Thư của Bà Quả Phụ K1 Nguyễn Ngọc Bé

Các bạn K1 thân mến,

Ngày 7/11/12 vừa qua, tôi có nói chuyện qua điện thoại với chị qủa phụ K1 Nguyễn Ngọc Bé (mất đúng vào thời điểm chúng ta kỷ niệm 45 năm HVCSQG), sau đó ít ngày tôi có nhận được lá thư của chị kèm theo tấm check $200 chị tặng cho Quỹ K1 của chúng ta. Lá thư của chị chỉ vắn tắt mấy dòng, tôi xin chép lại đây như sau:

“Portland 11/7/12

Kính anh Toán,

Tôi gởi đến anh $200, nhờ anh chuyển đến quỹ của Khóa I. Tôi thành thật cám ơn anh đã có nhã ý cho tôi quyển “Kỷ Yếu Khóa I”. Tôi rất là vui, nhà tôi nhiều lần anh hay nói chuyện về HV, tôi chỉ được nghe chứ chưa thấy hình ảnh gì cả. Anh Tá, bạn nhà tôi, anh ấy nói rằng: Quyển Kỷ Yếu hay lắm, nhiều hình ảnh lắm, có lẽ cũng làm cho tôi nhớ nhiều về nhà tôi.

Nếu có dịp nào anh gặp anh Vinh, nhờ anh cho tôi chuyển lời thăm. Anh ấy là ân nhân của gia đình tôi trong những ngày cuối cùng của 30 tháng 4 năm 75 – đã gần 38 năm rồi, chúng tôi chưa có dịp để nói lên một lời cám ơn. Anh nhớ cho tôi số phone của anh Vinh luôn.

Vài dòng để anh rõ. Kính chúc anh chị và các cháu vui, khỏe, hạnh phúc.

Kính,

(ký tên) Bà Qủa phụ Nguyễn Ngọc Bé “

503-761-0419

* Xin báo các bạn K1, tôi đã gởi K/Y và số phone của K1 Vinh cho chị NNBé;  Vinh trong thư của chị là K1 Nguyễn Văn Vinh, trước ở trong BĐ5 CSDC, hiện ở San Jose.

Thân mến,

Nhữ Đ Toán

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thư của Bà Quả Phụ K1 Nguyễn Ngọc Bé

Happy Thanksgiving_ Nước Mỹ Trong Tôi _ Huy Phương

Theo bản thống kê dân số của nước Mỹ năm 2010, hiện nay có 1,737,433 người Việt đang sinh sống trên nước Mỹ. Chúng ta những ai hiện nay đang sống, học hành, làm việc hay dưỡng già ở đây, đều đã trải qua một phần đời mình trên mảnh đất này, thường gọi là “tạm dung,” nhưng thực tế là vĩnh viễn.
 
Từ biến cố 30 tháng 4 năm 1975, những đứa trẻ sinh ra lớn lên ở đây, ngoài huyết thống ra, chúng không khác gì những đứa trẻ Mỹ. Những người trung niên còn mang theo cả một thời thơ ấu và những kỷ niệm không quên từ nơi chôn nhau cắt rốn, nhưng vẫn lăn lộn với cuộc đời trên đất khách này để mưu sinh, có người thời gian sống với quê hương ngắn ngủi hơn là ở nơi quê người.
Tiểu bang California, nơi có nhiều người Việt sinh sống nhất đã rộng lớn bằng diện tích cả nước Việt Nam, nên cũng chưa có ai trong chúng ta tự hào đã đặt chân đến hết 50 tiểu bang của nước Mỹ, cũng như không ai dám nghĩ rằng mình hiểu hết những gì về nước Mỹ, dù đây chỉ là một nơi mới lập quốc hơn 300 năm. Có người cho Mỹ là anh chàng trẻ tuổi, xốc nổi, dại khờ, nhưng cũng có người công nhận nước Mỹ là ông cụ thâm trầm thường triển khai những bước đi tính toán trước cả trăm năm.
Ðối với những người già đã đến nơi này muộn màng, nhưng cả cuộc đời còn lại coi như sống chết với nước Mỹ, thường gọi là quê hương thứ hai, mà không bao giờ còn cơ hội trở về nằm trong lòng đất quê mẹ, nếu sự thực khốn nạn, chế độ Cộng Sản còn tồn tại trên quê hương vài ba mươi năm nữa.
Một người Việt về thăm lại quê hương, nơi họ đã từ bỏ tất cả để ra đi, lúc đặt chân trở lại nước Mỹ, cho rằng tâm hồn lại cảm thấy an toàn, nhẹ nhàng hơn như lúc về nhà. Một người Việt xa quê hương đã lâu trở về Sài Gòn, có dịp vào Tòa Tổng Lãnh Sự Mỹ, ông thú nhận khi nhìn những hình ảnh tổng thống hay ngoại trưởng của Hoa Kỳ, ông lại có cảm giác quen thuộc, an toàn hơn là những lúc lang thang ở Hà Nội nhìn hình lãnh tụ và quốc kỳ Cộng Sản. Ðó không phải là vong bản, mất gốc mà chế độ này đã nhân danh đất nước, tạo hận thù, kỳ thị, xô đẩy biết bao nhiêu người xuống biển, bỏ quê hương ra đi. Gần như chúng ta không còn lệ thuộc gì với đời sống nơi quê nhà, ngoài những tình cảm sâu đậm trong máu huyết, làm cho chúng ta gần gũi với ngôn ngữ, đời sống Việt Nam, mà chúng ta có cảm tưởng đang dần dần tách rời, cho đến một lúc nào đó trở thành xa lạ. Phải chăng vì vậy, mà đã có những đứa con ngày trước trở về, xót xa nhận ra rằng, họ đang đi, đứng trên một đất nước xa lạ, không còn là của họ nữa.
Quê hương ngày nay chỉ còn là nơi thăm viếng mà không phải là nơi để trở về. Nước Mỹ đã là nơi quen thuộc chúng ta đang sống, có gia đình, nhà cửa, công việc, bà con, bạn bè, thì làm sao chúng ta lại không có những suy nghĩ, có những câu chuyện buồn vui, hay những trăn trở về nước Mỹ. Cách đây 38 năm, chưa lúc nào, chúng ta, những người dân ở một đất nước xa xôi bên vùng trời Ðông Nam Á, cách biệt nơi này đến nửa vòng trái đất, lại có ý nghĩ rằng, một ngày kia chúng ta sẽ đến đây, sống lâu dài nơi đây, sinh con đẻ cháu nơi này, để tạo ra một nhánh người Việt lưu vong. Ðời sau, còn giữ được ngôn ngữ, phong tục hay không, lại là một điều mà nhiều người khác đang trăn trở, lo âu làm sao để duy trì, gìn giữ!
Trong cái cộng đồng gần gũi, thân mật gắn bó này, với sách vở, báo chí, truyền thông, quán xá, chợ búa, tiệm buôn, món ăn thức uống, cả cái tên vùng đất hay bảng hiệu Saigon chúng ta mang theo, đôi khi gần như quên hẳn là chúng ta đang sống trên đất Mỹ. Cả cái bữa cơm, cá mắm, canh rau, đôi đũa, chén nước mắm ớt, có khác gì ở Việt Nam. Cả cái bàn thờ nhang khói, hình ảnh tổ tiên, ông bà, cành mai, chậu lan, những cô thiếu nữ, trẻ em mặc quốc phục lên chùa ngày Tết, hồi trống, tiếng pháo Mùa Xuân làm chúng ta quên mất là chúng ta đang sống thật xa quê nhà.
Ðiều tôi muốn nói ở đây là chúng ta thường quên chúng ta đang sống trên đất Mỹ.
Ông Khổng Tử của nước Trung Hoa có ví von: “Ở chung với người thiện như vào nhà có cỏ chi lan, lâu mà mà chẳng thấy mùi thơm, tức là mình cũng đã hóa ra thơm vậy.” Một kẻ vào vườn hoa lan đầy hương thơm, lúc đầu còn nhận ra mùi hương nhưng dần dà trở thành quen thuộc, trở thành bình thường, không còn thấy hương thơm, như kẻ tiểu nhân sống với người quân tử dần dần được cảm hóa lúc nào mà không hay biết. Nước Mỹ có nhiều hương thơm như thế mà cảm giác chúng ta bị dung hòa lúc nào không hay đến nỗi không còn cảm nhận được mùi thơm nữa. Hương thơm đó là những điều tốt lành, thấm nhập vào con người chúng ta lúc nào chúng ta cũng không biết, không hề quan tâm hay nhận ra được sự khác biệt trước và sau.
Chúng ta học hỏi được ở nước Mỹ tính bảo vệ đời sống riêng tư, tôn trọng luật pháp, sống an hòa, sự tử tế và mối tương quan giữa con người và con người trong xã hội. Ðiều này không chỉ có ông Bá Dương (1920-2008), sau khi đi New York, Las Vegas hay San Francisco về, đã tường thuật lại trong cuốn “Người Trung Quốc Xấu Xí,” mà bất cứ người Việt Nam nào khi đi du lịch nước Mỹ về cũng nhận ra. Có người thắc mắc sao lái xe trên đường vắng vào một hai giờ sáng, gặp bảng “stop” cũng phải đừng lại, sao một đứa bé phải đi tìm cái thùng rác để vứt cái giấy kẹo nhỏ chỉ bằng hai ngón tay, sao ở đây xe hơi nhiều như thế mà không nghe một tiếng còi? Trong cái không khí dễ chịu, thanh thản, an lạc người ta cảm nhận ra khi bước chân trở lại một nơi, có một chút mỉa mai, không phải là quê nhà của mình.
Chúng ta bước đi từ môi trường tử tế, trong lành của miền Nam qua giai đoạn “thống nhất” để bước đến một xã hội hỗn loạn như hôm nay, khi mà con người tốt đẹp dần dà trở thành vô cảm, lừa lọc, gian trá, đạp lên nhau mà sống, để mưu tìm một đời sống ích kỷ cho riêng mình, mà không thấy đó là bất thường, bất nhân và vô loại.
Thì chúng ta, trong xã hội này, cũng theo lời ông Khổng Tử: “ Ở chung với người bất lương, như vào trong chợ cá ươn, lâu mà chẳng biết mùi hôi, vì mình cũng hóa ra hôi vậy!” Như người mới vào chợ cá, lúc đầu còn nghe mùi hôi tanh, dần dà quen thuộc, không còn nghe mùi tanh tưởi khó chịu nữa, như người quân tử sống với kẻ tiểu nhân, dần dần đồng hóa bởi cái xấu mà mình không hay biết. Thử hỏi một viên chức trong chế độ Cộng Sản Việt Nam hiện nay, xem những chuyện cường quyền áp bức, mạng sống của người dân xuống hàng súc vật, con người chỉ biết có đồng tiền và dục vọng, tráo trở, vô đạo lý hiện nay có là điều gì làm cho con người lạ lùng, khó chịu không? Hay đó là chuyện bình thường, thấy đã quen mắt, nghe đã quen tai, đầu óc đã xơ cứng, chai đá như khứu giác của con người ở lâu trong chợ cá, còn đâu phân biệt được mùi hôi nữa!
Ðiều cuối cùng chúng tôi muốn nói là sự may mắn đã giúp ta có cơ hội không phải chỉ cho riêng mình mà cả con cháu đời sau, tránh khỏi được kiếp oan nghiệt, ra khỏi được cái chợ cá ấy, được sống trong cái “chi lan, chi thất” cái vườn lan thơm ngát, mà qua một thời gian chúng ta không còn cảm nhận được mùi thơm nữa, nhưng trên thực tế, mùi thơm đó vẫn hiện hữu.
Nhiều kẻ hãnh tiến vẫn cho rằng nước Mỹ nợ chúng ta mà quên rằng, món nợ của chúng ta, và cả con cháu đời sau đối với nước Mỹ thật khó lòng trả nổi.

