Thơ TPK Đôi Cảnh

ĐÔI CẢNH

( Bạn TPK gan cùng mình. Vừa rồi dẫn vợ về thăm quê mà dám trốn vợ tìm đến thăm người tình xưa, rồi còn nói ” Ánh mắt chừng như muốn tỏ bày. . . )

1310langco1

Anh đến thăm em một buổi chiều
Em chờ trước cổng bóng liêu xiêu
Bên thềm nắng trãi màu phai úa
Mái tóc ngang vai bạc khá nhiều.

Dáng ngọc ngày xưa nhuộm tháng ngày
Thời gian bào mõng chẳng nương tay
Tách trà rung nhẹ mời anh uống
Ánh mát chừng như những tỏ bày.

Thuở ấy tơ vương mộng lỡ làng
Bởi vì chiến cuộc phá tan hoang
Hay là duyên phận ngăn hai lối ?
Để đến hôm nay thấy ngỡ ngàng.

Em đã sang ngang tự thuở nào
Thuyền tình sóng dập đến lao đao
Anh thì nghiêng ngã đời đen bạc
Đôi cảnh phân ly luống nghẹn ngào.

Bây giờ còn lại chút hương xưa
Giữ trọn trong tim dạ cũng vừa
Quên hết trái ngang đời tục lụy
Để lòng chẳng bận với hơn thua.

TPK

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thơ TPK Đôi Cảnh

Người bạn làng Tam Ích – Tác giả: Phạm Tín An Ninh

Người Bạn Làng Tam Ích –


Phm Tín An Ninh

1679212606743blob

(gởi Phạm văn Nếp)

Bạn về gõ cửa đêm thâu
Ta nghe âm vọng nỗi sầu xa xưa

Sau ba năm ngồi bên nhau ở trường Võ Tánh, chia tay, mỗi thằng đi mỗi ngã. Anh bạn của tôi thì vào trường luật, còn tôi thì vào trường…lính. Khi còn đi học, bạn chăm chỉ và giỏi hơn tôi nhiều. Hai đứa học trò nghèo, cùng ở quê lên tỉnh học, nên dễ dàng là bạn tâm giao. Con nhà nghèo nhưng tôi lại mê truyện François Sagan và thơ Xuân Diệu, biết yêu hơi sớm, nên thay vì theo bạn học thêm vài ba chữ, thì tôi lại đắm say ngụp lặn trong một cuộc tình kiểu Aimez-vous Brahms. Mà dường như tình yêu nó làm cho người ta đổi thay ghê gớm lắm.

Không biết tình yêu ngày ấy có làm tôi “…chết ở trong lòng một ít, và… lạc lối giữa u sầu mù mịt” như ông Xuân Diệu hay không, nhưng nó đã biến tôi thành một thằng lính. Để cho có vẻ lãng mạn một chút, tôi tự cho mình là một thằng lính đa tình.

Trước ngày chia tay, anh bạn dẫn tôi về thăm quê. Từ Nha trang chúng tôi di xe đò Khánh Hòa. một trong những chiếc xe Renault sơn màu nửa xanh nửa trắng, quen thuộc một thời với đám học trò từ Vạn Giã, Ninh Hòa vào Nha Trang đi học. Qua khỏi đèo Rọ Tượng một lúc, xuống xe, anh bạn đèo tôi trên xe đạp về làng. Đi dọc theo con đường đất, hai bên bát ngát những ruộng đồng, hun hút phía xa xa, nằm ẩn hiện sau ngôi đình với bao tàn cây cổ thụ, là làng Tam Ích. Cái làng quê đẹp như bức tranh vẽ và thần tiên như trong cổ tích. Ngay cả cái tên của bạn tôi cũng mộc mạc dễ thương như cánh đồng tôi vừa mới đi qua. Làng Tam Ích hiền hòa, êm đềm với tiếng gió đồng nội hòa cùng tíếng sóng rì rào tạo thành khúc nhạc huyền dịu của đất trời, và hun đúc cái hiền lành thánh thiện trong tâm hồn người bạn thời niên thiếu của tôi… Vậy mà chiến tranh cũng đã một thời cướp đi cái yên bình đầm ấm của ngôi làng. Ăn cơm chiều sớm, hai đứa chúng tôi chào những người thân, rồi đèo nhau ra phố Ninh Hòa ngủ qua đêm. Nếu chiến tranh ngày đó đã cướp mất của tôi bao nhiêu điều tốt đẹp, thì trong đó có cả cái lần tôi không được ở lại làng Tam Ích một đêm để cùng anh bạn tôi kéo giành bắt cá, đi câu, và ngồi ngắm ánh trăng lung linh trên đầm Nha Phu trong một vùng biển trời tĩnh mịch.

Ra khỏi quân trường tôi về Nha Trang tìm thăm bạn tôi một lần. Hai thằng rủ nhau ra tiệm sách Vĩnh An Thành, bên cạnh chợ Đầm, vờ mua sách để ngắm dung nhan cô chủ mà anh bạn của tôi đã từng say đắm một thời. Rồi kể từ đó biền biệt xa nhau. Chiến trường ngày càng ác liệt, những thằng lính đánh giặc như tôi chỉ biết có súng đạn và mục tiêu trước mặt. Phố phường, bạn cũ trường xưa, là một quá khứ thật dễ thương, nhưng cũng đành phải mờ nhạt phía sau lưng.

Mười năm sau, khi cùng đơn vị sống chết từng phút từng giờ với chiến trường Kontum trong “mùa hè đỏ lửa”, bất ngờ tôi gặp lại người bạn làng Tam Ích ngày xưa. Anh sinh viên trường luật ngày nào bây giờ chỉ huy một đơn vị CTCT, vừa từ Ban Mê Thuột lên hỗ trợ tinh thần cho đơn vị tôi. Bộ “chinh y” chưa làm cho chàng ta thay đổi. Vẫn nét mặt thư sinh cùng nụ cười hiền hậu ngày xưa. Hai thằng ôm nhau trong lúc đạn pháo trên các chiến xa T-54 thi nhau bắn vào căn cứ. Nửa khuya hôm ấy đơn vị tôi nhận lệnh di chuyển bất ngờ. Vậy là tâm tình chưa cạn thì hai thằng đã phải lặng lẽ chia tay, chưa kịp bắt chước nhà thơ Nguyễn Bắc Sơn nắm tay hò hẹn:

“Mai ta đánh trận may còn sống
Về ghé Pleiku* phá phách chơi..
Chia sớt nỗi sầu cùng gái điếm
Đốt tiền mua vội một ngày vui “

Chiến tranh đã làm bạn bè tan tác, nhưng đến khi kết thúc lại còn tan tác bi thảm hơn. Sau tháng 4/75, cái cổng trại “cải tạo” của nhà nước đã làm chia ly biết bao tình cảm con người. Bạn bè kẻ chết ở đầu non, người mỏi mòn góc bể. Người bạn làng Tam Ích bây giờ chỉ còn mờ mịt đâu đó trong ký ức hiu hắt của tôi.

Vậy mà Trời thương, hai thằng còn sống. Mang tấm thân tàn tạ về với gia đình. Tội nghiệp, nghe tin tôi về, anh bạn trọn tình, tìm đến nhà ông bà già vợ tôi ở Ninh Hòa thăm thằng bạn cũ. Lúc ấy “chính quyền Cách Mạng” không cho phép “tạm trú” với vợ con ở Ninh Hòa, tôi phải về sống với một bà cô ngoài quê nội, nên bạn tôi không gặp. (Ô hay, chẳng lẽ trên quê hương tôi đã từng có cái cảnh “gần trong gang tấc mà xa nghìn trùng ” như thế hay sao ?)

Đúng ba mươi năm sau, từ những phương trời xa lạ, bất ngờ đọc trang web Ninh Hòa, bạn nhắn tìm tôi. Kẻ bên bắc Mỹ, người tận bắc Âu xa tít mịt mù, vậy mà tôi có cảm giác hai thằng đang ngồi bên nhau như lúc còn ở trường Võ Tánh. Trên đầu giây điện thoại, hai đứa nhắc nhau bao kỷ niệm vui buồn về bạn cũ trường xưa, cùng chia sẻ mọi nỗi niềm oan khổ từ những ngày “vì sao mà ra nông nỗi..“.

Tội nghiệp người bạn một thời học hành chăm chỉ và khi làm lính thì vẫn hiền lành như một thư sinh, vậy mà hơn sáu năm tù đày trở về phải bỏ cái làng quê Tam Ích với biết bao dấu chân suốt một thời thơ ấu, dắt vợ con lang thang vào vùng kinh tế mới Đồng Bò. Chỉ hai năm sau, rừng thiêng nước độc đã cướp mất của bạn tôi người vợ hiền chung thủy cùng đứa con trai mà ngày cha vào tù nó chưa gọi được tiếng Ba.

Bạn chôn cất vợ con và chôn theo nỗi đau đớn tột cùng của đời mình, rồi trốn khỏi vùng kinh tế mới, đem hai đứa con còn lại gởi cho ông bà ngoại, đi làm bất cứ công việc gì để nuôi hai đứa con thơ. Con gà trống nuôi con trong túng quẫn, mà mỗi ngày vẫn nhìn con mình như nhìn về phía chân trời để có thêm nghị lực đứng lên và đi tới.

Cám ơn Trời Đất đã mở ra một lối thoát cho những người cuối đường bất hạnh. Mang hai đứa con đến Mỹ khi chúng vừa mới lớn, bạn tôi, con gà trống bây giờ lại nuôi con trên xứ lạ quê người. Bằng tấm lòng độ lượng của người cha, cuối cùng hai đứa con thơ cũng đến được chân trời. Ngày hai đứa con thực sự trưởng thành, như những con chim bắt đầu tự bay lên bằng chính đôi cánh vững chải của mình, người bạn của tôi tiễn cô con gái lớn theo chồng rồi trở về sống một mình với nỗi hiu quạnh của tuổi sáu mươi.

Hai năm trước đó, nhờ một nhịp cầu tao ngộ, bạn tôi gặp một cô “con gái” Long Khánh. “Hai người sống giữa cô đơn, hinh như nàng có nỗi buồn giống…tôi “ nên trở thành đôi bạn tâm giao. Nhưng chờ lo cho con cái lớn khôn và có cuộc sống riêng, mới đây hai người mới về chung một mái nhà, cùng san sẻ nỗi niềm và cho nhau một chút hơi ấm ở chặng tuổi cuối đời.

Gặp nhau trên điện thoại viễn liên, tôi nghe được một giọng nói phúc hậu hiền lành. Chị cho tôi biết anh bạn tôi có thú làm thơ, đọc sách, còn chị thì thích trồng và chăm sóc mấy cành hoa. Tôi đùa: ” thì chị cũng đang mỗi ngày chăm sóc một cành hoa Tam Ích đẹp đẽ đó thôi. Tôi hy vọng qua những ngày thiếu nắng thiếu nước, bây giờ cây hoa ấy được trồng trên vùng đất màu mỡ hiền hòa Long Khánh, chắc nó sẽ còn cho chị và cho đời nhiều bông hoa lắm đó “. Chị cười như cùng đồng cảm với những điều tôi vừa mới nói.

