MỪNG SINH NHẬT THÁNG 9 (tiếp)

Sept BdayNhân dịp có nhiều phe ta sinh vào Tháng Chín, CNN đã sưu tầm được một bài thơ “Mừng Sinh Nhật Tháng Chín” phổ biến đến các bạn và đã được nhiều bạn họa lại rất hay:

image001Xướng:

Năm nào tháng chín, mẹ sinh ra
Thấm thoắt thoi đưa, tuổi đã già
Má hóp da mồi, mưa gió nhuộm
Vai sờn tóc bạc, tuyết sương pha
Giao lưu bạn hữu, tai còn thính
Xướng hoạ thơ ca, mắt chửa loà
   Vui cảnh điền viên, bên cháu chắt
  Chăm vườn hòe quế, nở đầy hoa !
(không rõ tác gỉa)

Họa 1: MẸ
Mười ngày chín tháng mẹ sinh ra
Mài miệt nuôi con cho tới già
Khó nhọc công lao không thể tính
Hao mòn sức lực coi như pha
Nên người khôn lớn chân mòn mỏi
Đỗ đạt thành tài mắt đã lòa
Sung sướng vui mừng tâm mãn nguyện
Chu toàn bổn phận miệng đơm hoa .
TQN.

Họa 2: MONG CON
Chiều chiều lững thững bước dần ra
Trước ngõ liêu xiêu bóng mẹ già
Nhìn núi mây mờ màu xám nhạt
Ngắm đồng lúa chín sắc hồng pha
Con đi chiến đấu, đời còn khổ
Mẹ ở chờ mong, mắt đã lòa
Mai mốt hòa bình mừng họp mặt
Cuộc đời tươi sáng ngát hương hoa.
Cóc Huế TPK

Họa 3: MẸ THĂM CON
Sáng sớm đi làm trại gọi ra
Xa xa bóng dáng một bà già
Bước đi xiêu vẹo thân còm cõi
Nét mặt ưu sầu tóc tuyết pha
Tù tội mịt mù đầu cũng bạc
Ngày về vô định mắt mờ loà
Khi con được thả không còn mẹ
Ra viếng mộ phần một bó hoa
Cóc QT-TP

Họa 4: CẢNH GIÀ
Tháng chín năm nào mẹ đẻ ra
Nay con tuổi đã tới hồi già
Da nhăn tóc rụng phô đầu hói
Bụng phệ lưng còng lộ cốt pha
May quá xem hoa gai chẳng chích
Cũng hên ngắm cảnh mắt chưa lòa
Ban ngày săn sóc khu vườn nhỏ
Đợi tối xem quỳnh chợt nở hoa
ĐNN
Họa 5: THÁNG CHÍN MÙA THU
Tháng Chín mùa thu đã bước ra,
Vi vu gió thổi rặng thông gìa.
Lá cành xơ xác màu phai nhạt,
Cây cỏ tiêu điều sắc úa pha.
Ngắm cảnh hữu tình tim lỗi nhịp,
Nhìn trời mê mải mắt như lòa.
Vườn chiều hoang vắng chim về tổ,
Một đóa quỳnh hương ngát cánh hoa
CX/NĐT
Họa 6: CHÀO ĐỜI
Tháng chin chào đời mở mắt ra
Bao nhiêu tuổi đã thở than già
Răng nguyên phải lúc xương còn gậm
Nướu cứng đúng thời gân chẳng pha
Nhấm nháp đôi ly cho đỡ khát
Nhâm nhe mấy chén đủ say loà
Con tim lỗi nhịp chân chao đảo
Mở cửa hang bồng ngắm nhũ hoa.
CÓC NÚI – NHA

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở MỪNG SINH NHẬT THÁNG 9 (tiếp)

MỪNG SINH NHẬT THÁNG 9 PQN

Happy Sept bday

Ngày 13/9/2015 là ngày sinh nhật thứ 73 của Cóc Khô Phan Quang Nghiệp, nhân dịp này bạn ta đã làm một bài thơ tự mừng sinh nhật mình như sau:

MỪNG SINH NHẬT THÁNG 9
Tháng Chín nầy sinh nhật bảy ba
Được làng Đường Cóc chúc thăng hoa
Tình thời chinh chiến càng son sắt
Nghĩa buổi lưu vong vẫn đậm đà
Gặp gỡ tha hương mừng sống sót
Chia niềm viễn xứ tủi thân già
Thất tuần sở đắc tuỳ tâm dục? *
Bạc tóc còn lo chuyện nước nhà !!
Cóc Khô Phan Quang Nghiệp
(Sinh Nhật Tháng 9-2015)
*Thất thập nhi tuỳ tâm sở dục

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở MỪNG SINH NHẬT THÁNG 9 PQN

K1 Trần Ngọc Bửu viễn du Mỹ Quốc

K1 TN Buu

Đại gia K1 Trần Ngọc Bửu viễn du Mỹ Quốc

Theo tin từ  Bắc California, “đại gia” K1 Trần Ngọc Bửu từ Việt Nam  viễn du Mỹ quốc đã ghé lại San Jose thăm các bạn bè K1 từ hôm 9/9/2015. Ngày 13/9 vừa qua, các bạn K1 tại San Jose đã có một bữa tiệc hội ngộ với “đại gia” Bửu tại nhà K1 Đinh Văn Hạp. Nhân dịp này, Trưởng Khóa 1 kiêm Phụ tá “dám đốc” CNN Toán Nhữ đã điện thoại thăm hỏi đại gia và được biết, mặc dù bạn ta phải gỡ gần 9 cuốn lịch nhưng vì bị rắc rối về hộ khẩu nên vẫn bị rớt Hát Ô như bạn Nguyễn Văn Suốt của chúng ta. Nhưng khác với K1 Suốt, K1 Bửu may mắn hơn, sau khi thi rớt H.O. phải ở lại nhưng nay đã trở thành một “big skin” không như bạn Suốt. Chúc mừng bạn ta.

TN Buu den My

Riêng về bạn Suốt, theo lời bạn Bửu, K1 Suốt hiện nay bị bệnh thoái hóa khớp cột sống nên đi lại rất khó khăn, chỉ quanh quẩn trong nhà, ít đi đâu xa.

Nhân dịp hội ngộ K1 Bửu, K1 Nguyễn Hoài Ân tức Cóc Núi đã làm ngay một bài thơ chúc mừng bạn ta và ngay sau đó, bài thơ đã được các bạn ta họa lại rất hào hứng.

BẠN TÔI
           Bạn chốn phương xa đến viếng tôi,
     Gặp nhau dạ luống thấy bồi hồi.
               Lem nhem đôi mắt long tròng kính,
Lác đác nếp nhăn vẽ nét môi
  Ông tạo trớ trêu trò phỉnh gạt,
        Trời xanh bướng bỉnh tóc hoa rồi.
        Ngành xưa dáng dấp đâu còn nữa
Gặp lúc tuổi già tủi phận thôi.
CÓC NÚI – NHA
Các bài họa:

MỪNG GẶP LẠI
Biến cố bảy lăm trên nước tôi
Nhân dân cả nước phải bồi hồi
Tự do mất hết đành câm miệng
Thống nhất mà đâu dám hở môi
Chống đối đưa đi không vướng bận
Im hơi ở lại chẳng yên rồi
Giang san tan nát làm trăm mảnh
Gặp lại mừng vui có vậy thôi .
TQN
TRI KỶ ĐẾN THĂM
Lâu ngày tri kỷ đến thăm tôi
Trò chuyện huyên thuyên được một hồi
Dưới bếp vợ hiền lo chế nước
Trên nhà khách khứa đỡ khô môi
Nghẹn ngào quá khứ đang quay lại
Hy vọng tương lai đã hết rồi
Khúc cuối cuộc đời cần bạn hữu
Tủi buồn cô quạnh sớm đi thôi
Cóc QT
CỐ NHÂN
Thử hỏi bạn hiền có nhớ tôi?
Xa nhau những muốn cố nhân hồi.
Tao phùng rượu nhắp tê đầu lưỡi,
Gặp mặt trà chiêu ngọt khóe môi.
Nhắc lại thuở xưa còn hoa mộng,
Tiếc hoài quá khứ đã xa rồi.
Thời gian điểm bạc trên làn tóc,
Bóng nước qua cầu lặng lẽ thôi.
Cóc Huế TP
ĐẠI GIA & CHÂN DÀI *
Đại gia đa dại cũng như tôi ?
Dính chấu “ta liêm” biết mấy hồi !
Khe suối chui đầu rêu cả tóc ,
Đào tiên múp hột nhớt đầy môi .
Lỗ then tạo hóa còn mơn mởn ,
Cái trụ càn khôn tét bét rồi .
Tật khoái chân dài e khó bỏ ,
Tới chừng nào chết mới chừa thôi .
LHN

* Đại gia Trần-ngọc-Bửu đăng bảng tuyển chân dài.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở K1 Trần Ngọc Bửu viễn du Mỹ Quốc

Ý Kiến về Ngày Tổ Chức 50 Năm HVCSQG

ga tre

Ý kiến của 2 con Gà Tre

về Ngày Kỷ Niệm 50 Năm HVCSQG:

“Kính thưa quý niên trưởng và các chiến hữu ,

Chúng tôi – hai con gà tre Houston – xin hoan hô quý niên trưởng, quý chiến hữu đã cho chúng tôi một tiếng thở ra nhẹ nhõm cả lòng. Bấy lâu nay khi cuộc họp lần vừa qua quý vị quyết định ngày 3, 4, 5 tháng bảy (2016) làm chúng tôi rất lo lắng, sẽ khó mà tham dự được vì những lý do hết sức thực tế: vé máy bay sẽ không là 300 mà sẽ là 600, 700 đô cho một vé, khách sạn sẽ không còn chỗ ….. khó khăn mọi bề ! . Chúng tôi cảm thấy buồn, lo ! 

