Như đã báo cáo Quý Bạn về Project Trợ Giúp 3 người con của Cố K1 Nguyễn Viết Lộc đang gặp nhiều khó khăn sau khi cả Cha và Mẹ của họ đều đã qua đời, chúng tôi đã nhận được sự giúp đỡ của nhiều bạn đồng môn Mạnh Thường Quân tổng cộng số tiền thu được là $1750 USD (có thêm $50 của anh Huỳnh Vĩnh Hưng (K1) gởi đến vào giờ chót). Hôm nay, ngày 16/5/2023, tôi đã chuyển số tiền này về cho 3 người con của Cố K1 Nguyễn Viết Lộc, mỗi người $560 USD. Đáng lẽ tiền lệ phí chuyển tiền là 3% nhưng được họ chiếu cố bớt 50% vì mình được coi như một hội đoàn; nhờ vậy số tiền quyên góp còn dư $44 USD xin được hoàn trả lại cho Quỹ K1.
Xin kính báo và cám ơn những tấm lòng vàng của Quý Bạn.
Mến chúc tất cả các phu nhân và các Nữ K1 một ngày Mother’s Day đong đầy hạnh phúc và nhiều niềm vui bên con cháu và gia đình. Chúc các chị luôn luôn khỏe mạnh cùng đức lang quân đi suốt quảng đời còn lại.
Về thăm mẹ gặp những ngày lễ lạc
Mùa Phục Sinh ngào ngạt khói trầm hương
Mẹ sớm chiều lui tới viếng thánh đường
Dâng tất cả tình thương lên cho Chúa .
Mẹ một đời lòng nhiệt thành chan chứa
Thương cháu con yêu Thiên Chúa không nguôi
Gặp khó khăn miệng vẫn mỉm môi cười
Xin chấp nhận vâng lời theo ý Chúa .
Mẹ ơi mẹ , sao tuyệt vời như rứa
Chín tư rồi vẫn từng bữa trông con
Vẫn cầu cho con cháu được vuông tròn
Thân chẳng kể mõi mòn theo năm tháng .
Anh em con thật tình không xứng đáng
Với công lao cao cả của mẹ hiền
Suốt cả đời mẹ vất vả triền miên
Nuôi con cháu trở nên người hữu dụng .
Ba đi rồi mẹ một mình chịu đựng
Sống cô đơn tựa cửa đứng trông xa
Mắt đăm chiêu nhìn bóng nắng nhạt nhòa
Nhớ đàn con đang ngoài vòng tay mẹ .
Khi con về mẹ tươi cười vui vẻ
Rồi con đi mẹ quạnh quẻ u buồn
Quay lưng bước con mắt lệ trào tuôn
Thương mẹ gìa mãi vương sầu cô quạnh .
Ngày 30 tháng 4 được coi là Ngày Quốc Hận của người dân miền Nam và của người Việt hải ngoại tị nạn cộng sản trên khắp thế giới .
Riêng tui , tui coi đó là Ngày Quốc Nhục vì chính vào ngày nầy năm 1975 CSVN đã tô chàm lên lịch sử Việt Nam một trang ô nhục : Dân tộc VN bị phân hóa vô phương hàn gắn . Tài nguyên bị đục khoét cạn kiệt . Đất nước suy đồi tê hại trên mọi mặt văn hóa , giáo dục , y tế , kinh tế , luật pháp…
Chính ngày 30/04/1975 đã biến Việt Nam thành một nhà tù lớn , cả dân tộc Việt Nam thành tù nhân của chế độ , toàn dân mất quyền tư hữu làm chủ ruộng đất do bao đời tổ tiên tạo dựng , đất nước Việt Nam thành tài sản riêng của nhóm đảng viên CSVN
Vậy mà mỗi năm vào ngày nầy CSVN cũng vẫn còn ăn mừng cái gọi là chiến thắng chớ chưa thấy ra đó chính là tội ác tài trời đối với tổ quốc . Người dân Viêt Nam bây giờ đa số – nhứt là các thế hệ trẻ sau nầy – lại thờ ơ không nhớ gì về những tội ác của CSVN đối với đất nước và dân tộc Việt Nam .
Nhưng chắc chắn lịch sử sẽ phán xét công minh khi chế độ CSVN đã qua . Và chắc chắn ngày 30/4/1975 sẽ được ghi trong lịch sử là Ngày Ô Nhục của dân tộc Việt Nam .
