Hồi ký của Gà Mái Tre_ Sinh Con Đầu Lòng

Ba giờ sáng nghe đau bụng , khều chồng anh ơi đau bụng quá . Lấy dầu thoa bụng rồi ngủ lại đi . ….Bốn giờ ….anh ơi không bớt mà còn đau hơn . Em ráng ngủ đi . Bây giờ mới bốn giờ sớm quá làm sao đi bác sĩ . Mà chắc hồi chiều em ăn trúng món gì độc nên đau bụng đó . Thôi để anh thoa thêm dầu rồi ráng ngủ chắc sẽ bớt . Thoa dầu ….Chờ ….hai phút . Ba phút . Bốn năm phút ….Bớt chút xíu ….Nhắm mắt cố ngủ …Anh ơi , dậy . Dậy mau . Đau quá không chịu nổi rồi anh ơi ! Bị sao ? Đau lắm . Đau lắm …. Rên !
Thôi chết rồi anh ơi . Nước gì mà chảy ra nhiều lắm . Chạy kêu Mạ mua lên . Mạ vô . Con ơi , chở nó đi bịnh viện gấp . Con Oanh sao vậy Mạ . Nó sắp sinh rồi . Đi mau lên kẻo không kịp con ơi .
Thay áo quần cho vợ , cho mình xong . Mạ không kịp đưa áo quản khăn tã đã chuẩn bị sẵn …..Đưa vợ ra xe ( bồng ẵm gì nổi ! ) , rồ xe chạy . Thay vì chạy đường Gia Long cho mau tới bịnh viện Thánh Gia , lại không . Chạy qua Phan Bội Châu ! Vì Gia Long một chiều mình là trưởng phòng cảnh sát mà không làm gương cho dân thì còn nói ai nghe !
Ôi chở vợ đi sinh mà ! Không được . Rồ ga chạy ….Anh ơi , mau lên ….con nó đã chui đầu ra rồi ….Mau lên giùm . Đến nơi ……phải chạy bộ vô kêu mấy bà Soeur ra ….mang theo cái cáng …..Sao ông chở bà ấy đến trễ thế ……Dạ tại tui không biết . Vợ sinh mà không biết . Dạ không biết thiệt . Nhanh lên cô ( cô y tá ) . Chạy theo … cầm tay vợ ……không sao đâu . Có mấy cô y tá đây rồi , em đừng lo .
Chưa kịp đưa lên bàn sinh thì đã nghe tiếng tu oa của thằng con …..Ôi mừng đến khóc vì dù đau đớn cũng ráng chồm lên nhìn con đang nhắm mắt mà la ….Khi cô y tá tắm rửa , quấn con trong khăn xong , bồng tới đặt trên ngực Mẹ ….hạnh phúc ngút ngàn ôm con trong tay . Nó nghe hơi ấm của Mẹ không khóc nữa , nằm im . Nhưng nghe cu cậu chóp chép miệng như đòi ăn !
Nó đẹp trai lắm ! Nó ngoan lắm vì bú sữa xong là ngủ . Không quấy rầy Mẹ …..
Thời gian vun vút như thoi đưa , nó lớn . Nó đẹp trai và ngoan . Đứa con hiếu thảo vô vàn mà Ông Trời ban tặng cho tôi .
Và hôm nay là ngày tôi sinh . Nó ra chào cuộc đời này đã bốn mươi mấy năm ….vào lúc 5 giờ sáng ngày 19 tháng 7 năm 1971 !
Nó đây …
Nó đây , thằng Lê Quang Hoàng Đức .

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Hồi ký của Gà Mái Tre_ Sinh Con Đầu Lòng

Những điều nên biết để tránh cái chết đột ngột vào ban đêm_ST

Những điều nên biết để tránh cái chết đột ngột vào ban đêm

 

Image may contain: one or more people

Hoàng Linh

Tránh cái chết đột ngột vào ban đêm, một bác sĩ đưa ra lời khuyên.
Dành cho những ai thức dậy vào ban đêm để kiểm tra những vấn đề về đêm hay thường đi tiểu đêm. Mỗi người đều phải lưu ý ba phút rưỡi. Nó thường xảy ra: một người luôn có vẻ khỏe mạnh đã qua đời vào ban đêm. Chúng tôi thường nghe những câu chuyện của người ta nói: “hôm qua, tôi đang nói chuyện với anh ấy, tại sao anh ấy lại chết đột ngột? Lý do là khi bạn thức đêm đi vệ sinh, nó thường xảy ra nhanh chóng. Chúng tôi dừng ngay lập tức và não bộ không có máu lưu thông. Tại sao lại là” Ba phút rưỡi ” quan trọng lắm sao? Vào nửa đêm, khi việc buồn tiểu đánh thức bạn, mô hình ecg có thể thay đổi. Tự nhiên tăng lên, não sẽ bị thiếu máu và sẽ gây ảnh hưởng tới tim mạch vì thiếu máu.Bạn nên dành ra 3 phút rưỡi để làm những việc sau đây, đó là:
1. Khi bạn thức dậy, nằm trên giường một phút rưỡi.
2. Ngồi trên giường trong nửa phút tiếp theo;
3. Hạ chân và ngồi trên mép giường trong nửa phút. Sau ba phút rưỡi, não của bạn sẽ không còn bị thiếu máu và trái tim của bạn sẽ không làm suy yếu, mà sẽ làm giảm nguy cơ chết đột ngột.
Điều này có thể xảy ra bất kể tuổi tác. Trẻ hay già.
Gia đình bạn cũng nên theo dõi nó.
-st-

(Bài do Võ Thiệu chuyển)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Những điều nên biết để tránh cái chết đột ngột vào ban đêm_ST

Văn Hóa Lon_Ng. Thị Cỏ May

cai lu

Nói «Văn hóa lon» vì tiếng «LON» trong câu quảng cáo của Coca Cola «Mở lon Việt nam» bị bà Ninh thị Thu Hương, Cục Trưởng Cục Văn hóa Cơ sở, phê phán là «thiếu văn hóa. Vậy «Lon» vốn có sẵn tính văn hóa mà nay do dùng không đúng mà nó thiếu. Vì cách sử dụng làm thiếu văn hóa nên «Lon» bị Cục Trưởng Văn hóa lên án thêm là «phản cảm, trái thuần phong mỹ tục». Sẵn đà, bà Cục trưởng còn phán tiếp theo «trong tiếng Việt không có từ lon. Chưa kể bản thân chữ «lon» đặt cạnh cái khác…. Ví dụ như có thể thêm mũ thêm rất nhiều thứ. Nó mà ở các phương tiện quảng cáo ngoài trời, có nhiều tình huống có thể thêm mũ thêm dấu vào từ đó. Vì vậy nó rất là khủng khiếp nếu chữ đó nó chềnh ềnh ra trên biển quảng cáo ngoài trời» (Thanh Niên, 29/6/2019, Chu Mộng Long trích dẫn trong «Thân phận cái lon»).

Với vc văn hóa là vô cùng quan trọng bởi nó định hướng cho mọi sanh hoạt của chế độ và của nhơn dân. Không thấy sao ở Việt nam nhan nhản những tấm bảng lớn kẻ chữ đỏ lòm «Nếp sống văn hóa, Khu phố văn hóa, … ». Nghĩa là Việt nam dưới chế độ ta là nước đầy văn hóa. Không có ở đâu bằng!

Do tính siêu văn hóa đó nên tưởng nay có nói thêm đôi chút về câu chuyện «lon» của bà Cục Trưởng Thu Hương để hiểu quan niệm văn hóa của ta, chắc sẽ không đến nỗi bị bạn đọc quở. Vẫn biết không thiếu bạn đọc sẽ quát lên rằng «Thứ chuyện tào lao, hơi đâu làm mất thì giờ»!

Lon của Việt nam

Bà Thu Hương, Cục Trưởng Văn hóa Cơ sở, cho rằng từ «lon» không có trong tiếng Việt nam. Cục Trưởng Văn hóa nói, lời của bà phải có trọng lượng về văn hóa. Cỏ May tôi thiệt tình không dám nói «Trong tiếng Việt nam có từ «lon» và càng không dám nói từ «lon đúng là tiếng Việt nam». Mà chỉ dám nêu ra vài trường hợp từ «lon» được người Việt nam, không lai căng Tàu hay Cu-ba hay Vénézuela, dùng rất phổ thông, trên đất nước Việt nam không xhcn và từ khá lâu, phải từ trước khi bà Cục Trưởng Thu Hương sanh ra đời.

Trẻ con từ trước 1950, từ thành thị tới thôn quê, có trò chơi tập thể «tạc lon». Chắc quí vị bạn đọc có mặt ở thời điểm đó còn nhớ hoặc cũng có chơi. Vì lúc bấy giờ Việt nam đang chiến tranh, đồ chơi của trẻ con, như xe hơi, banh, búp bế,… chỉ dành riêng cho con em nhà giàu, tây tà, … Muốn đá cầu, lấy lông gà, kết với những khoanh giấy cạt-tông mỏng cắt tròn, giây thung cột lại. Đá banh, lấy trái bưởi rụng, quấn thêm giấy hoặc rơm làm banh, …

«Tạc lon» là trò chơi khá phổ biến trong giới trẻ xóm lao động của thành phố. Lấy cái lon sữa bò (lon bơ hiếm, lon coca cola hay bia, nước ngọt chưa có), dĩ nhiên hết sữa, đặt giữa một vòng tròn, khoanh lớn nhỏ tùy theo sự đồng ý chung, cách mức qui định cho chỗ đứng của người chơi, cũng tùy sự đồng ý chung (chừng 3,4m). Tham dự trò chơi «tạc lon» phải từ 2 người tới 4, 5 người mới hào hứng. Chơi lần lượt từng người một. Người chơi đứng vào mức qui định, tay cầm chiếc dép của mình hoặc mượn dép nếu đi chơn không, mắt nhắm cái lon là mục tiêu, tay ném chiếc dép thẳng vào cái lon. Cái lon văng ra khỏi cái vòng tròn là thắng. Trò chơi «tạc lon» mang tính thuần văn hóa vô sản, vì chơi vui, không ăn tiền vì trẻ con nhà nghèo cũng không có tiền để cờ bạc.

«Lon – Gáo gì cũng vậy» mà, con ơi! Một bà già trầu từ xẻo rô lặn lội, khăn gói lội lên Sài gòn tìm thăm con gái. Bà tới xóm lao động bên Xóm Chiếu, Quận IV (Thời Tây là Quận VI), tay cầm tờ giấy có ghi địa chỉ của con gái. Bà tới đúng nhà nơi con gái của bà ở. Không thấy con, bà hỏi người trong nhà lạ hoắc với bà. Một cô gái, trạc tuổi con gái của bà, bước ra tiếp chuyện với bà, trả lời:

Bác ơi, ở đây, không có ai tên Gáo hết. Ở đây có chị tên Thanh Loan, quê ở Rạch giá, ở đậu ở đây được mấy tháng rồi, để đi làm. Mà tối chị ấy mới đi làm. Chị vừa ngủ dậy, đi ra ngoài trước đường ăn sáng, chút xíu về. Bác bước vô, ngồi nghỉ tạm, đợi chị ấy về, bác coi có phải con gái của bác không?

Bà già thấy cô gái nói chuyện tử tế, không ngần ngại, vào nhà ngồi chờ. Bà vừa uống xong tách nước, cô Thanh Loan cũng về tới.

Thấy mẹ, cô gái kinh ngạc, lo sợ mà không kịp mừng rở:

Trời ơi ! Má đi đâu vậy? Con đã dặn, con gởi tiền về cho má. Lâu lâu, con về thăm má. Đi chi vậy. Cho khổ thân.

Nói xong, cô gái ôm chầm lấy mẹ.

Bà già cảm động, mừng gặp con, cũng xụt xùi nước mắt. Kéo cái khăn trên cổ, chậm nước mắt, vuốt tóc con gái, vừa nói:

Má hỏi, may có cô chủ nhà nói ở đây có cô L…on, quê ở Rạch giá ở đậu …Má nghi nghi nên ngồi chờ. May ra. Đi bộ lâu, cũng mỏi cẳng rồi.

Ai ngờ là con ở đây. Mà con ơi, con đổi tên của cha mẹ đặt chi vậy?

«L…on – Gáo» gì, cũng vậy, chớ có gì khác đâu. Con đổi tên làm chi vậy, cho má khó kiếm con nữa. May mà có cô ở đây …tử tế … (Loan, bà già không phát âm được nên với bà, đó là LON).

Gáo là dụng cụ múc nước rất thông dụng ở nhà quê miền nam, làm bằng cái vỏ cứng của trái dừa khô, sau khi đã lấy uuớc và cơm dừa rồi. Hai bên, người ta đục 2 cái lổ thẳng hàng, xỏ vào một thanh tre làm cáng cầm khi sử dụng. Múc nước xong, gáo được móc lên cây đinh đóng vào cây cột hoặc vách ván cạnh lu nước.

Cái Gáo bên cạnh lu nước là hình ảnh quên thuộc của xóm nhà là ở nhà quê miền nam.

Lon và tiếng Việt

Trong thực tế đời sống xã hội Việt nam từ xa xưa, ít lắm cũng cách nay hơn nửa thế kỷ, đã có từ LON và rất phổ thông.

Từ LON được đem vào Từ điển Việt nam, nghĩa là nó đã trở thành chánh thức cho  sử dụng. LON được Từ điển Việt nam (internet) định nghĩa rất chi tiết:

LON là danh từ có nghĩa như dưới đây:

– thú rừng cùng họ với cầy móc cua, nhưng nhỏ hơn.

