PHỞ… từ Nguyễn Xuân Nghĩa đến Nguyễn Gia Kiểng (Tài liệu tham khảo) _ LS Nguyễn Văn Chức

PHỞ… từ Nguyễn Xuân Nghĩa đến Nguyễn Gia Kiểng

– LS. Nguyễn văn Chức

Mùi phở đánh thức tôi dậy, sáng mùng một Tết Nhâm Ngọ.Mùng một tết năm ngoái, nhà tôi nấu bún bò Huế. Mùng một Tết năm kia, nhà tôi nấu bún ốc. Mùng một tết năm nay, nhà tôi  nấu phở.

Bún bò Huế, nhà tôi nấu ngon tuyệt vời. Bún ốc, nhà tôi nấu cũng ngon tuyệt vời. Nhưng phở, thì không ngon tuyệt vời. Bởi vì thiếu hương vị của đất Bắc, cái hương vị xa lạ đối với người con gái đất thần kinh.

Ngày xưa, cả làng tôi chỉ có một hàng phở. Gọi là hàng  phở, không đúng. Phải gọi là gánh phở. Gánh phở  của ông Bạ. Không có tái nạm tái gầu và  hành tây nước béo. Chỉ có thịt nạm, nước trong. Nhưng ngon tuyệt vời, cái ngon của quê huơng Bắc Ninh.

Em là con gái Bắc Ninh
Em nghiêng chiếc nón, mái đình nghiêng theo.

Ông Bạ khoảng 50 tuổi.  Ở tuổi ông, nhiều người đã “vào lão”, sau khi bỏ tiền ra khao làng khao xã. Nhưng ông Bạ nghèo, gia tài vẻn vẹn một gánh  phở rong. Cả làng mến ông. Cả làng quen tiếng rao phở của ông, tiếng rao trầm bổng trong đêm, cùng với mùi phở ngào ngạt trong đêm.

Thời đó, chỉ có hai xu một bát phở.

Ông Bạ có người vợ trẻ, quê Bắc Ninh, tuổi ngoài hai mươi, và đẹp. Ông Bạ chiều vợ, để vợ ở nhà, không cho đi theo ông bán phở. Ông phân bua với khách hàng: “Ấy, thùng  nước giùng là do bà nhà tôi nấu đấy. Ấy, bà  nhà tôi phải sửa soạn và đun từ tối hôm trước. Ấy, sáng nào cũng vậy, bà nhà tôi dậy từ lúc tinh mơ rờ đất, đổ nước phở và xương xảu vào cái thùng này để tôi gánh đi”.

Có người khách ăn phở kể rằng: một hôm ông Bạ vớt ra từ trong thùng nước phở đã cạn, một tấm vải trăng trắng. Ông khách nhìn kỹ, thì đó là một cái yếm. Có lẽ cái yếm của bà Bạ vô ý đánh rơi vào thùng phở đêm hôm trước.

Con đường Carreau Hà Nội rộng hênh thang, dài và đẹp, hai bên cây cối mọc xum xuê.  Khu Toà thượng thẩm Hà Nội toạ lạc trên con đường này, muà hè hoa phượng đỏ chói. Cách khu tòa án, là một ngõ cụt, Ngõ Nhà Đo, Tây gọi là Impasse de l’Identité. Đó là khu nhà ngày xưa dành cho những công chức người Pháp của sở căn cước, hoặc sở hoả lò. Nhà nào củng hai tầng, có sân  lát đá sỏi trắng, và có nhà xe nhà bồi riêng biệt.

Anh chị cả  tôi: Nguyễn Đức Chiểu & Phạm Thị Liên, đã mua được một căn nhà trong ngõ cụt đó.

Ngay đầu ngõ, có gánh phở. Cứ chập tối, người ta nghe thấy tiếng rao phở của ông ta. Ông ta tên Thìn, trạc độ 40, ăn nói sống sượng và ngổ ngáo. Nghe đâu ông ta đã từng đi lính O.N..S bên Pháp. Phở ông ta cũng y như phở làng tôi ngày xưa, nhưng có thêm hành tây nước béo. Khách ăn phở đêm của ông ta, phần đông là những cô gái giang hồ khu ga Hàng Cỏ hoặc khách sạn đường Gambetta gần đó..

 “Này ăn một bát phở  của tôi, là lao động cả đêm cũng không mệt.
    Này, đêm vừa rồi có khá không? Tiếp được mấy thằng lính lê dương.”

Mấy cô gái xồn xồn vừa húp phở vừa ong ỏng: cái ông quỷ này có để cho người ta nuốt không.

Con đường Careau, khu nhà của Anh Chị Cả tôi, ban đêm rất vắng. Mấy cô gái  xồn xồn hay tập xe đạp trên quãng đường đó.  Tập xe đạp phải có hai cô gái. Một cô gái ngồi trên cái yên (bằng da) của chiếc xe đạp, cũn ca cũn cỡn. Một cô gái nắm cái yên xe đạp, đẩy đi và chạy bộ sau xe, giữ cho người tập xe khỏi ngã, và cái xe đạp khỏi đổ. Cũn ca cũn cỡn.

Và ai tập xe đạp mà không có lúc ngã. Ngã xe và ngã cả  người. Mấy cô gái cũng vậy. Có lần ngã vào lề đánh rầm. Có khi cả người cả xe đâm vào gần gánh phở của ông Thìn. Và mỗi bận như vậy, ông Thìn lại lẫm bẩm:  ‘đồ quỷ, tao đã bảo chúng mày rút cái yên ra mà ngồi cho nó vững, chúng mày không nghe tao.”

Di cư vào Sài gòn, bát phở Bắc có thêm giá sống. 

Gần khu nhà ông Trần Văn Lắm và bà Dương Quỳnh Hoa, có gánh phở Bắc rất ngon. ngay bên lề đường. Chủ gánh phở  tên là Đang. Ông Đang, giọng nói ồ ồ, lúc nào cũng tỏ ra ưu thời mẫn thế. Khách ăn, hầu hết là công tư chức; họ nói với nhau toàn truyện thời cuộc.

Những buổi sáng đẹp trời, trên đường đến văn phòng luật sư hoặc đến Thượng Nghị Viện, tôi  thường ngừng xe trước gánh phở ông Đang. Gần như một thói quen. Và thế nào ông Đang cũng hỏi tôi về thời sự. Một hôm, ông Đang hỏi nhỏ tôi:”liệu có phải di cư lần nữa không, luật sư? “

Hoàng Cơ Minh điện thoại cho tôi:  “Anh Chức, ngày mai tôi sẽ gửi cái người viết bài Dựng Cờ Chính Nghĩa  xuống Anh.”

Đó là năm 1982, Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt Nam của hai ông Phạm Văn Liễu Hoàng Cơ Minh lên như diều gặp gió.

Ngày ông Minh ở “chiến khu quốc nội Thái Lan” trở về Mỹ ra mắt đồng bào tỵ nạn, thật là huy hoàng. Ông Minh ra mắt ở Cali trước. Sau đó, ra mắt ở Houston. Hôm ông ta về Houston, tôi ra tận phi trường đón ông, náo nức trong đám đông, trong rừng cờ và tiếng hoan hô.

Bài “Dựng Cờ Chính Nghĩa” được phân phát khắp nới, như một lời hịch. Bài đó, ý  hay và lời đẹp, dội vào hàng ngàn hàng vạn con tim xa quê hương.

Ai viết bài đó? Tôi hỏi Hoàng cơ Minh, anh ta im lặng. Phạm Nam Sách từ San Diego gọi cho tôi, vừa chửi vừa khen:” Chức ơi, chỉ có cậu mới viết được bài đó. Đừng giấu moa nữa.”  Chẳng riêng gì Phạm Nam Sách. Nhiều người  cũng nghĩ như vậy.

Năm 1983, Hoàng Cơ Minh gửi người đó xuống tôi. Người đó, là Nguyễn Xuân Nghĩa, cháu ruột của tên Mười Cúc Nguyễn Văn Linh  Ông Nghĩa xuống Houston đặt cơ sở cho Phở  Kháng Chíến cuả anh em Hoàng Cơ Minh Hoàng Cơ Long Hoàng Cơ Định.

Chiều hôm đó, ông Nghĩa đến thăm tôi tại nhà, người rong rỏng cao, dáng dấp hào hoa phong nhã. Ông nói nhiều lắm,về Charles de Gaulle và cuộc Kháng Chiến chống Đưc Quốc Xã 1940-1944 của De Gaulle. Rồi  ông  nói thao thao về  Kháng Chiến Quốc Nội.  Tôi nghe mà không nói gì.

Mấy ngày sau, Hoàng Cơ Minh gọi điện thoại: “ Sao, anh Chức, anh đã gặp Nguyễn Xuân Nghĩa chưa? Anh thấy thế nào?”

Tôi nói: ” Nghiã là cháu ruột của tên cộng sản lưu manh Mười Cúc Nguyễn Văn Linh bí thư Thành Ủy Hồ Chí Minh.. Nghĩa có học và thủ đoạn. Sau ngày 30 /4/1975, Nghiã đã ở lại Miền Nam, mà không bị một ngày tù tội. Một người như vậy, các anh không thể tin được, và chỉ nên dùng vào những công tác chuyên môn (nghiên cứu, dịch thuật). Không nên dùng vào những công tác tham mưu. “

Hoàng Cơ Minh không nghe  tôi. Và con ngựa thành Troie đã được rước vào thành.  Mặt trận Hoàng Cơ Minh đã trở thành  một băng đảng tay sai hèn hạ của Việt Cộng.

Tháng 29 tháng 12 năm 1984, nhân danh một nghị quyết của Hội Đồng Kháng Chiến  họp tại Quốc Nộ Thái Lan, Hoàng Cơ Minh tuyên bố khai trừ ra khỏi mặt trận một người đã cùng với anh ta  tạo lập nên mặt trận:  Phạm văn Liễu.

Hoàng Cơ Minh  loại Pham văn Liễu ra khỏi mặt trận, để cứu nguy khoảng 7 triệu Mỹ Kim  của quỹ kháng chiến lúc đó nằm trong tay một người. Người đó là  Hoàng Cơ Định.  Và ai đã cố vấn cho Hoàng Cơ Minh trong cái bước xẽ dịch lưu manh đốn mạt đó? Nguyễn Xuân Nghĩa.

Lúc đó là 1985, Hoàng cơ Minh từ “chiến khu quốc nội  “UDEDON” (Thái Lan) về Mỹ, để vận động cho chính nghĩa của ông. Ông ta  xuống Houston gặp tôi, xin tôi lên tiếng  ủng hộ ông ta. Tôi từ chối, tôi nói cho ông ta biết: tôi sẽ lên án ông ta trước dư luận.  Và tôi, Nguyễn Văn Chức, đã làm điều đó, bất chấp những đe dọa.

Cuối năm 1985, dăm ba bài báo xuất hiện trên tờ Kháng Chiến cuả Mặt Trận, đả kích tôi. Nhìn lối hành văn huênh hoang, tôi biết tác giả là ai.

Dù sao, tôi vẫn mến anh ta. Hôm đầu đến thăm tôi, anh ta gọi tôi là thầy, và xưng em.  Anh ta chê bọn Hoàng Cơ Minh – PhạmVăn Liễu ít học. Anh ta nhận xét đúng. Gần đây khi nghe tin anh ta thân với Vũ Quang Ninh (chủ đài phát thanh Little Saigon) và là cây bút chỉ đạo của tờ Viet Tide, tôi không ngạc nhiên. 

Ngoài Nguyễn Xuân Nghĩa, còn một người, tôi không thể quên: Nguyễn Gia Kiểng.

Nguyễn Gia Kiểng ngổ ngáo, liều lĩnh, và suốt đời thèm khát được dư luận chú ý, và sẵn sàng làm tất cả để được dư luận chú ý. Và anh ta đã tạo đuợc sự chú ý của dư luận, bằng sự ngổ ngáo liều lĩnh, dốt nát.

Năm 1986, đại hội 6 đảng CSVN kêu gọi hoà hợp dân tộc, tờ Thông Luận của anh ta lên tiếng phụ họa. Tờ báo còn đi xa hơn: chửi người Quốc Gia là con cháu cô Tư Hồng, khẳng định CSVN có chính nghĩa,và khẳng định cuộc chiến tranh Việt Nam (1945- 1975)  là một cuộc nội chiến.

Chưa hết,  tờ  báo của anh ta còn kêu gọi phong thánh cho tên chó đẻ Hồ Chí Minh. Chúng ta hãy nghe (nguyên văn):

“Một mai, tôi hy vọng sẽ rất gần đây, khi nước non thật sự thanh bình, anh em ta về, nếu có một đài chiến sĩ chung cho tất cả những người đã hy sinh vì Việt Nam, chúng ta sẽ đến đó cầu nguyện. Nếu lăng ông Hồ còn, chúng ta–dù đã chiến đấu trong hàng ngũ nào–cũng nên đến đó cầu nguyện, một cách để nói với nhau và với mai sau, là anh em ta đã quên hết những bài học hận thù”.  (Phong Thánh, Thông Luận số 20, tháng 10/1989,  trang 4)

Một năm sau, anh ta liếm môi, chửi Hồ Chí Minh như con chó.
 
Nguyên văn: “cuộc đời của ông Hồ có hại chứ không có lợi cho đạo đức, cho văn hoá, cũng như cho dân tộc ông” (Thông Luận, số  28, tháng 6/1990, trang nhất)

Chưa  hết, anh ta  còn bồi thêm nhát dao vào kẻ mà anh ta đã phong thánh: “Một thảm kịch cho ông Hồ Chí Minh là đảng CS của ông đã chọn đúng dịp kỷ niệm 100 năm sinh nhật của ông để tuyên bố bắt đầu từ bỏ chủ nghĩa CS”.

Người ta thắc mắc:  tài liệu nào cho phép anh ta khẳng định như thế?

Thì đây, anh ta  trưng bằng cớ:

“ Trần Bạch Đằng, cố vấn chính trị của tổng bí thư Nguyễn Văn Linh đã được phép tuyên bố rằng  đảng CSVN từ bỏ độc quyền chính trị”…

Thì ra, bằng cớ của anh ta  là lời tuyên bố của Trần Bạch Đằng. Nhưng, Trần Bạch Đằng tuyên bố ở đâu, ngày nào, và trong tài liệu nào?  Anh ta im lặng.

Giả sử Trần Bạch Đằng–với sự cho phép của Nguyễn văn Linh-có thực sự tuyên bố rằng “Đảng Cộng  Sản Việt Nam từ bỏ độc quyền chính trị“, thì nhóm của anh ta -tôi muốn nói: của Nguyễn Gia Kiểng – cũng không nên hồ hởi ca tụng lời tuyên bố đó như một đổi mới tư duy chính trị của đảng CSVN, có lợi cho đất nưóc.  Trừ phi họ-tôi muốn nói nhóm Nguyễn Gia Kiểng — là cò mồi.

Huống chi, Trần Bạch Đằng không hề tuyên bố như vậy. Ông nội thằng Trần Bạch Đằng, ông nội thằng Nguyễn Văn Linh, và ông nội cả lò cả ổ bọn chính trị bộ đảng CSVN cũng không dám tuyên bố như vậy. Nhóm Nguyẽn Gia Kiểng chỉ đánh hơi. Rồi vẫy đuôi sủa. Như những con chó.

Sau khi hồ hởi loan báo “đảng CSVN sẽ từ bỏ độc quyền chính trị“, nhóm Nguyễn Gia Kiểng hồ hởi bàn về nhà nước pháp trị trong chế độ Việt Cộng đang đổi mới.

Chúng ta hãy nghe:
“Trong một nhà nước pháp trị, mọi vấn đề có thể giải quyết một cách giản dị trong khuôn khổ luật pháp. Những ai xâm phạm nguyên tắc dân chủ sẽ phải trả lời trước toà án”.

Viết như vậy, sai và ngu.

Trong một chế độ pháp trị, tòa án không có quyền thụ lý hoặc lên án phạt những hành động vi phạm một nguyên tắc dân chủ.Toà án chỉ có quyền thụ lý những hành động vi phạm một điều luật.

Chưa hết, nhóm Nguyẽn gia Kiểng còn bước thêm bước nữa. Họ mách nước về những chánh đảng sẽ xuất hiện trong chế độ CS đang đổi mới.

Họ viết: “mọi công dân không can án đều có quyền tham gia hoặc thành lập chánh đảng”.   

Lại sai và ngu.

Trong một chế độ pháp trị, những công dân can án về một số tội phạm hình sự nào đó có thể bị luật pháp cấm ứng cử vào những chức vụ công cử, như các chức vụ tổng thống, nghị sĩ, dân biểu… Nhưng luật pháp không có quyền cấm họ tham gia hoặc thành lập những đảng phái chính trị..

Vẫn chưa hết.

Nhóm Nguyễn Gia Kiểng chủ trương dân chủ đa nguyên, coi đó như là đòi hỏi và điều kiện bức thiết cho một chế độ chính trị mới tại Việt Nam.

Lại sai và ngu.

Dân chủ, tự nó đã đa nguyên rồi.

Bởi lẽ: đa nguyên là bản chất của dân chủ; đa nguyên nguyên ít hay đa nguyên nhiều, đó là vấn đề mức độ.

Một ông bạn già H.O văng tục:  “Đù mẹ, đã là đàn ông thì phải có cái cụ Hồ. To hay nhỏ là truyện khác. Cũng như đã là đàn bà con gái thì phải có cái “hang Pác Bó để cho cụ Hồ rúc vào”. Rộng hay hẹp, đó là truyện khác.

Rất tiếc, nhóm Nguyễn Gia Kiểng không hiểu được điều sơ đẳng đó. Họ lẫn lộn thực chất với mức độ, lẫn lộn thực tiễn với triển vọng, lẫn lộn điều kiện với tiến trình.

Tôi vừa  đưa ra một vài cái sai cái dốt, của hàng  trăm cái sai cái dốt nằm ngổn ngang trong những viết  lách và suy tư của nhóm Nguyễn Gia Kiểng. Chưa kể sự hỗn xược đối với tiền nhân. Nguỵ biện, lập dị, táo bạo, đầy huyễn tưởng, và sẵn sàng làm bất cứ điều gì để được dư luận chú ý, và thực hiện những mưu đồ bất chính. Đó là Nguyễn Gia Kiểng.

Trung Đông có những kẻ cuồng tín ôm bom tự sát. Trái bom nổ tung, người ôm bom tan xác, và những nạn nhân vô tội tan xác. Hành động của họ gây rúng động trong thế giới văn minh..

Toàn bộ sự nghiệp suy tư  của Nguyễn Gia Kiểng từ gần 25 năm nay, và nhất là đại tác phẩm “Tổ Quốc Ăn Năn” của anh ta, chỉ là những trái bom “tự sát”. Trái bom nổ cái rầm. Tung toé những mảnh vụn. Trong đó có rất nhiều rác rưởi, ống bơ rỉ và băng vệ sinh..

Kẻ ôm bom không chết, nhưng được dư luận chú ý.
Đó là con người thật của  Nguyễn Gia Kiểng.A

Đêm nay, trăng sáng. Tôi ngồi viết dưới lùm thông sau nhà.

Tôi đã lạc đề chăng? Từ phở, đến mặt trận Hoàng Cơ Minh, đến Nguyễn xuân Nghiã, đến Nguyẽn Gia Kiểng.

Không, tôi không lạc đề. Hai ông Nghĩa ông Kiểng có duyên nợ với nhau.

Tháng 4 năm 1990, trong một chuyến đi Bắc Âu, ông Kiểng bị bọn Hoàng Cơ Minh hành hung.  Nhưng ông Kiểng đã tha thứ, không hận thù. Tôi mến ông ở chỗ đó.

Tôi còn mến ông ở chỗ ông thành thật. Thành thật ngay cả khi bịa đặt và nguỵ biện. Quyển “Tổ Quốc Ăn Năn” của ông còn đó.

Viết năm 2002
Phụ đính năm 2008

Nguyễn văn Chức

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở PHỞ… từ Nguyễn Xuân Nghĩa đến Nguyễn Gia Kiểng (Tài liệu tham khảo) _ LS Nguyễn Văn Chức

CÓ ĐI CHUNG VỚI NHAU LÂU ĐÂU _ Như Sao

Một thiếu nữ đang ngồi trên xe bus, một bà già mang đủ thứ lỉnh kỉnh miệng lẩm bẩm đến ngồi  bên cạnh xô mạnh cô. Bất bình anh thanh niên bên cạnh hỏi tại sao cô không phản đối và bảo vệ quyền lợi mình. Cô mỉm cười và trả lời: “Ðâu cần phải cãi cọ vì chuyện nhỏ như thế,  có đi chung với nhau lâu đâu! Trạm tới, tôi xuống rồi.”

Ðây là một câu trả lời mà chúng ta phải xem như một khẩu hiệu viết bằng chữ vàng để hướng dẫn cách cư xử hằng ngày của chúng ta ở khắp mọi nơi: «Ðâu cần phải cãi cọ vì chuyện nhỏ như thế, có đi chung với nhau lâu đâu!»

Nếu chúng ta có thể ý thức rằng cõi đời tạm của chúng ta dưới thế thật ngắn ngủi, cãi cọ tầm phào vừa làm cho mất vui, vừa làm mình mất thời gian và sức lực cho chuyện không đâu.

Có ai làm mình tổn thương? Bình tĩnh, có đi chung với nhau lâu  đâu!

Có ai phản bội, ức hiếp, sỉ nhục mình? Bình tĩnh, có đi chung với nhau lâu đâu!

Dù người ta có gây ra cho chúng ta buồn phiền gì chăng nữa, hãy nhớ rằng: có đi chung với nhau lâu đâu!

Chúng ta hãy ăn ở hiền  lành. Hiền lành là một đức tính không bao giờ đồng nghĩa với hèn nhát…   Chuyến đi chung của chúng ta trong cõi đời dưới thế này ngắn ngủi lắm và không đi trở ngược lại được.  Không ai biết chuyến đi của mình dài bao lâu!

Không ai biết mình có phải xuống ở trạm tới hay không!

Vậy hãy bình tĩnh, chuyến đi ngắn lắm.

Như Sao

(Bài do K1 Dương Mộng Oanh chuyển)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở CÓ ĐI CHUNG VỚI NHAU LÂU ĐÂU _ Như Sao

Phỏng vấn NT Phạm Tấn Ngọc

Phỏng vấn NT Phạm Tấn Ngọc, nguyên Thiếu Tá CSQG-VNCH, người vừa bị một kẻ lạ mặt người Mỹ da trắng vô cớ hành hung trọng thương ngày 17/3/2021 vừa qua tại San Francisco. Cuộc phỏng vấn do phóng viên Nghê Lữ và nhà báo Huỳnh Lương Thiện thực hiện.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Phỏng vấn NT Phạm Tấn Ngọc

Nghề Buôn Bán Bệnh Tật- Tác giả Trương văn Dân (Trích từ Saigòn Weekly)

NGHỀ BUÔN BÁN BỆNH TẬT

Trương Văn Dân

Sau đây là một trích đoạn từ tác phẩm “Trò Chuyện Với Thiên Thần
của dược sỹ Trương Văn Dân (Italia).

vochong1-6089-1542774716

(Nhà văn Dược sĩ TRƯƠNG VĂN DÂN và phu nhân Tiến sị văn chương Pháp ELENA PUCILLO)

Thực phẩm chỉ là một phần của những tai ách hiện nay. Tôi  muốn nói với các bạn về dược phẩm, một thứ sản phẩm siêu lợi nhuận và nằm trong chính sách toàn cầu.

Y, Dược, nghề cao quý nhất, nhưng nó đang biến thành một cỗ máy kiếm tiền! Cái xác phàm của nhân loại hiện nay chính là nguồn lợi kếch xù của bọn người kinh doanh trên sự sợ hãi: bệnh tật.
Lãnh vực này hiện nay nằm trong tay các tài phiệt. Và họ bỏ rất nhiều tiền để tiếp thị hơn là nghiên cứu.

