
Các Danh Mục



Ngày 20 tháng 11 năm 2019
Hà Nội, Việt Nam
Xin chào các bạn!
Tôi xin cảm ơn Ngài Giám đốc Nguyễn Vũ Tùng và Học viện Ngoại giao Việt Nam đã dành thời gian đón tiếp tôi hôm nay. Học viện Ngoại giao Việt Nam từ lâu đã là một trong những học viện uy tín nhất tại Việt Nam và đã đào tạo ra nhiều thế hệ lãnh đạo cho đất nước. Hôm nay, tôi rất vinh dự và vui mừng khi được nói chuyện với các bạn về tầm nhìn của Hoa Kỳ đối với khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương.
Trong một tuần vừa qua, tôi đã công du đến Hàn Quốc, Thái Lan, Philippines và bây giờ là Việt Nam. Tôi đã thảo luận với các đối tác ASEAN về các mối đe dọa đối với sự ổn định của khu vực Đông Nam Á. Và tôi đã tham gia Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN mở rộng (ADMM+). Trong hầu hết các buổi nói chuyện tôi tham gia, có một chủ đề luôn xuất hiện một cách nhất quán, đó là trật tự quốc tế dựa trên luật lệ. Trật tự quốc tế này đã tạo điều kiện gây dựng nền an ninh và sự thịnh vượng cho các nước Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương trong nhiều thập niên, nhưng trật tự này hiện đang phải chịu sức ép. Do vậy, chủ quyền của nhiều quốc gia độc lập và giàu lòng tự hào ở khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang bị đe dọa.
Tình hình địa chính trị hiện nay gợi cho chúng ta nhớ tới một câu chuyện mà nhà sử học Athen mang tên Thucyides đã kể lại cách đây hơn hai thiên niên kỷ trong Chiến tranh Peloponnese. Mùa hè năm 416 TCN, cường quốc hải quân Athen điều lực lượng đến quốc đảo Melos độc lập với yêu sách công dân trên đảo này phải đầu hàng và cống nạp cho Athen, nếu không chắc chắn sẽ phải đối mặt với sự diệt vong. Các nhà lãnh đạo Melos lý luận rằng họ giữ trung lập trong cuộc chiến giữa Athen và Sparta và do đó họ là bên “đúng”.
Không cảm thấy thuyết phục, người Athen không muốn lãng phí thời giờ vào việc thảo luận khía cạnh đạo lý của vấn đề. Theo cách nhìn nhận của người Athen, tranh luận lý lẽ cho hành động xâm lấn của họ chỉ có ý nghĩa khi các bên là đối thủ có sức mạnh tương đương. Trong trường hợp này, Melos là nước nhỏ, và theo lô-gíc của người Athen, thì không có lựa chọn nào khác ngoài việc phải phục tùng để tránh nạn diệt vong. Trong tuyên bố tổng kết rõ nhất quan điểm về thế giới của người Athen, họ lý giải cho hành động của họ và nói rằng “kẻ mạnh làm điều họ có thể làm, kẻ yếu phải chịu đựng những gì họ phải chịu”.
Đối thoại Melos, cũng là tên của câu chuyện được kể lại, thường được sử dụng làm chủ đề nghiên cứu tình huống trong lĩnh vực chính trị thực dụng ở các đơn vị học thuật như tại Học viện Ngoại giao Việt Nam đây. Câu chuyện của Thucydides giúp chúng ta có một cái nhìn sâu sắc về quan điểm “kẻ mạnh là kẻ đúng” trong quan hệ quốc tế. Ngày nay, hầu hết các nơi trên thế giới đều coi quan điểm này là cổ hủ và đi ngược lại với các nguyên tắc mà chúng ta kỳ vọng các quốc gia có trách nhiệm sẽ tuân thủ. Kiểu hành xử này đi ngược lại nguyên tắc của hệ thống chúng ta đã cùng nhau xây dựng và hưởng lợi trong 70 năm qua. Tuy nhiên, các nước Đông Nam Á đang ngày càng phải chịu sự cưỡng ép và dọa nạt thông qua nhiều cách thức, trực tiếp thách thức những nền tảng cơ bản của một trật tự dựa trên luật lệ, rộng mở và tự do.
Những gì chúng ta đang chứng kiến ở Biển Đông là một ví dụ tiêu biểu cho hành vi ứng xử này. Thời kỳ hòa bình lâu dài đã tạo điều kiện cho tăng trưởng kinh tế ở gần như mọi quốc gia châu Á đang phải nhường chỗ cho một phong cách ứng xử kiểu Trung Quốc, vi phạm quyền chủ quyền của các nước khác. Gần đây nhất, chúng ta được chứng kiến cách ứng xử này với các nước Malaysia, Philippines và Việt Nam khi các hoạt động khai thác dầu khí đã diễn ra từ rất lâu quanh khu vực Bãi Tư Chính nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam bị quấy rối. Kết hợp với hoạt động tôn tạo và quân sự hóa các tiền đồn có tranh chấp ở Biển Đông, các nỗ lực đơn phương của Trung Quốc nhằm khẳng định yêu sách hàng hải bất hợp pháp đang đe dọa khả năng tiếp cận các nguồn tài nguyên thiên nhiên quan trọng của các nước khác, làm suy yếu sự ổn định của thị trường năng lượng khu vực và gia tăng rủi ro xung đột.
Những hoạt động cưỡng ép như vậy đang gây ra tổn hại kinh tế cho các nước Đông Nam Á vì chúng cản trở các nước tiếp cận nguồn tài nguyên hiđrôcacbon chưa được khai thác có giá trị ước tính 2,5 nghìn tỉ đô-la. Trong một số trường hợp, các nước ASEAN đã bị ép buộc phải hợp tác thông qua các liên doanh với chi phí cắt cổ để khai thác các nguồn tài nguyên đường đường chính chính thuộc về họ theo luật pháp quốc tế. Hoa Kỳ kiên quyết phản đối hành vi dọa nạt của các bên yêu sách nhằm khẳng định yêu sách lãnh thổ hay hàng hải, và chúng tôi kêu gọi chấm dứt các hành động bắt nạt và phi pháp đang ảnh hưởng tiêu cực đến các nước ASEAN ven biển.
