Các Danh Mục

VỀ CHUYỆN ĐEO KHẨU TRANG_St
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở VỀ CHUYỆN ĐEO KHẨU TRANG_St
Sự thật về “Người như từ cõi chết trở về”_YouTube (Nửa Vòng Trái Đất)
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Sự thật về “Người như từ cõi chết trở về”_YouTube (Nửa Vòng Trái Đất)
Lời TT Trump Nói Với Con Trai_St
Không biết đây là lời của TT Trump nói với con thật hay là “fake news” nhưng dù sao cũng là lời khuyên hữu ích của một người cha cho những người con :
“Con trai yêu dấu!
Đời người phúc họa vô thường! Không một ai biết trước mình sẽ sống được bao lâu, sống một cuộc đời sau này sẽ như thế nào? Có một số việc tưởng nên sớm nói ra thì hay hơn.
Cha là cha của con, nếu cha không nói với con, có lẽ không ai nói rõ với con những điều này!
Những lời khuyên để con ghi nhớ này, là kết quả bao kinh nghiệm xương máu, thất bại đắng cay trong cuộc đời, mà bản thân cha đã trải nghiệm. Nó sẽ giúp con tiết kiệm nhiều những nhầm lẫn hoang phí trên bước đường trưởng thành của con sau này.
Dưới đây là những điều con nên ghi nhớ trong cuộc đời:
– Nếu có người đối xử không tốt với con, đừng bận tâm cho mất thời giờ. Trong cuộc đời này, không ai có nghĩa vụ phải đối xử tốt với con, ngoại trừ Cha và Mẹ của con. Nếu có người đối xử tốt với con, ngoài việc con phải biết ơn và trân quý, con cũng nên thận trọng suy xét, vì người đời làm việc gì thường có mục đích và nguyên nhân. Con chớ vội vàng xem đối phương là chân bằng hữu .
– Con có thể yêu cầu mình phải giữ chữ TÍN, nhưng không thể bắt người khác phải giữ chữ TÍN với mình. Con có thể yêu cầu mình phải đối xử TỐT với người khác, nhưng không thể kỳ vọng người khác phải đối xử TỐT với con. Con đối xử người ta thế nào, không có nghĩa là nguời ta sẽ đối xử lại mình như thế ấy, nếu con không hiểu rõ được điểm này, sẽ tự chuốc lấy buồn phiền cho mình mai sau.
– Trên đời không phải không có người nào mà không thể thay thế được, không có vật gì mà nhất định mình phải sở hữu được. Con nên hiểu rõ ở điểm này. Nếu mai sau rủi người bạn đời không còn muốn cùng con chung sống, hoặc giả con vừa mất đi những gì trân quý nhất trong đời, thì con nên hiểu rằng: Đây cũng không phải là chuyện lớn lao gì cho lắm!
– Trên đời này chẳng hề có chuyện yêu thương bất diệt. Ái tình chỉ qua là một cảm xúc nhất thời. Cảm giác này tuyệt đối sẽ theo thời gian, hoàn cảnh mà thay đổi. Nếu người yêu rời xa con, hãy nhẫn nại chờ đợi , để thời gian từ từ gột rửa, để tâm tư mình dần dần lắng đọng thì nỗi đau thương cũng sẽ từ từ nhạt nhòa đi . Không nên cứ ôm ấp hoài niệm mãi cái ảo ảnh yêu thương, cũng không nên quá bi lụy vì tình.
– Đời người ngắn ngủi, nếu hôm nay con đã lãng phí thời gian, mai đây hiểu được thì thấy rằng quãng đời đó đã vĩnh viễn mất rồi! Cho nên càng biết trân quý sinh mạng của mình càng sớm, thì con sẽ được tận hưởng cuộc đời mình càng nhiều hơn. Trông mong được sống trường thọ, chi bằng con cứ tận hưởng cuộc đời mình ngay từ bây giờ.
– Cha không yêu cầu con phải phụng dưỡng cha trong nửa quãng đời còn lại. Ngược lại, Cha cũng không thể bảo bọc nửa quãng đời sau này của con, khi mà con đã trưởng thành và tự lập. Đây là lúc Cha đã làm tròn trách nhiệm của mình. Sau này con có đi xe buýt hay đi xe hơi riêng; ăn súp vi cá hay ăn mì gói, tự con lo liệu lấy.
– Gia đình thân nhân chỉ là duyên phận một đời. Bất luận trong kiếp này chúng ta sống chung với nhau được bao lâu và như thế nào, nên trân quý khoảng thời gian sum họp, gia đình đoàn tụ. Kiếp sau, dù ta có thuơng hay không, cũng không chắc sẽ còn gặp lại nhau.
– Tuy có nhiều người thành công trên đường đời mà học hành chẳng đến đâu. Nhưng điều đó cũng không có nghĩa là không cần học hành mà vẫn thành công. Kiến thức đạt được do việc học hành, là vũ khí trong tay của mình. Ta có thể lập nên sự nghiệp từ hai bàn tay trắng, nhưng không thể thiếu sự hiểu biết. Nên nhớ kỹ điều này!
– Hơn mười mấy, hai mươi mấy năm nay, Cha tuần nào cũng mua vé số, nhưng đến nay, ngay đến giải 3 vẫn chưa từng trúng. Điều này chứng tỏ rằng: Muốn phát đạt phải siêng năng làm ăn, nỗ lực phấn đấu chứ không phải chờ đợi điều may mắn đến với con. Trên thế gian này không có buổi ăn trưa nào miễn phí cả. Nếu may mắn có đến với con, đấy là điều tốt, còn nếu không thì cũng chẳng có vấn đề gì, bởi tất cả phải dựa vào chính bản thân con.
– Con hãy BIẾT ƯỚC MƠ, nhưng để trở thành hiện thực thì ước mơ đừng xa rời thực tế, đừng hão huyền và ảo tưởng. Con phải LUÔN CÓ NIỀM TIN. Không chỉ là niềm tin vào chính bản thân mình mà con cũng cần có niềm tin vào mọi người, niềm tin vào cuộc sống. Nếu không có niềm tin, con sẽ chẳng thể làm được việc gì. Công việc, cuộc sống đôi lúc sẽ có những khó khăn, trở ngại đòi hỏi con phải LUÔN NỖ LỰC. Để có được những thành công thì không thể thiếu sự cố gắng và say mê, con ạ. Hãy nhớ rằng THÀNH CÔNG KHÔNG PHẢI LÀ MỘT ĐÍCH ĐẾN MÀ LÀ MỘT QUÁ TRÌNH. Vì thế, con hãy tiếp tục ước mơ, tiếp tục tin tưởng và không ngừng nỗ lực, con nhé.”
Nguồn: St
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Lời TT Trump Nói Với Con Trai_St
Tháng Tư Đen “đổi đời”, người ra đi, kẻ ở lại_Ký Thiệt
Tháng Tư Đen “đổi đời”, người ra đi, kẻ ở lại
(Sổ Tay Ký Thiệt 145)
Trong những bài viết về Tháng Tư Đen năm nay, có bài của một nhân viên Bộ Y Tế VNCH (1975) về mấy ngày cuối cùng ở Sài-Gòn mà ông ta tìm đường ra đi và những ngày đầu tiên nơi ông ta đến, kể lại những điều mình thấy và mình nghĩ. Ai không trải qua kinh nghiệm ấy, đọc xong, có thể nhắm mắt tưởng tượng cảnh nước mất nhà tan nó hãi hùng, kinh khủng, tuyệt vọng, điên khùng, thê lương…ra sao:
Tối 27/4 chúng tôi vào Tân Cảng nằm chờ tầu đi Phú Quốc. Vào đến nơi đã thấy cả trăm người nằm ngồi la liệt ở trại, sau một đêm nằm trong connex, được xem lén T.V. thấy cụ Hương quần áo trắng, rút khăn trắng lau nước mắt trao quyền cho tướng Minh, cụ run run nói: “Tôi xin hỏi Đại tướng giờ đây Đại tướng lấy thế gì để nói chuyện với bên kia ? Thế này là thế mất nước”. Cụ Trần Văn Hương tốt nghiệp Cao Đẳng Sư Phạm đồng môn với thân phụ tôi ở Hà Nội thời 1925- 26. Có lẽ cụ là nhà chính trị hiếm hoi trong lúc này còn giữ được lòng yêu nước yêu dân, hình ảnh một ông già khóc vì vận nước là hình ảnh một thuở Chiến Quốc đẹp bi hùng nhất sử Việt mà mấy chục năm sau tôi vẫn không quên được và vẫn thấy rung động như đọc truyện ĐCLQ!
Không như tên dân biểu B. nước sắp mất còn thèm cái ghế bộ trưởng, thì thọt hão huyền “Bảo Đại về là xong hết, cụ Huyền làm Thủ Tướng, tướng Kỳ làm Quốc Phòng..v.v…” Giữa cuộc tranh đấu sống còn mà trong đầu sẵn một chữ Hoà, thì ắt là phải Thua. Nói chung, rất nhiều thanh niên sinh viên xuất thân từ các địa phương nghèo, tỉnh nhỏ, muốn vùng lên tìm cho chính mình một chiếc chiếu danh dự trong xã hội, họ rất dễ ngả sang tả phái, ngỡ đây là môi trường tiến thân, sôi nổi phá phách nền móng cũ, tiêu diệt đối thủ, rút cuộc chẳng thấy xây dựng được chút gì khả dĩ gọi là cách mạng ngoại trừ thỏa mãn cái Tôi vọng động, ghen ghét khả ố của chính mình. Chống đối để xác định một cái Tôi mù mờ chưa khôn lớn chín chắn, chính là ngọn lửa sân hận oan oán trùng trùng duyên khởi ác nghiệp đốt cháy thế gian. Oái oăm thay, không ít các chú tụng một bồ Các Mác dại dột chơi lửa hận ấy, và chính mấy gã di cư chạy CS 1954 cũng bị mê hoặc vào mấy chữ hoà bình thống nhất, một số vẫn mang mặc cảm thầm kín tự trị, nghênh ngang riêng một góc trời, rút cuộc mắc vào tròng bịp bợm quốc tế, anh chạy trối chết, anh kẹt như “gái ngồi phải cọc”, ông bạn đồng nghiệp của tôi, Nguyễn v. T. gặp lại ở Philadelphia cúi gầm, than : hành động của chúng tôi trong quá khứ sớm làm mất miền Nam, một lời sám hối nửa vời, thành thử vì óc phân hoá mà miền Nam mắc bẫy, vì lý tưởng hoà bình hão huyền mà người ta trao trứng cho ác, vòng ngoài lũ nặc nô Âu Mỹ Do Thái lấy nước nhược tiểu làm bãi chơi, miệng hút cần sa, lưỡi phun độc tố !