Một thuật ngữ mới ra đời: Disease mongering (Nghề buôn bán bệnh tật). Hoạt động đơn giản: Chỉ cần hạ thấp các chỉ số như các chỉ số về bệnh tiểu đường, áp huyết máu, cholesterol… hoặc chẩn đoán các tình trạng tinh thần nào đó như buồn rầu, hồi hộp, nhút nhát… rồi cho là “bất thường” thì số lượng “bệnh nhân” trên toàn thế giới tăng vọt!

PHÁT MINH RA BỆNH
– Khi ủy ban “khoa học” Mỹ tái định nghĩa hypercholesterolemia (có cholesterol cao trong máu) và chỉ cần giảm chỉ số để các bác sĩ cho phép dùng thuốc thì số “bệnh nhân” đột ngột tăng 3 lần!
– Chỉ trong năm 2016 công ty Pfizer đã chi 1,2 tỷ USD, theo sau là công ty Bristol Mayer Squibb chi 460 triệu USD để quảng cáo và tiếp thị thuốc!
Nhưng đây chỉ là đỉnh của băng sơn. Trên thực tế rất nhiều các nhà khoa học hướng dẫn cách dùng thuốc đều hưởng lợi nhuận từ các hãng dược!
Thông qua Disease mongering những trạng thái như buồn rầu, lo âu, hồi hộp… rất bình thường trong cuộc sống đã bị truyền thông hô biến thành bệnh (?) để làm mọi người sợ hãi, cảm thấy mình phải dùng thuốc. Các nhà khoa học chân chính nói rằng hiện nay có hơn 200 tình trạng tâm lý sẽ được xem là… bệnh lý và nghe ra thật buồn cười: lão hóa, buồn chán, hói đầu, tàn nhang, tóc bạc, kém xinh… Không ai nói với chúng ta là nỗi buồn là một phần của sự sống, và hàng thế kỷ trôi qua nó vẫn tồn tại để giữ một nhiệm vụ quan trong trong tâm sinh lý của con người.
Dược phẩm, dù muốn hay không đều sẽ có tác dụng một cách nhân tạo vào trật tự sống của con người và tự nhiên.
Bạn mất ngủ hả? Hãy uống thuốc ngủ! Mà có thật sự cần phải dùng thuốc không? Biết đâu không ngủ là một điều tuyệt vời. Thỉnh thoảng được thức giấc, mở cửa nhìn ra bầu trời đêm mà kẻ ngủ say sẽ không bao giờ biết.
Đã có người nói: Ban ngày để sống còn ban đêm là để hiểu cuộc sống.
Nhưng các tập đoàn dược chi ra số tiền càng ngày càng lớn cho việc bán thuốc “ảo”, kèm theo quà tặng, mời du lịch…

– Thí dụ bệnh tiểu đường type II, trước đây được xác định là đường huyết phải trên mức 140mg/dL. Năm 1997, ngạch mức trên bị Cơ quan y tế thế giới OMS rút xuống còn 126 mg/dL (7mmol/L)… Lập tức có thêm 1.700.000 người Mỹ được xếp vào danh sách bệnh nhân tiểu đường (suốt đời!).

– Cholestérol: Năm 1998, ngạch mức từ 240mg/dL bị rút xuống còn 200mg/dL. Lập tức xã hội Hoa Kỳ có thêm 42.600.000 bệnh nhân có cholesterol cao trong máu… Các nhà bào chế có thêm được 86% “khách hàng” mới.

Thủ thuật khác để mua chuộc… phủ khắp từ bác sĩ đến các sinh viên y khoa sắp ra trường. Ba mươi năm trước, giám đốc hãng dược phẩm Merck, Henry Gadsen, đã từng trả lời trong một cuộc phỏng vấn: “Giấc mơ của chúng tôi là sản xuất thuốc cho những người khỏe mạnh. Làm được thế, chúng tôi có thể bán thuốc cho bất kỳ ai”. “Trên thế giới, chỉ có hai nhóm người: nhóm người đã bệnh rồi và nhóm người chưa biết họ bệnh”.

MỘT NGHIÊN CỨU MỚI NHẤT TỪ NƯỚC PHÁP: 50% THUỐC LƯU THÔNG HIỆN NAY TRÊN THỊ TRƯỜNG LÀ VÔ ÍCH, 20% CÓ HẠI VÀ NHIỀU KHI NGUY HIỂM CHO NGƯỜI DÙNG.

Ai cũng biết sức khỏe tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, khí hậu và thực phẩm chứ không phải vào thuốc men, cách chữa trị hay các kỹ thuật hiện đại. Hiện nay nhiều người hễ thấy khó chịu một chút là uống thuốc mà không biết rằng không có loại thuốc nào là không có tác dụng phụ, là “1 phần thuốc chứa 3 phần độc”. Ít người biết rằng không có bộ máy nào hoàn hảo hơn thiên nhiên. Và cơ thể con người có một cấu tạo đặc biệt. Việc chữa bệnh cho cơ thể là nhiệm vụ của hệ miễn dịch, vì thế nếu chúng ta lạm dụng thuốc thì đã vô tình “ngăn” hoạt động của hệ miễn dịch, làm hao mòn và dần dần mất đi thiên chức tự nhiên vốn có.

Ngày xưa ai đi “khám” bác sĩ vì họ thấy trong người không khỏe, còn hôm nay khi bác sĩ gặp bệnh nhân là đề nghị: chúng ta hãy làm vài xét nghiệm để xem bạn có thật sự khỏe không?
Vì thị trường đang rất cần những bệnh nhân mới.

“Người mạnh khỏe là kẻ chưa biết mình bị bệnh!” Tâm đắc với quan niệm đó nên giám đốc bệnh viện San Raffaele ở Milano đã đưa ra dự án Quo vadis chăng? Hay bệnh viện… cho người khỏe mạnh: Thông qua một microchip điện tử được gắn dưới da các bác sĩ có thể thường xuyên và liên tục theo dõi tình trạng sức khỏe của “bệnh nhân” và sẵn sàng can thiệp và chữa trị trước khi bệnh làm phiền. Các chuyên gia sẽ cho ta biết trước khi bệnh xuất hiện và từ giờ cho đến lúc đó ta có thể vui chơi, đánh golf, đi du lịch, trượt tuyết, tắm biển… cho đến khi nhận được một tin nhắn, đại loại: “Khẩn cấp! Bạn cần trình diện ngay ở trung tâm ý tế gần nhất. Bệnh trĩ sắp xuất hiện!”.

CÁC HÃNG THUỐC, CÁC BỆNH VIỆN, HỌ LÀ AI?
Gần 80 năm đã trôi qua nên có thể quí vị không biết rằng văn phòng của Viện Đại học Frankfurt ở Đức ngày xưa chính là trụ sở chính của IG Farben.

Đó là một nhà máy được độc quyền sản xuất hóa chất của Đức thời quốc xã. Là trung tâm kinh tài của Hitler nên trong suốt thời kỳ diệt chủng (Holocaust) nó là nơi cung cấp khí ngạt Zyklon-B cho chính phủ Đức để giết chết gần 6 triệu người Do Thái! Nó cũng là nơi cung cấp dân Do Thái để làm chuột bạch cho các thử nghiệm về độc tố và y học.

Vì tham gia các tội ác chiến tranh nên sau 1945 phe đồng minh đã tịch thu và đóng cửa nhà máy. Thế nhưng, về sau nhà máy này đã được chia làm mấy phần và các đại công ty mua các phần lớn, chỉ chừa lại các phần nhỏ là Agfa, Basf và Bayer, trong khi công ty Hoechst được sáp nhập vào công ty Rhône-Poulenc của Pháp để cho ra đời công ty Sanofi Aventis hiện nay và có trụ sở ở Strasburg, nước Pháp.

Tại Tòa án quốc tế Norimberga tất cả các lãnh đạo của IG Farben đều bị buộc tội diệt chủng, thiết lập chế độ nộ lệ và các tội ác khác nhưng chỉ sau một năm tất cả đều được trả tự do (?) nhờ thương lượng của bộ kinh tế Đức và sau đó họ đổi danh tánh để tham gia vào hệ thống kinh tế Đức hay các nước khác!

Nhắc lại chuyện này tôi chỉ muốn nêu lên một thắc mắc: Một công ty được hình thành với triết lý sản xuất hơi ngạt giết người, có thể nào sau đó lại có thể sản xuất thuốc để trị bệnh, cứu nhân độ thế?

Về sau công ty IG Farben đã tham gia vào các dự án của Hoa Kỳ trong việc sản xuất chất độc da cam dùng trong mục đích quân sự. Họ cùng lập nên công ty Chemagrow Corporation ở Kansas City, Missouri, và sử dụng các chuyên viên Mỹ và Đức nhằm phục vụ cho U.S. Army Chemical Corps.
Tiến sĩ Otto Bayer, người từng giữ chức vụ nghiên cứu phát triển của IG Farben, đã cùng với tiến sĩ Gerhard Schrader đã thử nghiệm thành công phần lớn các vũ khí hóa học.

MẶT TRÁI CỦA CÁC XÉT NGHIỆM Y KHOA

Trong 10 năm trở lại đây, các yêu cầu xét nghiệm đã tăng lên 50%, tương đương với việc tăng thêm hàng triệu USD mỗi năm. Nhưng nhiều khi các phương pháp xét nghiệm đó gây hại cho con người nhiều hơn là mang lại lợi ích: đau đầu gối, đau lưng, tức ngực, và PSA (prostate specific antigen – kháng nguyên đặc hiệu tiền liệt tuyến) có thể dẫn đến ung thư tuyến tiền liệt! Bên cạnh đó, những dịch vụ xét nghiệm y tế rắc rối và đắt đỏ như chụp scan cắt lớp (CT- computed tomography) và chụp cộng hưởng từ trường (MRIs – magnetic resonance imaging) được sử dụng một cách rộng rãi nhưng không thực sự cần thiết.
Trí thông minh là một vốn quý của con người nhưng tiếc thay nó đang là đồng lõa, biến con người trở nên biển lận, nhằm vơ vét tối đa.
Một thứ khoa học không có nhân văn! Có kiến thức mà không nhân cách thì chẳng khác gì người tập lái xe chưa có bằng mà cứ băng băng chạy ra đường phố.
Hiện nay trong cơn vật vã kiếm tiền, các bậc cha mẹ chẳng mấy ai “chơi” với con mà phó thác cho bà vú nuôi hay các thiết bị điện tử. Sự bỏ rơi ấy làm bé bị chấn động tâm lý, đói tình yêu… còn cha mẹ mang mặc cảm thiếu chăm sóc con nên bù trừ bằng sự nuông chiều và bằng tiền bạc, cho con ăn các món khoái khẩu được nhuộm phẩm màu thuộc bảng E độc hại.
Ngày nay, bậc làm cha mẹ phải thú nhận là bất lực, không còn đủ khả năng để bảo vệ con trẻ trước những mối nguy của cuộc đời! Chỉ năm, mươi năm nữa thôi, bệnh ung thư sẽ bùng phát dữ dội nếu không kiểm soát, và nó sẽ xói mòn sức lực và đẩy bao gia đình xuống tận cùng của sự khốn khổ.
Nghĩ thế, tự nhiên lòng tôi chùng xuống. tôi không dám hình dung tương lai sẽ về đâu nếu con người không thay đổi…
(Trích tác phẩm “Trò Chuyện Với Thiên Thần” Chương 37)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Nghề Buôn Bán Bệnh Tật- Tác giả Trương văn Dân (Trích từ Saigòn Weekly)

Thơ Xướng Họa 2: Tưởng niệm Quốc Hận 30/4

Xướng: SẦU MẤT NƯỚC

Quốc hận năm nay nhắc nhở sầu
Tháng tư ngày ấy tránh nơi đâu
Tiêu điều rã đám quân không tướng
Hoảng loạn tan hàng rắn mất đầu
Chiến hữu lầm than hờn vận nước
Anh hùng thất thế thẹn năm châu
Hát Ô cứu vãn đời đen tối
Mỹ Quốc cưu mang xóa khổ rầu
DNN (Quốc Hận 30/04/2021)

Họa 1: VÌ ĐÂU

Vì cớ làm sao dân Việt sầu
Nguyên nhân thù hận đến từ đâu
Rõ ràng Hồ tặc khơi mào trước
Cùng Giáp, Duẩn, Tôn mở tuyến đầu
Pác Pó tuyên truyền trong cả nước
Người nghèo vùng dậy khắp năm châu
Thì ra vô sản là không tưởng
Cộng Sản làm cho bần cố rầu
TQN 

Họa 2: NHỚ ĐÊM TIỀN ĐỒN

Đêm mưa rả rích giục cơn sầu
Xa lắc quê nhà mãi tận đâu
Lạnh lẽo hoang vu bờ giới tuyến
Đìu hiu lau lách bến giang đầu
Lô nhô rào kẽm hầm công sự
Lấp lửng lưng trời ngọn hỏa châu
Bên máy thu thanh câu vọng cổ
Nghe sao thúi ruột giọng rầu rầu
CCR 

Họa 3: “GIẢI PHÓNG”

Nhắc nhở làm chi gợi nỗi sầu
Chết người cả triệu xác nằm đâu
Bi Đông hải đảo ngoài biên giới
Đà Nẵng, Pleiku hay tuyến đầu
Vỡ tổ chim đàn bay tứ xứ
Tan nhà gia tộc tản năm châu
Cho ta hỏi thử bầy lang sói
“Giải phóng’’ thì sao dân lại rầu
Cóc QT-TP 

Họa 4: THÁNG TƯ BUÔNG SÚNG

Tháng Tư buông súng dạ u sầu
Ngơ ngác nhìn nhau hỏi bởi đâu?
Dân chúng thầy trò ong vỡ tổ
Quan quân binh lính rắn không đầu
Bao ngày lao nhục mong trời sáng
Những tối kiên giam nhớ hỏa châu
Tự trách phận mình sao bất lực
“Cổ lai chinh chiến” nghĩ mà rầu!
CX 

Họa 5: VƯỢT BIÊN

Bỏ nước ra đi luống nặng sầu
Mênh mông biển cả biết về đâu
Hải âu bay lượn trời xanh biếc
Sóng gợn lao xao sóng bạc đầu
Bỏ lại người thương mờ khóe mắt
Lìa xa quê mẹ đẫm dòng châu
Từ ngày cộng sản vào xâm chiếm
Mất hết tự do… thật qúa rầu
CH 

Họa 6: QUỐC HẬN RẦU

Nhắc đến tháng tư cảm thấy sầu
Miền Nam mất nước bởi vì đâu?
Đồng minh phản bội vào ngày cuối
Tàu cộng gia tăng ở tuyến đầu
Giặc bắc tràn vào chiếm Hậu Nghĩa
Quân ta cố thủ giữ Bình Châu*
Bất ngờ Minh mập kêu buông súng
Tủi nhục nào quên Quốc Hận rầu.
CN-NCV
*Vũng Tàu

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thơ Xướng Họa 2: Tưởng niệm Quốc Hận 30/4

Bản Lên Tiếng của Tổng Hội CSQG-VNCH về việc 1 Cựu Sĩ Quan CSQG bị hành hung vì kỳ thị chủng tộc

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Bản Lên Tiếng của Tổng Hội CSQG-VNCH về việc 1 Cựu Sĩ Quan CSQG bị hành hung vì kỳ thị chủng tộc

HỎNG RỒI TIẾNG NƯỚC TÔI _ Captovan

Hỏng rồi Tiếng Nước Tôi!!!

Captovan.

Lời Nói Đầu: Cơn đại ôn dịch VC trùng vào thời điểm các ứng cử viên so bì cao thấp, tạo nên cảnh “họa vô đơn chí, lòng buồn còn muốn nói năng chi”. Chẳng ai còn muốn viết muốn đọc gì nữa, trừ tin giả. Chính thời điểm này, chữ nghĩa VC mới lộ diện khá nhiều trên các phương tiện truyền thông ở hải ngoại!

Tổng thống đến rồi tổng thống đi, nhưng ngôn ngữ VC sẽ di hại mãi về sau nên chúng tôi đành gõ mõ này, xin báo động cùng đồng hương hải ngoại tiếp tay:

– “Tôi yêu tiếng nước tôi… từ khi mới ra đời, mẹ hiền ru… à ơi”.

Nhưng VC đã làm hỏng tiếng Việt rồi, mẹ hiền ơi!

Tiếng Việt đã hỏng ngay từ khi AK vào Nam “nhận hàng”! Nó càng thêm tan hoang khi ông tiến sĩ họ Bùi (Hiền) muốn “hán hóa”, biến chế tiếng Việt sang dạng CC (cải cách), ông thêm chữ “ô” vào cái họ “bùi” của ông ta thì nghe lạ tai quá!

Giáo Sư Trần Ngọc D.. (TTVH Hồng Bàng) nói rằng ngôn ngữ XHCN què quặt, vì họ bắt chước theo Tàu, mà ngôn ngữ Tàu thì nghèo nàn.

“Tiếng Nước Tôi” trong sáng, rõ ràng, “liên hệ” và “liên lạc” khác nhau, nhưng tiếng Tàu chỉ có “liên hệ” mà không có “liên lạc”, vì thế từ cái nôi “đỉnh cao trí tuệ” bắt chước theo Tàu nói sai, “toàn dân theo gương baác Hồ” cũng nói sai luôn! Họ chỉ biết nói hai chữ “liên hệ” mà không hiểu liên hệ là gì! Cả nước XHCN dùng “liên hệ” thay vì phải dùng “liên lạc”, tiếp xúc.

– Dốt!

“Liên hệ” là có liên quan, liên hệ huyết thống, liên hệ gia đình v.v..

Chuyện nội bộ XHCN của những đỉnh cao “xấu hay làm tốt, dốt hay nói chữ” thì “mackeno”, nhưng nó truyền nhiễm sang cộng đồng Việt ở hải ngoại, gieo rắc đó đây những mầm mống bệnh hoạn chữ nghĩa thì quả là tai hại khôn lường!

Kể từ khi xảy ra đại ôn dịch VC (virus China-virus Corona) chữ nghĩa VC được dịp tung hoành xâm lấn vào một số báo chí, radio, TV hải ngoại. Một số xướng ngôn viên phát ngôn cứ như nói trên “trung tâm nghe nhìn” của XHCN. Có thể họ mới đến nướcMỹ, chưa kịp nhập gia tùy tục, nên mới nói theo thói quen cũ. Nhưng điều đáng trách là những người tị nạn CS lại bắt chước mới là khôi hài.

Khán thính giả chúng tôi cám ơn các xướng ngôn viên đã nhanh chóng loan tin tức nóng hổi thời Coviq 19 và cái “đầu gối”. Tiếng nói của các MC quan trọng lắm, ảnh hưởng rất nhiều đến ngôn ngữ của khán thính giả. Ông “Có Công” nói:

– Tiếng nói của TT (tổng thống & truyền thông) rất quan trọng, cần phải chính xác, kẻo ảnh hưởng tai hại tới khán thính giả.

Đúng như vậy, nếu TT nói không đúng thì nói lại và rồi mọi chuyện sẽ qua, nhưng truyền thông hải ngoại cứ dùng ngôn ngữ VC sẽ di hại về sau. Trẻ em và người nhẹ dạ dễ nói theo khiến: “Hỏng Rồi Tiếng Nước Tôi”.

Ngoài những ngôn ngữ kỳ cục của “BK75”, đại loại như: “ấn tượng, bộ phận người, bức xúc, cục bộ, chỉn chu, đạo cụ, khẩn trương, khống chế, mặt bằng, hồ hởi, năng nổ, phản cảm, quá trình, quỹ thời gian, rốt ráo, sự cố, tác nghiệp, tham quan, thân thương, thiếu đói” v.v… thì nay (2020) ngôn ngữ VC theo chân ôn dịch VC đang làm đảo lộn ngôn ngữ tiếng Việt trong sáng của chúng ta khiến những ai còn tha thiết với tiếng Việt phải đau lòng, than theo của cụ Tản Đà:

– “Lễ nghĩa thời nay trời thu sạch, đạo đức cương thường đảo ngược ru”.

Lễ nghĩa đảo ngược, chữ nghĩa cũng đảo ngược theo.

Trong chương trình “Trường Học Trường Đời” trên Little Saigon Radio, khi đề cập tới chữ nghĩa VC, Tiến Sĩ Ngôn Ngữ Học Đinh X.Q.., Giáo Sư Nguyễn T.H.., và cô MC Nhã L.. đã cùng phải than:

– Đó là thứ tiếng Việt lai căng. Ngôn ngữ là văn hóa, là tấm gương của tâm hồn, kẻ thô tục thì nói lời thô tục.

Xin đơn cử một vài ngôn ngữ thô tục mà XHCN thường dùng:

“Phần cứng, phần mềm, điểm nhấn, người chơi, đầu vào đầu ra, bức xúc, gậy tự sướng, chụp ảnh tự sướng, một bộ phận người”!

“Cứng mềm” là cái gì chắc hẳn ai cũng đã nghe, đã biết chả cần nói thêm, nhưng “điểm nhấn” là gì?

Xin đọc đoạn tin trên báo điện tử XHCNVN Express:

Điểm nhấn cảnh quan tại khu vực dọc phố Lê Thái Tổ và Hàng Khay là những thảm cây cảnh đa tầng, được thiết kế theo phương án “rừng cây đô thị”.

Tên Phùng Phú, Phó chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương (danh từ riêng mà VC viết chữ hoa kiểu ba rọi) tuyên bố:

– Hạnh phúc của nhân dân là “điểm nhấn” trong dự thảo văn kiện đại hội 13.

– Cú đúp của Zlatan Ibrahimovic vào lưới đội bóng cũ là điểm nhấn ở trận derby có kết quả 2-1 nghiêng về Milan, tối 17/10.

Vài ngày sau, tại Little Saigon, tờ tuần báo “Cờ-Lờ” viết:

– Khi tranh luận với Biden, “điểm nhấn” của Trump là ngắt lời…

Trên TV IBC (phát hình tại Little SG), khi nói về trang phục của Hoàng Gia Anh, cô Th..Lee nói:

Công Nương Diana có những “điểm nhấn” về trang phục

Ơ hay nhỉ! Báo tại Little SG viết cho người Việt tị nạn CS đọc thì tại sao lại đi “cọp-dê” hai chữ thổ tả “điểm nhấn” của VC!

Cầu mong hương hồn Bà Diana đừng nghe những gì cô MC này nói.

“Điểm nhấn” là cái gì vậy? Nhấn ở đâu? Nhấn trên hay nhấn dưới?

Người chơi!

Chúng ta gọi những người dự một chương trình giải trí, thể thao là “tham dự viên, người dự thi, đấu thủ” v.v.. nhưng XHCN thì họ gọi tất cả là: “người chơi”.

Trong “sô” đấu trường cờ Việt, cuộc đấu trí giữa hai người** (mà VC gọi là hai cặp đôi) một nam kỳ thủ là Vũ Quốc Đạt và một nữ kỳ thủ là Nguyễn Thị Liên, thì trọng tài gọi cậu Đạt và cô Liên là “người chơi” và ông ta ra lệnh:

– “Hai người chơi bắt đầu… chơi”!

(** chúng ta gọi hai người là một cặp, hoặc một đôi, nhưng VC gọi 2 người là “cặp đôi”! Đã cặp lại còn đôi! Nó sai như thế mà cả nước XHCN nhắm mắt nói theo thủ trưởng là: “cặp đôi”! Tội nghiệp tiếng nước tôi.

Cái que để gắn ai-phôn chụp hình của mình thì thì họ gọi là “gậy tự sướng”

Nhà máy và nguyên vật liệu tạo ra sản phẩm thì XHCN thì gọi là “đầu vào đầu ra”! Câu chuyện sau đây cho thấy xã hội thô tục dốt nát:

Quản giáo Môn, đội 2, trại 8 Hoàng Liên Sơn khoe với tù nhân:

-“Liên Sô có nhà máy chế biến thực phẩm rất cực kỳ, đầu vào là con lợn, đầu ra là cái xúc-xích”.

