NGUYỆN CẦU – Thơ Lệ Khanh

NGUYN CU

d429d2d32f89e1341580faa47d00596c

Quỳ chấp hai tay trước Tượng Đài,
Nguyện cầu Từ Phụ hướng tương lai.
Đưa dân thoát ngục, rời tăm tối,
Dẫn nước vươn mình, khỏi lụy tai.
Cộng bán non sông không giấu diếm,
Tàu vô lãnh hải chả kê khai.
Uất hờn dâng tựa muôn triều sóng,
Từ Bắc-Trung-Nam đến xứ ngoài.

Lâm râm khấn lạy dưới chân Đài,
Phật Tổ xin Ngài bảo vị lai.
Khiến gái nước Nam tâm dũng cảm,
Cho trai đất Việt trí mưu tài.
Đuổi quân xâm lấn, công còn mãi,
Dẹp lũ gian tham, sức chẳng hoài.
Tổ quốc bốn ngàn năm sáng chói,
Vang lừng chiến sử dễ gì phai.

LỆ-KHANH

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở NGUYỆN CẦU – Thơ Lệ Khanh

Niềm Đau Tái Ngộ ( ST từ Đặc san Lâm Viên online)

NIỀM ĐAU TÁI NGỘ

Trần Phố Hội

Tuy xa quê hương đã hơn 40 năm Trình vẫn không quên hình ảnh ở quê nhà. Có nhiều đêm khó ngủ Trình nằm cả giờ hình dung lại khung cảnh ngôi nhà thuở xa xưa khi Trình chưa đầy mười tuổi, nơi có cây chiêm chiêm trước ngõ, có hàng rào dâm bụt nở bông thật xinh, có cái giếng đá nước trong và ngọt ngào uống thật ngon. Đối với bao nhiêu người khác thì nơi Trình lớn lên chẳng có gì thơ mộng, đó chỉ là một làng quê nghèo nàn, thiếu mọi tiện nghi của cuộc sống, vậy mà Trình vẫn luôn nhớ đến và càng lớn lên, càng xa nơi đó Trình càng nhớ nhiều hơn.

Năm 13 tuổi Trình lên Trung Học nên phải rời quê nhà xuống sống ở Hội An, một thành phố cổ kính của miền Nam. Lần đầu tiên xa nhà, xa Ba Má, xa bạn bè, bỡ ngỡ với cuộc sống xa lạ Trình lo âu và buồn lắm. Vài tháng sau thì bắt đầu quen dần với cuộc sống nơi phố thị nên không buồn và lo âu nữa, rồi sau đó Trình thấy thích cuộc sống ở thành phố vì có những tiện nghi như đèn điện, nước máy, được nghe nhạc trên radio.

Trình ở trọ trên đường Kiến Thiết, đối diện với Tiểu Khu, cách tiệm phở “ông giàu” ba căn nhà. Tiệm phở này có đặc điểm là mỗi tô phở có kèm theo một đĩa đu đủ chua, chỉ năm sáu lát nho nhỏ thôi nhưng khách thích lắm, không ai biết tên ông chủ nhưng thiên hạ gọi phở “ông giàu” vì đa số công chức ở Hội An đều mắc nợ ông, họ ăn phở của ông và ghi sổ, cuối tháng lãnh lương thì đến thanh toán tiền nợ.

Lớn lên ở thôn quê nghèo nàn, quanh năm chỉ quanh quẩn với hình ảnh “đất cày lên sỏi đá”, “người bừa thay trâu cày”, v.v… nay làm quen với đời sống ở thành phố thấy biết bao điều mới lạ để học; một hôm đứng trước hiên nhà trọ nhìn xe cộ chạy ở ngã năm gần đó Trình thấy một ông cảnh sát đứng trên bục ngay giữa ngã năm điều hành lưu thông, xe đạp và xe gắn máy đến đó vẫn tiếp tục chạy nhưng xe hơi phải dừng lại, rồi ông cảnh sát chỉ đường nào thì xe phải chạy theo đường đó, một chiếc xe đầu làm vậy và những chiếc khác đến sau cũng làm vậy. Trình suy nghĩ rồi tự hỏi “ông cảnh sát có quyền bắt xe hơi chạy theo đường ông muốn?” hay “ông cảnh sát biết những người lái xe đó muốn đi đâu?”, suy nghĩ mãi mà không tìm được câu trả lời. Hôm sau đến trường Trình hỏi thầy Tứ, thầy người Sài Gòn dạy toán và rất thương Trình, thì thầy giải thích rằng những người lái xe và cảnh sát có học về luật giao thông nên tài xế dùng bàn tay ra dấu và cảnh sát hiểu.

Lên đệLục thì bạn bè biết nhau rõ hơn và thân thiết hơn, thằng bạn thân nhất của Trình là Côn, cũng là người ở quê lên như Trình, hắn hiền lành, học giỏi, vui tính, có máu văn nghệ nên rất hạp với Trình. Lúc bấy giờ cũng đã quen thuộc đường sá ở Hội An nên thỉnh thoảng hai đứa đi dạo phố với nhau, Trình thích nhất là sau buổi cơm chiều hai đứa rủ nhau ra đường Bạch Đằng hóng mát, xem người ta câu cá và nghe nhạc của rạp chiếu bóng Hòa Bình, rạp này thường xuyên cho chơi bài “Oh! Carol” do Neil Sedaka hát. Mặc dù lần nào đi dạo mát ở bờ sông cũng nghe bài này mà vẫn thích nghe chứ không chán, chắc là vì lời lẽ vừa si tình, vừa đau thương, vừa khờ dại.

Đám bạn của Trình còn có Hùng, Bằng (dân Bắc di cư), hai đứa này không biết văn nghệ văn gừng gì nhưng khoái đi tắm sông, tắm biển nên cả bọn hay rủ nhau ra tắm sông ở cầu An Hội, gần chùa Cầu, ở đó nước sâu và tương đối sạch, lại có cây cầu bắt qua bên cồn cát nên khi bơi mỏi thì níu chân cầu nghỉ mệt. Ít lâu sau thì khám phá ra phía bên kia của cồn cát có bãi sông nước trong sạch nên kéo qua bên đó tắm; vì chỗ này xa nên mỗi lần đến đó tắm thì hùn tiền mua một nải chuối mang theo, tắm xong nghỉ ngơi ăn chuối thật thú vị.

Hội An có bãi biển Cửa Đại rất đẹp, nước trong xanh, cát trắng và mịn, chỉ cách thành phố có bốn cây số nên nhiều lần Trình và đám bạn rủ nhau ra đó tắm biển. Dọc theo bờ, chính phủ có để nhiều phòng thay đồ, gọi là phòng cho xôm tụ chứ thực ra chỉ là những cái hộp đóng bằng gỗ vừa đủ cho một người đứng. Từ trong phố cuốc bộ ra Cửa Đại mất hơn một giờ nên Trình và đám bạn chỉ tắm biển vào cuối tuần, mang theo đồ ăn. Khi đã xuống nước rồi thì tắm say sưa chẳng muốn về, lúc thì nắm tay nhau nhảy sóng, khi thì thi nhau bơi ra thật xa, xa đến nỗi những phòng thay đồ thấy nhỏ như những chiếc hộp. Ngoài khơi là Cù Lao Chàm, nhìn hòn đảo Trình mơ ước có ngày sẽ đủ sức bơi ra đó.

Một hôm Côn đến khoe:
– Tau mới mua cây đờn guitar.

Trình ngạc nhiên hỏi:
– Mi biết đờn hả?
– Biết sơ sơ.
– Học ở đâu vậy?
– Tự học thôi, mua sách về học, nay mua đờn để tập
– Tau thì biết chơi mandoline
– Thiệt không? mẹ cái thằng nói láo!
– Thiệt đó, rồi mi sẽ biết tài của tau.

Chuyện Trình biết đánh đàn cũng khá đặc biệt. Khi lên sáu, lên bảy, Trình ở vùng bị việt cộng (VC) chiếm nên trẻ con chẳng học hành gì cả ngoài việc sinh hoạt thiếu nhi, Trình và Ba Má ở với bà Nội, chú Tạo và chú Cần. Suốt ngày Trình quanh quẩn trong nhà phụ Má làm những việc lặt vặt như mót củi, quét nhà, hái rau; hai chú trước có đi học nhưng nay ở nhà làm ruộng, đôi khi vào rừng đốn củi. Buổi tối thì thỉnh thoảng bạn của hai chú đến đem theo cây Banjo để ca hát vì hai chú có cây mandoline, những buổi tối như vậy Trình thích lắm, say sưa nghe và nhìn các chú đánh đàn. Nghe riết Trình đâm ra thích đàn nên khi hai chú đi làm thì Trình lấy cây mandoline ra tập, sau một thời gian ngắn Trình chơi được nhiều bài. Một hôm hai chú đi làm về sớm bắt gặp Trình đang cầm cây đàn nên chú Tạo quát:

– Phá hả mi? biết gì mà cầm đờn?
– Cháu đờn được mà.
– Thiệt hả? đờn tau nghe thử coi.

Trình liền chơi bản “Xuân và tuổi trẻ”, vừa đàn vừa hát nguyên bài, không sai một nốt, không sai một nhịp làm chú Tạo “lé mắt”.

– Thằng ni tài! thôi được, tau cho mi tập nhưng cẩn thận nghe con, đứt dây là tau đánh mi nát xương.

Trình biết chú nói thiệt chứ không dọa nên từ đó bớt đụng tới cây đàn.

Sau khi biết nhau về khả năng văn nghệ thì Côn rủ Trình đi mua cây đàn mandoline cũ rồi hắn huấn luyện cho thằng Huy, bạn cùng lứa nhưng ở lớp khác, đánh nhịp. Thỉnh thoảng Trình và Côn đến nhà Huy hòa tấu, cả bọn hay chơi bài Bambino vì bài này dễ, Côn khá rành về nhạc lý, Huy thì học nốt nhạc cũng mau, Trình nghe người ta chơi sao thì đánh lại y chang nhưng không cách chi đọc được nốt nhạc dù cố gắng học. Ngoài chuyện cùng say mê văn nghệ Côn và Trình còn thích chơi cờ tướng, hai đứa trình độ ngang nhau, vừa đánh cờ vừa chọc quê rất vui, nhất là khi có mấy thằng cùng lớp bu chung quanh coi và la hét.

Tuy vui tính và ưa thích văn nghệ nhưng Côn có ý thức về chính trị sớm. Một hôm Trình đến ty Thông Tin đọc báo thấy ngoài sân có sáu xác chết của VC, họ trưng bày xác để cảnh cáo những người bí mật theo VC, Trình kể chuyện đó cho Côn thì hắn phán ngay “bọn đó chết là đáng đời, nếu thích CS thì ra ngoài Bắc ở theo tinh thần Hiệp định Geneve, ở chi trong ni đi gài mìn, ám sát, làm tay sai cho VC”, rồi Côn kể tiếp ngoài Bắc nhiều khẩu hiệu “đả đảo đế quốc” bị dân thêm vào hai chữ CS phía sau.

Năm đệ Ngũ là năm vui nhất vì học ít và chơi nhiều, cuối năm đó thì Côn và Trình đã là bạn tri kỷ, thương nhau như anh em. Lên đệ Tứ thì bớt chơi và lo học vì cuối năm thi lấy bằng Trung Học, mảnh bằng này là một bước ngoặc trong đời của những học sinh con nhà nghèo vì có đứa phải tìm việc làm giúp gia đình, có đứa chuyển ngành, đi học sư phạm để kiếm sống. Nói đến những dự định trong tương lai thì Côn và Trình đều muốn trở thành giáo sư; thấy mấy thầy được học trò yêu thương, kính mến, được xã hội quý trọng, lương bổng cũng khá, bảo đảm có một cuộc sống sung túc thì hai đứa thấy chọn nghề thầy giáo là hợp lý nhất.

Sau khi hoàn tất bậc Trung Học thì Trình phải theo gia đình vào Sài Gòn sinh sống, đến chia tay Côn, hai đứa buồn vô hạn vì nghĩ rằng sẽ không có dịp gặp lại. Hành trang của Trình là một chiếc xách tay đựng áo quần và ít giấy tờ. Trình lội bộ ra bến xe đò Hội An, đón xe lên Vĩnh Điện, rồi từ đó lấy xe đò Đà Nẵng-Sài Gòn. Xe đến Nha Trang thì trời đã tối nên ngừng lại nghỉ qua đêm. Tối hôm đó Trình tưởng tượng thành phố Sài Gòn qua những câu chuyện nghe được từ các đàn anh đã có dịp viếng thăm Hòn Ngọc Viễn Đông. Trình nhớ anh Đức (trên Trình 3 lớp) kể chuyện về Sài Gòn như một thành phố ở một quốc gia nào khác, nơi đó hai người hàng xóm chẳng hề biết nhau, mặc ai nấy sống không dòm ngó lẫn nhau; xe cộ chạy như nước, có một loại xe rất đặc biệt chỉ có ở Sài Gòn thôi là xe xích lô máy; người đông chen chúc, phố xá sang trọng, và các phòng trà thì hết chê! Rồi anh khoe với Trình chiếc áo chemise trắng có dấu môi son đỏ chói chỗ bờ vai, anh nói đó là quà của cô vũ nữ đẹp nhất ở vũ trường Maxim tặng anh để làm kỷ niệm.

Năm thứ hai ở Đại Học thì Trình có quen với Thanh Xuân, sinh viên năm đầu Đại Học Sư Phạm. Ở lứa tuổi đôi mươi thì đi thăm người yêu là nguồn vui lớn, nhưng cũng có trường hợp phải chịu một chút cực hình trước khi được hưởng nguồn vui. Mỗi lần đến thăm Thanh Xuân ở  trong cư xá Trần Quý Cáp Trình phải chờ dài cổ, tưởng nàng trang điểm gì ghê gớm nhưng khi nàng xuất hiện thì chẳng thấy trang điểm gì cho lắm, vài lần đầu Trình cố chịu đựng nhưng sau đó Trình than thở:

– Sao em bắt anh chờ lâu dữ vậy?
– Nghe anh đến em muốn gặp anh ngay nhưng mấy chị không cho, họ dạy rằng chờ là thước đo tình yêu của các anh, có yêu mới chờ, chờ càng lâu là yêu càng nhiều, anh nào không chờ nỗi là chỉ muốn chơi qua đường chứ không thật tình.
– Nhưng em cũng biết anh đâu phải như vậy?
– Em biết chứ, nhưng không nghe theo lời dạy đó thì sống sao nỗi với mấy chị ấy.

Một hôm Trình ngồi đọc sách chờ Thanh Xuân trong cư xá Trần Quý Cáp thì có một chàng vào thăm bạn gái, khi nhân viên cư xá hỏi tên thì nghe anh ta khai là Vũ Côn, Trình nghe tên bạn cũ và giọng nói cũng giống nên ngước nhìn thì đúng hắn, bình tĩnh chờ cho đến khi nhân viên vào bên trong Trình mới vội bước tới ôm choàng Côn và nói lớn “Trình đây mi”, hai đứa gặp lại nhau sung sướng vô ngần. Côn lên giọng:

– Mi chạy đường trời cũng không khỏi tau.
– Còn mi là con đỉa đói thì tau tránh sao được, cô nào bị mi theo thì đố mà thoát khỏi.

Từ đó Côn và Trình hay gặp nhau vào cuối tuần, nhắc lại những kỷ niệm ở Hội An trong khi đi dạo phố, uống cà phê, xem văn nghê, hoặc Trình rủ Côn về nhà dùng cơm. Nhiều lần Côn và Trình hẹn nhau đi thăm bạn gái trong cư xá Trần Quý Cáp, có khi ngồi chờ lâu hai đứa đánh cờ tướng với nhau, cả hai có trí nhớ khá tốt nên chơi cờ tướng mà chẳng cần bàn cờ và chẳng khi nào cải nhau, có lần chơi xong một ván cờ mà hai người đẹp vẫn chưa xuất hiện.

Côn khoe là đang học năm thứ hai Đại Học Sư Phạm; Trình thấy khi nhỏ Côn là một học trò ngoan, giỏi, ham học, hiền lành, sống có kỷ luật thì chắc Côn sẽ thành công trong ngành giáo dục và sẽ trở thành một giáo sư giỏi, gương mẫu. Sau ba năm tiếp cận với văn minh của Sài Gòn, Trình thấy được một lãnh vực mới thích hợp với mình hơn và con đường tiến thân cũng tốt hơn, đó là ngành kỹ thuật. Trình nghĩ đến làm giáo sư là một nghề cao quý, được học trò kính trọng nhưng sẽ đứng hoài ở một chỗ nhìn học trò đi qua, còn theo ngành kỹ thuật thì cần học hỏi liên tục và nhờ vậy con đường tiến thân luôn rộng mở.

Côn có vẻ không vui khi Trình cho hay là đang học năm thứ hai ở Trung Tâm Kỹ Thuật Phú Thọ, hắn trách nhẹ:
– Mi đổi ý, bỏ rơi tau?

Trình hiểu và thông cảm bạn nên giải bày:
– Khi tụi mình ở đệ nhất cấp đâu có nghe ai nói đến ngành kỹ thuật, sau mấy năm sống ở Sài Gòn tau mới biết, vả lại mi giỏi Việt văn thì làm thầy giáo là đúng nghề, còn tau khá toán thì theo kỹ thuật hạp hơn, nhưng nghề nào cũng tốt cả, miễn mình làm cho chu đáo.

Ra trường, Côn về dạy ở Sa Đéc còn Trình thì ra làm việc ở Đà Nẵng nên mỗi năm chỉ gặp nhau một lần khi Côn nghỉ hè về thăm quê, về sau Côn lập gia đình với cô gái miền Nam và ở luôn trong đó.

Sau đại họa 30/4/75 thì Trình mất liên lạc với Côn. Ba năm sau Trình vượt biển và định cư ở Canada, coi như vĩnh viễn từ biệt Ba Má và các em, và người bạn cũ cũng bị quên. Rồi một ngày trong tháng Tư năm 2006 em gái Trình email cho hay là Côn ghé nhà thăm, Trình mừng lắm liền email hỏi cô em tin tức của Côn để liên lạc nhưng cô em không biết gì hơn là Côn còn dạy học ở Sa Đéc và vợ Côn có cửa hàng buôn bán vật liệu xây cất nên rất khá giả. Trình email bảo cô em nếu Côn trở lại thì nhớ xin địa chỉ và email cho Trình, cô em email trả lời “em có xin số điện thoại và email nhưng anh Côn nói không cần thiết đâu, chưa chắc hắn còn nhớ tôi”.

Tháng 12/2006 em Trình cho địa chỉ, email và số phone của Côn, Trình rất vui vì nghĩ rằng Côn nhớ mình nên trở lại thăm nhưng không phải vậy, khi hỏi Côn trở lại thăm khi nào thì em Trình email trả lời “thấy anh muốn liên lạc với bạn cũ nên trong chuyến đi du lịch miền Tây em ghé Sa Đéc tìm anh Côn”.

Côn và Trình vô cùng sung sướng khi liên lạc được với nhau, những emails và những cuộc điện thoại luôn nhắc lại kỷ niệm xưa và cuộc sống sau 4/75. Thời gian Trình vượt biển và đến được Canada thì Côn bị tù ở Rạch Giá vì tội vượt biên, cũng may là Côn đi một mình, gia cảnh lúc ấy rất thê thảm không đủ tiền cho vợ và con đi theo. Côn ở tù gần một năm, ra tù về lại Sa Đéc, Côn phụ vợ buôn bán, hơn một năm sau nhờ người quen chạy chọt nên được cho dạy lại.

Biết anh vợ của Côn và hai người chị họ định cư bên Houston nên đầu năm 2008 Trình đề nghị vợ chồng Côn nên đi Mỹ thăm bà con và sang Canada ở chơi với Trình một tuần, Côn đồng ý ngay và sẽ cho biết thời gian dự tính sang Canada để Trình lấy một tuần nghỉ hè.

Thông thường thì tái ngộ nói lên một niềm vui; khi hai người bạn gặp lại sau một thời gian dài xa cách thì đó là niềm vui, khi anh em gặp lại sau một lần chia ly thì đó là niềm vui, khi cha con gặp lại sau nhiều năm bôn ba ở xa làm lụng kiếm tiền nuôi gia đình thì hẳn là một niềm vui lớn v.v… nhưng đó là trước 4/75. Sau cái ngày tang thương năm 1975 thì cuộc đời của người Việt bị đảo lộn, những chuyện quái gở lại xảy ra hàng ngày và trở thành “chuyện bình thường”, còn những chuyện bình thường thì trở nên hiếm hoi, và tái ngộ trở thành niềm đau thay vì niềm vui!

Côn đến phi trường Pearson International của Toronto vào chiều thứ Sáu cuối tháng 8/2008, sau hơn 34 năm mới được bắt tay và quàng vai bạn cố tri nên Côn và Trình đều vui mừng vô cùng. Về đến nhà Trình thì vừa đủ thì giờ cho Côn cất hành lý, nghỉ ngơi chút đỉnh trước khi dùng cơm chiều. Câu hỏi đầu tiên của Côn:
– Mi có tính về Việt Nam sống sau khi về hưu?
– Không, Trình trả lời ngay.
– Sao vậy? bây giờ khác lúc mi đi nhiều.
– Khác thế nào?
– Đất nước bây giờ phồn thịnh hơn nhiều, tiện nghi đầy đủ, cái gì cũng có, làm tiền cũng dễ, ăn chơi thoải mái.

Trình thất vọng với câu trả lời của Côn nhưng cũng điềm tĩnh tiếp tục câu chuyện để hiểu thêm về Côn, rồi Trình nói:
– Mi cũng biết tau bỏ nước ra đi không phải vì thiếu những thứ đó, tau đi vì thiếu tự do, vì không chịu nổi sự cai trị của bọn vô học nhưng độc tài, tàn ác.
– Tau hiểu, nhưng đó là chuyện xưa rồi, mi bỏ qua đi, giữ làm chi cho buồn bực.
– Chuyện đó đâu có xưa, ngày nay cũng bọn vô học đó cầm quyền, cũng thiếu tự do, nhưng thôi, mình sang đề tài khác đi, mi và tau có thiếu gì chuyện vui hơn để nói.

Hôm sau đưa Côn đi thăm Niagara Falls, Trình tránh chuyện thời sự, cố giữ chủ đề về cuộc sống và thắng cảnh ở Canada. Trình nhận thấy có vấn đề về quan điểm chính trị với Côn và cố tìm giải pháp để vẫn nói chuyện về Việt Nam mà giữ được hòa khí trong thời gian Côn ở chơi. Thỉnh thoảng Trình mới nói về sinh hoạt của người Việt tị nạn CS ở hải ngoại cho Côn biết, và để xem phản ứng của Côn ra sao, và lần nào Trình cũng thất vọng. Có lần Côn gay gắt hỏi:
– Các ông ngoài này làm ồn ào thì được gì? CS vẫn cầm quyền và càng lúc càng mạnh.

Trình thất vọng vô cùng với câu hỏi này nhưng cố điềm tĩnh giải thích:
– Tụi tau ngoài này không lật đổ được bọn VC trong nước đâu nếu không có sự nổi dậy của dân trong nước, nhưng những người tị nạn CS đã lập được nhiều thành tích đáng kể trong hơn 30 năm qua như nói lên sự thật về VC, về cuộc chiến VN, làm sáng tỏ chính nghĩa của miền Nam; xây dựng rất nhiều tượng đài ghi lại dấu tích cuộc tị nạn không phải vì chiến tranh mà vì hòa bình, ghi lại những anh hùng trong và sau cuộc chiến, những công trình này là những vết sẹo để lại trên bộ mặt lừa đảo, gian ác của Hồ chí Minh và đảng CSVN và nói lên tội ác của VC.