   Nhưng bây giờ thì rất vui rồi. Hoan hô quý niên trưởng và các chiến hữu .

  Chúng tôi sẵn sàng có mặt . 

Kính chúc quý niên trưởng và các chiến hưu nhiều sức khoẻ và hạnh phúc .

   Gà Tre Lê Quang Phú

    & Gà mái tre htko .”

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Ý Kiến về Ngày Tổ Chức 50 Năm HVCSQG

Về Việc Tổ Chức Kỷ Niệm 50 Năm HVCSQG

Thưa các bạn K1,

Vừa qua, vào lúc 9g30 sáng chủ nhật 13/9/2015, tôi có tham dự một buổi họp gồm đại diện nhiều Khóa tại Nam California để bàn về việc tổ chức Kỷ Niệm 50 Năm Học Viện CSQG. Trong buổi họp này, tôi đã được đề cử làm thư ký và đã có bản tường trình cùng những hình ảnh của K1 Võ Thiệu chụp như sau:

“Kính thưa Quý NT và các bạn cựu HVCSQG:

Là thư ký của buổi họp tôi xin bổ túc bản tường trình của anh Võ Thiệu thêm những chi tiết sau:

– Tiếp theo buổi họp vào tuần trước (6/9) để bàn v/v tổ chức Kỷ Niệm 50 Năm HVCSQG phải hoãn lại vì số SV cựu HV hiện diện qúa ít, buổi họp hôm nay CN 13/9/15 mục đích để thảo luận tiếp v/v bầu cử Trưởng BTC và chọn ngày tổ chức.

– Buổi họp đã bắt đầu vào lúc khoảng 9g30 dưới sự chủ toạ của các NT Trần Quan An, Trần Quang Nam, Phan Trung Chánh và Ngô Bá Phước; cùng với sự hiện diện của khoảng gần 30 nam nữ cựu SV các khóa (nhiều nhất là các K1, K2, K3, K6 và một vài bạn thuộc các khóa khác)

– Sau phần tuyên bố lý do buổi họp của NT Trần Quan An (chủ nhà), anh Phan Tấn Ngưu (K1), đại diện TH/CSQG, người triệu tập buổi họp, đã cho biết,trong buổi họp lần trước, mọi người dự kiến sẽ tổ chức vào ngày Lễ Độc Lập HK July 4th, 2016. Tuy nhiên, sau khi thông báo ngày này trên các Diễn Đàn CSQG online thì đa số đều không tán thành ngày này vì những trở ngại như gía vé máy bay, khách sạn cao và khó mua vé; thêm nữa vấn đề an ninh trong ngày lễ lớn di chuyển rất bất tiện, và ngày lễ July 4th cũng là ngày họp mặt của nhiều gia đình, v.v… Vì những lý do đó, anh Ngưu đề nghị nên dời lại ngày kỷ niệm 50 Năm HVCSQG 1 tuần hay 2 tuần sau ngày lễ July 4th hay một ngày nào khác tùy mọi người quyết định. Sau phần thảo luận sôi nổi, mọi người đã biểu quyết bằng cách giơ tay 24/28 đồng ý chọn ngày 17/7/2016 là ngày tổ chức 50 Năm HVCSQG.

– Qua phần bầu cử trưởng Ban Tổ Chức. Có 3 người được để cử là: Anh Nguyễn Doãn Hưng K6, anh Phan Tấn Ngưu K1 và anh Nguyễn Ngọc Tiến K3. Kết qủa: anh Nguyễn Doãn Hưng được đa số tín nhiệm vào chức vụ Trưởng BTC. Các anh Ngưu và Tiến tuy không đắc cử nhưng được mọi người đề cử làm Phó BTC, phụ tá cho anh Hưng.

– Chi tiết v/v tổ chức ĐH 50 Năm HVCSQG như thế nào sẽ được BTC mời thêm đại diện các Khóa tham gia và sẽ có những buổi họp kế tiếp để thảo luận chi tiết sau.

Trân trọng thông báo,

Nhữ Đ. Toán K1

Mời các bạn xem một số hình ảnh do K1 Võ Thiệu làm phó nháy:

Trình chiếu này yêu cầu JavaScript.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Về Việc Tổ Chức Kỷ Niệm 50 Năm HVCSQG

CÁI ĐÓI TRONG TÙ_Thơ Nguyễn Phiến

tu cai tao copy           

Cái Đói Trong Tù
Cái đói trong tù, đói trầm kha
Đói xanh máu mặt, đói vàng da
Bụng đói cồn cào, kêu ọc ạch
Chân tay bủn rủn, mắt tóa hoa

Cái đói bù tóc, đói ù tai
Tứ chi co cụm sụm đôi vai
Bứơc đi không vững thân xiêu vẹo
Đói không điều khiển nổi chân tay

Cào cào, châu chấu, rau tàu bay
Mối rừng, rắn, chuột, trái cây dầu
Tìm đựơc loại gì ăn thứ đó
Lâu ngày tuyệt chủng tù trắng tay

Đói mà không có lá rau rừng
Không còn tìm thấy một côn trùng
Cái đói hãi hùng trùm tâm tưởng
Đói cả trong mơ, đói chập chùng

Triền miên đói khổ mấy năm trời
Đói chẳng bao giờ đựơc nghỉ ngơi
Ngày ngày bị cưỡng bức lao động
Cái đói trong tù, đói chết thôi

Trăm nghìn cái chết đến trong đời
Cái càng dai dẳng, càng khổ hơn
Cận kề chết đói, tận cùng khổ
Nhiều người trải nghiệm, chẳng riêng tôi
NGUYỄN PHIẾN

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở CÁI ĐÓI TRONG TÙ_Thơ Nguyễn Phiến

NHỮNG NGÀY XƯA THÂN ÁI

NHỮNG NGÀY XƯA THÂN ÁI

(Hình  do K1 Phạm Văn Toán cung cấp)

Trình chiếu này yêu cầu JavaScript.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở NHỮNG NGÀY XƯA THÂN ÁI

NGẬM NGÙI 48 Năm Trước, 48 Năm Sau

IMG_1101_resized

48 năm trước (1966), K1 Nguyễn Văn Trung (người đứng thứ 3 từ bên phải), trước 1975 phục vụ tại TTHL/CSDC/ĐàLạt, sau đổi về Khối Tiếp Vận/BTL.CSQG

IMG_9348_resized

Nguyễn Văn Trung (cùng vợ) 48 năm sau (2014), hiên đang định cư ở tb Louissiana

image001

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở NGẬM NGÙI 48 Năm Trước, 48 Năm Sau

SÀI GÒN, H.O. VÀ TÔI_Toàn Như

Saigon H.O.

Tuần báo Sống # 213 ngày 04/9/2015

SÀI GÒN, H.O. VÀ TÔI
• Toàn Như
Cuốn phim tài liệu “The Last Days in Vietnam” (Những Ngày Cuối Cùng ở Việt Nam, đạo diễn Rory Kennedy, một hậu duệ của dòng họ Kennedy) kể về những ngày cuối cùng hỗn loạn trong những ngày tàn của cuộc chiến Việt Nam vào tháng Tư năm 1975. Trong số những hình ảnh của những ngày cuối cùng u buồn đó có cảnh hàng chục ngàn người đang tìm cách trốn thoát khỏi miền Nam bằng mọi cách trước khi quân cộng sản tràn đến. Tôi không nằm trong số những người may mắn ra đi trong những thước phim đó, nhưng những hình ảnh này đã gợi lại trong tôi ký ức về những ngày cuối cùng của chính mình trước khi rời khỏi Việt Nam ra đi theo chương trình H.O.

Trong phim “The Last Days in Vietnam” có một cảnh thật cảm động. Khi chiếc chiến hạm chở đồng bào di tản đến gần bờ biển Phi Luật Tân, mọi người Việt, gồm cả quân và dân, đứng trên boong tàu đã nghẹn ngào hát bản quốc ca VNCH lần cuối cùng trong khi lá cờ vàng ba sọc đỏ từ từ hạ xuống. Tôi đã nhìn thấy những khuôn mặt đẫm lệ đang cất cao lời hát “Này công dân ơi, quốc gia đến ngày giải phóng…”. Cảnh tượng đó làm cho tôi nhớ đến những ngày ở Bangkok, Thái Lan. Trong khi chờ đợi làm thủ tục nhập cảnh vào Mỹ theo diện H.O., chúng tôi đã được xem một cuốn phim tài liệu về một cuộc diễn hành Ngày Quân Lực ở Sài Gòn trước 1975. Lúc đó, lần đầu tiên sau mười sáu năm tôi mới được nhìn lại lá cờ vàng qua màn ảnh nhỏ, chỉ như vậy thôi mà tôi đã rưng rưng xúc động, nói gì những người trên chiếc chiến hạm kia…

Vào giữa thập niên 1980, ở Sàigòn và có lẽ ở cả nhiều nơi khác tại Việt Nam, đã có những tin đồn rằng, những cựu tù nhân chính trị cộng sản, tức những người từng bị cộng sản bắt đi “học tập cải tạo”, thực chất là đi tù, sau tháng Tư 1975, sẽ được phép xuất cảnh đi định cư tại Mỹ theo một sự thỏa thuận hay thỏa hiệp giữa Hoa Kỳ và Việt Cộng.

