bản đã tận tuỵ với công việc của mình như thế nào.
Nhưng chưa hết, khi Phan Bội Châu hỏi tiền công thì người phu xe nói một con số khiến cụ Phan giật mình: “2 hào 5 xu”.
Thấy số tiền quá rẻ, Phan Bội Châu rút ra một đồng bạc để trả nhưng người phu xe kiên quyết từ chối với lý do: “Theo quy định thì từ nhà ga Tokyo đến lữ quán này, giá chỉ là 2 hào 5 xu thôi. Thêm nữa, hai ông vì văn minh nước Nhật mà đến đây, chúng tôi hoan nghênh các ông, chứ không hoan nghênh tiền bạc của các ông. Nếu các ông cho tôi tiền xe vượt quá quy định thì không khác gì coi thường, khinh bạc người Nhật Bản chúng tôi”.
Đây là một câu chuyện có thật, được viết lại trong tác phẩm “Tự Phán” nổi tiếng của Phan Bội Châu. Khi kể lại câu chuyện này, đặc biệt là tâm trạng của mình khi hỏi giá tiền người phu xe Nhật Bản, Phan Bội Châu cho biết: “Sợ nó cũng một nết như phu xe nước mình thì e cũng khốn nạn với vấn đề đòi tiền”.
Và sau khi bày tỏ sự cảm thán trước một người phu xe Nhật Bản giàu lòng tự trọng thì Phan Bội Châu đã thốt lên: “Chao ôi! Trí thức, trình độ dân nước ta xem với tên phu xe Nhật Bản chẳng đáng chết thẹn lắm hay sao”.
PĐ./
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Chết Thẹn – Bài của Phan Đăng
Sự Kỳ Diệu của Tình Yêu Thương_Trần Hồng Điệp
SỰ KỲ DIỆU CỦA TÌNH YÊU THƯƠNG
Trần Hồng Điệp
Giống như bất kỳ người mẹ nào, khi Karen biết mình mang thai, cô làm tất cả những gì có thể để giúp đứa con trai 3 tuổi, Michael, chuẩn bị tâm lý chào đón một thành viên mới trong gia đình.
Thành viên mới này là một bé gái. Ngày ngày, Michael hát cho đứa em gái còn trong bụng mẹ nghe. Cậu bé đã xây dựng tình yêu thương đối với em gái mình ngay cả trước khi cô bé ra đời.
Thai kì tiến triển bình thường. Theo thời gian, những cơn đau chuyển dạ đến. Mỗi năm phút, ba phút rồi một phút một lần. Tuy nhiên, biến chứng nghiêm trọng phát sinh, Karen chuyển dạ hàng giờ. Cuối cùng, em gái của Michael chào đời. Nhưng cô bé lại trong tình trạng rất nguy kịch. Tiếng còi hú trong đêm, xe cứu thương vội vàng chở đứa trẻ sơ sinh đến khu chăm sóc trẻ sơ sinh tại bệnh viện St. Mary, Knoxville.
Thời gian trôi dần… Tình trạng của bé trở nên tồi tệ hơn. Các bác sĩ nhi khoa nói với cha mẹ Michael rằng có rất ít hy vọng, hãy chuẩn bị tinh thần cho tình huống xấu nhất…!
Karen và chồng liên lạc với một nghĩa trang địa phương để chuẩn bị cho việc chôn cất. Họ đã chuẩn bị một căn phòng đặc biệt trong nhà cho em bé mới, nhưng giờ phải lên kế hoạch cho một đám tang…!
Tuy nhiên, Michael đã van nài cha mẹ cho cậu vào gặp em gái mình. Cậu bé nói: “Con muốn hát cho em ấy nghe…!”.
Tuần thứ hai trong phòng chăm sóc đặc biệt. Michael tiếp tục nài nỉ để được hát cho em gái mình, nhưng trẻ con không được phép vào phòng chăm sóc đặc biệt.
Karen quyết định đưa Michael vào thăm em mình cho dù bệnh viện có đồng ý hay không. Nếu giờ cậu bé không được nhìn thấy em gái mình, thì có thể sẽ không bao giờ còn cơ hội nữa. Michael mặc bộ quần áo quá khổ và được dẫn đến phòng chăm sóc đặc biệt. Trông cậu bé giống như một giỏ đựng quần áo di động.
Người y tá trưởng nhận ra cậu bé và hét lên: “Đưa nó ra khỏi đây ngay. Trẻ con không được phép vào!”
Bản năng làm mẹ trong Karen trổi dậy và người phụ nữ bình thường hòa nhã nhìn trừng trừng vào mắt người y tá trưởng, với một giọng đanh thép, cô nói: “Cậu bé sẽ không rời khỏi cho đến khi nó hát cho em gái mình nghe…!”
Sau đó, Karen kéo Michael đến bên giường cô bé. Cậu bé nhìn chằm chằm vào đứa em đang yếu dần trong cuộc chiến giành lấy sự sống…! Sau một lúc, cậu bắt đầu cất giọng. Bằng giọng trong veo của một đứa trẻ 3 tuổi, Michael hát:
“You are my sunshine, my only sunshine, you make me happy when skies are gray.” (Bé là ánh nắng, ánh nắng mặt trời duy nhất của anh, bé làm anh hạnh phúc dẫu bầu trời xám xịt.)
Ngay lập tức, cô bé dường như có phản ứng. Mạch bắt đầu trở nên ổn định.
“Tiếp tục đi Michael”, Karen động viên, mắt ngấn lệ.
“You never know, dear, how much I love you, please don’t take my sunshine away.” (Bé con à, em không biết anh thương em thế nào đâu, xin đừng lấy đi ánh nắng mặt trời đi.)
Khi Michael hát, hơi thở rời rạc, yếu ớt của em bé trở nên nhịp nhàng. “Tiếp tục đi, con yêu…!”
“The other night, dear, as I lay sleeping, I dreamed I held you in my arms”. (Bé con ơi, một đêm nọ, khi anh nằm ngủ, anh mơ được ôm em trong vòng tay.)
Em gái của Michael bắt đầu thư giãn như đang ngủ. “Tiếp tục đi, Michael.” Lúc này, nước mắt đầm đìa trên gương mặt của người y tá trưởng hống hách. Karen thì cảm thấy ấm lòng.
“You are my sunshine, my only sunshine. Please don’t take my sunshine away…” (Bé là ánh nắng, ánh nắng mặt trời duy nhất của anh. Xin đừng lấy ánh nắng ấy đi …)
Ngày hôm sau, ngay ngày hôm sau…, một thời gian ngắn tiếp theo…, cô bé đã đủ khỏe để trở về nhà…!
*Thế mới hiểu: “Nơi nào có tình yêu thương chân thành thì nơi đó, luôn có điều kỳ diệu đáp đền…!”*
❁ Trần Hồng Điệp
*Dịch từ truyện ngắn The miracle of love, true story.
From: Do Tan Hung & Kim Bang Nguyen
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Sự Kỳ Diệu của Tình Yêu Thương_Trần Hồng Điệp
Bài học từ Titanic: Lòng Vị Tha (FB Hoàng Nguyên Vũ)
BÀI HỌC TỪ TITANIC: LÒNG VỊ THA
Hoàng Nguyên Vũ
Thuyền phó tàu Titanic tiết lộ bí mật vĩ đại giấu kín nửa đời người, phương Tây họ văn minh hơn chúng ta từ rất lâu! Đêm ngày 14/4/1912, một vụ tai nạn kinh hoàng đã xảy ra. Con tàu mang phong hiệu “không thể chìm” có tên Titanic đã đâm sầm vào một tảng băng trôi khổng lồ. Kết quả của vụ va chạm ấy là những con số và nỗi đau mà người ta không bao giờ muốn nhắc lại.
514 người đã thiệt mạng trong vụ đắm tàu kinh hoàng năm ấy. Nỗi đau đã khép lại hơn 100 năm, ngày nay, những gì người ta lưu lại về tên “Titanic” có thể là: Vụ đắm tàu, thảm họa hàng hải nghiêm trọng nhất mọi thời đại hay mối tình lãng mạn của Jack và Rose, cũng có thể là tình ca bất hủ My Heart Will Go On qua chất giọng cao vút của Celine Dion.
Tuy nhiên, hầu như tất cả đều không nhận ra, đằng sau bức màn đen tối của những nỗi đau và mất mát ấy là một kiệt tác vĩ đại của “Lòng Vị Tha”.
Charles Lightoller, khi ấy 38 tuổi, thuyền phó thứ 2 trên con tàu Titanic, ông là người cuối cùng được kéo lên trên thuyền cứu hộ, cũng là người còn sống sót có chức vị cao nhất trên thuyền lúc đó.
Trở về từ cõi chết, sau rất nhiều năm giấu kín và im lặng, cuối cùng Charles quyết định viết 17 trang hồi ức, kể lại chi tiết vụ tai nạn kinh hoàng mà ông chứng kiến. Từng câu từng chữ của ông chưa bao giờ sống động và dồn dập đến vậy. “Chỉ cần tôi còn sống, tôi sẽ không bao giờ quên được cảnh tượng đêm đó!”
“Phụ nữ và trẻ em lên trước!”
Khi mệnh lệnh vừa vang lên, nhiều người rời thuyền cứu hộ, họ lặng lẽ bước ra phía sau châm điếu thuốc và hút. Charles không thấy bất kỳ một phụ nữ hay trẻ em có ý định bỏ lại những người đàn ông thân yêu của họ. Tất cả mọi người dường như rất bình tĩnh… trước cái chết… dù đó là một thương nhân nổi tiếng hay người hầu.
Khi chiếc thuyền cứu hộ đầu tiên được đưa xuống mặt nước, Charles đã hỏi một người phụ nữ họ Straw khi ấy đang ở trên boong tàu rằng: “Bà có muốn tôi đưa bà lên thuyền cứu hộ không?”
Người phụ nữ lắc đầu: “Không, tôi nghĩ vẫn là ở lại trên tàu thì tốt hơn”. Người chồng của bà hỏi: “Tại sao em lại không muốn đi lên thuyền cứu hộ?” Người phụ nữ mỉm cười trả lời: “Không, em vẫn muốn ở bên cạnh anh”. Cũng kể từ đây, Charles không bao giờ còn gặp lại đôi vợ chồng này lần nữa.
Astor đệ tứ (John Jacob Astor IV), một nhà kinh doanh, nhà phát minh, nhà văn nổi tiếng và là một trong những người giàu nhất thế giới lúc bấy giờ. Sau khi đưa người vợ mang thai 5 tháng tuổi lên thuyền cứu hộ, một tay dắt chó, tay còn lại châm điếu xì gà rồi hét to về phía chiếc thuyền cứu hộ đang trôi dần về nơi xa: “Anh yêu hai mẹ con”.
Thuyền phó I đã ra mệnh lệnh cho Astor đệ tứ lên thuyền, nhưng ông kiên quyết trả lời rằng: “Tôi thích cách nói cơ bản nhất (bảo vệ phái yếu)!”. Sau đó, ông nhường chỗ của mình cho một người phụ nữ ở khoang hạng 3.
Vài ngày sau, khi bình minh vươn lên trên mặt biển Đại Tây Dương, đội cứu hộ tìm thấy thi thể ông trong tình trạng đầu bị chấn thương nghiêm trọng do đập vào ống khói. Khối tài sản của ông đủ để chế tạo 10 con tàu Titanic, nhưng Astor đệ tứ đã từ chối tất cả. Ông chọn cái chết để bảo vệ người thân yêu của mình, bảo vệ “phụ nữ và trẻ em” và bảo vệ nhân cách của mình.
Ben Guggenheim, một nhà tỷ phú, một nhân vật nổi tiếng trong ngành ngân hàng. Trong giờ phút nguy nan nhất, khi tất cả mọi người đang hối hả và vội vã, ông thản nhiên thay một bộ vest dạ hội sang trọng và tuyên bố: “Tôi phải chết thật trịnh trọng, như một quý ông”.
Trong lời nhắn ông gửi cho vợ viết: “Trên con tàu này, không có bất kỳ một phụ nữ nào vì anh cướp chỗ trên thuyền cứu hộ mà bị bỏ lại trên boong tàu. Anh sẽ không chết giống như một tên khốn, anh sẽ giống như một người đàn ông chân chính”.
Một thủy thủ đề nghị với Strauss, nhà sáng lập công ty bách hóa Macy của Mỹ, cũng là người giàu thứ hai thế giới rằng: “Tôi bảo đảm sẽ không ai phản đối một người già như ngài bước lên thuyền cứu hộ đâu”. Strauss nói: “Tôi sẽ không đi khi những người đàn ông khác còn đang ở lại”. Khi ông cố gắng khuyên giải bà Rosalie vợ của mình lên thuyền cứu hộ thì bà vẫn một mực từ chối. Bà nói: “Bao nhiêu năm qua, anh đi đâu là em theo đến đó, em sẽ cùng anh đi đến bất cứ nơi nào mà anh muốn đi”.
Sau đó, ông choàng lấy cánh tay của bà Rosalie, thong thả bước đến chiếc ghế trên boong tàu, ngồi xuống và chờ đợi giây phút cuối cùng của cuộc đời. Ngày nay, tại Bronx thành phố New York, người ta xây một tượng đài để tưởng niệm vợ chồng ông Strauss, trên đó khắc hàng chữ: “Tình yêu không thể nào nhấn chìm dù có nhiều nước biển hơn nữa”.
Một doanh nhân người Pháp tên Nahuatl đưa hai cậu con trai của mình lên thuyền cứu hộ, nhờ một vài người phụ nữ chăm sóc cho chúng, và mình thì từ chối lên thuyền. Sau khi hai đứa con trai được cứu sống, báo chí khắp nơi trên thế giới đều rầm rộ đăng hình ảnh của hai đứa trẻ này, cho đến khi mẹ của chúng từ hình ảnh nhận ra được chúng.