LHN
Ngày Quốc Nhục
Mỗi năm lũ khỉ vẫn tưng bừng
Ba chục tháng Tư tự hứng tung
Thống nhất muôn người chôn dưới biển
Tự do triệu kẻ chết trong rừng
Quang Vinh vai gánh ngàn công nợ
Ưu việt cổ đeo mấy lớp thừng
Đó chỉ hỡi ơi Ngày Quốc Nhục
Có chi hãnh diện để ăn mừng !!! LHN
Tàu sông Hương đoạn trường dạo khúc Hằng ngàn người chen chúc nhục vinh Nén đau thương trong khoang tàu địa ngục Hồn vật vờ ra biển sáng mờ sương
Hoàng liên sơn mây trời phủ núi
Vượt suối băng rừng đốn nứa chặt cây
Chén cơm sắn lát tàn thân xác
Một cỏi đi về nắm đất vùi thây
Xuôi về Tân lập miền đất tổ Con cháu vua Hùng sống kiếp khổ đau Cô phụ thăm chồng qua Ấm thượng Bến đục bến trong cố nuốt lệ trào
Thanh hóa đón tù gió Lào nắng cháy
Biệt xứ buồn khu sãn xuất Thanh lâm
Rừng núi đêm nay gió gào thác đổ
Còn chút hơi tàn chống đở thiên tai
Còn đó mùa xuân nhớ đôi má thắm Thoáng hương xưa đón phút giao thừa Tiếng hát xuyên qua rừng núi thẳm Phố nhỏ trông con mắt mẹ nhòa
Tiếng hát xuôi nam đàn lổi nhịp
Bước sang ngang chẳng hẹn ngày về
Còn đâu đôi lứa đường in bóng
Đoàn tàu hú còi đánh thức cơn mê Huan N Du
1.-Trong lịch sử nhân loại, có hai dân tộc chịu số phận bi thảm hơn các dân tộc khác. Rất không may, một trong hai lại là dân tộc Việt chúng ta. Một trong hai còn lại là Do Thái.
Cái “lỗi” của dân tộc Do Thái là sinh ra Chúa rồi hành hình Chúa trên thập giá. Họ đã bị kỳ thị, xua đuổi, bị truy bức giết hại và lưu vong khắp nơi. Năm 1947, cái dân tộc rã rời nát vụn đó đã cùng nhau gom góp từng đồng tiền, từng mảnh đất để gầy dựng lại quốc gia của mình. Định mệnh bi thảm của dân tộc đã khiến họ gắn kết với nhau thành một khối, nhờ đó quốc gia Israel đã phát triển không ngừng. Một mình họ đã đánh bại quân đội của liên minh các nước Ả rập để bảo vệ sự tồn vong của đất nước. Và giờ, họ đã có bom nguyên tử…
Khác với dân tộc Do Thái lưu vong hơn ngàn năm trước, dân Việt chỉ bắt đầu lưu vong đại trà từ sau 30 Tháng Tư, 1975. Dân tộc này không hành hình Chúa nhưng vẫn phải chịu một định mệnh bi thảm không kém. Cuộc chiến tranh giữa hai miền anh em với vũ khí bom đạn của ngoại bang kết thúc, đất nước được gom về một mối những tưởng sẽ bắt đầu một thời đại vàng son, nhưng không ngờ, thời đại đó biến thành một cuộc phân ly bi thảm.
Vượt qua cả dân tộc Do Thái, người Việt “vươn lên” dẫn đầu lịch sử lưu vong của nhân loại bằng cuộc di cư chính trị quy mô nhất về mặt số lượng từ trước đến nay. Hàng triệu người đã lao ra biển trên những chiếc tàu đánh cá các loại để thoát khỏi đất mẹ của mình, chấp nhận cả cái chết để… lưu vong. Một phần của dân tộc đã làm mồi cho cướp biển cho cá mập và bị nhốt trong những trại tị nạn nghẹt thở ở các nước Đông Nam Á đồng liêu.
Cuộc di cư khốc liệt của người Việt đã đưa họ đến khắp nơi trên thế giới, kể cả Châu Phi, điều mà trước 1975, cả hai miền Nam Bắc đều không hề có. Tâm thức lưu vong kể từ mốc thời gian đó, đã phục kích trong các tầng lớp dân Việt, đóng đinh trong đầu họ cho đến tận ngày nay, không ngơi nghỉ và không có cơ hội để chấm dứt…
2.- Sau 30 Tháng Tư, 1975, ở Phan Thiết quê tôi, người vượt biên bằng đường biển rất nhiều do thành phố này sống bằng kinh tế biển với rất nhiều tàu đánh cá. Người Phan Thiết không chỉ giúp “đồng bọn” quê mình vượt biển mà còn giúp cả dân Sài Gòn, với giá vài ba cây vàng/người, có khi chủ tàu chỉ thu đủ sở hụi để mua dầu, thực phẩm và đút lót cho bộ đội biên phòng. Có nguyên một làng chài hay cả xóm đạo vượt biên sạch.
Sau đó, khi đất nước đói meo, thì những người vượt biên bắt đầu góp phần gầy dựng quê nhà bằng… những thùng hàng gởi về từ nước ngoài. Dân quê tôi gọi đó là hàng thùng. Một người vượt biên thoát được qua nước ngoài thì cả gia đình được nhờ, cả gia đình cùng thoát thì dòng họ được nhờ. Dân sống bằng hàng thùng chả cần làm gì vẫn phong lưu vì nhận hàng thùng đều đặn gởi về. Gia đình nào sống bằng hàng thùng thì con trai rất dễ lấy vợ và con gái, dù xấu, cũng rất dễ lấy chồng. Tâm thế chờ đợi hàng Mỹ, hàng Tây đã ăn sâu từ đó vào ký ức của cộng đồng. Không chỉ chờ đợi hàng thùng và đô la từ nước ngoài, người thân trong nước của các Việt kiều thường xuyên sống trong tâm trạng chờ đợi được bảo lãnh. Gặp nhau là họ hỏi thăm nhau bằng một câu cửa miệng: “bao giờ đi?” Đi ở đây chính là lưu vong, là thoát khỏi nơi họ chôn nhao cắt rún!
