Người đi không muốn lưu lại bằng chứng

Đại sứ Pháp gắng sức cứu miền nam Vietnam giây phút cuối cùng.

Jean-Marie Mérillon:

NGƯỜI ĐI
KHÔNG MUỐN LƯU LẠI BẰNG CHỨNG

Đã đến lúc Đại Sứ Martin phải nói thật với tôi: Nước Mỹ cần phải làm gì vào những ngày sắp tới khi Phan Rang thất thủ? Và Mỹ cần xác minh thái độ đối với Dương văn Minh mới hôm qua vừa đòi Nguyễn văn Thiệu từ chức.

Ông Martin đã lưỡng lự rất nhiều rồi mới nói cho nước Pháp hay rằng Hoa Kỳ sẽ bỏ rơi Miền Nam. Còn nước Pháp thì muốn cố giữ Miền Nam bằng một chánh phủ trung lập giả định, biết rằng đó chưa hẳn là một liều thuốc hồi sinh cho toàn thể chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa một cách công hiệu, nhưng chẳng còn phương thức cấp cứu nào phù hợp với tình thế lúc đó.

TỐI 18/4/75:

Qua điện thoại, lần thứ nhất Ông Martin mới nói ra ý định của Hoa Kỳ. Đối với chính trường nước Mỹ thì chiến tranh Việt Nam đã chấm dứt sau Hiệp Định Paris năm 1973. Vấn đề còn lại là giải thể Hoa Kỳ tại Đông Dương.

Ông Martin muốn nhờ tôi làm trung gian chuyển đạt ý muốn của Mỹ cho phía Việt Cộng. Tôi bèn trả lời:

– “Điều mà ông yêu cầu, tôi sẽ thõa mãn cho ông 5 tiếng nữa nếu không có gì trở ngại trong việc liên lạc. Tuy nhiên tôi phải phúc trình lên chánh phủ của tôi, vậy ông Đại Sứ gởi cho tôi một công hàm ủy thác làm việc này.”

– “Không thể được” người ta không muốn lưu lại bằng chứng.

– “Như thế từ giờ phút này nước Pháp sẽ đãm nhận vai trò hòa bình cho Việt Nam theo chủ thuyết của Pháp.”

– “Chúng tôi cám ơn nước Pháp. Với tư cách cá nhơn tôi hoàn toàn chống lại chủ trương của Hoa Kỳ dành trọn quyền thắng trận cho Việt Cộng.”

Sau đó chúng tôi chuyển sang phần tâm sự gia đình, hỏi thăm sức khỏe bà Đại Sứ v.v… Đại Sứ Martin cho biết nước Mỹ quá chán ngấy những vụ đão chánh trước kia nên để cho ông Thiệu từ chức rồi ra đi hơn là đão chánh. Vai trò của Nguyễn cao Kỳ không còn cần thiết sau khi Hoa Kỳ đã tặng phần thắng cho Việt Cộng.

Ngày 30/4, trước 3 tiếng đồng hồ hạ cờ Hoa Kỳ sau 20 năm bay trên vòm trời Việt Nam, Đại Sứ Martin gọi điện thoại vấn an, chúc tôi ở lại xứ sở này tiếp tục sứ mạng hòa bình, đồng thời khuyến khích tôi “còn nước còn tát.”

Công việc đầu tiên của tôi là liên lạc với Phan Hiền trong trại Davis (Tân sơn Nhất) cho biết chánh phủ Cách Mạng Lâm Thời Miền Nam Việt Nam của Huỳnh tấn Phát muốn ấn định rõ thời hạn Mỹ rút quân khỏi Việt Nam. Phan Hiền bèn hỏi lại tôi là nên ấn định vào ngày nào? Sự giàn xếp người Mỹ ra đi cũng làm phiền phức tôi không ít. Ông trưởng phòng CIA xúi ông Tổng Giám Đốc Liên Đoàn Lao Công Việt Nam kiếm khoảng 20.000 người mặc quần áo nông dân biểu tình trước Tòa Đại Sứ Mỹ đòi Mỹ phải ở lại giúp Việt Nam. Ông Trần quốc Bửu hứa sẽ làm được, nhưng rồi chẳng thấy biểu tình chi cả. CIA chưa muốn đi vội, có vẻ muốn ở lại để tổ chức phá rối cộng sản như họ đã từng làm ở ngoài Bắc sau Hiệp định Genève 1954. Trưởng phòng thương mại Mỹ xin gia hạn đến tháng 6 để giúp các hảng thầu,ngân hàng, các nhà kinh doanh di tản các dụng cụ xí nghiệp, cơ xưởng máy móc về Mỹ. Nhưng rồi Đại Sứ Martin nhận được lệnh của Tòa Bạch Ốc là người Mỹ và tất cả những gì liên hệ đến Mỹ phải rời khỏi Việt Nam chậm lắm là cuối tháng 4/75.

Đại tướng Pháp Vanuxem chạy chỗ này chỗ kia với thiện chí cố vấn cho ông Thiệu phản công, nhưng vô ích. Tôi được thông báo Mỹ đã sắp xếp ngày đi cho ông Thiệu đâu vào đó cả rồi. Tướng Vanuxem, người từng chỉ huy ông Thiệu, than thở với tôi: “Thiệu “lủy” không nghe “moa”, đánh giặc theo kiểu Mỹ sẽ thua không còn một mảnh đất để thương thuyết với Việt Cộng.”

Ngày 18 tháng 4 chúng tôi xác nhận ngày di tản của Hoa Kỳ với Phan Hiền.

Trước khi lập chánh phủ giả định, tôi xét phản ứng của Nga Sô và Trung Cộng. Nước nhiệt thành đầu tiên là Trung Cộng. Thủ Tướng Chu ân Lai điện cho Bộ Ngoại Giao Pháp là sẵn sàng hợp tác với Pháp để xây dựng một chánh thể trung lập tại Miền Nam nếu có thành phần MTGPMNVN tham dự.

Tại Hànội, cuộc vận động với Đại Sứ Nga được xem là mấu chốt của vấn đề. Nhưng Đại Sứ Nga, ông Malichev từ chối, nói rằng: “Chủ quyền xây dựng chính thể Việt Nam do đãng cộng sản Bắc Việt quyết định. Ngoài tình hữu nghị cũng như các sự giúp đở Việt Nam, Nga chẳng có quyền hạn gì cả.” Lời tuyên bố đó giống như một kẻ ăn trộm nho bị bắt quả tang rành rành mà vẫn cứ chối bai bải là mình chỉ đi dạo mát trong vườn nho mà thôi. Chẳng là vì chúng tôi có đủ tin tức tình báo nói rõ có 5 vị tướng lãnh Nga có mặt trong Bộ Chỉ Huy chiến dịch Hồ chí Minh tại chiến trường Long Khánh. Không lẽ các vị ấy chỉ ngồi uống trà nói chuyện chơi với Văn tiến Dũng hay sao?

Toàn thể các nước Đông Nam Á lo ngại một nước Việt Nam độc lập dù dưới một chánh thể nào trong tương lai. Đối với họ, Việt Nam mãi mãi có chiến tranh bao giờ cũng có lợi hơn một Việt Nam hòa bình thống nhất. Theo quan điểm đó, khối Đông Nam Á tán thành Việt Nam được đình chiến trong trung lập hơn là thống nhất trong độc lập. Quan niệm này lan rộng cả Á Châu, đặc biệt là Nhật Bản, nước Nhật sẽ hết mình đóng góp cho Đông Dương trung lập. Duy có Nam Dương cực lực phản đối. Nam Dương chưa nguôi mối thù Trung Cộng đạo diễn cuộc đão chánh hụt năm 1965, nên bác bỏ giải pháp đình chiến tại Việt Nam có Trung Cộng tham dự.

(Mãi đến năm 1978, tướng Suharto có gởi cho tôi một bức thơ tỏ ý hối tiếc là lúc đó chánh phủ ông đã có nhận xét sai lầm về những ý kiến của chúng tôi).

Mao thì ghét cay ghét đắng Lê Duẫn thân Nga, thành thử những điều kiện Bắc Kinh đặt ra là phải hạ bệ đảng viên thân Nga, cầm chân quân Bắc Việt để dành cho MTGPMN tiến vô Sài Gòn.

Thực ra nền trung lập đối với chúng tôi chỉ coi như tạm thời ngăn cản dòng nước lũ, cho Việt Nam Cộng Hòa tạm dung thân.

Lời giao ước chánh trị khác hẳn với lời giao ước ngoại giao. Bắc Kinh chỉ giao ước bằng miệng là sẽ tìm cách cản trở Bắc Việt chậm nuốt Miền Nam, biện pháp quân sự coi như yếu tố cần phải có. (Rất tiếc chờ mãi đến năm 1978 Trung Cộng mới dùng biện pháp này để dằn mặt Việt Nam).

Phần chúng tôi là phải đáp lời hứa là thành lập chánh phủ liên hiệp gồm 3 thành phần: Quốc gia, Đối lập, và MTGPMN. Chu Ân Lai đưa ra một danh sách: Trương như Tảng, Nguyễn thị Bình, Đinh bá Thi, thiếu tướng Lê quang Ba, trung tướng Trần văn Trà, ngỏ hầu làm lực lượng nồng cốt thân Tàu trong chánh phủ hòa hợp hòa giải dân tộc Việt Nam. Điều kiện họ đưa ra thoạt nhìn thì không thấy có gì trở ngại, nhưng thực hiện lại vô cùng khó khăn. Vì những người này không có thực lực hay quyền hành gì cả. Toàn thể quyền hòa hay chiến đều do Lê Duẫn nắm cả. Trên Lê Duẫn một bực là Mạc tư Khoa. “Dường như đã từ lâu phe quốc gia lẫn phe cộng sản Việt Nam đều đã không có quyết định gì về số phận đất nước của họ”.

Móc nối với Trung Cộng thỏa thuận đâu vào đó cả rồi, sáng ngày 22/4 tôi mời phái đoàn Dương văn Minh vào tòa Đại Sứ tiếp xúc với chúng tôi. Phái đoàn này có nhiều nhân vật đang tập sự làm chánh trị, những kẻ chuyên sống nhờ xác chết của đồng bào họ: Huỳnh tấn Mẫm, Hoàng phủ Ngọc Tường, Ngô bá Thành, Ni sư Huỳnh Liên, Lý quý Chung, Vũ văn Mẫu, Hồ ngọc Cứ v.v… Tôi thấy ông Dương văn Minh đã liên lạc quá vội với một thành phần vô ích. Những khuôn mặt này Bắc Việt chưa biết họ, còn hao công giúp Bắc Việt thì chỉ có việc chưởi tầm bậy chế độ Việt Nam Cộng Hòa.

Tôi đi ngay vào vấn đề hỏi chung trước mặt mọi người là: “Chúng tôi hết sức ủng hộ người Việt Nam thành lập một chánh phủ hòa hợp hòa giải dân tộc. Vậy trong những ngày sắp tới có những cuộc thương thuyết xảy ra, quí vị có đồng ý nhận quí vị là đại biểu các khuynh hướng chánh trị ở Miền Nam không? Chiến tranh đang đến hồi dứt khoát phải có kẻ thua người thắng. Hãy cho chúng tôi biết, chánh phủ quí vị tới đây sẽ thua hay Việt Nam Cộng Hòa thua, hoặc MTGPMN thua? “

Huỳng tấn Mẫm cướp lời Dương văn Minh nói trước:

– “Thưa ông Đại Sứ Pháp, cuộc chiến này Mỹ đã thua, tất cả người Việt Nam chúng tôi thắng trận.”

Căn cứ theo lời của Huỳnh tấn Mẫm, tôi đoán ngay hắn là một thứ bung xung trước thời cuộc, háo danh, sẵn sàng làm tôi mọi cho bất cứ chế độ nào chịu cấp phát tước quyền cho hắn. Nếu biết khôn và khách quan nhận định thì hắn phải nói như vầy: “Bọn phản chiến Mỹ thua trận, và tất cả người Việt Nam thắng trận trong một nền hòa bình rơi nước mắt.”

Bà ni sư Huỳnh Liên nói nhiều lắm. Bà kể lể “tín đồ Phật Giáo bị kềm kẹp từ 20 năm qua, nếu cộng sản thắng thì đó là lời cầu nguyện của hàng triệu phật tử Việt Nam.”

Luật sư kiêm chánh trị gia Vũ văn Mẫu có vẻ già dặn hơn. Ông đặt tiếng “nếu” ở mỗi mệnh đề để thảo luận. “Nếu” chính phủ tương lai mà trong đó có ông làm thủ tướng thì viễn ảnh hòa bình sẽ nằm trong tầm tay dân tộc Việt Nam v.v..” Ông cũng ngỏ lời cám ơn tôi dàn xếp thời cuộc để lập ván bài trung lập tại Việt Nam.

Đây là buổi thăm dò quan niệm, nhưng những con cờ quốc tế đã gởi cho tôi từ trước không có Huỳnh tấn Mẫm, Ngô bá Thành, Huỳnh Liên, Vũ văn Mẫu và Lý quý Chung. Tôi lễ phép mời họ ra về, ngoại trừ đại tướng Dương văn Minh để thu xếp nhiều công việc khác.

Tiển ra tận thềm sứ quán, tôi có nói mấy lời để họ khỏi thất vọng sau này:

– “Thưa quí vị, thiện chí thành lập tân chánh phủ, điều đó không ai chối cải công lao của quí vị. Tuy nhiên thẩm quyền tối hậu giờ phút này nằm trong tay Hànội. Nước Pháp chỉ làm một việc có tính cách trung gian hơn là chủ động’.

Mọi người trợn ngược tròng mắt nhìn tôi hết sức ngạc nhiên. Ông Vũ văn Mẫu nói nhỏ với tôi một câu bằng tiếng Latinh; “Tôi muốn đi Pháp nếu tân chánh phủ không được Hànội nhìn nhận.”

Khi trở vào, Đại tướng Dương văn Minh ngồi đó chờ tôi, nét mặt sung mãn, tự hào là đã nắm vững thời cuộc. Vừa nghe chuông điện thoại reo, tùy viên giao tế của chúng tôi giới thiệu người bên kia là Võ đông Giang. Đường dây điên thoại viễn liên này kêu qua tòa Đại Sứ Pháp ở Tân gia Ba rồi cũng dùng đường dây này chuyển về Bộ Ngoại Giao Hànội. Tại Hànội họ sẽ móc đường dây tiếp vận vô Nam để tiếp xúc với vị Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh, vì ông này muốn gặp tôi có chuyện gấp. Tôi đồng ý nhưng phải chờ hai tiếng đồng hồ nữa mới bắt xong đường dây như thế.

KẾ HOẠCH THỨ NHẤT:

Thành phần chánh phủ hòa hợp hòa giải dân tộc, đồng chủ tịch là hai ông Dương văn Minh và Trần văn Trà. Ba phó chủ tịch là Vũ văn Mẫu, Trịnh đình Thảo và Cao văn Bổng. Tổng trưởng quốc phòng Phạm văn Phú. Tổng trưởng ngoại giao Nguyễn thị Bình. Tổng trưởng tư pháp Trương như Tảng. Tổng trưởng nội vụ Vũ quốc Thúc. Tổng trưởng kinh tế Nguyễn văn Hảo. Tổng trưởng thương mại Lê quang Uyễn. Tổng trưởng tài chánh Trần ngọc Liễng. Xen kẻ nhau nếu tổng trưởng quốc gia thì Đổng lý văn phòng là người của MTGPMN, và ngược lại. Hội đồng cố vấn chánh phủ có: Nguyễn hữu Thọ, Huỳnh tấn Phát, Thích trí Quang, Lương trọng Tường, Hồ tấn Khoa, Linh mục Chân Tín, Cựu thủ tướng Trần văn Hữu.

Hai mươi bốn giờ sau khi công bố thành phần chánh phủ, nước Pháp sẽ vận động các nước Âu Châu, Á Châu và các nước phi liên kết công nhận tân chánh phủ hòa giải Việt Nam, làm chậm lại bước tiến xe thiết giáp Liên Xô mưu toan đè bẹp Sài Gòn.

KẾ HOẠCH THỨ HAI:

– “Thưa Đại tướng, ông Nguyễn văn Thiệu để lại quân đội này còn bao nhiêu người? Hoa Kỳ để lại vũ khí nếu dùng được ở mức độ phòng thủ thì đuợc bao lâu?

Đại tướng Dương văn Minh trả lời là ông chưa nắm vững quân số vì hơn chín năm ông không có dịp biết các bí mật quốc phòng.

– “Thưa Đại tướng, đại tá tùy viên quân sự của chúng tôi sẽ phúc trình cho đại tướng biết sau. Theo chúng tôi, quân lực Việt Nam Cộng Hòa còn đủ khả năng chiến đấu thêm 10 tháng nữa, nếu các nhà quân sự chịu thay đổi chiến thuật từ quy ước sang du kích chiến. Ngay từ bây giờ Đại tướng còn 2 Quân đoàn. Phải dùng hai Quân đoàn này mặc cả cho thế đứng của phía quốc gia. Tôi tung liền giải pháp trung lập đồng thời tạo áp lực ngoại giao ngừng bắn 7 tiếng đồng hồ. Trong khi đó Đại tướng kịp thời chỉnh đốn quân đội và chọn các tướng lãnh có khả năng trường kỳ phản công. Tôi tin tuởng Việt Nam Cộng Hòa chưa thể thua và đích thực Bắc Việt đang lúng túng chưa biết họ sẽ chiến thắng bằng cách nào đây.

KẾ HOẠCH THỨ BA:

Cùng lúc mời thành viên MTGPMN hợp tác trong chánh phủ trung lập, Đại Tướng tuyên bố sẵn sàng bang giao với Trung Quốc và các nước theo chủ nghĩa xã hội, dĩ nhiên trong đó có cả Liên Xô.

Trung Quốc sẽ chụp lấy cơ hội này để cử Đại Sứ đến Sài Gòn ngay sau 24 giờ cùng với tiền viện trợ 420 triệu Mỹ kim là tiền sẽ trao cho Hànội mà nay trao cho chánh phủ hòa hợp hòa giải dân tộc. Kế hoạch này đánh phủ đầu Hànội bằng cách đưa đứa con nuôi của họ là MTGPMN lên nắm chính quyền (một lực lượng mà từ trước đến nay Hànội vẫn ra rã trước dư luận là dân Miền Nam đứng lên chống Mỹ, chớ Hànội không có dính dáng gì hết).

Đi từng bước, lần lượt tân chánh phủ sẽ lật lại từng trang giấy ký ngưng bắn trong Hiệp Định Paris, giao cho Trung Quốc cưỡng ép Hànội vào bàn hội nghị nói chuyện ngưng bắn tức khắc.

Quả thật Trung Quốc muốn cứu sống MTGPMN để xây dựng ảnh hưởng của mình tại Đông Dương. Phe quốc gia cũng muốn cứu cấp Sài Gòn đừng lọt vào tay cộng sản. Như vậy hai quan niệm cùng có một mục đích, còn có thể dàn xếp được là tốt hơn cả, vì đừng để cho bên nào thắng.

Tôi cũng thông báo cho ông Minh hay là tôi đã liên lạc với thành viên MTGPMN. Hầu hết đều tán thành giải pháp giúp họ thoát khỏi vòng quỷ đạo của Bắc Việt. Họ chạy theo HàNội là muốn tiến thân sự nghiệp chánh trị bằng con đường hợp tác với cộng sản, nếu giúp họ nắm được chánh quyền Miền Nam thì phương tiện dùng cộng sản Bắc Việt đã quá lỗi thời.

Bà Bình từ đầu đến cuối đã hợp tác chặt chẻ với chúng tôi. Thêm một bằng chứng: 17 ngày sau khi Sài Gòn mất, bà Bình còn tuyên bố trước Liên Hiệp Quốc dụng ý tống khứ đạo quân Bắc Việt về bên kia Bến Hải: “Miền Nam Việt Nam sẽ sinh hoạt trong điều kiện trung lập 5 năm trước khi thống nhất hai miền Nam Bắc.” Các nhà phân tích thời cuộc nói chỉ cần 5 tháng Miền Nam sống dưới chánh phủ trung lập thay vì có diễm phúc 5 năm, có lẽ hòa bình Việt Nam sẽ ở trong hoàn cảnh thơ mộng tươi đẹp rồi. Bà Bình bị thất sủng sau lời tuyên bố đó.

Nước Pháp sẽ trao 300 triệu quan chuyển tiếp từ chế độ Việt Nam Cộng Hòa giao cho tân chánh phủ để nuôi sống giải pháp trung lập. Chúng tôi sẽ quyên góp các nước bạn đồng minh Âu Châu một ngân khoảng độ 290 triệu mỹ kim cho các chương trình viện trợ kinh tế, văn hóa, phát triển nông nghiệp, nhân đạo v.v… tổng cộng cũng gần bằng viện trợ của Hoa Kỳ trước đây.

Bấy nhiêu đó cũng đủ nuôi dưỡng tạm thời chánh phủ Dương văn Minh Trần văn Trà, để rồi người quốc gia tranh thủ với cộng sản duy trì một Miền Nam không nhuộm đỏ màu cờ.

Đại tướng Dương văn Minh không nói chi nhiều, ông lắng nghe tôi trình bày cặn kẻ từng kế hoạch, và nói ông sẵn sàng thực hiện theo quan điểm của chúng tôi. Ông chỉ nêu một câu hỏi duy nhất:

– “Dưới hình thức nào tôi thay thế cụ Trần văn Hương để thành lập nội các để thương thuyết với phía bên kia?”

– “Thưa Đại tướng, cụ Trần văn Hương hôm qua vừa thảo luận với chúng tôi là sẽ trao quyền chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa lại cho Đại tướng, nếu Đại tướng có một kế hoạch không để mất Sài Gòn.”

Sự thực từ lúc ông Thiệu tuyên bố từ chức, ông Minh đã nhiều lần thúc hối chúng tôi tiến dẫn ông nắm chánh quyền ngay lúc ấy.