Trong giờ phút nguy kịch, Lydepas ôm chặt lấy người chồng mới cưới, không muốn thoát chết một mình.. Vì bất đắc dĩ, chồng Lydepas phải đấm cô ngất xỉu, khi cô tỉnh lại thì đã thấy mình trên một chiếc thuyền cứu hộ đang trôi lênh đênh ngoài biển. Về sau, Lydepas cả đời không tái giá, sống độc thân để hoài niệm người chồng đã mất của mình.
Trong buổi họp mặt những người may mắn sống sót tại Lausanne nước Thụy Sĩ, bà Smith kể lại: “Lúc đó hai đứa con của tôi được bế lên thuyền cứu hộ. Vì quá tải nên tôi không thể lên thuyền nữa, một người phụ nữ ngồi trên thuyền cứu hộ khi ấy đã đứng dậy rời khỏi chỗ ngồi, rồi đẩy tôi lên và hét lớn với tôi một câu: ‘Ngồi đi, những đứa trẻ không thể thiếu mẹ!’.” Bà hối tiếc vì lúc đó đã không hỏi tên người phụ nữ đó.
Những người thiệt mạng trong vụ tai nạn này còn có tỷ phú Acid, nhà báo nổi tiếng Stead, Thiếu tá pháo binh Bart, kỹ sư Robble nổi tiếng v.v.. Họ nhường chỗ của mình trên thuyền cứu hộ, cho những phụ nữ nông dân không một đồng trên người.
Hơn 50 nhân viên cấp cao trên tàu Titanic, ngoài thuyền phó thứ hai Charles Lightoller chỉ huy cứu hộ may mắn sống sót, toàn bộ đều hết mình cứu người đến chết trong cương vị của mình.
Khoảng 2h sáng nhân viên điện báo số 1 John Philip nhận được mệnh lệnh bỏ tàu của thuyền trưởng, mọi người tự mình cứu mình, nhưng ông vẫn ngồi trong phòng thông báo, vẫn giữ tư thế phát tín hiệu SOS liên tục cho đến phút cuối cùng.
Khi đuôi tàu bắt đầu chìm xuống nước, Charles nghe thấy vào khoảnh khắc cuối cùng, khoảnh khắc của sinh ly tử biệt, những lời yêu thương vang lên: “I love you! I love you!”
Trong bức màn đêm đen tối nhuốm đẫm đau khổ và chia ly, tinh thần quý tộc nổi lên như ngọn đuốc rực sáng, khắc họa nên một tuyệt tác vĩ đại về nhân cách và đạo đức con người. Giáo dục lối sống không chỉ là lý thuyết; mà trong những hoàn cảnh thực tế, những bài học đạo đức ăn sâu vào tâm thức trở thành kim chỉ nam cho hành động của mỗi người.
Phụ nữ và trẻ em, những con người yếu đuối cần được tôn trọng và ưu tiên. Những người đàn ông lịch lãm không chỉ là kẻ nói lời hoa mỹ và tử tế trên bàn tiệc; mà ngay cả khi đối diện với thực tế rằng dù ngày mai tất cả đều trở thành vô nghĩa thì bài học về đạo đức và nhân cách hôm nay vẫn cần được thực hành một cách tuyệt đối.
Nhân sinh như cõi mộng, dù cho người đó giàu có bao nhiêu hay nghèo kém cỡ nào, đứng trước sinh tử cũng đều chỉ là một sinh mệnh bé nhỏ. Quan trọng hơn, khi ấy người ta mới thật sự nhận ra điều quan trọng nhất của cuộc đời: Không phải vật chất, không phải quyền danh càng không phải nhận lại điều gì cho mình mà là cho người khác, là vị tha.
Vị tha hàm chứa một sức mạnh vô tỉ, đã biến những con người xấu số trong cơn “bão biển” kinh hoàng năm ấy trở thành biểu tượng vĩ đại của tấm lòng thiện lương cao cả.
PS: những câu chuyện thế này theo các bạn có nên đưa vào sách giáo khoa không?
(FB Hoàng Nguyên Vũ)
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Bài học từ Titanic: Lòng Vị Tha (FB Hoàng Nguyên Vũ)
Xuân Sang – Xuân Sến _ Doãn Hưng
Xuân Sang- Xuân Sến
Doãn Hưng
Nhà tôi hồi xưa ở Sài Gòn nằm cuối một con hẻm xóm lao động nghèo. Nhà nào có radio, cassette nghe nhạc thì hàng xóm được (hay “bị”) nghe ké. Tết đến cũng không là ngoại lệ. Là gia đình “Bắc Kỳ trí thức” hiếm hoi trong xóm, mấy bà chị lớn của tôi nghe nhạc xuân Phạm Duy, Phạm Đình Chương, Văn Phụng…Còn từ nhà hàng xóm vọng sang là nhạc xuân bolero, habanera… Cũng vì vậy, mà khái niệm “nhạc xuân sang” và “nhạc xuân sến” bắt đầu hình thành trong đầu tôi từ bé.
Hồi còn nhỏ, tôi nghe nhạc xuân với tinh thần “kỳ thị” cao độ. Nghe “…tình xuân chớm nở đêm qua, khi mùa chinh chiến đã lui ra ngoài đời…” thì thấy phê quá xá! Nhưng lại hết sức bực mình khi nghe bên hàng xóm vẳng sang “… trên đường đi lễ xuân đầu năm… chách chách chách chách bum chách bùm chách bum (tiết tấu habanera) Qua một năm ruột rối tơ tằm…”. Tôi càu nhàu trong đầu “nhạc xuân gì mà buồn thế!…” Sau này lớn lên, tôi mới thấy mình vô lý quá cỡ. Thực ra bài Xuân Thì của Phạm Duy giai điệu buồn cũng không kém gì bài Câu Chuyện Đầu Năm của Hoài An. Vấn đề chỉ là tại mình thích thì khen hay, còn không thích thì chê là buồn, thế thôi!
Cách đây mấy năm, tình cờ đọc báo trong nước thấy có mấy ông “nhạc sĩ lớn” ngoài Hà Nội, sau khi khen nhạc của nhau hay không thua gì nhạc Phạm Duy, lại còn kêu gọi khán giả đừng có nghe “nhạc sến” trước 1975 nữa! Mấy ông này làm tôi nhớ đến kiểu nghe nhạc kỳ thị của mình hồi bé. Chỉ có điều khác là tôi không dám kêu gọi người khác đừng nghe nhạc sến như những ông nhạc sĩ lớn này. Tôi không nhớ mình đọc được lời phê bình nào của nhạc sĩ Phạm Duy chê bai nhạc bolero. Tôi cũng nhận ra rằng số người nghe và thuộc lòng “nhạc sến” đông hơn rất nhiều so với những người nghe “nhạc sang”. Có những lần đi cắm trại hướng đạo, phụ huynh và các trưởng hay ngồi hát với nhau trong đêm lửa trại về khuya. Đàn guitar bài Hoa Xuân của Phạm Duy thì ít người hát theo. Nhưng đàn Xuân Này Con Không Về của Nhật Ngân, thì hàng chục người sẽ nhắm mắt hát say sưa mà không cần tìm lời trên điện thoại di động!
Tôi có quen một nhóm bạn yêu văn nghệ, thỉnh thoảng hay hội họp ca hát với nhau. Phần lớn mọi người đều thích hát nhạc của Phạm Duy, Phạm Đình Chương, Cung Tiến, Trịnh Công Sơn… Tuy nhiên, có những buổi khi hứng lên bắt sang nhạc “bolero mùi”, thì cả nhóm hát say sưa cũng không kém. Một thành viên trong nhóm đã phải thốt lên rằng cái nhóm này chuyển từ “nhạc sang” qua “nhạc sến” ngọt sớt, giống như có sẵn “máu sến” trong người rồi! Mà chắc đúng là vậy. Có ai đó nói rằng than vãn, kể lể tâm sự buồn là nhu cầu của đa số con người. Mà “nhạc sến” thực ra là một hình thức tâm sự “chuyện buồn đời tôi” bằng âm nhạc. Nó chân tình, rất thực, nên dễ chạm vào lòng người. Chắc vì vậy mà khi lớn lên, cuộc đời có bầm dập, tôi hát nhạc bolero có lúc thấy đúng “tâm sự buồn”, nên không còn “kỳ thị” dòng nhạc này như xưa nữa.
Trở lại với nhạc xuân trước 1975, mỗi độ xuân về thị trường băng đĩa nhạc lại nhộn nhịp với nhiều chương trình chủ đề xuân mới. Tùy theo thị hiếu của người nghe, nhắm vào giới thính giả nào, mà các nhà sản xuất chọn bài hát và ca sĩ. Có nhà sản xuất chọn thị trường là giới trí thức thành thị, chỉ chọn nhạc “xuân sang”. Số băng nhạc xuân này không nhiều, kén chọn thính giả. Thị trường lớn nhất vẫn là giới khán giả bình dân, do đó băng nhạc “xuân sến” vẫn chiếm đa số. Cũng có nhà sản xuất chọn kiểu bắt cá hai tay, cho xen kẽ nhạc “xuân sang, xuân sến” trong một băng nhạc.
Nhạc sĩ Phạm Mạnh Cương là một trong những nhà sản xuất hiếm hoi thực hiện chương trình nhạc “xuân sang”. Trong chương trình nhạc xuân Phạm Mạnh Cương chủ đề “Xuân Quê Hương” phát hành vào khoảng đầu thập niên 1970s, có nhiều bài nhạc xuân rất đặc sắc, hiếm tìm thấy ở những băng đĩa khác. Thí dụ như bài Bến Xuân Xanh của Dương Thiệu Tước. Bài hát này có thể được xem như là một “Dòng Sông Xanh” của Việt Nam. Trong tiết điệu valse du dương, quí phái, người nhạc sĩ tài danh đã phác họa một bức tranh phong cảnh đặc trưng của mùa xuân:
Ngày xuân êm ấm,
Nắng xuân tưng bừng,
Hoa tô màu thắm,
Bướm bay quyến luyến.. hoa dịu dàng
Bầy chim ríu rít vui ca trên cành,
Thấy xuân vừa tới hót vang chào mừng xuân khắp nơi…
Rồi sau đó, ông đưa thính giả bềnh bồng về với một bến thuyền thật lãng mạn, tình tứ:
…Hồ xuân duyên dáng, sóng xuân nhẹ nhàng,
Lướt trên làn nước gió đưa thuyền trôi về bến xuân xanh
Mái chèo nhịp nhàng buông theo dòng nước, Sóng lan mơ màng
Đâu thoáng nghe tiếng ca ngân tình tứ, Lướt ru thuyền mơ…
Bến Xuân Xanh viết với phong cách đặc trưng của thể nhạc cổ điển Tây Phương. Giai điệu lên bổng, xuống trầm. Tiết điệu thay đổi, lúc thì tưng bừng lễ hội, lúc thì du dương tình tứ. Có lẽ vì vậy, mà tiếng hát vượt thời gian Thái Thanh là lựa chọn tuyệt diệu để trình bày ca khúc này.
Cũng trong chương trình “Xuân Quê Hương”, thính giả được nghe tiếng hát quý phái của Duy Trác trong hai bài nhạc xuân cũng quý phái không kém: Nhớ Bạn và Tình Xuân, đều của Vũ Thành. Nghe Kim Tước mới đây trả lời phỏng vấn trong chương trình The Jimmy Show thì biết rằng “Xuân” trong ca khúc Nhớ Bạn chính là một người tình tên Xuân của tác giả. “Xuân” xuất hiện trong ca khúc ẩn hiện có khi là thiên nhiên, có khi là người yêu xa xăm, thương nhớ:
Xuân vương trên ngàn hoa nhắc bao sầu nhớ mơ màng
mây buông trong chiều vắng như luyến tiếc giấc mơ phai tàn
nhớ dưới xuân năm nào lòng say ước mơ sống trong mộng vàng
Xuân nay bao sầu nhớ xuân xưa
tiếc mối tình phai hương cung vần đành lỡ dứt đường tơ vương
sầu vương áng mây bao nhuốm màu tang…
…Nhớ bóng ai bên thềm thanh vắng
Nhớ phút giây mơ màng dưới trăng
Xa kìa cánh chim chiều bạt gió muôn phương
Lạc loài cuối trời mang u sầu ngàn phương…
Còn trong Tình Xuân, mùa xuân của Vũ Thành là mùa xuân của một Hà Nội thanh lịch, với hoa đào trong gió, với mưa xuân, chan hòa nhã nhạc, nhớ về người tình:
Đào mỉm cười trong gió, chào đón xuân về
Nhạc tràn lan đây đó, muôn loài lắng nghe
Tình ngày xuân chứa chan, vương vấn cung đàn
Mắt huyền yêu, cách muôn trùng dương, như mơ hồ
Mưa sầu còn lưu luyến, ngàn cánh hoa buông tơi bời
Dường như nhớ thương, đong đầy gió sương xa xôi
Hồn người thi khách theo, mây đến chân trời
Mong ước ngày, cùng chung tiếng tơ, nói bao lời…
Như đã nói, băng nhạc “xuân sến” thì dễ tìm hơn. Lấy điển hình là chủ đề “Băng Nhạc Việt Nam Xuân”. Nhạc xuân bolero rất “mùi”, ca sĩ cũng “mùi”. Cánh Thiệp Đầu Xuân của Lê Dinh-Minh Kỳ là một ca khúc thường vang lên trong nhiều khu xóm nhỏ Miền Nam, với tâm tình xuân thật chân thành, giản dị:
Hoa lá nở thắm đẹp làn môi hồng,
Xuân đến rồi đây nào ai biết không?
