Người Hoa Kỳ viết về Văn Học Miền Nam- Trần Doãn Nho

Một tác giả Hoa Kỳ viết về
Văn Học Miền Nam

Trần Doãn Nho

IMG_0211D4492A66-1

Vào ngày 11/11/2021, tạp chí “The Los Angeles Review of Books” (LARB) cho đi một tiểu luận của Anthony Morreale nhan đề là “Nhìn Lại Nền Văn Học Miền Nam Bị Bỏ Rơi” (Abandoned: Reconsidering the Literature of South Vietnam). Mặc dầu có nhiều điểm chúng ta chưa hoàn toàn đồng ý với tác giả, nhưng có thể nói đây là một bài viết thuộc loại khá hiếm hoi với cái nhìn đầy thiện cảm về nền văn học Việt Nam Cộng Hòa của một nhà nghiên cứu Hoa Kỳ. Xin tóm lược một số nhận định của bài viết để giới thiệu cùng bạn đọc.

Sự sụp đổ của Kabul (Afghanistan) mới đây nhắc nhở Morreale đến sự sụp đổ của Sài Gòn gần 5 thập niên trước. Đối với người Mỹ, khi nhắc đến Việt Nam, nó không chỉ ám chỉ một dân tộc ở Đông Nam Á, mà còn quy cho những tranh chấp trong xã hội Hoa Kỳ ở giữa thế kỷ 20. “Những cuộc tranh đấu giữa các chủng tộc, giai cấp, và thế hệ được cô đọng vào một điểm nóng duy nhất và được phóng chiếu vào một con bung xung: Việt Nam.”Ấy thế mà, không những đất nước của những người đã góp xương máu và công lao cho chính nghĩa của miền Nam Việt Nam bị quên lãng mà linh hồn của miền Nam Việt Nam cũng bị phủ nhận. “Đó là lý do tại sao Miền Nam Việt Nam đã bị quên lãng một cách kỳ lạ trong phim tài liệu mới đây như “The Vietnam War” và tuyển tập văn chương như “Other Moons: Vietnamese Short Stories of the American War and Its Aftermath.”

Morreale không chấp nhận thái độ đó. Theo ông, “Để xua đuổi tà ma khỏi thế hệ chết chóc của chúng ta, và cắt dứt khỏi cái vòng chối bỏ luẩn quẩn này,” người Mỹ cần phải thành tâm cầu nguyện cho những linh hồn đã bị bỏ rơi, bằng cách phiên dịch lại văn chương của Việt Nam Cộng Hòa. “Bởi vì văn chương của một dân tộc là cái vỏ thời gian của cảm hứng quốc gia.” Nếu chỉ qua lịch sử mà con người có thể đi xuyên qua hàng thế kỷ để chia xẻ tư tưởng của tiền nhân, thì “văn chương là một phương tiện để giao cảm với linh hồn, để cho linh hồn sở hữu chúng ta, nói chuyện xuyên qua chúng ta và thì thầm lời chứng của họ vào trái tim chúng ta.” Nếu tiếp tục làm ngơ, “chúng ta đã mang họ theo chúng ta với một lương tâm cắn rứt.” Bằng cách thừa nhận họ, bằng cách phiên dịch văn học của họ, “chúng ta sẽ lấy lại được một phần nào cái đã mất của chúng ta, và mở ra một con đường đã đóng đối với con cái họ ở giữa chúng ta trong cộng đồng lưu vong.”

Đây không phải là điều dễ dàng. Vì theo Morreale, văn chương dịch thuật hiện đang lưu hành ở Hoa Kỳ tràn đầy tác phẩm của những tác giả cộng sản miền Bắc và những tác giả bất đồng chính kiến cộng sản thời hậu-cải-cách. “Các mối quan hệ nền tảng của công việc dịch thuật rõ ràng được hình thành nhằm để hòa giải giữa những người cộng sản Việt Nam với giới trí thức Mỹ (chủ yếu là những người da trắng và có xu hướng tự do), thường đi ngược lại ước muốn của những trí thức miền Nam cũ và những lãnh tụ cộng đồng di dân, những người chẳng nhận được bao nhiêu từ một cuộc mặc cả như thế. Những người tỵ nạn miền Nam viết văn bằng tiếng Việt cũng không được đưa vào lãnh vực nghiên cứu người Mỹ gốc Á đang phát triển lúc bấy giờ.” Đối với các nhà xuất bản ở Hoa Kỳ, ý thức về “văn chương” Việt Nam chỉ tập trung vào hai thành phần: một là những nhà văn bất đồng chính kiến hay kể- như- bất- đồng- chính-kiến ở Việt Nam như Bảo Ninh, Dương Thu Hương, Nguyễn Huy Thiệp và Phạm Thị Hoài; hai là những nhà văn Mỹ gốc Việt như Ocean Vương (đoạt giải Macarthur Genius Grant) và Nguyễn Thanh Việt (đoạt giải Pulitzer).

Nhiều người Mỹ vẫn còn hiểu lầm rằng những người miền Nam Việt Nam là “những cư dân sống dọc theo bờ biển và những thung lũng trải dài từ vĩ tuyến 17 đến Vịnh Thái Lan.” Thực ra, phần nhiều trong số những công dân Việt Nam Cộng Hòa, đặc biệt là giới trí thức và văn chương, đã di cư từ miền Bắc trước năm 1956: hơn 800 ngàn người. Miền Nam Việt Nam là một tập thể pha tạp, gồm nhiều nhóm khác nhau: tín đồ Thiên Chúa Giáo, tín đồ Phật Giáo, người quốc gia thuần túy, những người theo phái Đệ Tứ (Trotskyists) và những người dân chủ xã hội. Các cuộc đấu đá ý thức hệ và chính trị đã chia rẽ xứ sở này ngay từ thập niên 1920, trở thành đẫm máu toàn diện qua suốt thời kỳ Đệ Nhị Thế Chiến.

So sánh giữa hai miền Nam, Bắc, Morreale cho rằng cương lĩnh miền Bắc khá rõ ràng, đó là chế độ Marxist-Leninist. Miền Bắc chính thức tưởng niệm cái chết của Stalin. Các tổ chức quần chúng tiến hành công việc hàng ngày của những công dân với đầu óc như khuôn đúc. Chế độ đó, “Nó đỏ, hung hăng,tàn nhẫn và hiệu quả.” Trong lúc đó, chế độ miền Nam bị chia rẽ do sự tranh giành quyền lực giữa nhiều phe phái khác nhau. Cuộc tranh giành này “kéo theo Hoa Kỳ vào một cách oan nghiệt, mang theo thứ công thức của kẻ túi đầy tiền nhưng ngu dốt và nông cạn, như đổ thêm dầu vào lửa.”

Tuy nhiên, về văn chương thì khác. “Bất cứ là lý do gì, hầu hết những nhà phê bình văn chương Việt Nam đương đại đều đồng ý rằng miền Nam đã sản xuất ra một số tác phẩm văn chương hay nhất, hay hơn rất nhiều so với những tác phẩm ra đời ở miền Bắc trong cùng thời kỳ. Có lẽ là vì văn chương miền Bắc bị kiểm duyệt nặng nề trong lúc sự tự do trí thức ở miền Nam đã giành chỗ cho nó phát triển. Hay có thể bí ẩn của một nền văn chương hay ho xuất phát từ triết lý, và sự đón nhận tư tưởng của những ngôi sao sáng như Heiddegger, Sartre, và Barthes, trộn lẫn với tinh hoa có sẵn của Phật Giáo, Khổng Giáo, Thiên Chúa Giáo của miền Nam đã thổi một hơi thở tươi mới vào thế hệ của những tác giả trẻ hơn. Một trong những giải thích được ưa thích của tôi [về tình trạng này] là từ nhà văn cựu du kích cộng sản Nguyên Ngọc. Ông nói với tôi rằng một nền văn học dân tộc hay ho phải chuyển những vấn đề quốc gia hạn hẹp thành những vấn đề bao quát của nhân loại. Trong lúc miền Bắc đã cột cái ách quyền lợi quốc gia lên cổ các tác giả, thì ở miền Nam, các nhà văn được đi lang thang qua các đồng cỏ rộng lớn hơn. Hiện nay, ông lão 90 tuổi Nguyên Ngọc dẫn đầu một nhóm các nhà trí thức tái giới thiệu văn học miền Nam sau bốn thập niên bị đàn áp.”

Morreale đặt câu hỏi: Trong lúc nhiều tiểu thuyết cổ điển của nền văn học cũ của miền Nam đã nhận được sự thừa nhận của kẻ thù cũ, thì tại sao chúng lại không có được sự lưu ý của những người đồng minh cũ (là Hoa Kỳ)?Ông cho rằng, “Chúng ta [Hoa Kỳ] nên làm, vì những tác giả miền Nam đã nói lên những khía cạnh nhân bản phổ quát của thân phận họ.” Họ là những người yêu tự do, xem tự do con người là “một vấn nạn cần được lý giải. Họ vật lộn với nó, hoài nghi nó, tháo nó ra rồi ráp nó lại.” Ám ảnh về tự do được thể hiện rất rõ ở tập thơ “Tôi Không Còn Cô Độc” của Thanh Tâm Tuyền. Sự xuất bản tác phẩm này là một bước ngoặt đối với “các xu hướng phân tâm học và hiện sinh đi quanh co qua hai thập niên văn học miền Nam.” Đề tài tương tự cũng được tìm thấy ở nhiều tác giả nổi tiếng khác, chẳng hạn như Dương Nghiễm Mậu với hai tác phẩm “Gia Tài Của Mẹ” và “Tuổi Nước Độc”. Theo ông, tính cách tự do ở miền Nam không chỉ giới hạn ở nam giới. Những cây bút phụ nữ lần đầu tiên xuất hiện trong sinh hoạt văn chương Việt Nam là có ngay một số lượng độc giả lớn lao vì họ dám đi ngược lại với những điều cấm kỵ truyền thống như Trần Thị NgH, Nhã Ca, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Nguyễn Thị Hoàng. Trong thời gian qua, một số tác phẩm của Nguyễn Thị Thụy Vũ và Nguyễn Thị Hoàng vừa được tái bản ở trong nước sau hàng chục năm chỉ được lưu hành trong cộng đồng hải ngoại.

Morreale ghi nhận công lao của những nhà văn miền Nam lưu vong. Ông cho biết, “Nền văn học dân tộc này có thể sẽ mãi mãi bị đánh mất nếu không có sự kiên trì của cộng đồng Việt Nam hải ngoại. (…) Nền văn học của họ đã được cứu vớt bởi những người khổng lồ như Võ Phiến, người đã giành tiền tiết kiệm và những năm tháng vàng son của mình để sưu tập, phân loại và phân tích văn học Miền Nam, trong khi vẫn tiếp tục làm việc kiếm sống với tư cách một người tiểu công chức của thành phố Los Angeles. Bộ Văn Học Miền Nam Tổng Quan gồm bảy tập của ông giới thiệu, phân tích và tuyển chọn tác phẩm của hơn 100 nhà văn Miền Nam, một công việc cẩn thận được tiến hành chậm chạp vìthiếu tài liệu và vì sức khỏe.” Morreale cho biết cùng với Võ Phiến, vài khuôn mặt hải ngoại khác như Nguyễn Mộng Giác, Phạm Phú Minh, và Thụy Khuê ở Pháp, đã xây dựng nên một cộng đồng Việt ngữ sinh động bằng báo in và các trang mạng. Nhưng vẫn còn vô số những người vô danh khác đã trải qua hàng thập niên kêu gào trong vô vọng. Hôm nay, tiếng nói của họ đã truyền qua thế hệ con cháu họ. Nhưng hầu hết thế hệ trẻ, tạm mượn chữ của nhà văn Nguyễn Thanh Việt, “đã mất tiếng mẹ đẻ, hay đã bị cắt đứt hẳn để chỉ sử dụng thứ ngôn ngữ tạm dung, chỉ còn một nhúm nhỏ càng ngày càng teo đi của cộng đồng lưu vong còn có khả năng cần thiết để đọc văn chương Việt Nam.”

Trong tình hình như thế, Morreale cảnh báo, nếu người Mỹ vẫn cứ bình chân như vại, thì sẽ chẳng có ai làm gì. “Cánh cổng đang khép lại và cùng với nó, cái cơ may của hàng triệu ngưởi Mỹ gốc Việt trẻ còn cảm thông với thế hệ cha anh cũng sẽ không còn nữa. Đây là lần phản bội thứ hai của người Mỹ.” Ông nhấn mạnh, “Nhưng ngoài sự phản bội, chúng ta còn đang tự lừa dối mình. (…) Chúng ta tự che chắn mình khỏi những bài học gian khổ của những người miền Nam, mà nhiều người trong số đó bây giờ là đồng hương của chúng ta. (…) Văn học của họ chứa đựng những suy ngẫm thông minh và sâu sắc nhất được tôi luyện từ cuộc chiến tạo ra thế giới đó (world-making war).”

*****

Tác giả Anthony Morreale đang làm luận án tiển sĩ tại Phân Khoa Lịch Sử, trường Đại Học Berkeley, California, nghiên cứu về lịch sử kinh doanh của các doanh nhân Việt Nam vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. Trước đây, ông đã từng nghiên cứu về lịch sử dịch thuật các tác phẩm Cộng Sản kinh điển sang tiếng Việt và lịch sử về chính sách chống người Hoa của Việt Nam Cộng Hòa.

TDN  (12/2021)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Người Hoa Kỳ viết về Văn Học Miền Nam- Trần Doãn Nho

Cuộc sống sẽ bình thường sau 2 tháng nữa ???

Ánh Sáng Cuối Đường Hầm?

Chuyên gia về Omicron tiên đoán:
“Cuộc sống bình thường sẽ trở lại sau 2 tháng nữa….!”

ĐAN MẠCH – Theo Tyra Grove Krause, trưởng nhóm dịch tễ học tại Viện State Serum ở Đan Mạch, biến thể Omicron của COVID-19 sẽ quét sạch tất cả các biến thể khác của vi rút và thế giới sẽ “có cuộc sống bình thường trở lại sau hai tháng nữa,” trang Greek Reporter đưa tin ngày Thứ Ba, 4 tháng 1 năm 2022.

Bà Krause cho biết, biến thể Omicron sẽ dẫn đến sự kết thúc của đại dịch COVID-19, dẫn chứng kết quả của một nghiên cứu mới ở Nam Phi, quốc gia chứng kiến một trong những đợt bùng phát sớm nhất của Omicron.

Trả lời trên kênh truyền hình Đan Mạch, bà Krause nói nghiên cứu mới của viện cho thấy nguy cơ phải vào bệnh viện do biến thể Omicron chỉ bằng một nửa so với biến thể Delta. Omicron sẽ tiếp tục làm gia tăng số ca nhiễm, sau đó sẽ giảm mạnh và rất nhanh.

“Tôi nghĩ trong hai tháng tới, đại dịch sẽ vào hồi kết thúc, tình trạng lây nhiễm sẽ bắt đầu giảm bớt và chúng ta sẽ có cuộc sống bình thường trở lại,” bà cho biết. “Omicron sẽ đạt đỉnh vào cuối tháng 1, và vào tháng 2, chúng ta sẽ thấy áp lực lây nhiễm giảm dần, các hệ thống chăm sóc sức khỏe cũng sẽ dễ thở hơn.”

Krause cũng cảnh báo “Nhưng mà chúng ta phải nỗ lực rất nhiều để vượt qua tháng Một.” Bà giải thích rằng biến thể Omicron cực kỳ dễ lây lan dường như nhẹ hơn bất kỳ biến thể nào khác đã biết trước đây của vi rút, điều này có nghĩa là nhiều người sẽ bị nhiễm, nhưng có các triệu chứng ít nghiêm trọng hơn – và sau đó trở nên miễn dịch. Đó là cách thế giới có thể thật sự đạt được khả năng miễn dịch cộng đồng, để quay lại cuộc sống bình thường.