Tù nhân Đức Cống khúc khích cười đểu, nói với quản giáo Môn:

– XHCN ta có nhà máy Bác Hồ, đầu vào là xúc-xích đầu ra là con lợn.

Ăng-ten giải thích bậy với quản giáo, khiến tù Đức Cống bị cùm 7 ngày.

“Một bộ phận người”!

Thân thể người ta có nhiều bộ phận: đầu, mình, chân, tay, tâm, can, tì, phế thận. Thế nhưng XHCN gọi một nhóm người, một toán người, một đám người là “một bộ phận người”. Thật là quái đản, bộ phận người trên hay bộ phận dưới đây?

Chữ nghĩa VC vừa thô tục, vừa khó hiểu, nhưng điều đáng buồn là nó đã phá nát tiếng Việt trong sáng của chúng ta, nó lan tràn sang cộng đồng Việt hải ngoại, ở trong nước nói sao là hải ngoại nhép lại như vậy.

Tôi xin nêu ra một số ngôn ngữ VC đang lây lan như ôn dịch VC trên khắp các TV tiếng Việt tần số từ 14.1 đến 14.7

Mình, Tụi Mình, Tụi Này!

“Mình ơi đi mãi quên lời…

Em yêu tiếng gọi của mình, mình ơi!”.

Mình ơi! Mình mình ơi!

Khi nghe danh ca Ý Lan, Diệu Hương, Ngọc Hạ cất cao lời hát kèm theo tiếng gọi: “Mình ơi!” sao mà nó hay thế, sắt đá cũng phải mềm, những con tim 81 muốn quay ngay trở lại tuổi 18 để đáp lời gọi trong hạnh phúc:

-“Ơi ơiơi”.

Nhưng khi MC tự xưng: “mình, tụi mình, tụi này” thì tôi muốn tắt TV.

“Mình” là đại danh từ dành cho đôi nam nữ bày tỏ tình cảm yêu thương nhau nơi chốn riêng tư: “Mình ơi em có… Mình ơi đi ngủ…, mình ơi anh yêu mình v.v…”. Nhưng nơi công cộng, trên radio, TV, vì phép lịch sự, để tôn trọng khán thính giả, người đối thoại phải dùng những đại danh từ: “Tôi, chúng tôi”.

Ngày nay, dưới XHCN, đại đa người nói chỉ biết tự xưng “mình” với mọi người. Con nít xưng “mình” với người già, đàn bà xưng “mình” với đàn ông, không còn tôn ti trật tự là gì nữa. Khổ thay, những ngày gần đây, chữ “mình” từ trong nước theo làn sóng “cầu thực” ra hải ngoại, lây lan khắp nơi, bị dùng bừa bãi, bất kể đối tượng là ai. Thay vì dùng chủ từ “tôi, chúng tôi” một cách lịch sự, nghiêm trang, thì các đương sự cứ xưng “mình” với mọi người một cách vô tâm, vô ý… thức.

Trong chương trình quảng cáo dược thảo trị táo bón của BS Phạm… một nữ nhân “hồ hởi phấn khởi” oang oang trên radio cứ như chỗ không người:

– Giê-Su-Ma, mình táo bón lâu rồi, mà chỉ uống có 2 viên là ra ngay, bác sĩ!

Bà táo bón chứ Chúa có táo bón đâu mà bà kêu tên NGƯỜI vô cớ? Bà là cái thớ gì của BS mà xưng “mình” với ông ta! Bà bệnh không sợ bà bác sĩ ghen à? Xin đề nghị với bà, thay vì xưng “mình” thì: “Tôi” cho lịch sự một tí.

Ông Dr Dean nói về việc học y khoa với giáo sư H.. và cô NL cùng hàng ngàn khán thính giả trên LSR & TV. Ông nói:

– Mình phải học cố gắng, lấy nhiều tín chỉ, tụi này học ngày học đêm…

Đề nghị quan đốc dành riêng tiếng “mình” cho bà đốc. Còn hai chữ: “tụi này” là tụi nào vậy thưa ông đốc?

Mọi Người-Người Mọi!

Trong chương trình “truy lùng tài năng siêu trí tuệ” của truyền hình XHCN, một cháu nhỏ 7 tuổi** được giới thiệu là “siêu trí tuệ”, cháu đứng trên sân khấu trước hàng ngàn khán thính giả thuộc bậc ông, bà, cô, bác, cháu mở lời:

– Chào mọi người, hôm nay mình đến tham dự cuộc chơi…

Một đứa trẻ 7 tuổi** “siêu trí tuệ” XHCN xưng “mình” với ông, bà, cha, chú, bác! Cháu gom tất cả vào một hạng: “mọi người”!

“Giời ơi”!Trường học XHCN đã không dạy cho các cháu biết “tiên học lễ, hậu học văn” học đức khiêm tốn, nói năng lễ phép:

– “Kính thưa quý ông bà, kính thưa quý khán thính giả”.

Tuổi trẻ trong nước không được dạy về đại danh từ ngôi thứ nhất có những chữ biểu lộ sự lễ phép: “cháu, con, em, tôi”. Mà chỉ biết có chữ “mình”!

(** xin mở đấu ngoặc ở đây nói qua về chữ “tuổi” mà XHCN dùng.

Tự điển tiếng Việt trước 4/75, định nghĩa “tuổi” là thọ mệnh tính hằng năm. Đứa bé đẻ ra đủ 12 tháng mới gọi là 1 tuổi, ăn mừng con đầy tuổi. Nhưng sau 4/75 xuất hiện ngôn ngữ quái đản: “đứa bé 3 tuần tuổi, cháu gái mới 6 tháng tuổi v.v..”)

Quay trở lại hai chữ “mọi người

Trong trường học là vậy, ngoài đường phố XHCN thì sao?

Năn nỉ xin “views”, lời nói đầu tiên của các “youtubers” là:

– “Chào mọi người, hôm nay mình… xin cho mình một cái lai”.

Tệ nạn này nó đã nhiễm trùng tràn lan vào tiếng Việt hải ngoại, có nguy cơ “Người Việt Giết Tiếng Việt”. Xin quý đọc giả theo dõi hiện tượng sau đây:

Một cô đỏ môi quảng cáo cho super-market PL trên đường Brookhurst:

– Chào mọi người…

Cô đẹp người mà ngôn ngữ chẳng đẹp tí nào, mời chào khách hàng thì phải lịch sự lễ phép: “Thưa quý khách”, chứ sao cô lại gom nam nữ trẻ già vào một rổ “mọi người”! Khách hàng đến mua thực phẩm chứ có mua…đồ của cô đâu.

Chàng tuổi trẻ đẹp trai tên Th.. nói trên TV tần số 14.2:

– Chào mọi người, khai trương café sáng, mình phải ăn mặc “chỉn chu”.

Này chú em, em rất đẹp trai, nói tiếng Việt lưu loát, em mới sang Little SGTV làm MC thì nên cố gắng trút bỏ những cái bụi bặm XHCN đi. “ăn mặc chỉn chu” là cái gì vậy? Phải nói là “ăn mặc chỉnh tề chu đáo”.

Xin cộng đồng nói tiếng Việt ở hải ngoại hãy trả hai tiếng “mọi người” về cho “người mọi” ở cái hang baác-bó xa xôi nào đó cho kẻ dốt hay nói chữ.

“Quá trình”:

Khi tôi nhắc tới hai chữ này, tên Tê nhìn đời bằng nửa con mắt kêu lên:

– “Biết rồi khổ lắm nói mãi”!

Nói mãi mà vẫn chưa hiểu, chưa thủng lỗ tai nên cần phải lập lại.

Tự điển tiếng Việt xuất bản trước 4/75 tại Saigon đã giải thích:

“Quá” là “đã qua, qua rồi”, quá khứ, quá vãng, quá cố. “Quá trình” là một sự việc đã diễn ra trong quá khứ. Nhưng VC dùng “quá trình” cho cả hiện tại và tương lai, “no dot no say so”, nhưng tai hại thay, một số người Việt hải ngoại cũng nhắm mắt nói theo, nhất là một số xướng ngôn viên.

Trên TV14.4 khi loan báo tin tức thế giới cô MC Thanh H phát ngôn:

– WHO đang trong quá trình điều tra về việc đối phó với đại dịch Coviq.

– Bộ Nội An đang trong quá trình điều tra việc gian lận tiền thất nghiệp.

MC chắc mới di cư từ XHCN qua, nhưng người soạn bản tin này từ đâu ra mà viết như vậy? “Đang” là hiện tại, tại sao lại cứ phải nhét thêm đi “quá trình” vào cho thêm rắc rối lộn ngược.

Tiếng Việt trong sáng dễ hiểu chỉ cần nói viết ngắn gọn:

– WHO đang điều tra về việc…

– Bộ Nội An đang điều tra việc gian lận…

Xin đừng nói bậy, viết bậy về hai chữ “quá trình” nữa, chỉ nên dùng nó khi diễn tả một sự việc đã xảy ra rồi, còn ở thời hiện tại và tương lai thì quăng nó đi hoặc nếu muốn văn hoa thì: “Đang trong tiến trình…” cho tiếng Việt được trong sáng.

“Khả năng”.

“Khả năng” là hai chữ mà XHCN dùng bậy nhất vì muốn háng-hóa theo ngôn ngữ Tàu.

Ngàn năm đô hộ giặc Tàu, tiếng Việt vẫn là tiếng Việt, vậy mà chỉ mấy chục năm bám theo chân mà VC đã đem cái nghèo nàn “háng-zăng” vào tiếng Việt!

“Khả” là tiếng Hán, bọn Tàu Ô cố vấn nói: “Thiên khả vũ”, thế là đám thủ trưởng nói theo: “trời có khả năng mưa”, rồi từ đó, dưới XHCN thi đua dùng “khả năng” cho mọi hoàn cảnh và ngày nay, ở hải ngoại, nhất và vùng Little SG, trên TV các băng tần 14.xx các xướng ngôn viên nhắm nói sai theo. Họ đọc bản tin như sau:

– Những đám cháy ở CA “có khả năng” lan rộng…

– Dịch coviq 19 “có khả năng” bộc phát trở lại vào mùa Thu.

– Trận bão Blu “có khả năng” gây ra lũ lụt tại miền Trung Tây HK.

Ba chữ “có khả năng” đã bị VC dùng sai vì cái tật “dốt hay nói chữ”, nhưng người Việt tị nạn VC đâu có thiếu chữ mà nói theo họ. Cho dù ba chữ “có khả năng” theo du học sinh vào đất Mỹ, mà du học sinh là những người có chữ thì cũng phải biết đúng sai chứ đâu có thể nhắm mắt nói theo, viết theo.

Tự điển tiếng Việt xuất bản tại miền Nam trước 4/75 định nghĩa:

Khả năng: Là tài sức, phẩm chất, đức tính, năng lực, tài năng v.v.., cái vốn vật chất và tinh thần để cáng đáng một việc gì đó.

Thí dụ: một người có thừa khả năng, đủ khả năng, thiếu khả năng…

Muốn hiểu rõ ý nghĩa của “khả năng” thì xin tra thêm tự điển Pháp-Mỹ để nói và viết cho đúng.Xin nghe tâm sự của Giáo Sư HB:

– Trong buổi thảo luận với một số thầy cô giáo dạy tiếng Việt nhân một khóa tu nghiệp Sư Phạm, tôi đã nói về từ “có khả năng”, và không đồng ý với những ai nói theo người trong nước như:

-“Thời tiết Nam California có khả năng nóng trong những ngày sắp tới”

Cá nhân tôi, không bao giờ nói, không bao giờ viết như thế.

Các thầy cô giáo tôi tiếp xúc cũng nghĩ như tôi, chúng ta chỉ nên nói là:

“Thời tiết Nam California có thể sẽ nóng lên trong những ngày sắp tới.”.

Thưa quý thày cô Trung Tâm Việt Ngữ Hồng Bàng, quý thày cô trong chương trình: “Ước Mơ Việt, Bảo Tồn Tiếng Việt Trong Sáng”.

Cám ơn quý thày cô đã soi sáng và chỉ dạy nên dùng hai chữ: “có thể” để diễn tả sự thay đổi thời tiết, hoặc các hiện tượng bất thường khác do “trời” gây ra.

Xin các MC hải ngoại chớ bắt chước VC rước ba chữ: “Có khả năng” vào nhà khiến các cháu nhỏ ở Trung Tâm “Ước Mơ Việt” cười cho.

Hai chữ “Có thể” dễ dùng, rõ ràng và trong sáng như thế thì tại sao không dùng mà cứ học theo vẹt VC: “có khả năng”!

“Ý Định-Ý Đồ”

Từ trí thức đến trí ngủ XHCN không biết phân biệt “ý định & ý đồ” khác nhau thế nào. Hầu như họ quên mất hai chữ “ý định” rồi! Bất cứ ai dự định làm việc gì, dù cho tốt đẹp hay đen tối, họ chỉ biết dùng hai chữ “ý đồ” mà thôi.

Thí dụ: Chủ tịch tỉnh xx có “ý đồ” xây cây cầu cho dân “đi cầu”.

“Ý đồ” là có mưu đồ, có ẩn ý làm một việc gì có lợi cho mình mà hại cho người khác. Có thể người dân trong nước thâm hiểm, chửi xéo quan chức nhà nước chăng. Ông chủ tịch tỉnh có “ý đồ” xây cầu cho dân đi, nhưng thực chất là ông ta có âm mưu (ẩn ý) mượn cớ xây cầu để ăn cắp cốt sắt, xi măng…

Xin các MC hải ngoại nhớ phân biệt “ý định & ý đồ”, chớ nói theo VC, thí dụ như: “Bố tôi có “ý đồ” giúp tôi tài chánh để mua nhà.

Giống Như Là & Như Là.

Tự điển văn phạm Việt, Pháp, Mỹ đều giải thích cách dùng nhóm chữ này:

“giống như là”, “như là” dùng khi có ý so sánh…

Thí dụ: Trông em đẹp giống như là, (như là) tài tử ciné.

Nhưng thực chất không phải tài tử.

Khi muốn kể ra, liệt kê ra thứ gì đó thì chỉ dùng “như là”, không bao giờ dùng “giống như là” được, vì 3 chữ này chỉ dùng khi có ý so sánh

Hồi còn ở tù tại trại 8 Hoàng Liên Sơn, đám tù chúng tôi bị trại trưởng giải thích về lao động, hắn liệt kê ra một số công việc mà tù sẽ phải làm. Hắn nói:

– Nao động nà vinh quang, các anh phải nao động, “giống như nà”: cày ruộng, cấy núa, phá rừng trồng bắp, nàm ra của cải để tự luôi sống bản thân.

Không tù nào cười nổi việc hắn nói ngọng, mà cười hắn vì “dốt hay nói chữ”.

Nói đúng tiếng Việt, khi liệt kê cộng việc thì phải dùng 2 chữ “như là”:

– Các anh phải lao động, như là: cày ruộng, cuốc đất, cấy lúa, phá rừng v.v..

Tưởng chuyện đó chỉ có ở miền thượng du Hoàng Liên Sơn năm 1978, ai dè tới nay 2020, “giống như là” nó theo sang CA, Hoa Kỳ.

Xin quý khán thính giả Nam Bắc CA nghe các MC nói trên radio & TV, hầu như họ chỉ biết dùng ba chữ “giống như là” mà không biết dùng “như là” dù đó là liệt kê ra, kể ra chứ không phải muốn so sánh.

Xin nghe cô Ngoc…L.. nói:

– Trong lúc chữa trị dịch coviq, có những người làm việc tuyến đầu rất nguy hiểm “giống như là” các bác sĩ, y tá ở các bệnh viện (TV 14.xx cô NL).

Sai rồi cô Ng L..ơi! Lúc nào cô cũng dùng 3 chữ “giống như là”

Những người làm việc tuyến đầu chống coviq rất nguy hiểm không phải “giống như là” mà chính là, (như là) các bác sĩ, y tá, y công v.v..

Khi cô muốn kể ra, liệt kê ra cho thiên hạ biết họ là những ai thì cô phải dùng hai chữ: “như là” chứ không thể dùng ba chữ: “giống như là”.

Nhóm chữ “giống như là” chỉ dùng khi chúng ta có ý so sánh hai sự kiện.

Thí dụ: Các bác sĩ, y tá ở bệnh viện làm việc chống coviq nguy hiểm “giống như là” các chiến sĩ ngoài tiền tuyến.

Thế rồi đồng nghiệp của cô, chú Nguyễn Dài tiếp lời:

– Một số người khai gian lãnh tiền thất nghiệp tới 24 ngàn đô, để đi mua đồ có giá trị “giống như là” đồng hồ Rolex, túi xách tay vuitton.

Sai rồi chú Ng Dài ơi! Họ mua đồ quý giá thực sự “như là” Rolex, hột xoàn, chứ không phải đồ giả “giống như là” đồ thật.

– Khi bị nhiễm Coviq, bệnh nhân có những triệu chứng “giống như là” sốt trên 100F, ho khan, khó thở, mất vị giác (14.4 Dr QK và Võ ĐV).

Ngược đời rồi anh Võ Đức Vê ơi!

Những triệu chứng nhiễm Cô-Vi đúng như anh kể ra, chứ không phải những triệu chứng này của bệnh cúm. Khi nào triệu chứng của Cô-Vi tương tự như của cúm thì anh Võ mới nói: “giống như là” bệnh cúm.

Tóm lại khi có ý so sánh hai việc khác nhau thì mới dùng “giống như là”, còn khi chỉ chúng ta muốn kể ra thì chỉ dùng: “như là” mà thôi.

Xin quý anh chị em MC so sánh hai thí dụ dưới đây:

  1. Các MC chương trình Café Sáng đẹp “giống như là” tài tử ciné.

  1. Các MC chương trình Café Sáng “như là” ĐQAT, HHT, NT, NL nói tiếng Việt rất đúng và lưu loát.

Những người lên TV như là Ông X, Bà Y, Cô Z cứ dùng ngôn ngữ XHCN “giống như là” VC , mà không phải VC mà là tị nạn CS.

Muốn rõ hơn thì nên tìm hiểu tự điển Pháp-Mỹ những chữ nghĩa tương tự.

Cái Đuôi “Luôn”.

Tuổi trẻ trong nước ngày nay họ nói năng vô cùng lạ lùng, không bút mực nào mà kê khai ra cho hết được những điều quái dị! Những ngôn ngữ đó theo chân người từ trong nước, theo du học sinh xâm nhập vào cộng đồng Việt hải ngoại, thế rồi: “Điều hay khó học, điều dở dễ lây”.

Trong nước họ luôn kết thúc một câu nói bằng chữ (luôn) vô nghĩa. Thế là các một số người hải ngoại và MC cũng nói theo, khiến tiếng Việt muốn tắt thở.

Xin mời quý vị nghe xem các MC hải ngoại nói cái gì đây:

– Máy bay mà gặp các đàn chim là sợ lắm “luôn”.

Chú Ng T (TV 14.2) thêm chữ “luôn” vào cuối câu một cách hết sức vô duyên. Cũng băng tần này, khi hướng dẫn về cách nấu bún riêu thì người hướng dẫn nói:

– Nấu bún riêu theo cách này thì ngon “luôn”.

Nấu bún riêu mà cho một “tea-spoon” mắm tôm thì thơm “luôn”

Cô MC Thanh H.. nói về các mẹo vặt:

– Làm theo cách này thì rất hay “luôn”.

– Cuối tuần, bãi biển Hungtington Beach quá đông người “luôn”

Ông tiến sĩ Kờ-Lờ.., chuyên viên ứng cử và thất cử thì than rằng:

Các cuộc vận động tranh cử thì vô cùng khó khăn “luôn

Thưa tiến sĩ, chữ “luôn” trong những câu trên không có nghĩa gì cả, nó là cái đuôi (tiếp vĩ ngữ) làm người nói trông dị hợm như có cái đuôi đằng sau. Ông muốn dùng chữ “luôn” cho đúng thì cần phải có hai sự kiện cùng song hành.

Thí dụ:

– Ông TS Kim L.. ra ứng cử, nên bà L.. cũng ra “luôn”. Và cả hai ông bà đều thất cử “luôn”.

– Ông đi chơi với bồ, nên bà cũng đi “luôn”.

Kính thưa quý đồng hương hải ngoại:

Trên đây tôi mới chỉ thu thập được 1/3 ngôn ngữ quái đản XHCN theo chân lớp người tha phương cầu thực du nhập vào làm đảo lộn chữ nghĩa “Tiếng Nước Tôi”. Chúng tôi xin quý vị trong cộng đồng hải ngoại, mỗi người giúp một ngón tay giữa, “ngón tay” mà quý vị ưng ý để chỉ vào ngôn ngữ “thủm” cho nó tiêu dần đi, để chúng ta duy trì tiếng Việt cho được trong sáng.

Nhất là các anh chị em xướng ngôn viên. Tiếng nói của quý anh chị quan trọng lắm, tiếng Việt tiếp tục được trong sáng hay bị lu mờ đi theo ngôn ngữ VC phần lớn là do trách nhiệm của truyền thông, của quý anh chị./.

Captovan.

(Kỳ sau viết tiếp: khống chế, bất cập, nói chung là v.v…)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở HỎNG RỒI TIẾNG NƯỚC TÔI _ Captovan

CNN mới đón nhận một thành viên mới

Kính thưa các bạn đồng môn K1. Tưởng rằng nhiệm vụ của Căn Nhà Nhỏ đã chấm dứt sau gần 10 năm sinh hoạt để kết hợp tất cả anh chị em K1 lại với nhau. Nào ngờ hôm nay có một con nhạn lạc bầy vừa tìm về với Đại Gia Đình Khóa 1 Học Viện CSQG.
Đó là bạn THÁI VĂN LÂM. Cựu SVSQ Khóa 1 TSV.

DSC_0018 (2)

DSC_0017DSC_1725Để mình tả vài nết về bạn TVL xem có bạn nào nhớ không nhé. Bạn TVL là một tay trống trong ban văn nghệ của HV khi học khóa 1. Sau khi ra trường bạn TVL được thuyên chuyển về Nha Đô Thành cùng với 40 bạn đồng khóa làm việc trong Đội Tuần Cảnh Hổn Hợp mới được thành lập.

Năm 1975 bạn TVL vượt biện tìm tự do và định cư tại Houston Texas cho đến nay. Con của TVL học chung trường với con trai của bạn Lê Phất Minh. Trong các lần biểu tình chống cộng tại Houston do bạn LPM tổ chức, bạn TVL đều có tham dự. Nhưng bạn không biết và  không sinh hoạt với anh chị em K1 tại Houston. Một dịp tình cờ bạn Thái văn Lâm vào được website Căn Nhà Nhỏ xem và thấy trong mục Happy Birthday tháng 7 có tên của bạn ta. Bạn ta thật bất ngờ và tìm hiểu qua trung gian K Nguyễn Minh Tân ( Ở Vancouver WA). Bạn Lậm xin số email và số phone của mình . Nhờ đó CNN mới bắt được con nhạn nầy cho nó quay về  tổ.
Hồi ở trong Học Viện bạn Thái văn Lâm có chụp một số hình của anh chị em Khóa 1 mà bạn nói chưa thấy trên net nên muốn gởi cho CNN. Khi nào có đầy đũ mình sẽ post lên CNN cho các bạn xem.
Kèm theo đây là số email và số phone của bạn Thái văn Lâm để các bạn có thể gọi hỏi thăm. Nhờ anh trưởng khóa ghi tên bạn Thái văm Lâm vào group khóa 1 để bạn ta có dịp trở lại sinh hoạt cùng chúng ta.

email:  tdoan1945@att.net     phone:   281- 583-5174.