Chúng tôi chưa nhận lời yêu cầu này. Chúng tôi chưa nhận lời yêu cầu đó vì chưa tiếp xúc được với thành phần MTGPMN. Hơn nữa ông Minh ra lãnh đạo guồng máy quốc gia không mang điều mà thế giới mong đợi sau khi Hoa Kỳ rút đi. Khi chúng tôi giới thiệu tướng Minh sẽ là nhân vật cho ván bài trung lập của Pháp tại Việt Nam thì cụ Trần văn Hương sửng sốt và tỏ vẻ phiền trách: “Nước Pháp luôn luôn bẻ nho trái mùa! Tưởng chọn ai chớ chọn Dương văn Minh, nó là học trò tôi, tôi biết nó quá mà. Nó không phải là hạng người dùng trong lúc dầu sôi lửa bỏng… Tôi sẽ trao quyền lại cho nó nhưng nó phải hứa là đừng để Sài Gòn thua cộng sản.” Có sự hiện diện của ông Trần chánh Thành là người rất am tường thực chất cộng sản, chúng tôi giải thích với cụ là Bắc Việt rất sợ MTGPMN đoạt phần chiến thắng, công khai ra mặt nắm chánh quyền. Chúng ta nên nắm ngay nhược điểm của họ mà xoay chuyển tình thế. Nếu để một nhân vật diều hâu lãnh đạo, Bắc Việt sẽ viện cớ Việt Nam Cộng Hòa không muốn hòa bình rồi thúc quân đánh mạnh trong lúc quân đội chưa kịp vãn hồi tư thế phản công. Tạm thời dùng công thức hòa hoãn thôi.

Cụ Trần văn Hương thông cảm kèm theo lời thở dài tỏ ra mất tin tưởng. Kế hoạch của chúng tôi vô tình đã đè bẹp tin thần chống cộng sắt đá của cụ. Theo cụ thì giải pháp hữu hiệu là bỏ ngỏ Sài Gòn, tổng động viên những vùng đất còn lại để tiếp tục đánh cộng sản. Chọn giải pháp này sẽ đổ máu thêm, nhưng chiến tranh nào mà không đổ máu, ít nhất Việt Nam Cộng Hòa không thua một cách mất mặt.

Mười năm sau tôi thấy kế hoạch của cụ Trần văn Hương đúng. Nếu lúc bấy giờ các nhà lãnh đạo quân sự Miền Nam đừng bỏ chạy quá sớm, yểm trợ cụ, thì có thể gở gạc được thể diện người Quốc gia Miền Nam. Tôi kính mến cụ Trần văn Hương, người Việt Nam nhận xét cụ bất tài, già nua lẩm cẫm, song chúng tôi thấy cụ là một người Việt Nam trung tín, sống chết cho lý tưởng, can đãm trước mọi tình huống. Năm 1976, nghe cụ bị bệnh nặng, thiếu thốn phương tiện chữa trị, chúng tôi yêu cầu Tổng lảnh sự Pháp ở Sài Gòn vận động với nhà cầm quyền HàNội cho cụ sang Pháp chữa bệnh. HàNội còn cần Pháp làm giao điểm tuyên truyền chủ nghĩa xã hội, sẽ không làm khó dễ trong việc cấp giấy xuất cảnh, nhưng cụ từ chối, quyết định ở lại chết tại Việt Nam. Chúng tôi vẫn nhớ lời cụ nói năm 1975: “Ông Đại Sứ à, tui đâu có ngán Việt Cộng, nó muốn đánh tui đánh tới cùng. Tui chỉ sợ mất nước, sống lưu đày ở xứ người ta. Nếu trời hại nước tui mất, tui xin thề ở lại đây và mất theo nước mình.” Cụ Trần văn Hương đã giữ lời hứa.

Đại tướng Dương văn Minh ra về, chúng tôi hẹn gặp lại nhau. Trong lúc này, về phía Việt Nam Cộng Hòa, chúng tôi không quên nhắc nhở đại tướng Dương văn Minh gấp rút tổ chức lại quân đội, liên lạc thường xuyên với tướng Nguyễn khoa Nam, khuyến khích vị tướng này giữ vững các vị trí phòng thủ để còn một mảnh đất làm địa bàn ăn nói khi thương thuyết với phía bên kia. Ngay lúc đó tôi biết ông Dương văn Minh cách đây hai ngày đã liên lạc với người em ruột là thiếu tướng Dương văn Nhật, nhờ môi giới để nói chuyện thẳng với Bắc Việt. Vì hấp tấp, nông cạn, ông tưởng em ông có đủ tư cách đại diện cộng sản ngưng bắn tại Miền Nam. Từ chỗ móc nối sai lệch, tình thế đã xỏ mũi ông đến chỗ phá nát bấy hết kế hoạch hòa bình Việt Nam.

(GHI CHÚ của dịch giả DHN: Dương văn Nhật không phải là một thiếu tướng mà chỉ là một thiếu tá thường, trực thuộc MTGPMN nên không phải là một nhân vật quan trọng. Cộng sản đã cho về liên lạc thường xuyên với Dương văn Minh trước đó như là một liên lạc viên xoàng để săn tin mà thôi, và đã được lệnh kín đáo nằm luôn tại nhà Dương văn Minh từ khi chúng tiến chiếm tỉnh Banméthuột. Có lẽ ông Dương văn Minh muốn đưa em ông lên hàng tướng vì lý do thể diện chăng? Sau 30/4/75 mới là trung tá).

LÊ ĐỨC THỌ THÓA MẠ TÔI:

Chuông điện thoại reo. Đầu dây bên kia tự giới thiệu:

– “Chào ông Đại Sứ, tôi là B trưởng B2 đây.”

Tôi chào lại và rất ngạc nhiên không biết B trưởng B2 là nhân vật nào. Thái độ thiếu lịch sự xã giao qua lời giới thiệu tên họ chức phận bằng bí danh của đầu dây bên kia chứng tỏ họ coi thường chúng tôi. Tôi gằn mạnh từng tiếng:

– “Nếu đầu dây bên kia muốn trao đổi câu chuyện với tôi thì nên tỏ ra lịch sự một chút. Khi tiếp xúc với một nhà ngoại giao thì dù thù hay bạn cũng vậy. Thưa ông B trưởng B2, chắc ông thừa hiểu ông đang nói chuyện với Đại sứ nước Pháp, và bắt buộc tôi phải cúp nếu ông không nói tên họ, chức phận. Nguyên tắc của ngành ngoại giao đối lập với ngành gián điệp là không tiếp xúc với hạng người bí mật.”

B2 xin lỗi tôi liền khi đó, bảo rằng ông ta sợ CIA phát hiện sự có mặt của ông ở Miền Nam trong lúc hoàn cảnh chưa cho phép ông xuất đầu lộ diện. Ông cũng rất phiền khi bị ép buộc nói tên họ:

– “Thưa ông Đại sứ, tôi là Lê đức Thọ, Tổng tư lệnh chiến dịch Hồ chí Minh.”

Thì ra là Lê đức Thọ, con người khuynh đão trong các cuộc hòa đàm Paris. Tiểu sử Thọ từ năm 1937 chúng tôi có đầy đủ trong tay, duy tôi chưa gặp mặt nên không nhận được giọng nói qua điện thoại. Sau Tết Mậu Thân, Phòng nhì Pháp đã có đủ tài liệu để biết Lê đức Thọ là Tổng chỉ huy bộ máy chiến tranh tại Miền Nam. Y từ Nga trở về hồi tháng giêng 1975, và đi thẳng vào Nam trực tiếp chỉ huy tổng tấn công Sài Gòn. Mà Phòng nhì biết thì CIA cũng biết.

Tôi nói:

– “Chào ông Tổng tư lệnh, qua vai trò trung gian và với thiện chí lớn lao nhất, nước Pháp hết lòng đứng ra hòa giải các phe tranh chấp để sớm đạt được một nền hòa bình tại Việt Nam. Ông Tổng tư lệnh có cần gởi đến chúng tôi những quyết định gì từ phía Bắc Việt nhằm tức khắc giải quyết chiến tranh không? Chúng tôi sẽ chào mừng quyết định của quí vị.’

Thấy mình là kẻ chiến thắng trong canh bạc về sáng, Lê đức Thọ tố xả láng, không cần che đậy bề trái của sự thật nữa:

– “Quyết định của đãng cộng sản chúng tôi là đánh gục Mỹ, thống nhất hai miền Nam Bắc, xây dựng nước Việt Nam theo con đường Mác xít Lê nin nít”.

– “Thưa ông Tổng tư lệnh, đó là mục đích. Còn quyết định chấm dứt cảnh cốt nhục tương tàn của người Việt, chưa thấy đãng cộng sản Việt Nam nói tới?”

Lê đức Thọ hùng hồn giảng thuyết (chỗ này ông Mérillon không cho biết Lê đức Thọ nói bằng tiếng gì, vì y nói tiếng Pháp còn kém lắm):

– “Thưa ông Đại sứ, tôi xin nói về chính danh và ý nghĩa cuộc chiến đấu của chúng tôi. Sau khi đánh bại bọn đế quốc Pháp, đãng và nhân dân chúng tôi tiếp tục sự nghiệp đánh bọn ngoại xăm đế quốc Mỹ. Cuộc chiến đấu này từ lâu đã được nhân dân thống nhất thành một phong trào chống Mỹ. Từ ngữ “cốt nhục tương tàn” tôi bảo đãm với ông đại sứ là do bọn tay sai ngụy quyền Sài Gòn khơi lên để kêu gọi lòng thương hại của chúng tôi, chớ không phải lời oán than từ phía nhân dân. Xác nhận như vậy để ông đại sứ thấy rằng chúng tôi chưa hề chính thức hóa một nghị trình hòa giải nào với bất cứ đãng phái nào tay sai trong Miền Nam với quyết định của chúng tôi là để thắng chớ không phải để hòa giải.”

– “Thưa ông Tổng tư lệnh, trường hợp này thì vị trí của MTGPMN ở đâu?”

– “Nó sẽ đứng ở chỗ giải tán khi: một là Đại sứ Mỹ bị bắt, hai là cuốn cờ bỏ chạy trước khi người cộng sản yêu nước tiếp thu Sài Gòn”.

– “Nếu đúng như thế, MTGPMN không phải là một thực thể riêng biệt, tách rời quyền lực HàNội đứng lên chống Mỹ từ 15 năm qua, và các ông đã lừa gạt dư luận quốc tế.”

– “Thưa ông Đại sứ, dư luận quốc tế hả? Mà dư luận nào mới được chớ? Nếu dư luận quốc tế thuộc khối tư bản thì không xứng đáng để phẩm bình. Đối với nước Pháp chúng tôi xem là bạn. Thưa ông Đại sứ, chúng ta sẽ bang giao trong tình hữu nghị giữa hai nước.”

– “Trung Quốc đang yêu cầu chúng tôi dàn xếp một cuộc đình chiến tại Việt Nam, ông nghĩ sao?

– “Trung Quốc thuộc bọn xét lại, đã biến thể và phản bội nghĩa vụ giải phóng nhân loại qua chủ nghĩa Lênin. Mọi việc nhúng tay vào của Trung Quốc chúng tôi xem đó là hành động thù nghịch. Riêng ông Đại sứ, ngay bây giờ xin ông nhận lời cảnh cáo của chúng tôi. Nếu ông Đại sứ còn tiếp tay với Trung Quốc và các thế lực ngoại bang khác ngăn cản đà chiến thắng chống đế quốc Mỹ ở Miền Nam, thì 24 giờ sau khi tôi đặt chân vào Sài Gòn tôi sẽ trục xuất ông Đại sứ ra khỏi Việt Nam.”

– “Làm như vậy ông không ngại gây sự hiềm khích giữa hai nước sao?”

– “Không, Chánh trị và quyền lợi không chú ý tới những vấn đề nhỏ nhặt giữa hai nước. Pháp còn quyền lợi tại Việt Nam. Pháp đừng nên gây hấn với Việt Nam bằng giải pháp trung lập này nọ, cũng đừng nên chen vào nội bộ của chúng tôi.”

– “Thưa ông Tổng tư lệnh, ông nên nhớ Pháp ngày hôm nay không phải là Pháp đô hộ ngày hôm qua. Pháp chẳng có quyền lợi gì nếu phải bang giao với một nước Việt Nam cộng sản. Nếu ông cảnh cáo chúng tôi, bù lại xin ông và đãng cộng sản Việt Nam tiếp nhận lời cảnh cáo của chúng tôi là số tiền 300 triệu hằng năm viện trợ Miền Nam và 200 triệu viện trợ nhân đạo cho Bắc Việt sẽ không được chuyển giao nếu giải pháp trung lập bị bác bỏ một cách vô nhân đạo.”

Lê đức Thọ có vẻ căm tức, nhưng lần này vì lịch sự, y nói vài lời cáo lỗi rồi cúp điện thoại, đúng với ý muốn của tôi.

Thật ra chúng tôi cũng vẫn biết cuộc chiến tranh này do tập đoàn HàNội quản lý từ đầu đến cuối, nhưng không trắc nghiệm được phản ứng ngang tàng của họ mà đại biểu chánh thức là Lê đức Thọ, nhất định nuốt Miền Nam bằng lá bài quân sự.

Sự kiện này đã khuyến khích tôi tìm kiếm những phương pháp cấp thời chỉnh đốn lại quân đội Việt Nam Cộng Hòa giữ vững phòng tuyến để kéo dài thời gian mặc cả.

Tôi rất ghét người cộng sản thiếu quân tử (đó là cái chắc!) khi họ thắng trận. Lê đức Thọ là một điển hình. Năm 1964 Thọ đã từng xin chúng tôi giúp y nói chuyện trực tiếp với Hoa Kỳ, chúng tôi không hề từ chối. Bất cứ điều gì cần đến, nếu thỏa mãn được thì chúng tôi cho ngay. Họ có mang ơn nước Pháp chớ nước Pháp chưa hề chịu ơn họ. Đến khi nước Pháp muốn Việt Nam có hòa bình trên nền tảng trung lập có thành phần quốc gia tham dự, HàNội đã bạc ơn từ chối.

Khi xe tăng Nga vượt hàng rào Dinh Độc Lập lúc 11 giờ sáng thì tới 3 giờ chiều Lê đức Thọ ngồi trên xe Falcon đến tòa Đại Sứ Pháp xấc xược đi thẳng vô phòng tôi nói:

– “Mérillon, tôi đến đây tống cổ ông rời khỏi Sài Gòn trước 9 giờ sáng mai”.

Tôi gật đầu. Sáng hôm sau ngày 1-5-75, Thọ còn hạ nhục tôi bằng cách cho công an xét va li và bắt tôi phải ra HàNội trước khi về Pháp. Tôi phản đối. Khi phi cơ cất cánh, tôi ra lệnh cho phi công bay luôn sang Bangkok thay vì ra HàNội.

Hành động sỉ nhục một Đại sứ, Lê đức Thọ và công an Việt Nam phải trả một giá rất đắt. Tổng số ngân quỹ viện trợ nhân đạo hằng năm nước Pháp quyết định để dành mua sinh mạng người Miền Nam Việt Nam không hề cho HàNội một cắt nào suốt 10 năm sau.

Ngày 27 tháng 4/1975

Chiều ngày 27/4/75, tôi nhận được tin rất phấn khởi: Tướng Trần văn Trà bắn tin nhờ tôi cấp tốc thành lập chánh phủ trung lập và ông gởi gấp hai nhân vật thân tín của ông vào chánh phủ, là bà Nguyễn thị Bình và ông Đinh bá Thi (ông này bị HàNội giết vài năm sau bằng tai nạn xe hơi tại vùng Rừng Lá Phan Thiết, sau khi bị Hoa Kỳ trục xuất về tội mua tài liệu tình báo kỹ thuật cho Liên Xô – Lời dịch giả). Tùy viên quân sự của chúng tôi cũng xác nhận là 2 sư đoàn tập kết của Trần văn Trà sẽ vào tiếp thu Sài Gòn, phỏng tay trên của đạo quân Văn tiến Dũng.

CÁC TƯỚNG LÃNH BỊ NHỐT TẠI BỘ TỔNG THAM MƯU:

Chứng cớ mà Trần văn Trà lấn quyền HàNội trong mưu đồ Miền Nam tự trị được thể hiện ngay sau ngày 30/4/75. Trần văn Trà chạy nước rút, tự ý thành lập Ủy Ban Quân Quản Sài Gòn Gia Định hầu làm bàn đạp cho MTGPMN nhảy lên nắm chánh quyền trước khi Bắc Việt an bài chế độ cộng sản. Chung một mục đích: Bắc Việt đoạt chánh quyền để bành trướng chủ nghĩa cộng sản, còn MTGPMN cướp chánh quyền với thâm ý tạo sự nghiệp danh vọng cá nhân. HàNội có Nga Sô làm điểm tựa, có toan tính theo từng sách lược, còn MT là những chánh trị gia thời cuộc có tính cách giai đoạn nên cuối cùng bị thua trắng tay, bị cưỡng bức phải giải tán, cán bộ bị hạ từng công tác (hay thanh trừng) trong thầm lặng.

Dựa theo quan niệm “còn nước còn tát”, chúng tôi không bỏ lở một cơ hội nào có thể duy trì nhịp thở của Việt Nam Cộng Hòa đang hấp hối vào giờ cuối của cuộc chiến. Lúc 9 giờ tối ngày 27/4/75, chúng tôi họp với các tướng lãnh De Séguins, Pazzi, Bigeard, Langlais, Vanuxem, Gilles, Pierre Bodet. Các tướng này đến Sài Gòn ngày 16/4 trong hảo ý phối hợp với các tướng lãnh Việt Nam từng được Pháp đào tạo trước kia để phản công lại Bắc Việt. Họ đến với tư cách cá nhân.

Qua lời xác nhận của tướng Gilles, chỉ huy quân đoàn nhảy dù Pháp trong trận Điện biên Phủ, thì thiếu tuớng Phạm văn Phú không phải thuộc hàng tướng lãnh bỏ lính khi thua trận và chạy dễ dàng như vậy. Tướng Gilles yêu cầu tôi can thiệp với chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa trả tự do cho tướng Phú lúc đó đang bị ông Thiệu nhốt chung với các tướng lãnh khác trong Bộ Tổng Tham Mưu. Ông Thiệu đã làm một việc quá nguy hiểm. Đang lúc quân đội cần tướng mà tướng lãnh bị tống giam, như vậy là có ác ý đập tan nát Bộ Tham Mưu Hành Quân của Việt Nam Cộng Hòa.

Ngày 29/4, tướng Phú nằm trong bệnh viện Grall. Tôi điện thoại trấn an ông, yêu cầu ông đừng bỏ đi sẽ tạo thêm tình trạng hỗn loạn hoang mang cho binh sĩ. Ông hứa sẽ không bỏ chạy, nếu không phản công giữ được Sài Gòn thì ông thề bỏ xác tại bệnh viện này. Tướng Phú đã giữ lời hứa. Ông là một tướng lãnh mà chúng tôi hết sức tin tưởng trong ván bài trung lập sau Dương văn Minh. Tối 29/4, được tin Dương văn Minh sẽ đầu hàng cộng sản vào sáng mai, ông đã dùng độc dược tự sát.

Các tướng lãnh Pháp cũng đề nghị tôi thực hiện kế hoạch bỏ trống Sài Gòn qua 2 giai đoạn:

– Giai đoạn 1.- Rút phân nữa quân gồm lực lượng tự vệ, an ninh, cảnh sát, những binh đoàn nhảy dù, thủy quân lục chiến, biệt động quân, và các binh chủng thuộc bộ binh, lén di chuyển lúc nửa đêm, sau lưng cộng sản đi lên các tỉnh Bình Dương, Tây Ninh, Phước Long, với nhiệm vụ tái phối trí lực lượng và bồi dưỡng tinh thần binh sĩ.

Phân nữa kia, gồm Hải quân và Không quân di chuyển về miền Tây để dùng cho các trận chiến sông ngòi, cắt đường tiến của cộng sản tràn xuống Quân khu 4. Mời hai tướng Dương văn Minh và Trần văn Trà công bố chánh phủ trung lập. Sài Gòn là vùng phi quân sự nơi chỉ nói chuyện, thương thuyết bằng giải pháp chánh trị. Sài Gòn không có quân, cộng sản không có cớ đễ tàn phá.

– Giai đoạn 2.- Phản công trên cơ sở du kích, chiếm lại lần hồi đất đai đã mất và chờ quân viện mới. Thay thế chánh phủ trung lập bằng một chánh phủ lưu vong Việt Nam Cộng Hòa. Vai trò Dương văn Minh đến đây coi như chấm dứt. Các tướng Phạm văn Phú, Nguyễn khoa Nam, Lê nguyên Vỹ, Ngô quang Trưởng được xem là thành phần chủ lực cho chiến trường tương lai.

Các tướng lãnh hồi hưu Pháp quả quyết sẽ tìm được nguồn quân viện chẳng mấy khó khăn, qua sự đóng góp của các cựu quân nhân Anh, Pháp, Hoa Kỳ, Do Thái… nếu có lời kêu gọi của Hiệp Hội Cựu Quân Nhân Thế Giới Tự Do.

Sáng ngày 28/4/75, tôi chuyển hết kế hoạch này cho Dương văn Minh và định tối 28 thì sẽ hoàn tất kế hoạch.

KẾ HOẠCH CHƯA ĐƯỢC THỰC HIỆN?

Đại tá tùy viên quân sự của chúng tôi trình bày tỉ mỉ về quân số của đôi bên.

– Quân cộng sản Bắc Việt hiện đang bao vây Sài Gòn gồm các sư đoàn 304, 308, 312, 320, 322, 325 và 2 sư đoàn MTGPMN, 300 thiết giáp, 600 đại bác đủ loại. Tổng cộng quân số khoảng 70.000, tính cả lực lượng trừ bị. Đúng như lời Trung Quốc thông báo, HàNội tung hết quân, bỏ ngỏ HàNội. Giá lúc ấy Trung Quốc chỉ cần cho một vài sư đoàn diễn binh trên biên giới Hoa Việt thì lập tức HàNội sẽ tự ý ngưng chiến và tán thành chánh phủ trung lập rất mau lẹ. Rất tiếc.

– Quân số Biệt khu Thủ đô có khả năng tác chiến, có vũ khí trong tay ước được 100.000. Căn cứ vào vũ khí đạn dược, hỏa lực nặng, tiếp liệu, và tinh thần chấp nhận chiến đấu thì Sài Gòn có thể phòng thủ, cầm cự được chừng 7 tháng.