– hộp đựng sữa hoặc nước giải khát, thường bằng kim loại

bia lon

lon nước ngọt

– bơ (phương ngữ)

đong mấy lon gạo nếp

nấu ba lon gạo

– vại nhỏ, chậu nhỏ bằng sành

lon nước gạo

nén một lon cà

-phù hiệu quân hàm (khẩu ngữ)

đeo lon đại uý. Xin nói thêm khi được lên Lon, được móc Lon, người này phải đãi bạn bè một chầu nhậu, gọi là «Rửa Lon».

Thông thường, khi một tiếng được đưa vào Từ điển, tiếng ấy đã trải qua một thời gian dài trong sử dụng. Tiếng LON được nhắc lại trong trò chơi của đám trẻ con nhà nghèo cách nay hơn nửa thế kỷ, như vậy tiếng LON phải xuất hiện trước đó khá lâu. Và chắc từ thời Tây ở Việt nam, dùng đồ hộp. Trước khi cái Bộ Văn hóa ra đời. Hay còn trước cả cái Việt nam Dân chủ Cộng hòa nữa kìa! Chắc chắn Lon là tiền bối của Cục Trưởng Cục Văn hóa Cơ sở!

Như người Bắc gọi cái cốc, dân Nam kỳ kêu cái ly. Cái «cốc» (cup – tasse) do người Hòa-lan đem tới Miền Bắc rất sớm, từ thế kỷ XVII.

Phản cảm, thiếu Văn hóa, trái Thuần phong mỹ tục

Đó là khẳng định của Cục Văn hóa cơ sở (Bộ VH-TT-DL) trong công văn gửi các Sở VH-TT-DL các tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương về việc chấn chỉnh hoạt động quảng cáo sản phẩm Coca-Cola, được đăng trên Cổng thông tin Điện tử của Bộ VH-TT-DL vào chiều 28/6/2019. Ngay lập tức công văn này vấp phải ý kiến trái chiều của dư luận. Một số nhà nghiên cứu ở Việt nam có ý kiến: «Không phản cảm, không thiếu Văn hóa, không trái Thuần phong mỹ tục».

Nhà nghiên cứu ngôn ngữ Hoàng Tuấn Công, tác giả sách “Từ điển tiếng Việt của GS Nguyễn Lân – Phê bình và khảo cứu” cho biết: Những cuốn từ điển trước năm 1930, ví dụ như cuốn “Việt Nam từ điển” của Hội Khai trí Tiến đức đã ghi nhận từ “lon”.

Giải nghĩa của chữ “lon” theo Từ điển này như sau: “Lon là một chậu lòng nông, thành cứng”. Ví dụ như “lon giã cua”, hay câu “Cái lon xách nước, cái lược chải đầu..”.

Trong các câu hát đồng giao thì từ lon cũng đã được sử dụng từ lâu trong dân gian và quá thông dụng.

Theo từ điển ghi nhận đến bây giờ từ “lon” cũng đã xuất hiện gần 100 năm. Và từ “lon” đã tồn tại từ trước đó rồi, không phải đến khi từ điển ghi nhận thì nó mới xuất hiện.

Trả lời câu hỏi của Phóng viên Báo NNVN về cụm từ “Mở lon Việt Nam” theo đánh giá của Cục Văn hóa cơ sở là “vi phạm thuần phong mỹ tục”, ông Hoàng Tuấn Công khẳng định: “Theo tôi, cụm từ “Mở lon Việt Nam” không có gì trái thuần phong mỹ tục cả, đấy đều là những từ thông dụng. Chẳng qua trong ngữ cảnh “lon Việt Nam” thì nghe nó lạ, đáng nhẽ nếu gọi là “lon Coca – Cola Việt Nam” thì sẽ không gây nên sự nghi ngại gì. Việc gọi tắt là “Mở lon Việt Nam” thì tự các nhà quản lý văn hóa nghĩ nó trái thuần phong mỹ tục thế thôi, còn về nguyên tắc cụm từ “Mở lon Việt Nam” không có gì là trái thuần phong mỹ tục cả”.

Còn PGS. TS Phạm Văn Tình, Tổng Thư ký Hội Ngôn ngữ học Việt nam khẳng định: Tổ hợp “Mở lon Việt Nam” của Coca – Cola không có vấn đề gì. Luật Quảng cáo được áp dụng cho tất cả người Việt Nam và những đối tác kinh doanh với người Việt Nam ở trên đất nước Việt Nam, cho nên sử dụng từ Việt Nam chẳng có vấn đề gì là vi phạm.

Honda họ sử dụng slogan “Tôi yêu Việt Nam”, Bitis có slogan “Nâng niu bàn chân Việt”, hay những chương trình khác vẫn dùng 2 chữ Việt Nam đi cùng đấy chứ. Một trong những nguyên tắc người ta làm slogan hay làm quảng cáo, người ta có quyền rút gọn hoặc tạo ra các cấu trúc mới, lạ, gây ấn tượng, miễn là nó không đi quá xa. Cho nên cấm không cho sử dụng từ Việt Nam, từ Hà Nội hay bất kỳ từ nào đi kèm trong quảng cáo sản phẩm nghe nó không ổn. Ông Tình, Tổng Thư ký Hội Ngôn ngữ học Việt Nam, quả quyết thêm: “Trong tất cả các từ “lon” tồn tại trong tiếng Việt thì không hề có nghĩa xấu” (Báo Nông Nghiệp, Khải Mông – Như Đông).

Thế mà khi thực hiện chỉ đạo của Cục Văn hóa cơ sở, Sở VH-TT-DL Hà Nội đã chỉ đạo tháo dở biển quảng cáo với slogan “Mở lon Việt Nam” ở khu vực Ô Chợ Dừa và phạt hành chính 25 triệu đồng với sự việc này (Báo Nông Nghiệp, Khải Mông – Như Đông).

Văn hóa LON

Bà Cục Trưởng Ninh thị Thu Hương cho rằng «mở lon là phản cảm, thiếu văn hóa, trái thuần phong mỹ tục» vì bà nghĩ khi nói LON là bà phải thêm dấu, đội nón cho nó. Làm Văn hóa tới Cục Trưởng Cục Văn hóa, bà không thể nghĩ gì khác hơn. Không nghĩ phải thêm dấu, đội nón chữ Lon là chệch hướng xã hội chủ nghĩa. Là tha hóa, là mất lập trường giai cấp.

Nhơn cơ hội này, tưởng cũng nên nhắc lại Người với vài «thành tích Lon» theo nghĩa «lon» của bà Cục Trưởng Thu Hương, để nhờ đó làm toát lên thêm nghĩa của từ «Lon và văn hóa lon» của bà.

Bác Hồ của Cục Trưởng, năm 1924 ở Quảng châu, được gia đình bên vợ cửa Lâm Đức Thụ cho ăn ở và qua sự giới thiệu của Lâm Đức Thụ, bác lấy cô Lý Huệ Khanh là em của bà Lý Huệ Quần, vợ của Lâm Đức Thụ, tuy Hồ đã có Tăng Tuyết Minh rồi. Số Hồ hên về Lon, có 2 Lon «ma – zê in china» cùng lúc.

Sau khi vượt ngục Hồng kông được tổ chức an toàn năm 1932, Hồ Chí Minh qua Nga dưỡng bịnh. Ở đây, Hồ có cô bồ người Nga, Vera Vasilievna, người đã hết lòng bảo vệ Hồ  khi Hồ bị Ban Thẩm Tra ở Quốc Tế Cộng Sản điều tra, và bị bắt buộc học tập cải tạo tập trung, có thời gian khá dài, bị Staline cho đi lao động tại nông trường. Nơi đây, Hồ có bắt bồ với một nữ nông dân Nga, có với cô bồ này một người con trai. Khi Hồ làm Chủ tịch, người con trai này sống ở Nga và được Tòa Đại sứ Hà nội tại Moscou trợ cấp hàng tháng. Cứ mỗi đầu tháng, anh chàng tới Tòa Đại sứ lãnh tiền (Vũ Thư Hiên kể, do lúc Vũ Thư Hiên học ở Nga; nhờ bạn xắp xếp, được trông thấy 1 lần).

Theo địa chỉ tìm thấy trong cuốn sổ Voyageur Représentant Placier Cách mạng (VRP de la Révolution), cảnh sát Anh ở Hồng kông, vào 2 giờ sáng ngày 6/6/1931, đột nhập tầng lầu 2, nhà của T.V.Wong mướn tại số 168 đường Tam Công (Tam Kung), khu người Hoa ở Cửu Long. Nhà chức trách bắt được 2 người cùng nằm trên một giường, y phục thiếu, có lẽ vì Hồng kông oi bức do người đông đúc, nhà cửa chật hẹp. Người đàn ông khai tên là Sung Man Sho (Tống Văn Sơ). Người đàn bà trẻ tự khai là người Quảng Đông , tên Li Sam (Lý Tam). Cuộc thẩm vấn tại chỗ cho biết Wong, người thuê nhà, và Sung, người ngủ trên giường cùng người nữ, chỉ là một và đó là Nguyễn Ái Quốc tức Hồ Chí Minh sau này.

Về  Li Sam, tên thật là Ly Ung Thuan (Lý Phương Thuận hay Lý Huệ Phương). Theo Nguyệt Tú (Chị Minh Khai, NXB Phụ Nữ, Hà Nội 1980, trang 42): “Từ ngày đặt chân lên đất Trung Quốc, với bộ quần áo cải trang làm người con gái Trung Hoa, dưới cái tên Duy, rồi Trần Thái Lan, rồi Lý Huệ Phương khác nhau, Minh Khai nhiều lần vượt qua lưới mật thám Anh, Pháp ”.

Thế là bác của Cục Trưởng Thu Hương có thêm 1 cái Lon “ma-zê in liên-xô ” và 1 cái Lon “ma–zê in Việt nam”. Sau đó, bác đẩy qua cho đồng chí Lê Hồng Phong. Từ đó, bác còn thêm bao nhiêu cái Lon nữa? Phải Bộ Chánh trị ở Hà nội mới biết.

Như vậy phải nói bác Hồ đúng là người của văn hóa lon. Nhưng vốn con người cộng sản tinh ròng, bác chỉ sử dụng Lon, mà không bao giờ giữ Lon. Vì giữ riêng Lon cho mình là nặng tinh thần sở hữu, thứ văn hóa tư sản, mất quan điểm giai cấp. Với cộng sản, tất cả là của ta cả mà!

Năm 1990, rất tiếc Unesco đã không chọn Hồ Chí Minh là nhà văn hóa. Nay Cục Trưởng Cục Văn hóa Cơ sở còn đợi gì nữa mà không suy tôn bác là nhà văn hóa Lon trác tuyệt?

Nguyễn thị Cỏ May

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Văn Hóa Lon_Ng. Thị Cỏ May

Chiếc Lá Cuối Mùa_Nhạc Lê Hữu Nghĩa

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Chiếc Lá Cuối Mùa_Nhạc Lê Hữu Nghĩa

“Việt Kiều Bay” tại Texas_Thạch Thảo

https://1.bp.blogspot.com/-VBrWXyGmxqU/XMBLAyvYTYI/AAAAAAABEnw/H9e6QipH-_Q4wWNM4pz58qDO2VmYNaesACLcBGAs/s640/008-bhgfjpg.jpg

(FB Thạch Thảo): Ngạc nhiên, trong mấy trăm ngàn gia đình Mỹ sinh sống trên vùng đất này lại xuất hiện người Việt Nam nhập cư thời gian gần đây. Số lượng chiếm khá đông, hầu hết nói giọng Bắc người Hải Phòng, Hà Nội. Cùng làn sóng xuất ngoại với các hình thức khác nhau, họ đã thành công khi tiền rừng bạc biển. Chỉ cần một dự án, một phi vụ, một chữ ký thì đô la sẽ có cách vào tài khoản của người có quyền.

Mỗi căn nhà giá trị từ nửa triệu đến 2 triệu đô la trở lên. Mua nhà xong là một chuyện, điều quan trọng là tiền đâu để đóng thuế? Nếu bạn thu nhập cao mấy trăm ngàn đô hàng năm thì chỉ là chuyện nhỏ dù tiền thuế địa trạch rất cao (từ 20.000 Mỹ kim trở lên mỗi nhà /1 năm) với khu vực tương tự.

Vào cổng khu phố sang trọng khách phải trình giấy tờ, hoặc bấm số bảo mật mới được. Cuối tuần, hàng loạt chiếc du thuyền trên mặt nước. Là xứ tư bản, hưởng theo năng lực; nhiều người Mỹ giàu bằng tài năng công sức, lao động chân chính trong một số lãnh vực xứng đáng có một cuộc sống bình yên, hạnh phúc đúng nghĩa.

Tuy nhiên, không phải ai cũng được như vậy. Mỹ không phải là thiên đường, vẫn còn một số Việt kiều lâu năm sống trong chung cư, không mua nổi cái nhà nhỏ với nhiều lý do riêng tư. Đó là sự thật.

Vậy mà với thành phần “Việt kiều bay” không hiểu họ giàu từ đâu dễ dàng, mua nhà trả đứt tiền mặt, vui vẻ với mức thuế tuy không làm một ngày nào trên đất Mỹ. Đối tượng này bí mật đi qua đi về nhằm mục đích có lợi cho gia đình và bản thân trong tương lai.

Oái oăm thay, họ còn bắt tay với một số Việt kiều tại đây để rửa tiền dưới hình thức tinh vi. Các hệ thống kinh doanh ra đời bao gồm trung tâm thương mại, nhà hàng, hàng trăm tiệm Nails nguy nga như cung điện, có sự đầu tư quy mô trên 1/2 triệu đô la mục đích rửa tiền. Thực trạng nhiều địa điểm vắng hoe khách nhưng vẫn vô tư hoạt động để hợp thức hóa chuyển tiền.