CHÚC MỪNG K1 THÁI VĂN LÂM TÌM VỀ CÙNG GĐ KHÓA 1

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở CNN mới đón nhận một thành viên mới

Mỹ phải làm gì để đánh bại Trung Cộng (yahoo.com)

Mỹ phải làm gì để đánh bại Trung Cộng  

Tom Cotton        

Chiến tranh Lạnh của Hoa Kỳ với Trung Cộng sẽ quyết định tiến trình của thế kỷ tới. Để quét chủ nghĩa Cộng sản Trung Cộng vào đống tro tàn của lịch sử, chúng ta phải tiến hành một cuộc chiến kinh tế lâu dài thông qua việc tách rời Trung Cộng và cạnh tranh kinh tế nghiêm ngặt với họ. Tháng trước, tôi đã phát hành một báo cáo nêu chi tiết chính xác cách đạt được mục tiêu này. 

Trong ba thập kỷ, Washington và Phố Wall đã tích cực hợp tác kinh tế của chúng ta với Trung Cộng. Trong khi đó, Đảng Cộng sản Trung Cộng đã lợi dụng việc này để gây ra một cuộc chiến tranh thương mại tàn khốc chống lại quốc gia của chúng ta. Thông qua gian lận, trộm cắp và gián điệp có hệ thống, Trung Cộng đã phá hủy hàng triệu việc làm của người Mỹ và giành được vị trí thống trị trong việc sản xuất công nghệ tiên tiến và nguồn cung cấp thiết yếu. Các nền kinh tế của chúng ta hiện đang bị ràng buộc một cách nguy hiểm và Hoa Kỳ tiếp tục thúc đẩy sự phát triển của đối thủ lớn nhất của chúng ta. Điều này phải chấm dứt. Hoa Kỳ phải tách nền kinh tế của chúng ta ra khỏi Trung Cộng nơi chúng ta dễ bị tổn thương, trả đũa sự lạm dụng của Trung Cộng và xây dựng lại sức mạnh kinh tế của Mỹ, đặc biệt là trong các nguồn cung cấp thiết yếu và sản xuất công nghệ cao.

ĐCSTQ dùng sự đối xử ưu đãi thương mại của Mỹ để tiến hành một chiến dịch xâm lược kinh tế. Để đối đầu với mối đe dọa này, Hoa Kỳ nên hủy bỏ Quan hệ Thương mại Bình thường Vĩnh viễn (PNTR) với Trung Cộng. Kết thúc PNTR cần Quốc hội và tổng thống phải phê chuẫn quy chế Tối huệ quốc (MFN) của Trung Cộng hàng năm. Điều này sẽ cho phép chính phủ Hoa Kỳ hạn chế Trung Cộng tiếp cận thị trường Hoa Kỳ hàng năm, nếu họ tiếp tục tấn công các công ty và công nhân của chúng tôi. Một chế độ tội phạm đánh cắp hàng trăm tỷ đô la tài sản trí tuệ mỗi năm, thao túng tiền tệ và bán phá giá các sản phẩm được trợ cấp trên toàn thế giới không xứng đáng được hưởng ưu đãi về thương mại. 

Tiếp theo, chúng ta nên cắt đứt đường ống thông tin đánh cắp tài sản trí tuệ của Trung Cộng từ các trường cao đẳng và đại học của Mỹ. Trung Cộng thực hiện tới 80% hành vi trộm cắp tài sản trí tuệ quốc tế và là đối tượng của gần một nửa số vụ phản gián của FBI vì tội gián điệp kinh tế. Phần lớn hoạt động ác ý này xảy ra trong các khuôn viên của Mỹ và trong các phòng thí nghiệm và cơ sở nghiên cứu của Mỹ. Tuy nhiên, trong năm 2018–19, khoảng 370.000 sinh viên Trung Cộng đã được phép du học tại Hoa Kỳ – một nửa trong số đó đã đăng ký các khóa học STEM (science, technology, engineering and mathematics). Công dân Trung Cộng vẫn theo học tại các cơ sở nghiên cứu uy tín, các nhà nghiên cứu Mỹ tham gia các chương trình tuyển dụng nhân tài của Trung Cộng và các công ty liên kết với ĐCSTQ tuyển sinh các trường cao đẳng, đại học và giáo sư. Quyền truy cập mở này là không khôn ngoan và nên bị hạn chế. Chính phủ Hoa Kỳ nên cấm công dân Trung Cộng theo học các lnh vực STEM ở cấp đại học hoặc sau đại học, cấm Trung Cộng tài trợ cho các trường đại học và tổ chức nghiên cứu của Hoa Kỳ và chấm dứt hệ thống đại học vệ tinh của Hoa Kỳ ở Trung Cộng. Điều này sẽ giảm thiểu hành vi trộm cắp tiếp tục xảy ra và chấm dứt việc chào đón các nhà nghiên cứu quân sự Trung Cộng vào các phòng thí nghiệm tiên tiến nhất của đất nước chúng ta. 

Chúng ta cũng phải chấm dứt sự phụ thuộc vào Trung Cộng đối với các nguồn cung cấp thiết yếu như nguyên tố đất hiếm (rare-earth elements), dược phẩm (pharmaceuticals) và thiết bị bảo vệ cá nhân (PPE). Trung Cộng cung cấp 80% lượng đất hiếm nhập khẩu của Mỹ – vốn cần thiết cho sản xuất công nghệ cao – và xử lý 85% nguồn cung cấp nguyên tố đất hiếm của thế giới. Trung Cộng đã sử dụng đòn bẩy của mình đối với các nguyên tố đất hiếm để rút tiền nhượng bộ khỏi Nhật Bản và hiện đang tìm cách hạn chế xuất khẩu đất hiếm cần thiết cho việc sản xuất F-35 của Mỹ. Đầu đại dịch COVID-19, Trung Cộng đã áp dụng các biện pháp hạn chế xuất khẩu tương tự đối với các sản phẩm dược phẩm và PPE. Điểm yếu chiến lược này phải được nhanh chóng loại bỏ, và việc sản xuất các sản phẩm thiết yếu phải được đẩy mạnh trở lại thông qua các yêu cầu của Mua hàng Mỹ, ưu đãi thuế và dự trữ quy mô lớn. 

Đầu tư của Hoa Kỳ đã trợ cấp cho sự trỗi dậy của Trung Cộng trong 30 năm. Mặc dù chúng ta hiện đang sàng lọc đầu tư vào từ Trung Cộng, nhưng chúng ta thiếu một quy trình tương tự đối với vốn đầu tư ra nước ngoài của Hoa Kỳ. Chúng ta nên thực hiện một quy trình xem xét cần thiết để ngăn chặn đầu tư của Hoa Kỳ vào các ngành chiến lược của Trung Cộng và nên ngăn chặn các công ty Hoa Kỳ sử dụng các đối tác thứ ba để chuyển tiền vào Trung Cộng. Tương tự, các biện pháp kiểm soát xuất khẩu mở rộng qua Trung Cộng cần áp dụng cho trí tuệ nhân tạo tiên tiến của Hoa Kỳ (AI), công nghệ viễn thông 5G và chất bán dẫn (semi-conductor). Các biện pháp kiểm soát xuất khẩu sẽ ngăn cản Trung Cộng đi tiên phong và thống trị những công nghệ quan trọng này trong tương lai. Công nghệ của ngày mai không thể được đóng dấu bằng dòng chữ “Sản xuất tại Trung Cộng”. 

Những hành động này và những hành động khác, được trình bày chi tiết trong báo cáo của tôi, báo cáo của tôi, sẽ tách rời thành công nền kinh tế Hoa Kỳ và Trung Cộng theo một cách có mục tiêu. Trung Cộng không giống Liên Xô – sức mạnh của họ chủ yếu đến từ sức mạnh kinh tế và sự khai thác tài chính, chứ không phải quy mô kho vũ khí hạt nhân hay quy mô của các sư đoàn xe tăng. Đế chế Ác Ma này dựa vào sự hào phóng, cởi mở và ngây thơ của chúng ta – và có thể sụp đổ nếu không có nó. 

What the U.S. Must Do to Beat China (yahoo.com)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Mỹ phải làm gì để đánh bại Trung Cộng (yahoo.com)

Tâm Thư của NT Trần Minh Công

TÂM THƯ CỦA NT TRẦN MINH CÔNG
ĐỀ NGHỊ GIẢI QUYẾT CÁC VẤN ĐỀ
LIÊN QUAN ĐẾN WEBSITE HV- CSQG

2.logo_Hoc_Vien cut

Thưa quý vị Giáo Sư, cựu Giảng sư và các bạn Cựu SVSQ Học Viện CSQG-VNCH :

Trong mấy ngày gần đây tôi đã nhận được emails nhận đinh và góp ý của  một số bạn cựu SVSQ/HV-CSQG liên quan đến Website HV-CSQG. Vì từ trước tới nay vấn đề này chưa được đặt ra nên có bạn đã lập một Egroup để liên lạc giữa thân hữu và đồng môn như bạn Dư Quang Nê K6. Bạn Nguyễn Văn Diệp K3 lập một Website – HV-CSQG cũng vì mục đích trên . Tôi không biết còn có egroups hay websites nào khác liên quan đến HV-CSQG hay không.

Qua những emails trao đổi trên NET, nay hầu như đa số đều đồng ý là chúng ta cần có  một Website chính thức chung cho các thành viên đã từng liên hệ đến HV-CSQG gồm các Giảng Sư, SQ Cán Bộ, Nhân viên và nhất là các SVSQ đã từng tốt nghiệp hay tu nghiệp tại HV. Mục đích là để chúng ta có một nơi chung để ghi lại lịch sử của Lực Lượng CSQG trong đó có lịch sử và sự hình thành của HV-CSQG (Cảnh sử mà Tổng Hội đã phát hành 2 năm trước đây). Cũng là nơi để chúng ta trao đổi và ghi lại những thành quả, kinh nghiệm phục vụ đất nước để mọi người trong và ngoài LL/CSQG biết rõ hơn về LL-CSQG mà chúng ta đã hãnh diện phục vụ. Cũng là nơi để con cháu chúng ta và các thế hệ sau này biết rõ về vai trò và trách nhiệm của LL-CSQG trong lịch sử của đất nước…

Tôi rất cám ơn những quan tâm và ý kiến mà một số khá đông các bạn đã chia sẻ với cá nhân tôi và với các đồng môn khác trên NET. Trong một tập thể lớn như tập thể HV-CSQG dĩ nhiên chúng ta có nhiều nhận định và ý kiến khác nhau. Nhưng chúng ta cùng đồng ý là nên có một Website chung cho mọi thành viên HV. Và đây sẽ là tiếng nói chính thức cho Học Viện-CSQG-VNCH.

Tôi đã tham khảo ý kiến với chiến hữu Trần Quan An là Chủ tịch Hội Đồng Quản Trị của Tổng Hội và đã từng là Trưởng Đoàn Giảng Sư của Học Viện một thời. Chúng tôi cùng đồng ý là những phương thức kết nối anh em trước đây (trước tháng 3/2021) là sáng kiến tốt của một số bạn. Những chi tiết quá khứ dù chúng ta đồng ý hay không bây giờ cũng không nên bàn tới nữa. Bây giờ là lúc nên chung sức để tạo một ngôi nhà mới (Website chính thức) cho Học Viện. Đề nghị của K3 Thái Văn Hòa kêu gọi Đại Diện Các Khóa găp nhau để góp ý và thảo luận thực hiên một Website chung và chính thức cho HV là một ý kiến hay và hợp lý. Việc nhờ K1. Nhữ Đình Toán là người đã có kinh nghiệm điều hành Website cũng là một ý kiến đáng lưu tâm. Tôi tin rằng chúng ta sẽ có sự tiếp tay của TS. Trần An Bài ,  một vị Giảng sư khả kính đã rất yêu thương HV , với nhiều bài viết giá trị liên quan đến ngành CSQG. Bài vở của các cựu SVSQ khác cũng sẽ làm phong phú website chung của chúng ta. Tôi chắc các bạn K3.Nguyễn Văn Diệp và K6.Dư Quang Nê và nhiều bạn khác nữa cũng sẽ vì Danh Dự chung của HV mà  tiếp tay trong nỗ lực chung này.

Bạn Trần Quan An và cá nhân tôi rất mong ý kiến của chúng tôi được các bạn cứu xét. Chúng ta có thể có nhiều ý kiến khác nhau nhưng chỉ có một Danh Dự chung của Học Viện cần được phát huy và bảo vệ.

Thân chào và cầu chúc An Lành đến tất cả các bạn và gia đình.

Thân kính,
Trần Minh Công.

HV-CSQG.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Tâm Thư của NT Trần Minh Công

Miền Nam Việt Nam Trước 1975

Tưởng Niệm Quốc Hận 30/4 1975 chúng ta hãy lắng lòng nhìn về quê hương đầy ắp những kỷ niệm khó quên qua các ca khúc buồn da diết.
(Video từ trên Youtube)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Miền Nam Việt Nam Trước 1975

XƯỚNG HỌA 1: THẤY GÌ?

THƠ ĐƯỜNG CÓC K1
TƯỞNG NIỆM NGÀY QUỐC HẬN
BÀI XƯỚNG SỐ 1
30-4a

Xướng:  THẤY GÌ

Bốn sáu năm rồi thôi chiến chinh
Mà sao nước Việt vẫn điêu linh
Công Nhân lên tiếng đi lao lý
Duy Thức giải bày vào ngục hình
Tuổi trẻ đắm chìm nơi thác loạn
Cao niên an phận chốn linh tinh
Nhân dân “làm chủ” nghe đầy tớ !
Nhà nước chuyên quyền Đảng thuyết minh

TQN.

GC: *Công nhân: người lao động và là Lê thị Công Nhân
*Duy thức: nhà trí thức và là Trần Huỳnh Duy Thức

Họa 1: 46 NĂM NHÌN LẠI

46 năm rồi dứt chiến chinh
Quê hương đất nước vẫn điêu linh
Hòa bình những tưởng thôi ly tán
Thống nhất mà sao lắm ngục hình
Giải phóng dân nam tù cải tạo
Lọc lừa giặc bắc lũ hồ tinh
Xạo Hoài Chúng Nó đang cai trị
Đảng của lão già râu chí minh.

CX

Họa 2: MONG SAO

Đã nói qua rồi buổi chiến chinh
Nhưng mà sự thật vẫn điêu linh
Khoan hồng giả tạo bằng lao lý
Nhân đạo rêu rao dấu ngục hình
Đất nước khổ đau vì đảng cộng
Quê hương tan nát bởi yêu tinh
Mong sao thời vận xoay vần lại
Dẹp hết tập đoàn quỷ chí minh.

CN

Họa 3: BỊP

Nhìn về quá khứ, cuộc trường chinh
Cộng sản vô thần, chẳng hiển linh
Hưu chiến đầu xuân, chưa ráo mực
Tấn công ngày Tết, hiện nguyên hình
Bôi son Lê Duẩn che lừa dối
Trát phấn Ông Hồ bịa cứu tinh
Nửa thế kỷ gần: dân chịu khổ
Cũng vì độc đảng, óc vô minh

Cóc QT-TP

 Họa 4: THÁNG TƯ BẤT HẠNH

Tháng tư buồn tủi cảnh vênh chinh
Chính nghĩa thua phường lũ cá linh
Đất nước tiêu điều theo chiến cuộc
Quê hương rối loạn trước tình hình
San bằng đoạt của như bầy sói
“Giải phóng” hôi vàng giống quỉ tinh
Quốc hận muôn đời không thể xóa
Đợi chờ mau xuất đấng anh minh.

DNN (Quốc Hận 30//04/2021)

Họa 5: ĐẤT NƯỚC TÔI

Đất nước vừa qua cuộc chiến chinh
Lại thêm Cộng sản ách điêu linh
Khi không chụp mũ mang tù tội
Bỗng chốc vu oan phải nhục hình
Chiếm đất hung tàn quân trộm cướp
Giết người bạo ngược lũ yêu tinh
Quan to chẳng thẹn mua bằng giả
Dốt đặc xưng mình bậc trí minh

CCR

Họa 6: BỌN BẤT MINH

Ta vẫn hận hoài thứ viễn chinh
Vào đây giết hại triệu sinh linh
Đày người thua cuộc nơi lao cải
Hành kẻ sa cơ chốn nhục hình
Độc ác tham tàn như qủy sứ
Lưu manh tráo trở giống chằng tinh
Quân nam tôn trọng lời cam kết
Bắc cộng xé rào, bọn bất minh

CH

Họa 7: GIẢI PHÓNG

Giải phóng miền Nam hết chiến chinh
Ngụy quyền cải tạo sống điêu linh
Gia đình chia cách buồn thân xác
Con cái phân ly tủi nhục hình
Chính sách mưu thâm quân ác quỷ
Chủ trương độc hại Đảng loài tinh
Việt Nam thuộc hạ Nga, Tàu cộng
Bán nước, buôn người giặc lão Minh.

Tuyến Lê (Sydney)

Họa 8: ĐMCS

Phạm Đồng, Lê Duẩn với Trường Chinh
Đức Mạnh,  Đỗ Mười tới Nguyễn Linh
Pắc Pó lục lâm che hết mặt
Sài Gòn thảo khấu hiện nguyên hình
Ba Đình thúi hoắc thây chồn cáo
Hà Nội hôi rình ổ sói tinh
Mọt nước sâu dân bầy ác bá
Rặc nòi đệ tử lão Hồ Minh.

Cóc Chát

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở XƯỚNG HỌA 1: THẤY GÌ?

CÂU CHUYỆN CHIẾN TRANH VIỆT NAM ÍT NGƯỜI BIẾT (ST)

SỰ KIỆN TRẠI DAVIS TRONG PHI TRƯỜNG TÂN SƠN NHỨT NGÀY 21/1/1974

Ngày 19/1/1974 hải chiến Hoàng Sa xảy ra, Trung cộng đã cưỡng chiếm những hải đảo của Việt Nam.

Ngày 21/1/1974 Ủy ban Liên hợp Quân sự bốn bên họp định kỳ ở trại Davis, bên trong phi trường Tân Sơn Nhứt.

Nghị trình của phía CS Bắc Việt đưa vào cuộc họp lần này vẫn là những luận điệu vu cáo và lên án VNCH vi phạm hiệp định Paris bằng miệng như thường lệ.

Họ cứ lải nhải tố cáo VNCH vi phạm tại Quảng Ngãi, Nam An Lộc…v.v.. Phái đoàn cộng sản không đả động gì tới sự kiện Hoàng Sa vừa diễn ra hai hôm trước.

Phái đoàn Việt Nam Cộng Hoà đưa vấn đề Hoàng Sa vào nghị trình. Vấn đề Hoàng Sa được viết bằng văn bản gồm có hai phần:

1) Đề nghị chính thức Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa cùng với Việt Nam Cộng Hoà ra thông cáo lên án hành động xâm lược lãnh thổ – lãnh hải của Việt Nam.

2) Yêu cầu phía quân đội VNDCCH cùng MTGPMN không tấn công phá rối các phi trường, quân cảng Đà Nẵng, Nha Trang thuộc Quân Đoàn I, II để VNCH phối trí tập trung lực lượng tái chiếm Hoàng Sa.

Đến phần bàn về Hoàng Sa, phái đoàn CS Bắc Việt và VC vẫn ngồi im thin thít không phát biểu gì. Mọi con mắt của đại diện quốc tế đều đổ dồn về phía họ. Phái đoàn cộng sản bí quá đành giở trò câu giờ… cho hết buổi họp.

Phái đoàn VNCH yêu cầu tiếp tục họp bất thường. Yêu cầu của VNCH được Uỷ ban Giám sát đồng ý, vì vấn đề có liên quan tới tình hình quân sự và vừa xảy ra trong phạm vi kiểm soát (lãnh thổ) VNCH. 

Không thể thoái thác, Thiếu tướng Lê Quang Hòa trưởng đoàn CS Bắc Việt liền đánh điện về xin ý kiến Trung ương.

Lê Đức Thọ trưởng ban Miền Nam, Uỷ viên thường trực Bộ chính trị đã trả lời “Lập trường chính trị của các anh để đâu? Đang có chiến tranh, lại phối hợp hoạt động với địch à? Cuộc chiến tranh gay go của ta rất cần sự ủng hộ của Trung quốc, mà lại nói quay sang chống bạn. Họ có giải phóng giúp ta, thì sau này cũng trả lại cho ta thôi.’’ 

Trong phiên họp bất thường, Trung Tướng Ngô Du trưởng phái đoàn VNCH, người chủ trì cuộc họp đưa ra đề nghị:

“Trong phiên họp này, tôi đề nghị không cáo buộc, cãi nhau về những vụ xâm phạm lãnh thổ, vi phạm hiệp định Paris nữa. Trung cộng đã ngang nhiên xâm lược và chiếm giữ toàn bộ quần đảo Hoàng Sa. Đất của chúng tôi thì cũng như đất của các anh vì cùng là đất tổ tiên chúng ta để lại cả. Vì thế, chúng ta nên xếp ba bốn cái vụ tranh cãi lại, để ngồi cùng nhau bàn bạc về việc phối hợp hoạt động chống lại sự xâm lăng này. Yêu cầu VNDCCH cùng VNCH gửi công hàm lên án Trung cộng tại Liên Hiệp Quốc, VNDCCH nên vận động phe XHCN và cũng như thế giới lên tiếng phản đối (Trung Quốc)”

Mọi con mắt của các đại diện quốc tế trong uỷ ban đổ dồn về phía phái đoàn Cộng Sản. Họ tảng lờ…

Một lúc, tướng Ngô Du nổi nóng. Xen lẫn trong tiếng văng tục, ông chỉ thẳng mặt tên tướng CS Lê Quang Hòa: “… Chúng mày tảng lờ, là tiếp tay cho Trung Cộng, là bán nước mà còn tiếp tục định đánh, không cho chúng tao giành lại đất đai của tổ tiên”.

Tướng Ngô Du chụp lấy cái gạt tàn thuốc lá bằng thủy tinh ném thẳng vào mặt Lê Quang Hòa. Hắn né được, cái gạt tàn đập vào tường vỡ nát. 

Cận vệ của Lê Quang Hòa lao tới tướng Ngô Du thì liền bị cận vệ của tướng Ngô Du ngăn cản và bẻ (khóa) tay.

(Sĩ quan bảo vệ an ninh tướng Lê Quang Hòa, và các cựu cán bộ của đảng CSVN kể lại).

 

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở CÂU CHUYỆN CHIẾN TRANH VIỆT NAM ÍT NGƯỜI BIẾT (ST)

Thắp nén hương lòng: Giữa núi rừng Việt Bắc…. (BĐQ Đoàn Trọng Hiếu)

(Viết để tưởng nhớ quý chiến hữu Quân, Cán, Chính VNCH đã gục chết tủi hờn và oan khiên trong lao tù khổ sai của bọn cộng sản vô nhân, và cũng để tuyên dương những người vợ lính VNCH, đặc biệt là chị quả phụ của cố Đại úy Cảnh Sát QG Trần Thiên Thọ Hải. ….)

… Tình hình sức khỏe anh em khi còn ở các trại do quân đội Việt cộng quản lý đã tồi tệ, thì nay càng tồi tệ hơn dưới sự hà khắc dã man của bọn công an, mà anh em tù quen gọi là bọn “chó vàng”. Tiêu chuẩn ăn uống thì bị bọn chúng cắt xén ăn bớt. Mỗi bữa ăn chỉ được một thìa cơm với hai khúc sắn tươi, hoặc gần chục lát sắn khô hay một chén sắn duôi (loại sắn được nạo thành sợi hay xắt thành cục phơi khô), vài muỗng canh đại dương (nước muối với vài cọng rau già), hoặc một vài miếng sắn được nấu với muối cho nhừ để làm canh. Họa hoằn, một đôi ba tháng vào các ngày lễ,

Tết thì được một chén cơm trắng với hai ba miếng thịt heo to bằng đốt ngón tay, hoặc một vài miếng thịt trâu từ một con trâu già đã không còn kéo cày nổi hay bị chết vì không chịu nổi cái lạnh mùa đông. Với chế độ ăn uống vô cùng thiếu thốn như vậy mà phải làm việc khổ sai cực nhọc, dẫn đến tình trạng kiệt lực, người nào cũng chỉ còn da bọc xương. Mỗi buổi chiều, hết giờ lao động, anh em tù cởi áo xuống ao tắm, trông như một bầy khỉ ốm đói tội nghiệp.