Trong 7 tháng đó biết đâu tình hình lại chẳng thay đổi theo chiều hướng khác? Chúng tôi đưa ra sự kiện này nhằm bác bỏ lập luận nói rằng cộng sản Việt Nam sẽ thiêu hủy Sài Gòn với số quân gấp 5 lần.

Kinh nghiệm bọn Khmer Đỏ chiếm Phnom Penh ngày 17 tháng 4/75, đã xảy ra tình trạng chém giết hỗn loạn nguy hiểm đến sinh mạng Pháp kiều và các phóng viên ngoại quốc, cần Tòa Đại sứ Pháp che chở. Vì vậy ngày 19/4/75 tôi đã yêu cầu Bộ Ngoại Giao Pháp tăng phái cho chúng tôi một trung đội thủy quân lục chiến từ Nouvelle Calédonia đến Sài Gòn để bảo vệ sứ quán. Lại yêu cầu các vị Lãnh Sự ở Đà Nẵng, Cần Thơ, Đà Lạt, Huế gấp rút kiểm tra lại tổng số Pháp kiều, và phải tiếp tục ở lại nhiệm sở để trấn an dư luận. Khi đó có 722 người là người Pháp chính gốc, 9500 người có quốc tịch Pháp, 11.000 trẻ em lai Pháp sống tại các cơ quan từ thiện. Tất cả 21.000 người này sẽ được đưa về Pháp định cư. Tuy nhiên để cứu thêm mạng người, chúng tôi sẽ gởi cho HàNội danh sách đăng ký cho hồi hương thêm những người hồi tịch Pháp, cựu quân nhân tham dự bên cạnh quân đội Pháp trong hai thế chiến, công chức thời Pháp và nhân viên làm việc trong các cơ sở tư nhân Pháp trên lãnh thổ Việt Nam. Mỗi người hội đủ điều kiện như vừa quy định có thể kéo thêm gia đình anh em ruột thịt, con cháu dâu rể bên ngoại cũng như bên nội. Kết quả chúng tôi đem về Pháp tất cả 80.000 người. Để mua thêm người cộng tác với Pháp, mỗi năm chánh phủ Pháp phải trả cho cộng sản máy cày, dược phẩm, các bộ phận bảo trì công ty nhà đèn, thủy cục, nông phẩm v.v…

Chiều 28/4, tướng Pazzi xuống Cần Thơ gặp tướng Nguyễn khoa Nam. Sau đó khi trở về tướng Pazzi cho biết miền Tây rất khả quan, chỉ có quốc lộ 4 tạm thời bị cắt đứt. Tướng Nguyễn khoa Nam đã hai lần yêu cầu ông Dương văn Minh cho phép ông đem quân giải tỏa Quốc lộ 4, phản công, nhưng Dương văn Minh dặn đi dặn lại mấy lần là đừng phản công mạnh, tạm thời ở tư thế chờ, để ông tìm giải pháp chánh trị tại Sài Gòn. Tướng Nam than thở với tướng Pazzi: “Nếu tôi đánh mạnh là bất tuân thượng lệnh, nếu tôi đánh nhẹ thì tinh thần binh sĩ mất hết. Đến giờ này mà bức màng chánh trị còn bịt mắt quân đội. Ông nói lại với tướng Minh giùm là nước tràn bờ mà không cho đắp đê ngăn lại! Ông làm chứng giùm tôi: Quân đoàn 4 chúng tôi không thua. Chính trị Sài Gòn đã trói tay chúng tôi bắt buộc chúng tôi phải thua.”

Sáng ngày 30/4/75, sau khi nghe Dương văn Minh đọc bản “trao nước cho giặc”, tướng Nguyễn khoa Nam cùng nhiều tướng lãnh liêm sĩ khác đã chọn câu nói của Voltaire để giữ danh dự của người làm tướng; “Còn giữ được danh dự là chưa mất mát nhiều.”

Trời đã vào đêm rồi. Đại bác, súng liên thanh nổ gần hơn. Làn sóng người ngơ ngác tìm đường chạy trốn cộng sản nghẹt cứng cả thành phố. Ông Đại tướng Dương văn Minh đâu? Tướng Trần văn Trà đâu? Tại sao những người này không xuất hiện để thành lập chánh phủ liên hiệp? Tôi tự hỏi như thế.

Tôi lo lắng, gọi điện thoại về nhà ông Dương văn Minh. Người trả lời là trung tá Đẩu, chánh văn phòng: “Dạ thưa ông Đại sứ, Đại tướng chúng tôi hiện đi lên Xuân Lộc thương thuyết với người phía bên kia.”

Bỗng nhiên đầu óc tôi căng cứng từng mạch máu, tay chân bủn rủn. Ông Minh lên Xuân Lộc có nghĩa là gặp trực tiếp thượng tướng Lê đức Anh, phụ tá Văn tiến Dũng, nơi đây đang có mặt Lê đức Thọ. Tức là ông Đại tướng đi thẳng với phe Bắc Việt. Ông Minh đi trên tư thế nào? Quân không có, quan cũng không, chánh phủ chưa có gì hết. Như vậy chỉ là đi đầu hàng Bắc Việt. Công việc này không cần đến một Đại tướng! Trao cho một em bé đánh giầy 10 tuổi cũng làm được.

Cái hướng mà ông Minh cần đi là hướng Củ Chi, nơi thượng tướng Trần văn Trà đang chờ… Chờ đến kiếp sau!

Những gì mà ông Minh hứa với chúng tôi đã như nước đổ lá khoai. Bao nhiêu kế hoạch, bao nhiêu công trình vận động, phút chốc ông Minh làm tiêu tan hết. Lại còn dối gạt các tướng lãnh yêu nước khác, gây ra sự chậm trễ phản công giờ chót, bởi đa số đều tưởng ông Đại tướng có phép lạ, sáng chế được công thức ngưng bắn tại chỗ để phe quốc gia không bị thua trong nhục nhã.

Thâm ý của ông Minh là muốn đầu hàng, sau đó ngồi ăn, hưởng cho đến già.

(Lời dịch giả D.H.N.: Thật đúng như ông Mérillon đã nói, từ ngày 30/4/1975 cho đến ngày nay 1996, Dinh Hoa Lan của ông Minh không mất một chiếc đũa, không mất một cành hoa, một bụi cỏ nào.

Khi ông rời Việt Nam để đi định cư ở Pháp với toàn bộ gia đình, ông được tự do mang theo bất cứ thứ gì ông muốn, từ những món đồ cổ đến những kỹ vật, thượng vàng hạ cám… cộng sản phải dùng mấy xe vận tải đưa các thùng tài sản của gia đình ông xuống bến tàu cho ông. Dinh Hoa Lan ở đường Testard, bất động sản riêng của ông được ông giao cho trung tá Khử giữ gìn và quản lý, đến giờ này không một tên cộng sản nào dám đụng đến. Trung tá Khử hiện là chủ một vườn trồng lan tại Thủ Đức, cuối thập niên 80 là tổng thơ ký của Hội Hoa Lan Việt Nam).

Ngày 29/4/1975, 8:00 giờ tối, sau khi nhận lãnh chức Tổng Thống do cụ Trần văn Hương bàn giao lại, ông Minh điện thoại xin lỗi chúng tôi, bày tỏ sự hối tiếc đã không hợp tác được với chánh phủ Pháp. Cách duy nhất mà ông phải chọn là đầu hàng Bắc Việt mới mong cứu sống được thủ đô Sài Gòn.

Tôi lạnh lùng trả lời một câu duy nhất:

– “Thưa Đại tướng, chúng tôi cũng rất lấy làm tiếc. Giờ cuối cùng của chiến tranh Việt Nam cần có một người lãnh đạo cương quyết, dám dấn thân, nhưng chúng tôi lại đi chọn lầm một bại tướng.”

Tôi cúp điện thoại ngay, và từ 10 năm qua tôi không hề và cũng không muốn liên lạc với ông ta nữa.

NGÀY 1 THÁNG 5:

Lúc phi cơ xoay qua một độ nghiêng, lấy hướng qua Bangkok, tôi nhìn xuống Sài Gòn lần chót. Tự nhiên trong lòng tôi dâng lên một niềm ngậm ngùi thương tiếc tất cả những gì đang xảy ra dưới đất. Tôi như người bại trận, hay nói cách khác, tôi xin được làm bạn với người bại trận, một người bạn đã không chia xẽ mà còn bắt buộc Việt Nam Cộng Hòa phải gánh chịu hết tất cả… trong những ngày sắp tới.

Việt Nam và tôi có rất nhiều kỹ niệm, có quá nhiều quan hệ mật thiết suốt đời không phai lạt. Sống ở Việt Nam lâu năm, tôi cảm thấy thương xứ sở này. Tội nghiệp cho họ, họ có thừa khả năng dựng nước, nhưng cái quyền làm chủ quê hương đã bị các cường quốc chuyền tay nhau định đoạt. Tôi xin lỗi người Việt Nam. Tôi đã làm hết sức mình nhưng không cứu vãn được nền hòa bình cho dân tộc Việt. Vĩnh biệt Sài Gòn, Sài Gòn vẫn hồn nhiên với những mạch sống dạt dào ơn nghĩa, một khi đã chọn bạn hữu thâm giao.

Năm 1979, Đại sứ Võ văn Sung có thư mời tôi trở lại thăm Sài Gòn. Tôi từ chối với lý do không quen với cái tên Hồ chí Minh. Sài Gòn đã mất, tôi trở lại đó thăm ai? Ở đời có khéo lắm cũng chỉ gạt được người ta lần thứ hai, làm sao lừa dối được người ta lần thứ ba?

Người cộng sản giả bộ ngây thơ (ở một khía cạnh nào đó) nên tưởng nhân loại cũng đều ngây thơ như họ. Liên tục nói dối hàng bao nhiêu năm, tưởng như vậy quần chúng sẽ nhập tâm tin là thật. Họ lầm. Nói láo để tuyên truyền chỉ có lợi trong chốc lát, nhưng về lâu về dài thì chân lý của loài người sẽ đè bẹp họ. Ngày xưa Liên Xô đã xiết chặt sai khiến họ, dùng Việt Nam làm phương tiện đóng góp cho Nga. Họ có muốn thoát ly, có muốn nhờ Tây Phương tháo gở cho họ cũng không được nữa, vì đã từng phạm lỗi lớn là đã lường gạt Tây Phương…

Sau hết, chế độ Việt Nam Cộng Hòa thua, nhưng thật ra người Việt Nam chưa thua cộng sản. Trận chiến chưa chấm dứt vào ngày 30 tháng 4 năm 1975.

Mỗi năm, vợ chồng chúng tôi đều đi xuống Lourdes để kính lễ Đức Mẹ Lộ Đức. Luôn luôn tôi nhắc nhở nhà tôi, chúng tôi cùng cầu nguyện cho người Việt Nam đạt được nền hòa bình theo sở nguyện của họ. Tôi tin rằng Đức Chúa Trời và Đức Mẹ không bỏ rơi dân tộc Việt Nam.

Jean-Marie MÉRILLON

Cựu Đại Sứ Pháp tại Việt Nam

Share từ FB anh Vinh X Diep

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Người đi không muốn lưu lại bằng chứng

GỞI TIỀN CHO MẸ_Thơ: Nguyễn Minh Thanh

Gởi tiền cho Mẹ

This image has an empty alt attribute; its file name is tranvanhai.jpg

* Ngậm ngùi tưởng niệm Tướng quân Trần Văn Hai !!

Con bất hiếu chút tiền xin dâng Mẹ

Và, Mẹ ơi vĩnh biệt kể từ đây

Ngóng tin con, Mẹ vò võ từng ngày

Mắt thăm thẳm nơi con đang đồn trú..!!

Đạo làm Tướng nhìn non sông thất thủ

Mà, với con không biết tính làm sao

Ngày qua ngày ăm ắp quặn lòng đau

Trước tình thế biển trào làn Sóng Đỏ..!!

Hỡi chiến hữu, đệ huynh hằng gắn bó

Cùng tử sanh dày dạn gội phong sương

Để bây giờ trước ngưỡng cửa thê lương

Xin vĩnh biệt, cảm ơn, chào tất cả..!!

Sông Nuí ơi! Nghẹn ngào ta từ giã

Nghe thẹn lòng không giữ được Núi Sông

Bao năm ròng chiến đấu để bại vong

Tiếc xương máu thấm vào lòng mạch đất..!!

Bao: quả phụ, cô nhi, và thương tật

Những mảnh đời lây lất lắm tai ương

Dòng sông dài lênh láng máu Quê Hương

Đang oằn oại dưới tà dương đẫm lệ..!!

Cờ Vàng ơi! Tung bay, từng ngạo nghễ

(Máu anh hùng tô điểm thắm Cờ Nam)

Rồi bây giờ Cờ rũ nhuốm màu tang

Màu ảm đạm lan tràn lên Tổ Quốc..!!

Núi Sông ơi! Ngậm ngùi ngươi đã mất

Thì ta còn sống nhục để làm chi

Xót phần mình chưa trọn phận nam nhi

Hận đành phải vĩnh ly vì đại cuộc..!!

Kính lạy Mẹ, cho con đền nợ nước

Nhớ Me nhiều, nhiều lắm trước lâm chung

Chút tiền lương kính gởi Mẹ chi dùng

Trong những lúc con không còn lo cho Mẹ..!!

Cúi lạy Mẹ, nguôi ngoai về con trẻ

Gắng giữ gìn sức khỏe Mẹ hiền ơi

Phần Em, giùm nuôi dạy lũ con côi

Vĩnh biệt nhé, Mẹ ôi, con vĩnh biệt!!

Tổ Quốc ôi! Nỗi đau gào thống thiết

Dòng Cửu Long sóng biếc… vỗ thiên thu

Hỡi những người gieo lửa máu âm mưu

Để lịch sử đời đời sau phê phán..!!

NGUYỄN MINH THANH

(Mùa Quốc Hận)

 *Tướng Trần Văn Hai (1929 – 1975), người Cần Thơ, tốt nghiệp khoá 7 trường VBQGVN, cu Tư lệnh SĐ 7/ BB.

Ngày 30 – 4 – 1975  trước khi uống độc dược, Ô. đã tận tay trao tùy viên Tr.Úy Hh v Hoa 70.000$ nhờ đưa Mẹ già đang ở SG !! Được hung tin, ngay sáng sớm hôm sau, bà Mẹ già mưu trí, cùng Tr/Úy Hoa tìm cách cấp tốc đưa thi hài Ông về an táng tại Gò Vấp, SàiGòn..!!

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở GỞI TIỀN CHO MẸ_Thơ: Nguyễn Minh Thanh

MỪNG NGÀY CHIẾN THẮNG (Truyện vui)

                                    Mừng Ngày Chiến Thắng

                                                Lộc Dương

This image has an empty alt attribute; its file name is mung-ngay-chien-thang.jpgNhư mọi ngày, cứ vào lúc tờ mờ sáng, bà mẹ Việt Nam anh hùng có tên là Ngu Thị Muội lại mò mẫm xuống con rạch bên nhà để mong kiếm con cua, con tép cho hai bữa ăn của mình. Hồi trước lúc mẹ còn làm biếng, mẹ chỉ ngồi nhà ăn cơm với muối, mấy ngày liền mẹ đi cầu không được, bụng sình lên, mẹ sợ lắm rồi. Cho nên bây giờ dù mưa hay nắng, mẹ vẫn phải làm siêng lặn lội thân cò, kiếm chút chất dinh dưỡng nuôi cái thân già không ai ưa của mẹ.

Sáng nay mới bắt được hai con tép con lận vào cạp quần thì có một đoàn cán bộ xã tới kêu mẹ lên để có phái đoàn quay phim, phỏng vấn, sau đó sẽ trao tặng quà tượng trưng cho mẹ nhân ngày “giải phóng” 30/4. Nghe có quà, mẹ lóp ngóp leo lên, lòng mừng khấp khởi. Về tới nhà mẹ, họ yêu cầu mẹ thay đồ mới để lên phim. Mẹ nói:

Tao đâu còn đồ nào mà thay ? Có cái quần khác, phơi từ hồi hôm tới giờ còn ướt, làm sao giờ?

– Thôi kệ đi, tay phóng viên tỏ vẻ sốt ruột. Tôi chỉ quay nửa phía trên của bả thôi, không ai thấy đâu.

Ông trưởng đoàn bèn nhanh nhẩu bày ra trên mặt bàn gỗ xiêu vẹo vài cái tách uống trà lấy từ trong túi đồ nghề ra, lại thêm đĩa trái cây là vài trái thanh long và một bó nhãn. Thấy trái cây, mắt mẹ sáng quắc lên, cái bụng đói sôi lên sùng sục. Mẹ bèn thò tay ra toan lấy ăn nhưng chị cán bộ giữ tay mẹ lại:

– Cái này là để quay phim, không phải để cho mẹ ăn. Tụi tui còn đi quay mấy nhà khác nữa, mẹ cứ làm như chết đói tới nơi.

Mẹ rụt tay lại một cách hết sức tội nghiệp. Nhưng thật ra đã có mấy trái nhãn nằm gọn trong lòng bàn tay mẹ, và chỉ 2 giây sau số nhãn này đã yên vị trong cạp quần của mẹ. Cái trò dấu giếm qua mặt thiên hạ này mẹ thạo. Ngày xưa mẹ còn dấu được cả đống du kích trong nhà, mấy trái nhãn chỉ là chuyện muỗi.

Ông trưởng đoàn ngồi xuống cái ghế đối diện với mẹ, cầm máy thu âm lên và bắt đầu cuộc phỏng vấn:

– Đảng và nhà nước ta luôn tri ân những người có công với cách mạng. Hôm nay thay mặt chính quyền địa phương, chúng con đến để thăm hỏi xem cuộc sống hàng ngày của mẹ ra sao?

Đói! Tao đói dữ lắm. Bộ bây không thấy người tao xanh lả xanh lướt ra đây sao?

Ông trưởng đoàn trừng mắt :

– Mẹ không được nói đói, nghe kỳ lắm. Mẹ phải nói là no. Mẹ nói lại đi.

Ừa, no, no dữ lắm Bây không thấy người tao xanh mét đây sao?

Ông trưởng đoàn phấn khởi nhìn thẳng vào ống kính máy quay phim, cái miệng hô hốc há to ra trước micro:

– Ngày trước, trong kháng chiến chống Mỹ, mẹ Ngu Thị Muội rất kiên cường. Dù thiếu thốn đến mấy, mẹ vẫn hàng ngày rót cơm nước xuống hầm nuôi sống cán bộ. Nay cách mạng đã thành công, chắc niềm vui của mẹ sẽ nhân đôi?

Vui cái đầu mày. Tao mà biết vầy, hồi đó tao rót nước sôi xuống hầm cho không thằng nào còn trồi đầu lên được.

Ông trưởng đoàn làm mặt giận:

– Mẹ nói gì kỳ quá. Đang quay phim mà. Yêu cầu mẹ nói cho đúng chính sách. Giờ xin mẹ cho biết: Dưới sự chỉ đạo của đảng, cuộc sống của mẹ luôn được chính quyền xã quan tâm, chăm sóc. Mẹ có thấy vui không?

Quan tâm chăm sóc bà nội tao. Cả năm có đứa nào ngó ngàng tới tao đâu. Lâu lâu tao cần chuyện lên xã, gặp mấy con cán bộ mặt mày hung dữ như mấy con mụ phù thủy.

Ông trưởng đoàn nổi cáu:

– Mẹ không được nói xấu cán bộ. Mẹ phải nói cán bộ chúng con rất hiền lành, rất thương dân, nghe chưa? Hay là mẹ muốn ăn bạt tai?

Sợ bị đòn, mẹ Việt Nam anh hùng bèn leo lẻo cái miệng:

Ừa thì có chuyện cần lên xã, mấy cô cán bộ mẹ gặp đều hiền lành dễ thương như mấy con mụ phù thủy….

Ông trưởng đoàn nhoẻn miệng cười thỏa mãn:

– Xin hỏi mẹ câu chót: Trước chính sách lo cho dân của đảng và nhà nước ta, mẹ có ước mơ gì không?

Có! Có chớ. Mẹ đang ước mong thằng Mỹ quay trở lại như ngày xưa để mẹ khỏi phải lo đói như bây giờ. Hồi đó ai nói nó ác, chứ mẹ thấy tụi Mỹ dễ thương thấy mồ. Đi hành quân về, tụi nó làm biếng vác nặng, gặp mấy người già già như mẹ là nó kêu lại, cho hết đồ hộp còn dư trong ba lô của tụi nó. Mẹ ăn đâu có hết. Mà sao lúc đó mẹ ngu gì đâu, mẹ chuyển xuống hầm cho mấy thằng chó đẻ ăn….

Nghe tới đây, ông trưởng đoàn gào lên:

– Thôi. Cúp máy. Dọn đồ nghề đi qua nhà khác. Láng cháng ở đây một hồi nữa là tù cả đám bây giờ.

Loc Duong

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở MỪNG NGÀY CHIẾN THẮNG (Truyện vui)

Một bài học về Quốc Kỳ Mỹ

Một cô ở Utah được người lấy rác
dạy cho ‘bài học’ về quốc kỳ Mỹ

5f0d7dd54a0b1cd0031a5dc5_co-nuoc-my-co-lich-su-ra-doi-nhu-the-naoHUNTINGDON, Utah (NV) – Một nhân viên lấy rác ở Utah được người khác quay phim cảnh ông ta lượm quốc kỳ Mỹ trong đống rác ra, rồi gấp lại gọn gàng, mà ông ta nghĩ không ai nhìn thấy, theo đài Fox 13 hôm Thứ Ba, 26 Tháng Tư.

Ông Don “Munch” Gardner, cựu chiến binh Thủy Quân Lục Chiến, được cô Brooke Cowley, cư dân Huntingdon, bí mật quay phim cảnh ông đang tôn vinh quốc kỳ Mỹ tuần trước.