Thấy Côn im lặng nghe nên Trình nói tiếp:
– Người Việt tị nạn CS cũng đã lập được nhiều Cộng Đồng Người Việt Tự Do ở khắp thế giới để phổ biến văn hóa Việt Nam và sinh hoạt đấu tranh đòi tự do và dân chủ cho Việt Nam, thành quả quan trọng nhất mà các Cộng Đồng này đạt được là gì mi biết không?

Bất ngờ trước câu hỏi này Côn lúng túng trả lời:
– Biểu tình chống cộng 30/4.
– Sai rồi mi ơi, thành quả mà người Việt tị nạn tự hào nhất là dương cao ngọn cờ chính nghĩa của Việt Nam. Từ sau 30/4/75 đến nay cờ vàng tung bay khắp thế giới nhiều lần mỗi năm trong khi đó cờ VC chỉ ủ rũ trong khuôn viên các tòa đại sứ, ra bên ngoài là bị dập xuống ngay dù VC đã bỏ biết bao tiền bạc và công sức để phất cờ đỏ bên ngoài các tòa đại sứ, một việc họ làm dễ dàng trước tháng 4/75 nhưng nay bị người Việt tị nạn CS khống chế không làm nổi.

Một hôm Trình đưa Côn đi ăn tối ở nhà hàng Việt Nam, thấy tiệm treo tấm plaque hình bản đồ Việt Nam chia đôi với Sài Gòn là Thủ đô của miền Nam và cờ vàng làm nền, Côn liền chỉ trích:
– Đất nước đã thống nhất lâu rồi mà sao còn treo bản đồ chia đôi Nam Bắc.

Trình đáp thẳng thừng:
– Dân tị nạn tụi tau thấy thời bị chia đôi còn có tự do và đáng sống hơn thời thống nhất.
– Thế còn lá cờ của miền Nam đã bị xóa sổ rồi mà treo chi nữa?

Thấy Côn nhận định về lá cờ như kẻ thiếu học, Trình bực mình thì ít mà đắng cay thì nhiều, cố kềm chế cơn giận, Trình ôn tồn giải thích:
– Mi lớn lên ở miền Nam, hấp thụ một nền giáo dục nhân bản, học lịch sử đất nước từ những người thầy có kiến thức sâu rộng, từ những sử liệu trung thực, thì mi phải biết rằng cờ vàng ba sọc đỏ là quốc kỳ của Việt Nam sau bao triều đại, sau bao đổi thay, sau bao thăng trầm; còn cờ đỏ sao vàng là cờ của đảng cộng sản VN do Hồ chí Minh lập ra. Tuy bây giờ đám tị nạn tụi tau là công dân Canada nhưng vẫn giữ cái gốc Việt Nam, vẫn chào quốc kỳ Việt Nam, vẫn hát quốc ca Việt Nam. Lịch sử trung thực sẽ tồn tại mãi mãi và luôn được tôn trọng; đảng phái, chính quyền là giai đoạn. Tau có thể không chứng kiến được cuộc quang phục đất nước nhưng chuyện đó sẽ đến.

oOo

Từ nhà đến phi trường mất khoảng một giờ lái xe nhưng Trình dành hai giờ để đưa Côn đi, khi gần đến nơi và biết chắc đoạn đường còn lại không bị kẹt xe thì Trình ghé tiệm cà phê để trò chuyện lần cuối trước khi chia tay. Trình tự nhủ lần trò chuyện này tuyệt đối không đụng đến chính trị, và Trình đã làm được nên suốt một giờ Côn và Trình đã ôn lại những kỷ niệm êm đềm thời Trung học ở Hội An cũng như những kỷ niệm trong mấy năm Đại học ở Sài Gòn.

Trên đường về nhà Trình suy nghĩ miên man về Côn với những cảm xúc ghét thương lẫn lộn (thất vọng và thương hại thì đúng hơn), Trình thất vọng ê chề vì từ một cậu học trò ngoan, giỏi, hiền lành, hiếu học đến một giáo sư gương mẫu, hiểu biết nhiều về văn hóa, nay Côn lại ăn nói như một con vẹt không khác chi một cán bộ VC ở làng quê. Trình tự hỏi “sao Côn có thể thay đổi tệ hại đến như vậy?” và không thể nào trả lời được. Trình cố tìm cách chống chế, biện minh cho Côn, cố chứng minh rằng Côn vẫn còn xứng đáng là một nhà giáo nhưng không làm được.

Trình nhớ sau 4/75 nhiều người ngoài Bắc vào cũng ăn nói kiểu đó, khi ấy họ chỉ sống với VC có 21 năm, nay Côn sống với VC đã hơn 33 năm nên chắc đã bị tẩy não; nhưng rồi Trình cũng nhớ có một số người ngoài Bắc vào Nam cuối năm 1975 vẫn nhận ra những cái hay, điều tốt của miền Nam và vẫn chỉ trích những sai lầm, tội ác của VC; và ngày nay có biết bao người trong nước vẫn trân trọng miền Nam, vẫn nhận biết cờ vàng là của nước Việt, vẫn đấu tranh chống kẻ thù phương Bắc, đòi tự do, dân chủ, trong đó có nhiều người trẻ sinh sau 75; những điều này cho thấy VC không tẩy não được nhiều người có tư cách, có sức mạnh tinh thần.

Tại sao Côn không còn tư cách, không còn hiểu biết như khi còn đi học? Đối với Trình thì những trí thức nằm vùng làm tay sai cho VC trước 75 là không tưởng, là sai lầm, là khờ dại, và có thể tha thứ được; nhưng từ khi miền Nam thất thủ thì hầu hết người dân cả hai miền đều thấy VC là bọn hận thù giai cấp, cuồng tín, bị cộng sản quốc tế tẩy não để đánh thuê cho Nga, Tàu, là bọn vô học, chậm tiến, độc tài, tàn ác, tham ô; và những kẻ có học thức, những kẻ khoa bảng ngày nay mà ca tụng VC, theo VC, làm tay sai cho VC không phải vì họ sai lầm hay khờ dại mà vì họ hèn nhát, tham tiền, tán tận lương tâm, biết VC là thối tha, dơ bẩn nhưng vẫn khen, vẫn nịnh bợ để có chút bổng lộc; nói cách khác họ là những kẻ vô liêm sỉ và điều này làm cho Trình rất đau khổ khi nghĩ đến Côn, thằng bạn tri kỷ năm xưa.

Trần Phố Hội

(Đặc San Lâm Viên)

Tháng 3/2021

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Niềm Đau Tái Ngộ ( ST từ Đặc san Lâm Viên online)

Thơ Xướng Họa: ĐỪNG ĐỂ VẠ LÂY

Xướng: ĐỪNG ĐỂ VẠ LÂY

 

Kỳ thị chúng mình mắc họa lây
Căn nguyên Vũ Hán dịch lan đầy
Hận căm giềng xóm phường lòi tói 
Thù ghét cận lân lũ phản thầy           
Châu Á chệt Tàu tâm xảo quyệt
Việt Nam Âu – Lạc tính thơ ngây
Kết đoàn chủng tộc cùng nhau sống
Xây dựng Liên Bang Tổ Quốc nầy

C/Ư
 
Họa 1: Chích Vaccine Rồi

Đã chích vaccine đỡ sợ lây
Bởi con vi khuẩn vẫn lan đầy
Đề phòng cẩn thận cần thêm thuốc
Chạy chữa tào lao chọn lắm thầy
Vũ Hán phỉnh lừa quân xảo quyệt
Cận Bình lường gạt kẻ thơ ngây
Mong cho đại dịch qua mau khỏi
Thế giới bình yên dứt bệnh nầy

CN-NCV 

Họa 2: Đề Phòng Họa Lây

Để trừ cúm Chệt độc, hay lây
Hảy chích vaccine đang có đầy
Hận tụi bá quyền như hận quỷ
Yêu người bác sĩ giống yêu thầy
Đề phòng những đứa say say xỉn
Xa lánh mấy thằng ngất ngất ngây
Lạy Đấng toàn năng ban phép lạ 
Xuân về an lạc thế gian nầy

Cóc QT-TP 

Họa 3: Mau Lên Tiếng

Cẩn thận coi chừng bị vạ lây
Cao trào kỳ thị đã lan đầy
Đập đầu Nhật, Việt dù là bạn
Bóp cổ Phi, Hàn bất kể thầy
Thù hận Cúm Tàu sao khờ khạo
Oán hờn Dịch Hán chẳng thơ ngây
Nhanh tay kêu gọi chính quyền mới
Bảo vệ người dân Chủng Quốc này./-

CX

*ke = care

Họa 5: Cạn Lời

Vaccine đã có sợ gì lây
Chỉ sợ trong tim hận ứ đầy
Mạt vận cùng đường mù dẫn lối
Suy vong tận mạng ngốc làm thầy
Hết con Cám nọ mồm gian xảo
Lại lão Đần kia mặt dại ngây
Phải thấy chúng mày tao muốn bịnh
Tụi bay mới thật dịch thời này.

CCR

 Họa 6: Xin Đừng Kỳ Thị

Cũng do Trung Quốc dịch tràn lây
Gây cảnh bi thương chết chóc đầy
Thí nghiệm lưu manh quân dạ sói
Điều hành xảo quyệt lũ băm thầy
Vướng con vi khuẩn nằm lây lất
Lâm bệnh ác nhân thở ngất ngây
Kỳ thị càng lâu nhiều khổ lụy
Góp công xây dựng Quốc Gia nầy.

DNN

 

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thơ Xướng Họa: ĐỪNG ĐỂ VẠ LÂY

Thơ Xướng Họa: Kỳ Thị Da Màu

KỲ THỊ DA MÀU

Kỳ thị nhắm vào sắc á châu
Hành hung đánh đập kẻ da mầu
Chị đang trong tiệm, bắn cho chết
Anh đứng ngoài đường, chém bể đầu
Luật pháp quang minh nên cặn kẽ
Nhân quyền công chính phải chuyên sâu
Hội đoàn người Việt cần lên tiếng
Bảo vệ đồng hương khỏi khổ sầu.

CN-NCV

Họa 1: KỲ THỊ DO THIỂU SỐ

Dân mình tỵ nạn khắp năm châu
Nòi giống Rồng Tiên quả nhiệm mầu
Mỹ Quốc dân giàu luôn dẫn trước
Cờ Hoa nước mạnh mãi đi đầu
Phải chăng kỳ thị còn dai dẳng
Không lẽ ghét ganh mãi khắc sâu
Hiềm họa tang thương do thiểu số
Hằng mong giải tỏa dứt âu sầu

C/Ư

Họa 2: LÊN TIẾNG

Hung tin loan tải khắp năm Châu
Kỳ thị phương Đông qua sắc mầu
Đại dịch nhiễm truyền gây chết chóc
Hờn căm trổi dậy tạo điên đầu
Vạ lây Vũ Hán làm sao tránh
Khổ nạn Á Châu lại thấm sâu
Vạch mặt chỉ tên Bình Tập Cận
Đưng vơ cả nắm chuốc thêm sầu./-

TQN.

Họa 3:  HẾT U SẦU

Hình thành nước Mỹ đủ năm châu
Da trắng, da đen, da sậm màu
Tụ tập di dân thành hiệp chủng
Dựng xây đất nước mãi đi đầu
Nên xem khác tộc như huynh đệ
Chớ ép dị nòi giống bọ sâu
Luật pháp phân minh đừng nể trọng
Xử người đúng tội hết u sầu

Cóc QT-TP

Họa 4.- HOẠ NƯỚC MỸ

Thế giới tự do, nhất Mỹ châu
Thiên đường tỵ nạn đủ da màu
Năm Châu hội tụ người tài giỏi
Bốn bể chung xây phải đứng đầu
Dân Chủ bao dung người nhập lậu
Cộng Hoà trục xuất cả bầy sâu
Chủ trương kiếm phiếu mùa bầu cử
Chính sách Biden chuốc khổ sầu

Tuyến Sydney, 

Họa 5: Cóc Nhà Ơi – Đừng Sợ

Bạn ơi đừng mặt ủ mày châu
Đừng đợi trông ai phép nhiệm mầu
Tự vệ: phòng xa là số một
Hộ thân: vũ khí phải hàng đầu
Đang khi có súng nhằm cho trúng
Gặp lúc dùng dao chém thật sâu
Hãy tự lo mình vui cuộc sống
Tội chi mà vướng mắc ưu sầu 

CCR

Họa 6: CHUYỆN DÀI KỲ THỊ

Kỳ thị chuyện dài ở Mỹ châu
Đen vàng nâu đỏ đủ da màu
Ra đường súng đạn bắn toi mạng
Xuống phố gậy dao búa bể đầu
Công lý mị dân trò lố bịch
Mưu mô kiếm phiếu kế thâm sâu
Nạn nhân gốc Á bị mang họa
Biết tránh nơi đâu hết khổ sầu.

CX

Họa 7: VĂNG MIỂNG

Kỳ thị không nhằm gốc Á châu
Mà do da chệt cũng vàng mầu
Dân Tàu lạng quạng cây vô cổ
Người Việt lơ mơ miểng trúng đầu
Hiện tượng chỉ là nhìn lớp cạn
Căn cơ cần phải hiểu phần sâu
Vi trùng Vũ Hán nguyên nhân chính
Trung cộng gây ra cảnh lụy sầu .

Cóc Chát

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thơ Xướng Họa: Kỳ Thị Da Màu

Người Mỹ Nhận Xét Về Người Việt Nam _ Trần Kinh Nghị

NGƯỜI MỸ NHẬN XÉT VỀ NGƯỜI VIỆT NAM
Trần Kinh Nghị

(Bài do CH Nguyễn Hải Sơn K6 chuyển)

Viện Nghiên Cứu Xã Hội Học Hoa Kỳ (American Institute for Social Research) sau khi nghiên cứu đã nói lên 10 đặc tính căn bản của người Việt, xin tạm dịch như sau:

1.- Cần cù lao động nhưng dễ thỏa mãn.
 
2.- Thông minh, sáng tạo khi phải đối phó với những khó khăn ngắn hạn, nhưng thiếu những khả năng suy tư dài hạn và linh hoạt.
 
3.- Khéo léo nhưng ít quan tâm đến sự hoàn thiện cuối cùng các thành phẩm của mình.
 
4.- Vừa thực tế vừa có lý tưởng, nhưng lại không phát huy được xu hướng nào thành những nguyên lý.
 
5.- Yêu thích kiến thức và hiểu biết nhanh, nhưng ít khi học sự việc từ đầu đến cuối, nên kiến thức không có hệ thống hay căn bản. Ngoài ra, người Việt không học vì lợi ích của kiến thức (lúc nhỏ học vì gia đình, lớn lên học vì sĩ diện hay vì những công việc tốt).
[when small, they study because of their families; growing up, they study for the sake of prestige or good jobs]
 
6. Cởi mở và hiếu khách nhưng sự hiếu khách của họ không kéo dài.
 
7. Tiết kiệm, nhưng nhiều khi hoang phí vì những mục tiêu vô nghĩa (vì sĩ diện hay muốn phô trương). [to save face or to show off].
 
8.- Có tinh thần đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau chủ yếu trong những tình huống khó khăn và nghèo đói, còn trong điều kiện tốt hơn, đặc tính này ít khi có.
 
9.- Yêu hòa bình và có thể chịu đựng mọi thứ, nhưng thường không thẳng thắn vì những lý do lặt vặt, vì thế hy sinh những mục tiêu quan trọng vì lợi ích của những mục tiêu nhỏ.
 
10.- Và sau cùng, thích tụ tập nhưng thiếu nối kết để tạo sức mạnh (một người có thể hoàn thành một nhiệm vụ xuất sắc; 2 người làm thì kém, 3 người làm thì hỏng việc).
[one person can complete a task excellently; 2 people do it poorly, and 3 people make a mess of it].
 
Những phân tích trên đây cho chúng ta thấy người Mỹ đã hiểu rất rõ người Việt. Tại sao người Việt lại có những đặc tính như thế này?
 
Người xưa cũng đã nhận ra.
 
Học giả Trần Trọng Kim (1883 – 1953) khi viết bộ Việt Nam Sử Lược, ấn hành lần đầu tiên năm 1919, cũng đã phân tích khá rõ ràng những đặc tính của người Việt và những yếu tố tạo nên những đặc tính đó. Đa số người Việt lớn tuổi, khi còn nhỏ đều đã được học bộ sử này.
 
Trong bài tựa, ông nói ngay:
 
“Người mình có ý lấy chuyện nước nhà làm nhỏ mọn không cần phải biết làm gì. Ấy cũng là vì xưa nay mình không có quốc văn, chung thân chỉ đi mượn tiếng người, chữ người mà học, việc gì cũng bị người ta cảm hóa, chứ tự mình thì không có cái gì là cái đặc sắc, thành ra thật rõ như câu phương ngôn: «Việc nhà thì nhác, việc chú bác thì siêng!»
 
“Cái sự học vấn của mình như thế, cái cảm tình của người trong nước như thế, bảo rằng lòng vì dân vì nước mở mang ra làm sao được?”
 
Trong nước, tiêu chuẩn của cuộc sống là có nhà sang cửa rộng, có xe hơi, có con đi du học ngoại quốc… Tiêu chuẩn ở hải ngoại cũng thế thôi: Đi dâu cũng nghe khoe nhà trên cả triệu bạc, xe loại sang trọng nhất, con đang học bác sĩ, dược sĩ, kỹ sư… Gần như không nghe ai khoe những công trình đang nghiên cứu hay thực hiện để đưa con người, cộng đồng và đất nước đi lên. Tất cả chỉ tập trung vào hai tiêu chuẩn là “đẹp mặt” và “ấm thân”.
[…]
Nếu mỗi gia đình và mỗi cá nhân chỉ lấy những mục tiêu như trên làm mục tiêu của cuộc sống và truyền từ đời nọ sang đời kia, còn lâu cộng đồng và đất nước với ngóc đầu lên được.
Trong khi người Việt nhiễm văn hoá Trung Quốc đã trở thành như đã nói trên, người Hoa khi ra hải ngoại lại thích ứng rất nhanh nên vươn lên khá nhanh và khá cao. Những đặc tính của người Hoa ở hải ngoại được mô tả như sau:
 
1.- Cần cù, việc gì cũng làm
 
2.- Tiết kiệm, không sống khoe khoang hay xa hoa.
 
3.- Khởi sự từ buôn bán nhỏ.
 
4.- Đơn vị kinh tế gia đình: Gia trưởng đóng vai trò quan trọng. Tài sản có thể truyền từ đời nọ sang đới kia.
 
5.- Hình thành những xí nghiệp không theo một hình thức chặt chẽ, không theo những quy luật nhất định, tất cả đều dựa vào chữ TÍN.
 
6.- Không làm những công việc có tính cách phức tạp hay quá to lớn, chỉ thích kinh doanh vào những lãnh vực đơn giản. Khi cần làm ăn lớn thường chia ra làm nhiều công ty con.
 
7.- Móc nối với chính quyền và cá nhân khác rất giỏi. Không tham gia chính quyền hay đảng phái nào, nhưng thường nắm được các nhân vật có địa vị quan trọng có thể bao che hay hổ trợ cho làm ăn.
(Tại Indonesia, người Hoa chỉ chiếm từ 3% đến 4% dân số, nhưng làm chủ 70% tài sản ở đất nước này với khoảng 160 trong số 200 xí nghiệp lớn của Indonesia. Gia đình ông Liem Sioe Liong, làm chủ xí nghiệp Salim với số vốn khoảng 9 tỷ mỹ kim, nhờ quen biết lớn với Suharto).
 
8.- Không thích tranh tụng, kiện cáo. Thường tìm cách dàn xếp mỗi khi có đụng chạm hay bị bắt vì vi phạm luật pháp.
 
9.- Phạm vi hoạt động gần như không biên giới.
 
10.- Thích ứng rất nhanh với những biến đổi của thời cuộc.
 
Trong bài “Mạng lưới kinh tế của người Hoa hải ngoại”, ông Phạm Văn Tuấn đã nhận thấy như sau về các hoạt động kinh doanh của người Hoa ở hải ngoại:
 
“Khi bắt đầu bước vào ngành thương mại, các người Hoa hải ngoại đã nhận được sự giúp đỡ từ các nhóm, các bang hay các cộng đồng của họ. Các hội tương trợ này được tổ chức căn cứ vào gia đình, hay nguồn gốc địa phương, hay thổ ngữ, chẳng hạn như các bang người Hẹ, Quảng Đông, Triều Châu, Phúc Kiến. Các hội hay các bang này đã hoạt động như một thứ ngân hàng nhờ đó người Hoa có thể mượn tiền, trao đổi tin tức, tuyển mộ nhân công, giới thiệu thương nghiệp, hay thương lượng các dịch vụ. Người Hoa hải ngoại thường tôn trọng chữ Tín, họ làm ăn bằng ước hẹn miệng và sự tin cẩn lẫn nhau, và họ không cần phải ký kết các văn bản, các giao kèo. Nếu một thương gia nào vi phạm lời hứa, người đó sẽ không bị truy tố ra pháp luật mà bị ghi vào sổ đen của các nhóm, các bang, đây là một tệ hại hơn, vì tất cả mạng lưới làm ăn của các cộng đồng người Hoa đều sẽ biết rõ sự việc, và việc kinh doanh của người vi phạm kể như bị chấm dứt.”
 
Số vốn của người Hoa hiện đang sống ở ngoại quốc được ước lượng khoảng 4.000 tỷ USD.
 
Cuộc kiểm tra năm 2010 cho thấy ở Mỹ hiện nay người Hoa chiếm 1%, còn người Việt là 0,5%, tức 1.548.449. Người Việt ở Cali là 581.946 nguời.
[…]
Trong khi người Việt đang chuẩn bị ra tranh cử các chức vụ dân cử tại địa phương, thành phố, tiểu bang và có thể liên bang, trong cuộc bầu cử sắp đến. Mục tiêu được mô tả là để bảo vệ và nói lên tiếng nói của cộng đồng. Thì, chúng tôi không thấy có một tổ chức chính trị nào của người Tàu hoạt động ở đây và không nghe nói họ sẽ đưa ai ra tranh cử.
 
Tôi nhớ lại trong cuộc bầu cử Tổng Thống Mỹ năm 2004, lúc đó liên danh George W. Bush đang tranh với liên danh John Kerry. Tôi có nhờ ông Tăng Kiến Hoa dẫn đến gặp một vài bang trưởng Tàu xem họ bầu cho ai. Họ cười và nói: Quy luật bầu cử là phù thịnh bất phù suy. Cứ thấy ai chắc thắng là đóng tiền cho người đó, không cần biết đường lối họ như thế nào. Họ đã nhận tiền là khi đắc cử họ sẽ giúp mình. Nếu hai người ngang ngữa, đóng tiền cho cả hai. Tôi hỏi người Tàu không có ai ra tranh cử dân biểu hay nghị sĩ gì sao. Họ cũng cười và nói: Người mình có vào được quốc hội cũng chẳng làm được chuyện mình muốn. Cứ thấy người nào có thế lực là đóng tiền cho người đó.
 
Thì ra người Tàu bầu cử bằng tiền chứ không phải bầu cử bằng phiếu như người Việt!
 
Tôi nhớ lại trong cuộc bầu cử năm 2000, vì hai liên danh George W. Bush và Albert A. Gore ngang ngữa, nên người Tàu đóng tiền cho cả hai. Tây An Tự và Thiền Sư Thanh Hải ở Los Angeles đã đóng tiền cho liên danh Gore nhưng lập danh sách giả những người góp tiền, bị đổ bể nên chúng ta mới biết được.
 