Vấn đề quan trọng là tiền đâu ra mà một số “Việt kiều bay” mới đến đất Mỹ trong tình trạng tài chính triệu phú mà không ai biết. Một năm về bên vài tháng và rồi qua Mỹ trình diện để khỏi rắc rối nếu chưa có quốc tịch.

Khôn ngoan, một số cố tình giữ song tịch. Nhiều người vẫn làm việc tại Việt Nam, đang là đảng viên giữ chức vụ. Họ biết dọn đường cho con cháu qua Mỹ từ lâu. Con đến trường Mỹ, cha (mẹ) đi về Việt Nam hoạt động cho chính quyền hoặc kinh doanh cá nhân vì nơi ấy dễ kiếm tiền hơn.

Nghịch lý, trong khi ấy người ta khen chế độ, bắt người khác nghe, tin và sợ mình. Dân phải chịu cúi đầu im lặng dưới nguồn máy điều hành mà họ liên quan trực tiếp hay gián tiếp. Nhờ sức mạnh đồng tiền, người ta đã đạt giấc mơ Mỹ trong tầm tay.

Thật sự bất công cho những người không được may mắn phải chịu đựng thiệt thòi mọi hệ lụy, cùng tương lai không lối thoát sống với Trung Quốc.

Phải chăng đây là bi kịch cho một dân tộc chịu dưới tay của những người không có lòng tự trọng và biết làm người tử tế. Họ lợi dụng lòng tốt của nước Mỹ, con cháu hưởng nhiều quyền lợi xã hội, y tế cùng nền giáo dục miễn phí từ tiền thuế dân còng lưng đóng cho chính phủ.

Đất nước Hoa Kỳ đã tạo ra kẽ hổng pháp luật để con cháu cộng sản hưởng lợi, trong khi cá nhân và gia đình không phục vụ cho quốc gia này ngày nào. Suy cho cùng, sống không thật lòng, không trung thành Tổ Quốc nào là “Việt kiều bay” thời đại.

Có lẽ người ta qua mặt được người dân yếu thế, u mê; nhưng không qua mặt được người hiểu biết sống lâu tại Mỹ. Tất cả là góc tối phũ phàng. Người trong nước tôn sùng họ, nhưng nào có biết một khi hết thời hết nhiệm kỳ, họ đã có chỗ an toàn trú ẩn ấm thân, để lại phía sau một đất nước suy tàn.

Nếu ai từng đi qua những nơi người Việt mới nhập cư giàu hơn người Việt lưu vong vượt biển vượt biên lâu năm sẽ không khỏi ngậm ngùi tháng Tư buồn.

Thua trận chạy đã đành, nay thắng trận cũng chạy. Cuối cùng, dân chịu trận.

(Trích từ FB Thạch Thảo)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở “Việt Kiều Bay” tại Texas_Thạch Thảo

ĐNH Cám Ơn Anh Kỳ thứ 12_Lê Tam Anh

Image may contain: text

(TVVN.ORG) Chúng ta lại chào đón “ĐẠI NHẠC HỘI” lần thứ 12 của Cộng Đồng Người Việt tị nạn Cộng Sản, mỗi người một tay góp sức, giúp đỡ những “Chiến Hữu” Thương Phế Binh đang vất vả ở quê hương! Đây là một điểm son được ghi nhận từ mười mấy năm qua. “Hội H.O. Cứu Trợ Thương Phế Binh” một lần nữa đứng ra tổ chức với sự góp mặt của hầu hết các Hội Đoàn, của các anh chị em cựu quân nhân thuộc các binh chủng của QLVNCH tại hải ngoại và các hệ thống Báo chí, TV truyền thông Việt Ngữ dịa phương và khắp thế giới.

Sự ra đi của Bà Chủ Tịch Hội, Trung Tá Nguyễn Hạnh Nhơn là một mất mát to lớn, làm đảo lộn toàn bộ những dự tính tương lai của Hội. Sau thời gian chấn chỉnh nội bộ, noi gương người tiền nhiệm, vị Tân Chủ Tịch đã cương quyết đứng thẳng trên đôi chân, tiếp tục con đường đã vạch phía trước. Thiên Nga Thiếu Tá Nguyễn Thanh Thuỷ, người từng là tù nhân 13 năm trong các trại tù Cộng Sản, sức khoẻ tuy không được tốt, vẫn cương cường nhận trách nhiệm!

Trước khi quyết định tiếp tục tổ chức Đại Nhạc Hội “Cám Ơn Anh”, chị Chủ Tịch và toàn thể những chiến hữu trách nhiệm trong Ban Tổ Chức đã họp hành liên tục, giải quyết nhiều sự kiện đau đầu từ trong nội bộ cũng như các bên, các hệ thống truyền thông, các cá nhận tự nguyện cộng tác mới và cũ, rút tỉa các ưu khuyết, rà xét lại toàn bộ hệ thống tổ chức… Vì thế cho nên chúng ta đã chờ đợi khá lâu, gần hai năm, Đại Nhạc Hội “Cám Ơn Anh” lại được tiếp tục! Hoan hô tinh thần dấn thân không nệ khó khăn của quý vị!

Bọn Cộng Sản và tay sai ở hải ngoại và trong nước rất ghét, rất sợ những phần quà hàng năm được gởi về cho các Thương Phế Binh VNCH còn sống trong nỗi uất hận bị chúng trù dập. Chúng đang tìm đủ mọi cách cản trở, ngăn cấm việc Dòng Chúa Cứu Thế khám bệnh và tổ chức vui Tết hàng năm cho các anh em Thương Phế Binh… Việc Hội HO Cứu Trợ TPB, năm nay tiếp tục tổ chức Đại Nhạc Hội để tiếp tục chuyển niềm vui hàng năm cho những Chiến Hữu của QLVNCH là nỗi nhục nhã của bọn cầm quyền. Sau bốn mươi mấy năm trời gọi là “Thống Nhất Đất Nước” nhưng vết thương chia rẽ dân tộc vẫn ngày đêm rỉ máu!

Ngày Chủ Nhật, 21 tháng 7 năm 2019, chúng ta nên bớt chút thì giờ riêng tư, hãy đến với nhau, cùng chia sẻ ngọt bùi và cùng hát, cùng thưởng thức những bài ca đấu tranh, cùng thưởng thức các ca nhạc sĩ hải ngoại tự nguyện hát cho quê hương, hát cho những thân phận đói khổ bị hà hiếp tại quê nhà!

Khu đất sân trường Los Amigos High School rất rộng và cũng đã có lần được tổ chức “Đại Nhạc Hội Cám Ơn Anh” mấy năm về trước. Quý vị có thể lái xe từ xa lộ 405, Exit vào đường EUCLID, chạy về hướng Bắc, gặp đường Heil quẹo phải, gặp đường New Hope là đến. Nếu đi trên Xa Lộ 22, Exit đường EUCLID, xuôi hướng Nam, gặp đường Heil quẹo trái, gặp đường New Hope là đến nơi!

Cuộc chiến đấu vì chính nghĩa tự do của chúng ta bị bức tử đã 45 năm, nhưng vết thương dân tộc chưa được vá, chưa được băng lại; ngày ngày vẫn rỉ máu. Là những người từng sát vai nhau trong chiến tranh 45 năm trước, là những người từng chịu ơn những anh linh đã nằm xuống, chúng ta còn nợ những người con dân Việt, hiện giờ là THƯƠNG PHẾ BINH đang đói rách tả tơi và uất hận dưới gót giày độc tài áp bức!

Hỡi những kẻ có lòng! Hỡi những tuổi trẻ thành danh, con em của Đồng Hương Tị Nạn Cộng Sản! Hỡi những ai còn nhớ đến niềm đau dân tộc!… Hãy đến cùng chung tay góp sức trong ngày ĐẠI NHẠC HỘI CÁM ƠN ANH LẦN THỨ 12. Hãy hăng hái vui vẻ đến với nhau cùng hướng về niềm đau dân tộc. “MỘT CÂY LÀM CHẲNG NÊN NON – BA CÂY CHỤM LẠI THÀNH HÒN NÚI CAO”

Hẹn gặp!

letamanh

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở ĐNH Cám Ơn Anh Kỳ thứ 12_Lê Tam Anh

Chiếc Áo Bà Ba In Hình Chữ Hỷ_Đoàn Xuân Thu

Image result for chữ HỷMới đầu nghe ba em gọi, tôi tưởng tên em là Muỗi. Tôi ghẹo em: “Muỗi này! Đừng chích anh, đau lắm”. Em trề môi, vẻ không bằng lòng: “Tên em là Muội. Muội là em. Em là Muội”. À ra thế!
Ba Muội, chú Phu, người Quảng Đông. Phu là phú, phú là giàu. Tên chú giàu nhưng chú không giàu. Chú chỉ có chiếc xe hủ tiếu, bán điểm tâm dưới hai tàng me đại thụ, trên vỉa hè, bên hông rạp chớp bóng Định Tường

Má tôi đông con, cũng nghèo, có quầy bán cơm tấm gần bên.
Chủ nhựt được nghỉ học, hai đứa ra phụ chạy bàn. Em giúp ba em. Tôi giúp má tôi. Năm ấy tôi mười tám tuổi, học Đệ nhứt, năm cuối cùng của bậc Trung học Đệ nhị cấp. Cuối năm, tôi sẽ thi Tú tài hai. Đậu thì lên Đại học. Rớt thì vào Thủ Đức. Chiến trường đang hồi ác liệt. Bạn tôi, rớt Tú tài một, đi Đồng Đế, có đi mà chẳng có về. Muội, mười sáu tuổi, học Đệ tam, trường Tàu, sắp thi bằng Cao Trung.

Muội là cô giáo dạy tôi tiếng Quảng Đông. Dách là một, dì là hai, xám là ba, xập là mười. Bài xập xám là bài mười ba lá. Muội nói Muội không thích thanh niên đánh bài. Tôi đâu có ở không để đi đánh bài; vì tôi còn bận tơ tưởng đến Muội của tôi suốt ngày; ngay cả năm thi Tú tài hai, bài vở còn cả đống, tôi còn không để mắt tới nữa là.

Muôi dạy tôi tính tiền là xấu lúi. Kỷ tố là bao nhiêu. Dách cô phảnh là một tô hủ tiếu. Tôi hỏi: “Một dĩa cơm tấm bì, tiếng Quảng nói làm sao?” Muội nói: “Muội không biết”. Tôi nói: “Đi hỏi ba Muôi đi!”. Muội không dám. Muội sợ ba biết Muội quen với tôi, ba Muội rầy.
Ba Muội nói: “Con trai Việt Nam làm biếng lắm, đi chơi tối ngày, không lo buôn bán. Không buôn bán lấy gì ăn. Không có gì ăn, làm sao lấy vợ. Nếu lấy được vợ làm sao nuôi vợ, nuôi con”.

ao ba baTôi nói: “Muội đừng lo. Tôi sẽ rán học, thi đậu Tú tài hai, vào Đại học Sư phạm, được hoãn dịch, đi bán chữ, để có tiền nuôi Muội. Muội đi bán hủ tiếu, để tôi có hủ tiếu, ăn trừ cơm, trong những ngày mưa bán ế”.

Muội nói: “Muội còn nhỏ lắm, chưa biết yêu”. Tôi nói: “Tôi sẽ chờ vài năm nữa”.
Nhưng thời cuộc biến chuyển. Tôi không chờ được Muội mà ngược lại Muội phải chờ tôi. Chờ tôi suốt cả một thời con gái
Cuối năm đó tôi đậu Tú tài hai. Hai năm xa Mỹ Tho, đi học Đại học Cần Thơ, tôi không còn dịp gặp Muội mỗi sáng chủ nhựt, để nói chuyện tào lao bắc đế nữa. Tôi sắp ra trường, sẽ đổi về một quận lỵ buồn thỉu, buồn thiu nào đó của đồng bằng sông Cửu Long; để làm một ông giáo làng, hai mươi mốt tuổi. Tôi sẽ trở về Mỹ Tho nhờ má tôi nói với chú Phu, ba Muội, hỏi cưới Muội cho tôi. Bây giờ tôi đã có đủ chữ để đi bán rồi. Tôi sẽ có tiền nuôi Muội, để ba Muội không còn chê con trai Việt Nam làm biếng nữa. Tôi sẽ không còn ăn cơm tấm má nấu. Tôi sẽ ăn hủ tiếu Muội nấu, trừ cơm, trong những ngày mưa bán ế.

Tôi không ao ước cao xa gì hết. Chuyện ấy dành cho con nhà giàu, quyền thế. Tôi chỉ ước được làm thầy giáo làng, có vợ bán hủ tiếu. Vậy mà cũng không được!

Mùa hè năm 72: mùa hè lửa đỏ. Các trận đánh lớn đồng loạt nổ ra ở Quảng Trị, Kon Tum, An Lộc. Tin chiến sự chiếm đầy mặt báo. Trang sau là cáo phó, phân ưu những người lính tử trận. Tôi tốt nghiệp, nhưng không được nhận nhiệm sở. Lệnh tổng động viên đã ban hành. Tôi vào trường Bộ Binh Thủ Đức.

Tôi thư về Muội bảo chờ tôi. Tôi còn quá trẻ để chết. Tôi sẽ trở về! Tôi sẽ trở về! Tôi vẫn còn muốn ăn hủ tiếu Muội nấu, trừ cơm, trong những ngày mưa bán ế. Hai năm xa Mỹ Tho, tôi đã ăn hủ tiếu nhiều nơi, nhiều chỗ nhưng không nơi nào, chỗ nào nấu hủ tiếu ngon bằng Muội của tôi.

