MỪNG BÀ XÃ VỀ HƯU_Tống Phước Kiên

MỪNG BÀ XÃ VỀ HƯU

Anh hùng nay thấm mệt

Gác kiếm ngắm chiều buông

Bao năm trường lao nhọc

Trả xong nợ áo cơm

Kể từ khi qua Mỹ

Được sống đời tự do

Nhưng lao lung vất vả

Vì áo ấm cơm no

Ngày ngày trong hãng xưởng

Tối tăm cả mặt mày

Nhiều đêm ngủ không xuống

Bởi ê ẩm chân tay

Đồng lương tuy ba cọc

Song cũng đủ nuôi con

Cũng có nhà xe cộ

Lo mọi thứ vuông tròn

Con ra trường đại học

Đã ổn định việc làm

Mẹ vui về hưu trí

Tạ ơn trên vô vàn

TK

05/21/21

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở MỪNG BÀ XÃ VỀ HƯU_Tống Phước Kiên

Về hưu… Dưỡng lão (Nam Giang Tử)

Về hưu… Dưỡng lão 

 Tác giả: Nam Giang Tử

(Bài do Nguyễn V Vinh sưu tầm và chuyển)

Dưỡng lão, đến cuối cùng cần dựa vào điều gì ? Hãy đọc và tìm câu trả lời cho riêng mình. Căn bản, dưỡng lão vẫn là dựa vào bản thân mình ! Những người khác cho bạn chỉ là một chiếc lá, tự mình làm cây lớn mới có thể có được bóng mát!

Dưỡng lão nếu luôn dựa vào người khác thì sẽ không có cảm giác an toàn. Vì cho dù là con cái, người thân hoặc bạn bè, sẽ không thể lúc nào đều ở bên cạnh bạn. Khi bạn gặp khó khăn, họ không thể bất cứ lúc nào, ở bất cứ nơi nào cũng có thể xuất hiện để giải quyết giúp bạn.

Trong thực tế, mỗi người đều là một cá nhân độc lập, mọi người đều có cuộc sống của riêng mình, bạn không thể yêu cầu người khác phải cho bạn dựa vào, những người khác cũng không thể bất cứ lúc nào cũng có thể giúp bạn. Chỉ có thông qua những nỗ lực của bản thân để giải quyết vấn đề, mới thực sự có thể sống cuộc sống mà bạn mong muốn!

Một nhóm người lớn tuổi nói ra sự thật : “Dưỡng lão vẫn là nên dựa vào chính bản thân mình ! Chúng ta đã già đi, chỉ là hiện giờ sức khỏe của chúng ta vẫn còn, đầu óc vẫn tỉnh táo”.

* Giai-Đoạn Đầu: 60-70 tuổi

Sau khi nghỉ hưu, sáu mươi đến bảy mươi tuổi, cơ thể tương đối tốt, điều kiện cũng tốt. Muốn ăn thứ gì thì ăn, thích mặc gì thì mặc, thích đi chơi thì đi.Đừng khắc nghiệt với chính mình, những ngày này không còn bao lâu nữa, phải nắm bắt. Tiền tiết kiệm một chút, nhà giữ lại, để con đường hậu của mình có sự sắp xếp.Con cái có điều kiện kinh tế tốt là do sự nổ lực của chúng, sự hiếu thảo của con cái là lòng biết ơn của chúng. Chúng ta đừng từ chối sự trợ giúp của chúng, đừng từ chối sự hiếu thuận của chúng. Nhưng vẫn phải dựa vào chính mình, sắp xếp tốt cuộc sống của chính bản thân mình.

* Giai-Đoạn Thứ Hai: sau 70 tuổi không mắc bệnh hãy tự chăm sóc bản thân, đây không phải là vấn đề lớn, nhưng phải biết rằng mình thực sự đã lớn tuổi, và từ từ thể lực và tinh thần sẽ không còn tốt nữa, phản ứng cũng sẽ trở nên chậm hơn, phải ăn chậm chống sặc, phải đi chậm chống ngã. Không còn có thể cố gắng sức, cần phải chăm sóc bản thân mình!

Đừng đi lo thứ này thứ kia nữa, quản thúc con cái, còn một số người còn quản cả thế hệ thứ ba.. Quản cả một đời rồi, hãy ích kỷ một chút, tự quản bản thân mình. Mỗi ngày giúp dọn dẹp lau chùi, giữ trạng thái khỏe mạnh của mình lâu dài hơn một chút, để thời gian sống của mình lâu hơn một chút, cuộc sống không cần yêu cầu người khác rất thoải mái. Như thế, tất cả mọi thứ đều trở nên dễ dàng.

* Giai-Đoạn Thứ Ba: Sau 70 tuổi bị bệnh

Cơ thể không tốt, đòi hỏi có người chăm sóc! Điều này nhất định phải được chuẩn bị, đại đa số người đều không thể thoát khỏi ải này. Tâm trạng phải điều chỉnh tốt, phải thích nghi. Sinh lão bệnh tử là lẽ thường của cuộc sống cần thản nhiên tiếp nhận. Đây là đoạn cuối của cuộc đời không có gì để sợ hãi, sớm chuẩn bị sẽ không có điều gì phải hối tiếc.

Hoặc vào viện dưỡng lão, hoặc thuê người chăm sóc tại nhà, làm bất cứ điều gì đều tùy theo khả năng, theo tình huống mà làm, sẽ luôn luôn có cách giải quyết, nguyên tắc là đừng mài mòn đến con cái, đừng để tâm lý, gánh nặng gia đình, kinh tế đặt lên con cái quá nhiều.

Tự bản thân mình cố gắng một chút, thế hệ của chúng ta những khó khăn cay đắng đều đã trải qua, tin rằng cuộc hành trình cuối cùng của cuộc đời chúng ta cũng sẽ qua một cách bình thản.

* Giai-Đoạn Thứ Tư:  Giai-đoạn cuối của cuộc-đời

Tinh thần cần tỉnh táo, bệnh trên cơ thể không thể chữa khỏi được, chất lượng cuộc sống kém đi, lúc này phải dám đối mặt với cái chết, quyết tâm đừng để gia đình giải cứu, đừng để bạn bè và người thân làm những điều lãng phí không cần thiết.

Bạn muốn cuộc sống tuổi già không lo lắng, cần chuẩn bị sẵn sàng 4 bửu bối này!

Câu nói rất hay : “Có tài-chính sẽ không nghèo, có kế-hoạch sẽ không loạn, có chuẩn-bị sẽ không bận-rộn !”,

Thân là những người già như chúng ta, đã làm tốt công tác chuẩn bị chưa ? Chỉ cần mọi việc chuẩn bị trước, tương lai cuộc sống sau này sẽ không phải lo lắng nữa.

1. Sức-Khỏe về già:

Điều đầu tiên cần chuẩn bị là sức khỏe về già, bình thường phải chú ý đến ba thứ dưỡng: ăn dinh dưỡng, chú ý đến bảo dưỡng, cần có tu dưỡng.

2.  Nơi Trú-Ngụ về già:

Thứ hai là nhà ở về già: sống với con cháu, sống một cuộc sống nhẫn nhịn nuốt đắng, chi bằng tận hưởng cuộc sống đơn thân vui vẻ, bất kể thành thị hay ngoại ô, ở nơi mình sống thích hợp nhất. Gần đó có một nhà hàng bạn yêu thích!

3. Tài-Sản về già:

Thứ ba là tài sản lúc về già, vì con cái không thể nuôi dưỡng người tuổi già, bậc cha mẹ cũng chỉ có thể tự lập tự cường, tài sản cần giữ kỹ, trước khi chưa vào quan tài quàn nhất định không chia tài sản.

4. Bạn già:
Thứ tư là bạn già, có một người bạn tốt, bạn bè tốt và người đồng hành đều rất quan trọng, thường ngày kết giao bạn bè, quen biết nhiều loại bạn bè, là một bí mật để tận hưởng cuộc sống quý tộc đơn thân.

Tóm lại, cho dù bạn là ông cụ hay bà cụ trường thọ, cuối cùng cũng chỉ là một mình, câu nói này không bi ai chút nào, cũng không khủng khiếp, tất cả đều phụ thuộc vào cách bạn sắp xếp cuộc sống, tất cả đều phụ thuộc vào bạn có tâm lý trưởng thành hay không.

Thích thì hãy làm cho đáng, đừng quên, cuộc đời này chỉ có một lần, gặp những điều tốt đẹp hay hạnh phúc, đừng chỉ luôn muốn để lại cho thế hệ tiếp theo.

Những bạn hữu già hãy nhớ kỹ! Chúng ta được mệnh danh là thế hệ sau cùng hiếu thảo với cha mẹ, là thế hệ đầu tiên bị con cái bỏ rơi, tuyệt đối đừng vì “người ở trên trời, tiền trong ngân hàng”, cái gì “một mình rất cô đơn”, “già rồi không ai chăm sóc” những tin tức tiêu cực này làm cuộc sống của bạn mất đi ý nghĩa, những cách nói này đã lỗi thời rồi.

Chúng ta phải dựa vào chính mình dưỡng lão, lớn tiếng mà nói : Tuổi già của tôi ! Tôi tự làm chủ !!!”.

* * *

Một ngày, một năm và một đời người !!!

Một ngày rất ngắn, ngắn đến mức chưa nắm được cái sáng sớm thì đã tới hoàng hôn.ột năm thật ngắn, ngắn đến mức chưa kịp thưởng thức sắc màu đầu xuân thì đã tới sương thu.

Một cuộc đời rất ngắn, ngắn tới mức chưa kịp hưởng thụ những năm tháng đẹp thì người đã già rồi.

Luôn luôn đến quá nhanh mà hiểu ra thì quá muộn, cho nên chúng ta phải học cách trân trọng, trân trọng tình thân, tình bạn, tình đồng nghiệp, tình yêu, tình vợ chồng, tình phụ mẫu, tình đồng loại…

Vì một khi đã lướt qua, thì khó có thể gặp lại.- Sau 20 tuổi, thì đất khách và quê nhà giống nhau vì đi đến đâu cũng có thể thích ứng.

– Sau 30 tuổi, thì ban ngày và ban đêm giống nhau vì mấy ngày mất ngủ cũng không sao.

– Sau 40 tuổi, thì trình độ học vấn cao thấp giống nhau, học vấn thấp có khi kiếm tiền nhiều hơn.

– Sau 50 tuổi, thì đẹp và xấu giống nhau vì lúc này có đẹp đến mấy cũng xuất hiện nếp nhăn và tàn nhang.

– Sau 60 tuổi, thì làm quan lớn và quan bé giống nhau vì nghỉ hưu rồi cấp bậc giống nhau...

– Sau 70 tuổi, thì nhà to và nhà nhỏ giống nhau vì xương khớp thoái hóa không thể đi được hết những không gian muốn đi.

– Sau 80 tuổi, thì tiền nhiều và tiền ít giống nhau vì có tiêu cũng chẳng tiêu được bao nhiêu tiền.- Sau 90 tuổi, thì nam và nữ giống nhau vì không thể làm nổi chuyện ấy nữa.- Sau 100 tuổi, thì nằm và đứng giống nhau vì đứng dậy cũng chẳng biết làm gì.

CUỘC ĐỜI CỦA BẠN VÀ TÔI LÀ NHƯ VẬY, KHÔNG KHÁC NHAU NHIỀU…

NHÌN RA, HIỂU ĐƯỢC, THẤU HIỂU RỒI, CUỘC ĐỜI LÀ NHƯ THẾ…

TRÂN TRỌNG NHỮNG THỨ ĐÃ CÓ VÀ ĐANG CÓ… (ST)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Về hưu… Dưỡng lão (Nam Giang Tử)

Người Hạ Sĩ Nhứt_Nguyễn Vô Danh

NGƯỜI HẠ SĨ NHỨT

Tác giả: Nguyễn Vô Danh

Mọi chuyện dường như là có sự sắp đặt. Trong cuộc đời tui, bao nhiêu lần vào sanh ra tử, cứ tưởng là sắp đi thăm ông bà ông vải, nhưng lại chưa. Bà xã, thỉnh thoảng vẫn chọc quê, “Nghèo mà ham; anh tưởng muốn đi là đi hả? Tui chưa cho anh đi thì hổng được đi đó. Nghe chưa?”. Chuyện tình duyên thì cũng rụp, rụp, rụp – ý tui muốn nói là xuông xẻ đó. Còn chuyện người anh kết nghĩa thì như trên trời rớt xuống. Đúng là người tính hổng bằng Trời tính mà. Tía hay nói như dzậy.

Nói xa nói gần hổng bằng nói thiệt tui là con một trong gia đình nông dân nghèo. Nghe Má kể lại thì lúc được 1 tuổi rưỡi, tui bị bịnh ban gì đó, mà hai thầy thuốc Nam trong miệt cồn Dừa (tỉnh Phong Dinh) này đều bó tay. Tía bằng lòng bán miếng ruộng duy nhất của gia đình để có tiền đưa tui lên Sài Gòn chữa bịnh, nhưng đường đi quá cực khổ, và có thể tui sẽ chết trên đường trước khi tới nhà thương, thành ra lại phải trở về khi đi chưa được một phần năm đường. Hổng lẽ ngồi khoanh tay nhìn con mình chết, Tía nghe người ta mách hái mấy lá gì đó trộn với xả nấu cho tôi uống. Uống xong, nghe Má kể lại, tôi giựt giựt mấy cái rồi nằm xụi lơ, rồi ngủ luôn 2 ngày. Khi tui thức dậy, Má khóc quá trời vì quá mừng. Qua được cơn bịnh này thì tui hơi chậm lớn và cũng hơi chậm nói – nghe Má nói như dậy. Giờ ngồi nghĩ lại thấy thương ổng bả quá trời.

Khi được 5 hay 6 tuổi tui hay theo Tía ra đồng coi dùm Tía mấy cái cần câu trong lúc ổng làm ruộng. Ngồi hổng có gì làm, tui thường lượm gạch hay sỏi để chọi chim, rắn hay chuột đồng. Nhiều hôm tui chọi trúng được vài con chuột hay chim đem về cho Má nướng. Còn cá trê Tía câu Má kho tiêu ngon lắm. Thỉnh thoảng Tía uống rượu đế với mồi cá kho tiêu, và khi uống rượu Tía nói nhiều hơn mọi ngày. Phải nói là cuộc sống khá êm đềm.

Tới 8 tuổi tui mới đi học, nhưng tui học dở lắm, chắc là tại quá ham chơi. Khi rảnh tui làm ná bắn chim (thay vì chọi đá như hồi nhỏ). Tui cũng hay chơi bắn bi với tụi nhỏ hàng xóm. Phải nói là tui dùng ná rất giỏi vì ngày nào tui cũng đem chim, vịt trời hay chuột về cho Má làm đồ ăn. Khi bắn bi cũng vậy, tụi bạn thua tui dài dài, thành ra có tiền mua bánh tráng, xôi với cà lem ăn. Chỉ có học là tui dở thôi. Học đó rồi quên đó. Phải học lớp Năm đến 2 hay 3 lần mới được lên lớp Tư.

Có lần tan học, trên đường về, tui theo bạn bè vào vườn mía đỏ bỏ hoang (thân mía màu ưng đỏ hồng, mềm và ngọt khỏi chê luôn). Muốn được mía lớn tui phải đi tuốt vô trong sâu. Đang kéo chiến lợi phẩm ra, thì tui thấy đau điếng dưới chưn. Nhìn xuống thì trời ơi, một con trăn bự đang cắn chặt vô cái bắp chuối. Tui cố kéo chưn ra nhưng hổng xong vì con trăn mạnh quá. Thân nó trườn tới và quấn luôn chưn kia. Biết là hổng xong nếu tiếp tục cái đà này, tui la cầu cứu nhưng vì ở tuốt trong sâu, hổng ai nghe. Hai chưn bị trăn cột xiết rồi, tui ngã xóng xoài – chuyện đi thăm ông bà là cầm chắc trong tay. Hai chưn đã tê cứng. Chợt nghĩ tới Tía và Má, tui như bừng tỉnh và quơ đại cái cặp táp. Đang dùng cái cặp táp da đập vô đầu con trăn, cây viết văng ra. Tui dùng cây viết đâm túi bụi vào mắt con trăn. Đâm hết mắt này rồi đâm qua mắt kia. Chắc là bị tui đâm khá sâu vào mắt, con trăn tự nhiên nhả chưn ra, lăn lộn, hổng xiết nữa, và bò đi nơi khác. Hôm đó Má khóc nhiều lắm. Má cứ lẩm bẩm cám ơn ông bà che chở. Má nói là cái số tui chưa rụng. Tía tới vườn mía hoang và bắt được con trăn mù cổ bà chảng. Đem ra chợ bán thịt được gần hai chục đồng. Lúc đó 1 lượng vàng chỉ có 65 đồng. Tía nói sẽ dùng tiền này cho tui khi đi học xa, hay lúc cưới vợ. Tía cấm hổng được đi vô rừng mía đó nữa. Nói cho cùng, sau cái vụ trăn quấn thì có cho tiền tui cũng hổng dám vô.

Tui học ạch đụi tới năm 15 tuổi mới học xong lớp Nhứt. Thấy tôi học chậm, Tía cho tui ở nhà phụ làm rẫy. Mùa hè năm sau nhóm trẻ tụi tui đá banh thắng nhóm bên cồn Cát 3-2. Tui đá vô gôn luôn 2 trái trong vài phút chót vì tui chạy lẹ lắm. Được 80 đồng phần thưởng, tui dẫn “đội banh nhà” ra chợ ăn gỏi đu đủ và uống nước mía. Thắm, cô bán nước mía, nhận ra tui, nhưng tui hổng nhận ra cổ. Hỏi ra mới hay là tui học cùng lớp với Thắm 6 năm trước. Cổ khác hẳn con nhỏ ốm nhom, đen thui hồi đó. Thắm giờ có da có thịt, da bánh mật, nói chuyện có duyên, và biết buôn bán. Sau lần đó, tụi tui kết nhau. Đưa Thắm về nhà, Tía và Má mừng lắm. Má nói là Má luôn muốn tui có người anh để giúp đở bảo bọc vì tui chậm chạp và thật thà. Nay có người bạn đời giỏi như Thắm đến với tui, Má vui lắm. Tám tháng sau, tụi tui lập gia đình. Khoảng 1 năm sau khi cưới vợ thì tui phải nhập ngũ.

Chỉ sau vài tháng trong Quân Trường Quang Trung, vì được nhiều sự chú ý của các huấn luyện viên cao cấp bởi tui chạy đua rất mau (chắc vì muốn thắng đá banh để có tiền mua nước mía), và tui bắn súng hết xẩy (hay là vì chọi đá bắt chuột, dùng ná bắn chim, bắn bi kiếm tiền mua đồ ăn … hồi nhỏ), tui được huấn luyện đặc biêt để trở thành xạ thủ. Khi mãn khóa ở Quang Trung, tui được chuyển đi Kontum với cấp bực binh nhì trong đội Biệt Kích. Nhiệm vụ của tui là trốn trên những đồi cao có nhiều cây, quan sát, truyền tin và bắn tẻ khi được lịnh. Có khi tui đi chung nhóm 3 hay 5 người, và có khi chỉ có mình ên. Thường được thả trên rặng Trường Sơn vào những đêm sương mù dầy đặc. Những lúc đi xa, tui nhớ Thắm, nhớ Má và Tía lắm. Cái sướng của công việc này là tui dùng sở trường của mình (chạy mau và bắn giỏi) để phục vụ đất nước. Tui cũng khoái vụ trốn trên núi cao vì hồi nhỏ thích chơi Năm Mười. Xếp tui dặn là bất cứ ai hỏi thì tui phải nói tui là lính kiểng gác kho gạo trên Đà Lạt. Mà cũng hay, vì sau khi núp trên núi vài tháng nên da trắng và tóc dài, tui dòm cũng giống lính kiểng lắm chớ bộ. Sau mỗi lần đi công tác vài tháng tui được nghỉ phép cả tháng với rất nhiều tiền (hình như là tiền tử) khi về thăm gia đình. Tiền bạc dồi dào, tui mua đồ cho mọi người mút chỉ. Vì vậy bạn bè, hàng xóm thương, che chở và giúp đỡ tui.

Lần đó sau khi về thăm nhà chưa được 2 tuần lễ, tui bị gọi về gấp vì có chuyện lớn. Đi lẹ ra Ô Môn, vô sân bay Trà Nóc, bay thẳng về KonTum để nhận lịnh. Trước khi được điều động lên một địa điểm bí mật trên rặng Trường Sơn để thăm dò như các lần trước, tui được dặn là phải cố gắng nhiều vì 2 đồng nghiệp Biệt Kích (BK) đã mất tích trong vùng đó. Điều may mắn lần này là tui tìm được 2 người BK kia không xa nơi đáp xuống. Một người đang bị bịnh. Máy truyền tin bị hư, và đạn dược thiếu thốn tại một số lớn quân nhu bị rớt mất khi thả dù. Tụi tui núp trong 1 hang núi có nhiều cây rậm rạp. Điều không may mắn lần này là tụi Việt Cộng biết được sự có mặt của nhóm BK vì họ tìm ra số quân nhu và dụng cụ bị rớt. Họ lùng kiếm ráo riết. Để được an toàn, tụi tui im hơi lặng tiếng và chỉ bắn khi thiệt cần. Sau cùng cũng phải bắn trả vì tụi nó tới quá gần, nhưng tụi tui bắn thật ít vì thiếu thốn đạn dược. Tụi Việt Cộng dù đông hơn, nhiều đạn hơn, nhưng hổng dám mạnh dạn tiến lên vì họ ở vị trí dưới thấp, trong khi nhóm tụi tui phía trên cao bắn xuống phát nào trúng phát nấy. Cầm cự được hơn 6 tiếng đồng hồ, thì nhóm tui gần như hết đạn. Chỉ còn vài trái lựu đạn để tử thủ. Tui không nghĩ là mình qua được con trăng này. Nghĩ tới Thắm, Tía và Má, tui chạnh lòng. Trong cơn nguy hiểm như chỉ mành treo chuông, bỗng nhiên máy bay trực thăng tiếp cứu tới. Máy bay phải đánh đông phạt tây (điệu hổ ly sơn) và dùng hỏa mù để cứu nhóm tui. Trong phi vụ này, tui bị thương vì té gẫy tay và được đưa về Chẩn Y Viện Cộng Hòa điều trị. Sau thời gian dưỡng thương, tại tay hổng còn khỏe và chính xác như ngày trước, tui được chuyển về 1 quận lỵ nhỏ gần Suối Dây, tỉnh Tây Ninh với cấp bực Hạ Sĩ Nhứt và giã từ cuộc sống BK Đặc Biệt từ đó.

Khoảng 4 tháng sau thì Thiếu Úy Đức (TUĐ) người Bắc tới làm Phó quận trưởng. Tui được lựa làm gạc đờ co (bảo vệ) cho ông Phó. Vài lần đang lái xe jeep chở ông Phó đi quan sát ngoài biên giới quận thì tụi Việt Cộng bên kia rừng Tràm bắn lén. Vừa nghe tiếng nổ là tui phản xạ đẩy TUĐ nằm xuống, che cho ông, và cùng lúc tui nhả hàng loạt đạn về phía tiếng nổ. Sau vài lần như vậy, tui được tin cẩn hơn và trở thành cánh tay trái của ổng. Tui luôn khuyên ổng phải cẩn thận, vì đây là vùng xôi đậu không biết ai là địch, ai là thù. TUĐ là thượng cấp, nhưng ổng cũng xem tui như người nhà. Một lần đưa ổng đi xem nhà cửa của dân làng do nhóm lính sửa chữa, TUĐ gặp cô Hân (con gái bà chủ căn nhà ở cuối quận, kế bên con sông nhỏ ngăn cách khu rừng Tràm âm u bên kia). Theo như tui thấy thì hình như lúc gặp cô Hân, TUĐ bị tiếng sét ái tình hay sao đó vì ổng đứng như trời trồng và nói năng lắp bắp. Thấy kỳ quá, thêm nữa khu này nguy hiểm khi trời sâm sẩm tối, tui nói thay cho ổng:

– Trễ rồi, Thiếu Úy. Mình phải đi dzề. Chào cô.

Cô Hân đẹp, ăn nói khéo léo, … chắc là người bên kia, gài lại đây. Tía của cô vắng mặt. Hay là ông ta đã tập kết ra Bắc? Thêm nữa, tên Ba Thọt (ở đối diện nhà cô) – một người có tiểu sử và hành động rất khả nghi – thường qua lại nhà cô thăm viếng.
Mỗi sáng khi cô Hân đi làm ngang văn phòng quận, tui thấy cô cố tình đi chậm lại. Hay là cô đang nghe ngóng tin tức? Hay là xem cá có cắn câu chưa? Hay là đang dò sét tình hình trong văn phòng quận để tường trình cho phe bên kia?… Hàng trăm câu hỏi, nhưng hổng có câu trả lời. Thôi, tốt nhứt là đề phòng thì vẫn hơn.

Vài tháng sau, Kontum, Ban Mê Thuột và nhiều vùng cao nguyên thất thủ. Rồi Bảo Lộc-Madagui vào tay bọn qủy đỏ, … Một buổi chiều tháng tư, tụi Việt Cộng đem xe tăng, súng lớn tới tấn công quận. Đại Úy Long quận trưởng mất tích. TUĐ và các anh em quân đội tụi tui liều chết bắn chặn quân địch. Trước hỏa lực quá mạnh của địch, lực lượng tiểu đoàn phòng thủ quận tan rã. Kẻ chết, người bị thương, người chạy trốn. Tui và TUĐ đều bị thương nhẹ. Cùng đường, hai thầy trò chạy về phía cuối quận. Đinh ninh là Ba Thọt hay cô Hân sẽ chờ để bắt sống hay thanh toán tụi tui ở đó, tui cầm chắc khẩu tiểu liên sẳn sàng mạng đổi mạng. Khi chạy tới gần con sông cuối quận (gần nhà cô Hân), TUĐ ngã quỵ vì kiệt sức. Đang đỡ TUĐ lên, thì cô Hân chạy ra mở cửa rào ra dấu cho tụi tui vào nhà gấp. Khi vào trong, cô băng bó cánh tay của TUĐ. Cô đưa cho tụi tôi 2 nắm cơm và ít nước lạnh để ăn cầm hơi. Trong lúc tui và TUĐ ăn, cô lấy 2 ruột xe đạp, bơm lên, và đưa cho tụi tui. Cô ta chỉ tay vào con sông sau nhà:

– Hai anh thả nổi chừng 8 hay 9 cây số tới nhà thờ Suối Dây. Nhớ tìm người linh mục gốc Nam Định xin giúp đỡ. Chừng nào khỏe lại thì đi. Nếu tình hình lộn xộn quá, thi trốn qua Kampuchia. Hai anh đi cho lẹ trước khi họ tới đây. Lúc đó tui mới biết là mình sai. Cô Hân là người ơn, chứ không phải là vẹm như tui nghĩ. Món nợ cứu mạng này lớn lắm.

Khi tụi tôi xuống sông thì trời đã tối. Nương theo dòng nước hai thầy trò tới nhà thờ Suối Dây khoảng 2 giờ sáng. Người Linh Mục giấu tụi tui ở đó gần 3 tuần lễ dưỡng thương. Khi gần như hồi phục hoàn toàn, TUĐ và tui chia tay. Hôm đó cả hai đều khóc. TUĐ nghẹn ngào:

– Hạ Sĩ Nhất Sơn. Tôi bao giờ cũng xem chú … như người nhà. Cám ơn chú … đã làm việc với tôi trong 2 năm qua, và … đã giúp đỡ tôi trong cơn hoạn nạn này. Nếu còn duyên thì anh em mình sẽ gặp lại.

Sau khi từ giã TUĐ và người Linh Mục, tui về Cần Thơ đoàn tụ với gia đình. Mất mấy ngày mới về tới Sài Gòn. Thành phố giờ có tên mới – cái tên của kẻ sát nhơn. Tui hổng quen dùng cái tên mới đó. Phải mất thêm cả tuần nữa mới quá giang về đến cồn Dừa vì xe cộ bị đình trệ sau ngày đổi đời – cái ngày mà hàng vạn người vui, nhưng hàng triệu người buồn. Khi bước vô nhà, Má bật khóc vì quá mừng. Thắm thấy tui tiều tụy quá cũng khóc. Tía thì nhờ người hàng xóm đi mua ít đồ ăn mừng ngày đoàn tụ.

Hai hôm sau, 3 người Công An tới nhà chỉa súng bắt tui đi lên xã. Xã trưởng là 1 tên Bắc Kỳ răng hô mã tấu với khuôn mặt khắc khổ nhăn nheo như cái mền rách. Hắn đập bàn đánh phủ đầu với giọng Bắc đặc sệt:

– Mày có biết tội phản động làm việc cho CIA cũa Mỹ Ngụy nặng như thế nào không? Tội ác của mày lớn lắm. Mày có nợ máu với nhân dân.

– Thưa đồng chí xã trưởng …

– Ai là đồng chí với bọn phản động như mày.

– Dạ thưa xã trưởng. Tui chỉ là lính kiểng gác kho ở Đà Lạt. Tui có bắn giết ai đâu?

– Tao có hồ sơ của mày. Đừng chối cãi nữa. Nhận tội đi. May ra được Đảng khoan hồng.

– Thưa Xã Trưởng, chắc là có người trùng tên, chứ tui đâu có làm gì như dậy.

– Giam thằng này lại. Đồ ngoan cố, mất dạy. Tuần tới đưa nó lên phòng Công An tỉnh để giải quyết.

Tui bị nhốt 8 ngày trước khi bị chuyển lên ty Công An tỉnh Cần Thơ. Khi vào gặp Trưởng phòng Công An, tui không dè đó là thằng Huân trong đội đá banh ngày nào. Nó ăn gỏi đu đủ bò khô và uống nước mía với tui sau các trận đá banh vài lần. Thêm nữa mỗi lần tui về thăm nhà, tui đều có mua đồ cho thằng Huân và cho dì Tám má nó. Tui cũng nói là làm lính kiểng trên Đà Lạt, khi nó hỏi.

Thằng Huân nhận ra tui ngay. Tui chỉ trả lời bằng những gì mà Xếp cũ của tui dặn nói. Tui đổ thừa là có người trùng tên. Nhờ thằng Huân dễ dãi, tui thoát nạn.

Tui đi cải tạo mấy ngày dành cho Hạ Sĩ Quan. Sau đó được “khoan hồng” về làm rẫy với gia đình ở cồn Dừa.

Xã hội dưới tay đảng CSVN xuống dốc như xe hổng thắng. Ai cũng nghèo, đói, và khổ cực. Gia đình tui làm rẫy, cũng bữa đói, bữa no, nhưng đỡ hơn nhiều người. Tui lại bắn chim sẻ, vịt trời như hồi nhỏ. Tiếp tục bắt chuột đồng, bắt cá lóc hay cá trê dưới ruộng làm khô lén để dành cho những ngày mưa gió. Hai năm sau Thắm cho gia đình tui 1 tin vui là thằng con trai đầu tiên. Rồi năm sau nữa thì thằng thứ hai. Khi miếng ruộng duy nhất của gia đình bị xung công, Tía rầu rĩ sanh bệnh và ra đi năm sau đó. Mất đất trồng trọt, gia đình dọn về Ô Môn năm 1979. Vợ chồng tui làm công làm mướn bất cứ thứ gì ở chợ Ô Môn để kiếm tiền.

Đã 8 năm từ ngày rời Suối Dây, tui hổng có tin tức gì về Thiếu Úy Đức (TUĐ). Tình cờ năm 1983 khi đi mua bán đồ ở chợ Cái Răng, tui gặp Đại Úy Long (ĐUL) Quận Trưởng năm nào. ĐUL mới được thả về từ trại cải tạo trước đó 6 tháng, và còn đang bị quản chế. Đi đâu cũng phải xin phép và trình diện mỗi tuần. Thấy tình trạng ĐUL thảm quá, tui cho ổng 1 con khô mực và nửa ký gạo giấu trong sách tay. ĐUL nói là có gặp TUĐ trong tại cải tạo mùa thu năm 1977. Khoảng 2 năm sau, nghe nói là TUĐ vượt ngục rồi bị bắn chết ở gần biên giới Lào làm gương cho kẻ khác. ĐUL cũng cho biết là khi được thả, trên đường về ổng nghỉ 1 đêm tại quận lỵ ngày xưa vì không còn xe về Sài Gòn. Quận tiêu điều lắm. Tui hỏi về mấy người ở cuối quận kế bên con sông nhỏ. ĐUL nói là 2 căn nhà đó đã bỏ hoang, xiêu vẹo, không người ở. Nghe làng xóm nói là bà già (má cô Hân) đã chết và chôn trong ngôi mộ nhỏ sau nhà. Đứa con gái (cô Hân) thì biệt tăm. Hình như đã chết trôi vì người ta tìm thấy dép của cổ và cục xà bông ở bờ sông sau nhà. Tui nghe xong cảm thấy choáng váng như bị trúng gió. Hôm đó tui về nhà khóc. Vợ tui hỏi. Tui kể lại sự tình. Tội nghiệp vợ tui. Thắm làm 1 bàn thờ cho TUĐ trên nóc tủ kế bên bàn thờ của Tía và Má, và tối đó cúng 1 chén cháo trắng.

Làm ăn ở chợ Ô Môn khó khăn, gia đình tui mướn 1 miếng đất cách Ô Môn 20 cây số để trồng khoai mì và khoai lang. Tui dậy 2 đứa nhỏ làm bẫy bắt chuột đồng, làm ná bắn chim, … Vợ chồng tui thì quen cảnh nghèo rồi. Chỉ tội 2 đứa nhỏ thiếu ăn và tương lai mù mịt. Nhiều đêm nóng nực hổng ngủ được, tui cứ nhớ lại những ngày tui ở Suối Dây. Nhớ TUĐ và nhớ cả người đã cứu hai thầy trò. Chỉ biết chắc lưỡi thở dài cho người vắn số.

Sau nhiều kế hoạch kinh tế đảng CS đưa ra đều thất bại, chính quyền thả lỏng và có ý muốn đi theo kinh tế thị trường tự do. Cuộc sống dân nghèo trở nên dễ thở hơn một chút. Gia đình tui bắt đầu nuôi heo để thanh toán số khoai lang ung thúi khi bán hổng hết.

Làm sao tui quên được buồi chiều hôm ấy. Đó là một buổi chiều đầu tháng Tư năm 1995, khi tui đang làm rẫy, ngăn nước không cho vào đất trồng trọt quá nhiều, thì Thắm ra rẫy gọi về nhà có khách. Khi về nhà thì thấy 2 người ăn mặc sang trọng có vẻ đàng hoàng. Tui không nhận ra người đàn bà, nhưng người đàn ông thì nhìn quen lắm. Sau vài giây ngỡ ngàng, người đàn ông nhìn tui và nói một cách ngậm ngùi trong nước mắt:

– Chú Sơn có nhận ra tôi không? … anh Đức đây?

– “Hả, … ôi trời, Thiếu Úy Đức, … ông Phó!…”; Tui trả lời khi nước mắt bắt đầu ứa ra vì quá mừng.

– Đừng gọi như vậy. Gọi là anh hay anh Đức vì chú là em của tôi mà.

– Dạ, dạ … ông Phó, à quên, … anh Đức. Tưởng là anh đã … Gia đình tui làm bàn thờ cho anh mười mấy năm nay.

– Thắm ơi, đây là anh Đức. Thằng Tân, thằng Hoàng, ra chào Bác Đức.

– Còn đây là bà xã của anh.

– “Dạ, chào chị. Dạ, chị tên gì?”; Tui hỏi.

– “Chú nhìn kỹ xem ai ? Cô Hân ở Suối Dây đó”; TUĐ trả lời.

Tui lặng cả người và đứng chết trân. Người ơn của tui bằng xương bằng thịt ngay trước mặt. Thời gian như dừng lại. Nước mắt bắt đầu chảy tràn trên mặt, và giọng nói lạc đi:

– Tui hổng có dè có ngày này… 20 năm rồi. Cám ơn anh chị … đã nhớ đến tui… Tui mừng quá. Sao … tới bây giờ anh chị mới tới ? Tui có nằm mơ hông ?

TUĐ lau nước mắt, rồi chậm rãi nói:

– Chuyện dài lắm. Sẽ kể sau. Bây giờ anh chị mời cả nhà đi ăn mừng. Tốn cả tuần đi kiếm cô chú đó.

* * *

Nghe anh kể lại chuyện trốn khỏi trại tù năm 1979, và bao nhiêu lần vượt biên hụt, tui nể quá. Chuyện chị giả chết trôi để trốn khỏi Suối Dây và những lần vượt biên bị bắt thì cũng ly kỳ quá trời. Rồi đến khúc hai người gặp lại nhau bên Mỹ, tui mừng như là chuyện của mình. Tui hãnh diện có được ông anh và bà chị dâu giỏi như vậy.

Mấy bữa sau, vợ chồng anh mướn xe đưa gia đình tui đi thăm Suối Dây. Trên đường về, có ghé Vũng Tàu tắm biển. Thấy thương bà xã và 2 đứa con tui quá. Lần đầu tiên vợ con tui được đi xe hơi, được đi ra khỏi Cần Thơ, được lên Sài Gòn, được đi Suối Dây, được ra tắm biển Vũng Tàu, được đi ăn nhà hàng, được uống nước ngọt cô ca cô la, …

Trước khi về Mỹ, tui hổng dè vợ chồng anh lại giúp một số tiền lớn để mua một cửa hàng gần chợ Ô Môn buôn bán nông phẩm cho gia đình tui đỡ cực. Anh chị nói sẽ về thăm thường xuyên hơn.