Hành vi ứng xử như vậy hoàn toàn trái ngược với tầm nhìn của Hoa Kỳ về một khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương tự do và rộng mở, trong đó tất cả các nước, dù lớn hay nhỏ, đều có thể cùng nhau phát triển thịnh vượng trong hòa bình và ổn định. Tầm nhìn của chúng tôi dựa trên sự hợp tác và các nguyên tắc bền vững, bao trùm và được đón nhận trong toàn khu vực. Những nguyên tắc này bao gồm: tôn trọng chủ quyền và độc lập của tất cả các nước; giải quyết tranh chấp một cách hòa bình; thương mại và đầu tư tự do, công bằng và có đi có lại, bao gồm bảo vệ tài sản trí tuệ; và tuân thủ luật lệ và nguyên tắc quốc tế, bao gồm tự do hàng hải và hàng không.
Mục tiêu của chúng tôi là để cho tất cả người dân được sống trong thịnh vượng, an ninh và tự do; cho tất cả các nước được tự do triển khai hoạt động thương mại và thực thi chủ quyền; và giữ cho các vùng biển và các tuyến đường thuỷ mà nền kinh tế của chúng ta dựa vào rộng mở với tất cả.
Tôi xin nhắc lại với những người bạn ở Hà Nội rằng, mặc dù bờ Tây của Hoa Kỳ nằm cách xa nghìn dặm nhưng chúng ta kết nối với nhau thông qua Ấn Độ Dương, các liên kết kinh tế vững mạnh và quan hệ gần gũi Việt-Mỹ. Hoa Kỳ là quốc gia nằm trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương. Chúng tôi có lợi ích chiến lược và kinh tế lâu dài ở khu vực và có sự cam kết đối với sự tiếp tục ổn định và thịnh vượng ở đây. Thông qua hợp tác chặt chẽ với các đồng minh và đối tác như Việt Nam, chúng tôi sẽ cạnh tranh quyết liệt để thúc đẩy tầm nhìn của chúng tôi và chống lại những nỗ lực nhằm hạn chế quyền tự chủ và tự do lựa chọn.
Cần lưu ý rằng, tầm nhìn bao trùm của chúng tôi mở rộng đến tất cả các nước, bao gồm cả Trung Quốc. Chúng tôi sẽ tiếp tục theo đuổi mối quan hệ mang tính xây dựng, hướng đến kết quả với Bắc Kinh và tìm kiếm các lĩnh vực hợp tác và điểm tương đồng vì lợi ích của chúng ta. Tuy nhiên, Hoa Kỳ sẽ không ngại ngần vạch mặt chỉ tên và chống lại những hành vi cưỡng ép khi chúng tôi nhìn thấy chúng. Bằng cách đứng bên nhau chống lại các thách thức đối với an ninh và sự thịnh vượng chung, chúng ta có thể chứng minh được sự quyết tâm chung và ngăn chặn xung đột trước khi nó xảy ra. Đây chính là lý do vì sao việc tăng cường các mối quan hệ đồng minh và phát triển những quan hệ đối tác mới là nội dung trọng yếu trong Chiến lược Quốc phòng của Hoa Kỳ.
Quan hệ ngày càng phát triển giữa Hoa Kỳ và Việt Nam là một ví dụ điển hình. Chúng tôi cam kết mở rộng mối quan hệ chiến lược này bằng cách tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực hai bên cùng quan tâm, như an ninh hàng hải, hoạt động gìn giữ hòa bình, hỗ trợ nhân đạo và cứu trợ thảm họa. Điều này bao gồm việc trang bị cho Việt Nam năng lực cần thiết để bảo vệ chủ quyền và các nguồn tài nguyên thiên nhiên để tiếp tục lớn mạnh. Ở khía cạnh này, tôi rất vui mừng được thông báo việc Hoa Kỳ sẽ chuyển giao chiếc tàu tuần tra thứ hai cho Cảnh sát Biển Việt Nam trong năm tới. Chiếu tàu này là một biểu tượng cụ thể nữa đại diện cho mối quan hệ đang ngày càng vững mạnh của chúng ta.
Sự hợp tác này không chỉ tăng cường an ninh cho Việt Nam nói riêng và khu vực nói chung mà còn xây dựng lòng tin và sự tôn trọng lẫn nhau, tạo ra sự hòa hợp giữa nhân dân hai nước. Cần lưu ý rằng điều này sẽ không thể thực hiện được nếu như không có nền tảng vững chắc của sự hợp tác chặt chẽ trong các vấn đề khắc phục hậu quả chiến tranh và hỗ trợ nhân đạo. Những nền tảng này bao gồm các nỗ lực tẩy rửa ô nhiễm đi-ô-xin và loại bỏ vật liệu chưa phát nổ, cùng với sự hỗ trợ mạnh mẽ của Việt Nam trong các hoạt động tìm kiếm quân nhân mất tích của Hoa Kỳ. Trong bối cảnh chúng ta đang cùng nhau xây dựng một tương lai tích cực, Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ sẽ tiếp tục thúc đẩy những nỗ lực này để chúng ta có thể vinh danh những chiến sĩ đã hy sinh và đang mất tích.
Nói rộng hơn, Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ đang thực hiện các bước đi để thúc đẩy một cơ cấu an ninh có sự kết nối trong toàn khu vực, giúp đề cao một trật tự dựa trên luật lệ có nền tảng là pháp luật quốc tế. Hoạt động này sẽ ngăn chặn sự hung hãn và giúp cho tất cả các nước có cơ hội phát triển thịnh vượng. Chúng tôi tin tưởng rằng ASEAN đứng ở trung tâm của nỗ lực này, và tôi cũng nhấn mạnh quan điểm này tại Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN mở rộng ở Bangkok cách đây hai ngày. Trên thực tế, chiến lược của chúng tôi cũng phù hợp với Quan điểm của ASEAN về Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, trong đó nhấn mạnh vai trò trung tâm và vai trò lãnh đạo của ASEAN trong tăng cường hợp tác khu vực.
Hoa Kỳ và ASEAN chia sẻ nhiều giá trị chung, và chúng tôi sẽ làm việc chặt chẽ với nhau để thúc đẩy các nguyên tắc đề ra trong Chiến lược Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương. Chúng tôi rất mong đợi được nhìn thấy Việt Nam đảm nhiệm vai trò chủ tịch ASEAN trong năm tới, đây là cơ hội để xây dựng sự đồng thuận trong khu vực nhằm giải quyết các thách thức chung đối với chủ quyền, đặc biệt ở Biển Đông.
Trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, Hoa Kỳ sẽ tiếp tục biến lời nói thành hành động. Đầu năm nay, chúng tôi đã tổ chức diễn tập hàng hải ASEAN-Hoa Kỳ lần đầu tiên, tại sự kiện này Hoa Kỳ tổ chức huấn luyện với các nước đối tác để tăng cường năng lực tập thể nhằm bảo vệ an ninh hàng hải. Chúng tôi sẽ tiếp tục ủng hộ các nỗ lực của các đồng minh và đối tác, đặc biệt là Việt Nam, để đảm bảo tự do hàng hải và cơ hội phát triển kinh tế trong toàn khu vực.
Chúng tôi cũng sẽ duy trì sự hiện diện quân sự thường lệ ở Biển Đông để chứng minh sự nghiêm túc trong cam kết của chúng tôi. Chúng tôi sẽ không chấp nhận các nỗ lực nhằm khẳng định các yêu sách hàng hải phi pháp gây tổn hại đến các nước tuân thủ pháp luật. Quân đội Hoa Kỳ sẽ tiếp tục cho máy bay, tàu thuyền và lực lượng hoạt động ở bất kỳ đâu luật pháp quốc tế cho phép, và chúng tôi sẽ khuyến khích các nước khác khẳng định quyền lợi của mình theo cách tương tự. Các hoạt động Tự do hàng hải vẫn là cấu phần trung tâm chứng minh vai trò lãnh đạo của chúng tôi trong việc duy trì trật tự dựa trên luật lệ.
Tóm lại, Hoa Kỳ vẫn tiếp tục cam kết hoàn toàn đối với khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương. Chúng ta phải tiếp tục hợp tác để duy trì một môi trường tự do và rộng mở dựa trên các nguyên tắc hỗ trợ cho quyền lợi của tất cả các nước, dù lớn hay nhỏ. Tuy nhiên, cũng như Việt Nam đã từng phải trải nghiệm thực tế, thật đáng tiếc tầm nhìn dựa trên sự hợp tác, tin tưởng và tôn trọng này không được tất cả các nước chia sẻ. Cưỡng ép, hung hãn và dọa nạt, những công cụ quản lý, điều hành đáng ra nên bị bỏ lại quá khứ, ngày nay vẫn đang tồn tại mạnh mẽ. Nhưng cách đây gần 2.000 năm, Hai Bà Trưng đã chứng minh cho nhà Hán thấy rằng Việt Nam là một đất nước, cũng giống như Hoa Kỳ, sẽ không bao giờ chấp nhận cách tiếp cận “kẻ mạnh là kẻ đúng” trong quan hệ quốc tế.
Cùng nhau, chúng ta có thể chống lại hành vi này. Khi đồng lòng nỗ lực, chúng ta có thể thực thi các nguyên tắc ứng xử quốc tế có trách nhiệm. Khi kiên định trong quan hệ đối tác, chúng ta có thể đảm bảo rằng một trật tự tự do và rộng mở sẽ thắng thế.
Quyết tâm gìn giữ môi trường rộng mở và tự do này của Hoa Kỳ có nguồn gốc sâu xa và chỉ càng trở nên lớn mạnh hơn mỗi khi phải đối diện với những nỗ lực nhằm làm nó suy yếu. Cùng chung tay với các đồng minh và đối tác để bảo vệ các nguyên tắc và giá trị giúp cho khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương thịnh vượng, chúng ta sẽ đảm bảo được rằng hòa bình, thịnh vượng và an ninh sẽ được duy trì cho nhiều thế hệ tương lai.
Cảm ơn các bạn. Tôi rất nóng lòng muốn được thảo luận với các bạn.
# # #
Bản dịch được cung cấp có tính tham khảo và chỉ bản gốc chính thức bằng tiếng Anh mới có giá trị chính xác.
Nguồn bản dịch và bản gốc tiếng Anh: ĐSQ Hoa Kỳ tại Việt Nam.
Nguồn: FB Nguyễn Ngọc Chu
“Tưởng niệm cố Hòa Thượng THÍCH THANH LONG –
một cựu Tù Nhân Chính Trị – nhân giỗ mãn phần 28 năm ( 29/11/1991 – 2019).”
BÀI CA KINH HÒA BÌNH
* VŨ VĂN QUÝ
(*) Cha Nguyễn Quốc Túy hiện nay làm cha xứ Tân Thái Sơn tại Sài Gòn.
(*) Con bà phước: tù nhân mồ côi, không người thăm viếng, thiếu thốn.
(Nguồn: thuvienhoasen.org)

Cố Trung Úy CSQG Văn Đình Thảo sau khi tốt nghiệp Khóa 3 Học Viện CSQG/VNCH, anh được thuyên chuyển về phục vụ tại BCH/CSG/ tỉnh Quảng Trị, nơi địa đầu giới tuyến với chức vụ Đại Đội Trưởng CSDC. Sau ngày mất nước , anh và gia đình sang định cư tại thành phố Seattle tiểu bang Washington, nhưng ít khi tham gia sinh hoạt chung nên bản thân tôi cũng không được biết thì anh đã ra đi. Hôm nay trong tang lễ, với tư cách là khóa đàn anh, tôi mạo muội đại diện cho anh chị em đồng môn Học Viện có lời chia buồn cùng gia đình tang quyến và cùng niệm Phật cầu cho hương linh bạn đồng môn K3 Văn Đình Thảo sớm được vảng sanh Cực Lạc Quốc.
Một số các bạn Khóa 3 đã đến thăm viếng và tham gia Lễ phủ cờ cho cố trung úy CSQG Văn Đình Thảo.
Ngày mai lễ di quan và hỏa táng lúc 2 giờ. Mong các bạn Học Viện dành thì giờ đến tiển đưa bạn ta về bên kia thế giới.
Mời các bạn một số hình ảnh lễ tang và phủ cờ cho cố Trung Úy CSQG Văn Đình Thảo sáng nay.