Tình trạng bệnh tật và không có thuốc men thật là đáng sợ, bệnh kiết lỵ, phù thủng và thổ huyết rất phổ biến. Đã có một số anh em chết mà anh em tù quen gọi là “quay đầu về núi” vì hầu hết tù nhân chết đều được chôn trên các sườn đồi.

Xin đơn cử một vài cái chết của vài anh mà tôi có dịp ở chung.

Thiếu Tá Hà Sỹ Phong, Phó Giám Đốc Đài Phát Thanh Tự Do, anh ở cùng đội với tôi, mấy ngày trước anh bị bệnh nên cho nghỉ ở nhà trực phòng, sau đó 2 ngày anh được mẹ ở miền Bắc lên thăm. Buổi tối anh cho tôi nửa chén cơm vắt và hai miếng thịt gà kho mặn, anh thì thầm tâm sự:

– Năm 54 tôi di cư vào Nam chỉ có một mình, ông bà cụ luyến tiếc tài sản không chịu đi, bố tôi bị đi tẩy não (tù cải tạo) trong đợt cải cách ruộng đất và chết trong tù, bây giờ mẹ tôi đã ngoài 70 tuổi lại phải đi thăm con ở tù. Đây là lần đầu gặp lại mẹ tôi sau hơn hai mươi năm xa cách.

Nói rồi hai hàng nước mắt anh lăn dài trên má. Tôi lí nhí cám ơn anh về món quà anh đã cho tôi. Sau gần 3 năm tù, đây là lần đầu tiên tôi được thưởng thức một món ăn quá sang trọng như vậy. Tôi xé từng sớ thịt, rồi lại liếm mấy ngón tay, tận hưởng cái hạnh phúc to lớn ấy rồi thiếp dần vào giấc ngủ.

Sáng hôm sau, khi ra khỏi phòng để điểm danh thì thiếu một người, tên thường trực thi đua (một tên tù được đưa lên phụ việc đóng mở cửa và kiểm soát anh em) đi vào thì phát hiện anh Phong đã mê man. Chúng tôi vội cõng anh lên trạm xá nhưng anh đã chết vài giờ sau đó.

Ít ngày sau lại đến anh Trung Tá Lạc, Phòng 2 Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II. Một buổi chiều sau khi lao động về, anh Lạc ghé sang khu tôi ở, móc trong túi ra một cái bánh chưng đưa cho tôi và nói:

– Hai cháu nó mới ra thăm, cả hai đều được đi dậy học lại và là “giáo viên tiên tiến” nên được cho ra thăm “lăng Bác”. Nó tìm lên thăm mua cho ít quà, chú dùng cái bánh chia vui với tôi, mấy ngày nữa các cháu sẽ lại lên thăm tôi lần nữa. Tôi đón cái bánh chưng to bằng cái bánh trung thu và lí nhí cám ơn anh rồi vội chia tay, vì sợ tụi cán bộ trông thấy sẽ ghép tôi quan hệ trái phép .v.v… 

Quả thật, những lúc đói khát khó khăn thế này mới thấy cái tình dành cho nhau nó to lớn và sâu đậm. Nhưng rồi không may cho anh, hai hôm sau anh đã chết ngay tại hiện trường lao động không kịp gặp lại các con.

Giữa năm 78, vì đói khát suy dinh dưỡng, cộng thêm cơn sốt vàng da đã khiến tôi kiệt lực, thân thể chỉ còn trên 30kg. Tôi không còn bước đi được nữa, mà chỉ có thể bò được vài ba thước, tôi được đưa xuống trạm xá nằm trong “danh sách chờ”. Tại đây đã có anh Tư, anh là người hạm trưởng đã sang đến Singapore rồi lại quay về, anh bị bệnh phù thủng lại thêm phần ân hận vì đã quay về để rồi bị đi tù mút chỉ, nên chỉ ít ngày thì anh chết.

Rồi đến Trung Tá Mai Xuân Hậu, Tỉnh Trưởng Kontum, Thiếu Tá Đặng Bình Minh lái trực thăng cho Tổng Thống Thiệu, Trung Tá Lý. Dường như chẳng còn ai quan tâm đến cái chết, chả thế mà vẫn còn nói đùa: “Đ.M. mày qua mặt tao mà đíu bóp còi!”.

Cũng thời gian này, có một bài hát đã được anh sáng tác tôi vẫn còn nhớ được ít câu:

“Rồi một ngày mai không có anh, em không còn phải nhớ phải mong

– Rồi một ngày mai thân xác anh quay đầu về núi

– Cô đơn ngồi khóc một mình

– Không một lần kịp vuốt mắt anh

– Ôi mây lang thang về phía trời xa vời,

nhìn trông theo cánh chim từng đàn,

để mình ta với bao ngày tháng xanh rêu,

bụi thời gian lấp kín hồn mình,

đớn đau trong lòng mà nhớ về nơi xa,

ôi ngày về còn dài bao lâu

– Rồi một ngày mai anh chết đi, em không còn phải khóc phải thương

– Rồi một ngày mai thân xác anh đi vào lòng đất, cô đơn phủ kín đời mình.

– Không một lần kịp nói tiếng yêu.”

Nhưng rồi may mắn hơn, số tôi chưa tới, nên căn bệnh sốt vàng da không biết có phải nhờ ba cái lá ổi, lá xoan hay không, mà tự nhiên biến mất. Và may mắn thay, nhờ mảnh giấy tôi gửi lén về qua một chị ra thăm chồng, tuy bị tụi công an phát giác, nhưng chị cũng đã nhớ cái địa chỉ ở Biên Hòa, nên chị đã đi tìm báo cho gia đình tôi biết. Nhờ vậy, cuối năm 79, mẹ tôi và vợ con tôi ra thăm, tên Vinh, cán bộ giáo dục của trại, trước khi tôi ra gặp đã chỉ cho tôi gặp 5 phút vì tôi đã gửi lén thư, nhưng tên công an dắt tôi ra đã cho tôi gặp gần một giờ.

Gặp lại mẹ và vợ con sau hơn 4 năm chỉ biết khóc. Chỉ nói được vài câu thì đã hết giờ, tôi đứng dậy chào từ biệt, lòng buồn rã rượi, rồi chống gậy lom khom lết về trại, một tên tù hình sự được chỉ định giúp tôi đẩy cái xe cải tiến chở đồ thăm nuôi vào trại. Nhờ chuyến ra thăm này mà tôi dần dần hồi phục, lúc này mỗi tuần đều có một vài anh em “quay đầu về núi”. Cái đồi sắn ở phía đội 12 sau hơn hai năm đã có gần 300 anh em tù chính trị được chôn ở đó.

Gần tết năm 79, tôi chuyển sang đội 17 lâm sản, chuyên đi lấy củi để sử dụng cho bếp trại. Thời gian này, do áp lực của quốc tế, nên chúng buộc phải cho gia đình những người tù VNCH đi thăm nuôi, nên sức khỏe của đa số anh em đã dần dần hồi phục. Một số anh em “con bà phước” cũng được anh em đùm bọc, nên cái bóng thần chết đã bị đẩy lùi.

Hàng đêm tại các phòng, anh em lại tụ tập quanh ngọn đèn dầu với ấm trà cặm tăm, loại trà thật đặc được pha hoàn toàn bằng búp trà “hai tôm một tép” sao sấy cẩn thận, do anh em đội trà lén mang về. Các tay văn nghệ lại bắt đầu tổ chức ca hát nhạc vàng hàng đêm, khiến tụi cán bộ trại điên đầu, chúng bắt đầu cảm thấy hoang mang vì thấy tù càng bị nhốt lâu lại càng ung dung tự tại, không còn hoang mang lo sợ, lại thêm đám cán bộ nhí bắt đầu bị anh em tù thu phục.

… Anh em đã san sẻ thuốc men cho dân ốm đau trong vùng, khi đi lao động ngoài Bến Ngọc. Anh em thường gọi đây là công tác dân sự vụ. Một buổi tối cuối năm, sau khi đã điểm danh vào phòng, anh em đang tụ tập đàn hát như thường lệ, lúc kẻng báo tắt đèn đến giờ ngủ thì tên cán bộ trực tại trại đến cửa phòng nói vọng vào yêu cầu Phan Thanh đội trưởng lâm sản cử 4 người đi “lao động đột xuất”. Thanh, Diệp, Tân và tôi mặc quần áo cho thật ấm và cũng không quên mang theo tấm nylon đề phòng mưa, vì mùa đông miền Bắc thật lạnh, lại thường có mưa phùn.

Chúng tôi được lệnh xuống chỗ đội 12 lấy cuốc xẻng và thùng xách nước bỏ lên xe cải tiến đi về phía khu nhà tiếp tân. Tên cán bộ đi theo đưa cho tôi cái đèn bão leo lét. Ngang khu nhà tiếp tân thì đã thấy một thiếu phụ trong bộ đồ tang trắng đang đứng đợi.

Dường như đã được sắp xếp, người thiếu phụ lặng lẽ đi theo, tên cán bộ ra lệnh cho chúng tôi đi ra khu nghĩa địa. Đến nơi, hắn bảo chúng tôi đi tìm mộ của Trần Thiên Thọ Hải. Chúng tôi nhớ ra Đại Úy Hải đã chết vào đợt những anh em đầu tiên năm 1977, như vậy là nằm ở sâu trong cùng sát chân đồi. Sau gần 15 phút, chúng tôi đã tìm được ngôi mộ của anh với tấm bia chỉ nhỏ bằng tờ giấy học trò ghi lờ mờ, còn nắm đất thì chỉ cao hơn mặt đất chừng một tấc.

Chúng tôi được lệnh là đào để bốc cốt cho chị mang về trong Nam. Việc đầu tiên là tìm một ít cành khô để đốt một đống lửa sưởi ấm và lấy ánh sang. Chị bắt đầu lấy ra môt bó nhang đốt lên rồi quỳ xuống vái ba lạy. Cầm nguyên bó nhang chị thổn thức khóc và nằm phủ phục lên ngôi mộ. Dưới ánh lửa tôi thấy thiếu phụ còn rất trẻ chỉ khoảng dưới 30, nét mặt xương xương.

Chúng tôi đứng lặng yên tôn trọng nỗi đau của chị, cho đến khi tên cán bộ yêu cầu chúng tôi “khẩn trương” bắt tay vào việc, vì trời đã lâm râm mưa phùn. Chúng tôi dìu chị đứng dậy sang bên cạnh và bắt đầu đào. Chỉ không đầy 20 phút, chúng tôi đã đụng lớp ván đã mục, vì khi tù nhân chết thì chỉ được bỏ vào cái quan tài nhỏ vừa khít người được đóng bằng loại gỗ bạch đàn hay bồ đề, một loại cây được trồng để làm giấy, nên rất nhẹ xốp, được xẻ thành từng thanh và đóng hở như cái vạt giường, nên thấy cả xác nằm bên trong và đám tù hình sự khi đi chôn thì chỉ đào sâu khoảng 4 tấc rồi vùi lấp qua loa.

Gỡ lớp ván trên mặt, bên trong là bộ quần áo tù đã rữa nát. Tôi đi xách một thùng nước ở dưới ruộng để rửa cho sạch đất, người thiếu phụ cũng đã lấy ra một cái thau nhựa và đổ vào đó một ít rượu. Chúng tôi cẩn thận nhặt từng cái xương rũ cho bớt đất, rửa cho sạch rồi trao cho chị. Chị cầm từng cái rửa trong rượu, rồi bỏ vào cái bịch nylon hai lớp. Chị đưa cho chúng tôi mỗi người một gói thuốc Tam Đảo rồi vừa làm chị vừa tâm sự:

– Giữa năm 79, em có xin phép ra thăm, nhưng khi đến trại thì họ nói là không có anh Hải ở đây, nhưng ít tháng sau thì em được tin anh Hải đã chết từ năm 77, do một chị bạn ra thăm chồng về cho biết.

Như vậy là họ đã dấu nhẹm không báo cho gia đình. Mới đây, một người mách bảo cho em ra Bộ Nội Vụ ngoài Hà Nội làm đơn xin bốc cốt. Sau mấy lần làm đơn, cuối cùng họ đã phải cho. Nhưng khi đến đây thì họ chỉ cho làm vào ban đêm và sau khi xong, họ không cho em ở lại nhà tiếp qua đêm với lý do là ô uế.

Sau gần một giờ, thấy có thể đã không còn sót cái xương nào, chúng tôi bảo chị để tránh rắc rối chị không nên mặc bộ đồ tang này. Chúng tôi lấy bộ quần áo tang quấn quanh cái bao nylon đựng cốt bỏ vào cái bị cói lớn rồi lấy sợi dây chuối khô khâu miệng lại để không ai nhìn thấy.

Trên đường về trại, lúc đến chỗ rẽ, chị lý nhí vừa thổn thức khóc vừa cám ơn rồi dúi vào tay chúng tôi mấy gói thuốc còn lại. Nhìn người thiếu phụ tay xách cái bị cói đựng cốt chồng, lặng lẽ đi trong đêm, trên con đường rừng cô quạnh, khiến chúng tôi vô cùng thương cảm, ngậm ngùi, đứng trông theo. Bỗng, sự uất ức trào lên rồi không nén lại được, tôi thốt lên trong kẽ răng:

– Đ.M.! Rồi có ngày chúng mày sẽ phải trả giá cho hành động này! Chúng mày sẽ bị quả báo!

Chúng tôi đi vào theo cửa hông của cổng trại, rồi lặng lẽ đi về phòng. Tên thường trực thi đua đã đứng đợi sẵn để mở cửa.

Đã quá nửa đêm, cái lạnh của núi rừng Việt Bắc đã thấm sâu vào người, nằm co quắp dưới lớp chăn mỏng, tôi thầm ái ngại cho số phận của người đàn bà bất hạnh.

Chị mang hài cốt chồng đi giữa đêm trời giá lạnh rét mướt của vùng rừng núi Việt Bắc; như người vợ, người mẹ Việt Nam đang phải oằn mình mang nặng nỗi đau, nỗi bất hạnh của cả một dân tộc đi trong đêm tối bão bùng về một phương vô định…

Ôi, Dân Tộc tôi sao lắm nỗi đọa đày !!!

Đoàn Trọng Hiếu (BĐQ)

Bài do Hoàng Vũ chuyển

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thắp nén hương lòng: Giữa núi rừng Việt Bắc…. (BĐQ Đoàn Trọng Hiếu)

HOÀI NIỆM MỘT THỜI: Tạp Chí Thế Giới Tự Do (St)

Đây là bìa của tờ tạp chí Thế Giới Tự Do, Tập XVIII, số 2, phát hành vào năm 1969.

Đây là Bìa 1 của Tạp chí Thế Giới Tự Do, Tập XVIII, số 2, phát hành vào năm 1969 in ảnh của một cô sinh viên năm thứ 2, trường Quốc gia Cao đẳng Mỹ Thuật Sài Gòn đang tập vẽ.
Đây là vườn cây do trường xây dựng, là nơi để các sinh viên tập vẽ với cây cảnh xanh tươi, bên cạnh là đài phun nước và tượng điêu khắc…

Nội dung tạp chí số này khá đa dạng với những bài viết về thế giới như: nói về Hoạt động của Ngân hàng Châu Á, Đỉnh núi Kilabalu ở Mã Lai Á, Tân nội các của tổng thống Nixon…
Ngoài ra, tạp chí số này còn đề cập đến một số vấn đề trong nước như: Công cuộc tái thiết cố đô Huế (sau mậu thân), Trường QGCĐMT Sài Gòn, Lúa Thần nông tại VN…
Còn có một trang hình ảnh đặc biệt về: Cuộc gặp gỡ giữa thủ tướng Ấn Độ I.Gandhi và thủ tướng Tích Lan (Srilanka), hay hình ảnh cặp đôi J.Nixon (Con gái TT Nixon) và Chồng là David (CHáu nội của cựu TT Eisenhower)…

Đây là tờ tạp chí được phát miễn phí cho mọi người dân ở những nơi quận lỵ xa xôi. Ở cuối trang mục lục luôn có hàng chữ: “TẤT CẢ MỌI CÔNG DÂN TRONG XÃ HỘI MỚI CỦA CHÚNG TA NÊN CHUYỂN SỐ BÁO NÀY CHO ĐỒNG BÀO CÙNG XEM”
Ai sống ở MNVN đếu có ấn tượng tốt đẹp về tạp chí Thế Giới Tự Do và cả tờ Hương Quê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn. (ST)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở HOÀI NIỆM MỘT THỜI: Tạp Chí Thế Giới Tự Do (St)

Đao Phủ Hoàng Phủ Ngọc Phan.

Mời các bạn nghe chuyện kể qua nhân chứng Nguyễn Thị Thái Hòa về tên đao phủ Hoàng phủ ngọc Phan.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Đao Phủ Hoàng Phủ Ngọc Phan.

LƯƠNG TÂM VÔ GIÁ… (ST)

Hoàng là lái xe chở hàng hoá, hôm nay xe đang bon bon chạy thì bị hỏng. Hoàng vác hai hòn đá to chặn bánh xe và chui vào gầm để sửa. Khi sửa xong, xe chuẩn bị đi tiếp thì một ông lão chạy đến nói: “Này anh lái xe, anh đã đánh rơi đồ kìa!” vừa nói, ông vừa chỉ về phía sau xe.

Hoàng nghĩ ông nhắc đến hai hòn đá anh đã bỏ lại. Anh cười nói quên mất, rồi cố ý nhấn ga phóng đi.

Ông lão đuổi theo quát to: ” Anh làm người thế à? Làm người phải có lương tâm chứ! Anh bỏ lại hai hòn đó trên đường như vậy à? “
Những lời trách cứ của ông lão bị bỏ lại cùng đám bụi phía sau xe. Hoàng cười thầm trong bụng: “Lương tâm giá bao nhiêu một cân?”
Chạy được một trăm cây số thì gặp một trạm kiểm tra của Cảnh sát, Hoàng tìm giấy tờ để xuất trình nhưng tìm mãi không thấy, nghĩ lại thì có thể đánh rơi lúc sửa xe. Anh đành để xe ở trạm kiểm tra rồi quay lại tìm.
Đến nơi, Hoàng thấy hai hòn đá anh bỏ lại đã được khuân sang vệ đường trên đó có dán mảnh giấy với dòng chữ xiêu vẹo: ” Muốn lấy lại giấy tờ thì phải vác hòn đá nầy lên trên đồi”.
Hoàng kêu to lên: ” Đừng bắt ép người ta như thế! Cần bao nhiêu tiền cứ ra giá đi”.
Khi vác hòn đá đến chân đồi, Hoàng thấy một cái mũ trên đó có kẹp một tờ giấy viết: ” Đừng nói đến tiền, xin mời lên đồi”. 

Cứ như thế, theo sự chỉ dẩn trên giấy tờ, Hoàng vác hòn đá qua mấy quả đồi liền, mệt tưởng chết. 

Cuối cùng Hoàng mới thấy cái ví của mình đặt trên một nấm mộ trơ trọi. Giấy tờ, tiền bạc đầy đủ cả không thiếu một xu. Dưới cái ví tiền, còn một tờ giấy viết: “Cái ví nầy là do tôi nhặt được, bây giờ nó đã trở về với chủ cũ. Anh có biết vì sao tôi lại bắt anh vác hòn đá nầy đến trước phần mộ nầy không? Đây là mộ của con trai tôi, một đêm hai năm trước, nó đi xe máy về nhà, vì vấp phải hòn đá của một kẻ nào đó không có lương tâm bỏ trên đường nên nó đã bị ngã mà chết. Tôi đưa anh đến tận mộ con trai tôi là mong anh hiểu rõ một đạo lý: “Lương tâm là vô giá. Làm người có thể mất cái gì thì mất nhưng nhất thiết không được để mất lương tâm”.

(st)

Bài do K1 Dương Mộng Oanh chuyển

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở LƯƠNG TÂM VÔ GIÁ… (ST)

Thơ đường của bạn Nguyễn Văn Suốt



NÓI VỚI THẾ HỆ “THB”

(Bạn Nguyễn Văn Suốt họa bài thơ của  bạn Trần Bình Trọng, bút hiệu Nhà Quê)

Bạn hữu bây giờ tuổi đã cao
Người quê… kẻ lạc tự phương nào,
Nhớ khi nhập học còn xa lạ!!
Nghĩ lúc cạnh ngồi..gợi kết giao,
Xếp lại vòng đời, vùi bảo tố!!
Vượt qua Hồng thủy, nát mai đào!!.
Ba trăm sáu chục, dần thưa bớt!!
Cũng nhớ họp đàn…quý hóa sao!!

(13/3/2021. NHÀ QUÊ)..

(Bài họa của bạn NGUYỄN VĂN SUỐT).

Tâm thành khấn nguyện :có Thiên Cao!
Bằng Hữu, Đồng Môn..khắp chốn nào…
Sau trước vẹn toàn tình tri kỹ,
Trong ngoài (nước) giử lấy…nghĩa chi giao.
Hữu hình, sao khỏi vòng sinh, hóa?!
Nhân thế đâu qua luật thảy đào?!
“Tê Hát Bê” (THB) dù còn…mấy đứa!!.
Gìn lòng..không thẹn với Trăng Sao.

(13/3/2021.) Suốt Nguyên.

Gửi các “Bằng Hửu Đồng Môn”
(Niên khóa 1956…….Trường Trung Học Công Lập Kiến Hoà).

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thơ đường của bạn Nguyễn Văn Suốt

NƯỚC MỸ SỐ MỘT VÌ “TOILET”? _ Phượng Vũ

NƯỚC MỸ SỐ MỘT VÌ “TOILET”?

Lợi tức đầu người (GDP) dân Na Uy đứng hạng 3 trên thế giới: 65,500 USD 1 năm, Mỹ hạng 7 = 50,000usd, nhưng vật giá ở Na Uy cao hơn Mỹ gần 3 lần, xăng giá 11usd /1 gallon, sale tax 25%, nhà hàng không cho free nước đá lạnh như Mỹ, khát phải mua 1 chai nước nhỏ giá 24 Krone = 4USD, suy ra nếu so sánh GDP Mỹ với vật giá Âu Châu thì GDP Mỹ phải cao hơn 150,000 USD!

Ngay giữa thành phố Oslo là công viên tên Vigelandsparken Sculpture Park có những bức tượng điêu khắc mỹ thuật, rộng 80 mẫu, hàng triệu du khách đến mỗi năm… nhưng chỉ có 1 nhà vệ sinh bên cạnh quán nước ngoài cổng, phải nhét đồng 10 Krones (1.75USD) để sử dụng, nhìn đoàn người xếp hàng rồng rắn bên ngoài chờ là… nhịn luôn!

Nước Mỹ số một…

Các công viên, các khu “rest area” dọc các xa lộ, thậm chí ở những buổi meeting, hội chợ… cũng có những cầu tiêu tạm cho mọi người dùng khi cần đến và chẳng bao giờ phải tốn một xu nào.

 “Đi cho biết đó biết đây

Ở hoài một chỗ, biết ngày nào “khôn”.

Ông bà ta từ ngàn xưa đã có cái “nhìn xa trông rộng” thấy được nhu cầu phát triển sự hiểu biết, sự “khôn” lên qua việc đi đó đây. Vì thế ngày nay du lịch là ngành “kỹ nghệ không khói” nhưng đem lại lợi nhuận lớn cho rất nhiều nước trên thế giới. Ngoài ra nhờ đi đó đây, ta mới có dịp mở rộng tầm nhìn, có dịp so sánh để “biết mình, biết người”.