Tối hôm đó tui thắp nhang cho Tía và Má. Tui thì thầm “Má ơi, Má luôn muốn là con có người anh để che chở cho con. Má ơi, điều Má muốn đã xẩy ra. Con cám ơn Tía và Má”

Như tui đã nói, cuôc đời tui như có sự an bài hay sắp xếp. Vào sanh ra tử bao lần, mà hổng sao. Duyên phận củng thẳng tắp. Khúc sau cuộc đời, cực thiệt, nhưng lại có thêm người anh nuôi và chị dâu hổ trợ. Bây giờ tui hổng có kỳ vọng nào hơn là sẽ có một ngày cái nhóm mắc dịch, khốn nạn, vô thần, vô đạo đức này tan rã cho tui nhờ và cho người dân bớt khổ.

Ngày đó chắc là phẻ re, há?

Seattle, một ngày buồn cuối tháng 4, 2019.

Nguyễn Vô Danh

Nguồn: hoiquanphidung.com/forum/c%C3%A1c-chuy%C3%AAn-m%E1%BB%A5c/v%C4%83n-ngh%E

(Truyện do Tâm Nguyễn sưu tầm và chuyển)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Người Hạ Sĩ Nhứt_Nguyễn Vô Danh

Người Không Nhận Tội – Tác giả Duy Nhan

NGƯỜI KHÔNG NHẬN TỘI: Kha Tư Giáo

DUY NHAN

Tôi biết anh khi cùng đến trình diện “học tập” tại trường Pétrus Ký ngày 24 tháng 6 năm 1975. Anh sinh năm 1942, tốt nghiệp khóa 1 Chánh Trị Kinh Doanh Đà Lạt. Sau khi ra trường, anh bị động viên khóa 9/68 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, rồi được biệt phái làm việc ở Kỹ Thương Ngân Hàng, tức Ngân hàng Quân Đội ở đường Nguyễn Huệ, Sài Gòn. Anh là một thanh niên khỏe mạnh, to cao, chưa lập gia đình. Vì cận thị nên lúc nào cũng mang kính trắng. Trông anh ai cũng dễ nhận ra anh là một trí thức giàu tiềm năng, nhiều nghị lực. Anh có người chú ruột là kỹ sư làm bộ trưởng bộ công nghiệp nhẹ của chế độ Cộng Sản Bắc Việt. Sở dĩ tôi biết nhiều về anh là do khi bị đưa vào trại tập trung ở Thành Ông Năm, Hốc Môn, cũng như khi ra Phú Quốc tôi lúc nào cũng được “biên chế” cùng tổ, đội với anh, chỗ nằm cũng sát bên anh, vì người ta căn cứ theo thứ tự A, B, C của tên mỗi người khi lập danh sách. Tên anh rất lạ và dễ nhớ, Kha Tư Giáo.

Khi mới vào trại tập trung, ngoài giờ lao động khổ nhọc, các “cải tạo viên“ còn phải học mười (10) bài chánh trị. Sau mỗi bài học là những buổi thảo luận trong tổ, đội. Mỗi ngưởi phải viết “bài thu họach” những gì mình “tiếp thu” được sau những bài giảng của cán bộ tuyên truyền, được gọi là giáo viên. Sau bài học đầu tiên đề tài thảo luận đưa ra là mọi người phải “liên hệ bản thân,” xác định mình là người có tội với nhân dân, với “cách mạng.” Người cầm súng thì giết bao nhiêu cách mạng trong từng trận đánh. Bác sĩ thì chữa trị cho binh sĩ lành bệnh để đánh phá cách mạng như thế nào. Người làm ngân hàng (như tôi và anh Kha Tư Giáo) thì có tội phục vụ cho nền tài chánh, dùng tiền nuôi dưỡng chiến tranh. Cảnh sát thì đàn áp nhân dân ra làm sao, vân vân…Trại của chúng tôi đa số là sĩ quan biệt phái. Họ nói biệt phái là phái làm công tác đặc biệt. Thí dụ giáo viên biệt phái là những người lãnh lương hai đầu, một bên là quân đội, một bên là giáo dục, được phái về dạy học để đánh rớt học sinh, buộc học sinh phải đi lính, biệt phái ngân hàng là sĩ quan được đưa về làm công tác ngân hàng, kiếm thêm thu nhập cho người lính để có thêm sức cầm súng. Do đó, sĩ quan biệt phái là những người có tội rất nặng với cách mạng và nhân dân hơn những người khác. Anh KTG thì cho rằng anh và các bạn anh không ai là người có tội. Các chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa cầm súng chống lại bộ đội Bắc Việt và quân nằm vùng là để tự vệ mà không hề chống lại nhân dân, đồng bào ruột thịt trong Nam cũng như ngoài Bắc. Riêng bản thân anh, sanh ra và lớn lên ở miền Nam, học hành và làm công tác chuyên môn ngân hàng để sống và phục vụ cho đất nước thì sao gọi là có tội. Lập trường anh Giáo không đáp ứng yêu cầu của Việt Cộng. Đó là tấn thảm kịch của anh. Anh bị bắt làm kiểm điểm liên tục còn những người khác thì cũng bị bắt phải “giúp đỡ” anh nhìn thấy được tội lỗi của mình để được cách mạng và nhân dân khoan hồng. Càng kiểm điểm anh càng thấy mình là người vô tội. Bài viết lúc đầu thì dài, về sau chỉ còn bốn chữ thật to chiếm hết trang giấy: TÔI KHÔNG CÓ TỘI. Việt Cộng hỏi, anh trả lời những gì cần nói, anh nói hết rồi. Bạn bè trong đội thấy anh giữ lập trường như thế thì rất nguy hiểm cho anh mà bạn bè cũng khổ. Vì sau giờ lao động cực nhọc đáng lẽ được nghỉ ngơi, lại phải ngồi kiểm điểm với anh đến mỏi mệt, chán chường. Nhiều người trách anh sao không biết “ nín thở qua sông ”, họ khuyên anh cứ viết đại vào giấy là mình có tội một cách chung chung, miễn là thực tế không làm gì hại nước, hại dân là được. Anh bảo như vậy là mắc lừa Cộng Sản và lương tâm không cho phép.

Khi tất cả cán bộ ở trại đều bất lực thì cán bộ cao cấp từ Sài Gòn được cử xuống.. Những người này tỏ ta có tay nghề hơn. Nghe đâu là sư trưởng VĐG từng là thành viên của phái đoàn đàm phán Bắc Việt tham dự hội nghị Paris năm 1973, cùng với một đại tá chánh ủy sư đoàn ( ?). Họ không trấn áp anh mà tỏ ra lắng nghe và chịu đối thọai. Anh Giáo đã chứng tỏ bản lĩnh của mình bằng những câu hỏi đặt ra mà họ không trả lời được. Ngược lại, anh còn phản công, vạch trần tội ác của họ. Từ vai một người tù, một tội nhân anh trờ thành một công tố viên trước tòa, luận tội Việt Cộng. Bằng một giọng đầm ấm và trầm tĩnh, anh Giáo nói :

– Chúng tôi là những người sanh ra và lớn lên ở miền Nam. Nhờ hạt gạo của đồng bào miền Nam nuôi lớn và trưởng thành từ nền văn hóa và giáo dục khoa học, nhân bản và khai phóng. Chúng tôi có lý tưởng của chúng tôi cũng như các anh có lý tưởng của các anh. Lý tưởng của các anh là dùng bạo lực để lật đổ chánh phủ hợp hiến, hợp pháp Việt Nam Cộng Hòa để bành trướng chủ nghĩa Cộng sản. Lý tưởng của chúng tôi là bảo vệ Tự Do, Dân Chủ. Các anh từ miền Bắc vào xâm lăng miền Nam, buộc lòng dân quân miền Nam phải cầm súng tự vệ. Chúng tôi có câu “giặc đến nhà đàn bà phải đánh”. Chẳng lẽ một công dân cầm súng chống lại kẻ thù để bảo vệ bà con mình, gia đình mình, tổ quốc mình thì có tội?

Hai cán bộ Việt Cộng im lặng, chỉ gật gật cái đầu. Một lúc sau, viên đại tá chính ủy lên tiếng:

 Các anh chỉ là tay sai đế quốc Mỹ. Ở đâu có Mỹ, có bom đạn Mỹ thì chúng tôi đánh. Đất nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một…

Anh Giáo ngắt lời:

– Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi, chớ gì? Các anh chỉ biết lặp lại mà không biết gì về quốc tế công pháp. Tôi nhắc lại, hiệp định Genève năm 1954 mà các anh đã ký ngày 20/7/1954 quy định từ vĩ tuyến 17 trở ra là nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, từ vĩ tuyến 17 trở vào là nước Việt Nam Cộng Hòa của chúng tôi, được Liên Hiệp Quốc và quốc tế công nhận.

Tên sư trưởng phản ứng:

– Các anh là công cụ Đế quốc Mỹ âm mưu chia cắt vĩnh viễn đất nước. Còn chúng tôi đánh Mỹ là để thống nhất đất nước, mang lại Độc Lập cho Tổ Quốc, Tự Do, Hạnh Phúc cho đồng bào.

Anh KTG:

– Nên nhớ, các anh mới là người âm mưu cùng thực dân Pháp chia cắt đất nước bằng hiệp định Genève năm 1954. Chúng tôi không hề ký vào hiệp định đó. Đồng minh chúng tôi không phải chỉ có Mỹ mà có Đại Hàn, Phi Luật Tân, Tân Tây Lan, Úc Đại Lợi và tất cả quốc gia yêu chuộng hòa bình trên thế giới. Các anh mới là tay sai Liên Xô và Trung Cộng. Chủ nghĩa Cộng Sản chủ trương bành trướng, xâm lược, nhuộm đỏ toàn thế giới chớ không riêng gì Việt Nam..

Tên sư trưởng:

– Người Cộng Sản làm cách mạng là để giải phóng các dân tộc khỏi áp bức, bóc lột mà đầu sỏ là đế quốc Mỹ để mang lại công bằng xã hội, ấm no, hạnh phúc cho mọi người.

– Tôi thiết nghĩ những người cần được giải phóng là nhân dân miền Bắc đang thiếu Tự Do, Dân Chủ, đang sống đời lầm than cơ cực. Chúng tôi không cần các anh giải phóng.

Bất ngờ, tên đại tá chánh ủy đập tay xuống bàn cái rầm. Ly nước trước mặt hắn ngã đổ tung tóe:

– Quân phản động!

Anh KTG vẫn giữ điềm tĩnh và im lặng.. Thời gian trôi qua nặng nề. Tên sư trưởng dịu giọng:

– Các anh ôm chân đế quốc, bị đầu độc bởi vật chất xa hoa và văn hóa đồi trụy của chủ nghĩa tư bản thối tha nên không nhìn thấy tội lỗi của mình.

Bằng một giọng ôn tồn mà cương quyết, anh Giáo trả lời:

– Chúng tôi là người Việt quốc gia, không theo chủ nghĩa nào cả. Chủ nghĩa chỉ là lý thuyết, là giáo điều do con người đặt ra để phục vụ cho những mục tiêu chánh trị nhất định trong một giai đọan lịch sử nhất định. Đến lúc nào đó nó sẽ bị đào thải do không theo kịp sự tiến hóa không ngừng của xã hội. Còn chủ nghĩa Cộng Sản chỉ là chủ nghĩa ngoại lai, duy vật và sai lầm khi chủ trương vô gia đình, vô tôn giáo, vô tổ quốc, đi ngược lại bản chất con người, ngược lại truyền thống duy tâm, trọng đạo và nền văn hóa cổ truyền của người Việt. Nó quá tàn nhẫn và sai lầm khi chủ trương đấu tranh giai cấp bằng chuyên chính vô sản. Tôi cho rằng nó sẽ không tồn tại lâu dài.

Thấy hai tên Việt Cộng vẫn im lặng, anh Giáo nói tiếp:

– Trong thời gian Tết Mậu Thân năm 1968 các anh đã đồng ý hưu chiến để đồng bào an tâm vui đón ba ngày lễ cổ truyền của dân tộc. Vậy mà các anh lại tấn công vào các đô thị miền Nam, gieo rắc kinh hoàng, chết chóc cho người dân vô tội. Khi các anh rút lui khỏi Huế lại nhẫn tâm sát hại, chôn sống hàng ngàn dân lành. Các anh ký hiệp định Paris năm 1973 để chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam. Lúc nào các anh cũng giương cao ngọn cờ chống Mỹ cứu nước như chánh nghĩa đấu tranh của mình, nhưng khi Mỹ rút đi rồi thì các anh dốc toàn lực đánh chiếm miền Nam. Vậy mà các anh nói được là hòa bình, hòa giải dân tộc!

Nói tới đây anh Giáo ngừng lại trong giây phút, rồi bất ngờ anh chỉ tay về phía hai cán bộ Việt Cộng:

– Vậy thì giữa chúng tôi và các anh, ai mới là người có tội?

Bấy giờ thì hai tên Việt Cộng giận run, nét mặt đanh lại, xám ngắt.. Chúng không trả lời câu hỏi của anh Giáo mà đuổi anh ra khỏi phòng.

Bằng đủ mọi cách đấu tranh buộc anh Giáo nhận tội không kết quả, bọn Việt Cộng để cho phong trào lắng xuống. Ai cũng hồi hộp, lo lắng, không biết điều gì sẽ xảy đến cho anh KTG. Việt Cộng có thể mang anh ra bắn công khai về tội phản động như họ đã từng làm ở trại này mà anh Giáo cũng như mọi người trong trại đều biết. Thời gian này anh Giáo cho biết các em của anh đi học tập cùng đợt đã được ông chú bảo lãnh về hết, trong đó có người em ở trại kế bên, chỉ cách nhau một hàng rào dây thép gai. Ngày hai anh em chia tay nhau bên hàng rào,

anh Giáo dặn em hãy về lo cho mẹ và gia đình và đừng lo gì cho anh, chắc là lâu lắm anh mới được về.

 Phần anh vẫn vui vẻ sống cùng anh em với tinh thần bình thản, một đôi khi còn tiếu lâm, khôi hài nữa. Anh thường hay hát những bài như Hà Nội, Niềm tin và Hy vọng, Anh lính quân bưu vui tính…Tôi hỏi sao không hát những bản nhạc của mình, anh nói hãy cố giữ nội quy của họ để họ không nói được mình.

Anh Giáo là thế, lúc nào cũng tự trọng. Mười bài học chánh trị rồi cũng qua. Chúng tôi có nhiều giờ rảnh hơn vì lúc này không còn phải ngồi hàng giờ để thảo luận và “giúp đỡ” anh Giáo nữa. Nghĩ lại,Việt Cộng dùng từ cũng ngộ, như từ “giúp đỡ” được dùng trong trường hợp này. Chúng tôi xét thấy chẳng có ai đủ tư cách để giúp đỡ anh Giáo, ngược lại rất nể trọng anh và được anh giúp đỡ rất nhiều.

Vào những buổi chiều sau khi cơm nước xong, anh và tôi thường hay đi bách bộ dưới tàng những cây sứ có hoa màu trắng, tỏa hương thơm ngát. Chúng tôi thường trao đổi với nhau về chuyện ngân hàng và những vấn đề mà cả hai cùng quan tâm. Thấy anh nhặt rất nhiều bông sứ, tôi hỏi:

– Chi vậy?
– Mai mốt về tặng người yêu – Anh trả lời.
– Chắc là cô bạn rất thích hoa này?
– Vì nó trắng tinh khiết và thơm dịu dàng.
– Sợ tới chừng đó nó sẽ phai màu đi – Tôi e ngại.
– Không sao. Dù hoa có phai màu nhưng chắc sẽ giữ được tình cảm của mình trong đó!
– Anh lãng mạn quá – Tôi nhận xét.

Anh Giáo cười để lộ hai cái răng khểnh và một đồng tiền dưới khóe miệng bên phải. Trông anh dễ thương hơn bao giờ hết!

Có lần trong lúc trò chuyện anh nói hiện nay anh ghét nhất là cái khẩu hiệu “Yêu nước là yêu chủ nghĩa xã hội”. Bản thân chủ nghĩa xã hội không ra gì thì làm sao mà yêu cho được. Theo anh Giáo, yêu nước là yêu nước. Không thể và không nên gán ghép nước Việt Nam với bất cứ một chủ nghĩa nào, dù là Chủ Nghĩa Xã Hội, Cộng Sản hay Tư Bản. Nếu những chủ nghĩa này sụp đổ thì không yêu nước nữa hay sao?

Đêm 21 tháng 6 năm 1976 chúng tôi được chở bằng Motolova đến Tân Cảng xuống tàu há mồm 503 ra Phú Quốc. Chuyến đi thật kinh hoàng như địa ngục trần gian mà con người có thể tưởng tượng được. Hàng ngàn người bị dồn trên con tàu đóng kín cửa. Ăn uống, ói mửa, tiểu tiện chỉ có một chỗ, cho vào thùng phuy. Khi tàu cập bến Phú Quốc có nhiều tù nhân bị xỉu, những người còn lại đều kiệt sức. Tù nhân phải dùng chính những thùng phuy này để nấu cháo ăn ngay trong đêm. Cho tới hôm nay, khi tôi viết bài này là ba muơi bốn năm, hình ảnh hãi hùng này vẫn còn ám ảnh tôi. Tôi ghi vào nhật ký:

Đau đớn thay những linh hồn cháy lửa
Suốt đêm ngày tắm rửa với mồ hôi
Với cao tay quờ quạng chút hơi người
Miệng gào thét những âm thanh khiếp đảm

Ở Phú Quốc ngoài việc trồng rau để “cải thiện” bửa ăn, việc lên rừng đốn củi là công tác thường xuyên và cực nhọc nhất. Nhiều anh em nghe lời Việt Cộng, đi tìm vác những cây to để chứng tỏ mình là người “tiến bộ”. Anh Giáo thì không. Lúc nào anh cũng ung dung, tự tại. Anh chỉ tìm vác những cây vừa sức mình. Khi thấy cần phải nghỉ thì anh dừng lại nghỉ, mặc cho bọn vệ binh ôm súng canh giữ cho tới lúc hết mệt anh mới đứng lên đi tiếp. Anh khuyên anh em phải biết giữ gìn sức khỏe vì thời gian “học tập” hãy còn dài. Giờ đây ngồi ghi lại những dòng này, cảnh tượng của năm nào lại hiện ra trước mặt: Trong một buổi chiều ảm đạm, gió thổi ào ào. Một bên là biển, một bên là rừng.

Đoàn tù cả trăm người, dài hơn cây số, xếp hàng đôi, áo quần lôi thôi lếch thếch, vai vác những thân cây nặng nề, mồ hôi lã chã, chậm chạp lê bước trên những con dốc ngoằng ngoèo, trơn trợt. Nhiều người té lên té xuống. Hai bên và phía sau là những tên vệ binh ôm súng AK thúc giục. Tới đầu một con dốc, anh Giáo đặt thân cây xuống, ngồi trên đó nghỉ mệt. Khi một người không đi nổi thì cả đoàn phải dừng lại chờ. Điều này bọn cai tù Việt Cộng không muốn. Tên chỉ huy đến chỗ anh Giáo bắt phải đứng lên đi tiếp Anh Giáo trả lời mệt quá nên phải nghỉ. Tên cán bộ không chịu. Thế là cuộc đấu trí bắt đầu. Đến khi đuối lý, tên cán bộ rút khẩu K 54 ra khỏi vỏ. Cả đoàn tù hồi hộp. Cả khu rừng như nín thở. Tên cán bộ đến bên anh, nghiêm sắc mặt:

– Anh có đứng lên không?
– Tôi còn mệt.
– Anh không chấp hành lệnh phải không?
– Tôi đã nói là tôi còn mệt. Bao giờ hết mệt tôi sẽ đi.

Tên cán bộ hướng khẩu K54 về phía anh Giáo:

– Anh không đứng lên tôi bắn.

Anh Giáo vẫn ngồi bất động, lạnh lùng đáp:

– Anh cứ bắn đi!

Tên cán bộ Việt Cộng bóp cò. Hai tiếng nổ chát chúa vang động cả khu rừng. Một bầy chim bay lên tán loạn , kêu quang quác… Nhiều người tù gục xuống, ôm ngực:

– Lại Chúa tôi.

Sự việc diễn ra chỉ trong vài giây ngắn ngủi nhưng đã nói lên tất cả nét bi hùng của cuộc chiến sau “Hòa bình” mà kẻ có vũ khí trong tay đã thua, đồng thời tính chất anh hùng của người chiến sĩ Quân lực Việt Nam Cộng Hòa trong hoàn cảnh sa cơ thất thế vẫn sáng ngời, chói lọi. Người tù đã thắng! Không biết vì sợ hãi hay run tay mà đường đạn nhắm vào anh Giáo đã đi trượt một bên tai, làm bể nát phần thân cây mà anh Giáo đang ngồi trên đó. Tôi thì sửng sốt, bàng hoàng, tưởng như mình vừa trải qua một giấc mơ, vừa chứng kiến một cảnh chỉ có thể xảy ra trên màn ảnh, truyền hình!

Anh Giáo thường hay kể truyện Tam Quốc, truyện Thần Điêu Đại Hiệp, truyện Tây Du Ký cho chúng tôi nghe. Hết truyện Tàu đến truyện tiếu lâm, làm cho đời sống tù tội bớt căng thẳng.

Sau một thời gian ở Phú Quốc, Việt Cộng nhiều lần cho họp liên trại, phát động lại chiến dịch đấu tranh bắt anh Giáo nhận tội, nhưng rồi không thể nào lay chuyển được tư tưởng của anh. Riêng đám tù binh chúng tôi bấy giờ rất thoải mái chớ không còn căng thẳng như lúc ở Hốc Môn. Người ta chỉ tổ chức đấu tranh với anh Giáo cho có lệ. Những lần như thế chúng tôi khỏi phải lên rừng vác củi, được nghỉ lao động, lại thích hơn.

Nhưng thời khắc định mệnh đã tới! Một hôm trong lúc xếp hàng điểm danh cuối ngày, cán bộ Việt Cộng ra lệnh cho anh Giáo phải bỏ kính ra. Anh trình bày vì cận thị từ lâu nên không bỏ ra được. Chỉ chờ có thế, chúng ra lệnh nhốt anh vào cũi sắt làm bằng dây thép gai, thứ mà chúng ta hay gọi là chuồng cọp, diện tích rất hẹp, nằm không được mà ngồi cũng không được. Chuồng cọp để giữa trời, không có mái che mưa che nắng.

Ngay từ năm 1930, khi thành lập đảng Cộng Sản, họ đã có chính sách “Trí, Phú, Địa, Hào, đào tận gốc bốc tận rễ.” Anh KTG là một trí thức mặc dầu thua trận vẫn cương quyết giữ vững lập trường chống Cộng và quyết tâm bảo vệ chánh nghĩa Quốc Gia thì sẽ bị tiêu diệt là điều khó tránh khỏi. Tiến sĩ toán ĐXH, cá nhân tôi và biết bao anh em khác cùng đội cũng mang kính trắng giống như anh KTG mà không hề bị làm khó dễ. Điều này được giải thích như thế nào đây? Mỗi ngày Việt Cộng chỉ cho anh Giáo nửa chén cơm lạt. Anh lại tuyệt thực để đấu tranh và phản đối chính sách dã man và sự trả thù hèn hạ của chúng. Ngoài tuyệt thực, anh Giáo còn dùng lời ca, tiếng hát để làm vũ khí đấu tranh. Bài hát anh Giáo sử dụng là bài Đêm Nguyện Cầu, trong đó có những câu:

Con tim chân chính không bao giờ biết đến nói dối…
Nghẹn ngào cho non nước tôi, trăm ngàn ưu phiền…”

Có lẽ trong giờ phút đó, anh Giáo biết rằng mình đã ở vào thế hoàn toàn tuyệt vọng và chỉ có thể nguyện cầu mà thôi. Đây là lần đầu tiên mà có lẽ cũng là duy nhất trong đời, tôi nhìn thấy một người hát bằng tất cả linh hồn như vậy. Anh Giáo thường cất tiếng hát của mình vào những đêm khuya thanh vắng. Giọng hát của anh bay vào không gian, vào từng lán, trại, có lúc thật cảm xúc, có lúc nghe rợn người như âm thanh phát ra từ cõi chết. Nhiều người nghe anh hát thì ngủ không được, nhiều người đang ngủ thì bừng tỉnh dậy và khóc nức nở. Bài Đêm Nguyện Cầu là của Lê- Minh- Bằng. Anh Bằng năm nay vẫn còn sống ở Mỹ, chắc anh không ngờ sáng tác của anh lại có người sử dụng trong hoàn cảnh đắng cay như vậy. Giờ đây mỗi lần nghe lại bài hát này tôi không cầm được nước mắt vì nhớ tới người bạn của mình. Lời ca của anh Giáo rồi thì cũng yếu dần và tôi không nhớ cho đến khi nào thì tắt lịm. Anh bị xuống sức rất nhanh. Từ một thanh niên khỏe mạnh cao hơn một thước bảy, chỉ trong vòng một tháng anh chỉ còn là một bộ xương, duy có đôi mắt là còn tinh anh, sáng ngời, khiến cho nhiều người không dám nhìn thẳng vào mắt anh, nhất là cán bộ Việt Cộng.

Ngày 20 tháng 6 năm 1977 Việt Cộng cho di chuyển một số tù nhân từ Phú Quốc về Long Giao, Long Khánh. Anh Giáo di chuyển đợt đầu, tôi thì đi đợt kế tiếp. Trong lúc di chuyển, anh Giáo bị còng tay, lúc nào cũng có vệ binh ôm súng canh chừng. Ngay khi về tới Long Giao tôi vội đi tìm anh Giáo. Khi gặp được anh thì anh đang hấp hối. Tôi nắm tay anh, bàn tay lạnh ngắt Lời nói cuối cùng anh nhắn lại với tôi là khi nào được về thì nói tất cả sự thật cho gia đình anh biết. Tôi hỏi địa chỉ ở đâu thì anh thều thào trong hơi thở rất yếu. Hình như anh thốt ra hai chữ Huyền Trân. Sau này khi đi lao động tình cờ tôi gặp được nấm mộ của anh, phủ đầy cỏ dại ở một góc sân banh hoang vắng.

Trên mộ có tấm bảng gỗ nhỏ có đề tên anh, nét chữ nhạt nhòa.

Tôi được tha về cuối năm 1977. Mặc dầu phải đương đầu với biết bao khó khăn trong đời sống hàng ngày đối với một người vừa mới ra tù, tôi vẫn để tâm đi tìm gia đình anh Kha Tư Giáo. Theo quyết định ra trại, tôi chỉ được tạm trú ở nhà một tháng, sau đó phải chịu sự điều động của địa phương đi “Kinh Tế Mới”. Nhờ may mắn, tôi xin được giấy chứng nhận là thuộc diện sử dụng vào công việc của thành phố. Từ đó tôi xin được việc làm và dần dần ổn định được đời sống. Tôi đã tìm khắp mọi nẻo đường, từ Sài Gòn vô Chợ Lớn, Bà Chiểu, Phú Nhuận, nhất là đường Huyền Trân Công Chúa, đường có hai chữ Huyền Trân mà tôi đã nghe anh Giáo thốt ra trong lúc lâm chung. Nhưng con đường này toàn là biệt thự, có vẻ là công sở hơn là nhà tư nhân. Tôi cứ đi qua, đi lại con đường này không biết bao nhiêu lần. Khi tôi vào hỏi đều nhận được cái lắc đầu của chủ nhà. Cũng có lần tôi cầu may lên Thành Ủy Sài Gòn ở đường Trương Định, quận Ba để hỏi thăm về đồng chí KVC, Bộ Trưởng Bộ Công Nghiệp Nhẹ nhưng tôi không qua được cổng bảo vệ vì khi được hỏi quan hệ như thế nào với đồng chí bộ trưởng thì tôi trả lời quanh co mà không chứng minh được gì cả.

Trong suốt hai mươi năm ở SàiGòn không tìm được gia đình anh Giáo thì tôi được người em vợ bảo lãnh đi Mỹ, định cư ở Chicago vào cuối năm 1997. Sang Mỹ tôi vẫn tìm cách thực hiện nguyện vọng cuối cùng của người bạn quá cố. Tôi cố gắng dò hỏi trong số bạn bè mà tôi liên lạc được xem có ai biết gia đình họ Kha ở đâu không. Một lần nữa tôi không có tin vui. Điều tôi làm được là cuối tháng 12 năm 2001 tôi viết lại câu chuyện về anh Kha Tư Giáo, đặt tựa đề Người Không Nhận Tội và gửi cho tờ Việt Báo ở California, mục “Viết về nước Mỹ”.Tôi chọn mục này vì đây là diễn đàn có số độc giả rất lớn, ở khắp nơi trên thế giới, biết đâu gia đình anh Giáo sẽ đọc được. Hy vọng của tôi rất mong manh vì bài của tôi không nói gì về nước Mỹ mà chỉ viết về người bạn của mình đã ngã gục trong tù Cộng Sản. Vậy mà không ngờ, bài viết cũng được chọn đăng và được phổ biến trên hệ thống thông tin toàn cầu. Tôi lại hồi hộp chờ đợi bài viết của mình đến với gia đình anh KTG. Ngày 23 tháng 1 năm 2002 tôi nhận được email của Ban Chủ Nhiệm Việt Báo chuyển cho cùng với bức điện thư của anh KTC, em của anh KTG gửi từ Autin, Texas, báo tin gia đình anh đã đọc được bài viết của tôi. Bức điện thư ngắn ngủi nhưng đã gây cho tôi một cảm xúc mạnh, một niềm vui lớn. Bạn hãy tưởng tượng cũng biết được là tôi hạnh phúc như thế nào khi nỗi niềm đã được giải tỏa, khi ước mơ 25 năm đã thực hiện được, nhất là ước mơ đó là của người quá cố, nên có tính cách linh thiêng. Chiều chủ nhật 27 tháng 1 năm 2002, tôi đang ở nhà thì nhận được điện thọai từ Texas:

– Hello! Tôi là KHT, em ruột anh Kha Tư Giáo. Xin lỗi có phải…
– Tôi, Duy Nhân đây.
– Chào anh Duy Nhân! Có phải anh là tác giả bài viết Người Không Nhân Tội?
– Tôi đây chị.
– Hân hạnh được nói chuyện với anh. Gia đình tôi đọc được bài viết của anh trên Internet. Không ngờ sự thật như vậy…

Tới đây thì tiếng nói đứt quãng. Tôi nghe được cả sự nghẹn ngào bên kia đầu dây. Chị HT quá xúc động. Tôi cũng vậy. Tôi giữ được im lặng trong một phút, rồi nói:

– Đây là giây phút mà tôi chờ đợi suốt hai mươi lăm năm nay.
– Gia đình chúng tôi cám ơn anh nhiều lắm.
– Tôi chỉ làm nhiệm vụ đối với anh Giáo, một người bạn của tôi.
– Bài viết của anh nói lên được nhiều điều. Qua đó, gia đình tôi hiểu rõ sự thật về anh Giáo, về Cộng Sản mà nhiều cán bộ cao cấp theo Cộng Sản suốt đời cũng không hiểu được.

Tôi lại nghe tiếng nức nở bên kia đầu dây. Chị HT lại khóc. Sau đó chị kể cho tôi nghe những sự kiện tiếp theo cái chết của anh Giáo. Chín tháng sau khi anh Giáo chết thì Việt Cộng mới báo tin về gia đình, Họ có hoàn lại cho gia đình một số vật dụng cá nhân, trong đó có cặp kính trắng. Bây giờ tới phiên tôi đau lòng và xót xa khi nghe nhắc tới cặp kính trắng. Đó chứng tích của sự trả thù hèn mọn và một chính sách sai lầm đối với trí thức, đối với người thuộc chế độ cũ mà tôi là nhân chứng từ đầu tới cuối. Khi gia đình nhận được giấy báo tử của anh Giáo thì mẹ và các em đi gặp cán bộ có chức quyền để hỏi tin tức. Họ nói anh Giáo nhịn ăn cho tới chết. Mẹ anh hỏi lý do gì khiến anh Giáo phải tuyệt thực, anh Giáo có tội gì phải biệt giam, đề nghị cho xin bản án hoặc biên bản về cái chết của anh Giáo. Việt Cộng không trả lời. Mặc dầu uất ức nhưng mẹ anh cố kiềm nước mắt không bật khóc trước mặt Việt Cộng. Đến khi mẹ anh Giáo đề nghị được dẫn đi tìm mộ thì bọn Việt Cộng lại tỏ ra khó chịu và đòi hối lộ. Cuối cùng, bà và các em phải đi tìm một mình và dĩ nhiên là không thể nào tìm được! Vì quá đau buồn, mẹ anh Giáo qua đời sau đó ít lâu. Khi tôi nhắc đến tên Huyền Trân thì chị nói đó không phải là tên đường mà là tên của chị. Có lẽ trong lúc lâm chung anh Giáo gọi tên chị mà tôi tưởng là tên đường. Chị HT nói cho tới bây giờ gia đình chị không ai biết anh Giáo nằm ở đâu. Tôi thì biết rất rõ. Ngôi mộ quay đề về hướng Đông ở một góc sân banh.

Trên mộ có xuất hiện một cây hoa dại có bông rất lạ. Ngày xưa mỗi lần đi lao động về ngang qua ngôi mộ tôi đề bứt vài bông đem về cắm trong lọ mà tưởng tượng anh Giáo như còn sống.. Anh Giáo đã chết một cách vô danh mà anh hùng như loài hoa kia đã dũng cảm vươn lên giữa khô cằn và gai góc.

Sau chi HT thì anh KTH, em kế anh Giáo từ bên Pháp đã liên lạc với tôi bằng thư và nói chuyện qua điện thọai.. Anh cho biết rõ hơn về tính tình ngay thẳng, cương trực của anh Giáo. Anh H tỏ ra rất hãnh diện và tự hào về người anh của mình, đã chọn cái chết mà không phải ai cũng làm được. Anh đã thanh thản đi vào trang sử bi hùng của Quân Lực VNCH và dân tộc.

Anh Kha Tư Giáo ơi! Ở một nơi nào đó chắc là anh đã mãn nguyện vì ước muốn sau cùng của anh đã được thực hiện, dầu có muộn màng. Bài mà tôi viết về anh người ta đã lấy dựng thành kịch (1), cho phổ biến, trình chiếu khắp nơi mà không xin phép tác giả. Thôi thì hãy ngậm cười mà tha thứ cho họ, tha thứ tất cả. Tha thứ cho những kẻ đã hành hạ anh, những kẻ bỏ đói anh, tha thứ luôn cho cái chuồng cọp nhốt anh đêm ngày và cái còng sắt siết chặt tay anh rớm máu! Bây giờ đã là ba mươi bốn năm, vậy mà tôi tưởng như mới ngày nào…

 Lịch sử vẫn đang ghi nhận những sự thay đổi, những bước tiếp diễn lạnh lùng của nó. Có những điều anh nhận định, anh mong mỏi bây giờ đã là sự thật, ngọai trừ Tự Do và Hạnh Phúc cho mọi người.

Gia đình anh có nhiều thay đổi: Mẹ anh đã qua đời, ông chú anh cũng đã ra đi. Người ta dùng tên chú anh để đặt tên một con đường nhỏ ở Thủ Đức nhưng lại viết sai chính tả! Anh còn lại những người thân nhưng đã phân tán mỗi người mỗi ngã. Có người còn ở Việt Nam, có người ở Pháp, ở Mỹ… Tôi vẫn đang liên lạc với họ, vẫn nghe tiếng họ nói mà chưa một lần gặp mặt. Vậy mà cảm thấy như đã thân quen tự thuở nào. Về phần tôi, khi nào điều kiện cho phép tôi sẽ về lại Việt Nam. Tôi sẽ đi tìm ngôi mộ của anh, sẽ thắp lên đó một nén hương và trồng bên cạnh đó một cây sứ có bông màu trắng.

GHI CHÚ: (1) Bài viết Người Không Nhận Tội đã được Trung Tâm Băng Nhạc Asia dàn dựng với cùng tựa đề, do Ban kịch Sống – Túy Hồng trình diễn trong cuốn Asia số 36 (chủ đề Người Lính) tưởng niệm 27 năm tháng 4 đen (30/4/1975 – 30/4/ 2002). Bài này được viết lại tháng 4 năm 2010 để tưởng niệm 35 năm ngày mất nước

(Bài do Huynh Hung và Tuan Hoang sưu tầm)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Người Không Nhận Tội – Tác giả Duy Nhan

Chủ nghĩa nào đã làm Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ năm 1975? (Nguyễn Quang Duy)

Chủ nghĩa nào đã làm Việt Nam Cộng Hòa

sụp đổ năm 1975 ?

Nguyễn Quang Duy

Sau 46 năm chấm dứt chiến tranh, nhiều người, kể cả những học giả ngoại quốc, vẫn tin rằng cuộc chiến tại miền Nam là cuộc chiến giữa hai ý thức hệ quốc gia và cộng sản.

Nhưng ý thức hệ quốc gia hay chủ nghĩa quốc gia Việt Nam là gì và lý do ý thức hệ cộng sản thắng thế vẫn chưa được tìm hiểu và phân tích cặn kẽ để biết đâu là sự thật.

Chủ nghĩa quốc gia đến với Việt Nam

Trước thế kỷ thứ 20, nước là của vua, dân là con vua, việc bảo vệ và mở mang bờ cõi là trách niệm của nhà vua, làm dân có bổn phận phải trung thành với vua và sẵn sàng chết theo lệnh của nhà vua.

Cụ Phan Chu Trinh, cụ Phan Bội Châu là hai trong số những người Việt quốc gia đầu tiên, một người chịu ảnh hưởng chủ nghĩa quốc gia Pháp còn một người chịu ảnh hưởng chủ nghĩa quốc gia Trung Hoa và Nhật Bản, nên có hai khuynh hướng phụng sự quốc gia rất khác biệt.