Tôi cũng như các bạn cựu tù cải tạo khác rất phấn khởi trước tin đồn trên. Mọi người phấn khởi vì hy vọng nhờ đó có thể thoát khỏi một cảnh sống tù túng đầy rẫy những âu lo có thể bị bắt lại bất cứ lúc nào mặc dù đã được trả tự do sau nhiều năm bị tù đày trong những trại cải tạo. Hầu hết các cựu tù cải tạo sau khi được thả về đều rất chật vật trong cuộc mưu sinh. Họ hầu như không thể xin vào làm việc ở bất cứ một cơ quan nào. Một số phải sống bằng nghề đạp xích lô, buôn bán chợ trời, hoặc về quê làm ruộng, làm rẫy, v.v… Cho nên, tin đồn đã như một cái phao cứu sinh, một niềm hy vọng giúp họ được đổi đời, dù chưa biết cuộc sống mới ở một nơi xứ sở xa lạ sẽ như thế nào, nhưng ai cũng nghĩ chắc chắn sẽ được hít thở một bầu không khí tự do.

Cá nhân tôi, sau gần bảy năm bóc lịch ở trong nhà tù Chí Hòa mới được thả về. Tôi bị bắt bị ghép vào tội “ngụy quân, ngụy quyền trốn học tập cải tạo” mặc dù mình chẳng hề trốn tránh đi đâu cả. Do lệnh “trình diện học tập” dành cho các sĩ quan cấp đại úy quân đội và cảnh sát không cùng một ngày nên bọn “cách mạng ba mươi” vì muốn lập công đã chỉ điểm cho an ninh phường đến bắt tôi vì tình nghi tôi là một đại úy trốn trình diện học tập. Mặc dù tôi đã giải thích ngày trình diện của tôi chưa đến vì tôi là đại úy ngành cảnh sát, nhưng vì chủ trương của VC là “thà bắt lầm hơn bỏ sót” nên tôi vẫn bị chúng bắt giam vào khám Chí Hòa.

Sau gần bảy năm “nằm ấp” ở Chí Hòa, tôi đã được trả tự do. Nhưng dù được trả tự do, cuộc sống hàng ngày của tôi cũng chẳng được tự do. Hết trình diện lại báo cáo, hết họp tổ đến họp phường; lúc nào cũng nơm nớp lo sợ bị công an hạch hỏi. Vào mỗi thứ hai hàng tuần, tôi phải đến trình diện cái gọi là “Ủy Ban Quản Lý Người Học Tập Cải Tạo Trở Về” để báo cáo những công việc mình đã làm trong tuần. Báo cáo này phải được ghi chép vào một cuốn sổ trình cho tên cán bộ chủ tịch ủy ban là tên phó chủ tịch Phường phụ trách. Tuy nhiên, tôi chỉ báo cáo một cách chung chung những công việc hàng ngày chả có gì đặc biệt. Như, buổi sáng đưa con đi đến trường, buổi trưa đến trường đón con về, thời gian còn lại là những công việc lặt vặt như dọn dẹp nhà cửa, rửa chén, lau nhà, dạy kèm con học ở nhà, hay phụ vợ buôn bán lặt vặt mưu sinh (bán chợ trời), v.v… Nghĩa là toàn những công việc linh tinh, vô thưởng vô phạt.

Có lẽ việc báo cáo của tôi như vậy, có cũng như không, nên khoảng hai tháng sau, tên cán bộ phụ trách đã nới lỏng việc trình diện cho tôi. Thay vì bắt tôi phải báo cáo mỗi tuần một lần, hắn đã ra lệnh cho tôi chỉ phải báo cáo mỗi tháng một lần. Thế nhưng, hàng tháng tôi vẫn bổn cũ soạn lại, vẫn báo cáo công việc hàng ngày chẳng khác gì hơn những sinh hoạt thường nhật mà tôi đã báo cáo trước đó. Sau mấy tháng như thế, có lẽ thấy báo cáo của tôi chẳng khai thác được gì, nên một hôm tên cán bộ này đã nói, “Thôi từ nay anh không phải trình báo cáo nữa”. Tuy nói thế, nhưng hắn lại thòng thêm câu, “Nhưng anh có thể đến báo cáo – bất cứ khi nào – có gặp những việc bất thường”. Mặc dù hắn đã ra lệnh như vậy, nhưng tôi chẳng bao giờ trở lại gặp hắn.

Mãi hai năm sau, để chuẩn bị cho tôi được “xả chế, trả quyền công dân”, tôi phải đến dự một buổi họp tổ dân phố để họ lập biên bản trình lên Phường, lên Quận. Xui cho tôi là cái tổ dân phố nơi tôi ở có nhiều cán bộ VC và tổ trưởng lại là một tên cán bộ phường. Lý do vì khu vực tôi ở trước đây là khu có nhiều căn nhà của những sĩ quan, viên chức chế độ cũ đã di tản năm 1975 nay bị bọn VC chiếm ngụ. Trong buổi họp, một tên cán bộ đã phê bình tôi không đi họp tổ nên họ không biết gì về tôi để báo cáo. Những tên khác cũng nói, chúng cần có một thời gian để tìm hiểu thêm về tôi trước khi có ý kiến. Sau buổi họp, có người đã mách tôi, muốn được “xả chế” thì phải biết cái “thủ tục đầu tiên” (tức đâu tiền hay chung tiền) cho tên tổ trưởng dân phố. Thế là tôi phải “biết điều” lo lót cho hắn để hắn viết cho một cái biên bản khác.

Sau đó, để tránh bị làm khó dễ và bị ép phải đi kinh tế mới, tôi đã xin làm thiện nguyện viên cho Hội Chữ Thập Đỏ (tức Hội Hồng Thập Tự, theo cách gọi của VC). Vào đầu thập niên 1980, mọi sinh hoạt của người dân vẫn còn bị VC kiểm soát chặt chẽ chứ đừng nói gì với những người cựu tù cải tạo. Đó là lý do tôi phải xin làm việc bán thời gian (nửa ngày) cho Hội Chữ Thập Đỏ không lương, chỉ thỉnh thoảng được cấp cho một ít nhu yếu phẩm, để có tấm lá chắn làm việc cho nhà nước. Nửa ngày còn lại tôi phụ với vợ buôn bán quần áo cũ ở chợ trời An Đông và dạy kèm thêm Anh Văn cho mấy em học sinh trung học ở gần nhà. Nhưng việc dạy học cũng chẳng được bao lâu, một hôm tôi đang dạy học thì tên công an khu vực đến hỏi tôi có giấy phép dạy học của Phòng Giáo Dục Quận không. Dĩ nhiên là tôi không có. Không muốn bị rắc rối thêm, tôi đành phải dẹp cái lớp học này.

Khi những tin tức về việc tái định cư các cựu tù cải tạo lan truyền ở Sàigòn, tôi và các bạn tù rất náo nức hy vọng. Mọi người ai cũng mong đó là sự thật để được thoát ra khỏi cảnh tù túng dưới chế độ cộng sản. Biết bao nhiêu những tin đồn được rỉ tai nhau hàng ngày chẳng biết hư thực thế nào. Nơi phát xuất ra những tin đồn loại này nhiều nhất là ở bãi cỏ công viên phía trước Sở Ngoại Vụ Thành phố (Bộ Ngoại Giao VNCH cũ), phía trước Dinh Độc Lập, gần nhà thờ Đức Bà. Thỉnh thoảng tôi cũng đến đây để nghe ngóng tin tức. Ở đây, các anh em cựu tù thường tụ tập thành từng nhóm để bàn tán truyền tai nhau những tin tức thu lượm được. Vì không có một thông cáo chính thức nào về chương trình này, nên những tin đồn tha hồ được thêu dệt. Nào là tin từ đài VOA, đài BBC. Nào là tin đáng lẽ việc ra đi này đã được thực hiện từ trước ngày 30-4-1975, giống như cuộc di cư của đồng bào miền Bắc sau hiệp định Genève năm 1954. Hay, việc ra đi này để đổi lại, Hoa Kỳ sẽ nới lỏng cấm vận cho Việt Cộng và từ từ đi tới tái lập bang giao. Thậm chí còn có tin đồn, các cựu tù khi đến Mỹ còn được truy lãnh lương tính từ năm 1975 cho đến nay. Mặc dù đa số đều nghĩ, đó chỉ là tin vịt cồ, nhưng cũng có một vài người vẫn nuôi một ảo tưởng nghĩ rằng biết đâu đó là sự thật để tự an ủi mình.