Cho đến sáng 28/4, sau đêm chứng kiến cảnh thả bom dinh Độc Lập và súng Hải quân bắn lên ầm ầm, cũng chưa ai dám nghĩ là Sàigòn có thể mất nhanh thế. Ngồi ở vọng canh xem binh sĩ Dù xả súng bắn đại đội VC về gần xa lộ và thấy trực thăng còn quần thảo trên trời, bên trong Tân Cảng người Mỹ mở kho P.X. cho ai muốn vào lấy gì thì lấy, tôi bỗng thấy lòng quặn đau trước cảnh tao loạn: dưới quân sĩ ghì súng chặn địch, trên nóc nhà mấy ông phóng viên ngoại quốc thâu hình như quay ciné, trong trại dân chúng nằm chờ tầu ra đi! Giữa lúc hỗn loạn một số người bỏ ra về, trở lại Sàigòn. Chúng tôi, 3 người, một dược sĩ quê Sóc Trăng, một bác sĩ quê Bến Tre, và tôi dân di cư Hà nội 1954, nghĩ có về cũng kẹt thà cố ở lại chờ xem sao, may ra có tầu đi, con tầu Đại Hàn Pioneer Boohung vẫn nằm kia chưa tách bến, còn hy vọng…
Đúng 11 giờ sáng 29/4 chừng mươi người Mỹ lên tầu và sửa soạn cho tầu rời bến, dân chúng chờ đợi suốt đêm được lần lượt leo lên tầu, mấy thủy thủ Đại Hàn nhìn chúng tôi ái ngại thông cảm trong khóe mắt. Tầu ra tới gần Vũng Tàu mới có khoảng hai ba trăm người nên hầm tầu rộng rãi thoải mái.
Đáng lẽ chỉ mất có hai, ba ngày là tới Phi Luật Tân nhưng tầu dừng lại 10 ngày để vớt các thuyền nhỏ, đa số là dân chúng từ Phước Tỉnh, Phước Hải leo dần lên tầu, tới 3000 người. Một chiếc xuồng chở cả xe Citroen của một vị linh mục, xe gắn máy… bị ném xuống lòng biển cả.
Sau mấy ngày lênh đênh, ngủ ngồi, ăn cơm khô của lính, sáng ngồi boong tầu nhìn sóng, mặt biển đầu tháng Năm thật êm, chúng tôi tới Subic Bay Phi Luật Tân ngày thứ Ba 6 tháng 5. Tới đây mới thấy cơ quan Mỹ đã lập trại tỵ nạn sẵn sàng từ bao giờ. Một anh lính Mỹ vui đùa “cười lên tí nào” (smile, smile) thật hỗn hào vô duyên, cái hỗn hào vô ý thức của đám dân văn minh Coca Cola mà Bác sĩ Rankins, tân Giám Đốc WHO không hết lời chửi rủa. Nhưng sau nghĩ lại, dân Mỹ là dân rất mới, lập quốc 200 năm trong những điều kiện khác hẳn các nước khác, xã hội tổ chức tử tế, ăn mặc dư thừa, sang xứ khác, đầy sân hận lạc hậu nhỏ nhen, họ không thể hiểu được và không thể thông cảm được.
Sau 5 tuần chúng tôi lên máy bay đi đảo Guam ngày 7/6, ở đây trại tràn đầy ánh nắng chói chang bụi bậm không như ở Subic Bay, may thay ở một ngày đã được rời vào Anderson Airport chờ chuyến bay vào Mỹ. Trại của Không quân, rất sạch sẽ, nên ai nấy đều thoải mái.
Trong trại tôi gặp lại Giáo sư Lê Trung Nhiên, quyền Khoa Trưởng Văn Khoa, tháng trước còn gặp ông ở Văn Khoa xin ký giấy tờ tài liệu, gặp thêm cả một cô sinh viên Minh Đức mấy tuần trước thầy trò còn ngồi trong lớp học hành thi cử như thuở thanh bình!
Chờ tới một tuần sau, ngày thứ Sáu 13/6 chúng tôi lên máy bay vào Indiantown Gap, tiểu bang Pensylvania, một trại binh rộng rãi, quy củ, bỏ trống, ở đây ăn ngủ dưỡng sức bắt đầu đời mới. Bạn bè cũ lác đác gặp nhau thật quý hóa, đúng với cái câu “tha hương ngộ cố tri”, tưởng đâu màn sắt đã buông xuống thì chẳng bao giờ còn gặp lại bạn bè thân nhân nữa!
Trong trại nhìn ông hổ tướng Nguyễn Đức Thắng đi xếp hàng ăn cơm, ông không cần trốn tránh, một quân nhân được đồng bào yêu mến kính trọng, một ông tướng đúng mặt tướng.
Cơ quan bảo trợ Tolstoi xếp đặt đưa tôi lên Boston cuối tháng 6, do một cô bạn học Mỹ cũ bảo lãnh, năm sau gặp vị cựu Tổng trưởng Y Tế, bác sĩ Trần Minh Tùng lên nội trú bệnh viện ở Boston, ông nhận định “ở xứ người, mình chỉ dùng được sở đoản chứ không dùng được sở trường”, một vị bác sĩ nguyên Giám đốc trường Quân Y, một cựu Tổng Trưởng Y tế, cựu Thượng nghị sĩ, nay sáng sáng đi tập lấy tuỷ sống ! Gần đây khi đọc bài cụ Nguyễn Mạnh Tường nhận định: “chỉ ở trên mảnh đất quê hương mình mới có sức mạnh… chỉ có quê hương mới là sân khấu của mình…”. Thế hệ I di dân chẳng giữ vai nào trên sân khấu mới, dù là vai nhắc tuồng kín đáo dưới gầm sân khấu, và có lẽ đúng hơn, thế hệ từng gắn bó với quê hương, chẳng thấy hào hứng gì trên sân khấu với đám khán giả xa lạ, lạc lõng, với thời, thế, cơ, khác hẳn, như Trạng Trình từng tiên tri:
Bấy giờ kẻ Tấn người Tần
Người Ngô kẻ Sở khôn bề tựa nương!
Hạ Long Lưu Văn Vịnh)
(ngưng trích)
Và, đây là cuộc “đổi đời” vào ngày 30.4.1975 của một kẻ ở lại, một luật sư tại Sài-Gòn:
Cuối tháng 3.1975, dân Sài-Gòn đã rục rịch lo chạy. Vậy mà khi ấy tôi chẳng nghĩ đến đi đâu. Không phải tôi thích cộng sản hay không sợ cộng sản. Nhưng tôi có vài lý do để quyết định “ở lại”. Một là tôi tin tưởng Quân đội VNCH không thể tan hàng một cách dễ dàng và mau chóng sau hai mươi năm chiến đấu vẫn giữ vẹn toàn lãnh thổ miền Nam, nhất là qua hai trận Tết Mậu Thân 1968 và “Mùa hè đỏ lửa” 1972, “thiên tài quân sự” Võ Nguyên Giáp của “Quân đội Nhân dân” CSBV đã lợi dụng yếu tố bất ngờ đánh úp, tung toàn lực tổng tấn công định “dứt điểm” miền Nam Việt Nam, nhưng cuối cùng đã đại bại. Lý do thứ hai là nhiều người thân của tôi, trong đó có em ruột và em rể tôi, còn đang ở ngoài mặt trận, họ đang đổ máu vì mình, họ nghĩ gì nếu biết mình đang tìm đường bỏ chạy ra ngoại quốc?
Sự tin tưởng của tôi đã trở thành mù quáng khi vẫn bình tâm ở Sài-Gòn trong lúc vợ và đứa con trai nhỏ của tôi còn ở Đà-Lạt. Trước khi trở thành một luật sư, tôi làm công chức và sống với vợ con ở Đà-Lạt. Khi đổi nghề, tôi về Sài-Gòn một mình trước vì vợ dạy tại Trường Nữ Trung Học Bùi Thị Xuân, chưa xin thuyên chuyển được, định hai tháng nữa, mãn niên học, tôi sẽ lên Đà-Lạt đón vợ con về Sài-Gòn luôn.
Một hôm, Đại tá Đỗ Tùng, nguyên Đổng lý Bộ Quốc Phòng, gặp tôi ở Văn phòng luật sư, hỏi thăm vợ con tôi. Khi biết họ còn ở Đà-Lạt, ông đã trợn tròn đôi mắt, nói lớn như ra lệnh: “Anh phải bay ngay lên Đà-Lạt đưa chị và cháu về đây!”
Tôi gọi điện thoại ngay cho người quen làm trong Air Việt Nam nhờ mua vé lên Đà-Lạt ngày hôm sau và trở về Sài-Gòn sớm nhất cho cả gia đình.
Thành phố Đà-Lạt an bình suốt những năm tháng trong cuộc chiến dài, đang rúng động, xao xác, sau khi Ban-Mê-Thuột thất thủ. Nhiều người đã bỏ đi, cửa đóng then cài. Gặp Luật sư Hoàng Huân Long (Hoàng Cơ Long), “Tư lệnh Sư đoàn Nhân dân bảo vệ TP Đà-Lạt” (do tỉnh trưởng mới thành lập), trước Chợ Hòa Bình, tôi hỏi tình hình ra sao. Ông cười gượng gạo: “Hôm nay còn bình an!”
Ngày hôm sau, chúng tôi đóng cửa nhà, với đồ đạc y nguyên bên trong, xách mấy va-li quần áo lên máy bay về Sài-Gòn. Mấy ngày sau, Đà-Lạt rút quân, di tản, bỏ ngỏ thành phố.
Không bao lâu sau, Sài-Gòn bắt đầu lên cơn sốt với dân tị nạn từ miền Trung tiếp tục đổ vào và tiền quân CSBV đã áp gần thủ đô, trên Xa-lộ Biên Hòa đã thấy xuất hiện nhiều nút chặn chống xe-tăng với sinh viên các quân trường cũng được đưa ra ứng chiến, sẵn sàng cho trận đánh đầu tiên và cuối cùng. Mọi người quay cuồng tìm đường ra đi, và nhiều người đã ra đi. Tại Tòa án Sài-Gòn đã vắng mặt một số thẩm phán, luật sư, biện lý…
Văn phòng Pháp Lý do Ls Nguyễn Phượng Yêm làm chủ cũng đã ra đi một nửa, trong đó có Ls Phạm Kim Vinh và Thẩm phán Nguyễn Hữu Dương. Một hôm ông Yêm hỏi tôi: “Mét” (Maitre, theo tập quán xưng hô với đồng nghiệp của giới luật gia thời Pháp) có định đi không?” Tôi đáp: “Không.”
Ông cầm tay tôi, nhìn tôi với đôi mắt mỏi mệt, cố giữ cho giọng nói đừng run: “Mét’ ở lại chắc là không sao. Tôi thì khác. Chúng nó mà vào đây thì chúng ‘bụp’ tôi ngay. Tôi phải cố tìm đường đem vợ con đi. Mẹ tôi không chịu đi. Nhờ ‘mét’ giúp tôi lo cho cụ. Nếu còn làm ăn được, xin ‘mét’ mỗi tháng cho cụ ít tiền đủ sống tạm trong lúc loạn lạc. Nếu chúng nó cướp được miền Nam này thì nhờ ‘mét’ đưa mẹ tôi vào Chùa Tam Tông Miếu. Tôi đã nói chuyện với Chùa để cụ có chỗ nương thân.”