Nhà cách mạng Nguyễn Thái Học (Quốc Dân Đảng), Đức Huỳnh Phú Sổ (đạo Hòa Hảo), Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc (đạo Cao Đài), Vua Bảo Đại, ông Phạm Quỳnh, ông Ngô Đình Diệm, ông Trần trọng Kim, học giả Lý Đông A (đảng Duy Dân), ông Trương Tử Anh (đảng Đại Việt) và rất nhiều người khác là những người Việt quốc gia của thời kỳ tiếp theo.

Những người kể trên về mặt tư tưởng họ khác nhau một trời một vực, có khi còn đối chọi với nhau, cho thấy ở thời điểm 1945 vẫn chưa có một hệ tư tưởng có thể coi là hệ tư tưởng quốc gia hay chủ nghĩa quốc gia.

Năm 1949 khi người Pháp trao trả độc lập cho Việt Nam, Quốc trưởng Bảo Đại đặt tên nước là Quốc Gia Việt Nam, lập Quân Đội Quốc Gia, Chính Phủ Quốc Gia, và cờ Vàng ba sọc đỏ được gọi là cờ Quốc Gia.

Vua Bảo Đại từ lâu đã muốn xây dựng một chủ nghĩa quốc gia riêng cho Việt Nam, nhưng vì hoàn cảnh đất nước chưa hoàn toàn độc lập, và vẫn còn chiến tranh nên không thực hiện được ý muốn.

Chủ nghĩa quốc gia là gì ?

Là hệ tư tưởng soi sáng và hướng dẫn chúng ta làm những việc có ý nghĩa, có đạo đức, biết việc gì cần làm và tạo cho chúng ta sáng kiến đạt được kết quả tốt nhất trong cạnh tranh sinh tồn và phát triển đất nước.

Mỗi quốc gia đều có những khác biệt về lịch sử, sắc tộc, văn hóa, xã hội, kinh tế, chính trị, bởi thế chủ nghĩa quốc gia Việt Nam phải khác hẳn với chủ nghĩa quốc gia ở các quốc gia khác.

Chủ nghĩa quốc gia Việt Nam phải nối kết được những tư tưởng, những tình cảm, những truyền thống, những ước mong, những ý hướng trong tâm trí của mọi người thuộc mọi sắc tộc sống trên đất nước Việt Nam.

Có chủ nghĩa quốc gia mới có thể định hình được một cách rõ rệt những khái niệm về tổ quốc, về nòi giống, về lòng yêu nước, về tình đồng bào, xây dựng lý tưởng làm chuẩn mực cho đời sống của người Việt Nam.

Chủ nghĩa quốc gia chính là những nguyên tắc căn bản để chính phủ đề ra những chiến lược và đường lối kinh tế, văn hóa, xã hội hợp lòng dân và để người dân biết cách suy nghĩ và hành động vì lợi ích quốc gia dân tộc.

Việt Nam chưa có hệ tư tưởng quốc gia

Tháng 8/1945, cộng sản nổi dậy cướp chính quyền, đến năm 1947 khi những người Việt quốc gia muốn ôn hòa giành lại độc lập phải cộng tác với người Pháp thì đảng cộng sản cướp luôn cả chính nghĩa quốc gia.

Trong hoàn cảnh chiến tranh những người Việt quốc gia chỉ duy trì tinh thần quốc gia rời rạc, không thể kết lại một cách chặt chẽ như một ý thức hệ hay một hệ tư tưởng có luận lý (lô gích), có đạo đức, dựa trên lợi ích quốc gia và dân tộc.

Vì thiếu một ý thức hệ quốc gia làm căn bản nên người quốc gia và các đảng phái quốc gia liên tục chia rẽ không thể tập trung được sức mạnh chiến đấu và tồn tại trong hoàn cảnh chiến tranh 1945-75.

Xem lại Đệ Nhất Cộng Hòa

Chính phủ Đệ Nhất Cộng Hòa thay vì tìm cách xây dựng ý thức hệ quốc gia, lại lo xây dựng chủ nghĩa nhân vị ông Cao Xuân Vỹ Thủ lãnh Phong trào Thanh niên Cộng Hòa từng nghe Tổng thống Ngô Đình Diệm than phiền:

“Ngay cả đến các vị Bộ trưởng cũng không hiểu được (chủ nghĩa) nhân vị là gì, thì làm sao mà chúng ta thực hiện được cuộc cách mạng quốc gia ?”

Ông Diệm nói rất đúng vì khi tầng lớp lãnh đạo không hiểu được đường lối chiến lược quốc gia thì làm sao tầng lớp cán bộ có thể hiểu được để truyền bá chính nghĩa (việc làm đúng).

Và làm sao người dân, nhất là những nông dân chiếm đến 90% dân số lại có thể biết đến đường lối, chiến lược và viễn kiến của tầng lớp lãnh đạo quốc gia.

5 năm vàng son 1955-60 nhanh chóng trôi qua, khi cộng sản từ miền Bắc bắt đầu xâm nhập và cộng sản ở miền Nam nổi dậy, thì rõ ràng Việt Nam Cộng Hòa không có một chủ nghĩa đúng mức để vừa giữ được đất, vừa giữ được dân.

Chính phủ Mỹ sợ cộng sản thắng thế muốn trực tiếp mang quân vào tham chiến thì bị Tổng thống Ngô Đình Diệm phản đối họ mới nhúng tay vào cuộc đảo chánh 1/11/1963 lật đổ nền Đệ Nhất Cộng Hòa.

Mỹ Hóa chiến tranh

Miền Nam lọt vào vòng khủng hoảng chính trị, đảo chánh này sang đảo chánh khác, miền quê càng ngày càng mất an ninh, nhiều địa phương sáng quốc gia đêm cộng sản.

Ngày 8/3/1965, Thủy quân lục chiến Mỹ đổ bộ vào bãi biển Đà Nẵng, người Mỹ mở rộng chiến tranh thả bom miền Bắc và trực tiếp điều khiển chiến tranh từ Tòa Bạch Ốc và Ngũ Giác Đài.

Người Mỹ nhúng tay đảo chánh Tổng thống Ngô Đình Diệm đã là một sai lầm lớn, việc Mỹ hóa chiến tranh Việt Nam là sai lầm lớn hơn khiến họ phải trả một giá rất đắt về sinh mạng và tiền bạc.

Cho đến phút cuối người Mỹ vẫn không hiểu người Việt cả phía quốc gia lẫn bên cộng sản, nên trong chiến tranh Việt Nam người Mỹ liên tục mắc sai lầm là nguyên nhân chính dẫn đến ngày 30/4/1975.

Chiến tranh càng leo thang, người miền Nam càng phải tập trung bảo vệ miền Nam, nên càng ít quan tâm đến mặt lý thuyết xây dựng một ý thức hệ quốc gia.

Nói về Chủ nghĩa tự do

Khi ý thức hệ quốc gia chưa hình thành và khi người Mỹ đổ quân vào miền Nam chủ nghĩa tự do kiểu Mỹ đã phát triển một cách vô cùng mạnh mẽ.

Trong thời chiến cá nhân cần đặt lợi ích quốc gia và dân tộc bên trên, thì chủ nghĩa tự do lại dựa vào cá nhân để phát triển từ văn hóa, xã hội, kinh tế và nhất là chính trị (thể chế dân chủ pháp trị).

Một số thí dụ dưới đây cho thấy phần nào chủ nghĩa tự do đã dẫn đến ngày 30/4/1975.

Ở miền Nam tự do báo chí không khác gì ở Mỹ các nhà lãnh đạo thường xuyên được đưa lên mặt báo.

Tờ Tin Sáng là nhật báo đối lập với Chính phủ có mục “Tin Vịt” do “Tư trời biển” viết nêu đích danh Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu là tham quyền cố vị, hiếu chiến, thất học, tham nhũng, bất tài hay gọi ông là “Tổng Thẹo”, “Sáu Thẹo”…

Báo chí có quyền chỉ trích Chính phủ và chỉ trích cá nhân các nhà lãnh đạo miễn là không nhằm mục đích tuyên truyền cho cộng sản, nhưng các tờ báo vẫn thường dịch các bài viết từ phe cánh tả chống chiến tranh thì có khác gì tiếp tay tuyên truyền cho cộng sản.

Báo chí ngoại quốc cũng được tự do xuất bản tại miền Nam, người Việt vốn suy nghĩ người ngoại quốc đưa tin khách quan và trung thực, nên nhiều bài viết thuộc phe cánh tả chống chiến tranh cũng được rất nhiều người đọc và tin theo.

Về truyền hình thì có đài Quân đội Hoa Kỳ phát trên băng tần số 11 đưa những hình ảnh chiến trường mà lính Mỹ thua đến nỗi phải tháo chạy bằng các trực thăng, những hình ảnh này ảnh hưởng nặng đến tâm lý người Việt và rất có lợi cho phe cộng sản.

Giáo dục thì phi chính trị nên học sinh và sinh viên đều ít quan tâm đến tình trạng đất nước, một số còn xuống đường biểu tình chống chiến tranh hay leo núi theo cộng sản, số khác sống phóng túng, đua đòi theo cách sống Hippie kiểu Mỹ…

Văn học, âm nhạc, nghệ thuật ở miền Nam bao gồm đủ mọi khuynh hướng, từ tự do cá nhân, đến chuyện đất nước, tình tự dân tộc, nhân bản, khai phóng, hiện thực, chống chiến tranh và chống cả chính phủ.

Kinh tế thì tự do nên vì tiền mà một số thương gia sẵn sàng cung cấp hàng hóa cho cộng sản hay đầu cơ tích trữ phá hoại thị trường và cũng vì tiền mà một số giới chức tham nhũng đã tiếp tay với gian thương nuôi dưỡng cộng sản.

Ngay trong Quốc Hội, Khối Đối Lập liên tục chỉ trích Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, họ còn chủ trương nói chuyện với Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (một tổ chức ngoại vi của đảng Cộng sản), chính trị miền Nam không khác gì sinh hoạt chính trị tại Hoa Kỳ.

Tự do thua cộng sản?

Một số người quan sát cuộc chiến ở miền Nam rồi vội vã cho rằng chủ nghĩa cộng sản đã thắng chủ nghĩa tự do.

Nhưng nếu so Tây Đức và Đông Đức, Nam Hàn và Bắc Hàn, Trung Quốc và Đài Loan, Khối Tự Do chống lại Khối Cộng Sản thì rõ ràng ý thức hệ tự do đã là bên thắng cuộc.

Đại Hàn và Đài Loan là hai quốc gia Á châu bị phân đôi, chủ nghĩa quốc gia ở đó đã phát triển thành những ý thức hệ có thể đón nhận và hài hòa chủ nghĩa tự do kiểu Mỹ.

Sau một quá trình chọn lọc nhiều thập niên cho mãi đến những năm đầu của thập niên 1990 Đài Loan và Nam Hàn mới tiến hành dân chủ hóa đất nước của họ.

Còn Việt Nam Cộng Hòa vì chưa có được một chủ nghĩa quốc gia, một ý thức hệ quốc gia, một hệ tư tưởng hướng dẫn, nên chủ nghĩa tự do đã phản tác dụng phá hoại và tiêu hủy nền Cộng Hòa non trẻ ở miền Nam Việt Nam.

Theo tôi, đây là bài học cho cả hôm nay: Việt Nam vẫn đang cần chủ nghĩa quốc gia

Chiến tranh đã chấm dứt hơn 46 năm, so với các quốc gia trong vùng, Việt Nam vẫn thua kém cũng vì thiếu một chủ nghĩa quốc gia đúng đắn.

Trước thời chiến tranh Đài Loan và Đại Hàn về kinh tế chỉ tương đương với Việt Nam, nhưng ngày nay hai quốc gia này đã vượt xa chúng ta.

Đài Loan và Đại Hàn áp dụng chiến lược xuất cảng thúc đẩy tăng trưởng (export led growth strategy), nhưng nhờ họ có được hệ tư tưởng quốc gia vững chắc, nên có được chiến lược xây dựng kinh tế dựa trên nội lực quốc gia và kết quả tăng trưởng kinh tế thuộc về người dân của xứ họ.

Hà Nội cũng áp dụng chiến lược xuất cảng thúc đẩy tăng trưởng nhưng lại xây tổ đón phượng hoàng xứ người, nên người Đài Loan và người Đại Hàn nay đã trở thành những ông chủ, những con phượng hoàng trên đất nước Việt Nam.

Còn người Việt phải làm công bộc cho chủ nhân ngoại quốc hay phải sang tận xứ người để làm công cho họ.

Chiến lược tăng trưởng dựa trên xuất cảng biến Việt Nam thành một quốc gia lắp ráp trong chuỗi dây chuyền sản xuất của các công ty đa quốc gia.

Việt Nam được giao cho sản xuất các mặt hàng dựa trên lao động tay chân mang lại rất ít giá trị gia tăng cho quốc gia.

Các nghiệp đoàn tự do bảo vệ quyền lợi công nhân thì chưa có nên người Việt làm công nhận được một mức lương thật thấp, thậm chí không đủ sống qua ngày, còn lợi nhuận thì vào tay tư bản ngoại quốc và được họ đưa về chính quốc.

Dựa trên tỉ lệ thương mãi xuất và nhập cảng, Việt Nam nay là nước có mức độ toàn cầu hóa cao nhất thế giới, nguyên liệu chủ yếu phụ thuộc vào nhập cảng từ Trung Quốc và sản phẩm sản xuất thì chủ yếu xuất cảng sang Mỹ.

Chủ quyền kinh tế nay phụ thuộc nặng nề vào hai quốc gia này, Hoa Kỳ đe dọa trừng phạt kinh tế cũng sợ, mà Trung Quốc đe dọa trừng phạt kinh tế thì cũng lo.

Nếu các hãng xưởng Đài Loan và Đại Hàn rút khỏi Việt Nam thì nền kinh tế Việt Nam xem như sụp đổ, rõ ràng chủ quyền quốc gia Việt Nam đã bị lệ thuộc quá nặng vào ngoại bang.

Còn các mặt khác như văn hóa, giáo dục, xã hội, chính trị, và cả quân sự Việt Nam đều thua xa hai quốc gia Đài Loan và Đại Hàn.

Ở trong nước ai biểu lộ bất đồng chính kiến thì bị đảng Cộng sản cho công an cô lập và đàn áp.

Người Việt hải ngoại sống trong môi trường tự do nhưng vì thiếu một chủ nghĩa quốc gia dẫn dắt nên người đấu tranh luôn bị động, chẳng ai nghe ai, càng ngày càng chia rẽ và càng xa lìa chính những đồng hương đang sống ở hải ngoại.

Ôn lại lịch sử Việt Nam Cộng Hòa và nhìn vào hiện tình đất nước, người Việt muốn giữ được chủ quyền quốc gia vẫn cần phải xây dựng một hệ tư tưởng cho chính người Việt Nam, một chủ nghĩa quốc gia Việt Nam vẫn thật sự cần thiết.

Nguyễn Quang Duy

Melbourne, Úc Đại Lợi

18/5/2021

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Chủ nghĩa nào đã làm Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ năm 1975? (Nguyễn Quang Duy)

DẠY HỌC: NGHỀ HAY NGHIỆP_Lê Phương Lan

DẠY HỌC: NGHỀ HAY NGHIỆP

Tác giả: Lê Phương Lan (Phu nhân K1 Nguyễn văn Vinh)

Bài được viết nhân ngày lễ Bế Giảng năm học online đặc biệt 2020-2021 và cũng là để chuẩn bị bài cho tập san kỷ yếu nhân kỷ niệm 20 năm ngày thành lập trường GLVN giáo xứ Chúa Ba Ngôi sắp đến.

Một con người trưởng thành và có trách nhiệm luôn phải tìm cho mình một công việc để mưu cầu cuộc sống cho chính mình và cho gia đình. Một khi công việc này cứ mãi theo ta hay là đã trở thành động lực hướng dẫn ta trong cuộc sống thì nghề này nay đã trở thành nghiệp. Đó chính là “nghề  nghiệp” của mình.

Đối với tôi thì công việc dạy học là một nghề và nghiệp thật đúng nghĩa. Đầu tiên công việc này đến với tôi thật tình cờ: Vào đầu năm 1974 tôi có dạy học tại trường trung tiểu học Chí Thiện một thời gian rất ngắn. Nhưng cũng chính nhờ đó mà đến mùa nhập học sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 do nhu cầu cấp bách cần phải mở lại các trường học tại Sài Gòn của chính quyền mới mà tôi được gọi cho đi dạy lại. Vào thời điểm này nghề dạy học như một cái phao cấp cứu cho gia đình tôi qua khỏi một thảm họa phải bị đuổi ra khỏi thành phố để đi vùng kinh tế mới. Tôi được phân công dạy môn Văn hai cấp lớp 8 và 9 tại trường trung học Đắc Lộ. Rất may cho tôi là vào những năm đầu chương trình ngữ văn cũng còn được đưa thêm vào những áng văn thơ cổ . Bên cạnh những “Dũng sĩ Điện Ngọc”, “Dáng Đứng Việt Nam” vẫn còn có được “Hịch Tướng Sĩ”, “Bình Ngô Đại Cáo”để cho tôi đưa vào lòng yêu nước chân chính cho các em học sinh . Nhất là vẫn còn “Kim Vân Kiều” một tác phẩm mà trong đó tính chất giàu đẹp của tiếng Việt đã được thi hào Nguyễn Du sử dụng tuyệt vời trong nghệ thuật tả người, tả cảnh, tả tình đến nỗi học giả Phạm Quỳnh đã nhắc nhở hậu thế rằng:”Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn”.

 Người dân thành phố Sài Gòn lúc này đang vật vã tìm đủ mọi cách để kiếm sống dưới bàn tay sắt của người chủ mới. Nhưng chính lúc đó tình người trong gia đình, trong khu xóm, trong học đường đã được thể hiện rõ nét nhất. Trong suốt cuộc đời đi dạy học đây là giai đoạn cảm động nhất mà tôi luôn khắc ghi trong tâm khảm. Các học sinh của tôi lúc bấy giờ cũng đủ lớn để thấy được hiện trạng đất nước. Khi đến thăm các em đã thấy hoàn cảnh của gia đình tôi. Các em nam sinh thì tình nguyện đến giúp cô giáo đóng lại trần nhà đã gần như bị rớt ra vì mưa dột. Các em nữ thì cứ đến gần ngày đi thăm nuôi chồng tôi lại đến giúp tôi làm bánh chế biến từ bột mì và khoai lang được mua theo khẩu phần từ hợp tác xã. Cảm động nhất là khi em Hoa, một nữ sinh lớp 9 sau buổi học phải đẩy xe bán trái sê ri nhưng đã có lần em ghé vào nhà để đưa cho tôi một chén thịt kho mắm ruốc rất mặn. Em còn dặn tôi ”Cô để dành ít thịt này để đi thăm nuôi thày!”

Tuy nhiên, dù tình thày trò có tha thiết đến đâu tôi cũng phải đành bỏ nghề sau bốn năm dạy học vì đồng lương không còn đủ nuôi sống gia đình!

Cho đến khi biết được rằng gia đình chúng tôi sẽ được đi định cư tại Mỹ tôi cũng không mảy may nghĩ đến việc trở lại nghề cũ. 

Sau khi được đến tái lập nghiệp tại miền đất Cali trù phú ngày 20 tháng 5 năm 1991, tôi hăm hở tìm hiểu các nghề mà một số người quen giới thiệu như nhận may hàng gia công, nghề làm tóc, làm móng tay hay theo một người bạn phụ nấu ăn trong một xe Lunch  cung cấp thức ăn nóng cho các cơ sở kỹ nghệ điện tử.

Lần thứ hai nghề dạy học đã trở lại với tôi hoàn toàn không nằm trong dự tính. Nguyên nhân là do việc chúng tôi bất ngờ có được thêm một bé út nên tôi quyết định đi học trở lại khởi đầu tại Evergreen Valley College để có thêm tiền trợ cấp học bổng. Tuy nhiên, niềm mơ ước được quảng bá nền văn hóa Việt Nam chính là động lực thúc đẩy và rất may mắn cho tôi là đã được bước vào nghề dạy học thật đúng lúc. Tôi đã được học với tiến sĩ Mai Đào lúc đó đang phụ trách các giáo trình nhằm đào tạo các thày cô giáo cho chương trình song ngữ tiếng Việt (Vietnamese Bilingual Program) của San Jose State University. Giáo sư Mai Đào đang rất cần người phụ tá khi bà được cấp ngân sách mở trường Việt Ngữ Kiểu Mẫu tại đây. Tôi được giáo sư Mai Đào giao cho việc giảng dạy và soạn bộ sách dạy học vần cho các lớp Việt Ngữ. 

Tôi ra trường SJSU năm 1997 và bắt đầu đi dạy khi chương trình song ngữ vẫn còn trong giai đoạn huy hoàng và học sinh Việt Nam có mặt khá đông trong các học khu tại quận hạt Santa Clara. Lớp học tôi được giao cho dạy thực tập khi chuẩn bị vào nghề là một kỷ niệm rất đẹp. Đó là một lớp dạy mùa hè mà học sinh toàn là các cháu Việt Nam ngoan ngoãn vô cùng trong đó có hai anh em Khoa và Thư. Sau này Khoa đã trở thành linh mục Khoa Vũ và đã từng phục vụ tại giáo xứ Saint Francis of Assisi .

Cho dù sau này chương trình dạy song ngữ không còn nữa, hàng năm tôi vẫn luôn cùng với các bạn đồng nghiệp liên tục giới thiệu các nét văn hóa Việt trong hai ngày hội truyền thống là Tết Trung Thu và nhất là trong ngày Tết Nguyên Đán. Trong mỗi chương trình văn nghệ những màn hợp ca, các màn vũ dân tộc luôn được tham gia bởi các giáo viên và học sinh người Mỹ, Mễ của toàn trường. 

 Dạy học tại nhà trường Mỹ có những khó khăn riêng của nó. Trong một xã hội tự do dân chủ thì quyền góp ý, phê phán của phụ huynh ngay cả của học sinh đã được pháp luật bảo vệ. Thày cô giáo cũng chỉ được đối xử như những người công chức của chính phủ mà thôi. Tuy vậy cũng không thiếu những món quà kỷ niệm được lưu giữ nói lên lòng biết ơn và trân trọng của phụ huynh và học sinh trong suốt 20 năm dạy học của tôi.

Tôi bắt đầu để ý đến các chương trình dạy Giáo lý và Việt ngữ khi cô con gái út được đi học Giáo lý và Việt ngữ tại giáo xứ Saint Patrick. Lòng nhiệt thành trong việc giữ vững đức tin và gìn giữ văn hóa dân tộc thúc giục tôi tham gia vào việc dạy học tại giáo xứ Chúa Ba Ngôi từ khi Sơ Trần Lệ Huyền Angeline nhận chức hiệu trưởng tại đây năm 2005 cho mãi đến bây giờ. Tôi yêu thích và  hăng say với công việc dạy học Giáo Lý và Việt ngữ còn hơn là việc dạy học chính tại nhà trường công lập. Theo tôi thì việc dạy học chính quy dù cho đó là sự chọn lựa đúng nhất của tôi thì dẫu sao vẫn chỉ là một “nghề” vì qua đó sức lao động bằng trí óc của tôi đã được trả công. Việc dạy học tại giáo xứ mới chính là “nghiệp” mà tôi thiết tha, gắn bó. Các thày cô giáo tại đây làm việc hoàn toàn tự nguyện, vô vị lợi. Chúng tôi làm việc hoàn toàn là vì lòng yêu thương thế hệ trẻ. Khi yêu thương thật lòng chúng ta luôn muốn để dành những gì tốt nhất cho người mình thương.

 Giáo dục là món quà tốt nhất. Sự học cần thiết cho cả đời sống tinh thần lẫn đời sống vật chất. Mục đích của giáo dục chẳng những để đào luyện cho con người trở nên giỏi giang về mặt kiến thức (knowledge) và kỹ năng (skills) mà còn làm cho con người trở nên cao thượng (noble), để có sự nhận định, suy xét đúng đắn (wise judgment). Cái đẹp của học vấn là không ai có thể tước đoạt được kiến thức của mình “The beautiful thing about learning is that no one can take it away from you” (B.B. King). Mà cái đẹp nhất trong đời người còn gì hơn là có một đức tin cao đẹp và một nền văn hóa truyền thống dân tộc?

Đức tin của tôi là tin vào một Đấng Toàn Năng:

Tiến sĩ Phan Như Ngọc bị nhồi nhét thuyết vô thần từ nhỏ và lớn lên trong lòng xã hội chủ nghĩa. Nhân một chuyến công tác ở nước ngoài ông đã xin tỵ nạn và đã xin gia nhập đạo Thiên Chúa. Ông viết: ”Tính muôn màu muôn vẻ của thiên nhiên, tính di truyền kỳ diệu: hạt giống nào sinh trái đó, con người từ hàng ngàn năm qua vẫn sản sinh ra con người, vẻ đẹp tuyệt vời của hoa lá, sự hài hòa và hoàn thiện của cơ thể con người, sự hùng vĩ của vũ trụ, thiên nhiên; tất cả những cái đó cộng với ý kiến của các vĩ nhân mà tôi hằng kính phục, chính là sự chứng minh tuyệt vời làm cho tôi tin rằng phải có Đấng Sáng Tạo.”

Khoa học dẫn đến Thiên Chúa:

Bác học Becquerel:”Nhờ nghiên cứu khoa học đã dẫn tôi đến Thượng Đế và tôi có đức tin.”

Bác học Isaac Newton khi nhìn thấy sự kỳ diệu và trật tự của bầu trời đã thốt lên:”Tôi thấy Thượng Đế qua viễn vọng kính!”

Bác học Albert Einstein:” Khoa học không tôn giáo là mù lòa, tôn giáo thiếu khoa học là què quặt.” “Tôi chưa hề gặp điều gì trong khoa học của tôi mà lại đi ngược với tôn giáo.” “Sự ác là do vắng bóng Thượng Đế trong tâm hồn.”

Charles Nicolle, người đoạt giải Nobel Y học năm 1928:”May mắn thay trong tôn giáo có những bí nhiệm. Nếu không tôi sẽ hoài nghi nó, vì cho rằng tôn giáo do trí óc con người tạo ra. Bí nhiệm làm tôi vững tâm. Đó là dấu ấn của Thiên Chúa.”

Bác học Chevreul:”Tôi không thấy Thiên Chúa vì Ngài thiêng liêng, nhưng tôi thấy công trình tạo dựng của Ngài.”

Bác học Edison đã ghi vào sổ vàng khi ông đến thăm tháp Eiffel:”Edison hết sức khâm phục và ca ngợi tất cả các kỹ sư, trong đó gồm cả Thiên Chúa.”

Bác học Diderot:”Chỉ cần cái cánh và con mắt của con bướm, cũng đủ diệt tan mọi lý lẽ của kẻ vô thần.”

Văn hóa truyền thống dân tộc:”Văn hóa là những gì còn lại sau khi đã quên hết những gì đã học tại học đường” (Culture is what remains after one has forgotten everything he learned in school.) Albert Einstein

Thật đúng như vậy, sau một cuộc đổi đời tang thương, những gì còn lại trong tôi bây giờ không phải là những công thức toán, vật lý, hóa học mà chính là văn hóa truyền thống dân tộc, là kết quả của một nền giáo dục của Việt Nam Cộng Hòa. Đó là một nền giáo dục nhân bản (lấy con người làm gốc), dân tộc (tôn trọng giá trị truyền thống dân tộc), và khai phóng (mở rộng, không bảo thủ, tiếp nhận văn hóa, văn minh nhân bản thế giới). Một nền giáo dục mà tôi không hề bị dạy dỗ phải căm thù, dối trá mà chỉ là yêu thương, nhân đạo từ những câu ca dao, tục ngữ dạy tình thương yêu đồng bào:”Nhiễu điều phủ lấy giá gương. Người trong một nước phải thương nhau cùng”, dạy sống sao cho trong sạch”Đói cho sạch, rách cho thơm” cho đến bài học trong Gia Huấn Ca của Nguyễn Trãi:”Thương người như thể thương thân… Thấy ai đói rách thì thương. Rách thường cho mặc, đói thường cho ăn”. Tôi đã được học lịch sử hào hùng của dân tộc, những thi ca, hùng ca của tiền nhân mà không phải là những anh hùng được ngụy tạo. Nhưng do vận mệnh xót xa, cả một công trình gây dựng trong 20 năm của nền văn học của miền Nam Việt Nam sau 1975 đã bị hủy diệt với từng núi sách bị đốt phá trên các đường phố! Chỉ riêng nhà sách Khai Trí số lượng sách bị đốt là 60 tấn sách!

Viết đến đây tôi nhớ lại bài thơ của thi sĩ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu:

Vịnh Bức Dư Đồ Rách (bức dư đồ: tấm bản đồ)

Kìa bức dư đồ thử đứng coi.

Sông sông núi núi khéo bia cười!

Ông cha xưa gắng công gìn giữ.

Mà nay con cháu lấy làm chơi!

Thôi thì đáng trách thay đàn trẻ!

Thôi, để rồi ta sẽ liệu bồi!

Ngày nay nhờ vào những tiến bộ vượt bậc trong kỹ nghệ tin học người dân trong nước đã có thể tìm hiểu và nói lên những sự kiện chính thực mà không còn phải mang tâm trạng như các văn thi sĩ của vụ án Nhân Văn Giai Phẩm tại Hà Nội(1955-1957):”Bút tôi ai cướp mất rồi! Tôi sẽ dùng dao khắc văn trên đá!” nhất là những người dân Việt đang được định cư tại các nước tự do, với phương tiện thông tin sẵn có cả hai chúng ta cùng cố gắng tìm đọc những bản văn gốc, những bộ sách lịch sử, văn học chân chính để trân trọng gìn giữ và bồi đắp những viên ngọc quý còn lưu trữ lại được. Người Việt hải ngoại xin hãy trải rộng ký ức của mình để làm những chứng nhân lịch sử xác thực nhất cho con cháu, để bảo vệ tiếng nói là linh hồn và văn hóa truyền thống là vốn liếng quý nhất của dân tộc Việt Nam.   

Đó cũng chính là những gì tốt đẹp nhất mà tôi đã có được nhờ công ơn gìn giữ của các bậc tiền nhân hàng ngàn năm qua văn chương truyền khẩu, qua văn chương bác học (tên gọi của nền văn chương chữ Hán và chữ Nôm) nhất là qua nền văn hóa của miền nam Việt Nam thời kỳ cận đại . Và công việc dạy học vẫn mãi là một NGHỀ NGHIỆP được viết bằng nét chữ hoa trân trọng nhất của tôi.

Lê Phương Lan

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở DẠY HỌC: NGHỀ HAY NGHIỆP_Lê Phương Lan

Thơ Xướng Họa “Hoan Hô Khóa 1 Bắc Cali”

60866292_1363816170426486_2398788025644482560_n

HOAN HÔ KHÓA 1 BẮC CALI

Nghe tin khóa 1 Bắc Ca-li
Họp mặt hè nầy thích quá đi
Hâm lại tình đồng môn Học Viện
Quên đi cái đại dịch cô vi
Bún bò, mì quảng, Mai Hương nấu
Nước ngọt, rượu bia, có kẻ chi
Cầu chúc bạn hiền vui hội ngộ
Hoan hô khóa 1 Bắc Ca li.

Cóc Nhà

Họa1: HỌP MẶT BẮC CA-LI

Hè nầy nghe nói bắc Ca-Li
Khóa một gọi nhau hãy gắng đi
Hội ngộ đồng môn ôn chuyện cũ
Quây quần bạn hữu giải huyền vi
Qủy đời cạn kiệt không màng tới
Đại dịch chích ngừa chẳng sợ chi
Tình nghĩa anh em luôn gắn bó
Mong về họp mặt bắc Ca-Li

CH 

Họa 2: Welcome

Vui cùng Khóa 1 Bắc Cali
Đã đến một lần chẳng muốn đi
Ôn lại quãng đời trong Học Viện
Bỏ qua thời khắc dịch Cô Vi
Quên đi mọi việc không như ý
Nhớ đến đồng môn chẳng ngại chi
Quý bạn phương xa nghe tiếng gọi
Về đây Khóa 1 Bắc Cali.

TQN.

Họa 3: VINH DANH KHÓA I

Hoa kỳ đẹp nhất xứ Ca li
Tỵ nạn đến đây hết muốn đi
Xã hội tăng cường lo cứu đói
Người dân góp sức diệt cô vi
ĐỒNG MÔN gắn bó luôn phù trợ
Thân hữu chung hòa chẳng ngại chi
Tiêu biểu cựu sinh viên Học Viện
Vinh danh Khóa I Bắc Ca Li

 Phiến Nguyễn

Họa 4: CHÚC MỪNG HỘI NGỘ BẮC CALI

Khoá một hợp đàn hết cách ly
Đồng môn hớn hở rủ nhau đi
Hơn năm cầu khẩn đừng vương bệnh
Hai mũi chích ngừa chẳng sợ vi (rút)
Bạn hữu vừa qua nhiều mất mát
Anh em còn lại chớ lo chi
Chào mừng hội ngộ vui thân ái
Giữ trọn tình nồng chúc cụng ly

Cóc QT-TP

Họa 5: HOAN HÔ K1 BẮC CALI

Phe ta khóa 1 Bắc Cali
Họp mặt rủ nhau nhất định đi
Mặc kệ dịch lan con Vũ Hán
Sá gì họa đến cái Cô Vi
Cả năm đóng cửa lo quanh quẩn
Mấy tháng nằm nhà nghĩ ngợi chi
Xem Bắc Cali mà hám quá
Tới luôn các bạn ngoài Cali

NĐT

Họa 6: Nàm Thao???

Mấy năm rồi hổng tới Cali
Họp bạn, nghe tin rất muốn đi
Đã thế thì thây cha ả Chệt
Cũng đành thôi mặc kệ em Vi
Lo phòng, còn chuyện cần nhiều thứ
Hỏi date, chưa ai báo cái chi
Chưa biết ngày giờ sao chuẩn bị?
Lấy gì book vé hỡi Cali?

LHN

Họa 7 :  MỪNG HỌP MẶT

Tin mừng họp mặt ở Ca Li
Nhớ bạn lâu ngày rất muốn đi
Tạm ổn qua cơn lây đại dịch
Còn lo biến thể nhiểm siêu vi
Đường xa thăm thẳm không hề nản
Sức khỏe mỏi mòn chẳng sá chi
Bạn hữu đến nay đều lão cả
Gặp nhau vui vẻ chúc nâng ly.

CÓC BIỂN

         

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thơ Xướng Họa “Hoan Hô Khóa 1 Bắc Cali”

Diễn văn của Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu (ST)

Diễn văn của Thủ tướng (Israel) Netanyahu

– Gởi các nhà lãnh đạo, thủ lĩnh và đặc công của Ismail Haniya và Hamas:

Chúng tôi, những người dân Israel, nợ các bạn một lòng biết ơn to lớn. Các bạn đã thành công ở nơi mà chúng tôi đã thất bại. Bởi trong lịch sử của nhà nước Israel hiện đại, chưa bao giờ người Do Thái lại đoàn kết, thống nhất như một. Tất cả mọi người ở Israel, từ trái sang phải, cả thế tục và tôn giáo, đoàn kết thành một khối, biết rất rõ rằng không ai chịu nhượng bộ cho một kẻ địch đã thề sẽ diệt chủng dân tộc chúng tôi.

Giờ đây, khi các anh tiếp tục phóng những tên lửa giết người một cách bừa bãi, nhằm mục đích sát thương và giết chết càng nhiều thường dân càng tốt, nhưng các anh lại hèn nhát trốn đằng sau dân thường của mình. Các anh tiếp tục khích lệ cho chúng tôi kiên trì và kiên định sự đoàn kết của mình. Bất kể người Do Thái chúng tôi có những điều tranh chấp gì, nhưng giờ đây chúng tôi biết rằng chúng tôi có một mục tiêu chung là: chúng tôi sẽ đánh bại các anh.

Nhưng bây giờ chúng tôi cho các anh một cơ hội cuối cùng. Trong vòng 24 giờ, tất cả các tên lửa – ý tôi là tất cả các tên lửa – cần phải dừng lại toàn bộ . Cho đến vĩnh viễn.

Tôi chính thức thông báo với các anh rằng, xe tăng của chúng tôi được tập hợp tại biên giới Gaza, và pháo binh cũng như yểm trợ trên không luôn sẵn sàng đợi lệnh. Chúng tôi đã phát tờ rơi ở vùng phía bắc của Dải Gaza để cảnh báo dân thường rằng chúng tôi sắp đến và họ nên sơ tán về phía nam ngay lập tức. Nếu các anh không thể đáp ứng thông điệp cuối cùng của chúng tôi, chúng tôi sẽ đến với sự trợ giúp của Thượng đế. Lần này, chúng tôi sẽ không rời đi. Mỗi cm đất mà chúng tôi chiếm được sẽ được sát nhập vào Israel để dân thường của chúng tôi không bao giờ bị tấn công nữa.

Dù vậy, chúng tôi sẽ tiếp tục mở rộng cánh cửa để các anh có thể đầu hàng một cách nhã nhặn. Thời khắc mà các anh tuyên bố hạ vũ khí cũng là thời khắc mà chúng tôi sẽ ngừng tiến công, và nơi dừng lại ấy, chúng tôi sẽ vẽ lại đường biên giới mới của mình. Nếu các anh tiếp tục tấn công công dân của chúng tôi, chúng tôi sẽ tiếp tục tiến về phía nam và đuổi các anh ra khỏi lãnh thổ nơi các anh sẽ không bao giờ bị ô nhiễm bởi sự hiện diện của cái ác nữa.