Muội hứa sẽ chờ tôi về dẫu trời sập chăng đi nữa. Lời hứa ấy làm ấm lòng tôi suốt những ngày gian khổ giày sô, áo trận.

Tôi rời trường Bộ Binh Thủ Đức, về Thủy quân Lục chiến. Sư đoàn là lực lượng tổng trừ bị, nên tôi lội khắp nơi: từ Cà Mau, Chương Thiện, Bến Tre ra tận Thừa Thiên, Quảng Trị.

Một năm lính trôi qua, khi tiểu đoàn về Mỏ Cày, Bến Tre truy kích chủ lực miền của địch về quấy rối thì tôi đạp phải mìn. Sức nổ của trái mìn tự tạo bằng quả đạn pháo 105 lép, đẩy tôi văng tuốt xuống mương, mình dính đầy những miểng.

Tôi không chết, như đã hứa với Muội. Trực thăng phầm phập tải thương về Bịnh viện 3 Dã chiến Mỹ Tho. Tôi nằm trên băng ca, ngoài hành lang trên lầu, chờ ngày mai xe hồng thập tự chuyển tôi về bịnh viện Lê Hữu Sanh của sư đoàn ở Thị Nghè. Muội nghe tin tôi bị thương; tất tả cùng má đến thăm. Đã hết giờ thăm thương bịnh binh, má với Muội đứng dưới lề đường Trương Định nhìn lên nơi tôi nằm. Tôi thò cái tay, không bị dính miểng, vẫy vẫy. Má khóc. Muội cũng khóc. Vạt áo xẩm, Muội mặc, đẫm đầy nước mắt.

Muội sợ tôi chết, Muội khóc. Khóc cho giấc mộng tôi muốn làm thầy giáo đi bán chữ nuôi Muội; Muội đi bán hủ tiếu cho tôi ăn trừ cơm những ngày mưa bán ế đã không thành.

Tôi nằm bịnh viện cả tháng trời. Miểng trong người lâu lâu lại lòi ra. Tôi nghiến răng, rút miểng ra, máu lại chảy. Tôi được hai tuần phép để chờ ra hội đồng giám định y khoa.

Tôi trở về Mỹ Tho gặp má. Cởi giầy sô, áo trận, tôi mặc lại chiếc áo học trò năm cũ. Tôi ra vỉa hè, dưới hai tàng me đại thụ, bên hông rạp chớp bóng Định Tường, chạy bàn cho má tôi. Tôi gặp lại Muội. Đó là khoảng thời gian hạnh phúc nhứt đời tôi, khi bây giờ, tôi nhớ lại.

Tôi hỏi Muội: “Đẹp tiếng Quảng là gì?”. Muội nói: “Hụ len. Còn yêu là ói”. Vậy thì “Nị hụ len; ngọ ói nị”. Muội mắc cỡ, ửng hồng đôi má.
Cả tháng trời nằm bịnh viện, không có dịp xài, lương vẫn y nguyên. Tôi lãnh tiền ra, đưa cho má tôi một nửa. Má tôi không cầm tiền, má khóc.
Tôi nài nỉ: “Em con đang sức lớn, má ơi!”

Số tiền còn lại tôi dắt Muội xuống tiệm Văn Minh, gần rạp hát Vĩnh Lợi, mua vải cho Muội may áo. Tôi chọn một xấp gấm Thượng Hải có in chữ Tàu.
Tôi hỏi: “Chữ Tàu đó nghĩa là gì?”
Muội nói: “Đó là chữ hỉ. Hỉ là vui. Vải này dành cho người ta may áo cưới”.
Tôi hỏi: “Muội muốn màu gì?”
“Màu đỏ hên lắm! Muội xin Trời, Phật cho anh đi đánh giặc bình an, hết giặc, về với Muội”.
Tôi nói: “Thôi! Đời anh xui quá xá rồi còn gì, muốn đi bán chữ mà cũng không được, mới đi lính có một năm đã bị thương rồi, hên đâu hỏng thấy”.
Tôi chọn cho Muội vải áo màu xanh đọt chuối.
Tôi bảo: “Màu xanh là màu hy vọng. Anh hy vọng Muội sẽ chờ anh dù cho trời sập tới nơi.” Muội nói: “Muội sẽ chờ.”

Tôi may cho Muội một chiếc áo bà ba để bắt đền cho chiếc áo xẩm đẫm đầy nước mắt khi đến thăm tôi bị thương nằm ở Bệnh viện 3 Dã chiến ngày nào.
Muội nói: “Muội mặc chiếc áo bà ba giống hệt con gái Mỹ Tho.”
“Ba má sanh Muội ra ở đây thì Muội đã là con gái Mỹ Tho rồi; mà con gái Mỹ Tho chánh cống chưa chắc đã dám đọ với em”. Tôi nịnh Muội.
Hai tuần phép trôi nhanh, tôi ra hội đồng giám định y khoa tái khám, bị phân loại một, trở về tác chiến. Lại băng rừng, vượt suối, bạc màu áo trận, mốc thích giầy sô cho đến ngày tan hàng, sập tiệm.

Tôi chỉ là một sĩ quan cấp thấp, nhưng lại thuộc binh chủng rằn ri nên những người thắng trận cải tạo tôi hơi lâu; mãi năm năm sau mới thả tôi về.
Tôi trở về Mỹ Tho bèo nhèo như một chiếc áo rách. Má tôi đã mất khi tôi còn ở trong trại. Mấy đứa em giấu tôi tin buồn. Đứng trước bàn thờ má, đốt một nén nhang, tôi không còn khóc được nữa, nước mắt tôi đã cạn lâu rồi. Miệng tôi méo xệch như mếu, mắt chớp chớp, mặt nhăn nhúm, giựt giựt.

Má ơi!
Tôi nhớ lại nồi cơm tấm má nấu, nồi cơm tấm nuôi tôi ăn học. Tôi nhớ cái vỉa hè, bên hông rạp chớp bóng Định Tường, dưới hai tàng me đại thụ mà mùa thu lá me bay bay, rơi đầy trên tóc. Tôi nhớ những giọt nước mắt của má tôi, khi đến thăm tôi bị thương nằm ở Bịnh viện 3 Dã chiến năm nào. Tôi nhớ những giọt nước mắt của má tôi khi không chịu cầm số tiền lương tôi gởi. Bây giờ má tôi đã mất rồi; đàn em tôi vẫn còn nheo nhóc.

Cả nhà đói, ăn độn bo bo mà cũng không đủ. Ăn buổi sáng, phải chạy, lo buổi chiều. Việc chạy gạo dồn lên cả đôi vai khẳng khiu của em gái tôi đang tuổi thanh xuân. Nhưng tuổi thanh xuân của em tôi còn đâu nữa. Nước mất nhà tan! Chưa bao giờ tôi thấm thía câu nói ấy cho bằng bây giờ.

Tôi không tìm gặp lại Muội nữa. Tình thơ dại của tôi đã tan theo vận nước. Bây giờ tôi chỉ là một sĩ quan ngụy, đi cải tạo về, mỗi tuần phải trình diện công an phường một lần cho tới ngày xả chế. Tôi ra khỏi một nhà tù nhỏ, để vào một nhà tù lớn hơn! Tôi chỉ có chữ, mà chữ bây giờ chẳng ai mua. Chế độ này không cần chữ. Lúc tôi lên trình diện, lão phó công an phường lẩm nhẩm đánh vần lịnh tha của tôi mà nước miếng tràn ra cả khóe miệng. Chế độ này cần lý lịch. Mà lý lịch tôi hạng 15, nghĩa là hạng bét, tận cùng đáy xã hội, thì tôi làm được gì bây giờ?

Tôi không tìm gặp lại Muội không phải vì tôi mặc cảm. Tôi không có gì phải mặc cảm cả. Tôi chỉ đi lính, đánh giặc, tôi thua, giặc bắt tôi ở tù. Thế thôi!

Tôi không tìm gặp lại Muội chỉ vì tôi không muốn mình trở thành gánh nặng cho Muội. Yêu người, có ai muốn trở thành gánh nặng cho người mình yêu bao giờ đâu? Tôi cũng không muốn trở thành gánh nặng cho em tôi. Thương em, có ai muốn trở thành gánh nặng cho em mình thương bao giờ đâu?

Tôi đã sống sót suốt năm năm trời dưới chín tầng địa ngục. Tôi đã đói, đói đến mức phải ăn bất cứ cái gì động đậy: cóc, nhái, ễnh ương, bù tọt. Tôi phải sống sót để trở về, như đã hứa, với Muội. Kẻ thù muốn tôi quỳ xuống, van xin. Tôi không quỳ xuống, van xin. Kẻ thù muốn tôi chết. Tôi không chết. Tôi đã trở về, dù thân tàn ma dại.

Em gái tôi đem chiếc nhẫn cưới của má để lại, đến vợ tên công an khu vực cầm, để tôi có chút vốn đi buôn lậu dầu dừa. Ngày xưa nói đến buôn lậu là nói đến tiền tỉ, đến những vật phẩm đắt tiền, trốn thuế, chuyển hàng có xe quân cảnh hụ còi như vụ Long An. Còn bây giờ chỉ mười lít dầu dừa, bỏ vào cặp táp, từ cầu Ba Lai qua phà Rạch Miễu về Mỹ Tho, kiếm lời đủ mua lít gạo.

Đế quốc Mỹ, tàu to, súng lớn, không đủ sức đưa nhân dân ta trở về thời kỳ đồ đá. Nhà nước ta, đỉnh cao trí tuệ loài người, bằng ngăn sông, cấm chợ, rào đường, chặn ngõ dễ dàng đưa nhân dân ta trở lại thời kỳ đồ đá, thời kỳ hái, lượm, thời kỳ của nền kinh tế tự cung, tự cấp; bởi buôn bán, dù năm mười lít gạo, mười, hai chục lít dầu dừa là không lao động, không sản xuất, là bóc lột, là chủ nghĩa tư bản xấu xa.

Tôi cắt tóc ngắn lên, cho gọn gàng, cho có vẻ thầy giáo. Phần thì để né mấy tay du kích bên Cầu Bắc Tân Thạch, quê hương Đồng Khởi. Mấy tay du kích VC này có kiểu làm tiền rất láu cá, bằng cách làm nhục khách bộ hành qua phà, dùng súng, chận họ lại, bắt vào hớt tóc. Tóc dài là tàn dư Mỹ Ngụy. Ngồi trước gương của ông thợ hớt tóc đầu đường, thấy tóc mình đã điểm vài sợi bạc, dù tôi chưa đầy ba mươi tuổi. Tôi mặc lại chiếc áo sơ mi trắng năm học đệ nhứt, đã ố vàng. Chiếc quần xanh được nhuộm đen. Mặc áo bỏ vô quần, mang giày với đôi vớ rách. Tôi xách chiếc cặp táp cũ nhưng không để đựng sách vở. Sách vở ích gì cho buổi ấy. Chiếc cặp đựng cái can nhựa mười lít dầu dừa. Tôi nhập vai thầy giáo, dù ước mơ làm thầy giáo làng, có vợ bán hủ tiếu để tôi ăn trừ cơm những ngày mưa bán ế, đã chết tự lâu rồi, từ Mỹ Tho qua Bến Tre dạy học, canh giờ đến lớp hay tan học, hòa vào đám học trò để vượt qua trạm Cầu Bắc.

Tôi đi buôn lậu dầu dừa được chừng sáu tháng thì thằng bạn học cũ thời trung học cũng ở tù về, rủ tôi hùn tiền mua chiếc xích lô đạp. Nó chạy sáng, tôi chạy chiều hoặc ngược lại. Thằng bạn tôi nói, cay đắng: “Thằng Mỹ quýnh quáng bỏ chạy, còn làm rớt lại cái tên Mỹ, Xô xích Le, xe xích lô”. Tôi thì lại nói: “Mấy ông tai to, mặt lớn của tụi mình thì hô hào tử thủ, để có thời giờ tom góp vàng bạc, đô la rồi dông, còn làm rớt lại chức dân biểu. Xô xích Le, dân biểu. Dân biểu đâu, mình chạy đó”