Video Clip do K1 Phạm văn Toán thực hiện
Video Clip do K1 Phạm Văn Toán thực hiện
Người chuyển: Tuyen Dinh

(Nguồn Facebook)


Các bạn ta ơi,
Ngày Chủ Nhật hôm qua, anh chị em đồng môn Khóa 1 vùng Bắc Cali đã về họp mặt tại tệ xá K1 Đinh Văn Hạp mừng đón phu nhân cố đồng môn K1 Nguyễn Ngọc Bé chị Nguyễn Thị Bông từ Oregon đến thăm San Jose do vợ chồng K1 Nguyễn Văn Vinh đưa đón. K1 Hạp tuyên bố lý do họp mặt và lời chào mừng thật thân thương đến chị Nguyễn Thị Bông với một tràng pháo tay nồng ấm từ vợ chồng K1 Đinh Văn Hạp, vợ chồng K1 Võ Quang Lâu, vợ chồng K1 Nguyễn Hữu Nhật , vợ chồng K1 Bửu Hồng , vợ chồng K1 Trần Quốc Nại , vợ chồng K1 Nguyễn Văn Vinh , vợ chồng K1 Huỳnh Minh Thanh , và K1 Phan Quang Nghiệp , K1 Nguyễn Hoài Ân , K1 Nguyễn Văn Hải. Rồi mọi người nâng chén chúc nhau sức khỏe và trò chuyện vui vẻ mãi đến 7.30PM mới lưu luyến chia tay hẹn ngày gặp lại.
TQN xin báo cáo.
(HNPD): Tui là tín đồ của Phở. Mà phải là Phở Bắc kia. Phở Hoà, Phở Lệ, Phở Phú Vương tui chê. Tui chỉ ăn Phở Dậu. Tui chơi Phở Dậu đã gần năm chục năm nay, từ hồi tui xấp xỉ hai mươi cho đến giờ đã gần bảy chục, chỉ gián đoạn mấy năm đi Tây. Cũng là loại tín đồ ngoan đạo đấy chứ.Và bây giờ quán phở Dậu có thể gọi là quán phở đắt khách nhất của Sài Gòn. Khách cứ đông nườm nượp, nhất là ngày thứ bảy và chủ nhật. Kiếm chỗ ngồi hơi khó. Đúng là Phở Dậu giờ không còn ngon và có mùi vị như xưa, nhưng khách thì tăng lên bội phần.
Phở Dậu không có rau, chỉ có bát hành tây xắt mỏng. Cũng không có tương đen, chỉ có tương Bắc cay màu đỏ. Phở Dậu ngon nhờ nước. Nước phở ở đây trong và thanh, là nước hầm xương, những khúc xương dài lóc
hết thịt được đun từ hôm trước thoang thoáng mùi quế với hồi, nhạt thôi, tinh ý lắm mới ngửi thấy. Có thể cho điểm cao nhờ nước phở. Bánh cũng được, không nát, không dày quá. Thịt thì không ngon như ngày xưa, có lẽ bò bây giờ chất lượng không bằng. Lát nạm xảm không thấy chất thịt, vè vụn và dai. Ăn phở bò thì phải có gầu, nhưng gầu bây giờ trắng nhách, không có màu vàng như hồi xưa, miếng gầu ngày cũ nhai sần sật mà không dai, béo mà không ngậy, nhai miếng gẩu thấy sướng mồm. Giờ nhai gầu như nhai miếng thịt bị cắt ngược sớ, miếng gầu như kẹo cao su, chẳng thấy ngọt mà cứ nhờn nhợt trong miệng, đành phải nhả.
Nghe kể hồi mới di cư ở ngoài Bắc vào, gia đình này ở bên bến tắm ngựa ở Huỳnh Tịnh Của bây giờ, chưa biết làm ăn gì thì được một người quen dạy cho cách nấu phở. Sau đó dọn về xóm chuồng ngựa dưới dốc đường Công Lý gần Yên Đổ, sau mới về đây. Ông chủ bây giờ là đời thứ hai.
Nhân viên lo việc hầm xương, cứ bốn giờ sáng ông vào nêm nếm theo bí quyết của mẹ truyền lại. Ông bà chủ này buôn bán thế này mấy chục năm nay, khách khứa như thế, hẳn là giàu. Nhưng ông bà rất giản dị và gần gũi. Ông ra vào kiêm luôn việc điều hành xe cộ của khách. Ông này có trí nhớ rất đặc biệt. Khách đi xe máy chỉ ghé ăn vài lần là ông nhớ số xe. Chẳng sai bao giờ. Do tánh tình bình dân và gắn bó, vui vẻ với khách nên khách nào cũng quý ông. Khách ở xa về ông nhớ mặt, chuyện trò thân mật, khách quen lâu không ghé, ông hỏi thăm. Khách thích ghé quán vì phở ngon nhưng cũng ưa ghé vì cái tình giao hảo ấy.
Mấy chục năm ăn phở mỗi sáng ở đây, tui thành như người nhà. Hồi còn trẻ, khoẻ, ngày nào cũng ăn. Giờ có tuổi, lại bị Gout nên mỗi tuần chỉ ghé một hai lần. Có nhiều khi tui bỏ thuốc lá, nhưng cứ theo thói quen tui chưa ăn xong thì đã có người mang bao thuốc ba số để lên bàn, thế là rút một điếu. Ăn tô phở xong mà chưa có điếu thuốc cũng chưa gọi là hoàn tất bữa ăn. Thế là hút. Hê..hê thành ra mang tiếng bỏ thuốc lá cũng vài chục lần mà không bỏ được. Ăn lâu năm nên cũng quen mặt nhiều khách cũng ăn thường xuyên giống tui. Gặp nhau cười chào mà chẳng biết tên gì. Mà cũng lạ lắm nghe. Khách ăn thường xuyên cũng thường chọn một chỗ thường xuyên, đôi khi chỉ xê xích vài chiếc ghế. Khách ngồi ngoài sân thì luôn luôn ngồi ngoài sân. Khách ngồi gian giữa cũng luôn ngồi gian giữa. Khách ngồi nhà bên thì cũng luôn chọn nhà bên để ngồi. Như một thói quen. Lại biết cách ăn của từng người. Có người mang theo chai giấm tỏi, có người không ăn hành, có người nhiểu bánh, có người ít, có người thêm béo có người nước trong. Lâu ngày tui nhớ hết, gần năm mươi năm còn gì, nửa thế kỷ chứ ít sao.
Ăn lâu một quán đôi khi cũng chán, nên khi nghe ai nói có quán phở nào ngon là đi tìm ăn thử, nhưng rồi cũng châu về hợp phố, làm như đã quen cái mùi cái vị đó rồi, thấy chỗ nào cũng chẳng vừa lòng. Tui có anh bạn chơi Piano nổi tiếng, cũng thuộc loại ghiền phở ở đây, cũng là
khách thường xuyên. Đi trình diễn ở nước ngoài, vừa xuống máy bay, hành lý cồng kềnh nhưng bao giờ cũng ráng kêu taxi đến đây chơi một tô trước khi về nhà vì nhớ quá he..he.