Hãy CÁM ƠN bằng cách sống thật có ý nghĩa cho đời sống này!

 

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Happy Thanksgiving_ Nước Mỹ Trong Tôi _ Huy Phương

Đường Cóc số 4

Đường Cóc số 4 được bạn Nghĩa ra đề “Hết Đạn”. Nghiệp nhập cuộc với hai câu (1, 2); bạn Thanh Hoàng tiếp nối, nhưng bằng hai câu (7,8). Bạn Toán đành phải chọn hai câu (3,4) và nhường cho Lệ Khanh hai câu (5,6). Bài thơ thành hình như sau.

Chiến trường tiếp liệu đã tiêu hao
Đạn hết làm sao để đánh nhau?
Súng vẫn nâng niu trông thật nản
Bia còn phơi phới thấy mà rầu
Bấy lâu gắng sức gìn sông lớn
Ngày tháng quên mình giữ núi cao
Thủ thỉ trách yêu chàng yếu xịu
Buồn ơi bỉ mặt đấng anh hào !!!

Ngũ Lão Cóc

 

Đạn bắn liên hồi chớ kể hao
Mục tiêu ngồn ngộn dễ trêu nhau
Sấu trườn bãi cát càng hăng hái
Hổ nhập rừng sâu chẳng thấy rầu
Bụi rậm  đầm lầy dương súng lớn
Khe sâu hóc hiểm dựng nòng cao
Nay trên bảo dưới không tuân lệnh
Đánh trận thời trai khá tự hào !

(Phan Quang Nghiệp họa 1)

Họa nghịch vận

 Mấy chục năm luôn vững chiến hào,
Dù thân lưu lạc vạn non cao.
Lòng thương Tổ-quốc còn tăm tối,
Dạ tưởng quê-hương vẫn khổ rầu!
Bằng hữu muôn nơi hằng gắn bó,
Anh em khắp chốn mãi bên nhau?
Cuộc đời tính thử còn bao nữa?
Đừng để nghĩa tình bị hụt hao!

Lệ-Khanh


Đạn bắn thả dàn ắt phải hao
Nhưng hao sao chẳng bảo gì nhau
Súng đeo lủng lẳng coi oai dữ
Đạn lép khô queo ngó bộ rầu
Mê mải hành quân rừng lá thấp
Miệt mài thám hiểm núi đồi cao
Một thời oanh liệt còn đâu nữa
Trên bảo không nghe thật hỗn hào.
NĐT

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Đường Cóc số 4

Happy Thangsgiving_ Cám Ơn Người Mẹ Cờ Hoa_ Nguyễn Hoài Phương Trúc

   

Không cùng dòng máu, khác màu da,
Mắt Mẹ xanh lơ, tóc trắng ngà.
Cứu vớt đàn con từ bể cả,
Tấm lòng của Mẹ thật bao la.

Con từ một nước ở phương xa,
Nhân ái vòng tay mẹ mở ra.
Đón tiếp đàn con từ bất hạnh,
Tình thương của mẹ tựa người nhà.

Con ở xứ nầy, Mẹ xứ ni,
Không quen, chẳng biết một điều gì.
Bàn tay của mẹ luôn dang rộng,
Xoá nỗi đau buồn, cứu hiểm nguy.

Con từ vực thẳm chốn tù đày,
Đau khổ ngậm ngùi chịu đắng cay.
Sống lại những ngày từ cõi chết,
Mẹ luôn đùm bọc thấy tương lai.

Nhìn lại quê nhà ở xứ con,
Việt Nam đau khổ, lệ tuôn tròn.
Từng tràn tiếng nấc theo hơi thở,
Mẹ hỡi Việt Nam quá mõi mòn!