Chúng ta không mong người Việt có những nhà phát minh làm thay đổi nhân loại như John V. Blankenbaker (phát minh ra máy vi tính 1971), Bill Gates, Steve Jobs…, chúng ta chỉ mong người Việt biết quan tâm đến cộng đồng, đất nước và nhân loại nhiều hơn. Nhưng điều này quá khó. Đúng như người Mỹ đã nhận xét:
 
Người Việt vì những lý do vớ vẩn, có thể hy sinh những mục tiêu quan trọng vì lợi ích của những mục tiêu nhỏ (như kiếm chút danh chẳng hạn). [sacrifice important goals for the sake of small ones]
 
Người Việt thích tụ tập nhưng thiếu nối kết để tạo sức mạnh. Một người có thể hoàn thành một nhiệm vụ xuất sắc; 2 người làm thì kém, 3 người làm thì hỏng việc!

Chúng ta trông chờ vào thế hệ sắp đến, không bị vướng mắc với quá khứ, học được nhiều cái hay của xứ người, sẽ đưa cộng đồng và đất nước đi vào một hướng đi mới tốt đẹp hơn.

TKN

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Người Mỹ Nhận Xét Về Người Việt Nam _ Trần Kinh Nghị

Anh Sáu Nail Đi Thi Quốc Tịch Mỹ _ Nguyễn Hữu Thời

(TVVN): Anh Sáu là chồng chị Sáu Nail. Vợ anh làm nghề Nail, dân Việt trong chung cư nầy gọi anh là Sáu Nail cho tiện. Gần căn hộ của anh chị ở; có chị cũng tên Sáu. Để bà con dễ phân biệt, anh Tư Taxi đặt thêm “nick name” cho hai người; tùy theo nghề nghiệp họ đang làm: Chị Sáu Nail và chị Sáu Cuốn Chả Giò. Anh Sáu Nail làm thợ hàn. Tên thật anh là Lê Ráng. Bà thân mẫu anh hiếm muộn, cố gắng lắm, cầu khẩn, van vái khắp các đền chùa ở quê anh, mới sinh ra được anh. Nên cha anh đặt tên là Ráng. Lê Ráng.

Trước năm 1975, anh là trung đội trưởng nghĩa quân ở xã Nghĩa Thắng, Quảng ngãi, nhà anh gần rừng cao su, cận sơn. Vì vậy, Việt Cộng trên núi thường cứ tối đến là lẻn xuống làng, bắt bớ, hăm doạ, giết chóc, thu thuế. Anh được quận trưởng Tư Nghĩa khuyến khích, yểm trợ anh thành lập trung đội nghĩa quân. Từ đó xã Nghĩa Thắng được yên ổn một thời gian dài. Cộng Sản Bắc Việt chiếm Quảng ngãi vào tháng Ba năm 1975, chúng nhốt tù anh ba mươi hai tháng; lý do trung đội trưởng nghĩa quân “ Nguỵ”, và còn giữ khẩu súng “carbine” trong nhà, không khai báo, đem nạp, chúng nghi ngờ anh có âm mưu chống lại “cách mạng” (sic), và bắt nhốt tù, tra khảo anh, đánh đập dã man, anh chết đi, sống lại, cho đến khi gần chết chúng mới thả ra, về nhà chờ chết. Nhưng con người ta, sống chết đều có phần số, với thời gian dần dần anh trở lại bình thường. Anh ở tù Cộng Sản chưa tới ba năm; nên anh không đủ tiêu chuẩn trong chương trình HO. sau nầy.

Anh chị cũng hiếm muộn, chỉ sinh độc nhất có một người con gái tên Minh Nguyệt. Tên thật hay! Nguyệt là trăng. Minh là sáng. Minh Nguyệt là trăng sáng. Năm 1985, vợ chồng ký cóp, góp nhặt cho Nguyệt vượt biên. Chuyến đi thật may mắn, suông sẻ, không gặp bọn hải tặc, sóng êm, biển lặng. Đến đảo, cháu được nhà thờ Tin Lành bảo lãnh, và định cư ở Mỹ năm 1986.

Năm 2002, cháu Nguyệt thi đậu quốc tịch Mỹ; liền làm đơn bảo lãnh cha mẹ theo diện ODP (Orderly Departure Program) của chính phủ Hoa Kỳ đề ra. Anh chị đến Mỹ năm 2007. Cháu Nguyệt hướng dẫn anh chị học nghề ngắn hạn để đi làm ngay. Anh học thợ hàn, chị Sáu học nghề nail. Buổi tối, anh chị còn rủ nhau đi học Anh văn ở Trung Tâm BPSOS (Boat People SOS) ở đường Bolsa, Little Sài Gòn để thi quốc tịch Mỹ sau nầy.

Trung tâm có trụ sở chính tại Falls Church, tiểu bang Virginia, Hoa Kỳ do Tiến Sĩ Nguyễn Đình Thắng làm giám đốc điều hành, mục đích là giúp người Việt tị nạn hội nhập và phát triển khả năng sẵn có để xây dựng cho cộng đồng Việt Nam tại Hoa Kỳ vững mạnh, có một vị thế xứng đáng trên đất nước vĩ đại nầy. Trung tâm cũng tranh đấu cho người Việt bị đàn áp, bóc lột ở Việt Nam, phụ nữ VN bị bọn con buôn a tòng với bọn bạo quyền Cộng Sản VN lừa gạt đem bán cho bọn Tàu phù. Trung tâm cũng huấn luyện Anh ngữ cho những người Việt mới qua; để có đủ khả năng Anh ngữ cùng sự hiểu biết đại cương về lịch sử nước Mỹ, hiến pháp. bầu cử, ứng cử v… v… để thi nhập quốc tịch Mỹ.

Tôi gặp lại anh Sáu nơi đất khách, quê người sau hơn bốn mươi năm biệt tăm, không tin tức. “Tha hương ngộ cố tri” nên thỉnh thoảng tôi ghé thăm anh khi có dịp về Little Sài gòn; hầu ôn lại bao kỷ niệm thời trai trẻ ở quê nhà trước năm 1975. Tháng rồi gặp anh nơi buổi lễ đặ tượng Đức Thánh Trần, đường Bolsa. Sau lễ, anh mời tôi ghé qua nhà chơi. Trong câu chuyện anh kể:

“Anh Tám ơi! Tôi vừa thi rớt quốc tịch nữa rồi!”. Rồi anh buồn bã nói tiếp:

“Xui quá! Hai lần thi, tôi đều gặp giám khảo người Việt Nam“.

Tôi ngạc nhiên hỏi:

“Găp giám khảo người Việt Nam là may mắn sao gọi là xui xẻo? Nói nghe thử coi?”

“Cái đó cũng tuỳ người anh Tám ơi! Lần thứ nhất, tôi gặp người giám khảo Á Châu trẻ tuổi, tôi tưởng là Đại Hàn hay Phi Luật Tân. Ông nầy hỏi tôi nhiều câu về lịch sử nước Mỹ, về hiến pháp. Thượng viện, hạ viện v…,v… tôi trả lời suông sẻ. Xong, ông bảo tôi đọc và viết câu tiếng Anh. Tôi làm được lắm; nhưng khi ông quay tôi sự khác nhau giữa chữ NEVER và EVER, và đặt câu ví dụ, tôi ngập ngừng, lúng túng. Ông nầy còn trẻ lắm, tôi đoán trẻ hơn con Nguyệt nhà tôi”.

“Sao anh biết ông giám khảo nầy là người Việt Nam?

“Vì trước khi bảo tôi ra về, ổng nói với tôi bằng tiếng Việt?”

“Chú về học lại để thi lần sau đi. Chỗ nào không hiểu hỏi con cái trong nhà chỉ cho. Tôi ngạc nhiên, mắt sáng lên, nhìn vào cái thẻ thì ra cậu nầy người Việt tên Mỹ họ Việt; tôi mới biết rõ, ổng cũng là dân ăn nước mắm như mình. Chừng ba tháng sau, tôi nhận được cái thơ của Sở Di Trú cho thi lại kỳ hai. Cái thư còn để trong hộc bàn kia”.

“Anh cho tôi xem cái thư được không?”

Đọc thư, tôi mới biết đại khái là anh Sáu qua được phần đọc, viết tiếng Anh cùng lịch sử nước Mỹ. Thư cũng cho phép anh nạp đơn thi lại, và muốn khiếu nại thì ra toà “hearing”. Đọc thư xong, tôi có hỏi sao anh không nạp đơn khiếu nại “hearing”. Anh nói: “Họ chỉ cho phép 30 ngày nạp đơn khiếu nại, mà tôi nhận được thơ đã quá hạn cho phép”. Tôi lại hỏi tiếp:

“Lần thi vừa rồi sao anh lại hỏng nữa?”

Bỗng nhiên nét mặt anh trở nên căng thẳng, đôi mắt như sáng lên, anh ấm ức, chậm rãi trả lời:

“Thi lần nầy, bà vợ tôi xin sở nghỉ một ngày đi theo để rút kinh nghiệm cho kỳ thi sắp đến của bả. Chúng tôi ngồi nơi phòng chờ đợi. Một bà dáng dấp người Á Châu, mặc đầm, cở năm mươi, thấp, mang kiếng trắng bước ra khung cửa, quét mắt đứng nhìn tổng quát một vòng nơi phòng đợi, hình như đang tìm kiếm ai đó. Bà xã bấm tay vào đùi tôi nói nhỏ. “Mấy bà bạn học cùng lớp với em tả đúng dáng dấp bà nầy đây. Bà nầy Việt nam gốc Tàu Chợ Lớn hay gốc Miên gì đó. Họ nói, mười người Việt Nam thi quốc tịch gặp bà nầy hỏi thì chín người rớt!”. Nghe nói, tôi lo lắm, vái Trời đừng gặp bà nầy. Nhưng “ghét của nào Trời trao của nấy.” Chừng 5 phút sau, bà khi nảy, ôm xấp hồ sơ, gọi tên tôi. Trống ngực tôi đập thùm thụp. Tôi “nervous” lắm! đứng dậy đi theo bà. Bà làm theo thủ tục “thề thốt”, xem drive license, ID… xong, bà bắt đầu hỏi tên họ, tuổi tác, sinh quán, địa chỉ hiện tại, vừa hỏi, vừa nhìn vào hồ sơ. Giọng nói tiếng Anh của bà thật khó nghe, không giống giọng Mỹ, và không giống giọng Thầy Cô Việt Nam của tôi dạy thi quốc tịch ở BPSOS. Giọng nói của bà như là đang ngậm kẹo hay đang ăn cơm, vừa ăn, vừa nói. Nhưng tôi đã lấy lại bình tĩnh trả lời thông suốt. Bỗng bà hỏi tiếp, “Ông có muốn đổi tên không?”. Tôi ngập ngừng, phân vân chưa biết trả lời ra làm sao. Trong bụng tôi đang nghĩ; mình tên Ráng thì mình nên đổi tên Mỹ gì gần giống tên Việt Nam. Tên Ron, tên Ran, tên Ram gì đây. Tôi chưa kịp trả lời thì bà nói ngay:

“Tiếng Anh ông còn kém lắm, nghe không hiểu tiếng Anh”.

Rồi bà tiếp tục hỏi:

“Ông thi quốc tịch Mỹ để làm gì?“.

“Tôi thi để đi bầu cử, và khi về Việt Nam thăm bà con, cha mẹ già, anh em còn kẹt bên đó, nếu có chuyện gì, tôi chạy vào Tòa Đại Sứ Mỹ cầu cứu, nhờ họ giúp đỡ”.

Bà cười gượng, nét mặt có vẻ khi dễ và không tin. Lúc nầy, bà mới nói bằng tiếng Việt: “Già rồi, đi học để thi quốc tịch chi cho mệt, lên máu, đái đường, mất ngủ. Đi làm về ở nhà coi phim bộ hay hơn. Thi cử làm gì cho mất thời gian! Còn ông về Việt Nam với cái hộ chiếu Việt Nam cũng có sao đâu; miễn là ông đừng tham gia biểu tình, chống đối gì họ”.

Với cái giọng nói của bà kiểu đó, tôi biết thế nào bà cũng đánh rớt, nên tôi tính gân cổ cãi lại, và định nói: “Nếu chúng tôi không đi thi quốc tịch thì bà lấy “job“ đâu mà làm, mà phỏng vấn, hỏi han nầy nọ”. Tôi chưa kịp nói câu định nói; thì bà đứng dậy; đưa cái giấy thi rớt và bảo tôi ra về.

Tôi vừa đi ra cửa, vừa suy nghĩ câu nói của các bà bạn vợ tôi ở trường học: Gặp bà Việt Nam nầy phỏng vấn thì 10 người chỉ đậu được 1. Thật đúng quá!”.

Người đồng hương Việt Nam tị nạn Cộng Sản qua đây, đa phần họ thường sống quây quần, giúp đỡ nhau, chỉ dẫn cho nhau những điều họ biết về xã hội Mỹ, tìm giúp và giới thiệu việc làm; nhưng cũng có một số ít khác hẳn.

Thật đáng cho chúng ta phải suy gẫm, và cẩn thận khi gặp những trường hợp nầy!

Nguyễn Hữu Thời

(Nguồn: tvvn.org)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Anh Sáu Nail Đi Thi Quốc Tịch Mỹ _ Nguyễn Hữu Thời

Tháng Tư Lạc Loài _ Thơ Nguyễn Phiến

THÁNG TƯ LẠC LOÀI.

165475920_2141284299346418_5532802647572063316_n 

Ai cũng gặp chỉ một người không gặp
Cô sinh viên duyên dáng chung giảng đường
Từng một thuở cùng đội nắng sân trường
Gõ nhịp bước giữa Sài Gòn hoa lệ
Cái thuở Xuân thì thắm sắc thơm hương
Sài Gòn đổi tên nàng mất chỗ ở
Sự nghiệp cuộc đời dập vuì dang dở
Tôi đoạ đày vô tịch chốn lao trường
Lưả nào đây thiêu hủy hết yêu đương
Tàn phá luôn cả thành thị phố phừơng
Đẩy con người vào rừng hoang nuí thẳm
Chập chùng bóng đêm xác xơ hoang vắng
Mấy chục năm rồi vật vờ cay đắng
Đất trời đảo lộn dâu bể khôn lường
Người về đâu buổi hoàng hôn gác núi
Tháng tư buồn man mác nỗi đau thương .

Phiến nguyễn

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Tháng Tư Lạc Loài _ Thơ Nguyễn Phiến

Đừng Trở Lại Sài Gòn_Nhạc Phạm Anh Dũng – Thơ Trần Trung Đạo

Đừng Trở Lại Sài Gòn

Nhạc: Phạm Anh Dũng

Lời: (Thơ) Trần Trung Đạo

Tiếng hát: Tâm Thư

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Đừng Trở Lại Sài Gòn_Nhạc Phạm Anh Dũng – Thơ Trần Trung Đạo

Giải Mật Hồ Sơ Việt Nam 1963 (Điểm sách)

Hoa Kỳ Giải Mật Hồ Sơ Việt Nam 1963

LỜI GIỚI THIỆU

Sách này sẽ được ghi theo hình thức biên niên sử, về các sự kiện từ ngày 8/5/1963 cho tới vài ngày sau cuộc chính biến 1/11/1963, nhìn từ phía chính phủ Hoa Kỳ. Phần lược sử viết theo nhiều tài liệu, trong đó phần chính là dựa vào tài liệu Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ “Foreign Relations of the United States 1961-1963”, một số tài liệu CIA lưu giữ ở Bộ Ngoại Giao, và một phần trong sách “The Pentagon Papers” của Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ, ấn bản Gravel Edition (Boston: Beacon Press, 1971). Vì giờ tại Việt Nam và Hoa Kỳ cách biệt nhau, cho nên đôi khi ghi ngày sai biệt nhau một ngày.

Sách này chỉ trình bày từ kho tài liệu của chính phủ Hoa Kỳ, tức là nhìn từ phía chính phủ Mỹ. Còn hai kho tài liệu khác chưa phổ biến hết: (1) Văn khố chính phủ Việt Nam Cộng Hòa (tức Nam VN), hiện đang được nhà nước Hà Nội tịch thu từ sau ngày 30/4/1975, cho thấy diễn biến Miền Nam VN trong năm 1963 nhìn từ chính phủ Tổng Thống Ngô Đình Diệm và Cố vấn Ngô Đình Nhu; (2) Văn khố chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (tức Bắc VN), cho thấy diễn biến Miền Nam VN nhìn từ Hà Nội và từ lực lượng du kích MTGPMN.

Sách này rất hữu ích cho các sử gia và sinh viên ngành sử. Độc giả có thể kiểm chứng với tài liệu gốc tiếng Anh khi đọc sách này. Sách dễ dàng dò ngược về các tài liệu gốc.

– Thí dụ, độc giả muốn đọc hồ sơ gốc bằng tiếng Anh về buổi nói chuyện giữa ông bà Trần Văn Chương (cha mẹ của bà Ngô Đình Nhu) và Edward Lansdale, chỉ cần vào Google và gõ vài chữ từ-khóa trong sách này – “tran van chuong lansdale 1963” – thì sẽ ra đường dẫn:

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1961-63v03/d304

– Thí dụ, thắc mắc về Giáo sư Smith đang theo dõi tình hình VNCH vào những ngày sắp đảo chánh, chỉ cần vào Google.com và gõ “professor Smith Mcnamara saigon 1963” thì sẽ ra:

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1961-63v04/d150

– Thí dụ. Sẽ phức tạp hơn, nếu độc giả muốn tìm bản tiếng Anh trong câu nói của Đại sứ Lodge nhận định về hai ông Diệm và Nhu được dịch trong sách này là:

 “Họ trong cốt tủy là một kiểu gia đình độc tài, kiểu thời trung cổ Đông phương, họ hiểu rất ít, nếu gọi là hiểu, về cái nghệ thuật công quyền quần chúng. Họ không thể nói chuyện với người dân, họ không thể thuyết phục báo chí, họ không thể trao được thẩm quyền hay gợi được lòng tin; họ không thể hiểu được khái niệm về chính quyền như là kẻ phục vụ cho người dân. Họ chỉ quan tâm tới an ninh thể chất và sống còn, chống lại bất kỳ hiểm họa nào — dù là hiểm họa cộng sản hay phi cộng sản.”

Chúng ta biết rằng Lodge nói câu này, biết điện văn gửi từ tòa đại sứ và biết về gia đình nhà Ngô với thời gian cụ thể ghi trong sách này, độc giả vào Google gõ “lodge embassy family september 5 1963 3 p.m.” thì sẽ ra bản Anh văn ở:

Như thế, hầu hết các trang trong sách này có thể dò ngược ra bản tiếng Anh từ kho hồ sơ giải mật của Hoa Kỳ.

 Tuy chỉ nhìn từ 1/3 hướng nhìn, sách này cũng cho thấy các tài liệu Wikipedia có nhiều điểm sai lầm. Chính biến 1963 hoàn toàn là do người Việt thực hiện, không hề như lời đồn “do chính phủ Mỹ xúi giục lật đổ ông Diệm vì ông Diệm không muốn Mỹ đưa quân vào VN.” Thêm nữa, các tướng lo sợ phía Hoa Kỳ bán đứng cuộc chính biến, nên chỉ báo cho phía Hoa Kỳ biết cuộc khởi động vũ lực chỉ 4 phút đồng hồ trước khi khai hỏa, thay vì như đã hứa là sẽ báo trước 48 giờ hay 4 giờ. Sách này cũng cho thấy sự do dự phía Mỹ: vào ngày 30/10/1963 (hai ngày trước khi khởi động vũ lực), Tướng Harkins, Tư Lệnh MACV, còn cố vấn cho Tổng Thống Kennedy rằng có lẽ nên yêu cầu các tướng dẹp bỏ âm mưu dung vũ lực để “đảo chánh”.

Các tài liệu trong kho dữ liệu CIA và Bộ Ngoại Giao Mỹ thực ra cũng bất toàn, hoặc bất nhất. Thí dụ, vài điện văn trong tháng 8/1963 ghi rằng có 3 nhà sư (trong đó có Thượng tọa Thích Trí Quang) vào trụ sở USOM xin ẩn trú, nhưng các điện văn tháng 9/1963 ghi rằng các nhà sư đã vào ẩn trú trong Tòa Đại sứ Mỹ. Thí dụ, về cái chết của hai ông Diệm và Nhu, các hồ sơ này ghi nhiều lời kể dị biệt từ nhiều người khác nhau. Có thể hiểu rằng, các nhà ngoại giao và tình báo nghe sao thì ghi lại như vậy, có thể có thêm vài lời bình luận; họ không có thì giờ và không có nhiệm vụ để điều tra xem ai là thủ phạm hay ai là người ra lệnh giết chết hai anh em nhà Ngô. Do vậy, đây là các tài liệu gốc: chuyện xảy ra trong ngày, ngay buổi chiều hay tối là báo cáo qua điện văn về Washington liền; báo cáo trễ lắm là hôm sau.

Nhiều tài liệu được dịch tóm tắt trong sách này, vì kho tư liệu mênh mông, không thể dịch hết những gì không quan trọng. Cách xưng hô trong sách này sẽ gọi cho gọn theo phương pháp viết của quốc tế là, một lần gọi là Tổng Thống Diệm, rồi sau đó gọi ngắn là Diệm. Không phải là cố ý xưng hô bất kính. Các chữ viết tắt đặt ở cuối sách này. Có những chữ, hay đọan, in đậm là do những người dịch muốn làm rõ thêm tầm quan trọng của sự kiện.

 Phần cuối sách này là bản Việt dịch từ bài “New Light in a Dark Corner: Evidence on the Diem Coup in South Vietnam, November 1963” trong Văn Khố An Ninh Quốc Gia (National Security Archive, viết tắt là: NSA), Đại Học George Washington University. Bài này do 2 người biên tập – John Prados và Luke A. Nichter – ghi vài chuyện ít kể về 1963.