Mang những hoài mong đi vào ngày tháng
Bao nhiêu mơ ước đến khi mùa Xuân sang
Tôi chúc gì đây vào mùa Xuân này
Khi nắng vàng tươi nhuộm làn tóc ai
Khi gió nhẹ lay hoa đào hồng thắm
Trong khi Xuân ấm mới tô đẹp tháng năm…
Cũng trong băng nhạc xuân này khán giả được nghe một trong những xuân khúc nổi tiếng nhất của Miền Nam trước 1975: Xuân Này Con Không Về của Nhật Ngân. Bài hát trở thành bất tử vì diễn tả những cảm xúc rất thật, đầy nhân bản của người lính VNCH khi phải đón xuân xa nhà. Giọng hát của Duy Khánh đã lột tả thành công nhất những cảm xúc đó:
Con biết bây giờ mẹ chờ tin con
Khi thấy mai đào nở vàng bên nương
Năm trước con hẹn đầu xuân sẽ về
nay én bay đầy trước ngõ
mà tin con vẫn xa ngàn xa
ôi nhớ xuân nào thuở trời yên vui
nghe pháo giao thừa rộn ràng nơi nơi
bên mái tranh nghèo ngồi quanh bếp hồng…
trông bánh chưng ngồi chờ sáng
đỏ hây hây những đôi má đào…
Shotgun là một trong những trung tâm băng nhạc thành công trong việc phối hợp đa dạng giữa nhạc “xuân sang” và “xuân sến”. Một thí dụ là băng nhạc chủ đề Xuân Shotgun 1973. Băng nhạc mở đầu bằng Xuân Họp Mặt của Văn Phụng, là một ca khúc xuân vui tươi, rộn ràng , một dạng thanh âm không thể thiếu của không khí đón xuân mới:
Xuân đã về, xuân vẫn mơ màng trong nắng vàng, khắp chốn tiếng reo vạng
Xuân đã về, xuân vẫn huy hoàng trong gió ngàn mừng đón xuân sang
Vui mùa xuân năm nay gần nhau, Nhớ khi xưa lúc ngây thơ, cầm tay hỏi nhau ngẩn ngơ, đến bao giờ đón xuân mơ…
Nhạc xuân bolero mùi thì có Ngày Đầu Một Năm (Thanh Thúy), Đón Xuân Này Nhớ Xuân Xưa (Anh Khoa). Đặc biệt còn có Thiên Duyên Tiền Định, là một ca khúc xuân “đời thường”, một thể loại nhạc xuân khá thịnh hành vào đầu thập niên 1970s. Lời ca giống như câu chuyện tán gái đầu năm của một anh chàng thầy bói nghiệp dư:
Đầu năm hoa lá xôn xao nở như đón chào
Nhờ anh tiên đoán năm nay duyên nợ thế nào
Phận nghèo chẳng dám ước cao
Chỉ cần tình nghĩa với nhau
Nếu ai tâm đầu ngỏ lời là nên giai ngẫu
Mười hai con giáp em đây cầm tinh quý mùi
Cầm tay anh đoán năm nay duyên lành đến rồi
Gặp chồng hiền đức dễ thương
Tuổi này vượng số lắm con
Muốn cho vuông tròn nhờ anh môi giới mối mai đưa tình…
Nhạc xuân trước 1975 đa dạng như vậy đó! “Sang” hay “sến” chỉ là khái niệm về thị hiếu. Giống như một vườn hoa đa hương sắc, mọi người thuộc nhiều tầng lớp đều có thể thưởng ngoạn. Sau bao năm đón xuân từ trong nước ra đến hải ngoại, nghe đủ loại nhạc xuân qua bao thời đại thăng trầm của đất nước Việt Nam, mỗi độ xuân về, tôi vẫn lên youtube tìm nghe lại những bài nhạc xuân trước 1975, cả “xuân sang” lẫn “xuân sến”…
Doãn Hưng
(Nguồn: https://bienxua.wordpress.com)
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Xuân Sang – Xuân Sến _ Doãn Hưng
Chuyện Buồn Ngày Valentine (Sưu tầm)
CHUYỆN BUỒN NGÀY VALENTINE
Trong bức ảnh, một người đàn ông ngồi một mình lặng lẽ trong một tiệm ăn. Cạnh đó, là 2 ly rượu vang trắng, hai tấm thiệp Valentine đặt trên bàn, bên ngoài tấm card ghi dòng chữ “ You and Me”. Đối diện ông, là một chiếc ghế trống và chiếc bình đựng tro cốt của người đàn bà của đời ông.
Và, ông ôm mặt khóc….
Một phụ nữ ngồi bàn bên cạnh, cô Chasidy Gwaltney, đã vô tình chụp được khoảnh khắc này vào đúng dịp Valentine 14/2/2018 trong một bữa ăn trưa tại một nhà hàng ở bang Texas, Hoa Kỳ.
Khi cô share bức ảnh này trên fb của mình, nó đã chạm vào trái tim của tất cả những ai thấy được tấm hình ảnh này. Nó như một thông điệp muốn nhắc nhở tất cả chúng ta rằng, hãy yêu thương nửa kia của đời mình khi còn có thể.
Chủ nhân của tấm hình, cô Chadisy viết, “Chúng ta thường chẳng quan tâm tới bạn đời của mình. Chúng ta, thường quên một nụ hôn khi tạm biệt nhau, hay sao nhãng câu nói ‘anh yêu em hay em yêu anh’, hoặc bị cuốn vào những công việc dở dang đam mê khác mà quên mất rằng những điều nhỏ bé mình làm hàng ngày lại vô cùng ý nghĩa với nửa kia của mình”.
Tuổi trẻ, ta thường mải mê đuổi theo những ước mơ sao phải kiếm thật nhiều tiền để mua được hạnh phúc. Đến tuổi già, khi may mắn đã có được nhiều tiền, thì cả tình và hạnh phúc đều đã nhạt phai.
Hãy trao nhau những gì ta đang có.
Nhỡ mai này không có để cho nhau.
Nguồn : dailymail
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Chuyện Buồn Ngày Valentine (Sưu tầm)
Happy Valentine – Còn Tôi Còn Bà (thơ cụ Ngô Bá Bàn)
Những vần thơ dành riêng cho các cụ cao niên tặng nhau nhân ngày “Tình Nhân” Valentine
CÒN TÔI CÒN BÀ

Mất gì thì mất bà ơi
Xin trời đừng để còn tôi mất bà
Hai ta tuy tuổi đã già
Nhưng tôi vẫn muốn còn bà còn tôi
Mất gì thì mất bà ơi
Xin trời đừng để còn tôi mất bà
Nếu trời bắt phải đi xa
Tôi xin đi trước còn bà đi sau
Mong bà đừng ốm đừng đau
Để tôi còn bát cơm rau sớm chiều
Sống cho nhau nghĩa là yêu
Tuổi cao ta lại càng nhiều tình thương
Hai ta đi khắp nẻo đường
Đói no sướng khổ gió sương đã từng
Được như nay đã là mừng
Nỗi mong lớn nhất là đừng đi xa
Tuổi cao tôi vẫn có bà
Như liều thuốc bổ dưỡng già đời tôi
Đời còn đẹp lắm bà ơi
Xin trời cứ để còn tôi còn bà …
Tác giả : Cụ Ngô Bá Bàn
Ngày “Tình Nhân” đọc được bài thơ này thấy cảm động quá bèn có thêm vài vần thơ cảm khái gởi cho ông xã mà rằng:
Tôi cũng khấn nguyện ông ơi
Đừng cho ông mất lẻ loi còn bà!
Hai ta nay tuổi đã già,
Valentine đừng tặng nhau hoa làm gì
Hoa “cẩm chướng” bỏ bớt đi
Dong thuyền quyết sống đến kỳ … rụng răng!
Lan le nguyen
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Happy Valentine – Còn Tôi Còn Bà (thơ cụ Ngô Bá Bàn)
Khai Bút Đầu Xuân Đợt 2 – TPK xướng
KHAI BÚT ĐẦU XUÂN NHÂM DẦN – ĐỢT 2
CHỈ MÁNH
Khai bút đầu năm chỉ mánh chơi
Làm sao phú qúy nhất trên đời
Buôn dân bán nước vơ vàng khối
Chạy chức mua quyền hốt hụi thôi
Quy hoạch đuổi nhà xây biệt phủ
Quơ cào móc ruột dựng cơ ngơi
Túi tham miệng rộng mà vô đáy
Sông núi riêng mình cứ việc xơi
CÓC HUẾ
Bài họa 1:
ĐẢNG VÔ ĐỊCH
Bốn bảy Tết rồi đâu phải chơi
Cộng nô giỏi nhất ở trên đời
Chính quyền cướp giựt rồi vơ vét
Cán bộ thâu gom mãi chẳng thôi
Cướp đất đào mồ xây biệt thự
Đuổi nhà quy hoạch dựng cơ ngơi
Thi đua nói phét lừa dân chúng
Tộc Việt ngu ngơ mặc sức xơi./-
TQN.
Bài họa 2:
THẾ THÔI
Tự do dân chủ chỉ trò chơi
Đổi trắng thay đen mới thật đời
Bán tước mua quan mè một lứa
Sâu dân mọt nước thế mà thôi
Tham ô công quỹ hoài không ngớt
Hút máu cùng đinh mãi chẳng ngơi
Đất nước là mồi ngon Đảng cướp
Tha hồ mặc sức xúm nhau xơi
CCR
Bài họa 3:
TỰ NHŨ
Vì đã già rồi sợ cái chơi
Vướng bao nhiêu bệnh ở trên đời
Tiểu dường, bánh ngọt đành từ chối
Áp huyết, bia ngon xin chịu thôi
Thể dục dưởng sinh, gìn sức khỏe
Rượu chè cờ bạc, mất cơ ngơi
Cũng còn ham sống vài năm nữa
Quyết chí thực hành đai-ét xơi.
CÓC NHÀ
Bài họa 4:
XÚM NHAU XƠI
Dân làm nuôi đảng ăn rồi chơi
Một bọn lưu manh ở cõi đời
Bợ đít thằng Tàu dâng biển cả
Bắt tay người Mỹ kiếm đô thôi
Lòng tham vô đáy như dòng chảy
Của cải ngập nhà tợ nước ngơi
Mẹ Việt giống nai tơ mắc nạn
Cả bầy lang sói xúm nhau xơi
CÓC QT
Bài họa 5:
ĐỪNG NGHE CỘNG SẢN NÓI
Bần cố dụ làm cách mạng chơi
Nghèo nàn thất học muốn lên đời ?
Hy sinh liều chết nhiều hơn nữa
Ám sát giết người quyết chẳng thôi
Cuốc mả đào mồ xây sự nghiệp
Chửi cha mắng mẹ dựng cơ ngơi
Ba đời đổ máu nghe lời phỉnh…
Cướp được của tiền độc Đảng xơi.
CÓC KHÔ
Bài họa 6:
PHÍ CÔNG
Mánh nầy Việt cộng đã, đang chơi
Đâu đến lượt ta phải dạy đời
Chui rút bày lươn hao sức lắm
Cởi truồng dạy đĩ mất công thôi
Hút khô ruộng biển không trì hoãn
Rỉa sạch núi rừng chẳng nghỉ ngơi
Muốn chỉ làm ơn xin hãy nói
Cách nào để chúng hết còn xơi.
CÓC CHÁT
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Khai Bút Đầu Xuân Đợt 2 – TPK xướng
Nhà Thơ Nguyễn Tất Nhiên – Bài của Đỗ Trường
NGUYỄN TẤT NHIÊN
MỘT TRƯỜNG THIÊN KỊCH BẢN BI AI
(Mục chân dung nhà văn- Đỗ Trường)

Khi ngôi sao mai Nguyễn Nho Sa Mạc chợt vụt tắt, khoảng trống để lại tưởng như khó có thể bù lấp, thì may mắn thay, trên vòm trời thi ca xuất hiện một Nguyễn Tất Nhiên. Tuy còn tuổi học trò, và khác nhau về thi pháp sáng tạo, nhưng có thể nói, Nguyễn Nho Sa Mạc và Nguyễn Tất Nhiên là hai thi sĩ đích thực. Sự xuất hiện của họ góp phần làm dịu mát, và giải tỏa sự bế tắc của văn thơ, cũng như âm nhạc miền Nam trong giai đoạn chiến tranh khốc liệt nhất của dân tộc.
Đọc và đi sâu vào nghiên cứu, ta có thể thấy, thi sĩ Nguyễn Tất Nhiên tên thật là Nguyễn Hoàng Hải, sinh năm 1952 tại Biên Hòa. Ông là hiện tượng rất đặc biệt của văn học miền Nam. Cái đặc biệt ấy, không chỉ ở tài năng chín sớm, mà ta còn thấy rõ ý tưởng, cũng như hình tượng và ngôn ngữ mới lạ trong thơ Nguyễn Tất Nhiên.
Thật vậy, 14 tuổi (năm 1966) cùng với Đinh Thiên Phương, cậu học trò Nguyễn Hoàng Hải với bút danh Hoài Thi Yên Thi đã cho xuất bản tập thơ đầu tay Nàng Thơ Trong Mắt. Năm 16 tuổi, Hoài Thi Yên Thi in chung tập thơ thứ hai Dấu Mưa Qua Đất cùng với bút đoàn Tiếng Tâm Tình. Và sau khi đổi bút danh thành Nguyễn Tất Nhiên, ông cho xuất bản Thiên Tai vào năm 1970. Thi tập này là thẻ thông hành, đã đưa Nguyễn Tất Nhiên thẳng vào làng văn. Đây là dấu mốc quan trọng nhất trong sự nghiệp sáng tạo của Nguyễn Tất Nhiên. Dù lúc đó ông vẫn còn ngồi trên ghế trung học Ngô Quyền, Biên Hòa. Ngay sau đó, một loạt thi phẩm của Nguyễn Tất Nhiên được các nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang, Phạm Duy phổ nhạc, tên tuổi ông càng đóng đinh vào lòng người đọc nhiều hơn, nhất là giới sinh viên, học sinh. Năm 1978, Nguyễn Tất Nhiên vượt biên, và tị nạn tại Pháp. Và ở đó, nhà xuất bản Nam Á đã ấn hành thi tập “Thơ Nguyễn Tất Nhiên“ vào năm 1980. Khi đến định cư tại Hoa kỳ, Nguyễn Tất Nhiên cho in ấn và phát hành Chuông Mơ (1987) Tâm Dung (1989) cùng thi tập Minh Khúc. Đặc biệt tập nhạc Những Năm Tình Lận Đận của ông sáng tác từ khi còn ở trong nước cho đến ra hải ngoại, do nhà xuất bản Tiếng Hoài Nam, Hoa Kỳ ấn hành, vào năm 1984. Nếu đọc, và nghiên cứu đầy đủ, ta có thể thấy, ba khía cạnh chính làm nên chân dung nhà thơ tài hoa Nguyễn Tất Nhiên: Tình yêu, ý tưởng và những hình tượng trong thơ, cũng như chiến tranh, sự phân ly tác động đến tư tưởng, cùng cuộc sống bế tắc với nỗi đau tuyệt vọng của ông.