Thường dân của các anh sẽ mất hết nhà cửa, điều này khiến chúng tôi vô cùng đau xót. Nhưng cuộc chiến này không phải là sự lựa chọn của chúng tôi, đó là sự lựa chọn của các anh. Nếu lựa chọn của chúng tôi là để mặc cho công dân của chúng tôi trở thành mục tiêu không thương tiếc trong cuộc diệt chủng của các anh, hoặc biến thường dân của các anh thành những người tị nạn, thì chúng tôi rất tiếc rằng chúng tôi sẽ phải chọn cách sau. Nếu các anh yêu nhân dân của các anh như các anh ghét chúng tôi, chắc chắn cuộc chiến này sẽ không bao giờ xảy ra. 

– Thưa các quốc gia khác trên cộng đồng thế giới:

Israel đã quá mệt mỏi với những lời cáo buộc vô tận của bạn rằng chúng tôi nên “tiếp tục kiềm chế.” Khi tất cả người dân của bạn liên tục bị tấn công bởi tên lửa từ một kẻ thù ngoan cố với mục tiêu mà họ tuyên bố là giết hết tất cả những người đàn ông, phụ nữ và trẻ em trên đất của bạn, thì khi ấy bạn có thể đến và nói chuyện với chúng tôi về “sự kiềm chế”. Cho đến lúc đó, chúng tôi trân trọng khuyên bạn nên duy trì các tiêu chuẩn kép cho chính mình. Lần này, Hamas đã đi quá xa, để bảo vệ người dân của mình, chúng tôi sẽ hành động bằng bất cứ giá nào.

Hamas, tôi cảm ơn các anh một lần nữa vì đã khiến cho nhân dân chúng tôi gắn kết thành một khối. Với trí óc sáng suốt và mục tiêu nhất quán như vậy. Người dân Israel không hề sợ hãi con đường dài ở phía trước.

ISRAEL, PALESTINE VÀ JERUSALEM (Tài liệu copy từ FB  https://www.facebook.com/100001162542779/posts/3960969137285132/?d=n )

Câu chuyện được viết lại từ sự kiện hôm nay, khi Israel – Palestine đối diện khả năng bùng nổ chiến tranh toàn diện. Bắt đầu bằng việc chính quyền Israel đuổi 6 gia đình Palestine sinh sống tại khu vực Sheikh Jarrah thuộc Đông Jerusalem, thổi bùng lên ngọn lửa giận dữ của người Palestine. Cảnh sát được gọi đến và đụng độ đẫm máu xảy ra. Hamas, tổ chức vũ trang của người Palestine ở Dải Gaza tuyên bố đứng về phía người dân Palestine bị lấy đất. Cùng thời điểm đó, hàng chục ngàn người Palestine biểu tình bên ngoài đền thờ Al-Aqsa, địa điểm linh thiêng thứ ba của người Hồi giáo. Đền thờ nằm tại khu thành cổ Jerusalem và sát với Bức tường than khóc – địa điểm linh thiêng bậc nhất với người theo Do Thái giáo. Chưa hết, hàng ngàn người Do Thái cũng đổ về khu thành cổ để kỷ niệm ngày Israel chiếm được Đông Jerusalem.

Tính từ khuya ngày 10 tháng 05, đã có hơn 1.000 quả rốc két được bắn về phía Israel. Lá chắn bảo vệ Israel mang tên “vòm sắt” đã được kích hoạt với một hình ảnh đẹp kinh khủng trên bầu trời, nhưng là một hình ảnh đẹp đáng sợ của chiến tranh. Quân đội Israel cũng không để yên, đáp trả bằng hàng trăm cuộc không kích.

Câu hỏi:

– Tại sao lại có chuyện thù hận này?

– Tại sao từ ngày chúng ta biết đọc tin tức và đọc thời sự, đã luôn nghe về việc này?

– Và tại sao Jerusalem lại quan trọng đến thế?

– Tại sao họ lại cùng giành nhau một địa điểm linh thiêng?

“Hãy tìm lịch sử, bởi chỉ có lịch sử mới kể cho bạn về nguồn gốc của vấn đề”.

1. Tôn giáo – sự ra đời của mâu thuẫn.

Thiên chúa giáo, Hồi giáo, vì sao mà sinh ra? Lý do vì sao xuất hiện các cuộc thập tự chinh? Lý do vì sao Israel lại là cái gai trong mắt của cộng đồng Ả Rập?

Đầu tiên là một sự thật gây bất ngờ cho tất cả: Do Thái giáo, Kito giáo (Thiên Chúa Giáo theo cách gọi của tiếng Việt) và Hồi giáo – 3 tôn giáo đang đánh nhau chí chóe ở khu vực Trung Đông … đều có cùng chung một nguồn gốc. Đấy được gọi là các tôn giáo độc thần mà nguồn gốc chung của chúng đến từ một nhân vật sống vào đầu thiên niên kỷ 2 TCN (tức cách đây 4000 năm), gọi là Abraham.

Và địa điểm mà người cha ấy sinh ra các tôn giáo đó chính chỗ bom đạn đang nổ ầm ầm: Trung Đông và Jerusalem.

3000 năm về trước, tộc người Do Thái đến định cư ở phía tây bán đảo Ả Rập. Vị vua của người Do Thái tên là vua David (người đã đánh bại tên khổng lồ Goliath) mà nhiều người vẫn dùng thành ngữ. Thủ đô và trung tâm của người Do Thái bạn có biết là tên gì không? Nó tên là … Jerusalem. Và trên quê hương với những vùng đất được định hình này, Do Thái giáo đã được sinh ra từ gốc khởi nguồn của Abraham.

1/ Do Thái giáo của người Israel đã xuất hiện từ rất lâu, và còn xuất hiện đầu tiên.

2/ Vùng đất mà họ đang sinh sống hôm nay, là nơi mà tổ tiên họ đã ở đó từ 3000 năm trước.

Nắm kỹ được 2 điều đó, chúng ta mới hiểu để đi đến phần sau của câu chuyện.

Người Do Thái lập quốc được một thời gian thì bị đô hộ bởi đế quốc Babylon (Iran, Iraq) ngày nay. Sau đó đến lượt đế chế La Mã thống trị họ. Đây là quốc gia mất nước hơn 1000 năm.

1000 năm sau khi bị mất nước, và dân tộc vẫn đang nằm dưới chế độ cai trị của người La Mã, thì có một người Do Thái được lịch sử giao cho vận mệnh đã xuất hiện. Người đàn ông này và sự vĩ đại của ông ta sẽ thay đổi lịch sử thế giới. Tên ông là … Jesus. Ông tiến vào thành Jerusalem trên lưng một con lừa. Vì KINH CỰU ƯỚC của người Do Thái ghi rõ “Vị vua của Israel ở tương lai sẽ tiến vào Jerusalem trên lưng một con lừa” nên người Do Thái đã vây lấy ông, nghe ông nói chuyện, đợi ngày ông giải phóng dân tộc khỏi đế chế La Mã. Nhưng không, chỉ một tuần sau, đế chế La Mã biết tin, và người đàn ông ấy đã bị đóng đinh câu rút. Một bộ phận người Do Thái tin rằng chúa Jesus đã chết. Nhưng một bộ phận khác thì không, họ tin rằng chúa sẽ phục sinh và đưa họ ra khỏi dòng khổ ải trầm luân. Bộ phận này tách thành một giáo lý riêng gọi là KINH TÂN ƯỚC, với lễ Giáng Sinh (Chúa ra đời), và Lễ phục sinh (Chúa sống lại), đấy chính là Đạo Thiên Chúa (Kito giáo) của phương Tây. Những người này vì muốn cho tất cả biết rằng Chúa đã phục sinh, nên đã đi khắp nơi để giảng đạo.

Lúc này, vì đế chế đang nằm trong quyền cai trị của La Mã, ngôn ngữ chữ viết La Tinh cũng thống nhất, nên vô tình giúp cho việc giảng đạo được dễ dàng hơn nhờ vào hành chính, giao thông thuận lợi. Câu nói “Đường nào cũng về La Mã” là có ý nói về sự ưu việt về đế chế này. Đến năm 312, một sự kiện lớn xảy ra để Kito giáo trở thành tôn giáo lớn nhất đế chế. Đấy là việc Hoàng đế Constantine nhận được điềm báo Thập tự giá. Cùng thời điểm đấy, ông giành được chiến thắng Maxentius ở trận Cầu Milvian và thâu tóm quyền lực Đông và Tây. Tin rằng được phù hộ (vì nhận điềm báo thập tự giá mà) nên đến năm 313, hoàng đế ra chỉ dụ Milano cho phép người Kitô giáo được tự do hành đạo. Đến năm 380, Theodosius I chính thức công nhận Kitô giáo là quốc giáo của đế chế La Mã. À, đến đây có lẽ bạn đã biết vì sao Roma, Vatican là kinh đô Kito giáo rồi.

Tôi có suy nghĩ như sau:

3000 năm trước, Do Thái giáo ra đời. 2000 năm trước, Thiên Chúa giáo ra đời. Vậy Hồi Giáo? 1400 năm trước, đến lượt Hồi Giáo xuất hiện.

Vẫn là trên bán đảo Ả Rập đầy huyền bí đó. Một chàng trai trẻ khác tên là Muhammad (Mô ha mét), đã đến và vẫn là lấy gốc từ chính Abraham để tạo nên Hồi Giáo. Các bạn chú ý, Hồi Giáo thừa nhận hết những con người như Jesus, như Moise, như Abraham. Tuy nhiên, có 1 điểm khác biệt cốt lõi, chính điểm này đã sinh ra mâu thuẫn, và gián tiếp sinh ra đau thương. Bao gồm 2 điểm chính:

1/ Muhammad chỉ tự nhận mình là “Nhà tiên tri”, là sứ giả của thượng đế, là người phát ngôn của Thượng đế xuống truyền đạt đúng y lời của thượng đế. Chứ chưa bao giờ ông nói mình là “Chúa”.

2/ Muhammad nói rằng KINH KORAN là quyển kinh gốc mà thượng đế ban cho, là quyển kinh “Nguyên sơ nhất”, “Trọn vẹn nhất”. Trong khi Kinh Cựu Ước của người Do Thái và Kinh Tân Ước của người Thiên Chúa đã bị bóp méo đi rồi.

Người theo Do Thái đương nhiên không tin, người theo Thiên Chúa cũng chẳng tin. Nhưng người Hồi Giáo thì tin. Vậy là mâu thuẫn xảy ra khi người Hồi Giáo với niềm tin sắt đá đã xem những kẻ kia là dị giáo. Còn những người kia thì gọi bên kia là “Cực đoan”.

Trong cuộc sống này, suy nghĩ “Ta là số 1, ta là đúng nhất, còn ngươi mới sai” có thể đơn giản chỉ là nghỉ chơi với nhau, thỉnh thoảng nói xấu nhau cho vui miệng (nói xấu quanh năm suốt tháng thì hơi bệnh). Nhưng với vấn đề tôn giáo, khi có sự va đụng về quyền lợi, về vùng đất, thì cái đem lại chính là máu đổ, là chiến tranh.

“Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, là tinh thần của những trật tự không có tinh thần. Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân.” – Karl Marx.

Như đã nói ở trên, người Do Thái mới lập nước chưa được bao lâu thì bị tấn công và đô hộ (giống y như Việt Nam đấy). Các đế quốc hùng mạnh lần lượt tấn công họ và đặt họ vào trong thế vong quốc suốt 2000 năm lần lượt là đế chế Babylon, đế chế La Mã, và cuối cùng là đế chế Ottoman. Sang thế kỷ 20, đế chế Ottoman tan rã thì người Do Thái lại đối mặt với họa diệt chủng từ phía Phát Xít Đức. Nhưng 2000 năm đau thương và bơ vơ đó, người Do Thái chưa bao giờ ngừng phản kháng, chưa bao giờ chịu đầu hàng, và chưa bao giờ quên đi tổ tiên của mình.

Đế chế La Mã vì quá bực mình trước cái chuyện người Israel luôn phản kháng. Họ đã làm một việc mang tính đồng hóa, đấy là sau khi đập Israel một quả nổ đom đóm mắt. Người La Mã đã nhét tất cả 3 tôn giáo tôi kể trên kia vào một vùng đất, với mục đích triệt tiêu sự tồn tại của người Do Thái, một vùng Ả Rập rộng lớn được hình thành, và tên của vùng đất hỗn tạp đó là … Palestine!

2. Đế chế Ottoman.

Palestine nằm trong lòng đế chế Ottoman.

Đấy không đơn thuần là Thổ Nhĩ Kỳ, nước Thổ chỉ là cái gốc sơ khởi để Ottoman đi ra thế giới. Những vị vua giỏi nhất lên nắm quyền tại Thổ Nhĩ Kỳ và bắt đầu con đường chinh phục của họ, chẳng hạn vua Selim I, người đánh bại Ba Tư, tiêu diệt Ai Cập và đến đại đế Suleiman lấy luôn cả Trung Đông sát nhập vào Ottoman. Người Thổ Nhĩ Kỳ hôm nay vẫn nói về Ottoman như người Mông Cổ nói về thời đại Thành Cát Tư Hãn.

Và đế chế đó … theo HỒI GIÁO.

Đấy là một trong những đế quốc rộng lớn nhất lịch sử nhân loại, đã từng “phủ” lên cả ba châu lục Á, Âu, Phi, với đội quân khát máu nhất cùng một đế chế thịnh vượng. Có nghĩa, đã có giai đoạn mà Hồi giáo đè bẹp cả Châu Âu. Trong lòng đế quốc Ottoman thời kỳ thịnh trị nhất, đế chế này đã bao gồm cả Hy Lạp, Bulgaria, Romania, Nam Tư (rồi lại tan rã làm 5 nước độc lập khác chẳng hạn Croatia, Serbia…), Hungary, Albania, Syria, Liban, Jordan, Israel, Kuwait, Ai Cập, Sudan, Libya, Iraq, Yemen, Tunisia, Algérie, Síp, Armenia, Gruzia, Ukraina và một phần nước Nga. Tức là có tới 30 quốc gia hiện nay đã được thành lập từ lãnh thổ cũ của Đế quốc Ottoman. Bạn có thể nhận ra những cái tên quen thuộc của mùa xuân Ả Rập ở trong ấy: Tunisia, Algeria, Ai Cập, Yemen, Syria, Iraq, Libya.

Thiên Chúa Giáo ở Châu Âu lại bị đế chế Ottoman đe dọa. Nhưng trước khi Ottoman ra đời và làm nên kỳ công trên, thì giữa Hồi giáo và Thiên chúa giáo, giữa người Ả Rập và người Châu Âu đã tồn tại mâu thuẫn không thể hàn gắn. Tất cả liên quan đến một vùng đất thánh tên gọi là Jerusalem.

Ở phần 1 của bài viết này. Các bạn đều biết sự ra đời của 3 tôn giáo đều ở vùng đất Ả Rập, và 3 người truyền bá. Trêu ngươi thay cả 3 đều xem Jerusalem là vùng đất thánh minh của mình. Vua David chọn Jerusalem là kinh đô, chúa Jesus xuất hiện ở Jerusalem, và nhà tiên tri Muhammad đã bay lên thiên đường từ …Thánh Đường Đá ở Jerusalem. Vậy là Jerusalem trở thành điểm hành hương, và cũng điểm tranh giành của 3 tôn giáo, đồng nghĩa là điểm tranh giành của cả thiên hạ. Bây giờ có lẽ bạn đã hiểu vì sao Trung Đông lại nóng đến như thế rồi? Vì sao sự kiện chính quyền Israel đuổi 6 gia đình Palestine sinh sống tại khu vực Sheikh Jarrah thuộc Đông Jerusalem cách đây một tuần lại có thể xảy ra chiến tranh.

Những giáo hoàng Châu Âu, nơi truyền bá Thiên Chúa Giáo, cũng có niềm tin về chúa Giêsu, và vì muốn bảo vệ cũng như tranh giành Jerusalem, họ đã phát động một cuộc chiến tranh kéo dài từ thế kỷ thứ 11 đến thế kỷ 13. Tên của cuộc chiến đó có lẽ các bạn đã đoán ra: THẬP TỰ CHINH. Đấy là một cuộc chiến tranh tôn giáo giữa Kitô giáo và Hồi Giáo trên ngọn cờ hiệu “Giải phóng vùng Đất Thánh và vùng đất thiêng Jerusalem khỏi người Hồi giáo, giải phóng những tín đồ Công giáo khỏi sự thống trị của Hồi giáo.”

Đoàn quân “Thập tự chinh” đầu tiên đánh vào Jerusalem và tàn sát quân hồi giáo chính là…PHÁP. Và Pháp chính là quốc gia chủ đạo với những “hiệp sĩ dòng Đền” trong các cuộc tấn công vào Ả Rập 8 lần tiếp theo, trong các cuộc chinh chiến này thì Anh, Bồ đều tham gia, và điều gì bạn biết không: thập tự quân Bắc Âu.

Thế đây, cho nên màn báo thù mà các bạn thấy được hồi mấy năm trước mà facebook loạn lên dòng chữ “Pray for Paris” ở Paris hay ở Đan Mạch, Na Uy đều có ý nghĩa lịch sử cả. Những vụ khủng bố tại Pháp và Châu Âu hôm nay không phải là “trên trời rơi xuống”, cũng không phải vì IS hay những cuộc tấn công của Pháp tại Syria hay Lybia, đó là những mâu thuẫn có từ rất lâu rồi. Cuộc thập tư chinh, Châu Âu giành được những thắng lợi bước đầu trước khi bị quân Ottoman đánh bại. Cuộc thập tự chinh lần cuối kết thúc vào năm 1272. Đến năm 1517, đế quốc Ottoman thâu tóm cả Trung Đông, Ả Rập, 20 năm tiếp theo, họ lấy luôn Hy Lạp và Hungary. Cả Châu Âu bị Ottoman đe dọa. Ottoman chính là đế quốc đường đường chính chính nhất thế giới Hồi Giáo thách thức thế lực phương tây và thậm chí còn đe dọa nuốt luôn họ. Châu Âu luôn phải lập nên các liên minh thần thánh để bảo vệ thế giới Kitô giáo trước các cuộc xâm lăng nay.

Israel lúc này ở đâu? Đang bị đè bẹp trong cái vùng đất Palestine (giờ do Ottoman cai trị), và vẫn hành hương đi khắp nơi, không quên nhắc nhau về nguồn gốc và tôn giáo Do Thái của mình. Thế rồi, vào cuối thế kỉ 19, một phóng viên, nhà văn tên là Theodor Herzl đã quyết định vươn cao hơn tất cả. Bằng ngòi bút của mình, ông kích thích dân tộc, ông gợi lại lịch sử, ông nhắc nhở cho người Do Thái biết mình ở đâu, mình đến từ nơi nào. Ông gọi lại cái tên “Miền đất hứa”, để những người dân Do Thái trở về Palestine để phục hưng lại vương quốc. Theodor Herzl xuất bản cuốn sách “Nhà nước Do Thái” vào năm 1896 và lý luận rằng Vấn đề của người Do Thái chỉ có thể được giải quyết bằng cách thiết lập một nhà nước Do Thái ở Palestine. Những người Do Thái tha hương bắt đầu trở về Palestine, nơi có Jerusalem 3000 năm trước chính là thủ đô của nước Do Thái do vua David đứng đầu. Họ đợi đến ngày “thiên thời, địa lợi, nhân hòa” sẽ trả lại cho họ vùng đất của 3000 năm trước. Những ước vọng này đã được thổi bùng lên bắt đầu từ một nhà báo viết lịch sử dân tộc.

Lúc này, Ottoman theo thời gian đã suy yếu dần, các lãnh thổ dần dần bị mất, nhiều nơi vùng lên đòi quyền tự trị để thành quốc gia tách biệt với Ottoman. Điều gì đến cũng đã đến, năm 1914-1918 khi chiến tranh thế giới thứ nhất xảy ra. Đế chế Ottoman đã yếu còn chọn sai phe. Họ chọn Đức-Áo-Hung. Kết quả các cường quốc đồng minh Anh – Pháp – Nga đã giành thắng lợi. Khi thế chiến 1 kết thúc, Ottoman trong vai trò kẻ thua cuộc nên bị những người Châu Âu đập cho tan rã lãnh thổ to lớn của Ottoman – một đế chế đã đe dọa Châu Âu suốt 7 thế kỷ.

Trước đó (vào năm 1916), đế quốc này cũng bị xé lẻ ra ra bằng thỏa thuận Sykes-Picot với việc Pháp có vùng phía bắc của Ottoman (bao gồm Syria, với sau này là Liban), Anh có vùng phía Nam của Ottoman (Jordan, Iraq và sau này, Palestine). Khi Thổ Nhĩ Kỳ cũng tuyên bố độc lập, Ottoman chính thức sụp đổ. Nhưng Phương Tây luôn mang một tiềm thức sợ hãi đế chế Ottoman, đế chế đe dọa sự tồn vong của phương Tây và từng bao vây Viên, xâm lược Hungary, lấy Hy Lạp, … sẽ một ngày trở lại. Và các cuộc thập tư chinh mâu thuẫn tôn giáo luôn là thứ im sẵn trong lòng của phương Tây. “Chúa của mình mới là ưu việt nhất, còn Hồi giáo là không”. Bởi vì “Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân.” Người Anh và Pháp quyết định phân chia lại biên giới của một loạt các quốc gia như Tunisia, Ai Cập, Yemen, Syria, Iraq, Libya …. Vâng, thưa các bạn, tất cả các quốc gia này (bao gồm cả Syria đang bắn phá ầm ầm), đã được sinh ra bằng một cuộc họp và một tấm bản đồ trải ra đó. Hồi Giáo đã thua cuộc chính ở đây.

Bây giờ tôi sẽ nói tiếp về sự ra đời Israel. Lý do vì sao họ bị căm ghét.

Bên cạnh sự phân chia đất đai cho những quốc gia hồi giáo, thì Israel chính thức được đền bù sau 3000 năm đau khổ. Câu chuyện diễn ra sau thế chiến II, khi những đau thương mà Israel phải chịu đựng dưới thời Đức Quốc Xã, khi những người Do Thái ưu tú nhất đã vận động hành lang, khi những người Do Thái giàu có nhất đang tích cực mua bất động sản ở Palestine. Tất cả đã khiến cho Anh,Pháp và Mỹ phải đền bù cho Israel. Thế là, một quốc gia đã trở lại sau 3000 năm. Với 33 phiếu thuận, 13 phiếu chống và 10 phiếu trắng, đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã chia phía Đông Palestine thành hai nhà nước: một phần đất là của người Palestine theo đạo Hồi, phần còn lại là người Palestine theo đạo Do Thái (tức nước Israel) còn Jerusalem thành đặc khu được LHQ bảo vệ. Đấy là câu chuyện về một mảnh đất 3000 năm trước thuộc về anh A, 300 năm trước thuộc về anh B, rồi giờ anh A trở lại và chia đất, chia biên giới lãnh thổ với anh B.

Tuy nhiên, khác với việc vẽ ra bản đồ cho những Jordan hay Ai Cập, Syria (đều cùng theo đạo Hồi). Palestine lúc này có 1 điểm khác: sự va chạm giữa 2 tôn giáo: Do Thái và Hồi Giáo. Bị ảnh hưởng bởi phong trào chủ nghĩa dân tộc, của tôn giáo mình thờ phụng, những người Ả Rập (tức anh B ) không để yên việc này, họ ngăn chặn việc thành lập quốc gia cho người Do Thái ở Palestine.

Đấy chính là khởi nguồn của Chiến tranh Ả Rập-Israel 1948. Liên quân Ả Rập bao gồm Ai Cập, Syria, Jordan, Liban, Iraq, Ả Rập Saudi, Yemen và Palestine đã sát cánh cùng nhau quyết tâm đập chết quốc gia Israel. Kết quả không ngờ được đã xảy ra, Israel mới thành lập nước đã đập tan tác cả 5, 6 quốc gia kia. Người Do Thái gọi cuộc chiến tranh này là “Giải phóng dân tộc”, còn người Palestine hồi giáo gọi đó là “Thảm họa.” Đây là cuộc xung đột từ tôn giáo đến lãnh thổ, từ lịch sử đến biên giới.

Đến năm 1967, có một cuộc chiến tranh gọi là “Chiến tranh 6 ngày”, Israel thêm một lần nữa chiến thắng. Nhưng lần này khủng khiếp hơn, họ chiếm luôn Jerusalem, khiến cho các nước Ả Rập phải cầu hòa. Hồi năm 2017 có một sự kiện khá thú vị, đấy là anh Donald Trump không sợ trời, không sợ đất đã tuyên bố chính thức công nhận Jerusalem là thủ đô của Israel và sẽ chuyển Đại sứ quán Mỹ về thành phố này một khi công tác chuẩn bị hoàn tất. Khiến cho các quốc gia hồi giáo phản ứng mãnh liệt.

Israel đã được đứng vững, và người phóng viên Theodor Herzl năm nào đã ngậm cười nơi chín suối. Để tôn vinh ông, người bằng ngòi bút đã thay đổi cả số phận dân tộc. Tuyên ngôn độc lập của Israel khi được đọc lên, thì cái tên Theodor Herzl đã được gọi là người cha tinh thần của đất nước. Người Israel đặt ra 1 ngày gọi là Ngày Herzl, là ngày lễ quốc gia hàng năm.

Israel, một quốc gia có lịch sử đau thương và đẫm máu (mất nước 3000 năm và đối mặt với họa diệt chủng), người dân nam cũng như nữ luôn sống trong tư thế của những con người cầm chắc tay súng để bảo vệ vùng đất của tổ tiên mà họ chỉ có lại được sau thế chiến II, và luôn ám ảnh cảnh bị mất nước và xóa tên trên bản đồ thế giới. 60 năm qua, đây là đất nước luôn bị những đất nước vây xung quanh đòi đầu. Và để chống lại điều này, Israel cũng không nhượng bộ, không thỏa hiệp, tiếng súng vì vậy không bao giờ ngưng ở Jerusalem. Không có quốc gia nào, mà cơ quan tình báo (Mossad), lại được xem như là văn hóa, là thần tượng của người dân, là cột chống bão giông, và là điểm tựa bảo vệ cuối cùng cho quốc gia mỗi ngày như Mossad của Israel.

Mâu thuẫn giữa Trung Đông Hồi Giáo, Israel Do Thái giáo và Phương Tây Thiên Chúa Giáo là một mâu thuẫn tính bằng thiên niên kỷ. Vì sao Trung Đông luôn là cái lò lửa, là lâu lâu xuất hiện trên báo chí và bản tin thời sự về những màn báo thù và tiếng súng nổ. Vì xung đột Palestine-Israel là xung đột tính bằng thiên niên kỷ và bao trùm mọi mặt của đời sống.

Trong cuộc chiến này vì vậy không có xấu có tốt, không có đúng có sai, tất cả những người trong cuộc đều giữ một niềm tin bất diệt về dân tộc của họ.

Đúng hay sai phụ thuộc vào lăng kính bên này hay bên kia. Còn tôi, tôi chỉ là người kể lại lịch sử, để bạn biết về căn nguyên vấn đề vì sao có súng nổ, chứ không phải để phán xét. (ST)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Diễn văn của Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu (ST)

Chắc Không Còn Lâu Nữa!

This image has an empty alt attribute; its file name is image.png

CHẮC KHÔNG CÒN LÂU NỮA !

(Chuyện về ĐKG Nguyễn Thanh Thu, tác giả của bức tượng Thương Tiếc tại Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa)

Dưới đây là bức ảnh mới nhất của một ông cụ già, được chụp ngày hôm qua 12/05/2021, tại nhà riêng của ông số 176 Nguyễn thượng Hiền,P1, Gò vấp (Cafe Tượng Đá) với bước đi khó nhọc, ông cụ hầu như không còn khả năng giao tiếp với mọi người nữa, do bị điếc đặc (Hậu quả của những ngày bị tra tấn sau năm 1975), và có lẽ do bị ám ảnh của những ngày tù ngục, nên bây giờ thấy ông lê những bước chân khó nhọc, tôi tính bước tới dìu ông đi, nhưng bị người thân của ông cản lại và bảo rằng :

– Ông sẽ giật mình và phản ứng lại, khi bất kỳ ai đụng vào người của ông…!

image.png

Với đôi mắt mờ đục, lạc thần, đôi tai bị điếc… khả năng nhận thức rất kém, cùng bước chân chập choạng, run rẩy… Những ngày cuối đời của ông, bây giờ là thế đấy.

Thế hệ sau này ít người biết đến ông, cuộc sống của ông trong hiện tại như đèn treo trước gió. Nhưng cuộc đời của ông đã trở thành huyền thoại, từ đỉnh cao của vinh quang và danh vọng, xuống đến tận cùng đau khổ của kiếp người….!

Bằng tài hoa của mình tác phẩm của ông đã làm lay động con tim của biết bao thế hệ, đã từng là biểu tượng cho quân đội của một chính thể, đặc tả được thân phận của người lính VNCH trong cuộc chiến vừa qua, đó là bức tượng THƯƠNG TIẾC và bức tượng đã trở thành ký ức, “Tình yêu và nỗi nhớ” trong tâm tưởng của biết bao người…!

Người có khả năng làm được chuyện đó, chính là cụ già áo đỏ trong hình, cụ là NGUYỄN THANH THU, điêu khắc gia lỗi lạc và kiệt xuất của Việt Nam thời đương đại !

Chúng ta có hân hạnh và diễm phúc được là người cùng thời với ông, xin hãy trân trọng những khoảnh khắc này, vì nay mai theo quy luật, sự  vô thường sẽ tiễn huyền thoại ấy đi về cõi hư vô, chắc không còn lâu  nữa…!

Saigon ,trưa 13/05/2021 – NT

(Bài do K1 Nguyễn văn Vinh sưu tầm và chuyển)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Chắc Không Còn Lâu Nữa!

Cái chết của một dòng sông _Nhơn Mỹ Nguyễn Hùng (K10)

Cái chết của một dòng sông

đoản văn: Nhơn Mỹ Nguyễn Hùng

Con người có một thế giới quan riêng biệt được cho là bản thể của tâm hồn vĩnh viễn hiện hữu đến cuối cuộc đời. Bản thể tâm hồn sẽ thăng hoa hướng tích cực hay tiêu cực ” chết ” tùy hoàn cảnh ngoại vi tác động lên cảm quan (hỉ nộ ái ố bi lạc dục) do sự gạn lọc của tâm thức .

“Đất nước tôi…khóc cười theo vận nức nổi trôi…”. Từ những trang lịch sử chống giặc phương bắc bi hùng lồng trong những trang đen tối của máu thịt tương tàn (thập nhị xứ quân, Trịnh Nguyễn phân tranh, chiến tranh quốc cộng, …vv ) dường như chưa có chương dài bình yên ngưng nghỉ đấu tranh để xây dựng cuộc sống ấm êm hạnh phúc do định mệnh nghiệt ngã an bài lên số phận dân tộc hay gọi đơn giản đó là…thiên mệnh. 4 ngàn năm có gì để người Việt chúng ta lấy làm tự hào ngoài sự phân hóa của nhân sinh quan với nỗi ám ảnh giết chóc đau thương khó gột rửa trong tâm thức hằng in hận thù …

Và cảm quan phẫn nộ của dòng tâm thức êm ả bị bóp chết đã tự nhiên trở thành di sản của hệ lụy tiếp nối từ khi chấm dứt chiến tranh quốc cộng mà kẻ chiến thắng đã dùng máu cộng sản vun bồi tâm thức hận thù dài lâu quyết liệt chôn vùi dòng tâm thức êm đẹp của chúng ta vào nghĩa trang lịch sử từ khi nào. Và có hay không dòng tâm thức hoan lạc có thể nào tự chảy xuôi trong tinh thần yêu thương giống nòi từ hệ quả mê muội cực đoan cuồng tín … ? (hãy học lịch sử Hoa Kỳ sau cuộc nội chiến để suy gẫm cách hành xử tình dân tộc )

Trên vỉa hè Cần Thơ, bên ly cà phê chia tay tan loãng thằng Ái nhìn tôi với ánh mắt xa xăm …” tụi mình sẽ không có cuộc tương phùng lần nữa…mày tin tao đi…bởi cuộc đời này không còn chúng ta…! ” (Lê Khắc Chiếu cao học tư pháp đã đi tìm “động hoa vàng” thảnh thơi cửa Phật và biết bao thằng nữa đi tìm dòng sông về nguồn …? ) 46 năm qua cuộc đời như giấc mộng mà dòng sông tâm thức ngập tràn tình tự êm đềm tha thiết xa xưa vẫn hiện hữu như cứu cánh bên cuộc đời lặng lẽ trôi để ta luôn mặc niệm cho lần mất mát như tấm gương đối chiếu tương phản với cảm quan lạc lõng trôi dạt bên cuộc đời vật chất phồn vinh .

Dòng Cữu Long từ xa ngàn trùng Tây Tạng chảy qua thác gềnh núi cao vực thẩm chia ra bao nhánh sông Lan Thương, Trường Giang, Dương Tử…đến Hậu Giang chúng ta có khi là dòng chảy êm đềm có lúc cuồng nộ phong ba nhưng người đời không quan tâm nước từ đâu đến và về đâu bởi tự thân nó dù thiên nhiên tác động thế nào thì nó vẫn là dòng nước nguyên thể xuôi ngược với chiều không và thời gian của nó. Con người sẽ đổ vỡ tâm thức bởi sự dẫn dắt theo một hướng sùng bái tư tưởng như kiểu nhồi nhét chủ nghĩa cộng sản sẽ là hệ lụy của di sản không lối thoát và sẽ là dòng nước đứt đoạn hay bị ngăn chận bởi cuồng phong … Dòng nước chia bao nhánh sông vẫn chảy về nguồn. Con người không như dòng nước và không ai tắm được hai lần một dòng sông…

Ước mơ một dòng tâm thức chảy xuôi trong tình dân tộc trên dòng sông quê hương để có thể trở thành dòng tâm thức nguyên thể được không ? như dòng chảy trên quê hương thứ hai…Hoa Kỳ .

K10 Nhơn Mỹ Nguyễn Hùng

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Cái chết của một dòng sông _Nhơn Mỹ Nguyễn Hùng (K10)

Hồi ký của một người Việt Nam_Trần Mộng Lâm

Sống Chẳng Còn Quê: Hồi ký của một người Việt Nam

Cuộc chiến Việt Nam 1954-1975 sau cùng xét lại chỉ là một cuộc chiến tranh tàn hại trong lịch sử nhân loại nói chung, và của nước Việt Nam nói riêng. Sự kết thúc của nó đã đẩy ra khỏi đất nước gần 3 triệu người Việt và đưa dân tộc này vào một sự chia rẽ vô phương hàn gắn. Thường thì sau mỗi cuộc chiến tranh như vậy xuất hiện những tác phẩm văn chương nói lên thân phận của những người vì tai trời, ách nước phải trở thành nạn nhân bất đắc dĩ của thời cuộc. Họ không phải là những người lãnh đạo, cũng chẳng có danh phận, chức tước nào ngoài danh phận phó thường dân nhưng ở vị trí này, họ trở thành những nhân chứng quan trọng cho một thời đại, một biến cố mà Lịch Sử chính thức không thể ghi lại một cách trung thực được.

Chúng ta đã đọc Chiến Tranh và Hòa Bình, Cuốn Theo Chiều Gió, Bác Sĩ Zhivago, Giờ Thứ 25… và say mê với các tác phẩm này. Thế nhưng cuộc chiến vừa qua tại đất nước chúng ta thì chỉ thấy xuất hiện về sau những tập hồi ký ghi lại những sự kiện riêng biệt của một nhân vật nào đó, vào một giai đoạn nào đó, có thể là một trận đánh, một thời gian cải tạo, một cuộc vượt biên, một cuộc đời làm lại nơi xứ người. Hiếm có một hồi ký nào ghi lại cả một cuộc đời, tương tự như cuốn tiểu thuyết Bác Sĩ Zhivago của nhà văn Nga, Boris Pasternak. Rất may, cuốn hồi ký Sống Chẳng Còn Quê của Trần Xuân Dũng vừa xuất hiện năm 2018 đã giúp chúng ta và con cháu thấy được cái thảm kịch của Việt Nam thế kỷ 20 qua những gì ghi lại của một người Việt Nam, một thanh niên tầm thường như hàng triệu thanh niên khác, không phải là một nhà cách mạng hay lý thuyết gia, cũng không phải lãnh tụ tôn giáo như các ông Hồ Chí Minh, Ngô đình Diệm, Ngô đình Nhu hay Thích Trí Quang, v.v…

Cuốn Hồi Ký Sống Chẳng Còn Quê của Trần Xuân Dũng dầy 683 trang, trình bầy trang nhã. Hình bìa là hình một căn nhà bằng gỗ, có dàn muớp hoa vàng, trái xanh. Hình bìa sau là một nông trại tại Úc, với cây cổ thụ cao ngất trời. Hai tấm hình, hai nơi chốn, hai giai đoạn của một đời người, đời tác giả. Nếu chỉ hiểu cuốn sách này là một hồi ký của một cuộc đời, thì cuộc đời đó đầy chông gai, nước mắt. Tuy nhiên, người đọc có cảm tưởng là mục đích của tác giả khi ngồi viết 683 trang sách không phải là chỉ để ghi lại cuộc đời mình, mà tác giả muốn qua nó, viết lại lịch sử của toàn thể Việt Nam, từ năm 1939, là năm sinh của tác giả, cho đến ngày hôm nay. Có thể nói, tác giả khi ngồi viết lại cuốn hồi ký này, ông đã làm cái việc mà nhà văn Đoàn Thêm gọi là Đem Tâm Tình Viết Lịch Sử. Có lẽ chúng ta không cần biết đến thân thế của chàng trai Việt này, tuy việc tìm hiểu không khó. Cái mà chúng ta cần biết là ông là một nhà thơ rất có tài, và đồng thời ông là một nhiếp ảnh gia, đồng thời là một nhà khoa học. Hai yếu tố này khiến ông mô tả rất chính xác những sự kiện ông chứng kiến trong cuộc sống hàng ngày.