Ở Mỹ lâu năm, quen hưởng những tiện nghi đời sống căn bản của mọi người trong xã hội (kể cả người nghèo), riết trở thành quen, thấy bình thường và xem đó là lẽ đương nhiên. Ví dụ như nhu cầu vệ sinh: ở Mỹ cầu tiêu công cộng có ở khắp nơi, giấy vệ sinh, giấy lau tay xài thoải mái, vòi nước uống cũng được thiết kế khắp nơi. Các công viên, các khu “rest area” dọc các xa lộ, thậm chí ở những buổi meeting, hội chợ… cũng có những cầu tiêu tạm cho mọi người dùng khi cần đến và chẳng bao giờ phải tốn một xu nào. 

Nhưng khi du lịch ra nước ngoài khác mới “thấm thía” 

Cái gì cũng phải trả tiền, kể cả nhu cầu vệ sinh (giá từ 1$ – 1.5$/1 lần, tùy nơi, tùy nước). Không phải chỉ tốn tiền mà còn “gian nan” khi hữu sự, để tìm cho ra “nơi cần đến”, ngay cả ở những thủ đô văn minh lẫy lừng lâu đời của thế giới!

Tôi nhớ có một lần khi thăm thủ đô Paris, một người trong đoàn cần toilet, bác tài chạy xuôi, chạy ngược, vòng vòng mãi mà vẫn không tìm ra! Cuối cùng một sáng kiến được nêu ra: tới một nhà hàng nào đó vô mua bất kỳ món gì đó để được đi toilet! Đó là nỗi khổ tâm lớn của các vị cao niên khi đi du lịch châu Âu, các vị phải nhắc nhau nhịn uống nước (điều này lại rất hại cho sức khỏe) để khỏi “khốn đốn” khi hữu sự!

Tôi nhớ một lần ở Rome, hướng dẫn viên dẫn một bà đi mãi qua đường này, tới ngõ nọ mà vẫn không tìm ra “nơi phải đến”, “bí” quá bèn hỏi:

– Bà có chịu tốn 10 Euro để vô restaurant kia mua thứ gì đó để được đi WC không?

– Nín hết nổi rồi, bây giờ không phải 10 Euro mà 20 Euro tôi cũng chịu luôn!

Có những WC có người ngồi thâu tiền còn đỡ, có những nơi, họ thiết kế sẵn phải bỏ đúng số tiền (cắc) quy định thì cổng mới mở cho vô. Khi đi du lịch đâu phải ai cũng có sẵn tiền cắc (Euro) trong túi, có một bà “mắc” quá nhưng không đổi được tiền cắc, nên phải mượn tứ tung trong đoàn, mỗi người thương tình móc hầu bao bỏ vô máy một ít, máy nuốt hết nhưng còn thiếu mấy xu, chưa đủ tiền, máy không mở cổng! Thật khốn đốn với máy móc vô tình!

Ở một số nước châu Á như Trung quốc, khách du lịch phải luôn thủ sẵn giấy vệ sinh trong bóp, vì trong toilet không có giấy vệ sinh. Tôi cứ bị ấn tượng mãi về một lần thăm Bắc Kinh (cách đây hơn 10 năm), đoàn du khách được một dàn các cô gái trẻ đẹp mặc xường xám đón chào tưng bừng ngay từ lối vào nhà hàng. Nhà hàng thiết kế rực rỡ sang trọng, đèn đuốc sáng choang như… cung đình. Sau bữa ăn khi cần đi WC, tôi ngạc nhiên khi bước vào thấy có một bàn trải khăn trắng bóc, trên bàn có một bình hoa tươi thật to, đẹp, và một cô gái xinh đẹp rực rỡ mặc xường xám ngồi đó chỉ để làm nhiệm vụ phát cho mỗi khách 1- 2 miếng giấy vệ sinh nhỏ.

Ôi “cung đình” mà không có giấy vệ sinh! Đúng là XHCN, hình thức trình diễn thì xôm tụ, nhưng nhu cầu căn bản thì không được đáp ứng. Trong đời sống có những nhu cầu xem ra có vẻ nhỏ nhặt, tầm thường, nhưng khi cần đến mà không có thì nó trở thành một trở ngại lớn, khiến người ta “điêu đứng” vì nó. 

Nghe kể có một đoàn du khách nước ngoài viếng các lăng tẩm của triều đình Huế, đi từ lăng này đến lăng kia, cảnh đẹp hùng vĩ bao la…, bỗng một du khách cần đi WC, hướng dẫn viên tìm hoài không ra, bèn chỉ khách vào bụi cây xài đỡ, khách cương quyết không chịu! Vậy là cả đoàn phải ngưng tham quan, ra xe trở về khách sạn.

Phi trường ở Mỹ, ghế ngồi chờ đợi cho hành khách là ghế nệm dày và lúc nào cũng dư thừa, thậm chí lúc ít khách có thể nằm ngủ thoải mái. Toilet và vòi nước uống có khắp nơi, bây giờ lại có thêm những chỗ cho hành khách charge pin điện thoại, laptop, I pad, I phone…

Nhưng khi tới phi trường Paris (CDG) những nhu cầu căn bản đó hình như biến mất. Thực ra trước đây tôi đã đến phi trường Paris nhiều lần, nhưng đều đi ra ngay luôn. Lần này chuyến bay chuyển ở Paris trước khi tới Berlin nên tôi mới có cơ hội thâm nhập CDG. Trước hết khi máy bay đáp xuống CDG, tôi ngạc nhiên khi thấy phải đi cầu thang sắt xuống, với va li carry-on, nếu kéo đi thì nhẹ nhàng, nhưng phải xách nó lên và leo mấy chục bậc thang xuống thì không dễ chút nào! Sau đó, leo lên xe buýt chở vô phi trường.

Vô đây tôi lại tiếp tục chạy vòng vòng, mệt “bở hơi tai” vì phải xách carry-on lên xuống cầu thang nhiều lần đi từ khu này qua khu khác, phải qua khu x-ray (khám bằng tay là chính) rồi mới tới được cổng đổi chuyến bay! Khu nhà kiếng tương đối nhỏ nhưng có tới 12 cổng, mỗi cổng chỉ vỏn vẹn có một quầy nhỏ và một computer. Có một số băng ghế sắt trong khu vực cho hành khách ngồi đợi nhưng quá ít so với nhu cầu, nên hành khách ngồi la liệt dưới đất, khắp lối đi. Một số ông thì ngồi vắt vẻo trên các lan can, bờ tường. Tôi vừa mỏi chân, vừa mệt vừa khát nước, nhưng nhìn quanh cả khu vực không thấy có vòi nước uống nào, cả WC cũng không có, chỉ thấy toàn người là người

Khi lên được máy bay Air France, ngồi yên chỗ quan sát, tôi có cảm tưởng nó là “xe đò bay” thì đúng hơn (khi so sánh với máy bay Mỹ mà tôi vừa đi) vì ghế ngồi và thiết bị cũ kỹ như từ thế kỷ trước. Lúc máy bay cất cánh tôi nghe nó gầm gừ “phành phành” rồi “ạch ạch” như đang cố sức nâng cái thân già nua bốc lên khỏi mặt đất, tôi chỉ lo nó rớt (may là tôi có mua bảo hiểm rồi nên đỡ lo). Cuối cùng sau một hồi “lắc lư con tàu” nó cũng bay lên được… Yên tâm rồi, tôi mệt mỏi ngủ thiếp đi (vì chẳng có phương tiện giải trí nào: nhạc, tivi…).

Cơn khát nước làm tôi chợt tỉnh, thấy chung quanh ai cũng có ly nước, tôi bèn yêu cầu một nam tiếp viên cho xin ly nước, nhưng hắn trố mắt ra ngó tôi như tôi đang đòi hỏi một điều gì quá đáng, rồi hắn phớt lờ (đúng là tính “ga lăng” của đàn ông Pháp đã trở thành quá khứ). Có lẽ họ cho rằng họ chỉ phát nước theo giờ của họ, hết giờ là hết phát? Sau khi yêu cầu 2 lần không được, khát quá tôi đợi lúc bà tiếp viên trưởng đi ngang để lập lại yêu cầu, bà bảo tôi đợi một lát và mang đến cho tôi một ly nước nhỏ. Hình như nước trở thành hiếm quý và cách phục vụ lịch sự cũng hiếm quý luôn!

Ôi Air France! Một thuở mơ ước khi tôi còn học trung học ở Saigon, lúc nhìn những hình ảnh quảng cáo của Air France trên các tạp chí nước ngoài! Ôi mộng và thực đúng là “nghìn trùng xa cách”! Xin tạm biệt Air France và phi trường Paris (kinh đô ánh sáng một thời) mà không mong ngày gặp lại! Có lẽ từ đây nếu có du lịch châu Âu, tôi phải lo học thuộc lòng câu của William Shakespear: “I always feel happy, you know why? Because I don’t expect anything from anyone.”

Tới phi trường Berlin (TXL) lại cũng phải đi cầu thang sắt xuống, rồi đi xe bus vô phi trường, xem ra phi trường này còn nhỏ và thiếu tiện nghi hơn phi trường Paris, tôi lại tiếp tục xách carry-on mệt nghỉ, chứ không kéo đi nhẹ nhàng như ở các phi trường Mỹ. May mà hai nước Pháp và Đức là hai nước lớn lại có nền kinh tế vững mạnh trong khối châu Âu. 

Đúng là có đi ra ngoài mới thấy tiện nghi ở nước Mỹ là số một, đó là chưa kể đến vụ so sánh giá cả hàng hóa ở Mỹ và châu Âu, hàng hóa ở Mỹ vừa nhiều vừa rẻ. Sau này về đến phi trường LAX tôi thấy thật nhẹ nhàng, thoải mái, tất cả đều được chuẩn bị phục vụ chu đáo nhanh gọn, lịch sự.

Đúng là “sweet home”. Ôi! “My beautiful America”. Bây giờ tôi mới cảm thấy thực sự yêu mến và tự hào về quê hương thứ 2 của tôi: Nước Mỹ yêu dấu! Quả là:

“Phải chờ đến xế chiều

Ta mới thấy ánh sáng ban ngày rạng rỡ biết bao!”

Nói đến niềm tự hào về nước Mỹ, tôi lại nhớ đến sự việc trên chuyến Cruise Coastal của Đức vừa đi. Ngày thứ hai lên tàu thì toilet trong phòng bị nghẹt, tôi gọi điện cho họ sửa mấy lần mà tình trạng vẫn không thay đổi, tôi phải xuống chỗ “Customer Service” để xếp hàng đi khiếu nại..

Thật ngạc nhiên khi họ “tỉnh bơ” cho biết không phải chỉ riêng phòng tôi mà các phòng ở tầng 2,5,8 đều bị như vậy, họ đang sửa, khi nào xong họ sẽ thông báo. Tôi bèn hỏi:

– Trong khi chờ sửa, thì khách giải quyết vụ toilet ra sao?

– Đi kiếm mấy cái toilet công cộng mà xài…

– Nhưng chúng ở đâu?

Sau một hồi thắc mắc tới lui, họ mới chịu lục sơ đồ ra để tìm và cho biết một cái ở lầu 9, một cái khác ở lầu 4. Nghĩa là khi hữu sự phải “ôm bụng” chạy vòng vòng mấy tầng lầu để đi tìm cái toilet công cộng và xếp hàng chờ tới phiên. Chắc là dân châu Âu quen kiểu này rồi nên không thấy phiền?

Trở về phòng, tôi bực bội kể lại cho chị bạn cùng phòng nghe, chị là bác sĩ hưu trí ở Đức. Sáng nay chị đã là nạn nhân “ôm bụng” chạy vòng vòng, may mà tình cờ tôi nhớ ra cái toilet công cộng ở lầu 9 cạnh bên nhà hàng, nên chỉ cho chị. Do đó tôi tưởng chị là “đồng minh” bèn nói:

– Hệ thống phục vụ trên tàu quá tệ! Đã vậy xem ra họ còn thản nhiên cho đó là chuyện nhỏ, không hề có một lời xin lỗi khách hàng. Ở Mỹ thì họ đã xin lỗi ríu rít rồi…

Không ngờ chị phản ứng mạnh:

– Mệt quá, Mỹ cái gì cũng tốt, cũng ngon lành hết! Dân Mỹ được nuông chiều quá hóa hư! Bởi vậy trên thế giới, Mỹ đi đâu cũng bị chúng ghét, bị khủng bố cho chết hết là đúng rồi! Lúc nào cũng đòi hỏi thứ này, thứ kia, còn đòi xin lỗi…“nhà giàu đứt tay bằng ăn mày đổ ruột”…

Chị mắng cho một hồi “tràng giang đại hải” mà vẫn chưa hả cơn giận. Tôi ngơ ngác vì bỗng dưng mình bị “giũa” một trận te tua chỉ vì là “dân Mỹ” mà nào tôi có đòi hỏi điều gì cao cấp đâu, chỉ là những nhu cầu căn bản thôi. Thôi “một sự nhịn chín sự lành”, nên tôi nín nhịn vì chị lớn hơn tôi nhiều, coi như mình nhịn “chị hai” trong nhà cho mọi chuyện êm xuôi tốt đẹp trong chuyến đi chơi!

Suy ra mới biết tinh thần “bài Mỹ” ở các nước Âu châu khá mạnh (ghé vô Nga 1 ngày tham quan cũng phải nộp tiền làm đơn xin visa). 

Kiểu này qua các nước Trung Đông chắc bị “xơi tái” quá, nhưng tôi nhớ một lần cách đây 5, 6 năm dân Mỹ qua Ai cập thì lại được đối xử như VIP, đi đâu cũng được ưu tiên và có xe jeep hộ tống “tiền hô, hậu ủng” rất oai!

Hôm sau tâm sự với một chị bạn khác về nỗi ấm ức bị mắng oan. Chị trả lời:

– Chắc tại chị ấy ở Đức lâu, nên ngấm tinh thần “tự tôn dân tộc” của dân Đức, không muốn nước nào qua mặt, mà như vậy là tự ái dân tộc dỏm, vì dù gì mình cũng là người Viết Nam! (Chị cười) Ai bảo Mỹ giàu hơn, mạnh hơn nên dễ bị chúng ghét! 

Tôi chán ngán:

– À thì ra vậy! Hèn gì em nghe người ta thường nói “ở đời mình thua chúng khinh, mình hơn chúng ganh ghét, mình bằng chúng nói xấu”.

Không biết đến bao giờ các dân tộc trên thế giới sẽ sống với nhau trong tâm trạng “để hận thù người người lắng xuống” hầu không còn ai cảm thấy: 

“Đôi khi ta muốn thoát ly

Đi thật xa khỏi cuộc đời này

Xa lìa chuyện ganh đua với chê bai” (Lê Hựu Hà)

Dù sao nhờ có đi ra ngoài, có dịp mở rộng tầm nhìn, có dịp so sánh, tôi mới biết trân quý hơn những điều tôi đang được hưởng mỗi ngày ở xã hội này, mà đôi khi quá quen, tôi cứ xem đó là lẽ đương nhiên, là chuyện thường tình (giống như trong đời sống gia đình có nhiều người có phước có được những bà vợ, ông chồng rất tốt, rất tử tế, nhưng họ không hề biết quý và cứ nghĩ đó là chuyện đương nhiên và bình thường, cho đến khi không còn nữa mới hối tiếc thì đã muộn!).

Khi ý thức lại những tiện nghi của đời sống ở Mỹ mà tôi vẫn xem đó là chuyện bình thường, tôi mới biết đôi khi nó là niềm ước mơ của biết bao người trên thế giới nói chung và dân tộc Việt Nam nói riêng. Họ không chỉ cần những nhu cầu vật chất căn bản của đời sống nhưng còn cần những nhu cầu căn bản về tinh thần (quyền làm người, quyền tự do…) mà họ khát khao nhưng không hề được đáp ứng! 

Xin cám ơn Chúa, xin cám ơn đời đã cho tôi có một cuộc sống tương đối an lành trên xứ Mỹ này, để từ đó tôi biết yêu thương và chia sẻ nhiều hơn với những mảnh đời bất hạnh khác nơi quê nhà, vì có thể “Một tình thương cho cuộc sống đang chờ đợi ta” bởi:

“Tình yêu là trái chín của mọi mùa

Nằm trong tầm với của mọi bàn tay” (Mẹ Theresa)

Phượng Vũ

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở NƯỚC MỸ SỐ MỘT VÌ “TOILET”? _ Phượng Vũ

Một chuyến ra bắc thăm Ba / tác giả Hùng Biên

MỘT CHUYẾN RA BẮC THĂM BA
ĐANG BỊ CS GIAM TÙ CẢI TẠO

Tác giả Hùng Biên

Đôi Dòng về Tác Giả
         – Sinh trưởng tại Gia Định, Sài Gòn trong gia đình có 5 anh em và có ba là cựu thiếu tá phục vụ trong binh chủng Lực Lượng Đặc Biệt và Biệt Động Quân, QLVNCH.  – Là con trưởng và sớm phụ giúp gia đình khi còn bé khi ba bị lao tù Cộng Sản.  – Vượt qua số phận bị kỳ thị trong thi cử của chế độ CS, đã thi đậu điểm cao vào Đại Học Bách Khoa, Sài Gòn năm 1988.  Đi dạy kèm và luyện thi đại học qua các môn toán, lý và hóa tại tư gia từ 1989 tới 1995.
          – Đi tỵ nạn CS theo diện HO tới định cư tại Seattle , WA vào năm 1995. Đã tham gia các đoàn thể thanh niên, sinh viên và tôn giáo tổ chức các sự kiện cho Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia (CĐNVQG) tại tiểu bang Washington (WA) như: Hội Chợ Tết, Tết Trung Thu, Trại Hè, lớp Việt Ngữ, Seafair Parade v… v… Cộng tác với các hội đoàn của CĐNVQG tại WA trong việc tổ chức các lễ hội và kỷ niệm hằng năm.  – Tốt nghiệp đại học ngành Computer Engineering tại University of Washington vào năm 2002 và đang là kỹ sư trong lãnh vực hàng không.
           – Lập gia đình và có 3 con nhỏ, đang sinh sống tại thành phố Atlanta , Georgia.

      Trong những kỷ niệm của đời người, kỷ niệm của tuổi thơ với gia đình, người thân và bạn bè là những kỷ niệm đẹp và mãi theo chúng ta trong suốt cuộc đời. Hạnh phúc thay cho những ai có được những kỷ niệm gia đình thật trọn vẹn bên cạnh sự yêu thương của cả cha lẫn mẹ trong suốt quãng đời thơ ấu. Thế hệ chúng tôi, thế hệ con em của những người lính Việt Nam Cộng Hòa (VNCH), đa số đã thiếu hẳn những hạnh phúc gia đình trọn vẹn này khi có cha bị lưu đày trong các ngục tù Cộng Sản (CS). Thay vào đó, chúng tôi có thật nhiều những kỷ niệm khó quên trong những chuỗi ngày dài tự học hỏi, tự vươn lên, và tồn tại trong xã hội Cộng Sản, mà chúng tôi bị kỳ thị và phân biệt đối xử. Một trong những kỷ niệm của tuổi thơ, đã mãi theo tôi tới hôm nay là cuộc hành trình gian truân cùng với mẹ đi thăm ba, bị giam tù ở Miền Bắc Việt Nam (MBVN).

Giờ đây, tôi vẫn còn nhớ nhiều kỷ niệm, hình ảnh, và ý nghĩ của tôi qua chuyến ra Bắc thăm ba. Qua bài viết này, tôi muốn đem lại cho quý độc giả, nhất là các bạn trẻ và những thế hệ nối tiếp, những sự thật về chế độ CS qua những gì tôi đã nhìn thấy ở tuổi thơ qua chuyến thăm ba này.

Tôi chào đời khi đất nước của tôi chìm trong lửa khói chiến tranh và khi Cộng Sản Bắc Việt (CSBV) theo chủ thuyết Cộng Sản Nga và Tàu xua quân đánh chiếm Miền Nam Việt Nam (MNVN). Thế nhưng, tôi quá nhỏ để nhận biết ra một cuộc chiến tàn khốc đang diễn ra trên quê hương mình. Tôi chỉ hồn nhiên vui cười quấn quýt bên ba khi thấy ông oai phong trong quân phục áo hoa rừng. Tôi nhớ có những lần theo mẹ lên các trại lính thăm ba, mẹ và tôi được di chuyển trên trực thăng chinook và tôi đã khóc vì bị đau nhức tai do áp suất không khí trên cao bị thay đổi. Tôi nhớ hình ảnh của các người lính súng trong tay di chuyển trong doanh trại và tôi có dịp ngắm nhìn những chiếc chinook câu xe và pháo bay về một hướng. Tôi thích nhất là những lần được đưa đón đi học bằng xe jeep khi ba tôi về phép. Hình ảnh tuổi thơ của tôi có ba bên cạnh là như thế đó, không nhiều, nhưng rất đẹp và mãi theo tôi đến hôm nay.

Đến một ngày, tiếng súng nổ rền vang vọng về thành phố Sài Gòn và mẹ tôi đã lùa anh em tôi xuống trốn ở bộ ván trong nhà. Không lâu sau ngày ấy, tôi đã không còn những kỷ niệm tuổi thơ nào với ba và mãi không nhìn thấy ba bên cạnh. Năm tháng dần trôi, tôi sớm nhận ra rằng ngày ấy là ngày 30-4-1975, là ngày đen tối của dân tộc Việt Nam (VN), khi CSBV đã cưỡng chiếm Miền Nam (MN). Từ ngày ấy, đất nước tôi bị cai trị bởi chế độ CS vô thần, dân tộc tôi bị đàn áp đọa đày và gia đình tôi đã bị ly tán và phân biệt đối xử. Là anh cả trong gia đình có 5 anh em, ba bị tù CS khi tôi mới vừa 5 tuổi, tôi đã sớm nhận ra những mất mát thiệt thòi trong tuổi thơ của anh em tôi và trong tuổi thanh xuân của mẹ tôi. Khác hẳn với những đứa trẻ cùng xóm, anh em tôi sớm biết tự lo cho mình từng miếng ăn, cái mặc, đến việc học hành khi mẹ tôi thường xuyên vắng nhà, để tần tảo buôn bán lo kế sinh nhai.  Khác hẳn với những đứa trẻ cùng trang lứa, tôi đã sớm giúp mẹ từ việc nhà đến buôn bán, trông nom và bảo vệ các em tôi.
Đối với tôi, hình ảnh của mẹ giống như con cò lặn lội đồng gần, đồng xa kiếm mồi về nuôi đàn con nhỏ. Có những chiều, anh em tôi ra đứng ở thềm nhà trông chờ mẹ đi bán về. Còn vui nào hơn khi nhìn thấy mẹ, vì mẹ là tình thương và là chỗ dựa duy nhất của anh em tôi khi ấy. Nhớ những ngày tựu trường, mẹ tôi phải lo tiền mua sắm quần áo và tập vở cho 5 anh em tôi. Một mình mẹ chạy tới chạy lui để kịp buổi họp phụ huynh cho chúng tôi. Tôi thương mẹ nhiều hơn và cảm thấy sự thiếu vắng của ba tôi với gia đình.

Có những lần rong chơi cùng lũ trẻ trong xóm, tôi thường được cô bác láng giềng hỏi thăm về ba tôi, như: “Mẹ con có tin tức gì về ba không?”, “Ba con bị giam tù ở đâu?”, “Khi nào ba con về?”… v..v… và v…v… Những câu hỏi ấy luôn gợi cho tôi lòng thương nhớ ba mình và mong ngày được gặp lại. Tôi đã tìm hiểu nguyên do tại sao ba tôi bị giam cầm và tôi sớm nhận ra rằng ba tôi, cũng như các bác tôi, các anh họ tôi, và cậu tôi là những người lính VNCH, đã cầm súng chiến đấu bảo vệ nền tự do dân chủ cho MNVN, chống lại sự xâm lăng của CSBV. Thương nhớ ba, tôi thường hỏi mẹ, “Khi nào ba về?” hay “Khi nào mình gặp lại ba?”.  Hỏi như thế, chứ tôi biết mẹ tôi còn nôn nóng ngày gặp lại ba nhiều hơn anh em tôi. Mẹ luôn trông ngóng những tin tức về ba. Khi được phép viết thư thăm chồng, mẹ luôn cho tôi viết vài hàng thăm ba. Những lá thư đầu tiên trong đời, tôi đã viết thăm ba trong ngục tù CS.