3.- Năm 2017, tôi đi du lịch Mỹ để thăm thú bạn bè định cư ở đất nước này. Ngày tôi đi cũng là ngày một nhà báo đồng nghiệp rất thân với tôi tại Đài Phát Thanh TP.HCM xách va ly qua Mỹ để… lưu vong. Anh đã nghỉ hưu và được gia đình bảo lãnh. Rất nhiều nhà báo mà tôi quen biết khi về hưu đã sang Mỹ định cư, coi việc lưu vong là điều hết sức bình thường. Ai thắc mắc tuổi già còn sang Mỹ để làm gì, cứ hỏi họ đi rồi sẽ nhận được câu trả lời.
Tại Mỹ, tôi ghé San Jose thăm L.Hoàng, bạn học thời trung học của tôi ở Phan Thiết. Năm 1977, trong khi tôi đi bộ đội thì Hoàng vượt biên. Cậu qua Mỹ rồi tiếp tục học hành để lấy bằng kỹ sư, giờ cậu là trưởng một bộ phận trong một công ty có 5,000 căn hộ cho thuê. Cậu ở trong khu da trắng, với một ngôi nhà trị giá $800,000 và lái chiếc “Mẹc” 7 chỗ.
Mười bảy tuổi, Hoàng đã là nhà tổ chức vượt biên cho người khác và từng vô tù ngồi 6 tháng. Sau khi tổ chức nhiều chuyến tàu vượt biển thành công, cậu cùng 5 anh chị em của mình quyết định ra đi. Giờ họ cùng nhau sinh sống trên đất Mỹ. Hoàng bảo tôi khi gặp lại, rằng gia đình cậu lúc đó nghèo quá và thấy đất nước cũng nghèo quá nên vượt biên là con đường duy nhất mà cậu buộc phải lựa chọn. Cậu bảo,“tao đâu muốn sống lưu vong, nhưng không vượt biên làm sao có tương lai. Nước Mỹ lúc đó là miền đất hứa và họ đã cưu mang tao nên cuối cùng tao cũng quen với cuộc sống bên này.”
Đã có 3 thế hệ người Việt sống lưu vong trên đất Mỹ, thế hệ thứ nhất là những người bỏ chạy khỏi nước khi quân đội miền Bắc tràn vào Sài Gòn và những người vượt biển. Thế hệ thứ hai là các sĩ quan VNCH và gia đình họ qua đây theo diện HO cùng với những người được thế hệ thứ nhất bảo lãnh. Thế hệ thứ 3 là con em người Việt sang du học, tìm kiếm việc làm, định cư và bảo lãnh cha mẹ. Trong số cha mẹ này có rất nhiều cán bộ nhà nước, họ đầu tư tiền bạc cho con cái ăn học, mua nhà cửa, gởi tiền vào tài khoản ngân hàng và chờ đợi thời cơ để… lưu vong. Tiền họ có được, dĩ nhiên đến từ túi của nhân dân, vì lương tháng của Thủ tướng Việt Nam chưa tới 20 triệu đồng Việt Nam (khoảng $850) thì họ lấy gì để nuôi con du học?
4.- năm, người Việt trong nước bỏ tiền tỉ đô la để mua nhà ở Mỹ. Ai có khả năng này? Chỉ có cán bộ và doanh nhân. Ở một thành phố của quận Cam, có cả một” ngôi làng” của cán bộ nhà nước. Họ chuyên sống bằng hồn của Trương Ba nhưng da hàng thịt. Họ ở Việt Nam, làm việc trong bộ máy của chế độ nhưng tâm hồn thì để trong những ngôi nhà ở Mỹ. Ở đó có con cháu họ chờ sẵn. Giống như Võ Kim Cự Formosa vậy, nếu cần thiết lên đường xuất ngoại là đi thôi. Tiền đã gởi, nhà đã mua, con cháu đã chuẩn bị đón chào. Tôi biết Tổng biên tập một tờ báo nọ, vẫn đương chức ở Việt Nam nhưng đã có thẻ xanh ở Mỹ. Tổng biên tập phải là đảng viên, nhưng chuyện này dễ ẹt, một khi lòng người đã muốn… lưu vong thì không có gì là không thể. Có Tổng biên tập một tờ báo chửi Mỹ không còn nước non gì, thế mà cuối đời xách đít qua Mỹ để sống… lưu vong.
Các nhà báo đàn anh tôi, cùng lứa tuổi tôi hoặc nhỏ hơn ở Sài gòn, bằng cách này cách khác, đều gởi con du học Mỹ hoặc Úc. Đó là tương lai mới không chỉ cho con cái họ mà cho cả họ. Giờ họ là công dân Việt Nam nhưng mai mốt đây họ sẽ là công dân Mỹ Úc, nếu muốn. Cả đất nước đều như vậy. Nhiều công dân Việt hiện nay đã lên kế hoạch cho cuộc sống tương lai của mình không gắn với Việt Nam. Dân thường, cán bộ viên chức, nhà văn nhà báo, lãnh đạo cấp cao… Không từ một tầng lớp nào. Ai dám chắc rằng các lãnh đạo cao cấp ko chọn trước cho mình một chỗ để… lưu vong khi cần thiết. Cuộc đời, thời cuộc mà, đâu nói trước được điều gì. Người thân Mỹ chọn chỗ sẵn ở Mỹ, người thân Tàu chọn chỗ sẵn ở Tàu. Có biến là “dzọt” thôi. Vậy thì làm sao trách các công dân Việt thu nhập thấp tìm qua Đài Loan hay Nhật Bản để… lưu vong bất hợp pháp. Đã lưu vong thì bình đẳng, giống như sự bình đẳng của con người trong tuyên ngôn nhân quyền vậy, dù người giàu tiền và nghèo tiền thì chọn cách lưu vong khác nhau.