Trần Xuân Dũng đã trải qua một thời thơ ấu rất gian truân, đánh dấu bằng nạn đói năm Ất Dậu 1945. Năm đó, vì sự ác độc của quân đội Nhật, bắt dân bỏ việc trồng lúa để trồng đay cung cấp cho chiến trường (Thế Chiến Thứ 2), Việt nam trải qua một nạn đói vô cùng khủng khiếp. Hãy xem ông thu vào ống kính cảnh tượng thê thảm của nạn đói này:

Một buổi sáng, tôi đang ngồi trong cửa sổ nhìn ra ngoài đường, chợt nghe tiếng lọc cọc. Tiếng xe bò lăn trên đường. Từ phía thành Vinh về hướng nhà Ga. Xe tới gần, không thấy bò kéo xe mà là người. Hai người gầy yếu cố kéo cái xe đi từng chút một, trên xe có vài xác chết trộn lẫn với một ít bột vôi trắng. Những cái xác nằm trên xe đã rất gầy. Mặt thụt vào, da nhăn nhúm, tay chân không còn thịt. Có xác chỉ mặc có một cái quần đùi. Có xác mặc áo quần, nhưng đã tả tơi rách nát. Nhưng có điều là khuôn mặt nào cũng gần như giống nhau. Da bám sát vào xương mặt. Mầu trắng bệnh nhợt nhạt, như không có máu đã lâu ngày. Môi họ đều khô cong, dường như có nhiều lằn nứt dọc… Những đám ruồi hiện đang bay hay đậu vào mặt những xác này.

Như thế đó, nạn đói năm Ất Dậu tại thành phố Vinh.

Chính trong hoàn cảnh đau thương này mà đảng Công Sản Việt Nam có cơ hội nắm chính quyền. Việt Minh, thuở khởi đầu, chỉ là một bọn cơ hội chủ nghĩa. Với quyền sinh sát trong tay, nhân danh Cách Mạng, chúng làm mưa làm gió, giết người qua những bản án trời ơi đất hỡi, tuyên án bởi những quan tòa chưa từng học qua một ngày tại các trường Luật.. Những ai tưởng rằng những người CS hồi đó trong sạch, có lý tưởng lầm to. Cha của tác giả chỉ vì đã làm việc trong một nhà ga nên coi như là đã cộng tác với thực dân Pháp nên bị họ bắt cầm tù. Việc đó khoan nói là oan hay ưng. Chỉ biết rằng việc ông được thả ra hoàn toàn là do đút lót và mỹ nhân kế, qua sự trung gian của một người đàn bà có nước da trắng, ăn mặc tân thời, người ta gọi là cô giáo, nhưng có vóc dáng của một cô đầu. Việt Minh tham nhũng và dâm ô kể từ những năm cuối của thập niên 40 chứ không phải sau này. Tiếng cách mạng chỉ là trên đầu môi chót lưỡi, và người dân cũng biết là như vậy nhưng với vũ khí cung cấp bởi Mao Trạch Đông, người dân Việt không làm gì được để chống đối. Họ chỉ có thể bỏ vùng do Việt Minh kiểm soát để về Hà Nội, tuy là thành phố này do người Pháp cai trị.

Trái với những gì CS sau này tuyên truyền, tác giả cho biết quang cảnh Hà Nội trước Genève:

Năm 1953, tình hình Hà Nội sáng sủa nhất. Thủ đô phát triển về mọi mặt rất nhanh. Sự thịnh vượng và huy hoàng lộ rõ. (trang 179).

Rất tiếc tại các nơi ngoài thành phố, vùng do họ kiểm soát, Việt Minh khủng bố người dân với những cuộc đấu tố của Cải Cách Ruộng đất, chém giết thẳng tay. Bởi vậy, việc người dân Miền Bắc di cư vào Miền Nam sau Hiệp định Genève chỉ chứng tỏ một điều là lòng dân chán ghét CS ngay từ những năm 50 của thế hệ trước. Chẳng có chiến đấu vì độc lập, tự do gì hết. Tất cả đều do họng súng và do Cộng Sản Quốc Tế, đặc biệt là Cộng Sản Tầu. Cuốn hồi ký của Trần Xuân Dũng nói rõ điều này và những gì CS tô hồng chuốc lục cho sự nhiệp Cách Mạng của họ sau này đều là nói láo. Việc này mọi người đều rõ, và sự sợ hãi, cúi đầu cam chịu của người dân trước sự lộng hành của CS chỉ cắt nghĩa được bằng sự sợ hãi. Sợ đến nỗi một người như Nguyễn Tuân sau này phải thú nhận là ông ta sở dĩ sống sót được là vì biết sợ. Nói điều này chỉ là để xác nhận một điều: Công Sản chẳng qua chỉ là một bọn cướp, một bọn Mafia gieo rắc kinh hoàng cho người dân chẳng khác Al Capone tại Nữu Ước ngày xưa.

Sau hiệp địmh Geneve, tác giả theo gia đình di cư vào Miền Nam. Tại đây, dưới chế độ Tự Do của Việt Nam Cộng Hòa, Trần Xuân Dũng đã có những năm tháng hạnh phúc. Tại trang 267 của tập hồi ký, ông viết: Học sinh vui sướng, tinh thần thoải mái. Chẳng ai bảo ai, toàn bộ học sinh CVA đều rất kính phục TT Ngô đình Diệm. Và cảm ơn nữa. Nhưng dòng này tác giả viết tại Úc, sau khi TT Ngô đình Diệm đã qua đời trên 60 năm, không thể nói là để tuyên truyền hay vì áp lực nào khác. Đó là sự thực, 100% sự thực. Những ai thuộc thế hệ tác giả, trong đó có tôi, có thể xác nhận điều này. Nếu không có bọn CS và cuộc chiến sau này do chúng gây ra, thì chắc chắn là Việt Nam ngày nay đã khác xa, đã tiến bằng hay tiến hơn Đại Hàn.

Cuộc sống của người dân Miền Nam sau 1954 là một cuộc sống đã dược tác giả tả lại tại trang 279: Sài Gòn sống trong cảnh thanh bình, thịnh vượng. Tôi đậu tú tài một, rồi tú tài hai, ban toán. Nhờ Việt Nam Cộng Hòa, Trần Xuân Dũng lên đại học và vào trường Y Khoa. Rất tiếc, đến giai đoạn này, cuộc sống của người Miền Nam không còn được CS để yên nũa. Chúng đã một mặt mua chuộc được những người Miền Nam nhẹ dạ (như một ông trưởng giả người miền Nam là hàng xóm của ông trong đồng Ông Cộ), một mặt xua quân vượt vỹ tuyến 17 vào Miền Nam gây nên một cuộc chiến tranh vô cùng thảm khốc kéo dài mãi đến 1975, trong đó gần 3 triệu thanh niên đã bỏ mình, lãng nhách, không có gì có thể biện minh cho sự cần thiết của cuộc chiến này.

https://vanhocnghethuat.files.wordpress.com/2018/04/tran_xuan_dung.jpg?w=358&h=600

Bác sĩ Trần Xuân Dũng

Như đa số các thanh niên Miền Nam, Trần Xuân Dũng đã vào quân đội, không vì muốn chiến thắng ai, mà chỉ để bảo vệ nếp sống mà mình đã chọn. Nhưng người thanh niên Miền Nam, ưa hoà bình nhưng không còn một lưa chọn nào khác là hy sinh. Hãy nghe tác giả nói về trường hợp một người lính Miền Nam ở trang 373:

Một người từ ngày nhập ngũ tính đến nay đúng mười năm. Anh ta cứ ở nguyên một chỗ trên một nơi hẻo lánh, đó là một ngọn núi trong tình trạng vô cùng nguy hiểm, Hàng ngày, pháo kích của Việt Công rơi xuống chỗ đóng quân đều đặn. Từ ngọn núi này đi ra, không thể dùng đường bộ. Xe cộ sẽ bị Việt Công phục kích. Đời sống của những người tại đơn vị nhỏ này lệ thuộc vào những chuyến tiếp tế. Từ lương thực đến súng đạn, tất cả đều phải bằng máy bay…

Anh lính này cưới vợ xong là đi lính, mỗi năm về phép hai lần, mỗi lần 7 ngày. Anh ở Long An. Những người như người thanh niên Miền Nam này sau đó bị gán cho hai chữ ngụy quân. Không có gì vô lý hơn việc này. Nếu không có chiến tranh mà người CS gây nên, anh ta đã có mười năm hạnh phúc bên vợ con tại Long An. Anh ta có buôn bán gì với người Mỹ mà nói đến chuyện bán nước? Nói đi nói lại chỉ để nói lên một sự thực là đảng Công Sản phải chịu trách nhiêm về những đau đớn hy sinh của thế hệ này, trong Nam cũng như ngoài Bắc.

Sau khi cuộc chiến chấm dứt một cách tức tưởi dưới súng đạn mà Tầu Công cung cấp để người Việt Nam chém giết nhau dẫn đến cuộc Bắc Thuộc hiện nay mà nguy cơ mất nước lên cao độ hơn bất cứ thời đại nào, Trần Xuân Dũng còn phải chia sẻ với những người thanh niên Miền Nam thuộc thế hệ anh 3 kiếp nạn khủng khiếp nữa là Học Tập Cải Tạo, Vượt Biên và làm lại cuộc đời nơi xứ người (Úc).

Học tập cải tạo của bọn Việt Cộng thực ra chỉ là một loại ngục tù giống như Quần Đảo Goulag bên Nga mà Soljenitsyne đã mô tả, trong đó bọn cai tù dùng những biện pháp khủng bố về vật chất và tinh thần để triệt tiêu ý chí người tù, sao cho đối với họ, chỉ còn miếng ăn là quan trọng. Không còn chống đối, không còn ý chí, không còn danh dư, không còn nhân phẩm. Thời gian ở tù dài hay ngắn, người đi cải tạo hoàn toàn không biết. Trong đêm tối, họ dùng phương pháp chuyển trại, kẻ đi không biết tại sao mình đi, kẻ ờ lại không biết tại sao mình phải ở lại, từ đó phát sinh ra những lời bàn bạc, phỏng đoán vu vơ, chủ yếu gây sự hoang mang, và người tù sống trong một không khí kinh hoàng, tuyệt vọng, đến nỗi nhiều người phải đi đến chỗ tự tử, vì họ không chịu được sư tra tấn về tinh thần này. Nếu không tự tử, thì sự thiếu dinh dưỡng, bệnh tật cũng tàn phá thân thể người tù. Đó là chỉ tiêu, là mục đích của cái gọi là học tập cải tạo. Hãy xem Trần Xuân Dũng tả lại quang cảnh trong trại học tập:

Mỗi sáng, để chối bỏ tình trạng xuống dốc của cơ thể, anh em ráng tập đi bộ quanh những căn nhà… Nhìn họ, tôi biết họ đang lâm vào một chứng bệnh thuộc về thần kinh tâm lý. đó là chứng bệnh khước từ hiện trạng, chối bỏ sự thật, tiếng Anh là denial.

Và cái đêm kinh hoàng anh bị chuyển trại:

Vài tháng sau, đến lượt tôi bị gọi tên.. Gói ghém vật dụng, lên xe Molotova. Khuya đến, đoàn xe chuyển bánh. Xe không có mui, không có ghế. Cả người lẫn hành lý chồng chất lên nhau. Xe chạy suốt đêm. Lệnh cai tù là tiêu tiểu tại chỗ. BS Chi, thuộc bộ binh, vãi cứt đái ra quần. Gió bạt hơi thối, lúc hương này, lúc hương khác.

Tất cả bài bản học tập cải tạo này, thực ra Việt Công học từ bọn Nga, mà tác giả của nó là những chuyên viên tâm lý lỗi lạc. Chúng ta đã nghe nói về những trại giam vùng Tây Bá Lợi Á bên Nga, không phải chỉ là tàn bạo đâu, có nghiên cứu, có bài bản khoa học hẳn hoi.

Nếu cuộc sống trong trại cải tạo đen tối, thì cuộc sống bên ngoài cũng không hơn gì. Người dân Miền Nam đã được hưởng tư do trong khoảng hai chục năm, dưới thời Cộng Hòa I, rồi Cộng Hoà II, khác với người Miền Bắc, họ không chịu nổi cái chế độ hà khắc là chế độ Cộng Sản, với sự quản trị cái bao tử của người dân, và những đợt dánh tư sản, đổ tiền làm họ khánh kiệt. Thời gian này là thời gian họ tổ chức những chuyến tầu vượt biên, nhất quyết rời bỏ Việt Nam, là quê hương họ, không luyến tiếc, chấp nhận những rủi ro, chết chìm tại biển đông, hay chết vì hải tặc. Nếu cái cột đèn Miền Nam có chân, chúng cũng bỏ đi.

Mấy chục năm sau, hiện nay, năm 2018, ra ngoại quốc vẫn là giấc mơ của người Việt Nam. Tại sao như vậy, nếu không là việc lòng dân đã quá chán ghét Cộng Sản. Giấc mơ rời bỏ Việt Nam dù có hấp dẫn đến thế nào chăng nữa cũng không phải là dể thực hiện. Phải có phương tiện, có tiền và nhất là phải có sự may mắn nũa. Giỏi giang cách mấy cũng không thoát khỏi cái số phận con người, cái phước, cái đức mà tổ tiên để lại cho con cháu. Trần Xuân Dũng đã được hưởng cái phước đó và đã đem được gia đình sang Úc. Xem những trang giấy anh viết về quãng đời này của anh, không thể không có cảm nghĩ là anh này có phước quá. Cuộc đời của anh coi như 99% tàn tạ, chỉ có 1% may mắn thoát, vậy mà anh có được cái 1% đó, không hiểu tại sao.

Trần Văn Thủy, một đạo diễn Miền Bắc viết trong tác phẩm của ông Nếu Đi Hết Biển đại khái:

Nếu đi hết biển qua Các Đại Dương, Châu Lục, đi mãi, đi mãi, thì sau cùng cũng lại trở về với quê mình, làng mình. Ý của ông này là tình Quê Hương trong một con người mãnh liệt và không gì có thể tiêu diệt được tình cảm này. Trần Văn Thủy đã lầm. Người ta yêu quê hương nhưng khi quê hương ấy nằm trong tay những kẻ trời không dung, đất không tha như bọn Việt Cộng, thì thà Sống Chẳng Còn Quê như Trần Xuân Dũng còn hơn.

Hãy nghe lời tâm sự của tác giả: Lúc nào tôi cũng khắc khoải về nước Việt Nam đã mất.

Và bài thơ này của thi sĩ:

Nghe chó sủa khuya, thấy não nề

Nhắc đời đất khách kéo lê thê.

Ta vì thảm họa Miền Nam mất.

Sống chẳng còn quê, thác chẳng về

Tôi đã đọc say mê liền một lèo trong một đêm mùa đông năm 2018 tại nơi tôi ở là thành phố Montréal, kho tuyết rơi, và ngoài trời giá lạnh, tập hồi ký của người bạn đồng môn. Gấp cuốn sách lại, tôi trầm ngâm suy nghĩ. Ái nữ của tác giả, cô Chim Khuyên viết trong trang cuối cuốn sách: Tôi coi nước Úc là nhà, nhưng tôi biết rằng bố mẹ tôi lúc nào cũng vẫn cảm thấy như ở ngoại quốc.

Tôi biết rằng cũng như tôi, Trần Xuân Dũng lúc nào cũng vẫn thiết tha với Việt Nam, nhưng không về Việt Nam nếu vẫn còn Việt Cộng.

Trần Mộng Lâm

(Nguồn: tvvn.org)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Hồi ký của một người Việt Nam_Trần Mộng Lâm

Cờ Vàng trong trái tim tôi_Destiny Nguyễn

Cờ Vàng trong trái tim tôi

Tác giả: Destiny Nguyễn

Tôi lớn lên trong nỗi nhọc nhằn của mẹ, trên đôi gánh trĩu nặng trên vai bà.Tôi lớn lên mười năm đầu tiên trong đời không có người cha thân yêu bên cạnh. Tôi lớn lên vào cái thời mà không ai được nhắc đến 4 chữ VNCH. Tôi lớn lên 10 năm dưới mái trường XHCN, mỗi tuần tôi và các bạn cùng trang lứa vẫn hát vang vang bài chào quốc kỳ nhưng chẳng hiểu gì về lá cờ và cũng chưa một thầy cô giáo nào của CS dạy cho học sinh về nguồn gốc của lá cờ cả (mãi đến sau này tôi mới hiểu vì sao).

Cho đến một ngày gia đình tôi đặt chân đến xứ sở tự do trên tinh thần “nhân đạo “của hai bên chính phủ, và cũng từng ấy năm kể từ ngày Sài Gòn thất thủ mới được thấy cảnh “chung một nhà”.

Thế là thế hệ những người như tôi một lần nữa lớn lên nhưng trong một xã hội hoàn toàn khác hẳn ở VN. Những ngày đầu bỡ ngỡ nơi xứ người tôi có rất nhiều thứ phải học, phải thay đổi nên chưa bao giờ để ý đến lá cờ ba tôi trân trọng treo ngay giữa nhà. Sau đó vài năm do còn trẻ nên tôi cũng bắt kịp nhịp sống và hoà nhập với cuộc sống ở đây. Khi đó tôi bắt đầu nhận thức những gì diễn ra xung quanh mình.

Cái mà hằng ngày đập vào mắt tôi đó là lá cờ của Mỹ, nó hiện hữu khắp nơi từ các cơ quan chính phủ, trường học, bệnh viện, văn phòng cảnh sát, nhà thờ v.v..và rất nhiều nơi trên mọi nẻo đường đến cả nhà ở của người dân. Ngày lễ ngày tết người dân tự ý thức treo cờ chứ không cần ai nhắc nhở. Cũng không phải riêng về việc treo cờ mà cả trong sinh hoạt thường ngày, trong những hoạt động nơi công cộng cũng như trong việc tổ chức xã hội tình cảm của công dân Mỹ đối với lá cờ của họ rất đồng thuận và trân trọng.

Ngày tháng trôi qua tôi bước vào ngưỡng cửa đại học và quyết định trở thành công dân Mỹ. Một điều bắt buộc khi trở thành công dân Mỹ là phải biết sơ lược về lịch sử của Mỹ và nguồn gốc của lá cờ. Và giờ đây tôi mới hiểu vì sao người Mỹ họ yêu nước, yêu lá cờ đến thế. Người ta yêu lá cờ vì nó đại diện cho vô số điều tốt đẹp ở phía sau. Tự do, dân chủ, nhân quyền, cũng như sự đồng lòng của tất cả người dân trong việc tạo ra một xã hội công bằng, văn minh và thịnh vượng. Một xã hội mà trong đó mỗi người đều có quyền lựa chọn cuộc sống cho riêng mình và quyền thực hiện ước mơ của mình.

Nhìn cách người Mỹ đối xử với lá cờ nước họ làm tôi giật mình nhìn lại tôi cũng có một đất nước, một quê hương nhưng sao tôi không biết gì về lá cờ của mình. Rồi tôi nhớ đến lá cờ ba tôi treo ở nhà sao không thấy giống lá cờ mà khi còn cắp sách đến trường tôi vẫn thấy nó nhỏ xíu, bạc màu, cũ kỷ nơi sân trường trên chính nơi chôn nhau cắt rốn của mình ? Tôi đem tâm tư nặng trĩu về nhà hỏi ba tôi. Thì ra đất nước tôi, dân tộc tôi có một chiều dài lịch sử bi thương đến như vậy. Sau những gì ba tôi nói tôi bắt đầu đi tìm hiểu, tôi lật tung hết những quyển sách trong thư viện Mỹ nói về VNCH. Tôi đi ngược dòng lịch sử của miền Nam VN tìm về hai chế độ đệ I và đệ II VNCH. Càng tìm hiểu tôi càng thấy xót xa phía sau lá cờ vàng ba sọc đỏ ấy là máu và nước mắt của rất nhiều đồng bào đỗ xuống chỉ cho một miền Nam hòa bình và tự do.

Tổ quốc nghiêng mình tiễn biệt một người con

Anh ngã xuống giữa Sài Gòn không để lại đủ họ tên

Nhưng lịch sử nghìn năm sau vẫn nhớ.

Trung Tá Long !

Mây vẫn bay trên đầu anh mỗi chiều, mỗi sớm

Mặt trời mọc mỗi ngày làm lóng lánh giọt sương mai

Như nước mắt mẹ già nhỏ xuống xác con trai

Như ánh mắt chị nhìn chồng trong giờ vĩnh biệt

Ðất vẫn một màu nâu đậm đà như tình người dân Việt

Nơi anh nằm hoa cỏ vẫn xanh tươi.

Máu anh rơi để làm đẹp cuộc đời

Tô thắm đường các em sẽ đến

Các em là thuyền nhờ có anh là bến

Trong cuộc hải hành này anh là ngọn hải đăng soi

Ðường tự do dù còn lắm chông gai

Nhưng đã có anh mang niềm tin đi trước

Cám ơn anh, người con yêu đất nước

Ðã truyền lại cho muôn đời hơi thở Việt Nam.

( Trích Hơi thở Việt Nam, thơ Trần Trung Đạo)

Tôi yêu lá cờ VNCH từ những hiểu biết của riêng tôi nhìn về thực trạng VN trong chế độ CS sau hơn bốn mươi năm ngày càng tồi tệ. Tôi may mắn đang sống trong một xã hội luôn bảo vệ phụ nữ và trẻ em rồi nhìn lại thân phận người phụ nữ nơi quê nhà bị chà đạp nhân phẩm một cách thô bạo và trắng trợn, nhìn những em bé thơ vô tội không đủ ăn,không đủ mặc, ngay cả khi vừa chào đời cũng bị vứt vào thùng rác.

Vậy thì các bạn trẻ VN ơi các bạn chào cờ mỗi tuần mà có bao giờ đi tìm hiểu về lá cờ đó hay không?

Ngày nay tôi thấy các bạn xem phim Mỹ rất nhiều nhưng có khi nào các bạn để ý trong bất cứ một cuốn phim nào của người Mỹ cũng đều thấp thoáng lá cờ của họ trong đó còn phim ảnh của VN thì sao?

Thế đấy ! chính lòng yêu nước, yêu lá cờ của người Mỹ đã dạy tôi yêu lá cờ vàng ba sọc đỏ vì ngoài sự nhân bản ra nó còn mang nặng cả tình yêu quê hương, yêu mảnh đất mình sinh ra và lớn lên.

Có một lần khi đi làm Report cho buổi lễ Vinh Danh QLVNCH trong quốc hội tiểu bang VA tôi vô cùng xúc động khi bước vào phòng làm việc của thượng nghị sĩ Black. Ngay cạnh bàn làm việc của ông có 4 lá cờ mà một trong 4 lá cờ đó là cờ VNCH. Tôi vui mừng đến nỗi cứ kéo tay Tướng Trần Quang Khôi đến đấy đứng làm mẫu cho tôi chụp hình. Rồi những lần đi vận động nhân quyền cho VN trong Quốc Hội Mỹ, biểu tình trước Toà Bạch Ốc chỉ cần tôi cầm lá cờ vàng trong tay là người ta biết tôi đang làm gì.

Có thể mỗi người có một quan điểm riêng về lá cờ nhưng riêng tôi dù tôi có ủng hộ một lá cờ nào khác đi nữa trong tim tôi vẫn có lá cờ vàng vi ít nhất cho đến bây giờ nó vẫn là một lá cờ chính nghĩa, ngoài ra nó còn có một phần xương máu của ba tôi, của những đồng đội ông. Nó có cả nước mắt của bà nội tôi, của mẹ tôi khóc con, chờ chồng.

Tôi cảm ơn nước Mỹ đã cho tôi có cơ hội nói những gì mình muốn nói, tôi cảm ơn người dân Mỹ đã dạy tôi biết trân quý một lá cờ và cũng chính vì vậy mà tôi có cơ hội tìm về cội nguồn lịch sử và yêu quý cha mẹ tôi hơn !!!

Bài copy từ Fb Destiny Nguyen

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Cờ Vàng trong trái tim tôi_Destiny Nguyễn

Má ơi! Con vịt chết chìm – Tác giả Hàn Sĩ Nguyên

“Má ơi! Con vịt chết chìm”

Hàn Sĩ Nguyên

Tôi vốn người miền Bắc, quê quán ở xứ lụa La Phù, Hoài Đức, Hà Đông, được thấm đẫm những lời ru “Ạ ơi ơi, Ạ ời ời” đầy tình tự quê hương từ thuở nhỏ. Tình cảm đối với điệu ru ấy là trường cửu, là vĩnh viễn, là bất diệt.
điệu ru con

Picture1

(Tranh minh họa qua vovworld.vn)

Thế rồi, cuộc đời đưa đẩy, mười năm lăn lóc ở Vĩnh Long, và Trà Vinh giúp tôi biết đến và yêu mến vô cùng những câu hát “Ầu ơ”. Sau này, dù đi đâu, về đâu, ở đâu thì những câu hát điệu hò ấy vẫn mãi mãi còn nguyên trong ký ức. Đây là vài câu hát tiêu biểu của điệu ru “Ầu ơ” phương Nam ấy:

Ví dầu cầu ván đóng đinh
Cầu tre lắt lẻo, gập ghềnh khó đi
Khó đi, mẹ dắt con đi
Con đi trường học, mẹ đi trường đời
Má ơi đừng gả con xa
Chim kêu vượn hú biết nhà má đâu
Bước ngang qua nhà má
Tay tui xá
Cẳng tui quỳ
Vì thương con má sá gì thân tui
Chiều chiều ong nữ đi đăng
Cá tôm nhảy hết nhăn răng cười hoài
Má ơi con vịt chết chìm,
Con thò tay con vớt,
Con cá lìm kìm nó đớp tay con!…

Một điều lạ lùng là nội dung những câu hát ấy nhiều khi đơn sơ lắm, thậm chí… vô nghĩa nữa… nhưng hiệu quả thấm nhuần của chúng vẫn là vô cùng vô tận: mãi mãi đi sâu vào lòng người, nghe một lần rồi không thể nào mà quên đi cho được!
“Má ơi! Con vịt chết chìm”

Lại nói về mấy câu hát:

“Má ơi! Con vịt chết chìm
Con thò tay con vớt,
Con cá lìm kìm nó đớp tay con”

Tôi tách ra thành ba dòng, nhưng thật ra xét về mặt hình thức, chỉ có hai câu thuộc thể loại “Lục bát MORE” (Lục bát thêm vào):

Má ơi ! Con vịt chết chìm
(Con thò tay con vớt) Con cá lìm kìm nó đớp tay con

Vần được gieo ở chữ thứ tư trong câu bát chính thể (chìm – kìm).

Lời thơ thì vô cùng đơn sơ, với những hình ảnh chân quê “con vịt, con cá lìm kìm” . Thật là bình dị thế thôi, không có văn chương, hoa hoè, hoa sói chi hết!

Về mặt nội dung, khởi đầu bằng tiếng gọi “Má ơi!” ngọt ngào, dễ thương. Tiếp ngay theo đó là cái hình ảnh ngược đời “Con vịt chết chìm”, “Cá lìm kìm đớp tay con”. Vịt thì có chết chìm bao giờ? Cá lìm kìm cũng vậy nữa, con cá nhỏ xíu chuyên bơi lội trên mặt nước này hễ thấy nước xao động là… nhảy, là lặn mất tăm luôn, nó có bao giờ cắn, đớp, hoặc chích ai đâu!

Nhưng chính từ những cái ngược đời ấy mà thể hiện được hình ảnh một cô gái bé nhỏ rõ là thơ ngây, đang nhõng nhẽo mẹ!

Đọc lời thơ chân quê ấy đã thấy hay, nghe ru “Ầu ơ” mấy câu ấy lại càng thấm thía, nhớ đời vậy. Cái ngày mà tôi được nghe ru Ầu ơ mấy câu ấy cách nay đã lâu lắm rồi, chính xác là 29 năm. Hai mươi chín năm ròng, các bạn ạ! Hai mươi chín năm nhưng “Con vịt chết chìm” và “Con cá lìm kìm đớp tay” vẫn như còn quanh quất đâu đây!
Gặp Lại “Con cá lìm kìm”

Ngày đó, trong một lúc buồn tênh, thả lòng vòng trong trang thơ Trinh Nữ, tôi tình cờ gặp lại những hình ảnh thân thương ấy trong bài thơ “Hát về con mương nhỏ” của tác giả Thu Nguyệt do thi sĩ Huyền Lâm giới thiệu.

Với mật độ mỗi ngày đăng hơn 50 bài thơ mới, một bài thơ nào đó dù vừa mới ra lò, cũng nhanh chóng bị các bài đăng sau đẩy lùi xuống tận… trang 5. Do đó, có rất nhiều bài thơ hay chưa kịp xem đã… mất hút ! Người đọc nếu bận rộn một chút, sẽ dễ dàng bỏ lỡ những bài ấy.

Bài thơ “Hát về con mương nhỏ” này cũng vậy, nó được anh Huyền Lâm giới thiệu, đăng ngày 26/9, và nửa tháng sau, khi tôi tình cờ xem được thì nó đã ở tuốt tận trang thứ 78!

Xin mời các bạn cùng đọc lại bài thơ ấy:

Hát về con mương nhỏ
Thu Nguyệt

“Má ơi! Con vịt nó chết chìm…
Con thò tay xuống vớt cá lìm kìm nó cắn tay con”
Con mương nhỏ mỗi chiều tôi nghịch nước
Chú cá lìm kìm đang cắn khúc Ca Dao
Mười năm qua không ai đắp ai đào
Lá tre rụng con mương sâu thành cạn!
Chú cá lìm kìm giờ đây bỏ bạn.
Trôi dạt phương nào theo lời mới dân ca?
Chiều nay buồn tôi trở lại quê nhà
Tay khỏa nước gọi lìm kìm đâu hỡi?!

Mười năm nữa con mương thành lộ mới
Mẹ tôi rồi phải quét lá tre rơi!
Tôi trở về nhớ mãi nước mương vơi
Những mắt cá lìm kìm đầy cơn khát.
Con vịt có chết đâu mà tôi buồn tôi hát?
Để cá lìm kìm cắn mãi trái tim tôi!

Thu Nguyệt & Huyền Lâm giới thiệu để nhớ về Tố Quyên – BN – Th. Nguyệt

Một luồng cảm xúc bất chợt nổi dậy trong tôi, chẳng khác nào một luồng điện xẹt ngang qua vậy!

Mở đầu vẫn là những hình ảnh “Con vịt chết chìm” và “Con cá lìm kìm” thân quen, xa xưa ấy, nhưng tác giả không nói về một cô bé nhõng nhẽo mẹ, mà khéo léo dùng chúng như một cách “nhập đề ngẩu hứng”, để nói về một hình ảnh, một câu chuyện khác: Hình ảnh một con mương xưa đầy nước, với những chú cá lìm kìm bơi lội nhởn nhơ, mơ màng… cắn khúc ca dao (!). Ý tưởng cá lìm kìm mê ca dao thật là đặc sắc vậy!

Con mương nhỏ mỗi chiều tôi nghịch nước
Chú cá lìm kìm đang cắn khúc Ca Dao

Bất chợt, mạch thơ chuyển gắt sang “chuyện đời tang thương, dâu bể”, do quy luật của tự nhiên (lá tre rụng) hoặc do sự vô tâm, hoặc thiếu quan tâm của con người mà giờ đây con mương nhỏ nên thơ ấy đã dần dần cạn nước.

Mười năm qua không ai đắp ai đào
Lá tre rụng con mương sâu thành cạn!

Hậu quả là những con cá lìm kìm ngày xưa ấy giờ đã đi xa, không về con mương ấy nữa.

Chú cá lìm kìm giờ đây bỏ bạn
Trôi giạt phương nào theo lời mới dân ca

Chuyện tang thương dâu bể nào cũng buồn cả, đặc biệt với những tâm hồn sâu lắng, thì cái buồn sẽ mênh mang vô tận, dẫu chỉ là cái hình ảnh tượng trưng “con mương đầy, khô cạn”. Tâm sự của người trở về đứng trước con mương cạn, vắng bóng cá lìm kìm mới thắt lòng làm sao:

Chiều nay buồn tôi trở lại quê nhà
Tay khỏa nước gọi lìm kìm đâu hỡi?!
Mười năm nữa con mương thành lộ mới
Mẹ tôi rồi phải quét lá tre rơi!

Đưa được hình ảnh người mẹ già còng lưng quét lá tre rơi vào đây thật là tinh xảo! Chính câu này đã làm sâu lắng thêm, gợi cảm hơn cho toàn bài thơ vậy!

Đặc biệt, nỗi buồn mênh mang của tác giả hiện hữu không chỉ lúc đối diện con mương, mà sau này, khi đi xa rồi, nỗi buồn ấy vẫn trầm trầm đeo đẳng:

Tôi trở về nhớ mãi nước mương vơi
Những mắt cá lìm kìm đầy cơn khát.

Đến 2 câu kết lại càng ảo diệu hơn, tác giả trở lại với hình ảnh con vịt, và cá lìm kìm nhập đề, để kết một cách độc đáo:

Con vịt có chết đâu mà tôi buồn tôi hát?
Để cá lìm kìm cắn mãi trái tim tôi!

Hàn Sĩ Nguyên

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Má ơi! Con vịt chết chìm – Tác giả Hàn Sĩ Nguyên

Lịch sử không phải do “Bên Thắng Cuộc” viết_Nguyễn Quang Duy

Lịch sử không phải do “Bên Thắng Cuộc” viết.

Nguyễn Quang Duy

Ngày 30/4/1975 là một ngày lịch sử, ngày mà quân đội Bắc Việt vượt vĩ tuyến 17 tấn công và chiếm được Dinh Độc Lập buộc Đại Tướng Dương Văn Minh phải ra lệnh đầu hàng.

Chỉ riêng những sự kiện xảy ra trong ngày 30/4/1975, đã có rất nhiều điều bị cộng sản dấu diếm hay được dàn dựng chỉ nhằm mục đích tuyên truyền cho chế độ.

Vào dịp 30/4 năm 2020 tôi cho biết khoảng 4 giờ chiều ngày 30/4/1975, khi đó tôi đang ở Chợ Sài Gòn thì nghe nhiều tiếng nổ lớn như đạn súng cối, từ phía Dinh Độc Lập, tiếp theo là những tiếng súng đủ loại…

Năm nay trang BBC cho đăng bài viết “Xét lại vai trò Tướng Giáp: Một quan điểm viết sử mới tại Việt Nam” về một quyển sách viết bởi Tiến sĩ Lê Trung Nguyệt là con gái của ông Lê Đức Thọ từng là Trưởng ban Tổ chức Trung ương, người mà quyền lực chỉ đứng sau Tổng Bí Thư Lê Duẩn.

Quan điểm này đã bị Facebooker Huy Đức tác giả “Bên Thắng Cuộc” cho là không đúng sự thật về Tướng Võ Nguyên Giáp, có đoạn ông Huy Đức viết:

“… Cho đến giờ này ít ai biết là ngay chiều 30/4/1975, đã có những loạt súng giận dỗi trong khuôn viên Dinh (Độc Lập) của những người lính thuộc đơn vị được Văn Tiến Dũng, Lê Đức Thọ chọn ‘cắm cờ trên nóc Dinh Độc Lập’.

“Cũng trong chiều hôm đấy, Lữ 203 của trung tá Bùi Văn Tùng phải rút về Long Thành nhường Dinh Độc lập cho Sư 7. Lữ 203 thuộc Quân đoàn II, nằm trong đội hình của ‘Cánh quân phía Đông’ dưới quyền tướng Lê Trọng Tấn, vị chỉ huy trung thành với tướng Giáp.”

Trên trang wikipedia về Sư đoàn 7 có viết: “Trong chiến dịch Hồ Chí Minh, Sư 7 do (Trung Tướng) Lê Nam Phong làm Sư đoàn trưởng, ưu tiên nhiệm vụ cắm cờ trên Dinh Độc Lập. Ngày 30/4/1975, Sư 7 được Quân đoàn 2 bàn giao tiếp quản Dinh Độc Lập.”

Nếu thế thì quả là mỉa mai khi “bên thắng cuộc” không tốn một viên đạn để chiếm Dinh Độc Lập, nhưng ngay sau đó hai phe cánh lại tranh giành công trạng nổ súng vào nhau.

Mất chính danh …

Theo báo chí trong nước Trung Tướng Lê Nam Phong Sư Đoàn 7 đến Dinh Độc Lập chỉ trễ chừng 30 phút khi đó Đại Tướng Dương Văn Minh đã được “hộ tống” đến Đài Phát Thanh để đọc tuyên bố đầu hàng do Trung tá chính ủy Bùi Văn Tùng soạn.

Những chi tiết nhỏ này có thể giải thích được lý do là ngay từ khoảng 10 giờ 30 phút sáng ngày 30/4/1975, Đài phát thanh Sài Gòn đã liên tục phát đi lời Tướng Dương Văn Minh kêu gọi binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa ngừng bắn sửa soạn bàn giao cho phía bên kia.

Nhưng sau đó chỉ có lời tuyên bố đầu hàng của Tướng Minh được phát trên Đài Phát thanh Sài Gòn mà không có lấy một buổi lễ bàn giao đơn giản hay một biên bản ký kết bàn giao chính quyền.

Được biết Tướng Minh muốn bàn giao chính quyền Việt Nam Cộng Hòa nhưng phía quân đội Bắc Việt trả lời là không có gì để bàn giao và buộc ông Minh phải đầu hàng vô điều kiện.