Năm 1992, bước vào tuổi bốn mươi, có lẽ trái tim mong manh, dễ vỡ của người nghệ sĩ Nguyễn Tất Nhiên, không vượt qua được cái bế tắc của cuộc sống, cũng như tâm hồn, nên ông đã tự kết thúc cuộc đời mình. Sự ra đi đang ở độ chín, và sung sức nhất của Nguyễn Tất Nhiên, làm cho rất nhiều người ngơ ngác và tiếc nuối. Và khoảng trống ông để lại không hề nhỏ, suốt mấy chục năm qua, chưa người (thi sĩ học trò) nào có thể thay thế, bù lấp.
*Tình yêu, ý tưởng và hình tượng mới lạ trong thơ.
Tình yêu chiếm một vị trí quan trọng nhất trong sự nghiệp sáng tạo của Nguyễn Tất Nhiên. Đọc ông, làm tôi nhớ đến thi sĩ Đinh Hùng. Bởi, cái chất cuồng nhiệt đến tận cùng, với những hành động mà người đời cho là điên điên khùng khùng, tỉnh tỉnh say say ấy trong tình yêu của hai thi sĩ quyện chặt vào nhau đến vậy. Không rõ, Nguyễn Tất Nhiên có đọc, hoặc chịu ảnh hưởng tí ti nào từ Đinh Hùng hay không? Bởi, khi đọc ông sự ám ảnh cứ vẩn vơ đeo bám tôi, y như đọc thơ Đinh Hùng vậy. Tuy nhiên, một chừng mực nào đó, tôi nghĩ, Nguyễn Tất Nhiên có chịu ảnh hưởng ý tưởng, xây dựng hình tượng từ Du Tử Lê, ở một số bài viết vào khoảng năm 1970- 1971. Ta có thể thấy, cùng viết nỗi đau của tình yêu: “ Tình yêu như dao nhọn/ Anh đâm mình, lút cán“ và “ Về như dao nhọn/ ngọt ngào vết đâm“ hai hình tượng so sánh trong Khúc Thụy Du của Du Tử Lê, và Khúc Tình Buồn của Nguyễn Tất Nhiên khá tương đồng. Và tất nhiên, Khúc Thụy Du đã ra đời sớm hơn Khúc Tình Buồn của Nguyễn Tất Nhiên hai năm.
Cái Tôi, cái nghệ thuật vị nghệ thuật là nền tảng, xương sống để làm nên khung thơ Nguyễn Tất Nhiên. Mỗi bài thơ được vắt ra từ cảm xúc của những mối tình đơn độc, nghiệt ngã trong ông. Và thủ thuật đưa tên tuổi thật của người yêu vào thơ, để gõ vào tâm lý (tò mò) của người đọc, nhằm đào sâu vào giá trị chân thực. Tuy nhiên, thủ pháp này, không phải là mới. Bởi, trước Nguyễn Tất Nhiên có Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng hay Du Tử Lê… đã sử dụng nghệ thuật này. Nhưng ở lứa tuổi học trò dám sử dụng, và sử dụng hay như Nguyễn Tất Nhiên, không phải nhà thơ nào cũng làm được. Do những đặc tính trên, nên những bài thơ này, thường có sức sống rất lâu dài. Hoặc trở thành những giai thoại, hay câu chuyện tình sử để lại cho hậu thế:
“…nếu vì em mà ta phải điên tình
cơn giận dữ đã tận cùng mê muội
thì đừng sợ, Duyên ơi, thiên tài yếu đuối
tay tre khô mối mọt ăn luồn
dễ gãy dòn miểng vụn tả tơi xương
khi tàn bạo siết cổ người yêu dấu!
em chẳng bao giờ rung động cũ
ta năm năm nghiệt ngã với tình đầu…“
(Duyên của tình ta con gái Bắc)
Thơ và tình yêu, hai thứ đam mê, cuồng nhiệt nhất đối với Nguyễn Tất Nhiên. Thất bại tình yêu đầu đời như một nhát dao chém tâm hồn ông. Để rồi, mang theo những vết thương bốn mùa luôn mưng mủ ấy, cùng nỗi thất vọng và cô đơn, Nguyễn Tất Nhiên cuộn mình vào trong thơ. Và tưởng chừng thơ ca sẽ làm giảm bớt nỗi đau, giải thoát linh hồn người thi sĩ. Nhưng không phải vậy, bởi cái thất vọng ấy, nỗi đau ấy ủ trong thơ còn nhức nhối, và day dứt hơn sức chịu đựng của con người. Chỗ Tôi, là một bài thơ đã bật ra từ cái ung ủ như vậy của Nguyễn Tất Nhiên. Xét về nghệ thuật, đây là một bài thơ dở của ông, nhưng đọc, ta thấy được sự đắng cay, ê chề, như một lời tự thú của thi nhân vậy:
“Tôi có chỉ cho gia đình
Người tôi yêu
Là một nàng con gái Bắc
Mẹ tôi hai lần nhìn
Dáng em đi
Và nói nó còn nhỏ dại
Không hiểu nó thương mày chỗ nào
Tôi trả lời chỗ con làm thi sĩ
Tuy nhiên tôi vừa đau nhói trái tim
Vì hiểu rằng
Muôn đời
Em vẫn ngó tôi nửa mắt
Có gì đâu
Thiên hạ lâu nay cứ nhạo báng tôi khùng!“
Cũng như Lục bát, thơ Ngũ ngôn rất dễ làm, song khó hay. Bởi, từ thơ đến vè có khoảng cách rất gần, nếu nhà thơ không thực tài. Tuy nhiên, ta có thể thấy, những bài thơ hay của Nguyễn Tất Nhiên thường thuộc về thể thơ này. Ngũ ngôn thơ Nguyễn Tất Nhiên hay, không phải chỉ ở tài năng sử dụng từ ngữ, mà còn ở sự hình tượng hóa, cũng như ý tưởng mới lạ. Nhìn lại văn học sử, dường như chưa ai dám cả gan đưa những hình tượng thánh thiện nơi Thánh đường, cửa Phật để ẩn dụ, so sánh với những cái được cho là kỵ húy như Nguyễn Tất Nhiên. Sự so sánh, tưởng chừng như bất nhã ấy, nhưng thật kỳ lạ, hình ảnh trong thơ Nguyễn Tất Nhiên hiện lên rất độc đáo và tinh tế, đẹp một cách trong sáng và hồn nhiên. Và Ma Soeur là một trong những bài thơ như vậy. Vâng, dù bao nhiêu hạt mưa rơi cũng chưa đủ, chưa thấm bằng tình của người thi sĩ rụng xuống linh hồn thánh thiện ấy:
“vai em tròn dưới mưa/ ướt bao nhiêu cũng vừa/ cũng chưa hơn tình rụng/ thấm linh hồn ma-sơ“.
Một hình tượng so sánh ẩn dụ, dường như, thi nhân muốn khỏa lấp nỗi đắng cay, bất lực, cùng thủ thuật nhân cách hóa, (hay tưởng tượng) để tự ru hồn mình vậy. Đây là bài thơ rất hay của Nguyễn Tất Nhiên. Và Phạm Duy phổ thành ca khúc: Em hiền như Ma Soeur, được nhiều người ưa thích từ gần nửa thế kỷ qua:
“…em hiền như ma-sơ
vết thương ta bốn mùa
trái tim ta làm mủ
ma-sơ này ma-sơ
có dịu dàng ánh mắt
có êm đềm cánh môi
ru ta người bệnh hoạn
ru ta suốt cuộc đời
cuộc đời tên vô đạo
vết thương hành liệt tim!…“
Có thể nói, Nguyễn Tất Nhiên là nhà thơ giàu trí tưởng tượng. Tài năng sáng tạo từ mới, cụm từ mới để tạo nên những hình tượng độc đáo, táo bạo gây sửng sốt, thú vị cho người đọc, xuất hiện ngay từ ngày đầu cầm bút của ông. Nếu ở bài Ma Soeur, Nguyễn Tất Nhiên đã dùng thủ pháp so sánh hình tượng hóa sự thánh thiện của người tình, thì đến với Linh Mục, ông hóa thân cho chính mình, để tìm dĩ vãng, đi đến tận cùng sự thật của cái địa ngục tình yêu ấy:
“ Vì tôi là linh mục/ giảng lời tình nhân gian/…tín đồ là người tình/ người tình là ác quỷ/ ác quỷ là quyền năng“.
Thật vậy, những cụm từ so sánh ẩn dụ cũ kỹ và dân dã này, đã được thi sĩ đặt đúng văn cảnh trong cái ý tưởng độc đáo của mình, nó trở thành nghĩa mới, hình tượng mới. Bởi vậy, nó gây cảm hứng cho nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang chuyển thành ca khúc Vì Tôi Là Linh Mục, được mọi tầng lớp đón nhận, yêu thích, nhất là giới trẻ. Đây là một trong những đặc tính làm nên hồn thơ đặc trưng riêng Nguyễn Tất Nhiên. Đặc tính này xuyên suốt sự nghiệp sáng tạo của ông:
“dĩ vãng là địa ngục
giam hãm đời muôn năm
tôi – người yêu dĩ vãng
nên sống gần Satan
ngày kia nghe lời quỉ
giáng thế thêm một lần
trong kiếp người linh mục
xao gầy cơn điên trăng!
—
vì tôi là linh mục
giảng lời tình nhân gian
nên không có thánh kinh
nên không có bổn đạo
nên không có giáo đường
một tín đồ duy nhất
vừa thiêu huỷ lầu chuông!…“
Tôi không cân đong, đo đếm kỹ lắm, nhưng dường như thơ Nguyễn Tất Nhiên nằm trong Top được phổ nhạc nhiều nhất từ trước đến nay? Bởi, ngoài ngôn ngữ giầu nhạc tính, thanh âm, thì ý tưởng mới lạ trong thơ của ông tạo ra rất nhiều cảm hứng cho các nhạc sĩ sáng tạo. Và cái ý tưởng ấy, như một luồng gió mới thổi vào cái không khí âm nhạc thời chiến lúc đó. Thật vậy, một loạt các ca khúc của Phạm Duy ra đời từ thơ Nguyễn Tất Nhiên. Đặc biệt có ca khúc Cô Bắc Kỳ Nho Nhỏ, Phạm Duy đã mượn ý tưởng bài thơ Cô Bắc Kỳ Nho Nhỏ và cảm hứng từ Đám Đông để viết nên. Có thể nói, đây là bài thơ điển hình về tài năng trí tuệ liên tưởng của Nguyễn Tất Nhiên, đã giúp cho Phạm Duy chuyển thành một ca khúc hay đến vậy. Và hơn thế nữa, với tài năng của mình, Phạm Duy vẫn giữ nguyên được sự nhẹ nhàng, tính vui nhộn cùng từ ngữ mộc mạc của bài thơ:
“cô Bắc Kỳ nho nhỏ/ tóc “demi-garçon”/ chiều đạp xe vô chợ/ mắt như trời bao dung/ đời chia muôn nhánh khổ/ anh tận gốc gian nan/ cửa chùa tuy rộng mở/ tà đạo khó nương thân/…qua giáo đường kiếm Chúa/ xin được làm chiên ngoan/ Chúa cười rung thánh giá/ bảo: đầu ngươi có sừng!“.
Vẫn mang tâm trạng oán trách buồn đau, khắc khoải của Hai Năm Tình Lận Đận, do Phạm Duy phổ nhạc, Anh Bằng đã đưa bài lục bát Trúc Đào vào âm nhạc mượt mà, và nhẹ nhàng hơn. Song nó vẫn giữ nguyên được hồn vía của bài thơ. Với tôi, Trúc Đào là một bài thơ hay nhất ở thể lụt bát của Nguyễn Tất Nhiên. Nó không chỉ hay về nội dung tư tưởng, mà có lời thơ rất mượt mà
“Chiều xưa có ngọn trúc đào/ Mùa thu lá rụng bay vào sân em…“
Tuy nhiên, Khúc Tình Buồn được Phạm Duy phổ nhạc với lời tựa Thà Như Giọt Mưa, cho tôi nhiều cảm xúc nhất. Khúc Tình Buồn thuộc thể tứ ngôn, là một trong những bài thơ hay nhất của Nguyễn Tất Nhiên. Bài thơ, ông viết khi đang là học sinh năm cuối trung học. Vẫn thủ pháp so sánh ẩn dụ, Nguyễn Tất Nhiên đã mượn hiện tượng của tự nhiên giãi bày nỗi lòng đớn đau, sự bất lực của kẻ si tình, của một tình yêu đơn phương:
“thà như giọt mưa/ vỡ trên tượng đá/ thà như giọt mưa/ khô trên tượng đá/ có còn hơn không“.