5.- Vậy tại sao người Việt lại khát khao… lưu vong như thế? Câu hỏi này quá dễ trả lời bằng câu thành ngữ Việt Nam “đất lành chim đậu.”
Khi đất mẹ không còn lành thì người dân Việt sẽ tìm cách ra đi như một tất yếu để tìm đến mảnh đất lành hơn. Không ai muốn tương lai gia đình con cái mình sống trong môi trường nhiễm độc, nền giáo dục – y tế thiếu chất lượng, sự bất nhất giữa nói và làm của những người điều hành xã hội, sự giả dối lừa lọc nhau giữa người và người, niềm tin cùn mòn vì mọi thứ đều có thể làm giả, từ học vấn giả, nhân cách giả, đến cả lịch sử cũng bị làm giả; những “thành phố đáng sống” thì kẹt xe và ngập nước quanh năm, sinh mạng con người không biết “đứt bóng” lúc nào bởi tai nạn giao thông; dân sinh thì khổ ải, dân chủ và dân quyền thì lắm vấn đề và người dân thì bị cấm đoán nói lên sự thật của đất nước mình… vân vân và vân vân. Đó là chưa kể nỗi sợ hãi bị mai phục và thôn tính đến từ anh bạn vàng ròng láng giềng khổng lồ phương Bắc…
6.- Chưa bao giờ tôi muốn sống lưu vong, nhưng tôi lại muốn con cái mình được đào tạo bởi nền giáo dục Mỹ, Úc và đó cũng là nơi sinh sống thật tuyệt cho chúng nếu chúng muốn… lưu vong. Tâm thức cá nhân được định hình từ tâm thức xã hội, do vậy ngay trong bản thân, tôi đã bị tâm thức lưu vong chế ngự, kể từ khi đứa con của tôi bắt đầu xách cặp tới trường để học… tiếng Anh.
Một quốc gia sao có thể hùng cường khi người dân của quốc gia ấy cứ nhấp nhổm… lưu vong và không coi trọng đất nước của mình? Khó có thể gắn kết những con người nhấp nhổm ấy lại với nhau bằng tình cảm quốc gia để đoàn kết như dân Do Thái.
Ai cũng biết rằng, kẻ lưu vong là kẻ bị nhổ bật gốc rễ khỏi quê hương, như bụi lúa bị nhổ bật khỏi ruộng nước. Đó là một nỗi đau từng là điều không chịu nổi đối với người tha hương xa xứ, vậy mà giờ đây, nó đang biến thành một món ăn tâm lý hạng nhất của người Việt chúng ta. Vì đâu nên nỗi cuộc này, hả người?
BÀ THỐNG ĐỐC THỨ 49 CỦA TIỂU BANG MICHIGAN
ĐÃ KÝ MỘT TUYÊN BỐ CÔNG NHẬN:
30/04/2023: Ngày Tưởng Niệm
Sài Gòn Thất Thủ
30 Tháng Tư, 2023
XÉT RẰNG, ngày 30 tháng 4 năm 2023, đánh dấu kỷ niệm 48 năm kết thúc chiến tranh Việt Nam và bắt đầu cuộc di cư của hàng triệu người Việt Nam ra khỏi Việt Nam sau khi thủ đô Sài Gòn của miền Nam Việt Nam rơi vào tay cộng sản vào ngày 30 tháng 4 năm 1975; và,
XÉT RẰNG, đối với nhiều người Việt Nam và Cựu chiến binh đã trực tiếp tham chiến và những người Mỹ gốc Việt định cư tại Hoa Kỳ, chiến tranh Việt Nam là một thảm kịch đầy đau thương và mất mát sinh mạng của người Mỹ, người Việt Nam và Đông Nam Á; và,
XÉT RẰNG, hơn 58.000 người đã thiệt mạng và 304.000 người bị thương trong tổng số 2,59 triệu người đã phục vụ trong Chiến tranh Việt Nam; cứ mười người Mỹ từng phục vụ ở Việt Nam thì có một người trở thành nạn nhân chiến tranh; và,
XÉT RẰNG, các lực lượng vũ trang Nam Việt Nam đã mất 275.000 binh sĩ và nhiều người khác bị thương, cùng với một số thương vong không xác định của công dân Việt Nam; và,
XÉT RẰNG, bắt đầu từ năm 1975, và kéo dài đến giữa thập niên 1990, nhiều làn sóng người tị nạn Việt Nam bắt đầu rời Việt Nam; gần 800.000 người đã liều mạng trên những chiếc thuyền nhỏ, nguy hiểm để đến các trại tái định cư ở Hồng Kông, Malaysia, Indonesia, Thái Lan và Philippines trước khi cuối cùng được tái định cư tại Hoa Kỳ; và,
XÉT RẰNG, để phục vụ cộng đồng của họ và thịnh vượng ở Mỹ, người Mỹ gốc Việt đã thành lập các khu thương mại dành cho người Mỹ gốc Việt lâu đời và thịnh vượng trên khắp Hoa Kỳ, bao gồm cả ở phía đông nam Quận Oakland và Tây Michigan; và,
XÉT RẰNG, hơn 25.000 người Việt hiện đang sinh sống tại Michigan; và,
XÉT RẰNG, chúng ta phải dạy cho con cháu chúng ta và các thế hệ tương lai những bài học quan trọng từ Chiến tranh Việt Nam, kể cả hoàn cảnh của những người tị nạn Việt Nam sau khi chiến tranh kết thúc là một ví dụ mạnh mẽ về các giá trị tự do và dân chủ như thế nào;
VÌ VẬY, NGAY BÂY GIỜ, tôi, Gretchen Whitmer, thống đốc bang Michigan, tuyên bố ngày 30 tháng 4 năm 2023 là Ngày Tưởng niệm Sài Gòn thất thủ/Tháng 4 Đen ở Michigan.