Một buổi chiều sau khi chở khách ra bến xe cổng thị xã, tôi thả xe không về chợ Vòng Nhỏ thì thấy một ông cắc chú đội chiếc nón mây đan, rộng vành, như Khương Đại Vệ trong phim kiếm hiệp tàu trước 75. Ông mặc chiếc quần tiều lỡ, quá gối, chiếc áo thung tay dài gần tới cùi chỏ, bỏ vô quần, gánh hai cái cần xé không, đi lủi thủi. Tướng đi ngờ ngợ, quen quen. Chú Phu rồi chứ chẳng ai!
“Đi xích lô hông? Chú ba!” Chú Phu nhìn lên, ngơ ngác, ngờ ngợ một lát, rồi nhận ra tôi. Tôi đã đổi thay nhiều quá.
“Chèn ơi! Vậy mà ngộ tưởng nị chết rồi.”
“Chết sao được! Sống nhăn răng ra đây nè.”
Tôi chở chú Phu về nhà. Cũng căn nhà lợp ngói âm dương ở đường Huyện Toại, nhưng có vẻ tiêu điều, u ám. Chiếc xe hủ tiếu xập kỷ nìn, năm xưa, ngày cũ, còn đậu trước hàng ba, xẹp bánh, bụi bám, nhện giăng.
“Nị ở chơi, ngộ nấu hủ tiếu cho nị ăn. Lâu quá ngộ cũng không có ăn hủ tiếu.”
“Vậy chứ chú thôi bán hủ tiếu rồi sao?”
“Thôi lâu rồi! Giờ ai cũng mạt, tiền đâu ăn hủ tiếu.”
“Thì bán cho mấy ổng.”
“Ổng nào? À mấy ông cách mạng hả? Ờ mấy ổng đâu có thèm ăn hủ tiếu. Mấy ổng ăn vàng không hà.”
Chú Phu đem ra một tô hủ tiếu và một lít rượu. Tô hủ tiếu, chú Phu vừa mới nấu, cũng chịu cùng số phận tang thương theo vận nước, chỉ nước lèo, bánh và lèo tèo những lát thịt mỏng như tờ giấy quyến.
Tôi nhớ tô hủ tiếu Muội nấu cho tôi ăn trong những ngày mưa bán ế. Tô hủ tiếu với bánh bột lọc làm bằng gạo Gò Cát, trụng với nước thật sôi, dai mà không bở như hủ tiếu Sài Gòn, nước lèo nấu bằng xương heo, tôm khô, khô mực, cải bắc thảo, thêm vài tép mỡ, điểm xuyến vài cọng sà lách non xanh với mấy cọng hành luộc, một nhúm giá, vài lát ớt sừng trâu xắt mỏng, rắc chút tiêu, ăn với xì dầu và dấm đỏ. Tô hủ tiếu, người thương mình nấu, ly cà phê sữa nhỏ, xây phé nại, do chính tay mình pha, trong những ngày bão rớt, mưa dầm, bán ế giờ đã trở thành kỷ niệm.
Tôi không tiện hỏi thăm về Muội, dù rất muốn.
Tôi hỏi: “Chú bây giờ làm gì để sống?”
“Thì nị thấy đó, ngộ đi mua ve chai, lông vịt về bỏ cho vựa. Nghề ve chai lông vịt mà, nghề móc bọc, móc bọc ny lon đem xuống sông rửa, rồi cân ký. Bây giờ khổ quá! Nhớ hồi xưa mình vui quá!”
Lít rượu ngâm ô môi, cho có màu, chú, cháu cưa hai gần hết.
Chú Phu, chưn nam đá chưn chiêu, lảo đảo bước vào nhà trong, lấy ra cái bọc ny lon.
Chú nói: “Con Muội! Nó gởi cho nị. Con Muội! hu hu! Nó chết rồi!”
“Muội ơi!”
“Ngộ biết nó thương nị. Lúc nị đi ở tù, nó nói nó chờ nị được tha về, nó sẽ đi bán hủ tiếu nuôi nị. Nhưng có được đâu! Tụi nó đánh ăn tụi mình rồi lại giành ăn, đánh lẫn nhau. Thiệt hết biết! Hết Pol Pot, Bành Trướng Bắc Kinh, rồi Nạn Kiều. Ngộ sợ tụi nó sẽ đuổi cha con ngộ về Trung Quốc. Tưởng thống chế bỏ ngộ chạy ra Taiwan. Mao xếnh xáng rượt ngộ chạy tuốt đến đây. Mỹ Tho đất lành chim đậu. Rồi sanh ra con Muội. Ngộ nói với con Muội: “Mỹ Tho bây giờ đất dữ rồi, thôi bay đi con!”
Muội ngần ngừ, có ý đợi nị về. Ngộ nói: “Nị làm quan, mà lại rằn ri nữa, tù biết đến lúc nào ra? Nếu không đi; sợ không còn có dịp. Cái cột đèn còn muốn đi nữa mà.”
“Suốt cuộc đời bán hủ tiếu, ky cỏm được hai cây vàng, ngộ xuống năn nỉ mấy xì thẩu dưới chợ Mỹ Tho cho con Muội một chổ.”
“Tàu nó ra cửa được ba ngày đêm thì bơm nhớt bị hư, máy lột dên, trôi giạt. Ở hải phận quốc tế, tàu buôn qua lại nườm nượp mà không ai vớt. Ba tuần linh đinh trên biển, tuyệt vọng quá, mấy người đi trên tàu gom quần áo, giày dép lại, đốt. Cuối cùng có chiếc tàu buôn tội nghiệp dừng lại, thả thang dây xuống. Ba tuần trên biển, nị nghĩ coi, sức đâu nữa mà leo. Nó sút tay, rớt xuống biển. Chết chìm. Hu hu.”
Chú Phu không còn nước mắt nữa để khóc, chú chỉ kêu hu hu, tiếng kêu của con thú bị một vết thương trí mạng, bị ví vào đường cùng, không lối thoát thân.

“Đêm trước khi đi, nó đưa cho ngộ cái này, nói nếu nị còn sống sót trở về, thì đưa lại cho nị. Hu hu!”
Trong cái bọc ny lon, chú Phu đưa cho tôi, là chiếc áo bà ba hình chữ hỉ tôi may cho em ngày cũ.
Muội ơi! Xác em giờ ở phương nào. Trôi vào đất Thái hay vào Nam Dương. Áo bà ba, Muội yêu, hòa biển tím. Tình còn đây trời đày ta mất nhau.
Tôi không còn khóc được nữa, nước mắt tôi đã cạn lâu rồi. Miệng tôi méo xệch như mếu, mắt chớp chớp, mặt nhăn nhúm, giựt giựt.
“Muội ơi! Anh sẽ đem chiếc áo bà ba hình chữ hỉ của chúng mình theo, ra biển!”

Đoàn Xuân Thu

(Người chuyển: Dương Mộng Oanh)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Chiếc Áo Bà Ba In Hình Chữ Hỷ_Đoàn Xuân Thu

Vùng Khổ Thấy Mẹ (KTM)_Sưu tầm

Inline imageVùng Khổ Thấy Mẹ, tức là vùng kinh tế mới.Sau năm 1975, bọn việt cộng lùa hàng trăm ngàn người ở Sài Gòn lên các vùng mà chúng nó gọi là kinh tế mới. Các tỉnh thành của miền Nam cũng đồng loạt thi hành cái quyết định này của thằng chó đẻ Lê Duẫn và bộ chính trị của cộng đảng.
Mục đích của chúng là gì? 

-Chiếm đoạt nhà cửa, tài sản của người dân miền Nam, phân tán những thành phần có thể kết hợp chống lại chúng nó. Đưa thành phần cán bộ chủ chốt của chúng từ Bắc vào trám chỗ, để sống lẫn lộn với người dân miền Nam ,cho dễ bề cai trị.
– Đối tượng là người Hoa, gia đình của các người có dính líu đến chế độ VNCH .Những người dân tỵ nạn chạy từ miền Trung vào ở thời điểm cuối của cuộc chiến. Những thành phần vô gia cư hay không có chỗ ở nhất định, cũng nằm trong diện này.
— Dùng mọi thủ đoạn, từ dụ dỗ tới đe dọa, tuyên truyền bịp bợm bằng những hình ảnh cò mồi, để đạt được mục tiêu trên 1 triệu người phải được di dời ra khỏi Sài Gòn, dù dân số Sài gòn lúc đó chưa đầy 3 triệu.
Các tỉnh thành cũng thế, các con số được đưa ra ,để bọn cán bộ thi hành. Cái luận điệu thường nghe nhất là hãy đi xây dựng vùng kinh tế mới là xây dựng nếp sống mới.
Hay là đi kinh tế mới, thì sẽ được cứu xét để chồng con đang bị “cải tạo” sớm được thả về.
Và sống dưới chế độ “Mỹ Ngụy” ăn bám, chây lười lao động, bây giờ nhà nước tạo cơ hội để tự làm lại cuộc đời, đóng góp cho đất nước…bla bla..
Nếu cuối cùng không thuyết phục được thì chúng dùng bạo lực.
— Chúng nó dồn dân lên xe rồi, thì từng đoàn xe, chất đầy những con người ngơ ngác vô tội, cứ thế mà chạy,mặc kệ người già ói mửa, con nít kêu gào.
Những con người thất thanh ngơ ngác, cho đến khi xe dừng lại giữa rừng đêm.
Xuống..xuống.. từng đoàn người bồng bế, dắt dìu nhau nhảy xuống, những đoàn thanh niên xung phong được lịnh ra giúp họ.Inline image
Những người này cũng chẳng khá gì hơn những người mới đến, họ bị tập trung đưa lên đây từ vài tháng trước, để chặt cây, dựng nhà, họ sống thành từng đại đội, xanh xao ,bịnh hoạn vì nước độc rừng thiêng.
Trước đó họ chỉ là những người học trò ,chưa một ngày cầm con dao, cây cuốc,cây rựa.
Những “căn nhà ” được họ dựng lên chỉ có cái sườn, và những người lưu dân tội nghiệp mới đến này phải tự mình lo che nắng, che mưa cái chòi trống rỗng đó.
Cái căn nhà ấm êm với bao nhiêu kỷ niệm của một thời bây giờ chỉ là kỷ niệm, thực tại là rắn rết, bò cạp ,muỗi mòng, đi vệ sinh phải đem theo cái cuốc.
Tắm giặt ăn uống gì cũng xuống suối để làm. tội nghiệp biết bao nhiêu những cụ già ,những đứa trẻ con, những bà mẹ với một đàn con, tội biết bao nhiêu những người con gái tuổi thanh xuân, một mình lo cho mẹ già em dại, bố thì tội tù, tội biết bao nhiêu những người thiếu niên mới lớn bây giờ thay thế cha mình để bảo bọc gia đình..
Họp hành, thi công ,chấm điểm. Lương thực nhỏ nhoi được cấp phát, vơi theo tháng ngày, ốm đau không thuốc.Cái đói và bịnh tật đã giết chết biết bao nhiêu con người của thời đại đó ?
Có bao nhiêu bà mẹ trẻ đành đoạn bỏ thuốc trừ sâu, thuốc độc vào nồi cháo khoai mì, để mấy mẹ con cùng ăn, chấm dứt một kiếp người đày đọa? Có bao nhiêu người con gái thơ ngây phải đem thân xác mình để đánh đổi tí dầu lửa thắp đèn, vài ký gạo,vài nhu yếu phẩm với những thằng cán bộ nắm quyền sinh sát.
Và từng đêm khuya khi ánh trăng dọi sáng rừng đêm , những người thanh niên thiếu nữ ,tương lai mịt mù, tìm đến nhau, với tiếng đàn, lời ca , bàn tay tìm nắm bàn tay.. cho nhau hết vì biết đâu ngày mai em chết..
Con số người bỏ trốn về lại Sài gòn và các tỉnh thành không phải ít.. các nghĩa trang, công viên ,lề đường ,gầm cầu là nơi cư ngụ của họ..
Bọn cộng sản đã hoàn toàn thất bại trong mục tiêu của chúng nó..
Các quận mới ở Sài gòn hình thành cũng từ những lưu dân bị đọa đày,bị cướp giựt nhà cửa này, họ về bám lại Sài gòn, và họ đã làm cho Sài gòn sống lại..
Những người ở lại các vùng khóc ra máu mắt đó, họ đổ mồ hôi, sôi nước mắt để sống còn.
Chế độ cộng sản liên xô xụp đổ, bọn cộng sản bắt buộc phải nới lỏng,thay màu son phấn để sống còn.
Những vùng kinh tế mới ngày xưa đó bây giờ đã thành thị trấn ,rừng đã lùi xa vì một thời đã bị chặt, dùng làm chất đốt cho người đô thị.
Chuyện cũ của vài chục năm xưa, chuyện của một thời hung hăng, ngu muội, hận thù mà bọn cộng sản gây nên, chỉ là dĩ vãng, trẻ con lớn lên không bao giờ được biết, vì bọn cộng sản chúng nó biết phủi tay chối bỏ tất cả mọi tội ác mà chúng đã gây ra, và lớp trẻ ngày nay lớn lên có cha mẹ nào kể lại cho họ nghe một thời như thế? Và đối với chính họ, chỉ là chuyện rất xưa..
Nhưng rồi tới đời con họ, những chuyện đã xảy ra và còn sẽ xảy ra, nếu chế độ cộng sản này còn tồn tại..
Những mảnh đất khai hoang bằng máu và nước mắt của ông bà, cha mẹ họ ngày xưa..bây giờ là miếng mồi ngon béo bở cho bọn cộng sản, vì chúng đang cần đất để bán cho bọn tàu.
Bọn tàu chiếm nước Việt bằng tiền mua đất, mà đất thì thuộc quyền “quản lý ” của bọn chó đẻ việt cộng. Cái nhà mình đang ở, nó tự nhiên đo đạc bảo là đất quy hoạch, thế là mình bị dồn vào cửa tử..
Vỉa hè mà ông bà cha mẹ họ bám trụ để dựng thành những khu phố, bây giờ bọn việt cộng sẽ tìm đủ mọi cách để chiếm.
10 triệu người ở sài gòn, hơn 5 triệu sinh sống bằng buôn bán vỉa hè.. bây giờ bị dẹp, thì sống bằng gì?
Đấy, một thời đã qua và vẫn còn tiếp diễn…cái thời cộng sản chó chết.

(Bài sưu tầm trên net)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Vùng Khổ Thấy Mẹ (KTM)_Sưu tầm

Danh Sách K1 ủng hộ ĐNH “Cám Ơn Anh” Kỳ 12

DS K1 cam on anh

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Danh Sách K1 ủng hộ ĐNH “Cám Ơn Anh” Kỳ 12

Bài thơ của một anh thương binh VNCH …

Bài thơ của một anh thương binh …
Cay đắng, ngậm ngùi !
Image may contain: 1 person, sitting
Tao bị thương hai chân,
Cưa ngang đầu gối ! 
Vết thương còn nhức nhối.
Da non kéo chưa kịp lành…
Ngày ” Giải phóng Miền nam “
Vợ tao ” Ẵm ” tao như một đứa trẻ sơ sanh…!
Ngậm ngùi rời ” Quân-Y-Viện “
Trong lòng tao chết điếng,
Thấy người lính Miền bắc mang khẩu súng AK !
Súng ” Trung cộng ” hay súng của ” Nga ” ?
Lúc này tao đâu cần chi để biết.
Tao chiến đấu trên mảnh đất tự do Miền nam
-Nước Việt,
Mang chữ ” NGỤY ” thương binh.
Nên ” Người anh,em phía bên kia…”
Đối xử với tao không một chút thân tình…!
 