 Sách được xuất bản bởi nhà xuất bản Ananda Viet Foundation và đã phát hành trên mạng Amazon:

https://www.amazon.com/Hoa-Giai-Mat-Viet-Vietnamese/dp/1087950023/

(Nguồn: TreDepOnline)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Giải Mật Hồ Sơ Việt Nam 1963 (Điểm sách)

Lịch Sử Lâu Dài, Xấu Xí Về Nan Phân Biệt Chủng Tộc Người Gốc Á_Đoản Kiếm (dịch)

LỊCH SỬ LÂU DÀI, XẤU XÍ

VỀ NẠN PHÂN BIỆT CHỦNG TỘC VÀ BẠO LỰC

CHỐNG NGƯỜI MỸ GỐC Á

  Đoản Kiếm dịch  
 
Một thanh niên da trắng, Robert Aaron Long, đã giết chết tám người tại ba tiệm spa ở Atlanta vào tối thứ Ba; sáu trong số các nạn nhân là phụ nữ gốc Á. Dường như vụ giết người có động cơ chủng tộc! Nghi phạm bị buộc tội giết 8 người trong vụ xả súng ở khu vực Atlanta nhằm vào các spa do người châu Á điều hành.
Theo một nghiên cứu gần đây, tội phạm chống lại người châu Á đã tăng vọt 150% kể từ khi đại dịch Covid bắt đầu. Chỉ trong 2 tháng vừa qua đã có trên 500 vụ tấn công người gốc Á châu!
Người gốc Á đã có mặt ở Hoa Kỳ hơn 160 năm, và từ lâu đã trở thành mục tiêu của sự cố chấp, kỳ thị. Dưới đây là cái nhìn về bạo lực và phân biệt chủng tộc mà người nhập cư gốc Á và người Mỹ gốc Á đã phải đối mặt trong lịch sử nước Mỹ.
People v. Hall
Những người nhập cư Trung Quốc bắt đầu đến Hoa Kỳ với số lượng đáng kể vào những năm 1850, phần lớn đến California và các bang bờ Tây, để làm việc trong lĩnh vực khai thác mỏ và xây dựng đường sắt. Nhu cầu đối với những công việc nguy hiểm, lương thấp này khá cao, và người nhập cư Trung Quốc sẵn sàng làm việc đó. Gần như ngay lập tức, trào lưu phân biệt chủng tộc “Người châu Á đến để ăn cắp việc làm của người da trắng” ra đời. Năm 1854, Tòa án Tối cao California đã củng cố vấn đề phân biệt chủng tộc đối với những người nhập cư châu Á với vụ kiện “People v. Hall,” ra phán quyết rằng những người gốc Á không có quyền làm chứng chống lại người Da trắng trước tòa. Như vậy, người da trắng có thể thoát khỏi sự trừng phạt vì bạo lực chống lại người châu Á. Trong trường hợp này, đó là một vụ giết người: George Hall bắn chết người nhập cư Trung Quốc Ling Sing, và lời khai của các nhân chứng người Tàu đã bị bác bỏ vì họ đều là người châu Á. George Hall thoát tội!
Thảm sát người Hoa năm 1871
Ngày 24 tháng 10 năm 1871, sau khi một người đàn ông Da trắng bị chết trong cuộc giao tranh giữa các băng nhóm người Hoa, hơn 500 người Da trắng và Hispanic đã bao vây và tấn công cộng đồng người Hoa ở Los Angeles. Ít nhất 17 người đàn ông Trung Quốc đã bị giết, trong đó có một bác sĩ. Họ bị treo cổ bất cứ nơi nào mà những kẻ bạo loạn có thể treo dây thòng lọng. 8 trong số những kẻ bạo loạn bị kết tội “ngộ sát,” nhưng bản án của họ đã bị hủy. Không ai bị trừng phạt!!!
Đạo luật loại trừ người Hoa năm 1882
Khủng hoảng kinh tế trong những năm 1870 đã tạo ra một đợt gia tăng chủ nghĩa phân biệt chủng tộc chống người châu Á. Năm 1882, Quốc hội Mỹ thông qua Đạo luật Loại cấm người Trung Quốc nhập cư trong 20 năm. Tổng thống Chester A. Arthur đã phủ quyết nó, nhưng sau đó đã ký một phiên bản khác với lệnh cấm 10 năm. Đây là luật đầu tiên đặt ra hạn chế người Tàu nhập cư vào Hoa Kỳ. Nó được gia hạn hơn 60 năm trước khi bị bãi bỏ vào năm 1943.
Bùng phát bệnh dịch hạch ở San Francisco
Năm 1900, một trận dịch hạch bùng phát ở San Francisco. Nhiều khả năng dịch bùng phát từ một con tàu từ Úc, nhưng vì nạn nhân đầu tiên của tiểu bang là một người nhập cư Trung Quốc, nên cả cộng đồng TQ bị đổ lỗi. Khu phố Tàu của San Francisco bị cảnh sát bao vây, không cho bất cứ ai, trừ cư dân Da trắng, ra vào. Người Trung Quốc bị lực lượng chức năng khám xét nhà và phá hủy tài sản.
Đây là khúc dạo đầu cho chủ nghĩa phân biệt chủng tộc nhắm vào người Mỹ gốc Á trong đại dịch coronavirus, mà cựu Tổng thống Donald Trump thường gọi là “virus Trung Quốc”, “virus Vũ Hán” và Kung Flu!
Trại tập trung người Nhật trong WWII:
Vào những năm 1940, đã có hàng chục nghìn người nhập cư Nhật Bản và người Mỹ gốc Nhật sống tại Hoa Kỳ. Sau khi Nhật Bản ném bom Trân Châu Cảng và Hoa Kỳ tham gia Thế chiến thứ hai, chính phủ Hoa Kỳ buộc tất cả họ vào các trại tập trung trong suốt thời gian chiến tranh vì nghi ngờ rằng họ có thể viện trợ cho kẻ thù. Điều kiện trong các trại rất khắc nghiệt, nóng như đốt vào mùa hè và lạnh cóng vào mùa đông. Không có gián điệp nào được tìm thấy. Sau chiến tranh, họ được trả tự do. Nhiều người quay trở về để thấy nhà cửa và cơ sở kinh doanh của họ bị phá hoại hoặc bị tịch thu. Năm 1988, những người sống sót đã nhận được lời xin lỗi của tổng thống Reagan và $20.000 bồi thường mỗi người.
Người nuôi tôm Việt Nam và KKK:
Đây là câu chuyện mà nhiều người Việt Nam ở Mỹ thường kể cho nhau nghe…
Sau Chiến tranh Việt Nam kết thúc, nhiều người Việt Nam chạy trốn cộng sản sang định cư ở Texas, nhiều người trong số những người nhập cư đã theo nghề đánh bắt tôm. “Chúng tôi thích thời tiết, chúng tôi thích đánh bắt tôm, chúng tôi muốn có cơ hội để bắt đầu kinh doanh của riêng mình”, Ông Nguyễn Văn Nam nói với The Washington Post vào năm 1984. Khi họ làm việc chăm chỉ và bắt đầu thống trị ngành tôm, khẩu hiệu “người châu Á đến lấy công việc của người da trắng” quay trở lại, và lần này nó đội mũ trùm đầu màu trắng KKK!. Lãnh đạo của Ku Klux Klan, Louis Beam, huấn luyện các thành viên KKK tấn công người Việt theo kiểu biệt kích; họ đốt cháy những chiếc thuyền do người Việt làm chủ.
Vụ giết Vincent Chin
Ngày 19/6/1982, người Mỹ gốc Hoa 27 tuổi Vincent Chin, chuẩn bị kết hôn và tổ chức tiệc mừng với bạn bè ở Detroit. Hai người đàn ông da trắng đã gây lộn với Chin ở quán bar, cho Chin là “người Nhật” đã phá hủy ngành công nghiệp ô tô của Mỹ. Họ dùng gậy bóng chày đánh Chin. Chin chết vài ngày sau đó. Những kẻ tấn công anh ta đã mặc cả về tội ngộ sát, có thể chịu mức án 15 năm. Nhưng thẩm phán chỉ tuyên phạt quản chế và phạt $3.000. Bản án kỳ quặc đã gây phẫn nộ trong cộng đồng người Mỹ gốc Á.
Cuộc bạo loạn ở L.A.
Căng thẳng đã hình thành giữa cộng đồng người Mỹ da đen và người Mỹ gốc Hàn ở Los Angeles trong nhiều năm. Sau đó đến ngày 29 tháng 4 năm 1992, sự tha bổng các nhân viên cảnh sát đánh Rodney King đã đẩy thành phố LA vào bạo loạn, các doanh nghiệp Mỹ gốc Hàn trở thành mục tiêu; hàng ngàn cửa hàng bị đập phá trong thời gian đó.
Hận thù nhầm vì 9/11.
Sau vụ tấn công khủng bố ngày 11 tháng 9 năm 2001, tội ác chống người Hồi giáo đã tăng vọt. Bao gồm cả những người được coi là Hồi giáo, cả người gốc Nam Á. Chỉ 4 ngày sau vụ khủng bố, Frank Silva Roque đã sát hại Balbir Singh Sodhi, chủ một cây xăng người gốc Ấn Độ theo đạo Sikh, mà thủ phạm Roque nhầm là người Hồi giáo.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Lịch Sử Lâu Dài, Xấu Xí Về Nan Phân Biệt Chủng Tộc Người Gốc Á_Đoản Kiếm (dịch)

CON NGƯỜI CÓ SỐ – Đoàn Dự

Con người có số

Đoàn Dự

saigon.jpg

Tên hắn là Khải. Hắn học với tôi năm lớp 11 tại trường Tân Phương, Gò Vấp. Nhà hắn ở trại định cư Cái Sắn nằm giữa hai tỉnh Long Xuyên và Rạch Giá. Hình như bố mẹ hắn có quen với một ông trùm họ đạo ngày trước cũng ở Cái Sắn, sau lên Sài Gòn, trông coi giúp Cha sở ở nhà thờ Ngã năm Bình Hòa, Gia Định. Rồi hắn lên Sài Gòn, nhờ ông trùm đó xin với Cha cho ở nhờ ngoài hành lang nhà thờ, làm người kéo chuông, trông coi, quét dọn… để có chỗ ăn ở, đi học. Cha thấy hắn ngoan ngoãn, lễ phép, nhất là trước đây lại cùng họ đạo với ông trùm nên rất vui lòng.

Lúc ấy, tại Xóm Gà Gia Định có trường Tân Phương của ông Phan Ngô mới mở, dạy tới lớp Đệ Nhị (tức lớp 11 bây giờ). Cha nói với ông Phan Ngô xin cho hắn học miễn phí để chuẩn bị đi thi Tú tài I. Phần vì trường mới mở đang cần học sinh, phần vì nể lời Cha nên ông Phan Ngô cũng đồng ý. Ngoài ra, Cha thấy hắn ham học ngoại ngữ, giỏi tiếng Anh nên mỗi tháng cho tiền hắn học thêm Anh văn cao cấp ở Hội Việt-Mỹ đường Mạc Đĩnh Chi, Tân Định. Như vậy, ngoài việc học ở trường Tân Phương vào các buổi sáng, cứ đến buổi chiều, mỗi tuần ba lần, hắn cuốc bộ từ Gia Định lên Tân Định để học tại Hội Việt-Mỹ. Cha cũng thích ngoại ngữ, buổi tối hắn thường chỉ dẫn thêm tiếng Anh cho Cha.

Trường hợp tôi thì lại khác. Nhà tôi cũng nghèo, mẹ tôi làm thợ dệt nhưng tôi thi đậu hạng nhì vào lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ) trường Nguyễn Trãi nên được học bổng, mỗi tháng 300 đồng, tương đương với một chỉ vàng lúc bấy giờ, việc sách vở, học hành đỡ phải lo lắng. Ba năm sau, khi bắt đầu lên đến lớp Đệ Ngũ (lớp 8), tôi và hai bạn khác trong lớp rủ nhau “học nhảy”: Trường Nguyễn Trãi lúc đó chưa có cơ sở nên phải học nhờ tại trường Tiểu học Đa Kao ở số 94 đường Phan Đình Phùng (bây giờ là đường Nguyễn Đình Chiểu). Tất cả các lớp đều học buổi chiều, còn buổi sáng thì học sinh trường Đa Kao học.

Buổi sáng được nghỉ, ba đứa chúng tôi đóng học phí học lớp Đệ Tứ (lớp 9) trường Cộng Hòa của giáo sư Phạm Văn Vận ở đường Pasteur để thi Trung học Phổ thông, nếu đậu sẽ sớm được một năm, cái đó kêu là “học nhảy”. Nhà nghèo, nên dù học thêm lớp Đệ Tứ trường tư nhưng tôi vẫn tiếp tục học lớp Đệ Ngũ trường công để được học bổng và đề phòng nếu rớt Trung học thì vẫn có chân trong trường công.

Cuối năm ấy, cả ba đứa chúng tôi đều đậu Trung học, rồi thi vào lớp Đệ Tam (lớp 10) trường Hồ Ngọc Cẩn, tức lại trở lại trường công. Tôi đậu hạng 5 trong số 52 học sinh thi đậu, hơi thấp, không được học bổng vì Bộ Quốc gia Giáo dục chỉ cho mỗi lớp có 3 người, từ hạng 1 tới hạng 3. Hai anh bạn yên tâm học lớp Đệ Tam tại Hồ Ngọc Cẩn, còn tôi, nhảy được một năm nhưng mất học bổng, tôi ân hận lắm.

Đúng lúc ấy ông Phan Ngô mở trường Tân Phương có tới lớp Đệ Nhị (lớp 11 bây giờ – thời đó trường tư chưa trường nào có lớp Đệ Nhất, học xong lớp Đệ Nhị, đậu xong Tú tài I được quyền xin vào Đệ Nhất trường công, bắt buộc trường công phải nhận, thời ông Diệm là như thế, rất ưu tiên cho học sinh).

Ông Phan Ngô là hiệu trưởng trường Tân Thạnh ở đường Đinh Công Tráng, Tân Định. Người em con chú con bác với ông là ông Phan Thuyết làm giám đốc. Trường dạy giỏi, nổi tiếng nên rất đông học sinh. Nhưng không hiểu hai anh em có chuyện xích mích gì đó nên bán trường, ông Phan Thuyết về mở trường Đạt Đức ở Phú Nhuận, còn ông Phan Ngô mở trường Tân Phương ở Gò Vấp.

Vào học lớp Đệ Nhị trường Tân Phương, tôi quen với hắn rồi dần dần hai đứa trở thành thân thiết với nhau. Tôi chưa từng thấy một người bạn nào nghèo như vậy. Ngày nào đi học hắn cũng mặc một bộ đồ duy nhất: chiếc áo sơ mi cũ màu cháo lòng có hai miếng vá, một miếng ở lưng, một miếng ở vai; chiếc quần ka ki cũng cũ, vá một miếng lớn ở mông. Có lẽ hắn tự vá lấy bằng chỉ đen, đường chỉ vụng về trông thô kệch chẳng ra sao cả. Chân hắn đi đôi dép Nhật mòn vẹt, sứt mẻ, một quai màu xanh, một quai màu đỏ, cột bằng dây kẽm. Có lần tôi hỏi sao hai quai dép lại bên xanh bên đỏ? Hắn cười, hơi mắc cỡ: “Tại mình nhặt được trong thùng rác ấy mà. Nó bị đứt, họ vứt đi, mình kiếm được hai cái quai cột vô đi tạm chứ chẳng lẽ đi học lại đi chân không”.

Hắn nghèo, cả lớp ai cũng biết nhưng ai cũng thông cảm, chẳng ai chê cười. Nhất là các chị, nhiều khi giấm giúi cho hắn tiền uống nước. Ngày tết, trường tổ chức cắm trại, thi đấu bóng chuyền và văn nghệ ở trong sân, mỗi lớp có một cái quầy nho nhỏ cung cấp bánh mì, kẹo bánh và nước ngọt cho lớp của mình. Mỗi bạn trong lớp đóng mỗi người 10 đồng, hắn không có tiền, định không tham dự, các chị bàn nhau không bắt hắn đóng.

Cuối năm ấy, lớp chúng tôi có 51 người, thi đậu ngay trong khóa 1 là 13 người, trong đó có tôi và hắn. Tỉ lệ như vậy là khá cao, bởi vì thi tú tài thời đó rất khó, trường tư giỏi lắm cũng chỉ đậu khoảng 10% là cùng, đằng này đậu tới hơn 25%. Thầy Phan Ngô mừng lắm, thầy nói: “Trường Tân Phương là nhứt, không khác gì trường Tân Thịnh ngày trước”.

Sau khi đậu xong Tú tài phần I, các bạn người Nam thì đa số nộp đơn vào học lớp Đệ Nhất (lớp 12) trường Petrus Ký, còn tôi và hắn là người Bắc nên nộp đơn vào trường Chu Văn An. Tôi từ trường công lại trở lại trường công, “nhảy” được hai năm. Còn hắn, có sự tiến bộ: ông trùm nhà thờ Ngã năm Bình Hòa cho hắn mượn một chiếc xe đạp cũ. Hội Phụ huynh học sinh Chu Văn An cứu xét, thấy hắn nghèo, cho hai kỳ học bổng, mỗi kỳ 500 đồng và một bộ quần áo may sẵn, hơi ngắn.

Cuối năm ấy, đậu xong Tú tài phần II, tôi thi vào Đại học Sư Phạm còn hắn thì thi vào trường Kỹ sư Phú Thọ nhưng rớt. “Cậu ngốc lắm, giá thi Sư Phạm với tớ có lẽ đã đậu, thi Kỹ sư Phú Thọ khó muốn chết, tớ không dám nghĩ đến”. “Tại tớ thi ngành Điện nên mới rớt chứ giá thi Công chánh hay Công nghệ thì đỡ hơn”. Hắn rớt, đáng lẽ bị kêu đi sĩ quan Thủ Đức nhưng có người anh cũng đã ở trong quân đội nên được hoãn. “Tớ phải về Cái Sắn làm giấy tờ nộp hồ sơ hoãn dịch cậu ạ”. “Hoãn thì được rồi nhưng làm sao có tiền đi xe?”. “Cha có cho. Cha dặn làm giấy tờ xong, nhớ lên xem người ta có cho thi vào ngành nào thì thi chứ không lại lỡ mất một năm học”.

Hôm lên, hắn đến nhà tôi chơi và hỏi những ngày hắn về Cái Sắn, ở Sài Gòn họ có cho thi gì không. Tôi nói Tổng nha Cảnh sát ra thông cáo cho thi lấy 50 người vào học khóa Biên tập viên cảnh sát, học bổng mỗi tháng cũng 1,500 đồng giống như Đại học Sư phạm và Quốc gia Hành chánh. “Biên tập viên cảnh sát là làm gì?”. “Tớ không rõ, họ nói cũng học 3 năm, ra làm phó quận cảnh sát”. “Được đấy, có lẽ tớ sẽ nộp đơn thi Biên tập viên cảnh sát”. Thời chúng tôi, con nhà nghèo, thi vào ngành nào thì phải nhắm có học bổng chứ nếu học những trường không có học bổng như Y khoa, Dược khoa, Luật, Văn khoa, Khoa học v.v…, tuy không phải thi tuyển nhưng không có tiền ăn học suốt bao nhiêu năm.

Giữa lúc hắn đang lo làm đơn thi Biên tập viên cảnh sát thì có tin Bộ Quốc gia Giáo dục ra thông cáo, Cơ quan Văn hóa Liên Hiệp Quốc UNESCO cho hai học bổng, một thi tiếng Anh, du học tại Mỹ, một thi tiếng Pháp, du học tại Pháp hay Thuỵ Sĩ gì đó, tất cả mọi khoản đều do Liên Hiệp Quốc đài thọ, học tiến sĩ kinh tế, sau này sẽ ra làm cho Liên Hiệp Quốc, giúp đỡ các nước nghèo. “Cậu đã biết tin đó chưa?”. “Chưa, tớ không biết gì hết, nhà thờ đâu có radio mà nghe. Cậu có nộp đơn không?”. “Không, Tú tài II tớ đậu Bình Thứ chứ đâu phải hạng Bình như cậu.

Họ bắt phải từ hạng Bình trở lên mới được thi”.

Thời chúng tôi, thi tú tài I hay tú tài II, kết quả thi đậu có 5 hạng gọi theo tiếng Pháp: đậu thường gọi là hạng Thứ (Passable); trên Thứ là Bình Thứ (Assez Bien); trên Bình Thứ là Bình (Bien); trên Bình là Ưu (Honorable); rồi đến Tối Ưu (Très Honorable) là hết mức, môn nào cũng phải đạt tối đa khoảng 20 điểm. Hắn đậu Bình, cao hơn tôi một bậc.

“Nộp thì nộp vậy thôi chứ cả Anh văn lẫn Pháp văn mới lấy có hai người, khó lắm, chắc tớ không đậu được đâu”. “Biết đâu đấy, cứ nộp đơn đi, may mà giờ vinh quang đã điểm thì bọn cắc ké nghèo mạt rệp như tụi mình cũng ngon lành ra phết”. “Vậy tớ nộp đơn cả bên UNESCO lẫn bên Biên tập viên cho chắc ăn”.

Hắn nộp đơn xong, khoảng hai tháng sau thì dự cuộc thi của UNESCO. Hắn kể rằng, đợt thứ nhất, hơn 200 người cả Anh văn lẫn Pháp văn, thi viết, loại bớt còn 50 người. Đợt thứ nhì, 50 người lại loại lần nữa, còn lại 10 người trong đó có hắn. Rồi 5 người trong nhóm Anh văn bọn hắn vào “sát hạch” tại tòa đại sứ Mỹ, còn 5 người nhóm Pháp văn thì sát hạch tại tòa đại sứ Pháp hay Thuỵ Sĩ, hắn không để ý.

Hắn kể, giám khảo nhóm Anh văn của hắn gồm ba giáo sư, một ông người Mỹ, một ông người Canada, một ông người Úc hay Tân Tây Lan gì đó hắn không biết rõ, tất cả đều nói tiếng Anh.

Họ thay đổi nhau quay hắn về tình hình kinh tế các nước trên thế giới, về vai trò của một nhà kinh tế học đối với các nước nghèo như ở châu Phi chẳng hạn.

Cuối cùng, vị giáo sư người Úc hay Tân Tây Lan hỏi hắn quê ở đâu, cha mẹ làm nghề gì, từ nhỏ tới lớn sống như thế nào…, hắn nói thật rằng quê hắn ở Nam Định, di cư vào Nam năm 1954, ở trại định cư Cái Sắn thuộc tỉnh Long Xuyên, bố mẹ hắn rất nghèo, làm nghề trồng cói và dệt chiếu ở Cái Sắn, còn hắn thì kéo chuông và hầu hạ trong Nhà thờ Bình Hòa để có chỗ ăn học.

Tất cả ba vị giám khảo đều trợn tròn mắt, không ngờ một học sinh được vào chung kết của một cuộc thi quan trọng như vậy mà gia đình lại nghèo đến thế. “Dám cậu thắng mấy người kia nhờ cái nghèo của cậu lắm ạ! Người Tây phương họ có cái nhìn khác lắm, sẵn sàng ưu tiên cho người nghèo nếu thấy thực sự đó là người giỏi chứ không khinh bỉ người nghèo như bên Việt Nam mình”.

“Tớ cũng hy vọng như vậy. Trông nét mặt ba vị giám khảo thấy họ có vẻ có cảm tình với tớ lắm. Nhưng thôi, kệ, muốn đến đâu thì đến. Tớ cam đoan với cậu thi Biên tập viên cảnh sát tớ đậu là cái chắc. Làm phó quận trưởng cảnh sát cũng bảnh ra phết!”.

Trong khi tâm sự, hắn kể với tôi rằng bữa đi mua giấy tờ lập hồ sơ thi du học, hắn mua ở tiệm sách Thanh Trúc gần Ngã tư Phú Nhuận. Cô con gái bà chủ cỡ chừng 15 – 16 tuổi, xinh lắm và rất tốt bụng.

Thấy hắn vét túi mà vẫn không đủ tiền trả, cô ta cười rồi cho luôn, không tính một đồng nào cả.

“Cô bé cỡ 15 – 16 tuổi, vậy là cô em. Cô chị lớn hơn, khoảng 17 – 18 tuổi, mặt tròn, cũng đẹp nhưng không xinh bằng cô em”.

“Ủa, thế cậu cũng biết tiệm đó?”.

“Biết chứ, tớ là dân Phú Nhuận mà, vẫn mua sách ở tiệm đó”.

Tôi kể cho hắn nghe bà mẹ còn tốt hơn nữa. Hồi tôi được phần thưởng cuối năm ở trường Tân Phương, trong số các cuốn sách lãnh thưởng có cuốn Triết Học Nhập Môn của tác giả gì tôi quên mất tên.

Cuốn sách đó nghiên cứu về triết học nói chung chứ không phải sách lớp Đệ Nhất dạy về triết học để đi thi tú tài II. Tôi đem đến tiệm Thanh Trúc nhờ bà chủ đổi cho cuốn Luận Lý Học của tác giả Trần Bích Lan tức nhà thơ Nguyên Sa, giáo sư triết trường Chu Văn An.

Bà coi qua cuốn sách của tôi rồi cười: “Sách người ta tặng cho các trường để phát phần thưởng thường là sách khó bán nên họ mới tặng. Tiệm tôi không bán loại này. Nhưng thôi, cậu được phần thưởng như vậy là quý, muốn đổi thì tôi cũng đổi để cậu may mắn, năm tới thi đậu. Một vài cuốn sách chẳng đáng bao nhiêu…”.

Cuốn Luận Lý Học của giáo sư Trần Bích Lan đắt hơn cuốn Triết Học Nhập Môn một chút nhưng bà chủ tiệm cũng cho luôn, không bắt trả tiền chênh lệch.

Tôi kết luận rằng bà mẹ tốt bụng như thế nên các cô con gái cũng tốt là một chuyện thường.