Tôi không biết nhiều về Long Khánh, ngoại trừ một lần duy nhất tôi ghé lại đây. Đó là cái ngày tôi ra khỏi trại tù Z 30 C. Sáu thằng tù vừa được thả, tiều tụy xanh xao, trong túi chỉ có vài đồng bạc, đứng giữa rừng buổi trưa nắng cháy, đón xe quá giang về Sài Gòn, nơi có gia đình của ba trong sáu đứa. Anh tài xế xe lam còn nặng tình với những thằng lính cũ, không đón khách mà dành cả chiếc xe chở bọn tôi về bến xe Long Khánh và hứa sẽ tìm xe quen gởi chúng tôi về tận Sài gòn. Thời buổi ấy, muốn mua được cái vé xe đò có khi phải nằm ở bến chờ đợi mấy hôm, huống hồ gì chuyện quá giang. Đến bến xe Long Khánh, không còn chiếc xe nào, anh tài xế xe lam tốt bụng mời chúng tôi vào quán ăn, đãi một chầu phở. Trong quán cũng có mấy người đàn bà, hình như buôn bán gần đâu đó. Biết chúng tôi là tù cải tạo mới thả, họ bàn với chủ quán, thay vì mang phở ra, dọn cho sáu thằng chúng tôi một bữa cơm thịnh soạn. Chúng tôi từ chối, nhưng các bà nhất định không cho, bảo chúng tôi đừng phụ lòng của người Long Khánh. Khi xe đến, các bà gặp tài xế, trả tiền xe trước cho chúng tôi. Đã vậy, khi về đến Sài Gòn, anh tài xế còn chuyển lại cho chúng tôi một gói tiền của các bà gởi biếu. Chúng tôi cầm tiền mà muốn rơi nước mắt. Trong cái cảnh bi thương giữa một thời nhá nhem tình nghĩa, vẫn còn có biết bao tấm lòng như người Long Khánh.

Bây giờ bất ngờ gặp chị, nghe lại giọng nói hiền từ của một người Long Khánh, tôi bất giác nhớ lại chuyện xưa, và càng trân trọng chị. Chị đã mở rộng tấm lòng, đón nhận một người bạn đời trên tuổi sáu mươi, mà những vết thương trong tâm hồn vẫn chưa lành được. Xin cám ơn Long Khánh, đã sản sinh cho đời những người con gái giàu tình nặng nghĩa. Tôi mừng cho người bạn thật dễ thương, hiền hậu của tôi, tìm được vòng tay, an ủi, vỗ về, sau những đớn đau mất mát tưởng chừng chẳng còn gì lớn lao hơn

Ngồi nghe bạn kể về cuộc đời gió mưa của bạn, lòng tôi lắng xuống bâng khuâng. Tôi chợt nhớ một vài kỷ niệm thuở hai thằng còn đi học và cảm nhận có đôi điều dường như đã vận vào số phận của bạn, của tôi.

Ngay từ lúc còn là học sinh trung học, hai thằng đã nghèo mà lại còn mang cái bệnh “đa sầu đa cảm”. Tôi thì mồ côi mẹ từ lúc mới lên ba, cả một thời ấu thơ và lớn lên trong vòng tay tình nghĩa của cô, dì, ông bà nội ngoại, nên lòng sớm biết u sầu. Vậy mà tôi không mau nước mắt và biết làm thơ buồn như người bạn làng Tam Ích. Mới học đệ ngũ đệ tứ gì đó mà dám đứng ra thành lập một “thi văn đoàn” giữa đất Ninh Hòa. Cái xứ mà dường như bây giờ mỗi người là một nhà thơ.

(Tôi còn nhớ lúc tôi còn nhỏ, ba tôi thường bảo, những đứa trẻ sớm có tính đa sầu đa cảm thì sau này cuộc đời sẽ buồn ghê lắm. Ông kể cho tôi nghe chuyện nữ thi sĩ Tiết Đào bên Trung Quốc. Lúc còn rất nhỏ, nàng đã thích thơ phú. Cụ thân sinh là một nhà thơ nổi tiếng, nên bà thường theo cha để học làm thơ. Năm Tiết Đào mới lên mười, trong một hôm mưa bão, thân phụ nhìn ra ngoài trời thấy một cây ngô đồng bị gió mưa tơi tả, bảo Tiết Đào làm mấy câu thơ vịnh thử, nàng liền ứng khẩu:
Chi nghênh nam bắc điểu
Diệp tống vãng lai phong

Thân phụ nàng nghe xong thất sắc, vừa phục tài nhưng vừa lo lắng điều không may cho hậu vận của con mình. Sau này, khi một triều đại Trung Hoa thay đổi, gia đình bị tù đày khổ ải, nên Tiết Đào đã có thời phải đi làm kỹ nữ. Từ ấy trong văn chương mới có câu ” Gió lá cành chim”, “đón đưa ai gió lá chim cành”.

Chuyện ba tôi kể đã trên năm mươi năm, không biết tôi nhớ sai hay đúng, nhưng nó vẫn cứ nằm mãi trong lòng, để liên tưởng tới miền Nam nước tôi,  sau thang 4/1975 đã có biết bao nhiêu nàng Tiết Đào như thế !)

oo0oo

Năm đệ tam, trong giờ Việt văn của thầy Nguyễn Văn Châu, lúc cả lớp tranh luận về bài Tổng Vịnh Truyện Kiều, bạn và tôi đứng về phía Chu Mạnh Trinh hết lời bênh vực nàng Kiều:

“ Giả sử ngay khi trước Liêu Dương cách trở, duyên chàng Kim đừng dở việc ma chay, quan lại công bằng, án viên ngoại tỏ ngay tình oan uổng, thì đâu đến nỗi son phấn mấy năm lưu lạc, đem thân cho thiên hạ mua cười, mà chắc rằng biên thùy một cõi nghênh ngang ai xui được anh hùng cởi giáp…”

…”Ta cũng nòi tình thương người đồng điệu…..”

Năm đệ nhất, hai thằng lại cùng say mê những giờ văn học sử Pháp của Thầy Cung Giủ Nguyên, nên đã nắn nót viết vào tập và đọc đi đọc lại đến độ thuộc lòng mấy bài thơ lãng mạn của Lamartine, Chateaubriand, Jacques Prévert, Victor Hugo.

Cuối cùng thì cuộc đời hai thằng, dù là nam nhi, nhưng nào có khác gì thân phận trôi nổi của nàng Kiều:

Một phen thay đổi sơn hà …
Mảnh thân chiếc lá biết là về đâu
(Nguyễn Du)

hay của những chàng thủy thủ mịt mờ trong Oceano Nox:

Où sont-ils les marins sombrés dans les nuits noires ?….
O flots ! Que vous savez de lugubres histories !
(Victor Hugo)

Gặp lại tôi sau gần bốn mươi năm, trong những lời tâm tình, bạn cho tôi biết thêm một điều nuối tiếc:
“Tớ buồn quá, vì không tìm thấy cái làng Tam Ích nhỏ nhoi, nghèo mà quá đổi thân thương của mình trên tấm bản đồ Ninh-Hòa.. Cái làng mà ngày xưa bạn có lần về thăm với mình rồi vội vã ra đi ấy ! “

Tôi nghe lòng lắng xuống và thấy thương người bạn hiền thời thơ ấu rồi thương cả chính mình. Thế hệ chúng tôi sao bỗng dưng phải mất đi bao nhiêu điều quí giá, để cuối cùng lại trở thành “khúc ruột ngàn dặm” của quê hương?

Hình ảnh bạn tôi cùng cái Làng Tam Ích ngày xưa như đang nhạt nhòa trong nước mắt. Im lặng giây lát, tôi lấy lại bình tĩnh, rồi cười với bạn :
” Thì bạn hãy viết thật nhiều về cái làng của bạn đi, để bạn có cái cảm giác của một Từ Thức trở về nơi xưa chốn cũ, tìm lại dấu vết một thời cùng những “hang động tuổi thơ”. Còn với mình, cái “làng Tam Ích dù không trọn một ngày” ấy vẫn mãi mãi còn lại trong lòng như một kỷ niệm dễ thương.

Một ngày lập đông
phạm tín an ninh

* Trong nguyên tác của Nguyễn Bắc Sơn: “Về ghé Sông Mao phá phách chơi.”.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Người bạn làng Tam Ích – Tác giả: Phạm Tín An Ninh

Thơ Nguyễn Phiến – Thú Vui Người Già

THÚ VUI NGỪƠI GÌA

PN

Cái thú lâu nay của kẻ già
Tối thời vọng nguyệt sáng xem hoa
Bình minh buổi sớm nghe chim hót
Bóng xế chiều tà ngắm ráng pha
Kết bạn Thu Đông ĐÀO Sứ Nhật
Giao tình Xuân Hạ Cúc Mai TA
Bốn muà hương sắc nguồn tiêu khiển
Cây cảnh vườn nhà mãi thiết tha
Phiến Nguyễn

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thơ Nguyễn Phiến – Thú Vui Người Già

K1 PV Minh thăm K1 Nam Cali- Vỏ Thiệu tường trình.

K1 Phạm văn Minh
thăm đồng môn K1 Nam Cali.

DSC_5453

Kinh goi quy AC Khoa I Hoc Vien CSQG.

Luc 10:00 AM ngay 8/6/2023, Cac AC Khoa I o khu Little Saigon gom K1 Nhu-dinh-Toan cung Phu Nhan K1 Tran-Ngoc-Dung,

k1 Phan-Tan-Nguu, K1 Vo-Dang-Ngoc & Phu Nhan, K1 Nguyen-Huu-Thoi & Phu Nhan,K1 Tran-Viet-Tuong & phu nhan,

K1 Trang-Thien-Nhon & Phu nhan

Nguyen-Thi-Van-Hoa va K1 Vo-Thieu da tap hop tai quan Pho Lovers trong Khu thuong xa Tam-Da tp Westminster de don

chao K1 Pham-Van-Minh tu tp San Diego ve tham Little Saigon. Buoi tiec hom nay con co su hien dien cua NT Tran-Quan-An

va phu nhan, CH Pham-Van-Gia va phu nhan.

Buoi tiec han huyen tam su vui ve, coi mo.

Mot so hinh anh ghi lai duoc, xin kinh chuyen den Quy AC xem de biet mot so sinh hoat cua nhom Khoa 1 tai dia phuong.

Xin click vao hinh duoi de xem hinh.

Tran trong kinh chao.

K1 Vo-Thieu.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở K1 PV Minh thăm K1 Nam Cali- Vỏ Thiệu tường trình.

Ngậm ngùi_ ST từ FB Nhóm TQC Seattle

NGẬM NGÙI…

343417574_1406720696749794_8026302253296864829_n

Lúc phi cơ xoay qua một độ nghiêng, lấy hướng qua Bangkok, tôi nhìn xuống Sài Gòn lần chót.

Tự nhiên trong lòng tôi dâng lên một niềm ngậm ngùi thương tiếc tất cả những gì đang xảy ra dưới đất.

Tôi như người bại trận, hay nói cách khác, tôi xin được làm bạn với người bại trận, một người bạn đã không chia sẻ mà còn bắt buộc Việt Nam Cộng Hòa phải gánh chịu hết tất cả… trong những ngày sắp tới.

Việt Nam và tôi có rất nhiều kỷ niệm, có quá nhiều quan hệ mật thiết suốt đời không phai lạt.

Sống ở Việt Nam lâu năm, tôi cảm thấy thương xứ sở này.

Tội nghiệp cho họ, họ có thừa khả năng dựng nước, nhưng cái quyền làm chủ quê hương đã bị các cường quốc chuyền tay nhau định đoạt.