Mãi đến khoảng giữa năm 1989, chương trình tái định cư các cựu tù cải tạo sau được gọi là chương trình H.O. mới bắt đầu chuyển động. Nhưng vẫn không có thông cáo chính thức nào về việc này được đưa ra cho đến khi một số cựu tù bổ túc hồ sơ bảo lãnh (ODP), lúc đó họ mới biết mình đã được chuyển vào danh sách HO1, HO2… Mặc dù vậy, mọi người vẫn còn bán tín bán nghi. Đa số vẫn còn dè dặt chưa dám xúc tiến nộp hồ sơ vì chỉ sợ bị gài bẫy, rồi tiền mất mà tật mang, nghĩa là vẫn chẳng được đi đâu cả. Chính vì biết tâm lý này nên công an VC đã bày ra cơ quan Trung Tâm Dịch Vụ Xuất Cảnh để thâu gom những dịch vụ về việc nộp đơn xin xuất cảnh theo diện cựu tù cải tạo. Trụ sở của trung tâm này nằm trên đường Võ Tánh, đối diện ngay cổng Bộ Tư Lệnh CSQG/VNCH (Tổng Nha Cảnh Sát) cũ.

Sau nhiều ngày “điều nghiên” cho chắc ăn, mãi đến cuối năm 1989, tôi mới mang hồ sơ của mình tới trung tâm này nộp. Lúc đến nơi tôi mới thấy nhiều người cũng đến nộp đơn khá đông. Mọi người nộp đơn phải đóng một số tiền lệ phí khá lớn khoảng 200.000 đồng tiền Hồ cho mỗi đầu người trong gia đình cộng thêm một vài phụ phí linh tinh khác. Gia đình tôi bốn người gồm vợ chồng và hai con đã tốn mất gần một triệu.

Khoảng sáu tháng sau, gia đình tôi nhận được giấy mời đi bổ túc hồ sơ ở văn phòng (quản lý xuất nhập cảnh ?) nằm ở góc đường Nguyễn Du và Lê Văn Duyệt (nay là đường Cách Mạng Tháng 8) đối diện với vườn Tao Đàn. Theo rỉ tai của những người đi trước, để việc bổ túc hồ sơ được dễ dàng thuận lợi thì nhớ “bồi dưỡng” cho tên cán bộ phụ trách một bao thuốc lá ba số 5. Có người vì chủ quan hay vì không biết chuyện này nên đã phải ra về, đi tới đi lui bổ túc nhiều lần mà vẫn chưa xong việc. Nghe nói vậy, nên trước khi vào trình giấy tờ, tôi đã ghé sạp bán thuốc lá lẻ của một bà ngồi trên lề đường phía trước văn phòng. Bà bán thuốc lá đưa cho tôi một gói thuốc lá 555 có vẻ đã cũ, tôi nói bà đổi cho gói khác nhưng bà nói: “Cậu mua thuốc mang vào cho cán bộ bên trong phải không? Không sao đâu. Nó vào trong rồi chiều nó cũng ra lại đây thôi.” Tôi hiểu ý bà muốn nói gì nên trả tiền mua gói thuốc đó. Quả nhiên, khi vào gặp tên công an phụ trách, trong lúc y đang xem hồ sơ, tôi để gói thuốc lá 555 lên bàn và nói: “Mời cán bộ hút thuốc.” Nói là mời nhưng gói thuốc lá của tôi vẫn còn nguyên chưa xé bao. Tên công an vẫn lầm lỳ, mặt lạnh như tiền, không nói gì và cũng không ngẩng đầu lên. Hắn lấy tay lẹ làng gạt gói thuốc lá vào trong ngăn kéo bàn đã mở sẵn mà tôi nhìn thấy đã có sẵn mấy gói thuốc lá 555 ở trong. Trong khi đó hắn gỉa bộ kiểm soát những giấy tờ tôi mang theo xem đã đầy đủ chưa một lúc rồi nói tôi đã bổ túc giấy tờ đầy đủ, có thể ra về.

Thế rồi, sau nhiều lần bổ túc hồ sơ ở nhiều chỗ khác, rồi khám sức khỏe, chụp hình, lăn tay, phỏng vấn tôi mới nhận được giấy báo hồ sơ của tôi đã được chấp thuận để chờ ngày lên đường. Nhưng trước khi để được lên đường, tôi còn phải trải qua nhiều thủ tục cũng nhức đầu không kém. Nào là phải có giấy không thiếu nợ ngân hàng. Ngân hàng VC còn nợ tôi thì có chứ tôi nào có vay mượn gì của ngân hàng VC đâu mà thiếu nợ. Trước 1975, tôi có khoảng mấy trăm ngàn đồng tiền VNCH trong sổ tiết kiệm của ngân hàng Việt Nam Thương Tín chưa kịp rút ra nhưng nay VC nói họ không có trách nhiệm gì về số tiền này. Trái lại, đối với những ai có vay mượn tiền của ngân hàng trước 1975 thì chúng lại nói, chúng là người tiếp quản ngân hàng nên chúng có quyền truy thu những món nợ đó. Đúng là lưỡi không xương. Có những người trước đây chỉ vay nợ khoảng vài chục ngàn tiền cũ nay chẳng hiểu chúng tính toán làm sao đã bị kết toán nợ lên đến mấy trăm triệu đồng. Dĩ nhiên, những người này phải “chạy chọt” chứ làm sao họ có đủ số tiền lớn như vậy để thanh toán. Hơn nữa, dù có nợ hay không có nợ ngân hàng như tôi thì ai cũng phải chi một khoản tiền mới có được tấm giấy chứng nhận không thiếu nợ ngân hàng.

Một loại giấy tờ khác rắc rối nữa là giấy xác minh không vướng bận về vấn đề nhà đất. VC đưa ra một quy định vô lý là cấm mua bán, sang tên chủ quyền nhà đất đối với những người xuất cảnh nguyên là những sĩ quan chế độ cũ: từ cấp Thiếu tá trở lên cho các sĩ quan quân đội và từ cấp Trung úy trở lên cho các sĩ quan cảnh sát. Tôi là một sĩ quan cảnh sát cấp đại úy nên phải giao căn nhà của chúng tôi ở chúng cư Minh Mạng/Q.10 – Saigon cho chúng; đã thế, chúng còn bắt tôi phải làm đơn xin nhà nước quản lý giùm căn nhà này vì vắng chủ (một kiểu tịch thu nhà thật tinh vi). Thiệt là tức. Không những vậy, chúng còn truy thu, bắt tôi phải nộp tiền thuế thổ trạch cho căn nhà này kể từ khi chúng được xây cất cho đến nay. Thiệt là một điều vô lý nữa vì nhà chúng cư, mà lại ở trên lầu như nhà của tôi, thì làm gì có đất đâu mà phải nộp thuế thổ trạch. Nhưng thôi, coi như “thí cô hồn” cho chúng, tôi nghĩ vậy. Thế là tôi lại phải tốn mất mấy chục ngàn tiền thuế thổ tả này cho chúng.

Để tránh bị trục trặc vào giờ chót, tôi đã nhờ một văn phòng dịch vụ lo trước các giấy tờ liên hệ. Lúc các giấy tờ đã xong, hai ngày trước khi lên đường, tôi hẹn sẽ giao chìa khóa nhà cho phường rồi đến ở tạm nhà chị tôi chờ đến ngày ra phi trường cho chắc ăn. Tuy nhiên, trước khi giao nhà cho phường, tôi đã tháo gỡ hết những cửa sắt, bóng đèn, ổ điện trong nhà đem bán ve chai hay cho người nhà cho bõ ghét. Đến ngày hẹn, hai tên cán bộ phường đến nhà tôi để nhận chìa khóa. Chúng hỏi:

– Nhà sao không có bóng đèn và ổ điện sao hư hết rồi?
Tôi nói:
– Đây là nhà của chúng tôi, chúng tôi nhờ nhà nước quản lý giùm trong thời gian chúng tôi đi ra nước ngoài. Nó như thế nào thì các anh cứ tiếp nhận như vậy. Hôm nay, tôi chỉ có nhiệm vụ giao chìa khóa cho các anh thôi. Còn các giấy tờ liên hệ tôi đã được cấp đầy đủ rồi.

Hai tên cán bộ hơi bị quê, biết không thể làm khó dễ gì được tôi nên quay sang nói chúc chúng tôi lên đường may mắn.

Hai ngày cuối cùng tôi đến ở nhà chị tôi, hầu như tôi không ngủ được. Đêm nào chị và em tôi cũng thức ngồi nói chuyện với vợ chồng tôi đến tận nửa đêm. Chúng tôi ôn lại những kỷ niệm và dặn dò nhắn nhủ nhau đủ điều.

Buổi chiều cuối cùng trước ngày đi, tôi mượn chiếc xe đạp của em tôi đạp vòng quanh qua mấy con đường trong thành phố như để nhìn lại Sài Gòn một lần chót. Tôi đạp xe loanh quanh mà chẳng biết mình đi đâu. Đường phố về chiều xe cộ vẫn tấp nập. Tôi chậm rãi đạp xe dọc theo đường Công Lý, qua Dinh Độc Lập, hướng về Nhà Thờ Đức Bà, rồi rẽ theo con đường Duy Tân nhìn lại ngôi trường đại học cây dài bóng mát… Những con đường xưa, phố cũ đã ghi dấu bao nhiêu kỷ niệm trong tôi rồi sẽ chỉ còn là dĩ vãng. Sài Gòn ơi, thôi gĩa từ bạn nhé, chưa biết đến bao giờ ta mới gặp lại nhau.