TS-mot-co-o-utahHướng đạo sinh chào quốc kỳ Mỹ đang được đốt trong buổi lễ bỏ quốc kỳ không còn sử dụng tại Ramstein Air Base, Đức, hôm 14 Tháng Sáu, 2017. (Hình minh họa: Senior Airman Elizabeth Baker)

“Tôi đúng là ngốc nghếch! Hôm đó, tôi đang dọn dẹp sân trong lúc mấy đứa nhỏ chơi lượm trứng Phục Sinh. Tôi quăng cây cờ đi vì lá cờ bị rách và cây cờ bị gãy,” cô Cowley viết trên Facebook. “Sau đó, tôi nhìn thấy ‘ông lấy rác’ dừng lại, xuống xe, gỡ lá cờ ra xếp lại cẩn thận!”

Cô Cowley cho biết hành động của ông Gardner khiến cô xấu hổ vì không bỏ quốc kỳ không còn sử dụng một cách đàng hoàng, đặc biệt vì chồng cô là cựu chiến binh.

“Lúc này, tôi rất biết ơn ông ấy đã làm như vậy cũng như cảm kích lòng yêu nước và quốc kỳ của ông ấy! Cảm ơn ông ấy đã dạy tôi bài học không bao giờ quên,” cô Cowley viết về ông Gardner.

Ông Gardner lấy rác 8 đến 12 giờ một ngày khắp hai quận hạt Emery và Carbon ở Utah.

Ông cho báo địa phương hay ông lượm lại ít nhất 12 lá cờ Mỹ từ bãi rác trong 11 năm qua. Ông nói ông tức giận khi nhìn thấy người ta vứt bỏ quốc kỳ.

“Đôi khi chỉ là lỗi lầm. Còn hầu hết là cố ý. Tôi khó chịu với chuyện đó, cho nên tôi lượm lại để xếp đàng hoàng,” ông nói.

“Tôi từng thề bảo vệ đất nước này và quốc kỳ của chúng ta, và giờ vẫn vậy,” ông Gardner nói. “Nhiều người phải chết để bảo vệ lá cờ này cũng như chiến đấu dưới lá cờ này. Máu đổ rất nhiều để chúng ta có được tự do như hôm nay.”

Theo Bộ Quốc Phòng, nhiều văn phòng chính quyền tiểu bang và quận hạt cũng như Hội Cựu Chiến Binh Hoa Kỳ (VWF) có đặt thùng nhận quốc kỳ không còn sử dụng phía trước trụ sở của họ. Sở Cảnh Sát cũng nhận những lá cờ này. Nếu những thùng này đầy, nhiều tổ chức như American Legions và Hướng Đạo cũng nhận những lá cờ này và làm lễ từ bỏ trang trọng.

(Th.Long) [qd]

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Một bài học về Quốc Kỳ Mỹ

HÚY NHẬT TRUNG TÁ LONG_Trần Pháp & Trần Quốc Nại

This image has an empty alt attribute; its file name is trung-ta-long.jpg

HUÝ NHẬT TRUNG TÁ LONG

Huý nhật thường niên Trung Tá Long
Ba mươi ngày cuối tháng tư đen
Xẻ chia gia tộc cơn gia biến
Tưởng nhớ anh hùng vị quốc vong
Phú quý chẳng màng khi nước đục
Cơ hàn cam chịu để lòng trong
Quyết đem an lạc tô đời sống
Gãy cánh giữa đường mộng vỡ tan

TP

Bài Họa của TQN:

NGƯỜI KHÔNG BAO GIỜ CHẾT

Cảnh Sát Quốc Gia Trung Tá Long
Anh hùng tuẫn tiết tháng tư đen
Vinh danh xứng đáng khi nằm xuống
Hào kiệt hy sinh vận nước vong
Lưu lại tiếng thơm cho hậu thế
Mang theo khí phách giữ lòng trong
Ngàn năm bia đá hằng ghi dấu
Trang sử Việt Nam mãi chẳng tan./-
TQN.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở HÚY NHẬT TRUNG TÁ LONG_Trần Pháp & Trần Quốc Nại

MẤY VẦN THƠ THÁNG TƯ_Tuệ Nga & Lê Phương Lan

Mấy Vần Thơ Tháng Tư

Tháng Tư, người viễn xứ gửi nỗi buồn về bên kia bờ Thái Bình Dương nơi một phần đời đã lưu lại để phần đời còn lại vẫn mãi nhớ thương.

KHOANG ĐẦY

Cách nửa bán cầu đất nước tôi,

Đường về sương tuyết cách ngăn rồi.

Con thuyền ngược gió neo bờ lạ.

Chất một khoang đầy …thương nhớ ơi!

Tuệ Nga

VÌ ĐÂU?

Gần nửa đời người xa quê tôi,

Gian ác làm nên vách ngăn rồi.

Đồng bào xử tệ hơn người lạ!

Vì đâu nên nỗi, mẹ Việt ơi!

Lê Phương Lan

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở MẤY VẦN THƠ THÁNG TƯ_Tuệ Nga & Lê Phương Lan

Tản Mạn Ngày 30/4 – Tác giả Đặng Chí Hùng

TẢN MẠN NGÀY 30/4

ĐẶNG CHÍ HÙNG

PHẦN 1: 30/4- NGƯỜI VUI VÀ NGƯỜI BUỒN

Trong một cuộc họp với Mao Trạch Đông hồi năm 1970, Lê Duẩn đã cho Mao Trạch Đông biết, Việt Nam đang trường kỳ kháng chiến chống Mỹ là vì Trung Quốc. Lê Duẩn đã nói, nguyên văn như sau: “Tại sao chúng tôi giữ lập trường bền bỉ chiến đấu cho một cuộc chiến kéo dài, đặc biệt trường kỳ kháng chiến ở miền Nam? Tại sao chúng tôi dám trường kỳ kháng chiến? Chủ yếu là vì chúng tôi phụ thuộc vào công việc của Mao Chủ tịch… Chúng tôi có thể tiếp tục chiến đấu, đó là vì Mao Chủ tịch đã nói rằng 700 triệu người Trung Quốc đang ủng hộ nhân dân Việt Nam một cách vững chắc”.

Còn cuốn sách “MAO: The Unknown Story” – viết: “Có một nơi gần Trung Quốc, nơi đã có người Mỹ, đó là Việt Nam. Cuối năm 1963, miền Nam Việt Nam có khoảng 15,000 cố vấn quân sự Mỹ. Kế hoạch của Mao là tạo tình huống làm cho Mỹ phải gởi thêm quân đội vào miền Nam, ngay cả có thể xâm chiếm miền Bắc giáp giới với Trung quốc.”. Và Lê Duẩn sau này cũng đã khẳng định “Ta đánh Miền Nam là đánh cho Liên Xô, cho Trung Quốc, cho các nước xã hội chủ nghĩa”.

Trong khi đó, bà Dương Thu Hương, một đảng viên đương thời lúc CSVN chiếm được Miền Nam đã khóc trong ngày 30 tháng 4 năm 1975, khi bà theo chân đoàn quân chiến thắng vào tiếp thu Sài Gòn, và bà đã “Ngồi xuống vỉa hè ôm mặt khóc như cha chết, vì nhận ra rằng, kẻ thắng trận là một chế độ man rợ hơn người thua”. Bà đã mô tả lại sau này rằng trong bà lúc đó có “Một cảm giác vô cùng hoang mang và cay đắng  vì cái đẹp phải tan nát, và nền văn minh phải quy hàng”. Còn ông cựu thủ tướng CSVN – Võ Văn Kiệt thì bảo ngày 30/4 là ngày mà “Triệu người vui, cũng có triệu người buồn”.

Đó là thống nhất ư? Không, nước Đức không cần T54 húc đổ dinh tổng thống. Nước Thái không cần đảng cộng sản lãnh đạo, nước Sinh chẳng cần sự “đỉnh cao trí tuệ loài người”. Nhưng họ vẫn có tự do và thống nhất, vươn lên mạnh mẽ. Có gì mà tự hào với cái gọi là thống nhất khi mấy chục triệu người dân hai miền đã phải ngã xuống vì chiến tranh phi nghĩa? Dân tộc VN là một, thống nhất không cần phải xua xe tăng và đại pháo tới bắn giết đồng bào Miền Nam. Cái gọi là thống nhất chỉ là bức bình phong cho một sự tham quyền, tham của và làm tôi mọi cho chủ nghĩa cộng sản của những Hồ, Đồng, Chinh Giáp. Bằng chứng tuyệt vời về cái gọi là thống nhất chỉ là trò lừa bịp đó là Hà nội đã mặc nhiên dâng Hoàng – Trường Sa cho Tàu thông qua sự kiện công hàm 1958 của Phạm Văn Đồng và vụ ủng hộ Tàu “đánh giúp lấy Hoàng Sa” năm 1974. Bằng chứng đó cho thấy CSVN không hề muốn thống nhất lãnh thổ, mà nó chỉ muốn tuân lệnh Mao một cách tuyệt đối mà thôi!

Miền Nam cũng không cần giải phóng bởi Sài Gòn hòn ngọc Viễn Đông không cần một thứ kim khí thô ráp nào để mài rũa, để bỏ tù, để đánh tư sản, để đầy đi kinh tế mới. Sài Gòn lúc đó đã đi trước Soul, Singapor, Bangkok rất xa thì Hà Nội có gì để mà “giải phóng”? Miền Nam cũng không hề đói nghèo như họ Hồ bôi bác thông qua những lần phát ngôn và thông qua đội ngũ bồi bút. Dân Nam thanh bình và yên ấm đã chẳng cần giải phóng bởi họ thừa thuốc, thừa gạo, thừa vải đến mức các con tàu, đoàn xe “giải phóng” phải chạy hết công suất để đem ra Miền Bắc sau ngày CS chiếm được Miền Nam. Cái mà bà Dương Thu Hương đã nói rất hợp lý với thực tế lịch sử và hiện tại. Và một điều minh chứng rõ nhất cho cái gọi “giải phóng Miền Nam” chỉ là một điều láo khoét:  Chẳng có một đất nước nào được giải phóng mà dân lại phải tìm đường đi trốn quân giải phóng, và dân nước đó lại luôn nhớ ơn kẻ bị gọi là “đô hộ”…Quan thì có có thể nói dóc, nhất là quan cộng sản, chứ dân thì luôn thật và luôn thể hiện thái độ đúng những gì lịch sử đã xảy ra…

Khi mà Thống nhất hay giải phóng chỉ là lừa gạt và dối trá thì cái khái niệm triệu người vui, cũng có triệu người buồn nó cũng có một phần lớn đúng. Cái người vui là người đã thỏa mãn được sự ăn cướp, thỏa được sự đổi đời nhờ đánh giết chính người cùng dòng giống với mình. Đó là đảng CS Hà Nội, là những kẻ nằm vùng tại Miền Nam. Từ đây họ đổi đời, được nhà đất, chức tước, tiền tài, thậm chí cả vợ con của những người thuộc chế độ VNCH. Như vậy, nói cho đúng thì những kẻ vui là những tên cướp được may mắn thành công nhờ sự phản bội của đồng minh đối với nạn nhân.

Còn người buồn ư? Nhiều lắm, họ là công chức, binh lính, thân nhân những người thuộc chế độ độ VNCH. Họ là dân Miền Nam từ sau 30/4/1975 sẽ phải sống cúi đầu trong lầm than, khổ đau, mất tự do. Họ là cả người Miền Bắc mất thân nhân vì cái gọi là “Sinh bắc tử nam”. 90% dân tộc VN là người buồn, chỉ có một lũ ăn cướp trong đó có Võ Văn Kiệt là kẻ vui. Đó là một kết cục cay đắng của cái gọi là giải phóng, là thống nhất.

Ngày 30/4/1975, ngày mà kẻ vui chỉ là số ít mà người buồn là số đông thì ngày đó sẽ là ngày của những nỗi xót xa và đọa đầy…

PHẦN 2: NHỮNG NỖI XÓT XA ĐỌA ĐẦY

Trong cuộc phỏng vấn tạp chí George năm 1998, chính tướng William Childs Westmoreland – Tư lệnh Bộ chỉ huy cố vấn quân sự Mỹ tại miền Nam Việt Nam- về tướng Võ Nguyên Giáp của quân đội cộng sản như sau: “Of course, he was a formidable adversary…. By his own admission, by early 1969, I think, he had lost, what, a half million soldiers? He reported this. Now such a disregard for human life may make a formidable adversary, but it does not make a military genius. An American commander losing men like that would hardly have lasted more than a few weeks”. Xin được tạm dịch là: “Dĩ nhiên, ông ta là một đối thủ ghê gớm…. Với sự thừa nhận của chính ông ta, đến đầu năm 1969, tôi nghĩ, ông ta đã mất nửa triệu lính? Ông ta đã báo cáo điều này. Hiện tại, một sự coi thường mạng người như thế có lẽ sẽ tạo nên một đối thủ ghê gớm, nhưng nó không tạo nên một thiên tài quân sự. Với một người chỉ huy người Mỹ mà làm thiệt mạng nhiều binh sĩ thì vị chỉ huy đó sẽ bị cách chức sau vài tuần lễ”.

Một cuộc chiến tranh phi nghĩa với danh xưng giải phóng và thống nhất bằng vũ lực quân sự mà ở đó, các lãnh đạo Hà Nội không coi cuộc sống của dân lành, của thanh niên là gì. Các lãnh đạo cộng sản coi thường sinh mạng của mình để đổi lấy sự vinh quang cho riêng lãnh đạo. Các bà mẹ miền Bắc chỉ biết đến “Các con không về mình mẹ lặng yên” (trích “Đất nước” – Nhạc: Phạm Minh Tuấn – Thơ: Tạ Hữu Yên). Trong khi đó, các con của các mẹ đã bị đẩy vào chiến trường cho cái gọi là sinh bắc tử nam. Một sự xót xa đọa đầy cho người miền bắc.

Những nỗi xót xa và đắng cay của những số phận nghiệt ngã đi tìm cái chết để đem lại giàu sang tột cùng cho con cháu Hồ, Giáp, Duẩn, Chinh, Đồng vv…đã được nhà văn cộng sản hồi chánh Xuân Vũ mô tả chính xác “mạng người lá rụng”. Những đứa con của các bà mẹ Miền Bắc như thể những chiếc lá trên rừng Trường Sơn rơi vào quên lãng, rơi vào mục nát, rơi vào quên lãng để cho bác và đảng vinh quang trong chiến thắng ồn ào…

1650936505742blobNhưng ngày 30/4 lại còn đem đến những nỗi xót xa hơn cho cả Miền Nam và chung quy là cho cả dân tộc trừ 10% bọn cộng sản, nằm vùng và mafia đỏ. Nhà báo James Taranto đã trích dẫn cuộc điều tra quy mô của nhật báo Orange County Register được phổ biến trong năm 2001 về “học tập cải tạo” tại Việt Nam và đã kết luận rằng: “Ngay sau khi xâm chiếm VNCH, cộng sản đã đưa một triệu quân dân cán chính VNCH vào tù vô thời hạn – dưới cái nguỵ danh học tập cải tạo – trong ít nhất là 150 trại tù được thiết lập trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam kể cả những nơi rừng thiêng nước độc với khí hậu khắc nghiệt. Theo Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, đại đa số những người này đã bị giam cầm từ 3 tới 10 năm và có một số người đã bị giam giữ tới 17 năm. Nếu lấy con số trung bình là bẩy năm tù cho mỗi người, số năm tù của một triệu người là 7,000,000 năm… Cứ mỗi ba gia đình tại Miền Nam, có một gia đình có người phải đi tù cải tạo. Và trong số một triệu người tù kể trên, đã có 165,000 người chết vì bị hành hạ, tra tấn, đánh đập, bỏ đói, lao động kiệt sức, chết vì bệnh không được chữa trị, bị hành quyết… Cho tới nay, hài cốt của 165,000 nạn nhân này vẫn còn bị Việt Cộng chôn giấu trong rừng núi, không trả lại cho gia đình họ. Hiện nay chỉ có Việt Cộng mới biết rõ tên tuổi các nạn nhân cùng nơi chôn giấu hài cốt của họ. Đây là tội ác thủ tiêu mất tích người, một tội ác chống loài người đã và đang diễn ra tại Việt Nam suốt 35 năm nay mà thủ phạm là Lê Duẩn…”.

Còn theo tài liệu của Viện Bảo Tàng Việt Nam tại San Jose ghi nhận số lượng tù cải tạo thực sự đều là tù chính trị như sau: “Năm 1975 QLVNCH có 980.000 quân nhân gồm 1/10 cấp Tá và cấp Tướng tổng cộng 9.600, cấp úy là 80.000, còn lại là hạ sỹ quan và binh sĩ . Binh sĩ VNCH bị bắt đi cải tạo sau ngày 30 tháng 4, 1975.AFP/Getty Images – Cấp Tướng tại ngũ đến 30 tháng 4 năm 75 là 112; bị tù cải tạo: 32 vị, 80 tướng lãnh di tản và 1 số nhỏ không bị bắt giam. – Ðại tá có 600, bị tù 366. – Trung tá có 2.500, bị tù 1.700. – Thiếu tá có 6.500, bị tù 5.500. – Cấp úy có 80.000, bị tù 72.000. Trong số này bao gồm cả nữ quân nhân cũng như thành viên đảng phái và các cấp chính quyền. Ðây là con số ghi nhận được từ phía Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa, không có tài liệu của các trại giam phía cộng sản để đối chiếu; và không có con số chính xác tù cải tạo bị chết trong khi giam cầm”.

Hàng triệu người quân dân cán chính VNCH phải đi tù, vợ con họ bị hãm hiếp, lao động cưỡng bức, đầy đi vùng kinh tế mới. Gia sản, nhà cửa bị cướp mất để làm giàu cho quan to của đảng cộng sản hay đám sâu bọ nằm vùng trước 1975. Hàng trăm nghìn người đã bỏ mạng trên biển chỉ bởi muốn thoát khỏi nhà tù lớn, muốn có được hai chữ tự do. Cảnh tù đầy sau 1975 đã được miêu tả qua nhiều hồi ký như Tôi Phải Sống, Đại Học Máu, Đáy địa ngục, Tôi đi cải tạo vv…xin đọc một đoạn để thấy sự thật đau lòng cho người dân Miền Nam sau 30/4/1975: “Đã hơn hai tháng nay, chúng tôi không được ăn miếng thịt nào. Lao động mỗi ngày 8 tiếng, toàn việc nặng. Cơm không có, mỗi ngày lãnh hai chiếc bánh mì luộc, mỗi cái khoảng 200 gram và một nửa chiếc bánh buổi sáng 50gram, như vậy chúng tôi chỉ được ăn 450 gram chất bột với muối, không có chất béo, chất rau và chất đạm nào! Do đó, ai nấy đều gầy rộc hẳn, da khô khốc. Trên nguyên tắc theo giấy tờ chúng tôi được ăn 18 kí lô chất bột, 300 gram thịt mỗi tháng, nhưng thực tế chúng tôi chỉ được ăn 13 kí 500 chất bột”, (Đáy Địa Ngục -Tạ Tỵ trang 378- 379.).

Lý do ư? Đảng CSVN phải sắt máu để làm khiếp sợ quân dân cán chính VNCH, phải trả thù cho được những người đã bảo vệ miền nam đến cùng. Lê Duẩn đã khẳng định trong sách “Lê Duẩn, Nội dung cơ bản của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam”, xuất bản lần 1 tại trang 482 có viết: “Sức mạnh vô địch của cách mạng Việt Nam được tích luỹ qua gần nửa thế kỷ đấu tranh dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, kết tinh cả truyền thống chiến đấu và tài thao lược của tổ tiên ta. Bằng ý chí của chúng ta, những kẻ một thời lầm đường lạc lối theo Mỹ – Ngụy đã được lao động cải tạo để trở thành những công dân có ích cho xã hội mới…”. Trong khi đó Đỗ Mười thì tuyên bố trắng trợn hơn “Giải phóng rồi, nhà cửa của bọn nó là của chúng ta, vợ con của bọn chúng thì chúng ta dùng”…

Một miền nam tươi đẹp đã ra đi, một miền nam tươi đẹp đã băng hà sau ngày 30/4/1975 để đến nỗi tiêu điều, khổ cực như Huy Đức đã viết là một ví dụ dù Huy Đức chưa viết hết những sự thật kinh hoàng về những kẻ cướp ngày “Tối 10-9-1975, “tin chiến thắng” liên tục được báo về “Đại bản doanh” của Trung ương Cục đóng tại Dinh Độc Lập. Con số bị bắt cho đến khi ấy vẫn tăng lên. Các đoàn đưa ra những con số chi tiết: hàng chục triệu tiền mặt, hàng chục ký vàng, cả “kho” kim cương, hàng vạn mét vải và cả một cơ sở chăn nuôi gồm “7. 000 con gà, thu hoạch 4. 000 trứng mỗi ngày”120 ở Thủ Đức. Một nhà tư sản đang nằm viện bị yêu cầu kiểm tra xem ốm thật hay cáo bệnh, trong khi đó con trai ông ta bị bắt để buộc phải khai ra nơi cất giấu tiền, vàng. Do tin tức bị lọt ra, một số nhà tư sản đã kịp cao chạy xa bay, có người bị bắt khi đang chuẩn bị trốn.”

Thảm kịch của miền nam chưa dừng lại ở cướp ngày mà nó trực tiếp đẩy người dân vào một thảm kịch khác: trên biển đông. Tập tài liệu ấn hành vào năm 2000, mang tựa đề “The State of the World’s Refugees 2000, 50 yearsof Humanitarian Action,” viết về tình trạng tị nạn thế giới, để đánh dấu 50 năm hoạt động nhân đạo của Liên Hiệp Quốc, Bà Sadako Ogata, Cao Ủy Trưởng Tị Nạn Liên Hiệp Quốc, đã nói về lòng can trường của hàng triệu người tị nạn và lánh nạn trên thế giới đã mất tất cả, ngoại trừ niềm hy vọng, và đã vượt qua biết bao thử thách và chông gai để đi tìm con đường sống. Bà Ogata đã tuyên dương những người này là “Những người sống sót vĩ đại của Thế Kỷ 20”. Cuốn sách cho biết:

“Ngay từ cuối năm 1975, những đợt người tị nạn Việt Nam đã bắt đầu đến lánh nạn tại các nước lân bang. Vào những ngày đó, Thái Lan đã đón nhận 5. 000 người tỵ nạn từ Việt Nam qua, tại Hồng Kông cũng đã có 4. 000 tị nạn, Tân Gia Ba 1, 800 người, và có khoảng 1. 250 người cũng đã đến Phi Luật Tân. Vào tháng 7 năm 1976, khi chế độ Hà Nội loại trừ bộ máy quản chế miền Nam của Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam để thực hiện việc thống nhất hai miền, cưỡng chế người dân đi vùng kinh tế mới, và tập trung trên một triệu người miền Nam vào các trại tù cải tạo, những làn sóng di tản bằng đường biển bắt đầu gia tăng. Và đến cuối năm 1977, đã có trên 15. 000 người Việt sang tị nạn tại các nước trong vùng Đông Nam Á. Cho đến năm 1978, khi nhà cầm quyền Cộng Sản phát động chính sách cải tạo tư sản, và tiếp theo đó là việc xua quân xâm chiếm Cam Bốt, và phải đương đầu với cuộc chiến biên giới với Trung Quốc, làn sóng tị nạn bằng đường biển đã tăng lên gấp bốn lần, với đa số người ra đi thuộc khối người Việt gốc Hoa, để sau đó được đưa sang định cư tại các tỉnh phía Nam Trung Quốc.