Tôi xin lỗi người Việt Nam. Tôi đã làm hết sức mình nhưng không cứu vãn được nền hòa bình cho dân tộc Việt.

Vĩnh biệt Sài Gòn, Sài Gòn vẫn hồn nhiên với những mạch sống dạt dào ơn nghĩa, một khi đã chọn bạn hữu thâm giao.

Năm 1979, Đại sứ Võ văn Sung có thư mời tôi trở lại thăm Sài Gòn. Tôi từ chối với lý do không quen với cái tên Hồ chí Minh.

Sài Gòn đã mất, tôi trở lại đó thăm ai?

Ở đời có khéo lắm cũng chỉ gạt được người ta lần thứ hai, làm sao lừa dối được người ta lần thứ ba?

Người cộng sản giả bộ ngây thơ (ở một khía cạnh nào đó) nên tưởng nhân loại cũng đều ngây thơ như họ. Liên tục nói dối hàng bao nhiêu năm, tưởng như vậy quần chúng sẽ nhập tâm tin là thật.

Họ lầm.

Nói láo để tuyên truyền chỉ có lợi trong chốc lát, nhưng về lâu về dài thì chân lý của loài người sẽ đè bẹp họ.

Ngày xưa Liên Xô đã xiết chặt sai khiến họ, dùng Việt Nam làm phương tiện đóng góp cho Nga. Họ có muốn thoát ly, có muốn nhờ Tây Phương tháo gở cho họ cũng không được nữa, vì đã từng phạm lỗi lớn là đã lường gạt Tây Phương…

Sau hết, chế độ Việt Nam Cộng Hòa thua, nhưng thật ra người Việt Nam chưa thua cộng sản. Trận chiến chưa chấm dứt vào ngày 30 tháng 4 năm 1975..

Mỗi năm, vợ chồng chúng tôi đều đi xuống Lourdes để kính lễ Đức Mẹ Lộ Đức. Luôn luôn tôi nhắc nhở nhà tôi. Chúng tôi cùng cầu nguyện cho người Việt Nam đạt được nền hòa bình theo sở nguyện của họ.

Tôi tin rằng Đức Chúa Trời và Đức Mẹ không bỏ rơi dân tộc Việt Nam.

Jean-Marie MÉRILLON
Cựu Đại Sứ Pháp tại Việt Nam

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Ngậm ngùi_ ST từ FB Nhóm TQC Seattle

Video Memorial Day 2023 by Vinh Nguyen

This video honors and appreciates the American soldiers who died for world peace and generations to come

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Video Memorial Day 2023 by Vinh Nguyen

Bài phỏng vấn với một cựu Trung đội trưởng Nghĩa Quân – Cao bá Tuấn

Nói chuyện với một cựu
Trung đội Trưởng Nghĩa Quân

(Cao bá Tuấn)

 

– Rất vui được nói chuyện với chú. Chú có thể cho biết tên tuổi, cấp bậc, đơn vị…

– À, tôi tên Nguyễn Văn Ba, Trung Đội trưởng Nghĩa Quân, sáu mươi sáu tuổi.

– Ngày 30/4/75 chú còn ở trong quân đội?

– Tới ngày 6/5/75…

– Nghĩa là chú vẫn cầm súng sau 30/4/75?

– Tụi tôi vẫn chiến đấu mặc dù đã biết có lệnh đầu hàng.

– Chú nghĩ gì về cuộc chiến tranh Việt Nam?

– Rất đơn giản: bên mình Cộng Hòa phải tự vệ vì bị bên kia là Việt cộng tấn công. Hễ buông súng là chết….

– Chú có thể giải thích rõ hơn một chút.

– Tụi nó đánh mình, phá hoại nhà cửa đất nước mình, bổn phận mình là phải chống trả để tự vệ. Cũng giống như bị cướp vào nhà, mình không muốn vợ con bị hại thì mình phải chống lại.

– Nhiều người cho rằng chiến tranh Việt Nam là chiến tranh ý thức hệ, chú nghĩ sao?

– Ý thức hệ cái con mẹ gì. Lính Việt Nam Cộng Hòa chiến đấu để tự vệ, chiến tranh ý thức hệ là sản phẩm của mấy cha mấy mẹ trí thức chồn lùi, sa lông. Mấy cha mấy mẹ muốn chứng tỏ mình “học giỏi, thông minh hơn người khác” nên chế ra vụ ý thức hệ để hù con nít…

– Vậy đánh nhau giữa Bắc Việt và Nam Việt không phải do ý thức hệ?

– Để tôi cho em một thí dụ dễ hiểu: nếu Cộng sản miền Bắc (CSMB) không xúi dục đám “Giải phóng miền Nam” (GPMN) và không đưa lính vào phá miền Nam liệu chiến tranh có xảy ra hay không? Nếu tụi nó cứ ở yên ngoài đó mà xây dựng “chủ nghĩa Cộng Sản,” dân miền Nam có đi lính không? Trả lời được câu này em sẽ thấy chẳng ý thức hệ con mẹ gì hết!

– Có người lại cho rằng chiến tranh Việt Nam là nội chiến, chú đồng ý không?

– Theo suy nghĩ của tôi nội chiến là người cùng một nước đánh nhau vì tranh dành hay bất đồng gì đó. “Việt Nam Cộng Hòa” và “Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa” là hai nước độc lập không phải anh em trong nhà.

– Nói về anh em trong nhà lại có người cho rằng miền Nam và miền Bắc đánh nhau theo kiểu huynh đệ tương tàn. Chú nhận xét thế nào?

– Đó là ý nghĩ của đám trốn lính. Tụi nó là thứ hèn nhát sợ chết nên phải chế ra vụ “huynh đệ tương tàn” để từ chối đi lính. Tụi nó nại cớ “không muốn bắn vào anh em.”

– Một người viết cho rằng Việt Nam Cộng Hòa điên cuồng chống Cộng. Tác giả này còn đưa ra hình ảnh của hai nhân vật mà tác giả gọi là đại diện của hai quân đội. Một anh tên Lưu Quang Vũ lính miền Bắc, và Nguyễn Bắc Sơn của VNCH. Tôi xin phép đọc thơ của cả hai cho chú nghe (đọc thơ)…

– ĐM thằng nào viết ngu vậy?

– Chú có vẻ tức giận… xin cho biết lý do…

– Việt Nam Cộng Hòa mà điên cuồng chống Cộng thì đâu có chính sách Chiêu hồi, đâu có bắt tù binh cả trăm ngàn nuôi ăn cho mập rồi trao trả? Thằng cha này chắc chưa bao giờ cầm súng! Cũng chưa bao giờ biết rõ về Việt cộng. Chú em về biểu chả đọc bài của Trần Đức Thạch, cựu lính trinh sát Việt cộng về vụ thảm sát ở miền Đông. Hèn gì VNCH mất sớm chỉ vì còn có nhiều người quá khờ khạo và ngu xuẩn. Cha tác giả này chắc không biết vụ tết Mậu Thân, Đại Lộ Kinh Hoàng… Tui nói cho chú biết Việt cộng được “chính huấn” là đằng trước mũi súng của tụi nó kể cả con gà con chó đều là kẻ thù. Cho nên chúng giết dân vô tội không gớm tay. Được bao nhiêu người trong lính Việt cộng giống như ông Lưu Quang Vũ nào đó? Còn cha Nguyễn Bắc Sơn làm thơ để giải sầu chứ đâu có Sĩ quan nào đem bi đông rượu đi hành quân. Lính khát nước cần nước chứ đâu cần rượu, hơn nữa giữa trận tiền mà say rượu thì chỉ huy sao được? Mạng sống của lính nằm trong tay mình, đâu có giỡn được?

– Xin phép hỏi chú câu khác: chú có thể kể lại diễn biến những ngày cuối cùng tại sao chú vẫn còn cầm súng cho tới sau 30/4?

– Tôi là Trung đội Trưởng Nghĩa Quân. Nhiệm vụ của tôi là đóng đồn ở địa phương… Có mười tám anh em dưới quyền tôi. Ngày tan hàng tôi biết tụi du kích sẽ không tha mạng nếu bị bắt sống, do đó tôi ra lệnh anh em giải tán về nhà. Còn tôi thì xách cây M16 vô rừng. Tôi tính thí mạng cùi, nếu bị phát giác trước sau gì cũng chết vậy nên chọn cái chết cho đáng. Trong số mười tám anh em có sáu thằng tình nguyện theo tôi…

– Rồi sau đó thì sao?

– Khi thấy êm êm tôi nói tụi nhỏ giải tán, trốn đi xứ khác đừng trở về nhà…

– Vậy là chú không trở về nhà? Chú có ân oán gì với du kích địa phương không?

– Thì chiến tranh mà, tránh sao được…

– Vậy có lần nào chú bắn tù binh khi bắt sống không?

– Để tôi kể cho em nghe vụ này: Một lần lính đi phục tóm được du kích dẫn về trình diện tôi. Thằng du kích cỡ khoảng mười bốn mươi lăm tuổi, nhìn đã thấy ngờ ngợ. Tới chừng hỏi ra mới biết là con trai của thằng Ba Cội…

– Ba Cội là ai vậy?

– Bạn cùng quê, lớn lên nó theo Việt cộng… Nó là Đội Trưởng du kích, tụi tôi thỉnh thoảng cũng chạm nhau.

– Rồi chú xử con Ba Cội ra sao?

– Xử gì, con nít mà…. tôi đá đít, bạt tai nó mấy cái rồi đuổi về. Tôi biểu nó: Nói với tía mày có ngu thì ngu một mình đừng xúi dại con mình đi theo… Vụ này Ban Hai Chi Khu làm hồ sơ chuyển tôi lên Quận. Cũng may ông Quận biết tánh khí tôi nên vỗ vai cười rồi cho tôi về. Ổng biếu tôi chai rượu nói: Tôi biết anh mà anh Ba….

– Sau này chú gặp lại Ba Cội không?

– Không, Ba Cội chết rồi. Bị Thám Sát Tỉnh dứt…

– Còn con Ba Cội?

– Nghe nói nó qua Công An bây giờ làm lớn lắm. Thời gian tôi trốn, nó có ghé nhà vợ tôi hỏi thăm. Có cho mấy chục kí gạo. Nghe nói nó có cám ơn tôi ….

– Rồi chú ra trình diện hay bị bắt?

– Bị bắt. Trốn hoài mệt quá, cũng mấy năm sau nhớ vợ con mò về thăm…

– Chú bị bao lâu?

– Sáu năm tám tháng mười bốn ngày!

– Vậy sao chú không xin đi HO?

– HO gì tôi, mình đâu phải sĩ quan, mà chữ Anh chữ U mình đâu có biết gì…

– Sau khi trở về nhà chú có bị khó dễ gì không?

– Nói thiệt chú nghe, Việt cộng nó ghét lính Tổng Trừ Bị (ND, TQLC, BDQ…) một, nó ghét tụi tôi mười. Lính đánh giặc xong rồi rút còn tụi tôi, đây là tài sản vợ con xóm giềng, địa phương mình nên tụi tôi sống chết cũng cố thủ, tụi nó đánh hoài mà không chiếm được. Nó đì tôi sói trán, nhưng mình thua rồi thì cứ làm câm làm điếc mà sống.

– Chú có cơ hội nào gặp lại mấy anh em dưới quyền?