Sanh chi một lũ phường vô đạo,
Hút máu đồng bào dạ chẳng nao.
Không kể người thân tình máu mủ,
Nồi da xáo thịt, ruột gan bào.

    Cắt đất tổ tiên cùng bể cả,
Dâng lên Tàu Cộng để làm quà.
Mồ hôi, giọt máu ông cha đổ,
Loài quỉ vô thần lũ bội cha.

    Đau đớn phải lìa mẹ Việt Nam,
Bởi người hung bạo, bởi lòng tham.
Con đâu muốn bỏ quê hương mẹ!
Hai tiếng Mẹ Hiền gọi Việt Nam.

Cám ơn người Mẹ xứ Cờ Hoa,
Ấm áp vòng tay mẹ mở ra.
Tiếp đón đàn con đầy bất hạnh,
Tấm lòng nhân đạo mẹ bao la.

 

   Thanksgiving ngày lễ chẳng còn xa,
    Khắc sâu ơn mẹ để làm quà.
    Cứu vớt đàn con trong vất vưởng,
    Ngưỡng đầu cảm tạ Mẹ Cờ Hoa.

 K1: N.H.A   NGUYỄN HOÀI PHƯƠNG TRÚC. 

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Happy Thangsgiving_ Cám Ơn Người Mẹ Cờ Hoa_ Nguyễn Hoài Phương Trúc

Cười một chút đi

Chuyện tếu!

1.- Miễn phí cho hàng xóm.

Vợ mới sanh con đầu lòng, thương chồng bị “cấm quân” lâu ngày, vất vã ngược xuôi,nên đưa chồng ít tiền rồi thỏ thẻ bảo chồng:

“đi  thư giản” ở ngoài xã van một phát cho đở bức bối anh ạ,
Em không phiền trách đâu.

ông chồng đi một lúc rồi về, trả lại vợ phân nửa số tiền rồi kể:

-Anh định lên Xóm Mới, nhưng cô chủ quán chè đầu ngỏ cứ chèo kéo mải, cô ấy thông cãm vợ đẻ giảm cho anh 50 phần trăm.

–Con ranh láo cá thật, cô vợ gầm lên.

–Ơ kìa Em , đi đâu mà chẳng thế,- ông chồng hốt hoảng,

–Em tức nó, bởi vì hồi nó đẻ, em có lấy chồng nó xu nào đâu?

2.- Muốn con làm nghề gì?

Một cập vợ chồng trẻ đi hưởng tuần trăng mật, trước khi đi bà mẹ vợ cẩn thận dặn dò hai người:

-Nếu “lúc đó” mà làm từ từ đứa bé sau nầy làm Kỹ Sư, nhanh hơn thì làm Bác Sĩ, còn nếu nhanh và mạnh sau nầy nó sẽ đạp xích lô.

Cả hai vợ chồng đều muốn con mình sau nầy sẽ là  Kỹ Sư, nên trước khi lên giường người chồng còn nhắc nhỡ vợ:

– Em ơi Kỹ Sư nhé,  nhưng được 10 phút cô vợ rên rỉ:

-Thôi kệ cho nó làm Bác Sĩ đi Anh,

Nhưng chỉ 5 phút sau, anh chồng la lên

– Đễ Anh cho nó đạp xích lô thấy mẹ nó luôn./.

3.- Chim

Một chị nhà quê vào đồn công an đăng ký kết hôn, chị cán bộ công an hỏi:

-Lấy chồng lần đầu hả?

Chị nhà quê: -Dạ lần đầu.

Chị cán bộ hỏi tiếp: -Tên gì, ở với nhau từ bao giờ?

Chị nhà quê đáp: -Dạ Lê thị Chim, mới ở với nhau tối hôm qua.

Chị cán bộ: -Mới ở với nhau tới hôm qua à? ….-Chim có ê không?

Chị nhà quê đỏ mặt ấp úng không nói gì, chị cán bộ bực mình gằn giọng: -Tôi hỏi chị, chim có ê không?

Chị nhà quê thẹn thùng, thỏ thẻ: -Dạ lúc đầu cũng hơi ê ê.

Chị cán bộ bực tức quát lên:

–Tôi hỏi Chị tên Chim không có chữ “Ê” hay không? mắc mớ gì đến lúc đầu với lúc sau, vớ vẩn.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Cười một chút đi

Tâm Tư – Thơ K1 Nguyễn Hoài Ân

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Tâm Tư – Thơ K1 Nguyễn Hoài Ân

Cám ơn Mẹ_ Trần Vũ Anh Bình

Nhân mùa Tạ Ơn, là người Việt Nam dù đang sống bất cứ nơi đâu trên hành tinh nầy chúng ta cũng không bao giờ quên ơn Mẹ VIỆT NAM và nguyện sống không hổ thẹn với những gì mà Mẹ Việt Nam đã ban cho chúng ta.
Kính mời các bạn thưởng thức nhạc phẫm “CÁM ƠN MẸ” của nhạc sĩ Trần Vũ Anh Bình, người vừa bị chế độ độc tài Việt Cộng kết án 6 năm tù giam 2 năm quản chế cùng với nhạc sĩ Việt Khang bị 4 năm năm tù giam và 2 năm quản chế.

 

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Cám ơn Mẹ_ Trần Vũ Anh Bình

Đoàn Ngọc Nam _ Thơ “Canh Gà”

Hôm rồi cô giáo ra bài
Ca dao Hà Nội trổ tài môn văn*
Lớp học lố nhố lăng nhăng
Phen nầy thành tích đạt bằng điểm cao
Bình giãi sâu sắc miễn sao
Đào sâu thực tế thế nào cũng hay
Ngày nay chữ nghĩa cao bay
Đương học mà nghĩ chiều nay món gì
Ở nhà có sẵn khoai mì
Ăn hoài cũng chán khác gì văn chương
Chuột kêu chút chít trong rương**
Gà đem nấu với nấm hương “canh gà”
Giãi nghĩa đơn giản thế a
Phải đâu gà gáy canh ba sáng trời
Học sinh học dốt học chơi
Cũng do cô giáo thiếu thời lơ mơ***
Thời nay xã hội thời cơ
Cần nhiều nhân tố ngu ngơ theo phò

 

*Gió đưa cành trúc là đà,
Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương
Mịt mù khói tỏa ngàn sương,
Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ.

**Chuột kêu chút chít trong rương,
Anh đi cho khéo, đụng giường Mẹ la.

(Nếu cho bình giãi câu nầy, có lẽ con chuột cũng là món ăn)

*** Bài luận văn bình giảng câu ca dao Hà Nội, được cô giáo
cho điểm 8/10. Quá hay!

 

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Đoàn Ngọc Nam _ Thơ “Canh Gà”

Thư Mời Dự Dạ Tiệc Mùa Tạ Ơn 2012 của Hội Ái Hữu Cựu SVSQ- HV CSQG-VNCB- Bắc Cali

CNN xin được gởi đến quí Niên Trưởng và các bạn đồng môn cùng gia đình thư mời dự Dạ Tiệc Mừng Thanksgiving của Hội Ái Hữu Cựu SVSQ/HV-CSQG-VNCH tại Bắc Cali.