Chiều nay 28/4/2023 mình có gọi gặp được bạn Bửu và nói chuyện với con gái của Bửu.
Con gái của Bửu cho biết bạn Bửu Trần đã được về nhà 4 hôm rồi nhưng còn yếu nói chưa được vì cái lưỡi còn đau. Nhiều khi Bửu nói mà con gái không hiểu, nên phải dùng giấy bút để trao đổi, nhưng bàn tay còn yếu nên chữ viết ngoằn ngèo khó hiểu.
Khi mình nói chuyện với Bửu thì Bửu khóc vì không nói được, làm mình cũng mủi lòng.
So với mấy tấm hình post lên CNN tuần trước thì thấy nay Bửu đã khá hơn nhiều. Hy vọng thời gian hồi phục cho bạn Bửu sẽ nhanh hơn.
Bửu viết trên giấy đưa cho con gái đọc ” gởi lời cảm ơn tất cả bạn bè”
Dưới đây là vài tấm hình mới nhất của Bửu chụp lại trên màn hình laptop (nên hơi mờ)
Ngày 29-4-1975, ông Nguyễn Văn Ba – giống như trong mẩu truyện được xé ra từ kịch bản quay một cuốn phim loại “Mission imposible” – đã cùng với vợ và ba đứa con tìm cách đào thoát trong khi quân miền Bắc đang tiến qua những cửa ngõ vào Sài Gòn.
Sau 20 phút bay căng thẳng, chiếc trực thăng của Nguyễn lượn vòng trên biển Đông trong tình trạng một sống một chết, và những thủy thủ Hoa Kỳ trên chiếc tàu gần đó chỉ còn biết đứng ngó sững.
“Không thể nào hiểu được anh ta đã làm cách nào. Đúng là một phù thủy Ấn Độ” – lời của Hugh Doyle, sĩ quan trưởng cơ khí trên một tàu hải quân gần chỗ chiếc trực thăng của ông Nguyễn đang quần trên trời.
Nguyễn không phải là một anh hùng mà đang ở trong tình thế cực kỳ tuyệt vọng. Ông là một trong hàng ngàn người lính miền Nam đang cố tìm cách thoát ra khỏi nước trong khi đại quân Bắc Việt đang ào ạt tiến tới Sài Gòn.
Sự can thiệp quân sự của Hoa Kỳ đã chính thức chấm dứt từ 2 năm trước với hiệp định hòa bình ký tại Paris, nhưng vào thời điểm đó vẫn còn các nhân viên ngoại giao và dân sự Mỹ cần được di tản, đằng sau đó là những thường dân Việt Nam cố bám theo để tìm đường thoát. Nhiều người trong số đó là quân nhân giống như Nguyễn – một thiếu tá Không quân VNCH – nếu kẹt lại, có thể họ sẽ lãnh án nặng và cả gia đình sẽ tan tác trong những trại tập trung chết người.
Nhưng Nguyễn đã có sẵn một kế hoạch. Ông cho vợ con về ở nhờ họ hàng bên vợ trong một khu dân cư Sài Gòn, và dặn vợ ông – bà Nho – chuẩn bị mọi thứ, ông sẽ lái chiếc Chinook CH-47 đến bốc đi – đó là một loại trực thăng cỡ lớn của Không quân VNCH mà tiếng động cơ không nhầm lẫn của nó có thể nhận ra được từ mấy cây số.
“Khi nghe được tiếng Chinook, phải sẵn sàng” – Nguyễn dặn vợ như thế.
Miki, đứa con trai lớn, nằm dưới gầm giường để tránh đạn từ đêm trước. Suốt đêm nó nghe súng nổ ran khắp nơi lẫn tiếng rít hỏa tiễn. Quân cộng sản đã quá gần. Nhưng nó vẫn bình tĩnh và tin chắc cha nó thế nào cũng tới!
Miki nghe được tiếng động cơ Chinook vào lúc sáng sớm. Nó chụp vội túi quần áo, luôn cả bình sữa cho đứa em gái 10 tháng – Mina – cùng với cả gia đình lao nhanh ra chiếc Chinook, trên đó đã có sẵn vài người bạn của cha nó.