– Có, hai thằng em giờ nghèo lắm, còn ba thằng đi vượt biên. Tội nghiệp, huynh đệ chi binh thỉnh thoảng hùn tiền gởi về cho mấy đứa nghèo.

– Họ có giúp chú không?

– Có, mà tôi không nhận. Vợ con buôn bán cũng sống được, để dành cho mấy đứa em khổ hơn mình.

– Xin phép chú được hỏi một câu về chính trị: Có vài người đang hô hào hòa hợp hòa giải với Việt cộng chú nghĩ sao?

– Tôi cảm ơn chú em đã tôn trọng mà hỏi tôi, cỡ Trung Đội trưởng Nghĩa Quân học hành bao nhiêu. Nhưng như tôi đã nói hòa hợp hòa giải là anh em trong nhà có chuyện xích mích mới ngồi xuống mà nói chuyện. Còn đàng nầy nước mình là “Việt Nam Cộng Hòa” bị nước khác là “Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa” đánh chiếm thì làm sao mà có chuyện đó. Tôi hỏi chú em: Tàu lục địa đánh chiếm Tây Tạng, Duy Ngô Nhĩ… liệu dân mấy nước đó có chịu hòa hợp hòa giải với Tàu không?

– Bây giờ nói chơi cho vui một chút, chú biết Nguyễn Tấn Dũng chớ?

– Biết…

– Thí dụ nếu ngày xưa chú đi kích bắt được Nguyễn Tấn Dũng thì chú làm sao, cha này nghe nói trước đây cũng là du kích mà.

– Nguyễn Tấn Dũng cũng cỡ tuổi tôi. Hồi đó có bắt được chắc cũng bớp tai đá đít vài cái rồi gởi về cho Ban Hai.

– Nếu chú biết trước Nguyễn Tấn Dũng sẽ là Thù Tướng sau nầy chú tính sao?

– Làm sao biết được? Nhưng như chú em nói nếu có thiên lý nhãn thấy được vị lai tôi sẽ tính cách khác!

– Cách nào chú có thể cho biết…

– Bị mật quân sự mà chú em, làm sao cho biết được… thì cũng cỡ như người nhái Mỹ với Osama Bin Laden vậy thôi (cười….) – Vậy chớ bây giờ hỏi vui chú em điều này: đố chú em biết đám mới về hưu kỳ rồi (NTD, TTS, NSH…) đang làm gì? Bí hả? Tụi nó đang viết kiến nghị! Thằng Cộng sản nào về hưu cũng giỏi viết kiến nghị hết. (cười…)

– Cụng ly cái chú Ba… Tôi thấy chú lớn tuổi rồi và cũng đã cống hiến phần vụ của mình cho Tổ Quốc. Giả sử bây giờ nếu đất nước Việt Nam Cộng Hòa cần, chú dám cầm súng trở lại không?

– Già rồi, giờ chỉ nghỉ ngơi vui với con cháu. Nhưng nếu phải chiến đấu để lấy lại đất nước Việt Nam Cộng Hòa từ bất cứ ai chết tôi cũng chịu chú à. Cầm súng không nỗi thì cầm dao, bất cứ cái gì…

– Chiến tranh qua rồi giờ nghĩ lại chú có thấy căm thù lính bên kia không?

– Không, lính chỉ biết theo lệnh. Căm thù là căm thù đám lãnh đạo. Đám này đã lừa gạt lính của nó vào trong nầy chết cả triệu. Cả triệu gia đình ngoài kia mất người thân đến nỗi không có cái xác mà chôn. Hồi đó thiếu gì dịp bắn chết tù binh rồi quẳng xuống sông phi tang mà mình làm không được, ngoài chiến trường bắn nhau thì OK nhưng bắt tù binh rồi tôi chuyển qua cho Ban Hai thẩm vấn coi như mình xong nhiệm vụ… Cũng là con người với nhau cũng có gia đình, cha mẹ, vợ con sung sướng gì bắn người đã ngã ngựa?

– Theo chú những người Cộng sản có nghĩ như vậy không?

– Tôi đã nói rồi, tụi nó được chính huấn coi mỗi thứ trước đầu súng là kẻ thù cần phải giết hết. Thương binh của nó nó còn giết phi tang huống hồ gì lính mình. Bởi vậy mình thua nó vì phía bên mình còn nhân đạo quá!

– Dạo này có nhiều cuộc biểu tình về môi trường mà lượng người tham gia không đông. Có vẻ như dân Saigon rất thờ ơ cho chính tương lai của đất nước và của gia đình họ. Chú có ý nghĩ gì không?

– Giỡn hoài chú em mày! Để tôi nói cho chú em mày rõ: dân Saigon thứ thiệt thì hoặc là ở nước ngoài hoặc là chết tù chết biển hết. Còn dân “Saigon” bây giờ đa số toàn tụi Ba Ke 75 (?) Tụi nầy thừa hưởng biết bao quyền lợi từ “bác” và “đảng” đâu có ngu gì chống! Cỡ phân nữa Saigon bây giờ là dân nguyên thủy Việt Nam Cộng Hòa thì Việt cộng hết nước sống!

– Chắc chú biết chuyến thăm của Obama. Ổng còn ghé ăn bún chả rồi thăm chùa Tàu gì đó ở Saigon…

– Biết chớ, có điều Tổng Thống của chú em đi lộn chỗ! Đáng lẽ ổng phải ghé mấy cái quán “phở chửi” “cháo mắng” để biết “văn hóa của Xã Hội Chủ Nghĩa.” Thay vì viếng chùa Tàu ổng nên đi thăm Nguyễn Trường Tô và Sầm Đức Xương (mấy thằng cô hồn các đãng môi giới và mua trinh nữ sinh) để học thêm về “đỉnh cao trí tuệ của loài người…”

– Chú Ba vui quá! cảm ơn chú về cuộc nói chuyện này. Chú có muốn nhắn gì với anh em không?

– Ai?

– Những người lính cùng chung chiến tuyến ngày xưa.

– À, vậy thì tôi xin có chút lời: Thưa anh em tôi Nguyễn Văn Ba, Trung Đội trưởng Nghĩa Quân xin có lời chào hỏi anh em mình: Tôi chỉ muốn nói là tôi hãnh diện từng chiến đấu dưới cờ của Việt Nam Cộng Hòa như anh em. Tuổi trai trẻ của tụi mình đã không phí phạm. Tôi cũng có nhiều dịp gặp anh em thương binh thỉnh thoảng ngồi uống cà phê, hút điếu thuốc. Anh em coi vậy chớ hãnh diện lắm vì đã cống hiến phần thân thể mình cho đất nước. Khổ thì có khổ, nhưng tới ngày chết tụi tôi còn ở trên quê hương không bao giờ mất đi niềm hãnh diện từng là người Lính Việt Nam Cộng Hòa. Đi dân nhớ, ở dân thương. Phải không các chiến hữu?

 

Cao Bá Tuấn

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Bài phỏng vấn với một cựu Trung đội trưởng Nghĩa Quân – Cao bá Tuấn

Đôi Bàn Tay Yêu Thương _ Như Nhiên TTT

HAPPY MOTHER,S DAY TO ALL !

345638879_1286297628654154_6335541343210534064_n

Đôi Bàn Tay Yêu Thương

Bất chợt chiều nay nhìn lại
Bàn tay mẹ hái hoa hường
Đôi tay một thời nhẫn nại
Bây chừ.., ngón đã trơ xương.

Từ lâu đôi bàn tay ấy
Con quên cầm lấy một lần
Ôi bàn tay…thương biết mấy
Dịu dàng, độ lượng, từ tâm .

Bàn tay thuở ngồi khâu vá
Đèn khuya bóng mẹ âm thầm
Nâng niu, vỗ về thơ ấu
” Canh chầy thức đủ vừa năm ..”

Bàn tay dắt dìu tuổi nhỏ
Ngày thơ chẳng chịu đến trường
Buổi mai đưa vào lớp học
Dặn dò: ” con gắng, Mẹ thương!”

Mo cau đựng đầy hạt dẻo
Thương con Mẹ bới ra đồng
Rồi tay cấy từng luống mạ
Thu nào lúa đã đầy bông.

Một thời tay là sen búp
Từng đêm chắp lại nguyện cầu
Thương Cha miệt mài chinh chiến
không về . Mẹ sống lo âu …

Bàn tay dạn dầy sương nắng
Đời con một sớm xuân hồng
Vì con tận tình lo lắng
Nên người, ấy Mẹ chờ mong

Thương sao đôi bàn tay Mẹ !
Nghìn năm vẫn cứ mặn mà
Ngàn lời thơ con muốn kể
Đâu bằng Mẹ tháng ngày qua …

Xin hôn đôi bàn tay Mẹ
Bàn tay đẹp đẽ lạ thường
Sức sống vươn lên mầu nhiệm
Đong đầy tất cả yêu thương.

Như Nhiên – TTT
K Chúc cả nhà một ngày Mother,s Day HẠNH PHÚC.

___(())___

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Đôi Bàn Tay Yêu Thương _ Như Nhiên TTT

Project trợ giúp các con của cố K1 Nguyễn Viết Lộc

Trợ giúp các con của Cố K1
Nguyễn Viết Lộc

Thưa Quý Bạn,

Như đã báo cáo Quý Bạn về Project Trợ Giúp 3 người con của Cố K1 Nguyễn Viết Lộc đang gặp nhiều khó khăn sau khi cả Cha và Mẹ của họ đều đã qua đời, chúng tôi đã nhận được sự giúp đỡ của nhiều bạn đồng môn Mạnh Thường Quân tổng cộng số tiền thu được là $1750 USD (có thêm $50 của anh Huỳnh Vĩnh Hưng (K1) gởi đến vào giờ chót). Hôm nay, ngày 16/5/2023, tôi đã chuyển số tiền này về cho 3 người con của Cố K1 Nguyễn Viết Lộc, mỗi người $560 USD. Đáng lẽ tiền lệ phí chuyển tiền là 3% nhưng được họ chiếu cố bớt 50% vì mình được coi như một hội đoàn; nhờ vậy số tiền quyên góp còn dư $44 USD xin được hoàn trả lại cho Quỹ K1.

Xin kính báo và cám ơn những tấm lòng vàng của Quý Bạn.

TM. Gia Đình K1-HVCSQG:

Nhữ Đình Toán

DS các MTQ đã đóng góp:

1- Quỹ K1-HVCSQG:        $300
2- K1-HVCSQG Bắc CA     $300
3- K1 Võ Đăng Ngọc         $100
4- K9 Nguyễn Linh           $100
5- K1 Bửu Hồng               $50
6- K1 Phạm Bá Lộc           $100
7- K6 Ng. Doãn Hưng       $50
8- Tồng Hội CSQG.           $200
9- K1 Tôn Thất Biên         $100
10- K1 Phạm Bá Nhạc      $200
11- K1 Ng. Ngọc Kính       $50
12- K3 Ng. Ngọc Tiến       $50
13- K3 Phin Nguyễn         $100
14- K1 Huỳnh V. Hưng      $50

            Cộng:               $1750

   Chi: $560 x 3 =         $1680
   Lệ phí dịch vụ :         $26

   Số dư :                       $44 (xin hoàn lại Quỹ K1)

unnamed (2)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Project trợ giúp các con của cố K1 Nguyễn Viết Lộc

Happy Mother’s Day K1

Mến chúc tất cả các phu nhân và các Nữ K1 một ngày Mother’s Day đong đầy hạnh phúc và nhiều niềm vui bên con cháu và gia đình. Chúc các chị luôn luôn khỏe mạnh cùng đức lang quân đi suốt quảng đời còn lại.