Mùa hè năm 1979, mẹ nhận tin là được phép ra thăm ba tôi, đang bị giam tù tại trại K3, Tân Kỳ, Nghệ Tĩnh. Mẹ sẽ dẫn tôi đi cùng. Tôi quá đỗi vui mừng và đã chạy đi khoe với các bạn cùng sớm và cô bác láng giềng. Mẹ tôi phải làm nhiều hơn và phải bán đi chiếc xe Honda Dame, là phương tiện di chuyển duy nhất của mẹ, hầu có đủ tiền mua vé xe lửa, mua thực phẩm, thuốc men, và quần áo làm quà cho ba. Mẹ báo tin đến bà con xa gần về chuyến đi thăm này. Mẹ và tôi nhận được những tình cảm thân thiết qua nhiều lời nhắn gởi thăm hỏi đến ba tôi từ bà con xa gần và ngay cả các cô chú bác láng giềng.

Sau những ngày chuẩn bị, ngày đi thăm ba tôi đã đến. Chiều hôm đó, sau khi gia đình tôi dùng cơm chiều sớm hơn mọi ngày, mẹ tôi căn dặn các em ở nhà thật ngoan và nghe lời dạy bảo của ông bà ngoại và các dì. Khi tiễn mẹ và tôi ra đến hiên nhà, bà ngoại nói với tôi:

–  Con nhớ nói với ba là ngoại thương nhớ ba con nhiều lắm.

Tôi nhìn thấy những giọt nước mắt lăn dài trên đôi má gầy gò của ngoại. Tôi thương ngoại và hiểu rõ tình cảm của ngoại dành rất nhiều cho ba, cho người con, người lính VNCH. Ngoại tôi đã mất một người con, cũng là người lính VNCH, vào những ngày cuối của cuộc chiến VN. Bà tôi đã khóc thật nhiều và có những lúc bà vẫn tin rằng cậu tôi đang lẩn tránh trong rừng cầm súng chống lại chế độ CS đương quyền. Tôi may mắn hơn các anh em bà con, đã sống gần bên ngoại. Bà đã kể cho tôi nhiều về những gian nan của gia đình hay những dã man của Việt Minh (tiền thân của Cộng Sản), khi ông bà còn sống trong vùng Việt Minh kiểm soát mà hằng đêm dân lành bị quấy phá, cướp bóc, cắt cổ, hay đập đầu.

Khi những tia nắng chiều vừa khuất dạng bên những tàu lá dừa xanh ở căn nhà đối diện, cũng là lúc mẹ và tôi phải chia tay gia đình ra ga xe lửa Bình Triệu. Cùng đi thăm nuôi với gia đình tôi còn có dì Năm, người hàng xóm thân thiết. Dì Năm đi cùng với mẹ chồng ra thăm chú Nguyễn văn Năm, một cán bộ xây dựng nông thôn của VNCH, cũng bị giam giữ tại trại K1 Tân Kỳ, Nghệ Tĩnh.

Lần theo số toa ghi trên tấm vé, mẹ và tôi đến chỗ ngồi trên toa xe lửa. Đây là toa ngồi cho hành khách, với từng cặp băng ghế gỗ đối diện nhau, chen giữa là một cái bàn nhỏ, đặt bên cạnh cửa sổ. Mỗi băng ghế chỉ đủ cho 2 người ngồi. Giữa toa xe có treo một ngọn đèn bóng vàng với ánh sáng yếu ớt chỉ đủ cho người ta nhìn thấy mặt nhau. Ở cuối mỗi toa tàu là nhà vệ sinh mà tiêu tiện không có thùng đựng để rơi rớt tự do qua cái lỗ xuống mặt đường rây.

Xe lửa từ từ chuyển bánh. Ngồi bên cạnh cửa sổ, tôi có dịp ngắm nhìn thành phố vào đêm và tôi có dịp cảm giác những làn gió mát thổi vào mặt. Trong đầu tôi miên man với nhiều suy nghĩ, đó là sẽ được gặp lại ba tôi và sẽ được nhìn thấy những điều mới lạ trong đời. Đêm đã khuya, mẹ tôi phủ lên sàn tàu bên dưới băng ghế một lớp nylon và bảo tôi nằm ngủ trên đó. Nằm sát sàn tàu, tôi nghe văng vẳng tiếng kêu nhịp xình xịch, tiếng ma sát của bánh xe với đường rây kêu ken két, hòa lẫn tiếng còi hụ như hòa nhịp đưa tôi vào giấc ngủ từ lúc nào.

“Trà xanh đây, trà xanh đây”

– Tiếng rao của nhân viên trên tàu đã làm tôi thức giấc. Những tia sáng ban mai xuyên qua cửa sổ làm cả toa tàu sáng lên. Một phụ nữ, trạc tuổi mẹ tôi, và người con cũng trạc tuổi tôi đang ngồi cách chỗ chúng tôi vài dẫy ghế.  Sau khi trao đổi đôi lời, dì ấy và mẹ tôi mới biết là giống nhau, cùng dẫn con đi thăm chồng ở cùng trại K3, ở Tân Kỳ, Nghệ Tĩnh. Vậy là có ba gia đình cùng trên một chuyến xe lửa đi thăm chồng, thăm con, và thăm cha bị lưu đày trên đất Bắc xa xôi. Cả dì ấy và mẹ tôi rất vui vì đã có người đồng hành, có thể nương vào nhau cho chuyến đi này. Tôi có hỏi thăm tên của người bạn trẻ ấy, nhưng thời gian từ ngày đó tới hôm nay đã hơn 35 năm, tôi đã quên mất tên bạn. Xin cho phép tôi gọi bạn ấy là Tuấn trong bài viết này.

Nhìn qua khung cửa sổ xe lửa, một bức ảnh quê hương tuyệt đẹp hiện ra trong mắt tôi. Những dãy núi đồi trùng điệp nối tiếp nhau, cùng những cây xanh mọc trên sườn và với những đám mây trắng lững lờ bay bay trên cao đã tạo thành một bức tranh sinh động của giang sơn Việt Nam, gấm vóc và hùng vĩ. Những hình ảnh xinh đẹp đó tiếp tục hiện ra trước mắt tôi, khi xe lửa uốn lượn theo sườn núi, chui qua hang, hay chạy sát dãy bờ biển xanh thẳm. Nhưng, có những đoạn đường, xe lửa băng qua những cánh rừng và chạy sát những khu dân cư với những căn nhà tranh vách đất thô sơ. Một số người dân đứng trước những căn nhà đó, trong quần áo rất đơn sơ, dõi mắt nhìn theo chiếc xe lửa chạy qua. Tôi đã nhìn ra được những hình ảnh nghèo nàn của các làng quê tương phản với hình ảnh thiên nhiên thật đẹp.

Nhìn vào danh sách các toa tàu in trên tờ lịch túi mà mẹ tôi mang theo, chúng tôi có thể biết trước những ga mà xe lửa sắp đến. Xe lửa vượt qua những ga nhỏ và dừng lại các ga lớn như: Nha Trang, Diêu Trì, và Đà Nẵng, thật lâu để đưa đón khách. Những lần vào ga lớn như thế, tôi có dịp nhìn thấy cảnh náo nhiệt của người đi, người đến, của người mua, người bán. Những người buôn hàng nhảy bổ lên và xuống các toa xe với các bao hàng. Những người bán hàng rong, trong tay với những bịch cơm, thúng bánh, trái cây, hay nước uống chạy dọc các cửa sổ rao bán. Và một lần, tôi đã nghe tiếng “Sim đây, sim đây”. Một thứ trái cây lạ, tôi chưa bao giờ biết. Mẹ tôi kêu người bán sim lại và mua một bịch. Thì ra, đó là trái sim tím có hình tròn, to cỡ đầu ngón tay cái, và có vị ngọt. Cậu thanh niên, ngồi ở băng ghế gỗ đối diện chúng tôi, cho biết rằng hoa của trái sim đã đi vào nhạc phẩm “Những Đồi Hoa Sim”, một bài hát mà tôi rất thích và CS đã cho là nhạc vàng cấm hát ở VN vào lúc đó. Khi xe lửa rời ga, đi ngang qua những đồi hoa tím, cậu thanh niên cho chúng biết đó là những đồi hoa sim. Được ngắm nhìn quê hương và được mẹ cho ăn trái cây lạ hay món ăn lạ không có ở Miền Nam , tôi cảm thấy thật là thú vị. Những cái thú vị đó đã không còn nhiều khi xe lửa tiến dần ra Miền Trung.

Tôi nhớ rất rõ, sau khi rời ga Nha Trang, xe lửa đổi đầu máy chạy ngược hướng lại. Xế trưa, xe lửa chầm chậm chạy qua cầu Đà Rằng, một cầu thật dài trên một cây số. Cây cầu thì dài mà xe lửa chạy thì quá chậm làm cho tôi có cảm giác là xe lửa sẽ không bao giờ rời cây cầu này. Bất thình lình, tôi nghe nhiều tiếng kêu la từ các toa tàu phía trước, “cướp, cướp, cướp”.  Đang bàng hoàng, không biết cướp ở đâu thì tôi nghe tiếng va cạch cạch cạch của thanh gỗ vào các khung cửa sổ và đi ngang qua cửa sổ chỗ tôi ngồi. Khi tiếng kêu vừa xa dần, ngó ra ngoài tôi thấy nhiều người thanh niên đứng trên những thanh chéo zích zắc của thành cầu, tay cầm thanh cây quét đồ vật trên bàn hay chòm vào giật đồ tư trang của của các hành khách. Vô số đồ vật rơi xuống bên dưới dòng sông, vốn chỉ là dòng nước cạn chảy nhẹ qua các mỏm đá. Mùa hè là mùa khô hạn ở Miền Trung, các dòng sông như sông Đà Rằng rất cạn nước, nên những người cướp cạn trên cầu sẽ rất dễ lội xuống lòng sông vớt lên những đồ quơ rớt được.

Màn đêm dần buông, xe lửa vẫn tiếp tục lăn dài trên đường rây. Sau một ngày dài ngồi trên xe, mẹ và tôi ngả lưng sớm. Bất chợt, tôi nghe mẹ tôi hét lên thật lớn “ao…ao…”.  Ngồi dậy, tôi thấy mẹ tôi ôm lấy bàn chân. Thì ra, khi xe lửa vào ga ban đêm, một số người bán hàng rong đánh thức hành khách dậy mua hàng, đã cầm thanh cây dài quét qua các khung cửa sổ, đập vào chân mẹ tôi đang gác chân lên thành cửa sổ trong khi ngủ. Sau đêm đó, để ngủ yên, mẹ tôi cũng như các hành khách khác đều đóng kín cửa sổ nơi mình ngồi. Ở một số ga, cả buổi trưa lẫn tối, người bán hàng còn tạt nước vào cửa sổ để đánh thức hành khách. Để tránh bị tạt nước vào trong toa ban ngày, hành khách phải ngồi sát cửa sổ để cho các người bán hàng trông thấy.

Tôi còn có dịp ngắm thêm vẻ đẹp của rừng núi Việt Nam khi xe lửa vượt qua đèo Hải Vân. Một bên xe lửa là vách núi, còn bên kia là vực sâu thăm thẳm. Ở những khúc đường quanh co, tôi có thể nhìn thấy các toa đầu và các toa đuôi của xe lửa và nó uốn lượn như một con rắn dài đang trườn trên sườn núi. Khi xe lửa ra đến Quảng Trị, tôi thấy nhiều chiếc xe tăng bị cháy hư vẫn còn nằm dọc theo những con đường. Cậu thanh niên ngồi đối diện cho mẹ và tôi biết đây là vùng địa đầu giới tuyến với vĩ tuyến 17 chia đôi đất nước VN. Khi xe lửa vượt cây cầu bắt qua sông Bến Hải, anh ta lại cho biết cây cầu này được xây lên sau 1975 để nối tuyến đường sắt Nam Bắc, mà CS còn gọi là tuyến đường sắt Thống Nhất.

Sau này lớn lên, tôi tự hỏi “Có thật sự là VN đã thống nhất không?” Khi mà vô số những cách biệt thành hình một cách rõ nét trong chế độ CSVN giữa những CS đỏ, giàu sụ chuyên đàn áp và cướp bóc dân lành, và người dân nghèo khó bị bóc lột, giữa nhiều từng lớp giai cấp thống trị qua hệ thống chiều dọc Đảng trị từ trên xuống và người dân thấp cổ bé miệng bị hà hiếp. CSBV đã lợi dụng chiêu bài thống nhất đất nước và giải phóng dân tộc để khích động lòng yêu nước từ già đến trẻ, cầm súng chống Mỹ, mà dã tâm của chúng là làm tay sai và vâng lệnh các đàn anh CS Nga Tàu, gieo rắc chủ thuyết CS lên cả hai mền Nam Bắc của Việt Nam. Vì thế xâm chiếm MN là điều CS Hà Nội, thái thú cho Nga Tàu, đã làm thay cho sự giả dối nói là thống nhất VN hay giải phóng MN.

Sau ba ngày ba đêm, xe lửa vào ga Vinh vào lúc xế chiều. Ga này là điểm dừng cho những gia đình đi thăm nuôi của các trại tù ở Tân Kỳ, Nghệ Tĩnh. Sau khi xuống xe lửa, ba gia đình chúng tôi được các thanh nhiên kéo xe mời chở hành lý và hướng dẫn về nhà trọ. Sau khi thỏa thuận giá cả, anh thanh niên bỏ các hành lý lên thùng xe, rồi ra phía trước choàng dây ngang cổ và hai tay nắm hai tay cầm dài kéo xe chạy, trong khi mẹ và tôi chạy theo sau. Tôi quá đổi ngạc nhiên vì không bao giờ nghĩ là có người kéo xe như thế trên đời này.  Trong hơn một ngày lưu lại ở thành phố Vinh, tôi đã không thấy một chiếc xe mô tô, một chiếc xe xích lô, hay xe ba bánh mà tôi thường nhìn thấy ở Miền Nam .

Sau này, khi học sử nói về thời phong kiến và thời Pháp thuộc, học sinh chúng tôi được học những phương tiện thô sơ thời ấy như xe kéo, xe thồ, và xe lôi.  Tôi thầm nghĩ, có ai trong đám bạn tôi có biết là tôi đã từng nhìn thấy xe kéo vẫn còn được dùng trên thiên đường CS ở đất Bắc. Hóa ra, chế độ CSVN đã tạo “thiên đường” ở đất Bắc ngày đó ngang bằng hoặc tệ hơn với các xã hội phong kiến ngày xưa qua những phương tiện vận chuyển thật thô sơ. Người phu xe kéo hành lý đưa chúng tôi tới căn nhà trọ nằm ở góc trái trong bến xe đò Vinh, về đêm thật vắng lặng. Căn nhà trọ chỉ là một gian nhà vách cây vuông vức, kê bốn bộ ván ở bốn góc nhà. Ba gia đình chúng tôi đã thuê ba bộ ván để ngủ qua đêm.

Sáng hôm sau, tôi thức dậy và không thấy mẹ tôi đâu. Hỏi qua bà cụ (mẹ của chú Nguyễn văn Năm) thì được biết là mẹ tôi và các dì đã ra ngoài mua vé xe đò đi lên Nghệ Tĩnh. Bước ra khỏi gian nhà, tôi nhìn thấy cảnh đìu hiu, khác hẳn với cảnh náo nhiệt buôn bán như những bến xe ở MN mà tôi biết, như Xa Cảng Miền Tây. Điểm chung mà tôi thấy ở bến xe này với những chỗ đông dân như bến xe và các chợ ở MN là những biểu ngữ đỏ hô hào tuyên truyền giăng khắp nơi với cái loa phát thanh thật lớn luôn ra rả ca ngợi Đảng CS vô thần suốt ngày. Gần trưa, mẹ và các dì mới mua được vé xe đò cho chuyến xe sáng hôm sau. Thế là chúng tôi phải ở lại bến xe Vinh qua một đêm nữa.
Không tìm thấy quán ăn nào hết ở bến xe, ba gia đình cùng nhau đi bộ tới chợ Vinh gần đó. Bước vào ngôi chợ, đập vào mắt tôi là một màu xanh, mọi người trong chợ đều mặc quân phục bộ đội CS. Chỉ có chúng tôi trong những tấm vải có màu khác nhau. Thoạt đầu, tôi nghĩ ai cũng là bộ đội CS vì trong họ có người còn đội nón cối bộ đội.

Nhưng sau đó, tôi biết họ chỉ mặc đồ giống nhau thôi, bởi vì họ không có quần áo nào khác. Tôi chợt nhớ lại, Sài Gòn sau năm 30-4-1975, tôi đã thấy nhiều thành phần xu nịnh và đón gió trở cờ, tìm mua quần áo, dép râu và nón cối của bộ đội CS để mặc. Dân MN chúng tôi rất ghét thành phần đón gió trở cờ này. Tôi lại tự hỏi, không lẽ tất cả người dân ở Vinh đều là thành phần xu nịnh CS. Tôi đã không có câu trả lời cho câu hỏi trong đầu khi đó.

Nói là ngôi chợ, nhưng cái chợ Vinh này đã khác hẳn với những ngôi chợ ở MN mà tôi biết. Chợ Vinh chỉ là một gian nhà rộng có bốn vách, không kiểu cách, với những người bán hàng ngồi bẹp xuống đất hay trên sàn gỗ rất thấp. Họ bán những món hàng đơn sơ hay nông phẩm của họ. Đảo quanh một vòng chợ, chúng tôi không thấy một quán ăn nào hết. Mẹ tôi mua một bịch trái hồng quân để ăn cho đở khát và đói. Qua hỏi thăm, chúng tôi được biết gần đó có một “cửa hàng ăn uống”, do CSVN làm chủ.

Dưới cái nắng nóng tàn khốc và những cơn gió khô và hắc, chúng tôi nhễ nhãi mồi hôi đi bộ tới “cửa hàng ăn uống”. Tôi nhớ con đường có nhiều cát bụi và những hạt cát cứ đua nhau chui vào đôi dép tôi mang, tạo nên cảm giác khó chịu. Vốn là đứa bé chân đất thích chạy nhảy, tôi xách dép đi chân không. Đi chân trần không lâu tôi cảm thấy như đi trên lửa và tôi phải mang dép vào. Sau này, qua sách vở tôi biết được tôi đã đi trong cái nóng do gió khô và nóng  thổi từ Lào sang. Hơi nước trong gió đã bị chắn lại bên mạn Tây của dãy Trường Sơn và chỉ còn cơn gió khô nóng tỏa lên trên mãnh đất miền Trung.

Bước vào trong “cửa hàng ăn uống”, chúng tôi không thấy ai phục vụ cho khách ngồi ăn tại bàn cả. Khách phải tự đến quầy mua thức ăn để chọn món ăn. Sau khi trả tiền, khách được đưa cho tem phiếu rồi tự tới quầy nhà bếp để nhận thức ăn. Ngoài món ăn chính, mẹ tôi đã mua thêm “chè xanh” để ăn cho mát. Mẹ và tôi vô cùng ngạc nhiên khi thấy nhân viên trong bếp dùng cái giá làm bằng lon sửa bò để múc nước chè xanh cho vào cái tô. Chúng tôi cầm thức ăn tới bàn ăn, rất dơ, dính đầy đồ ăn, và có vô số ruồi. Cả mẹ và tôi điều ngạc nhiên, “chè xanh” chỉ toàn là nước, không có cái gì hết. Khi uống vào, thì chúng tôi mới biết đó là trà xanh. À ra, “chè xanh” của người MB lại là trà xanh của người MN!

Sau này, tôi suy ra rằng, CSVN theo học thuyết “chuyên chính vô sản” đã tạo ra “thiên đường” trên đất Bắc, khi chúng thi hành chính sách xóa bỏ giai cấp của người dân. Người dân trở thành vô sản, còn mọi tài sản đều nằm trong tay của người CS và đảng của chúng. Người dân được chúng ban phát mọi thứ, từ cái ăn cái mặc cho tới công ăn việc làm. Quần áo là những quân phục do Tàu Cộng cung cấp và lương thực thì được ban phát theo tiêu chuẩn. CSVN đã và đang thuần phục người dân MB qua sự ban phát, để trở thành những con người vô tri vô giác chỉ biết vâng thưa dạ bảo, chờ hưởng bổng lộc và tin tưởng tuyệt đối mù quáng vào đường lối lãnh đạo độc tài của Đảng CSVN. Sau ngày xâm chiếm MN, CS cũng đã đã thực hành những chính sách của chủ thuyết CS như vơ vét tài sản, cưởng bức và tập trung lao động và nắm quyền ban phát mọi thứ, v…v… và v…v… cho người dân MN. Người dân MN từ ấm no, tự do và dân chủ đã đi dần tới nghèo đói, lạc hậu, và mất hết mọi quyền làm người.

Khi ăn trưa xong, chúng tôi đi bộ về căn nhà trọ trong cái nắng gay gắt. Nơi đây không có phòng tắm, vì thế chúng tôi phải ra nhà tắm công cộng ở bến xe. Chúng tôi phải trả tiền cho từng thùng nước giếng, mà cũng chỉ đủ ướt người. Đó là lần đầu tiên tôi thấy nhà tắm công cộng trong “thiên đường” CS khi mà người dân thì quá nghèo nàn, lạc hậu, và bần cùng trong những nhu cầu căn bản sinh hoạt hằng ngày.

Khi trời còn tờ mờ sáng, chúng tôi đã lên chuyến xe đò từ Vinh đi Thanh Hóa. Dù đã mua vé xe, chúng tôi không có chỗ ngồi mà phải đứng trên xe đông nghẹt người, chen lẫn với cả hàng hóa. Xe đò chạy ngoằn ngoèo qua những con đường đầy cát bụi trong cái nắng oi bức và xe dừng lại nhiều lần để đón khách và hàng hóa dọc đường.

Xế trưa, xe dừng lại và người lơ xe cho biết đây là trạm dừng cho các gia đình đi thăm nuôi tại các trại tù ở Tân Kỳ, Nghệ Tĩnh. Cả ba gia đình chúng tôi xuống xe và tôi nhìn thấy một vách núi thật cao bên lề phải của xe. Bước qua bên kia đường, chúng tôi đi vào một con đường nhỏ.  Đây là con đường đất thật dài và không có một bóng râm. Mẹ tôi và các dì với các hành lý nặng trĩu đôi tay, dẫn mẹ chồng và các con lê bước mãi trên con đường trong ánh nắng hực nóng của mùa hè. Chúng tôi phải dừng lại nhiều lần để mẹ và các dì nghỉ tay. Đi mãi trên con đường, cuối cùng chúng tôi tới một ngã tư với bản chỉ dẫn trên tấm gỗ, đi thẳng tới trại K1 và quẹo phải đi tới trại K3. Dì năm và bà cụ tiếp tục đi thẳng đến K1, còn gia đình tôi và Tuấn thì rẽ phải.    Trên con đường này có những hàng cây khuynh diệp trồng dài trên bờ đê cao. Tôi đã chạy trên bờ đê này, bứt vài lá khuynh diệp vò lại và ngửi chúng. Đứng trên cao với tầm nhìn rộng, tôi thấy những cánh đồng trống không khô cạn, không một cây xanh. Những vùng đất trũng không có nước. Tôi cũng không nhìn thấy một ngôi nhà dân nào hết. Thật là vùng đất khô cằn không có sự sống, khác hẳn với miền quê MN với những ruộng lúa, ao mương có cá, cua và ốc, và có những cây xanh như bình bát và dừa mọc dại ven đê mà tôi có thể bắt hoặc hái khi về thăm quê nội hay ngoại.