Lên được chiếc máy bay, nó nghe ông Nguyễn nói thấy có nhiều trực thăng Mỹ bay ra khơi, chắc chắn họ sẽ đáp xuống ở đâu đó.
“Coi thử ra sao” – Nguyễn nói như thế trong khi đưa chiếc trực thăng hướng ra biển, vừa lúc đèn đỏ nhấp nháy báo bình xăng sắp cạn.
Ra tới biển, Nguyễn bật qua tần số cấp cứu và nghe được âm thanh trao đổi giữa các tàu Mỹ. Có người ngó xuống thấy một chiếc tàu đang ở ngay dưới bụng trực thăng. Đó là chiếc USS Kirk với một sân đáp nhỏ. Nguyễn cho trực thăng sà xuống.
Chỉ huy chiếc USS Kirk là Đại úy Paul Jacobs – thuộc cấp vẫn gọi ông ta là “Big Jake”. Dân New England, cao 6.3 ft, bộc trực và thẳng tính, ông ta được lệnh bắn hạ bất cứ phi cơ nào không xác định được danh tính và nhắm mòi đe dọa đến cuộc di tản đang diễn ra ồ ạt từ Sài Gòn.
Lẽ ra Jacobs đã cho bắn rơi chiếc trực thăng của Nguyễn nhưng ông đã không làm như vậy. Ông ta độ chừng Nguyễn là một người lính miền Nam đang tìm đường thoát. Bầu trời ngày hôm đó dầy đặc những phi công Việt Nam đưa gia đình và đồng đội bay ra biển trên những chiếc trực thăng cuối cùng còn sót lại.
“Chỉ khi nào nó bắn xuống, không thì mình sẽ không khai hỏa trước” – Jacobs ra lệnh.
Nguyễn liên lạc với chiếc Kirk. Tiếng Anh của ông ta chỉ tạm đủ, trên tàu cũng có một thủy thủ bập bẹ được chút ít tiếng Việt. Ông ta bảo với những người dưới tàu rằng chiếc Chinook có chở theo đàn bà và con nít. Và máy bay ông ta sắp cạn xăng.
Nhưng đám thủy thủ trên chiếc USS Kirk giơ tay làm hiệu xua Nguyễn bay đi chỗ khác. Sân đáp quá nhỏ mà chiếc Chinook lại quá cồng kềnh. Nếu xuống thấp, cánh quạt có thể va đụng gây nguy hiểm cho đám hành khách, luôn cả đám thủy thủ trên tàu.
Nguyễn bỗng nảy ra một ý và lập tức cho dưới tàu biết. Ông sẽ lái chiếc Chinook quần trên boong. Vợ con ông ta sẽ liều mạng nhảy đại xuống đám người giăng tay chờ bên dưới…
Kent Chipman là một trong số những người đứng chờ sẵn dưới đó. Dân Texas, có một hàng ria quặp, được đồng đội gọi bằng cái tên “Chippy”. Anh ta chỉ nặng có 130 lbs và đang đánh lô tô trong bụng. Biết đủ sức hứng đám người nhảy ra từ chiếc trực thăng hay không đây. Trong lúc căng hai tay chờ đợi, một ý nghĩ cứ quẩn quanh trong đầu anh chàng: “Chắc chết cả đám!”.
Nguyễn lái chiếc Chinook tới phần đuôi của chiếc tàu, cố tránh không cho cánh quạt tới gần những chỗ quan trọng. Chỉ cần một luồng gió hay một sơ sẩy, chong chóng trực thăng sẽ chém trúng tàu, giết chết cả vợ con ông lẫn đám người dưới kia đang dang tay chờ đợi.
Người co-pilot mở cửa, ra hiệu cho vợ Nguyễn: “Nghe đây! Chị và mấy đứa nhỏ sẽ nhảy xuống trước!”. Miki nhảy ra. Kế đến là thằng em nó. Bà Nho bồng đứa con gái nhỏ, nhoài người thả nó xuống cho đám thủy thủ trước khi chính mình cũng nhảy xuống. Đám người chờ sẵn bên dưới hứng được hết.
Làm cách nào đáp khối sắt 12 tấn nầy xuống chiếc tàu? Ông ta chợt nghĩ ra cách khác – một cách chưa ai từng thử qua: Đâm xuống biển!
Ông ta bay ra xa chiếc tàu cách một khoảng an toàn và giữ cho chiếc trực thăng đứng yên chừng 10 phút với giàn bánh đáp nhấp nhô trên mặt sóng.
Chipman đứng chết lặng trên boong, ngó theo. “Cái thằng điên! Nó đang cởi bộ đồ bay” – Chipman nghĩ thầm, trong lúc mắt không rời chiếc trực thăng.
Nguyễn cởi bỏ cái áo bay và tháo dây súng trong khi vẫn giữ cần lái cho chiếc trực thăng đứng yên. Một phi công trông thấy cảnh đó sau này đã nói rằng, không thể hiểu sao Nguyễn có thể trút bỏ bộ đồ bay trong khi vẫn kềm cho chiếc trực thăng đứng yên một chỗ.