Happy-Mothers-Day-2023-GIF-wj4u©777120323

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Happy Mother’s Day K1

Con Về Thăm Mẹ – Thơ TPK

CON VỀ THĂM MẸ

345595849_1060329041593962_4969689011611516382_n

Về thăm mẹ gặp những ngày lễ lạc
Mùa Phục Sinh ngào ngạt khói trầm hương
Mẹ sớm chiều lui tới viếng thánh đường
Dâng tất cả tình thương lên cho Chúa .

Mẹ một đời lòng nhiệt thành chan chứa
Thương cháu con yêu Thiên Chúa không nguôi
Gặp khó khăn miệng vẫn mỉm môi cười
Xin chấp nhận vâng lời theo ý Chúa .

Mẹ ơi mẹ , sao tuyệt vời như rứa
Chín tư rồi vẫn từng bữa trông con
Vẫn cầu cho con cháu được vuông tròn
Thân chẳng kể mõi mòn theo năm tháng .

Anh em con thật tình không xứng đáng
Với công lao cao cả của mẹ hiền
Suốt cả đời mẹ vất vả triền miên
Nuôi con cháu trở nên người hữu dụng .

Ba đi rồi mẹ một mình chịu đựng
Sống cô đơn tựa cửa đứng trông xa
Mắt đăm chiêu nhìn bóng nắng nhạt nhòa
Nhớ đàn con đang ngoài vòng tay mẹ .

Khi con về mẹ tươi cười vui vẻ
Rồi con đi mẹ quạnh quẻ u buồn
Quay lưng bước con mắt lệ trào tuôn
Thương mẹ gìa mãi vương sầu cô quạnh .

TPK
Mùa Lễ Mẹ 2023

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Con Về Thăm Mẹ – Thơ TPK

Happy Mother’s Day – Tạ ơn Mẹ- Thơ Vũ Đình Trường.

ta on mẹ

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Happy Mother’s Day – Tạ ơn Mẹ- Thơ Vũ Đình Trường.

Lời tiên tri của TT Ngô đình Diệm _ Võ Lâu ST

LỜI TIÊN TRI CỦA CỐ TỔNG THỐNG
NGÔ ĐÌNH DIỆM

344018732_1199683477396701_5030215714775501776_n

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Lời tiên tri của TT Ngô đình Diệm _ Võ Lâu ST

Viết cho ngày 30/4 – LHN

Viết cho ngày 30/4

Ngày 30 tháng 4 được coi là Ngày Quốc Hận của người dân miền Nam và của người Việt hải ngoại tị nạn cộng sản trên khắp thế giới .

Riêng tui , tui coi đó là Ngày Quốc Nhục vì chính vào ngày nầy năm 1975 CSVN đã tô chàm lên lịch sử Việt Nam một trang ô nhục : Dân tộc VN bị phân hóa vô phương hàn gắn . Tài nguyên bị đục khoét cạn kiệt . Đất nước suy đồi tê hại trên mọi mặt văn hóa , giáo dục , y tế , kinh tế , luật pháp…

Chính ngày 30/04/1975 đã biến Việt Nam thành một nhà tù lớn , cả dân tộc Việt Nam thành tù nhân của chế độ , toàn dân mất quyền tư hữu làm chủ ruộng đất do bao đời tổ tiên tạo dựng , đất nước Việt Nam thành tài sản riêng của nhóm đảng viên CSVN

Vậy mà mỗi năm vào ngày nầy CSVN cũng vẫn còn ăn mừng cái gọi là chiến thắng chớ chưa thấy ra đó chính là tội ác tài trời đối với tổ quốc . Người dân Viêt Nam bây giờ đa số – nhứt là các thế hệ trẻ sau nầy – lại thờ ơ không nhớ gì về những tội ác của CSVN đối với đất nước và dân tộc Việt Nam .

Nhưng chắc chắn lịch sử sẽ phán xét công minh khi chế độ CSVN đã qua . Và chắc chắn ngày 30/4/1975 sẽ được ghi trong lịch sử là Ngày Ô Nhục của dân tộc Việt Nam .
LHN

Ngày Quốc Nhục
Mỗi năm lũ khỉ vẫn tưng bừng
Ba chục tháng Tư tự hứng tung
Thống nhất muôn người chôn dưới biển
Tự do triệu kẻ chết trong rừng
Quang Vinh vai gánh ngàn công nợ
Ưu việt cổ đeo mấy lớp thừng
Đó chỉ hỡi ơi Ngày Quốc Nhục
Có chi hãnh diện để ăn mừng !!!
LHN

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Viết cho ngày 30/4 – LHN

Tưởng niệm tháng tư đen _ Thơ TPK

TƯỞNG NIỆM THÁNG TƯ ĐEN

tpk

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Tưởng niệm tháng tư đen _ Thơ TPK

Quốc hận 30/4 – Đoàn tàu ra bắc về Nam (K2 Huan N Du)


1588273971-ToLich1975

ĐOÀN TÀU RA BẮC VỀ NAM

Tháng tư buông súng bỏ cờ
Tan hàng rã ngũ quên lời thề xưa
Đổi đời dãi nắng dầm mưa
Rừng ôm mối hận đất thừa nổi đau

Tàu sông Hương đoạn trường dạo khúc
Hằng ngàn người chen chúc nhục vinh
Nén đau thương trong khoang tàu địa ngục
Hồn vật vờ ra biển sáng mờ sương

Hoàng liên sơn mây trời phủ núi
Vượt suối băng rừng đốn nứa chặt cây
Chén cơm sắn lát tàn thân xác
Một cỏi đi về nắm đất vùi thây

Xuôi về Tân lập miền đất tổ
Con cháu vua Hùng sống kiếp khổ đau
Cô phụ thăm chồng qua Ấm thượng
Bến đục bến trong cố nuốt lệ trào

Thanh hóa đón tù gió Lào nắng cháy
Biệt xứ buồn khu sãn xuất Thanh lâm
Rừng núi đêm nay gió gào thác đổ
Còn chút hơi tàn chống đở thiên tai

Còn đó mùa xuân nhớ đôi má thắm
Thoáng hương xưa đón phút giao thừa
Tiếng hát xuyên qua rừng núi thẳm
Phố nhỏ trông con mắt mẹ nhòa

Tiếng hát xuôi nam đàn lổi nhịp
Bước sang ngang chẳng hẹn ngày về
Còn đâu đôi lứa đường in bóng
Đoàn tàu hú còi đánh thức cơn mê
Huan N Du

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Quốc hận 30/4 – Đoàn tàu ra bắc về Nam (K2 Huan N Du)

Dân tộc lưu vong _ Lê phương Lan sưu tầm

Dân Tộc Lưu Vong

dantoc_luuvong

1.-Trong lịch sử nhân loại, có hai dân tộc chịu số phận bi thảm hơn các dân tộc khác. Rất không may, một trong hai lại là dân tộc Việt chúng ta. Một trong hai còn lại là Do Thái.

Cái “lỗi” của dân tộc Do Thái là sinh ra Chúa rồi hành hình Chúa trên thập giá. Họ đã bị kỳ thị, xua đuổi, bị truy bức giết hại và lưu vong khắp nơi. Năm 1947, cái dân tộc rã rời nát vụn đó đã cùng nhau gom góp từng đồng tiền, từng mảnh đất để gầy dựng lại quốc gia của mình. Định mệnh bi thảm của dân tộc đã khiến họ gắn kết với nhau thành một khối, nhờ đó quốc gia Israel đã phát triển không ngừng. Một mình họ đã đánh bại quân đội của liên minh các nước Ả rập để bảo vệ sự tồn vong của đất nước. Và giờ, họ đã có bom nguyên tử…

Khác với dân tộc Do Thái lưu vong hơn ngàn năm trước, dân Việt chỉ bắt đầu lưu vong đại trà từ sau 30 Tháng Tư, 1975. Dân tộc này không hành hình Chúa nhưng vẫn phải chịu một định mệnh bi thảm không kém. Cuộc chiến tranh giữa hai miền anh em với vũ khí bom đạn của ngoại bang kết thúc, đất nước được gom về một mối những tưởng sẽ bắt đầu một thời đại vàng son, nhưng không ngờ, thời đại đó biến thành một cuộc phân ly bi thảm.

Vượt qua cả dân tộc Do Thái, người Việt “vươn lên” dẫn đầu lịch sử lưu vong của nhân loại bằng cuộc di cư chính trị quy mô nhất về mặt số lượng từ trước đến nay. Hàng triệu người đã lao ra biển trên những chiếc tàu đánh cá các loại để thoát khỏi đất mẹ của mình, chấp nhận cả cái chết để… lưu vong. Một phần của dân tộc đã làm mồi cho cướp biển cho cá mập và bị nhốt trong những trại tị nạn nghẹt thở ở các nước Đông Nam Á đồng liêu.

Cuộc di cư khốc liệt của người Việt đã đưa họ đến khắp nơi trên thế giới, kể cả Châu Phi, điều mà trước 1975, cả hai miền Nam Bắc đều không hề có. Tâm thức lưu vong kể từ mốc thời gian đó, đã phục kích trong các tầng lớp dân Việt, đóng đinh trong đầu họ cho đến tận ngày nay, không ngơi nghỉ và không có cơ hội để chấm dứt…

2.- Sau 30 Tháng Tư, 1975, ở Phan Thiết quê tôi, người vượt biên bằng đường biển rất nhiều do thành phố này sống bằng kinh tế biển với rất nhiều tàu đánh cá. Người Phan Thiết không chỉ giúp “đồng bọn” quê mình vượt biển mà còn giúp cả dân Sài Gòn, với giá vài ba cây vàng/người, có khi chủ tàu chỉ thu đủ sở hụi để mua dầu, thực phẩm và đút lót cho bộ đội biên phòng. Có nguyên một làng chài hay cả xóm đạo vượt biên sạch.

Sau đó, khi đất nước đói meo, thì những người vượt biên bắt đầu góp phần gầy dựng quê nhà bằng… những thùng hàng gởi về từ nước ngoài. Dân quê tôi gọi đó là hàng thùng. Một người vượt biên thoát được qua nước ngoài thì cả gia đình được nhờ, cả gia đình cùng thoát thì dòng họ được nhờ. Dân sống bằng hàng thùng chả cần làm gì vẫn phong lưu vì nhận hàng thùng đều đặn gởi về. Gia đình nào sống bằng hàng thùng thì con trai rất dễ lấy vợ và con gái, dù xấu, cũng rất dễ lấy chồng. Tâm thế chờ đợi hàng Mỹ, hàng Tây đã ăn sâu từ đó vào ký ức của cộng đồng. Không chỉ chờ đợi hàng thùng và đô la từ nước ngoài, người thân trong nước của các Việt kiều thường xuyên sống trong tâm trạng chờ đợi được bảo lãnh. Gặp nhau là họ hỏi thăm nhau bằng một câu cửa miệng: “bao giờ đi?” Đi ở đây chính là lưu vong, là thoát khỏi nơi họ chôn nhao cắt rún!