Vào cuối năm 1978, đã có 62. 000 thuyền nhân người Việt tị nạn tại các nước Đông Nam Á. Riêng trong tháng 6 năm 1979, đã có trên 54. 000 thuyền nhân Việt Nam đến tị nạn tại các nước nói trên. Những làn sóng tị nạn này đã khiến cho các nước trong khối Đông Nam Á, như Mã Lai Á, Thái Lan, Phi Luật Tân, Tân Gia Ba và Nam Dương tuyên bố không nhận thêm người tị nạn từ Việt Nam, khiến cho những đợt thuyền nhân đến sau đã bị xua đuổi cấm không cho lên bờ. Cũng kể từ đó, con số thuyền nhân tử vong trên biển cả cũng đã gia tăng.

Sau những cuộc hành trình hãi hùng lênh đênh trên đại dương, một số thuyền nhân cũng đã đến được bến bờ tạm dụng. Những lớp người này đã đem cho thế giới bên ngoài những mẫu chuyện về người cha, người mẹ, đã phải chia nhau những hạt cơm rơi từ miệng những đứa con; đến chuyện chia nhau từng giọt nước quý hơn vàng được vắt ra từmiếng vải thấm mưa, để đánh lừa những cơn đói khát triền miên. Hay là những chuyện thương tâm về người chết đã cứu được người sống với thịt máu của chính mình. Hoặc nữa là những chuyện nói nhỏ, kể về những trường hợp phải đương đầu với hải tặc. Ngoài những mối đe dọa do sự đầy đọa của con người đối với con người, những thuyền nhân này còn phải đương đầu với những cơn thịnh nộ của thiên nhiên. Những cơn phong ba bão táp đã khiến cho không biết bao nhiêu thuyền nhân làm mồi cho biển cả. Không ai dám phỏng đoán với mỗi người có cơ may đặt chân lên bến bờ tự do, đã có bao nhiêu người hy sinh trên đại dương.

Cuối cùng, làn sóng người tị nạn Việt Nam bằng đường biển đã viết lê thiên bi sử của thuyền nhân, và những câu chuyện hãi hùng của các cuộc vượt biển của người tị nạn Việt Nam đã đánh động được lương tâm thế giới. Vào tháng Ba 1979, chương trình Ra Đi Có Trật Tự ra đời để cố gắng ngăn chặn những làn sóng vượt biển. Ngoài ra, cũng vào thời gian này, các chương trình cứu người vượt biển đã được một số tổ chức thiện nguyện quốc tế phát động hai chiếc tầu cứu vớt thuyền nhân ngoài biển là Anamur do một tổ chức từ thiện Đức Quốc vận động vào năm 1979 L’Ile deLumiere của tổ chức từ thiện Pháp Medecins du Monde điều hành vào năm 1980 đã cứu mạng được nhiều thuyền nhân Việt Nam lênh đênh ngoài biển cả trong khoảng thời gian từ 1979 cho đến 1990.”

…Tất cả sự đau thương thống khổ của người dân hai miền nam bắc chỉ đổi lấy sự hào nhoáng giả tạo, sự chiến thắng viển vông và sự giàu có cho chỉ tầng lớp lãnh đạo đảng, nằm vùng và cơ hội. Còn toàn thể dân hai miền thì đau thương không xiết. Những nỗi đau thương cứ đầy theo năm tháng mãi không thể xóa nhòa bởi từ ngày 30/4 thống hận đó, lịch sử toàn bộ đất nước VN lại bước vào một kỷ nguyên mới: Kỷ nguyên của đau khổ, cùm kẹp và đầy rẫy trái ngang…Nguyên nhân thì có nhiều, nhưng không thể nào quên những kẻ phản bội miền nam.

Đặng Chí Hùng

24/04/2022

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Tản Mạn Ngày 30/4 – Tác giả Đặng Chí Hùng

Mấy Vần Thơ Tháng Tư – Tuệ Nga & Lê Phương Lan

MẤY VẦN THƠ THÁNG TƯ

Tháng Tư, người viễn xứ gửi nỗi buồn về bên kia bờ Thái Bình Dương nơi một phần đời đã lưu lại để phần đời còn lại vẫn mãi nhớ thương.

KHOANG ĐẦY


Cách nửa bán cầu đất nước tôi,
Đường về sương tuyết cách ngăn rồi.
Con thuyền ngược gió neo bờ lạ.
Chất một khoang đầy …thương nhớ ơi!
Tuệ Nga

VÌ ĐÂU

Gần nửa đời người xa quê tôi,
Gian ác làm nên vách ngăn rồi.
Đồng bào xử tệ hơn người lạ!
Vì đâu nên nỗi, mẹ Việt ơi!

Lê Phương Lan

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Mấy Vần Thơ Tháng Tư – Tuệ Nga & Lê Phương Lan

Thơ Quốc Hận – Trần Quốc Nại

Nhớ về 30/4/75.

Hôm nay hai sáu tháng tư,
Còn bốn ngày nữa ngất ngư con tàu
Đắm chìm dân Việt thương đau
Dưới làn sóng đỏ ngàn sau nhớ hoài./-
……….
Khi nào Việt Cộng đi đong
Thì dân nước Việt mới còn tương lai
……….

Biết nói gì?

Bốn bảy năm rồi đất nước ta
Sau ngày giải phóng lại phong ba
Cuốn theo chiều gió thì mong sống
Chệch hướng sai đường chết khó tha
Thống khổ căm hờn hào nhoáng giả
Đau thương nuốt hận lệ xót xa
Bao giờ có được ngày yên ổn
Dân Việt trông chờ bao thiết tha./
TQN.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thơ Quốc Hận – Trần Quốc Nại

SỰ GIỐNG NHAU và KHÁC NHAU GIỮA CỜ VÀNG và CỜ ĐỎ_Ngọc Hạ

Sự Giống Nhau & Khác Nhau giữa Cờ Vàng và Cờ Đỏ

Ngọc Hạ

This image has an empty alt attribute; its file name is co-vang-do.jpgGIỐNG NHAU: Đều là lá cờ.

KHÁC NHAU:

Nguồn gốc: Cờ vàng được chính người Việt thiết kế và đưa vào sử dụng, cờ đỏ thì đem từ nước ngoài về không rõ nguồn gốc xuất xứ.

Ý nghĩa:

Cờ vàng có ý nghĩa người dân 3 miền Bắc Trung Nam đều là chung một dòng máu đỏ da vàng, ý muốn cùng đoàn kết xây dựng quê hương dân tộc.

Cờ đỏ thì phân biệt giai cấp và sặc mùi tanh của máu, ý muốn con người cờ đỏ là loại hung hãn và sẵn sàng lấy máu đồng bào để in đậm thêm màu máu cho lá cờ.

Thẩm Mỹ: Cờ vàng nhìn vào thấy thanh tao, cờ đỏ nhìn vào thì thấy nó đầy ám khí.

– Về tính chính nghĩa:

– Cờ vàng được chính người Việt làm ra nên đó là lá cờ được xem là chính nghĩa.

– Cờ đỏ do một đứa nào đó (nghe đồn là tên hồ chí minh) mang từ nước ngoài về và bắt dân phải treo nên nó là phi nghĩa, vì vậy đến ngày lễ Tết có rất nhiều người dân không treo mặc dù bị chính quyền thúc dục phải treo cũng như hăm dọa nếu không treo thì bị phạt này phạt kia.

Và có nhiều người nhầm lẫn cờ vàng là của VNCH nhưng đó là sai. VNCH chỉ sử dụng lá cờ do ông cha để lại chứ cờ vàng không phải là cờ của VNCH.

Đối với cờ đỏ thì sự nhầm lẫn nguy hại ở chỗ là nhiều người cứ tưởng là quốc kỳ VN, nhưng kỳ thực nó không phải như vậy; nó là lá cờ đem từ “nước lạ” nào đó về nên nó không phải là lá cờ của dân tộc, mà là lá cờ của nhà nước cộng sản, đảng cộng sản chứ tuyệt nhiên không phải Quốc Kỳ của nhân dân!

Ngọc Hạ

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở SỰ GIỐNG NHAU và KHÁC NHAU GIỮA CỜ VÀNG và CỜ ĐỎ_Ngọc Hạ

CÁI TĨN NƯỚC MẮM LÀM PHÉP_Hai Hùng Saigon

This image has an empty alt attribute; its file name is tin-nuoc-mam.jpg

Cái Tĩn Nước Mắm Làm Phép 

Hai Hùng Sài Gòn

Đã lâu lắm rồi, những  cái Tĩn đựng nước mắm thân thương của ngày xưa không còn được ai trong chúng ta nhìn thấy nữa, những người được sinh ra từ thập niên sáu mươi trở về trước mới biết và có xài qua cái tĩn này.

 Nói về nguồn gốc xuất xứ của loại Tĩn nước mắm  theo các ông bà lớn tuổi kể lại nó có nguồn gốc từ vùng đất Phan Thiết, vùng đất này đã làm ra các loại nước mắm ngon bán đi khắp các tỉnh ở miền nam.

 Nước mắm nơi đây được ủ chượp trong những thùng gỗ lớn bởi những con cá cơm tươi rói ngoài biển đem về, họ pha với tỷ lệ muối hột một cách hài hòa theo công thức gia truyền, cho ra lò những Tĩn nước mắm thơm ngon nức mũi.

 Để tiện lợi cho vận chuyển nước mắm bán đi các nơi, các nhà sản xuất xài cái Tĩn bằng đất nung được tráng men bên trong, mỗi Tĩn đựng áng chừng năm lít nước mắm.

 Khi thời gian ủ chượp đã hoàn thành, lúc này họ chiết nước mắm ra cái Tĩn để tiện lợi cho vận chuyển và buôn bán.

 Nắp đậy của cái Tĩn cũng bằng đất nung, họ nặn ra cái nắp có dạng hình tròn dẹp dẹp vừa khít miệng của cái Tĩn, sau đó họ lấy hỗn hợp vôi để niêm phong cái nắp lại cho kín , sau đó dán miếng giấy vuông vuông có in tên của nhà sản xuất . ( bên ngoài cái Tĩn nước mắm, họ quét một lớp vôi trắng dầy, có pha với a dao để lớp vôi bám chặt vô bên ngoài cái Tĩn, họ dùng dây lá Buông đan lại thành cái quai xách cái Tĩn chắc chắn cho dễ khiêng đi)

 Mua cái Tĩn này về nhà xong, khi muốn xài thì ta cứ lấy sóng lưng con dao phay gõ nhẹ chung quanh cái nắp, vôi trám nắp sẽ nứt ra, dĩ nhiên có một ít bụi vôi nhuyễn rơi vô nước mắm bên trong nhưng không có hại gì, khi ta giở cái nắp Tĩn nước mắm thì mùi thơm ngào ngạt bay ra thơm lừng, lúc này lấy cái vá nhỏ thọt vô múc ra một ít vô chén, các bạn chỉ cần bới một tô cơm nóng chan lên đó một ít nước mỡ heo, rồi rưới ít nước mắm vô tô cơm trộn đều lên, đơn giản chỉ có vậy mà tô cơm đó mấy đứa con nít con nhà nghèo ngày xưa ăn một cách ngon lành.

 Tui nói sơ về cái Tĩn để cho bà con mình nhớ lại, cho thế hệ sanh sau này biết lịch sử của cái Tĩn nước mắm như thế nào bởi vì hồi đó chưa xài bình Nylon và chai thủy tinh như bây giờ.

 Nãy giờ nói về nước mắm, nhưng cái chính là tui sẽ kể câu chuyện về cái “Tĩn nước mắm làm phép” của bà Mười, một người trong xóm của tui ngày xưa…

***

 Xóm tui ngày đó là xóm lao động nghèo, nhà Bà Mười ngày  xưa thuộc hàng khá giả, vì chỉ cần nhìn vô căn nhà của bà cũng đủ biết.

 Nhà bà thuộc loại nhà xây kiểu thời Pháp thuộc, kiến trúc căn nhà cũng đơn giản, nhưng tường nhà được xây dầy hai mươi ( Bề dài của viên gạch thẻ nằm ngang), bên ngoài được tráng bằng lớp vôi vữa trộn với hỗn hợp “Ô Dước” rất chắc chắn và được quét vôi màu vàng đất.

 (Năm Tết Mậu Thân 1968, bà con trong xóm thường chạy qua nhà bà Mười trú ẩn để tránh đạn lạc khi chiến tranh lan tỏa đến đây, vì tường nhà bà rất dầy, đã vậy bà còn lấy bộ ván gỗ Mun  dầy hơn mười phân làm nóc hầm “Trảng xê”, nên mọi người thấy rất an toàn).

 Bà Mười vào những năm này đã lớn tuổi lắm rồi, với dáng người nhỏ nhắn, hay nhai trầu với đôi môi móm mém, bà Mười tánh cũng khó giàn trời, suốt ngày tui thấy bà cứ quanh quẩn ngoài vườn để làm cỏ , trồng cây, chăm sóc những ngôi cổ mộ bằng đá Ong, một hôm nọ trời nắng chang chang, tui thấy bà ngồi nghỉ mệt và uống nước dưới gốc cây khế cổ thụ trong vườn, tui với thằng Thành con ông Chín Tắc xi lân la đến nói chuyện với bà, vừa cầm cái nón lá phe phẩy quạt mát, bà thấy hai đứa tui vừa trờ tới bà liền hỏi:

 -Chèn ơi cũng hai đứa bây nữa hả,  lọ mọ vô đây hôm nay tính hái trái gì nữa vậy, hôm qua mấy cây ổi sẻ trái chín oằn cây, đứa nào vô hái thiếu điều hết ráo, bây nói tao nghe coi.

Nghe bà Mười truy vấn, tui với thằng Thành tái mặt tưởng bà đã biết “đạo chích” là ai rồi, Thành lật đật khai luôn:

-Tại tụi con thấy ổi chín nhiều quá bà Mười ơi, tụi con không hái thì mấy con chim, con sóc nó cũng ăn hết.

 Bà Mười nghe vậy bà la nó liền:

-Bây nói giả ngộ ghê, con chim con sóc nó ăn thì theo lẽ tự nhiên của trời đất, hơn nữa nó không biết tiếng người, còn bây muốn hái thì vô nhà hỏi bà Mười một tiếng thì bà đâu có tiếc rẻ gì, bây tự tiện vô vườn hái vậy bà hông vui chút nào.

 Biết mình làm phiền lòng bà Mười hai đứa tui  xin hứa lần sau không dám làm vậy nữa .

 Chưa hết bực dọc, bà Mười hỏi vặn lại:

 – Bà Mười hỏi thiệt, hai đứa bây hôm nay vô vườn tính “đại náo” gì nữa, đâu nói thiệt một bữa bà nghe coi.

Cái thằng quỷ Thành thay vì trả lời cho bà Mười, nó lại đưa mắt ngó lên nhánh  cây khế với gương mặt thèm thuồng, những chùm khế ngọt của bà Mười nó chín vàng ươm đang  đong đưa trước gió.

Bà Mười đoán ra ý định của hai thằng tui, bà nói:

-Thì ra hai đứa đang rình rập mấy chùm khế chứ gì, bữa kia thằng Năm (Chú Năm con bà) hái cho bây cả rổ rồi, ăn chưa đã họng hả bây, đợt khế này cô Ba Huê lò bánh Ú dặn rồi, để cổ hái về “sênh mứt” bán tết, chờ đợt sau nó chín rồi bà cho bây mặc sức mà hái.

Nghe bà Mười nói vậy, không hiểu tại sao gói muối ớt đang cuộn trong lưng quần “Tà lỏn” của thằng Thành rớt xuống đất.

 Bà Mười thấy vậy bà cười ngất rồi nói :

 – Cha chả đi hái trộm khế mà còn chuẩn bị sẵn muối ớt để chấm nữa hả hai ông con, Kiểu này tao méc chú Chín với chú Năm mới được.

 Nghe bà Mười hăm méc tía của mình, tui với thằng Thành sợ tái mặt, vì hai ông già tía này ông nào cũng có cây roi giắt trong vách lá ở nhà, nếu biết tụi tui làm điều xằng bậy thế nào cũng được ăn “Bánh tét nhưn mây” ê cả đít.

 Thấy diện mạo thất thần của hai thằng tui, bà Mười nói:

-Tao mới hù bây chút xíu mà bây sợ dữ thần ôn vậy hả, mơi mốt đừng phá phách nữa nghe hai ông con, thôi dìa đi.

 Hai đứa cám ơn bà rối rít, không chậm trễ giây nào, hai đứa tui nhanh chóng chạy ra khỏi khu vườn của bà Mười tức thì.

***

  Đã nhiều hôm trôi qua, khi cả đám tụi tui cùng chơi đùa trước sân nhà bà Mười, tuyệt nhiên tụi tui không thấy bà Mười xuất hiện xua đuổi như mọi lần, thắc mắc trong lòng nên khi gặp chú Năm đi uống rượu mới về, tui chận chú lại hỏi thăm:

– Chú Năm ơi, bà Mười đi đâu mấy bữa nay tụi con không gặp.

 Với cái giọng lè nhè do say rượu, chú Năm nhướng mắt lên hỏi:

 – Bây là thằng Phương con anh Năm phải không?, bà Mười bịnh mấy bữa rồi, nằm trong nhà kia chứ đâu, mà mấy đứa nè chịu khó xích ra gần đồng mả mặc sức chơi, để yên tĩnh cho bà Mười nghỉ ngơi tụi con, chừng nào bà Mười khỏe tụi con vô đây chơi nha .

 Mấy đứa bạn tui đồng thanh:

– Dạ , tụi con nghe lời chú Năm.

Thấy đám con nít trong xóm dễ thương, chú lấy tay cản lại trước khi tụi tui cùng nhau đi ra phía đồng mả, chú nói:

 – Vậy phải dễ thương hông, chú thổi một bản nhạc tặng cho mấy đứa nè, nghe xong rồi hẳn đi.

Nói xong chú rút trong lưng quần cây kèn “Ác mô ni ca” đưa lên miệng, chú bắt đầu thổi bản cầu “sông Kwai” nghe mê ly vô cùng, chú vừa thổi kèn, tay vừa biểu diễn bấm các lổ kèn cho ra những âm thanh thật lảnh lót và kiêu hùng, hết bản nhạc đó hình như hứng chí chú tặng thêm bài nữa, “Tình anh lính chiến” nghe cũng oai hùng không kém, khi chú vừa dứt tiếng kèn thì cả đám bạn tui vỗ tay tán thưởng rần rần, chú Năm hoảng  vía vì thấy đám nhỏ vổ tay lớn quá có thể làm kinh động đến bà Mười, chú Năm ra hiệu cho tụi tui mau chóng giải tán để trả lại sự yên tĩnh cho bà Mười dưỡng bịnh …

***

  Dạo ấy trò chơi của con nít cũng đa dạng lắm rồi, nào là tạt hình ( Những hình ảnh được in trong tấm giấy khá dầy, đủ thứ hình ảnh như zoro, Batman, hoặc hình ảnh chim chóc , cây cảnh, hoặc cao bồi, một tờ giấy cỡ A4 như bây giờ cắt ra được khoảng hai mươi bốn tấm hình đều nhau, rồi bó lại từng cọc để dành chơi với nhau, ví dụ như vích hình cho tờ ngửa chồng lên tờ nằm sấp là ăn, rồi tạc hình cùng nhau đậu vô bao nhiêu tấm, rồi chồng vô một cọc bỏ chính giữa cái vòng hình vuông được vẽ dưới đất hoặc nền xi măng, cách đó chừng mười bước chân có kẽ một đường làm cái vạch, đứng ngay chỗ mức này dùng chiếc dép cao su “tạt” vô đống hình kia, ai tạt được nhiều hình ra ngoài thì được hưởng phần đó)

 Mấy tay “Xì Thẩu” ở Chợ lớn ngày xưa cũng nhanh nhạy với thị trường đồ chơi cho con nít lắm, để có lợi nhuận họ liên tục ra những mẫu mã đồ chơi, lần nọ họ ra làm những hình người, hình thú bằng nhựa màu sắc rất đẹp khiến đám tụi tui cũng thích thú vô cùng, có hôm chơi thua hết cả bọc hình ( đựng trong bịch nylon, giắt vô lưng quần) , tui và vài đứa phải ngồi ngoài coi chúng bạn chơi mà lòng buồn vô hạn, mỗi bữa đi học được hai ba cắc bạc, phần uống nước phần mua đồ chơi, nên khi thua sạch thì tiền đâu để mua đồ  chơi để chơi tiếp với đám bạn.

Câu thiên hạ nói tui thấy y chang

” Bần cùng sanh đạo tặc”, bí tiền mua đồ chơi quá, mà xin tiền thêm dễ gì ở nhà cho, để có tiền nên đêm nọ khi con trăng hạ tuần leo lét trên bầu trời, tui rủ rê thằng Thành làm chuyện “Động trời” vô cùng….