Mấy hôm rồi có người giới thiệu một quán phở ở Cao Thắng, anh ta khen ngon nên tui có ý định đến ăn xem thử. Sáng nay rú xe đến đấy. Thứ bảy mà quán vắng hoe. Chỉ có một bàn có khách là một đôi nam nữ còn trẻ.
Tui ngồi kế bàn đấy. Phải công nhận quán sạch sẽ, bàn ghế, đũa muỗng ngăn nắp. Bước vào quán có mùi phở, đã xứng cho một sao. Tui quan niệm quán phở phải có mùi phở. Cái mùi ngậy chút của hồi, của quế, của gừng nướng quyện với mùi bò. Đương nhiên là thoang thoảng thôi chứ không nồng nặc như quầy thịt bò ngoài chợ. Nhưng phải có mùi phở, cái mùi nhè nhẹ thoang thoảng ấy đánh thức cái khứu giác của người ăn, gợi cho họ cái cảm giác thèm được thưởng thức. Rau, ớt, chanh được để trong dĩa trắng tinh có lớp nhựa mỏng bọc ngoài. Lại nghe bảo tương ớt tự nhà làm. Tui cho thêm một sao nữa. Ở đây có món đặc biệt là phở đuôi bò. Cũng hay, thay đổi thử xem thế nào? Tui gọi một tô phở đuôi bò.
Phở chỉ nên ăn thịt chín, bắp, nạm, gầu, vè. Phở mà ăn thịt tái là sai cách rồi, nhưng nhiều người thích thế.
Đôi nam nữ bàn kế bên vừa nhận hai tô phở đã bắt đầu hành trình trang bị. Cả hai xịt tương đỏ, rồi chơi luôn tương đen. Sau đó là động tác vặt rau, rồi trút cả dĩa giá trụng. Nhìn quanh, anh chị chơi luôn mấy muỗng tỏi ngâm dấm. Xong nhìn quanh xem còn thiếu gì không. À! Nước mắm thêm vài ba giọt rồi vắt vào miếng chanh. Tô phở bây giờ tú hụ, như nồi lẫu thập cẩm nhìn là hết muốn ăn. Cái thanh cảnh của người thưởng thức phở như tui bỗng ngao ngán cho cách ăn của họ. Ăn thế thì
còn chi là phở. Tui quan niệm người biết ăn phở là khi tô phở bưng ra, nghi ngút khói, người ăn hít cái mùi thơm của phở, sau đó dùng muỗng múc một muỗng nước phở, húp để đánh gia nước phở ngọt ngon, mặn nhạt thế nào, lúc ấy mới nêm nếm theo ý mình. Cách ăn này cũng dùng cho hủ tíu, mì, bún nước ….chứ ăn mà bỏ đủ thứ vào một tô như nồi cám lợn thế kia thì mất mẹ cái thú thưởng thức thi vị món ăn rồi.
Tô phở đuôi bò của tui được bưng ra, cũng vừa thôi, không lớn lắm, được đựng trong bát sành có vẽ men xanh, nhìn cũng bắt mắt. Có bốn khoanh đuôi bò mỏng. Nước phở cũng tạm, không thể gọi là ngon, nhưng chắc có nêm bột ngọt. Đuôi bò mềm nhưng không nhũn, thịt cũng tạm, có thể cho thêm một sao nữa. Bánh phở dày quá, thiếu cái nuột nà khi cho trôi vào cổ họng.
Nhìn chung là mới ngưỡng trung bình, tô phở chưa có gì xuất sắc. Quẩy làm theo kiểu Bắc kỳ, nho nhỏ và cứng, phải ngâm trong nước lèo một lát mới mềm để ăn. Xin thêm ớt và gọi ly trà đá. Phục vụ nhanh, lễ phép, tui cho thêm nửa sao. Tổng cộng được ba sao rưỡi. Tức là trên trung bình một chút. Điểm đặc biệt ở quán này là trên tường dán một bảng công khai các gia vị sử dụng từ địa chỉ rau sạch, hãng nước mắm sử dụng cho đến chai nước suối và những gia vị với tên nhãn hàng.
Người khách vào đây có thể biết rõ mình đang được phục vụ bởi các nhãn hàng nào, đó cũng là điều hay khi các hàng quán bây giờ có nhiều quán toàn sử dụng các loại gia vị và rau, nước chấm rẻ tiền hoặc không tên.
Tui cho thêm nửa điểm về sự minh bạch này của chủ quán. Thế nhưng, khi tính tiền, tui lại trừ đi nửa điểm vì tính giá khá cao, không xứng với chất lượng của tô phở. Giá một tồ phở đuôi bò với bốn khoanh mỏng leo lét mà tính 85.000 đồng là chưa hợp lý. Giờ thì tui hiểu nguyên nhân quán vắng. Quán không có khách vì giá cao. Điểm cuối cùng còn lại là ba điểm rưỡi. Chưa ưng ý.
Thế là sẽ vẫn quay về với Phở Dậu. Đi loanh quanh lại về chốn cũ hê..hê
DODUYNGOC
Hắn nói ngôn sử tiếng Pháp là philologie, tôi chẳng hiểu gì cả. Hắn giải thích đó là môn học nghiên cứu lịch sử, cấu trúc và cách tạo thành của ngôn ngữ. Tôi vẫn mù tịt. Năm 1980, hắn nhờ tôi tìm mối bán nhà và đất lấy mười lượng vàng vượt biên. Tôi tìm không ra, và hắn ở lại. Không ngờ như thế mà lại may. Gần đây nhà đất vùn vụt lên giá, hắn bán một phần khu đất và trở thành triệu phú đô la. Hắn bảo tôi :
– Bôn ba không qua thời vận. Mày xông xáo như thế mà cuối cùng lại chẳng ra gì so với tao. Cái nhà mày hơi bị nhỏ đấy. Tao là một sản phẩm của tệ đoan xã hội. Chúng nó ăn hối lộ và buôn lậu, nhiều tiền bẩn quá phải mượn chuyện mua nhà đất để tẩy rửa, nhờ thế mà tao giàu sụ. Tao bán hơn năm ngàn mét đất được vài ngàn cây, sau khi lịch sự mất vài trăm cây.
Lịch sự ?