Khả năng miễn dịch đối với biến thể Delta sau khi bị nhiễm Omicron.

Viện Nghiên cứu Sức khỏe Châu Phi ở Durban đã thực hiện một nghiên cứu quy mô nhỏ vào tháng 12 năm 2021, và thấy rằng những người đã bị nhiễm Omicron thực sự có khả năng miễn dịch cao hơn với biến thể Delta; và khả năng miễn dịch còn rõ rệt hơn ở những người đã được tiêm phòng.

Xác định các mục tiêu mới khi đại dịch vẫn đang hoành hành

Khi biến thể Omicron tiếp tục làm gia tăng số ca nhiễm trên toàn thế giới, hầu hết các chuyên gia đều tin dù đại dịch rồi sẽ kết thúc, nhưng một số dạng của con vi rút “mãi mãi ở bên chúng ta.”

Sẽ không có ‘liều thuốc duy nhất’ có thể diệt tất cả các dạng vi rút; hoàn toàn ngược lại. Mọi người ai cũng đã kiệt sức sau gần hai năm đối phó với đại dịch, về mặt xã hội, tài chính và cá nhân. Thế giới sẽ phải tìm ra một hướng đi khác, học cách sống với và kiểm soát rủi ro.

Số ca nhiễm Covid-19 ở Đan Mạch đang tăng cao trong vài tuần qua. Hôm Chủ Nhật, 2 tháng 1 năm 2022, Đan Mạch ghi nhận số ca nhiễm trung bình tuần lên tới 20,886, cao nhất từ trước đến nay. Hầu hết các ca nhiễm chỉ bộc lộ triệu chứng nhẹ. Bà Krause nói điều này phần nào giúp tăng mức độ miễn dịch của cộng đồng.

Chuyên gia dịch tễ hàng đầu Đan Mạch khuyến cáo người dân tiếp tục thực hiện các biện pháp phòng dịch, giãn cách xã hội và tự cách ly ở nhà nếu bộc lộ triệu chứng.

Bà Krause đưa ra bình luận vài ngày sau khi  Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) có bày tỏ sự lạc quan với đại dịch. “Chấm dứt sự bất bình đẳng mới có thể chấm dứt đại dịch và cơn ác mộng toàn cầu,” Adhanom Ghebreyesus, tổng giám đốc WHO, cho biết.

Vi rút rồi sẽ ‘cực thịnh tất suy’

CDC Hoa Kỳ đã giảm thời gian cách ly đối với những người bị nhiễm COVID-19 xuống còn 5 ngày, và giải thích rõ ràng là họ dễ lây nhiễm nhất trong 2 ngày đầu và 3 ngày sau khi xuất hiện các triệu chứng.

Theo Bác sĩ William Moss của trường Johns Hopkins Bloomberg, “vi rút sẽ phát triển tối đa” và rồi không thể tạo ra các biến thể mãi được. Ông nói: “Tôi không coi đây là một chu kỳ vô tận của các biến thể mới.”

Nhà miễn dịch học Ali Ellebedy tại trường Washington ở St. Louis nói với Reuters rằng khi đại dịch diễn ra, khả năng miễn dịch cơ bản của chúng ta đã được cải thiện đến mức ngay cả khi trải qua các đợt gia tăng đột ngột, số ca bệnh nặng, vào bệnh viện và tử vong sẽ giảm. Ông dự đoán sẽ tới một lúc nào đó, một người bị nhiễm COVID-19, nghỉ ngơi ở nhà từ hai đến ba ngày, rồi “mọi chuyện lại bình thường. Đó sẽ là lúc đại dịch kết thúc.”

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Cuộc sống sẽ bình thường sau 2 tháng nữa ???

Ai biết Cà Chớn là gì? Xin giải thích

CÀ CHỚN

Hai giờ sáng, điện thoại reo, nghe thằng bạn ó đâm hơn bốn mươi năm không gặp hét: “Đồ thằng CÀ CHỚN” . Cà chớn thì từ nhỏ đến lớn nghe rất quen tai, hổng hiểu từ này có trong tự điển hay không?

 Trèo lên cây bưởi hái hoa
Bước xuống ruộng cà hái ngọn tầm xuân

 Nào là cà độc dược, cà chua, cà pháo, cà tiêu, cà cuống, cà lăm, cà kê, cà khẳng, cà khêu, cà khịa, cà mèn, cà nhắc, cà nhom, cà niễng, cà phê, cà rà, cà rá, cà riềng, cà rỡn, cà sa, cà tăng, cà tửng, cà xốc. Lạ quá không thấy “cà chớn” ghi trong tự điển.

 “Cà chớn” là tiếng lóng ở miền nam, người Trung, người Nam nào cũng hiểu “cà chớn” là gì, nhưng người Bắc thì không biết từ này. Theo các nhà ngôn ngữ học, từ “cà-chớn” bắt nguồn từ tiếng Miên “Kchol”, người Việt phát âm “Cà chon”, đọc trại thành “Cà chớn”, có nghĩa là không đáng tin lắm từ lời nói đến hành động.

Nói ai cà chớn là có ý chê, nhưng cũng không có nghĩa là hoàn toàn xấu. Chẳng hạn “Chờ tới giờ này mà nó chưa đến, đồ thứ cà chớn”, hay “chiếc xe hôm nay cà chớn, đạp máy hoài mà không chịu nỗ”. Tuy nhiên, có thể nặng “Có tới bằng cấp đó, chức vụ đó mà ăn nói lý luận cà chớn quá”.

Vì gốc tiếng Miên, nên chỉ có dân Đàng Trong từ thời Chúa Nguyễn biết từ này, còn người Đàng Ngoài của chúa Trịnh tuyệt nhiên không biết. Từ này nhẹ hơn từ “cà tững”, có nghĩa gần như điên như khùng, thần kinh bị “mát”.

Hai từ “Cà Chớn” rất phổ biến ở miền nam trước 75. Mặc dầu bắt đầu bằng chữ “Cà” nhưng không có nghĩa là thực phẩm dùng để ăn như Cà chua, Cà pháo, Cà tô mát v.v… và cũng không có ý nghĩa là khuyết tật như Cà Lăm !

Cà chớn khó định nghĩa như thế nào cho chính xác. Cà chớn không hề có nghĩa là láo lếu, cũng không có ý nghĩa là xấu xa, nhảm nhí. Thí dụ bạn hẹn một người bạn đi uống cà phê, nhưng anh ta đến muộn, bạn phán là “thằng cà chớn”. Vậy không có nghĩa là anh bạn kia là một người bạn xấu.

Hoặc bạn nghe một người bạn nào đó đùa dai một câu như “trông cô gái kia phốp pháp, có vẻ hạp với ông đấy”. Bạn chỉ có thể kết tội anh ta là cà chớn chứ không thể cho là anh ta nói láo.

Đôi khi nó có nghĩa là xấu, đôi khi nó có nghĩa là vui đùa, đôi khi nó có nghĩa là không tốt, không xấu nữa. Thí dụ, bạn nói về một người bạn rằng: “Thằng ấy nó cà chớn thế thôi chứ không xấu bụng đâu”. Vậy cà chớn là không tốt cũng không xấu.

Xem ra hai tiếng “ cà chớn” này rất khó dịch sang tiếng ngoại quốc. Xin nhờ các dịch giả, các nhà nghiên cứu về ngôn ngữ học làm ơn dịch giùm. Tôi cứ nghĩ, nếu không là người Việt Nam thì khó mà hiểu nổi “cà chớn” có nghĩa là gì.

Tuy nhiên người Việt Nam nào cũng có thể cảm nhận được, hiểu ngầm được hai tiếng này. Nhóm chữ “văn hóa cà chớn” tôi dùng ở đây mang tất cả các ý trên.

Lại cũng xin xác minh rằng hai tiếng “cà chớn” đã có từ thời xa xưa chứ không phải chữ nghĩa hay lời nói mới phát sinh vào thời đại ngày nay ở Việt Nam (không phải chữ nghĩa VC).

Tôi nhớ rằng khi còn nhỏ, khoảng trên dưới 10 tuổi, mỗi buổi chiều khi tôi mê đá bóng hay đánh bóng chuyền, bóng bàn, về nhà trễ, tôi thường bị anh tôi mắng là “thằng cà chớn”. Tôi nghĩ ông ấy đã dùng chữ này thật chính xác. Nếu tôi mê đánh đinh đánh đáo, anh tôi có thể mắng là “thằng bố láo, thằng lười, ham chơi hơn thích học”, nhưng tôi mê thể thao cũng như ông ấy thì ông không dùng chữ “láo” được mà chỉ có thể có thể cho tôi là “thằng cà chớn” là đúng nhất.

Đôi khi người ta còn dùng là “cà chớn, cà cháo”, nhưng chữ “cháo” này không có nghĩa gì khác cả, chỉ là câu nói quen miệng cho trơn, cho xôm tụ thôi. Nhưng khi người ta nói “người ngợm đâu mà bẩn thế”, chữ “ngợm” ở đây có thêm nghĩa xấu, chứ nói về một người tốt, không ai thêm chữ “ngợm” vào cả.

Thế mới biết chữ nghĩa Việt Nam thâm thúy lắm. Cũng cùng một nhóm chữ, nhưng mỗi trường hợp phải được hiểu theo một ý khác nhau và hiểu được đúng lại càng khó. Đôi khi chỉ còn là sự cảm nhận của những người cùng chung một dân tộc, một huyết thống.”

 Nói về VN sau này cũng có nhiều thú vị. Một nhóm bạn xưa gặp nhau nói chuyện tầm phào về người này người nọ từng quen biết từ hồi thơ ấu. Khi đề cập tới một người khá quen biết, một bạn bỗng nói “Anh ấy bây giờ ở gần “kho đạn”, “nỗ” lắm đó, ai mà tiếp xúc với anh ấy thì bị văng miễng chịu không thấu đâu”.

Thật tình, nếu xa VN lâu năm sẽ không hiểu “kho đạn” và “nỗ” là gì. “Nỗ là khoe khoang quá lố, có chút ít lại nói thật nhiều, không có nói thành có, đôi khi khoe khoang lố bịch mà người nói tưởng là người nghe không biết. Rồi đến chuyện “cà”.

Mấy mươi năm ở hải ngoại, lo học hành rồi lo làm việc, chăm sóc gia đình, làm sao biết được sự phát triễn “tiếng lóng” ở trong nước trong mấy chục năm qua. “Sau 75, mấy ông ở miền ngoài vào nam “nỗ” lắm. Chẳng hạn như ở ngoài đó Tivi chạy đầy đường. Một anh miền nam, chơi khăm, cố tình gài câu hỏi: “chớ ngoài đó có biết ăn cà chua không?”. “Ngoài đó, tớ có đủ thứ cà, cà pháo, cà dĩa, cà chua ngon lắm, còn ngon hơn ở trong này”. Anh chàng miền nam bèn gài “chớ ngoài đó có “cà chớn” không?”. “Ối giời, thứ gì thì không rõ chứ thứ “cà-chớn” thì khối ấy”.

 Khi đề cập đến từ cà chớn thì ngày xưa có giai thoại về “Tư Cà Chớn”. Người lớn tuổi gọi anh là “Thằng Tư Cà Chớn”. Còn người nhỏ tuổi hơn không gọi “anh Tư Cà Chớn”, “chú hay bác Tư Cà Chớn”, mà thường gọi trõng là “Tư Cà Chớn”.

Nhà “anh Tư Cà Chớn” là gia đình cố cựu lập nghiệp từ bao đời, nhà có ngôi vườn trái cây rộng lớn vài ba mẫu đất, với ngôi nhà ngói đồ sộ và cổ kính, khác với các túp nhà tôn nhà lá nghèo nàn xây dựng tạm bợ của dân tản cư mới đến lập nghiệp. Nhà anh Tư thuộc loại giàu có hay khá giả trong xóm nhất. Anh “Tư Cà Chớn” được biết đến là do“đài radio Cái Răng” và  Chị Sáu đưa đò.

 Theo lờ chị Sáu cho biết, anh Tư mang danh “Tư Cà Chớn” nhưng sự thật thì anh Tư không đến nỗi “cà chớn” lắm, chỉ vì bị một cô gái lạ mặt chèo ghe trên sông nói anh hát đối “cà chớn”, câu chuyện được lan truyền trong xóm mà anh phải mang danh này từ ngày đó.

Anh là con trai duy nhất trong gia đình nên được nuông chìu. Nghe nói  hồi 4-5tuổi anh suýt chết đuối, nên đầu óc có bị ảnh hưởng chút ít, dầu không đến nỗi “cà tững”. Mặc dầu nhà giàu có, dinh dưỡng đầy đủ mà thân thể anh ốm “cà tong cà teo”.

Anh không thích học hành, từ hồi nhỏ anh chỉ “cà nhõng” trong thôn xóm, tới lớn cũng không có bằng cấp nghề nghiệp gì, mà lại thường “cà rà” ở các quán cà phê bên chợ Cái Răng hay nơi nào có tiệc tùng, có nhiều cô gái.

Nghe nói là ảnh cũng có bạn gái, nhưng rốt cuộc không đi đến đâu. Lý do là vừa mới quen cô gái nào, anh cũng đem giới thiệu khoe với bạn bè, mà nhè bạn bè lại đẹp trai, có nghề nghiệp đàng hoàng và ăn nói có duyên hơn, vì vậy cô bạn mới quen biết nào cũng đều bỏ anh, theo người mới.

Một lần Chị Sáu đưa đò nói với anh Tư: “Tại sao em lại đem bạn gái của mình giới thiệu với các anh bạn đẹp trai làm chi để nay phòng không chiếc bóng”. Anh trả lời tỉnh bơ: “Em thử lòng cô ta, nếu cô ta thực lòng thương em thì dầu gặp ai cô ta cũng vẫn lấy em. Còn nếu cô ta có tính như vậy, thà cô ta bỏ em bây giờ thì vẫn tốt hơn là bỏ em sau này, thế là may mắn cho em đó chớ”.

Chị Sáu đưa đò hết ý khuyên can. Anh Tư thích ca nhạc tân thời, hát vọng cỗ, và hò, nhưng anh ăn nói thuộc loại không có duyên lắm, mà lại hay “cà rỡn”. Chị Sáu kễ tiếp:

 Trong một buổi chiều tối nhá nhem, anh đang chèo ghe câu trên sông Cái Răng, bỗng thấy bóng dáng một cô gái bơi xuồng xa xa. Anh cất tiếng hò chọc ghẹo:

Hò…hơ…ớ…..hơ…lưới thưa anh bủa con cá duồng,
Buông lời mà hỏi bạn…hò….hơ…ơ…. chớ bạn bơi chiếc xuồng đi dâu?!

Cô gái chọc lại:

 Hò….hơ…ơ……lưới thưa em bủa con cá duồng,
Ở nhà em có chuyện hò……ơ…..nên em bơi xuồng đi tìm anh

Anh Tư tưởng bở là cá đã cắn câu, bèn cương câu hò:

 Hò…hơ…..con chim liễu nó biểu con hoàng oanh,
biểu to, biểu nhỏ, hò…hơ…biểu to biểu nhỏ, biểu anh thương nàng.

Cô gái cũng hát cương theo:

Hò ơ, … Anh kia xin chớ vội vàng
Nếu anh có giỏi, hò ơ, thì vài hàng đối chơi
hò….hơ…ơ…chớ con “cá đối” nằm trong “cối đá”
còn “mèo đuôi cụt” nằm “mút đuôi kèo”
nếu anh đối đặng, hò…ơ….. dẫu nghèo em cũng thương.

Anh Tư trả lời nghiêm chỉnh:

Hò…ơ……con “chim mõ kiến” nằm “trên miếng cỏ”,
chim “dàng (vàng) lông” đậu giữa “dòng (vồng) lan”.
Anh đà đối đặng, hò…hơ…. vậy nàng đến đây.