Khi đi hết hàng cây khuynh diệp, chúng tôi tới căn nhà nằm bên lề phải của con đường và chơi vơi giữa vùng đất hoang vắng, xa xa là những dãy núi cao bao quanh. Căn nhà có ba gian, gian giữa dùng làm phòng thăm nuôi, hai gian còn lại dành cho các gia đình thăm nuôi ngủ lại. Mỗi gian chỉ rộng đủ để kê hai cái giường và không có một vật gì trong đó. Hai gia đình chúng tôi đã vào chung một gian nhà, vì gian nhà kia đã có một gia đình tới ở trước đó.

Ngay chiều hôm đó, qua trò chuyện, mẹ và tôi được biết là sẽ có buổi gặp thăm nuôi của gia đình ở bên gian nhà kia. Đó là người mẹ dẫn theo hai người con trai, lớn tuổi hơn tôi. Gia đình của dì ấy được gọi qua ngồi bên gian nhà giữa. Tôi đã chạy ra đứng trên con đường trước căn nhà và nhìn thấy một hình ảnh thật cảm động. Từ xa xa, tôi thấy hai người công an cầm súng đi bên cạnh hai người tù, mà những cánh tay choàng nhau làm kiệu khiêng một người tù thật yếu. Khi đoàn người tới gần, tôi nhìn thấy bác ngồi trên kiệu thật ốm và đôi chân hình như đã quá teo nhỏ, có thể do bị biệt giam quá lâu hay do bệnh. Một không khí thật buồn, khi tôi thấy cảnh gia đình xum họp và tôi biết rằng tôi sẽ gặp ba tôi cũng tại gian nhà này ngày mai.

Xế chiều, tôi nhìn thấy từng đội người tù đi lao động về ngang qua trước gian nhà từ trái qua phải, với những ánh mắt nhìn vào bên trong gian nhà. Các đội đi thành bốn hay năm hàng dọc và có một tên công an cầm súng đi sau cùng. Tôi chạy sát tới đoàn người tù và có nhiều tiếng nói từ trong đoàn người hỏi thăm với nhiều câu hỏi như: “Con ra đây hồi nào?” và “Ba con tên gì.” Tôi đã trả lời các câu hỏi như: “Con mới ra chiều nay.” và “Ba con tên Nguyễn minh Đường.” Tôi mong mỏi tìm trong đoàn người xem có ai nhận là ba tôi không?  Nhưng không thấy ai kêu tên tôi cả.

Màn đêm phủ xuống dần trên vùng đồi núi Nghệ Tĩnh với những tiếng ễnh ương và bìm bịp kêu đêm. Quang cảnh thật buồn và ảm đạm. Mẹ và tôi nằm co ro trong đêm tối với những ngọn nến thấp sáng phất phơ trong gió. Trong gian nhà không đèn và không cửa, nhìn ra ngoài tôi chỉ thấy một màn đen phủ kín. Sáng hôm sau, tôi dậy thật sớm và đi bộ ngược lại con đường đất mà chúng tôi đã đi vào hôm qua vì tôi biết là các đội người tù sẽ đi về hướng này. Khi ra gần tới ngã tư, tôi đứng lại tại đó vì không biết là các đội sẽ đi hướng nào. Đứng trên bờ đê dưới hàng cây khuynh diệp, tôi thấy từng đội đi về hướng mình. Những ánh mắt trìu mến của các chú bác cùng nhìn về phía tôi, một đứa bé từ Miền Nam ra và có mặt duy nhất tại nơi đó. Các chú bác lại hỏi tôi rất nhiều câu hỏi như ngày hôm qua như: “Con bao nhiêu tuổi?”, “Con ra đây với ai?”, “Có mấy gia đình ra thăm nuôi vậy con?”, “Ba con tên gì?” hay “Đồng bào mình trong Nam thế nào hả con?” Hòa trong những câu hỏi, tôi nghe rất rõ những câu căn dặn:  –    Trưa nay, con nhớ ra ngã tư này lượm các thư tay nha con.   Tôi đã trả lời các câu hỏi và hứa là sẽ ra lại đây trưa nay.

Tôi đứng đó nhìn các chú bác mà lòng cảm thương và quặn đau trong lòng. Các chú bác trong màu áo tù xám bạc đã cũ và không lành lặn, thân hình gầy gò, mặt bơ phờ và rạm nắng. Tôi đã đứng sát ngã tư đó nhìn từng đội người tù đi qua và các đội đã rẽ theo ba hướng khác nhau. Có nhiều chú bác đi qua đã vuốt đầu hay nựng lên khuôn mặt tôi. Tôi đã nhận được rất nhiều tình cảm yêu thương của các chú bác cho một đứa bé trạc tuổi con mình. Tôi đã cảm nhận được sự thương nhớ gia đình và Miền Nam của các chú bác khi ấy.

Sau đó, tôi chạy về gian nhà thì được mẹ cho biết là gia đình tôi và gia đình Tuấn sẽ được cho gặp ba chiều nay. Tôi rất vui và cũng hỏi xin mẹ mấy cái bao ny lon. Mẹ hỏi tôi để làm gì và tôi cho biết là con sẽ đi lượm thư tay trưa nay. Sau khi mẹ cho hai cái bao ny lon, tôi rủ Tuấn cùng thả bộ ra con đường cho vui. Trên đường đi, chúng tôi thấy có rất nhiều chú bác đứng bên trong một hàng rào cây. Tuấn và tôi bước tới thì được các chú bác kêu vào chơi. Nếu tôi nhớ không sai, thì đây là tổ làm đồ nguội vì các chú bác đã cho chúng tôi những cây lược kim loại làm bằng vỏ đạn. Các chú bác đã ôm hôn và tung hứng chúng tôi lên trên không rồi chụp lại. Chúng tôi cũng được các chú bác hỏi nhiều câu hỏi.

Sau khi chia tay với các chú bác, Tuấn và tôi tiếp tục đi xa hơn nữa để tìm xem các chú bác khác đang bị bắt làm việc ở đâu. Đang đi, chúng tôi phát giác ra một hàng rào với những cây xanh thật cao (cao hơn chúng tôi) che kín. Tuấn và tôi rón rén đi dọc theo hàng cây tới trước một cái cổng. Nhìn qua một sân đất, chúng tôi thấy một tên công an, từ bên trong căn nhà bước ra, rồi hét thật to:  –    Đ. M. chúng mày đi đâu đây? Tao sẽ bắt nhốt hết chúng mày.  Gã công an chụp lấy chiếc xe đạp chạy về hướng chúng tôi. Cứ nghỉ là mình bị rượt đuổi bắt, tôi và Tuấn chạy một mạch thật nhanh về tới căn nhà thăm nuôi. Đứng bên trong căn nhà, tôi thấy tên công an đạp xe ngang và chạy về hướng trại K3.

Sau này, tôi nghỉ rằng tên công an này chắc là cán bộ cao cấp của trại nên được cấp nhà ở bên ngoài trại. Hơn nữa, trong khi các công an khác phải dẫn những đội người tù đi lao động thì hắn nhởn nhơ ở nhà. Trên ghế nhà trường hay qua tuyên truyền ở địa phương, chúng ta thường được nghe nói: “cán bộ là đầy tớ của nhân dân hay thế nào là đạo đức cách mạng”. Đó những tuyên truyền dối trá, tương phản với những gì tôi nhìn thấy: Một tên công an chửi thề và hăm dọa hai đứa bé 9 tuổi.

 Với tính hiếu kỳ, tôi đã đi bộ một mình về hướng trại K3 mà tôi chưa đi tới đó. Đi mãi một đoạn đường, tôi thấy một bác thật già ngồi bên trong một cái chòi lá, bên ngoài là những líp cây cà chua mà trái còn non xanh. Tôi đã đến cái chòi và bác đã bảo tôi vào chơi. Tôi rất ngạc nhiên là chỉ có một mình bác ngồi đó không một người bạn tù hay một tên công an canh giữ. Bác cho tôi biết là bác già rồi nên không thể làm việc nặng, vì thế được giao chăm nom những líp cà này. Ngồi trò chuyện với bác, tôi đã quên bẵng đi là mình đã muốn đi tới sát trại K3. Bác cho tôi biết là đã tới giờ các đội sẽ về trại ăn trưa. Nghe tới đó, tôi liền chào tạm biệt bác và chạy nhanh về gian nhà để cùng ăn trưa với mẹ.

Trưa hôm đó, tôi rủ Tuấn cùng đi tới ngã tư để đứng chờ các đội ra đi lao động. Khi từng đội rẽ trái hay phải tại ngã tư, các chú bác đi trước liền liệng những mẫu thư giấy, được cuốn nhỏ, sang hai bên lề đường. Những mẩu giấy bay hàng loạt thật nhanh và rơi rãi khắp nơi. Sau khi các đội đi qua thật xa, Tuấn và tôi chạy sang hai bên lề đường cẩn thận tìm và nhặt hết những mẫu thư tay. Tôi đã cầm hết những bao thư nhặt được về cho mẹ tôi.

Thế rồi giờ phút mong chờ của mẹ và tôi được gặp lại ba tôi đã đến. Mẹ tôi xách các bao quà gởi cho ba dẫn tôi bước qua gian nhà thăm nuôi. Gia đình tôi và gia đình Tuấn được xếp ngồi chung vào một băng ghế ở giữa có cái bàn dài. Ba tôi và ba Tuấn, bị hai tên công an áp giải từ trại K3 ra, ngồi vào băng ghế đối diện. Một tên công an ngồi ở đầu bàn để quan sát buổi thăm nuôi. Khi nhìn thấy ba tôi trong thân hình gầy guộc và khuôn mặt khác lạ hốc hác, mẹ và tôi rất ngỡ ngàng và khóc thật nhiều. Mẹ và tôi đã chòm qua bàn để ôm và nắm tay ba, thì bị tên công an với giọng nói hống hách, hét lên:

– Bà và con bà ngồi xuống tại chỗ cho tôi.

Tôi cảm thấy căm hận về hành động kiểm soát và mất lịch sự của tên công an. Thời gian thăm nuôi chỉ diễn ra khoảng 30 phút dưới sự quan sát và lắng nghe của những tên công an có mặt tại đó, vì thế chúng tôi chỉ xoay quanh chuyện gia đình. Ba tôi đã hỏi thăm về các em tôi, về bà nội tôi, về ông bà ngoại tôi và về bà con xa gần. Mẹ tôi đã kể cho ba nghe về gia đình và mẹ báo cho ba tin buồn là bà nội tôi đã qua đời chỉ vài tháng sau khi ba tôi, các bác tôi và anh họ tôi đi tù CS. Ba tôi cho mẹ biết là qua các lá thư mẹ gởi cho ba tôi trước đây, cho dù mẹ tôi đã không báo tin nội mất vì sợ ba buồn, ba tôi đã có linh tính là bà nội tôi không còn trên cõi đời này.

Ba đã hỏi tôi:

– Con học lớp mấy rồi, học có giỏi không con? Các em con thế nào rồi?

– Con sẽ vào lớp 5 và con học giỏi. Các em rất ngoan và biết nghe lời mẹ. Tôi thưa lại với ba.  Ba tôi đã căn dặn tôi:

– Con là con lớn trong nhà, ráng phụ giúp mẹ và trông em. Giúp các em trong việc học. Ba luôn thương nhớ các con nhiều.

– Dạ, ba. Tôi đáp lại trong lời nói nghẹn ngào không ra tiếng.  Ba bảo mẹ tôi đi nhận lại những đồ vật ba tôi mang theo khi đi tù, vì tù CS không bị kêu án, không biết ngày nào về.

Hòa trong những tiếng khóc, tiếng nức nở cho chồng cho cha, tôi nghe những tiếng quát thật to của tên công an với ba của Tuấn:

–  Anh phải nói chuyện với vợ con anh chứ. Nếu anh không nói, chúng tôi sẽ không cho vợ anh gửi thư, gửi quà hay ra thăm nuôi anh nữa. Mặc cho những lời khuyên và răn đe của tên công an lập đi lập lại, khi lên giọng khi xuống giọng, tôi vẫn không thấy ba Tuấn thốt ra một lời nào với mẹ con Tuấn.

Khi giờ thăm nuôi đã hết, ba Tuấn và ba tôi bị dẫn về trại K3, thì tên công an ngồi lại và nói với mẹ Tuấn là sẽ cho gia đình Tuấn gặp lại ba Tuấn thêm vài lần nữa để khuyên ông nói chuyện trở lại.

Tên công an kể là đầu năm nay (1979) khi ở Yên Bái, ba Tuấn đang đi lao động và đã bỏ chạy về hướng bộ đội Trung Cộng khi chúng đang đánh chiếm qua biên giới VN. Ba Tuấn bị bắt lại và bị đưa vào trại K3 này và từ đó ông không nói chuyện với bất kỳ ai.

Ngày hôm sau, mẹ dẫn tôi qua trại K1 làm đơn nhận lại một số tư trang cá nhân của ba như đồng hồ. Nhờ ở lại thêm một ngày, tôi lại chạy ra ngã tư cả buổi sáng và buổi trưa một mình để chờ và nhặt tiếp các lá thư tay mà các chú bác còn muốn gởi. Tuấn không đi nhặt thư với tôi vì gia đình Tuấn được cho gặp ba Tuấn vào buổi sáng và có thể vào buổi chiều hôm đó. Xế trưa, mẹ và tôi chào tạm biệt mẹ con Tuấn để ra đón xe đò về lại bến xe Vinh.

Mẹ tôi đã để lại những vật dụng mà có thể giúp cho những gia đình thăm nuôi sau này cần đến như những hột diêm quẹt và đèn cầy. Mẹ và tôi đi bộ ra con đường cái. Tới nơi thì trời đã sập tối và tôi thấy dì năm, bà cụ và vài gia đình khác đã ra ngồi chờ xe. Chờ mãi mà vẫn không thấy một chiếc xe nào chạy từ hướng Thanh Hóa về Vinh trong khi trời đã quá khuya, hơi sương lạnh đã xuống thấp. Không thể ngồi ở con đường hoang vắng không một bóng đèn, các gia đình chúng tôi cùng đi bộ ngược lại vào ngủ ở các gian nhà thăm nuôi. Đi trong đêm tối tĩnh mịch dưới một bầu trời không trăng không sao, tôi bắt gặp rất nhiều đom đóm tỏa sáng như mở lối cho chúng tôi về tới gian nhà thăm nuôi. Phần vì đói và khát, phần mệt lả vì chuyến đi bộ dài, một chị trong đoàn chúng tôi đang đi, đã ngã quỵ xuống. Các mẹ và các bà xúm lại xức dầu và giựt tóc mai để cho chị tỉnh lại. Chúng tôi đã đi trong đói khát và sương lạnh về đêm trên quảng đường đất trong vùng rừng núi Tân Kỳ, Nghệ Tĩnh.

Sáng hôm sau, các gia đình chúng tôi dậy sớm và đi bộ ra con đường cái và đã đón được chuyến xe về lại bến xe Vinh.

Ngồi trên xe lửa, tôi mãi mông lung hồi tưởng lại những giây phút, những hình ảnh và những kỷ niệm mà tôi đã ghi lại trong những ngày qua. Tôi đã nhìn thấy sự nghèo nàn đói khổ, đạo đức suy đồi, và tệ nạn cướp bóc dọc đường, sớm được hình thành không lâu sau khi CS cưỡng chiếm MN. Tôi nhận ra được sự dối trá của CS khi rêu rao ở MN là họ đã xây dựng thiên đường CS trên đất Bắc và cái thiên đường đó là những nghèo nàn và lạc hậu của người dân, qua từng cái ăn, cái mặc và những sinh hoạt hằng ngày.

Tôi đã tận mắt nhìn thấy nỗi nhục nhằn trong thân hình gầy guộc và khuôn mặt hốc hác của những người tù CS, bị đày ải làm việc khổ sai trên những vùng đất núi rừng khô cằn và hoang dại.  Tôi nhận được tình yêu thương và thăm hỏi của ba tôi và của các chú bác, mà qua đó tôi đã cảm thấy nỗi thương nhớ gia đình của ba và của các chú bác cho gia đình vợ con và người thân ở Miền Nam .

Tôi đã nhìn thấy sự gian nan và vất vả của các mẹ, các con, và các bà trong hành trình đầy bất trắc và hiểm nguy lặn lội từ MN ra MB thăm chồng, thăm cha và thăm con bị tù đầy trong vùng rừng thiêng nước độc.

Khi xe lửa vượt qua dòng sông Bến Hải xuôi Nam, nhìn qua khung cửa sổ, tôi nhìn một đàn vịt bơi lội trên một dòng kênh. Bỗng chúng cất cánh bay lên, bay về một hướng theo một con vịt đầu đàn. Qua hình ảnh ấy, tôi đã cảm thương cho thân phận mình, cho anh em tôi, và những người bạn đồng cảnh đã không có cha bên cạnh để dìu dắt cất cánh bay lên trong những bước đường của tuổi thơ phía trước.

Khi ra thăm ba, đôi tay của mẹ tôi trĩu nặng hành lý với những món quà được đong đầy những tình yêu thương của mẹ, của anh em tôi, của bà con họ hàng và láng giềng gần xa gởi cho ba. Khi ra về, mẹ tôi đã mang về những lá thư tay, đong đầy những tình cảm thương nhớ của các chú bác, những người tù CS, gởi về cho gia đình vợ con và thân nhân ở quê nhà. Mẹ tôi đã lựa những lá thư ở Sài Gòn và đem đến giao tận tay cho gia đình. Những lá thư ở các tỉnh, mẹ tôi đã gởi tem thư đến cho các gia đình. Tôi rất vui là mẹ và tôi đã làm được điều có ý nghĩa khi giúp mang lại tin tức của các chú bác qua các lá thư về với gia đình.
…………………
Một chuyến ra Bắc thăm ba, đúng vậy, đó là một chuyến duy nhất mà mẹ tôi đã chạy tiền để dẫn tôi ra thăm trong suốt 10 năm ba bị tù đày trên đất Bắc.

Những năm tháng sau này, cuộc sống gia đình tôi dưới sự cai trị độc tài của CSVN, ngày càng nghèo túng, thiếu ăn, thiếu mặc thì lấy đâu ra tiền cho những chuyến thăm kế tiếp. Một chuyến thăm ba thôi cũng đủ để cho tôi nhìn thấy và ghi lại nhiều điều.

Tôi đã ngạc nhiên, đã học hỏi, đã ghi nhận, đã thương cảm, và đã khóc thật nhiều qua một chuyến ra Bắc thăm ba. Tôi đã trưởng thành hơn khi thấy rõ sự thực về Chủ Nghĩa Cộng Sản (CNCS), gian manh và giả dối. Cái chủ nghiã CS, qua tuyên truyền, đã gieo rắc hận thù cho người dân MB lên xã hội tự do và dân chủ của MNVN. Và tôi được biết, có những người dân MB đã ném đá và chửi bới những người tù CS từ Miền Nam ra. Không lâu sau, chính người dân này đã quý mến và thương yêu những người tù CS, cho thức ăn, nước uống và đã thốt ra rằng “Ước gì các chú bác ra đây giải phóng chúng tôi khỏi ách CS.”
Cái chủ nghiã CS, qua tuyên truyền cho sự nghiệp giải phóng MN, đã chiêu dụ và ép bức mọi tầng lớp người dân ở MB, từ già tới trẻ, ngay cả trẻ em 12, 13 tuổi, cầm súng giết hại dân lành cho ý định xâm chiếm MN. Và tôi được biết, rất nhiều người lính CS đã vỡ mộng khi nhìn thấy sự tự do và phồn vinh của phố thị MN sau khi CSBV đã vào xâm chiếm.

Cái chủ nghiã CS, qua tuyên truyền, đã chiêu dụ một số thanh niên MN vào bưng ra Bắc để chống Mỹ cứu nước. Và tôi được biết, rất nhiều người trong đám thanh niên này đã vỡ mộng khi nhìn thấy những sự thật trên đất Bắc qua sự hiện diện của lính CS Nga và Tàu và CSBV chỉ là ngụy quyền do CS Nga và Tàu điều khiển. Những thanh niên MN này càng vỡ mộng khi bị gạt ra khỏi guồng máy cầm quyền sau ngày CSBV đã thôn tính MN.

Cái chủ nghiã CS đã cướp bóc tài sản của dân chúng, đàn áp và thống trị người dân, và băng hoại luân thường đạo lý của dân tộc. Chính CNCS đã phân hóa xã hội VN qua nhiều tầng lớp thống trị do Đảng CSVN cầm quyền xuống tầng lớp bị trị là người dân không có cái quyền căn bản nào của con người. CNCS đã tự cho là xã hội không có giai cấp, nhưng thật ra là xã hội có nhiều giai cấp mà chúng đã ngồi trên đó.

Tôi viết bài này khi giỗ đầu của ba tôi sắp tới, một người lính VNCH đã suốt đời chiến đấu chống CSVN, từ khi trong quân đội VNCH tới lao tù CS, và cho tới những ngày tháng cuối đời.

Thương nhớ ba đã giúp tôi hồi nhớ nhiều kỷ niệm với ba và nhất là gặp lại ba trong tù.

Tôi đã được nghe ông kể nhiều những mẫu chuyện về đời lính kiêu hùng và những năm tháng tù đày gian khổ, trong đó có những người bạn tù bất khuất luôn giữ khí phách trước cường quyền, cai tù CS. Điển hình, bác Nguyễn văn Thuật đã can trường luôn lớn tiếng gọi tên những tội đồ của dân tộc VN ra nguyền rủa như: Hồ chí Minh, Lê Duẫn, Trường Chinh, và Phạm văn Đồng… v…v… và v…v… Ba tôi đã cho tôi hiểu nhiều về Quốc Gia và Dân Tộc và lòng vững tin vào sự thành công trong công cuộc đấu tranh chung của toàn dân VN, xóa bỏ chế độ và chủ nghĩa CS ra khỏi đất nước Việt Nam.

Dòng thời gian có dần trôi, tôi vẫn in đậm những gì đã xảy ra cho gia đình tôi và cho thế hệ chúng tôi trong cái ngục tù lớn của CS. Những mất mát trong tuổi thơ không có cha bên cạnh thì không có gì có thể đền bù được. CSVN đã hèn hạ trả thù bằng cách lưu đày các Quân-Dân-Cán Chính MNVN trong các trại tù khổ sai từ Nam ra Bắc mà chúng giả dối cho là trại “tập trung cải tạo”. Mẹ mất con, vợ mất chồng, và con mất cha đó là những gì CS đã làm cho cái tuyên truyền của chúng, là xóa bỏ hận thù sau khi chiếm MN. Chính CSVN đã, đang và mãi gieo rắc sự căm thù trong lòng của dân tộc VN lên trên vô số những hành động tồi tệ của chúng, nhất là dâng hiến đất đai bờ cõi của VN cho ngoại bang, quan thầy Tàu Cộng.

CSVN ngày nay đang run sợ trước những ngọn lửa đấu tranh của người dân Việt trong và ngoài nước, vì thế CSVN thẳng tay đàn áp và cầm tù các nhà đấu tranh. Liệu CSVN có đủ sức để dập tắt những ngọn lửa đấu tranh nếu cùng bùng cháy một lúc? Những ngọn lửa cùng bùng lên, quyện vào nhau, sẽ trở thành ngọn lửa thật lớn đốt sạch cái chế độ CSVN vô thần. Hơn ai hết, người CS thừa biết ngày ấy sẽ đến và chúng đã và đang tìm đường tháo chạy bằng cách gởi con em ra các nước phương Tây để bảo lãnh cho chúng sau này. Hiện tại, người CS bám víu vào chế độ CS chỉ vì quyền lợi cho cá nhân và an toàn của gia đình chúng. Vì ngày tàn của chế độ CS là ngày chúng bị đền tội trước dân tộc VN và trước nhân loại yêu chuộng tự do và hòa bình của thế giới.

Tôi tin chắc ngày ấy sẽ tới và bạn cũng hãy vững tin nhé!

Hùng Biên Atlanta , 10/14/2014

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Một chuyến ra bắc thăm Ba / tác giả Hùng Biên