– À, đó là một tiếng mới – hắn cười to. Bây giờ người ta không nói là đút lót hay đưa hối lộ nữa, xưa rồi ! Bây giờ người ta nói là “lịch sự”. Lịch sự trở thành một động từ. Làm cái gì cũng phải lịch sự mới xong; không biết lịch sự thì không sống được. Tao nhờ một thằng bạn lanh lẹ lịch sự giùm mới bán được miếng đất đấy. Thằng bạn nhờ đó được một trăm cây tiền lùi.
Tiền lùi ?
– Đó cũng là một từ; mới nữa. “Lùi” có nghĩa là tiền mà kẻ được lịch sự bớt cho, còn gọi là tiền lại quả, cũng một tiếng thời thượng mới. Nó đ̣i năm trăm cây nhưng lùi cho một trăm cây.
Hắn tặng vợ tôi một cái túi xách tay Louis Vuiton và nói đó là là một túi mố. Hắn giải thích “mố” cũng là tiếng mới xuất hiện, dùng thay cho “thời trang”, hay “mốt” trước đây. Hắn cho tôi một sơ-mi lụa và nói đó là lụa thực chứ không phải lụa đểu.
Tôi hỏi lụa đểu là gì thì hắn phá lên cười :
– Mày lỗi thời quá rồi.. Bây giờ trong nước người ta không nói là “giả” nữa mà nói là “đểu”. Hàng đểu, bằng đểu, rượu đểu, thuốc đểu.
Tôi, sực nhớ ra hắn là một nhà ngôn sử, bèn hỏi hắn:
– Thế mày nghĩ gì về những từ mới này ?
Hắn bỗng trở thành nghiêm trang, trầm mặc một lúc rồi nói :
– Ngôn ngữ của dân tộc nào cũng gắn liền với lịch sử. Cái gì thường trực và lâu dài cũng trở thành ám ảnh rồi đi vào ngôn ngữ. Mày thử xem, ngôn ngữ của nước nào cũng xoay quanh hai từ “có” và “là”, avoir và être, to have và to be.
Thắng bại thì gọi là ăn thua, thằng nào thắng thì có ăn, thằng nào thua thì đói;
Hắn dừng lại một lúc rồi nói tiếp :
Nhân loại tiến triển qua các thời kỳ đồ đá, đồ đồng, đồ sắt. Riêng Việt Nam chúng ta còn có thời kỳ đồ đểu. Nước mình đang ở thời kỳ đồ đểu.
Vô Danh
Tác giả từng nhận giải Danh Dự Viết Về Nước Mỹ 2018. Là một cựu tù cải tạo vượt ngục và là người lái tầu vượt biển. Định cư tại Mỹ từ 1990, hiện làm việc theo một hợp đồng dân sự với quân đội Mỹ, từng tình nguyện tới chiến trường Trung Đông và Châu Phi. Người thuyền nhân trại Pallawan 30 năm trước, nay là một công dân Mỹ trở lại Philippinnes, giúp mảnh đất ơn nghĩa năm xưa chống khủng bố. Sau đây, thêm bài viết mới nhất.
Khi nói về biên giới, ai cũng nghĩ đến lằn ranh chia đôi giữa nước này với nước kia, mà ít ai nghĩ đến cái biên giới giữa cái sống và cái chết, giữa sự tự do và tù tội, giữa thời gian và không gian, và còn rất nhiều những biên giới khác nhau hữu hình và vô hình. Có những biên giới mà tôi đã đi qua rất dễ dàng khi du lịch hay đi công tác qua các lục địa khác nhau. Lại có những biên giới khi vượt qua đã để lại trong tôi những khắc khoải, thổn thức sâu đậm, không dễ gì quên và nó cứ sống lại mỗi khi tôi nghe, thấy, hoặc đọc được trên tin tức hay truyền hình hằng ngày.
Thập niên 80 ở Việt Nam, biên giới của Sống hay Chết và của Tự Do hay Tù Tội là những chuyến vượt biên đường biển âm thầm mà dữ dội với những tin vui lẫn tin chết chóc bay về các gia đình còn ở trong nước. Cũng cái biên giới mong manh đó, ngày nay đang lập lại ở phía Nam nước Mỹ, đang nóng lên từng ngày nơi bức tường ngăn cách mà những di dân Nam Mỹ đang kiếm đường vượt qua để đi về phía Bắc mà họ gọi là El Norte hay Đường về phương Bắc (The North).
Mới đây, vào cuối tháng 6 năm 2019 một thảm kịch đau lòng xảy ra tại tại con sông Rio Grande (nghĩa là Sông Lớn) đã làm bàng hoàng người dân hai bên bờ đất nước. Con sông ranh giới giữa 2 nước Mễ và Mỹ, gần thị trấn Brownsville, tiểu bang Texas. Hình ảnh xác hai cha con nằm úp mặt xuống nước, bé gái được kẹp bên trong lưng áo thun bố, cánh tay của đứa bé chưa đầy 2 tuổi này vẫn quàng qua cổ cha như cố bám vào sự che chở cuối cùng. Bức hình đã làm rung động sâu sắc và chạm đến từng con tim của nhân loại khiến người ta phải đặt lại vấn đề lương tâm và lòng nhân đạo của con người (1).

Con sông này bắt nguồn từ tiểu bang Colorado, từ trên dãy núi Rocky Mountains, chảy ngang qua tiểu bang New Mexico, xuôi Nam xuống đến tiểu bang Texas, rồi đổ ra vùng biển Gulf of Mexico. Tổng cộng chiều dài khoảng 1900 miles. Được coi là ranh giới tự nhiên giữa Mỹ và Mễ Tây Cơ, giòng sông này nước chảy xiết, lòng sông rộng, những khúc hẹp nhất (khoảng 100-150 ft.) được những “coyote”, người đưa lậu dân vượt biên, dùng thuyền nhỏ đưa người qua sông, hoặc những người trẻ, khỏe mạnh, thường tự mình bơi qua để vào nước Mỹ. Ca nô của lực lượng biên phòng Mỹ thường xuyên đi tuần nhưng cũng không thể kiểm soát được hết mọi nơi.
Hơn ai hết, vì từng là người tỵ nạn, tôi xúc động đến bàng hoàng. Tôi nhìn thấy trong bức hình đó cái biên giới mong manh giữa cái sống và cái chết của con người. Không biết người cha trẻ từ El Salvador này nghĩ gì khi chỉ còn vài sải tay nữa, anh và con gái sẽ chạm được bến bờ tự do ở bên kia sông, trước khi đuối sức bị giòng nước cuốn đi. Con sông là một biên giới giữa tương lai đầy hứa hẹn và quá khứ nghèo khổ, bạo lực mà cha con anh bỏ lại sau lưng.