Thấy cô gái không hò trả lời. Anh Tư bèn hò tiếp:

 Hò hơ… ơ, Bớ chiếc ghe sau chèo mau anh đợi.
Hò hơ… ơ, Kẻo giông tắt đèn bờ bụi tối tăm.

 Không ngờ, cô gái hò đáp trả lời:

 Hò hơ… ơ, Bờ bụi tối tăm, anh quơ nhằm cái tộ bể
Hò hơ… ơ, Cưới vợ có chửa về thổi lửa queo râu.

 Qua câu hò đối đáp, biết cô gái chẳng vừa, anh bèn cà rỡn:

 Hò hơ, ơ… Cầu tre lắc lẽo gập ghình
Em xinh, em té xuống sình hết xinh

Cô gái hò đáp:

Hò hơ, ơ…Hởi  anh “cà chớn” kia ơi, em té xuống sình
Sao anh không vớt, mà ngồi chình ình vô duyên.

Cô gái chèo ghe đi khuất. Kễ từ đó, anh mang danh “Tư Cà Chớn”.

 Có những mẫu chuyện vui liên quan đến “cà chớn”:

…Mấy ngày sau 30.04.75, miền nam VN rơi vào tay cộng sản. Một cán bộ miền bắc vào Sàigòn tự cho là mình là “đỉnh cao trí tuệ” ra vẽ rất là hách dịch, thấy một người đạp xe lôi chở khách, liền lên giọng cán bộ nói:
“Miền nam sao mà nghèo thế! ở miền bắc chúng tôi thì xe hơi rất là nhiều, đến nỗi xe hơi chạy đầy đường đếm không hết. ”

Người lái xe lôi đạp hỏi tiếp:
“Thế ở miền bắc các anh có cà pháo không vậy?.”
Anh cán bộ hách dịch:
” À, cà pháo ở miền bắc chúng tôi rất là nhiều, đến nỗi cà pháo ăn không hết, mà còn phơi khô đầy đường đếm không xuể! “
Người lái xe lôi đạp từ tốn hỏi lại:
“Thế ở miền bắc các anh có cà rem không vậy?”
Anh cán bộ lại phô trương tài hiễu biết đĩnh cao:
” À, cà rem ở miền bắc chúng tôi có rất là nhiều, đến nỗi cà rem ăn không hết, mà còn phơi khô đầy đường. “
Người lái xe hỏi tiếp:
” Vậy thế ở miền bắc các anh có “cà chớn” không vậy?
Anh cán bộ tự đắc:
“Cà chớn hả ! Ôi Cà chớn ở miền bắc chúng tôi có rất là nhiều, đếm không hết. Chúng nó nhiều đến nỗi chạy đầy đường.”

Anh đạp xe, không còn lời gì để hỏi nữa !!!! Đúng là Xạo Hết Chổ Nói !

xxxxxxxxxx

Sau năm 1975, đám bộ đội khỉ Trường Sơn vào chiếm đóng các thành phố ở miền Nam. Thấy con gái ngụy đẹp quá nên buông lời tán tỉnh.
Rất bực mình, các cô khinh bỉ, bỉu môi.
– Đồ cà chớn!
Thấy thế, bộ đội lên đạn chỉa súng quát lên
– Này, cà chớn là gì thế hở? nói mau, nếu không, tớ xử lý ngay tại chổ.
Sợ quá, các cô ấp úng đáp.
– Dạ, cà chớn là tốt, ý tụi em muốn nói các anh bộ đội tốt lắm.
Thế là cả đơn vị bộ đội để chứng tỏ mình cũng là người văn minh nên truyền tai nhau học tập cà chớn là tốt.

Một hôm, Lê Duẩn ghé thăm đơn vị bộ đội này, tiểu đoàn trưởng đứng lên thuyết trình.
– Báo cáo đồng chí Tổng bí thư, tinh thần chiến đấu của anh em trong đơn vị nói chung là cà chớn. Tình cảm giữa các anh em đối với nhau cũng cà chớn lắm, anh em hạ quyết tâm noi gương cà chớn của các đồng chí lãnh đạo ạ!

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Ai biết Cà Chớn là gì? Xin giải thích

HAPPY NEW YEAR 2022

KÍNH CHÚC QUÝ NIÊN TRƯỞNG, QUÝ THÂN HỮU ĐỒNG MÔN, QUÝ BẠN BÈ ANH CHỊ EM VÀ GIA ĐÌNH KHÓA 1 HỌC VIỆN CSQG/VNCH BƯỚC SANG NĂM MỚI TRÀN ĐẦY SỨC KHỎE, CUỘC SỐNG LUÔN LUÔN AN BÌNH HẠNH PHÚC.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở HAPPY NEW YEAR 2022

Phút Cuối Cùng của Học Viện CSQG_- Ngô Bá Phước

PHÚT CUỐI CÙNG CỦA HỌC VIỆN CSQG

  • Ngô Bá Phước / Cựu Liên Đoàn Trưởng LĐSV-HVCSQG (1975)

                 Những ngày cuối tháng 4/75 sinh hoạt tại Học Viện CSQG thật căng thẳng. Tình hình thật bất lợi cho miền Nam Việt Nam. Quân Lực VNCH rút dần, co cụm về Quân đoàn III và chung quanh Sài Gòn.

            Từ đồi Tăng Nhơn Phú, nơi Học Viện tọa lạc, nhìn ra xa lộ Sàigòn – Biên Hòa, Sĩ quan Học Viện và các Sinh viên Sĩ quan đang thụ huấn thấy từng đoàn quân xa và các xe dân sự nối nhau hướng về phía Nam. Xa xa, phi trường Biên Hòa bị pháo kích và các trực thăng, chiến đấu cơ của Không Quân VNCH phải bay đi nơi khác. Dọc theo xa lộ, các nút chặn bằng thùng “phuy” đựng cát do Nghĩa Quân quận Thủ Đức thiết lập và trấn giữ. Sĩ quan, nhân viên Học Viện và Sinh viên Sĩ quan được lệnh sẵn sàng tác chiến.

            Đêm 29 rạng 30/4/75 Học Viện mất liên lạc vô tuyến với Chi Khu Thủ Đức. Cầu Rạch Chiếc trên xa lộ Biên Hòa bị đánh phá. Liên lạc máy PRC-25 với Biệt Khu Thủ Đô và Yếu Khu Tăng Nhơn Phú còn giữ được. Liên lạc với Bộ Tư Lệnh CSQG thì Đại Tá P.K.Q. chỉ hỏi tình hình tổng quát, khuyên cố gắng giữ vững vị trí chờ lệnh.

            6g30 phút sáng ngày 30/4/75 loạt đạn đầu tiên của chiến xa cộng quân bắt đầu nổ, phá hủy các cao điểm bố trí đại liên 30, 50 của Học Viện tại xạ trường. Các trụ “ăng ten” chính bị bắn gãy phải dựng các “ăng ten” phụ để liên lạc. Tiểu Đoàn III (SVSQ) quan sát tình hình báo cáo rất nhiều xe tăng và xe vận tải phủ lá ngụy trang với màu cờ xanh đỏ của cộng quân chạy nhanh về hướng Sàigòn. Chỉ có khoảng 4 chiếc tăng T-54 chạy tới lui và bắn về phía Học Viện ở hướng Bắc khiến các dãy lầu K và L bị hư hại khá nặng. Đại Giảng Đường cũng bị trúng đạn nhiều chỗ.

            Phía phòng thủ của Học Viện gồm Đại Đội Phòng Vệ, các Sĩ quan và nhân viên trực, 3 Tiểu Đoàn I, II và III gồm khoảng 800 SVSQ và 100 Sĩ quan các nơi về thụ huấn đã được huấn luyện trước nên đã sẵn sàng tại các vị trí phòng thủ chung quanh Học Viện. Sau giây phút giao động ban đầu, các Sĩ quan Liên Đoàn Sinh Viên và Đại Đội Phòng Vệ đã bám sát thuộc cấp để nâng cao tinh thần chiến đấu của anh em.

             Sĩ quan truyền tin Học Viện liên lạc Phòng Hành Quân Biệt Khu Thủ Đô để xin yểm trợ thì được yêu cầu cố gắng giữ vững vị trí. Liên lạc Yếu Khu Tăng Nhơn Phú để xin yểm trợ pháo binh, bắn rải dọc trên xa lộ đối diện Học Viện để khóa họng các chiến xa cộng quân đang bắn phá. Khoảng 8 giờ sáng, Đại úy Đặng Cao Quyền báo cáo, một xe tăng địch bị trúng đạn cháy ngoài xa lộ, các xe tăng khác của cộng quân hoảng loạn tràn xuống ruộng vừa tiến về hướng “lò sỏi” giữa Học Viện và Trường Bộ Binh Thủ Đức.

            Sinh viên Sĩ quan nhìn cảnh xe tăng địch bị cháy lên tinh thần la hét rầm rĩ và giữ chặt tay súng sẵn sàng chiến đấu.

            Khoảng 8g30, toán chiến xa địch chuyển hỏa lực về phía Trường Bộ Binh Thủ Đức, nơi bố trí pháo binh 105 ly và các chiến xa từ Trường Thiết Giáp Long Thành rút về. Tiếng bánh xe sắt cắn nát sỏi đá nghe rợn người. Có 4 chiến xa cộng quân đã được nhận diện, các chiến sĩ Phòng Vệ và SVSQ Học Viện được giao nhiệm vụ sử dụng vũ khí chống chiến xa từ trước được lệnh vào vị trí, chờ chiến xa địch lọt vào tầm bắn mới khai hỏa. Lúc này mục tiêu tấn công của chiến xa địch chuyển về phía Trường Bộ Binh nên Học Viện ít bị đạn pháo. Một chiếc xe tăng địch bị Trường Bộ Binh bắn đứt xích tại Niệm Phật Đường Chợ Nhỏ nhưng vẫn ngoan cố nhả đạn liên hồi cho đến khi bị cảm tử quân Trường Bộ Binh dùng lựu đạn lân tinh tiêu diệt.

            Tiếng đạn chấm dứt, Sinh Viên và Phòng Vệ Học Viện được lệnh củng cố hàng ngũ, sẵn sàng phản kích đợt tấn công kế tiếp của cộng quân. Một nhân viên Phòng Vệ và một SVSQ bị thương được di chuyển về phía trong chăm sóc.

            10g30 sáng 30/4/75, qua Đài Phát Thanh, Tổng Thống Dương Văn Minh ra lệnh buông súng sẵn sàng bàn giao. Mọi người đều ngơ ngác. Sĩ quan, Sinh viên nhốn nháo chờ lệnh. Một số ôm mặt khóc nức nở.

            Rồi tất cả cởi bỏ quân phục, vứt súng đạn lại, lủi thủi đi bộ ra hướng xa lộ tìm phương tiện về nhà chứ không để bị địch bắt làm tù binh.

            Phút cuối cùng của một đơn vị còn giữ được tay súng, tôn trọng kỷ luật, cương quyết chiến đấu và đã không hổ thẹn tự rã ngũ.

            Mẹ Học Viện vẫn giữ được tinh thần “Kỷ Luật – Danh Dự” đến phút cuối cùng.

NGÔ BÁ PHƯỚC

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Phút Cuối Cùng của Học Viện CSQG_- Ngô Bá Phước

Thuốc Paxlovid điều trị Covid-19

THUỐC PAXLOVID CỦA PFIZER
ĐIỀU TRỊ COVID-19

download

Hôm 22/12/2021, Cơ quan Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) đã cấp phép khẩn cấp cho dùng thuốc viên điều trị Covid-19 có tên Paxlovid của hãng dược phẩm Pfizer. Tổng thống Joe Biden hoan nghênh điều này, đồng thời, Nhà Trắng dự định mua tổng cộng 10 triệu liều  với 250.000 liều ngay từ tháng 1/2022.

Từ Washington, thông tín viên Guillaume Naudin tường trình :

“Tên thuốc là Paxlovid. Đây là một phương pháp điều trị dưới dạng kết hợp mỗi ngày uống 2 viên, và 2 lần, trong vòng 5 ngày. Paxlovid chỉ dành cho những người trên 12 tuổi có nguy cơ cao bị thể nặng của bệnh. Và cách sử dụng cũng rất hạn hẹp : điều trị phải được bắt đầu ngay từ lúc bệnh được chẩn đoán và trong vòng 5 ngày kể từ khi bắt đầu có triệu chứng.

Theo các thử nghiệm lâm sàng, thuốc có thể làm giảm 88% số ca nhập viện và tử vong của những người được điều trị.
Đối với FDA, phương pháp điều trị này xuất hiện vào thời điểm quan trọng của đại dịch, lúc các biến thể mới đang xuất hiện. Nhưng thuốc điều trị này không thể thay thế vac-xin, phương cách đề kháng tốt nhất.

Tổng thống Mỹ Joe Biden hoan nghênh sự xuất hiện của loại thuốc mới này trong các phương pháp điều trị của đất nước. Các nhà chức trách Liên bang đã đặt mua số lượng thuốc đủ để điều trị cho 10 triệu người. Nhưng số người được điều trị bằng thuốc này sẽ tăng dần dần bởi vì quá trình sản xuất mới được bắt đầu. Trước tiên, trong vài ngày tới, sẽ có 250.000 người được điều trị bằng Paxlovid“. 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thuốc Paxlovid điều trị Covid-19

Tin Buồn từ K1 Lê Ngọc Thịnh

cach-nhan-tin-chia-buon-dam-tang-3

Căn Nhà Nhỏ vừa được bạn Tống Phước Kiên báo cho biết tin buồn.
– Anh ruột của K1 Lê Ngọc T̀hịnh vừa qua đời tại Charlơtte NC, ngaỳ mai an táng.
Mình có gọi phone cho Thịnh nhưng có lẽ vì tang gia đang bối rối nên không có ngưới nhận phone.
CNN xin thông báo cho các bạn trong Gia Đình K1 được biết.
Nhân đây mình xin đại diện cho Căn Nhà Nhỏ và một số bạn đồng môn kính gởi lời chia buồn đến bạn K1 LÊ NGỌC THỊNH và tang quyến. Cầu mong cho hương linh người anh quá cố được siêu sanh về cõi lành.
THÀNH KÍNH PHÂN ƯU

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Tin Buồn từ K1 Lê Ngọc Thịnh

Thiệp Merry Christmas của NVV và nàng Dâu K1

Vinh nguyen 2003

Tho Vinh Lan

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thiệp Merry Christmas của NVV và nàng Dâu K1

Thơ TPK ” Lễ Giáng Sinh Năm Nay”

TPK 2

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thơ TPK ” Lễ Giáng Sinh Năm Nay”

Thiệp Mừng Giáng Sinh của Tuyên Đinh

110027806-christmas-frame-with-blank-space-for-new-year-holiday-greeting-card-blank-paper-edged-with-xmas-tree copy 2

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thiệp Mừng Giáng Sinh của Tuyên Đinh

NHỮNG ÂN TÌNH NGÀY THÁNG CŨ_Lê Chu Ấn

Những ân tình ngày tháng cũ

Lê Chu Ấn

Tôi đuợc làm thành viên của đại gia đình Cảnh Sát Việt Nam Cộng Hòa từ ngày 15 tháng 1 năm 1963 và phải giã từ mái ấm đó vào lúc 11 giờ rưỡi ngay 30-4-1975 trong một hoàn cảnh thảm bại thê lương của miền Nam tự do thân yêu.

Nhẩm tính trong đầu, tôi đã sống và làm việc trong tập thể thân thương đó đúng 12 năm 3 tháng 15 ngày, kể từ lúc vui vẻ bước lên xe đi thụ huấn cho đến khi đứng nghẹn ngào chào vĩnh biệt huynh trưởng Trung Tá CSQG Nguyễn-Văn-Long tuẫn tiết dưới tượng đài Thủy Quân Lục Chiến trước tòa nhà Quốc Hội trên đường Tự Do.