Đó là lần cuối cùng tôi gặp ông Yêm. Sau đó, tình hình biến chuyển nhanh đến chóng mặt. Tôi nằm nhà suốt mấy ngày, ôm chiếc ti-vi theo dõi thời cuộc, không dám bước ra đường. Ngày 2 tháng 5, tôi lái chiếc xe Volswagen con cóc cẩn thận rời nhà ở Cư xá Thanh Đa, sang Khu Nguyễn Tri Phương vấn an mẹ tôi.
Đường xá, phố phường này tôi đã thân quen trong mấy mươi năm sao lúc ấy thấy như đang lạc vào một nơi chốn xa lạ. Những lá cờ đỏ máu này, những con người cổ quái này như xuất hiện trong một cơn ác mộng. Một cảm giác sợ hãi làm tôi ớn lạnh.
Sau khi thăm mẹ tôi và biết mọi người bình an, kể cả hai người em đã về nhà sau khi tan hàng, tôi xuống đường Lê Lai thăm bà mẹ Ls Nguyễn Phượng Yêm. Tôi hỏi: “Anh Yêm đưa gia đình đi thoát rồi, phải không, thưa bà?” Bà cụ gật đầu rồi chắp hai tay, ngửa mặt khấn nguyện: “Cầu trời khấn Phật cho cha con nó đi bình an. Thời buổi chi mà khốn khổ như ri? Suốt mấy đời chạy giặc!” Rồi bà cúi xuống, thấy tờ “Sài-Gòn Giải Phóng” số đầu tiên với ảnh Hồ Chí Minh chiếm gần một phần tư trang nhất để bên cạnh, bà cụ giật tờ báo, đặt xuống đít, ngồi lên mặt HCM, nghiến răng: “Cũng vì thằng già ni!”
Bà cụ cùng quê với HCM, và là nạn nhân của chiến dịch “cải cách ruộng đất” đầu tiên ở Nghệ An, đã may mắn cùng các con trốn qua Lào và thoát được vào Nam trước Hiệp định Genève. Tôi không biết lý do thực sự khiến bà quyết định ở lại Việt Nam, dù con cháu đều ra đi. Ông Nguyễn Phương Thiệp, anh Ls Nguyễn Phượng Yêm, khi đó làm Đại sứ VNCH tại Tây Đức, có xin cho mẹ một chỗ trên chuyến bay rời khỏi Sài-Gòn, nhưng bà đã từ chối cái chỗ mà bao nhiêu người đang mơ ước. Bà có người con trai, Nguyễn Phượng Nhu, em ông Yêm, làm phi công cho Air Việt Nam bị chết trong một tai nạn máy bay ở Quảng Tín năm 1974 và được an táng trong nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi. Không biết có phải đó là lý do khiến bà ở lại. Trái tim của một bà mẹ Việt Nam có lý lẽ riêng, không ai hiểu được. Vài ngày sau, tôi thu xếp đưa bà cụ vào Chùa Tam Tông Miếu trên Đường Cao Thắng.
Cũng trong mấy ngày tới lui lo cho bà cụ, tôi được biết ông Trần Chánh Thành đã tự sát, do người nhà tới báo tin và cho biết ông có cơ hội để ra đi nhưng đã từ chối. Câu nói cuối cùng của ông: “Đi đâu bây giờ? Mỹ à? Họ đã bỏ rơi cả dân tộc này cho cộng sản, mặt mũi nào mà tôi bỏ chạy theo họ?”
Nhật báo Tiền Tuyến có một Văn phòng trên đường Lê Lai, ngay bên cạnh VP Ls Nguyễn Phượng Yêm, để tiếp xúc với độc giả và thân chủ quảng cáo. Có một cô thư ký, con một Thượng sĩ, làm việc tại đây. Tôi được tin hai cha con đã tự sát vào ngày 30.4.1975 sau khi TT Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng. Nghe tin này, lòng tôi se lại, mắt cay cay.
Một hôm tôi nhận được lệnh tới trình diện “Tổ Luật” tại “Hội Trí Thức Yêu Nước” ở Đường Duy Tân. Tới nơi mới biết Tổ trưởng Tổ Luật của “Hội Trí Thức Yêu Nước” là Thẩm Phán Trần Thúc Linh. Nhớ lại trước đó mấy tuần, một hôm tất cả luật sư và thẩm phán tại Tòa Án Sài-Gòn đã ngưng công việc trong một giờ để bước ra thềm trước Tòa, phản đối Tổng Nha Cảnh Sát bắt giam ông Trần Thúc Linh, và yêu cầu chánh quyền trả tự do cho ông. Bây giờ Thẩm Phán Trần Thúc Linh ngồi trước mặt tôi, nhân danh “cách mạng”, phán: “Luật ở đâu, thời nào thì cũng phục vụ giai cấp thống trị. Làm chủ đất nước bây giờ là giai cấp công nhân lao động. Các anh cần biết như vậy để chấp hành pháp lệnh của cách mạng.” Không có trường luật nào dạy sinh viên như vậy. Tôi nghe mà chẳng hiểu gì cả, và sau mười ngày học tập chính trị, ngồi nghe vài viên chức trong ngành tư pháp từng sống bằng tiền lương của chế độ cũ nay thay phiên lên kể tội chế độ ấy và nói toàn giọng “cách mạng 30”, tôi không bao gờ lại Hội Trí Thức Yêu Nước nữa. Nghe nói về sau ông Trần Thúc Linh đã được “cách mạng” cho đi Pháp, sau khi đóng trọn vai trò “tên ngốc hữu dụng”.
Trước cuộc “đổi đời” khổng lồ đang diễn ra trong xã hội miền Nam VN lúc ấy, tôi không tìm được lối đi thì một hôm, một người bạn cũ đã hiện ra trước mắt tôi như một con ma đội mồ sống dậy sau 20 năm biến khỏi trần gian. Nguyễn Hữu Lộc. Người bạn học cũ của tôi ở Sài-Gòn. Rất thân với nhau. Lộc là con của chủ tiệm vàng Tân Việt trong Chợ Lớn, bảnh bao ngon lành như “dân cậu” con nhà khá giả của đất Sài Thành thuở ấy. Bỗng một hôm vào năm 1955, Lộc hẹn gặp tôi tại cái công viên nhỏ trước Sân Cộng Hòa. Sau khi liếc quanh không thấy ai khác, anh ta nghiêm giọng nói: “Ngày mai tôi sẽ đi tập kết ra ngoài Bắc.” Tôi liếc nhìn mặt Lộc xem có phải nó nói đùa không. Nó biết tôi đang như trời trồng nên giải thích: “Chị tôi ra ngoài đó nên tôi phải đi theo. Hẹn bạn sau hai năm anh em sẽ gặp lại nhau.”
Tờ mờ sáng hôm sau, tôi ra Kho 6 bến tàu Sài-Gòn tiễn Lộc lên đường. Sau đó, tôi được biết Lộc có người chị, Nguyễn Thị Ngọc Dung, là một người trong mấy nữ sinh Marie Curie đã ném lựu đạn trong Rạp Majestic năm 1951, giết chết viên Trung úy Pháp, trưởng “bót” Catinat. Cả đám đã chạy thoát nhưng về sau đều bị bắt, bị đưa ra tòa lãnh án tử hình. Sau được “tòa mũ đỏ” (Tòa Thượng thẩm) ở Paris, giảm án còn khổ sai đày ra Côn đảo. Năm 1955, thi hành Hiệp Định Genève về trao đổi tù binh, Ngọc Dung được đưa ra miền Bắc.
Sau 20 năm, thay vì 2 năm, chúng tôi đã gặp lại nhau. Hôm ấy, tôi đang đứng trên bao lơn căn nhà trên lầu 4 Cư xá Thanh Đa hóng gió từ dưới sông đưa lên, chợt trông thấy một người đàn ông cưỡi chiếc xe Honda, dừng lại bên dưới. Y mặc một chiếc áo Montagu màu đỏ, có một khẩu Colt 45 đeo lủng lẳng bên hông. Y ngước mặt nhìn lên và nhăn răng cười. Tôi quay vào gọi vợ tôi: “Loan ơi, thằng Lộc nè!”
“Thằng Lộc đâu đây?” Vợ tôi trả lời, không tin, nhưng cũng chạy ra nhìn. Người đàn ông loay hoay khóa xe xong, lại ngước mặt lên cười lần nữa, trước khi đi vào cầu thang. Vợ tôi cũng đã nhận ra Lộc vì cùng là bạn học, đưa một bàn tay bịt ngang miệng, không thốt nên lời. Chúng tôi đều nhận ra cái răng khểnh khi cười của Lộc, vì từ 20 năm nay, hình ảnh Lộc cùng những kỷ niệm với nhau trong mấy năm ngồi chung lớp tại một trường tư ở Sài-Gòn không bao giờ phai mờ trong đầu chúng tôi.
Chúng tôi cùng quay vào trong nhà, mở cửa đứng chờ. Khi thằng Việt Cộng xuất hiện, chúng tôi ôm lấy nhau, cùng ứa nước mắt. Sau 20 năm chinh chiến không ngừng, hàng triệu sinh linh đã bị tàn sát, bao nhiêu vật đổi sao dời, tôi đã di chuyển mấy lần, căn chung cư này cũng là nơi ở tạm, vậy mà Lộc cũng tìm ra. Hắn nhìn tôi với đôi mắt ngấn lệ cảm thương, nói:
– Chúng tôi dại khờ nên bị sập bẫy. Còn ông, ông nghĩ sao mà còn ở lại đây?
(S.T.)
Còn biết nói sao, khi cả một dân tộc đã bị lừa trong suốt mấy thế hệ.
Mà hình như không có mấy người đã mở mắt.
Ký Thiệt
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Tháng Tư Đen “đổi đời”, người ra đi, kẻ ở lại_Ký Thiệt
Như Từ Cõi Chết Trở Về

Tammy Tran, một cư dân gốc Việt sống ở New York, vừa trải qua một cuộc chống chọi với bệnh viêm phổi cấp do virus corona gây ra. Cô gọi đó là cuộc chiến với tử thần. (Facebook Tammy Tran)
(VOA): Tammy Tran là một trong số những người đầu tiên nhiễm virus corona ở New York. Cô đã trải qua nhiều ngày cách ly và chữa trị tại một bệnh viện ở Manhattan, nơi cô nói đã nhận được chăm sóc tận tình của các bác sỹ. Nhưng đó cũng là những ngày mà cô cảm thấy “khủng hoảng nhất” trong cuộc đời khi phải chống chọi giữa cái sống và cái chết.