Mày biết không !
Tao tìm đường về quê nhìn không thấy ánh bình minh.
Vợ tao: Như ” Thiên thần” từ trên trời rơi xuống…
Nhìn hai đứa con ngồi trong căn chòi gió cuốn,
Bụi đất đỏ mù bay !
Tao thương vợ tao yếu đuối chỉ có hai tay,
Làm sao ” Ôm ” nổi bốn con người trong cơn gíó lốc.
Cái hay là: Vợ tao giấu đi đâu tiếng khóc.
Còn an ủi cho tao,một thằng lính què !
 
Tao đóng hai cái ghế thấp,nhỏ bằng tre,
Làm “Đôi chân” ngày ngày đi lại
Tao quét nhà; nấu ăn; giặt quần; giặt áo…
Cho heo ăn thật là “Thoải mái” !
Lê lết ra vườn: Nhổ cỏ, bón phân
Đám bắp vợ chồng tao trồng xanh tươi
Bông trổ trắng ngần !
Lên liếp trồng rau,thân tàn tao làm nốt.
Phụ vợ đào ao sau vườn,rồi thả nuôi cá chốt.
Đời lính gian nan sá gì chuyện gíó sương…
 
Xưa, nơi chiến trường
Một thời ngang dọc.
Cụt hai chân. Vợ tao hay tin nhưng không “Buồn khóc”!
Vậy mà bây giờ…
Nhìn tao…nuớc mắt bả….rưng rưng !
 
Lâu lắm, tao nhớ mầy qúa chừng.
Kể từ ngày, mày “Được đi Cải tạo”!
Hàng thần lơ láo – Xa xót cảnh đời…
Có giúp được gì cho nhau đâu khi:
Tất cả đều tả tơi !
 
Rồi đến mùa “H.O”
Mầy đi tuốt tuột một hơi. 
Hơn mười mấy năm trời…
Không thèm quay trở lại
Kỷ niệm đời Chiến binh
Một thời xa ngái.
Những buổi chiều ngồi hóng gió nhớ…buồn hiu !
 
Mai mốt mầy có về thăm lại Việt nam
Mầy sẽ là “Việt kiều”!
Còn “Yêu nước” hay không – Mặc kệ mầy.
Tao đếch biết !
Về, ghé nhà tao.Tao vớt cá chốt lên chưng với tương…
Còn rượu đế tự tay tao nấu
Cứ thế, hai thằng mình uống cho đến…điếc !
 
Trang Y Hạ
(Bài do Trần Pháp sưu tầm & chuyển)
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Bài thơ của một anh thương binh VNCH …

Dự Luật (Mỹ) trừng phạt Trung Cộng ở Biển Đông & Biển Hoa Đông

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Dự Luật (Mỹ) trừng phạt Trung Cộng ở Biển Đông & Biển Hoa Đông

Vietnamese Trump Supporters Whitehouse Rally (Người Việt biểu tình ủng hộ TT Trump)_YouTube

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Vietnamese Trump Supporters Whitehouse Rally (Người Việt biểu tình ủng hộ TT Trump)_YouTube

Diễn Hành Mừng Lễ Độc Lập HK 2019_YouTube

Diễn Hành Mừng Lễ Độc Lập HK 2019 tại Thủ Đô Hoa Thịnh Đốn Washington, D.C, có sự tham dự của Cộng đồng Người Việt

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Diễn Hành Mừng Lễ Độc Lập HK 2019_YouTube

CANH BẠC TRUMPIAN – “Thật là độc đáo”_AndrewAn Nguyen

Image result for Trump and un at DMZ

Ngoại trưởng Hoa Kỳ Mike Pompeo vừa mỉm cười và kể lại với ký giả Charles Hunt của tờ Washington Times rằng: “Ông Trump nhìn thẳng vào vấn đề và nói rằng: Nếu như chúng ta cứ giữ cách đánh giống như cách thức xưa nay thường làm, thì những bước đi đem ra đặt cược đều bị lộ diện, khả năng thành công gần như là không. Hay chúng ta hãy thử tiến đến từ một hướng khác.”

Trên đường bay đến Hàn quốc sau khi rời hội nghị G20 tại Nhật bản, TT Trump nói: “Tôi sẽ lên đến đó”, ông Pompeo kể lại. “Từ Bình Nhưỡng đến biên giới không quá xa. Có lẽ chủ tịch Kim sẽ đến gặp tôi!”

Chỉ riêng cái ý định này thôi cũng đủ làm nên lịch sử rồi, nhưng ông đã không dừng lại ở đó, ông muốn hoàn tất ý định ấy một cách khác biệt. Và TT đã quyết định chọn cách tốt nhất để giao tiếp với thế giới. Thế là ông vào Twitter: “Sau những buổi họp rất quan trọng, kể cả cuộc họp của tôi với Chủ tịch Tập của Tàu cộng, tôi sẽ rời Nhật bản đi Hàn quốc (với tổng thống Moon) — TT đã tweeted trên tài khoản có 61 triệu người theo dõi của ông trên toàn thế giới vào lúc 7:51AM sáng thứ bảy — Nếu chủ tịch Kim của Triều Tiên thấy được việc này, tôi sẽ gặp ông tại biên giới/DMZ chỉ để bắt tay và nói hello!”Chưa đến một giờ đồng hồ, thì chúng tôi nhận được câu trả lời nhiều nghi hoặc từ các viên chức của Bắc Hàn rằng: “Hey, điều này có nghĩa là gì? Anh thực sự nghĩ gì thế?” ông Pompeo kể lại. Và từ lúc đó, giữa cái tweet và cuộc gặp gỡ chỉ có 20 đến 30 giờ đồng hồ để chuẩn bị.Bất kể dầu lạc quan đến mấy, vẫn bị bao phủ về vấn đề thận trọng và cảnh giác về các cạm bẫy trong việc đàm phán với các nhà cai trị độc tài. “Luôn có một sự rủi ro”, ông Pompeo nói. “Tổng thống luôn nói rằng nó có thể không thành việc. Chắc chắn ngay cả trường hợp của hôm nay. “Cho đến lúc rạng đông sáng Chủ Nhật ở Seoul, TT vẫn không nắm chắc được là ông Kim có xuất hiện hay không. Vì những gì ông Trump làm giống như là một canh bạc.Tại buổi họp với các business leaders vào buổi sáng hôm ấy, ông Trump còn nói đùa rằng ông đã mở lời mời trước công chúng, nếu như nhà độc tài Bắc Hàn muốn làm bẽ mặt ông, thì đây là một cơ hội. Thật là dễ dàng cho nhà độc tài của Triều Tiên muốn làm nhục ông bằng cách sẽ không xuất hiện để bắt tay nhau tại DMZ.Lúc 2 giờ trưa cùng ngày, ông Trump, tôi và một phái đoàn nhỏ đã lên một đoàn trực thăng bay ra vùng Phi Quân Sự DMZ. Chúng tôi đã hạ cánh ngay bên ngoài DMZ.Phải đến khi ông Trump ghé qua thăm viếng các binh sĩ Hoa Kỳ và Nam Hàn tại đồn trú ở trạm quan sát gần ngôi làng Panmunjom, lúc đó chúng tôi mới biết được là chủ tịch Kim đã đến.Ông Trump tiến về phía biên giới. Và hai người đàn ông sau đó bước qua biên giới, trở thành lịch sử.Khi trả lời các phóng viên báo chí, ông Kim Yong Un cũng cho biết, ông rất ngạc nhiên và cảm thấy thú vị khi được ông Trump mời qua Twitter, và “tôi rất muốn gặp lại ông ấy.”“He treats his counterparts with respect (Ông ấy đối xử với các đối tác của mình với sự tôn trọng)”, Mr. Pompeo nói về TT Trump.Và tôi nghĩ rằng các nhà lãnh đạo khác đã thấy rằng, họ cũng phải chuẩn bị để tham gia vào những phương cách không lường trước được với vị Tổng thống khác biệt này.

@BlueSky
AndrewAn Nguyen

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở CANH BẠC TRUMPIAN – “Thật là độc đáo”_AndrewAn Nguyen

Happy July 4th 2019

space needle.gif

Căn Nhà Nhỏ kính chúc Quý NT, Quý thân hữu, quý đồng môn K1 và gia đình thật nhiều Hạnh Phúc và tràn ngập niềm vui trong ngày Quốc Khánh  “4th Of  July.”

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Happy July 4th 2019

NỮ CẦU THỦ MỸ MEGAN RAPINOE_Người lính già Oregon

1. Megan Rapinoe là cầu thủ của đội tuyển nữ USA trong giải vô địch FIFA France 2019. Đá hay, có thể (arguably) là một trong những cầu thủ hay nhất thế giới. Nhưng là một người khá tự phụ: Trong một cuộc phỏng vấn mới đây, cô ả tuyên bố: “Because I am as talented as I am, I get to be here, you don’t get to tell me if I can be here or not” (Bởi vì tôi có tài như tôi đang có, tôi phải hiện diện ở đây, ông / cô không cần nói với tôi rằng tôi có thể ở đây hay không) (cf. Jason Chaffetz, Fox News, June 26, 2019).

Người cao lớn, tóc cắt ngắn, nhuộm hồng, rồi tím, rồi nửa hồng nửa tím, nhưng tôi không để ý có xăm tay và cổ không. Thoạt nhìn, tôi thấy cô ta giống như một anh đực rựa xí trai. Đến khi, trong trận Mỹ đấu Thái Lan, cầu thủ xinh đẹp Alex Morgan (?) sút một trái vô lưới, cả đội mừng rỡ, và Rapinoe chạy tới dang rộng hai tay, và Morgan nhảy tót lên, hai chân kẹp hông cô ả, một hồi lâu, trong cái thế không bình thường, khiến tôi xốn xang con ngươi và nghi cả hai cô, hoặc một trong hai cô, là lesbian.

Hôm nay, tôi biết qua bài viết của Chaffetz, rằng khi không thi đấu, Rapinoe sinh hoạt với nhiều Nhóm LGBT (lesbian, gay, bisexual, transgender). Nhưng Jason Chaffetz, và Stuart Varney, tác giả một bài cũng về Rapinoe, trên Fox Business, June 26, 2019, không ai (dám) khẳng định cô ả là lesbian. Sợ mang tiếng kỳ thị? Còn Wikipedia thì nói toạc móng heo rằng Rapinoe là lesbian chánh hiệu con nai, đã lần lượt sống chung với vài em bồ nữ, có lúc định làm đám cưới với một em, nhưng hoãn lại cho tới bây giờ.

Y như Abby Wambach, một cầu thủ của USA Team, nổi tiếng một thời, nay đã giải nghệ, đã cưới một nữ cầu thủ Australia làm chồng, sau đó ly dị, và sống với vài em nhí khác. Ngoài ra, cũng theo Wikipedia, cả Wambach và Rapinoe, từ những tiểu bang khác, đến sinh sống và học tại Portland, Oregon. Rapinoe học tại Đại Học Công giáo, University of Portland, làm NLGO tôi, cư dân Portland trên 34 năm, cũng thấy thơm lây.

Tuy nhiên, việc Rapinoe lesbian hay không, to be or not to be, đó là chuyện cá nhân, riêng tư, không ăn nhậu gì với tôi. Lại càng với Tổng thống Trump –là người mà Fake News và cái đám Demok-Rats Thổ Tả vẫn chưa tìm ra được một bằng chứng nhỏ, dù cố lắm, để tố ông về tội kỳ thị gays và lesbians.

Trái lại, ông đã bổ nhiệm một chàng gay công khai, tên Richard Grenell, làm đại sứ Mỹ tại Đức, và một chàng gay khác, tên Randy Berry, đại sứ tại Nepal.

Trump chỉ cấm những người chuyển giới gia nhập quân đội, không vì kỳ thị, mà vì nhà nước phải tốn bộn tiền chích thuốc điều hòa hormone cho họ. Cấm sử dụng bathroom lưỡng tính, vì lý do an toàn cho phụ nữ bẩm sinh. Những kẻ, nhất là ở xa Mỹ quốc, và ghét Trump vô cớ, chỉ nghe đài Fake CNN địa phương, không biết rõ sự thật, đã vu oan cho ông kỳ thị Rapinoe vì cô ta lesbian là bá láp, nếu không muốn nói là quá khích, hàm hồ.

2. Một chi tiết quan trọng mà cả hai tác giả Jason Chaffetz và Stuart Varney đều nói đến: Rapinoe là một người rất ghét Trump (anti-Trump). Cả hai đều trích câu tuyên bố xấc xược, thô lỗ của cô ả, về trường hợp toán USA đoạt giải vô địch và được mời đến Tòa Bạch Ốc: “I’m not going to the f…king White House.” Không lạ gì, vì Rapinoe mê Hillary và tình nguyện làm việc trong toán vận động bầu cử của mợ. Chống đối Trump, y chang mấy ả Hollywood, Streisand, Madonna, Cher…, và hai tên MC láu tôm láu cá của Cộng đồng An Nam, NCKD và TH –cả bọn này đã hung hăng tuyên bố nếu Trump thắng cử, chúng nó sẽ bỏ nghề, bỏ xứ Cờ Hoa, qua Úc, hay Canada sống. Không ngờ Trump thắng thật. Nhưng không một đứa nào nhích mông đi đâu hết. Chai mặt, nhưng còn hơn là thất nghiệp, cạp đất mà ăn, tại những xứ khác.