Sau ngày oan nghiệt đó, đại gia đình Cảnh Sát Quốc Gia của chúng tôi đã bị tàn phá tan hoang. Anh em tứ tán khắp nơi để rồi phải gánh chịu những đòn thù kinh thiên động địa. Ở một tỉnh ở Miền Trung, trong một đêm Việt Cộng đã đem đi thủ tiêu hơn một trăm hai chục mạng người gồm hơn tám chục anh em CSQG và gần 40 quân nhân với thường dân. Có những gia đình sĩ quan trẻ, cả hai vợ chồng cùng ôm con thơ vài tháng tuổi vào tù! Có những gia đình, chồng đi tù, vợ và bầy con thơ bị xua đuổi lên vùng kinh tế mới, sống vất vưởng đói khổ ở nơi rừng sâu núi thẳm.

Trải qua những ngày hoang phế trong các trại tù ở trong Nam ngoài Bắc, từng giờ từng ngày tôi vẫn nhớ về thời gian thân ái thuở nào. Những ngày tháng cũ đã trôi đi, nhưng những kỷ niệm thân thương vẫn còn chất đầy trong ký ức, nhắc nhở cho tôi nhớ về những ân tình ngày tháng cũ…

 Có những ân tình không sao nói hết,
 Giữ mãi trong lòng xao xuyến khôn nguôi.

Tôi làm sao quên được hình ảnh vị tướng gia trưởng của đại gia đình CSQG mà có một thời tôi được theo gót chân Ông để làm phóng sự về các cuộc thanh sát những đơn vị hẻo lánh ở khắp các tỉnh Miền Trung và Miền Nam. Vị tướng ấy có một thân hình nhỏ bé, và một nếp sống thật đơn sơ bình dị, nhưng trái tim Ông lại chứa đựng cả một kho tàng tình cảm hiền hòa cởi mở đối với đàn em. Khi nói chuyện với những người em nhỏ tuổi, Ông thường tự xưng là “tớ” và gọi người đối diện là “cậu”. Với những người lớn tuổi hoặc có chức vị, Ông dùng hai tiếng “toi” –“moi” (tiếng Pháp có nghĩa là “anh” – “tôi”) nghe thật thân thiết êm đềm tưởng như ranh giới cấp bậc chỉ còn là huyền thoại mơ hồ.

Ông về làm gia trưởng CSQG giữa những biến cố sôi sục “giặc ngoài thù trong” khiến những ai còn có lòng với chính nghĩa và tiến đồ của tổ quốc đều phải lo lắng quan tâm. Trong hoàn cảnh khó khăn đó, Ông đã sát cánh cùng tất cả anh em Cảnh sát ngày đêm ra sức duy trì an ninh trật tự. Gặp những tình huống đầy tế nhị, đích thân Ông đứng ra gánh hết trách nhiệm để tránh mọi hậu quả cho các cấp đàn em thừa hành.

Ngày Việt Cộng vi phạm lệnh hưu chiến, trong Tết Mậu Thân, Ông đau lòng trước cảnh tên Ba Lém sát hại các đàn em Cảnh Sát và người thân của họ nên đã xử bắn tên nầy ngay tại mặt trận Ngã Bảy bất chấp những dư luận trong giới truyền thông thế giới.

Tôi không sao nói hết tấm lòng quảng đại của Ông đối với anh em Cảnh Sát và cũng không sao nói hết tình thương mến của anh em Cảnh Sát dành cho Ông. Hình ảnh hai lính Cảnh Sát lấy thân mình che kín thân Ông khi một trái B40 của địch bắn ra cạnh nơi Ông đứng trên mặt trận Ngã Bảy, cùng hình ảnh Anh Nguyễn Văn Đáng liều mình xông đến bế Ông ra khỏi nơi nguy hiểm khi Ông bị thương ở mặt trận Thị Nghè đã nói lên tình huynh nghĩa đệ trong gia đình CSQG sâu xa như thế nào.

Dù phải nằm trong Bệnh Viện, vi tướng gia trưởng vẫn không quên nhắc nhớ Thiếu Tá Chánh Văn Phòng mang máy truyền tin của Ông đến bên giường để Ông tiếp tục chỉ huy. Ngày hôm sau, bức hình được đăng trên khắp các nhật báo với chú thích “Mặc dầu bị thương, Tướng Loan vẫn tiếp tục chỉ huy các đơn vị Cảnh Sát quét sạch giặc thù ra khỏi Thủ Đô”. Chính bức hình nầy đã làm cho đồng bào yên tâm, và tinh thần chiến đấu của anh em Cảnh sát thêm vững vàng.

Tướng Loan đã âm thầm rời khỏi gia đình CSQG thân thương vì phải đi chữa trị vết thương ở phương xa, nhưng nụ cười hiền hòa ấm áp còn mãi mãi trong tim của mọi người.

Trước ngày bàn giao, Thiếu Tá Chánh Văn Phòng Vũ-Huy-Đức gọi sáu anh em trong tòa soạn lên phòng khách, ngỏ lời cảm ơn về những đóng góp trong hơn một năm cho Nguyệt San Rạng Đông đồng thời siết tay giã biệt từng người. Tôi thay mặt anh em cảm ơn Ông đã dành những cảm tình nồng hậu cũng như những phương tiện thuận lợi cho tập thể làm báo của ngành.

Khoảng một tháng sau, tôi nhận Sự Vụ Lệnh do anh Nguyễn Bá Hàm xin cho toi về làm Trưởng phòng Cảnh Sát ở Ty CSQG Cần Thơ. Từ một Tổng Thư Ký, chuyên làm báo chí, bây giờ bước sang một lãnh vực khác, tự thấy mình bỡ ngỡ và kém cỏi nên phải học hỏi từng ly từng tý từ những anh em có nhiều kinh nghiệm.

Vào một buổi sáng trong giờ làm việc, anh Trưởng Ty gọi điện báo cho biết sẽ gởi một cận vệ dư thừa sang phòng của tôi để tùy nghi sử dụng. Ngay buổi chiều, Xuân đến trình diện với một bộ mặt lầm lỳ phảng phất vẻ bướng bỉnh, tóc tai bù xù trông thật khó coi. Tôi cố giữ vẻ khó chịu trong lòng, ra vẻ tươi cười ngoài mặt, tự đưa tay vuốt đi vuốt lại mái tóc của mình rồi nhẹ nhàng bảo Xuân về nghỉ một buổi lo thu xếp những việc riêng tư.

Sáng hôm sau, Xuân đến với bộ điệu thật nghiêm trang trong bộ sắc phục Cảnh Sát Dã Chiến, đầu tóc đã được hớt tỉa gọn gàng. Tôi thầm khen Xuân là người sáng trí, đoán được ý tôi.

Ngày chủ nhật, tôi đang ngồi trong nhà thì thấy Xuân lỉnh kỉnh khuân giường và ghế vào một căn nhà nhỏ nằm chếch bên nhà tôi thuê. Tôi thấy long mình vui vui vì trút được những nỗi hiu quạnh sau giờ làm việc.

Hằng đêm, trong giờ giới nghiêm, Xuân lái xe đưa tôi đi tuần tra các trạm gác ở những nơi hiểm yếu trên những con đường dọc ngang trong thành phố. Trên đường đi, chúng tôi bất chợt bắt gặp bao nhiêu vi phạm gồm đủ mọi hình thức và đủ mọi thành phần: nào là tụ năm chụm bảy uống rượu say sưa la hét um xùm; nào là nhân dân tự vệ ném đá xuống sông chọc ghẹo nhân viên Cảnh Sát đang bơi xuồng qua lại canh gác dưới gầm cầu, nào là những cuộc ẩu đả với gậy gộc dao búa trong tay, nào là những quả đạn pháo kích của Việt Cộng rót vào thành phố cần được báo cáo ngay cho Ban An Ninh tỉnh… Nhờ sự năng nổ và xông xáo của Xuân, mọi việc diễn ra đều được giải quyết trơn tru êm đẹp.

Trong chuyến đi điều tra một vụ án ở Quận Thuận Nhơn, một Quận hẻo lánh mà đường đi thật nguy hiểm vì mìn bẫy và những đợt bắn lén của Việt Cộng nên các quân nhân, công chức thường dùng trực thăng lúc không có đơn vị mở đường. Vì quá khẩn cấp, bốn anh em Cảnh Sát chúng tôi đành phải dùng xe. Xe vừa ra khỏi thành phố, tôi để ý thấy mặt chú tài xế và nhân viên tư pháp dều xanh như tàu lá, chỉ có Xuân vẫn giữ vẻ mặt bình tĩnh lầm lỳ. Ngoài súng cá nhân, Xuân còn mang theo một khẩu M72 và 10 quả đạn để tiêu diệt địch khi chúng xông ra tấn công ồ ạt. Suốt chặng đường dài dọc theo kinh xáng Xà –No, chiếc xe lắc lư nhồi lên nhồi xuống, Xuân vẫn đứng, tay cầm súng M16, mắt không ngừng quan sát như sẵn sàng chiến đấu.

Chúng tôi đến Quận vào lúc xế trưa và hoàn thành công tác khi trời vừa tối, đành phải ngủ lại. Đêm về, hàng chục quả đạn pháo kích của địch rót vào Quận lỵ. Đâu đó tiếng khóc thét của trẻ thơ hòa lẫn tiếng kêu ơi ới của người lớn gọi nhau xuống hầm trú ẩn. Xuân vội kéo tay tôi và chú tài xế nhét hai người xuống hai hố cá nhân trước khi có một tiếng nổ kinh hồn ở một mảnh sân bên cạnh. Tôi cúi đầu nhắm mắt điếng hồn, thầm cám ơn người em lanh trí. Từng loạt phản pháo của chi khu bắn ra liên tiếp làm câm họng súng của địch. Tôi bước ra khỏi hố, nhìn lên trời cao, thấy những đốm mắt hỏa châu đang tuông từng hàng lệ sáng lòa khóc cho số phận đau thương của quê hương yêu dấu.

Làm nghề cảnh sát, thi hành luật pháp, nhiều khi gặp cảnh thương tâm cũng đành dấu đi những xúc cảm yếu đuối trong lòng để làm tròn trách nhiệm. Trong một buổi sáng, nhân viên truy tầm báo cho tôi biết vừa bắt quả tang một vụ mãi dâm tại một căn nhà trọ. Tôi, với vai trò sĩ quan tư pháp cảnh lại, có nhiệm vụ phải đến chứng kiến và lập vi bằng. Khi đến nơi, tôi thấy một phụ nữ tuổi hơn 20 đang ngồi bó gối khóc nức nở và ôm chặt chiếu quần che kín phần dưới của thân thể. Tôi nhẹ nhàng bảo cô ta hãy mặc quần vào, chuẩn bị ra xe. Cô vẫn ngồi yên khóc vùi, rồi nghẹn ngào thốt lời “Quần em bị rách lớn, vì giật qua giật lại với mấy anh ấy nên không thể bận được”. Tôi vội nhờ một nhân viên sang mượn kim chỉ của nhà bên cạnh, rồi yêu cầu tất cả ra ngoài để cô ta ngồi vá.

Tại phòng Cảnh Sát, nhân viên tư pháp lập biên bản hỏi cung rất nhanh và nộp cho tôi duyệt ký trước khi giải giao nội vụ lên tòa. Đọc biên bản tôi mới rõ chồng của bị can là một nhânviên cảnh sát dã chiến ở Chi CSQG Phong Điền. Lý do người phụ nữ phạm pháp chỉ vì con đau không tiền mua thuốc trong khi người chồng biệt tăm biệt tích hơn một tháng qua. Đọc biên bản mà lòng tôi se thắt lại, cảm thương người phụ nữ như thương em gái ruột thịt của mình. Tôi không thể thả cô ra một cách ngang xương vì làm như vậy là phạm luật, ở tù như chơi. Muốn biết tin tức người chồng, tôi vội thảo một công điện gửi Chi Phong Điền, yêu cầu đương sự về trình diện gấp. Mặt khác tôi điện thoại đến Ông Biện Lý tòa án Cần Thơ trình rõ nguyên nhân sự phạm pháp của người vợ của môt đàn em là do quá túng thiếu nên phải làm liều và xin Ông khoan hồng cho trường hợp nầy.

Buổi chiều, khi nhân viên dẫn giải bị can lên tòa, tôi đích thân vào gặp Ông Biện Lý và trao biên bản tận tay Ông. Sau khi xem xong hồ sơ, Ông đã tuyên bố miễn tố và ra lệnh phóng thích cho người bị cáo bất hạnh. Cả hai chúng tôi đều cúi đầu cảm ơn Ông trước khi bước ra khỏi phòng.

Khi về tới sở, tôi đã thấy một nhân viên cảnh sát dã chiến ngồi ở phòng đợi. Người phụ nữ chạy vội đến cầm tay người đó, cả hai nhìn nhau bằng đôi mắt rưng rưng lệ tủi. Tôi mời cả hai vào phòng, an ủi và khuyên bảo họ hãy sống thuận hòa, quên đi những lỗi lầm nhất thời và tha thứ cho nhau. Người chồng tỏ vẻ hối hận, bật lời tự thú, chỉ vì ham vui cá độ cá gà nên đã thua hết tháng lương, không dám về gặp vợ con.

Khi tiễn hai vợ chồng ra khỏi phòng, tôi bỗng thấy một nhân viên tư pháp đi từ bàn nầy sang bàn khác quyên góp những tờ giấy rồi gom lại trao cho cặp vợ chồng người đồng nghiệp với lời nói chân tình “Xin anh chị nhận số tiền nhỏ mọn nầy để về mua thuốc cho cháu”. Người vợ đưa bàn tay run run đón nhận, nghẹn ngào cảm tạ với đôi dòng lệ tuôn rơi. Tôi thấy như cả một trời ân tình cao đẹp đang cuồn cuộn dâng lên trong khoảng không gian nhỏ bé trước mặt.

Tôi rời chúc vụ để trở về Nha CSQG Khu 3 sau khi anh Nguyễn-Bá-Hàm ra đi chừng hơn một tháng. Kèm theo Lệnh Thuyên chuyển là một giấy khiển trách “kém tác phong” mà chính bản thân tôi cũng chẳng biết lý do gì.

Tôi coi sự thuyên chuyển là chuyện bình thường như những cơn mưa nắng hàng ngày, nhưng cũng không khỏi chạnh nhớ đến bao nhiêu điều tranh cãi gay go giữa Trưởng Ty Hàm và Giám Đốc Nguyễn –Bính. Ở Nha, ai cũng biết anh Hàm xin tôi về, giờ anh ra đi, tất nhiên tôi cũng phải cuốn gói lên đường.

Tôi đến trình diện Đại Tá Giám Đốc Đào-Quang-Hiển trong một tâm trạng cố gắng trấn tĩnh trong lòng. Đại Tá cho phép tôi ngồi rồi lặng lẽ mở hồ sơ cá nhân của tôi ra xem xét. Một thoáng sau, Ông ngẩng đầu lên, nói một câu nhẹ nhàng :

– Tôi thấy anh chẳng có lỗi gì!

Nghe Đại Tá nói, tôi thấy lòng mình thật nhẹ nhàng như vừa trút bỏ bao nhiêu điều khắc khoải thắc mắc đè nặng trong tâm hồn bởi ba chữ “kém tác phong”. Tôi ấp úng mãi mới thốt nên lời cảm ơn vị huynh trưởng.

Sau đó, Đại Tá vừa gấp tập hồ sơ vừa nhìn tôi nói tiếp:

-Anh có thể xin đi bất cứ tỉnh nào trong khu 3, trừ hai tỉnh Gia Định và Biên Hòa vì các nơi nầy thặng dư nhân số. Theo tôi nghĩ, anh nên ở lại Nha làm Phụ tá cho chủ sự phòng Tư Pháp Đặng-Thành-Trí.

Tôi cảm ơn hảo ý của Đại Tá và xin phép ra ngoài để gặp anh Trí, một người bạn cùng khóa và cũng là người từng là Trưởng Phòng Cảnh Sát ở Cần Thơ.