Đối với Quốc Tế

Về Công Pháp Quốc Tế biên bản bàn giao là văn bản phía cộng sản được sở hữu đầy đủ giấy tờ chuyển giao quyền lực, quyền tài phán, quan hệ ngoại giao với 77 quốc gia, quyền thừa kế Việt Nam Cộng Hòa về phương diện quốc tế.

Không có biên bản bàn giao nhà cầm quyền cộng sản không thể chứng minh được quyền thừa kế nên đã mất quyền đòi lại các bất động sản, các máy bay, tầu thuyền của Việt Nam Cộng Hòa và những khoản tiền được chính phủ Việt Nam Cộng Hòa ký gửi tại các ngân hàng nước ngoài.

Nhà báo Phạm Cao Phong cho biết hiện Pháp còn giữ khoảng 40 triệu đô la từ thời điểm 1975, giá trị lãi suất và tỷ suất hiện nay gấp nhiều lần con số đó, chưa kể những tài khoản khác của Việt Nam Cộng Hòa đã bị Mỹ phong tỏa.

Việc tranh giành công trạng giữa tướng Võ Nguyên Giáp và tướng Văn Tiến Dũng, ông Lê Đức Thọ còn ảnh hưởng lâu dài đến thế chính danh thừa kế các đảo thuộc chủ quyền Việt Nam Cộng Hòa trước quốc tế.

Hiệp Định Geneve 1954 và Hiệp Định Paris 1973 là những tài liệu vẫn được Quốc Tế cộng nhận, nên nếu Hà Nội có đưa Trung cộng ra tòa án quốc tế để đòi chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thì họ khó có thể chứng minh được tính hợp pháp và hợp lý của họ đối với hai quần đảo thuộc Việt Nam Cộng Hòa.

Đại tướng hay Tổng thống …

Cũng theo báo chí trong nước khi đọc lời tuyên bố đầu hàng do Trung tá chính ủy Bùi Văn Tùng viết Tướng Minh bị yêu cầu phải bắt đầu là: “Tôi, Dương Văn Minh, tổng thống chính quyền Sài Gòn…”

Nhưng ông Minh chỉ muốn đọc là: “Tôi, đại tướng Dương Văn Minh…”

Phía cộng sản không chịu buộc ông Minh phải đọc là: “Tôi, đại tướng Dương Văn Minh, tổng thống của chính quyền Sài Gòn…”.

Không rõ lý do ông Minh từ chối nhận vai trò Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa, nhưng “danh có chính thì ngôn mới thuận” bấy lâu nay đã có rất nhiều tranh cãi về tính hợp hiến của ông Minh trong vai trò tổng thống và tính hợp pháp của lời tuyên bố đầu hàng.

Thủ tướng Nguyễn Bá Cẩn viết trong hồi ký “Đất Nước Tôi” trước sức ép của cộng sản, Mỹ và Pháp chiều ngày 27/4/1975 Quốc Hội lưỡng viện đã họp để quyết định đồng ý cho Tổng thống Trần Văn Hương từ chức.

Đồng thời Quốc Hội đã tranh luận sôi nổi về việc trao quyền cho Đại tướng Dương Văn Minh, ông Cẩn cho biết điều lạ lùng và mâu thuẫn là các nghị sĩ và dân biểu đối lập lại không chịu biểu quyết ủng hộ.

Bên ngoài cuộc họp một số nghị sĩ và dân biểu đối lập cho biết: “sở dĩ việc họ chống lại trao quyền cho Tướng Minh là vì họ nghĩ rằng ông không đủ tài ba để giữ nước mà sẽ làm mất nước vào tay cộng sản.”

Những nghị sĩ và dân biểu này còn cho biết: “Chúng tôi (trước đây) nào có tín nhiệm Tướng Minh, chúng tôi chỉ dùng Tướng Minh để phá Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu mà thôi.

Các nghị sĩ và dân biểu tranh luận vì theo Điều 56 Hiến pháp: a) Tổng thống nếu từ nhiệm trước khi dứt nhiệm kỳ, Phó tổng thống sẽ trở thành Tổng thống; b) Nếu Phó tổng thống cũng từ nhiệm, chức vụ Tổng thống sẽ do Chủ tịch Thượng viện đảm nhiệm, trong thời hạn 3 tháng để tổ chức bầu cử tân Tổng Thống và Phó Tổng Thống.

Khi Tổng thống Trần Văn Hương từ chức, theo điều 56 của Hiến pháp, Chủ tịch Thượng viện bấy giờ là ông Trần Văn Lắm sẽ phải giữ vai trò Tổng thống, và ông Lắm không được giao chức vụ Tổng thống cho ai khác.

Tổng thống chính thức chỉ có thể được quyết định qua một cuộc phổ thông đầu phiếu, các Nghị Sĩ và Dân Biểu Quốc Hội không có thẩm quyền bỏ phiếu quyết định giao chức Tổng thống cho tướng Minh.

Các nghị sĩ và dân biểu dự buổi họp ngày 27/4/1975 cũng không có quyền sửa Hiến Pháp vì theo Điều 105 quyết định tu chính Hiến Pháp phải hội đủ hai phần ba (2/3) tổng số Dân Biểu và Nghị Sĩ.

Quốc Hội ở thời điểm đó gồm 60 nghị sĩ và 159 dân biểu, muốn đạt được 2/3 số phiếu thì phải cần ít nhất 146 người đồng ý. Nhưng buổi họp hôm ấy chỉ còn 138 người tham dự nên mọi quyết định sửa đổi Hiến Pháp là vi hiến.

Nhưng cuối cùng các dân biểu và nghị sĩ đã đồng ý với tỉ số 136/138 trao quyền cho Tướng Minh, ông Nguyễn bá Cẩn có đưa ra 3 lý do chính dẫn đến quyết định:

(1)       để tránh một cuộc đảo chánh làm mất uy tín Tổng thống Trần văn Hương, gây thêm chia rẽ và bất ổn chính trị;

(2)       để tránh chuyện cộng sản pháo kích vào thủ đô Sài Gòn gây thương vong cho dân chúng như họ đe dọa; và

(3)       trao quyền để ông Minh có thể chính thức bàn giao quyền thừa kế Việt Nam Cộng Hòa.

Cũng theo Thủ tướng Nguyễn Bá Cẩn quyết định trao quyền cho Tướng Minh chẳng khác nào các dân biểu và nghị sĩ Quốc Hội đã khai tử nền Đệ Nhị Cộng Hòa.

Về việc đầu hàng…

Nếu theo đúng Hiến Pháp ông Trần Văn Lắm hay Tổng thống Trần Văn Hương là những người có thẩm quyền để ký kết bàn giao hay đầu hàng.

Ngay sau khi chủ tọa Quốc Hội ông Trần Văn Lắm rời Việt Nam, sau này chính ông Lắm phủ nhận tính hợp hiến của quyết định Tướng Minh làm tổng thống.

Vì ông Lắm không nhận quyền tổng thống nên ông Trần Văn Hương vẫn là người lãnh đạo quốc gia, với ông Hương cho đến lúc lìa đời vẫn nhất quyết không công nhận nhà cầm quyền cộng sản Hà Nội và không nhận quyền “công dân” do họ muốn trao cho ông.

Đại Tướng Dương Văn Minh ở thời điểm 30/4/1975 chỉ là một tướng về hưu không thực quyền nên nhiều người miền Nam vẫn tin rằng Việt Nam Cộng Hòa không đầu hàng cộng sản và vẫn tiếp tục chiến đấu không chịu bỏ cuộc.

Quốc Hội Việt Nam Cộng Hòa chấp nhận vi phạm Hiến Pháp đưa ông Minh ra thương thuyết với phía cộng sản với kỳ vọng ít ra nếu có bàn giao đàng hoàng thì biên bản bàn giao cũng có giá trị đối với quốc tế.

Thật mỉa mai các phe cánh trong đảng Cộng sản mải lo tranh giành chiến công, chạy đua chiếm Dinh Độc Lập, đến độ phải bắn nhau nên phía cộng sản không lo nhận bàn giao theo đúng với thủ tục quốc tế.

Lịch sử là sự thật, bởi thế mới nói lịch sử không đứng về phía Tướng Võ Nguyên Giáp, Tướng Văn Tiến Dũng, Tướng Lê Đức Anh, ông Lê Đức Thọ hay không như “bên thắng cuộc” đã viết.

Nguyễn Quang Duy

Melbourne, Úc Đại Lợi

7/5/2021

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Lịch sử không phải do “Bên Thắng Cuộc” viết_Nguyễn Quang Duy

CHUYỆN RUỒI BU_Đạt Nhân LVT

 

Thân gởi cụ Lão Bút cùng quí cụ thi hữu, thân hữu,

Cách đây vài tuần cụ Lão Bút gọi thăm hỏi sức khỏe của lão tôi. Hôm đó tôi trả lời: lại thêm bệnh đau đầu gối. Lão Bút khuyên tôi nên nhỏ nhẹ nói chuyện với đầu gối vì bấy lâu nay tôi chê không thèm nói chuyện với đầu gối. Sau khi nói chuyện với đầu gối ,đầu gối làm lơ và ra dấu là tôi nói phét (fake).Nói chuyện tào lao,chuyện láo mà nhiều người tin. Tôi tạm dịch là chuyện ruồi bu vì chuyện có tẩm mật ong nên ruồi bu. Và hôm nay đầu gối của tôi vẫn đau trở lại như thường. Tôi cảm tác bài thơ CHUYỆN RUỒI BU nầy thân gởi đến quí cụ đọc cho vui mà “cười ra nước mắt “nhân những ngày cuối tháng tư. Đồng thời nhờ quí cụ chỉ giáo giùm cách nói thế nào cho đầu gối nghe. Thân nhờ thi hữu Nguyên Đình mời giùm BS Thảng trị giùm bệnh câm điếc của đầu gối (BS đừng cho toa “dùi cui”, bệnh nhân đã dùng không hiệu nghiêm).

                 CHUYỆN RUỒI BU

         Đầu gối không kê để gối đầu

         Mà sao âm ỉ ngấm ngầm đau?

         Đã không Thái Thú quỳ phò Hán

         Mà chẳng Quan Nô quỵ lụy Tàu

         Bớt nhức vài tuần sau uống thuốc

         Qua cơn ít phút hết xoa dầu

         Nói gì đầu gối đều lơ cả  !

         Toàn chuyện ruồi bu đâu có đâu .

         ĐẠT NHÂN (aka K1-Lê Văn Thuận)
         Kính thư.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở CHUYỆN RUỒI BU_Đạt Nhân LVT

CÒN MỘT CHÚT GÌ ĐỂ NHỚ…_Lê Phương Lan

CÒN MỘT CHÚT GÌ ĐỂ NHỚ…

Tác giả: Lê Phương Lan (Phu nhân K1 Nguyễn văn Vinh)

Viết để riêng tặng các em thân yêu.

Tháng Tư mà cứ nhắc đến những câu chuyện buồn thì chỉ làm cho “Dột lòng mình cũng nao nao lòng người” (thơ Nguyễn Du). Vậy hôm nay người viết xin đổi đề tài để kể lại cho các em, con cháu và mọi người thân quen về những kỷ niệm vui để chứng minh rằng trong gian khổ chúng ta vẫn có những nụ cười và niềm hạnh phúc.

Bắt đầu bằng những kỷ niệm sau ngày 30 tháng 4, 1975. Sau ngày này thì hai cột trụ chính trong gia đình là bố tôi và ông xã đã trở thành tù nhân! Mẹ thì bị thương nặng. Anh tôi là chuẩn úy mới ra trường nên thân phận cũng mong manh lắm! Chỉ còn mấy chị em đều phải dựa vào nhau để tìm đủ phương cách mà kiếm sống. Trong những tháng ngày đầu, tôi và cô em kế là hai chị lớn phải bán rau muống, cà ghém ngoài chợ thì hai cô em nhỏ nhất được mẹ giao cho hai ấm trà đá và mấy cái ly nhựa. Hai đứa khởi hành từ nhà thờ Ba Chuông sang đến chợ Ông Tạ. Đến trưa trở về nhà hai ấm trà cạn trơn mà không có đồng nào trong tay! Hỏi ra mới biết là hai đứa rao hàng rát cổ quá nên đã chia nhau uống hết sạch hai ấm trà đá! Cô em thứ năm có tài nấu nướng, may mặc nên buổi tối ra đầu ngõ kê vài cái ghế gỗ bán khô mực nướng và nước sinh tố. Cô lại còn kiêm luôn nghề thợ may. Cô vừa mới mở hàng được vài bữa thì có một chị đến đặt may cho một bé trai bộ đồ gồm quần tây và áo sơ mi. Chẳng may cu tí “cháu ngoan bác hồ” này lại có thân hình bụng ỏng, đít teo, nên khi cứ cắt may theo lý thuyết thì lúc cháu mặc vào người áo và quần vạt trước đều bị kéo xếch lên cả tấc! Cũng may là nhà vẫn còn xấp vải cùng loại mua ở hợp tác xã để may đền cho khách hàng!

Tôi và cô em kế tuy sau này có được đi dạy học một thời gian nhưng sau vì đồng lương chết đói, không đủ nuôi sống gia đình và còn phải để dành lương thực để đi thăm nuôi hai người thân yêu đang bị giam cầm ở “hai phương trời cách biệt”, nên cũng phải bỏ nghề để ra bán hàng ngoài lề đường. Chúng tôi xoay sở đủ mọi mặt hàng để buôn bán. Tuy nhiên, một kỷ niệm cười ra nước là khi hai chị em bán guốc. Lúc bấy giờ đóng guốc là phải đóng đế cao su vào guốc, rồi đo chân khách hàng để đóng quai. Đây là công đoạn khổ nhất! Mỗi khi khách đến chừng hai, ba người là hai chị em quýnh lên, đóng búa cả vào ngón tay bầm tím! Một hôm, hai chị em đóng xong đôi guốc cho một khách hàng lựa chọn loại quai rất kiểu cọ. Khi cô ta xỏ chân vào guốc bước đi hai chị em mới nhận ra rằng mình đã đóng lộn ngược vị trí của quai vào cả hai chiếc guốc, nhưng hai đứa nín khe không dám gọi người khách quay trở lại vì sợ rằng có tháo ra chưa chắc đã biết đóng lại làm sao cho đúng!

Một kỷ niệm nữa cũng đáng cười ra nước mắt lại cũng liên quan đến đôi guốc. Đó là thời gian kinh hoàng nhất của người dân thành phố trong đợt “đánh tư sản”. Khi nhà cửa của những người “tư sản” hay bị gán cho là “tư sản” đều bị xông vào lục tung để ngang nhiên cướp đoạt tài sản. Còn chủ nhân thì bị đuổi đi các vùng “kinh tế mới”! Lo sợ rằng gia đình mình có thể bị xem là đối tượng của chính sách này có thể bị lục soát bất cứ lúc nào nên theo ý kiến của mẹ chồng tôi, tôi đục phía dưới đôi guốc to bản đều từ trên xuống dưới, nhét vào đó những tư trang của hai mẹ con, đóng đế cao su lại để mang theo khi đi dạy học. Trên đường đạp xe đến trường rồi sau đó lại đạp xe từ trường về nhà, mặt mày tôi vẫn còn bị tái nhợt đi vì sợ hãi. Nhất là khi đạp xe qua các ngã tư có công an đứng gác, chỉ sợ vô phúc các mối đinh đóng dưới đế guốc sút ra khiến mấy gói nữ trang đó bị rớt tung tóe ra mặt đường!

Thời gian qua, đến năm 1991 cả hai gia đình chúng tôi đều được đi định cư tại Mỹ. Và đây là những mẩu chuyện vui xảy ra trong thời gian đầu còn “chân ướt, chân ráo”: Gia đình riêng của hai chúng tôi qua Mỹ trước và được hai ân nhân người Việt bảo trợ đến thị trấn San Pablo gần thành phố Oakland, California. Sau hai tuần lễ đầu quan sát, hai chúng tôi không muốn quá nhờ vả vào lòng tốt của họ nên quyết định tìm cách tự đi chợ để mua thức ăn Việt Nam tại Oakland bằng xe bus. Trước khi bước lên xe, tôi cẩn thận xem trên đầu xe bus có chạy chữ “Oakland”. Vào trong xe, tôi đưa tờ giấy 20 đồng, người tài xế lắc đầu, ra hiệu tay là không có tiền thối! Tôi đi suốt từ đầu đến cuối trong xe không ai có đủ tiền lẻ để đổi cho chúng tôi! Tôi đành phải xuống xe ở trạm kế để kiếm ra người đổi tiền rồi mới tiếp tục cuộc hành trình! Mua thức ăn xong, chúng tôi quay lại đúng vị trí của chỗ xe bus đã thả chúng tôi xuống nhưng mấy chuyến xe chạy qua mà không thấy xe nào có chạy chữ”Oakland” mà chỉ toàn là “Richmond”! Sau cùng tôi leo lên một xe vừa chạy tới để hỏi xem. Thì ra Richmond cũng là một địa điểm của San Pablo và xe bus thì lại chạy chữ theo mỗi điểm xe chạy đến!

Lại cũng lên quan đến chuyện xe cộ trong buổi đầu bỡ ngỡ: Khi dọn về San Jose ông xã tôi thi đậu bằng lái xe trước tiên nhưng chưa có đủ tiền mua xe. Trong khi chú em rể chưa có bằng lái mà đã mua lại được một chiếc xe Toyota cũ. Hôm đó hai chúng tôi và hai vợ chồng cô em cùng đi khám sức khỏe. Đang khi lái xe thì trời đổ mưa xối xả. Hơi nước mờ mịt trong chiếc xe bị đóng kín cửa mà không ai biết sử dụng cái nút heater để làm khô hơi nước! Trong hoàn cảnh “nguy cấp” này chú em rể không ngớt trấn an ông anh:”Anh bình tĩnh lái xe nghe! Đừng lo! Để em lau cửa kính xe cho anh cho!”. Hai chị em tôi ngồi ở băng sau cứ thế xé và vò nát mấy trang giấy của tờ báo “Thằng Mõ” để đưa cho chú em lau kiếng xe! Vừa đến nơi thì hết mưa và tờ báo cũng chỉ còn lại hai tờ bìa!

Khi biết được mình đã có thai cháu út, tôi quyết định đi học để trở lại để bước vào nghề dạy học. Tôi bắt đầu ghi danh học tại Evergreen Valley College. Bước đầu học Anh ngữ cũng có mấy chuyện vui để nhớ: Đầu tiên tôi có vài người bạn Mỹ, Mễ trong đó có cô bạn Mỹ rất dễ thương. Tôi muốn khen cô bằng câu nói đơn giản:”You are my best friend.” nhưng vì chưa biết cách ”xì gió” hai phụ âm cuối của chữ”best”nên khi phát âm chỉ nghe ra như “bết, bát” thôi! Tôi thấy lông mày cô hơi nhíu lại nên phải nói lại và đánh vần chữ “best”. Nghe xong cô cười và giúp tôi sửa cách phát âm cho đúng chữ mà mình muốn diễn tả này!

Lần khác, trong lớp học về Writing tôi được bà giáo rất thương mến với những bài viết kể lại những kỷ niệm tại quê nhà của tôi. Một hôm bà muốn sửa lại cho tôi một bài văn tôi còn nhớ có tựa đề” The Boy With a Window on His Shirt” trong đó tôi viết – hơi hư cấu- câu chuyện về thời thơ ấu của ông xã. Tóm tắt bài viết: “Ông xã tôi mồ côi cha từ nhỏ nên hai mẹ con sống rất khó khăn. Thuở nhỏ khi đi học, anh chỉ có duy nhất một chiếc áo đồng phục trắng. Một hôm vì vô ý anh làm rách áo ở ngay trên ngực. Mẹ anh phải cặm cụi vá lại chiếc áo bằng một miếng vải trắng cũ. Rồi một ngày kia anh nhất định không chịu đến trường vì bị bạn bè chọc ghẹo là “thằng nhỏ với cái áo có cửa sổ”. Và rồi sau đó anh đã khóc khi mẹ cho anh xem chiếc áo dài cưới trắng đã cũ. Chiếc áo mà mẹ giữ mãi nay đã mất một miếng để lấy vải vá vào chiếc áo bị rách cho anh!” Bà giáo xem xong muốn sửa văn phạm và ngữ pháp của bài văn để đọc cho cả lớp nghe. Ở Việt Nam thì khi muốn gọi ai người gọi để bàn tay úp xuống, nhưng tại Mỹ thì người gọi lại mở bàn tay hướng lên dùng mấy ngón tay để vẫy gọi. Khi bà vẫy gọi tôi như vậy vào lúc cuối giờ học, tôi lại đang vội vã ra về vì sợ lỡ chuyến xe bus. Tôi hồn nhiên vẫy chào:”Bye teacher! See you tomorrow!” Hôm sau bà đến gần bàn học và hỏi hôm qua tại sao tôi không đến gặp bà. Khi nghe tôi giải thích sự hiểu lầm biểu hiện về cách gọi, bà cười thông cảm và dặn tôi hôm nay ở lại để bà giúp cho sửa lại bài văn!

Lần khác nữa cũng làm tôi toát mồ hôi hột. Hôm đó là ngày thi về cách sử dụng computer là môn học mới mẻ mà tôi sợ nhất. Tôi làm bài thi trên computer mấy câu đầu thì máy cho comment “Good” rồi đến “Excellent”. Khoảng năm câu hỏi cuối thì cứ thấy hiện lên chữ”Terrific”! Làm đi làm lại cũng vẫn cứ”Terrific!” Tôi muốn khóc luôn! Thầy giáo phụ trách thấy gần hết giờ mà tôi còn khổ sở quá! Thấy tôi gần như muốn khóc với kết quả, thầy tiến đến xem rồi ngạc nhiên lắm:”Look! You are OK! Terrific means very good!” Oh! My God! Từ nãy đến giờ tôi cứ ngỡ terrific là terrible!

Trong chập chùng nỗi nhớ vẫn có những niềm vui thật là ngây ngô, dễ thương làm sao! Thời gian trôi qua đã hơn “bảy mươi năm cuộc đời” mà bộ nhớ của tôi vẫn “còn một chút gì để nhớ, để quên”: Nhớ quê hương, nhớ người thân, nhớ bạn bè với bao kỷ niệm đẹp, quên đi những hận thù, những tiếc nuối về tất cả những gì đã mất mát. Tôi nghĩ rằng những mất mát về vật chất chúng ta vẫn có thể tự nỗ lực xây dựng lại được. Chỉ sợ những mất mát, tổn thương về tinh thần mà phải cần đòi hỏi sự tha thứ, thông cảm của cả hai bên liên hệ.

Anh cả đã mất! Chị em chúng ta nay đều đang vác trên vai sáu, bảy bó tuổi đời. Ngày nhắm mắt xuôi tay trở về cát bụi không biết đến lúc nào nhưng chắc cũng không còn xa lắm nữa! Chỉ sợ rằng lúc đó khi gặp mặt Chúa, Ngài sẽ không hỏi rằng chúng ta đã có được bao căn nhà, mà chỉ hỏi xem chúng ta thực thi được những gì Ngài đã dạy. Rồi chúng ta cũng sẽ gặp lại những người thân yêu đã khuất. Lúc đó, điều chúng ta cần là phải sửa soạn ngay từ bây giờ hai cách sẽ được đón tiếp: một là cúi mặt để tránh cái nhìn trách móc hay là được ngẩng lên tươi cười đón nhận sự thương yêu của bố mẹ.

Lê Phương Lan (Trích từ FB Lan Lê Nguyễn)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở CÒN MỘT CHÚT GÌ ĐỂ NHỚ…_Lê Phương Lan

Tô Phở_Ngô Đình Hải

Tô Phở thật tình người
Tác giả: Ngô Đình Hải

 
Vậy là hắn được tha về. Thứ gì của hắn còn xài được, hắn để lại hết cho anh em. Trong này quý. Chỉ giữ lại bộ đồ duy nhất mặc trên người. Miếng giấy ra trại xếp làm bốn, nhét mấy chục ngàn vô giữa, hắn cắm đầu đi thẳng. Không ngó lại. Tuyệt đối không ngó lại. Là mấy tay ở tù nhiều lần dặn vậy. Lưu luyến gì? Tiếc rẻ gì? Nhìn lại lỡ có huôn. Mình không nhớ nó, nhưng nó nhớ mình, nó khiến cho có chuyện vô lại thì sao? 
Chưa có một dự tính nào trong đầu, nhưng hắn tự hứa với mình. Sẽ không bao giờ! Không bao giờ, trở lại nơi này lần nữa. Về đã! Về rồi tính tiếp. Chỉ cần nhảy lên hai chuyến xe đò là hắn tới quê. Là thấy được con mương trước nhà. Thấy hàng so đũa và cái mái lá xác xơ. Không biết má hắn giờ ra sao? Lâu lắm rồi không thấy bà lên thăm. Hắn đã nghĩ tới tình huống xấu nhứt. Hay bà chết rồi không chừng. Mấy năm trước, lúc mới vô tù, bà có lên thăm nuôi hắn đâu được một, hai lần rồi thôi. Thấy yếu lắm. Nói chuyện với hắn như trối! Câu nào cũng đầy nước mắt. Lớp già, lớp nghèo, sống lủi thủi một mình, thêm lớp nhớ con, bà như cây đèn chông lắc lư trước gió hằng đêm, tắt hồi nào không hay! Hắn đã sợ hãi khi nghĩ tới điều này. Sợ còn hơn lúc người ta tuyên án 3 năm tù ở với hắn. Hắn ăn năn, hắn hối hận, hắn tự nguyền rủa con người mình, ngày này qua ngày khác. Ngày tháng ở tù thì kéo dài tưởng chừng như vô tận. Hắn chai lỳ với mọi cảm xúc, chịu đựng vượt mức mọi thứ, để chờ ngày hôm nay. Ruột hắn nóng như lửa đốt, mà cái xe đò cứ rề rề, chạy rồi ngừng, ngừng rồi chạy liên tục. Tới thành phố thì đã quá trưa.
Chỉ cần thêm 2 chuyến xe nữa là hắn đã có mặt ở nhà. Hắn hối hả tìm trạm xe buýt ra bến xe miền Tây. Miệng khô khốc, bụng đói cồn cào. Hắn dừng lại ở thùng bánh mì từ thiện, may mắn không chào đón hắn, thùng bánh mì trống trơn. Hắn uống liền 2 ca trà đá ở cái bình nước miễn phí đặt gần đó. Đầu hắn quay cuồng, cái đói ở đâu kéo tới thiệt lẹ. 
Hai chân hắn bắt đầu run. Con đường trước mặt như quen như lạ. Đã có một thời hắn kiếm miếng ăn trên những con đường. Hắn khéo tay. Không có cái khoá xe nào mà hắn cần quá 1 phút để mở. Hắn mở khoá xe điệu nghệ như một nhà ảo thuật. Cái điệu nghệ đưa tới một án tù! Với hắn, trộm cắp cũng phải có nghệ thuật và nguyên tắc riêng của nó. Thứ nhứt, không chôm…xe cùi bắp! Bán chẳng được bao nhiêu, phí một lần ra tay. Lại nữa, chủ nhân thường là những người nghèo. Chiếc xe là cái cần câu cơm, là cả một gia tài. Mất đi, lập tức…đời là bể khổ! Chôm không đành. Thứ nhì, có lựa xe dữ, thì cũng không chơi ở mấy cửa hàng, trường học. Ở đó có người coi, có bảo vệ. Khó chơi đã đành. Chơi được, thì nạn nhân không phải người mất xe, mà là chính họ. Những người đi làm cái nghề giữ xe được mấy đồng bạc. Đền một chiếc xe là mạt, là ăn mày. Kẹt mấy cũng đừng chơi! Tội…
Ngon nhứt là canh me chôm trước cửa nhà, chôm của mấy tay có tiền, chạy xe xịn đi ăn chơi, mua sắm. Ăn hàng xong là nhẹ nhỏm, là khỏi băn khoăn, thắc mắc…
Hắn lắc lắc đầu, cố thoát ra khỏi cái ám ảnh ngứa nghề để đi tiếp. Ngẩng lên, thấy ngay tấm bảng đập vô mắt:
“Phở bình dân. Tái Nạm Gàu Gân. 35k 1 tô”. Xe phở đặt phía trước tiệm. Thùng nước lèo kế bên. Mấy tảng thịt bò treo lủng lẳng bắt mắt. Không nhớ đã bao lâu hắn không được ăn phở. Thèm và đói. Cái đói réo gọi. Đói dữ dội. Đói chảy nước mắt. Đói leo qua sức chịu đựng của hắn. Hắn lôi tiền ra đếm. Còn vỏn vẹn 30 ngàn về xe. Hắn cay đắng. Hắn bực tức. Tô phở bốc khói nhảy vô đầu hắn ngồi. Tô phở vực cái thói quen cũ trồi dậy. Hắn bắt đầu quan sát. Phố xá đông đúc, hàng quán san sát, xe gắn máy đậu dài hai bên lề đường. Hắn tản bộ thêm một đoạn, ngó mấy cái ngã tư, tính toán đường thoát. Hắn nhìn quanh quất, phải kiếm đồ nghề trước. Cái này thì dễ. Gần đèn xanh, đèn đỏ, có một tiệm sửa xe. Hắn lượm một cây căm xe cũ. Lượm thêm một cục đá xanh làm búa. Hắn ngồi ngay xuống lề đường, lo việc của mình, mặc kệ thiên hạ. Người qua lại đông, xe cộ chen nhau, không ai thèm để ý tới hắn. Thân ai nấy lo, hồn ai nấy giữ, biết càng thêm rắc rối chứ ích gì. Hắn bẻ gập cây căm cho ngắn lại, lấy cục đá đập dẹp cái đầu, rồi uốn, rồi mài dưới mặt đường, cẩn thận từng chút. Một bài học trong tù. Ở trong đó hắn còn làm ra nhiều thứ vật dụng quái chiêu hơn nhiều. Không có gì là không thể nếu chịu khó và kiên nhẫn. Xong, hắn đưa lên trước mặt ngắm nghía. Không ngon lắm, nhưng cũng tạm được. Dân trong nghề kêu bằng đoản, trong tay hắn là cái chìa khoá vạn năng. Hắn đút cây đoản vô túi áo. Tay hắn chạm tờ giấy ra trại. Chạm vào thực tại. Tờ giấy nhắc cho hắn cái lý do hắn ở đây. Hắn hơi chựng lại. Hắn xoè tay ra trước mặt, hai bàn tay nhạy bén như của một nghệ sĩ ngày nào, giờ xám xịt, chai sần và thô kệch. Những ngón tay cứng đơ nằm gần nhau mệt mỏi. Hắn hoang mang, hắn không còn đủ tin tưởng vô chúng. Hắn co duỗi, hắn nhấp thử vài lần trong không khí. Chậm và thô quá. Hắn đốt điếu thuốc còn sót lại, hy vọng xoa dịu cơn đói. Khói thuốc làm người hắn nhộn nhạo. Hắn nhớ tới má hắn dưới quê, không biết sống chết ra sao. Một phần trong hắn lên tiếng:
– Thôi bỏ đi. Đã thề bỏ rồi mà. Làm khổ bà già nhiêu đó chưa đủ sao, thằng bất hiếu! Về! Về gấp như đã hứa. Về! Đói no gì cũng kệ, miễn là có mẹ có con. Cái nghề này đâu có bền. Sớm muộn gì cũng trở vô trỏng thôi!…
Hắn cúi xuống nhìn bộ quần áo mình đang mặc. Nhìn cái  con người thân tàn ma dại của mình. Một phần khác trong hắn lên tiếng:
– Về! Dĩ nhiên là phải về. Nhưng về trong tình cảnh này sao? Chơi đại một chiếc kiếm vốn, đua về trốn luôn ở dưới mà làm lại cuộc đời! Chơi đi, đâu có khó gì…
 
Hắn đứng bật dậy. Người hắn loạng choạng. Từ sáng tới giờ hắn có miếng nào trong bụng đâu! Đói chịu hết xiết. Muốn làm gì thì cũng phải ăn cái đã. Mọi chuyện tính sau. Tiệm phở đông nghẹt. Hắn bước vô, đứng ngay xe. Mùi phở bốc lên nồng nực, thơm phức. Cái mùi đủ làm cho người chết sống dậy. Hắn ấp úng gọi:
– Bà chủ…
Người đàn bà đứng nấu, đang tất bật với múc, chan. Mồ hôi nhể nhại. Nghe hắn gọi, không thèm ngó, sẳng giọng:
– Tui không phải chủ. Chủ ngồi trong kia kìa…
Hắn nuốt nước miếng ừng ực, nói tiếp:
– Bán cho tui tô 30 ngàn nhiều bánh được không? 
Chị ngừng tay, ngước lên nhìn hắn:
– Vô bàn ngồi đi!
Hắn tìm cho mình một chỗ trống, ngồi xuống. Tô phở đầy ắp, thịt cả đống, được thằng nhỏ bưng ra. Ngó chừng có phần còn nhiều hơn những tô khác. Hắn cắm cúi ăn, nghe từng miếng trôi qua miệng xuống bụng, nghe cái ngọt ngào của từng muổng nước lèo thấm ra da thịt. Tới lúc hắn buông đủa, thì cái tô sạch nhách, một miếng hành cũng không còn. Mắt hắn sáng lên. Người hắn phấn chấn. Hắn kêu tính tiền. Thằng nhỏ chạy lại, hắn đưa tiền. Thằng nhỏ đếm:
– Thưa, mới 30, 35 ngàn một tô…
Hắn sượng ngắt, chỉ tay về phía người đàn bà:
– Tui kêu tô 30…
Thằng nhỏ day qua ngó chị như hỏi. Vài người ngồi quanh ngó qua hắn, nghi nghi, ngờ ngờ. Không lẽ cái bộ dạng của hắn tệ dữ vậy sao? Chị rời chỗ đứng đi về phía hắn, ngó cái tô phở trống trơn, rồi ngó hắn:
– Ăn được không chú Tư? No chưa?
Hắn gật, rồi nhắc lại:
– Tui kêu tô 30…
Chị gạt ngang, cười:
– Ai chẳng có lúc quên. Cái này là tui quên chứ không phải chú quên, bỏ qua nhe!
Giọng chị nhỏ lại:
– Tui để ý chú tự nảy giờ. Về quê hả? Về đời lâu mau rồi? Mới ra hả?…
Hắn lại gật:
– Sáng nay…
Chị giằng lấy 30 ngàn trong tay thằng nhỏ, nhét sâu vào túi áo hắn, để tay ở đó một chập, rồi nói lớn:
– Đi cho kịp chuyến xe, chú Tư.
Lại Tư! Hắn cu ky một mình, có anh có em gì đâu mà Ba, mà Tư! Người đâu ngộ thiệt! Quen biết hồi nào đâu mà kêu hắn thứ Tư, trật lất. Hắn nhìn chị, nghẹn ngang. Lí rí cám ơn, rồi đi thẳng. 
Ngoài cửa, một cặp trai gái vừa tấp chiếc SH, nắm tay nhau đi vô, cùng lúc với hắn đi ra. Tay hắn giựt giựt. Cơ hội ngon ăn hết biết! Hắn vịn tay lên ghi đông chiếc xe, lắc nhẹ như tình cờ đi ngang bị vướng, tay kia rờ lên túi. Thò luôn tay vô trong. Tấm giấy ra trại còn nguyên. Tiền chị nhét vô còn nguyên. Cây đoản mở khoá biến đâu mất. Hắn thở dài, coi như xong! Chắc Trời khiến! 
Hắn đi thật nhanh như chạy. Tiếng chị vang theo sau lưng:
– Về khoẻ nhe chú Tư. Có lên chơi nhớ ghé nhe…
Chị nói mà bàn tay nắm lại, hình như có cái gì của hắn trong đó…
 
Tác giả: Ngô Đình Hải
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Tô Phở_Ngô Đình Hải

MẸ TÔI & LÁ CỜ VÀNG BA SỌC ĐỎ_Nguyễn Kiên

MẸ TÔI & LÁ CỜ VÀNG BA SỌC ĐỎ

Mẹ tôi chỉ là một thư ký cho một công sở ở Sài Gòn trước năm 1975. Vào cái trưa ngày 30.4.1975, khi biết chắc miền Nam đã thất thủ và bọn giặc cướp Cộng sản đang từ từ tiến vô Sài Gòn, Mẹ tôi lặng lẽ mở tủ lấy lá Cờ Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa, bỏ vô chiếc thau đồng vẫn thường để đốt vàng bạc trong các dịp cúng giỗ trong gia đình, rồi đem xuống bếp, thắp ba cây nhang lâm râm khấn vái trước khi châm lửa đốt. Lúc đó, chúng tôi cũng biết việc cất giữ những gì thuộc về chế độ cũ sẽ mang tới tai họa cho gia đình, huống chi là lá Cờ Quốc Gia, nên Mẹ tôi phải đốt đi; nhưng những điều mà Mẹ tôi giải thích sau đó về việc khấn vái trước khi đốt lá cờ mang một ý nghĩa khác hơn mà suốt đời tôi không quên được. Mẹ tôi nói:

– «Biết bao nhiêu anh Chiến Sĩ Quốc Gia đã chết dưới lá cờ ni, chừ vì thời thế mà mình phải đốt đi, mình cũng phải xin phép người ta một tiếng!».

Thế rồi, những năm tháng sống dưới chế độ Cộng sản man rợ bắt đầu đến với người dân miền Nam. Như bao nhiêu gia đình khác, gia đình tôi ngơ ngác, bàng hoàng qua những chiến dịch, chính sách liên tiếp của bọn Việt Cộng; hết “chiến dịch đổi tiền”, “chính sách lương thực, hộ khẩu”, đến “chính sách học tập cải tạo đối với ngụy quân, ngụy quyền”, “chiến dịch đánh tư sản mại bản”, «chính sách kinh tế mới » … và nhiều nữa không thể nào kể hết. Ai nói lũ Cộng sản ngu ngốc, chứ riêng tôi thì thấy bọn chúng chỉ là một loài vô đạo đức, vô học, vô nhân cách và kém văn hoá, kỹ thuật; chứ thủ đoạn chính trị thì thật thâm hiểm, lưu manh, gian trá, quỷ quyệt, tráo trở, lật lọng! Chính sách nào của lũ Cộng sản cũng cốt là để làm cho người dân miền Nam khốn đốn, kiệt quệ, nghèo đói, dìm sâu con người miền Nam xuống đến tận bùn đen để không còn sức phản kháng lại bọn chúng.