Sáng ngày hôm sau chúng tôi chính thức ra phi trường Tân Sơn Nhất để ra đi, cảnh chia tay chị em tôi thật là bịn rịn. Lúc chúng tôi phải bước vào phòng cách ly để đi ra sân bay, chị tôi rưng rưng nắm tay tôi chúc tôi lên đường bình an. Qua cửa sau của phòng cách ly, chúng tôi bước ra sân bay để đi ra máy bay. Tôi không dám quay đầu lại vì tôi sợ tôi sẽ xúc cảm đến khóc khi thấy chị tôi đang đứng khóc nhìn theo chúng tôi. Tôi biết từ nay tôi sẽ xa chị, người chị cả thương yêu của tôi. Và cả cái đất nước này, chỉ trong chốc lát nữa thôi, tôi sẽ xa rời nó mà chưa biết đến bao giờ mới trở lại.

Trong lúc đi đến chiếc máy bay đậu ở đằng xa, tôi bỗng thấy một ông trung niên đang bước lên cầu thang máy bay. Khi đến trước cửa máy bay, người đàn ông này đã quay đầu lại nhìn về phía phòng khách phi trường, rồi bất ngờ ông quỳ xuống chắp tay lạy ba lạy trước khi bước vào bên trong khoang máy bay. Tôi không hiểu, ông lạy gĩa từ đất mẹ, hay ông lạy cám ơn trời đất đã cho ông được thoát ra khỏi cái “thiên đường” cộng sản này.

Khi chiếc máy bay vừa cất cánh, từ trên cao nhìn qua khung cừa sổ, tôi thấy Sài Gòn của tôi ở dưới đang lùi dần, nhỏ dần rồi mất hút. Bỗng dưng nước mắt tôi ứa ra; buồn bã, tôi nhủ thầm, Sài Gòn ơi, ta xa nhau từ đây !
TOÀN NHƯ

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở SÀI GÒN, H.O. VÀ TÔI_Toàn Như

HOA MÀU ĐẤT_Thơ Thanh Hoàng

ThanhHoang

K1 Ng.~ Thanh Hoàng

HOA MÀU ĐẤT

Thương quá thương !!! Hoa màu đất quê mẹ
Đẹp vô vàn trân quý mãi trong tôi !!!
Giờ nhìn lại lòng không khỏi bồi hồi
Vì màu áo trọn cuộc đời tận hiến !
Nhớ năm nao, ngày giã từ Học Viện
Bộ Cảnh phục Dã Chiến khoác vào người
Rất hào hùng phong cách tuổi đôi mươi !
Gót giày lê khắp bốn vùng chiến thuật
Chí nam nhi quyết kiên cường bất khuất
Tuổi thanh xuân, tuổi uy dũng, hiên ngang
Bầu nhiệt huyết đầy khí phách tiềm tàng
Nguyện sắt son vẹn câu thề : “sát Cộng” !!!

THANH HOÀNG
(CA 16-12-2013)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở HOA MÀU ĐẤT_Thơ Thanh Hoàng

Bài ca Vu Lan_ Nhớ Ơn Cha

Hôm nay để cho công bình, mình mời các bạn thưởng thức 3 bài ca Vu Lan nói về ân nghĩa của người Cha.

Mến chúc các bạn và gia đình một mùa Vu Lan đầy hiếu hạnh

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Bài ca Vu Lan_ Nhớ Ơn Cha

Happy Birthday September

Happy birthday september

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Happy Birthday September

Vu Lan- Thơ Phương Trúc NHA

vu lan

Mùa Vu lan trở về trong nức nở
Con nhớ song thân vạn thuở nào quên
Ơn dưỡng nuôi con chưa kịp báo đền
Thì cha mẹ  lên đường về tiên cảnh. 

Cõi hồng trần song thân rày xa lánh
Về non tiên đức hạnh được thăng hoa
Con chấp tay cầu nnguyện đấng Di Đà
Xin đưa rước mẹ cha qua Giác ngạn. 

Ngõ sanh tử, sáu đường mau sớm cạn
Nẽo luân hồi hàng vạn cũng tiêu tan
Chốn âm ty chói rạng giống Phật đàng
Cảnh địa ngục cũng tiêu tan biến mất. 

Mùa Vu lan từ khi cha mẹ mất
Con đi chùa lễ Phật chỉ một mình
Nhìn trời cao trăng sáng rọi lung linh
Như cha mẹ đang trộm nhìn con trẻ. 

Nhớ cha mẹ trong nỗi buồn đơn lẽ
Cài hoa hồng màu trắng thế khăn tang
Ước chi cha mẹ còn mãi thế gian
Để con được áo tràng cài hoa đỏ. 

Hạnh phúc thế gian mấy ai hiểu rõ
Đời vô thuòng đau khổ, trộn niềm vui
Vâng lời mẹ cha con gượng tươi cười
Dù con biết cha mẹ ngày kia sẽ mất. 

Ơn cha mẹ vô vàn, cao chất ngất
Giọng song thân phảng phất khó ai quên
Ân nghĩa kia con chưa được báo đền
Con dâng kính đoá hồng lên cha mẹ.

      Phương trúc – NHA

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Vu Lan- Thơ Phương Trúc NHA

Bản tin K1 từ San Jose

BẢN TIN K1 TỪ BẮC CALIFORNIA

Phóng viên của CNN có biệt danh là Tề Thiên dùng  thiết bảng huơ một vòng diệt tà ma (mấy thằng ăn cơm QG thờ ma CS) rồi bay lên trời đứng một chân trên đám mây trắng, tay trái cầm thiết bảng, tay phải che trước trán, nhìn xuống quan sát trần gian, rồi bay về San Jose gọi phone khẩn cấp cho CNN báo cáo những tin buồn vui như sau:
1. Tin không vui: Bạn K1 NGUYỄN VĂN SUỐT ở Việt Nam đang bị bệnh nặng và nằm liệt giường một chỗ. Và nghe đâu anh em K1 Bắc CA đang có dự tính bỏ uống cà phê sáng một bữa để giúp cho bạn Suốt. Hoan hô anh em K1 Bắc CA.
2. Tin Vui: Nguồn tin chắc nịch cho biết K1 TRẦN NGỌC BỬU sẽ sang Hoa Kỳ thăm chơi và có mặt tại San Jose vào ngày 10 tháng 9 tới đây. Hy vọng sẽ có một hôm hội ngộ với K1 Bắc CA.
3. Tin bất ngờ: Vừa rồi BH đưa tin Chị Hai Hạnh cạo đầu đi tu, mà còn nói nguyên văn:
DAY LA HINH ANH CHI 2 HANH XUONG TOC DI TU…NHUNG KHONG BIET TU CO DUOC KHONG ??? DANG TRONG THOI GIAN THU THACH..BH....”IMG_9299IMG_4773
Nhưng tin cuối cùng được biết, nhân mùa Vu Lan năm nay, chị Hai Hạnh sang Canada dự khóa tu học tại Tu viện Tây Thiên của thầy Thích Pháp Hòa. Trong khóa tu nầy có chương trình TU XUẤT GIA  GIAO DUYÊN dành cho Phật tử nào phát tâm làm tăng ni thử trong một thời gian 2-3 ngày hay một tuần. Người tu xuất gia giao duyên cũng cạo đầu, mặc áo cà sa giống như quý Tăng Ni. . . Nhưng sau khi hết thời gian đó thì trở lại cuộc sống bình thường ngoài xã hội, cũng chồng chồng, vợ vợ, con con, cũng đi làm kiếm sống, cũng ăn uống như xưa không có gì thay đổi. Chị Hai Hạnh đang phát tâm làm chuyện đó. Tuy là tu thử nhưng cũng rất đáng được kính phục vì chị Hai Hạnh dám hy sinh mái tóc của mình ít ra cũng 4-5 tháng nữa mới mọc ra được như xưa.
Tề Thiên tường trình từ San Jose

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Bản tin K1 từ San Jose

Truyện Vui thời xã nghĩa

canh sat cuoi

Truyện Vui thời xã nghĩa

Đây là chuyện một anh bị công an giao thông VC thổi còi chận lại biên phạt kể lại rằng:

– Hôm trước em bị công an giao thông bắt. Em xuống xe hét to: “Mày biết tao là ai không mà mày dám thổi? Mày thổi tao thì mày còn sống đấy, chứ tao mà thổi mày là mày chết mẹ mày rồi.” Chúng nó tưởng em là con ông cháu cha hay cấp lớn hoặc là thanh tra cải trang nên tha. Khi em lên xe nổ máy rồi chúng mới dám khép nép lại hỏi: “Thế anh công tác ở bên nào ạ?” Em trả lời nhanh: “Tao thổi kèn đám ma”; nói xong, em rú ga chạy mất tích.