Hắn thở dài, nét mặt hơi buồn: “Nhà họ giàu, tiệm sách có tới mấy tầng lầu ở ngoài mặt đường, còn mình thì nghèo rớt mồng tơi không đáng xách dép cho họ. Tớ nói thật, nếu tớ được học bổng đi du học bên Mỹ kỳ này, đậu xong tiến sĩ tớ sẽ trở về, quỳ xuống dưới chân cô ấy, nói với cô ấy rằng nhờ cô cho giấy tờ lập hồ sơ nên tôi mới được du học, không bao giờ tôi dám quên ơn cô…”.

Tôi bật cười: “Cậu ngốc thấy mẹ, nếu đậu thì đến báo tin từ trước khi đi cho người ta còn chờ đợi chứ đậu xong tiến sĩ, hàng chục năm trời, họ lấy chồng mất tiêu rồi thì lúc ấy có ngồi mà khóc!”.

“Ừ há, mình cũng ngu thật. Nhưng biết họ có đợi hay không?”.

“Tại sao lại không? Vấn đề là cậu có thắng được mấy người kia hay không chứ nhà giàu thì họ khôn lắm, họ dư biết giá trị của một thằng học sinh nghèo được học bổng du học bên Mỹ”.

Và tôi nói thêm: “Ngoài ra, sang đấy ăn ở ra sao, học hành thế nào cậu luôn luôn viết thư về cho em chứ đâu phải như Kinh Kha sang Tần, một đi là không trở lại”. “Ờ há, vậy mà tớ không nghĩ ra, tớ phải ghi địa chỉ tiệm sách nhà em mới được”.

Thế rồi hắn đậu thật, hơn 200 người, lấy có 2 người, khó chứ không phải dễ. Tội nghiệp, trước khi đi hắn vẫn còn nghèo bởi vì sang bên ấy, vào học trường nào rồi người ta mới trả lại tiền vé máy bay và bắt đầu cho lãnh học bổng chứ không phải họ đưa trước.

Mọi thứ chi phí như mua sắm va-li, giày dép, quần áo mặc trong mùa lạnh, kể cả tiền vé máy bay v.v… đều là của Cha (LM) cho. Cha còn nói hôm hắn đi, Cha bận không đưa tiễn được nhưng sẽ cho tài xế chở hắn ra phi trường.

“Rồi ông cụ bà cụ cậu ở dưới Cái Sắn có lên không?”.

Hắn lắc đầu, vẻ mặt buồn buồn:

“Không, gia đình tớ nghèo lắm, không có bà con anh em gì ở trên này. Bố mẹ tớ nói lên đây vừa tốn tiền lại vừa làm phiền Cha, không có chỗ ở chẳng lẽ lại ở nhờ Cha trong nhà thờ”.

Tôi tưởng tượng ra cảnh hôm hắn đi, chắc chỉ có mình tôi và người tài xế của Cha đưa hắn ra phi trường. Nhưng ra đến đấy người tài xế sẽ quay trở lại chứ đâu có tiễn làm gì, chung quy chỉ có mình tôi mà thôi.

– “Cậu đã đến từ biệt cô bé chưa?”.

– “Có, tớ có đến nhưng cô ấy mắc đi học, chỉ gặp bà mẹ. Tớ kể cho bà ấy nghe chuyện cô bé cho giấy tờ làm đơn, nhờ đó tớ mới được du học, tớ đến chào từ biệt và gửi lời nhờ bà cám ơn cô bé giùm”. “Bà ấy có nói gì không?”. “Có, bà ấy xuýt xoa, thế ạ, quý hóa quá nhỉ, tôi không biết gì hết chứ nếu biết tôi đã mời cậu đến nhà dùng bữa cơm thân mật.

– Bao giờ cậu đi? –

– Dạ, thưa sáng mai. –

– Sáng mai, sớm vậy sao? Vậy là không kịp rồi, cậu không đến đây từ trước.

Bà ấy tiếc lắm. Tớ cám ơn bà ấy rồi đi…”. “Đó, cậu thấy chưa, tớ đã nói nhà giàu, nhất là một tiệm sách quen với chữ nghĩa, họ không dại gì mà không biết giá trị của con người”, và tôi giục:

– “Cậu đến nữa đi, phải gặp cô bé bằng được và dặn cô ấy chờ đợi, học xong cậu sẽ trở về”. Hắn lắc đầu:

– “Không dám đâu, đến sợ lại gặp bà ấy nữa tớ mắc cỡ lắm. Dù sao cô ấy cũng hãy còn nhỏ…”.

– “Trời đất ơi, 15-16 tuổi mà nhỏ cái gì! Sang đấy cậu phải học cử nhân, cao học, tiến sĩ, ít nhất cũng 8 năm nữa. Lúc ấy cậu khoảng 28, cô bé 24, chả nhỏ một tí nào cả”. Hắn khẽ thở dài:

– “Nói thật với cậu, từ bé tới lớn tớ khổ sở quá nên không dám nghĩ tới chuyện cao xa. Trước khi ra đi, tớ chỉ mong được nhìn thấy cô ấy một lần, được nghe thấy cô ấy nói một tiếng là sung sướng lắm rồi. Sang đấy tớ sẽ cố gắng học hành để đền đáp ơn nghĩa cô ấy…”.

Thật kỳ cục, có đáng gì đâu mấy tờ sơ yếu lý lịch, mấy tờ mẫu đơn tiếng Việt phải dịch sang tiếng Anh để nộp cho cơ quan UNESCO mà tên bạn tôi lại đặt nặng vấn đề đến thế?

Nếu cô bé không xinh xắn, tính tình không vui vẻ và không có lòng thương người thì hắn có mê cô ta đến mức đó hay không?

Tưởng tượng tới cảnh hắn lên máy bay chẳng có ai đưa tiễn, tôi nghĩ ra cách là ngay buổi chiều hôm đó đến tiệm sách kể hết mọi chuyện với bà mẹ. Có cả cô bé cũng có ở đấy. Nghe tôi kể, cô chỉ cúi mặt mỉm cười, hai gò má ửng hồng còn bà mẹ thì rất chú ý.

Cuối cùng, bà cười dễ dãi: “Hồi sáng cậu ấy có đến đây, tôi có biết mọi chuyện. Ý cậu là muốn nhờ em Trúc đi tiễn cậu ấy giùm phải không?”.

“Vâng ạ”.

“Mấy giờ thì cậu ấy lên máy bay?”.

“Dạ thưa 11 giờ 30, nhưng phải đến sớm ít nhất 2 tiếng đồng hồ để nó còn vào làm thủ tục”.

“Có, tôi biết. Sáng mai Chủ nhật em Trúc đi được. Vậy khoảng 8 giờ 30 cậu đến đây đi cả với em cho vui. Chắc có em Thanh cũng đi nữa”.

Tôi đoán Thanh là tên người con gái lớn của bà.

“Dạ, vâng ạ”.

Cô bé vẫn cúi mặt cười, tay cầm cây bút Bic không mở nắp vẽ vẽ bâng quơ trên mặt tủ kính quầy hàng cho đỡ mắc cỡ, chắc cô cũng quên không nhớ mặt hắn.

Sáng hôm sau, tôi đến. Hai cô con gái mặc juýp theo kiểu đơn giản thời đó, cô lớn juýp trắng, cô bé juýp hồng nhưng cũng rất đẹp.

Nhất là cô chị, cô có thoa chút phấn hồng nên lại càng đẹp, tôi nghe đâu đây thoang thoảng mùi thơm của phấn son hay của hương trinh nữ?

Ôi chao, đời đẹp quá, tôi, một thằng sinh viên bắt đầu học năm thứ nhất ĐHSP, nhà nghèo, mẹ làm thợ dệt nhưng đứng bên cô, ngửi mùi hương ngan ngát đó tôi vẫn thấy đời đẹp như thường.

Chắc cô cũng có cảm tình với tôi, thấy trong lúc đợi xe taxi, cô đứng sát bên cạnh tôi. Bà mẹ tiễn ra tận vỉa hè. Bà đưa tiền cho cô lớn: “Đây, tiền đây, nhớ trả tiền cho anh, đừng để anh trả nghe con!”. Cô không cầm, giọng con gái Bắc ngọt như mía lùi: “Con có rồi mẹ!”.

Chúng tôi đến. Hắn đang đứng một mình bên cạnh chiếc va-li hơi cũ, có lẽ của Cha cho mượn và một chiếc túi xách để trên mặt chiếc va-li đó.

Thấy chúng tôi tới, hắn cứ ngớ ra coi bộ hết sức ngạc nhiên. Tôi cười, giới thiệu:

– “Đây là cô Thanh, chị của cô Trúc. Còn đây là cô Trúc, người bạn vẫn nhớ ơn đó. Các cô thân hành ra đây tiễn bạn…”. Hắn không ngờ mình được hân hạnh đó nên lúng túng như gà mắc dây thun, mỉm cười khẽ gật đầu chào. Các cô chào lại. Cô chị nói:

– “Chúng em đến tiễn anh, chúc anh lên đường mạnh giỏi. Thỉnh thoảng anh nhớ viết thư về cho Trúc”.

– “Vâng, cám ơn các cô, thế nào tôi cũng phải viết”.

Tôi cười:

– “Được viết thư cho người đẹp sướng thấy bố rồi lại còn phải viết với không phải viết. Sao nào, nếu học xong tiến sĩ kinh tế, có trở lại thăm cô Trúc không nào?”.

Hắn cười, mặt đỏ bừng, bây giờ tôi mới thấy hắn nói được một câu có thể coi là thông minh:

– “Có chứ, đó là mơ ước lớn nhất trong đời mình, nếu hai cụ nhà cho phép và cô Trúc sẵn sàng chờ đợi”. Cô chị hỏi: “Học tiến sĩ thì mất chừng bao lâu hả anh?”.

Hắn nói: “Khoảng chừng 8 năm, sớm nhất cũng phải 6 năm. Bên Mỹ nếu cố gắng vẫn có cách học vượt thời gian như vậy. Bên mình thường thường là phải 10 năm…”.

Cô chị nói:

– “Lúc ấy Trúc mới 22 hay 24 tuổi, còn sớm chán”.

Tôi cười, nói đùa:

– “Sao, ‘cô bé đẹp’, có đợi được không thì cho biết ý kiến?”.

Cô bé chỉ cúi mặt cười, không nói gì cả. Tôi hỏi gặng quá bắt buộc cô phải trả lời:

– “Dạ được”. “Được thì ngoéo tay đi, hắn là dân Công giáo, đã nói là sẽ giữ lời, có tôi làm chứng!”.

Cô chị cười: “Em cũng làm chứng luôn”.

Mọi người cùng cười, hắn đã bạo dạn nên đưa tay ra ngoéo tay cô bé khiến cô đỏ mặt nhưng cũng ngoéo lại.

Trời đất ơi, phải chi tôi được ngoéo tay cô chị nữa thì đỡ quá! Nhưng nhà tôi nghèo, mẹ tôi làm thợ dệt, tôi 20 tuổi, còn cô thì khoảng 18 tuổi, kém tôi 2 tuổi, làm sao tôi có điều kiện lấy vợ trong lúc còn đang đi học mặc dầu cô cũng có vẻ quý mến tôi, luôn luôn đứng sát cạnh tôi.

Cuộc tiễn đưa chỉ có thế. Ba năm sau, tôi tốt nghiệp, đi dạy. Thời đó chúng tôi học Đại Học Sư Phạm theo régime 3 năm, các ban khoa học đều phải học bằng tiếng Pháp, thi cử cũng bằng tiếng Pháp. Sau khóa của tôi thì được đổi sang régime 4 năm và đã được chuyển ngữ, học bằng tiếng Việt. Ngoài ra, thời đó các trường trung học đệ nhị cấp dạy tới lớp 12 rất ít, ở các tỉnh lớn mới có, nên tôi đậu hạng 5 mà phải đi xa, Bạc Liêu cách Sài Gòn gần 300 cây số, vài tháng lễ, tết mới về nhà một lần.

Có lẽ cũng đến 5-6 năm, một lần tôi về, thấy trên mặt bàn có tấm thiệp của hắn làm đám cưới với Thanh Trúc. Hai chị em nhà đó có cái lạ là cô em tên Thanh Trúc, cô chị tên Trúc Thanh, ngược lại với nhau.

Phong bì bên ngoài đã có vẻ cũ, bám bụi. Tấm thiệp bên trong đề ngày cưới cách đấy đã hơn hai tháng. “Thằng Khải nó về rồi hở mẹ?”. “Ừ, cậu ấy về, nghe đâu đã đậu tiến sĩ, về làm đám cưới với cô con gái tiệm sách ở gần ngã tư Phú Nhuận. Cả hai cô cậu ấy đến chơi, đem thiệp cưới đến mời anh nhưng tôi nói anh dạy học ở mãi Bạc Liêu, chắc không về kịp. Cậu ấy nói cưới xong sẽ đưa cô ấy sang Mỹ, bao giờ có dịp về sẽ gặp anh sau”. Thời chúng tôi, người Việt ở bên Mỹ rất ít, nên họa hoằn lắm, hễ có ai về Việt Nam cưới vợ thì sau khi cưới xong, đem đi rất dễ chứ không khó khăn, phải làm đủ thứ giấy tờ bảo lãnh mới được đi như bây giờ. Cái thằng đó giỏi thật, lúc nó ra đi thì tôi bắt đầu vào Sư Phạm, học xong 3 năm, đi dạy 6 năm, tức mới 9 năm mà nó đã đậu đạt, đi làm, để dành được tiền về cưới vợ, giỏi thật. Tôi rất phục nó.

Thế rồi tôi được đổi về trường Trung học Dĩ An, Biên Hòa, cách Thủ Đức khoảng 10 cây số.

Năm năm sau, 1975, miền Nam sụp đổ, các giáo viên – giáo sư trung học bây giờ gọi là giáo viên – của 7 trường thuộc hai huyện Dĩ An và Lái Thiêu chúng tôi phải đi cải tạo tại K4 Long Khánh. Người cán bộ giáo dục về tiếp thu các trường thuộc hai huyện đó thấy người ta cách ly các sĩ quan và hạ sĩ quan cảnh sát thuộc hai tỉnh Bình Dương và Biên Hòa tại hai trường An Mỹ và Trịnh Hoài Đức, có du kích gác, rồi sẽ đưa đi học tập cải tạo thì bắt các nam giáo viên chúng tôi đi học tập cho… có tinh thần yêu nước vậy thôi. Hơn sáu tháng trời cải tạo tại K4 Long Khánh, tôi suýt bỏ mạng tại đấy. Bởi vì cơ thể tôi ưa lạnh chứ không ưa nóng. Cứ hễ trời nóng là tôi ho rũ rượi, ở nhà thường uống Terpin-Codein, một thứ thuốc rất rẻ do Việt Nam chế tạo. Đi học tập, trong trại không có thuốc men, lại ăn uống kham khổ nên tôi ho liên tục, ban đêm không ngủ được, thân hình gầy xác như con cá mắm.

Sáu tháng sau, các giáo viên được thả về. Sài Gòn buồn thê thảm và nghèo không thể tưởng tượng nổi. Mẹ và em gái tôi nói chuyện người ta đánh tư sản mại bản (nghĩa là tư sản mất gốc), các tiệm lớn ở Phú Nhuận bị tịch thu nhà cửa, hàng hóa, gia đình bị đuổi đi kinh tế mới, tiếng khóc như di.

Còn ở Chợ Lớn, các tiệm người Tàu sợ quá, ném những cây vải còn nguyên cả xấp và các đồ đạc xuống đường, kệ ai muốn nhặt thì nhặt nhưng chẳng ai dám nhặt.

Em tôi kể thêm: “May hồi trước anh Khải về làm đám cưới với cô con gái thứ hai tiệm sách Thanh Trúc rồi đưa cô ấy sang Mỹ chứ không thì bây giờ bị kẹt, tiệm đó bị đánh, muốn cưới cũng chẳng được”.

Tôi ngạc nhiên:

“Sao, tiệm sách Thanh Trúc cũng bị đánh? Người ta bán sách chứ có làm gì đâu mà đánh?”.

“Có, cả nhà may Bảo Toàn cũng bị đánh, tiệm bị tịch thu, nghe đâu người ta đuổi ông bà ấy lên cái gác xép nhỏ tí mãi tuốt tầng ba trên lầu, bây giờ nghèo lắm”.

Bảo Toàn là nhà may lớn nhất Phú Nhuận, trước đây tôi thường may quần áo ở đấy nên cũng khá quen, ông bà Bảo Toàn rất tốt, đối đãi với khách hàng rất niềm nở, ân cần.

“Tiệm sách Thanh Trúc còn một cô con gái lớn nữa tên là Thanh. Cô có nghe nói gì về cô con gái lớn đó không?”.

“Họ nói cô ấy lấy chồng, có bầu, nhà chồng là một tiệm vàng cũng ở gần đấy.

Hôm đánh tư sản, cả hai tiệm bị tịch thâu, cô ấy buồn quá định tự tử nhưng người ta cứu được…”.

Miệng tôi đắng ngắt. Tôi nhớ đến hôm tiễn Khải ra phi trường, có cả cô chị cùng đi, cô thường đứng sát bên cạnh tôi, cái mùi son phấn thơm thơm sang trọng tôi không thể nào quên được.

Rồi chúng tôi được Ty Giáo dục Sông Bé – Dĩ An trước thuộc Biên Hòa, bây giờ thuộc tỉnh Sông Bé – cho đi học tập chính trị hè sau đó cho đi dạy lại. Nghèo lắm. Lương tôi trước 63 ngàn, bây giờ chỉ còn 41 đồng, nghèo không chịu nổi.

Rồi tôi lấy vợ. Nhà tôi cũng dạy cùng trường nhưng môn Anh văn, tốt nghiệp ĐHSP sau tôi 6 năm. Năm ấy tôi 32 tuổi.

Lương của hai vợ chồng cộng lại chưa đầy 80 đồng. Nhà tôi dạy thêm Anh văn buổi tối cho các học sinh gia đình sắp đi vượt biên hoặc được bảo lãnh. Còn tôi, lúc rảnh tôi dịch truyện bán cho các nhà xuất bản ở trên Sài Gòn, buổi tối giữ con cho vợ dạy học. Giáo viên chúng tôi anh nào cũng gầy như cò bợ, quần áo ngày trước mặc vừa, bây giờ rộng thùng thình, áo thì mặc được còn quần cài dây nịt dúm dím, mặc không được.

Một hôm tôi nghĩ ra cách là khi về nhà ở Phú Nhuận, Sài Gòn thì đem hai chiếc quần tây đến tiệm Bảo Toàn, leo lên cái gác xép tận trên lầu ba theo cái cầu thang bên cạnh, nhờ ông Bảo Toàn sửa lại giùm. Ông đo người tôi, xem kỹ hai chiếc quần tây rồi nói: “Sửa không được đâu. Bây giờ phải tháo hết các đường chỉ ra, ủi cho thẳng rồi cắt lại như cắt quần mới chứ sửa đâu có được”. Tôi hỏi giá cả, ông nói: “Ông là người quen, tôi tính ông mỗi chiếc ba đồng gọi là có thôi”.

Tôi mừng quá, cám ơn rối rít. Ông nói: “Ông thấy tôi khổ như vậy đó. Ngày trước tiệm tôi lớn nhất Phú Nhuận, ngay cả may đồ cho khách tôi cũng chỉ trông nom chứ đã có thợ, đâu phải nhúng tay vào. Bây giờ thì đi may lại chiếc quần, kiếm ba đồng bạc…”

. “Hình như tiệm sách Thanh Trúc bên kia cũng bị đánh tư sản như bên tiệm bác?”.

“Có chứ, tiệm nào hơi có máu mặt một chút mà chả bị đánh. Họ bảo bán sách là toàn các thứ phản động, đáng lẽ họ đuổi đi kinh tế mới nhưng cô Thanh cô ấy tự tử, họ cho cả nhà ở tạm cái bếp ở phía đằng sau”.

Rồi ông nói thêm:

“Nhà bà ấy cũng bị tịch thu hết, nghèo lắm. May nhờ có vợ chồng cô Trúc ở bên Mỹ gửi quà về nên mới sống được”. Tưởng tôi không biết gì về vợ chồng Khải, ông kể:

“Nghe nói người chồng cô Trúc đậu tiến sĩ kinh tế, trước làm trong cơ quan Liên Hiệp Quốc, sau làm giáo sư dạy đại học tại California”.

Rồi ông kết luận:

“Con người ta có số cả. Lúc lấy chồng, cô Trúc mới hăm mấy tuổi, gia đình lại khá giả nhưng vẫn quyết định đi, bây giờ đang bảo lãnh cho cả nhà sang bên ấy đấy. Tôi thấy họ đi được là đúng, gia đình bà ấy đối xử với ai cũng tốt lắm”.

Con người có số hay không tôi không biết, nhưng theo tôi nghĩ, câu chuyện giữa cô bé 16 tuổi tên Trúc và anh chàng học sinh nghèo tên Khải hơi giống chuyện cổ tích của một thời đã qua, nay khó có nữa.

Chuyện kể của Đoàn Dự

(Bài do K1 Bửu Hồng chuyển)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở CON NGƯỜI CÓ SỐ – Đoàn Dự

Tin thêm về Website chung HVCSQG

Tin thêm về Website chung HVCSQG

 

– Kính thưa NT Trần Minh Công, Nguyên Viện Trưởng Học Viện CSQG,
– Kính Thưa Quý vị Cựu Giảng Sư, Cán bộ HVCSQG,
– Thưa Anh Thái Văn Hòa, Anh Nguyễn Văn Diệp và Quý bạn đồng môn các Khóa HVCSQG

Lời đầu tiên tôi xin cám ơn NT Trần Minh Công và các bạn đồng môn đã thương mến tín nhiệm đề cử tôi (K1 Nhữ Đình Toán) là người sẽ đại diện Tập Thể Cựu SVSQ Học Viện CSQG để thành lập và điều hành một trang nhà (website) chung chính thức cho Đại Gia Đình Học Viện CSQG theo như ước nguyện của NT Trần Minh Công cũng như một số Niên Trưởng và Cựu Giảng sư Học Viện.

Trước sự ủy nhiệm và thương mến này, trong lúc đã và đang tham khảo một số đồng môn và thân hữu để xúc tiến việc ‘design’ trang nhà HVCSQG thì tôi nhận được thư (email) của NT Trần Minh Công để nghị tôi liên lạc với anh Diệp để nếu có thể đề nghị anh Diệp “nhường” lại website HVCSQG của anh cho Tập Thể Học Viện để tránh tình trạng có 2 website trùng tên thì không hay và để bảo tồn sự đoàn kết giữa anh em cùng một Trường Mẹ. Điều này cũng nói lên sự đoàn kết của Gia Đình HVCSQG nói riêng và LL/CSQG nói chung.

Nhận được lời đề nghị của NT Trần Minh Công, lúc đầu tôi cũng e ngại, nghĩ khó mà anh Diệp chịu “nhường” lại cái website mà anh đã tốn nhiều công sức gây dựng từ nhiều năm qua. Tuy nhiên, trước sự đề nghị tha thiết có tình có lý của NT Công, tôi đã email cho anh Diệp và sau đó đã nói chuyện bằng điện thoại với anh Diệp về vấn đề này và thật bất ngờ anh Diệp đã vui vẻ nhận lời sẽ cộng tác với tôi trong việc điều hành trang website này với một số cải tiến về hình thức và nội dung theo đề nghị của tôi.

Trước thiện chí của anh Nguyễn Văn Diệp (K3) như vừa nêu, tôi rất vui mừng xin thông báo đến NT Trần Minh Công, Quý Thầy và toàn thể các bạn đồng môn Cựu SVSQ/HVCSQG, sắp tới chúng ta sẽ có một trang nhà chung cho Tập Thể Học Viện CSQG. Trang nhà này là trang nhà Học Viện CSQG cũ (của anh Diệp) nhưng sẽ được làm mới lại trong những ngày sắp tới. Tôi sẽ chịu trách nhiệm về phần nội dung, còn anh Diệp sẽ giúp về phần kỹ thuật. Tôi sẽ mời thêm một vài bạn phụ giúp việc điều hành, kỹ thuật hoặc tham vấn để trang web ngày một hay và hấp dẫn, đáp lại lòng mong mỏi của Quý Thầy và Quý Bạn. Trong khi chờ đợi, xin quý vị cho chúng tôi một thời gian để Ban Kỹ Thuật chúng tôi chuẩn bị mọi công tác cần thiết.