Nhân dịp nầy CNN đề nghị chúng ta nên mở cuộc lạc quyên  giúp cho các tiểu bang Miền Đông Hoa Kỳ bị thiên tai mấy ngày vừa qua. Mặc dù sự đóng góp của chúng ta không đáng là bao nhưng cũng nói lên được lòng biết ơn của Người Việt Nam chúng ta đối với đất nước đang cưu mang và che chỡ cho chúng ta.
CNN

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thư Mời Dự Dạ Tiệc Mùa Tạ Ơn 2012 của Hội Ái Hữu Cựu SVSQ- HV CSQG-VNCB- Bắc Cali

Nổi Nhục Tân Trào – Thơ Nguyễn hoài Ân

Thoáng nghe hiệp ước Tân Trào,
Nghe hồn rướm máu, nghe đau trong lòng.
Ngảnh nhìn một giải non sông,
Giờ sao sứt mẻ, nghe lòng quặn đau.
Ông cha đổ giọt máu đào,
Dựng nên cơ nghiệp cháu con kế thừa.
Thế mà lũ cộng say sưa,
Cắt chia Tổ Quốc, cho bừa Tàu bang.
Bể Đông chí đến Nam Quan,
Tân Trào, Bảng Giốc, Hoàng Sa chẳng còn.
Nam Quan biên giới phai mòn,
Trường Sa số phận vẫn còn hẩm hiu.
Bắc Bộ mất biển cũng nhiều,
Cao nguyên khoán sản, lâm san tiêu điều.
Việt Nam phận bạc hẩm hiu,
Mẹ hiền nước Việt thân yêu não lòng.
Hỡi ai con Lạc cháu Hồng,
Quang Trung Nguễn Huệ gióng giồng Triệu Trưng.
Chen vai chung cật đâu lưng,
Diệt phường bán nước, thanh trừng ngoại xâm.

                         K1:  N.H.A

  *   Bọn cầm quyền cộng sản Việt Nam ký hiệp ước Tân Trào ngày 30-12-1999  với Trung Cộng, hiến dâng Tân Trào, Bảng Dốc, Mục Nam Quan và dọc theo biên giới vào sâu lảnh thổ nước ta hơn 1 Km cho Trung Quốc.

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Nổi Nhục Tân Trào – Thơ Nguyễn hoài Ân

Thơ K1 Nguyễn Hoài Ân – Chưa Về Hưu

Thất thập tứ niên chẳng phải già,
Nội công, ngoại lực vẫn còn đa,
Đôi vai gân guốc tuy còm cõi,
Ngực lép, lưng cong, mắt sáng lòa.
Cho nên chưa nghĩ về Hưu Trí,
Hưu trí làm gì mất hết đa,
Sớm viếng động đào, chiều sàn nhảy,
Đêm nằm  trằn  trọc đợi Hằng Nga.

K1:  N.H.A

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thơ K1 Nguyễn Hoài Ân – Chưa Về Hưu

Trưởng K1 Tổng Kết Việc Tương Trợ K1 NV Lộc

Các bạn K1 thân mến,
Cho đến nay, tôi đã nhận được đầy đủ check và tiền mặt của các bạn gởi đến để giúp K1 Nguyễn Viết Lộc.
Tổng kết việc tương trợ cho K1 NV Lộc như sau:

1. Ng. Công Vinh            $30 (check đã nhận)
2. Tr. Ngọc Thạch          $50 (check đã nhận)
3. Võ Đăng Ngọc            $50 (cash)
4. Tôn Thất Biên            $100 (check đã nhận)
5. Ng. Năng Thỏa          $200 (check đã nhận)
6. Lê Phát Minh             $100 (check đã nhận)
7. Bửu Hồng                    $30 (check đã nhận)
8. Phạm V Minh             $30 (check đã nhận)
9. Tr Vĩnh Tường            $50 (cash)
10. Ng. Chính Minh       $50 (check đã nhận)
11. Ng. Hữu Thời            $20 (cash)
12. Phạm V Toán            $20 (cash)
13. Ng. Vô Lượng            $20 (cash)
14. Ng. V Thế                   $20 (cash)
15. Huỳnh V Hưng         $20 (cash)

16. Trần Hữu Tá              $50 (check đã nhận)
17. Lê Quang Phú            $50 (check đã nhận)
17. Ng. V. Nhì 
     và các K1 ở GA            $250
    
TỔNG CỘNG:             $ 1140
 (đã nhận đủ)

* Đã gởi về cho K1 Lộc $400 trích từ Quỹ K1 ở Nam và Bắc Cali mỗi nơi $200, nên sẽ hoàn lại cho Quỹ K1 (Nam và Bắc Cali) $400; số còn lại $740 sẽ gởi về cho K1 Lôc vào dịp Tết này. Vậy xin báo cáo để các bạn rõ.

TM. Ban Đại Diện Khóa 1
K1 Nhữ Đình Toán

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Trưởng K1 Tổng Kết Việc Tương Trợ K1 NV Lộc

Happy Birthday November & 70th Happy Birthday của NCV

Căn Nhà Nhỏ vừa nhận được bản copy rất cũ  của Sự Vụ Lệnh Tuyển Dụng Đầu Tiên:
số 304-BNV/TCSQG/NV/SVL do Cựu Đại Tá NGUYỄN NGỌC LOAN – Tổng Giám Đốc  Cảnh Sát Quốc Gia ký ngày 12 tháng 5 năm 1966 tuyển dụng 226 Tân Sinh Viên Sĩ Quan  Biên Tập Viên và Thẫm Sát Viên CSQG Khóa 1.

Vì quá cũ nên có nhiều tên của các bạn không đọc ra được. Do đó trong khi post lên CNN nếu có sai, sót xin quí bạn vui lòng báo cho chúng tôi biết để sửa lại. Hy vọng Kỷ Yếu K1 sẽ có đầy đủ tên của tất cả anh chị em chúng ta.

Trong tháng 11 nầy có rất nhiều bạn được Happy Birthday từ CNN. Thành thật cám ơn  anh Trưởng K1 đã gởi cho CNN bản SVL tuyển dụng đầu tiên nầy.                                                                Đặc biệt tháng nầy CNN xin gởi đến một video ngắn về ngày sinh nhật của Nguyễn công Vinh vui cùng một số bạn trong đó có đại diện của K1, rất tiếc hôm đó anh trưởng K1 vì bận đi làm nên không đến được. Và nhân dip bần nhân nầy đến Cali bạn Huỳnh Vĩnh Hưng lần đầu tiên đã dẫn vợ giới thiệu đến anh em chúng ta. Xin mời tất cả các bạn cùng thưởng thức.

Đăng tải tại Tâm Tình K1, Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Happy Birthday November & 70th Happy Birthday của NCV

Nghe nhạc

Trước khi chấm dứt tháng 10, để đổi không khí, thân mến mời các bạn nghe bản nhạc mới nhất của Ca Nhạc Sĩ Trúc Hồ: Hàng Triệu Con Tim“

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Nghe nhạc

Thông Báo của Trưởng K1 về việc Tương Trợ K1 Lê Việt Hằng

**Các bạn K1 thân mến,

Tôi mới nhận được thư của K1 Tống Phước Kiên từ North Carolina báo tin cho biết:

K1 Lê Việt Hằng (cựu Trưởng Phòng HQ/BCH/CSQG Đà Nẵng) hiện lâm trọng bệnh tại Sàigòn phải ngồi xe lăn.

Như đã b/c các bạn trong thư trước, tổng kết việc trợ giúp cho K1 Ng. Viết Lộc tôi đã thu được $1090 (đã nhận đủ cash và check) trong đó ban đại diện Khóa đã gởi về đợt I cho Lộc $400, số còn lại ($690) sẽ gởi tiếp vào dịp Tết này. Riêng những check trợ giúp cho K1 Lộc nhận được trễ, tôi sẽ nhập chung gởi về cho K1 Lê Việt Hằng cùng với phần tiền trích từ Quỹ Tương Trợ K1 trong vài ngày tới. Nếu các bạn có ý kiến gì khác v/v giúp K1 Hằng xin cho biết. Cám ơn các bạn.