(Truyện CNN sưu tầm trên facebook : FB.com/haynhucnhoi)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Truyện Vui thời xã nghĩa

Hình cũ Khóa 1 (tiếp)

Thêm hình cũ Khóa 1

Tiếp tục sưu tầm những hình cũ K1, CNN vừa nhận được thêm một tấm ảnh cũ của K1 do bạn Bửu Hồng gởi tới. Theo bạn Bửu Hồng, tấm ảnh này đã từ lâu nằm giấu mình trong một cuốn album cũ của một người thân trong gia đình, nay tình cờ mới tìm thấy. Đây là hình các bạn trong tiểu đội của K1 Bửu Hồng trong một lần đi bãi tập ở Thủ Đức.k1 OLD PIC

Từ trái qua phải: Hàng đứng: Vinh (biệt danh Trư Bát Giới), Vũ Tiến Lộc (còn ở VN), Nguyễn Văn Thống (đã chết), Nguyễn Hữu Trí (Trí Vọng cổ, chết 2011), Nguyễn Hữu Hải – Hàng ngồi: Nguyễn văn Chuyên (đã chết), Lưu Diệu Nam (Đạo Dừa), Nguyễn Văn Trung (Trung Dái Dừa), Nguyễn Thanh Tòng, Bửu Hồng (Khỉ Đột Tề Thiên)

Ghi thêm: Những bạn nào còn giữ những tấm hình cũ của K1 xin tiếp tục gởi về cho CNN để post lên cho mọi người cùng xem để nhớ lại những kỷ niệm của những ngày xưa thân ái dưới mái trường cũ HVCSQG.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Hình cũ Khóa 1 (tiếp)

MỘT THỜI HỘI AN_thơ ĐNN

Hoi An copyMột Thời Hội An

Đã lâu lắm chưa về thăm Phố Cổ
Một lần đi chưa chắc có ngày về
Chinh chiến qua rồi lại phải xa quê
Cảnh chiến bại ngác ngơ nhìn đồng đội

Tổ Quốc ôi chúng con xin tạ lỗi
Trách nhiệm chưa tròn hổ thẹn núi sông
Thân viễn xứ vẫn luôn hẹn với lòng
Ngày nào đây quay về thăm chốn cũ

Hôi An đã một thời ươm mộng ủ
Tim năng động in sâu hình bóng yêu
Âm thanh xứ Quảng vang vọng về chiều
Tiếng guốc khua hòa theo lời rao gọi

Đây chùa Âm Bổn rêu phong mái ngói
Ván Chùa Cầu phai nhạt trước cuồng phong
Bến Bạch Đằng sóng nước vỗ mênh mông
Ngồi câu cá nhìn theo thuyền trôi dạt

Đò sang ngang khách mang về thơm ngát
Món Cao Lầu mì Quảng nối bến bờ
Giờ tan trường kẻ lãng tử ngẩn ngơ
Ước làm gió nương theo tà áo trắng
*
Góc sân trưa phượng vĩ buồn yên lặng
Mỗi lần hè về lớp trước lần qua
Mái trường xưa tâm khảm vẫn chưa nhòa
Quá khứ một thời khơi nguồn thương nhớ
ĐOÀN NGỌC NAM (15/8/2015)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở MỘT THỜI HỘI AN_thơ ĐNN

SÀI GÒN TẠP PÍN LÙ

image002

SÀIGÒN TẠP PÍN LÙ Là Cái Gì ?

Tạp ghi: TOÀN NHƯ

Tình cờ tôi có được cuốn sách “Sài Gòn Tạp Pín Lù” của tác gỉa Vương Hồng Sển mua ‘on sale’ ở một quầy bán sách báo trong một chợ ở Westminster. Sách đã cũ như của một người nào đã đọc. Thấy cuốn sách có cái tựa khá lạ cộng thêm cái tên tác gỉa cũng khá nổi tiếng nên đã làm tôi tò mò muốn xem nó viết gì trong đó. Thế là tôi đã mua nó với cái gía rẻ chưa tới 10 đô la. Sách này xuất bản ở trong nước đã khá lâu, từ năm 1992, nhưng bản mà tôi có, mới tái bản năm 2005.

Vương Hồng Sển qua nét vẽ của họa sĩ Tạ Tỵ (1963)