Kính thưa NT Trần Minh Công và Quý Vị,

Theo suy nghĩ chủ quan của tôi, đây là một tin vui cho Tập Thể Học Viện CSQG. Xin tất cả chúng ta hãy ghi nhận thiện chí của anh Diệp và hoan hô tinh thần vì tập thể của anh. Mọi khúc mắc, hiểu lầm, hay tranh cãi trong quá khứ xin không nhắc lại nữa. Riêng về lệ phí trang web, anh Diệp cho biết anh đã thanh toán đầy đủ; trong tương lai khi cần ‘renew’ hàng năm chúng tôi sẽ thông báo sau. Về số tiền này, ngay sau lá thư trước của tôi nêu ra, đã có nhiều mạnh thường quân lên tiếng sẵn sàng ủng hộ cho chi phí này; cụ thể trong số đó có NT Trần Minh Công, K3 Nguyễn Văn Diệp, K4 Liu Hậu Sâm, các bạn Cựu SVSQ Bắc CA, một K4 ẩn danh, và nhiều đồng môn khác.

Vài hàng xin kính thông báo đến NT Trần Minh Công và toàn thể quý vị.

Thân kính,

K1 NHỮ ĐÌNH TOÁN

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Tin thêm về Website chung HVCSQG

Thơ Xướng Họa: HẬU BẦU CỮ

Xướng: HẬU BẦU CỬ MỸ

Cờ Hoa bầu cử đã xong rồi
Chiếc ghế tông tông nay đổi ngôi
Bác Bảy núp hầm nhưng vẫn thắng
Ông Trâm xông xáo thế mà toi
Cộng Hòa bại bởi RINO* phá
Dân Chủ thắng nhờ đám RATS** hôi
Thêm Bọn Lờ Mờ ra sức quậy
MAGA đành phải bị thua thôi.

CX
* RINO = Republic In Name Only = Cộng Hòa gỉa hiệu
** RATS = DemocRATS viết tắt ám chỉ giống như lũ Chuột

Họa 1: CHỜ COI

Coi vậy mà chưa phải đã rồi
Biden hổng chắc vững trên ngôi
Lơ ngơ xe cộ thường đi đứt
Lụm cụm cầu thang dễ chết toi
Chức tước gian manh bằng kế bẩn
Thanh danh ô uế tựa bùn hôi
Lưới trời lồng lộng không sao thoát
Ác báo thế nào cũng thấy thôi .

Cóc Chát

 

Họa 2: KỲ THỊ CHỦNG TỘC

Kỳ thị ngang nhiên thấy rõ rồi
Chúng mình đâu có lấn dành ngôi
Ra đường lạng quạng hung thần đánh
Dạo chợ lang thang chúng chém toi
Cảnh giác tầm nhìn loài quỉ dữ
Trông chừng hướng ngắm lũ tanh hôi
Phòng thân cẩn thận bà con nhé
Gây sự xin đừng thiệt mạng thôi

C/Ư

Họa 3: CƯỚP CẠN VƯƠNG TRIỀU 

Bầu cử xem như chuyện đã rồi 
Nhưng mà chú Bảy chẳng yên ngôi
Tuổi già đường thẳng đi còn mệt 
Sức yếu cầu thang chạy để toi ?
Chức trọng mưu toan đầu óc bẩn 
Quyền cao xảo quyệt bản thân hôi
Làm sao thoát được lưới trời rộng
Cướp cạn vương triều phải trả thôi

Cóc QT-TP

Họa 4: TIẾC THAY

Tà gian đã thắng nghĩa nhân rồi
Cái Ác giờ đây chiếm đoạt ngôi
Luật pháp ai ngờ bao kẽ hở
Kiện thưa nào biết chỉ công toi
Người khôn vẫn bại tay thằng ngốc
Mãnh hổ đành thua lũ cáo hôi
Công nghiệp tan tành trong phút chốc
Còn chăng nuối tiếc mãi không thôi

CCR

Họa 5: THỜI LOẠN

Trời ơi nước mất nhà tan rồi
Dựng Cụ Bai Đần lên tiếm ngôi
Sắc lệnh luôn tay dương mắt ký
Biên phòng thả cửa mặt mày toi
Ngân hàng dự trữ đem phân phát
Thuế má tu vào ra sức hôi
Hi-tech truyền thông thì tráo trở
Ô là dân chủ loạn đi thôi./-

Cóc Ớt-TQN.

Họa 6: THỎA MỘNG ĐẾ VƯƠNG

Bảy Đần thỏa mộng đế vương rồi
Cướp phiếu đếm gian để đoạt ngôi
Nói trước quên sau đầu lú lẫn
Bước lên té xuống mạng e toi
Ngoại giao nịnh bợ bầy lang sói
Nội trị nuông chiều lũ chuột hôi
Không biết tuổi già còn sức bám ?
Hay là tại vị mấy năm thôi

CH

Họa 7: NÉM BÚT

Bầu cử năm nay chán quá rồi,
Bảy Đần lú lẫn được lên ngôi.
Gian manh kết hợp phường lòi tói,
Xảo trá tiêu lòn lũ mắc toi.
Đáng trách Voi to không gắn bó,
Ghê thay Chuột nhỏ lắm tanh hôi.
Hoa Kỳ đất hứa đâu còn nữa,
Thất chí, nên đành ném bút thôi.

CÓC CHAY

Họa 8: BIÊN GIỚI PHÍA NAM

Biên giới phía Nam lộn xộn rồi
Sau ngày anh Bảy ngự trên ngôi
Huênh hoang nói phét như con vẹt
Tuyên bố ba xàm dễ chết toi
Trong nước dân tình chưa ổn định
Bên ngoài tỵ nạn chực chờ hôi
Mong mau chận đứng đoàn người đó
Mỹ Quốc bình yên, chỉ vậy thôi.

CN-NCV

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thơ Xướng Họa: HẬU BẦU CỮ

Sự quan trọng của thẻ chích ngừa Covid

Mỹ: Tấm card chích ngừa covid nó quan trọng đến mức nào sau ngày 1 tháng 9 
nếu không có giấy này.

unnamed (7)

Tấm card chích ngừa covid lúc này trở thành tờ giấy rất quan trọng. Sau ngày mở cửa 1 tháng 9, 2021, nếu không có giấy này, có thể các bạn không được dùng các phương tiện công cộng, nhất là máy bay hay xuất cảnh. Nơi tôi ở hiện nay, có tấm card này mới được vào ngồi trong nhà hàng, nếu không có chịu khó ngồi phía ngoài.

Nếu các bạn đã hoàn thành việc chích ngừa, lấy phone ra lúc này, chụp lại tấm card, upload trong google hay Apple photo để có thể lấy nó lại dễ dàng khi cần. Việc thứ hai là gởi hình tấm ảnh card này đến bác sỹ của bạn để bác sỹ cập nhật hồ sơ chích ngừa của mình .

covid-19-vaccination-record-card-template-design-a5be14458898fba0ca24579d0d68307e_screenMột tấm thẻ chứng nhận tiêm chủng tại Bộ y tế và Dịch vụ Dân sinh

Các bạn có Kaiser vào immunization records cập nhật nếu các bạn không chích ngừa từ Kaiser.

Làm ngay việc này sáng này trước khi làm các việc khác.
Nhân tiện cũng có thể lưu giữ bằng lái xe hay passport luôn trong phone phòng lúc cần thiết.

Hiện nay nhiều nơi đã chấp nhận digital Image thay thế khi cần, điển hình nhất là vé máy bay. Nên nhớ đây là các giấy tờ quan trọng nên lúc nào phone của bạn cũng phải để chế độ bảo mật.

Dr. Leah Croll

March 23, 2021, 5:06 AM

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Sự quan trọng của thẻ chích ngừa Covid

Chuyện Cô Tiên của Buu Nguyen

CHUYỆN CÔ TIÊN


(Chuyện tình đẹp trước 1975 do Bữu Hồng sưu tầm và chuyển cho CNN)

unnamed (3)

Ba tôi qua đời bất ngờ năm 1964, nhỏ em út còn trong bụng Má. Tôi phải nghỉ học, tìm việc làm ngày đêm để phụ giúp Má tôi nuôi 6 đứa em còn nhỏ dại.

Đầu năm 1965, tôi được mời đến dạy kèm Toán cho cô con gái lớn một gia đình người Việt ở Nam Vang. Mỗi ngày 2 tiếng, từ 7 đến 9 giờ tối, từ thứ Hai đến thứ Sáu. Em học trường Providence, còn gọi là trường Bà Phước, lúc đó chỉ dành cho nữ sinh. Em nhỏ hơn tôi một tuổi nhưng mới ở lại Cinquième, trong khi tôi đã đậu Brevet d’Études du Premier Cycle hai năm trước.

Có lẽ vì là con gái nhà khá giả nên em hơi… làm biếng học, nhất là toán, géometrie và algèbre. Lúc đầu, tôi hơi nản lòng vì… em nhìn bài vở như thấy ma, tôi thường phải làm bài giùm em, nhưng từ từ em nghe lời tôi khuyên, chịu làm bài, chịu học bài, và được lên lớp mỗi năm.

Đầu năm 1968, em học Troisième, chuẩn bị thi Brevet. Tôi kèm em từng môn, giúp em làm những bài vở mà đúng ra tôi không cần giúp. Em trả ơn bằng cách mời tôi ở lại ăn cơm tối.

Tôi cho em mượn những quyển sách mà tôi đã học qua, trong một lần trả sách, em kèm theo tấm giấy chỉ viết một câu “cho moi làm amie intime của toi nha”. Tôi gật đầu vì sợ em giận, em không thèm học nữa. Từ đó, em hẹn tôi đi chơi cuối tuần, tôi cũng gật đầu với điều kiện là em phải xin phép Ba Má đàng hoàng và phải ráng học.

Tôi biết em thương tôi, tôi cũng thương em. Tôi gọi em là “cô Tiên” vì em có dáng dấp qua cầu gió bay, có bước đi lả lướt nhẹ nhàng như các nàng tiên nữ trong vũ khúc nghê thường, vì em đã mang đến cho tôi những cảm xúc mà người trần gian chưa từng cho tôi trước đó.

Những ngày mưa, không đi chơi được thì tôi ngồi hát em nghe bên mái hiên nhà:

Một chiều cuối tuần mưa bay lất phất và mây trắng giăng giăng
Em đến thăm anh vì trời mưa mãi nên không kịp về
Bên anh, em lặng nhìn bầu trời và ánh mắt mộng mơ
Sợ người yêu khóc, khe khẽ bên tai anh kể chuyện ngày xưa.

Chuyện xưa kể rằng trên thiên giới ấy ngày vui kết hoa đăng
Thiên Quốc đang vui một nàng tiên nữ làm rơi ly ngọc ngà
Đang say nên trời bèn đọa đày nàng tiên xuống trần gian
Làm người dương thế không biết bao lâu mới được quay về trời.

Em ơi nàng tiên ấy xuống dương trần một chiều mưa bay nhiều
Và vì thương trần thế, thương kiếp sống phong sương
Nên dù rằng một hôm Thiên Quốc trời sai
Gom mây hồng làm xe đưa tiên về
Tiên nói dối tiên còn đang giận trời nên tiên chẳng về đâu.

Nàng tiên giáng trần không đôi cánh trắng giờ đang ngắm mưa bay
Đang đứng bên anh thầm cầu mưa mãi cho tiên đừng về
Anh ơi lỡ mà trời gọi về thì tiên chẳng về đâu

(Bài hát “Huyền Thoại Một Chiều Mưa”)

https://www.youtube.com/embed/vNlD5a2CSVA

Nhưng tôi luôn nhớ mình là con trai nhà nghèo, chỉ có chiếc Mobylette cà tàng làm chân đi kiếm cơm mỗi ngày. Em là con gái nhà khá giả, đi học có xe đưa rước, về nhà không làm động móng tay vì đã có chị bếp, chị bồi, chị vú lo toan mọi việc. Nếu hai đứa thành vợ thành chồng, em cực thân là cái chắc.

Trong một lần kề vai nhau đi quanh công viên Chùa Tháp, trời bỗng dưng mưa. Tôi bật dù che hai đứa nhưng mưa càng lúc càng nặng hột, em bỗng xoay người lại ôm hôn tôi dưới mưa. Tôi than thầm trong bụng “gặp oan gia truyền kiếp rồi”.
Năm đó, em thi đậu Brevet và tôi nghỉ dạy vì vừa xin được cái job thư ký kế toán ở hãng L’UCIA, Nam Vang.

Lúc trước gặp nhau 5 ngày mỗi tuần, có nhiều thì giờ để nói với nhau những gì muốn nói. Giờ phải chờ đến cuối tuần mới được gặp nhau vài tiếng, nhớ ơi là nhớ. Tôi bắt đầu làm thơ “nhớ em”…

Nhớ lúc xưa kia mới biết nhau
Rồi thương rồi nhớ suốt đêm thâu
Ðêm nào cũng vái cho mau sáng
Nhớ quá trời ơi! Nhớ phát rầu.

Nhớ những chiều em qua phố vắng
Dáng hồng xen lẫn bóng hàng cau
Mân mê vạt áo, em e lệ
Những lúc anh nhìn, má đỏ au.

Nhớ lúc mình đan tay đếm bước
Em run run hỏi: – Sẽ ra sao ?
Anh cười, anh nói như đinh đóng:
– Anh sẽ yêu em đến bạc đầu!

Đưa bài thơ cho em, em bỏ túi nói sẽ về nhà đọc. Tuần sau gặp nhau, em không nhắc gì về bài thơ của tôi mà hỏi tôi nghĩ gì về cuộc sống hai đứa sau này.
Tôi nói là nhà tôi nghèo, em nói em biết rồi, tôi phải đi làm giúp Má nuôi các em còn nhỏ, em nói em cũng biết rồi, nếu mình cưới nhau thì em sẽ cực thân hơn là sống với Ba Má em…

Em trả lời làm tôi chưng hửng “hiện nay, cái khổ nhất mà “moi” phải chịu đựng hàng ngày là nhớ “toi”, cái cực nhất mà moi phải chịu đựng hàng ngày là làm sao để gặp toi sớm hơn, nên moi không sợ gì cả. Trời sanh voi sanh cỏ”.

Tôi khuyên em nên kiên nhẫn, nói cho em hiểu lúc này là thời gian đẹp nhất trong cuộc tình hai đứa, cái nhớ cái thương bây giờ sẽ làm mình gắn bó nhau hơn sau này…

Em nghe lời tôi và chuyện hẹn hò của chúng tôi kéo dài cho tới đầu năm 1970.
Tướng Lon Nol lật đổ vua Sihanouk, tự phong là tổng thống xứ Kampuchea (Cao Miên).

Một số người Miên quá khích thừa nước đục thả câu, “cáp duồn” (nghĩa là chặt người Việt) lẻ tẻ. Đang đêm, họ đến gõ cửa nhà người Việt ở những vùng thôn quê hẻo lánh. Một số người Việt không may đã bị họ cha.t đầu, xa’c thả trôi sông về tới Tân Châu, Hồng Ngự… Nhiều người Việt có chút của ăn của để ở Cao Miên bán tháo tài sản để về Miền Nam Việt Nam lánh nạn. Ba Má em cũng không ngoại lệ.

Em gặp tôi bàn chuyện này. Tôi đem việc này hỏi ý kiến ông giám đốc hãng L’UCIA. Ông giám đốc đưa hai đứa tôi về biệt thự do hãng mướn cho ổng ở trên đại lộ Norodom, ngay trung tâm thủ đô Nam Vang. Ổng nói: “nhà tao có 2 người bồi bếp, có 2 con chó berger giữ nhà. Nhà có 5 phòng, tao ở chỉ một phòng. Nếu hai đứa thấy ở nhà mầy không an toàn thì đến đây ở với tao. Tao tin tưởng và cần thằng B. giúp tao giữ gìn sổ sách của hãng nên hai đứa mầy muốn ở phòng nào, muốn ở bao lâu cũng được”.

Nghe vậy, chúng tôi yên tâm và quyết định ở Nam Vang dù Ba Má em có về Sàigòn.

Em về xin Ba Má cho hai đứa làm đám cưới. Má em có cảm tình với tôi nên gật đầu. Ba em im lặng vì biết tôi nghèo, sợ con gái cưng của ông sẽ cực khổ khi về làm vợ tôi. Em nói với Ba Má em “nếu Ba Má không tổ chức đám cưới cho hai đứa con, tụi con sẽ tự lo. Con muốn làm vợ anh B. danh chánh ngôn thuận”.

Và hai đứa tôi tự tổ chức lễ cưới của mình.

Sáng ngày 24/02/1970, Má tôi và tôi mang trầu cau và phẩm vật đến xin cưới em. Chúng tôi lạy bàn thờ tổ tiên nhà em, xin quý ngài chứng giám cho chúng tôi thành vợ thành chồng. Tôi mướn xe Mercedes để rước “cô Tiên” xuống trần.

Tối đến là tiệc cưới tại nhà hàng La Lune, đối diện State Olympic, với 200 quan khách, họ hàng và bạn bè nhà trai, nhà gái. Dĩ nhiên là có nhạc sống do mấy tên bạn tôi tự mang đồ nghề đến giúp vui. Đêm đó, hai đứa tôi khiêu vũ và cụng ly với bạn bè gần tới sáng.

Sau ngày chúng tôi thành hôn thì tình hình chính trị giữa hai nước Kampuchea và Miền Nam Việt Nam biến chuyển dồn dập. Ông bà nhạc tôi và gia đình bay về Sàigòn vài ngày sau đó. Vợ chồng tôi vẫn ở Nam Vang. Tôi vẫn đi làm ở L’UCIA .

Khi xa’c nhiều người Việt trôi về tới Hồng Ngự, Tân Châu, ông Nguyễn Cao Kỳ – lúc đó là Phó Tổng Thống VNCH – ra lệnh cho Quân-đoàn 3 tràn qua biên giới, lấy cớ là để “bảo vệ kiều bào VN”. Trung tướng Đỗ Cao Trí nhận lệnh với lời tuyên bố làm chấn động chính phủ Cao Miên: “Cho tôi 24 tiếng, tôi sẽ chiếm Nam Vang”.

Ông Lon Nol nghe muốn té đa’i. Mới làm tổng thống có mấy ngày, nếu để QLVNCH chiếm Nam Vang thì mất mặt bầu cua. Ông gọi điện năn nỉ chính phủ VNCH đừng chiếm Nam vang nên Quân-đoàn 3 dừng lại ở Neak Luong (người Việt mình gọi là Hố Lương), một bến phà chỉ cách Nam vang 60 cây số.

Nghe tin QLVNCH tràn qua biên giới, cả trăm ngàn kiều bào VN ở Cao Miên, trong đó có vợ chồng tôi, bỏ tất cả tài sản, dắt díu nhau vào các trại tị nạn. Các sân trường trung học, chùa, nhà thờ bỗng trở thành những trại tị nạn khổng lồ. Vợ chồng tôi vào trường Seminaire, nơi tôi đã học năm cuối chương trình Tú tài Pháp hai năm trước.

Trong trại Seminaire, người ta chia ra nhiều nhóm, mỗi nhóm 10 gia đình, trước hết là để lãnh nước uống, sau là thức ăn, lúc đó chỉ có khô cá lóc do Red Cross cung cấp. Tôi làm trưởng nhóm 31.

Đầu tháng 5/1970, ông Nguyễn Cao Kỳ bay lên Nam Vang, nói là thăm xả giao tướng Lon Nol nhưng thật sự là đi thanh tra các trại tị nạn. Tối đêm trước, tôi và các trưởng nhóm được lệnh phải thu tất cả những những gì có thể coi như là vũ khí gồm dao, gậy,… và cùng nhiều người thức gần sáng đêm để dựng cái sân khấu dã chiến.

Khi ông Kỳ vào trại Seminaire, ông đến từng lều, bắt tay và hỏi thăm từng người. Điều làm mọi người chú ý là 2 anh đại-úy cận vệ. Họ cao hơn ông Kỳ 1 cái đầu, mặc đồ bay, mang súng ngắn dưới nách, nhưng không cản trở khi kiều bào đến bắt tay, thậm chí ôm hôn ông Kỳ.

Ông Kỳ lên sấn khấu, nói vài lời thăm hỏi xã giao rồi hứa: “Tôi sẽ đưa tất cả đồng bào về quê hương!”

Ông nhận được những tràng pháo tay như sấm động của mấy ngàn người trong trại Seminaire. Nhiều bà lão bò ra khoảng trống trước sân khấu lạy ông Kỳ như tế sao.

Vài ngày sau, chúng tôi được phát thịt heo lần đầu, dù không ai biết ai cho nhưng mọi người nghĩ là từ chính phủ VNCH. Tuần sau, một đoàn “tàu há mồm” của Hải quân VNCH cặp bến sông Mekong.

Danh sách từng nhóm được gọi để rời trại xuống tàu về nước. Vợ chồng tôi thuộc danh sách thứ 31 nên gần cuối tháng 5/1970 mới được rời trại. Sau 1 ngày lênh đênh trên sông Tiền (hay sông Hậu?) thì về tới trại Đồng Tâm, Mỹ Tho, lúc đó là hậu cứ của Sư-đoàn 7 BB.

Vợ chồng tôi chỉ ở trại Đồng Tâm 5 ngày. Làm giấy tờ nhập cảnh xong thì Ba em lái xe xuống rước về Sàigòn.

Cuộc sống chúng tôi từ ngày về Sàigòn không còn… tà tà như lúc ở Nam Vang. Cũng như tất cả Việt kiều hồi hương lúc đó, tôi được hoãn dịch 18 tháng. Thời gian không nhiều nên tôi làm ngày làm đêm. Em cũng đi làm. Cuối tuần hai đứa đưa nhau đi ăn mì xào dòn, hay ăn nghiêu luộc.

Mỗi tối đi đàn về, tôi chạy thẳng vô Chợ Lớn mua cho em cái bánh bao Ông Cả Cần của Bà Năm Sa-Đéc. Lúc này em không còn thơ thẩn, mà ngược lại… em ăn rất bạo. Dù không nói ra, tôi biết em đang chuẩn bị cái bụng cho đứa con đầu lòng của chúng tôi, dù không biết lúc nào nó sẽ tượng hình.

Nhiều người trong gia tộc hai bên thường trề môi nói “thằng B. con nhà lính tính nhà quan, mới ở Nam Vang về tay trắng mà vợ nó muốn gì được nấy”….

Mấy người này không biết là lúc còn độc thân, tôi đã đọc một câu định nghĩa “người phụ nữ lý tưởng” của 1 người đàn ông như sau: “Người phụ nữ lý tưởng của một người đàn ông là người bạn, người tình và là người vợ của người đàn ông đó”.

Hồi đọc câu đó, tôi chưa gặp cô Tiên nên tôi đã tự hỏi ngược lại là “tôi có thể vừa là người bạn, vừa là người tình, và là chồng của vợ tôi không”. Ông nào muốn biết cái vụ này nó khó cỡ nào cứ thử cua một cô bạn gái rồi cưới cổ về làm vợ thì sẽ hiểu câu… “chưa thấy quan tài chưa đổ lệ”.

Nhưng khi gặp rồi thương yêu cô Tiên, cái định nghĩa xưa tự nó cho tôi lời giải đáp.