Thân mến,

K1 Nhữ Đ. Toán

PS: Tôi đã nhận được check $100 của Kiên ($50 cho Hằng + $50 cho Phượng Hoàng). Cám ơn Kiên

**Thân báo,

Hôm nay tôi nhận được check 50$ của Lê Quang Phú, trợ giúp cho Nguyễn Viết Lộc. Tôi đồng ý ý kiến của bạn Toán, sẽ chuyển tiếp để giúp cho bạn Hằng.

Ngưu

**Các anh thân mến,

Tôi thấy việc nầy nói ra sẽ mắt lòng. Việc trợ giúp các bạn ở VN là cần thiết, nhưng dùng quỹ của Hội sẽ không chịu nổi. Sở dĩ Hội khóa 1 có chút ít tiền là dùng để thăm viếng anh bên nầy như đau ốm, qua đời viếng thăm phúng điếu… Hội chịu trách nhiệm phổ biến tình trạng các bạn ở VN, để theo đó tùy anh em nào muốn giúp đở thì đóng góp thì dễ giải quyết hơn. Mong các anh xét lại

việc trợ giúp còn lâu dài, tránh tình trạng người được, người không cũng tốt đâu.

Thân chào,

Đoàn Ngọc Nam

**Cám ơn Nam đã cho ý kiến. Tuy nhiên, Quỹ K1 không phải chỉ để tương trợ các bạn cùng khóa ở đây mà thôi mà còn để trợ giúp các bạn ở VN nữa (nhiều ít, bao nhiêu tùy hoàn cảnh).
Toán

***Tin thêm về K1 Lê Viết Hằng:
Sau khi thông báo tin về K1 Lê Viết Hằng, tôi đã nhận được một số ý kiến của các bạn v/v tương trợ các bạn đồng khóa. Riêng về trường hợp K1 Lê Viết Hằng, một số K1 đã đ/t thăm hỏi K1 Hằng theo phone # trong thư K1 Tống Phước Kiên. Được biết, K1 Hằng hiện sống ở SG, do tuổi gìa bị đau lưng (cột sống) nhưng không đến nỗi trầm trọng. Hằng có 5 người con đều đã trưởng thành, tốt nghiệp đại học, và đã lập gia đình; 2 trong số 5 người con của Hằng hiện làm việc cho Cty ngoại quốc lương rất khá. Nói chung, tình trạng tài chánh của gia đình Hằng không có khó khăn gì, cho nên có lẽ chúng ta không cần giúp đỡ Hằng về tài chánh, mà chỉ cần đ/thoại thăm hỏi cũng là quý rồi. Vài hàng thông báo cho các bạn.
Còn các bạn nào có ý kiến gì khác v/v này xin cho biết. Cám ơn.
Chúc tất cả các bạn một cuối tuần vui vẻ.
K1 Toán.

Như vậy việc tương trợ cho bạn K1 Lê Viết Hằng đã đựơc giải quyết. Tuy nhiên rất cám ơn  bạn Tống Phứoc Kiên đã cho biết tin tức mà qua đó anh em có dịp gọi phone về Việt Nam  thăm hỏi bạn Hằng. Riêng số tiền đóng góp, chúng tôi đề nghị anh Trưởng K1 gởi lại cho bạn Kiên. Một lần nửa xin cám ơn bạn Kiên.

CNN


 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thông Báo của Trưởng K1 về việc Tương Trợ K1 Lê Việt Hằng

Thơ Đường Cóc số 3

Thơ Đường số 1 đã được giới thiệu trên CNN. Đúng ra sẽ tới Thơ Đường số 2, nhưng vì Thơ Đường số 2 chọn đề tài Xuân cho nên chúng tôi để dành cho Tết Quý Tỵ. Hôm nay Cóc Nghĩa  trình làng bài Đường Cóc số 3  . Lần nầy Cóc Nghiệp được quyền ưu tiên nên bạn ấy chọn đề tài là : VỀ HƯU. Đề tài nầy rất hợp thời hợp cảnh của tuổi anh em chúng ta, nên mấy con Cóc kia nhảy ra xơi tái liền. Và đây bài thơ do Ngũ Lão Cóc hợp xướng : Toán (câu 1,2), Lệ Khanh (câu 3,4),Thanh Hoàng(câu 5,6) Nghĩa (câu 7,8)

  

             

Mấy chục năm cày mệt đứt hơi .
Chỉ mong đến lúc về hưu thôi
Vì câu trách-nhiệm đang tròn ý .
Bởi chữ  hy sinh đã vẹn lời .
Cạnh luống Quỳnh Hương nhìn bướm lượn.
Bên giàn Thiên-Lý ngắm sao rơi .
Cà-phê sáng tối vui bè bạn .
Lên mạng trưa chiều mặc sức chơi .

                Ngũ Lão Cóc .

Các bài họa tiếp theo: 

XẢ LÁNG

Liệu chúng ta còn được mấy hơi ?
Có vui cứ xả láng đi thôi !
Bia mời , dựng gậy vô theo ý .
Rượu phạt , kề môi nhúng nể lời .
Nấm cứng lợi trơ đâu ngại mấp .
Đùi dai răng giả chẳng lo rơi .
Iphone mở nút tay khều móc .
Latop lên giường chuột nhấp chơi .

LHN

VỀ HƯU (số 2)

Tuổi già hưu trí bóng xì hơi
Lực bất tòng tâm phải thế thôi
Bảy thiếp ba thê nào chịu lỗ
Lục giao ngũ tử cố ham lời
Thanh niên súng đạn ria bừa bãi
Tuổi trẻ cày bừa thả rụng rơi
Đến lúc lưng đau và gối mỏi
Không chừa tật cũ  chết như chơi

(Phan Quang Nghiệp kính họa)

Theo 2 niên trưởng Quang-Nghiệp và Hữu-Nghĩa, tôi xin họa tiếp, anh Nguyễn-Công-Vinh khoan đóng  cửa CNN nghe

Chúc quý anh một cuối tuần thật vui vẻ

         VẪN CÒN HƠI

Dù trên sáu bó miễn còn hơi,
Cái nợ non-sông phải trả thôi.
Nước mất, nỡ nào trơ mắt ngó?
Nhà tan, sao lại chịu im lời?
Chung vai quang-phục: sơn-hà vững,
Góp sức diệt trừ: Cộng-sản rơi.
Tổ-Quốc từ đây yên bốn cõi,
An nhàn, mượn bút họa thơ chơi.

Lệ Khánh

NGHỈ XẢ HƠI

Bảy chục về hưu  nghỉ xả hơi
Công  nhà việc nước được  xin thôi !
Cộng Đồng  xây dựng kêu khan tiếng
Đoàn Kết  thương yêu gọi hết lời
Mắt  mũi lờ mờ ly nước đổ
Tay chân  luộm thuộm  bát cơm  rơi
Lão lai tài tận  xin nhường bước
Thế hệ  kế thừa  tiếp cuộc chơi.
Phan Quang Nghiệp họa 2

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thơ Đường Cóc số 3

Nụ cười cuối tuần

Mời đọc câu chiện thật lại như đùa!

   Tôi từ Sàigòn ra Hà Nội đến Hồ Gươm xem xong gọi xích lô đến, hỏi đi đến chợ Đồng Xuận giá bao nhiêu ?Anh đạp xích lô bảo 70 nghìn , tôi trả 50 nghìn anh ta đồng ý chở tôi đi

 Đến cách chợ Đồng Xuân chừng 300 mét anh bảo tôi xuống, tôi hỏi anh ta sao lại xuống đây? anh ấy trả lời: “ 50 nghìn chỉ đến đây thôi!”

 Tôi hỏi sao anh đồng ý giá ban đầu là 50 nghìn mà bây giờ anh nói thế?  Rồi anh ta đáp gọn hơ: “ Anh thông cảm cho ở đây Đảng lừa dân cho nên dân chúng em phải lừa nhau mà sống!”