Công tác đầu tiên của tôi được giao phó là phối hợp cùng các sỉ quan quân cảnh Tư Pháp và An Ninh Quân Đội của Quân Khu 3 ra Vũng Tàu điều tra những đơn khiếu nại của dân chúng về việc một số quân nhân tại đặc khu đã đơn phương hành quân ban đêm khám xét các quán rượu, bắt đi một số chiêu đãi viên, thu giữ giấy tờ tùy thân để ép họ ăn nằm qua đêm. Tôi đã làm việc tại một phòng riêng biệt thuộc nhà khách của đặc khu trong suốt tám giờ đồng hồ, không ăn không uống, cố gắng lấy đầy đủ lời khai của các đương đơn và nhân chứng. Trong khi đó, Các sĩ quan quân cảnh tư pháp và an ninh quân độì làm việc ở một phòng khác với các quân nhân của đặc khu có tên trong đơn tố cáo.

Hôm sau, tôi trình toàn bộ biên bản lên Đại Tá Giám Dốc. Ông đọc thật kỹ lưỡng rồi nói với tôi:

– Để tôi sẽ nói với anh Trí !

Anh Trí mà Đại Tá nhắc tên chính là Trung Tướng Đổ-Cao-Trí, Tư Lệnh Quân Khu 3, một vị tướng tài ba từng xông pha nhiều trận mạc.

Chỉ mấy bữa sau, sì quan Chỉ huy phó đặc khu Vũng Tàu cùng một số tùy tùng dính líu vào việc làm tồi tệ đã phải thuyên chuyển đi nơi khác.

Vì nhu cầu công vụ của Nha, tôi được giao trách nhiệm điều hành hai Ban Căn cước và Kiểm soát an ninh. Trong thời gian ngắn, chúng tôi đã thiết lập được các bản thống kê và hệ thống sơ đồ để cung cấp các khối lượng công việc của các ty liên quan đến chương trình đổi thẻ căn cước mới cũng như hoạt động kiểm tra an ninh tại các địa phương. Đại Tá Giám Đốc có vẻ hài lòng về hai tài liệu nầy, nó đã giúp Ông theo dõi chính xác các hoạt động và thành tích của các Ty giữa lúc còn bận rộn với bao công việc khác.

Làm việc dưới sự chỉ huy của Đại Tá Đào- Quang- Hiển, tôi thực sự có biết bao nhiêu ấn tượng tốt đẹp về đạo đức, phong cách đối xử cùng tấm lòng bao dung quảng đại của vị huynh trưởng làm tôi nhớ lại những lời ca tụng của đa số nhân viên cảnh sát và dân chúng ở tỉnh Cần Thơ, nơi Ông đã từng làm việc một thời.

Tôi nhớ một lần, Ty CSQG Hậu Nghĩa gởi công điện về Nha báo cáo cảnh sát viên Biện-Lực đang làm nhiệm vụ đã hạ sát một nhân viên an ninh quân đội trong tư thế tự vệ chính đáng. Đương sự đã bị quân cảnh Tư Pháp câu lưu để lập hồ sơ truy tố ra tòa. Tôi cầm công điện trình xin Đại Tá cho phép thảo công điện chỉ thị Ty Hậu Nghĩa đến lãnh bị can về, lập biên bản khẩu cung vì bị can là dân chính chứ không phải là quân đội. Hai ngày sau, Ty Hậu Nghĩa lại gởi công điện thông báo rằng cơ quan Quân Cảnh Tư pháp không cho lãnh bị cáo, viện lý do hồ sơ đã hoàn tất. Một lần nữa tôi xin vào gặp Đại Tá với một công điện đã thảo sẵn với nội dung yêu cầu Ty Hậu Nghĩa lập một hồ sơ điều tra song hành nêu rõ các uẩn khúc và chứng cớ tự vệ chính đáng hầu xin tòa miễn tố hay giảm khinh cho bị cáo.

Sau khi xem xét và ký công điện, Đại Tá buông tiếng thở dài và nói với tôi:

– Ty nầy làm việc quá sơ sót, thay vì chủ động điều tra lại giao cho người ta muốn làm gì thì làm, để mặc đàn em trong lúc hoạn nạn có khác gì đem con bỏ chợ!

Qua câu nói đó, tôi hiểu tâm tư và tình cảm của Ông đối với đàn em.

Bỗng một buổi sáng, tôi được Đại Tá Giám Đốc gọi vào gặp Ông. Sau thủ tục chào kính, tôi lấy làm lạ khi Ông giơ tay ra bắt tay tôi rồi ra dấu cho tôi ngồi xuống.

Ông biết tôi đang ngạc nhiên nên nói ngay:

– Anh về làm việc tại Nha mới được vài tháng, tôi biết khả năng của anh và đang định giao cho anh một chức vụ tại Ty trong một ngày rất gần. Nào ngờ, Tổng Nha mới gởi Sự-Vụ Lệnh đổi anh về Sở Tâm Lý Chiến.

Ngừng một chút, Đại Tá nói tiếp:

– Tôi muốn giữ anh lại, nhưng đây là lệnh của Chuẩn Tướng Tổng Giám Đốc nên đành chịu vậy. Mong sao có dịp gặp lại sau.

Tôi nhận Sự Vụ Lệnh và chào giã từ Đại Tá Đào-Quang-Hiển mà lòng rất buồn. Trong thâm tâm, tôi chẳng muốn rời nơi làm việc hiện tại, dù thời gian ngắn ngủi, nhưng lại đầy tình ấm áp.

Tôi trở về Tổng Nha, nhận nhiệm vụ thực hiện chương trình truyền hình hàng tháng của gia đình Cảnh Sát Quốc Gia. Nơi đây, tôi đã làm việc chung với nhạc sĩ Minh Kỳ, nhạc sĩ Y-Vân,, nhạc sĩ Phạm-Đại, nhạc sĩ Hoài Linh cùng một số ca sĩ và đoàn nữ vũ công.

Ngày đầu tiên đến thu hình tại đài truyền hình, tôi gặp anh Phạm-Duy-Cường vốn là bạn cùng khóa 14 Biên Tập Viên CSQG thụ huấn tại Trung Tâm Huấn Luyện Rạch Dừa. Ngày đó anh em cùng khóa đã tặng cho anh biệt danh “Nhìn nắng” chỉ vì mỗi khi ra sân anh thường thích thú ngước nhìn ánh nắng mặt trời và nghe tiếng thông reo vi vút để rồi “hữu cảnh sinh tình” anh sáng tác ra bản nhạc “Nhìn Nắng”. Anh chuyển sang quân đội lúc nào, tôi không rõ, chỉ biết lúc gặp lại , anh đã là Đại Úy biệt phái về đài với vai trò đạo diễn. Tôi ngỏ ý nhờ anh điều khiển và sắp xếp việc thu hình cho tất cả các buổi cảnh sát lên đài. Anh đồng ý, tôi liền lên Ban Giám Đốc trình bày các yêu cầu của mình và được chấp thuận ngay.

Để chương trình đuợc lôi cuốn, mỗi kỳ phát hình, xen kẽ trong phần tin tức, đều có một nhạc cảnh bao gồm các tiết mục ca, vũ, diễn tấu tùy theo nội dung của kịch bản. Các nhạc cảnh chiếc Nỏ Thần, Hòn Vọng Phu,Trương Chi Mỵ Nương, Tiếng Trống Mê Linh … của gia đình Cảnh Sát Quốc Gia đã một thời được nhiều người ái mộ.Thành quả nầy có được tất nhiên có nhiều sự đóng góp, trong đó có bao sáng kiến tinh tế của đạo diễn Cường.

Nhìn anh làm việc năng nổ miệt mài, tôi thầm cảm ơn anh đã mang một món quà tinh thần quý báu cho cái gia đình mà anh từng là thành viên khi mới bước vào đời.

Vào một buổi chiều khi tôi đang làm việc tại bàn, Ông Chánh Sở Tâm Lý Chiến Tôn Thất Dẫn ra báo cho tôi biết Đại Tá Giám Đốc Nha CSQG Vùng 3 đã bị thương trên đường đi thanh sát một Chi CSQG hẻo lánh thuộc tỉnh Phước Tuy, hiện đang nằm điều trị tại bệnh viện dã chiến Hoa Kỳ. Vừa nghe xong, tôi vội bỏ cả công việc đang làm, quên cả xin phép, lấy xe phóng vội vào bệnh viện để thăm gặp vị huynh trưởng quý mến.

Tôi bước vào phòng, thấy Đại Tá nằm trên giường bệnh với một giải băng trắng che kín cả đôi mắt hiền từ. Tôi nói tên mình, run run đưa hai tay nâng nhẹ bàn tay Ông với mối xúc động không nói nên lời, chỉ ấp úng cầu chúc huynh trưởng mau mau bình phục.

Những tháng năm tù tội trong trại tù của Cộng Sản, hàng đêm tôi thường vắt tay lên trán nhớ về những đoạn đời đã qua. Từ năm tám tuổi tôi đã phải sống trong vùng tạm chiếm của Việt Minh, được cha mẹ cho đi học lớp ba trường làng.Ngày nào đến trường cũng phải sắp hàng đứng chào lá cờ đỏ như máu có ngôi sao vàng và hát lên những tiếng ê a” Đoàn quân Việt Nam đi, chung lòng cứu quốc…” rồi sau đó phải hát tiếp :” Ai yêu Bác Hồ hơn chúng em nhi đồng…”. Cặp mắt ngây thơ của tôi ngày đó chưa nhìn xuyên qua được lũy tre làng thì làm sao biết được thế sự bên ngoài. Tháng ngày chỉ thấy những toán bộ đội quần áo vàng màu nghệ kéo về ăn ở hết nhà nầy sang nhà khác rồi lại ra đi… rồi lại kéo về…rồi lại ra đi y hệt như một tấn tuồng diễn đi diễn lại làm ai cũng phải ngao ngán. Thùng gạo nhà tôi cứ bị vơi dần vì phải sớt qua hũ gạo nuôi quân. Sau mỗi vụ gặt lúa tháng năm, hàng đoàn cán bộ huyện, xã kéo đến thúc dục dân làng gánh thóc ra cân rồi thu gom chở đi nói rằng đó là thuế đảm phụ quốc phòng. Đêm về, tôi thường nghe tiếng thở dài và lời than vãn sưu cao thuế nặng của bố mẹ…

Khoảng năm 1948, chiến Dịch Hà Nam Ninh của quân đội Liên Hiệp Pháp và quân đội Bảo Hoàng (sau nầy gọi là quân đội quốc gia) phát động mạnh mẽ khiến các cơ quan hành chánh và lực lượng quân đội chính qui của Việt Minh đã phải di tản và tháo chạy về các vùng rừng núi. Tuy nhiên, các lực lượng du kích núp bóng dân vẫn không ngừng quấy phá. Hằng đêm, chúng bắt người, chặt đầu, chôn sống chổng ngược chân lên trời tất cả những ai mà chúng nghi ngờ hoạt động cho đối phương.

Thấy tình hình ở quê quá bất ổn, Bố mẹ tôi vội thu xếp gởi tôi vào Sài gòn để sống với gia đình người chú ruột, với hy vọng sau nầy tôi sống nên người.

Sống và đi học được ít lâu, tôi bị người con riêng của bà thím hiếp đáp nhiều lần nên bỏ nhà trốn đi giữa ngày cúng ông Táo. Trên bước đường lưu lạc khắp đầu đường xó chợ tôi đã thọ ân của biết bao nhiêu người, từ bác xích lô cho bát cơm hàng đến bà bán rau cho gói xôi tấm bánh. Ngày 29 Tết, một bà già làm công quả cho chùa Kỳ -Viên thấy tôi quá lem luốc bèn kéo tôi về tiệm bán chạp khô của chùa để làm các công việc bửa củi, kéo nước giếng và trông coi tiệm. Được ít lâu bà cho tôi đi học một buổi tại trường tư thục Lê Bá Cang ở góc đường Phan Đình Phùng và Cao Thắng. Niên học tới, bà lại xin cho tôi vào học lớp nhất trường tiểu học Bàn Cờ để rồi cuối năm học tôi thi đỗ bằng tiểu học và may mắn trúng kỳ thi tuyển vào lớp đệ thất trường trung học Trương Vĩnh-Ký (thuở đó gọi là Lycée Pétrus Ký). Tôi không biết tên thật của bà là gì, chỉ nghe người ta gọi bà là Bà Tư, nên tôi cũng gọi như vậy.

Vòng tay ân tình của Bà Tư thình lình đã buông rơi tôi ra sau một cơn bạo bịnh. Tôi theo xe tang khóc sướt mướt như khóc một bà ruột thịt.

Một trong những người đi dự đám tang đã nhận ra tôi và báo chú tôi biết đến bắt tôi về.

Tôi trôi theo dòng đời qua bao sự đổi thay để rồi cuối cùng hòa nhập vào bến bờ Cảnh Sát Quốc Gia. Nơi ấy, tôi có biết bao huynh trưởng, bạn bè, anh em thân thương. Và cũng chính nơi đó, tôi đã nhận được sự giúp đỡ, những niềm an ủi và sự cộng tác chân thành.

Giờ đây, ở tuổi cuối đời, trí óc đã phôi pha, nhưng tôi vẫn còn ôm mãi trong lòng những ân tình ngày tháng cũ.

Xin tạ ơn đời! Xin tạ ơn đại gia đình Cảnh Sát Quốc Gia đã cho tôi những ân tình tốt đẹp khó quên đó.

LÊ-CHU-ẤN (KS)

Nguồn: https://hung-viet.org/p18a20556/nhung-an-tinh-ngay-thang-cu

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở NHỮNG ÂN TÌNH NGÀY THÁNG CŨ_Lê Chu Ấn

Hữu Loan – Gương mặt đẽo từ đá – TPK sưu tầm

HỮU LOAN – GƯƠNG MẶT ĐẼO TỪ ĐÁ 

Trần Mạnh Hảo

Hữu_Loan

Năm 2005 tôi về quê, ghé qua thôn Vân Hoàn, xã Nga Lĩnh ( nay là xã Nga Phượng) huyện Nga Sơn, Thanh Hóa thăm nhà thơ Hữu Loan.

Râu tóc ông bạc phơ, cười nói hết ga, nói không hề biết kiêng nể ai, không hề sợ hãi dù tôi cười bảo :
–   “bác à, cháu là công an ngầm đấy, không sợ bị bắt à ?”

Ông cười phá lên.
-“Mày là công an à, ông càng chửi tợn, cho mày ghi âm đấy, bí thư huyện ủy về tao còn chửi cha thằng nào mang chủ nghĩa chó chết về làm hại quê hương và dân tộc tao …”
– “Bác có tin cháu thuộc thơ bác không ?
– “Không, Trần Mạnh Hảo là công an làm sao thuộc thơ ? Cái mặt mày không thể làm chó săn được con ạ !”

Tôi đọc thuộc lòng cho ông Hữu Loan (có bà Hữu Loan ngồi cạnh), đọc hết “Màu tím hoa sim”, “Đèo Cả”, đọc đến bài “Hoa Lúa”…thì ông can,
– “thôi thôi, tao nhớ mày rồi !”
– “Nhớ sao ?”
– ” Mày viết bài thơ “Khóc Nguyên Hồng” phải không?”
– “Thưa phải !”
– ” Thế mày đọc bài này cho tao nghe lại nhá !”

Tôi đọc bài thơ “Cho một nhà văn nằm xuống” ( tức bài thơ “Khóc Nguyên Hồng)…

tinhgia1
Ông bà Hữu Loan.