Không ngờ nhiễm bệnh
Là một người làm trong ngành truyền thông, Tammy – một phụ nữ gốc Việt đang sinh sống ở New York hơn 3 năm nay – nói rằng cô phải tiếp xúc với nhiều người trong công việc nhưng không biết mình đã bị nhiễm từ đâu.
Những triệu chứng ban đầu, như Tammy cho biết, là “ớn lạnh, mệt mỏi và khó thở” nhưng cô không chú ý nhiều và chỉ nghĩ mình bị cảm lạnh mặc dù trước đó đã nghe cảnh báo từ một người bạn của cô về các triệu chứng của bệnh do virus corona gây ra.
“Đến ngày thứ 6 khi Tammy đi làm thì tự nhiên lên cơn sốt và được đưa đi cấp cứu,” Tammy nói với VOA sau khi đã được ra viện và đang phục hồi tại nhà riêng ở New York. “Tammy thở không được nữa nên làm các xét nghiệm và được đưa qua nằm ở phòng ICU (phòng hồi sức cấp cứu).”
Sau khi có kết quả dương tính với virus corona, cô được đưa vào phòng cách ly và được hỗ trợ bằng máy thở oxy thường dùng cho trẻ sơ sinh tại bệnh viện Lower Manhattan Hospital. Sau 14 ngày, cô hết sốt và được đưa sang phòng chăm sóc phục hồi trước khi được ra viện hôm 30/3.
‘Từ cõi chết trở về’
Mười bốn ngày trong phòng cách ly với máy thở oxy là quãng thời gian mà Tammy nói là “khủng khiếp” nhất.
Lúc mới vào đó, Tammy không biết tại sao mọi người, từ bác sỹ, y tá đến những người phun khử trùng, không cho cô ngủ và cô luôn bị đánh thức.
“Bác sỹ không cho Tammy ngủ. Bác sỹ nói mình phải thức”, Tammy cho biết và giải thích rằng “máy trợ thở hoạt động khi mình thức” còn khi ngủ người bệnh có thể ngừng thở và lúc đó máy trợ thở sẽ không làm việc, dẫn đến tim ngừng hoạt động và tử vong.
“Mười bốn ngày đầu tiên rất là dễ sợ vì không được ngủ khi bác sỹ và y tá vào đánh thức mình hoài”, Tammy nói và cho biết rằng cô được truyền nước biển để hỗ trợ cho cơ thể chống chọi với cơn sốt..
Cùng với cảm giác như “nằm trong nhà xác” vì chỉ có một mình với các bức tường trong phòng cách ly, Tammy nói đó là “thời gian khủng hoảng nhất”.
“Mình không biết là mình sống hay mình chết. Mình thấy rất khó thở. Hơi thở khó khăn và đau cổ, như muốn xé banh lồng ngực của mình ra”, Tammy nói và cho biết cô là người đầu tiên được đưa vào phòng cách ly với cơn sốt khoảng hơn 38 độ C.
Cô cho biết đó là trải nghiệm mà cô chưa bao giờ gặp phải trong đời và trải qua được cơn nguy kịch này, cô thấy “như từ cõi chết trở về”.
May mắn và biết ơn
Là một trong số rất ít những người đầu tiên nhập viện hồi cuối tháng 2, khi New York mới phát hiện một số trường hợp đầu tiên nhiễm virus – lúc đó được gọi là nCoV, Tammy nói cô gần như là người duy nhất nằm trong phòng cách ly.
Do đó cô cảm thấy “may mắn” vì nhận được sự chăm sóc đặc biệt của các bác sỹ khi “bệnh viện còn vắng”, không như hiện nay khi các bệnh viện ở New York đang quá tải vì lượng người nhiễm bệnh nhập viện và sự thiếu thốn về thiết bị trợ thở.
“Bác sỹ rất là tận tâm”, Tammy cho biết. “Phải nói là sau đợt bệnh này Tammy nhận thấy rằng những người làm việc trong ngành y, mình phải rất mang ơn người ta. Hiện giờ, các bác sỹ này đang phải làm việc rất nhiều và hết sức”.
Ca nhiễm COVID-19 đầu tiên được xác nhận ở New York là một phụ nữ 39 tuổi trở về từ Iran hồi cuối tháng 2 và được xét nghiệm tại một bệnh viện ở Manhattan. Tiểu bang New York hiện đã trở thành điểm nóng của dịch bệnh này ở Mỹ với số ca nhiễm là gần 162.000 – lớn hơn bất cứ quốc gia nào trên thế giới, trong đó hơn 7.000 người đã tử vong.
“Con (virus) này rất là dễ sợ – nó không phải là sốt rét, nó không phải là bệnh cảm. Nó là một bệnh về phổi mà không như bệnh lao, mà trên thế giới chưa thể tìm ra thuốc chữa,” Tammy nói và cho biết cô sẽ phải cẩn thận để không bị nhiễm lại.
Đối với Tammy, cô coi trải nghiệm này là một lời nhắc nhở đối với bản thân rằng cô sẽ phải chăm sóc sức khoẻ của mình tốt hơn và để ý những lời cảnh báo bệnh sớm của bạn bè cô. Tammy cũng khuyên mọi người nên ở trong nhà trong thời gian dịch bệnh bùng phát và thực hiện đúng việc giãn cách xã hội để tránh lây nhiễm trong cộng đồng.
Nguồn: http://www.voatiengviet.com
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Như Từ Cõi Chết Trở Về
Vĩnh Biệt K1 Lê Văn Khiêm_ Bài của TPK
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Vĩnh Biệt K1 Lê Văn Khiêm_ Bài của TPK
Cáo Phó Lê Văn Khiêm
CÁO PHÓ Lê Văn Khiêm
Dưới đây là Cáo Phó chính thức của gia đình K1 Lê Văn Khiêm do con gái anh (Lê Tú Trinh) post trên trang Facebook Khiem Le của anh:
Gia đình chúng tôi vô cùng thương tiếc kính báo tin: Chồng, Ba, Ông của chúng tôi là:
Cố Phật Tử: Le Van Khiem; Pháp Danh: Nguyen Hien
Sinh ngày 4 tháng 12 năm 1943 tại Ben Tre. Đã qua đời lúc 12:23 ngày 29 tháng 3 năm 2020 tại Baton Rouge, LA.
Hưởng thọ: 77 tuổi
Tang lễ được diễn ra tại Resthaven Gardens of Memory and Funeral Home, 11817 Jefferson Hwy, Baton Rouge, La 70816
It is with great sadness that we announce the death of our beloved father, Khiem Van Le. Who passed away on March 29,2020 following a brief illness. A funeral was held on Thursday, April 2, 2020. He was a loving husband, a great dad, and an amazing grandfather. We will miss his presence, his soft words, and especially his smile. This has been a difficult time for our family. Please keep our father in your prayers.
In loving memory of Khiem Van Le
December 4, 1943 – March 29,2020
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Cáo Phó Lê Văn Khiêm
Thank U Frontline’ by Chris Mann
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Thank U Frontline’ by Chris Mann
Thơ An Toàn Mùa Đại Dịch Virus Tàu
CÁCH LY
Cách ly hai thước nhớ dùm cho
Tay rửa thường xuyên diệt khuẩn lò
Cấm túc trong nhà trông hổ trợ
Giam phòng một cõi ước mong phò
Trời thanh tản bộ tăng đề kháng
Nắng nóng phơi mình giảm nỗi lo
Vũ Hán nguyên nhân gây đại dịch
Chệt Tàu tung chưỡng thử thăm dò
ĐOÀN NGỌC NAM
Các Bài Họa:
1. Ở NHÀ HOÀI CÙN CẲNG QUÁ
Thèm đi một chút chớ nào cho
Cấm cách như trong ngục Hỏa Lò
Dọn dẹp loay hoay không kẻ giúp
Lau chùi cặm cụi chẳng ai phò
Rửa tay ngậm muối lòng còn sợ
Bịt mặt che đầu bụng vẫn lo
Ở mãi trong nhà cùn cẳng quá
Ngày nao tin tức cũng thăm dò
NCM
2. CHIA SẺ
Ai thiếu khẩu trang tớ gíup cho
Lọai nầy nhiều lớp mới ra lò
Trăm ngàn giàu có đem ra bán
Một chút khó nghèo gọi trợ phò
Đến chợ đi làm được bảo hộ
Ra đường tản bộ bớt âu lo
Đồng hương mấy kẻ quan tâm bạn
Bảo trọng thân tâm xin dặn dò
PHIẾN NGUYỄN
3. CỨ LẠC QUAN
Rực rỡ nắng hè đi chẳng cho
Thì ta bày nhậu ơ bên lò
Mình ông ăn mặn lăng xăng nướng
Bà cụ trường trai đếch chịu phò
Kinh tế lụn tàn đừng có hoảng
Ngàn hai chắc nụi cớ gì lo
Nhìn lên màn ảnh nhìn con số
Để họ thống kê để xét dò
TRẦN PHÁP
4. CÔ NA
Nhân quyền Cộng Sản khó ban cho
Dân chủ Trung Hoa xáo trộn lò
Răm rắp im hơi không được chống
Tuân hành thuần phục cúc cung phò
Vi trùng Vũ Hán đừng suy nghĩ
Virus China cũng chớ lo
Lây nhiễm toàn cầu dù diệt chũng
Cận Bình chủ đạo mất công dò./-
TQN
5. TRỐN DỊCH
Đi chợ mua đồ họ cũng cho
Cá tôm làm sẵn đặt lên lò
Lặt rau dễ ợt không cần giúp
Nêm nếm ngon ơ chớ có phò
Trốn dịch hai tuần chưa hết sợ
Gần xa sáu feet vẫn còn lo
Chỉ mong covid mau tiêu tán
Để khỏi ngày đêm mõi mắt dò
TPK
6. TRỊ Ả CÔ VY
Cô Vy muốn trị tớ bày cho:
Đặt bếp nồi xông nấu bốn lò
Cỡi áo trùm mền rà rột rẹt
Chúi đầu hả miệng hít phì phò
Bạc hà, long não: hây đừng ngại
Lá bưỡi, dầu tràm: tuyệt khỏi lo
Cử sáng rồi trưa, chiều đến tối
Trăm phần hết bịnh hổng cần dò.
CHÁT
KHÔ TẶNG CHÁT
7. CHÁT HIẾN TIM CHO
Cô Vy muốn Chát hiến “tim cho”
Cò bót xưa kia vốn “bổn lò”
Vú Hán nguy to ai dám rớ
Ký Ninh đắng nghét tớ xin phò
Cách ly treo cẳng qua “cơn lú”
Bịt mũi che mồm “tồn cái lo”
Hổ dữ Bắc Kinh thề “bắt cọp”
Mỹ Tàu toan sống “mái thăm dò”
KHÔ TẶNG CHÁT
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Thơ An Toàn Mùa Đại Dịch Virus Tàu
Tìm người thân
Gà Tre Lê Quang Phú nhờ tìm người thân. Xin nhờ chuyển tiếp nếu có tin vui xin báo cho bạn Lê quang Phú hoặc cho Căn Nhà Nhỏ biết nhé. Thành thật cám ơn. Đây là tin nhắn của Gà Tre LQP:
” Nhờ bạn nhắn giùm qua CNN để tìm Cựu Đại Đội Trưởng CSDC ở Qui Nhơn, tỉnh Bình Định, tên NGUYỄN VĂN THƠ ( Vợ tên DUNG), hiện đang ở đâu?