Để rồi, từ trong nỗi bất lực, và tình si ấy, người đọc mới chợt nhận ra, cái giá trị tuyệt đối và vĩnh cửu của tình yêu. Tuy nhiên, bác nào đang bị tình phụ, hay tình đơn phương, tim mạch yếu kém, thì chớ nên đọc bài thơ này:
“người từ trăm năm
về qua sông rộng
ta ngoắc mòn tay
trùng trùng gió lộng
người từ trăm năm
về khơi tình động
ta chạy vòng vòng
ta chạy mòn chân“
Nếu trước đó, văn học sử Việt không có những thi sĩ thiếu niên Chế Lan Viên với Điêu Tàn, Tế Hanh với Nghẹn Ngào, hay Nguyễn Nho Sa Mạc với Trăng Lạnh, thì có lẽ không ai tin thi phẩm Thiên Tai là do người học trò trung học Nguyễn Tất Nhiên viết ra. Bởi, sự già dặn của bút pháp cũng như tư tưởng, với những câu thơ được ủ chín tâm hồn thi nhân. Tôi không biết chính xác, bài thơ Oanh được Nguyễn Tất Nhiên viết từ khi nào. Nhưng chắc chắn, nó được viết trước tập Thiên Tai, lúc đó ông đang học lớp 10 hoặc lớp 11. Một bài thơ già dặn, và lời thơ tuyệt đẹp:
“Hãy yêu chàng, yêu chàng như yêu cánh gió/ Chơi giỡn tung tăng hai vạt áo dài/ Gió đưa mây về, trời mưa, bong bóng vỡ/ Chàng đưa tình về, xót ngọn cỏ may“.
Bài Thiên Thu viết năm Nguyễn Tất Nhiên 18 tuổi. Với bài thơ này, Nguyễn Tất Nhiên có thể ngồi cùng mâm nhấc lên đặt xuống với các cụ Đinh Hùng, Bùi Giáng…Du Tử Lê rồi. Với tôi, đây là bài thơ toàn bích nhất của Nguyễn Tất Nhiên. Đọc nó, tôi bị ám ảnh, mộng mị hết mấy đêm liền. Cả bài thơ là một câu hỏi tu từ. Không một lời giải đáp, buộc Nguyễn Tất Nhiên lìa hồn mình ra khỏi của cái thế giới hiện thực. Ông co giò chạy trốn quá khứ. Nhưng chạy đâu cũng thấy “chạy vòng vòng“ đang “chạy mòn chân“ rồi quay về với cái hiện hữu của chính mình. Vâng, đó cũng như một trường thiên kịch bản bi ai, vận vào chính cuộc sống cũng như tâm hồn Nguyễn Tất Nhiên vậy:
“…sao thiên thu không là thiên thu?/ nên những người yêu là những ngôi mồ/ tôi đứng một mình trong nghĩa địa/ và chắc không đành quên khổ đau!“.
Đang định viết lời kết cho giai đoạn này, cũng như nguyên nhân dẫn đến sự thành công rất sớm của Nguyễn Tất Nhiên, chợt làm tôi nhớ đến câu chuyện. Hôm rồi, tân gia nhà một người bạn, trong lúc khật khừ, tôi buột miệng nói với một bác nhà thơ cộng đồng đến từ Berlin: Với tôi, kể từ sau 1954 đến nay (2019) văn học Việt Nam ở tuổi học trò, có hai thi sĩ tài năng nhất. Đó là Nguyễn Nho Sa Mạc, người xứ Quảng, với tập thơ Vàng Lạnh, và nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên người xứ Nam, với tập thơ Thiên Tai. Bác nhà thơ này, goặc lại tôi: Ông nói thế chó nào ấy chứ, xứ Bắc có không ít các thần đồng thơ, chả lẽ không đáng nói đến sao. Tôi bảo bác ấy: Đây là ý kiến chủ quan của cá nhân tôi, có thể là sai. Nhưng ta có thể thấy, trong giai đoạn đó ở miền Bắc cũng xuất những tài năng thi phú trẻ, và được gắn mác mỏ thần đồng như: Hoàng Hiếu Nhân, hay Trần Đăng Khoa… Tuy nhiên, các thần đồng thi ca này, được các nhà thơ tên tuổi Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Trần Nhuận Minh… chăm sóc, định hướng tư tưởng rất kỹ càng. Do vậy, có những câu thơ của họ đọc lên cứ tưởng của Diệu, của Chế, của Minh. Hơn nữa, mấy “thần đồng“ này chỉ làm được thơ thiếu niên, nhi đồng. Sau này, Hoàng Hiếu Nhân bị tịt ngòi không viết lách được nữa. Còn Trần Đăng Khoa viết lay lắt, với những dấu ấn mờ nhạt. Thành thật mà nói, nếu ngoa ngôn dùng danh từ thần đồng để đo lường tài năng thi phú, thì với tôi, kể từ khi xuất hiện thơ mới đến nay, chỉ xảy ra một lần duy nhất. Đó là cậu bé thần đồng Chế Lan Viên với thi tập Điêu Tàn. Một tập thơ vừa ra đời đã trở thành cổ thi.
Kinh hơn nữa, thời gian gần đây chẳng hiểu ăn phải cái bả gì, mà ông Giáo sư Phong Lê, ông Phó chủ tịch Hội nhà văn Việt Nam “cựu thần đồng“ Trần Đăng Khoa cùng một số nhà thơ, nhân vật tên tuổi phát động cuộc thi “Sáng tác văn tế Đại thi hào Nguyễn Du”. Một việc làm hoặc ấu trĩ, hoặc của chùa cùng nhau chia oản. Quả thực, xa Việt Nam đến quá nửa đời người, vậy mà nghe cái từ phát động, với phong trào tôi sởn hết cả người.
Nghệ thuật Lục bát, tài năng thi phú của cụ Nguyễn Du đã được khẳng định từ mấy trăm năm qua cùng với Kiều Truyện. Không còn bàn cãi. Tuy nhiên, hồn vía của tác phẩm này thuộc về anh ba Tàu phương bắc. Do vậy, với tôi những tác phẩm Việt thuần chủng (Việt tính) đi vào lòng người hơn, từ mấy trăm năm qua phải là: Đặng Trần Côn với Chinh Phụ Ngâm, hay Nguyễn Gia Thiều với Cung Oán Ngâm Khúc.
Dài dòng một chút về vấn đề này để cho thấy, miền Bắc không phải, không có những tài năng trẻ, từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường. Nhưng với sự dẫn dắt, tư tưởng đến nay vẫn còn như thế này, thì tài năng nào không thui chột, hoặc biến dạng mới là chuyện lạ. Cũng may, Nguyễn Tất Nhiên sinh trưởng ở miền Nam, bằng không cũng mất hút con mẹ hàng lươn như “thần đồng thơ“ Hoàng Hiếu Nhân trên thi đàn là cái chắc.
*Chiến tranh, cùng nỗi thống khổ sau cuộc chiến.
Sinh ra và lớn lên trong giai đoạn tang thương nhất của đất nước, tuy không phải là người lính, song Nguyễn Tất Nhiên cũng không thể bước ra khỏi cuộc chiến ấy. Tuy nhiên, cứ tưởng, thơ văn thi phú của ông chỉ ngắc ngư với giăng hoa, ong bướm, Oanh, Duyên, Minh Thủy. Nhưng tôi đã lầm. Mảng viết về thế sự, xã hội tình người của Nguyễn Tất Nhiên không hề nhỏ. Viết về chiến tranh, dường như bút pháp, cũng như nội dung hiện thực ông đào sâu vào khía cạnh rất khác so với các thi sĩ cùng thời. Bởi, đọc ông, tôi không hề thấy tiếng bom rơi, đạn nổ, vậy mà khói lửa, chết chóc thương đau trải dài trên trang thơ của ông. Thật vậy, vừa rời ghế nhà trường, (19 tuổi) Nguyễn Tất Nhiên đã viết “Chiều Mệnh Danh Tổ-Quốc”. Một bài thơ, không chỉ người lính, hoặc những người trải qua chiến tranh, mà tôi, kẻ chưa hề biết đến súng đạn, vậy mà ngồi đọc, và viết cũng phải rưng rưng:
“…Chiều quân đội nghĩa trang
Chiều mệnh danh tổ quốc
Có muôn ngàn câu kinh
Có muôn ngàn tiếng khóc
Có chuyến xe nhà binh
Đưa “Thiên Thần” xuống đất
Còn ai, còn ai chăng ?…“
Có thể nói, từ thơ tình đến thơ thế sự của Nguyễn Tất Nhiên bài nào cũng vậy, rất nhẹ nhàng, không hề lên gân, song đã gieo vào lòng người đọc nỗi đau day dứt khôn nguôi. Vào giai đoạn cuối của cuộc chiến, thân phận người lính càng bi đát hơn. Sự kiên cường của họ trước sự hèn nhát, tháo chạy của những cấp lãnh đạo cao nhất, làm cho Nguyễn Tất Nhiên xúc động:
“Về trên nạng gỗ mà trông/ Lô nhô lãnh đạo cong lưng bôn đào”.
Thật vậy, sự đồng cảm đối người lính trong thơ ông, không chỉ trong chiến tranh, mà ngay sau cuộc chiến, ta càng thấy đậm nét hơn. Chiến tranh qua đi, nỗi đau về thể xác lẫn tâm hồn của người lính thương phế binh, và những hệ lụy cho gia đình, cháu con còn bi thương, rách nát hơn gấp nhiều lần. Về Trên Nạng Gỗ là một bài thơ như vậy. Nó là một trong những bài thơ thế sự hay nhất, từ trước đến nay, mà tôi đã được đọc. Tính hiện thực như một bản cáo trạng đối với chế độ xã hội đương thời của nhà thơ, cùng lời cảm thông sâu sắc, xoa dịu nỗi đau của con người. Đọc xong bài thơ này, tôi không còn biết đây là thơ, hay là lời ru nỗi đau của Nguyễn Tất Nhiên. Các bạn đọc lại đoạn trích dưới đây, xem có cảm giác như tôi không:
“…Về trên nạng gỗ mà trông
Chín năm chinh chiến đeo tròng nguỵ quân
Con thơ nhục nhã đến trường
Ê a phỉ báng máu xương cha mình
Cha “lính nguỵ” – con tự nhiên
Thành phần không được ngóc lên làm người
Học vừa đủ biết đọc thôi
Đủ làm gia súc hiểu lời Đảng sai
Hãy cười đi phế binh ơi
Một tay cũng rán mà… moi củ mì
Từ đây dỗ đói thường khi
Ru con tôi hát não nề ca dao“
Cái đau của người thi sĩ là ru được người chứ không thể ru được chính mình, tâm hồn mình. Do vậy, trong cái bi đát đó, Nguyễn Tất Nhiên buộc phải trốn chạy, hay tìm đến: “Ta mời ta viếng mộ/ Lìa thảm cảnh dương gian“. Và cầu Nại Hà cũng đã bị gãy nhịp, người thi sĩ quay về nơi địa ngục. Không nghe lời sám hối, mà vọng lên tiếng kêu than thỉnh cầu của thi nhân: “Phải sống nơi địa ngục/ Mới hiểu thấu thân ta“. Dường như không có lời đáp vọng lại. Bởi, sự bất lực, hấp hối tro tàn ấy, đâu chỉ riêng thi sĩ:
“…Ta mời ta viếng mộ
Lìa thảm cảnh dương gian
Chúc Phật còn lui chân
Trước bạo quyền chế độ
Huống hồ chút hư danh
Nguyễn Tất Nhiên thống khổ
Ôi chữ nghĩa văn chương
Bất lực, càng bất lực
Phải sống nơi địa ngục
Mới hiểu thấu thân ta
Đôi mắt người ngây thơ
Không hề vương vấn tội
Có chở tình ta theo
Tới cõi nào diệu vợi?
Lửa đời ta đã lụn
Đang hấp hối tro tàn“ (Tháng 11, Thơ Mưa)
Thành thật mà nói, chỉ khi đi sâu vào đọc, tôi mới nhận ra thơ văn Nguyễn Tất Nhiên luôn gắn liền với xã hội và đời sống của con người. Thơ của ông có tính thời sự cao. Tôi nghĩ, mảng đề tài này góp phần không nhỏ làm nên sự nghiệp sáng tạo của ông. Nhưng dường như, bấy lâu nay chúng ta đã quên hẳn nó. Do vậy, văn học sử Việt Nam rất cần những nhà nghiên cứu khai quật, đánh giá cho thật đầy đủ, và khách quan về thơ văn Nguyễn Tất Nhiên.
Chia ly, với cuộc sống bế tắc, cùng những nỗi đau tuyệt vọng.