Đọc xong, Hữu Loan im lặng, không nói gì, mắt ông hình như rơm rớm. Ngồi một lúc ông nói rất khẽ.
– “Ở đây ăn cơm uống tí rượu với bác nha. Này, bà nó bảo thằng con sang bắt gà làm thịt đãi khách quý…”

Sợ làm phiền ông bà, tôi thác cháu phải sang bên Hà Trung có anh bạn hẹn trưa nay rồi…

Ông khen Nguyên Hồng tài năng nhân cách số một.
– “Hồng kém tao 2 tuổi, nhưng chưa đầy 17 tuổi đã thành thiên tài với tiểu thuyết “ Bỉ Vỏ”. Tuổi đời Hồng là em tao, nhưng tuổi văn, tuổi nghề nó là hạng đàn anh. Nó đã bỏ nhà Hà Nội, bỏ lương lậu, chức vụ về thẳng rừng Yên Thế sống như một nông dân. Trước khi bỏ đi, nghe nó chỉ vào cơ quan Hội nhà văn nói, ông đếch chơi với chúng mày nữa, chúng mày đểu lắm…Tao thương thằng Hồng mất sớm, đi lúc mới 64 tuổi. “

Mắt Hữu Loan ngấn vài giọt sương. Ông không thương mình mà lại đi thương bạn !

Lần đầu tiên tôi gặp ông Tú Loan trong buổi tờ mờ sáng khoảng năm 1961 khi theo mẹ sang chợ Hói Đào Nga Sơn.

Hữu Loan mang cái vó đã cụp gọng, lưng đeo chiếc giỏ đựng cá, áo cộc tay, quần đùi đều rách vá. Hình như ông đi cất vó đêm về…

– “Chào bác Tú”.
– “Sao cháu biết ta là Tú Loan”.
– “Bác Tú thì ai trong cái tỉnh Thanh Hóa này chả biết”

Tôi bèn đọc thuộc bài “Màu tím hoa sim” do mình chép trộm trong sổ tay ông anh con bác học cấp 3. Ông Tú ngạc nhiên, bỏ vó xuống, ngồi bên gốc cây bàng bên đường nói chuyện với tôi – một thằng nhóc 13 tuổi…

– “Sao bác về sớm thế, cất vó suốt đêm à?”
– “Không, từ 10 giờ đêm đến 5 giờ sáng là về”
Sao không cất vó dạo ban ngày ?”
– “À, bị quản thúc tại gia, nên sông của đảng, cá của đảng, mình cất vó kiếm con cá sông cá ngòi là mình ăn trộm của đảng, công an biết thì toi …Thôi cháu đi đi, công an thấy thì rầy rà cho cháu đấy !”

Từ đó, tôi không còn gặp ông Tú Loan đi cất vó trộm về nữa. Nghe đồn ông làm nghề thồ đá kiếm tiền mua gạo nuôi vợ con suốt 30 năm…

Sau năm 1986 đổi mới cởi trói cho văn học, đảng nhà nước đã phục hồi hội tịch cho các nhà văn thơ từng bị quy “nhân văn giai phẩm” trong đó có Hữu Loan…

Tôi đã gặp ông Hữu Loan, Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm, Phùng Quán…hai lần đại hội…

Các ông ngồi góc cuối, bên ngoài, chào bắt tay thì cười cho qua chuyện, như thể các ông vẫn bị ai đó cầm tù linh hồn, còn sợ hãi dù ngay khi gặp mấy gái xinh hội viên đến bắt chuyện…

-“Tôi chào bác Tú.”
Ông cười nói:“ hàng thần lơ láo…”. Hữu Loan không nhận ra thằng bé ngày nào tờ mờ sáng gặp ông ở Nga Sơn đi cất vó về, đọc thơ ông cho ông nghe…

Hôm nay được ngồi trò chuyện với ông hai tiếng đồng hồ. Người ông như đẽo ra từ đá. Suốt 30 năm ông bị quản thúc tại thôn làng về tội “nhân văn giai phẩm”, đi thồ đá cũng là đi thồ trộm, đi cất vó sông ngòi cũng là đi cất vó trộm. Sống cũng trộm, nghĩ cũng trộm, buồn vui trộm…

Chế độ mà ông tham gia xây dựng, đổ xương máu 9 năm đánh Pháp, để cuối cùng ông không hề có độc lập và tự doChế độ đã biến ngôi nhà ông thành nhà tù tại gia, giam một con người gần suốt cả cuộc đời trong đói nghèo, rách rưới, chỉ vì ông dám viết ra một phần ý nghĩ thật của mình…

Bây giờ già lắm rồi, ông đếch sợ nữa, ông chửi từ cụ tiên chỉ nhà chúng nó xuống, mà không thằng nào đến bắt ông.
– “Tao thèm ở tù thật lắm. 30 năm nay tao đã ở tù tại gia, sống mà bị quản thúc từ con buồi đến tư tưởng, thì sống làm đếch gì, bắt và bắn tao đi…”

Tôi hỏi ông về bài thơ “Màu tím hoa sim” thì ông bảo.
– “Chúng nó thù bài thơ này, thù nhất là từ khi Phạm Duy phổ nhạc. Nó bảo bài thơ kích động bi kịch cá nhân trong kháng chiến. Vợ người lính chết đuối ở hậu phương lãng nhách, có gì mà làm thơ khóc. Tưởng là đi du kích bị địch giết hóa ra sảy chân chết đuối…Bao cô du kích anh hùng xông vào đồn giặc hi sinh sao không viết, lại đi khoe vợ mình bị chết đuối là sao? Tiểu tư sản, vớ vẩn, thi ca gì tủn mủm hạ đẳng thế, làm mất nhuệ khí anh bộ đội Cụ Hồ…”

Vâng, cái tội mà đảng vu cho “Màu tím hoa sim” lại chính là cái công lớn của thi pháp Hữu Loan đi vào cái bi kịch cuộc đời. Bi kịch, ô là la, cái mà bút pháp văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa kỵ nhất, ghét nhất…

Ngày 18-3-2010 Hữu Loan đã đi vào bất tử với hai bài thơ hay nhất đời ông : “Đèo Cả” và “Màu tím hoa sim”… Và cái dáng người gan lì, dũng mãnh, hiên ngang của ông thợ thồ đá, thợ cất vó trộm, thợ sống trộm và nghĩ trộm…như tạc ra từ đá núi Ngỗng ( Nga Sơn) quê hương…

Sài Gòn 18-3-2020

T.M.H.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Hữu Loan – Gương mặt đẽo từ đá – TPK sưu tầm

Phân Ưu K1 Mai Văn Nhựt

mai-van-nhut

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Phân Ưu K1 Mai Văn Nhựt

Bệnh vô cảm (Hoàng Tuấn st)

BÀI VĂN 9,5 ĐIỂM VỀ
“BỆNH VÔ CẢM” GÂY XÚC ĐỘNG SÂU SẮC

 
Những câu văn của em Phan Hoàng Yến , học sinh lớp 9A2 trường trung học Chu Văn An, Hà Nội đã gây ấn tượng mạnh với người đọc không chỉ bởi đề tài em lựa chọn mà còn bởi cách hành văn rất tinh tế và sắc sảo . Bài văn được cô giáo ch 9,5 điểm với nhận xét :”Em có những phát hiện và suy nghĩ sâu sắc về hiện tượng đáng buồn này. Một người có trái tim nhân hậu, đa cảm và tư duy sắc sảo như em thật đáng quý .
images (6)

ĐỀ BÀI :
 
TRÌNH BÀY SUY NGHĨ CỦA EM VỀ MỘT SỰ VIỆC HOẶC HIỆN TƯỢNG Ở ĐỊA PHƯƠNG HOẶC TRƯỜNG, LỚP (ĐẶT NHAN ĐỀ CHO BÀI VIẾT)

BỆNH VÔ CẢM
 

  Có được một xã hội văn minh, hiện đại ngày nay một phần lớn cũng là do những phát minh vĩ đại của con người . Một trong số đó chính là sự sáng chế ra rô-bốt, và càng ngày, rô-bốt càng được cải tiến cao hơn, tỉ mỉ hơn làm sao cho thật giống con người để giúp con người được nhiều hơn trong các công việc khó nhọc, bộn bề của cuộc sống . Chỉ lạ một điều : Đó là trong khi các nhà khoa học đang “vò đầu bứt tóc” không biết làm sao có thể tạo ra một con chip “tình cảm” để khiến “những cỗ máy vô tình” biết yêu, biết ghét, biết thương, biết giận thì dường như con người lại đi ngược lại, càng ngày càng vô tình, thờ ơ với mọi sự xung quanh . Đó chính là căn bệnh nan y đang hoành hành rộng lớn không những chỉ dừng lại ở một cá nhân mà đang len lỏi vào mọi tầng lớp xã hội – bệnh vô cảm .
  Nhìn thấy cái xấu, cái ác mà không thấy bất bình, không căm tức, không phẫn nộ . Nhìn thấy cái đẹp mà không ngưỡng mộ, không say mê, không thích thú . Thấy cảnh tượng bi thương lại thờ ơ, không động lòng chua xót, không rung động tâm can . Vậy đó còn là con người không hay chỉ là cái xác khô của một cỗ máy ?
  Trước hết là về cái đẹp, bây giờ ra ngoài đường, hiếm ai có thể bắt gặp một người đàn ông đạp xe ung dung dạo mát, thưởng ngoạn cái không khí trong lành, tươi mát dưới những hàng cây cổ thụ vàm bóng quanh bờ hồ ; một người con gái dịu hiền, yêu kiều trong chiếc váy thanh thoát tản bộ trên những con đường hoa sấu, hoa sữa đầy mộng mơ mà hầu hết là những dòng người tấp nập, vội vã, chen lấn xô đẩy trên đường, xe buýt . Lúc ấy cũng chính là lúc mà con người ta mất một phần tâm hồn đẹp đẽ đã bị chôn vùi dưới lớp cát . Phải chăng cũng vì như thế mà họ càng lúc càng khép chặt cánh cửa trái tim mình lại, không còn biết hưởng thụ cái đẹp mà chỉ nghĩ đến tiền, đến công việc ngày mai ?
  Vô cảm với cái đẹp mới chỉ là bước đầu . Một khi người ta đã không biết ngưỡng mộ, không biết say mê, rung động trước những điều đẹp đẽ thì trái tim cũng dần chai sạn rồi đến đóng băng . Khi ấy, không chỉ là cái đẹp mà đứng trước những hành động ác độc, vô lương tâm, con người ta cũng cảm thấy bình thường, không oán trách cũng không cảm thông, động lòng với những nạn nhân bị hại . Một tháng trước, tôi đọc được một bài báo trên mạng có đưa tin về vụ một đứa bé Trung Quốc hai tuổi bị xe tải cán . Thương xót, đau lòng làm sao khi nhìn cô bé đau đớn nằm trên vũng máu mà không một người nào qua đường để ý, cuống cuồng gọi cấp cứu . Họ nhìn thấy rồi đấy nhưng họ lại cố tình như không thấy, đi vòng qua cô bé để tiếp tục con đường nhạt thếch, sáo mòn của mình . Càng chua xót, đau lòng, phẫn nộ hơn khi chiếc xe tải tiếp theo nhìn thấy cô bé nằm đó, vẫn thoi thóp thở, bám víu lấy cuộc đời lại vô tình chẹt cả bốn bánh xe nặng trịch đi qua người cô bé, thản nhiên đi tiếp . Người qua đường vẫn thế, vẫn bình thản như không có chuyện gì xảy ra . Cô bé xấu số chỉ được cấp cứu khi một người phụ nữ nhặt rác đi qua, thấy cảm thông, đau lòng nên đã bế cô đi bệnh viện . Có những con người ích kỷ, vô tâm, tàn nhẫn như vậy đấy . Không những thế, bây giờ ra đường gặp người bị cướp, bị trấn lột, bị đuổi chém nhưng lại không thấy anh hùng nào ra can ngăn, cứu giúp hay chỉ một việc nhỏ nhoi thôi là báo công an . Đó là những con người “không dại gì” và cũng chính “nhờ” những người “không dại gì” đó mà xã hội ngày càng ác độc, hỗn loạn . Chính lẽ đó mà căn bệnh vô cảm càng được thể truyền nhiễm, lây lan .
  Vô cảm còn là con đường trực tiếp dẫn đến những cái xấu, cái ác . Nó là một căn bệnh lâm sàng mà trong đó, não của người bệnh vẫn hoạt động nhưng trái tim lại hoàn toàn băng giá . Người ta đã vô cảm thì làm sao có thể thấu hiểu được nỗi đau, tình cảm của người khác , người ta chỉ nghĩ đến mình và lợi ích của riêng mình mà thôi . Nếu không vô cảm, tại sao các cô giáo ở trường mầm non lại nhẫn tâm giật tóc, đánh đập, bịt miệng các cháu bé còn ngây thơ, nhỏ tuổi ? Tại sao một người còn chưa qua tuổi trưởng thành lại vô tư chém giết cả nhà người ta để lấy của cải ? Xa hơn nữa là các công chức bình thản ăn tiền ủng hộ, trợ giúp những số phận đau thương, bất hạnh của người dân để kiếm lợi cho riêng mình . Và còn nhiều, còn nhiều hành động xấu xa hơn nữa . Tất cả những điều vô lương tâm ấy đề xuất phát từ căn bệnh vô cảm mà ra .
  Chúng ta biết bệnh vô cảm vô cùng nguy hiểm nhưng lại đặt ra câu hỏi : Rốt cuộc thì nguyên nhân tại sao ? Suy cho cùng, tình cảm là điều chi phối tất cả . Những người vô cảm là những người bị thiếu hụt tình yêu thương . Chính vì không cảm nhận được tình yêu thương mà người ta ngày càng lạnh giá . Một phần nữa cũng là do xã hội hiện đại quá bận rộn và đòi hỏi con người phải làm việc, làm việc và làm việc mà bỏ quên thời gian để trao nhau hơi ấm của tình thương, để ươm mầm cảm xúc .
  Tình cảm như những hạt mưa, hạt mưa càng to, càng nặng thì càng dập tắt được những ngọn lửa của lòng thù hận, ghen ghét, bi ai và nó cũng như một ngọn lửa thổi bùng cháy mãnh liệt trong tâm hồn để nuôi dưỡng tiếp nguồn sống cho chúng ta . Vì vậy, điều duy nhất chúng ta có thể làm để cho căn bệnh vô cảm “không còn đất sống” là hãy biết mở cửa trái tim để biết cảm nhận, biết yêu ghét, thương giận và chia sẻ những điều tinh túy đó cho những người xung quanh mình .
  “Con người ta không phải là cái đồng hồ và trái tim ta cũng không phải là cái lò xo” – một giáo sư người Anh đã nói như thế . Tóm lại, ta nhận thấy rằng căn bệnh vô cảm đang lan tràn ngày càng rộng lớn và trở nên vô cùng nguy hiểm, biến con người thành một cỗ máy vô tri chỉ biết vận động . Đừng để điều đó xảy ra mà hãy đấu tranh để giành lại phần “người”, giành lại “trái tim” mà Thượng Đế, mà tạo hóa đã ban cho chúng ta, đào thải căn bệnh vô tình quái ác ra khỏi xã hội . /.
————————————–
Bài văn quá tuyệt !
Một tâm hồn cũng rất tuyệt !

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Bệnh vô cảm (Hoàng Tuấn st)

MERRY CHRISTMAS 2021

MERRY CHRISTMAS & HAPPY NEW YEAR 2022

Kính chúc quý NT, quý Thân Hữu Anh Em Các Khóa Học Viện CSQG và toàn thể các bạn và gia đình Khóa 1 Vui hưởng một mùa Giáng Sinh 2021 thật an bình, ấm cúng, nhiều sức khỏe và hạnh phúc.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở MERRY CHRISTMAS 2021

Đôi Ba Đồng Bạc Nghĩa Lý Gì_-_Đàm Hà Phú

ĐÔI BA ĐỒNG BẠC NGHĨA LÝ GÌ!

(Truyện ngắn thời COVID)

Hẻm nhỏ, lại là hẻm cụt, có 53 nóc nhà. Tuy 53 nóc nhà nhưng mà tới gần trăm hộ dân, do có mấy căn nhà cũ, hai ba gia đình cùng sống chung.