Đầu tiên là: «chiến dịch đổi tiền», bọn chúng phát cho mỗi gia đình một số tiền bằng nhau, như vậy mỗi gia đình đều nghèo như nhau, không ai có thể giúp ai được. Để ăn cướp của người dân miền Nam, bọn chúng trắng trợn và trâng tráo tuyên bố vàng, bạc, quý kim, đá quý là thuộc tài sản của nhà nước, ai mua, bán, cất giữ thì bị tịch thu. Kế đến là: «chính sách hộ khẩu», tức là mổi gia đình phải kê khai số người trong gia đình để được mua lương thực (tức là gồm khoai, sắn và gạo mốc) theo tiêu chuẩn, nghĩa là mỗi người (mà chúng gọi là «nhân khẩu») được 13 kg lương thực mổi tháng.

Bao vây như vậy vẫn chưa đủ chặt, bọn Cộng sản sau đó còn ban hành lệnh cấm người dân mang gạo và các loại hoa màu khác từ vùng này sang vùng khác, bất kể là buôn bán hay chỉ là để cho bà con, con cháu. Thành thử các vùng thôn quê miền Nam (vốn dư thừa lúa gạo) mà lúc bấy giờ cũng không thể đem cho bà con, con cháu ở thành phố; nhiều bà nội, ngoại phải giấu gạo trong lon sữa guigoz để đem lên thành phố nuôi con cháu bị bệnh hoạn, đau ốm… Như vậy là bọn chúng đã hình thành một cái chuồng gia-súc-người khổng lồ, con vật-người nào ngoan ngoãn thì được cho ăn đủ để sống, con nào đi ra khỏi cái chuồng đó thì chỉ có chết đói.

Chính sách này của bọn chúng còn thâm hiểm và ác độc ở chỗ mà Miền Nam ngày trước không có là không thể có cái việc: «các má, các chị nuôi giấu cán bộ giải phóng trong nhà» như lũ giặc cướp cộng phỉ đã đĩ miệng, phỉnh phờ lừa gạt những người dân nhẹ dạ theo chúng trước đây. Ba tôi rồi cũng đi tù lao động khổ sai như bao nhiêu sĩ quan, công chức Miền Nam khác, Mẹ tôi ở lại một mình phải nuôi bầy con nhỏ. Bây giờ mổi khi hồi tưởng lại đoạn đời đã qua, tôi vẫn tự hỏi, nếu mình là mẹ mình hồi đó, liệu mình có thể bươn chải một mình để vừa nuôi chồng trong tù, vừa nuôi một đàn con dại như vậy không? Trong lòng tôi vẫn luôn có một bông hồng cảm phục dành cho Mẹ tôi và những phụ nữ như Mẹ tôi đã đi qua đoạn đời khắc nghiệt xưa đó.

Từ một công chức cạo giấy Mẹ tôi trở thành: “bà bán chợ trời” (bán các đồ dùng trong nhà để mua gạo ăn), rồi sau khi kiếm được chút vốn đã “tiến lên” thành một: «bà bán vé số, thuốc lá lẻ» đầu đường.

Thời đó, cái thời chi mà khốn khổ! Mẹ tôi buôn bán được vài bữa thì phải tạm nghỉ vì hễ khi có: «chiến dịch làm sạch lòng, lề đường», bọn công an đuổi bắt những người buôn bán vặt như Mẹ tôi, thì phải đợi qua “chiến dịch” rồi mới ra buôn bán lại được. Có khi Mẹ tôi đẩy xe vô nhà sớm hơn thường lệ, nằm thở dài, hỏi ra mới biết Mẹ tôi bị quân lưu manh lường gạt, cụt hết vốn. Thời bấy giờ, do chính sách: «bần cùng hoá nhân dân» của lũ giặc cướp Cộng sản miền Bắc đã tạo ra những tên lưu manh, trộm cắp nhiều như nấm. Có tên đến gạt Mẹ tôi đổi vé số trúng mà kỳ thật là vé số cạo sửa, vậy là Mẹ tôi cụt vốn; có tên đến vờ hỏi mua nguyên một gói thuốc lá Jet (thời đó người ta thường chỉ mua một, hai điếu thuốc lẻ, nên bán được nguyên gói thuốc là mừng lắm), thế rồi hắn xé bao lấy một điếu, rồi giả bộ đổi ý, trả gói thuốc lại, chỉ lấy một điếu thôi, vài ngày sau Mẹ tôi mới biết là hắn đã tráo gói thuốc giả!

Một buổi tối, tôi ra ngồi chờ để phụ Mẹ tôi đẩy xe thuốc vô nhà, thì có một tên bộ đội, còn trẻ cỡ tuổi tôi, đội nón cối, mặc áo thun ba lỗ, quần xà lỏn (chắc là đóng quân đâu gần đó) đến mua thuốc lá.

Hồi đó, bọn bộ đội Cộng sản, vốn bản chất xảo trá, quỷ quyệt cộng với cái bản chất hèn hạ, nên thường che giấu không mang quân hàm, nên chẳng ai biết lũ chúng là cấp bậc nào, chỉ đoán là tên nào trẻ, mặt mày ngố ngố đần độn là lũ bộ đội thường, cấp nhỏ, tên nào người lùn tẹt, răng hô, môi tím tái, da xanh bủng, mặt mày thâm hiểm, quắt queo, kinh tởm như mặt loài chuột bẩn thỉu thì có thể là lũ công an hay chính trị viên… Tên bộ đội hỏi mua 3 điếu thuốc lá Vàm Cỏ, rồi đưa ra tờ giấy một đồng đã rách chỉ còn hơn một nửa. Mẹ tôi nói:

– «Anh đổi cho tờ bạc khác, tờ ni rách rồi, người ta không ăn».

Tên bộ đội trẻ măng bỗng đổi sắc mặt, cao giọng lạnh lùng:

– «Chúng tôi chưa tuyên bố là tiền này không tiêu được!».

À, thì ra những thằng oắt con Cộng sản rừng rú, lếu láo, vô học và vô nhân cách này cũng biết lên giọng của kẻ chiến thắng (nhờ cúi đầu làm tay sai đánh thuê cho bọn ngoại bang Trung Cộng – Liên Xô), giọng của kẻ nhân danh một chính quyền! Lúc này, tôi mới sực thấy cái quần xà lỏn màu vàng mà tên thổ phỉ rừng rú này đang mặc được may bằng lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ! Mẹ tôi lẳng lặng lấy tờ tiền rách và đưa cho hắn 3 điếu thuốc lá. Khi hắn đã đi xa, Mẹ tôi vò tờ bạc vất xuống cống và nói nhỏ đủ cho tôi nghe:

– «Thôi kệ, một đồng bạc, cãi lẫy làm chi cho mệt! Thí cho bọn cô hồn ăn cướp đó đi! Hắn mặc cái quần… làm chi rứa, thắng trận rồi thì thôi, sỉ nhục người ta làm chi nữa, con hỉ?».

Thì ra Mẹ tôi cũng đã nhận ra cái quần hắn mặc may bằng lá Cờ Vàng Quốc Gia và điều mà Mẹ tôi quan tâm nhiều hơn là lá cờ, chứ không phải tờ bạc rách! Khi bọn Cộng sản mới cưỡng chiếm Miền Nam, nhiều người vẫn tưởng bọn Cộng sản cũng là người Việt, không lẽ họ lại đày đọa đồng bào. Nhưng sau nhiều năm tháng sống dưới chế độ Cộng sản, tôi hiểu ra rằng bọn Cộng sản xem dân Miền Nam như kẻ thù muôn kiếp, bọn chúng tự cho bọn chúng là phe chiến thắng «vẻ vang» và có quyền cai trị tuyệt đối đám dân xem như không cùng chủng tộc này.

Một hôm, đang ngồi bán thuốc lá, Mẹ tôi tất tả vô nhà, kêu đứa em tôi ra ngồi bán để mẹ đi có việc gì đó. Một lúc sau Mẹ tôi trở về và kể cho chúng tôi một câu chuyện thật ngộ nghĩnh. Mẹ kể:

– «Mẹ đang ngồi ngoài đó thì nghe mấy bà rủ nhau chạy đi coi người ta treo Cờ Quốc Gia trên ngọn cây. Té ra không phải, có cái bao ny-lông màu vàng có dãi đỏ, chắc là gió thổi mắc tuốt trên ngọn cây cao lắm, người ta tưởng là Cờ Vàng Quốc Gia. Mà lạ lắm con, có con chó nó cứ dòm lên cây mà sủa ra vẻ mừng rỡ lắm, rứa mới lạ, chắc là điềm trời rồi !».

Mẹ tôi là vậy đó, bà hay tin dị đoan, nhưng chính ra là Mẹ tôi nhìn mọi việc bằng tình cảm trong lòng mình. Thời gian trôi mãi không ngừng… Cuối cùng rồi Ba tôi cũng may mắn sống sót trở về sau gần 10 năm trong lao tù khổ sai Cộng sản, Mẹ tôi vẫn bán thuốc lá lẻ, chúng tôi sau nhiều lần bị đánh rớt Đại Học, đành phải tìm việc vặt vãnh để kiếm sống. Đôi khi tôi tự hỏi, cuộc đời mình sẽ ra sao, liệu mình có thể có một mái gia đình, vợ con như bao người khác không trong khi mà cả gia đình mình không hề thấy một con đường nào trước mặt để vươn lên, để sinh sống với mức trung bình!? «Mọi người sinh ra đều bình đẳng… và ai cũng được quyền mưu cầu hạnh phúc…» Câu ấy nghe có vẻ hiển nhiên và dễ dàng quá; nhưng phải sống dưới chế độ Cộng sản, việc gì cũng bị truy xét lý lịch đến ba đời, mới thấm thía ý nghĩa và hiểu được vì sao người ta dùng câu ấy để mở đầu cho bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền bất hủ.

Một ngày khoảng đầu năm 1990, bọn công an phường đến đưa cho Ba tôi một tờ giấy có tiêu đề và đóng dấu của công an thành phố, nội dung vỏn vẹn “đến làm việc”. Gia đình tôi lo sợ là Ba tôi sẽ bị bắt vô tù lại, Ba tôi thì lẳng lặng mặc áo ra đi, hình như các ông sĩ quan đi tù khổ sai của bọn Cộng sản về đều trở thành triết gia, bình thản chấp nhận thực tại. Hay là thân phận của con cá nằm trên thớt, thôi thì muốn băm vằm gì tuỳ ý. Rồi Ba tôi về nhà với một tin vui mà cả nhà tôi có nằm mơ cũng không thấy được, bọn công an thành phố kêu Ba tôi về làm đơn nộp cho Sở Ngoại Vụ vì gia đình tôi đã được cho đi định cư ở Hoa Kỳ! Thật không sao kể xiết nỗi vui mừng của gia đình tôi với tin này, đang từ một cuộc sống tuyệt vọng nơi quê nhà mà nay được ra đi đến một quốc gia tự do, giàu mạnh nhất thế giới! Những ngày sau đó lại cũng là Mẹ tôi đi vay mượn, bán những món đồ cuối cùng trong nhà chỉ để có tiền làm bản sao photocopy các giấy tờ “Ra Trại” của Ba tôi, khai sinh của chúng tôi, đóng tiền cho “Dịch Vụ”… để làm thủ tục xuất cảnh.

Chỉ khoảng 6 tháng sau là gia đình tôi lên máy bay để bay qua trại chuyển tiếp bên Thái Lan. Tôi lên máy bay, ngồi nhìn xuống phi trường Tân Sơn Nhất dưới kia mà nước mắt cứ trào ra không ngăn được. Thế là hết, đất nước này của tôi, thành phố Sài Gòn này của tôi, nơi mà tôi sinh ra và lớn lên, một lát nữa đây sẽ vĩnh viễn rời xa, bao nhiêu vui buồn ở đây, mai sau chỉ còn trong kỷ niệm! Tôi quay lại nhìn thấy Ba tôi mặt không lộ vẻ vui buồn gì cả, còn Mẹ tôi thì nhắm mắt như đang cầu nguyện và Mẹ tôi cứ nhắm mắt như thế trong suốt chuyến bay cho đến khi đặt chân xuống Thái Lan, Mẹ tôi mới nói:

– “Bây giờ mới tin là mình thoát rồi!”.

Sau khoảng 3 tuần ở Thái Lan, gia đình chúng tôi lên máy bay qua Nhật, rồi đổi máy bay, bay đến San Francisco, California, Hoa Kỳ.

Ngày đầu tiên đến Mỹ được người bà con chở đi siêu thị của người Việt, thấy lá cờ Việt Nam Cộng Hòa bay phất phới trên mái nhà, Mẹ tôi nói:

– «Úi chao, lâu lắm mình mới thấy lại lá cờ ni, cái Lá Cờ Quốc Gia VNCH của mình răng mà hắn hiền lành, dễ thương hí?»

Rồi Mẹ kêu tôi đi hỏi mua cho mẹ một lá Cờ Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa bằng vải, đem về cất vào ngăn trên trong tủ thờ. Chúng tôi dần dần ổn định cuộc sống, cả nhà đều ghi tên học College, Mẹ tôi cũng đi học College nữa và xem ra bà rất hứng thú với các lớp ESL (English as a Second Language); đặc biệt là các lớp có viết essays (luận văn).

Mẹ tôi viết luận văn rất ngộ nghĩnh, thí dụ đề tài là: «Bạn hãy nói các điểm giống nhau và khác nhau của một sự việc gì đó giữa nước Mỹ và nước của bạn» thì Mẹ tôi lại viết về lá Cờ Quốc Gia. Ý Mẹ tôi (mà chắc chỉ có mình tôi hiểu được) là nước Việt Nam có đến hai lá cờ khác nhau với hai chế độ tương phản nhau mà người Mỹ thời này hay ngộ nhận cờ Việt Nam là cờ đỏ sao vàng của Việt Cộng; trong khi lá cờ đó không phải là lá cờ thiêng liêng của người Việt tại Mỹ. Rải rác trong suốt bài luận văn dài tràng giang đại hải của Mẹ tôi là những mẩu chuyện thật mà Mẹ tôi đã trải qua suốt thời gian sống dưới chế độ Cộng sản man rợ. Mẹ tôi kể là mẹ thấy bà giáo Mỹ đọc say mê (tôi nghĩ có lẽ là bà giáo Mỹ sống ở nước tự do, dân chủ không thể ngờ là có những chuyện chà đạp, bức hiếp con người như thế dưới chế độ Cộng sản tàn ác và man rợ). Khi bài được trả lại, tôi cầm bài luận của Mẹ tôi xem thì thấy bà giáo phê chi chít ngoài lề không biết bao nhiêu là chữ đỏ: «interesting!», «Narrative», «I can’t believe it!”… . và cuối cùng bà cho một điểm “D” vì… lạc đề!

Cuộc sống chúng tôi dần dần ổn định, vô Đại Học, lấy được bằng cấp, chứng chỉ, rồi đi làm, cuộc sống theo tôi như thế là quá hạnh phúc rồi. Dạo đó, có anh chàng Trần Trường nào đó ở miền Nam California, tự nhiên giở chứng đem treo lá cờ đỏ sao vàng bẩn thỉu kinh tởm của bọn Cộng sản trong tiệm băng nhạc của anh ta làm cho người Việt quanh vùng nổi giận. Đồng bào tỵ nạn đã đem cả ngàn Lá Cờ Quốc Gia, Nền Vàng Ba Sọc Đỏ đến biểu tình trước tiệm anh ta suốt mấy ngày đêm. Mẹ tôi ngồi chăm chú xem trên truyền hình và nói với tôi:

– “Tinh thần của người ta còn cao lắm chớ, mai mốt đây mà về thì phải biết!”

Ý Mẹ tôi nói là sau này khi không còn Cộng sản ở Việt Nam nữa thì chắc đồng bào sẽ hân hoan trở về treo lên cả rừng Cờ Quốc Gia chớ không phải chỉ chừng này đâu. Thời gian trôi nhanh quá, chúng tôi đã xa quê hương gần 20 năm, Việt Cộng vẫn còn đó, vẫn cai trị đất nước tôi. Sau này do chúng tôi, kể cả cha chúng tôi nữa, đều học xong và ra đi làm, không ai có thể chở Mẹ tôi đi học ESL nữa nên Mẹ tôi phải ở nhà thui thủi một mình, buồn lắm. Có lần tôi hỏi mẹ có muốn về Việt Nam một chuyến để thăm bà con lần cuối không, Mẹ tôi nói:

– “Không, về làm chi, rồi mình nhớ lại cảnh cũ, mình thêm buồn; khi mô mà hoà bình rồi thì mẹ mới về!”

Ý mẹ nói “hoà bình” nghĩa là khi không còn Cộng sản nữa.

Rồi Mẹ tôi bệnh, đưa vô nhà thương, bác sĩ chẩn đoán Mẹ tôi bị ung thư phổi, cho về nhà để Hospice Care đến chăm sóc (Hospice là các tổ chức thiện nguyện ở khắp nước Mỹ, nhiệm vụ của họ là cung cấp phương tiện, thuốc men miễn phí nhằm giảm nhẹ đau đớn cho những người bệnh không còn cứu chữa được nữa). Mẹ tôi mất không lâu sau đó. Mẹ nằm lại đất nước Mỹ này và vĩnh viễn không còn nhìn thấy lại quê hương mình lần nào nữa.

Trong lúc lục giấy tờ để làm khai tử cho mẹ, tôi tìm thấy chiếc ví nhỏ mà Mẹ tôi vẫn thường dùng để đựng ít tiền và các giấy tờ tuỳ thân như thẻ an sinh xã hội, thẻ căn cước… Trong một ngăn ví là lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ bằng giấy, khổ bằng chiếc thẻ tín dụng mà có lẽ Mẹ tôi đã cắt ra từ một tờ báo nào đó. Tôi bồi hồi xúc động, thì ra Mẹ tôi vẫn giữ mãi lá Cờ Quốc Gia bên mình, có lẽ lá Cờ Vàng hiền lành này đối với Mẹ tôi cũng thiêng liêng như linh hồn của những người đã anh dũng chiến đấu và hy sinh để bảo vệ Tự Do, Công Bằng và Bác Ái cho miền Nam Việt Nam.

(Sài Gòn trong tôi – Nguyễn Kiên)

Fb Anna NX chia sẻ.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở MẸ TÔI & LÁ CỜ VÀNG BA SỌC ĐỎ_Nguyễn Kiên

MẸ TÔI_Hoàng Nguyên Linh

MẸ TÔI

                 (Viết theo tâm sự của người con một đời phải xa mẹ)

                   Hoàng Nguyên Linh

    This image has an empty alt attribute; its file name is me-gia.jpgSách vở, báo chí, đài phát thanh và truyền hình người ta nói nhiều về mẹ. Đa số đều nhắc đến những kỷ niệm êm đềm bên người mẹ hiền, nhưng tôi thì khác. Tôi có mẹ mà như không có. Nỗi buồn này hầu như theo đuổi suốt cuộc đời tôi…

     Mẹ tôi là người vợ thứ hai của bố tôi. Bố tôi là một địa chủ khá giầu, đã có vợ cả và nhiều con nhưng bố tôi lại là một người ham mê sắc đẹp nên ông đã lấy mẹ tôi. Tôi không nhớ rõ mẹ tôi đẹp thế nào, chỉ nhớ mẹ tôi có đôi môi hồng, làn da trắng, người cao cao, mặt trái xoan,  nhưng nghe bố tôi nói thì mẹ tôi đẹp lắm nên ông quyết lấy cho bằng được dù phải bỏ ra rất nhiều tiền.

     Gia đình bên ngoại không giầu bằng bên nội nhưng ông ngoại tôi có nhiều con, hình như có tới tất cả 11, 12 người, trong đó có 8 người con gái. Hai người chị của mẹ tôi đã lấy hai người em họ của bố tôi. Cũng vì bố tôi hai vợ nên tôi đã phải chịu những sự đau buồn, tủi nhục.

     Ở ngòai Bắc thời xưa, đa số các ông địa chủ có tiền đều thi nhau lấy nhiều vợ. Ông nội tôi có 3 vợ, bố tôi có 2, nhưng ông nội tôi là người có bổn phận và có trách nhiệm. Tuy có 3 vợ nhưng mỗi bà ở một nơi, mỗi bà một giang sơn riêng nên không có chuyện gì đáng tiếc xẩy ra, nếu có ghen tuông chắc không đến nỗi trầm trọng. Bố tôi không như ông nội tôi, bố tôi lấy vợ hai về song lại để hai bà ở chung với nhau nên mới gây ra nhiều chuyện phiền phức sau này, sự ghen tuông  hầu như đã xẩy ra hàng ngày, tôi nghe cô tôi nói vậy. Tôi ra đời một năm sau khi mẹ tôi lấy bố tôi. Cũng vì tôi là con trai nên sự ghen tuông càng đi đến chỗ quyết liệt hơn. Bà cả sau khi sanh người con trai đầu lòng thì sanh liên tiếp 4 người con gái. Bà đi xem bói, thầy bói nói rằng số của bố tôi chỉ có 2 người con trai thôi, bà cả nghĩ rằng bà không thể có con trai thêm nữa, vậy là tại mẹ tôi đã lấy đi phần con trai của bà. Như sợ mất thế lực với mẹ tôi nên sự ghen tuông càng tăng lên, bà cả bảo với bố tôi là một mình bà đẻ đủ rồi, lấy mẹ tôi về là để làm lụng chứ không phải để đẻ nên bà nghĩ cần phải loại trừ mẹ tôi ra khỏi nhà cho bằng được. Trời mùa Đông gía lạnh mà bà cả nhẩy xuống ao đòi tự tử. Bố tôi sống trong cảnh ghen tuông thì mệt quá, đáng lẽ làm như ông nội tôi tức là đưa bà hai ra ở riêng một nơi thì bố tôi lại không làm thế… Mẹ tôi sau khi sanh ra tôi vì không trưng diện, ăn mặc xuề xoà nên sắc đẹp không đủ để lôi cuốn bố tôi. Bố tôi một phần vì mệt với sự ghen tuông, một phần vì nhan sắc mẹ tôi không còn như xưa nữa nên ông đã thờ ơ, lạnh nhạt với mẹ tôi, để mặc mẹ tôi muốn làm gì thì làm.

      Mẹ tôi sống trong cảnh ghen tuông của bà cả và sự thờ ơ của chồng nên đã phải ra đi, chịu cảnh bơ vơ trong tay không có một đồng ! Tôi được giữ lại trong nhà để làm em một anh và bốn chị.

     Giai đọan này tôi còn bé nên không biết gì, lại nữa vì thầy bói nói số của bố tôi chỉ có hai con trai nên vai trò “con trai” của tôi đã giúp tôi đỡ khổ. Tôi thực sự khổ từ khi biết nhận thức, tức là lúc 6,7 tuổi trở đi.

     Khi tôi được 5 tuổi thì bà cả sanh thêm được người con trai nữa, thế là thầy bói đã nói sai và vai trò “con trai” của tôi không còn cần thiết, tôi như bị bỏ rơi. Hai người hành hạ tôi nhiều nhất là bà nội và người chị lớn. Bà nội rất mực yêu thương người con trai mới sanh sau này của bà cả. Bà nội yên tâm khi có được người cháu trai phòng hờ để sau này có người cúng giỗ và thờ phượng, chứ một người cháu lớn bà chưa yên tâm…

     Người ta nói đến mẹ, nói đến bà như một kỷ niệm đẹp, nào bà ôm cháu vào lòng, bà kể chuyện cổ tích cho cháu nghe, mẹ thì xoa lưng con, hát ù ơ ru con ngủ v.v.. nhưng tôi lại khác, tôi không có được cái kỷ niệm đó. Bà nội tôi và chị tôi thường hay đánh tôi vào đầu, hai người này thường dùng tay để  “cốc”  tôi. Cốc tức là cong ngược 4 ngón tay lại để chìa ra 4 đốt xương và đập vào đầu. Chỉ những ai đã bị cốc mới biết được cái đau buốt trong đầu, nhất là đầu của một đứa trẻ mới 6,7 tuổi. Tự điển Nguyễn Văn Khôn định nghiã  “cốc” ( knuckle) tức là đánh một vật gì bằng khớp xương của ngón tay, thực ra phải nói “cốc” tức là đánh vào đầu bằng khớp xương của ngón tay mới đúng, chứ nếu đánh vào tay, chân, lưng, bụng thì không đau và cũng không ai nói “cốc” vào lưng, vào bụng bao giờ.  Không những chỉ đánh mà còn chửi, mang tên mẹ tôi ra để chửi, gọi mẹ tôi là con này, con nọ, mang cả tên ông ngoại tôi ra chửi, gọi tôi là “ giống thằng cả Thiều ”  tức là tên ông ngoại tôi. Chị tôi có nét mặt thật ác, bố tôi bảo những đứa mà mắt nó có ve là ác lắm, tôi cũng không biết mắt có ve là mắt thế nào, chỉ nghe bố tôi nói vậy. Nhưng trái ngược với chị tôi, bà nội tôi ai cũng khen là bà cụ đẹp lão và phúc hậu, tóc bà bạc trắng hết cả đầu. Mỗi khi tôi thấy có người khen dù còn bé nhưng tôi cũng lấy làm ngạc nhiên, bà nội ác với tôi như thế mà họ khen bà phúc hậu kể cũng lạ. Ngày nay tôi mới hiểu ra là sở dĩ bà nội ghét tôi là để lấy lòng bà cả. Bà nội tưởng bà cả ghét mẹ tôi tức là ghét tôi nên bà nội muốn mọi người thấy rằng nay bà nội đứng về phía  bà cả và những người con bà cả. Ngoài tôi ra, bà nội chưa hề đánh hay chửi một người cháu nào bao giờ. Việc đánh chửi tôi nhiều quá đã khuấy động lương tâm bà cả. Chính bà cả đã than với nhiều người mà tôi nghe được  “Ngày xưa mẹ nó ở nhà thì bà bênh vực mẹ nó, về phe với mẹ nó, nay mẹ nó đi rồi sao bà lại ghét nó quá vậy !”.  Bà cả chỉ ghen với mẹ tôi nhưng tốt với tôi và cũng rất thương tôi, có lẽ bà tội nghiệp tôi, tội nghiệp cho một đứa trẻ cô thế. Tôi không hề oán trách bà về chuyện ghen tuông với mẹ tôi vì tôi hiểu đó chỉ là sự thường tình giữa hai người đàn bà có chung một chồng. Tôi vẫn thầm cám ơn bà đã không đối xử tệ với tôi như những người mẹ ghẻ khác. Trước khi chết bà còn căn dặn người chị kế tôi là lúc nào cũng phải nóí tôi là con trai của bà. Chỉ nói có thế rồi bà nhắm mắt. Có thể trong những giờ phút cuối cùng của cuộc đời bà đã có sự ân hận. Ngày nay tôi vẫn thờ cúng bà như mẹ ruột của tôi đúng như bà đã mong muốn.        Nỗi khổ thứ hai của tôi là bị chế diễu, trêu chọc bởi những đứa cùng lớp, cùng tuổi. Chúng gọi tôi là  “ thằng không có mẹ ”. Tôi rất xấu hổ khi có người biết tôi không có mẹ, biết tôi là con người vợ thứ hai của bố tôi. Đã thế tôi còn bị đặt tên là  “Thứ” (là con người vợ thứ) để khỏi lẫn với con người vợ cả. Cũng vì sợ có người biết và chế nhạo nên mỗi lần gặp mẹ là tôi sợ run lên. Nhưng mẹ tôi không biết tôi sợ nên bà hay đón tôi lúc tan trường. Mẹ tôi thường mặc áo nâu, yếm màu đỏ nhạt, trên đầu chít khăn mỏ quạ, miệng cười rất tươi mỗi khi gặp tôi. Mẹ tôi từ khi bỏ nhà ra đi , bà buôn bán hàng xén, gánh những đồ lặt vặt ra chợ bán như cái kim, sợi chỉ để sống qua ngày. Tôi không biết rõ mẹ ở đâu, hình như vừa ở nhà ông ngoại, vừa ở nhà họ hàng hay bạn bè gì đó. Tôi sợ bị chế diễu nên tuyệt đối không dám nghĩ tới mẹ và cũng không dám nói chuyện với ai về mẹ. Mỗi khi đi học về gặp mẹ là tôi chạy trốn để khỏi phải ở bên bà. Tôi chưa kịp trông thấy mẹ thì mấy đứa trẻ cùng lớp đã gọi  “Thứ kìa, bu của Thứ kìa !”  thế là tôi lại phải một phen sợ hãi.  Có lần đi ngược chiều với mẹ, tôi không thể chạy thoát được. Mẹ tôi nắm tay tôi và nói: “Thứ lại đây vơí bu, con của bu ngoan, bu thương con…”   Tôi giật tay ra khỏi mẹ và hét:  “Bỏ tay người ta ra, bỏ ra ! bỏ ra !”  rồi tôi vụt chạy. Cũng có lần mẹ  nắm được tay tôi lâu hơn và bỏ tiền vào túi tôi. Hôm ấy về nhà, bị bà chị lớn vặn hỏi, tôi sợ quá vất tiền vào gầm giường và thầm trách sao mẹ tôi lại cho tiền để tôi bị mắng. Tuy sợ hãi như vậy nhưng tôi lúc nào cũng mong mẹ tôi về với tôi, để tôi có mẹ ở bên như những đứa trẻ khác, tôi sẽ không bị mấy đứa trẻ chê cười là  “thằng không có mẹ” nữa. Sự khao khát có mẹ không phải chỉ trong lúc còn bé mà ngay cả khi tôi trưởng thành. Tôi  nhớ lúc đã là sinh viên ban Cao học,  tôi quen một cô nữ sinh Trưng Vương, tôi với nàng tình cảm chưa có gì đậm đà nhưng tôi quý bà mẹ của nàng, bà rất dịu dàng, ôn tồn, bà bảo tôi: “ cháu uống ly nước chanh cho mát ”, “ cháu uống ly nước trà cho ấm ” mỗi khi trời trở lạnh  hoặc “ cháu đợi một lát em ra bây giờ … ”.  Bà ngồi bên tôi, nụ cười của bà thật hiền hậu, bà hỏi han tôi những câu chân tình mà trong đời tôi chưa bao giờ có ai hỏi tôi như vậy. Mỗi lần đến chơi tôi mong được gặp bà, được nói chuyện với bà hơn là gặp người con gái út của bà. Ngày nay mỗi khi tôi nghe ai nói đến mẹ hiền là tôi liên tưởng tới bà.  Tôi cũng hay đi chơi với  người con trai thứ hai của cô tôi.  Cô tôi thương con trai rất mực, mỗi khi bọn tôi đi chơi về khuya cô tôi nhẹ nhàng trách con  “ Sao con đi chơi về khuya quá vậy? ”  hoặc “ Con nhớ về sớm không rồi lại ho ”.  Con trai cô muốn được tự do, không muốn bị gò bó, nhưng ngược lại tôi thèm có được người mẹ săn sóc như vậy mà tôi không có.  Tôi đã đọc  nhiều lần cuốn Bông Hồng Cài Áo.  Mỗi lần đọc càng khiến tôi thêm buồn, thêm tủi cho một người con có mẹ mà không được ở bên, có mẹ mà không dám nhận mẹ mình là mẹ.    

     Tôi sống trong sự khiếp sợ mọi người trong gia đình. Bản năng tự vệ của một đứa trẻ trong tôi thúc đẩy tôi phải thật ngoan, thật lễ phép cho tôi bớt bị hành hạ. Tôi nghĩ rất đơn giản là mẹ tôi bị mọi người trong nhà ghét, tôi cần phải từ khước mẹ thì tôi mới là đứa trẻ ngoan, đứa trẻ có hiếu trong gia đình.   Nhưng mấy người thợ làm cho nhà tôi, họ không biết lại chửi tôi là đứa con bất hiếu, tệ bac, không nhìn nhận mẹ đẻ ra mình. Lúc đó tôi không hiểu và lấy làm lạ tại sao tôi là đứa trẻ ngoan ngoãn, không bao giờ dám cãi lại ai trong gia đình mà họ lại chửi tôi là đứa con bất hiếu. Tôi nghe người nhà nói mẹ tôi tranh để làm vợ cả không được nên bỏ nhà ra đi. Như vậy là mẹ tôi bỏ tôi, chứ tôi đâu có bỏ mẹ, còn tôi đến gần mẹ thì tôi bị chế diễu, chê cười và nhất là sợ người nhà, tôi đâu có làm gì khác hơn được…  Sự ngoan ngoãn, sợ sệt của tôi chỉ được lòng bà cả và người anh lớn, còn đối với bà nội và người chị thì không lay chuyển được. Có lần chị lớn đánh tôi đau quá cũng động lòng bố tôi. Bố tôi không có một sự ngăn cản nào nhưng rủ tôi ra ngoài ruộng xem mấy người nông dân gặt lúa cho nhà tôi. Gió đồng thổi nhẹ làm lay động những bông lúa vàng tạo nên âm thanh êm dịu và bay lên mùi thơm của lúa mới. Tôi cảm thấy thật thoải mái, tôi chạy nhẩy tung tăng đi bắt những con cào cào, châu chấu và đã quên đi cái đau do chị tôi đánh lúc ban trưa. Nhưng tối về tôi bị người chị chửi một trận: “ Chỉ có một mình bố bênh mày, còn mọi người ghét mày, bố không làm gì được đâu ! ”. Gần đây tôi có đọc một truyện ngắn của một tác giả vô danh, đại ý câu chuyện nói về tâm sự của một người con có mẹ mù một mắt. Đứa trẻ bị bạn bè chế nhạo và gọi là  “ cái thằng có mẹ một mắt ”  nên rất xấu hổ khi đi với mẹ, không muốn ai biết về mẹ mình, không dám nhận mẹ mình là mẹ. Tôi hiểu được tâm trạng của tác giả lúc đó, tâm trạng của một đứa trẻ như tôi, nhưng tôi không hiểu được  khi tác giả của câu chuyện này lúc đã trưởng thành, đã có vợ con, mẹ từ nơi xa sang tận Singapore để thăm mà còn sợ bị vợ con chê cười để xua đuổi mẹ vì mẹ có một mắt. Điểm cảm động nhất của câu chuyện là sở dĩ mẹ có một mắt vì lúc còn nhỏ con bị tai nạn và hỏng một bên mắt người mẹ đã hy sinh để bác sĩ lấy mắt mình thay cho con nên mẹ chỉ còn một mắt. Khi người con biết được việc này thì mẹ đã chết…  Đọc xong chuyện tôi thấy bàng hoàng và gần gũi với tác giả. Nhưng tôi cầu mong đây không phải là chuyện thật, nếu có thật thì chỉ thật ở phần trên chứ không thể thật ở phần dưới, tức là phần người con đã trưởng thành, đã có đầy đủ lý trí mà còn trốn chạy mẹ, hất hủi mẹ thì không chấp nhận  được.   

     Cuộc di cư năm 1954 xẩy ra, bố tôi vào Nam,  tôi được cho đi theo để sau này săn sóc bố. Gia đình tôi ở miền quê, một vùng trước kia đã từng là nơi kháng chiến nên sự ra đi rất khó khăn, phải đi thành từng nhóm nhỏ. Bố tôi đi trước, tôi đi sau và giữ khoảng cách khá xa để không ai biết. Tôi phải gỉa làm đứa trẻ đi câu, chân đi đất, quần xắn đến đầu gối và đi tắt qua những cánh đồng lúa. Hai bố con đi bộ từ sáng sớm đến tối và nằm ở dưới thuyền bến đò Khuể chờ gần nửa đêm người lái đò mới dám chở sang đất Kiến An.  Sang được Kiến An rồi bố con tôi không biết ở đâu cho hết đêm. Ban đầu chúng tôi định ngồi ở gốc cây đa bên đường đợi sáng về sau nghĩ lại thấy tình trạng an ninh có vẻ nguy hiểm nếu ngồi đó nên đã cố gắng đi tìm một nơi khác trú ngụ cho an toàn hơn. Sao may đi được chừng nửa giờ thì gặp một ngôi chùa.  Chúng tôi vào xin tạm trú, mới đầu sư bà rất ngại vì là chùa nữ và đã quá khuya nhưng lòng từ bi đối với khách lỡ độ đường nên đã thuận cho chúng tôi ở tạm nơi gác chuông bên ngoài chứ không cho vào trong chùa. Sư bà sai người mang nước uống và cho mượn chăn đắp.  Tôi nghe tiếng cầu kinh và tiếng gõ mõ nho nhỏ biết là sư bà đã thức suốt đêm hôm đó như để cầu nguyện và canh chừng khách lạ. Sáng sớm hôm sau bố con tôi cám ơn sư bà rồi đáp xe đò đi Hải Phòng và ở trại tạm trú Lạch Chay, nơi đây cũng có rất nhiều gia đình trú ngụ để đợi chuyến tàu vào Nam. Khoảng hơn một tuần lễ hai bố con tôi xuống được tàu vào Sài Gòn.  Giai đoạn này thật là đen tối vì gia đình tôi ra đi với hai bàn tay trắng, mọi tài sản phải bỏ lại hết. Người chị lớn và bà nội bị kẹt lại ngoài Bắc không vào Nam được. Tôi được người cô, chị ruột của bố tôi ở Sài Gòn nuôi hai năm cho đi học. Cũng tại đây, cô tôi đã cho tôi biết sự thật về mẹ tôi, khác hẳn với những tin tức trước kia mà gia đình nói sai về bà.