 Tôi vừa tức mà phải cười rồi trả tiền và bỏ đi. Anh ta còn nói thêm:
“Không lừa không phải Cộng Sản, Không đi chàng hảng không phải Việt Minh, không ăn nói linh tinh không phải uỷ viên bộ chính trị, không có học vị mới vào trung ương.”

Chán thật !

     Trích “Dân Làm Báo”.

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Nụ cười cuối tuần

Thơ Đường cóc số 1

Bài Đường Cóc số 1:
Trước tiên bạn Lệ-Khanh ra đề bài thơ với hai chữ: Anh và Tôi.
Bạn PQ Nghiệp hưởng ứng ngay với hai câu 1,2

Anh, tôi sau trước cũng chung nhà .(1)
Học Viện “Ông Cò” tốt nghiệp ra.(2)

Bắc Cali chơi hai câu đầu, Nam Cali sao không chơi hai câu cuối. Nghĩ vậy bạn  NĐ Toàn liền viết hai câu 7,9 như sau:

Anh , tôi sau trước cũng chung nhà.(1).
Học Viện “Ông Cò” tốt nghiệp ra.(2)

 

Hào khí năm xưa bầu nhiệt huyết,(7)
Mơ ngày quang phục khúc hoan ca.(8)

Độc nhé, độc nhé, anh trưởng K1 chơi độc nhé; vì 4 câu ở giữa phải đi theo hai câu đầu mà không chạy trật đường rầy ra khỏi hai câu cuối, nhưng ý thơ cả bài phải đồng nhất, không được lạc hướng. Nhưng bạn Nghĩa nhà ta đã chứng tỏ là một cây thơ đường nên cho ra hai đối 3,4 rất là tuyệt.

Anh , tôi sau trước cũng chung nhà.(1).
Học Viện “Ông Cò” tốt nghiệp ra.(2)
Luật-pháp công-minh , tiền chẳng chuộc .(3)
Uy-quyền liêm-chính , Cộng không tha.(4)

 

 Hào khí năm xưa bầu nhiệt huyết,(7)
Mơ ngày quang phục khúc hoan ca.(8)

 Như vậy là còn hai câu đối số 5,6, tới phiên bạn nào đây. Bạn Lệ Khánh nghĩ thầm mình đưa ra đầu đề nên mình có nhiệm vụ kết thúc nó, và bài thơ do bốn người bạn ở cách xa nhau cùng viết rất nhịp nhàng và ăn ý với nhau. Bài thơ như sau:

Anh, tôi sau trước cũng chung nhà
Học Viện “Ông Cò” tốt nghiệp ra.
Luật-pháp công-minh, tiền chẳng chuộc .
Uy-quyền liêm-chính, Cộng không tha .
Cơ trời ngục thất gìn danh tiết .
Vận nước quê người vọng quốc-gia .
Hào khí năm xưa bầu nhiệt huyết,
Mơ ngày quang phục khúc hoan ca. 

Tứ Lão Cóc .

Từ bài “Anh và Tôi 1” Bạn Nghiệp họa nguyên một bài có tên

Anh, tôi Việt Tộc vốn cùng nhà
Cộng Sản du vào chẻ tách ra
Dân Chủ Tự Do không chấp nhận
Địa hào trí phú chẳng dung tha
Biên cương dâng hiến quân buôn nước
Cướp của tham tiền lũ phá gia
Hướng thiện hồi đầu mau kẻo trể
Thù đền, oán trả chớ kêu ca.
(Phan Quang Nghiệp Kính họa)

Trăm trứng ngày xưa vốn một nhà .
Núi cao mẹ trấn , biển cha ra .
Ngàn đời nối tiếp lòng nhân-ái .
Muôn kiếp lưu-truyền tánh vị-tha .
Ác quỷ đành gây cơn quốc phá .
Giống nòi phải chịu cảnh vong gia .
Đông Tây nội ngoại dù xa cách .
Vẫn khắc ghi lòng chung khúc ca .

LHN

Bạn Thanh Hoàng cũng ấm ức lắm nên họa một bài không có tựa đề như sau:

Giặc Bắc vào Nam loạn nước nhà 
Muôn ngàn tội ác Cộng gây ra
Anh vương lao lý  đời cơ cực
Tôi chuốc xích xiềng khám thúi tha
Anh nguyện diệt Tàu loài hiểm ác
Tôi thề  sát Cộng lũ oan gia
“Thanh Bình” khúc nhạc dân mừng đón
Tay nắm tay cùng múa, hát ca

                         THANH  HOÀNG
                        (Cali., 19-10-2012)

 Và để kết thúc trò chơi hôm nay, bạn Lệ Khánh làm bài họa có tên:

Ai gây thảm họa nước-non-nhà?
Chính lũ giặc Hồ tạo dựng ra.
Chủ-nghĩa ngoại lai, cha chẳng dưỡng,
Giáo-điều man rợ, mẹ đâu tha!
 Bì oa chử nhục, san bằng núi,
Huynh đệ tương tàn, phá nát gia.
Sáu bảy năm trời, dân khổ nhục,
Bao giờ quang-phục, khải-hoàn ca?!

                  LK  * 67 năm

 

 

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thơ Đường cóc số 1

Thơ K1 Nguyễn Phiến

Bến bờ thất thập đến rồi
Thuyền nan gác mái êm xuôi buông chèo
Dặm dài ghềnh thác cheo leo
Vượt trùng sóng gío cánh bèo thuyền ta
Sinh thành giữa buổi phân qua
Quê hương chia cắt, sơn hà điêu linh
Mịt mù khói lửa chiến chinh
Cửa nhà đổ nát, gia đình tan hoang
Xác xơ phố chợ xóm làng
Đạn bom hủy diệt, tham tàn tiếp tay
Chập chờn thần chết bủa vây
Đẩy đưa sinh mệnh vào tay tử thần
Giữa cơn bão táp sóng gầm
Đường tơ kẽ tóc mấy lần thác vong
Thân nhân, đồng đội, đồng song
Lần hồi dẫy chết theo dòng thời gian
 Đoạ đày tù ngục chưa tan
Vết thương rướm máu bạo tàn chưa nguôi
Giật mình nhìn lại đường đời
Buồn vui thổn thức biết lời nào đây
Đọan trường xin gởi gió mây
Thảnh thơi con cháu quây quần hỷ hoan

Cali  10 / 1972
K1 Nguyễn Phiến

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thơ K1 Nguyễn Phiến

Thể Thơ Đường Luật _ Vĩnh Hồ

 Bạn Lê Hữu Nghĩa rất vui khi thấy gần đây các bạn hào hứng tham gia họa thơ với nhau. Nhưng họa thơ thường áp dụng cho thể thơ đường, phải giữ đúng nghiêm luật bằng trắt, đối câu đối chữ…vân vân và vân vân … Có lần mình cũng hứng chí làm bài thơ gọi là “họa” bây giờ đọc lại thấy sai bét, hí hí. Do đó bạn Nghĩa có gợi ý cho mình đưa bài “Thể Thơ Đường Luật” của Vĩnh Hồ vào CNN để chúng ta cùng nghiên cứu lại (Bởi vì khi học trung học tụi mình đều  đã có học qua ) rồi xuất chiêu họa thơ với nhau cho vui tuổi già. Có lý, có lý phải không các bạn. Xin mời đọc.

      

 Thơ Ðường Luật phổ biến trên thi đàn Việt Nam xưa, xuất xứ từ đời Ðường (618-907) bên Tàu, có luật lệ nhất định, thường gọi là Thơ Luật để phân biệt với Thơ Cổ Phong xuất hiện trước đời Ðường không có luật lệ nhất định.