Nếu được xin số điện thoại của anh THƠ vì có thân nhân muốn liên lạc. Cám ơn bạn trước và cầu xin mọi điều an lành đến với gia đình bạn. Phú Gà Tre K1“
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Tìm người thân
K1 Phân Ưu cùng GĐ K1 Lê Văn Khiêm

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở K1 Phân Ưu cùng GĐ K1 Lê Văn Khiêm
Tin thêm về K1 Lê Văn Khiêm
Theo đề nghị của bạn Toán trưởng K1, sáng nay mình có gọi phone nói chuyện hỏi thăm con gái của bạn Lê Văn Khiêm.
Mời các bạn nghe một audio clip dưới đây để nghe cháu Trinh tâm sự và gởi lời cám ơn sự quan tâm của các bác.
Lỗi
Video không tồn tại
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Tin thêm về K1 Lê Văn Khiêm
Người Mỹ trong thiên tai và dịch bệnh_Nga kimle
CHỨNG KIẾN NGƯỜI MỸ TRONG THIÊN TAI VÀ DỊCH BỆNH
• Nga kimle
(HNPĐ): Thật ra lúc ở VN được giấy bảo lãnh của ba mẹ chồng nhưng mình không thích đi Mỹ, vốn dĩ con người mình sống ở đâu cũng làm, cũng vui vẻ hạnh phúc thì Mỹ hay VN cũng thế thôi, đi làm gì khi cuộc sống ở VN quá ổn định.
Nhưng rồi quyết định đi, đi không phải vì muốn tốt cho con vì luôn nghĩ con mình sống ở đâu nó cũng tốt mà, nhưng đi vì muốn thay đổi cuộc sống, muốn tìm môi trường mới, giống như ở Sài Gòn hoài cũng chán lên Đà Lạt hay về Vũng Tau sống thử xem sao. Và mình có điều kiện xa hơn một chút thì đi qua Mỹ sống thử xem sao, không thích thì về có sao đâu.
Rồi cả nhà khăn gói ra đi, không tìm đường cứu nước,cứu mình, cứu con gì hết, chỉ là đi đến phương trời mới xem người ta sống thế nào.
Qua đây hơn bốn năm trải qua hai cuộc thiên tai lịch sử. Một là trận bão Harvey và nay là đại dịch toàn cầu Cô Vi.
Nếu bạn cứ sống bình thường qua ngày qua tháng thì bạn sẽ nói nước Mỹ chán phèo, có gì đâu mà vĩ đại (bạn đánh giá cũng tạm đúng), nhưng khi gặp thiên tai bạn mới thấy người Mỹ họ vĩ đại, họ văn minh hơn chúng ta cả ngàn cả vạn lần.
Để mình kể cho nghe nhé.
Lúc bão đến nước ngập hết các ngôi nhà, ngập hết cột điện, xe cộ chìm trong nước, mọi ngã đường đều đóng, người dân phải ở trong nhà hạn chế ra đường. Các trường học, sân vận động trưng dụng làm nơi đón người bị nhà cửa ngập lụt. Mình chỉ góp sức nhỏ theo mấy anh em Người Việt Houston đi phát bánh mì cho những người bị mưa ướt, đói rét giữa cơn lụt lội.
Đến tận nơi nhìn tận mắt mới thấy họ khác mình nhiều lắm, trong cơn hoạn nạn họ đùm bọc nhau. Họ xếp hàng trật tự, không chen lấn, không la hét.
Xe cấp cứu tiến vào vùng lụt cao gần chục mét, trực thăng bay rợp trời, chó nghiệp vụ, quân đội hỗ trợ đi vào tận từng nhà cứu từng người và cứu những động vật ướt sũng.
Họ không la hét, không gọi í ới, im lặng và chờ đợi người đến cứu. Họ lên xe từ từ, trật tự. Khi xe về đến chỗ tập trung mặc dù trời mưa ướt hết người lạnh căm căm, trên xe cũng nhiều người già và trẻ em nhưng họ vẫn ngồi trên xe chờ đợi quân đội ra hiệu họ mới xuống xe, xếp hàng thẳng lối đi từ từ vào trong chỗ tránh mưa. Họ bình tĩnh không hoảng hốt không đau khổ gì, gương mặt như vui vì được cứu ra chứ ko lo buồn vì mất hết tài sản. Một sự bình thản lạ lùng mà lúc đó mình không kịp hiểu sao họ lại thế.
Xe của các siêu thị hàng loạt hỗ trợ thức ăn miễn phí, các vật dụng phục vụ cho lũ lụt như túi ngủ áo mưa hoặc lều tạm được giảm giá tối đa 70-80%, hình như cho không. Không hề nhân cơ hội thiên tai mà họ tăng giá gấp 2,3 lần. Các trung tâm cứu trợ của các tiểu bang đều đổ về Houston cho tặng mọi thứ nhu yếu phẩm.
Ý thức người dân rất cao trong cơn hoạn nạn. Họ lấy thức ăn cần thiết và vừa đủ, họ hỗ trợ người mất nhà cửa, chính phủ cũng hỗ trợ tiền ăn lúc đó.
Giờ thì đến dịch Covi. Khác trận lụt Houston, lần này các tieu bang kia bị nặng hơn, nhìn những hình ảnh 1.000 y tá bệnh viện nghỉ hưu đăng kí tình nguyện chăm sóc bệnh nhân, nhìn những y bác sĩ, những công ty tư nhân, công ty chính phủ đồng lòng hỗ trợ hết sức cho cho bang bị dịch nặng nhất.
Các hãng xe hơi nổi tiếng của Mỹ chuyển qua sản xuất máy thở, các công ty may mặc nổi tiếng chuyển qua may khẩu trang, các công ty sản xuất hàng tiêu dùng chuyển qua sản xuất nước rửa tay hay công ty sữa lớn nhất đưa ra bộ thử nhanh trong vòng 5p với kết quả hơn 90% độ chính xác cao. Các công ty vận chuyển miễn phí vận chuyển thức ăn cho người già và bệnh viện …
Cảm thấy ấm áp vì các công ty cùng chung tay với chính phủ, chính phủ quan tâm đến dân bằng những gói hỗ trợ, lòng người gắn kết yêu thương không kể sắc tộc màu da.
Mặc dù số ca tăng cao, người chết cũng nhiều nhưng:
“Bây giờ thì tôi bắt đầu nhận ra trong thời gian vừa qua thì cái chết hay sự sống trong quan điểm phương Tây rất là tự nhiên. Có điều gì đó vừa cảm động, vừa bình tâm nhưng cũng rất mãnh liệt. Từ khi xảy ra dịch tôi chưa bao giờ thấy trách họ vì họ có lý do với bề dày lịch sử đầy sinh tử. Tôi chỉ mong họ nhanh chóng đạt đến kết quả với cách họ chọn và lướt nhanh qua quá trình chuyển tiếp. “Bản chất du mục xem thay đổi như vật đổi sao dời lẽ tự nhiên dù gì cũng đáng để người khác phải hâm mộ”.
Đây là bình luận của một bạn về sự thanh thản ra đi của người Mỹ mà mình thấy đúng, họ xem cái chết nhẹ nhàng, đa số người Mỹ họ tin vào Chúa nên khi chết họ được lên thiên đàng và gặp Chúa nên lòng họ thanh thản nhẹ nhàng, họ không gào khóc bi ai oán hận.
Mình chứng kiến trận dịch đã cướp đi rất nhiều người ở Vũ Hán với tiếng khóc ai oán bi thương. Họ la hét trong tuyệt vọng, tất cả tiếng vọng ra từ chung cư cách ly là những tiếng gào khóc thảm thiết.
Còn ở Mỹ thì sao? Ở Mỹ hiện là nước có số người nhiễm cao nhất thế giới, có số lượng người chết cũng nhiều nhưng bạn sẽ không bao giờ thấy được hình ảnh đó, thay vào đó là họ lên chiến dịch treo cờ Mỹ, họ đàn hát những lời hát động viên, không ai oán không gào thét.
Hình như họ chịu trách nhiệm về những gì họ làm, họ chấp nhận cái chết, họ biết dịch bịnh là đều không ai muốn và họ chỉ cầu nguyện trong thanh bình giữa tâm dịch.
Thiệt đáng học hỏi về tính cách của họ. Không than trách, không bi quan, mọi việc gì cũng được an bài, vì lúc sống họ sống hết mình, cống hiến hết mình, sống có lý tưởng, sống đúng với lòng nên khi ra đi họ cũng nhẹ nhàng như thế.
Bỏ qua vấn đề chính trị, tôi chỉ nói về lòng người giữa cơn hoạn nạn. Lòng người ở đây thật bao la vĩ đại, họ không nhỏ nhen ích kỉ, không vụ lợi cá nhân mà tất cả vì tổ quốc thân yêu.
Qua bao cơn hoạn nạn mới thấy nước Mỹ thật vĩ đại và văn minh.
Xin cầu nguyện cho mọi người, cho nước Mỹ và xin cảm ơn nước Mỹ đã cho gia đình tôi từng ngày học được những điều văn minh đó. (Nga kimle)
(Nguồn: http://haingoaiphiemdam.net/)
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Người Mỹ trong thiên tai và dịch bệnh_Nga kimle
Một vụ đụng xe_Chuyện vui
MỘT VỤ ĐỤNG XE
(Chuyện vui thời COVID-19)
Có 1 vụ đụng xe ngay ngã ba Nguyễn Sơn – Thoại Ngọc Hầu .
Thằng bé chừng 17 tuổi chở bánh mì tông thẳng vào đuôi xe 1 cặp vợ chồng chạy xe SH, đèn sau chiếc SH bể nát. Sọt bánh mì văng ra đường, bánh mì đổ lăn lóc.
Tông sau xe – thằng bé sai rồi nhưng nhìn cái cách 2 vợ chồng thằng SH sấn tới tấn công thằng bé đòi bắt đền, tự nhiên tôi ngứa con mắt bên phải trợn con mắt bên trái.
Thay cái đèn sau chính hãng cũng hơn 1 chai chớ đâu có ít. Thấy chuyện giữa đường ngứa mắt nên rút đao tương trợ, diệt bạo phò nguy.