Ra đi là con đường duy nhất để giải thoát Nguyễn Tất Nhiên ra khỏi nơi địa ngục. Con thuyền lá tre kia vừa cập bến tự do, thì linh hồn ông đã chết ngay khi đặt chân lên miền đất lạ:“kẻ vượt biển đã tới bến mạnh lành/ nhưng chết ngay khi đặt chân lên bờ đất“. Những mâu thuẫn nội tâm, và bi kịch của người thi sĩ bắt đầu từ đó. Để rồi, cuộc sống và thi ca Nguyễn Tất Nhiên luẩn quẩn trong cái vòng tròn định mệnh ấy. Có thể nói, đây là tâm lý chung của tất cả các văn nghệ sỹ trốn chạy sau biến cố 1975, chứ không riêng Nguyễn Tất Nhiên. Tuy nhiên, sự hòa nhập, nghị lực và khát vọng tự do, khát vọng sống của mỗi con người khác nhau. Bài thơ Paris, Khúc Tháng Chín được Nguyễn Tất Nhiên viết trong tâm trạng, và hoàn cảnh như vậy. Đây là bài thơ hay, một lần nữa chứng minh cho ta thấy, sự liên tưởng, trí tưởng tượng phong phú của ông:
“…kẻ leo rào đã chụp được Tự Do
nhưng tức thời buông tay bổ ngửa
là ta
—
phải, ta đánh rơi ta
nát vụn
sau khi đánh rơi Việt Nam
bên kia bờ biển mịt
—
cây cối sẽ phục sinh vào đầu tháng tư năm tới
phần ta
cách gì tươi tắn lại
khi đời đã sang thu
cộng với lần bứng gốc…“
Những năm tháng ly hương, cuộc sống Nguyễn Tất Nhiên, dường như hồn đã lìa khỏi thân xác. Với ông, đó là những nỗi đau và cô đơn không có thể bù lấp: “Quê hương đã lìa/ Người tình đã xa/ Bạn bè đã tàn/ Mọi thứ đã rã tan cùng đại dương xanh”. Do vậy, với tâm hồn, nghị lực mong manh yếu đuối luôn làm cho người thi sĩ Nguyễn Tất Nhiên chán nản bi ai: “Có lẽ em không hay/ Đôi cách chàng đã gãy“. Tuy vậy, cùng nỗi nhớ thường trực, trái tim mẫn cảm của người nghệ sĩ luôn hướng về quê hương, đất nước. Nhớ Nội, là một bài thơ thất ngôn như vậy. Một bài thơ hay và cảm động, tiêu biểu cho tâm trạng của Nguyễn Tất Nhiên trong giai đoạn này:
“…từ lúc giặc về, con biệt xứ
nát lòng chim quốc nhớ quê hương
mấy thu vàng úa đời xa cội
chẳng biết mộ phần nội có yên?“
Bi kịch gia đình, bi kịch xã hội ảnh hưởng trực tiếp đến tư tưởng, và thi pháp sáng tác của Nguyễn Tất Nhiên. Đây là giai đoạn nặng nề, cùng cực, cô đơn nhất của ông. Do vậy, những bi ai, u uất đã trải dài từ thi tập Tâm Khúc cho đến Minh Khúc. Sự chia ly, đổ vỡ của tình yêu và gia đình“…như dao nhọn/ ngọt ngào vết đâm“ tan nát trái tim Nguyễn Tất Nhiên. Ông bất lực trong nỗi bơ vơ, và trống trải:
“bây giờ em đã xa tôi/ hay là sông núi xa đời lãng du…chim đêm hót tiếng đau tình/ đau tim tôi chở lòng thành kiếm em… “.
Giai đoạn này, dường như ông hòan toàn quay về với thể thơ lục bát. Những câu thơ của ông đọc lên như có tiếng ru đời và ru mình vậy. Vâng, hai tập thơ lục bát, cũng không thể cứu rỗi được hồn người thi sĩ. Đoạn trích về nỗi đau, và cô đơn trên con đường mịt mù sương khói trong bài Minh Khúc 90 đã báo hiệu số phận của Nguyễn Tất Nhiên:
“đường không gian – đã phân ly
đường thời gian- đã một đi không về
những con đường mịt sương che
tôi vô định lái chuyến xe mù đời
cu tí ngủ gục đâu rồi?
băng sau, ngoái lại, bời bời nhớ con…“
Có thể nói, nghị lực, và trái tim đa cảm của thi sĩ Nguyễn Tất Nhiên không thể vượt qua được nghịch cảnh ở nơi miền đất lạ. Nó làm cho ông khủng khoảng tinh thần trong nỗi cô đơn đến tuyệt vọng. Nếu nói, cuộc đời Nguyễn Tất Nhiên là một bi kịch, thì diễn viên là ông, và đạo diễn cũng là ông. Và kịch bản ông viết từ hai mươi năm trước đã vận vào đúng cuộc đời, cái chết của diễn viên Nguyễn Tất Nhiên vậy:
“Ta phải khổ cho đời ta chết trẻ
Phải ê chề cho tóc bạc với thời gian
Phải đau theo từng hớp rượu tàn
Phải khép mắt sớm hơn giờ thiên định“.
Tôi thuộc thế hệ sau Nguyễn Tất Nhiên khá xa, và cũng chưa một lần gặp gỡ, hoặc được quen biết ông. Tuy nhiên, tên tuổi Nguyễn Tất Nhiên, tôi đã biết khá lâu, khi đọc, hoặc viết về một số nhà văn gốc miền Nam khác. Đôi lúc tâm trạng buồn, vui tôi thường đàn hát những bản nhạc phổ từ thơ của ông, hoặc do ông sáng tác. Và Không hiểu tại sao, vài tuần nay như có một sợi dây tâm linh nào đó thôi thúc, buộc tôi tìm đọc, rồi viết về Nguyễn Tất Nhiên. Dù tôi cũng là “tên vô đạo“ như ông. Đọc và viết trong vài tuần, sau giờ làm việc, do vậy, tôi nghĩ, không tránh khỏi những thiếu sót, hoặc sai lệch. Nhưng đã đọc, mà không viết, cứ để ứ hự ở trong lòng thì quả thật, có lỗi với Nguyễn Tất Nhiên thi sĩ.
Leipzig
Đỗ Trường
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Nhà Thơ Nguyễn Tất Nhiên – Bài của Đỗ Trường
Chúng Tôi Vẫn Sống_Huỳnh Kỳ Anh Tú
CHÚNG TÔI VẪN SỐNG
Huỳnh Kỳ Anh Tú (Người con của một cựu Sĩ Quan QLVNCH, một người trẻ rất đáng khâm phục.)
Tôi là một bác sĩ, sinh ra và lớn lên tại Sài Gòn nhưng sau này tôi đi du học và đã định cư tại nước ngoài từ lâu. Nhân tháng 4 năm nay, tôi muốn viết một thông điệp cho gia đình, bạn bè tôi, cùng tất cả những người từng là công dân Việt Nam Cộng Hòa, con cháu của họ, nhất là những đứa trẻ cùng thế hệ 8X như tôi….
Cha tôi là một sĩ quan quân lực VNCH, cấp bậc Trung úy. Ông có may mắn hơn nhiều bạn bè, khi chỉ phải đi tù cải tạo một thời gian ngắn. Năm 1979 cha tôi ra tù và về sống ở Sài Gòn (xin lỗi vì tôi không thể viết tên của kẻ tội đồ dân tộc mình), một năm sau tôi sinh ra.
Từ khi tôi biết nhận thức thế giới xung quanh cho tới năm 18 tuổi, cha và mẹ KHÔNG BAO GIỜ nói với tôi bất cứ điều gì có liên quan đến chính trị hay nói xấu chế độ mới, cha tôi sống hiền lành, nhẫn nhục nuôi con cái, hòa đồng với tổ dân phố. Cha ghét chiến tranh và không bao giờ nhắc đến thời chiến đấu xa xưa của mình, đến mức không cho tôi chơi những món đồ chơi như súng, máy bay. Mẹ tôi thì cấm tôi nghe nhạc vàng hay những bài ca về lính, dù vậy sau này tôi vẫn lén nghe. Họ để cho tôi tự do lựa chọn con đường mình đi, ngay cả tôn giáo. Vì thế những gì tôi viết cho các bạn xem đưới đây là do CHÍNH BẢN THÂN tôi nhận thức được từ cuộc sống xung quanh mình.
Với tính cách giang hồ lãng tử của cha tôi, trước 30-4 ông vốn đã không coi trọng tiền bạc, không nhà cửa, tiền vàng, chỉ có 2 bàn tay, chiếc xe máy cùng người vợ hiền nên sau 30-4 ông không mất gì cả về vật chất. Tuy nhiên, nỗi mất mát về tinh thần ám ảnh ông suốt đời như một vết thương không bao giờ lành được.
Nhà tôi rất nghèo, lại phải chịu bất công từ mọi phía, mẹ tôi bị ép phải nghỉ sớm do lý lịch của cha, bà phải đi buôn thuốc men, thực phẩm để nuôi tôi lớn…. Lúc tôi 3-4 tuổi cha tôi đi làm vắng nhà cả ngày, ông làm đủ thứ nghề, buôn bán hàng phế liệu, đạp xích lô, đến tối mịt mới về nhà. Ngày nghỉ ông chở tôi lang thang trên các con đường ở Sài Gòn bằng chiếc xe đạp. Đường phố Sài Gòn thập niên 80 còn hoang vắng, tôi để ý một điều là ông luôn gọi những con đường bằng tên cũ, chỉ cho tôi những tòa nhà và tên gọi của chúng, nhiều khi tôi thấy ông dừng rất lâu ở một nơi nào đó và khóc.
Lớn lên một chút, ông luôn tìm cách hướng tôi về những điều chân thiện mỹ, thay vì phó mặc cho sự nhồi sọ của trường lớp, đội nhóm. Tôi còn nhớ ông mua sách báo cũ thời VNCH cho tôi đọc, nhất là Thiếu Nhi tuần báo. Ngày tôi được kết nạp đội, cha tôi ôm tôi vào lòng và ông rất buồn, nhưng ông dắt tôi đi xem phim Batman và đêm đó trước khi ngủ kể cho tôi nghe ông đã phải đi bộ hơn 5 cây số để mua sữa cho tôi uống như thế nào.
Tôi nhìn ra rất sớm sự giả dối, bất công, ngay trong trường lớp của mình, những bài văn mẫu, những người thầy ép học sinh học thêm tại nhà, những bài học lịch sử dối trá.
Tôi muốn nói một điều với các bạn cùng lứa tuổi, rằng thế hệ sinh ra năm 78-80 tại Sài Gòn như chúng tôi PHẢI nhận thức rõ một điều rằng: Dù thể chế Việt Nam Cộng Hòa đã chết vào ngày 30/4/1975, nhưng nó vẫn tiếp tục cưu mang, nuôi dưỡng những đứa trẻ như tôi bằng tất cả máu thịt từ còn sót lại. Bọn cộng sản KHÔNG góp một chút công ơn nào hết trong việc nuôi dưỡng, che chở và giáo dục chúng tôi, thậm chí ngược lại là khác, chính bọn chúng là nguyên nhân gây ra mọi đau khổ, bất công, rủi ro cho số phận những đứa trẻ sinh ra giai đoạn này.
Tôi ra đời trong một nhà bảo sinh của VNCH, khi tôi đau ốm, các bác sĩ và nữ hộ sinh được đào tạo từ ngành y tế VNCH đã chăm sóc cho tôi, dù họ là những người bị ngược đãi, phải sống cực khổ ăn không đủ no vì chính sách nô dịch của cộng sản, nhưng vẫn giữ trọn y đức và trách nhiệm. Từ khi cắp sách đến trường tôi may mắn hơn những đứa trẻ miền Bắc, vì được che chở dưới những lớp học, mái trường do cha anh chúng tôi, công dân của VNCH xây nên, chúng tôi may mắn được xem phim trong những rạp ciné hiếm hoi còn sót lại ở Sài gòn của VNCH.
Trong khi đó, bọn cộng sản Bắc Việt đã làm gì cho chúng tôi? Từ tuổi sơ sinh, toàn bộ trẻ em như tôi phải chịu cảnh suy dinh dưỡng, ăn không đủ no, không có sữa để uống. Cha mẹ chúng tôi phải chạy ăn từng bữa, hy sinh những gì tốt nhất cho chúng tôi trong khi họ phải ăn độn bobo, khoai mì. Khi đau ốm bệnh tật không có đủ thuốc men chữa trị, phải đi vay mượn, đi mua kháng sinh ngoài chợ đen. Chúng tôi lớn lên, đứa thì lùn đứa thì còi xương, tội lỗi đó là do ai gây ra? Khi đi học chúng tôi bị nhồi sọ bằng những chuyện dối trá nhảm nhí, bị những cô giáo xã hội chủ nghĩa đánh đập không thương tiếc, phải đi nhặt lon, nhặt rác, dùng những cuốn sách giáo khoa cũ nát, đen thui, đêm về phải học bài dưới ánh đèn dầu tù mù, chịu nóng, muỗi đốt để mà kiếm cho được tấm giấy khen vô nghĩa. Lớn lên một chút, chúng tôi lại bị những thầy cô giáo bóc lột đến tận cùng bằng những chiêu trò dạy thêm tại nhà, ai không đến nhà thầy học thêm thì bị đì, bị đối xử bất công trên lớp. Lúc trưởng thành ra đời thì tương lai u tối vì 2 chữ lý lịch gia đình, phải hối lộ đút lót khắp mọi nơi mới kiếm được miếng ăn.
Tôi lại muốn nói điều này cho bọn cộng sản và con cháu của chúng: Việt Nam Cộng Hòa vẫn sống, và chưa bao giờ chịu khuất phục bởi bạo lực và sự đàn áp của cộng sản. Những người con của thế hệ VNCH vẫn sống, dù nhẫn nhục, nhưng không cúi đầu, không bao giờ chấp nhận đi chung đường với điều ác và dối trá…
Bọn cộng sản không bao giờ khuất phục được ý chí và tinh thần của những công dân VNCH, chúng không bao giờ hiểu được tại sao cha mẹ chúng tôi đặt tên cho con cái mình là Nguyễn Đình Bảo, Nguyễn Khoa Nam hay Phan Nhật Nam (cha tôi đặt tên cho tôi là Huỳnh Kỳ Anh Tú, và tôi tự hào vì điều đó!). Tại sao mấy chục năm nay người ta vẫn thích nghe nhạc của Lam Phương, Trần Thiện Thanh, Trúc Phương và dòng nhạc này đang hồi sinh.
Bọn cộng sản muốn trả thù hèn hạ con cháu của VNCH bằng cách xét lý lịch, thì chúng tôi, những công dân VNCH cũng dùng lý lịch, căn cước của cha anh mình như một dấu hiệu nhận diện nhau, đùm bọc nhau. Cuộc đời tôi đã trải nghiệm không biết bao nhiêu sự ưu đãi, giúp đỡ từ bạn bè của cha tôi, hay thậm chí những người xa lạ, mỗi khi họ tình cờ biết cha tôi từng là sĩ quan quân lực VNCH, một người thầy nổi danh đã nhận tôi vào lớp luyện thi đại học và miễn học phí (hơn 2 triệu đồng) vì tôi là con của lính VNCH, nhiều bác sĩ đã chữa bệnh cho tôi hồi nhỏ không nhận thù lao khi biết cha tôi từng đi lính, một linh mục tại nhà thờ Dòng chúa cứu thế dạy kèm tiếng Anh và tiếng Pháp cho tôi suốt 3 năm mà không lấy tiền.