        Thơ Luật có 4 thể: Ngũ Ngôn Tứ Tuyệt, Ngũ Ngôn Bát Cú, Thất Ngôn Tứ Tuyệt, Thất Ngôn Bát Cú. Thất Ngôn Bát Cú có luật lệ gò bó khó làm nhất nhưng lại được các Cụ ưa thích nhất, thường dùng để bày tỏ tình cảm ý chí, ngâm vịnh, trào phúng, xướng họa, thù tạc, chúc mừng quan hôn, khai bút đầu Xuân… Lúc đầu làm bằng chữ Hán, đến đời Trần, Hàn Thuyên là người đầu tiên làm bằng chữ Nôm, nên Ðường luật còn gọi là Hàn Luật. Từ đó thể Thất Ngôn Bát Cú trở thành độc tôn trên thi đàn, ngay trong các kỳ thi cũng bắt thí sinh làm một bài. Sau đây xin trình bày khái quát về bố cục và luật lệ căn bản của thể thơ này:

I. BỐ CỤC: Một bài thơ Thất Ngôn Bát Cú có 4 phần:

1- Mạo: là mào đầu (vào bài) còn gọi là Ðề, gồm:

– Phá đề (câu 1) nghĩa là mở ra, giới thiệu tựa đề.

– Thừa đề (câu 2) nghĩa là chuyển xuống.

2- Thực hay Trạng: gồm câu 3 + 4: giải thích, khai triển tựa đề.

3- Luận: gồm câu 5+6: bàn luận ý nghĩa của bài.

4- Kết: gồm câu 7+8: tóm tắt ý nghĩa, bày tỏ tình cảm, thái độ.

II. LUẬT LỆ CĂN BẢN:

1- Vần: là bộ phận chủ yếu của âm tiết trong tiếng Việt là âm tiết trừ đi phụ âm đầu nếu có. Ví dụ: “tà, hoa, nhà, gia, ta” trong bài Qua Ðèo Ngang có cùng một vần “a”.
Vần có vần bằng, vần trắc, độc vận, ép vận. Trong thất ngôn bát cú chỉ gieo 1 vần, gọi là độc vận rơi vào 5 chữ cuối của 5 câu: 1, 2, 4, 6, 8 thường là vần bằng, ít khi dùng vần trắc, 5 chữ này tránh trùng nhau, phải hiệp vận cho đúng nếu gieo sai gọi là lạc vận, gieo vần không sát gọi là gượng ép.

 Ghi chú:

  Vần có cước vận (vần ở cuối câu), và yêu vận (vần ở lưng câu).

  Vần điệu: Ðiệu là đều đặn, là số chữ đều đặn trong mỗi câu thơ, như điệu thất ngôn mỗi câu 7 chữ, điệu lục bát gồm 1 câu 6, 1 câu 8. Riêng điệu ca trù mỗi câu bao nhiêu chữ cũng được, trừ câu chót bắt buộc 6 chữ.
Nhịp điệu: Nhịp là cách ngắt đoạn đều đặn trong câu thơ. Nhịp điệu là cái dáng đi khi mau khi chậm trong thơ.

  Tiết tấu: tiết là đốt, là đoạn ngắn, tấu là đánh nhạc, là đọc cao lên.

  Thi nhạc (gồm vần, điệu, nhịp, tiết tấu): Nhà thơ dùng âm thanh (tượng thanh), dùng sự thay đổi của của âm, độ cao thấp của thanh, sự đều đặn của vần điệu nhịp điệu, sự nhịp nhàng của tiết tấu… làm cho bài thơ đọc lên như một bản nhạc gọi là thi nhạc. 

 2. Ðối: là phép đặt 2 câu thơ đối nhau gồm có:

  Ðối chữ: bằng đối trắc, trắc đối bằng, danh từ đối danh từ, động từ đối động từỳ…

Ðối ý: ví dụ cảnh dưới núi đối cảnh bên sông, cảnh động đối cảnh tĩnh như trong 2 câu thực của bài Qua Ðèo Ngang.

  Trong thể thơ này, 2 câu thực phải đối nhau, 2 câu luận phải đối nhau.

Sau đây xin mời quý vị thưởng thức những cặp đối thần sầu của các thi sĩ tiền bối:

 * Thi hào Nguyễn Trãi:

 – Hương cách gác vân thu lạnh lạnh
Thuyền kề bãi tuyết nguyệt chênh chênh
 – Khách đến chim mừng hoa xẩy rụng
 Chè tiên nước kín nguyệt đeo về
 – Miệng thế nhọn hơn chông mác nhọn
 Lòng người quanh nữa nước non quanh 

 * Bà Chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương:

 – Năm thì mười họa chăng hay chớ
 Một tháng đôi lần có cũng không
– Cố đấm ăn xôi, xôi lại hẩm
Cầm bằng làm mướn, mướn không công

 (Làm Lẽ)

 (“Cố đấm ăn xôi” và “Làm mướn không công” là 2 câu tục ngữ)

 – Duyên thiên chưa thấy nhô đầu trọc
 Phận liễu sao đà nảy nét ngang

 (Không Chồng Mà Chửa)

 (Trong Hán tự, chữ THIÊN nếu kéo nét phẩy nhô lên thì thành ra chữ PHU là chồng. Chữ LIỄU nếu thêm nét ngang thì thành ra chữ TỬ là con)

 – Ðôi gò bồng đảo sương còn ngậm
Một lạch đào nguyên suối chửa thông

 (Thiếu Nữ)

 – Chày kình tiểu để suông không đấm
 Tràng hạt vãi lần đếm lại đeo

 (Chùa Quán Sứ)

 (“suông không đấm” và “đếm lại đeo” đều có nghĩa nói lái rất tục)

 – Khi cảnh, khi tiu, khi chũm chọe
 Giọng hi, giọng hỉ, giọng hi ha

 (Sư Hổ Mang)

 – Gió giật sườn non kêu lắc cắc
Sóng dồn mặt nước vỗ long bong

 (Kẽm Trống)

 * Thi sĩ Nguyễn Khuyến:

 – Lưng giậu phất phơ màu khói nhạt
Làn ao lóng lánh ánh trăng loe
– Sóng biếc theo làn hơi gợn tí
 Lá vàng trước gió sẻ đưa vèo
 – Tầng mây lơ lững trời xanh ngắt
Ngõ trúc quanh co khách vắng teo

* Thi sĩ Trần Tế Xương:

 – Học đã sôi cơm nhưng chửa chín
Thi không ngậm ớt thế mà cay
 – Ðì đẹt ngoài sân tràng pháo chuột
 Om sòm trên vách bức tranh gà
 – Chí cha chí chát khua giày dép
 Ðen thỉ đen thui cũng lụa là
– Van nợ lắm khi tràn nước mắt
Chạy ăn từng bữa mướt mồ hôi
 – Sỉ khí rụt rè gà phải cáo
Văn chương liều lĩnh đấm ăn xôi
 – Một tuồng rách rưới con như bố
 Ba chữ nghêu ngao vợ chán chồng
– Ví cho thi đỗ làm quan lớn
Thì cũng nhỏ to cưới chị hầu
– Tiễn chân cô mất hai đồng lẻ
 Sờ bụng thầy không một chữ gì

 (“Gà phải cáo” và “Cố đấm ăn xôi” là 2 câu tucỳ ngữ)

3. Luật: tức thanh luật là quy tắc xếp đặt thanh bằng (B) thanh trắc (T) cho mỗi chữ trong một câu thơ theo lệ:

  “Nhất tam ngũ bất luận”: bất luận là không ràng buộc,
  “Nhị tứ lục phân minh”: phân minh là rõ ràng bắt buộc đồng thời phải tuân theo thanh: “nhị bằng tứ trắc lục bằng”, hay ngược lại: “nhị trắc tứ bằng lục trắc”

 – Sau đây là bài thất ngôn bát cú luật bằng vần bằng:

 Câu 1: BBTTTBB
Câu 2: TTBBTTB
Câu 3: TTBBBTT
Câu 4: BBTTTBB
 Câu 5: BBTTBBT
Câu 6: TTBBTT
 Câu 7: TTBBBTT
 Câu 8: BBTTTBB

 – Sau đây là bài thất ngôn bát cú luật trắc vần bằng:

 Câu 1: TTBBTTB

 Câu 2: BBTTTBB
 Câu 3: BBTTBBT
 Câu 4: TTBBTTB
 Câu 5: TTBBBTT
 Câu 6: BBTTTBB
 Câu 7: BBTTBBT
 Câu 8: TTBBTTB

        Âm là tiếng động phát ra khi đọc một nguyên âm. Thanh là độ cao thấp của âm. Mỗi âm trong tiếng Việt có 6 bực độ quy định bởi 6 dấu: 2 thanh BẰNG gồm trầm (dấu huyền) và phù (không dấu), bốn thanh TRẮC gồm thượng (dấu sắc, dấu ngã), và khứ hay nhập (dấu hỏi, dấu nặng).