Xong xuôi Nguyễn nhấc cánh quạt bay về phía bên phải, xa khỏi chiếc tàu.
Khi chiếc trực thăng vừa chạm mặt nước, ông ta nhảy ùm xuống biển. Âm thanh cú va chạm nghe giống như cả một toa xe lửa bị lật. Mảnh vụn từ cánh quạt chiếc trực thăng bay veo véo qua chiếc USS Kirk. Chiếc trực thăng nằm lật ngửa trên mặt biển, mấy bánh xe chổng lên trời.
Một khoảng im lặng nghẹt thở khi cả bọn ngó xuống một vùng màu đỏ loang rộng ra chỗ Nguyễn nhảy xuống. Không ai thấy ông ta đâu. Đột nhiên một cái đầu nhô lên khỏi mặt biển. Nguyễn còn sống! Ông ta đã cố lặn thật sâu khi chiếc Chinook vừa chạm mặt nước. Còn khoảng màu đỏ loang trên biển là dầu thủy điều của chiếc trực thăng.
Đám người trên chiếc Kirk òa vỡ trong niềm vui lẫn thán phục. Ai nấy huýt sáo vang lừng.
Chiếc Kirk cho xuồng máy vớt Nguyễn lên. Ông ta lên tới boong tàu chỉ mặc độc một quần đùi màu đỏ của vợ may và một sơ mi trắng in hình hoa hòe. Mấy miếng vàng nhét trong túi đã rớt đâu mất. “Anh ta đòi được gặp vợ con ngay” – Doyle cơ khí trưởng trên tàu sau nầy nhắc lại.
Chiếc USS Kirk sau đó đã vớt thêm nhiều đợt người tị nạn tả tơi đào thoát trên những tàu hải quân VNCH, tàu buôn và cả tàu đánh cá. Jacobs cùng thủy thủ đoàn đã vớt tổng cộng 30,000 người đào tẩu từ Nam Việt Nam.
Sau này Jacobs nhắc lại rằng các thủy thủ của ông ta khá lành nghề nhưng đồng thời cũng rất may mắn. Biển Đông vốn có tiếng không hiền hòa, những đợt sóng cao 20 ft và gió giật rất mạnh là chuyện thường ngày. Vậy mà hôm đó mặt biển lại lặng yên.
“Thượng đế đã ngó xuống. Mấy ngày đó mặt biển phẳng lì như lưng con cá bơn”, ông ta nói.
Còn Chipman không bao giờ quên được thái độ trầm tĩnh của Nguyễn trong tình thế cấp bách và nhớ rõ mình đã vui mừng thế nào khi hứng được đứa con gái nhỏ cùng người vợ của viên phi công.
“Một kết thúc tốt đẹp cho một cuộc chiến khốn nạn” – anh ta nói. “Ông ta khá khiêm tốn”.
Đó cũng là một kết cục pha trộn giữa vui mừng và cay đắng cho Nguyễn. Ông ta cứu được vợ con nhưng mất hết mọi thứ khác – tiền bạc, sự nghiệp, thân bằng quyến thuộc và luôn cả Tổ quốc.
Gia đình ông về sống ở Seattle, sau đó ông tìm được việc làm trong hãng Boeing. Ông ta đi tiếp cuộc đời mới, vẫn bằng sự bền bỉ tháo vát mà ông đã có lúc vội vã bay ra biển để tìm đường sống. Một gia đình trong hội nhà thờ Lutheran bảo trợ cho gia đình ông. Ông chăm chỉ học thêm tiếng Anh. Ban đầu làm công việc lau dọn ban đêm và học thêm điện tử vào ban ngày. Sau khi được nhận vào làm cho hãng Boeing, ông thức dậy lúc 4 giờ sáng và rời nhà nửa tiếng sau đó.
Sáu tháng sau khi tới Mỹ, gia đình Nguyễn không cần tới sự trợ giúp của chính phủ nữa, ông bảo rằng xứ nầy là mảnh đất của rất nhiều cơ hội. Ông không muốn nhận, nhưng luôn luôn muốn cho. Ông bảo với vợ con, trong vòng 5 năm tới chúng ta sẽ phải là công dân Mỹ để được đóng thuế và đi bầu.
Đối với con cái, ông muốn chúng phải học thật giỏi, rằng đại học là ngưỡng cửa không gì thay thế được và ông sẽ giúp trả học phí nếu chúng học khá. Nhiều lúc, có thể nói, ông huấn luyện con cái giống như chúng là nhân viên phi hành của mình trên chiếc Chinook ngày nào.
Ông đặc biệt chăm lo cho đứa con gái út giống như cái ngày ông đem cô theo trong chuyến bay vượt thoát. Khi Mina bắt đầu hẹn hò với một anh nhạc sĩ – người sau nầy sẽ trở thành chồng cô – ông đã lựa dịp để ngồi nói chuyện tay đôi với anh chàng. “Cháu chưa bằng được con gái bác”, ông nói với anh ta. “Sao cháu không có bằng tiến sĩ? Con nhỏ nó có rồi đấy!”.
***
Chuyến vượt thoát tới đất Mỹ của cả gia đình đã trở thành một cái gì gần như huyền thoại. Nó không còn là câu chuyện trao đổi trên bàn ăn mà đã được cô đọng lại thành những giá trị được hết thảy mọi người nâng niu gìn giữ.