3.- Năm 2017, tôi đi du lịch Mỹ để thăm thú bạn bè định cư ở đất nước này. Ngày tôi đi cũng là ngày một nhà báo đồng nghiệp rất thân với tôi tại Đài Phát Thanh TP.HCM xách va ly qua Mỹ để… lưu vong. Anh đã nghỉ hưu và được gia đình bảo lãnh. Rất nhiều nhà báo mà tôi quen biết khi về hưu đã sang Mỹ định cư, coi việc lưu vong là điều hết sức bình thường. Ai thắc mắc tuổi già còn sang Mỹ để làm gì, cứ hỏi họ đi rồi sẽ nhận được câu trả lời.

Tại Mỹ, tôi ghé San Jose thăm L.Hoàng, bạn học thời trung học của tôi ở Phan Thiết. Năm 1977, trong khi tôi đi bộ đội thì Hoàng vượt biên. Cậu qua Mỹ rồi tiếp tục học hành để lấy bằng kỹ sư, giờ cậu là trưởng một bộ phận trong một công ty có 5,000 căn hộ cho thuê. Cậu ở trong khu da trắng, với một ngôi nhà trị giá $800,000 và lái chiếc “Mẹc” 7 chỗ.

Mười bảy tuổi, Hoàng đã là nhà tổ chức vượt biên cho người khác và từng vô tù ngồi 6 tháng. Sau khi tổ chức nhiều chuyến tàu vượt biển thành công, cậu cùng 5 anh chị em của mình quyết định ra đi. Giờ họ cùng nhau sinh sống trên đất Mỹ. Hoàng bảo tôi khi gặp lại, rằng gia đình cậu lúc đó nghèo quá và thấy đất nước cũng nghèo quá nên vượt biên là con đường duy nhất mà cậu buộc phải lựa chọn. Cậu bảo,“tao đâu muốn sống lưu vong, nhưng không vượt biên làm sao có tương lai. Nước Mỹ lúc đó là miền đất hứa và họ đã cưu mang tao nên cuối cùng tao cũng quen với cuộc sống bên này.”

Đã có 3 thế hệ người Việt sống lưu vong trên đất Mỹ, thế hệ thứ nhất là những người bỏ chạy khỏi nước khi quân đội miền Bắc tràn vào Sài Gòn và những người vượt biển. Thế hệ thứ hai là các sĩ quan VNCH và gia đình họ qua đây theo diện HO cùng với những người được thế hệ thứ nhất bảo lãnh. Thế hệ thứ 3 là con em người Việt sang du học, tìm kiếm việc làm, định cư và bảo lãnh cha mẹ. Trong số cha mẹ này có rất nhiều cán bộ nhà nước, họ đầu tư tiền bạc cho con cái ăn học, mua nhà cửa, gởi tiền vào tài khoản ngân hàng và chờ đợi thời cơ để… lưu vong. Tiền họ có được, dĩ nhiên đến từ túi của nhân dân, vì lương tháng của Thủ tướng Việt Nam chưa tới 20 triệu đồng Việt Nam (khoảng $850) thì họ lấy gì để nuôi con du học?

4.- năm, người Việt trong nước bỏ tiền tỉ đô la để mua nhà ở Mỹ. Ai có khả năng này? Chỉ có cán bộ và doanh nhân. Ở một thành phố của quận Cam, có cả một” ngôi làng” của cán bộ nhà nước. Họ chuyên sống bằng hồn của Trương Ba nhưng da hàng thịt. Họ ở Việt Nam, làm việc trong bộ máy của chế độ nhưng tâm hồn thì để trong những ngôi nhà ở Mỹ. Ở đó có con cháu họ chờ sẵn. Giống như Võ Kim Cự Formosa vậy, nếu cần thiết lên đường xuất ngoại là đi thôi. Tiền đã gởi, nhà đã mua, con cháu đã chuẩn bị đón chào. Tôi biết Tổng biên tập một tờ báo nọ, vẫn đương chức ở Việt Nam nhưng đã có thẻ xanh ở Mỹ. Tổng biên tập phải là đảng viên, nhưng chuyện này dễ ẹt, một khi lòng người đã muốn… lưu vong thì không có gì là không thể. Có Tổng biên tập một tờ báo chửi Mỹ không còn nước non gì, thế mà cuối đời xách đít qua Mỹ để sống… lưu vong.

Các nhà báo đàn anh tôi, cùng lứa tuổi tôi hoặc nhỏ hơn ở Sài gòn, bằng cách này cách khác, đều gởi con du học Mỹ hoặc Úc. Đó là tương lai mới không chỉ cho con cái họ mà cho cả họ. Giờ họ là công dân Việt Nam nhưng mai mốt đây họ sẽ là công dân Mỹ Úc, nếu muốn. Cả đất nước đều như vậy. Nhiều công dân Việt hiện nay đã lên kế hoạch cho cuộc sống tương lai của mình không gắn với Việt Nam. Dân thường, cán bộ viên chức, nhà văn nhà báo, lãnh đạo cấp cao… Không từ một tầng lớp nào. Ai dám chắc rằng các lãnh đạo cao cấp ko chọn trước cho mình một chỗ để… lưu vong khi cần thiết. Cuộc đời, thời cuộc mà, đâu nói trước được điều gì. Người thân Mỹ chọn chỗ sẵn ở Mỹ, người thân Tàu chọn chỗ sẵn ở Tàu. Có biến là “dzọt” thôi. Vậy thì làm sao trách các công dân Việt thu nhập thấp tìm qua Đài Loan hay Nhật Bản để… lưu vong bất hợp pháp. Đã lưu vong thì bình đẳng, giống như sự bình đẳng của con người trong tuyên ngôn nhân quyền vậy, dù người giàu tiền và nghèo tiền thì chọn cách lưu vong khác nhau.

5.- Vậy tại sao người Việt lại khát khao… lưu vong như thế? Câu hỏi này quá dễ trả lời bằng câu thành ngữ Việt Nam “đất lành chim đậu.”

Khi đất mẹ không còn lành thì người dân Việt sẽ tìm cách ra đi như một tất yếu để tìm đến mảnh đất lành hơn. Không ai muốn tương lai gia đình con cái mình sống trong môi trường nhiễm độc, nền giáo dục – y tế thiếu chất lượng, sự bất nhất giữa nói và làm của những người điều hành xã hội, sự giả dối lừa lọc nhau giữa người và người, niềm tin cùn mòn vì mọi thứ đều có thể làm giả, từ học vấn giả, nhân cách giả, đến cả lịch sử cũng bị làm giả; những “thành phố đáng sống” thì kẹt xe và ngập nước quanh năm, sinh mạng con người không biết “đứt bóng” lúc nào bởi tai nạn giao thông; dân sinh thì khổ ải, dân chủ và dân quyền thì lắm vấn đề và người dân thì bị cấm đoán nói lên sự thật của đất nước mình… vân vân và vân vân. Đó là chưa kể nỗi sợ hãi bị mai phục và thôn tính đến từ anh bạn vàng ròng láng giềng khổng lồ phương Bắc…

6.- Chưa bao giờ tôi muốn sống lưu vong, nhưng tôi lại muốn con cái mình được đào tạo bởi nền giáo dục Mỹ, Úc và đó cũng là nơi sinh sống thật tuyệt cho chúng nếu chúng muốn… lưu vong. Tâm thức cá nhân được định hình từ tâm thức xã hội, do vậy ngay trong bản thân, tôi đã bị tâm thức lưu vong chế ngự, kể từ khi đứa con của tôi bắt đầu xách cặp tới trường để học… tiếng Anh.

Một quốc gia sao có thể hùng cường khi người dân của quốc gia ấy cứ nhấp nhổm… lưu vong và không coi trọng đất nước của mình? Khó có thể gắn kết những con người nhấp nhổm ấy lại với nhau bằng tình cảm quốc gia để đoàn kết như dân Do Thái.

Ai cũng biết rằng, kẻ lưu vong là kẻ bị nhổ bật gốc rễ khỏi quê hương, như bụi lúa bị nhổ bật khỏi ruộng nước. Đó là một nỗi đau từng là điều không chịu nổi đối với người tha hương xa xứ, vậy mà giờ đây, nó đang biến thành một món ăn tâm lý hạng nhất của người Việt chúng ta. Vì đâu nên nỗi cuộc này, hả người?

Ngọc Vinh https://vietluan

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Dân tộc lưu vong _ Lê phương Lan sưu tầm

30/4/2023 Ngày tưởng niệm Sài gòn thất thủ _ ST của Vỏ Lâu

BÀ THỐNG ĐỐC THỨ 49 CỦA TIỂU BANG MICHIGAN
ĐÃ KÝ MỘT TUYÊN BỐ CÔNG NHẬN:

343633203_742457760909074_5899984371326355775_n

30/04/2023: Ngày Tưởng Niệm
Sài Gòn Thất Thủ

30 Tháng Tư, 2023

XÉT RẰNG, ngày 30 tháng 4 năm 2023, đánh dấu kỷ niệm 48 năm kết thúc chiến tranh Việt Nam và bắt đầu cuộc di cư của hàng triệu người Việt Nam ra khỏi Việt Nam sau khi thủ đô Sài Gòn của miền Nam Việt Nam rơi vào tay cộng sản vào ngày 30 tháng 4 năm 1975; và,

XÉT RẰNG, đối với nhiều người Việt Nam và Cựu chiến binh đã trực tiếp tham chiến và những người Mỹ gốc Việt định cư tại Hoa Kỳ, chiến tranh Việt Nam là một thảm kịch đầy đau thương và mất mát sinh mạng của người Mỹ, người Việt Nam và Đông Nam Á; và,

XÉT RẰNG, hơn 58.000 người đã thiệt mạng và 304.000 người bị thương trong tổng số 2,59 triệu người đã phục vụ trong Chiến tranh Việt Nam; cứ mười người Mỹ từng phục vụ ở Việt Nam thì có một người trở thành nạn nhân chiến tranh; và,

XÉT RẰNG, các lực lượng vũ trang Nam Việt Nam đã mất 275.000 binh sĩ và nhiều người khác bị thương, cùng với một số thương vong không xác định của công dân Việt Nam; và,

XÉT RẰNG, bắt đầu từ năm 1975, và kéo dài đến giữa thập niên 1990, nhiều làn sóng người tị nạn Việt Nam bắt đầu rời Việt Nam; gần 800.000 người đã liều mạng trên những chiếc thuyền nhỏ, nguy hiểm để đến các trại tái định cư ở Hồng Kông, Malaysia, Indonesia, Thái Lan và Philippines trước khi cuối cùng được tái định cư tại Hoa Kỳ; và,

XÉT RẰNG, để phục vụ cộng đồng của họ và thịnh vượng ở Mỹ, người Mỹ gốc Việt đã thành lập các khu thương mại dành cho người Mỹ gốc Việt lâu đời và thịnh vượng trên khắp Hoa Kỳ, bao gồm cả ở phía đông nam Quận Oakland và Tây Michigan; và,

XÉT RẰNG, hơn 25.000 người Việt hiện đang sinh sống tại Michigan; và,

XÉT RẰNG, chúng ta phải dạy cho con cháu chúng ta và các thế hệ tương lai những bài học quan trọng từ Chiến tranh Việt Nam, kể cả hoàn cảnh của những người tị nạn Việt Nam sau khi chiến tranh kết thúc là một ví dụ mạnh mẽ về các giá trị tự do và dân chủ như thế nào;

VÌ VẬY, NGAY BÂY GIỜ, tôi, Gretchen Whitmer, thống đốc bang Michigan, tuyên bố ngày 30 tháng 4 năm 2023 là Ngày Tưởng niệm Sài Gòn thất thủ/Tháng 4 Đen ở Michigan.