        Trong một câu thơ, tất cả những chữ cùng một thanh nên thay đổi bực độ.
        Trong bài thất ngôn, chữ thứ 3 các câu chẵn và chữ thứ 5 các câu lẻ, đáng là bằng mà đổi ra trắc gọi là khổ độc (nghĩa là khó đọc). Trong 1 câu thơ, chữ nào đáng đặt tiếng bằng mà lại đặt tiếng trắc, hay đáng đặt tiếng trắc mà lại đặt tiếng bằng thì gọi là thất luật.

4. Niêm: nghĩa là dán cho dính lại. Phép niêm trong thơ là quy tắc sắp xếp các câu thơ trong bài dính lại với nhau về âm điệu, hay nói một cách khác NIÊM là sự liên lạc về âm luật của 2 câu thơ với nhau. Trong bài Ðường Luật, hai câu 1 và 8, 2 và 3, 4 và 5, 6 và 7 niêm với nhau.

        Hai chữ thứ hai cùng một thanh đượỳc sắp xếp như sau đây hay ngược lại:

 Chữ thứ 2 câu 1: trắc
Chữ thứ 2 câu 2: bằng
 Chữ thứ 2 câu 3: bằng
Chữ thứ 2 câu 4: trắc
Chữ thứ 2 câu 5: trắc
Chữ thứ 2 câu 6: bằng
Chữ thứ 2 câu 7: bằng
 Chữ thứ 2 câu 8: trắc

 Nếu không theo đúng như thế gọi là thất niêm.

 III. VÍ DỤ: một bài thơ mẫu:

Qua Ðèo Ngang

 Bước tới Ðèo Ngang bóng xế tà
 Cỏ cây chen đá, lá chen hoa
 Lom khom dưới núi, tiều vài chú
 Lác đác bên sông, rợ mấy nhà
 Nhớ nước đau lòng con quốc quốc
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia
 Dừng chân đứng lại trời non nước
 Một cảnh tình riêng ta với ta.

 Bà Huyện Thanh Quan

        Ðây là bài thơ Ðường luật thất ngôn bát cú luật trắc (chữ TỚI) vần bằng (chữ TÀ). Niêm luật vần đối đúng phép. Bố cục chia làm 4 phần rõ rệt:

  Mạo: giới thiệu tổng quát cảnh Ðèo Ngang.
  Thực: tả cảnh Ðèo Ngang.
  Luận: nhớ nước thương nhà
  Kết: tình riêng tác giả. 

Về vần: Năm chữ: tà, hoa, nhà gia, ta: vần với nhau rất chỉnh.
Về đối: Hai cặp thực và hai cặp luận đối nhau chan chát: chữ đối chữờ, ý đối ý.
Về luật: Luật trắc (ở chữ TỚI). Cả 8 câu thơ đều đúng luật.
Về niêm: Rất chặt chẽ: chữ TỚI niêm với chữ CẢNH cùng là trắc, chữ CÂY niêm với chữ KHOM cùng là bằng, chữ ÐÁC niêm với chữ NƯỚC cùng là trắc, chữ NHÀ niêm với chữ CHÂN cùng là bằng. 

IV. KẾT LUẬN:

        Trên đây chỉ là những quy tắc căn bản, khi làm thơ có nhiều thi gia đôi lúc không răm rắp tuân theo trăm phần trăm mà bài thơ vẫn hay, vì tác giả đặt cái thần/ hồn của bài thơ cao hơn luật tắc. Ví dụ như bài “Thu Vịnh” của Nguyễn Khuyến gieo vần “ao” nhưng câu 2 lại gieo vần “iu”:

 Trời thu xanh ngắt mấy từng cao
Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu

         Và bài “Tổng Vịnh Truyện Kiều” của Chu Mạnh Trinh gieo vần “ương” nhưng câu 4, câu 8 lại gieo vần “ang” là “chàng” và “vàng”:

 Cuốn ngỏ rèm xuân trải mấy sương
Sắc tài chi lắm để làm gương
Công cha bao quản liều thân thiếp
 Sự nước xui nên phụ với chàng
 … Ðem bắt đồng cân đáng mấy vàng.

 Chữ “chàng” tuy gieo không chính vận, nhưng khi đọc lên… nó phát ra một âm thanh nghe não nề, trầm buồn, vang dội trong tâm hồn ta. 

        Bài “Thu Ðiếu” của Nguyễn Khuyến về bố cục, tác giả say mê “tả cảnh” suốt cả 8 câu; còn về vần thì trong 5 chữ : “veo, teo, vèo, teo, bèo”, đã có đến 2 chữ “teo” trùng nhau vốn là điều cấm kỵ trong 1 bài thơ luật, nhưng ở đây cụ Tam Nguyên Yên Ðỗ vẫn mạnh dạn sử dụng, vì Cụ thấy 2 từ ngữ ấy (tẻo teo, vắng teo) diễn đạt được tình cảm của Cụ. Ðiều này cho thấy Cụ là một nhà Nho phóng khoáng có bản lĩnh trong sáng tạo. Và bài Thu Ðiếu xưa nay vẫn được nhiều người công nhận là một trong những bài thơ tả cảnh mùa Thu hay nhất trong thơ ca Việt Nam.

   Cũng chính vì luật tắc quá gò bó khó khăn của nó mà giới Nho sĩ Việt Nam đã bị kiềm hãm trong suốt một nghìn năm, chẳng để lại cho hậu thế được bao nhiêu bài thơ hay so với thể thơ mới. Thời tiền chiến xảy ra một trận bút chiến vang dội cả ba miền giữa thơ mới và thơ cũ, cuối cùng thơ cũ đại bại nhường thi đàn lại cho thơ mới thống trị đến ngày nay. Ngay nhà thơ Quách Tấn chuyên làm Thất ngôn bát cú với tác phẩm “Mùa Cổ Ðiển”, về sau cũng từ giã nhảy qua thể Thất ngôn tứ tuyệt với thi tập “Ðọng Bóng Chiều”.

        Ngày nay, thể Thất Ngôn Bát Cú được nhiều người làm sống lại bằng những hình thức cách tân noi theo bước chân tiền phong của các nhà thơ tiền bối có bản lĩnh sáng tạo như Nguyễn Trãi, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương… mạnh dạn từ bỏ phong cách quý phái, đài các, cung đình: ưa xài điển tích, thích dùng Hán tự, vọng ngoại, vong bản, bắt chước, sáo mòn… để trở về với tình tự cội nguồn dân tộc Việt Nam đầy sinh động và sáng tạo của mình.

VINH HỒ
Sưu tầm

18/11/2008

 

  

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thể Thơ Đường Luật _ Vĩnh Hồ