Tôi trờ tới, nháy mắt với thằng bé rồi nói nhỏ: “Giờ chú nói gì con cũng chỉ gật đầu và … ho thôi nghe chưa”, thằng bé giương đôi mắt sợ sệt nhìn tôi rồi … gật đầu .
Tôi giả bộ nhìn nó rồi la lớn:
– Phải mày đó không Thuấn ?
Nó gật đầu
Vợ chồng SH quay sang tôi:
– Anh biết nó à ?
Tôi gật đầu rồi la tiếp:
– Trời ơi, mày trốn cách ly 5 ngày rồi phải không, bên y tế xuống nhà kiếm mày mấy bữa nay đó, họ nói mày bị dương tính gì đó, ba má mày khóc đỏ con mắt kìa.
Thằng bé gật đầu lia lịa và … ho ho… rũ rượi…
– Thôi, mày gỡ khẩu trang ra mà tới xin lỗi cô chú đây đi.
Nó đứng dậy ho sặc sụa rồi lừ lừ đi tới.
Cô vợ lật đật leo lên xe rồi hối anh chồng:
– Chạy đi anh, chạy lẹ… Hình như anh chồng nói gì đó:
– Xui mà hên…
Họ đi rồi, tôi nhặt hộ mấy ổ bánh mì giúp chú bé. Nó nói:
– Cám ơn chú, họ làm ghê quá con tính năn nỉ đền họ 600 k… chớ con chỉ còn nhiêu đó.
Rồi nó nói tiếp :
– Chú hay ghê, sao chú biết con trốn cách ly, mà con tên Tuấn chớ không phải tên Thuấn.
Chưa nghe hết câu tôi bật dậy như cái lò xo phóng lên xe còn nhanh hơn thằng SH….
… Hèn gì lúc nãy nó ho…và… ho… y như thật…
Tôi giả bộ nhìn nó rồi la lớn:
– Phải mày đó không Thuấn ?
Nó gật đầu
Vợ chồng SH quay sang tôi:
– Anh biết nó à ?
Tôi gật đầu rồi la tiếp:
– Trời ơi, mày trốn cách ly 5 ngày rồi phải không, bên y tế xuống nhà kiếm mày mấy bữa nay đó, họ nói mày bị dương tính gì đó, ba má mày khóc đỏ con mắt kìa.
Thằng bé gật đầu lia lịa và … ho ho… rũ rượi…
– Thôi, mày gỡ khẩu trang ra mà tới xin lỗi cô chú đây đi.
Nó đứng dậy ho sặc sụa rồi lừ lừ đi tới.
Cô vợ lật đật leo lên xe rồi hối anh chồng:
– Chạy đi anh, chạy lẹ… Hình như anh chồng nói gì đó:
– Xui mà hên…
– Cám ơn chú, họ làm ghê quá con tính năn nỉ đền họ 600 k… chớ con chỉ còn nhiêu đó.
Rồi nó nói tiếp :
– Chú hay ghê, sao chú biết con trốn cách ly, mà con tên Tuấn chớ không phải tên Thuấn.
… Hèn gì lúc nãy nó ho…và… ho… y như thật…
(Trần Sang)
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Một vụ đụng xe_Chuyện vui
Phân Ưu của Trương Long,Nguyễn Đình Tâm,Nguyễn Tiến Ích

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Phân Ưu của Trương Long,Nguyễn Đình Tâm,Nguyễn Tiến Ích
NGHI VẤN TỬ TỘI PHÁP TRƯỜNG CÁT TẠ VINH_Toàn Như
NGHI VẤN TỬ TỘI PHÁP TRƯỜNG CÁT TẠ VINH:
CÒN SỐNG HAY ĐÃ CHẾT ?
TOÀN NHƯ
(Bài đã đăng trong ĐS Phượng Hoàng Xuân Canh Tý 2020)
Sau cuộc đảo chánh lật đổ Tổng Thống Ngô Đình Diệm vào tháng 11 năm 1963, những tháng kế tiếp theo sau đó là nhiều cuộc đảo chánh, chỉnh lý để tranh giành quyền lực giữa các tướng lãnh đã làm cho tình hình chính trị tại miền Nam Việt Nam trở nên bất ổn. Tình thế vô cùng rối ren và phức tạp, nhiều chính phủ liên tiếp đã thay phiên nhau nắm quyền chỉ trong một thời gian ngắn ngủi.
Cùng với những xáo trộn chính trị ở thượng tầng lãnh đạo là những cuộc tranh đấu của sinh viên, học sinh đòi tự trị đại học, đòi tự do, dân chủ, và chống độc tài quân phiệt. Các tôn giáo cũng vào cuộc đòi tự do và bình đẳng tôn giáo. Nhiều cuộc biểu tình đã diễn ra ở Sài Gòn và nhiều thành phố lớn tại miền Nam. Lợi dụng tình thế bất ổn này, VC đã gia tăng những áp lực về quân sự ở nông thôn, và thực hiện những vụ khủng bố bằng bom và chất nổ ở các đô thị. Trong khi đó, về mặt kinh tế, bọn gian thương, phần lớn là giới Hoa kiều, cũng đã lợi dụng thời cơ để lũng đọan thị trường, đầu cơ tích trữ làm cho giá cả gia tăng và tình hình kinh tế càng thêm rối ren.
Trước tình thế nói trên, sau nhiều chính phủ quân sự rồi dân sự tiếp nối nhau thất bại, vào tháng 6 năm 1965, chính phủ dân sự với Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu và Thủ Tướng Phan Huy Quát đã phải từ chức và trao quyền điều hành đất nước lại cho Quân Đội với Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia do Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu giữ chức Chủ Tịch (chức vụ tương đương Quốc Trưởng) và Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương do Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ làm Chủ Tịch (tương đương Thủ Tướng). Nhờ vậy, tình hình mới dần dần ổn định.
PHÁP TRƯỜNG CÁT:
Để ổn định tình hình, ngay sau khi được cử đứng đầu Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương, Tướng Kỳ đã thành lập một “nội các chiến tranh” với nhiều quyết định táo bạo cứng rắn trong đó nổi bật là việc xử tử hình gian thương Tạ Vinh, một Hoa kiều can tội đầu cơ tích trữ, lũng đoạn thị trường gạo vào tháng 3 năm 1966. Việc xử tử Tạ Vinh đã diễn ra tại một “pháp trường cát” được dựng lên ở ngay tại trung tâm thủ đô Sài Gòn. Việc hành quyết này cùng với pháp trường cát đã bị truyền thông quốc tế lên án mạnh mẽ khiến cho nó sau đó đã bị dẹp bỏ vào cuối năm 1966.
Việc xử tử Tạ Vinh tại pháp trường cát đã làm cho nhiều người nghĩ rằng pháp trường cát là sản phẩm do Tướng Kỳ lập ra không chỉ để xử tử Tạ Vinh mà còn nhằm để răn đe những tên cộng sản nằm vùng hoạt động khủng bố, phá hoại và cả những tên gian thương đang lũng đoạn kinh tế miền Nam. Trên thực tế, nó đã được thành lập trước đó từ lâu, trước cả khi có nội các chiến tranh của Tướng Kỳ. Đúng ra nó chỉ là một pháp trường dùng để thi hành những bản án tử hình do Tòa Án Quân Sự Đặc Biệt (do Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng lập ra sau cuộc đảo chánh TT Diệm) đã tuyên xử. Tên gọi của nó đúng ra là “pháp trường lưu động”, nó không chỉ được lập ra ở Sài Gòn, mà còn được lập ra ở những thành phố lớn khác như Cần Thơ, Đà Nẵng,… và nó chỉ được lập ra khi phải thi hành một bản án tử hình của Tòa Án Quân Sự Đặc Biệt. Các pháp trường này thường được dựng lên ở những xạ trường (sân bắn) của quân đội. Sở dĩ người ta gọi nó là pháp trường cát vì chung quanh cọc xử bắn tử tội có một bức tường thành hình chữ U cao quá đầu người được chất chồng bởi những bao cát chắn đạn của quân đội.
Khác với những pháp trường lưu động khác, tại Sài Gòn, khoảng đầu năm 1965, pháp trường cát đã được dựng lên thường trực ở ngay trung tâm Sài Gòn, chỗ vòng xoay bùng binh phía trước chợ Bến Thành (còn gọi là công trường Quách Thị Trang), bên hông tòa nhà trụ sở Nha Hỏa Xa Việt Nam. Ngôi nhà này nguyên là trụ sở của Công Ty Hỏa Xa Đông Dương có từ thời Pháp thuộc. Pháp trường cát được lập ra tại đó như là một hình ảnh để răn đe những tên khủng bố VC cũng như những tên phá hoại nền kinh tế làm cho tình hình bất ổn. Mặc dù pháp trường cát được dựng lên thường trực ở đó nhưng người dân Sài Gòn hàng ngày vẫn thản nhiên qua lại nơi đây như không hề biết có nó; có thể vì hầu hết những vụ hành quyết đều diễn ra vào ban đêm nên ít người chú ý đến; ngay cả các phóng viên cũng hầu như không được thông báo hay nếu có biết cũng không được đến gần. Đã có vài vụ xử bắn tử tội diễn ra tại đây từ đầu năm 1965, nhưng ít ai để ý mãi cho đến khi có vụ án Tạ Vinh, nó mới được chú ý đến và dư luận quốc tế đã ồn ào chỉ trích để cuối cùng dẫn đến việc nó bị dẹp bỏ vào cuối năm 1966.
Pháp trường cát bên hông trụ sở Nha Hỏa Xa Việt Nam, Saigon.
VỤ ÁN TẠ VINH:
Như đã nói ở trên, sự tranh giành quyền lực giữa các tướng lãnh sau cuộc đảo chánh cuối năm 1963 đã làm cho tình hình tại miền Nam Việt Nam ngày càng trở nên rối ren bất ổn. Về mặt an ninh lãnh thổ, VC gia tăng áp lực quân sự đe dọa đến sự sống còn của Miền Nam khiến cho Hoa Kỳ phải gia tăng quân viện trong đó có cả việc đổ quân tham chiến. Trong khi đó, về mặt kinh tế, vật giá ngày càng gia tăng cùng với nạn lạm phát làm cho đời sống của người dân càng thêm khó khăn. Lợi dụng tình hình bất ổn và khó khăn này, các gian thương, phần lớn là giới Hoa kiều, đã đầu cơ tích trữ, lũng đoạn thị trường, đặc biệt là thị trường lúa gạo, để làm giàu bất chính.
Như mọi người đều biết, trong nhu cầu của đời sống người dân, gạo là một nhu yếu phẩm thiết yếu trong mọi gia đình. Trong khẩu phần ăn hàng ngày, người ta có thể không cần đến thịt cá, rau quả nhưng lại không thể không có cơm gạo. Trong những năm 1965 – 1966, giữa lúc tình hình rối ren, người dân cũng bị khốn đốn vì giá gạo ngày một leo thang trong lúc lương công chức, quân nhân và công nhân hầu như không thay đổi hoặc tăng chẳng được bao nhiêu. Trong khi đó, vào thời điểm đó, thị trường lúa gạo hầu như bị lũng đoạn bởi giới tài phiệt người Hoa phần lớn tập trung ở Chợ Lớn, Sài Gòn. Nổi bật trong số tài phiệt này là Tạ Vinh, một thương gia người Hoa gốc Triều Châu mới 37 tuổi.