 Bà Mười nằm bịnh gần chục ngày, bà Hai đồ chay là chị em cùng xóm ghé qua thăm, không biết hai bà bàn bạc với nhau điều gì mà sáng hôm sau, thím Năm con dâu của bà Mười qua nhà ông Tư Tĩn (ông chuyên mua ve chai lông gà lông vịt, Tĩn nước mắm ông cũng mua luôn, khi Tĩn nhiều gần đủ xe Cam nhông, ông Tư bán lại cho các chành ve chai lớn khác để họ bán cho các lò nước mắm ngoài Phan thiết tận dụng lại, Tĩn còn nắp sẽ mua giá cao hơn Tĩn không nắp) để mua một cái Tĩn nước mắm đã xài rồi, thím Năm đem về rửa sạch sẽ đem ra gần bàn ông thiên úp xuống cái cọc do chú năm đóng sẳn, chiều đến bà Hai đồ chay mời một ông Thầy ở một chùa nào đó vùng chợ Cây Thị đến làm phép, nghe bà Hai nói cái Tĩn này dùng để trấn ếm vong nào đó đang làm bà Mười bị bịnh, thời gian làm phép phải nửa tuần trăng mới linh nghiệm..

 Vậy mà cái Tĩn nước mắm không cánh mà bay mất tiêu sau vài ngày làm phép, thím Năm lo âu sợ mất cái Tĩn kia bà Mười khó hết bịnh, bà Hai đồ chay thì rủa xả cái quân nào bất nhơn “Thỉnh” mất cái Tĩn kia…

Rinh cái Tĩn qua bán cho ông Tư được hai đồng, tui được một đồng, thằng Thành một đồng, vậy là có tiền để mua đồ chơi, tuy vậy khi mua cái Tĩn, ông Tư cứ ngắm nghía lật tới lật lui, làm như cái Tĩn này quen mắt với ông lắm, vì ông hỏi :

 -Cái Tĩn này ở đâu bây có, sao giống cái Tĩn tao bán cho cô Năm Dâu bà Mười lắm nghe.

 Điếng hồn khi bị ông Tư “Điểm huyệt” , hai đứa cố giữ vững lập trường, Tui nói:

 -Nhà con mua lâu rồi ông Tư ơi, nay hết nước mắm nên má con cho đem bán.

Chắc thấy đôi co với hai thằng nhóc chẳng ăn thua gì, ông Tư rút hai đồng trả cho xong.

 Ông Tư đem cái Tĩn nọ ra úp chung lên đống Tĩn ông để bên hông nhà.

 Mất cái Tĩn đang làm phép Thím Năm buồn lắm, thím qua nhờ bà Hai đồ chay mời thầy về làm phép lại khi thím mua cái Tĩn khác.

 Thím Năm đứng bên hông nhà ông Tư để lựa cái Tĩn nào đẹp như cái Tĩn hôm rồi, tự nhiên như có thần linh xui khiến thím bốc trúng ngay chóc cái Tĩn mà ông Tư mua của hai thằng tui bán cho ông.

 Thím Năm cầm trên tay săm soi cái Tĩnh, chợt thím thấy dấu vết nhà sư làm phép còn lưu lại trên hông cái Tĩn, thím vô nhà hỏi ông Tư liền:

 – Ông Tư, cái Tĩn này hôm rồi con mua của ông nè, đang làm phép cho má chồng con mà đứa nào nó thỉnh mất tiêu, con nhìn được là nhờ dấu làm phép đây nè.

 Đến phiên ông Tư:

– Chèn ơi ! Thằng Phương với thằng Thành bán cho tui đó cô Năm, tui nghi hỏi tụi nó rồi vậy mà tụi nó cứ một hai là của nhà nó, thím coi quá lắm hông.

***

 Khỏi nói các bạn cũng biết đoạn kết câu chuyện ta sao rồi, nhưng để tui kể luôn cho tròn câu chuyện.

 Thím Năm bỏ ra hai đồng chuộc lại cái Tĩn đang làm phép, chiều đó thím Năm ghé nhà hai thằng tui méc, ba tui với ông Chín giận run, thế là hai cây roi mây tha hồ liếm đít hai tên trộm đau thấy tía luôn.

 Mấy đứa bạn trong xóm biết chuyện này , tụi nó xúm lại ghẹo hai đứa tui thiếu điều muốn độn thổ .

 Hai đứa được gia đình dắt qua nhà để xin lỗi bà Mười và thím Năm, bà Mười gặp hai ông “Thần nước mặn” bà liền nói :

– Chèn ơi. Bây hôm nay dám hái luôn “Cái Tĩn làm phép” của bà nữa hả, thiệt quá lắm rồi, mơi mốt cấm tiệt không cho qua vườn tao chơi nữa.

 Hai đứa tui cúi mặt trong lòng rất hối hận, tay lỡ nhúng chàm thì tiếng xấu sẽ theo mình muôn đời, qua lần đó về sau tụi tui không còn dám tái phạm và quyết tâm học hành để trở thành người tốt sau này, bà Mười tuy hăm he tụi tui mẻ răng, nhưng rồi bà cũng để cho qua vườn nhà bà chơi với chúng bạn, qua đó tui thấy lòng vị tha của bà Mười to lớn vô cùng .

 Mấy chục năm dài đăng đẳng trôi qua, vậy mà câu chuyện “Cái Tĩn nước mắm làm phép” nó thỉnh thoảng vẫn len lén đưa tui quay về bến mộng ngày xưa.

Hai Hùng Sài Gòn

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở CÁI TĨN NƯỚC MẮM LÀM PHÉP_Hai Hùng Saigon

ĐÁNH CHO CHẾT MẸ…!!! (Bùi Giáng)

Đánh Cho Chết Mẹ…!!!

(Một bài thơ của Bùi Giáng làm sau ngày 30/4/1975)

This image has an empty alt attribute; its file name is bui-giang.jpg

Đánh cho Mỹ cút đánh cho ngụy nhào,

Đánh cho chết mẹ đồng bào Miền Nam.

Đánh cho khoai sắn thành vàng,

Đánh cho dép lốp phải mang thế giày.

Đánh cho Nam Bắc đọa đày,

Đánh cho thù hận giờ này chưa tan.

Đánh cho cả nước Việt Nam,

Áo ôm khố rách, xếp hàng xin cho.

Đánh cho hết muốn tự do,

Hết mơ dân chủ, hết lo quyền người.

Đánh cho dở khóc dở cười,

Hai miền thống nhất kiếp người ngựa trâu.

Đánh cho hai nước Việt Tàu,

Không còn biên giới cùng nhau đại đồng.

Đánh cho dòng giống Tiên Rồng,

Osin, nô lệ, lao công xứ người.

Đánh cho chín chục triệu người,

Thành dân vô sản, thành người lưu vong.

Đánh cho non nước Lạc Hồng,

Tiến lên thời đại mang gông mang cùm.

Đánh cho cả nước chết chùm,

Đánh cho con cháu khốn cùng mai sau.

Đánh cho bác, đảng, Nga, Tàu,

Hết quần hết áo thì tao ở truồng!

Bùi Giáng

(Bài do Nguyễn văn Vinh chuyển)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở ĐÁNH CHO CHẾT MẸ…!!! (Bùi Giáng)

Tại Sao Lại Gọi Là Biển Đen hay Hắc Hải_Sưu tầm

TẠI SAO LẠI GỌI LÀ BIỂN ĐEN hay HẮC HẢI?

Cái tên “Biển Đen” chắc hẳn hầu hết chúng ta ai cũng đều nghe qua. Và tôi dám cá rằng khá nhiều người giống tôi đã từng nhầm tưởng “Biển Đen” là vì nó có màu đen. Nhưng tất nhiên không phải như vậy rồi. Bài viết này sẽ giải đáp điều đó.

Nhưng trước hết chúng ta cùng tìm hiểu một chút về “lý lịch trích ngang” của Biển Đen đã.

Đôi Nét Về Biển Đen

            Biển Đen – tên tiếng Anh là Black Sea, nằm ở khu vực giữa Đông Nam châu Âu và Tây Á. Biển Đen thật ra là một vùng biển sâu trong nội địa và được bao bọc bởi 6 nước: Thổ Nhĩ Kỳ, Romania, Bulgaria, Nga, Ukraina và Gruzia. Biển Đen chỉ thông với Địa Trung Hải qua 2 eo biển nông là Dardanelles và Bosphorus. Sông Danube là con sông dài thứ hai ở châu Âu xuất phát từ Đức đổ vào biển Đen.

            Biển Đen có độ sâu tới 2212m và diện tích khoảng 436.400km2. Ngoài cái tên biển Đen thì vùng biển này còn có một tên khác hay và mĩ miều hơn là “Hắc Hải”.

This image has an empty alt attribute; its file name is bien-den-1.jpg

Tại Sao Lại Gọi Là Biển Đen?

            Trước hết có vài ý kiến cho rằng vì biển Đen có nồng độ muối thấp, tạo điều kiện cho các vi tảo phát triển ở lớp nước bề mặt khiến nước có màu sẫm tối nên có nghĩa là biển Đen. Nhưng điều này đã bị bác bỏ bởi vì thực tế ở Hắc Hải, nồng độ muối và chất khoáng lại cao hơn nhiều.

            Nguyên do thứ hai thì có vẻ giả tưởng hơn một chút, vùng biển này xưa kia được đồn đại là có nhiều bất thường do có nhiều dòng chảy lạ ở dưới nước, biển lại có vị trí gần như là cô độc so với các nơi khác. Các thủy thủ còn nghe nói là có nhiều bộ lạc man rợ sinh sống ở gần đây nên một thời gian Hắc Hải tội nghiệp bị xem là biển không hiếu khách, biển đáng sợ nhất thế giới. Cộng thêm có nhiều người chết và xác tàu thuyền ở đây do không tìm được nơi tránh bão và bị đánh chìm. Người dân muốn cảnh báo cho những ai ở xa tới nên họ gọi là biển Đen.

            Lại có ý kiến cho rằng các sinh vật chết ở đây khi chìm xuống sau một khoảng thời gian tạo thành lớp bùn đen bao phủ nên biển mới có tên như vậy.

            Nhưng thực ra, lý do được chấp nhận nhất chính là xét về mặt lịch sử, người Hy Lạp và người Lưỡng Hà cổ đại đã dùng màu sắc để chỉ các phương hướng: màu đen – phía Bắc;  màu đỏ – phương Nam; màu vàng – phương Đông; màu xanh – phương Tây. Vì biển nằm ở phía Bắc của Địa Trung Hải nên được gọi là biển Đen mà thôi.

            Ngoài ra nguồn gốc của tên gọi này cũng được cho là xuất phát từ người Thổ Nhĩ Kỳ. Trong tên biển mà họ đặt có chữ Kara – tiếng Thổ hiện đại nghĩa là “ Đen ”.

This image has an empty alt attribute; its file name is bien-den-2.jpg

Những Đặc Điểm Của Biển Đen

– Nơi đây gắn liền với câu chuyện nổi tiếng trong Kinh thánh về chiếc thuyền Noah neo đậu ở núi Ararat (Thổ Nhĩ Kỳ) để tránh cơn Đại Hồng Thủy và sau đó được sống sót.

– Biển Đen được xem là biển ấm nhất thế giới. Bởi vì sự phân tầng độc đáo của nó. Đây là vùng biển hiếm hoi các dòng chảy giữa các tầng nước không trộn lẫn vào nhau mà lại phân tách rõ rệt. Vùng nước trên cùng được lưu thông trao đổi nước từ sông đổ vào và chảy ra biển nên nước khá lạnh, trái lại các tầng nước dưới không có sự trao đổi dòng chảy nào dẫn đến nhiệt độ lại ấm hơn.

– Biển Đen có đặc điểm thú vị là không có thủy triều lên xuống nên bề mặt nước hầu như ít khi chuyển động. Do đó biển Đen một thời gian còn bị lầm lẫn với biển Chết. Bởi thế cho nên có một số người cảm thấy đáng sợ khi nhắc đến “vùng biển tĩnh lặng” này.

– Biển Đen nhận rất ít oxy, không như các biển khác. Các tầng nước không chảy hòa lẫn vào nhau nên oxy rất khó thâm nhập sâu hơn xuống các lớp nước dưới bề mặt biển. Từ độ sâu 200m trở xuống đáy là không còn sự sống. Vì thế sự oxy hóa và quá trình tan rã, phân hủy diễn ra rất chậm. Vậy nên có những xác tàu thuyền, thậm chí xác chết khi được tìm ở mặt đáy của biển hầu như còn nguyên vẹn khá nhiều.  Có nhiều người xem nơi đây là “ngôi nhà của thần Chết” cũng là vì lý do đó.

Nhưng chẳng ảnh hưởng to lớn gì cả bởi vì biển có hơn 10 hòn đảo nhỏ với hệ sinh vật khá phong phú. Bây giờ biển Đen còn là điểm đến rất được ưa thích của du khách. Và những hòn đảo ở đây đã trở thành điểm du lịch đóng góp quan trọng cho kinh tế của các nước xung quanh.

Ẩn sau cái tên không đẹp cho lắm và những đồn đại phỏng đoán tiêu cực về vùng biển cô độc này – thì biển Đen vẫn rất thú vị với những độc đáo chỉ có ở riêng nó phải không. Câu nói “Trông mặt mà bắt hình dong” có lẽ không phù hợp “tẹo teo” nào đối với biển Đen.

This image has an empty alt attribute; its file name is bien-den-3.jpg

Andy Van Tổng Hợp

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Tại Sao Lại Gọi Là Biển Đen hay Hắc Hải_Sưu tầm

Thư Gởi Con Một Ngày Tháng Tư_Cao Xuân Thanh Ngọc

Thư gởi con, một ngày tháng tư

Cao Xuân Thanh Ngọc

This image has an empty alt attribute; its file name is thu-goi-con.pngTháng Tư về với thung lũng hoa vàng bằng những cơn mưa phùn xen kẽ những ngày nắng rực rỡ. Nhìn những đồi hoa vàng trải dài trên những triền núi quanh nhà, trên những đoạn đường freeway mẹ chở con đi qua hàng ngày, con trai của mẹ vừa ngơ ngác vừa thích thú. Thành phố mình đang sống trời vào xuân đẹp và bình yên quá phải không con? Thành phố này, nơi con sinh ra đời, mảnh đất này nơi con được lớn lên sẽ mang cho con cuộc sống và tương lai tốt đẹp trong một xã hội tự do, dân chủ, văn minh. Nhưng khi lớn lên, mẹ sẽ nói cho con biết, dù thế nào đi nữa, nơi đây chẳng phải là quê hương mình con à. Quê hương mình là mảnh đất hình chữ S ở bên kìa bờ đại dương, nơi ba và mẹ đã được sinh ra và lớn lên, nơi mà chúng ta luôn tự hào khi nghĩ về và khi nói đến mình là người Việt Nam, quê hương mình là đất nước Việt Nam. Mẹ sẽ dạy con đánh vần và viết “quê hương Việt Nam” và “tôi là người Việt Nam” để con mãi nhớ về gốc gác, cội nguồn và quê hương mình con nhé.

Con được may mắn sinh ra và lớn lên ở đất nước tự do, dân chủ. Rồi một ngày khi lớn lên, mẹ sẽ kể con nghe về quê hương mình, mẹ sẽ cho con biết hai chữ “quê hương” trong lòng người tha phương như ba mẹ và một đứa “Mỹ con” như con là thiêng liêng thế nào. Rồi con sẽ hiểu vì sao con là người Việt Nam nhưng lại được sinh trưởng ở một đất nước xa lạ không phải quê hương mình. Mẹ sẽ nói con biết, dù được sinh trưởng ở Mỹ nhưng con vẫn là người Việt Nam, máu đỏ da vàng. Con may mắn hơn hàng vạn trẻ em Việt Nam trong nước vì con được là công dân của một đất nước tự do, con sẽ được giáo dục tốt, con luôn được chính phủ bảo vệ và tôn trọng nhân quyền. Không như trẻ em ở Việt Nam, từ nhỏ phải học sự dối trá lừa lọc. Lừa lọc trong từng câu nói, dối trá trong từng con chữ. Giáo dục đạo đức dường như là thứ chỉ thấp thoáng, mơ hồ. Cùng là người Việt Nam mang dòng máu đỏ da vàng, nhưng con may mắn hơn những đứa trẻ được sinh ra trong nước, vì khi ra đời mang kiếp người Việt Nam, con không phải là “con nợ”, con không phải mang món nợ công vài chục triệu mà chính phủ đã “ban tặng”, con sẽ không lớn lên cùng muôn vàn bất trắc và cả việc bị tước đoạt quyền con người.

Mẹ sẽ kể con nghe cuộc sống người tha phương nơi xứ người, thân phận người nhập cư nhiều đau buồn, lắm thương đau nhưng hàng triệu người Việt Nam chúng ta vẫn chấp nhận cuộc đời tha phương ấy chỉ vì hai chữ tự do con à.

Quê hương mình ở bên kia bờ đại đương đẹp lắm con à. Mảnh đất hình chữ S ấy đã từng là niềm tự hào của cả dân tộc vì có rừng vàng biển bạc, tôm cá tràn đầy, nhiều thú rừng quý hiếm. Nhưng giờ đây rừng đã tàn và biển đã chết, tôm cá chết hàng loạt, thú rừng chẳng còn đất sống. Những người lãnh đạo đất nước, những người mà họ tự cho mình cái quyền quyết định số mệnh của cả đất nước và dân tộc đã ngang nhiên tàn phá quê hương mình. Họ nói rằng đất nước mình thiên nhiên ưu đãi và có nhiều danh lam thắng cảnh. Họ sai rồi, thiên nhiên nào ưu đãi cho lũ ký sinh bội phản. Thắng cảnh quê hương mình từ Bắc vào Nam đẹp thật nhưng cứ hễ bàn chân con người tới, họ xuyên cọc vào thân thể mẹ thiên nhiên. Họ tàn hủy những thứ được cất dưỡng, thay vào đó là cột sắt, bê tông. Họ ăn uống tiệc tùng trong hang động, bắt cáp đi vào lòng đất. Họ ra sức tàn phá thiên nhiên chỉ vì tiền và những lợi thế trước mắt. Thiên nhiên nào ưu đãi được nữa con? Thiên nhiên nào còn có thể tồn tại ở mảnh đất quê hương chữ S cho những năm về sau nữa đây con?

Một ngày nào đó, khi con lớn lên, mẹ sẽ kể con nghe, con đừng tin lời họ.

Họ nói rằng, dân tộc ta tương thân tương ái. Nhưng rồi cũng vì cái tương thân tương ái đó mà con người lấy lòng thương để lừa lọc nhau, thậm chí là đem bán rẻ tình người. Lũ trẻ vùng núi bỏ học, bỏ việc làm, đứng chìa tay xin nhận lòng bố thí. Trẻ con rồi đến người già, vùi dập đời mình trong tay những người lãnh đạo mang tiếng yêu nước nhưng sẵn sàng ăn chặn từng lon gạo của người dân. Đàn bà phụ nữ phải đi nước ngoài làm vợ người ta như một món hàng, thậm chí phải đi nước ngoài bán dâm để kiếm sống. Thanh niên trai tráng thì đi xuất khẩu lao động, bán sức bán thân mình ở nước bạn để kiếm đồng tiền gởi về quê nhà. Họ nói rằng quê hương Việt Nam, đất nước Việt Nam là của dân, do dân, vì dân. Nhưng đã hơn bốn mươi năm rồi, người dân quê mình chẳng có được gì con à. Rồi mười năm nữa, hai mươi năm nữa, biết đâu những đứa trẻ trạc lứa tuổi như con ở đất nước Việt Nam lại phải cuối đầu làm nô lệ cho nước bạn láng giềng Trung Hoa, rồi dân tộc mình sẽ đi về đâu?

Và họ nói với con bao nhiêu điều không thật, để rồi lúc con bỡ ngỡ bước ra đời, khi con nhận thức được mình là người Việt Nam, mẹ sẽ kể cho con nghe sự thật về quê hương mình như thế nào, mẹ sẽ kể con nghe tại sao thế hệ ba mẹ và ông bà con đã không ngại khó khăn, nguy hiểm, gian nan để sống cuộc sống tha phương nơi xứ người. Và chỉ mong đời con, dù mang kiếp làm người Việt Nam nhưng đừng mãi buồn như vậy.

Rồi sau này, cứ mỗi năm tháng Tư về, mẹ sẽ nói cho con biết tại sao người Việt Nam chúng ta lại cứ phải sống trong hoài niệm và những đau thương. Những câu chuyện dài của thế hệ ba mẹ và những ngày tháng lớn lên ở mảnh đất quê hương bên kia bờ đại dương mãi là một phần ký ức của cuộc đời mẹ. Dù có vui, có buồn, có lắm đau thương nhưng mẹ vẫn muốn một ngày nào đó, khi con lớn khôn, mẹ sẽ kể con nghe. Mẹ kể con nghe để con thêm yêu quê hương mình, để dù con không sinh ra và lớn lên ở nơi đó nhưng con luôn tự hào “Tôi là người Việt Nam” con nhé.

Cao Xuân Thanh Ngọc

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thư Gởi Con Một Ngày Tháng Tư_Cao Xuân Thanh Ngọc

K1 Nam Cali thăm bạn Võ Văn Loài

Tường Trình của TK Nhữ Đình Toán:

Các bạn K1 thân mến,

Sáng nay, vào lúc 10 giờ thứ hai ngày 18/4/2022, nghe tin bạn K1 Võ văn Loài bị bệnh nặng hiện đang nằm tại Trung Tâm Phục Hồi Chức Năng Alamitos West Health & Rehabilitation, số 3902 Katella St, Alamitos, CA. Chúng tôi gồm có các K1 Nguyễn Hữu Thời, Nguyễn Vô Lượng, Huỳnh Vĩnh Hưng và cá nhân tôi Nhữ Đình Toán đã đi thăm bạn Loài tại trung tâm nói trên; bạn Loài hiện nằm tại phòng số 117 (Tên bạn Loài trong giấy là Võ Tư). Khi chúng tôi đến thăm, bạn Loài nằm mở mắt nhìn chúng tôi nhưng không nói năng gì được. Theo lời người con trai bạn Loài (tên Tùng) cho biết, bạn Loài mới bị stroke và heart attack, đã giải phẫu đặt sten nên nay rất yếu không biết có phục hồi được không. Trong trường hợp xấu nhất bạn Loài không qua khỏi, thể theo di nguyện của anh, gia đình sẽ mang anh về an táng tại quê nhà ở VN. Dù thế nào chăng nữa, chúng ta hãy nguyện cầu cho bạn ta có được những phép màu may mắn, được tại qua nạn khỏi. 