            Trong hẻm cũng đủ loại người, có mấy người già ưa ngồi uống café sữa trong cái ly nhỏ xíu, đựng trong chén nước sôi giữ ấm, rồi gác chéo chân nói chuyện đời xưa. Có mấy đứa thanh niên mua hàng vô tội vạ, shipper xanh đỏ ra vô hẻm liên tục. Có người làm hãng sở, sáng mơi  sơ mi cà vạt ra xe hơi đi làm như trong phim Hồng Kông. Hẻm có chó, có mèo, có gà ta, có gà tre, thậm chí có nhà còn nuôi cả gà đá.

            Hẻm nhỏ nên mọi người đều biết nhau, có thể không biết rành hết mọi người, nhưng ai trong hẻm cũng phải biết bà Tư. Bà Tư nhà khá giả, có đội xe tải, lính của bả toàn lái xe và lơ xe tải, xăm trổ kín người, tuần nào cũng tụ về cái bãi xe cuối hẻm nhậu.

            Nhà Bà Tư đầu hẻm, nguyên một vách tường ngang cửa nhà bà Tư thay vì xây hàng rào làm sân thì bà Tư để trống, chỉ láng xi măng. Sáng cho vợ chồng chị Liên với đứa nhỏ bán cơm tấm và hủ tiếu, buổi chiều thì nguyên nhà cô Giàu bán cháo vịt với gỏi cuốn. Ai ra vô nhà bà Tư đều sực nức mùi đồ ăn, mấy người đó buôn bán được, cũng muốn gửi chút tiền gọi là “thuê mặt bằng” cho bà Tư, bà Tư khoát tay, nhớ sạch sẽ giùm tao là được rồi, đôi ba đồng bạc, nghĩa lý gì.

            Đó là câu cửa miệng của bà Tư, đôi ba đồng bạc, nghĩa lý gì, cứ cái gì liên quan tới tiền là nghe giọng bà Tư, đôi ba đồng bạc, nghĩa lý gì, bả nói riết rồi cả xóm nói liệu theo bả. Bữa có ông kia đi nhậu về, hứng chí lên cho thằng tài xế tắc xi 500 ngàn, thằng tài xế không dám lấy, đem vô gõ cửa trả lại. Ổng đứng trong nhà cũng la câu y chang, đôi ba đồng bạc mà, nghĩa lý gì, lấy đi chú em. Bà Tư nghe xong bật cười, đù má bắt chước tao.

            Bà Tư xuất thân đâu ngoài Quảng, bà theo chồng lưu lạc vô Sài Gòn từ trước 75. Sau 75, chồng bà Tư chết, để lại bà với 5 đứa con nhỏ. Bà tư trở thành trùm vượt biên, bà Tư từng vượt biên tổng cộng 17 lần, trong đó bị bắt nhốt chỉ có 2 lần, còn lại do anh em biên phòng thấy tội, thấy quen, thấy người phụ nữ ôm 5 đứa con nên họ thả về. Một tay bà Tư nuôi 5 đứa con, làm đủ mọi thứ để mưu sinh, mà ngon lành nhứt tới giờ là tổ chức một đội xe vận chuyển cho mấy chợ đầu mối.

            Năm người con của bà Tư chỉ có đúng một người đi học đàng hoàng, đó là cô con gái duy nhứt của bà Tư, người được cưng chiều nhứt nhà. Cô học giỏi, lãnh học bổng, rồi ra nước ngoài học và lấy chồng định cư luôn ở bển. Bà Tư làm được nhiêu tiền mua thêm đất, cất nhà gần bên, nên bốn ông con trai còn lại cũng ở loanh quanh trong hẻm.

            Họ vẫn tụ tập qua nhà bà Tư nhậu, buổi chiều, cuộc nhậu như mọi cuộc nhậu ở Sài Gòn, vài lon bia và dĩa thịt vịt mua của nhà cô Giàu, ngay cửa, bữa nào vui thì mở ka rao kê ca, cũng mấy bản nhạc bolero nhừa nhựa. Cả bốn người họ đều xuất thân tài xế hoặc bốc vác, đều đen đúa vạm vỡ, giọng nói vẫn mang âm vị xứ Quảng rổn rảng, và cũng ưa khoát tay: đôi ba đồng bạc…

            Những ngày tháng Bảy, Sài Gòn bắt đầu phong toả, hẻm cũng gần ủy ban phường nên dân phòng tới chốt luôn. Dịch bệnh lan ra quá nhanh, nỗi sợ dịch bệnh và sự thiếu thốn của những ngày thành phố bị phong tỏa đều thê thảm như nhau.

            Nhà chị Liên dính đầu tiên. Chị Liên vẫn hay mua hàng trên mạng, và không biết lần mua hàng nào đó chị đã bị lây. Bà già má chồng chị Liên trở nặng ngay lập tức. Hai chiếc xe cấp cứu với những nhân viên y tế xanh lè kín mít tới đưa cả nhà họ đi, con bé 12 tuổi hằng ngày bưng hủ tiếu cũng bị hốt theo, dù nó âm tính. Rồi nhà cô Giàu cũng dính, lây thêm một nhà nữa. Rồi xịt khuẩn mù mịt, rồi hàng rào, rồi giăng dây trắng đỏ… như mọi con hẻm khác, ở Sài Gòn.

            Hai tuần sau con bé con chị Liên trở về hẻm bằng xe của công an. Nó bận bộ đồ xanh kín mít, ôm theo hũ cốt của bà nội nó. Nó nói ba nó nằm chỗ khác, mẹ nó nằm chỗ khác, giờ cũng không liên lạc được. Nó vẫn âm tính nên người ta trả về nhà theo dõi, nhường chỗ cho người khác, ở trỏng đông lắm rồi.

            Bà Tư nói mày về ở với ai? Nhà còn ai đâu mà ở. Cũng không ai dám chứa con bé, âm tính vậy chớ biết đâu nó dương trở lại, ai cũng xầm xì. Bà Tư nói thôi vô nhà tao ở. Kệ mẹ, không lẽ bỏ con nhỏ đứng ngoài hẻm hoài. Con bé đưa hũ cốt bà nội về nhà, rồi quảy ba lô qua nhà bà Tư ở. Nó khóc hoài. Bà Tư nạt nó vang cả con hẻm, bà nội mày già thì chết thôi, không bịnh này cũng bịnh khác mà. Ba má má nằm viện ít bữa rồi về, ở đây tao nuôi, có gì đâu mà khóc, cười lên cái cho sáng cái nhà coi.

            Đội xe bà Tư có hai chiếc được cấp mã QR để chở hàng rau củ quả từ Tây Nguyên về Sài Gòn, chủ hàng bao ăn ở xét nghiệm cho tài xế mà không ai chịu lái, đám tài xế né hết. Bà Tư biểu hai ông con trai, thôi tụi mày lái đi, chở rau củ về cho người ta ăn nữa, chớ ăn cơm với cá khô hoài ỉa không ra, tội người ta. Rồi bà Tư đưa tiền biểu hai ông con trai mua thêm rau củ quả, chở về hẻm.

            Mới đầu bà Tư để cái bàn, là mấy cái bàn cơm Tấm của chị Liên, kê trước cửa nhà, chất rau củ trái cây lên đó, kêu mọi người trong hẻm ra lấy về ăn. Mà mấy nhà có người dính, hoặc mấy nhà không muốn ra đường thì không tới lấy. Bà Tư phiền quá mới đi dọc hẻm nói, thôi bà con mỗi nhà để giùm tui một cái rổ trước cửa. Tui biểu thằng Út đem rau củ quả bỏ vô rổ, đem vô ăn.

            Vậy là ông Út nhà bà Tư thêm nhiệm vụ, mỗi khi xe rau củ trái cây về, vác xuống nhà, chia làm nhiều bịch nhỏ, rồi đi dọc hẻm, bỏ vô cái rổ trước nhà mỗi người. Để ngoài nắng chút cho chết mẹ con vi rút đi, lời bà Tư hay nói, rồi ai nấy đem vô nhà nấu ăn. Ở đâu thiếu rau củ chớ hẻm này không thiếu, mỗi nhà còn được cam, chanh, sả, trái cây… đủ thứ.

            Ba tuần sau thì chồng chị Liên về. Anh tiều tụy như một cái xác khô, nhưng không phải do bệnh, mà buồn, mẹ mất, vợ còn nằm đâu chưa biết. Anh đón con bé từ nhà bà Tư, cúi đầu cám ơn bà Tư rồi dẫn con bé về nhà. Bà Tư xúc cho một bao gạo, một túi đồ ăn, một bao rau củ, hai cha con lục đục vác về nhà.

            Hai cha con loay hoay ở nhà được ít bữa thì xe quân đội tới, chị Liên về, trong một cái hũ. Anh chồng ráo hoảnh, mắt xa xăm vô hồn, im lặng. Còn con bé nó cứ khóc miết. Bà Tư lại chạy qua, nói thôi để đó, hết dịch làm cái đám sau, giờ hai cha con mày ráng sống đi, cho mẹ mày ở trển yên lòng.

            Rồi không biết lây ai, tới lượt anh Út nhà bà Tư dính luôn, mà lúc này cả thành phố đang cao điểm dịch, các bệnh viện đều quá tải, anh Út không đi viện nữa, phải tự nhốt mình trong nhà và uống thuốc theo đơn bác sĩ. Không có ai đi phát rau củ thì bà Tư tự đi.

            Mỗi khi xe rau củ về, mấy ông con chất xuống cho mẹ, rồi bà Tư tự chia. Buổi chiều, bà Tư kêu anh chồng chị Liên phụ, đẩy cái xe đẩy hàng của mấy thằng tài xế bỏ trong bãi, chất đầy rau củ, trái cây, gạo… bà đi bỏ mỗi nhà một bịch. Xóm riềng cảm ơn bà Tư hoài cũng ngại, cả tháng ăn rau củ của bà Tư mà, có người mới về hẻm không biết, ráng cột tiền vô cái rổ, năn nỉ bà Tư cầm tiền giùm. Bà Tư thấy tiền bèn la lớn, nè, ra lấy tiền vô đi, cái này tao cho mà, đôi ba đồng bạc, nghĩa lý gì, chết có mang theo được đâu, đù má.

Đàm Hà Phú

(Bài do Võ Thiệu (K1) sưu tầm chuyển)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Đôi Ba Đồng Bạc Nghĩa Lý Gì_-_Đàm Hà Phú

Tiệc Mừng Sinh Nhật K1 Phạm bá Nhạc tại Little Saigon, Nam CA

TIỆC MỪNG SINH NHẬT K1 PHẠM BÁ NHẠC

(Little Saigon/Nam CA): Vào lúc 11 giờ sáng chủ nhật 12/12/2021, đông đảo anh chị em K1-HVCSQG và nhiều thân hữu các Khóa bạn cùng nhiều hội viên Hội Ái Hữu CSQG Nam California đã tham dự một buổi tiệc mừng sinh nhật K1 Phạm Bá Nhạc được tổ chức tại tư gia K6 Trần Trọng Bảo tại thành phố Westminster, Nam CA. Buổi tiệc do anh chị Phạm Bá Nhạc khoản đãi. Ngoài sự hiện diện của bạn bè các khóa và thân hữu, buổi tiệc đã có sự hiện diện của đông đủ các thành viên trong gia đình của anh chị Nhạc gồm vợ và các con và các cháu của Anh. Buổi tiệc đã diễn ra vô cùng thân mật và đầm ấm trong tiếng nhạc và lời ca góp vui của các thân hữu và Ban Văn Nghệ CSQG Nam CA kéo dài đến tận 5 giờ chiều vẫn chưa muốn dứt.

https://photos.google.com/share/AF1QipNLGLDy5A1sqlwKg8JZVAYF9W5CUjcD7LidTFY6F8PCgT5B2PKlJkJoVL8wkRdbnw?key=RUtYY2NnLWFWU2xOYXZxV0xKT1hPVDVsN25uY0RR

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Tiệc Mừng Sinh Nhật K1 Phạm bá Nhạc tại Little Saigon, Nam CA

Bí ẩn con trai trưởng TT Trần văn Hương là một sĩ quan QĐND (VC)_ Sưu tầm

Bí ẩn con trai trưởng của TT Trần Văn Hương

là một sĩ quan trong Quân đội Nhân dân (VC)

            Con trai trưởng của Cố TT Trần Văn Hương là một sĩ quan trong Quân đội Nhân dân, một trong ba người miền nam duy nhất chiến đấu tại Điện Biên Phủ. Khi con trai ông tập kết ra Bắc, ông Hương mất liên lạc với anh và tin rằng anh đã mất. Như em trai của Minh Cồ, vào giữa thập niên 1960 Cộng sản lệnh cho con trai ông viết một bức thư để bắt liên lạc lại với ông, tất nhiên hy vọng sẽ lung lạc được ông. Cho dù nhận được thư, ông không trả lời. Ông không gặp lại con mình một lần nữa cho đến năm 1978.

            Người con trai lớn của ông Hương là Lưu Vĩnh Châu, tên thật là Trần Văn Dõi, một cán bộ của Ban Công nghiệp Trung ương đảng Cộng sản Việt Nam của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở miền Bắc, nguyên là đại úy Quân đội Nhân dân Việt Nam đã từng tham gia trận Điện Biên Phủ. Năm 1943, ông học hết Trung học Cần Thơ. Năm 1944, ông tham gia Thanh niên Tiền phong.

            Khi cha ông từ Đốc học Tây Ninh, trở thành Chủ tịch ủy ban hành chính kháng chiến tỉnh Tây Ninh, con trai lớn của ông là anh Dõi cũng theo hướng hoạt động này. Ông Dõi gia nhập Vệ quốc đoàn (QĐNDVN ở Nam bộ lúc đó) rồi tham gia chỉ huy chiến đấu tại Trâm Vàng, Bến Sỏi, Bến Cầu khi quân Pháp tiến vào Tây Ninh. Giữa năm 1946, đơn vị của ông gần cạn kiệt đạn dược, ông được tổ chức lo giấy tờ ra Bắc nhận vũ khí. Ông được đi cùng chuyến tàu với Nguyên Bộ trưởng Bộ Tài chính Phạm Văn Đồng mới từ Pháp trở về. Ra Hà Nội, việc chuyển vũ khí không thành, vì Hà Nội lúc đó tình hình chính trị cũng rất căng thẳng. Ông được bố trí vào đội tự vệ khu Bạch Mai, tham gia chiến đấu cùng đơn vị tự vệ trong ngày toàn quốc kháng chiến (19 tháng 12 năm 1946).

            Năm 1948, ông được cử đi học Trường Lục quân Trần Quốc Tuấn khóa 4, đổi tên thành Lưu Vĩnh Châu theo họ mẹ. Sau khi bế mạc khóa học ông tiếp tục theo học khóa I công binh. Ngày 10 tháng 7 năm 1949, khi lớp công binh đang xây dựng cầu treo Bờ Rạ, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Sau khi tốt nghiệp khóa công binh, ông về cục công binh công tác.

            Tháng 12 năm 1952, ông được bổ nhiệm đại đội trưởng C57 tpm bom, bắn phá, đơn vị C57 được điều biệt phái sang trực thuộc Cục vận tải Tổng cục cung cấp. Năm 1953, do yêu cầu nhiệm vụ vận chuyển vũ khí từ Trung Quốc về nước gặp rất nhiều khó khăn vì quân Pháp thường xuyên ném bom, bắn phá, C57 được biệt phái sang Cục Vận tải Tổng cục Cung cấp. Đơn vị của ông đảm nhiệm phá bom, chữa đường bảo đảm giao thông vận tải vũ khí, lương thực từ biên giới.

            Tháng 3 năm 1954, đại đội công binh 57 đang chữa đường ở Chi Lăng – Đồng Mỏ, Lạng Sơn thì được lệnh hành quân cấp tốc đi Điện Biên Phủ. Tiểu đoàn 206 được giao nhiệm vụ phối hợp với thanh niên xung phong miền Tây Bắc, đảm nhiệm thông đường “huyết mạch” từ đèo Lũng Lô đến Sơn La dài hơn 16 km. Ác liệt nhất là trong đợt ném bom của Pháp vào đêm 23 rạng sáng 24 tháng 4 năm 1954, đơn vị của ông bị trúng bom, 12 người hy sinh.