Lúc mới thương nhau, tôi thường kể em nghe chuyện bồ bịch của tôi lúc trước. Em chẳng những không ghen hờn, mà còn góp ý đôi khi rất tiếu lâm, rồi hai đứa cười hí hí. Lúc hai đứa đi chơi, gặp cô nào có “ngực tấn công, mông phòng thủ” là tôi hay quay lại nhìn, em im lặng nắm tay tôi, đợi cô đó đi khỏi tầm mắt mới hỏi “bộ toi hổng thấy cổ đi hai hàng hả?”. Khi vào tiệm bán sách, tôi có cái tật (hổng biết xấu hay tốt) là đứng hơi lâu trước mấy cái đặc san người lớn như PlayBoy. Em im lặng đứng bên tôi, đến khi rời tiệm sách em mới phê bình… “nhỏ này vú đẹp, cô kia mông teo…”. Chỉ khi đến kệ bày mấy cuốn Salut les Copains, em mới thò tay lựa cuốn mới nhất và tự ra quầy trả tiền.

Em chưa bao giờ bắt tôi trả tiền những gì em mua cho riêng em. Em chưa bao giờ lớn tiếng hay dùng lời lẽ không lịch sự với bất cứ ai, dù đôi khi tôi hay ai đó vô tình hoặc cố ý làm em giận.

Ba em nói với em “Ba thấy nó đi nhảy đầm, tay trái một con, tay mặt một con”. Em trả lời “những gì ảnh làm lúc còn độc thân là quyền của ảnh, con không cần biết (thật ra tôi đã kể em nghe hết rồi). Chỉ cần biết hiện giờ hai đứa con thương nhau thật lòng là được rồi”.

unnamed (4)

Em có cách hôn, chỉ phớt nhẹ, làm tôi hồn phi phách tán. Khi thấy tôi buồn, em cầm tay tôi, xoa nhè nhẹ lên mu bàn tay, khiến tôi quên hết mọi phiền não. Sau này thành vợ thành chồng, em vẫn là người tình tuyệt vời. Em biết cách làm tôi quên những nghiệt ngã mà tôi đã trải qua trong ngày hôm đó.

Em biết tiết kiệm, vén khéo với số tiền mà chúng tôi kiếm được. Em không se sua, dù luôn ăn mặc thanh lịch. Mỗi lần hai đứa ra đường là tôi phải ngó trước nhìn sau, coi có tên nào nhìn lén em không. Khi đứa con đầu lòng của chúng tôi chào đời năm 1972, em tự nguyện bỏ bớt chuyện mua sắm cho riêng mình, để có đủ tiền cho con chúng tôi bú sữa Guigoz 3 năm liên tục.

Cô Tiên đã là một người bạn, một người tình và là người vợ tuyệt vời của tôi.
Được một người vợ như cô Tiên, em muốn gì được nấy không có gì quá đáng.
Bán nhà cho em cũng được, huống chi là ba cái lẻ tẻ.

Tháng 4/1972, tôi hết hạn hoãn dịch, phải đi lính cho tới ngày tan hàng.

Sau 75, có ngày hai đứa phải ăn sáng bằng… cơm nguội, nhưng em luôn dành 1 hoặc 2 đồng cho con chúng tôi có gói xôi nóng hay tô cháo huyết.

Cực nhất là lúc chúng tôi về quê tôi sống từ năm 1976 đến năm 1979. Má tôi cho 2 công ruộng và nửa công vườn, đủ cho gia đình chúng tôi sinh sống, không cần phải đi làm mướn, làm thuê. Nhưng không may là hai năm 77-78, lũ lụt tràn vào ngập ruộng trước khi lúa chín. Nông dân vùng Tân châu đói thể thảm. May mà tôi cất nhà sàn, cao khoảng 1.5m, nên nước ngập lé đé sàn nhà.

Nhiều nông gia ở nhà đất, phải kê tủ giường lên cao, có người kê giường tới gần đụng nóc nhà.

Mỗi ngày, cô Tiên ngồi trên sàn nước, miệt mài câu từng con cá chốt, cá sặc, cá lòng tong. Tôi không dám nhìn lâu. Đến bữa ăn chỉ có món cá kho thập cẩm vậy mà thằng con khen “má kho cá ăn ngon”. Tôi mắc nghẹn từng hồi. Rồi cũng qua.

Ở quê, em không cho con đi học, nói mấy ổng dốt mà dạy cái gì! Vợ chồng tôi thay nhau dạy con nói và viết tiếng Việt, tiếng Pháp. Bài học tiếng Việt đầu tiên là bốn câu thơ của ngài Lý Thường Kiệt :

Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên phận định tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.

Tiếng Pháp thì chúng tôi dạy con nói và viết những câu chào hỏi thông thường, không ngờ khi qua Úc nó học tiếng Anh nhanh hơn những bạn tị nạn khác nhờ tiếng Pháp và tiếng Anh có nhiều chữ giống nhau.

Qua năm 79, tôi trúng mùa. Bán mấy chục giạ lúa, thêm chút tiền dành dụm, mua được cái ghe nhỏ, tính chuyện lớn. Khoang ghe chỉ vừa đủ cho hai người lớn và một đứa nhỏ chen vai nhau ngủ. Tôi không biết chèo, tập cả tháng sau mới chèo được 2 chèo. Em không biết lội nhưng nhất quyết đòi đi đến những nơi có thể cho chúng tôi thấy được tương lai. Em nói “mình đã sống mấy năm ‘có miệng không nói lại câm, hai hàng nước mắt chan dầm như mưa’. Đủ rồi, phải đi tìm tương lai cho mình và cho con”.

Vậy là đi. Chèo từ Tân châu tới Long xuyên mất hai ngày. Nghỉ xả hơi một ngày rồi chèo tiếp tới Ô Môn, Cần Thơ, Ngã 7, Sóc Trăng, Hộ Phòng, Gành Hào, và sau cùng là ngã 3 cây Tàn. Ở ngã 3 cây Tàn hơn 1 tháng vì có người mướn tôi đào ao nuôi cá. Đào ao 1 tháng được 2 giạ gạo và một mớ tiền. Chúng tôi trở ra Gành hào vì thấy nơi này là nơi lý tưởng để ra đi. Tôi giấu dưới khoang ghe cái máy đuôi tôm, thường ngày không dám sử dụng, sợ người ta dòm ngó, định khi nào đi mới xài.

Ở Gành Hào đêm trước, thì đêm sau bị bão.

Mưa như trút nước, sấm chớp đầy trời. Chiếc ghe tôi lắc lư như người say rượu, nửa đêm đứt dây buộc sào trôi ra giữa sông. May là lúc đó nước lớn, nước từ ngoài biển đổ vô sông, nếu ngược lại thì có thể bão đã đưa chúng tôi qua Thái Lan hay hổng chừng… vô bụng cá. Tôi cột sợi dây quanh bụng, cố gắng lội vô bờ.

Hình như… lúc không còn cái gì để sợ nữa thì mình mạnh hơn bình thường nên tôi đã kéo chiếc ghe tới dưới dạ cầu chợ Gành hào. Buộc dây ghe lại đàng hoàng là tôi ngã lăn ra thở dốc, lạnh run cầm cập. Em lau mình cho tôi và đưa tôi cái bánh bía, hổng biết em mua lúc nào, đúng là cô Tiên. Ăn cái bánh bía đêm đó, hương vị thơm ngon còn phảng phất tới bây giờ.

Bye bye Gành hào, tôi gắn máy đuôi tôm chạy về Long Xuyên. Chúng tôi ở Long Xuyên gần 3 năm. Tôi làm bất cứ chuyện gì, miễn là lương thiện, để có tiền nuôi vợ con. Có lúc đạp xe lôi, có lúc vác lúa gạo ở các nhà máy xây lúa, có lúc làm tạp nhạp.

Đến tháng 2/1982, em tìm được đường dây ra nước ngoài vừa với khả năng của vợ chồng tôi lúc đó. Cái may là chúng tôi chỉ đi một lần là tới Mã Lai. Ở Bidong 1 tháng rưỡi là được phái đoàn Úc nhận. Qua trại chuyển tiếp Sungei Besi2, ngoại ô Kuala Lumpur để khám bệnh, bổ túc hồ sơ. 3 tháng rưỡi sau là chúng tôi có list đi Úc.

unnamed (5)

<img class=”aligncenter” src=”https://i.imgur.com/4RiJLFd.jpg” />

Chụp với vợ chồng ông quản lý Trung tâm tạm cư Tamarind, trong lễ Giáng sinh đầu tiên tại Úc năm 1982.

Vài ngày sau khi đặt chân lên đất Úc, lúc đó chúng tôi chỉ biết tiếng Pháp chưa biết tiếng Anh. Em nói với tôi “moi không thích nhờ thông dịch, nhà mình phải có một người giỏi tiếng Anh, toi phải đi học. Moi sẽ đi làm nuôi toi và con”! Nghe ghê chưa?

Mà em cũng không biết tiếng Anh thì đi làm cái gì? Em quên mình từng là một tiểu thơ được cơm bưng nước rót, em quên mình từng đi học có xe đưa rước, em quên mình là… cô tiên của tôi,. nên ai mướn gì làm nấy. Quét dọn nhà cửa cho người Úc, chăm sóc con em của đồng hương, làm chả giò bán sĩ (không biết em học ở đâu mà làm chả giò và đổ bánh xèo ngon nhất Darwin).

Tôi cũng đi làm ban ngày, đi học ban đêm. Bảy năm ròng rã, tôi lấy được 2 cái Certificates về kế toán và quản trị địa ốc và xin được cái job “Security Administrator” tại trường đại học Charles Darwin University ở Darwin đầu năm 1985. Tôi làm việc tại CDU liên tục hơn 27 năm, đến khi nghỉ hưu cuối năm 2012.

Em không đi học tiếng Anh một ngày nào nhưng sau này… lại làm thông dịch cho bạn bè, nhiều nhất là mấy cô lấy chồng Úc, mới qua Úc chân ướt chân ráo, tìm đến em nhờ giúp đỡ. Em chở họ đi làm hồ sơ nhập cư, điền đơn xin tiền an sinh xã hội… Bà xã tôi thương đồng hương nên ai nhờ thì giúp, cứ ăn cơm nhà vác ngà voi, không đòi hỏi ai phải trả đồng bạc nào dù biết làm thông dịch cũng được trả tiền. Mấy cô vợ Úc thương em lắm, cuối tuần là ghé nhà tôi xào xào nấu nấu … thật vui.

Hỏi em mới biết, em học tiếng Anh bằng cách theo dõi các chương trình Play School trên TV. Chương trình này dạy con nít Úc nói/viết tiếng Anh để chuẩn bị vô mẫu giáo. Em đọc báo tôi mang về mỗi ngày. Không hiểu chữ nào, đoạn nào thì em hỏi tôi hay tra tự điển.

Tiếu lâm nhất là khi bà hàng xóm nhờ em làm thông dịch. Bà này gốc Ý (Italy), có chồng gốc Tây Ban Nha (Spain). Bà ta đến Úc theo diện vợ chồng năm 1978 và không đi học ngày nào. Khi rảnh rỗi bà ta qua nói chuyện với bà xã tôi. Bà ta nói “broken english” với giọng Ý nên tôi và mọi người không ai hiểu cả. Vậy mà bà xã tôi hiểu nên mỗi lần bà hàng xóm cần đi bác sĩ, hay bất cứ cơ quan công quyền nào ở Darwin là qua năn nỉ nhà tôi theo làm thông dịch.

Một năm sau ngày đến Úc, tôi được bầu làm tổng thư ký Hội Người Việt Tự Do tại Darwin, sau đổi tên thành CĐNVTD Bắc Úc cho tới bây giờ. Tôi dính với các sinh hoạt của CĐ mình cho tới năm 2017 mới rút chân ra được. Suốt thời gian này, bất cứ tôi làm cái gì đều có sự giúp đỡ, yểm trợ khi công khai khi âm thầm của cô Tiên.

Đứa con thứ hai của chúng tôi chào đời năm 1984 tại Darwin. Nhìn em cho con bú, tắm rửa cho con, nâng niu thằng nhỏ như vàng như ngọc, tôi nhớ lại những ngày hai đứa mới thương nhau, mỗi lần bên nhau là bàn chuyện mai này… tôi viết bài thơ tặng em.

Một chiều lãng đãng ánh tà dương
Em kể anh nghe chuyện mộng thường
Đôi mắt em nhìn xao xuyến quá
Như sao lấp lánh một trời thương.

Từ đó đời mình hết lẻ loi
Đan tay qua phố bước chung đôi
Em cười rạng rỡ như tiên nữ
Tiên nữ của anh – cũng được rồi.

Từ đó đời mình ươm ước mơ
Từng đêm anh cắn bút làm thơ
Mỗi dòng ôm ấp ngàn thương nhớ
Thương nhớ lớn theo nổi đợi chờ.

Từ đó mình bàn chuyện lứa đôi
Mai này, mình có hai con thôi
Trưởng nam, phần nó lo hương hỏa
Em nó, cô Ba – có rượu mời.

Từ đó mình bàn chuyện cưới nhau
Anh giành chọn áo cưới cô dâu
Màu vàng, hoàng hậu lòng anh đó
Em nói : – Màu hồng, áo cô dâu!

Từ lúc về làm vợ của anh
Âm thầm mình kết mộng ngày xanh
Trưởng nam bật khóc, cưng như ngọc
Đứa kế trai luôn, quý tựa vàng.

Nhiều đêm nằm gác tay lên trán
Anh cám ơn Trời, cám ơn em
Bảy nổi ba chìm mình chẳng ngán
Vì em có anh, anh có em.

Từ năm 2005 đến năm 2015, chúng tôi tổ chức những bữa ăn cứu trợ Thương Phế Binh còn sống khổ sở nơi quê mình bằng cách… tổ chức BBQ tại nhà tôi. Thức ăn do bà xã tôi và vài người bạn thân cùng chung sức nấu nướng, tôi bỏ tiền túi mua bia và nước giải khát. Ăn uống free. Tôi để 1 cái “Thùng Cứu trợ” trên bàn, ai cho bao nhiêu, tôi gởi về VN giúp anh em thương phế binh bấy nhiêu, theo tiêu chuẩn mỗi người 100 Úckim.

Vì số người Việt ở Darwin rất khiêm nhường, chỉ có vài trăm người, nên lúc đầu chỉ được vài ngàn. Từ từ, bà con tin tưởng nên khi có dịp đi ngang nhà tôi là họ bỏ tiền vô thùng thơ, không đợi đến Bữa ăn Cứu trợ.

unnamed (6)

<img class=”aligncenter” src=”https://i.imgur.com/lXXc8VU.jpg” />

Gõ máy tới đây, bỗng nhiên làm biếng… không muốn gõ máy nữa, vì đang nhớ cô Tiên, nhớ quá xá nhớ.

Cô Tiên của tôi đã về trời sau khi đã cùng sống chung với cha con tôi 43 năm, 3 tháng, 27 ngày hạnh phúc. Em quy tiên sau một cơn bạo bệnh. Từ một người mạnh khỏe bình thường, đúng 5 tuần sau thành người thiên cổ.

Trong những ngày cuối của cuộc sống nơi dương thế, khi thấy hai con đứng nhìn em, nước mắt lưng tròng, em cầm tay con lắc lắc, mỉm cười nói: “Chúa cũng chết, Phật cũng chết, thì Má cũng chết. Má đã trả xong món nợ ân tình với Ba con và các con thì Má đi. Con trai khóc… xấu lắm”. Con tôi quẹt nước mắt… miệng cười méo xẹo.

Trong Hospice Hospital, nơi dành cho những bệnh nhân… “terminally ill”, mỗi ngày có y tá đến đánh răng và lau mình cho em. Có một lần em cám ơn họ “Thanks so much for keeping my body clean. I know it’s shutting down”. Cô y tá người Úc trợn mắt nhìn em, rưng rưng nước mắt. Sau này, cô nói với tôi “Tao chưa thấy ai sắp chết mà còn lịch sự và tỉnh táo như vợ mầy”.

Khi biết mình sắp trả xong cái nghiệp ở dương gian, em nắm tay tôi dặn dò phải tổ chức tang lễ em như thế nào. Thỉnh vị tăng ni nào chủ trì tang lễ, xong phải hỏa thiêu và chỉ giữ tro cốt 100 ngày. Sau đó mang tro cốt em rải trên sông Parramatta, đoạn gần Opéra House ở Sydney, là nơi em thích đi dạo mỗi lần đi thăm con. Em nói nhỏ nhẹ như đang lo tang lễ của ai khác. Tôi chỉ biết im lặng gật đầu, ráng kềm cho nước mắt đừng chảy ra. Tôi đã làm đúng theo lời em dặn.

Từ ngày cô Tiên về trời, cha con tôi đứt ruột đứt gan, tan nát trong lòng. Tôi đã sống những ngày như người chết chưa chôn.

Câu chuyện kể thật của Buu Nguyen

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Chuyện Cô Tiên của Buu Nguyen

Khả năng Trung Quốc tấn công Đài Loan cao hơn mọi người nghĩ

Đô đốc Aquilino: Khả năng Trung Quốc tấn công Đài Loan cao hơn mọi người nghĩ

Thiện Đức | DKN

Đô đốc John Aquilino, ứng cử viên Tư lệnh Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của Hoa Kỳ (Ảnh dẫn từ theguardian)

Hôm thứ Ba (23/3), Đô đốc Aquilino, người được đề cử làm Tư lệnh Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương của Hoa Kỳ, nói rằng mối đe dọa xâm lược Đài Loan của ĐCSTQ nghiêm trọng hơn nhiều người biết, theo Epoch Times.

Ông nhấn mạnh rằng trước áp lực quân sự ngày càng tăng của Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) đối với Đài Loan, Hoa Kỳ nên tiếp tục duy trì khai triển các lực lượng răn đe, đồng thời tiếp tục bán vũ khí cho Đài Loan, và đảm bảo rằng hòn đảo này có khả năng tự vệ.

AFP đưa tin, John Aquilino hiện là chỉ huy Hạm đội Thái Bình Dương và là người được đề cử cho chức Tư lệnh Bộ Tư lệnh Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương của Hoa Kỳ. Ông nói với Ủy ban Dịch vụ Vũ trang Thượng viện hôm thứ Ba rằng Trung Quốc coi việc khôi phục quyền kiểm soát Đài Loan là “ưu tiên hàng đầu” của họ.

Ông cũng không đồng ý với nhận xét gần đây của Tư lệnh Ấn Độ-Thái Bình Dương và Đô đốc Philip Davidson sắp mãn nhiệm rằng ĐCSTQ có thể cố gắng tấn công Đài Loan trong sáu năm nữa.

Ông nói với Ủy ban Dịch vụ Vũ trang Thượng viện: “Tôi nghĩ vấn đề này cấp bách hơn hầu hết mọi người nghĩ, và chúng ta phải xem xét nó một cách nghiêm túc”.

Ông Aquilino cho biết mối đe dọa lớn đến mức Hoa Kỳ cần thực hiện một kế hoạch trị giá 27 tỷ USD được đề xuất nhằm tăng cường khả năng phòng thủ trong khu vực (Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương và eo biển Đài Loan) “trong ngắn hạn và trong những trường hợp khẩn cấp”.

Ông nhấn mạnh rằng việc chính quyền Trung Quốc phát động xâm lược Đài Loan trước hết gây ra mối đe dọa tiềm tàng với thương mại toàn cầu. Thứ hai, nó sẽ làm tổn hại đến uy tín của Hoa Kỳ đối với các đồng minh châu Á như Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc, và Philippines.

Ông Aquilino tuyên bố rằng Bộ Tư lệnh Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương sẽ tiếp tục cố vấn cho Đài Loan về việc phát triển sức mạnh quân sự, khả năng tương tác trong hoạt động, khả năng sẵn sàng chiến đấu và phát triển chuyên môn thông qua hợp tác an ninh và bán vũ khí cho Đài Loan theo “Đạo luật Quan hệ Đài Loan”. Đài Loan nên ưu tiên mua sắm các hệ thống phi đối xứng có tính cơ động cao, phi tập trung và có tính sát thương cao để đảm bảo rằng Đài Loan có khả năng phòng thủ trước các cuộc tấn công.

Ông nhắc lại cam kết lâu dài của Hoa Kỳ trong việc tuân theo Thông cáo chung giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc, “Đạo luật Quan hệ Đài Loan” và sáu đảm bảo tiếp tục hỗ trợ Đài Loan duy trì đủ khả năng tự vệ. Trong tương lai, ông sẽ thảo luận với Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ để duy trì hòa bình và ổn định trên eo biển Đài Loan và khu vực.

Khi nói về mối quan hệ giữa Mỹ-Trung, ông Aquilino nói rằng Hoa Kỳ và Trung Quốc có quan điểm rất khác nhau về tương lai, ĐCSTQ kỳ vọng tạo ra một thế giới phù hợp với mô hình chuyên quyền và mâu thuẫn với trật tự quốc tế dựa trên luật lệ. Nhưng ông cũng cho biết sẽ tiếp tục tìm cách thiết lập mối quan hệ quốc phòng mang tính xây dựng, ổn định và hướng tới kết quả với Trung Quốc để giảm nguy cơ hiểu lầm và đánh giá sai.

(Bản Tin trích từ trang mạng rangdongonline.com)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Khả năng Trung Quốc tấn công Đài Loan cao hơn mọi người nghĩ

Thơ Xướng Họa 3: Tưởng Niệm Quốc Hận 30/4

 TỔ QUỐC TRÔNG CHỜ

Tổ quốc trông chờ bậc trí nhân,
Dang tay xoay chuyển việc cơ trần.
Đưa dân ra khỏi đời tăm tối,
Dẫn nước vươn mình vượt khó khăn.
Chống giặc, Lạc Hồng nêu chính nghĩa,
Diệt thù, Đại Việt vẫn thi ân.
Non sông nguy biến từ phương Bắc,
Hào kiệt ai người đã xả thân?!

CÓC CHAY 

Họa 1: CẦU CHO ĐẤT NƯỚC

Việt Nam trông đợi đấng tài nhân
Xóa sạch lầm than chốn bụi trần
Thầy giáo chuyên hồng tay vứt phấn
Học sinh nhuộm đỏ cổ quàng khăn
Tài nguyên Tổ Quốc trên ban huệ
Cuộc sống dân mình đảng thí ân
Ngóng đợi anh hùng vung kiếm bạc
Diệt trừ tham nhũng ấm phì thân

C/Ươn

Họa 2: Mong

Dân Việt đang cần tài, đức nhân
Một lòng vì nước mặc phong trần
Kiên cường chống lại điều ngang trái
Bất khuất thi gan trước khó khăn
Giặc đỏ hoành hành gây khốn khổ
Anh hùng xuất hiện đáp đền ân
Muôn người nối lại vòng tay lớn
Đạp đổ tà quyền phải xả thân

TQN

Họa 3: SỐ PHẬN

Số phận kề bên lũ bất nhân
Làm sao tránh khỏi chúng xoay trần
Hăm he vũ lực đòi ngăn trở
Khống chế tinh thần tạo khó khăn
Đừng đợi quân Tàu thù hóa bạn
Không mong giặc cướp oán thành ân
May khi trái đất này rung chuyển
Thế sự xoay vần mới thoát thân

CCR

Họa 4: BẬC HIỀN ĐỨC

Khó lắm mới tìm được trí nhân
Trùm chăn bỏ mặc việc cơ trần
Quan tham đồng bọn an vui hưởng
Học giả bạn bè ngại khó khăn
Đất nước trông chờ người chí khí
Quê hương vẫn đợi  kẻ thi ân
Mong sao có được bậc hiền đức
Đứng dậy quên mình để xả thân

CN NCV 

Họa 5: MONG CHỜ

Tổ quốc đang chờ bậc chính nhân
Như tiên giáng thế xuống dương trần
Dẹp tan cường bạo qua nguy biến
Đoàn kết muôn lòng vượt khó khăn
Giặc cộng gây thù bao oán hận
Quốc gia nghĩa khí vẫn thi ân
Ước trời sớm tỏ vầng quang tỏa
Cho đất trời Nam được thoát thân

CX

Họa 6: TRONG TRẠI CẢI TẠO

Chúng bảo: “bọn mày kẻ tội nhân”
Nhưng ta phớt tỉnh chẳng phân trần
Cho dù đày ải đầy kham khổ
Vẫn cố trân mình chịu khó khăn
Lên lớp thì kêu quân phản động
Xuống đồng lại nói đảng ban ân
Ôi chao cộng sản toàn ngang ngược
Tin lũ búa liềm chỉ hại thân

CH

Họa 7: HẾT MONG

Kiếp nầy liệu có được “thành nhân” ?
Hận nước chưa tan giã cõi trần
Mấy độ xuân qua toàn võ miệng
Bao lần hạ đến chỉ cờ khăn
Quê hương chốn đó đành mang nợ
Tổ quốc kiếp nầy hết báo ân
Gởi nắm xương khô nơi đất khách
Còn gì để xả tấm tàn thân !