Bọn cộng sản cũng không bao giờ hiểu được tại sao bên cạnh chúng không bao giờ có mặt những người trí thức, nhân tài hậu duệ của VNCH, vì những cá nhân này không bao giờ chấp nhận vào đoàn thanh niên cộng sản, không bao giờ đi làm cho nhà nước, và một khi ra nước ngoài du học không bao giờ quay trở lại để phục vụ cho chúng, chúng có kêu gào 1000 năm nữa và dụ dỗ bằng tiền tài hay danh lợi, những người này cũng sẽ không bao giờ trở về cộng tác với chúng. Chúng chỉ tìm thấy những kẻ cơ hội, bợ đỡ, bất tài và ngu ngốc chấp nhận làm nô lệ cho chúng mà thôi.
Đối với một số người, ngày 30-4 có thể là ngày đau buồn, họ cho đó là quốc hận, một số những kẻ ăn trên ngồi trước thì hoan hỉ ăn mừng, mừng cho việc họ đã giết, cướp chính anh, chị em một nhà của mình, nhưng tôi nhận rõ một điều là Việt Nam Cộng Hòa vẫn chưa chết, Sài gòn có thể bị chiếm đóng, chúng ta có thể bị đô hộ, nhưng công dân và hậu duệ của VNCH vẫn sống, vẫn vươn lên, vẫn đang giúp đỡ nhau, chúng tôi miễn dịch với mọi sự dối trá và độc ác của cộng sản, nhiều người vẫn đang đi tìm tự do, và sẽ có ngày chân lý sẽ chiến thắng./.
Huỳnh Kỳ Anh Tú
(Nguồn: https://bienxua.wordpress.com)
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Chúng Tôi Vẫn Sống_Huỳnh Kỳ Anh Tú
Cóc Biển Khai Bút Đầu Xuân với 7 bài họa
Thân kính gởi quí thi huynh, thi hữu, thân hữu,
Nhân ngày đầu Xuân NHÂM DẦN, Lão tôi thân kính gởi đến quí vị bài KHAI BÚT để làm quà đầu năm.
KHAI BÚT
Xuân nầy khác hẳn mấy Xuân qua
Dịch bệnh còn lây đến mọi nhà
Cô-vit, đeo-ta chưa lẩn trốn
Siêu vi, biến thể lại bùng ra
Khẩu trang giãn cách ngăn ngừa tạm
Tiêm chủng đủ liều hiệu quả đa
Năm mới vaccine đặc trị tốt
An tâm gặp gỡ bạn cùng ta.
Mồng 2 Tết Nhâm Dần (2022)
ĐẠT NHÂN -LVT
Họa 1:
CHÚC XUÂN
Đông tàn rồi, lại đón Xuân qua
Cầu chúc an vui tới mọi nhà
Cha mẹ ông bà trường thọ đến
Anh em con cháu làm ăn ra
Vui chơi cẩn thận dịch dù ít
Cảnh giác đề phòng bệnh tối đa.
Năm mới Nhâm Dần sức khỏe tốt
Yên lành hạnh phúc rộn lòng ta.
Cóc nhà NCV
Họa 2: đảo vận :
TẾT Ở QUANH TA
Tân niên rộn rã ở quanh ta
Mừng tết vui cười nói tối đa
Dẫu có phòng ngừa mang mặt nạ
Đâu còn sợ hãi đứng xa ra
Cộng đồng hội ngộ từng đơn vị
Gia tộc đoàn viên khắp mọi nhà
Xua đuổi Cô-Vi vào dĩ vãng
Xuân nầy rồi nhẹ nhõm trôi qua
Cóc Huế
Họa 3:
XUÂN CON CỌP
Cái ách theo trâu đã bỏ qua
Mừng xuân cọp đến rộn vui nhà
Cháu con hiếu thảo ông bà đến
Dịch bệnh chích ngừa covid ra
Xa xứ xa nhà xa tổ quốc
Nhớ làng nhớ xóm nhớ cây đa
Ra đi không hẹn ngày quay lại
Mẹ đợi cha chờ chẳng có ta.
Cóc QT
Họa 4:
MẦN THÔNG NIÊN
Quen rồi suốt mấy chục năm qua
Đón Tết thông niên chuyện nhứt nhà
Pháo nhỏ pháo to còn chửa đốt
Năm sau năm trước cũng chưa ra
Rung giường kê gối đơ như đớ
Cho Cọp bắt Trâu đã quá đa
Canh sắp giao thừa chừng mấy phút
Lấy đà bắt trớn cả đời ta .
Cóc Chát
Họa 5:
Con nào cũng là con
Tua Giáp con Trâu vừa bước qua
Tới phiên con Cọp đến thăm nhà
Việt Nam Trung Quốc luôn chào đón
Các nước lân bang mãi ngó ra
Tục lệ cổ truyền không thể thiếu
Văn minh hiện đại chẳng qua đa
Đâu ai tránh khỏi vòng xoay trục
Ba cái lăng nhăng luôn quấy ta./
TQN
Họa 6:
“BÚT” KHAI
“Bút” khai vì nước mấy năm qua
Tiểu són nên chi thối khắp nhà
Thận yếu tiếc gì cao hải cẩu
Dương xìu uổng phí “vái gờ ra” (Viagra)
Tết người bánh ú lù đôi bưởi !
Xuân tớ gà rù rũ bánh đa !!
Cấp số Trời cho đà ứng trước
Xài hoang bắn ẩu trách người ta ??
CÓC KHÔ
Họa 7:
NGÀY TẾT
Sắm sửa lu bu suốt tháng qua
Cầu dừa sài đủ sẵn trong nhà
Củ hành bánh tét chưa dùng hết
Dưa giá thịt kho đã dọn ra
Thăm bạn mừng xuân dăm chén rượu
Lễ chùa hái lộc một cành đa
Đêm về con cháu đà yên giấc
Lặng lẽ riêng mình bậu với ta.
CCR
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Cóc Biển Khai Bút Đầu Xuân với 7 bài họa
Năm Mới Chúc Mừng Vạn Sự An Khang – Thơ Tấn Tuyến
CUNG CHÚC TÂN XUÂN
Hai năm COVID hại ta
Xuân về đất khách, quê nhà buồn tanh
Tân niên hỏi chị thăm anh
Mừng Xuân tuổi Cọp chúc lành tám câu.
NĂM MỚI CHÚC MỪNG VẠN SỰ AN KHANG
NĂM Tân Sửu đại dịch lan nhanh
MỚI đón Nhâm Dần biến chủng hành
CHÚC Chị phòng ngừa tiêm kháng thể
MỪNG Anh chống dịch chích đi Anh
VẠN điều trắc trở gặp may mắn
SỰ việc gian nan được chuyện lành
AN hưởng tuổi già tâm tịnh dưỡng
KHANG ninh, Phúc, Lộc Thọ bình sanh.
Sydney, 28 tháng Chạp Tân Sửu
Tuyến Lê,
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Năm Mới Chúc Mừng Vạn Sự An Khang – Thơ Tấn Tuyến
Xuân về nghĩ đến Anh Hùng Vô Danh
Xuân Về
Nghĩ Đến Anh Hùng Vô Danh Qua
Thơ Đằng Phương Nguyễn Ngọc Huy

Bạn có thể khiến mọi người rời bỏ quê hương họ, nhưng bạn không thể cướp mất quê hương trong trái tim họ. (Dos Parsons)
Bốn mươi năm năm qua, trong trái tim của hàng triệu người Việt, vì tự do phải biền biệt lưu vong, không ai mà lòng không quặn thắt khi nghĩ đến quê nhà. Từ ngày dựng nước đến nay, biết bao nhiêu anh hùng không tên, không tuổi mà máu xương họ đã thấm sâu vào lòng đất Mẹ. Họ là ai? *Họ là kẻ tự nghìn muôn thuở trước – đã phá rừng xẻ núi lấp đồng sâu. Họ là những anh hùng vô danh đã vì đồng bào dân tộc mà vĩnh viễn nằm xuống để làm nên Tổ quốc.
Đằng Phương là một chiến sĩ tư tưởng, một chính khách khoa bảng, một nhà cách mạng lỗi lạc. Bằng hành động và ngòi bút, suốt đời ông đã hy sinh cho lý tưởng tự do của dân tộc. Các sử gia, học giả, bình luận gia đã viết quá nhiều về cuộc đời ông .
Xuân về, lòng người vọng về cố quốc, bùi ngùi đọc lại những vần thơ “Anh hùng vô danh của Đằng Phương -Nguyễn Ngọc Huy,” chúng ta lại càng thấm thía thêm nỗi nhớ nước, thương quê.
Thật vậy, anh hùng vô danh là ngọn đuốc thiêng không bao giờ tắt trên quê hương đất Việt. “Từ những nắm tro tàn của người chết làm nên tổ quốc” (Lamartine)
Có thể nói: Tổ quốc bất diệt. Dân tộc hiển linh là nhờ anh linh của biết bao nhiêu thế hệ hiền tài, và cùng hòa quyện với biết bao tro tàn của anh hùng chiến sĩ vô danh. Anh linh của anh hùng đã cho ta niềm tin, sức mạnh; cũng như bất hạnh của họ làm ta đau đớn xót xa. Tất cả đã nuôi dưỡng tinh thần và lòng yêu nước suốt cả chiều dài lịch sử của dân tộc.
Họ là những anh hùng không tên tuổi
Sống âm thầm trong bóng tối mông mênh
Nhưng can đảm và tận tình giúp nước (*)
Những câu thơ xót xa trên đây là khởi đầu của bài “Anh hùng vô danh” theo lối thơ tám chữ, tên một bài thơ trong tập thơ Hồn Việt của Đằng Phương, xuất bản năm 1950, tại Paris. Trước 1975, bài thơ được in trong sách giáo khoa vào khoảng thập niên 50- 60 mà nhiều học sinh Trung học đều thuộc. Đằng Phương tên thật Nguyễn Ngọc Huy, một cựu chính khách Việt Nam Cộng hòa, một nhà cách mạng đức trí vẹn toàn cùng tấm gương hy sinh cho đất nước đã lưu danh muôn thuở. Ông nằm xuống trong luyến tiếc của biết bao nhiêu người. Để nhớ ơn ông, hiện nay từng lớp người đứng lên làm tiếp những công việc tranh đấu cho Tự do dân chủ Việt Nam, mà ông và những người đi trước đã làm đang còn dang dỡ. Như nhà cách mạng Phan Bội Châu, thơ văn ông xuất phát từ lòng yêu nước, tư tưởng sâu sắc đầy nghệ thuật. Thơ văn đó được gắn chặt với hành động cách mạng và đánh mạnh vào cảm xúc của người đọc.
Ông làm thơ, không phải để than mây khóc gió, và ông cũng không muốn người đời gọi ông là thi sĩ:
Tôi chẳng phải là một nhà thi sĩ
Dùng thì giờ để thét gió, gào mây,
Tiếc mảnh tình tan vỡ, khóc hơi may,
Thơ chan chứa tuôn thành muôn suối lệ (*)
Thơ ông thúc đẩy lương tâm người đọc, và làm bùng vỡ lòng yêu nước, để có hành động cứu nước.
Thơ Đằng Phương không phải để giải trí, trà dư tửu hậu, mà để nghiền ngẫm suy tư những gì cần làm cho tổ quốc cho dân tộc. Thơ ông để nhận thức về nỗi đau thương cùng vận nước. Thơ xoáy vào tim, để tâm can nung nấu lòng báo ân đối với biết bao anh hùng tử sĩ vị quốc vong thân. Đọc thơ ông để không thờ ơ, không vô cảm trước vận nước Việt điêu linh.
Cả một đời đấu tranh, nhưng đôi lúc ông cũng có cảm giác tủi hổ khi nhìn gương tranh đấu của tiền nhân.
Tôi thấy mình vô dụng, lấy thơ văn
Ghi nỗi tủi một cuộc đời trống rỗng.(*)
Qua con người cách mạng và những gì ông viết trong “Thay Lời Tựa” của Tập Thơ Hồn Việt, người đọc dễ dàng nhận ra “Tuyên ngôn Thi ca” của Đằng Phương- Nguyễn Ngọc Huy, Tuyên ngôn này đã được xác quyết trong đoạn thơ xé lòng sau đây:
Tôi chỉ là một người dân nước Việt
Cảm nỗi lòng của kẻ mất quê hương,
Nỗi nhục nhằn, nỗi khổ cực đau thương
Của nòi giống nghẹt trong cùm lệ thuộc.
Lúc đường sống mịt mù chưa thấy được,
Tôi mượn thơ để tỏ nỗi căm hờn,
Nỗi u buồn chán nản kẻ cô đơn (*)
…….
Từ “Tuyên ngôn Thi ca” này đã làm người đọc cảm lòng, ray rức xót xa vì nỗi khổ cực, đau thương của dân tộc, thúc đẩy đồng bào cần phải làm một cái gì đó cho quê hương, cho Đất Mẹ đang bị đoạ đày.
Đằng Phương nói ông không phải là Thi sĩ, nhưng sự thật con người và thơ ông là một: bình dị, chân thật rung động. Thơ ông đầy tính chuyên nghiệp chứ không phải là thơ tài tử. Từ cách chọn chữ đầy thi tính, nhịp điệu trong ngôn ngữ réo gọi lòng người, nhất là tính tư tưởng thâm sâu, thơ chân thật bởi thoát thai từ lòng yêu nước thiết tha. Thơ Đằng Phương tràn đầy xúc động và dễ đọng lại sâu kín trong lòng người đọc. Anh hùng vô danh đã tác động sâu sắc trong trái tim của nhiều thế hệ. Đó là bài học yêu nước. Bài thơ đã sống vượt thời gian, tác động sâu và rộng, thì làm sao không thể nói Đằng Phương không phải là một Thi sĩ tên tuổi của đất nước; mà đó còn là ngọn đuốc thi ca yêu nước, thương nòi. Dễ gì một bài thơ đã hơn sáu mươi bốn năm qua mà biết bao thế hệ vẫn thuộc nằm lòng, và mỗi lần đọc lên càng sục sôi trước hiểm họa mất nước. Và trên hết, qua những dòng thơ đó con cháu đã biết cúi đầu tưởng niệm tổ tiên, biết trân quí và biết ơn các bậc cha ông đã hy sinh vô bờ bến để làm nên Quốc Tổ. “Thông điệp anh hùng vô danh” thúc giục con cháu đừng quên ơn Quốc tổ và đứng lên bảo vệ đất Mẹ ViệtNam.