            Sau chiến dịch Điện Biên Phủ, máy bay Pháp vẫn tấn công đường cho đến khi Chính phủ Việt Nam ra điều kiện về tù binh. Tổng kết chiến dịch, Tiểu đoàn 206 được cờ thi đua, và được Chủ tịch Hồ Chí Minh khen tặng Huân chương Quân công hạng 2.

            Sau năm 1954, 1955, do tình hình chính trị căng thẳng, Tổng tuyển cử không diễn ra nên ông ở lại miền Bắc, thụ phong quân hàm Đại úy. Năm 1961, ông được đi học Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội. Năm 1966, sau khi tốt nghiệp, ông về công tác tại Ban Công nghiệp Trung ương.

            Vì không về quê được, ông Châu vẫn cố gắng tìm kiếm tung tích người cha Trần Văn Hương. Trong khi đó, ở miền Nam, ông Hương nhầm tưởng con mình đã chết vì chiến sự, phải hủy đi những dấu hiệu liên lạc cũ, vì biết con trai “từng” tham gia Việt Minh (sẽ gặp rắc rối với chính phủ hiện tại có lập trường chống cộng sản quyết liệt). Sau khi phát hiện ra ông Trần Văn Hương đang làm Phó Tổng thống Việt Nam Cộng hòa, ông Lưu Vĩnh Châu được triệu tập tới gặp Bộ trưởng Nội vụ Ung Văn Khiêm, chờ công tác đặc biệt. Sau đó, ông được biệt phái xuống nhà máy cơ khí Trần Hưng Đạo chuyên lo chế tạo động cơ nổ 12 mã lực và cải tiến bơm cao áp con heo dầu.

            Sau khi chiến tranh kết thúc, ông Trần Văn Hương ở lại Việt Nam. Ông Lưu Vĩnh Châu trở về thành phố Hồ Chí Minh, dọn đến sống cùng cha ở căn nhà trên đường Điện Biên Phủ. Gia đình ông là một trong những trường hợp điển hình mà những người trong gia đình nằm trong cả hai chiến tuyến. Ông mất năm 2011.

            Ông Dõi có người con gái duy nhất là bà Diệp, sau này bà Diệp kết hôn với một người châu Âu mang quốc tịch Hung Gia Lợi. Vào khoảng năm 2017-2018 báo chí VN bất ngờ rộ tin chắt của ông Trần Văn Hương có tên Szilu con bà Diệp trở về VN làm huấn luyện viên cho câu lạc bộ Juventus. Sau đó anh cưới một người con gái Ba Lan. Trong đại dịch Covid-19, Szilu chắt của ông Trần Văn Hương trở lại châu Âu. Còn bà Diệp tuyên bố đoạn tuyệt với chế độ CS. Về phần con thứ là ông Trần Văn Đính đã không theo chân anh cả ra Bắc sau khi chứng kiến vụ thảm sát nhiều người vô tội của Việt Minh. Hết chiến tranh ông di tản sang Mỹ. Gia đình của hai con ông Tổng Thống cao tuổi nhất VNCH đều yên bề gia thất và bình an lập nghiệp tại EU và US cũng như đoạn tuyệt với chế độ CSVN.

 (Bài sưu tầm trên net)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Bí ẩn con trai trưởng TT Trần văn Hương là một sĩ quan QĐND (VC)_ Sưu tầm

SINH TỐ D VÀ BỆNH LÚ LẪN (ALZHEIMER)_BS Lương Vinh Quốc Khanh

SINH TỐ D VÀ BỆNH LÚ LẪN (ALZHEIMER)

 Bài của Cố Bác Sĩ Lương Vinh Quốc Khanh*

Bệnh Alzheimer (AD, SDAT) mà từ xưa đến nay, phần đông chúng ta vẫn quen gọi là bệnh “lú lẫn” hay bệnh “lẫn,” và cho là căn bệnh của tuổi già, là một chứng bệnh mất trí nhớ kinh khủng nhất mà nhân loại đang phải đối diện. Căn bệnh này được đặt tên theo Bác Sĩ Tâm Thần và Thần Kinh học người Đức tên Alois Alzheimer khi ông đã nghiên cứu và xác định căn bệnh bất trị này sẽ dần dần thoái hóa và gây ra tử vong. Bệnh này thường xuất hiện ở những người đã qua tuổi hưu trí, và có những dấu hiệu giống nhau: quên tên người thân, quên tự làm lấy những việc hằng ngày như tiểu và đại tiện, nhầm lẫn lung tung, mất khả năng ngôn ngữ, rồi dần dần không còn biết tự kiểm soát mình nữa, đến nằm liệt và từ từ chết dần. Theo một tài liệu của cơ quan y tế (*), hiện nay trên đất Mỹ, có khoảng 5 triệu 400 ngàn người bị bệnh Alzheimer. Con số này đã gấp đôi kể từ 1980 và người ta phỏng đoán sẽ cao tới con số 16 triệu người vào năm 2050.

Vì căn bệnh này thuộc loại bất trị, nên chi phí mà Medicare trả cho các phương pháp trị liệu bệnh Alzheimer cao gấp ba lần chi phí trả cho các bệnh khác. Trong năm 2011, nói chung, Medicare và Medicaid đã phải chi ra $130 tỉ đô la về căn bệnh này.

Từ trước đến nay, y khoa vẫn chưa tìm ra phương pháp chữa trị dứt bệnh Alzheimer ngoài các phương pháp chữa trị riêng rẽ, làm giảm một phần các triệu chứng bệnh, như chữa chứng mất ngủ, chữa bớt quên sót, chữa việc thay đổi tâm tính… cũng như khuyến cáo nên đi tập thể dục cho những người mới bắt đầu nhuốm bệnh, nhưng chưa có cách nào ngăn chặn hẳn cơn bệnh. Khoa học vẫn đang nghiên cứu kỹ hơn về nguyên nhân và tiến triển của bệnh Alzheimer, vì hiện nay, giới y khoa vẫn chỉ biết là bệnh liên quan đến việc thoái hóa những mảng xám của thần kinh não (neocortex) nơi điều hành suy nghĩ và lý luận của con người. Từ sự thoái hóa này, bệnh Alzheimer sẽ đem đến một cái chết khổ sở, kéo dài, và đau đớn cả về thể xác lẫn tinh thần cho cả người bệnh và thân nhân người mắc bệnh.

Nhưng, như ngọn hải đăng chợt sáng khi thuyền đang gặp bão tố, dần dần, những khám phá của y khoa đang đem lại cho nhân loại những hy vọng mới. Một nghiên cứu của một Bác Sĩ Giáo Sư Y Khoa Việt Nam đã đem lại cho con người nhiều tin tưởng vào một tương lai mà bệnh Alzheimer không còn là một đe đọa của Tử Thần nữa. Bác Sĩ Nguyễn Thị Hoàng Lan và Lương Vinh Quốc Khanh (*), hai Giáo Sư Y Khoa tại Keck Medical School, mới đưa ra một phương pháp mới có thể trị được căn bệnh Thần Chết này: dùng sinh tố D để chữa trị. (loại sinh tố D cần toa Bác Sĩ, 50,000 đơn vị, mỗi tuần 1 viên, không phải loại bán tự do ngoài thị trường)

Tạp chí Y Khoa chính thức của giới y sĩ Hoa Kỳ, “American Journal of Alzheimers Disease & Other Dementias,” Volume 26(7) 510, đã đăng bài khảo cứu của hai vị Giáo Sư Bác Sĩ này, với lời giới thiệu của Bác Sĩ Carol, F. Lippa, M.D. và Tổng Biên Tập của tạp chí như sau:

“Gần đây,có nhiều nỗ lực tập trung vào vai trò của Sinh tố D trong những trạng huống của căn bệnh, bao gồm sự biến đổi của trạng thái và sự nhận thức. Trong bài khảo cứu Vai trò ích lợi của Sinh Tố D trong căn bệnh Alzheimer, bác sĩ Nguyễn đã chỉ cho thấy rằng những bệnh nhân của bệnh có chiều hướng thiếu Vitamin D trầm trọng…”

Nhận thấy đây là tin vui cho mọi người và là niềm hãnh diện cho người Việt, người viết xin ghi lại cuộc phỏng vấn bác sĩ Lương Vinh Quốc Khanh, người đã đạt danh hiệu “Khoa Học Gia Thế Giới Hàng Năm” (International Scientist of the Year) như sau:

Hỏi: Xin cho biết liên hệ giữa Vitamin D và bệnh Alzheimer như thế nào?

– Đáp: Tỷ lệ thiếu sinh tố D xảy ra ở người bệnh lú lẫn rất cao. Có sự liên quan giữa thử trí nhớ bằng Mini-Mental State Examination (MMSE) và lượng sinh tố D trong máu. Người thiếu sinh tố D sẽ có chỉ số MMSE cao. Trong cuộc khảo cứu khác cho thấy trí nhớ bị ảnh hưởng bởi tuổi già. Trong mô hình bệnh Lú Lẫn ở con chuột cho thấy nếu dinh dưỡng thiếu sinh tố D làm giảm trí nhớ, còn dinh dưỡng đầy đủ sinh tố D làm giảm đi những mảnh chai cứng (plaque) hay thấy ở bệnh lú lẫn và làm tăng thêm sự hoạt động của tế bào não.

– H: Từ trước đến nay, chắc đã có nhiều cuộc nghiên cứu khác liên hệ đến vấn đề này? Sinh tố D có vai trò gì trong cơ thể?

– Đ: Có rất nhiều cuộc khảo cứu của sinh tố D trong bệnh lú lẫn. Sinh tố D có vai trò bảo vệ sự hư hại của những chất dẫn chuyền trong dây thần kinh như Acetylcholine, norepinephrine, và L-dopamine… Sinh tố D giữ cho lượng chất vôi (calcium) điều hòa trong tế bào não. Sinh tố D còn có nhiệm vụ trong việc sản xuất chất kích thích tái tạo (Nerve growth factor) ra tế bào não mới. Hơn thế nữa, sinh tố D còn có nhiệm vụ bảo vệ tế bào não bớt đi oxýt hóa (Reactive oxygen species) do những độc tố gây ra.

– H: Xin cho biết những yếu tố về Di truyền (Genetic factors) liên kết giữa Vitamin D và AD như thế nào?

– Đ: Sự liên hệ di thể (gene) giữa sinh tố D và bệnh lú lẫn rất rõ ràng, như những di thể sau đây: the major histocompatibility complex class II molecules, vitamin D receptor, renin–angiotensin system, apolipoprotein E, liver X receptor, Sp1 promoter gene, and the poly(ADP-ribose) polymerase-1gene. Điều nầy càng xác nhận được vai trò của sinh tố D trong bệnh lú lẫn của người Già.

– H: Bên cạnh những liên hệ giữa di thể, còn có yếu tố không phải di truyền (Non genetic role) của Vitamin D trong bệnh lú lẫn không?

– Đ: Ngoài những yếu tố liên quan đến di thể (gene), chúng ta thấy có những yếu tố khác có thể đưa đến bệnh lú lẫn như bệnh Tiểu Đường (Diabetes Mellitus) và béo phì (Obesity) đều có thể đưa đến bệnh lú lẫn vì những người bệnh nầy có nguy cơ dễ bị thiếu sinh tố D và làm cho người bệnh có nguy cơ tiềm ẩn sẽ bị bệnh lú lẫn sau này.

– H: Xin cho biết tỷ lệ trung bình số người Việt mắc bệnh AD có cao không?

– Đ: Tôi chưa hoàn tất việc so sánh tỷ lệ người Việt mắc bệnh này là bao nhiêu, nhưng tôi nghĩ là rất cao vì bệnh lú lẫn nầy liên quan đến sự thiếu dinh dưỡng ở người già, mà các cụ người Việt mình thường thiếu dinh dưỡng.

– H: Người Việt có nguy cơ mắc bệnh AD nhiều hơn dân tộc khác không? Tại sao có? Tại sao không? Hoặc vì va chạm văn hóa (Cultural shock)? Hay các vấn đề Xã Hội (Social issues) khác?

– Đ: Theo tôi, bệnh lú lẫn là một tiến trình của người già trong mọi quốc gia. Dĩ nhiên, tôi cũng nghĩ đến yếu tố cách biệt về văn hóa và xã hội có thể có phần nào ảnh hưởng đến bệnh lú lẫn.

– H: Hy vọng trong tương lai, khám phá mới về Vitamin D này sẽ có ảnh hưởng như thế nào?

– Đ: Vai trò của sinh tố D rất là rộng rãi. Ngoài bài viết về vài trò của sinh tố D trong bệnh lú lẫn, Tôi đã viết rất nhiều bài về sinh tố D áp dụng trong nhiều trường hợp bệnh lý khác nhau như trong bệnh ung thư, bệnh tiểu đường, bệnh về tim mạch (Cardiovascular Disease), bệnh lao (Tuberculosis), bệnh cùi (Leprosy), bệnh suyễn (Asthma), bệnh béo phì (Obesity), bệnh run chân tay (Parkinsons disease), bệnh siêu viêm gan (Viral Hepatitis), và bệnh liệt kháng thể (AIDS). Những bài nầy đã dược đăng trong những nguyệt san chuyên môn của y khoa Hoa Kỳ.

– H: Xin cho biết vị trí của tập san y học và giá trị của các bài viết trong đó

– Đ: American Journal of Alzheimers Disease là tạp chí chuyên khoa duy nhất về bệnh lú lẫn trên thế giới và quy tụ nhiều nhà khảo cứu chuyên về bệnh lú lẫn đến từ mọi quốc gia.

– H: Xin cám ơn Bác Sĩ Lương Vinh Quốc Khanh đã cho thực hiện cuộc phỏng vấn quan trọng này.

(*) Bác sĩ Giáo Sư Lương Vinh Quốc Khanh, một khoa học gia quốc tế, đã từ trần, bỏ lại bao công trình nghiên cứu y khoa dở dang. Đặc biệt, Bác Sĩ Lương Vinh Quốc Khanh là người đầu tiên nghiên cứu thành công về cách dùng Vitamin D để trị bệnh ung thư. Khi ông trình bày luận án về vấn đề nghiên cứu này, ông đã bị đả kích bởi chính các vị giáo sư của ông, nhưng sau 20 năm, giáo sư y khoa của ông đã ngỏ lời xin lỗi ông.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở SINH TỐ D VÀ BỆNH LÚ LẪN (ALZHEIMER)_BS Lương Vinh Quốc Khanh

Tản mạn Chiều Thu – Thơ TPK

TẢN MẠN CHIỀU THU

3989c378-d697-4829-be25-a863da6c4c14

Chiều thu êm ả nhẹ nhàng rơi
Khung cảnh thiên nhiên đẹp tuyệt vời
Lác đác lá vàng bay trước ngỏ
Hoàng hôn dần xuống phiá chân trời
Bên kia đồi vắng ánh trăng lên
Sương tỏa mênh mông nẻo gập ghềnh
Thấp thoáng bóng ai mờ mịt lối
Về đâu cô quạnh dáng buồn tênh
Nhìn người lững thững dưới trăng vơi
Thầm nghỉ mong manh một cuộc đời
Như áng mây chiều khi nắng xuống
Một cơn gió thoảng cũng tan thôi
Bao năm lăn lộn giữa trần gian
Tìm kiếm công danh với bạc vàng
Tất cả nay còn mai lại mất
Khác nào chiếc lá lúc thu sang
Nay nợ áo cơm đã trả rồi
Chôn vùi qúa khứ hết đi thôi
Thênh thang rảo bước về ga cuối
Tới chốn an bình để nghỉ ngơi.
TPK

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Tản mạn Chiều Thu – Thơ TPK