Tôi như nghe và thấy hình ảnh người cha trẻ đang ngụp lặn, tuyệt vọng chiến đấu với giòng nước chảy xiết, dùng hết sức bình sinh, nhét con mình vào bên trong lưng áo dặn dò phải bám chặt cổ cha, đừng buông tay nghe con. Con chào đời trong nhọc nhằn nước mắt yêu thương của cha mẹ, cha sẽ đưa con đến bến bờ bình yên. Dù giòng đời, giòng nước nổi trôi, dù thân phận con người bấp bênh, cha vẫn luôn là chỗ dựa để con nương vào, cùng cha đi đến cuối cuộc đời, con nhé.
Đoạn cuối của cuộc hành trình, hai cha con người di dân mãi mãi vẫn không đến được bến bờ bên kia, người ta tìm thấy thi thể của họ dật dờ ở bên này biên giới, cạnh đám lau sậy thưa thớt ven bờ sông. Theo lời kể của người vợ, anh đã đưa con gái an toàn qua bên kia bờ, định trở lại để tiếp tục đưa vợ qua; đứa bé gái, vì sợ hãi tưởng bị cha bỏ, chạy trở lại xuống sông rồi bị nước cuốn đi. Anh vội lao theo để cứu con. Thế là cả một giấc mơ chưa trọn đã bị giòng nước cuốn trôi, đem theo cả cái biên giới mong manh gia đình anh tưởng sắp sửa chạm tới.
Vẫn trong tôi chưa phai, ngày chiếc tàu Berge Helene, một tàu chở bột mì của Na-Uy đang trên đường đến Saudi Arabia, sau khi ra tay cứu vớt, họ đã đưa chúng tôi vào hải cảng Singapore. Chính phủ nước này từ chối không cho chúng tôi lên bờ dù con tàu được phép cặp bến. Họ thông báo trại tỵ nạn đã đóng cửa, rồi gởi đến một toán cảnh sát biên phòng với súng lăm lăm trên tay, mắt lúc nào cũng nhìn về chiếc tàu để chắc chắn rằng không ai trong chúng tôi có thể tìm cách đặt chân lên đất nước họ.
Khi ánh nắng chiều nhạt dần, không khí mát dịu lại, cả tàu chúng tôi đổ ra boong nhìn xuống cảng Singapore đèn đuốc sáng rực, xe cộ qua lại như mắc cửi, với cặp mắt thèm thuồng cái tự do vô cùng bình thường ấy. Biên giới ngay trước mặt mà hình như rất xa, chỉ vài mươi thước mà chúng tôi không thể nào đặt chân lên được. Những con người của thế giới tự do dưới kia, họ vẫn vô tư, từng đôi nắm tay nhau đi dạo trên bến cảng. Vài em bé vẫn hồn nhiên chạy đùa trong công viên bên kia đường.
Cả đêm, tôi và những người bạn cùng ghe, ngồi trên boong tầu với điếu thuốc cháy đỏ trên môi, mắt nhìn xuống đường phố mà như không thấy gì, với một tâm trạng ngổn ngang tơi bời. Năm đó (1989) các trại tỵ nạn Đông Nam Á đã và đang đóng cửa mà chúng tôi không biết, vẫn còn bám víu vào lòng nhân đạo của thế giới đối với thuyền nhân tỵ nạn. Số phận 48 người chúng tôi đang nằm trong tay chính phủ Singapore, như tử tù dưới tay ông quan tòa, sống chết do họ quyết định.
Chỉ khi bị cướp mất sự tự do, quyền được sống, chúng tôi mới biết trân quý tất cả những gì mình vừa đánh mất. Để trốn chạy bạo quyền, chúng tôi liều chết ra đi, vượt bao hải lý, đến được một đất nước dân chủ, hít thở không khí tự do chung với họ mà vẫn không được quyền bước vào. Cái giá của tự do thật không dễ dàng chút nào! Chúng tôi thẫn thờ, bất lực nhìn cái biên giới bi hài của chính chúng tôi, một nhóm người vừa bỏ nước ra đi, sẽ lang thang lưu đày trong sự im lặng nhẫn tâm của loài người.
Sáng hôm sau, một phái đoàn gồm nhiều người ăn mặc rất đẹp bước lên tàu, họ đại diện cho cao ủy liên hiệp quốc về người tỵ nạn, lên tàu vấn an và đem một số tặng phẩm đến cho chúng tôi, đặc biệt cho trẻ em và phụ nữ. Trong đoàn có 2 người thông dịch viên Việt Nam, một nam và một nữ. Đầy vẻ tự tin, da dẻ hồng hào, không còn gì sót lại của một thuyền nhân tỵ nạn, họ cho biết họ cũng là người vượt biển Việt Nam trong trại tỵ nạn Singapore, đang chờ ngày lên đường định cư ở nước thứ ba.
Cả hai đều ăn mặc rất đẹp, hợp thời, và thơm phức “mùi” văn minh, mùi của sự tự do so với những khuôn mặt ngơ ngác, khắc khổ, và những bồ quần áo nhăn nhúm trên cơ thể hôi hám của chúng tôi. Họ đứng đó cười nói với chúng tôi mà sao nghe xa lạ quá. Họ như đến từ một thế giới khác. Cùng tiếng nói, cùng dân tộc mà như bị ngăn cách bởi một bức tường vô hình, mong manh nhưng không chạm tới được, một biên giới mà mới đây không lâu, họ vừa vượt qua một mốc thời gian “trước khi đóng cửa”, và chúng tôi “sau khi đóng cửa”. Họ đã lột xác khi bước qua ngưỡng cửa của thế giới tự do, trong khi chúng tôi vẫn còn lay hoay trong biên giới của lưu đày, và lạc hậu.

Khi biết không thể nào thuyết phục được chính phủ Singapore, thuyền trưởng tàu Na-Uy liên lạc với chính phủ của ông ta, xin đất nước Bắc u này hãy đón nhận chúng tôi. Đồng thời ông cũng xin Singapore cho chúng tôi tạm dung, công ty của ông sẽ trả tiền cho thời gian chúng tôi ở trại tỵ nạn, sau đó sẽ đón chúng tôi đến đất nước Na-Uy.