 Xin gởi đến các bạn vài tấm hình chụp trong chuyến đi thăm này.

 Thân mến,

 Nhữ Đ Toán

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở K1 Nam Cali thăm bạn Võ Văn Loài

Quốc Hận 30/4/1975_TQN

QUỐC HẬN 30/4/1975

This image has an empty alt attribute; its file name is quoc-han-30-4.jpg

Bốn bảy năm rồi vẫn tối đen
Hỡi người con Việt nhớ hay quên
Lô nhô nón cối đi ngơ ngáo
Lúc nhúc dép râu bước láo liên
Nay đã giày Tây mang áo vest
Và còn xe ngoại gắn ăng tên
Rõ ràng không thể ngồi yên được
Mà hãy đồng lòng cùng đứng lên./-
TQN

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Quốc Hận 30/4/1975_TQN

Tháng Tư Nhìn Lại Một Tấm Hình_Quan Dương

THÁNG TƯ NHÌN LẠI MỘT TẤM HÌNH

This image has an empty alt attribute; its file name is thang-tu-pic.jpg

Ngày 30/04/75 cách đây đúng 47 năm sau khi ông Dương văn Minh nhân danh Tổng thống VNCH tuyên bố đầu hàng vô diều kiện với phe cộng sản Bắc Việt thì có một nhiếp ảnh gia nào đó đã chụp tấm hình “CỞI BỎ QUÂN PHỤC” trên đường ven đô Sài Gòn. Trong tấm ảnh là những đôi giày trận, những bộ quân phục của người lính VNCH cởi bỏ lại. Vẫn biết tấm hình đã được bọn tuyên giáo của cộng sản dàn dựng nhằm mục đích miệt thị người lính VNCH rồi cho các phóng viên thuộc phe xã hội chủ nghĩa chụp. Tuy là thế nhưng khi suy gẫm lại thì trong lòng không thể không cảm thấy chua xót vì thực tế thì quân đội VNCH đã bị tụi cộng sản chơi xấu khi tạo ra thảm trạng này.

Sau 47 năm những người đã chết uất ức vì hai chữ tự do chưa được lịch sử trả lại công đạo thì hiện nay đang bị kêu gào bởi những người còn sống là hãy chôn sâu quá khứ vào nấm mộ hoang tàn để hướng tới hoà giải với tương lai. Trong khi đó ai cũng biết tương lai chỉ là chiếc bánh vẽ nguỵ danh của kẻ ác mà lịch sử đã sai lầm khi trao chiến thắng cho họ. Những kẻ đó sau khi đoạt chiếm miền Nam đã gây nên không biết bao nhiêu oan khiên đau thương và tan nát trút lên nhiều gia đình người dân mà chưa hề có một lời xin lỗi. Là như vậy đó thế mà vẫn còn nhiều người đem cụm từ hoà hợp hoà giải ra rêu rao. Họ làm như lỗi gây ra thảm cảnh của đất nước này là của dân miền Nam. Khi nào mà những kẻ gây ra lỗi lầm chưa biết nói câu xin lỗi thì những lời kêu gọi hoà hợp hoà giải là món hàng xa xí đang treo trong siêu thị mà người nghèo không có tiền để mua nó.

Mỗi năm cứ vào ngày 30/04 nhìn lại tấm hình lòng bỗng quặn đau. Y như là thảm cảnh này xảy ra đâu mới ngày hôm qua:

Tháng tư bệnh cũ trở trời

Trải hồn ra chỗ tôi ngồi phơi đau

Buồn trơ cái xác nát nhàu…

Không khô sợi tóc trắng màu sương phai

Tháng tư hồn bỏ ra ngoài

khỏi xương cốt đã ngậm ngùi mộ bia

Mai kia không thể về nhà

Tro tàn cốt rụi cũng là Việt Nam

Tháng tư sau buổi tan hàng

Máu còn rỉ ướt dấu đâm gãy cờ

Quan Dương

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Tháng Tư Nhìn Lại Một Tấm Hình_Quan Dương

Đừng Đem Bố Về_Trần văn Lương

“Đừng Đem Bố Về”

This image has an empty alt attribute; its file name is thumbnail.jpgDựa trên lời một vị lính già dặn dò con trai mình trước khi ông mất: “Chỉ khi nào nước mình hết Cộng sản thì con mới đem tro của Bố về quê chôn cạnh Ông Bà Nội.

Con ơi hãy lắng nghe lời Bố dặn,

Sau khi mà Bố nhắm mắt xuôi tay,

Nhúm tro tàn, hãy tạm để nơi đây,

Đừng có vội đem ngay về chốn cũ.

Bố chỉ sợ con nghe người ta dụ,

Theo kết bè kết lũ để “thăm quê”,

Rồi tiện tay mang tro Bố trở về,

Để Bố lỗi lời thề khi bỏ xứ.

Nơi cắt rốn, ai mà không thương nhớ,

Ai không hề trăn trở bước lưu vong.

Nhưng con ơi, phải nghĩ đến non sông,

Đang đau đớn chờ mong ngày giải thoát.

Tháng Tư đó, quê hương mình tan nát,

Bao nhiêu người gạt nước mắt ra đi.

Lòng dặn lòng, trong giây phút phân ly,

Còn giặc Cộng, quyết thề không trở lại.

Lời khấn nguyện, Bố hằng ghi nhớ mãi,

Và dẫu lòng luôn khắc khoải xót xa,

Bố quyết tâm không phản bội quê nhà,

Dù khi đã hóa ra người thiên cổ.

x x x

Về sao được khi quê cha đất tổ,

Còn trong tay đám hổ báo sài lang

Đang đê hèn làm nô lệ ngoại bang,

Nhưng độc ác hung tàn cùng dân Việt.

Làm sao Bố yên tâm dù đã chết,

Khi dân Nam vẫn rên siết trong tù,

Từ học trò, tu sĩ đến nông phu,

Chỉ vì “tội” chống kẻ thù xâm lược.

Vong hồn Bố làm sao siêu thoát được,

Khi đau lòng nhìn đất nước thân yêu,

Bỗng trở nên, trong một sớm một chiều,

Nơi sản xuất rặt những điều tồi tệ.

Xã hội đã suy đồi từ gốc rễ,

Già lưu manh, đến trẻ cũng lưu manh,

Người với nhau chỉ lừa đảo tranh giành,

Cả đất nước biến thành hang trộm cướp.

Dù kẻ khác về ăn chơi nườm nượp,

Nhưng mình không làm thế được, con ơi.

Nhìn khắp nơi tội ác vẫn ngập trời,

Ai là kẻ không bồi hồi phẫn chí.

Làm sao mà an nghỉ,

Khi mộ phần bao chiến sĩ miền Nam

Bị bọn cầm quyền độc ác gian tham,

Muốn cướp đất, đã san thành bình địa.

Nỗi đau càng thấm thía,

Khi thấy người chạy mất vía năm nao,

Nay trở về thật diêm dúa bảnh bao,

Cùng nhăn nhở, ồn ào nâng chén cạn.

Làm sao mà thanh thản,

Khi phải nhìn đứa bạn ngày xưa,

Nạng gỗ mòn, ống quần rỗng đong đưa,

Khay vé số dầm nắng mưa kiếm sống.

Làm sao không tuyệt vọng,

Khi chung quanh tràn ngập bóng quân thù,

Ngoan ngoãn tuân theo lệnh của Tàu phù,

Hung hăng gác căn nhà tù vĩ đại.

Làm sao không tê tái,

Khi dân mình cứ mãi gánh khổ đau.

Và dù cho ở tận đáy mộ sâu,

Người chết cũng phải gục đầu than khóc.

Chỉ đem Bố trở về khi dân tộc

Có nhân quyền và độc lập tự do,

Người người đều được áo ấm cơm no,

Không còn bị loài Cộng nô thống trị.

Con hãy nhớ những lời này thật kỹ:

Bao lâu bầy Cộng phỉ vẫn thong dong,

Gót chân Tàu còn giẫm nát non sông,

Thì mình vẫn quyết một lòng son sắt.

Con ơi nếu Trời xanh kia quá quắt,

Bắt dân mình vĩnh viễn mất quê hương,

Thì chút tro tàn của kiếp tha phương,

Đổ giùm Bố, đừng tiếc thương giữ lại.

Mộng cứu nước bao năm rồi chưa toại,

Lối quay về, ngàn quan ải cách ngăn.

Trong đêm đen, đôi khóe mắt nhọc nhằn,

Nỗi đau đớn thầm lăn trên má lạnh.

Trần Văn Lương

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Đừng Đem Bố Về_Trần văn Lương

Trong Ngục Lạnh – Thơ TPK

TRONG NGỤC LẠNH

5-52376_lotus-blossom-png-svg-transparent-stock-lotus-blossom

Nhớ những đêm u buồn trong ngục lạnh
Lòng xót xa quạnh quẽ mảnh hồn côi
Suốt năm canh đói rách tím bờ môi
Thân xơ xác ôm phận đời thua trận
Trong lao tù ngồi cúi đầu tủi hận
Đã không tròn khí tiết phận làm trai
Không hiên ngang dâng hiến tấm hình hài
Không anh dũng tuẫn sinh ngày mất nước
Đời khổ sai nặng nề lê từng bước
Đêm lạnh lùng rét mướt ánh trăng vơi
Ngoài song sắt thăm thẳm một khoảnh trời
Lòng xao xuyến gởi về nơi cố xứ
Vợ con chừ gặp khó khăn trăm thứ
Mất lái rồi cơn gió dữ thuyền trôi
Đời mịt mờ trong đói khổ tả tơi
Kiếm miếng ăn nước mắt rơi từng bữa
Trời tháng tư, ôi tháng tư đỏ lửa
Đốt thành tro một trang sử hùng anh
Bao nhiêu năm tự do sống an lành
Nay một thoáng vàng son thành tăm tối…

TPK

4/2022

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Trong Ngục Lạnh – Thơ TPK

Tiểu Thơ – Truyện ngắn của Phạm Tín An Ninh

     TIỂU THƠ

– Phạm Tín An Ninh –

Người-đẹp-Velo-Solex

Rầm!

Tôi và hai thằng bạn vừa rà thắng xe đạp trước rạp Tân Tân để vào xem phim “Ba Chàng Ngự Lâm Pháo Thủ” thì bị một chiếc Vélo Solex húc từ đằng sau tới. Cả ba thằng ngã xuống đất. Riêng tôi còn bị cái xe của thằng bạn đè lên bụng đau muốn nín thở. Mới loi ngoi bò dậy, chưa kịp phủi bụi trên áo quần thì nghe tiếng quát tháo:

– Ê! Bộ ba “chàng ngự lâm pháo thủ” mù cả hà. Dừng ngựa mà chẳng coi chừng phía đàng sau! Đáng đời!

Vừa ngượng vừa tức giận bởi tự dưng bị húc té nhào giữa thanh thiên bạch nhật và trước bao nhiêu nguời đẹp, chưa kịp nắm cổ áo cho một trận, thì bị thủ phạm tiếp tục tấn công phủ đầu. Đúng là cà chớn. Nhưng nhìn lên thì… à… cả ba thằng khựng lại: đối phương là một cô gái, tuồi ô mai, tóc còn thắt bím, ngồi trên Vélo, vòng tay trước ngực, trề môi, rồi trợn đôi mắt to như hai cái đèn “ô tô”:

– Số còn hên đó. Cái vélo không bị hư gì. Tiểu thơ tha cho đó. Lần sau liệu hồn!

Nói xong cô bé nguýt một cái rồi rồ ga chạy mất tiêu.

Dù chưa bao giờ bị thầy Bửu Cân phán cho cái tội “con nhà không có lư hương”, bọn tôi cũng phải chửi thề một tiếng cho hả giận. Thằng Cường, đứa hiền lành ít nói nhất trong bọn tôi, xăn tay áo, xổ nho trước:

– Đ.m., con gái nhà ai trông đẹp thế mà đanh đá như bà chằn. Phải mà con trai thì biết tay tao.

Đúng là cô bé khá xinh, nhất là đôi mắt thật to và đôi môi mộng đỏ, dù có trề lên ngạo nghễ, cũng vẫn đáng yêu ghê lắm. Tôi nghĩ vẩn vơ như thế khi theo người soát vé dẫn tới chỗ ngồi. Trong rạp tối mò. Ba thằng chúng tôi vào trễ. Trên màn ảnh đang chiếu phim thời sự: Tổng thồng Ngô Đình Diệm đang kinh lý Ban Mê Thuột (nhưng không thấy cảnh ông bị ám sát hụt).

Suốt buổi hôm ấy, mắt nhìn lên màn ảnh, mà tâm trí tôi thì chỉ thấy có đôi mắt cô bé, trừ khi nào có tiếng súng nổ của ba chàng ngự lâm, tôi mới giật mình trở lại với truyện phim đôi ba phút.

Cha tôi nói đúng. Hồi mới ba tuổi, tôi đã khóc đến cả tháng trời khi mẹ tôi mất, ông bảo rồi sau này tôi sẽ là một thằng đa sầu đa cảm. Và hôm nay, dường như tôi bắt đầu biết tương tư đây.

Nha Trang cũng chẳng lớn hơn cái thành phố núi Pleiku là bao nhiêu, để ông nhà thơ nào đó “đi dăm phút trở về chốn cũ”, vậy mà cả mấy tháng rồi, tôi chưa gặp lại cô bé, mặc dù thời ấy Nha Trang đã có khá nhiều vélo solex, đủ làm tôi nhìn theo muốn ngoẹo cổ. Tôi nghĩ, chắc là cô bé từ đâu đến chơi. Trông nước da trắng hồng, có thể là từ Đà Lạt xuống thăm ai đó rồi lại biến mất như một nàng tiên trong cổ tích.

Quê tôi ở ngoài Vạn Giã. Vào Nha Trang học, ở nhà ông chú, trước ở gần rạp ciné  Moderne của ông Bác Ái, sau này dọn lên gần Ty Thông Tin. Chú tôi, ngoài làm chủ tiệm bán mọi vật dụng về điện, còn thầu các công trình diện. Ông bà chỉ có một cô con gái rượu, cưng như trứng mỏng, nên mọi thứ ngược xuôi giao dịch ông cần tới tôi. Để tôi lên tinh thần, bỏ bớt cái tật ham chơi và lười biếng có lẽ từ khi còn trong bụng mẹ, ông thường bảo: “cháu còn nhỏ mà coi bộ có khả năng thương mại. Cố gắng theo chú học hỏi, sau này dám qua mặt tao nữa đó “. (Cái này thì ông nói trật lất. Vì sau này tôi trở thành lính đánh giặc, nên cả đời có buôn bán được cái gì đâu).

Cả năm cứ mong tới mùa hè là tôi dọt về quê thăm cha tôi và chơi với mấy thằng bạn nối khố, rủ nhau ra con sông quê, ngày bơi lội, tối cắm câu, ngủ ngoài trời mà đua nhau đếm thử có bao nhiêu vì sao, tìm đâu là dải Ngân Hà có cái Cầu Ô Thước của Ngưu Lang Chức Nữ. Coi bộ vui và lãng mạn hơn ở trong cái thành phố Nha Trang này nhiều. Vậy mà mùa hè này tôi bị ông chú tôi giữ lại, sau khi thuyết phục được ông già tôi, bảo là để cho tôi tập làm quen với thương trường (!). Tôi nghe mà phát sợ, cứ như là sắp sửa bị ông đẩy tôi ra giữa chốn sa trường!

Bài học đầu tay là tôi xách cặp theo ông, đi dự một cuộc họp với mấy ông thầu khoán khác, trong một công trình “hợp tác mỗi bên cùng có lợi”. Nơi họp là một ngôi biệt thự khá đẹp nằm trên con đường Duy Tân có gió reo sóng vỗ.

Tôi rụt rè theo sau ông chú, bước vào phòng khách. Nhiều người đã có mặt. Ông nào trông cũng bệ vệ, đặc biệt có một ông mặc quân phục, oai phong cao lớn, mà coi bộ mọi người ai cũng nễ trọng. Nghe nói chuyện một hồi tôi mới biết đó là ông đại tá Đỗ Cao Trí, chỉ huy quân trường Đồng Đế. Lúc ấy tôi còn nhỏ, đâu có biết gì nhiều về lính tráng, nhưng tôi có nghe nhiều người kể chuyện tình ông đại tá này với một bà dược sĩ nào đó có tiệm thuốc tây trên đường Độc Lập. Bà này mới vừa ly thân ông chồng dược sĩ, có ông bồ là đại úy phi công trẻ tuổi đẹp trai thường đèo bà trên chiếc vespa chạy vòng vòng ngoài bờ biển, mặc dù bà có chiếc xe hơi thể thao trọc mui duy nhất ở thành phố này. Tội nghiệp ông phi công, vừa mới bị ông đại tá này nói nhỏ bạn bè làm lớn bên Không Quân cho bay ra tận ngoài vùng 1 xa tít mịt mù. (Sau này ông phi công hào hoa lấy một cô ca sĩ có giọng hát buồn… vào hồn không tên nào đó). Nghe mấy ông bàn bạc, tôi mới biết buổi họp này là để bàn việc xây cất và chỉnh trang lại toàn bộ doanh trại của quân trường Đồng Đế, mà chú tôi và mấy ông bạn thầu khoán vừa mới trúng thầu.

Tôi ngồi sau lưng ông chú, ghi ghi chép chép cứ như là… phóng viên tập sự. Nửa buổi thì ngưng họp ăn cơm. Một bữa ăn thịnh sọan từ nhà hàng mang tới. Vì thuộc hàng con nít, nên tôi được ưu tiên ra sân sau ngồi chung với mấy anh tài xế và con cháu ông chủ nhà. Vừa bước ra, chưa kịp tìm chỗ ngồi, thì tôi giật mình, sững sờ đến mấy phút. Cô bé, cô tiểu thơ… vélo solex, tông bọn tôi trước rạp Tân Tân gần ba tháng trước, đang ngồi chễm chệ tự lúc nào trong cái ghế bành duy  nhất bên bàn ăn.

Lấy lại bình tĩnh, tôi đến kéo chiếc ghế bên cạnh cô bé:

– Chào tiểu thơ, chàng ngự lâm pháo thủ bị xe tông… ngã ngựa có được phép ngồi đây không ạ?

Cô bé nhìn tôi tròn xoe đôi mắt. Đôi mắt mà tôi đã tìm kiếm hơn ba tháng nay, cứ tưởng đã biến mất khỏi Nha Trang, bỗng dưng bây giờ đang mở lớn hết cỡ trước mắt tôi. Tôi ngồi yên như bị thôi miên. Dường như vừa mới nhớ ra tôi, cô bé nhoẻn miệng cười:

– À, hữu duyên thiên lý năng tương ngộ! Vous cứ tự nhiên.

Tôi ngạc nhiên, cô bé coi bộ tây này còn xổ cả tiếng nôm tiếng hán. Tôi nhủ lòng: Không phải vừa đâu nghe.

Vậy mà cái cuộc trùng phùng khá bất ngờ này lại đưa đẩy tôi đến một nấc thang danh vọng: làm gia sư cho cô bé. Nói gia sư cho oai phong, chứ hồi đó chì có mỗi chữ “dạy kèm” thôi chứ sư với siếc gì.

Số là sau này, khi thực hiện công trình, tôi thường theo chú tôi đến đây, cũng có nhiều lúc tôi đến một mình để trao giấy tờ và tham khảo ý kiến của ông chủ thầu, papa của nàng. Dần dà tôi quen thân với cả nhà. Gia đình trước sống ở Đà Lạt, làm chủ mấy cái hotel. Bà vợ bị chết bởi một tai nạn giao thông ngay trên đèo Ngọan Mục, ông già buồn quá không muốn mỗi ngày nhìn thấy bóng dáng bà vợ trong thành phố sương mù, nên dọn xuống Nha Trang, trở lại nghề thầu khoán gia truyền từ mấy đời trước. Ông bà chỉ có mỗi một cô con gái, nhưng trong nhà ông nuôi nhiều cháu và gia nhân. Gặp tôi nhiều lần, và qua chú tôi, ông già cô bé nghe nói tôi cũng gốc nhà quê, hiền lành chăm chỉ, nên nhờ tôi, cứ ba tối mỗi tuần ghé lại nhà kèm cô con gái cưng của ông về môn toán và Việt văn. Cô bé vừa từ trường Domaine de Marie ở Đà Lạt chuyển xuống lớp đệ ngũ trường Nữ trung Học Nha Trang, đọc thơ Chinh Phụ Ngâm và Cung Oán Ngâm Khúc mà không hiểu bà Đoàn thị Điểm và ông Ôn Như Hầu nói cái gì trong đó…

Môn toán thì tôi không biết vẽ rồng vẽ rắn, chứ cái môn Việt văn này coi bộ bao la trời biển quá, vẽ cái gì chẳng được.

Hôm đầu tiên, tiểu thơ vẫn còn cao điệu, gọi tôi là Thầy. Không biết là do lệnh của ông già, vì đề phòng tôi “tán bậy” con gái, nên phong cho tôi cái chức ” bán tự vi sư nhất tự vi sư” để tôi biết phận mà giữ mình, hay là cô bé choc quê tôi không biết.

Thấy “diễn nôm điển tích” mấy câu thơ trong Cung Oán Ngâm Khúc coi bộ không ăn khách, chẳng hấp dẫn nổi cô bé, tôi quay sang đọc thơ cho cô bé nghe. Hồi đó ở Võ Tánh có hai nhà thơ rất sớm nổi tiếng, mà dù là tên thật hay bút hiệu gì nghe cũng đẹp làm sao: Thanh Nhung và Cao Hoành Nhân, Tôn Nữ Nha Trang và Bùi Cao Hoành gì đó. Không biết có đúng hay không, nhưng tôi nghe bạn bè thêu dệt về cuộc tình lãng mạn của hai nhà thơ học trò vang bóng một thời này. Tôi chọn mấy bài thơ ướt át nhất của hai người đọc cho cô bé nghe. Và cũng lạ, không cần diễn nôm diễn nghĩa gì cả, cô bé không những hiểu rất nhanh mà còn cảm nhận đến độ lim dim đôi mắt… nhìn xa xăm.