Cái tên Vương Hồng Sển tôi đã nghe biết từ lâu, từ trước năm 1975; nhưng tôi chỉ biết đại khái ông là một học gỉa đồng thời cũng là một nhà sưu tầm đồ cổ nổi tiếng ở miền Nam. Ông đã có một số sách đã xuất bản nhưng thú thật tôi cũng chỉ nghe danh chứ chưa có dịp đọc một cuốn sách nào của ông. Vì vậy, khi thấy cái tên tác gỉa là Vương Hồng Sển thì tôi cũng háo hức muốn đọc thử xem ông viết cái gì trong đó mà ông lại nói là “Sàigòn tạp pín lù”. Tôi nghĩ chắc là ông viết đủ thứ hầm bà lằng về Sài Gòn, thế nên mình cũng nên đọc để tìm hiểu và nhớ về một nơi chốn mà mình đã từng sống và làm việc ở đó.
Nhờ đọc cuốn sách này nay tôi mới biết thêm, Vương Hồng Sển còn có nhiều bút hiệu khác như Anh Vương, Vân Đường, và Đạt Cổ Trai. Ông sinh ngày 27 tháng 9, 1902, tại Sóc Trăng. Ông là người Việt gốc Minh hương (gốc lai Tàu); nhưng ông mang trong người tới ba dòng máu Việt, Hoa, và Khmer vì cha ông là người Hoa, còn mẹ ông là người Việt gốc Khmer. Theo lời ông, đáng lẽ ông có tên là Vương Hồng Thạnh hay Vương Hồng Thịnh, nhưng khi đi làm giấy khai sinh người giữ sổ lục bộ lại nghi nhầm là Sển theo cách phát âm tiếng Triều Châu, quê hương gốc của dòng họ ông, nên ông mới có tên là Vương Hồng Sển. Ông từng theo học tại trường trung học Chasseloup Laubat [sau này đổi tên là Jean Jacque Rousseau, và sau cùng là trường trung học Lê Quý Đôn (thời VNCH và sau 1975)]. Sau khi đậu bằng Brevet Elémentaire (tương đương Trung học đệ I cấp), ông làm công chức ngạch thư ký và phục vụ nhiều nơi từ năm 1923 đến năm 1943, trong đó có dinh Thống đốc Nam Kỳ (1939-1943). Từ năm 1948, ông làm Quyền quản thủ (chức vụ tương đương Giám Đốc) Viện Bảo Tàng Quốc Gia VNCH (trong Thảo Cầm Viên) tại Sài Gòn cho đến khi về hưu vào năm 1964. Ông mất tại Sài Gòn năm 1996, thọ 94 tuổi.
Sự nghiệp văn học của ông Vương Hồng Sển cũng khá đồ sộ với hàng chục tác phẩm đã xuất bản trước và sau năm 1975, trong số đó có một số sách khá nổi tiếng như Thú Chơi Sách (1960), Sài Gòn Năm Xưa (Tập I, II – 1960; Tập III – 1992), Hồi Ký 50 Năm Mê Hát (1968), Phong Lưu Cũ Mới (1970), Thú Chơi Cổ Ngoạn (1971), Hơn Nửa Đời Hư (1992), … Ông là một trong một số ít những tác gỉa sống và làm việc trọn đời dưới chế độ cũ nhưng vẫn được chế độ mới (VC) cho in và xuất bản khá nhiều sách ở trong nước sau năm 1975.
Trở lại cuốn sách “Sài Gòn Tạp Pín Lù” phải nói là lúc đầu khi có sách tôi rất háo hức muốn đọc ngay để xem ông viết những gì về Sài Gòn, nhất là để mong tìm lại những hình ảnh về một Sài Gòn xưa mà tôi chưa biết. Với một giọng văn bình dân của một người miền Nam, Vương Hồng Sển đã viết “Sài Gòn Tạp Pín Lù” như một người kể chuyện nói lan man chuyện này qua chuyện nọ chẳng có một thứ tự nào như chính ông đã thú nhận. Ông tự bạch, những chuyện ông kể về “Sài Gòn Năm Xưa” ông viết theo kiểu ‘vô hà trật tự” nên nó lộn xộn, nhớ đâu viết đó, không theo một thứ tự lớp lang nào. Chính vì vậy, nên ông đặt tên cho nó là ‘Sàigòn tạp pín lù’, hay nôm na, theo ông, là “Sài Gòn thập cẩm, Sài Gòn tào lao, Sài Gòn ba lăng nhăng, ai muốn hiểu sao cũng được”.
Thực ra “Sài Gòn Tạp Pín Lù” không chỉ ‘vô hà trật tự’ mà còn lẩm cẩm và lủng củng nữa. Vì ‘vô hà trật tự’ nên nhiều ý tứ tác gỉa cứ lập đi lập lại, chẳng có đầu có đuôi gì cả. Tôi đã rất thất vọng khi đọc cuốn sách. Có thể ông viết cuốn sách này khi ông tuổi đã cao nên có phần nào lẩm cẩm. Sách được xuất bản lần đầu năm 1992, lúc đó ông Vương Hồng Sển đã là một cụ gìa 90 tuổi rồi nên việc ông có lẩm cẩm, viết lách “vô hà trật tự” thì cũng là điều dễ hiểu. Có những chuyện ông đã viết ở phần trên, nhưng rồi ông lại lập lại chuyện đó ở chỗ khác. Có thể nhà xuất bản đã in sách của ông chẳng qua chỉ vì cái tên Vương Hồng Sển đã nổi tiếng, nhiều người biết đến.
Về nội dung, sách “Sài Gòn Tạp Pín Lù” của Vương Hồng Sển được chia làm hai phần. Phần đầu là tự truyện của một phụ nữ lưu lạc ở Pháp kể lại chuyện đời mình bôn ba khắp chốn từ ở trong nước ra đến hải ngoại. Lồng trong câu chuyện là những chuyện tả về Sài Gòn năm xưa mà người phụ nữ này muốn đóng góp để bổ túc cho những tập sách ‘Sài Gòn Năm Xưa’ của ông đã xuất bản trước đó mà bà cho rằng còn thiếu sót. Phần sau là phần tác gỉa viết tiếp về “Sài Gòn Năm Xưa” coi như là tập III tiếp theo sau hai tập sách mà ông đã xuất bản trước đó. Như vậy, toàn bộ “Sài Gòn Tạp Pín Lù” chỉ là một sự tiếp nối về những tập sách “Sài Gòn Năm Xưa” của ông mà thôi.
Tôi chưa đọc những cuốn “Sài Gòn Năm Xưa” của Vương Hồng Sển nên không biết ông đã viết những gì trong những tập sách trước đó. Nhưng đọc qua “Sài Gòn Tạp Pín Lù” tôi nghĩ, có lẽ tôi cũng không cần tìm đọc những cuốn này làm chi thêm nữa. Mặc dù có tò mò với cái tên Vương Hồng Sển và cái tựa của cuốn sách nhưng tôi cũng chẳng mấy hứng thú đọc hết cuốn “Sài Gòn Tạp Pín Lù” của ông, một cuốn sách “tào lao” như ông đã tự nhận. Tôi lại càng bực mình hơn khi đọc tới những chỗ khi đề cập đến chế độ cũ Việt Nam Cộng Hòa ông luôn luôn viết một cách ‘sách mé’ đầy miệt thị. Như khi nhắc đến thời kỳ đệ I và đệ II Cộng Hòa trước 1975, ông viết là “đời Diệm đến đời Thiệu” hay “cái chế độ tiêu tùng ông Thiệu”. Nhắc đến đồng tiền của VNCH thì ông gọi là “tiền Diệm” hay “tiền Thiệu”. Khi đề cập đến những người Việt hải ngoại thì ông viết là “những người bỏ chạy”, “bọn bỏ chạy”; trong khi ông lại tâng bốc gọi bọn VC là “các bậc đàn anh vô đây giải phóng”,… Khi đọc đến những chữ này, tôi thật tình không hiểu nên liệt ông Vương Hồng Sển vào loại người gì. Vô ơn hay phản phúc? Càng đọc càng thêm bực mình, vậy thì đọc thêm nữa làm gì cho … lên máu.
Trong khi các văn thi sĩ, ký gỉa miền Nam sau 1975, hoặc bị bắt đi “cải tạo” vì tội làm “biệt kích cầm bút”, hoặc bị gác bút chỉ vì là người đã từng cầm bút dưới chế độ cũ, thì ông Vương Hồng Sển lại may mắn thoát được cảnh này. Không những vậy, ông vẫn còn được VC cho viết và cho xuất bản và tái bản nhiều sách của ông thì qủa là ông qúa được chế độ mới ưu ái nên ông mới nịnh bợ họ như thế.
Trong khi đó, nhìn vào tiểu sử của Vương Hồng Sển, người ta thấy ông là người được nuôi dưỡng lớn lên ở miền Nam và được chế độ miền Nam đãi ngộ khá ưu đãi so với tài năng. Học lực của ông chỉ có bằng Brevet Elémentaire, tức tương đương với Trung Học Đệ Nhất Cấp (lớp 9 ngày nay), vậy mà ông đã được cử giữ chức Quyền Quản Thủ hay Giám Đốc Viện Bảo Tàng Quốc Gia suốt trong thời Đệ I và Đệ II Cộng Hoà cho đến khi ông về hưu năm 1964. Nên nhớ, ông sinh năm 1902, năm 1964 ông đã 62 tuổi, như vậy ông đã được chế độ VNCH ưu ái lưu dụng ông thêm tới 7 năm sau khi đến tuổi về hưu theo qui định 55 tuổi của VNCH. Như vậy không phải là ông đã qúa được ưu đãi sao? Thế mà rất tiếc, sau 1975, ông đã sớm trở cờ xun xoe nịnh bợ những người chủ mới, còn mỗi khi nhắc đến chế độ cũ ông lại nhắc đến với một thái độ thiếu nghiêm túc, rẻ rúng. Tôi đã đọc đâu đó những lời phê phán ông là kẻ hợm hĩnh, kiêu căng, không chính trực; và nặng nề hơn, là kẻ phản bội, vô ơn (với VNCH) và ăn cháo đá bát; nay qua cuốn sách này tôi mới thấy những lời chỉ trích đó không phải là vô căn cứ. Phải chăng Vương Hồng Sển gốc là một ông Tàu lai (người nước lạ), đã có sẵn máu Đại Hán trong người, không phải là người Việt chính hiệu, nên ông mới phản phúc và phách lối tự cao tự đại như vậy.
Ngoài ra cũng không thể phủ nhận, nhờ vào những năm tháng làm công chức cao cấp của VNCH (Quyền Quản thủ Viện Bảo Tàng Quốc Gia) mà Vương Hồng Sển đã tạo dựng được một sự nghiệp văn chương và một ngôi nhà thuộc vào loại cổ ở quận Bình Thạnh / Thị Nghè, Sài Gòn. Trong ngôi nhà này có rất nhiều cổ vật quý hiếm. Chắc chắn những cổ vật đó một phần có được cũng là nhờ vào chức quyền của ông dưới thời VNCH, chứ chẳng lẽ chúng tự nhiên từ trên trời rơi xuống. Theo đánh gía của các nhà chuyên môn, ngôi nhà và những cổ vật của ông có gía trị lên tới hàng triệu đô la theo thời gía hiện nay. Trước khi Vương Hồng Sển đang sống bỗng chuyển qua … từ trần năm 1996, ông đã để lại một di chúc hiến tặng ngôi nhà và toàn bộ cổ vật của ông cho nhà nước (CSVN) với yêu cầu dùng nó làm thành một viện bảo tàng (chắc là viện bảo tàng cổ vật) mang tên ông. (Hiến thì cứ hiến chứ sao lại đòi phải mang tên mình, thiệt là đã chết mà vẫn còn háo danh). Thế nhưng, đến nay hơn 20 năm đã trôi qua kể từ sau ngày ông mất, viện bảo tàng mang tên Vương Hồng Sển vẫn không thấy hình thành. Nhà nước CSVN có lẽ thấy nó cũng chẳng mấy hấp dẫn hay ăn khách nên cũng chẳng mặn mòi với nó. Nghe nói nơi này hiện nay đã trở thành một nơi buôn bán cà phê và quán bán ốc, còn các cổ vật của ông thì nay đã bị thất tán gần hết (không biết chúng trôi dạt về đâu). Thật tiếc là ông Vương Hồng Sển đã không còn sống trên cõi đời này để nhìn thấy những người mà ông trân quý gọi họ là “các bậc đàn anh vô đây giải phóng” của ông đã trân quý những di sản về văn hóa của ông như thế nào.
TOÀN NHƯ

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở SÀI GÒN TẠP PÍN LÙ

Saigon Nỗi Nhớ_ Thơ Nguyễn Phiến

sgnn_NP

Ngày tháng Hạ trời Sài Gòn nắng cháy
Bước chân mềm  em quay lại chốn xưa
Phố vẫn đông như dòng đời trôi chảy
Tấp nập đi về chẳng nệ gió  mưa
Hàng me bên đường trơ vơ cành lá
Phượng vỹ rủ rười, trường lớp xác xơ
Ngân âm vang tiếng ve trầm mặc
Lạc điệu cung đàn tiếng hát tuổi thơ
Chen chúc phố nhà mái tường nâu đỏ
Xuôi ngựơc xe người khói bụi mù bay
Trời cao qúa không một gợn mây
Trách chi ai thêm phần cô quạnh
Dòng sông Sài Gòn thưở nào lấp lánh
Thuyền bè lều quán khuất cả bến bờ
Đường cũ lối xưa thay tên đổi họ
Dấu tích bàng bạc loang lỗ mịt mờ
Hòn ngọc Viễn Đông dập dìu hoa bướm
Dáng dấp một thời nử tú nam thanh
Chiếc nôi phong gấm  lột  y trần
Trơ trơ mặc khách dạn dày tao nhân
Tân cảng Bến Thành Tao Đàn Sở thú
Chân bước ngậm ngùi, hoang vắng buồn vương
Phải chăng vì sắc thái quê hương
Hay thời gian đã mờ đi kỹ niệm
Sài gòn ơi biết bao là thương mến
Lòng chạnh lòng bao nổi nhớ bâng khuâng
Ai cô đơn ai lạc giữa đường trần
Ai lầm lủi đi về giữa quê mẹ.