Trở lại chuyện Rapinoe. Sau khi chửi ông Trump và Tòa Bạch Ốc, cô ả nói tiếp: “Nhưng tôi nghi ông ta không mời đâu!” Như một lời khích tướng, hoặc chữa cháy. Nghĩa là muốn được mời, sau khi nói hớ là không đến. Giống mấy ả Hollywood. Trump hiểu điều đó, và vốn là người có thiện cảm với đội nữ Mỹ, đã đi nước cờ cao hơn, và trả lời, riêng cho Rapinoe, đại khái: “Trước tiên, cô phải đá cho hay và thắng cái đã, rồi chuyện được mời đến White House hay không sẽ tính sau. Cô đã ‘disrespect our country, the White House, our flag’”. Rồi ông vuốt nhẹ, một cách rất ư là quân tử Tàu: “Nhưng dù thua dù thắng, tôi sẽ mời cả toán, trong đó có cô.” (cf. Internet).

3. Ngoài ra, còn vụ chào cờ. Cũng theo hai tác giả Chaffetz và Varney, và Wikipedia, cô ả Rapinoe bắt chước các cầu thủ bóng bầu dục (football Mỹ) quỳ một chân xuống, khi các trận đấu bắt đầu, để ủng hộ Colin Kaepernick (cf. Chaffetz) và dân da đen. Sau đó, toán soccer được lệnh không được quỳ gối. Rapinoe phải đứng, nhưng không để tay trên ngực, không hát theo, trái với những cầu thủ khác. Chỉ còn mấy trận đấu nữa, chúng ta sẽ để ý xem kỹ có đúng như vậy chăng. Nếu đúng, việc này không thể chấp nhận được, nói chi tha thứ, không chỉ cho riêng Rapinoe, mà còn cho tất cả mọi công dân của tất cả mọi quốc gia, vì quốc kỳ, quốc ca là biểu tượng, hay đúng hơn, linh hồn, của một nước. Rapinoe khoác lên người màu cờ sắc áo của đội tuyển Mỹ thi đấu ở ngoại quốc, mà tỏ vẻ khinh thường biểu tượng cao quý ấy (còn nhớ, tại Portland năm 2018, sau khi ông Trump thắng cử, dân theo phe Hilly bị xúi giục xuống đuờng biểu tình, đốt xe, và đốt cờ Mỹ) chỉ bởi lý do ghét Tổng thống Trump thì càng vô lý và đắc tội hơn.

Tôi mê xem đá banh, vì hồi nhỏ, tôi có đá cho đội banh của trường. Khi các đội nữ được thành lập, tôi khoái xem các cô đá hơn, mặc dù không hay bằng các cậu, vì theo lời giải thích rất bựa, trong một buổi xem đá banh nữ, hơn mười năm trước, của một anh bạn, nay đã quá cố: “Kia kìa, coi cặp nhũ nhảy tưng tưng của mấy em khi lừa banh, tui thấy mát cả guột (ruột)”.

Trong World Cup năm nay, tôi ủng hộ hết mình đội USA, dĩ nhiên. Nhưng vì câu nói có chữ f… king, đầy thô tục của ả Megan Rapinoe mà cảm tình tôi dành cho đội Mỹ bỗng giảm sút: Thua hay thắng không còn là vấn đề buồn vui nữa. Một con sâu làm rầu nồi canh mà. Cụ thể, ngày mai, thứ sáu June 28, sẽ có trận thư hùng giữa Pháp và Mỹ, tại Parc des Princes, Paris. Tôi mong, và tin, đội Yankee thắng. Tuy nhiên, nếu đội Con Gà Trống, à quên, Con Gà Mái được gáy lên, tôi cũng thấy ça va, vì tôi biết các cô Phú Lang Sa, tuy ưa lý sự, nhưng dễ thương, có tinh thần quốc gia tuyệt vời. Nói nôm na, (lỡ) đụng vào người các cô, tant pis. Nhưng đụng vào nước Đại Pháp, thì chết bỏ bu với… bà.

Portland, 27/6/2919

NLGO

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở NỮ CẦU THỦ MỸ MEGAN RAPINOE_Người lính già Oregon

Người Mỹ – Người Việt_Sưu tầm

hqdefault

Kinh tế, khoa học, xã hội, văn minh của Mỹ và Việt cùng đi như tên lửa nhưng 2 chiều ngược nhau.

– Người Mỹ không thích người khác biết mình có tiền, người Việt thì tìm cách khoe của.
– Người Mỹ thả thú vào rừng, người Việt vào rừng bắt thú.

– Người Mỹ nói ít làm nhiều. Người Việt nói nhiều làm ít hoặc nói một đằng làm một nẻo.

– Người Mỹ khi ra nước ngoài thì tìm học cái hay. Người Việt thì tìm chỗ ăn chơi.

– Người Mỹ hôn nhau ngoài đường, đi tiểu trong toilet. Người Việt hôn nhau trong toilet, đi tiểu ngoài đường.
– Ở Mỹ, lễ tết sếp tặng quà cho nhân viên; ở Việt Nam, nhân viên tặng quà cho sếp.
– Người Mỹ ăn nhanh để đi làm, người Việt làm nhanh để đi ăn.
– Đàn ông Mỹ tan sở về nhà ngay; đàn ông Việt tan sở lê la quán nhậu.
– Người Mỹ yêu động vật, người Việt đấu trâu, đấu chó, chém lợn.
– Người Mỹ vừa dạo chơi vừa nhặt rác, người Việt vừa dạo chơi vừa xả rác ra đường.
– Người Mỹ đánh bắt hải sản thì thả mấy con nhỏ và con cái đang mang thai. Người Việt đánh bắt hải sản thì tóm toàn bộ không tha con nào hết.

– Người Mỹ va chạm nhau trên đường thì bắt tay xin lỗi, người Việt thì giơ nắm đấm ăn thua.
– Người Mỹ chủ nhật đem gia đình đi xa thành phố, người Việt thì đem cả nhà đến trung tâm thành phố.
– Mỹ nhà xa mặt đường thì đắt, Việt Nam nhà xa đường thì rẻ.
– Người Mỹ không uống rượu trước mặt trẻ em, người Việt uống rượu sai trẻ em đi mua thêm.
– Người Mỹ đến nhà hàng gọi ăn, uống vừa đủ. Người Việt sành điệu ăn uống phải bỏ lại nhiều (Người Mỹ bụng to hơn mắt, người Việt mắt to hơn bụng!)
– Yêu nhau người Mỹ hôn công khai, người Việt hôn trong bóng tối.
– Người Mỹ đến nhà thờ cầu nguyện cho yên bình, người Việt đến đền chùa để “hối lộ” và cướp phá..
– Người Mỹ đi du lịch thì mặc cốt sao thoải mái và khám phá văn hóa, người Việt đi du lịch thì mặc đẹp và chụp ảnh.
– Mỹ không thích hỏi tuổi, hỏi lương, người Việt là câu cửa miệng.
– Người Mỹ không bao giờ vứt rác sang nhà hàng xóm, người Việt không vứt được phải chịu.
– Người Mỹ không thích đàm đúm nói xấu cấp trên, người Việt như có gen di truyền.

– Người Mỹ sống thật không thích khoe mẽ, người Việt không khoe sợ người khác nghĩ mình nghèo…
– Người Mỹ mập ú mà sải bộ rất nhanh – người Việt nhỏ con mà chân bước chậm rề.
– Người Mỹ ra đường đàn ông tay xách nách mang, đàn ông Việt ra đường toàn ông kễnh.
– Ở Mỹ chặt một cây thì trồng 3 cây, ở Việt Nam chặt hàng trăm cây nhưng không trồng cây nào.
– Ở Mỹ lên xe là chạy, ở Việt Nam lên xe là bóp còi.
– Người Mỹ nuôi con theo ý họ, người Việt nuôi con theo chỉ đạo của mẹ chồng.
– Người Mỹ bàn xong thì làm, người Việt bàn xong thì bàn tiếp!
– Người Việt bị chỉ trích thì nhảy dựng lên. Người Mỹ bị chỉ trích thì tranh luận.
– Người Mỹ muốn đến nhà ai thì gọi điện trước, người Việt cứ đến nhà không thấy thì gọi điện hỏi.
– Người Mỹ luôn hỏi ý kiến con trước mọi vấn đề, Người Việt coi con trẻ là không biết gì, phải nghe theo mình.

– Ở Mỹ học nhiều tiến sĩ ít, Việt Nam học ít tiến sĩ nhiều (theo đầu người).

K. Minh (tổng hợp)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Người Mỹ – Người Việt_Sưu tầm

Hội Ngộ K1 Lê Phát Minh tại Nam Cali

Nhân dịp K1 Lê Phát Minh cùng bà xã từ Houston (TX) ghé Little Saigon để dự một tiệc cưới của người thân, các K1 tại Little Saigon đã có một buổi gặp gỡ thân mật tại nhà hàng Seafood Cove lúc 5pm ngày 27/6/2019

Cùng hiện diện còn có AC NT trần Quan An và 2 thân hữu K3. Vì không có mặt phó nhòm Võ Thiệu nên xin các bạn xem đỡ một vài hình ảnh chụp bằng cell phone. (nhưng quá đẹp)

(ToanNhu)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Hội Ngộ K1 Lê Phát Minh tại Nam Cali

BOLÉRO, Dấu hiệu của sự suy tàn_Phạm Tín An Ninh

Image result for Boléro nhạc tình

Có lẽ chưa bao giờ, kể cả thời VNCH, nhạc Bolero thịnh hành và được người trong nước mê mẩn như bây giờ, đặc biệt ở miền Bắc, nơi mà trước 1975 Bolero được dán cho cái nhãn “nhạc vàng” và không còn đất sống, một số người thích hát loại nhạc này đã bị tù đày 10-15 năm, để phải chết hay khốn khổ cả một đời, trường hợp Phan Thắng Toán (tức Toán Xồm) và Nguyễn Văn Lộc (Lộc Vàng) ở Hà Nội là những điển hình. Bây giờ Bolero như trận cuồng phong, phá tan mọi thành trì, chiếm ngự tất cả mọi nơi, từ thành phố đến nông thôn, từ các “tụ điểm”, sân khấu “hoành tráng” nhất, len lỏi đến tận các hang cùng ngõ hẻm, “vùng sâu vùng xa”, kể cả trong các đám ma, đam cưới; làm mê mẩn từ người già đến con trẻ, từ những ông quan lớn, đại gia đến dân dã, bần cùng. Ở đâu cũng nghe Bolero.

Người ta không còn đếm được các chương trình tìm giọng hát cho loại nhạc này: “Hát Cùng Bolero”, “Thần Tượng Boleo”, “Solo Cùng Bolero”, “Tình Bolero”, “Tình Bolero Hoan Ca”… Những cuộc thi hát nhạc Bolero thu hút hằng vài chục ngàn thí sinh, đủ mọi thành phần, cán bộ, sĩ quan, thầy cô giáo, các em bé 7, 8 tuổi, đến từ “mọi miền đất nước”. Từ những danh ca, “nghệ sĩ ưu tú”, “nghệ sĩ nhân dân” đến anh bán kẹo kéo dạo đều đua nhau hát và kiếm tiền bằng Nhạc Bolero. Và không cần biết cho phép hay không, họ hát đủ mọi đề tài: miền Nam thanh bình, tình yêu, tình lính, đời lính (VNCH), kể cả những bản nhạc chiêu hồi, như “đêm nay trăng sáng quá anh ơi, sao ta lìa cách bởi dòng sông bạc hai màu”, “miền Nam có nắng thanh bình có đồng lúa đẹp có tình quê hương, anh ơi mau sớm lên đường, bình minh còn đợi ruộng nương còn chờ…” v.v…

Trong cái khát khao Bolero ấy, thực chất chính là nỗi khát khao khung trời, con người, nếp sống, tình cảm, tấm lòng đối với quê hương đất nước của quân dân miền Nam thuở trước, và đặc biệt là tính nhân bản đã hoàn toàn thiếu vắng tại miền Bắc trên bảy mươi năm và tại miền Nam hơn bốn mươi năm dưới chế độ Cộng Sản. Khi một ca sĩ hát, họ thả hồn vào từng lời ca, cùng bâng khuâng với những hình ảnh, tình tự trong nhạc phẩm, họ có cảm giác đang được sống trong cùng không gian và thời gian mê đắm ấy. Người nghe thì hồn như bay bỗng đến chốn thiên thai nào đó, họ đắm chìm trong cảm xúc của một thời hạnh phúc, mà người miền Nam đã mất đi trong tiếc nuối, và người miền Bắc thì khát khao nhưng chưa bao giờ được sống. Và như thế, một thiên đường Miền Nam trước 1975 thực sự đã sống lại trong lòng mọi người, thiết tha và mãnh liệt.