Có một điều tôi quên nói: cô bé cũng thuộc dòng Tôn Nữ, cũng có một cái tên hay lắm: Tôn Nữ Giáng Vân. Nhưng tôi vẫn thích gọi cô bé là Tiểu Thơ, cái tên mà nàng đã tự xưng khi đụng tôi trước rạp Tân Tân. Hơn nữa tôi thấy cái tên này cũng hợp với cô bé lắm. Tôi nghĩ thầm, có lẽ nàng Tôn Nữ xứ Huế nào cũng đẹp và… lãng mạn đa tình.

Các tác phẩm của Tự Lực Văn Đoàn, cô bé mê nhất là Hồn Bướm Mơ Tiên, nên thường bắt tôi kể lại cho nàng nghe. Mẹ nàng vốn là một phật tử ngoan đạo. Sau ngày bà chết, ba nàng cúng dường khá nhiều tiền để chỉnh trang hai ngôi chùa Tỉnh Hội, Hải Đức và cung thỉnh thêm nhiều tượng Phật. Cô bé thường theo cha lên chùa Hải Đức. Nàng bảo mỗi lần lễ Phật, nàng cứ tưởng tượng mình là “chú tiểu” Lan, nhưng lại rất sợ và bịt kín tai khi nghe có tiếng đại hồng chung, nên chắc không thể nào giả trai lên chùa tu được.

Một hôm cô bé nhất quyết bắt ông thầy phải làm cho cô bé một bài thơ. Nếu không thì không chịu học. Cái này thì đúng là tiểu thơ muốn hại “đời tư” của tôi đây. Mang tiếng là học ban C nhưng hồi giờ tôi có thơ với thẩn gì đâu, chỉ lâu lâu cùng với mấy thằng bạn trong lớp nghịch ngợm bày ra trò chơi nối vần một bài lục bát con cóc để ghẹo cô bạn nào đanh đá trong lớp. Vậy mà hôm ấy, không biết con tim nó ướt át đến cỡ nào, tôi phóng bút làm xong một bài thơ chưa đầy mười phút. Đọc qua nghe có mùi cải lương không chịu nổi, nhưng tôi cũng tự phục mình. Tôi đưa bài thơ cho nàng đọc:

Ngày tháng trôi dần theo nhớ thương
I như duyên nợ đã vấn vương
Nên tình mây nước cùng trăng gíó
Hẹn ở ngày mai một nẻo đường
YÊU vầng trăng sáng in cành lá
Và khúc nhạc lòng dâng đến hương
Ân ái giờ đây là mơ ước
Ngỡ một tâm tình một vấn vương

Cô bé đọc xong không biết có hiểu gì không, (mà thực ra bài thơ cũng có nghĩa gì đâu mà hiểu với không), gật gù khen và hỏi:

– Sao bài thơ không có tên?
– Có tên rồi đó mà tiểu thơ không thấy à?

Cô bé lật qua lật lại mảnh giấy:

– Tên với tựa gì đâu, không thấy. Trả lại thầy, không thèm.

Tôi cười, vuốt ve cô học trò:

– Thì Vân cứ ghép tất cả các mẫu tự đầu ở mỗi câu lại, sẽ thấy cái tựa liền.

Khổ thật, tôi còn phải giải nghĩa thêm mẫu tự là cái gì, thì cô ta mới tìm được cái tựa bài thơ. Cô bé đỏ mặt, vất mảnh giấy có bài thơ xuống đất :

– Không thèm chơi với Thầy nữa.

Nói là không thèm chơi, nhưng cũng kể từ hôm ấy cô bé thân thiết và gần gũi với tôi hơn. Ba nàng cũng thấy tin và quí ông gia sư nhóc tì này, vì thấy con gái cưng của mình chăm học, vui vẻ yêu đời hơn.

Mùa hè năm đó, cô bé theo tôi về nhà quê chơi, nhân tiện có cô con gái của ông chú tôi cùng về thăm quê nội. Dường như đó là lần đầu tiên cô bé ra một vùng quê. Không biết là gió nội hương đồng hấp dẫn cô bé, hay là suốt ngày dung dăng dung dẻ làm nũng làm nịu với “ông Thầy”, cô bé ca hát líu lo và bảo là yêu… đồng quê ghê lắm. Và đó cũng là một mùa hè đẹp nhất, có ý nghĩa nhất trong đời học trò của tôi, dù ở quê tôi chẳng có cây phượng vĩ và cũng chẳng nghe có tiếng con ve sầu nào rên rỉ.

Hai năm sau, tôi rời Nha Trang vào Sài gòn học tiếp. Tôi buồn và tiếc nuối vì phải chia tay cái nghề gia sư với cô hoc trò nhỏ nhưng có đôi mắt thật to… của mình. Cô bé được ông già chở lên ga Nha trang tiễn tôi đi. Tôi cũng cố làm ra vẻ “đi là chết ở trong lòng một ít”, làm cô bé mủi lòng muốn khóc. Ông già cứ tưởng là nhờ ơn tôi mà cô bé vừa đậu cái bằng trung học kỳ rồi, nên cũng nắm chặt tay tôi, lì xì một mớ tiền và cám ơn rối rít…

Vậy mà cái tình yêu ấy (không biết có đúng là tình yêu hay không, nhưng cứ nói như thế cho nó lãng mạn và người lớn một chút) cũng làm cho lòng tôi xốn xang một dạo

Sau đó chỉ có vài lần tôi nhận được thư cô bé, kể chuyện những bạn bè thân quen của cô bên trường Nữ, và chuyện chiếc máy bay phản lực rơi xuống bên cạnh rạp Tân Tân, nơi mà lần đầu tiên tôi biết cô bé nhờ chiếc vélo của cô tông tôi ngã xuống bên lề đường. Nhưng lần nào cũng kèm theo một bài thơ tình… con cóc.

Năm năm sau, khi cô bé đã trở thành người lớn và quên “ông Thầy” thích đọc thơ tình cho cô học trò… lim dim đôi mắt, thì cũng là lúc tôi hát khúc Biệt Kinh Kỳ, xếp bút nghiên theo việc kiếm cung.

Ra trường, tôi được bổ sung về một đơn vị lưu động trên vùng Cao nguyên gió lạnh mưa mùa. Năm 1972, tôi bị thương trong trận Mủa Hè Đỏ Lửa ở Kontum, được đưa về QYV Pleiku điều trị. Khi vết thương vừa lành, tôi nhận Sự Vụ Lệnh của đơn vì đề cử về Sài gòn trong đoàn “chiến sĩ xuất sắc” được Tổng Thống tiếp đón tại khu vườn Dinh Độc Lập. Thực ra là tôi có xuất với sắc cái gì đâu. Khi còn độc thân thì hăng máu lắm, chứ đã có vợ rồi thì cũng hơi lạnh cẳng, ngại cái cảnh “anh trở về dang dở đời em”. Nhưng chiến tranh đang hồi ác liệt, nếu cử chiến sĩ xuất sắc thứ thiệt đi thì thiếu người đánh giặc giỏi, mà lại hao hụt quân số tác chiến, tôi đang trong tình trạng bất khiển dụng, nên cho tôi đi là nhất cử lưỡng tiện. “Chiến sĩ xuất sắc” được ưu ái đi bằng máy bay dân sự. Tại phi trường Pleiku bụi đỏ, tôi bất ngờ gặp lại Tiểu Thơ khi tôi vừa ngơ ngác bước lên máy bay Air Vietnam và khựng lại trước đôi mắt thật to của cô hôtesse de l’air đang mỉm cười chào khách. Trong chiếc áo dài màu thiên thanh, có thêu hai con rồng trên cổ áo, nàng đẹp như một nàng tiên. Khi chiếc máy bay DC 4 đã lấy lại thăng bằng trên cao độ, nàng đến ngồi chiếc ghế trống trước mặt tôi, quay ra sau trò chuyện. Trong chớp nhoáng, tôi biết là nàng đã có chồng. Anh ta là một phi công phản lực F5, thuộc đơn vị Biên Hòa. Hai người làm đám cưới hơn một năm. Tôi nghĩ, con gái đẹp thường chọn mấy ông không quân, vừa được tiếng có ông xã hào hoa, đi mây về gió, vừa khó trở thành góa phụ. Anh phi công nào phải vừa bô trai vừa tốt số lắm mới lọt được vào đôi mắt của Tiểu Thơ này. Tôi nghĩ như thế mà lòng thì cũng thấy một chút bâng khuâng.

Chỉ nói chuyện được vài câu, nàng ghi địa chỉ của tôi ở Sài gòn, rồi hẹn sẽ cùng đức lang quân ghé đón đi Maxim nghe Lệ Thu hát bài Kỷ Vật Cho Em. Tôi cười, bảo là rất sợ bài hát này, cái bài hát mà thằng lính nào nhát gan nghe xong là không còn muốn “đáo nhậm” đơn vị nữa. Cuối cùng nàng đến có một mình, “ông xã” vừa mới biệt phái ra Vùng 1. Tối đó thay vì đến nhà hàng Maxim, nàng đưa tôi ra Quán Cái Chùa cho có vẻ nghệ sĩ một chút, mời “ông Thầy” uống cà phê có hương vị Tùng Đà Lạt – mà chủ nhân thường pha chế đặc biệt cho riêng nàng – để nhớ những ngày cô còn ở đó… Dường như khi đã lớn rồi, người ta lại muốn tìm về cái thời đi học. Hai đứa chỉ ngồi nhắc lại chuyện Nha Trang, chuyện mấy bài thơ con cóc, rồi chia tay không hẹn ngày tái ngộ. Thời chiến tranh mà, “cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi” biết đâu mà hẹn.

Tháng 3/1975, Nha Trang rồi cả Vùng 2 mất. Bao nhiêu năm sống chết với núi rừng Hoàng Triều Cương Thổ, tôi theo đơn vị chỉ còn một phần tư quân số “di tản” vào Vũng Tàu để tái bổ sung, rồi kéo xuống tham dự những trân đánh cuối cùng cô đơn và buồn tẻ ở những địa danh xa lạ: Bến Lức, Cần Giuộc thuộc tỉnh Long An, nhằm ngăn chận địch quân đang tràn về vây hãm và pháo kích Sài Gòn.

Cũng như nhiều đơn vị khác, vào giờ thứ 25, chúng tôi đánh giặc không có “đại bàng”. Lần cuối cùng tập họp anh em lại hô “tan hàng” mà không còn nghe “cố gắng” nữa, thì tôi mới biết là ông tướng tư lệnh đã có mặt trên đệ thất hạm đội Mỹ trước đó hai ngày rồi! Thôi thì, xưa nay người ta đã nói”nhất tướng công thành vạn cốt khô” mà. Cuối cùng thì miền Nam cũng thất thủ. Đám tụi tôi được người “anh em” chiến thắng mời vô trại cải tạo để được hưởng “chính sách khoan hồng của kách mệnh”!

Tám năm lưu đày từ nam ra bắc, cuộc đời thôi đành cứ như gởi theo những đám mây bay. Cái hạnh phúc bây giờ chỉ còn là những phút giây hồi tưởng. Mà hồi tưởng cũng phải “cảnh giác”, chứ không khéo cũng bị cùm vì cái tội “luyến tiếc quá khứ”. Bạn bè cùng cảnh luyến tiếc điều gì thì tôi không biết, nhưng riêng tôi lại tiếc nhớ cái tuổi học trò, và cái thời con tim mới biết yêu. Tôi lại nhớ đến Tiểu Thơ, đến đôi mắt tròn xoe của cô bé, và nhớ tới cái hạnh phúc làm “gia sư” của tôi còn hơn là nhớ tới mười mấy năm làm bạn với ông Nguyễn Bắc Sơn “ta vốn hiền khô – ta là lính cậu, đi hành quân rượu đế vẫn mang theo, mang trong đầu những ý nghĩ trong veo, xem chiến cuộc như tai trời ách nước”. Tôi hình dung bây giờ chắc nàng đang hạnh phúc ở một chốn thiên đường nào bên nước Mỹ. Ông xã là không quân mà, lại đóng ở Biên Hòa nữa. Chỉ cần một lần cất cánh nhẹ nhàng là thay đổi cả cuộc đời.

Ra tù, trở lại thành phố xưa, tôi có cảm gíác Nha Trang sao bây giờ xa lạ quá, không còn là “hang động tuổi thơ”của bọn tôi ngày trước nữa. Nhưng rồi tôi cũng đâu có được phép ở lại cái thành phố này, mà phải về tạm trú ở quê tôi ngoài Vạn Giã. Ở đó tôi chỉ còn một bà cô già sống quạnh hiu trong ngồi nhà từ đường có mái ngói âm dương của ông bà nội. Cha tôi thì cũng đã chết cách đây sáu năm trong trại cải tạo Đá Bàn. Mồ mả còn chưa biết ở đâu. Nhưng rồi tôi còn có cái may, là gần như mỗi ngày tôi đều ghé lại Nha Trang một lần, bởi tôi được ông anh bà con cho tôi làm tài xế phụ kiêm lơ xe cho chiếc xe đò nhỏ của ông chạy đường Nha Trang – Tuy Hòa. Xe chạy bằng than và khách hầu hết là mấy bà đi buôn chuyến.

Một hôm tôi đang lui cui đứng trên mui, thì một bà khách kêu tôi  nhấc hộ đôi thúng của bà lên. Bà lấy hết sức đưa từng chiếc thúng lên, nhưng rồi lại bị sà xuống. Trong đôi thúng là những thỏi đường màu đen khá nặng. Tôi phải dùng một cây móc sắt đưa xuống, bảo bà móc vào để tôi kéo lên. Khi lấy sức kéo đôi thúng lên tôi bất ngờ gặp đôi mắt thật to và tròn xoe. Đôi mắt nhìn tôi tựa hồ như xoáy vào lòng tôi nhát dao đau buốt. Tôi nhảy xuống xe, nắm chặt đôi vai gầy còm của bà khách:

– Là em, là Tiểu Thơ đây à?

Nàng nhìn tôi, rồi nước mắt đầm đìa.

– Tiểu Thơ, à quên… Vân, làm sao mà em lại ra đến nỗi này.

Nàng cúi xuống im lặng, không nói một lời nào.

Ra đến Tuy Hòa, tôi gánh hộ nàng gánh đường giao cho một cái quán trong chợ, rồi mời nàng đi ăn cơm trưa. Tôi đang nóng lòng được biết về hoàn cảnh của nàng:

– Ông xã em bị kẹt ngoài Vùng 1 rồi mất tích luôn từ đó tới bây giờ. Em có đi hỏi một vài người bạn cùng phi đoàn, thì họ cho biết là anh ấy bị bắn rơi khi yểm trợ cho anh em Thủy Quân Lục Chiến rút về Đà Nẵng. Em chờ đợi xem anh có bị bắt cầm tù ở đâu không, nhưng đến bây giờ thì chắc chắn là anh đã chết thật rồi.

– Còn ba em đâu?
– Nhà cửa ba em bị tịch thu hết. Ông bị bắt đi cải tạo với lý do từng thầu xây cất doanh trại cho Mỹ trong phi trường. Chỉ một năm là ông chết.
– Vậy bây giờ Vân ở với ai?
– Em ở với con gái em. Nó gần mười tuồi rồi. Khi gặp anh ở Sài gòn là em vừa mang thai nó mà chưa biết. Mẹ con em được đền bù một căn nhà tôn nhỏ của thương phế binh hồi trước, nằm sau ga xe lửa.

Tôi nhét vào tay Vân tất cả số tiền mà tôi kiếm được hôm ấy, bảo nàng mua hộ tôi quà cho cháu gái.

Sau đó, tôi gặp lại nàng chỉ thêm hai lần nữa, vì ông anh họ tôi đã phải bán rẻ cái xe hơi cho người khác, bởi không đủ tiền sửa chữa mà còn cứ bị chính quyền trưng dụng đi chở lúa cho hợp tác xã, không trả một đồng nào. Cũng đúng vào lúc này, tôi tính chuyện vượt biên.

Tôi kể chuyện Tiểu Thơ cho vợ tôi nghe. Bây giờ tôi thương cô như một người em gái. Vợ tôi tốt bụng, thương mẹ con cô cũng như hoàn cảnh của chính mình, sẵn sàng cùng tôi giúp mẹ con nàng đi cùng chuyến vượt biên, do chính tôi tổ chức.

Một tuần trước khi ra đi, tôi vào Nha Trang tìm đến nhà nàng. Căn nhà khóa kín cửa. Tôi chờ đến tối mà chẳng thấy mẹ con cô trở về. Tôi gõ cửa căn nhà bên cạnh. Chủ nhà lại là một anh thương phế binh, nhờ mất cả hai chân nên không bị đuổi khỏi nhà… Anh cho biết là mẹ con nàng đã dọn đi đâu cả mấy tuần rồi, không thấy về nhà.

Trời thương, chuyến vượt biên cũng đến được bến bờ, nhờ một chiếc tàu chở dầu của Vương Quốc Na Uy vớt trên biển, trước khi cơn bão ập đến. Với ân tình này, vợ chồng tôi chọn Na Uy là nơi để gởi gấm phần đời còn lại của mình và vun đắp tương lai cho mấy đứa con nhỏ dại.

Mùa hè năm 1989, vợ chồng tôi đưa hai cô con gái sang Mỹ học, nhân tiện ghé thăm và chia buồn gia đình ông anh họ, đi từ năm 78, định cư ở thành phố Sacramento, bắc Cali. Anh chị vừa có thằng con trai bị chết đuối khi theo cha đi câu ngoài biển.

Bao nhiêu năm gặp lại nhau, anh chị tiếp đón chúng tôi thật ân cần, nhưng không vui vì cái bàn thờ đứa con trai còn nghi ngút khói  hương.

Sáng hôm sau, anh chị đưa tôi đến nghĩa trang thăm mộ cháu rồi chở chúng tôi đến một ngôi chùa Sư Nữ ở gần đó, để bàn việc làm lễ cầu siêu cho cháu. Anh cho biết anh chị rất thân quen với Sư Bà trù trì, Bà rất quí anh chị không chỉ vì biết nhau từ lúc còn ở Nha Trang mà vì anh làm nghề thầu sửa chữa nhà cửa, nên cả ngôi chùa này phần lớn là do công sức của anh cúng dường.

Ngôi chùa không lớn lắm, khu chánh điện còn đang dang dở, nhưng vườn khá rộng và trồng nhiều loại hoa. Trong chùa tiếng tụng kinh, gõ mõ càng đượm không khí trang nghiêm. Chúng tôi được một cô phật tử mời ngồi uống trà và xin chờ chừng nửa tiếng, vì Sư Bà đang cúng ngọ.

Khi ông anh bà chị đứng bật dậy, chúng tôi chợt nhìn thấy Sư Bà vừa bước ra. Tôi ngạc nhiên vì Sư Bà còn trẻ và trông rất phương phi, nhất là hai tai thật to và dài xuống như tai các tượng Phật tôi thường nhìn thấy trong các ngôi chùa. Điều làm chúng tôi thú vị là bà rất vui vẻ cởi mở. Bà bảo bà cũng là dân Nha Trang nên rất mừng khi tiếp được người đồng hương từ tận bắc Âu đến viếng.

Sau một lúc hàn huyên, tôi biết được Sư Bà là người có trình độ học vấn cao. Bà có cử nhân Văn Khoa và đang học năm cuối cao học văn chương tại đại học Vạn Hạnh thì miền Nam thất thủ.

Điều ngạc nhiên hơn là Sư Bà cho biết có khá nhiều ni cô gốc Nha trang đang tu ở chùa này, trong đó có con gái của ông chủ tiệm ảnh nổi tiếng một thời ở đường Phan Bội Châu mà ngày xưa tôi cùng đám bạn bè thường đến để chụp ảnh, con gái một bà chủ tiệm vàng trước Grande Pharmacie, và một vài ni cô nữa. Bà còn bảo thật là tội nghiệp, có vài cô đã gặp bao nhiêu nghịch cảnh thương tâm trên biển Đông, chồng chết con chết, chỉ còn lại một mình. Ban đầu, Bà đưa về chùa cưu mang, rồi sau đó các cô xin được xuống tóc qui y luôn. Sư Bà mời chúng tôi ở lại dùng cơm chay cùng với Bà, nhân tiện bà giới thiệu với mấy ni cô gốc Nha Trang cho biết, bởi tôi cũng là một phật tử thuần thành.

Tôi theo ông anh bà chị xuống bếp phụ dọn cơm. Nhưng ông anh ngăn lại:

– Chú là người lạ, không nên vào bếp. Hôm nay chú thím là khách của Sư Bà mà.

Ngồi dọc theo chiếc bàn dài, gồm các ni cô và một vài phật tử, chỉ có chúng tôi là “dân sự”. Sư Bà giới thiệu chúng tôi là đồng hương, những phật tử đến từ tận Bắc Âu. Tôi vừa đứng lên chấp hai tay trước ngực, bỗng bất ngờ bắt gặp đôi mắt thật to, tròn xoe của một ni cô ngồi ở phía cuối bàn. Ni cô cũng vừa nhìn tôi rồi cúi xuống. Đôi mắt đó với tôi có một cái gì thần giao cách cảm. Đúng. Trên thế gian này chỉ có Tiểu Thơ mới có đôi mắt ấy mà thôi

Dùng cơm xong, là đến giờ nghỉ trưa của Sư Bà. Chúng tôi cám ơn Sư Bà và xin được cúng dường một số hiện kim để trùng tu chánh điện.

Tôi từ giã Sư Bà, trong lúc mắt nhìn quanh như muốn tìm kiếm một điều gì. Nhưng tất cả chỉ có im lặng, ngoài tiếng chuông chùa ngân nga như chẳng bao giờ muốn tan đi trong không gian bao la vô tận.

Tôi bước ra khỏi cổng chùa. Chùa nằm trên một khu đất bằng phằng, nhưng sao tôi có cảm giác như mình đang lững thững bước xuống chân đồi. Tôi hình dung đến Ngọc vừa chia tay “chú tiểu” Lan lần cuối cùng ở chùa Long Giáng trong Hồn Bươm Mơ Tiên của nhà văn Khái Hưng, mà ngày xưa Tiểu Thơ đã bắt tôi phải kể đi kể lại bao nhiêu lần.

Phạm Tín An Ninh

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Tiểu Thơ – Truyện ngắn của Phạm Tín An Ninh