Thống đốc

344006413_789230955752561_4179632404857226711_n

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở 30/4/2023 Ngày tưởng niệm Sài gòn thất thủ _ ST của Vỏ Lâu

Tin mới nhất về sức khỏe K1 Bửu Trần

TÌNH TRẠNG SỨC KHỎE
CỦA K1 BỬU TRẦN.

IMG-2776

Chiều nay 28/4/2023 mình có gọi gặp được bạn Bửu và nói chuyện với con gái của Bửu.
Con gái của Bửu cho biết bạn Bửu Trần đã được về nhà 4 hôm rồi nhưng còn yếu nói chưa được vì cái lưỡi còn đau. Nhiều khi Bửu nói mà con gái không hiểu, nên phải dùng giấy bút để trao đổi, nhưng bàn tay còn yếu nên chữ viết ngoằn ngèo khó hiểu.
Khi mình nói chuyện với Bửu thì Bửu khóc vì không nói được, làm mình cũng mủi lòng.
So với mấy tấm hình post lên CNN tuần trước thì thấy nay  Bửu đã khá hơn nhiều. Hy vọng thời gian hồi phục cho bạn Bửu sẽ nhanh hơn.
Bửu viết trên giấy đưa cho con gái đọc ” gởi lời cảm ơn tất cả bạn bè”

Dưới đây là vài tấm hình mới nhất của Bửu chụp lại trên màn hình laptop (nên hơi mờ)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Tin mới nhất về sức khỏe K1 Bửu Trần

Chuyện ngày Quốc Hận -Người phi công liều mạng

NGƯỜI PHI CÔNG LIỀU MẠNG

174189866_488522085662563_1831427639088260095_n

Ngày 29-4-1975, ông Nguyễn Văn Ba – giống như trong mẩu truyện được xé ra từ kịch bản quay một cuốn phim loại “Mission imposible” – đã cùng với vợ và ba đứa con tìm cách đào thoát trong khi quân miền Bắc đang tiến qua những cửa ngõ vào Sài Gòn.

Sau 20 phút bay căng thẳng, chiếc trực thăng của Nguyễn lượn vòng trên biển Đông trong tình trạng một sống một chết, và những thủy thủ Hoa Kỳ trên chiếc tàu gần đó chỉ còn biết đứng ngó sững.

“Không thể nào hiểu được anh ta đã làm cách nào. Đúng là một phù thủy Ấn Độ” – lời của Hugh Doyle, sĩ quan trưởng cơ khí trên một tàu hải quân gần chỗ chiếc trực thăng của ông Nguyễn đang quần trên trời.

Nguyễn không phải là một anh hùng mà đang ở trong tình thế cực kỳ tuyệt vọng. Ông là một trong hàng ngàn người lính miền Nam đang cố tìm cách thoát ra khỏi nước trong khi đại quân Bắc Việt đang ào ạt tiến tới Sài Gòn.

Sự can thiệp quân sự của Hoa Kỳ đã chính thức chấm dứt từ 2 năm trước với hiệp định hòa bình ký tại Paris, nhưng vào thời điểm đó vẫn còn các nhân viên ngoại giao và dân sự Mỹ cần được di tản, đằng sau đó là những thường dân Việt Nam cố bám theo để tìm đường thoát. Nhiều người trong số đó là quân nhân giống như Nguyễn – một thiếu tá Không quân VNCH – nếu kẹt lại, có thể họ sẽ lãnh án nặng và cả gia đình sẽ tan tác trong những trại tập trung chết người.

Nhưng Nguyễn đã có sẵn một kế hoạch. Ông cho vợ con về ở nhờ họ hàng bên vợ trong một khu dân cư Sài Gòn, và dặn vợ ông – bà Nho – chuẩn bị mọi thứ, ông sẽ lái chiếc Chinook CH-47 đến bốc đi – đó là một loại trực thăng cỡ lớn của Không quân VNCH mà tiếng động cơ không nhầm lẫn của nó có thể nhận ra được từ mấy cây số.

“Khi nghe được tiếng Chinook, phải sẵn sàng” – Nguyễn dặn vợ như thế.

Miki, đứa con trai lớn, nằm dưới gầm giường để tránh đạn từ đêm trước. Suốt đêm nó nghe súng nổ ran khắp nơi lẫn tiếng rít hỏa tiễn. Quân cộng sản đã quá gần. Nhưng nó vẫn bình tĩnh và tin chắc cha nó thế nào cũng tới!

Miki nghe được tiếng động cơ Chinook vào lúc sáng sớm. Nó chụp vội túi quần áo, luôn cả bình sữa cho đứa em gái 10 tháng – Mina – cùng với cả gia đình lao nhanh ra chiếc Chinook, trên đó đã có sẵn vài người bạn của cha nó.

Lên được chiếc máy bay, nó nghe ông Nguyễn nói thấy có nhiều trực thăng Mỹ bay ra khơi, chắc chắn họ sẽ đáp xuống ở đâu đó.

“Coi thử ra sao” – Nguyễn nói như thế trong khi đưa chiếc trực thăng hướng ra biển, vừa lúc đèn đỏ nhấp nháy báo bình xăng sắp cạn.

Ra tới biển, Nguyễn bật qua tần số cấp cứu và nghe được âm thanh trao đổi giữa các tàu Mỹ. Có người ngó xuống thấy một chiếc tàu đang ở ngay dưới bụng trực thăng. Đó là chiếc USS Kirk với một sân đáp nhỏ. Nguyễn cho trực thăng sà xuống.

Chỉ huy chiếc USS Kirk là Đại úy Paul Jacobs – thuộc cấp vẫn gọi ông ta là “Big Jake”. Dân New England, cao 6.3 ft, bộc trực và thẳng tính, ông ta được lệnh bắn hạ bất cứ phi cơ nào không xác định được danh tính và nhắm mòi đe dọa đến cuộc di tản đang diễn ra ồ ạt từ Sài Gòn.

Lẽ ra Jacobs đã cho bắn rơi chiếc trực thăng của Nguyễn nhưng ông đã không làm như vậy. Ông ta độ chừng Nguyễn là một người lính miền Nam đang tìm đường thoát. Bầu trời ngày hôm đó dầy đặc những phi công Việt Nam đưa gia đình và đồng đội bay ra biển trên những chiếc trực thăng cuối cùng còn sót lại.

“Chỉ khi nào nó bắn xuống, không thì mình sẽ không khai hỏa trước” – Jacobs ra lệnh.

Nguyễn liên lạc với chiếc Kirk. Tiếng Anh của ông ta chỉ tạm đủ, trên tàu cũng có một thủy thủ bập bẹ được chút ít tiếng Việt. Ông ta bảo với những người dưới tàu rằng chiếc Chinook có chở theo đàn bà và con nít. Và máy bay ông ta sắp cạn xăng.

“Hoặc là tôi hạ cánh trên tàu hoặc sẽ rớt xuống biển”, Nguyễn nói. “Hãy cứu chúng tôi!”

Nhưng đám thủy thủ trên chiếc USS Kirk giơ tay làm hiệu xua Nguyễn bay đi chỗ khác. Sân đáp quá nhỏ mà chiếc Chinook lại quá cồng kềnh. Nếu xuống thấp, cánh quạt có thể va đụng gây nguy hiểm cho đám hành khách, luôn cả đám thủy thủ trên tàu.

Nguyễn bỗng nảy ra một ý và lập tức cho dưới tàu biết. Ông sẽ lái chiếc Chinook quần trên boong. Vợ con ông ta sẽ liều mạng nhảy đại xuống đám người giăng tay chờ bên dưới…

Kent Chipman là một trong số những người đứng chờ sẵn dưới đó. Dân Texas, có một hàng ria quặp, được đồng đội gọi bằng cái tên “Chippy”. Anh ta chỉ nặng có 130 lbs và đang đánh lô tô trong bụng. Biết đủ sức hứng đám người nhảy ra từ chiếc trực thăng hay không đây. Trong lúc căng hai tay chờ đợi, một ý nghĩ cứ quẩn quanh trong đầu anh chàng: “Chắc chết cả đám!”.

Nguyễn lái chiếc Chinook tới phần đuôi của chiếc tàu, cố tránh không cho cánh quạt tới gần những chỗ quan trọng. Chỉ cần một luồng gió hay một sơ sẩy, chong chóng trực thăng sẽ chém trúng tàu, giết chết cả vợ con ông lẫn đám người dưới kia đang dang tay chờ đợi.

Người co-pilot mở cửa, ra hiệu cho vợ Nguyễn: “Nghe đây! Chị và mấy đứa nhỏ sẽ nhảy xuống trước!”. Miki nhảy ra. Kế đến là thằng em nó. Bà Nho bồng đứa con gái nhỏ, nhoài người thả nó xuống cho đám thủy thủ trước khi chính mình cũng nhảy xuống. Đám người chờ sẵn bên dưới hứng được hết.

Bây giờ trên chiếc Chinook chỉ còn lại một mình Nguyễn.

Làm cách nào đáp khối sắt 12 tấn nầy xuống chiếc tàu? Ông ta chợt nghĩ ra cách khác – một cách chưa ai từng thử qua: Đâm xuống biển!

Ông ta bay ra xa chiếc tàu cách một khoảng an toàn và giữ cho chiếc trực thăng đứng yên chừng 10 phút với giàn bánh đáp nhấp nhô trên mặt sóng.

Chipman đứng chết lặng trên boong, ngó theo. “Cái thằng điên! Nó đang cởi bộ đồ bay” – Chipman nghĩ thầm, trong lúc mắt không rời chiếc trực thăng.

Nguyễn cởi bỏ cái áo bay và tháo dây súng trong khi vẫn giữ cần lái cho chiếc trực thăng đứng yên. Một phi công trông thấy cảnh đó sau này đã nói rằng, không thể hiểu sao Nguyễn có thể trút bỏ bộ đồ bay trong khi vẫn kềm cho chiếc trực thăng đứng yên một chỗ.

Xong xuôi Nguyễn nhấc cánh quạt bay về phía bên phải, xa khỏi chiếc tàu.

Khi chiếc trực thăng vừa chạm mặt nước, ông ta nhảy ùm xuống biển. Âm thanh cú va chạm nghe giống như cả một toa xe lửa bị lật. Mảnh vụn từ cánh quạt chiếc trực thăng bay veo véo qua chiếc USS Kirk. Chiếc trực thăng nằm lật ngửa trên mặt biển, mấy bánh xe chổng lên trời.

Một khoảng im lặng nghẹt thở khi cả bọn ngó xuống một vùng màu đỏ loang rộng ra chỗ Nguyễn nhảy xuống. Không ai thấy ông ta đâu. Đột nhiên một cái đầu nhô lên khỏi mặt biển. Nguyễn còn sống! Ông ta đã cố lặn thật sâu khi chiếc Chinook vừa chạm mặt nước. Còn khoảng màu đỏ loang trên biển là dầu thủy điều của chiếc trực thăng.

Đám người trên chiếc Kirk òa vỡ trong niềm vui lẫn thán phục. Ai nấy huýt sáo vang lừng.

“Cừ quá!”, một người hét to. “Một cú tài tình”, người khác phụ họa theo.

Chiếc Kirk cho xuồng máy vớt Nguyễn lên. Ông ta lên tới boong tàu chỉ mặc độc một quần đùi màu đỏ của vợ may và một sơ mi trắng in hình hoa hòe. Mấy miếng vàng nhét trong túi đã rớt đâu mất. “Anh ta đòi được gặp vợ con ngay” – Doyle cơ khí trưởng trên tàu sau nầy nhắc lại.