Văn chương hay âm nhạc là những phạm trù phản ảnh trung thực nhất cho một xã hội. Bolero, một loại nhạc bình dân, dù được ai đó gán cho cái tên nhạc “sến”, đã làm đúng vai trò ấy, đã suốt một thời thăng hoa qua cuộc sống chan hòa yêu thương, nhân bản, và nhạc Bolero cũng chính là tiếng than ai oán, bi phẩn của người dân miền Nam thời ấy, khi mà cuộc chiến phi lý và bẩn thỉu nhất do bọn người CS rừng rú gây ra để phá hoại đất nước, giết chết bao thế hệ thanh niên của hai miền, và tạo cảnh huynh đệ tương tàn, làm hệ lụy lâu dài cho cả một dân tộc. Những thế hệ ở Việt Nam bây giờ có cảm xúc như thế nào khi nghe những bài Tám Điệp Khúc, Đêm Nguyện Cầu, Kẻ Ở Miền Xa, Hai Chuyến Tàu Đêm, Đường Xưa Lối Cũ, Sương Trắng Miền Quê Ngoại, Những Đóm Mắt Hỏa Châu…? Và trong tất cả những bài ca về lính mà họ đang say mê hát, họ có tìm được câu nào hô hào “sinh Nam tử Bắc” hay “thề phanh thây uống máu quân thù” như trong chính bài quốc ca CS?

Nhạc Bolero đã đè bẹp tất cả các loại nhạc “đỏ”, nhạc ăn cắp, bắt chước, lai căng của nhiều nhạc sĩ trong nước, viết theo lệnh đảng hay làm dáng, đua đòi “vươn ra biển lớn!” Ca sĩ thì “thặng dư giá trị” đủ hạng đủ cỡ, mà nhạc sĩ thì hiếm hoi như lá cuối mùa thu và cũng chẳng sáng tác được bao nhiêu ca khúc ra hồn, ngoài một vài bài của các nhạc sĩ Thanh Tùng, Bắc Sơn, Phú Quang, Trần Tiến, Phan Đình Điểu… và bài Phượng Hồng phổ từ thơ Đỗ Trung Quân.

Những ca sĩ miền Nam chuyên hát nhạc “sến” đã hết thời ở hải ngoại cỡ Chế Linh, Giao Linh, Phương Dung, Thái Châu, Tuấn Vũ… về Việt Nam làm nhiều show đã cháy vé, được ca ngợi đón tiếp như những ông bà hoàng Bolero, mang về quê hương những làn gió mới! Nhiều người được trang trọng mời ngồi ghế “nóng” làm giám khảo cho các kỳ thi tuyển lựa ca sĩ Bolero!

Ngày 30.4.75, trên đường vào “tiếp thu” miền Nam, bà Dương Thu Hương ngồi khóc bên vệ đường khi nhìn thấy một miền Nam văn minh, hiền hòa, trù phú gấp vạn lần miền Bắc. Bà đã nhận ra cả một quá khứ bị lừa dối. Một số trí thức miền Nam, như chú cháu Đỗ Trung Hiếu, Đỗ Hữu Ưng (ở cùng quê và học trung học cùng trường Võ Tánh-Nha Trang với người viết) khi bỏ miền Nam vô bưng, lòng nô nức đi làm “cách mạng”, nhưng đến khi được chuyển ra miền Bắc mới giật mình biết đã “lạc đường” nhưng quá muộn, đành phải “nín thở qua sông”. Trước khi vô bưng, Đỗ Hữu Ưng từng theo học Khóa 11 Đốc Sự tại Viện QGHC thời VNCH. Sau 75, về “tiếp thu miền Nam” giữ chức chủ tịch của một huyện nào đó ở Sài Gòn, đã tìm gặp lại những đồng môn cũ, khuyến khích mọi người nên sớm tìm đường vượt biển, nhưng chẳng mấy ai dám tin! Ông chú gốc giáo sư thì làm đến chức ủy viên tôn giáo của thành ủy, nhưng bất mãn nên cùng đám Nguyễn Hộ, Trần Văn Trà lập ra Câu lạc bộ Kháng Chiến Cũ. Để phản ứng cho sự ăn năn hối hận của mình, hai chú cháu đã bị lột hết các chức tước, riêng ông chú phải nhận những bản án tù và đã chết dưới tay người đồng chí CS!

Nhiều thanh niên miền Bắc, điển hình là Nguyễn Viết Dũng, đang là một sinh viên giỏi, từng đoạt giải “Đường Lên Đỉnh Olympia”, với một tương lai tươi sáng, nhưng đã dám công khai treo cao cờ vàng ba sọc đỏ trên nóc nhà, mặc quân phục và mang phù hiệu QLVNCH như là một hình thức tôn vinh, luyến tiếc một chính thể, một quân đội chính danh đã bị bức tử. Bị cầm tù ra, anh con khắc trên cánh tay hai chữ “Sát Cộng” và rủ nhiều bạn bè tìm vào Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa thắp hương kính cẩn tưởng niệm những người lính miền Nam đã vị quốc vong thân. Những người mê hát, mê nghe nhạc Bolero, chắc hẳn ít nhiều đều mang trong lòng những hoài niệm, suy tư, cảm xúc như thế. 

Những nhạc sĩ miền Nam, đang còn sống như Lam Phương, Lê Dinh, Song Ngọc… hay đã mất ở hải ngoại như Trần Thiện Thanh, Trịnh Hưng, Hoàng Thi Thơ, Duy Khánh, Nhật Ngân, Anh Bằng,… hoặc chết ở quê nhà trong nghèo nàn khốn khó như Trúc Phương, Thanh Sơn… khi sáng tác những bản nhạc Bolero chắc họ không ngờ đã tạo thành những vũ khí vô hình nhưng ghê gớm, làm mê mẩn hàng mấy chục triệu người sống trong chế độ Cộng sản, có sức xoi mòn và làm sụp đổ chế độ tàn ác man rợ này. Mặc dù bọn tà quyền vẫn đang sống thoi thóp, dựa vào bạo lực, và sự kết họp mong manh của đám đồng chí cùng băng đảng, để chia chác quyền lợi, tài sản cướp bóc của nhân dân và sẵn sàng “mỏi gối quì mòn sân Tàu phủ”, nhưng bên trong thực sự đã mục rữa, thối tha, chia bè kết nhóm để tranh giành, thanh toán lẫn nhau. Lòng dân sẽ thay đổi nhanh chóng khi Nhạc Bolero ngày càng xoáy sâu vào trí não và tâm hồn họ, cộng với một thực trạng xã hội rệu rã, xuống cấp ở tất cả mọi lãnh vực, tất yếu sẽ tạo thành một hệ quả khôn lường.

Cả một đất nước như đang bị ngón sóng thần Bolero tràn ngập, làm thay đổi não trạng và nỗi khao khát của con người, biết đâu sẽ dẫn đến việc sụp đổ cả thành trì của một chế độ từng lên án, tìm mọi cách để ngăn cấm, triệt tiêu nó. Thêm một chỉ dấu báo hiệu cho ngày tàn của CSVN.

Phạm Tín An Ninh

(Vương Quốc Na Uy)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở BOLÉRO, Dấu hiệu của sự suy tàn_Phạm Tín An Ninh

Người Sài Gòn Xưa_Nhị Nguyên

saigon

Lần đầu tiên tôi lên Sài Gòn là để đi thi đại học. Tôi và một thằng bạn thi chung trường nên đi chung với nhau. Ở thì không lo vì đã có nhà người quen ở bên kia cầu chữ Y, bọn tôi chỉ lo cái chuyện ăn uống giữa hai buổi thi.

Ngay sau khi thi xong môn đầu tiên, hai đứa kéo nhau ra quán cơm cạnh trường kêu hai dĩa cơm sườn. Cầm cái muỗng, cái nĩa để ăn cơm dĩa mà cứ lọng cọng. Ăn hết dĩa cơm, uống cạn mấy ly trà đá tự múc ở trong cái xô để ở góc quán mà bụng vẫn trống không. Nhỏ tới lớn ở quê khi nào đi đâu xa thì cơm đùm cơm bới mang đi theo chứ có khi nào ăn cơm tiệm để mà biết kêu cơm thêm. Kêu thêm dĩa nữa thì không dám vì sợ không đủ tiền ăn cho ngày mai, ngày kia…

Hai đứa ngó quanh ngó quất, thấy bàn nào cũng để một nải chuối, mọi người ăn xong cứ thuận tay bẻ, người một trái, người hai trái. Thế là hai đứa sáng mắt, chuối này chắc người ta cũng cho không như trà đá. Vậy là, chỉ một loáng nguyên cả nải chuối để trên bàn chỉ còn đống vỏ.

Khi tính tiền, thấy phụ quán cứ đếm đi đếm lại mấy cái vỏ chuối để trên bàn rồi nhìn chằm chằm, thi thoảng lại liếc qua bà chủ quán đang đứng gần đó cười mím chi thì hai đứa đâm lo, không biết tiền mang theo có đủ để trả không.Image result for quán cơm bình dân

Nhìn hai đứa gom từng đồng bạc để bỏ lên bàn, bỗng nhiên chủ quán bước lại: “Thôi, tính hai dĩa cơm thôi. Phần chuối chắc là không biết có tính tiền nên lỡ ăn chị không tính. Ngày mai ăn có thiếu thì cứ kêu cơm thêm mà ăn, để bụng đói không làm bài được đâu”.

Chỉ có nải chuối đã cho thấy tính cách người Sài Gòn.

Cuộc sống không thẳng tắp. Bon chen lên Sài Gòn không phải lúc nào cũng dễ kiếm tiền. Cũng trong những năm 1980, có lần, tôi thử sức mình với nghề đạp xích lô. Mượn chiếc xe của ông chú vào buổi sáng, lúc ấy chú cho xe ở nhà để ngủ sau một đêm chạy mối chở hàng.

Lần đầu tiên chạy xích lô chỉ có chạy xe không từ bên này sang bên kia cầu chữ Y đã muốn hụt hơi. Thế nhưng vẫn ráng vì trong túi không còn tiền. Chạy lòng vòng Sài Gòn cả tiếng đồng hồ, ngang qua rạp Quốc Thanh (đường Nguyễn Trãi), thấy một đôi nam nữ đi ra, tay ngoắt, miệng kêu: “Xích lô!”

Luồn tay kéo thắng ngừng xe lại hỏi:

– Anh chị đi đâu?

– Cho ra bến xe Miền Tây. Nhiêu?

Dân miền Đông mới lên Sài Gòn tập tành chạy xe kiếm sống, biết bến xe Miền Tây đâu mà cho giá. Thôi đành chơi trò may rủi: “Dạ, em mới chạy xe chưa rành đường, anh chị chỉ đường em chở. Tới đó cho nhiêu thì cho”. Tưởng không biết đường thì người ta không đi, ai dè cả hai thản nhiên leo lên. Người con trai nói: “15 đồng mọi khi vẫn đi. Cứ chạy đi tui chỉ đường”.

Sức trẻ, thế mà vẫn không chịu nổi đường xa, đạp xe chở hai người từ rạp Quốc Thanh đến chân cầu Phú Lâm thì đuối, liệu sức không thể nào qua khỏi dốc cầu đành tính chước bỏ của chạy lấy người. Xuống giọng: “Em mới chạy xe, đi xa không nổi. Anh chị thông cảm đi xe khác giùm”. Ai ngờ người con trai ngoái đầu lại: “Tui biết ông đuối từ hồi nãy rồi. Thôi leo lên đằng trước ngồi với bà xã tui. Đưa xe đây tui đạp cho. Tui cũng từng đạp xích lô mà!” Thế là, vừa được khách chở, lại vừa được lấy tiền. Không phải 15 đồng mà tới 20 đồng. Chắc cũng chỉ có người Sài Gòn mới khoáng đạt như vậy!

Người Sài Gòn tốt bụng, chia sẻ không từ những chuyện cá biệt, người nơi khác vào Sài Gòn hỏi đường thật dễ chịu. Già trẻ lớn bé, gặp ai hỏi người ta cũng chỉ dẫn tận tình. Có nhiều người còn bỏ cả công việc để dẫn kẻ lạc đường đi đến đúng địa chỉ cần tìm. Có những địa chỉ nhiều người hỏi quá, thế là người Sài Gòn nghĩ cách viết hoặc bỏ tiền ra đặt làm một cái bảng đặt bên lề đường, gắn vào gốc cây. Đôi khi, kèm theo một câu đùa, câu trách rất Sài Gòn ở cái bảng này khiến ai đọc cũng phì cười. Như cái bảng viết trên nắp thùng mốp trên đường Sư Vạn Hạnh mới đây: “Bà con nào đi photo thì qua bưu điện bên đường. Hỏi hoài mệt quá!”

Đi xe ôm, taxi, gặp đúng dân Sài Gòn thì mười người hết chín không lo bị chặt chém, vẽ vời. Đôi khi, kêu giá là vậy, nhưng khách không có tiền lẻ hoặc hết tiền người ta còn bớt, thậm chí cho thiếu mà không cần biết khách ở đâu, có trả hay không. Với người Sài Gòn, đó là chuyện nhỏ.

Ở Sài Gòn, cho tới bây giờ vẫn còn nhiều nhà để một bình nước suối trước nhà kèm thêm một cái ly, một cái bảng nước uống miễn phí. Và bình nước này không bao giờ cạn, như lòng tốt của người Sài Gòn. Có người đã phát hiện, khi bạn chạy xe trên đường phố Sài Gòn, nếu có ai đó chạy theo nhắc bạn gạt cái chân chống hay nhét lại cái ví sâu vào túi quần thì đích thị đó là người Sài Gòn.

Năm 1978 khi ra tù tại ga xe lửa đường Lê Lai, một anh xích lô đến hỏi tôi: “Về đâu?”, nhưng rồi chợt anh nói một câu mà tôi nhớ đời: “Lên đi thằng ông nội, tui chở về… Không có tính tiền đâu”. Làm sao tôi quên được câu nói đó. Người Sài Gòn là như vậy!

*** Đó là “Người Sài Gòn Xưa”, còn “Người Sài Gòn Nay” thì sao !?!?!?

Nhị Nguyên

(Nguồn: trithucvn.net)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Người Sài Gòn Xưa_Nhị Nguyên