Nguyễn Phiến

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Saigon Nỗi Nhớ_ Thơ Nguyễn Phiến

Giải Cứu Binh Nhì Ryan

Giải Cứu Binh Nhì Ryan_ tiểu luận của Đào Hiếu

Tất nhiên tôi không có ý định kể lại câu chuyện trong phim Giải Cứu Binh Nhì Ryan của đạo diễn Steven Spielberg, do diễn viên Tom Hanks thủ vai chính. Và tôi cũng không muốn làm công việc của một người phê bình điện ảnh để phân tích xem phim hay, dở thế nào. Nhưng từ lâu tôi vẫn ôm ấp ý định viết về bộ phim nổi tiếng này, bởi vì ở Việt Nam, thời chiến tranh chống Mỹ cũng từng có một câu chuyện mang một thứ triết lý nhân bản kiểu như vậy nhưng lại là một thứ nhân bản lộn đầu. Nó bị đẻ ngược, với hai chân ra trước. Nó là một thứ nhân bản màu máu, mang diện mạo của “chiến tranh nhân dân” trong khi thứ nhân bản trong phim Giải Cứu binh Nhì Ryan có màu xanh của biển cả và bầu trời.
Chuyện giải cứu binh nhì Ryan xảy ra vào giữa năm 1944 trong Thế chiến thứ 2 khi quân Mỹ đổ bộ lên vùng Normandy nước Pháp. Một biệt đội gồm 8 người do đại uý Miller chỉ huy được thành lập chỉ để đi giải cứu một anh binh nhì tên là Ryan theo lệnh của Tổng tham mưu trưởng quân đội Hoa kỳ, tướng Marshall. Ryan là đứa con cuối cùng còn sống sót của một bà mẹ đã có ba đứa con trai chết trận. Vì thế bằng mọi giá phải đem Ryan trở về với người mẹ đau khổ ấy. Trong cuộc giải thoát này, sáu người trong số tám người của biệt đội do đại uý Miller chỉ huy đã chết, trong đó có Miller. Biệt đội chỉ còn lại 2 người nhưng họ đã đem được người chiến sĩ dũng cảm: binh nhì Ryan về với mẹ.

Ba lethiNghe

Bà Lê Thị Nghê ngày nay

Câu chuyện ở Việt Nam thì ngược lại. Nó xảy ra trong một hang đá ở xã Quế Tân thuộc tỉnh Quang Nam mùa đông năm 1969. Trong cái hang đá kinh hoàng ấy cũng có một người mẹ tên Lê Thị Nghê 32 tuổi và một đứa con trai tên Lê Tân, 3 tháng tuổi.
Lính Mỹ càn quét qua làng Quế Tân. Thông thường thì trong những trường hợp như thế người dân thường bồng bế nhau chạy về thành phố lánh nạn. Nhưng hôm đó những người du kích Việt cộng đã buộc dân cùng họ chạy trốn vào hang Hòn Kẽm ẩn núp. Bé Lê Tân (con của bà Lê Thị Nghê) đói sữa khóc liên tục không cách gì dỗ cho nín. Sợ bị lộ, những người du kích đã gây áp lực để bà Nghê giết chết con mình.
Nếu những người lính Mỹ trong biệt đội của đại uý Miller đã hy sinh để bảo vệ đứa con trai của một bà mẹ đau khổ, thì ở cái hang Hòn Kẽm này, những người du kích đã buộc người mẹ phải giết con mình để cho họ được sống. Đó là thứ đạo lý gì vậy? Sao nó lại từng được ca ngợi như một “huyền thoại mẹ”, được “cải biên” thành một sự hy sinh thần thánh của người mẹ Việt Nam anh hùng “vì đại nghĩa mà giết chết con mình”?
Báo Tuổi Trẻ Online số ra ngày 09/6/2008 đã viết lại vụ này ở góc độ là: Chính dân làng trốn trong hang đã khuyên bà Nghê hy sinh đứa con để cứu mọi người. Nhưng đoạn văn sau đây đã để lộ sơ hở:
“Súng vẫn nổ, mọi người ngồi trong hang cứ nghĩ lính biệt kích Mỹ đang đến gần hang rồi. Lúc này mọi người ngậm ngùi đành nghe theo mấy anh du kích, lại động viên cô Năm: “Thôi cô hi sinh đứa con đi…!”.
Bà Năm hôn núm ruột đang khóc: “Mẹ không bao giờ bỏ con, nhưng vì để cứu dân làng, con phải ra đi…”. Sau khi cháu tắt thở, bà cởi chiếc áo trong người đùm con lại. Bà bế thi thể của con, bò lên khỏi miệng hang về hướng tây 100m, mặc cho mưa rơi, mặc cho đạn pháo bắn rền vang, bà dùng hai tay móc đất ướt lạnh để an táng con mình.”
Sơ hở thứ nhất:
-Rõ ràng là bà Nghê không tự nguyện giết con mà là dân làng “đành nghe theo các anh du kích” làm áp lực buộc bà Nghê giết con.
Sơ hở thứ hai: Ác
Bà Nghê hoàn toàn có thể “ra khỏi hang 100 mét để dùng tay móc đất đào huyệt chôn con” điều đó chứng tỏ bà không sợ lính Mỹ giết (vì họ giết bà để làm gì?). Từ khi bà Nghê bồng xác con ra khỏi hang, đi 100 mét, cho đến khi đào xong một cái huyệt bằng tay không xong, cũng mất ít nhất một tiếng đồng hồ. Điều đó chứng tỏ lính Mỹ còn ở xa. Và rõ ràng rằng lúc ấy, thay vì giết con, bà hoàn toàn có thể bế con đi ẩn náu một chỗ khác để tiếng khóc của cháu bé khỏi gây nguy hiểm cho mấy anh du kích. Hơn nữa, với đứa bé 3 tháng tuổi trên tay, bà hoàn toàn có thể đi về làng, chẳng những không bị ai giết mà có khi mẹ con bà còn được giúp đỡ.
Vậy thì tại sao bà phải giết con?
Đó chỉ có thể là do một quyết định man rợ.
Đó là một quyết định hèn nhát và phi nhân tính.
Và sự kiện ấy đã nói lên một chi tiết rất cay đắng, đó là: những người du kích không dám cho dân làng bỏ đi vì họ cần một đám đông quần chúng để trà trộn vào.
Người mẹ “huyền thoại” ấy đến nay vẫn còn sống: quắt queo, tàn héo và đói rách. Không một ai đoái hoài, không một chút tiền trợ cấp, không một lời xin lỗi.
Bài báo nêu trên cũng đã viết về gia đình người mẹ ấy hiện nay như sau:
“Bây giờ con trai của bà Năm đã ra đi gần 40 năm và 33 năm đất nước thanh bình. Gần 200 người dân thôn Trà Linh ngày ấy bây giờ nhân lên gấp ba, đời sống tuy nghèo nhưng vẫn còn may mắn hơn bà Năm. Con gái còn lại – chị Lê Thị Liên – có chồng, có một con trai, bây giờ cũng nghèo lắm. Hiện nay vợ chồng chị lên tận Nông trường Phước Đức, huyện Phước Sơn (Quảng Nam) nhận chăm sóc khoán 4ha cao su. Vì xa quá anh chị cũng ít khi về thăm mẹ.
Bà Năm giờ ở một mình trong căn nhà tạm của con gái. Hiện nay bà đang bị nhiều bệnh và sống dưới mức nghèo khổ. Ngoài sự giúp đỡ của bà con lối xóm cùng chạy trú trong hang thời đó thì bà không được Nhà nước trợ cấp một chút gì. Có mấy lần chị Liên làm đơn xin trợ cấp cho mẹ, nhưng ngành Lao động – Thương binh và Xã hội các cấp đều trả lời “không biết xếp mẹ con bà vào diện chính sách gì”.
Vì ám ảnh triền miên, nhiều năm qua tâm trí bà tỉnh điên lẫn lộn. Chiếc khăn của đứa con ngày xưa, đến nay bà vẫn còn giữ và coi đó là “báu vật” bất ly thân. Đêm cũng như ngày, khi không tỉnh bà bế chiếc khăn đó hát ru. Rồi có những khi bà đốt nhang, một mình vào rừng, miệng nói lẩm bẩm đi tìm mộ con. Nhưng mộ con của bà đã mất dấu tích sau khi an táng do mưa quá lớn.”
*
Câu chuyện “Giải cứu binh nhì Ryan” và câu chuyện “Đêm kinh hoàng ở Hòn Kẽm” là hai bi kịch chiến tranh rất thảm thương và khốc liệt. Nhưng triết lý nhân bản trong hai câu chuyện đã khác nhau như ánh sáng và bóng tối.
Trong bất cứ cuộc chiến tranh nào trên mặt đất này, trách nhiệm của người lính là bảo vệ dân chứ không phải là buộc dân giết con để bảo vệ mình.
Và tự cổ chí kim, người lớn luôn đùm bọc, bảo vệ trẻ em chứ không phải trẻ em phải chết để bảo vệ người lớn.
Những người “giải phóng” Việt Nam đã không hề thấy xấu hổ về câu chuyện ở Hòn Kẽm mà còn ca ngợi nó như một thứ “lương tâm của thời đại”. Đó là thứ lương tâm của loài sinh vật nào vậy?
ĐÀO HIẾU
(Trích trong tập tiểu luận “MẶT ĐẤT VẪN RUNG CHUYỂN”)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Giải Cứu Binh Nhì Ryan