Cóc Chát 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thơ Xướng Họa 3: Tưởng Niệm Quốc Hận 30/4

PHỞ… từ Nguyễn Xuân Nghĩa đến Nguyễn Gia Kiểng (Tài liệu tham khảo) _ LS Nguyễn Văn Chức

PHỞ… từ Nguyễn Xuân Nghĩa đến Nguyễn Gia Kiểng

– LS. Nguyễn văn Chức

Mùi phở đánh thức tôi dậy, sáng mùng một Tết Nhâm Ngọ.Mùng một tết năm ngoái, nhà tôi nấu bún bò Huế. Mùng một Tết năm kia, nhà tôi nấu bún ốc. Mùng một tết năm nay, nhà tôi  nấu phở.

Bún bò Huế, nhà tôi nấu ngon tuyệt vời. Bún ốc, nhà tôi nấu cũng ngon tuyệt vời. Nhưng phở, thì không ngon tuyệt vời. Bởi vì thiếu hương vị của đất Bắc, cái hương vị xa lạ đối với người con gái đất thần kinh.

Ngày xưa, cả làng tôi chỉ có một hàng phở. Gọi là hàng  phở, không đúng. Phải gọi là gánh phở. Gánh phở  của ông Bạ. Không có tái nạm tái gầu và  hành tây nước béo. Chỉ có thịt nạm, nước trong. Nhưng ngon tuyệt vời, cái ngon của quê huơng Bắc Ninh.

Em là con gái Bắc Ninh
Em nghiêng chiếc nón, mái đình nghiêng theo.

Ông Bạ khoảng 50 tuổi.  Ở tuổi ông, nhiều người đã “vào lão”, sau khi bỏ tiền ra khao làng khao xã. Nhưng ông Bạ nghèo, gia tài vẻn vẹn một gánh  phở rong. Cả làng mến ông. Cả làng quen tiếng rao phở của ông, tiếng rao trầm bổng trong đêm, cùng với mùi phở ngào ngạt trong đêm.

Thời đó, chỉ có hai xu một bát phở.

Ông Bạ có người vợ trẻ, quê Bắc Ninh, tuổi ngoài hai mươi, và đẹp. Ông Bạ chiều vợ, để vợ ở nhà, không cho đi theo ông bán phở. Ông phân bua với khách hàng: “Ấy, thùng  nước giùng là do bà nhà tôi nấu đấy. Ấy, bà  nhà tôi phải sửa soạn và đun từ tối hôm trước. Ấy, sáng nào cũng vậy, bà nhà tôi dậy từ lúc tinh mơ rờ đất, đổ nước phở và xương xảu vào cái thùng này để tôi gánh đi”.

Có người khách ăn phở kể rằng: một hôm ông Bạ vớt ra từ trong thùng nước phở đã cạn, một tấm vải trăng trắng. Ông khách nhìn kỹ, thì đó là một cái yếm. Có lẽ cái yếm của bà Bạ vô ý đánh rơi vào thùng phở đêm hôm trước.

Con đường Carreau Hà Nội rộng hênh thang, dài và đẹp, hai bên cây cối mọc xum xuê.  Khu Toà thượng thẩm Hà Nội toạ lạc trên con đường này, muà hè hoa phượng đỏ chói. Cách khu tòa án, là một ngõ cụt, Ngõ Nhà Đo, Tây gọi là Impasse de l’Identité. Đó là khu nhà ngày xưa dành cho những công chức người Pháp của sở căn cước, hoặc sở hoả lò. Nhà nào củng hai tầng, có sân  lát đá sỏi trắng, và có nhà xe nhà bồi riêng biệt.

Anh chị cả  tôi: Nguyễn Đức Chiểu & Phạm Thị Liên, đã mua được một căn nhà trong ngõ cụt đó.

Ngay đầu ngõ, có gánh phở. Cứ chập tối, người ta nghe thấy tiếng rao phở của ông ta. Ông ta tên Thìn, trạc độ 40, ăn nói sống sượng và ngổ ngáo. Nghe đâu ông ta đã từng đi lính O.N..S bên Pháp. Phở ông ta cũng y như phở làng tôi ngày xưa, nhưng có thêm hành tây nước béo. Khách ăn phở đêm của ông ta, phần đông là những cô gái giang hồ khu ga Hàng Cỏ hoặc khách sạn đường Gambetta gần đó..

 “Này ăn một bát phở  của tôi, là lao động cả đêm cũng không mệt.
    Này, đêm vừa rồi có khá không? Tiếp được mấy thằng lính lê dương.”

Mấy cô gái xồn xồn vừa húp phở vừa ong ỏng: cái ông quỷ này có để cho người ta nuốt không.

Con đường Careau, khu nhà của Anh Chị Cả tôi, ban đêm rất vắng. Mấy cô gái  xồn xồn hay tập xe đạp trên quãng đường đó.  Tập xe đạp phải có hai cô gái. Một cô gái ngồi trên cái yên (bằng da) của chiếc xe đạp, cũn ca cũn cỡn. Một cô gái nắm cái yên xe đạp, đẩy đi và chạy bộ sau xe, giữ cho người tập xe khỏi ngã, và cái xe đạp khỏi đổ. Cũn ca cũn cỡn.

Và ai tập xe đạp mà không có lúc ngã. Ngã xe và ngã cả  người. Mấy cô gái cũng vậy. Có lần ngã vào lề đánh rầm. Có khi cả người cả xe đâm vào gần gánh phở của ông Thìn. Và mỗi bận như vậy, ông Thìn lại lẫm bẩm:  ‘đồ quỷ, tao đã bảo chúng mày rút cái yên ra mà ngồi cho nó vững, chúng mày không nghe tao.”

Di cư vào Sài gòn, bát phở Bắc có thêm giá sống. 

Gần khu nhà ông Trần Văn Lắm và bà Dương Quỳnh Hoa, có gánh phở Bắc rất ngon. ngay bên lề đường. Chủ gánh phở  tên là Đang. Ông Đang, giọng nói ồ ồ, lúc nào cũng tỏ ra ưu thời mẫn thế. Khách ăn, hầu hết là công tư chức; họ nói với nhau toàn truyện thời cuộc.

Những buổi sáng đẹp trời, trên đường đến văn phòng luật sư hoặc đến Thượng Nghị Viện, tôi  thường ngừng xe trước gánh phở ông Đang. Gần như một thói quen. Và thế nào ông Đang cũng hỏi tôi về thời sự. Một hôm, ông Đang hỏi nhỏ tôi:”liệu có phải di cư lần nữa không, luật sư? “

Hoàng Cơ Minh điện thoại cho tôi:  “Anh Chức, ngày mai tôi sẽ gửi cái người viết bài Dựng Cờ Chính Nghĩa  xuống Anh.”

Đó là năm 1982, Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt Nam của hai ông Phạm Văn Liễu Hoàng Cơ Minh lên như diều gặp gió.

Ngày ông Minh ở “chiến khu quốc nội Thái Lan” trở về Mỹ ra mắt đồng bào tỵ nạn, thật là huy hoàng. Ông Minh ra mắt ở Cali trước. Sau đó, ra mắt ở Houston. Hôm ông ta về Houston, tôi ra tận phi trường đón ông, náo nức trong đám đông, trong rừng cờ và tiếng hoan hô.

Bài “Dựng Cờ Chính Nghĩa” được phân phát khắp nới, như một lời hịch. Bài đó, ý  hay và lời đẹp, dội vào hàng ngàn hàng vạn con tim xa quê hương.

Ai viết bài đó? Tôi hỏi Hoàng cơ Minh, anh ta im lặng. Phạm Nam Sách từ San Diego gọi cho tôi, vừa chửi vừa khen:” Chức ơi, chỉ có cậu mới viết được bài đó. Đừng giấu moa nữa.”  Chẳng riêng gì Phạm Nam Sách. Nhiều người  cũng nghĩ như vậy.

Năm 1983, Hoàng Cơ Minh gửi người đó xuống tôi. Người đó, là Nguyễn Xuân Nghĩa, cháu ruột của tên Mười Cúc Nguyễn Văn Linh  Ông Nghĩa xuống Houston đặt cơ sở cho Phở  Kháng Chíến cuả anh em Hoàng Cơ Minh Hoàng Cơ Long Hoàng Cơ Định.

Chiều hôm đó, ông Nghĩa đến thăm tôi tại nhà, người rong rỏng cao, dáng dấp hào hoa phong nhã. Ông nói nhiều lắm,về Charles de Gaulle và cuộc Kháng Chiến chống Đưc Quốc Xã 1940-1944 của De Gaulle. Rồi  ông  nói thao thao về  Kháng Chiến Quốc Nội.  Tôi nghe mà không nói gì.

Mấy ngày sau, Hoàng Cơ Minh gọi điện thoại: “ Sao, anh Chức, anh đã gặp Nguyễn Xuân Nghĩa chưa? Anh thấy thế nào?”

Tôi nói: ” Nghiã là cháu ruột của tên cộng sản lưu manh Mười Cúc Nguyễn Văn Linh bí thư Thành Ủy Hồ Chí Minh.. Nghĩa có học và thủ đoạn. Sau ngày 30 /4/1975, Nghiã đã ở lại Miền Nam, mà không bị một ngày tù tội. Một người như vậy, các anh không thể tin được, và chỉ nên dùng vào những công tác chuyên môn (nghiên cứu, dịch thuật). Không nên dùng vào những công tác tham mưu. “

Hoàng Cơ Minh không nghe  tôi. Và con ngựa thành Troie đã được rước vào thành.  Mặt trận Hoàng Cơ Minh đã trở thành  một băng đảng tay sai hèn hạ của Việt Cộng.

Tháng 29 tháng 12 năm 1984, nhân danh một nghị quyết của Hội Đồng Kháng Chiến  họp tại Quốc Nộ Thái Lan, Hoàng Cơ Minh tuyên bố khai trừ ra khỏi mặt trận một người đã cùng với anh ta  tạo lập nên mặt trận:  Phạm văn Liễu.

Hoàng Cơ Minh  loại Pham văn Liễu ra khỏi mặt trận, để cứu nguy khoảng 7 triệu Mỹ Kim  của quỹ kháng chiến lúc đó nằm trong tay một người. Người đó là  Hoàng Cơ Định.  Và ai đã cố vấn cho Hoàng Cơ Minh trong cái bước xẽ dịch lưu manh đốn mạt đó? Nguyễn Xuân Nghĩa.

Lúc đó là 1985, Hoàng cơ Minh từ “chiến khu quốc nội  “UDEDON” (Thái Lan) về Mỹ, để vận động cho chính nghĩa của ông. Ông ta  xuống Houston gặp tôi, xin tôi lên tiếng  ủng hộ ông ta. Tôi từ chối, tôi nói cho ông ta biết: tôi sẽ lên án ông ta trước dư luận.  Và tôi, Nguyễn Văn Chức, đã làm điều đó, bất chấp những đe dọa.

Cuối năm 1985, dăm ba bài báo xuất hiện trên tờ Kháng Chiến cuả Mặt Trận, đả kích tôi. Nhìn lối hành văn huênh hoang, tôi biết tác giả là ai.

Dù sao, tôi vẫn mến anh ta. Hôm đầu đến thăm tôi, anh ta gọi tôi là thầy, và xưng em.  Anh ta chê bọn Hoàng Cơ Minh – PhạmVăn Liễu ít học. Anh ta nhận xét đúng. Gần đây khi nghe tin anh ta thân với Vũ Quang Ninh (chủ đài phát thanh Little Saigon) và là cây bút chỉ đạo của tờ Viet Tide, tôi không ngạc nhiên. 

Ngoài Nguyễn Xuân Nghĩa, còn một người, tôi không thể quên: Nguyễn Gia Kiểng.

Nguyễn Gia Kiểng ngổ ngáo, liều lĩnh, và suốt đời thèm khát được dư luận chú ý, và sẵn sàng làm tất cả để được dư luận chú ý. Và anh ta đã tạo đuợc sự chú ý của dư luận, bằng sự ngổ ngáo liều lĩnh, dốt nát.

Năm 1986, đại hội 6 đảng CSVN kêu gọi hoà hợp dân tộc, tờ Thông Luận của anh ta lên tiếng phụ họa. Tờ báo còn đi xa hơn: chửi người Quốc Gia là con cháu cô Tư Hồng, khẳng định CSVN có chính nghĩa,và khẳng định cuộc chiến tranh Việt Nam (1945- 1975)  là một cuộc nội chiến.

Chưa hết,  tờ  báo của anh ta còn kêu gọi phong thánh cho tên chó đẻ Hồ Chí Minh. Chúng ta hãy nghe (nguyên văn):

“Một mai, tôi hy vọng sẽ rất gần đây, khi nước non thật sự thanh bình, anh em ta về, nếu có một đài chiến sĩ chung cho tất cả những người đã hy sinh vì Việt Nam, chúng ta sẽ đến đó cầu nguyện. Nếu lăng ông Hồ còn, chúng ta–dù đã chiến đấu trong hàng ngũ nào–cũng nên đến đó cầu nguyện, một cách để nói với nhau và với mai sau, là anh em ta đã quên hết những bài học hận thù”.  (Phong Thánh, Thông Luận số 20, tháng 10/1989,  trang 4)

Một năm sau, anh ta liếm môi, chửi Hồ Chí Minh như con chó.
 
Nguyên văn: “cuộc đời của ông Hồ có hại chứ không có lợi cho đạo đức, cho văn hoá, cũng như cho dân tộc ông” (Thông Luận, số  28, tháng 6/1990, trang nhất)

Chưa  hết, anh ta  còn bồi thêm nhát dao vào kẻ mà anh ta đã phong thánh: “Một thảm kịch cho ông Hồ Chí Minh là đảng CS của ông đã chọn đúng dịp kỷ niệm 100 năm sinh nhật của ông để tuyên bố bắt đầu từ bỏ chủ nghĩa CS”.

Người ta thắc mắc:  tài liệu nào cho phép anh ta khẳng định như thế?

Thì đây, anh ta  trưng bằng cớ:

“ Trần Bạch Đằng, cố vấn chính trị của tổng bí thư Nguyễn Văn Linh đã được phép tuyên bố rằng  đảng CSVN từ bỏ độc quyền chính trị”…

Thì ra, bằng cớ của anh ta  là lời tuyên bố của Trần Bạch Đằng. Nhưng, Trần Bạch Đằng tuyên bố ở đâu, ngày nào, và trong tài liệu nào?  Anh ta im lặng.

Giả sử Trần Bạch Đằng–với sự cho phép của Nguyễn văn Linh-có thực sự tuyên bố rằng “Đảng Cộng  Sản Việt Nam từ bỏ độc quyền chính trị“, thì nhóm của anh ta -tôi muốn nói: của Nguyễn Gia Kiểng – cũng không nên hồ hởi ca tụng lời tuyên bố đó như một đổi mới tư duy chính trị của đảng CSVN, có lợi cho đất nưóc.  Trừ phi họ-tôi muốn nói nhóm Nguyễn Gia Kiểng — là cò mồi.

Huống chi, Trần Bạch Đằng không hề tuyên bố như vậy. Ông nội thằng Trần Bạch Đằng, ông nội thằng Nguyễn Văn Linh, và ông nội cả lò cả ổ bọn chính trị bộ đảng CSVN cũng không dám tuyên bố như vậy. Nhóm Nguyẽn Gia Kiểng chỉ đánh hơi. Rồi vẫy đuôi sủa. Như những con chó.

Sau khi hồ hởi loan báo “đảng CSVN sẽ từ bỏ độc quyền chính trị“, nhóm Nguyễn Gia Kiểng hồ hởi bàn về nhà nước pháp trị trong chế độ Việt Cộng đang đổi mới.

Chúng ta hãy nghe:
“Trong một nhà nước pháp trị, mọi vấn đề có thể giải quyết một cách giản dị trong khuôn khổ luật pháp. Những ai xâm phạm nguyên tắc dân chủ sẽ phải trả lời trước toà án”.

Viết như vậy, sai và ngu.

Trong một chế độ pháp trị, tòa án không có quyền thụ lý hoặc lên án phạt những hành động vi phạm một nguyên tắc dân chủ.Toà án chỉ có quyền thụ lý những hành động vi phạm một điều luật.

Chưa hết, nhóm Nguyẽn gia Kiểng còn bước thêm bước nữa. Họ mách nước về những chánh đảng sẽ xuất hiện trong chế độ CS đang đổi mới.

Họ viết: “mọi công dân không can án đều có quyền tham gia hoặc thành lập chánh đảng”.   

Lại sai và ngu.

Trong một chế độ pháp trị, những công dân can án về một số tội phạm hình sự nào đó có thể bị luật pháp cấm ứng cử vào những chức vụ công cử, như các chức vụ tổng thống, nghị sĩ, dân biểu… Nhưng luật pháp không có quyền cấm họ tham gia hoặc thành lập những đảng phái chính trị..

Vẫn chưa hết.

Nhóm Nguyễn Gia Kiểng chủ trương dân chủ đa nguyên, coi đó như là đòi hỏi và điều kiện bức thiết cho một chế độ chính trị mới tại Việt Nam.

Lại sai và ngu.

Dân chủ, tự nó đã đa nguyên rồi.

Bởi lẽ: đa nguyên là bản chất của dân chủ; đa nguyên nguyên ít hay đa nguyên nhiều, đó là vấn đề mức độ.

Một ông bạn già H.O văng tục:  “Đù mẹ, đã là đàn ông thì phải có cái cụ Hồ. To hay nhỏ là truyện khác. Cũng như đã là đàn bà con gái thì phải có cái “hang Pác Bó để cho cụ Hồ rúc vào”. Rộng hay hẹp, đó là truyện khác.

Rất tiếc, nhóm Nguyễn Gia Kiểng không hiểu được điều sơ đẳng đó. Họ lẫn lộn thực chất với mức độ, lẫn lộn thực tiễn với triển vọng, lẫn lộn điều kiện với tiến trình.

Tôi vừa  đưa ra một vài cái sai cái dốt, của hàng  trăm cái sai cái dốt nằm ngổn ngang trong những viết  lách và suy tư của nhóm Nguyễn Gia Kiểng. Chưa kể sự hỗn xược đối với tiền nhân. Nguỵ biện, lập dị, táo bạo, đầy huyễn tưởng, và sẵn sàng làm bất cứ điều gì để được dư luận chú ý, và thực hiện những mưu đồ bất chính. Đó là Nguyễn Gia Kiểng.

Trung Đông có những kẻ cuồng tín ôm bom tự sát. Trái bom nổ tung, người ôm bom tan xác, và những nạn nhân vô tội tan xác. Hành động của họ gây rúng động trong thế giới văn minh..

Toàn bộ sự nghiệp suy tư  của Nguyễn Gia Kiểng từ gần 25 năm nay, và nhất là đại tác phẩm “Tổ Quốc Ăn Năn” của anh ta, chỉ là những trái bom “tự sát”. Trái bom nổ cái rầm. Tung toé những mảnh vụn. Trong đó có rất nhiều rác rưởi, ống bơ rỉ và băng vệ sinh..

Kẻ ôm bom không chết, nhưng được dư luận chú ý.
Đó là con người thật của  Nguyễn Gia Kiểng.A

Đêm nay, trăng sáng. Tôi ngồi viết dưới lùm thông sau nhà.

Tôi đã lạc đề chăng? Từ phở, đến mặt trận Hoàng Cơ Minh, đến Nguyễn xuân Nghiã, đến Nguyẽn Gia Kiểng.

Không, tôi không lạc đề. Hai ông Nghĩa ông Kiểng có duyên nợ với nhau.

Tháng 4 năm 1990, trong một chuyến đi Bắc Âu, ông Kiểng bị bọn Hoàng Cơ Minh hành hung.  Nhưng ông Kiểng đã tha thứ, không hận thù. Tôi mến ông ở chỗ đó.

Tôi còn mến ông ở chỗ ông thành thật. Thành thật ngay cả khi bịa đặt và nguỵ biện. Quyển “Tổ Quốc Ăn Năn” của ông còn đó.

Viết năm 2002
Phụ đính năm 2008

Nguyễn văn Chức

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở PHỞ… từ Nguyễn Xuân Nghĩa đến Nguyễn Gia Kiểng (Tài liệu tham khảo) _ LS Nguyễn Văn Chức

CÓ ĐI CHUNG VỚI NHAU LÂU ĐÂU _ Như Sao

Một thiếu nữ đang ngồi trên xe bus, một bà già mang đủ thứ lỉnh kỉnh miệng lẩm bẩm đến ngồi  bên cạnh xô mạnh cô. Bất bình anh thanh niên bên cạnh hỏi tại sao cô không phản đối và bảo vệ quyền lợi mình. Cô mỉm cười và trả lời: “Ðâu cần phải cãi cọ vì chuyện nhỏ như thế,  có đi chung với nhau lâu đâu! Trạm tới, tôi xuống rồi.”

Ðây là một câu trả lời mà chúng ta phải xem như một khẩu hiệu viết bằng chữ vàng để hướng dẫn cách cư xử hằng ngày của chúng ta ở khắp mọi nơi: «Ðâu cần phải cãi cọ vì chuyện nhỏ như thế, có đi chung với nhau lâu đâu!»

Nếu chúng ta có thể ý thức rằng cõi đời tạm của chúng ta dưới thế thật ngắn ngủi, cãi cọ tầm phào vừa làm cho mất vui, vừa làm mình mất thời gian và sức lực cho chuyện không đâu.

Có ai làm mình tổn thương? Bình tĩnh, có đi chung với nhau lâu  đâu!

Có ai phản bội, ức hiếp, sỉ nhục mình? Bình tĩnh, có đi chung với nhau lâu đâu!

Dù người ta có gây ra cho chúng ta buồn phiền gì chăng nữa, hãy nhớ rằng: có đi chung với nhau lâu đâu!

Chúng ta hãy ăn ở hiền  lành. Hiền lành là một đức tính không bao giờ đồng nghĩa với hèn nhát…   Chuyến đi chung của chúng ta trong cõi đời dưới thế này ngắn ngủi lắm và không đi trở ngược lại được.  Không ai biết chuyến đi của mình dài bao lâu!

Không ai biết mình có phải xuống ở trạm tới hay không!

Vậy hãy bình tĩnh, chuyến đi ngắn lắm.

Như Sao

(Bài do K1 Dương Mộng Oanh chuyển)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở CÓ ĐI CHUNG VỚI NHAU LÂU ĐÂU _ Như Sao

Phỏng vấn NT Phạm Tấn Ngọc

Phỏng vấn NT Phạm Tấn Ngọc, nguyên Thiếu Tá CSQG-VNCH, người vừa bị một kẻ lạ mặt người Mỹ da trắng vô cớ hành hung trọng thương ngày 17/3/2021 vừa qua tại San Francisco. Cuộc phỏng vấn do phóng viên Nghê Lữ và nhà báo Huỳnh Lương Thiện thực hiện.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Phỏng vấn NT Phạm Tấn Ngọc