Họ là kẻ muôn nghìn năm thuở trước
Đã phá rừng, xẻ núi, lấp đồng sâu
Và làm cho những đất cát hoang vu
Biến thành một giải sơn hà gấm vóc. (*)
Khi Tổ quốc gọi, họ đứng lên đáp lời sông núi. Đồng lòng cùng đi hy sinh tiếc gì thân sống, như tiếng Quốc ca.
Họ là kẻ không nài đường hiểm hóc,
Không ngại xa, hăng hái vượt trường sơn
Để âm thầm chuẩn bị giữa cô đơn
Cuộc Nam Tiến mở giang sơn lớn rộng (*)
Thơ ông là Hùng Ca Sử Việt, là chính khí ca, mãi mãi nằm sâu trong lòng mọi người con dân bất khuất. Chính khí ca khơi lên ngọn lửa hồng yêu nước. Bất cứ quân xâm lược nào cũng thất bại trước lòng yêu nước. Yêu nước là yêu Đất Mẹ. Đừng quên rằng mỗi người chúng ta đều có hai người Mẹ. Một người mẹ sinh ra ta, và người Mẹ kia là Đất Mẹ, là Tổ Quốc. Chín mươi triệu người Việt là con cùng một bọc Mẹ Âu Cơ. Mẹ Âu Cơ đã dạy con rằng gà cùng một Mẹ chớ hoài đá nhau. Nhưng thật đau đớn trong lịch sử Việt, con Mẹ đã xẻ da thịt Mẹ, đã chém giết đồng bào để mưu bá đồ vương. Đau đớn nhất và ngập tràn bất hạnh là con của Mẹ nhưng lại mang chủ nghĩa vô thần về chém giết anh em, đồng bào mình. Con của mẹ nhưng lại cắt đất, tùng xẻo thân Mẹ để bán cho giặc ngoại xâm.
Không có người Mẹ Việt Nam vĩ đại thì lấy đất nào cho chúng ta sống, nhưng khi Mẹ bị quân xâm lược Bắc phương hiếp đáp, thì một số con Mẹ quay lưng không hành động gì để cứu Mẹ, kể cả không nói lên được một tiếng căm thù quân bán nước và xâm lược. Chúng ta lưu vong vì chúng ta mất Đất Mẹ nên đã tứ tán khắp nơi. Đàn con Mẹ xa lìa tổ, và bơ vơ trên đất khách quê người. Đời sống dù có thành đạt sung sướng nhưng đàn con Mẹ Việt Nam vẫn có cảm giác bơ vơ vì đứng ngoài Tổ quốc. Tổ quốc đã bị đọa đày dưới ách cọng sản nên con Mẹ phải lià xa. Thật đau đớn, sống thì ly cách quê hương, nhưng khi chết nắm xương tàn vẫn hoài vọng về cố quốc, nắm xương và cả tro tàn vẫn muốn nằm sâu trong lòng Đất Mẹ, thì phải biết Đất Mẹ thiêng liêng cở nào.
Marie Curie (Pháp) nói: “Tổ quốc quan trọng hơn sinh mệnh, là cha mẹ của chúng ta, là đất đai của chúng ta.”
Bốn mươi năm người Việt lưu vong. Chúng ta có nỗi đau chung là đang xa Mẹ Việt Nam, đang mất Mẹ Việt Nam. Có người biết Mẹ mất nhưng vẫn quay lưng và còn thông đồng với kẻ bán đứng Mẹ. Nhưng Tổ Quốc vẫn còn may mắn, đất nước vẫn còn những người con ngày đêm vẫn miệt mài hành động cho dân tộc.
Tổ quốc vẫn còn những người con của Mẹ biết sống.
Những người sống là những người biết sống;
Là những người không chịu đứng khoanh tay
Phó đời mình cho cuộc thế dần xoay;
Là những người không để ngày mình trống,
(Tâm sự Tố Như. Đằng Phương)
Đàn con Mẹ vẫn còn biết bao nhiêu người vẫn ray rức khôn nguôi và luôn luôn nghĩ: “Dù tôi không làm gì cũng luôn nghĩ, nếu tinh thần và sức lực cho phép, tôi chỉ muốn phục vụ cho tổ quốc mình trước tiên. Pavlov (Nga).
Người biết sống là lòng son không biến chuyển. Tấm lòng son thủy chung với nước. Từ nỗi lòng đau khổ của kẻ mất quê hương, khi nòi giống nghẹt trong cùm nô lệ, bằng hành động cứu nước họ xông vào vòng khói lửa. Không thành công cũng thành nhân. Anh hùng vô danh đã ngẩng cao đầu, cười hiểm nguy bất chấp nỗi gian nan dẫu phải thịt nát xương tan, khi sa cơ thất thế.
Họ là kẻ khi quê hương chuyển động
Dưới gót giày của những kẻ xâm lăng
Đã xông vào khói lửa quyết liều thân
Để bảo vệ Tự Do cho Tổ Quốc
Trong chiến đấu, không nài muôn khó nhọc
Cười hiểm nguy, bất chấp nỗi gian nan,
Người thất cơ thành thịt nát xương tan
Nhưng kẻ sống lòng son không biến chuyển. (*)
Lòng son không biến chuyển vì thương Đất Mẹ, vì Đất Mẹ là máu huyết tâm can của mình. Mảnh Đất Mẹ dù khô cằn sỏi đá nhưng trong cuộc Nam tiến biết bao người đã hy sinh. Con dân nước Việt luôn luôn tin rằng nơi địa ngục tù đày của anh hùng vô danh, hồn tổ quốc là ngọn lửa thiêng mãi mãi sống còn ở đó. Người thất cơ quằn quại trong chốn lao tù, nhưng họ vẫn ngẩng cao đầu, và chấp nhận uống đau thương vì dân tộc. Uống đau thương là uống “Chén tân khổ nhấp ngon mùi chính khí” (Văn tế).
Thấm thía câu văn tế này, lại càng thấm thía liên tưởng đến thơ Đằng Phương. Chén tân khổ của cuộc đời hoạt động cách mạng của ông làm cho thần khí thơ ông mạnh mẽ.
Đốt lòng mình bằng ngọn lửa thiêng, khi thất cơ đành thịt nát xương tan. Trước khi đầu rơi, và ngay trong phút giây co giật của thân mình để trở về lòng Đất Mẹ, con Mẹ vẫn hô to tên Mẹ Việt Nam.
Họ thản nhiên lần lượt bước lên đài
Và dõng dạc buông tiếng hô hùng dũng:
“Việt Nam muôn năm!” Một đầu rơi rụng.
“Việt Nam muôn năm!” Người kế tiến lên.
Và Tử thần kính cẩn đứng ghi tên
Những liệt sĩ vào bia người tuẫn quốc.
(Đằng Phương- Ngày tang Yên Bái)
Thơ Đằng Phương là thơ nói về tình yêu và sự hy sinh đối với Tổ quốc Dân tộc. Thơ nói về sự chiến đấu kiên cường dưới gót giày xâm lược. Người đọc thấy các trận đánh quân Tàu xâm lược đã rền vang suốt cả tập thơ Hồn Việt.
Nhân loại, không ai mà không thương yêu đất nước mình. Trước tình yêu Tổ quốc, không có quân xâm lược nào chiến thắng nổi.
Hal, người Mỹ nói:
Tôi chỉ nuối tiếc một điều: tôi chỉ có một sinh mệnh hy sinh vì tổ quốc.
Tinh thần vô ngã vị tha quên mình lo cho người lo cho nước là đạo lý của dân tộc Việt. Khi công thành thì thân thối, khước từ lợi lộc vinh hoa. Vô danh là trọn nghĩa của anh hùng!
Và đến lúc nước nhà vui thoát hiểm,
Quyết khước từ lợi lộc với vinh hoa,
Họ buông gươm quay lại chốn quê nhà
Để sống lại cuộc đời trong bóng tối.
Tuy công nghiệp không ghi trong sử sách
Tuy bảng vàng bia đá chẳng đề tên
Tuy mồ hoang xiêu lạc dưới trời quên
Không ai đến khấn nguyền dâng lễ vật.(*)
Thomas Jefferson vị Tổng thống thứ III của Hoa Kỳ đã nói: “Chất kết dính Quốc gia là máu trong trái tim của mỗi người dân.”
Máu anh hùng vô danh trải qua bao thế kỷ đã len vào mạch đất, hòa quyện vào trong huyết thống của dân tộc.
Nhưng máu họ đã len vào mạch đất,
Thịt cùng xương trộn lẫn với non sông
Và anh hồn chung với tấm tình trung
Đã hòa hợp làm linh hồn giống VIỆT (*)
Thi sĩ Đằng Phương – Nguyễn Ngọc Huy, một đời hoạt động cách mạng. Cuối đời trong nỗi nhục nhằn lưu vong, cảm hoài nỗi lòng của kẻ mất quê hương. Ông nhắc nhở con dân nước Việt phải luôn luôn ghi nhớ di chúc của Vua Trần Nhân Tôn dặn:
-“Các người chớ quên, chính nước lớn mới làm những điều bậy bạ, trái đạo. Vì rằng họ cho mình cái quyền nói một đường làm một nẻo. Cho nên cái họa lâu đời của ta là họa Trung Hoa. Chớ coi thường chuyện vụn vặt xảy ra trên biên ải. Các việc trên, khiến ta nghĩ tới chuyện khác lớn hơn. Tức là họ không tôn trọng biên giới qui ước. Cứ luôn luôn đặt ra những cái cớ để tranh chấp. Không thôn tính được ta, thì gậm nhấm ta. Họ gậm nhấm đất đai của ta, lâu dần họ sẽ biến giang san của ta từ cái tổ đại bàng thành cái tổ chim chích.
Vậy nên các người phải nhớ lời ta dặn:”Một tấc đất của tiền nhân để lại, cũng không được để lọt vào tay kẻ khác”. Ta cũng để lời nhắn nhủ đó như một lời di chúc cho muôn đời con cháu.”
Ngày 28 tháng 7 năm 1990, Thi sĩ Đằng Phương đã hoà hợp làm linh hồn giống Việt, và qua đời tại Paris, Pháp Quốc. Qua đời là ra đi, là trở về gặp lại những hiền tài của Dân tộc, gặp lại các anh hùng vì dân tộc đã hy sinh, tuẫn tiết vì sự nghiệp dựng xây đất nước, gặp lại các bậc sinh vi tướng tử vi thần, như Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Trần Bình Trọng, Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu, Phan Thanh Giản, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám. Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh… và gặp lại các tướng lãnh miền Nam Tự do đã tuẫn tiết vì bảo vệ Tự do cho nước Việt.
Như bao anh linh của dân tộc, Đằng Phương- Nguyễn Ngọc Huy đã trở về với nguyên khí quốc gia. Sự ra đi của ông làm cho những tấm lòng cao cả trên thế giới phải tiếc thương và ngưỡng mộ. Tổng thống Hoa Kỳ George H.W. Bush đã gửi thư chia buồn về ông rằng: “…để lại phía sau một cuộc đời phục vụ tận tụy cho dân tộc Việt Nam…xứng đáng làm gương cho các thế hệ mai sau.”
Xuân về, lòng xót xa trong nỗi lưu vong nhưng vẫn rộn ràng với bao niềm hy vọng về tương lai Tổ quốc, rộn ràng và biết ơn các thế hệ trẻ vì tự do, vì tương lai rạng ngời của dân tộc, họ đang tiếp bước của những anh hùng dân tộc. Họ vẫn ngẫng cao đầu chiến đấu, chẳng sợ lao tù. Và đang :
đốt lên bằng ánh lửa thiêng,
ánh lửa nung lòng dân tộc.(*)
Và dân tộc Việt vẫn luôn luôn vững niềm tin, cho dẫu :
Trong lúc sương rơi lạnh trắng đồng,
Đêm đông dày đặc phủ non sông.
Ta cùng mong đợi ngày xuân sáng
Rọi ánh bình minh vạn ánh hồng.
(Đằng Phương- Nguyễn Ngọc Huy)
Xuân tha hương lại trở về. Như ước nguyện của Thi sĩ Đằng Phương trong niềm tin ánh bình minh chiếu rọi, chúng ta vẫn mong đợi ngày xuân sang, mỗi người Việt lưu vong là một cánh thiệp đầu Xuân mới.
Với cánh thiệp đầu Xuân và trái tim chân thành, chúng ta cùng nhạc sĩ Minh Kỳ hát lên trong ước nguyện, cùng chúc nhau thanh bình và vinh quang:
“Tôi chúc muôn người mọi điều ước muốn
Non nước vinh quang trong tia nắng thanh bình
Để người anh yêu dấu quay về gia đình tìm vui bên lửa ấm.
Tôi chúc yên lành người người khắp chốn
Mong gió đưa duyên cho cô gái Xuân thì ước nguyện sao chóng thành rượu hồng xe duyên”
Kính chúc bạn đọc thân yêu an lành trong muà xuân mới.
Nguyễn Văn Nhớ
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Xuân về nghĩ đến Anh Hùng Vô Danh
Phai Tàn – Nhạc và Lời Lê Hữu Nghĩa
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Phai Tàn – Nhạc và Lời Lê Hữu Nghĩa








Bạn phải đăng nhập để bình luận.