Có giai thoại kể rằng, ngay sau Tết Nguyên Đán 1966, giá gạo đang từ 5,5 đồng/kg bỗng nhiên tăng lên 6 đồng rồi 7 đồng trong lúc lương của một công nhân bình thường chỉ khoảng 30 – 40 đồng một ngày. Biết là có bàn tay thao túng của những ông “xì thẩu” Chợ Lớn, tướng Kỳ ra tối hậu thư cho họ bằng cách triệu tập 7 người Hoa đang đứng đầu ngành mua bán lúa gạo tại miền Nam đến văn phòng. Ông yêu cầu mỗi người ghi tên mình vào một mảnh giấy rồi bỏ vào một cái hộp và cho biết trong vòng một tuần nếu giá gạo không xuống, họ sẽ phải trở lại văn phòng ông để bốc thăm. Bốc trúng tên ai, ông sẽ ra lệnh xử bắn người đó. Mặc dù bị hù dọa như vậy, nhưng tin vào thế lực của mình, những xì thẩu, “vua không ngai” lúc đó, không những không hạ giá gạo, mà lại còn tăng lên 7,5 đồng/kg. Tuy nhiên, câu chuyện “bốc thăm” như trên, nếu có, chỉ là “động tác giả” của tướng Kỳ nhằm để cảnh cáo giới tài phiệt người Hoa; còn việc quyết định bắt Tạ Vinh, Tướng Kỳ và ê kíp của ông đã có những bằng chứng chính xác về các hành vi phạm tội của “xì thẩu” này.
Theo báo cáo của “Tổng Đoàn Thanh Niên Trừ Gian”, một tổ chức do Tướng Kỳ thành lập cùng với Nội Các Chiến Tranh để bài trừ gian thương, tham nhũng; các “xì thẩu” người Hoa là thủ phạm của sự rối loạn thị trường giá cả từ trên xuống dưới. Các mặt hàng thiết yếu như gạo, đường sữa, vải, xi măng, sắt thép, phân bón, v.v… đều bị họ lũng đoạn mà chính phủ hầu như bất lực không thể kiểm soát. Nổi giận vì nguồn tin này, Tướng Kỳ ra lệnh cho Tổng Đoàn phải tìm cho ra những nhân vật cụ thể cùng với những hành vi cụ thể về việc lũng đoạn nền kinh tế quốc gia. Báo cáo của Tổng Đoàn sau đó đã nêu ra tên Tạ Vinh, 37 tuổi, một người Hoa gốc Triều Châu, người từng thầu xây dựng các doanh trại cho quân đội Mỹ đã làm giàu bằng cách ăn bớt sắt thép, vật liệu xây dựng bán ra ngoài thị trường, đồng thời còn tích trữ lúa gạo để chờ thời cơ lên giá làm giàu bất chính. Vì báo cáo đó, Tạ Vinh đã bị bắt và số phận của y đã bị định đoạt.
Ngay sau khi tin Tạ Vinh bị bắt loan ra, các “xì thẩu” người Hoa Chợ Lớn mới hiểu rằng không thể đùa với Tướng Kỳ. Ngày 6/3/1966, Tòa án Quân sự Mặt trận Vùng 3 Chiến thuật mở phiên tòa khẩn cấp xét xử chớp nhoáng kết án tử hình Tạ Vinh khiến cho các xì thẩu khác ai nấy đều nơm nớp lo sợ sẽ đến lượt mình. Vì vậy, họ đã tổ chức họp khẩn cấp 5 bang hội người Hoa và ra quyết định phải hạ ngay giá gạo. Chỉ vài tiếng đồng hồ sau buổi họp đó, giá gạo đang từ 7,5 đồng/kg đã hạ xuống còn 4 đồng. Mặt khác, họ tìm cách “chạy” cho Tạ Vinh thoát khỏi pháp trường cát nhưng đã không thành công.
NGHI VẤN TẠ VINH CÒN SỐNG ?
Bản án Tạ Vinh bị Tòa án Quân sự kết án tử hình là bản án chung thẩm. Mặc dù có sự phản đối từ Hồng Kông cho rằng bản án quá nặng cần đem ra xét xử lại ở tòa án Sài Gòn, đồng thời yêu cầu được dẫn độ Tạ Vinh về Hồng Kông để xét xử vì Tạ Vinh cũng là một doanh gia gốc Hồng Kông nhưng những đề nghị ấy đều bị từ chối. Tướng Kỳ tuyên bố rằng, Tạ Vinh đã phạm trọng tội tại Việt Nam trong thời chiến nên sẽ áp dụng luật Việt Nam, và chiếu theo luật tình trạng khẩn trương, bản án sẽ được thi hành ngay, không thể chần chừ như yêu cầu của nhiều thế lực trong và ngoài nước. Do đó, chỉ hơn một tuần sau phiên xử, ngày 14/3/1966, Tạ Vinh đã bị đem ra hành quyết tại pháp trường cát ở Sài Gòn.
Báo chí ngoại quốc “Amsterdam Evening Recorder” đăng tin xử tử hình Tạ Vinh ngày 14/3/1966
Vụ hành quyết đã diễn ra vào lúc quá nửa đêm tại pháp trường cát Sài Gòn. Phóng viên báo chí trong nước và ngoại quốc đều không được đến gần mà chỉ được đứng từ xa quan sát. Ngay cả thân nhân của Tạ Vinh gồm vợ và con gái cũng không được lại gần.
Sau khi những loạt đạn của tiểu đội hành quyết vừa chấm dứt, xác Tạ Vinh đã được đưa ngay lên xe bít bùng di chuyển rời khỏi nơi hành quyết một cách mau chóng. Đó cũng là lý do đã dẫn đến nhiều lời đồn đoán người bị xử bắn không phải là Tạ Vinh mà là một tử tội khác được mang ra thế mạng. Đổi lại, Tạ Vinh sẽ được cải trang và mang một cái tên khác bí mật được đưa ra ngoại quốc sống mai danh ẩn tích. Lý do có những lời đồn trên vì vào thời điểm đó (cũng như ngày nay), thế lực của những tài phiệt người Hoa có ảnh hưởng rất mạnh trong nền kinh tế thị trường miền Nam
Người viết về cơ quan Interpol Vietnam trong sách Lược Sử CSQG là một sĩ quan từng phục vụ lâu năm tại cơ quan này (Thiếu tá LVH). Theo nội dung bài viết, đồng thời người viết cũng có dịp tiếp xúc với chính tác giả, được biết câu chuyện như sau: Khoảng cuối năm 1974, cơ quan Interpol Vietnam có nhận được một văn thư của Interpol Nhật Bản yêu cầu xác minh một người tên Tạ Vinh. Người này là một người Việt gốc Đài Loan liên can đến một vụ lường gạt bán một thửa đất cho hai người khác nhau tại Nhật. Người Nhật cũng từng biết vụ xử tử Tạ Vinh ở Sài Gòn năm 1966, nên họ muốn biết Tạ Vinh này có phải là Tạ Vinh pháp trường cát năm xưa hay chỉ là một sự trùng tên.
Nhận được lời yêu cầu của Interpol Nhật Bản, Interpol Vietnam đã phối hợp với CSQG Quận 5 – Saigon mở một cuộc hành quân cảnh sát ở Chợ Lớn. Trong lúc giả vờ khám xét tờ khai gia đình nhà vợ con Tạ Vinh, cảnh sát đã thấy có một điểm bất thường là trên bàn thờ của gia đình ở trong nhà đã không có trưng ảnh thờ Tạ Vinh. Một cảnh viên đã làm bộ tò mò hỏi bà vợ “sao nị không để ảnh thờ chồng nị trên bàn thờ”, nhưng bà này xua tay trả lời “đừng có hỏi”. Tiếp tục cuộc điều tra, CSQG đã liên lạc với người cựu Trưởng Toán Hành Quyết [một cựu sĩ quan Hiến Binh (đã giải tán) nay là một sĩ quan CSQG] để xác minh xem người bị hành quyết tại pháp trường cát năm xưa có đúng là Tạ Vinh hay không. Theo người sĩ quan này, lúc đó trời quá tối và người bị xử tử lại bị bịt mắt nên ông cũng không thể quả quyết; hơn nữa ngay sau khi hành quyết xong thì xác tử tội đã bị di chuyển mang đi ngay.
Rất tiếc, cuộc điều tra của Interpol Vietnam về nghi vấn Tạ Vinh còn đang tiếp diễn thì biến cố ngày 30/4/75 đã đến khiến cho việc hoài nghi tử tội pháp trường cát Tạ Vinh còn sống hay thực sự đã chết cho đến nay vẫn chưa có lời đáp.
Dĩ nhiên, những đồn đoán trên chỉ là một giả thuyết và là một nghi vấn cho đến nay vẫn chưa có lời đáp. Trong cuốn Lược Sử Cảnh Sát Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa do Tổng Hội CSQG ấn hành năm 2018 & 2019, trong phần viết về tổ chức INTERPOL VIETNAM (VNCH) cũng có đề cập đến nghi vấn này.
TOÀN NHƯ
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở NGHI VẤN TỬ TỘI PHÁP TRƯỜNG CÁT TẠ VINH_Toàn Như
TÌNH NGƯỜI …VÔ GIÁ_Sưu tầm
Chuyện Tử Tế : TÌNH NGƯỜI …VÔ GIÁ
Sưu Tầm
Cô y tá bước vào phòng bệnh với gương mặt lo âu, hồi hộp, xen lẫn chút mệt mỏi, theo sau là anh thủy thủ điềm đạm với những nét khắc khổ trên khuôn mặt. Hai người lặng lẽ tiến lại gần người đàn ông đang nằm bất động trên giường bệnh. Cô y tá thủ thỉ vào tai ông: “Bác kính yêu, con trai bác đã về đến rồi đây!”
Người đàn ông không có phản ứng gì.. Có vẻ những liều thuốc an thần “nặng ký” để giảm những cơn đau tim quằn quại đã khiến ông chìm vào giấc ngủ mê mệt… Cô y tá phải nhắc đi nhắc lại nhiều lần ông mới nặng nề mở được đôi mắt vốn đã mờ đi vì bệnh tật. Những cơn đau tim dữ dội khiến cơ thể ông không còn một chút sức lực. Ông yếu ớt nhìn người thủy thủ cạnh giường mình, rồi nắm lấy tay anh.