     Tôi ý thức được và đã ngẩng đầu lên nhìn nhận mẹ đẻ ra mình chứ không như trước nữa, nhưng không có cách nào để gặp mẹ.  Khi tôi vào Nam rồi mẹ tôi vì nhớ con, đã đi khắp nơi dò hỏi, mãi sau mới biết được địa chỉ của tôi tại Saì Gòn do con trai lớn của cô tôi ở lại Hà Nội cung cấp nên đã viết bưu thiếp cho tôi. Bưu thiếp là một miếng bìa cứng to bằng nửa trang giấy học trò theo điều kiện của Ủy Hội Quốc Tế Kiểm Soát Đình Chiến chứ không được viết thư có phong bì dán kín để cho hai bên dễ kiểm soát. Đại ý mẹ tôi hỏi thăm tôi và mong tôi học giỏi, khỏe mạnh v. v. . Tôi rất cảm động về tấm lòng rộng lượng của mẹ vì đã nhiều lần tôi chạy trốn mà mẹ không bỏ rơi tôi, vẫn tìm tôi và vẫn muốn đến gần tôi. Lòng mẹ thật bao la như người ta đã nói.  Tôi viết hồi âm cho mẹ, lần đầu tiên tôi được gọi mẹ tôi là mẹ, xưng con, và an ủi mẹ tôi là vì chế độ phong kiến, lạc hậu nên hai mẹ con phải xa nhau và hứa với mẹ là sẽ chăm học rồi ký tên: “ Thứ, con trai của mẹ bên này vĩ tuyến”.  Viết xong nước mắt tôi tự nhiên chảy ra, nếu có mẹ ở bên chắc tôi đã gục đầu vào lòng mẹ để khóc thật to cho vơi đi nỗi buồn bao năm tôi phải ôm giữ. Sau này tôi được biết khi nhận được tin, mẹ tôi mừng lắm và mang tờ bưu thiếp đi khoe với mọi người là tôi không còn trốn chạy mẹ tôi. Mẹ con tôi đã nhận nhau, hiểu nhau và thương nhau tuy không còn cơ hội gần nhau nữa…

     Cuộc chiến mỗi ngày một khốc liệt, thư từ Nam-Bắc bị gián đoạn, tôi không sao liên lạc được với mẹ tôi thêm một lần nào nữa kể từ đấy.

      Rồi vận nước nổi trôi, tôi sang được Hoa Kỳ. Sau một thời gian đời sống nơi đây đã tạm ổn định, đường bưu điện giữa hai quốc gia Mỹ và Việt Nam được thiết lập, tôi cố gắng liên lạc về  Sài Gòn để nhờ tìm mẹ. Tiếc thay, tôi được tin mẹ tôi đã qua đời từ lâu tại vùng quê xứ Bắc. Mẹ tôi chết trong cô đơn, mang theo  xuống huyệt lạnh tất cả nỗi buồn khổ của một người đàn bà không chồng, không con bên cạnh…

     Hôm nay là ngày giỗ mẹ,  tôi viết những dòng này là tâm sự của một người con suốt đời không có mẹ ở bên và thành kính dâng lên hương hồn mẹ như một nén nhang thắp muộn.

     Cám ơn mẹ đã gửi bưu thiếp cho con để trong đời con được một lần gọi “ Mẹ ”.  

 Hoàng Nguyên Linh

 (Trích trong tập truyên “Mẹ Và Những Mùa Xuân” của Hoàng Nguyên Linh)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở MẸ TÔI_Hoàng Nguyên Linh

Tướng “Sáu Lèo” Nguyễn Ngọc Loan _ Chu Kim

  Tướng “Sáu Lèo” Nguyễn Ngọc Loan                             – Chu Kim                             

(Viết để bái vọng hương linh Tướng Nguyễn Ngọc Loan, người đã một thời đảm nhiệm chức vụ Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Quốc Gia VNCH)

       Ở tuổi bảy mươi, người ta thường nghĩ đến hưởng nhàn, quên đi mọi sự đời để vui chơi đây đó cho khoẻ cái thân già. Tôi thì khác, tuổi càng cao, ký ức thời gian càng cuồn cuộn dâng lên, lôi kéo hồn tôi tìm về quá khứ, một thời mà tôi đã sống và làm việc cùng với bạn bè, cấp trên, cấp dưới của tôi trong cái gia đình Cảnh Sát Quốc Gia đầy nhọc nhằn vất vả ấy. Hơn bốn chục năm đã trôi qua, lòng tôi vẫn mang nặng những hoài niệm về một vị Tướng, người đã một thời đảm nhiệm chức vụ Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Quốc Gia và Cục Trưởng Cục An Ninh Quân Đội. Ông có cái tên gọi lên êm ái như tên của một nữ nhân, nhưng giới truyền thông và bạn bè đương thời thường gọi ông bằng một biệt danh “Sáu Lèo”. Chẳng biết biệt danh này do đâu mà có, nghe như đượm chất khôi hài, thế mà ông vẫn hề hà chấp nhận như một cái tên trời cho. Đó là Tướng Nguyễn Ngọc Loan!

Ngày ông về làm trưởng tộc gia đình CSQG, tôi chỉ một lần được thấy ông mặc quân phục ka-ki màu vàng, đội chiếc mũ chào mào và đeo hững hờ cặp lon ba bông mai bạc trên đôi vai gầy guộc khi ông bước lên lễ đài trong buổi bàn giao. Sau đó, chẳng biết ông để quên cặp lon ở đâu mà chỉ thấy ông đến nhiệm sở trong bộ cánh bèo nhèo, quần dài, áo sơ mi cộc tay và đôi dép nhựa lẹp xà lẹp xẹp. Ngay cả khi lên cấp Tướng trang phục cũng vẫn thoải mái như vậy. Có ai cắc cớ hỏi ông ngôi sao để đâu, ông chỉ tủm tỉm trả lời: – “Ngôi sao tớ gửi trên trời!” Thời gian đó, tôi đang làm việc tại Sở Tâm Lý Chiến dưới quyền chỉ huy của Chánh sở Võ Lương, một Quận trưởng CSQG có nhiều thâm niên công vụ và dày dạn kinh nghiệm. Ông vừa có tài ứng biến lại vừa khéo léo trong cách ứng xử với mọi người. Tôi và thi sĩ Quách Đàm phụ trách soạn bài vở cho chương trình phát thanh hằng tuần của CSQG trên đài Saigon. Anh Quách Đàm, ngoài tài viết đầy truyền cảm mà nhiều thính giả đã được thưởng thức mỗi khi anh cất tiếng lên trong chương trình Thi Văn Tao Đàn do anh Đinh Hùng làm chủ sự. Con người tài ba đó lại mang một cái tật “bất cần đời”, không xu nịnh cấp trên, không bon chen danh lợi để đến khi nhắm mắt lìa trần cũng vẫn chỉ là một Phó Thẩm Sát Viên nhỏ bé.

Tướng Loan ngồi chức vụ chưa được bao lâu thì miền Trung và thủ đô Saigon bỗng bùng lên những cuộc chống đối chính phủ do Thích Trí Quang phát động nhằm hạ bệ Tướng Nguyễn Cao Kỳ ra khỏi chức vụ chủ tịch Uỷ Ban Hành Pháp Trung Ương. Miền Trung ồn ào biểu tình, lính tráng công chức thi nhau rã ngũ đào nhiệm! Thành phố Saigon, vang động hò hét xuống đường, phố xá ngổn ngang bàn thờ Phật! Trước cảnh dầu sôi lửa bỏng, Tướng Loan đã tức tốc điều động một số sĩ quan An Ninh Quân Đội và một số viên chức CSQG ra miền Trung để thay thế những cấp chỉ huy nhút nhát bạc nhược hoặc bị lôi cuốn vào những âm mưu đen tối. Những người được ông tuyển chọn đều có đầy đủ khả năng ứng phó và lòng can đảm dám gồng mình chấp nhận những hậu quả rủi ro đến với bản thân. Điển hình cho những nhân tố tích cực này là Quận Trưởng Võ Lương được bổ nhiệm Giám đốc Nha CSQG Vùng I, Quận Trưởng Trần Minh Công giữ chức vụ Trưởng Ty CSQG Đà Nẵng. Tại thủ đô Saigon, tướng Loan đã cương quyết làm tròn sứ mạng của mình không phải bằng cách ngồi tại văn phòng chỉ tay hò hét ra lệnh mà bằng cách đưa cá nhân mình vào nơi sôi động. Vị Tướng không giày không lon đó đã chấp nhận những ngày giờ sống bụi đời trên đường phố, sát cánh cùng đội ngũ nhân viên, trực tiếp nhận trách nhiệm và chia xẽ nỗi gian nan nhọc nhằn cùng thuộc cấp. Từng nơi từng lúc, ông tiến thẳng đến đám đông cuồng nộ, giải thích thuyết phục ai về nhà nấy, đồng thời kính cẩn vái lạy trước các bàn thờ Phật, xin phép được đưa ảnh tượng hương khói trở lại chùa chiền cho xứng đáng với vị trí trang nghiêm thờ phượng. Bóng đen u ám của một biến cố ngậm ngùi đã được xua đi, Saigon và miền Trung lại rạng lên những tia sáng thanh bình.

Lần đầu tiên tôi được tháp tùng Tướng Loan là dịp đi theo ông Chánh Sở Tâm Lý Chiến làm tin cho buổi phát quà Trung Thu tại Cô Nhi Viện Gò Vấp. Khi xe chúng tôi vào trong sân Cục An Ninh Quân Đội, đã thấy Tướng Loan ngồi chờ sẵn trên xe Jeep lùn của ông, miệng phì phèo điếu thuốc, tay cầm chai bia 33 lắc qua lắc lại. Ông Dẫn tiến đến đứng nghiêm toan giơ tay chào thì Tướng Loan phất tay như ra hiệu bảo về xe đi và nói: – “Thôi, mình đi chứ.” Lúc sắp khởi hành, Tướng Loan bỗng xuống khỏi xe, tiến về phía chúng tôi và nói với tài xế của ông Dẫn: – “Chú em ra ngồi phía sau, để tớ lái xe cho ông Chánh Sở.” Trước một tình huống quá bất ngờ, ông Dẫn bị lúng ta lúng túng, chỉ còn biết ngồi cứng người như tượng gỗ, hai tay thu gọn trong lòng bắp vế. Tôi và tài xế đã phải nín cười đến đau cả bụng.

Tới cổng Cô Nhi Viện, Tướng Loan rời bỏ tay lái, lè phè lê đôi dép nhựa đi cạnh ông Chánh Sở uy nghi sắc phục lon mũ chỉnh tề đang giơ tay chào hàng quân tiếp đón. Thình lình, ông Trưởng Chi Gò Vấp, người phụ trách dàn chào chạy đến bên tôi hỏi nhỏ: – “Nghe nói có Chuẩn Tướng đến, sao giờ này chưa thấy?” Tôi chỉ tay về phía trong và nói: – “Ông Tướng kia kìa, người mặc thường phục đó.” Trưởng chi thảng thốt kêu lên: – “Chết cha! Tôi cứ tưởng đó là anh tài xế của ông Chánh Sở!” Tướng Loan là vậy đó! Một con người bình dị, không câu nệ hình thức, không đặt nặng lễ nghi. Hôm đó, chính vị Tướng Tổng Giám Đốc CSQG là người đã tạo nên một bầu không khí đầy ấm cúng, sưởi ấm những tâm hồn trẻ thơ sớm mang một số phận hẩm hiu từ lúc chào đời khi ông đến trọ chuyện nâng niu vỗ về và tặng quà cho từng em nhỏ. Câu ví: “Tướng Loan hiền như ma-sơ” có lẽ từ đó mà ra.

…….. Vào những ngày tháng giữa năm 1967, thời kỳ tiền bầu cử Tổng Thống, tôi được tướng Loan gọi ra gặp riêng ông hai lần tại cục An Ninh Quân Đội để gợi ý cho tôi viết một số bài quan điểm liên quan đến cuộc vận động bầu cử đồng thời ông cho biết một số kỹ xảo sẽ áp dụng trong việc thông tin tuyên truyền yểm trợ cho một liên danh. Tôi xin mạn phép không kể ra đây vì người được ông ủng hộ đã làm ông quá thất vọng đến nỗi có lúc ông phải kêu lên “đem bắn tên đó cho rồi.” Đối với người bạn đồng minh Hoa Kỳ, tướng Loan không tin cậy cho lắm từ khi CSQG bắt một tên có dấu tích là một tên cán bộ cộng phỉ nội tuyến trong Toà Đại Sứ Hoa Kỳ mà toà đại sứ này cứ khăng khăng đòi thả. Bực mình vì người Mỹ quá xen sâu vào nội bộ Việt Nam nói chung và hoạt động của CSQG nói riêng, Tướng Loan xin từ chức, nhưng Tổng Thống Thiệu không chấp thuận. Nhưng ngày giáp Tết Mậu Thân, trong lúc đồng bào đang nô nức chuẩn bị đón Xuân, Tướng Loan đã âm thầm cùng đoàn tuỳ tùng rong ruổi đến thăm các ty CSQG xa xôi hẻo lánh, những nơi được mệnh danh là chốn khỉ ho cò gáy, ngày đêm phải đương đầu với những áp lực quấy phá của lũ khủng bố phiến cộng bạo tàn. Phước Long, Bình Long, Kiến Tường, Kiến Hoà, Ninh Thuận, Quảng Đức, Hậu Nghĩa là những nơi tôi được theo gót chân ông. Mỗi buổi sáng, chúng tôi tụ tập tại tư dinh của ông trong trại Phi Long, Tân Sơn Nhứt để rồi từ đó lên hai chiếc trực thăng đến các nơi trên. Ông đến để nắm rõ tình hình địa phương, để thăm hỏi nhân viên các cấp và để tặng chút tiền làm tiệc Tất Niên cho anh em. Đến bất cứ đơn vị nào, ông đều đi quanh xem xét hệ thống phòng thủ và cho ý kiến tại chỗ. Với các đơn vị có nhiều vọng gác xây bằng bê-tông kiên cố, ông nhẹ nhàng nhắc nhở: – “Nước mình nghèo, phải đánh giặc theo lối nhà nghèo, ụ bê tông cứng nhưng không chịu đựng loại đạn xuyên phá, tốt hơn nên dùng nhiều bao cát vừa đỡ tốn kém lại vừa an toàn.”

Những ngày giờ đi theo, tôi thấy ông sống và làm việc như một con thoi, quên cả giờ giấc với gia đình, quên cả những cơn đau bao tử và quên cả những hiểm nguy đến với bản thân. Một lần, ngồi trên máy bay, dáng vẻ mỏi mệt, ông che miệng ngáp dài rồi nói một cách tự nhiên: – “Tối hôm qua tớ chẳng ngủ được chút nào, bà ấy cằn nhằn cả đêm chỉ vì làm việc mà quên đi lời hứa về đúng giờ để cùng ăn một bữa cơm với gia đình.” Hình như cách ăn uống của ông cũng đơn giản như cách ăn mặc. Trong các bữa ăn tại các ty CSQG hoặc tại các toà Tỉnh Trưởng, tuy có đủ thịt cá, rượu Tây thuốc Mỹ trên bàn, tôi vẫn chỉ thấy ông nhâm nhi một tô hủ tiếu hoặc tô bún canh bên cạnh chai bia 33 và gói thuốc lá Ruby màu hồng.

Nói về máu “liều” của Tướng Loan chắc ít ai bì kịp. Tôi nhớ lần đến thăm Ty CSQG Hậu Nghĩa, sau khi dùng bữa cơm khét do Đại Tá Tỉnh Trưởng Mã Sanh Nhơn thết đãi, ai ai cũng chuẩn bị lên trực thăng ra về. Lúc đó vào khoảng 3 giờ chiều, bỗng Tướng Loan đổi ý, ông bảo hai phi công lái trực thăng về trước để ông và đoàn tuỳ tùng dùng đường bộ cho thoải mái. Cái quyết định “bốc đồng” đó đã báo hại Trưởng Ty Ngô Văn Huế phải một phen hết vía chỉ vì con đường độc đạo đó thường bị bọn khủng bố cộng phỉ gài mìn phục kích bất ngờ. Trời cuối Đông, mặt trời muốn đi ngủ sớm thế mà Tướng Loan cứ nhất định phải ghé thăm một đơn vị Cảnh Sát Dã Chiến nơi mà các nhân viên của ông đã oanh liệt chống trả một cuộc tấn kích của giặc thù vào đêm hôm trước. Ông đến bắt tay từng chiến sĩ, ngợi khen tinh thần quả cảm và ghi công trạng của tất cả mọi người. Chiều hôm đó, khi về đến nhà, ông kéo chúng tôi vào một căn phòng nhỏ, chỉ vào hai thùng giấy lớn và khoe: – “Đây là số pháo hồng do một người bạn ở Hồng Kông gửi biếu.” Nói xong, ông tự tay mở một thùng phát cho mỗi người ba phong, ngoại trừ Thiếu Tá Tiến, Chỉ Huy Trưởng Tổng Hành Dinh đang ngẩn tò te chìa tay ra hỏi: – “Còn phần của em đâu?” Tướng Loan không đưa pháo mà còn cười hỏi lại: – “Cậu hả? Chuyện đó tính sau. Cậu về tắm rửa sạch sẽ rồi lên đây cùng tôi khuân thùng pháo đây ra dinh Độc Lập để hai ông Thiệu, ông Kỳ làm gì thì làm, nhà mình thấp lè tè treo vào đâu.” Thiếu Tá Tiến vừa gãi đầu vừa quay sang chúng tôi phân bua: – “Các cậu thấy chưa, Chuẩn Tướng thấy tôi đẹp trai nên đi đâu cũng kéo theo.” Tướng Loan tảng lờ như không nghe, nhưng miệng lại tủm tỉm cười thích thú.

Rồi Xuân Mậu Thân đã trở về! Xuân đến từng nhà, Xuân vô giáo đường, Xuân lên đình chùa, Xuân vào lăng miếu. Hương Xuân tràn ngập mọi nơi. Tiếng Xuân vang vọng trên đài, ngọt ngào đi vào lòng người bằng những lời thơ cung nhạc chúc tụng một năm mới an khang hạnh phúc. Nửa đêm về sáng của ngày đầu năm, giữa lúc khói hương thiêng liêng còn đang nghi ngút thì bỗng nhiên từng loạt âm thanh của súng đạn vang lên khiến ai nghe cũng phải bàng hoàng kinh động. Thoạt đầu, tôi cứ nghĩ đó là một cuộc đảo chánh nên vội vặn radio để nghe tin tức. Im lặng và im lặng! Đài không phát ra một tiếng nói hay một lời ca. Trong khi đó, từng loạt đạn vẫn tiếp tục vun vút bay trên nóc nhà kèm theo tiếng la oai oái “Vi Xi! Vi Xi!” của những người lính Mỹ đóng quân trong khu nhà của bà Bút Trà trên đường Nguyễn Huệ cạnh bên con hẻm nhà tôi. Đêm đó, tiếng trẻ thơ cứ thét lên, sau mỗi loạt súng nổ, tôi vội đem hai cháu nhỏ, nhét chúng nằm sát dưới chân cầu thang còn mình và vợ ngồi bó gối ngay bên cạnh để chờ trời sáng. Khoảng sáu bảy giờ sáng, đài bỗng vang lên tiếng nói của Phó Tổng Thống Kỳ, nội dung vắn tắt cho biết bọn khủng bố việt cộng đã bội phản những cam kết hưu chiến trong ba ngày Tết, xua quân tổng công kích 32 tỉnh lỵ và thủ đô Saigon. Tướng Nguyễn Ngọc Loan đã đích thân chỉ huy lức lượng Cảnh Sát Dã Chiến và Quân Đội quét sạch bọn giặc cướp cộng phỉ ra khỏi Đài Phát Thanh Saigon từ lúc 4 giờ sáng. Tôi vừa mở cửa đã thấy bốn tên cán binh cộng phỉ tay ghìm súng AK, băng đạn quấn quanh mình, đứng khuất trong hè nhà tôi và các nhà đối diện, mắt đăm đăm nhìn ra đường cái. Không hiểu sao lúc đó tôi lại tỏ ra rất bình tĩnh, bình tĩnh quan sát trang phục của bọn chúng và còn thầm nghĩ bọn chúng là những binh sĩ thuộc một đơn vị chính quy nào đó chứ không phải là bọn du kích thổ phỉ. Cùng lúc, một số đông đồng bào từ trong các hẻm sâu phía trong ùn ùn bồng bế dắt dìu người già con trẻ chạy ra, mặt người nào cũng xanh như tàu lá. Họ vừa đi vừa thông báo cho mọi người biết bọn khủng bố việt cộng về nhiều lắm, tràn ngập trong khu Cây Quéo, khu phía sau chùa Quảng Đức, khu gò mả và khu đường rầy dẫn đến Cầu Hàng. Tôi vội quay vào nhà, quơ quào ít quần áo rồi cùng vợ con lên xe máy đến nhà người quen ở chợ Tân Định. Đến nơi, tôi mới chợt nhớ để quên bóp giấy tờ ở nhà, đành phải một mình quay lại. Về tới đầu hẻm, một người cùng xóm ở phía ngoài khuyên tôi đừng vào vì mới tức thì có mấy nhân viên Cảnh Sát sắc phục đã bắn nhau với bọn khủng bố việt cộng ở phía trong. Lúc đó, trực thăng võ trang đã xuất hiện. Hai con chuồn chuồn bay lên xà xuống khạc đạn ào ào vào những mục tiêu. Đạn dưới bắn lên, đạn trên bắn xuống, trận chiến cứ thế tiếp diễn vô cùng ngoạn mục. Tôi rời khỏi xóm mà lòng cứ nơm nớp lo sợ căn nhà mình bị ăn đạn phá.

Đến Tổng Nha CSQG, tôi nhận lệnh đi cùng một nhiếp ảnh viên lên vùng Ngã Bảy nơi tướng Loan đang trực tiếp chỉ huy các đơn vị Cảnh Sát và Quân Đội bao vây cô lập và tiểu trừ các đám giặc cướp cộng phỉ xâm nhập. Ông mắc đồ trận, áo giáp khoác ngoài, đầu không nón sắt, sông pha vào nơi súng nổ đạn rơi như một người lính can trường không nề nguy hiểm. Phải nói rằng, trận chiến nơi đây đã diễn ra ác liệt ngay từ những giây phút ban đầu trên một địa hình rộng lớn bao gồm các khu vực Phú Thọ, Nguyễn Tri Phương, hẻm Chuồng Bò, Vườn Lài… Khởi đầu, bọn việt cộng tấn công vào doanh trại của Biệt Đoàn 222 Cảnh Sát Dã Chiến ở góc đường Nguyễn Văn Thoại và Trần Quốc Toản giữa lúc toàn thể nhân lực ứng chiến được điều động đi giải toả Đài Phát Thanh Saigon, số nhân viên phòng thủ còn lại khoảng hơn bán tiểu đội. Lợi dụng thời cơ, bọn việt cộng tập trung lực lượng ào ạt xua quân từ phía vườn ươm cây ở góc đối diện toan chiếm cho bằng được doanh trại này. Nào ngờ, các chiến sĩ CSDC đã bình tĩnh nã từng loạt đại liên khiến bọn chúng không sao vượt qua ngã tư, đành phải mang theo một số đồng bọn thương vong rút về khu chợ Thiếc. Cũng thời gian đó, một số lớn bọn việt cộng nằm vùng cùng các tên chỉ điểm giả dạng nhân dân nổi dậy chia nhau chặn đường chặn ngõ lùng xục trong các khu dân cư bắt bớ một số Quân Nhân, Cảnh Sát và Công Chức dem ra xử bắn với lời kết tội “có nợ máu với nhân dân”. Tôi có một người em họ là Đại Úy Quân Y cũng bị bắt vào đêm đó. Chúng lột trần em tôi, trói rặt cánh khuỷu toan đem xử bắn. Trong lúc thế cùng, em tôi la lên: – “Tôi là Bác Sĩ Quân Y bị trưng dụng vào quân đội, không hề có nợ máu.” Tên chỉ huy nghe vậy, bèn nói: – “Nó còn dùng được, đưa nó ra chỗ thương binh.” Lúc băng bó cho các tên cán binh khủng bố cộng phỉ, em tôi đã lẩn vào nhà dân trốn thoát.

Ngày 1-2-1968, Tướng Loan đã xử bắn tên khủng bố cộng phỉ Nguyễn Văn Lém tức Bảy Lém, bí danh Ba Lốp ngay trên đường phố khu Ngã Bảy để rửa hận cho những đàn em của ông đã bị tên này sát hại dã man. Ngay chiều hôm đó, tôi rủ hai người bạn phóng viên báo ngoài đánh một vòng đảo qua Dinh Độc Lập, Toà Đại Sứ Mỹ trên đại lộ Thống Nhất. Hai phóng viên cho biết có chụp một vài hình ảnh những tên khủng bố việt cộng bị chết trên lề đường và trong khuôn viên Toà Đại Sứ. Từ đó chúng tôi xuống đường Hai Bà Trưng nồi rẽ vào đường Phan Thanh Giản tìm về xa lộ. Bên lề con lộ thênh thang, năm bảy xác những tên khủng bố cộng phỉ nằm ngửa trơ trơ với sợi dây thừng cột cứng ở cổ chân. Bọn chúng được đồng đội kéo đi, nhưng nửa chừng bị bỏ lại. Đến khu Hàng Sanh, chúng tôi rẽ về khu Lăng Tả Quân tiến đến đường Ngô Tùng Châu để nhập vào khu Cây Quéo. Đường xá trong khu vực này vắng teo vắng ngắt, cả ba chúng tôi bắt đầu thấy lạnh xương sống khi phát hiện ra một số xác những tên bộ đội cộng sản xâm lược nằm rải rác khắp mọi nơi trong vườn ngoài ngõ. Tôi run cả người, chỉ muốn quay lại. Nhưng trót vào sâu rồi, đành chịu. Ba xe gắn máy của chúng tôi cứ luân phiên đổi chỗ, anh nào cũng muốn mình vào giữa. Bất ngờ, từ trong căn nhà có khu vườn rộng vang lên tiếng gọi: – “Các chú ơi! Xin vào giúp một tay.” Chúng tôi vừa ngừng xe, một bà và hai thiếu niên chạy ra kéo chúng tôi vào nhà, chỉ cho thúng tôi thấy hai xác khủng bố việt cộng đặt trên bộ ván gõ với tờ giấy viết nguệch ngoạc “nhờ đồng bào chôn cất giùm” Bà giơ tay phàn nàn: – “Thiệt là khổ! Chết rồi thì để bên ngoài cho xong, đem vào nhà làm chi cho đám nhỏ sợ hết hồn hết vía. Bây giờ tôi nhờ các chú khiêng họ ra ngoài đường để chính quyền chôn cất.” Anh em chúng tôi làm giúp bà, lòng thấy áy náy tội nghiệp cho những người lính bên kia bị bọn đầu sỏ độc tài xô đẩy họ vào nơi tử địa.

Mặt trận vùng ngã Bảy đã gần như đi vào kết thúc. Cộng quân ở nơi này, một số bị bắt, một số ra chiêu hồi, số còn lại co cụm trong khu dân cư đong đúc như cá nằm trong rọ chờ ngày bị tóm. Khi Tướng Loan ra lệnh cho Cảnh Sát và Quân Đội khai pháo dứt điểm toàn bộ thì cái đám tàn binh ngoan cố đó đã giở một thủ đoạn đê hèn, táng tận lương tâm. Chúng khống chế cư dân không cho ra ngoài đồng thời dùng xăng đốt nhà gây nên những đám cháy mịt mù khói lửa để trà trộn trong dân tìm đường tẩu thoát. Nhiều xe cứu hoả đước điều động đến. Lúc đầu, các nhân viên chữa cháy rất rụt rè e ngại chưa dám áp sát vào nơi súng đạn thét gầm, tướng Loan đã phải giựt lấy vòi rồng phun nước lên cao khống chế từng cơn bão lửa. Hình ảnh hiên ngang đó, tôi đã dùng làm bìa cho Nguyệt San Rạng Đông trong số báo đầu năm Mậu Thân. Hàng trăm cán binh địch đã bị bắt lôi ra tập trung trước tiệm đò gỗ trên lề đường Minh mạng trong trận đánh cuối cùng ở khu vức ngã Sáu trước sự chứng kiến của tướng Loan. Ông đi loanh quanh quan sát từng người. Thấy ai bị thương nặng, ông nhắc nhở nhân viên Y tế băng bó gấp cho họ và chuyển đến bịnh viện ngay. Ngày hôm sau, Tướng Loan đã cùng Đại Tá Đô Trưởng Văn Văn Của đến thị sát mặt trận tại Quận 8 bên kia cầu chữ Y. Phái đoàn đã dùng con đường đi qua cầu xóm Củi men theo đường Phạm Thế Hiển tiến đến ty CSQG quận 8. Đây là một ty CSQG nằm ở vị trí ven đô trên một diện địa trống trải đồng ruộng mênh mông và sông rạch chằng chịt. “

….Khởi đầu, cộng quân dàn binh ngay trên đồng ruộng ở phía sau ty, bắn hạ một nhân viên Cảnh Sát gác trên chòi cao đồng thời dùng B40 chóc thủng một lô cốt ở góc trái phía sau với ý đồ cho vài đắc công chui qua lỗ hổng tung lựu đạn và trái phá gây náo loạn phía trong trước khi xua quân chiếm lĩnh mục tiêu. Một vài nhân viên Cảnh Sát “điếc không sợ súng” đã bò ra lô cốt phục sẵn phía trong tỉa từng tên một và lấy xác chúng chèn vào lỗ hổng. Đội hình phòng thủ trong ty đã được củng cố, bình tĩnh chống lại từng đợt tấn công để chờ lực lượng tiếp viện. Trời gần sáng, trực thăng võ trang xuất hiện đổ rốc-kết và đại liên lên đầu giắc khiến chúng phải rúc vào các khu dân cư ẩn náu và rút về khu vực phường Rạch Ông mang theo một số thương vong đồng đội chất lên ghe thuyền luồn trốn trong các kinh rạch…..” Trên đây là lời kể lại của Phó Ty Khưu Ngọc Đa, một người bạn cùng khoá 14 Biên Tập Viên Rạch Dừa với tôi, trong lúc đoàn xe di chuyển từ ty CSQG đến vùng Rạch Ông. Anh Đa đang thao thao bắt tuyệt, bỗng một loạt đạn AK vun vút lướt trên nóc xe, anh vẫn giữ vững tay lái tiếp tục mối theo phái đoàn và quay sang tôi cười khì khì sảng khoái như thầm hỏi tôi “sợ không?” Chiến cuộc tại thủ đô Saigon đã hoàn toàn chấm dứt sau ngày hôm đó, nhưng lòng tôi vẫn không sao quên được những hình ảnh điêu tàn do Cộng quân gây ra. Hình ảnh thương tâm mà tôi không thể nào quên là hình ảnh một gia đình năm người co quắp ôm nhau chết cháy tại khu Nguyễn Thiện Thuật gần chợ Bàn Cờ…

Gần một tháng sau, tôi và một nhiếp ảnh viên lại được một dịp theo chân tướng Loan phi hành ra Huế. Chuyến đi vỏn vẹn có một ngày. Ông trở về cái nơi chốn mà ông đã sống trong những ngày niên thiếu không phải để tìm lại cảnh xưa chốn cũ mà là để chia xẻ những đau thương mất mát của tất cả mọi người ở chốn Cố Đô. Vừa ra khỏi phi trường Phú Bài, Tướng Loan đã cùng Giám Đốc Võ Lương bắt tay vào việc ngay. Ông đến thăm các đơn vị Cảnh Sát, ngậm ngùi nhìn những nấm mồ chôn tạm ngay trong khuôn viên của cơ quan. Ngay sau đó, ông cùng các viên chức CSQG địa phương rong ruổi trên đại lộ Lê Lợi vượt qua cầu Bạch Hổ, men theo bờ sông Hương, vượt qua cửa Thương Tứ đến chợ Đông Ba rồi qua Gia Hội để động viên tinh thần những nhân viên Cảnh Sát Quốc Gia đang tham gia xây dựng cư xá Tình Thương. Đây là một công trình do ngành CSQG đài thọ từ A đến Z mà Tướng Loan coi đó như một món quà trao tặng đến các gia đình đồng bào nạn nhân chiến cuộc đang gặp quá nhiều khó khăn. Chiều về, khung cảnh cố đô mới ảm đạm làm sao! Phố xá thưa thớt bóng người, nhà nhà cửa đóng then cài. Đất Thần Kinh ủ rũ như một người bịnh chưa hồi lại sức. Cầu Tràng Tiên gục đầu trên mặt Hương Giang như cùng thì thầm thổn thức tiếc nuối cho những ngày thơ mộng thuở nào: Tôi đứng trên đầu cầu phía chợ Đông Ba nhìn xuống phía dưới thấy hai em gái nhỏ khoảng chín mười tuổi mặc áo màu hồng đang đưa đôi bàn tay bốc từng bụm cát đắp lên hai ngôi mộ mới. Tự nhiên tôi thấy tim mình se thắt lại, thầm cầu mong đó không phải là chỗ ở của cha mẹ các em.

Sau một đêm không ngủ, sáng hôm sau chúng tôi lại theo gót tướng Loan trở về Saigon. Tôi vội ghi bài ký sự “Một ngày ở Huế” cho số báo tới với hai câu thơ mộc mạc mở đầu: Ngày xưa Huế đẹp Huế mơ Bây giờ Huế bị xác xơ điêu tàn.

Cuộc tấn công của bọn cộng phỉ vào những ngày Tết Mậu Thân 1968 đã kết thúc với những kết quả vô cùng thê thảm và nhục nhã cho bọn chúng. Hơn sáu mươi ngàn tên cán binh đối phương bị loại khỏi vòng chiến kéo theo bao nhiêu sinh mạng của đồng bào vô tội bị chúng sát hại man rợ và để lại một đống hoang tàn trên khắp miền Nam tự do và cũng không hề có bất cứ cuộc tổng nổi dậy nào như bọn chúng mộng du ngáo đá hoang tưởng Vài tháng sau, bọn lãnh đạo ngoan cố bất nhân cộng sản miền Bắc lại xua đám tàn quân tiến hành một trận tấn công đợt hai giữa lúc nhân dân miền Nam còn đang thổn thức ngậm ngùi sau cơn ác mộng ngày Xuân. Tướng Loan, một lần nữa cùng lực lượng Cảnh Sát Thủ Đô xuất trận vào lúc 4 giờ sáng tiến thẳng về trại gà Thanh Tâm bên xa lộ ngăn chặn không cho địch quân tấn chiến Đài Phát Thanh Saigon. Tám giờ sáng hôm đó, tôi và một nhiếp ảnh viên được lệnh lên đường thu lượm tin tức. Đến cầu Phan Thanh Giản, thấy súng bắn rát quá, người tài xế nhất định quay xe trở lại. Ba giờ chiều cùng ngày, tin tức từ Trung Tâm Hành Quân cho biết Tướng Loan đã bị trúng đạn gẫy chân và được đưa về điều trị tại bệnh viện. Để giữ vững tinh thần chiến đấu của các chiến sĩ đang chiến đấu và đánh tan các lời đồn đãi bất lợi, Thiếu Tá Chánh Văn Phòng đã cho chụp một bức hình tướng Loan đang nằm trên giường bệnh, nói trong máy bộ đàm phổ biến trên các nhật báo với lời chú thích “Mặc dù bị thương, Tướng Nguyễn Ngọc Loan, Tổng Giám Đốc CSQG vẫn tiếp tục chỉ huy các lực lượng hành quân truy quét bọn giặc cướp việt cộng. Cùng thời gian này, một biến cố đau lòng đã xảy ra tại Trường Phước Đức trên đường Khổng Tử thuộc quận 5 Chợ Lớn. Khoảng bốn năm giờ chiều, bộ tham mưu hành quân CSQG đang họp tại trường này bỗng lãnh một trái đạn rocket từ trên trực thăng Mỹ bắn xuống gây tử thương cho Đại Tá Luân, Giám Đốc Nha CSQG Thủ Đô; Quận Trưởng Nguyễn Ngọc Xinh, Phụ Tá Giám Đốc Nha CSQG Thủ Đô; Thiếu Tá Lê Ngọc Trụ, Trưởng Ty CSQG quận 5 cùng một số sĩ quan khác bị thương trong đó có Đại Tá Trần Văn Phấn, Trưởng Khối Nhân Huấn thuộc Tổng Nha CSQG cụt một chân. Tôi đến làm bản tin lễ truy điệu tại hội trường nha CSQG Saigon mà lòng không sao kìm được nỗi xúc động bồi hồi khi thấy Thủ Tướng Trần Văn Hương đứng trước các quan tài đầm đìa nước mắt. Ít ngày sau, Tướng Nguyễn Ngọc Loan âm thầm rời khỏi chức vụ và Đại Tá Trần Văn Hai về thay thế. Phần tôi, sau một lần họp với Thiếu Tá Trần Hữu Kinh, Chánh Văn Phòng Đặc Biệt của Đại Tá tân Tổng Giám Đốc, tôi cũng xin rút lui khỏi việc làm báo để đi một nơi xa xôi làm công tác khác. Từ đó, tôi không có dịp gặp lại Tướng Loan nữa, nhưng trong lòng vẫn luôn luôn nhớ về ông, một tôn trưởng đầy quí mến trong gia đình Cảnh Sát Quốc Gia VNCH.

  Chu Kim . ( Saigon trong tôi )

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Tướng “Sáu Lèo” Nguyễn Ngọc Loan _ Chu Kim