Chiếc USS Kirk sau đó đã vớt thêm nhiều đợt người tị nạn tả tơi đào thoát trên những tàu hải quân VNCH, tàu buôn và cả tàu đánh cá. Jacobs cùng thủy thủ đoàn đã vớt tổng cộng 30,000 người đào tẩu từ Nam Việt Nam.

Sau này Jacobs nhắc lại rằng các thủy thủ của ông ta khá lành nghề nhưng đồng thời cũng rất may mắn. Biển Đông vốn có tiếng không hiền hòa, những đợt sóng cao 20 ft và gió giật rất mạnh là chuyện thường ngày. Vậy mà hôm đó mặt biển lại lặng yên.

“Thượng đế đã ngó xuống. Mấy ngày đó mặt biển phẳng lì như lưng con cá bơn”, ông ta nói.

Còn Chipman không bao giờ quên được thái độ trầm tĩnh của Nguyễn trong tình thế cấp bách và nhớ rõ mình đã vui mừng thế nào khi hứng được đứa con gái nhỏ cùng người vợ của viên phi công.

“Một kết thúc tốt đẹp cho một cuộc chiến khốn nạn” – anh ta nói. “Ông ta khá khiêm tốn”.

Đó cũng là một kết cục pha trộn giữa vui mừng và cay đắng cho Nguyễn. Ông ta cứu được vợ con nhưng mất hết mọi thứ khác – tiền bạc, sự nghiệp, thân bằng quyến thuộc và luôn cả Tổ quốc.

Gia đình ông về sống ở Seattle, sau đó ông tìm được việc làm trong hãng Boeing. Ông ta đi tiếp cuộc đời mới, vẫn bằng sự bền bỉ tháo vát mà ông đã có lúc vội vã bay ra biển để tìm đường sống. Một gia đình trong hội nhà thờ Lutheran bảo trợ cho gia đình ông. Ông chăm chỉ học thêm tiếng Anh. Ban đầu làm công việc lau dọn ban đêm và học thêm điện tử vào ban ngày. Sau khi được nhận vào làm cho hãng Boeing, ông thức dậy lúc 4 giờ sáng và rời nhà nửa tiếng sau đó.

Sáu tháng sau khi tới Mỹ, gia đình Nguyễn không cần tới sự trợ giúp của chính phủ nữa, ông bảo rằng xứ nầy là mảnh đất của rất nhiều cơ hội. Ông không muốn nhận, nhưng luôn luôn muốn cho. Ông bảo với vợ con, trong vòng 5 năm tới chúng ta sẽ phải là công dân Mỹ để được đóng thuế và đi bầu.

Đối với con cái, ông muốn chúng phải học thật giỏi, rằng đại học là ngưỡng cửa không gì thay thế được và ông sẽ giúp trả học phí nếu chúng học khá. Nhiều lúc, có thể nói, ông huấn luyện con cái giống như chúng là nhân viên phi hành của mình trên chiếc Chinook ngày nào.

Ông đặc biệt chăm lo cho đứa con gái út giống như cái ngày ông đem cô theo trong chuyến bay vượt thoát. Khi Mina bắt đầu hẹn hò với một anh nhạc sĩ – người sau nầy sẽ trở thành chồng cô – ông đã lựa dịp để ngồi nói chuyện tay đôi với anh chàng. “Cháu chưa bằng được con gái bác”, ông nói với anh ta. “Sao cháu không có bằng tiến sĩ? Con nhỏ nó có rồi đấy!”.

                                                        ***

Chuyến vượt thoát tới đất Mỹ của cả gia đình đã trở thành một cái gì gần như huyền thoại. Nó không còn là câu chuyện trao đổi trên bàn ăn mà đã được cô đọng lại thành những giá trị được hết thảy mọi người nâng niu gìn giữ.

Sau khi ông thôi việc ở Boeing và về hưu năm 2000, Miki biết sẽ tặng cha mình món gì. Đó là một hộp kính thật đẹp bên trong có cái quần đùi màu đỏ mà ông đã mặc trong chuyến bay vượt thoát của gia đình. Nguyễn nhận món quà đó với một thái độ nhẹ nhàng. Ông nhận nó mà không nói lời nào.

Có lần ông đã viết về chuyến hành trình gian nan của gia đình ông trên một tờ báo Việt ngữ nhưng bằng lời kể của ngôi thứ ba. Ông không nhận mình chính là người phi công đó.

“Ba tôi không thích khoe khoang” – Miki nói. “Nhưng ông biết chắc ông đã làm một chuyện quá sức liều mạng”.

Suốt trong nhiều năm, viên chỉ huy tàu USS Kirk đã nhiều lần dò hỏi tung tích cái anh chàng pilot Việt Nam đã lái chiếc Chinook đâm xuống biển. Năm 2009, Jacobs xuất hiện trong một chương trình TV Việt ngữ, hỏi xem có ai biết gì về người phi công này.

Công việc dò tìm vẫn tiến hành với ít nhiều hi vọng vì cộng đồng Việt Nam trên đất Mỹ cũng chẳng to lớn gì. Một ngày nọ, Miki nhận được một e-mail trong đó có lời rao của Jacobs. Anh trả lời: “Nếu ông đang tìm người phi công lái chiếc Chinook ấy, thì có thể đó là cha tôi”. Sau đó là những cú điện thoại gọi về tới tấp…

Jacobs và những thuộc cấp cũ của ông trên chiếc USS Kirk tổ chức một buổi họp mặt đoàn tụ vào ngày 10-7-2010 tại Springfield, Virginia, và họ đã gởi thư mời ông Nguyễn. Ông không còn là người phi công trực thăng ngày nào trong tháng 4 năm 1975. Ông đã mất đứa con trai giữa – Mika – chết vì xuất huyết não năm 2003. Phần ông thì mắc bệnh Alzheimer sau khi về hưu. Bây giờ ông ngồi trong xe lăn. Không nói chuyện được, chỉ ú ớ qua cổ họng.

Tới dự buổi họp mặt với thủy thủ đoàn chiếc tàu USS Kirk, lần này bà vợ đẩy xe cho ông. Chiếc xe lăn được đẩy vô phòng tiếp tân, có con trai và con gái cùng đi với cha mẹ. Người đầu tiên mà bà thấy trong hành lang là “Chippy” Chipman, anh chàng thủy thủ đã hứng được bà và cô bé gái con bà khi cả hai nhảy ra khỏi chiếc trực thăng mấy chục năm về trước.

Nguyễn cũng nhận ra Chipman. Mắt ông ứa những giọt lệ.

“Ông ấy ngó tôi và tôi cũng ngó ông ấy trâng trâng. Ông ấy nhận ra tôi, và tôi cũng thế”, Chipman kể lại. Chipman tới bên Nguyễn đưa tay chào. Tự giới thiệu mình và nhắc lại chuyện xưa. Anh ngó qua Miki, giờ đã là một gã trung niên. “Tôi là người đã chụp được cậu lúc cậu nhảy xuống tàu”, anh nói bằng giọng Texas đặc sệt, trong lúc Miki không thốt được lời nào vì quá xúc động.

Đoạn anh ngó qua Mina. Trông cô tươi tắn như một bông hoa. Anh bảo với cô rằng lúc đó anh đã nhủ mình phải cố chụp cho được lúc cô rớt khỏi chiếc trực thăng cho dù phải đánh đổi bằng chính sinh mạng mình đi nữa…

“Tôi hãnh diện lắm”, Chipman kể lại tâm trạng mình lúc gặp Mina. “Tôi không có con, nhưng có một cái gì giống như bất ngờ mình gặp lại đứa con gái thất lạc đã lâu, nay gặp lại lúc nó khôn lớn. Cô ấy đã trưởng thành một cách hết sức tốt đẹp”.

Buổi họp mặt biến thành buổi tuyên dương ông Nguyễn. Người ta chiếu lại khúc phim màu ghi lại những pha gian nan của chiếc Chinook. Nhiều thủy thủ trên tàu ngày hôm đó đã chụp ảnh và quay được cảnh tượng xảy ra trên mặt biển. Mina nhìn vào tấm hình lúc cô đang dán khuôn mặt bé thơ của mình lên lớp kính chiếc Chinook khi nó bay vòng trên chiếc tàu. Cô cũng thấy được tấm hình lúc cô rớt xuống đôi tay của Chipman. “Tôi lạnh cả sống lưng”, cô nói.

Cô cũng được xem lại khúc phim cha cô nhào ra khỏi trực thăng lúc đâm xuống biển.

“Giống như Tom Cruise”, cô bảo. “Nghĩ rằng người đó là cha tôi. Nghĩ rằng đó là cảnh gia đình tôi đang nhảy khỏi máy bay từng người một. Những ý nghĩ đó làm tôi choáng cả người”.

Còn Miki có ý nghĩ riêng của anh. Trong nhiều năm, anh vẫn thán phục cha mình ở cái tính khiêm tốn của ông. Anh có thể hiểu được thái độ đó. Nhiều người tị nạn Việt Nam chỉ muốn quên đi những đau đớn trong quá khứ. Họ đã mất đi bao nhiêu thứ, thân phận, địa vị, gia đình, tiền của… Họ chỉ muốn nhắm vào tương lai.

Miki ngó Jacobs khi ông nầy tới trước đám quan khách trong phòng tiếp tân.

“Chúng tôi dành phần sau chót cho điều đáng kể nhất” – ông ta vừa nói vừa nhìn ông Nguyễn.

Jacobs đọc một đoạn tuyên dương Nguyễn về hành động gan dạ của người sĩ quan phi hành.

“Với tài ba của một phi công, thái độ trầm tĩnh trong lúc nguy cấp, hành động của ông Nguyễn đã mang về một hình ảnh tốt đẹp cho đất nước ông và đã nói lên được một truyền thống cao đẹp nhất của Hải quân Hoa Kỳ”.

Nguyễn không nói được lời nào khi ngồi yên ngó lên từ chiếc xe lăn. Một sĩ quan Hải quân cúi xuống gắn huy chương Không quân biểu dương lòng can đảm lên ve áo của ông.

Trong chiếc xe lăn Nguyễn vặn vẹo cử động thân mình. Miki, đứng sau ông, không hiểu cha mình muốn gì. Ông cựa quậy hai chân, rồi thẳng người lên trong cái áo khoác màu xám tro. Ông nhìn thẳng vào Jacobs. Và, ông chào bằng cách run rẩy đưa bàn tay mặt của mình lên trán…

                                           ***

Nguyễn qua đời vì bệnh Alzheimer 3 năm sau ở cái tuổi 73, ông đã vĩnh viễn ngủ luôn một giấc dài vào một đêm mùa hè. Nhưng trong cái buổi họp mặt đáng ghi nhớ đó, lúc thời gian quay ngược trở về một ngày khó quên của tháng 4, 1975, Miki đã thấy cha mình phác một cử chỉ dường như để nhắc với anh rằng, “Dù thân thể ông không thể cử động được nữa, nhưng ông – người cha mà anh đã tin chắc thế nào cũng tới để đưa anh và cả gia đình ra đi – ông vẫn mãi còn đó…”.

(FB Nguyễn Phú Yên)

(st)

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Chuyện ngày Quốc Hận -Người phi công liều mạng