Người thủy thủ vội vàng nâng đôi tay xanh xao gầy guộc của ông lão lên rồi nắm chặt, như thể muốn truyền cả tình yêu và lòng dũng cảm của anh sang cho ông lão. Ông chỉ nhìn anh run run mà không thể nói gì. Cô y tá biết cuộc hội ngộ này có ý nghĩa thế nào với ông lão và sẽ rất lâu để hai người có thể giãi bày hết tâm tư, nên cô lặng lẽ mang đến cho anh một chiếc ghế, đặt cạnh giường.
Suốt đêm ấy, anh lính biển cứ nắm lấy tay ông lão chẳng rời. Anh kể cho ông nghe những câu chuyện “sinh tử” khi làm nhiệm vụ. Có một lần anh đã suýt chết đuối. Hôm ấy biển động dữ dội, trời mưa rét, gió lạnh căm căm, hạm đội của anh phải đi tuần tra thăm dò một vùng biển được cho là bị phục kích. Thời tiết khắc nghiệt khiến tầm nhìn cả đoàn tàu bị hạn chế. Anh là trưởng toán, phải có trách nhiệm hướng dẫn cả đoàn. Trong lúc mải mê quan sát, cơn bão to dữ dội xô anh ngã khỏi tàu rơi thẳng xuống biển. Ai nấy đều hốt hoảng nhìn anh vùng vẫy trong cơn sóng to, rồi dần dần chìm xuống..
“Cha biết không? Lúc ấy, con tưởng cuộc đời mình chuẩn bị kết thúc rồi. Nước xộc vào mũi, cả cơ thể bị bao vây bởi nước, ngực nặng trĩu… Con tự hỏi, chết bây giờ thì có hối tiếc không?… Con chẳng nghĩ được nhiều nhưng thấy trái tim mình bình yên đến lạ… Con nghĩ đến đấng Tối cao trong con và tấm lòng từ bi của Ngài… Nếu được đến với Ngài trong giây phúc này, con chắc chắn sẽ không hối hận…”
Anh nghẹn ngào tiếp lời: “…và thế là, một Phép Lạ đã xảy ra… Con thấy cơ thể mình nhẹ nhàng từ từ nổi lên trên khỏi những cơn sóng, đồng đội con lúc ấy cũng đã kịp hoàn hồn dùng dây thả xuống để con bám mà kéo lên… Con đã được cứu sống một cách kỳ diệu như vậy đấy…!” Anh bảo chính tình yêu cuộc sống và sức mạnh của niềm tin vào đấng Tối cao đã giúp anh vượt qua những tình huống khó khăn, hiểm nghèo. Anh muốn ông hãy mạnh mẽ như cái cách anh đã làm để bảo vệ Tổ quốc. Khi tình yêu thương chiến thắng nỗi sợ hãi, sẽ không có chỗ cho khổ đau và hoạn nạn.
Rồi anh cũng kể về một mối tình đẹp đẽ nhưng không thành. Ngày ấy, khi anh chuẩn bị cầu hôn người đã chia ngọt sẻ bùi với anh suốt thời niên thiếu, thì nhận được tin anh phải đi đến Iraq tham chiến. Anh đã cảm thấy rất đau khổ và bế tắc khi bỏ lại người con gái anh yêu thương nhất. Nhưng giữa đất nước và tình yêu, anh chọn đất nước. Vì anh nghĩ rằng, nếu đất nước yên bình, người anh yêu cũng vì thế mà an vui. Anh khuyên cô hãy tìm một người đàn ông khác có thể chăm lo thật tốt cho cô, đừng đợi anh để rồi thất vọng. Vì anh chẳng biết đến ngày nào mình mới có thể về… Cũng không biết liệu mình có thể về được không. Nhưng anh không muốn kìm hãm sự tự do của người mà anh yêu.
Ông lão chẳng nói được gì, chỉ thỉnh thoảng gắng gượng nở một nụ cười mãn nguyện. Anh thấy cả những giọt nước mắt lăn dài trên má ông… Thấy trời đã khuya, cô y tá dịu dàng bước lại rồi bảo anh: “Anh nên nghỉ ngơi một chút, đã sang ngày mới rồi!”. Anh mỉm cười từ chối: “Cô hãy đi nghỉ đi, tôi muốn ở lại đây thêm một lúc nữa…” Cô y tá ngập ngừng đáp lại: “Vậy tôi muốn ngồi lại đây với anh một lát”.
Rồi cô bắt đầu nói với anh, trước khi ông lão bị những cơn đau tim quái ác dày vò, ông hay kể với cô về con trai. Ông rất yêu đứa con này và luôn tự hào về anh. Ông nói anh rất dũng cảm và có một trái tim quảng đại. Ngày bé anh nghịch lắm, lúc nào cũng chỉ chăm chăm tìm vật dụng để hóa thân thành những anh hùng. Anh có đam mê với biển cả và những con tàu. Anh muốn sau này lớn lên sẽ trở thành một thủy thủ, bảo vệ Tổ Quốc. Mỗi lần nhắc đến anh, hiện trong mắt ông lão đều là một sự hân hoan khó tả. Ông bảo anh đã xa ông từ rất lâu rồi. Ông chỉ ước một ngày được gặp lại con trai… Và thật may mắn khi anh đã có mặt ở đây…
Người lính trẻ không nói gì, chỉ cúi xuống hôn lên trán người đàn ông đã thiếp đi lúc nào không hay… Và anh cứ ngồi túc trực bên ông như thế, mãi cho đến khi bình minh ló rạng…
Sáng hôm sau, khi lại gần đánh thức ông, anh mới hay ông lão đã trút hơi thở cuối cùng… Lúc ấy, anh mới buông tay ông ra và gọi y tá… Sau khi bình tĩnh lại, anh lính trẻ quay sang nói với cô y tá: “Tôi muốn cho cô biết một sự thật…”. Cô y tá chỉ tròn xoe mắt: “Là sự thật gì vậy?”. “Tôi không phải con trai của ông ấy…Tôi chưa gặp ông bao giờ cả…”.
Cô y tá đi hết từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Cô hỏi anh nếu ông lão không phải cha anh vậy tại sao anh lại ở đó suốt đêm và trò chuyện với ông lão. Anh mỉm cười hiền từ: “Cô biết đấy… ông lão đang rất cần tình yêu của một đứa con trai. Tôi chỉ muốn bù đắp cho ông bằng tấm lòng của mình… Ông ấy già rồi, mà vẫn chưa một lần được gặp lại con mình…Và… tôi cũng mất cha từ khi còn rất bé, lâu rồi tôi không có ai để chia sẻ nhiều như thế…”.
Cô y tá không nén nổi xúc động, thắc mắc điều kỳ diệu gì đã mang anh đến đây. Anh nói đó là một sự tình cờ ngẫu nhiên. Anh đến bệnh viện tìm ông William Grey nào đó để báo tin con ông đã hy sinh ở Iraq, nhưng duyên phận đã khiến anh có mặt tại căn phòng này. Cô y tá nhìn anh run run: “Người đàn ông mà anh đã ở cạnh suốt đêm chính là William Grey…”
Cái đêm đặc biệt ấy đã khiến tâm hồn của ba con người thay đổi hoàn toàn. Ông lão được thỏa mãn nguyện ước cuối cùng của đời mình và có thể thanh thản để về bên kia thế giới. Chàng trai trẻ mồ côi cha lần đầu tiên được nắm tay một người để có thể chia sẻ, bộc bạch mọi khó khăn, bước ngoặt cuộc đời mà anh đã cô đơn bước qua.
Cô y tá được chứng kiến tận mắt một câu chuyện nhân sinh quan rất cảm động có thật trên đời, có lẽ sẽ càng khiến cô trở thành một người chăm sóc nhân hậu, thông cảm và thấu hiểu hơn nữa tình người. Trong cõi xa xăm nào đó, hai cha con ông lão hẳn sẽ được đoàn tụ với nhau, và người thủy thủ sẽ không phải nuối tiếc vì thiếu hơi ấm của người cha khi còn quá trẻ…
Vào một lúc nào đó, giữa dòng đời tấp nập, nếu có ai đó cần bạn thật sự, xin bạn hãy mở rộng tấm lòng mình như cái cách mà người thủy thủ đã làm với ông lão và với cuộc đời mình, để cảm nhận tình người và vị ngọt của sự chia sẻ, đồng cảm. Yêu thương người khác là yêu thương chính mình, bạn sẽ không bao giờ biết được hết giá trị của tình yêu không cần hồi đáp mà bạn cho đi.
Sưu Tầm (lượm lặt trên net)
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở TÌNH NGƯỜI …VÔ GIÁ_Sưu tầm
Lời kêu gọi của TT Donald Trump

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Lời kêu gọi của TT Donald Trump
Những bài thơ tháng Tư_ĐNN
THÁNG TƯ LẠI VỀ
Tháng tư nầy nhớ tháng tư xưa
Đau khổ như nhau chẳng có chừa
Cửa nát nhà tan do lấn chiếm
Cô Vy đến viếng bỏ chào thưa
Tháng tư mất nước trời buồn bã
Covid thăm nhà họa thấy chưa
Nhân loại đau thương do đại dịch
Toàn dân hoảng sợ ngất ngư vừa
Tháng tư năm ấy lại thêm mưa
Bầy trẻ miền nam kiếp sống thừa
Phân biệt tỵ hiềm con gốc ngụy
Tương lai tối mịt chúng ngăn ngừa
Tháng tư dịch bệnh tràn lan khắp
Già trẻ tránh nhau dẫu mến ưa
Cố gắng tuân hành theo lệnh phán
Thành công thật sự có đâu lừa
Đoàn Ngọc Nam (Tháng tư/2020)
THÁNG TƯ NĂM NÀO
Em vừa lớn, biết chi mô,
Tháng tư hoảng loạn trời tô mây buồn.
Cha đi “cải tạo” biệt luôn,
Đầu đường xó chợ mẹ luồn lách thân.
Đời em ngõ rẽ dự phần,
Quần thâm áo thẫm đôi chân chợ đời.
Còn đâu nhõng nhẽo vui chơi,
Tâm hồn trong trắng một thời đã qua.
Tháng tư nhớ lại xót xa,
Dân lành lánh nạn lên phà ra khơi.
Vì đâu nên nỗi hỡi trời,
Quê mình đành bỏ tìm nơi nương nhờ.
Nhiều năm đánh mất tuổi thơ,
Bây giờ nhìn lại chẳng ngờ xãy ra.
Cơm ngày hai bữa mắm cà,
Đèn lu lụn bấc chim sa lạc bầy…
DNN (Tháng tư/2020)
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Những bài thơ tháng Tư_ĐNN
Thủ Phạm Đây _ Thơ LTT

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Thủ Phạm Đây _ Thơ LTT

Bây giờ nói tới chuyện tại sao lúc đầu mùa dịch thì CDC không muốn dân chúng đeo khẩu trang mà tới giữa mùa dịch thì CDC lại khuyên dân chúng đeo khẩu trang?





Bạn phải đăng nhập để bình luận.