Tàu phải chờ thêm 1 ngày nữa để đợi quyết định chính thức của hai quốc gia về số phận của chúng tôi. Cuối cùng, giờ “phán xét” lên thiên đàng hay xuống địa ngục cũng đến, chính phủ của cả hai nước không muốn nhận thêm người tỵ nạn. Lòng nhân đạo của con người đã cạn và trái tim của họ đã đóng cửa. Chúng tôi phải rời Singapore ngay chiều nay, tiếp tục trở ra biển khơi.
Để lại sau lưng ánh đèn rực rỡ của hải cảng Singapore mà lòng nặng trĩu âu lo, chúng tôi nhìn ra mênh mông phía biển, trời tối đen, mịt mù như tương lai của chúng tôi ở phía trước. Tàu chạy một hồi lâu, ông thuyền trưởng xuất hiện với một nụ cười tươi tắn rất khác với khuôn mặt lo âu hai hôm nay, ông thông báo “có tin vui trong giờ tuyệt vọng”, trại tỵ nạn Philippines còn mở cửa.
Tin vui như những giọt nước Cam Lồ tưới lên những đôi môi rạn nứt, khô cằn. Ông đã mang lại cho chúng tôi một sự hồi sinh và cả một trời hy vọng mà chúng tôi tưởng không còn nữa. Ông cho biết vừa liên lạc và mướn được một chiếc tàu hàng Pháp để chở chúng tôi đến thẳng Philippines, còn tàu của ông phải tiếp tục cuộc hành trình để không bị trễ hẹn thêm với khách hàng.
Nửa đêm hôm đó, hai tàu cặp vào nhau ở một điểm “Rendez-vous” giữa biển khơi. Trời đổ mưa và sóng khá to, nên chúng tôi được chuyển qua tàu bên kia thật là vất vả. Nhiều người lại ói mửa đến mật xanh vì tàu Pháp là một tàu chở hàng rất nhỏ so với chiếc tàu chở bột mì khổng lồ của Na-Uy. Chúng tôi nằm la liệt trong khoang chứa hàng, và hơn 1 ngày sau, tàu cặp bến Puerto Princesa, Philippines.
Chúng tôi vui mừng chưa được bao lâu thì 10 ngày sau đó chính phủ Philippines cũng tuyên bố chính thức đóng cửa trại tỵ nạn PFAC. Lần này cái lằn ranh thời gian, lại một lần nữa lại giăng lên ngăn chia những đồng bào của tôi, những người đến trại sau ngày đóng cửa. Họ bị cách ly trong một hàng rào kẽm gai để chờ làm giấy tờ phân loại PA (Philippines Asylum) và PS (Philippines Screening).
Những người tỵ nạn khốn khổ, trong đó có những người anh, người chị, người em, cha mẹ, vợ chồng, và con cái, khi nhận ra gia đình mình đang ở ngoài hàng rào cách ly, chỉ biết hoang mang, ngơ ngác nhìn nhau với những cặp mắt đỏ hoe, ngấn lệ. Có những người yêu nhau trước ở Việt Nam, mà người đi trước, kẻ đi sau, cũng chỉ ngậm ngùi tìm tay nhau qua hàng rào kẽm gai. Cái biên giới không gian rất gần, bàn tay nắm được bàn tay, nhìn thấy nhau mà cái biên giới thời gian sao mà cách xa nhau diệu vợi. Giữa hai người bây giờ là một lằn ranh vô hình của việc thanh lọc những người không may mang số PS.
Chúng tôi thực sự biết ơn và suốt đời ghi tạc tấm lòng của vị thuyền trưởng người Na-Uy đã vì những người tỵ nạn chúng tôi, những người xa lạ, không cùng chủng tộc, ngôn ngữ; ông đã đưa cánh tay ra cứu vớt chúng tôi, trong khi những người cùng tiếng nói, màu da, mang tiếng là đồng bào đã ra tay tận diệt người dân của họ, đẩy chúng tôi đi tìm cái chết ngoài biển khơi.
Sau này, nhờ internet, rồi qua tòa đại sứ Na-Uy ở Washington DC, tôi liên lạc được với ông. Lần đầu gọi phone cho ông, giọng xúc động, tôi chỉ nói được hai chữ cám ơn ông mãi mãi và mãi mãi. Tôi có hỏi hai ngày đậu ở cảng Singapore, chắc ông và công ty thiệt hại số tiền đến khoảng trên dưới $200,000.00 phải không? Ông chỉ nhỏ nhẹ khuyên tôi đừng bận tâm hay lo lắng, vì mọi chuyện đã là dĩ vãng, hãy tập trung cho tương lai.
Vâng, chúng tôi đã và vẫn đang tập trung cho tương lai của chúng tôi và các thế hệ con cháu chúng tôi bằng cách làm việc chăm chỉ, hòa nhập vào đời sống ở đất nước tươi đẹp này. Chúng tôi phá vỡ được những biên giới ngăn cách về khác biệt văn hóa và thành kiến chủng tộc để có được một cuộc sống tốt hơn nơi quê hương thứ hai này.
Chúng tôi tin vào nước Mỹ vì chúng tôi có những ước mơ cháy bỏng và vì chúng tôi có cơ hội để biến những ước mơ đó thành sự thật. Vì thế chúng tôi có cái nhìn bao dung, luôn trân trọng ước mơ của tất cả những người di dân khác, những người bị chà đạp bởi độc tài, bạo lực, không có cơ hội sống một đời đúng nghĩa. Nhà thơ nổi tiếng Khalil Gibran, người Lebanese, đã viết: “Cuộc sống không có tự do là một thể xác không có tâm hồn”.
Life without Liberty is like a body without a Spirit.
Nước Mỹ trở nên vĩ đại và tuyệt vời là do sự kết hợp của nhiều sắc tộc di dân khác nhau làm nên một quốc gia cường thịnh ngày nay. Đừng quá tự hào cho rằng mình xứng đáng hơn những dân tộc khác vì mình phải vượt biển trên những con thuyền mong manh, đối diện với sóng to gió lớn, nhiều rủi ro hơn. Bất cứ di dân nào cũng là những con người khát vọng tự do, họ tìm kiếm một cơ hội đổi đời trên một vùng đất mới, một xứ sở an bình với ước mong sẽ không còn bạo lực và nghèo đói triền miên đe dọa lên gia đình họ. Họ đang cố vượt qua những cái biên giới mong manh đó, những biên giới tưởng gần mà hóa ra rất xa.
Tháng 7, 2019 viết từ Philippines.
Nguyễn Văn Tới
Bạn phải đăng nhập để bình luận.