Sau khi ông thôi việc ở Boeing và về hưu năm 2000, Miki biết sẽ tặng cha mình món gì. Đó là một hộp kính thật đẹp bên trong có cái quần đùi màu đỏ mà ông đã mặc trong chuyến bay vượt thoát của gia đình. Nguyễn nhận món quà đó với một thái độ nhẹ nhàng. Ông nhận nó mà không nói lời nào.
Có lần ông đã viết về chuyến hành trình gian nan của gia đình ông trên một tờ báo Việt ngữ nhưng bằng lời kể của ngôi thứ ba. Ông không nhận mình chính là người phi công đó.
“Ba tôi không thích khoe khoang” – Miki nói. “Nhưng ông biết chắc ông đã làm một chuyện quá sức liều mạng”.
Suốt trong nhiều năm, viên chỉ huy tàu USS Kirk đã nhiều lần dò hỏi tung tích cái anh chàng pilot Việt Nam đã lái chiếc Chinook đâm xuống biển. Năm 2009, Jacobs xuất hiện trong một chương trình TV Việt ngữ, hỏi xem có ai biết gì về người phi công này.
Công việc dò tìm vẫn tiến hành với ít nhiều hi vọng vì cộng đồng Việt Nam trên đất Mỹ cũng chẳng to lớn gì. Một ngày nọ, Miki nhận được một e-mail trong đó có lời rao của Jacobs. Anh trả lời: “Nếu ông đang tìm người phi công lái chiếc Chinook ấy, thì có thể đó là cha tôi”. Sau đó là những cú điện thoại gọi về tới tấp…
Jacobs và những thuộc cấp cũ của ông trên chiếc USS Kirk tổ chức một buổi họp mặt đoàn tụ vào ngày 10-7-2010 tại Springfield, Virginia, và họ đã gởi thư mời ông Nguyễn. Ông không còn là người phi công trực thăng ngày nào trong tháng 4 năm 1975. Ông đã mất đứa con trai giữa – Mika – chết vì xuất huyết não năm 2003. Phần ông thì mắc bệnh Alzheimer sau khi về hưu. Bây giờ ông ngồi trong xe lăn. Không nói chuyện được, chỉ ú ớ qua cổ họng.
Tới dự buổi họp mặt với thủy thủ đoàn chiếc tàu USS Kirk, lần này bà vợ đẩy xe cho ông. Chiếc xe lăn được đẩy vô phòng tiếp tân, có con trai và con gái cùng đi với cha mẹ. Người đầu tiên mà bà thấy trong hành lang là “Chippy” Chipman, anh chàng thủy thủ đã hứng được bà và cô bé gái con bà khi cả hai nhảy ra khỏi chiếc trực thăng mấy chục năm về trước.
Nguyễn cũng nhận ra Chipman. Mắt ông ứa những giọt lệ.
“Ông ấy ngó tôi và tôi cũng ngó ông ấy trâng trâng. Ông ấy nhận ra tôi, và tôi cũng thế”, Chipman kể lại. Chipman tới bên Nguyễn đưa tay chào. Tự giới thiệu mình và nhắc lại chuyện xưa. Anh ngó qua Miki, giờ đã là một gã trung niên. “Tôi là người đã chụp được cậu lúc cậu nhảy xuống tàu”, anh nói bằng giọng Texas đặc sệt, trong lúc Miki không thốt được lời nào vì quá xúc động.
Đoạn anh ngó qua Mina. Trông cô tươi tắn như một bông hoa. Anh bảo với cô rằng lúc đó anh đã nhủ mình phải cố chụp cho được lúc cô rớt khỏi chiếc trực thăng cho dù phải đánh đổi bằng chính sinh mạng mình đi nữa…
“Tôi hãnh diện lắm”, Chipman kể lại tâm trạng mình lúc gặp Mina. “Tôi không có con, nhưng có một cái gì giống như bất ngờ mình gặp lại đứa con gái thất lạc đã lâu, nay gặp lại lúc nó khôn lớn. Cô ấy đã trưởng thành một cách hết sức tốt đẹp”.
Buổi họp mặt biến thành buổi tuyên dương ông Nguyễn. Người ta chiếu lại khúc phim màu ghi lại những pha gian nan của chiếc Chinook. Nhiều thủy thủ trên tàu ngày hôm đó đã chụp ảnh và quay được cảnh tượng xảy ra trên mặt biển. Mina nhìn vào tấm hình lúc cô đang dán khuôn mặt bé thơ của mình lên lớp kính chiếc Chinook khi nó bay vòng trên chiếc tàu. Cô cũng thấy được tấm hình lúc cô rớt xuống đôi tay của Chipman. “Tôi lạnh cả sống lưng”, cô nói.
Cô cũng được xem lại khúc phim cha cô nhào ra khỏi trực thăng lúc đâm xuống biển.
“Giống như Tom Cruise”, cô bảo. “Nghĩ rằng người đó là cha tôi. Nghĩ rằng đó là cảnh gia đình tôi đang nhảy khỏi máy bay từng người một. Những ý nghĩ đó làm tôi choáng cả người”.
Còn Miki có ý nghĩ riêng của anh. Trong nhiều năm, anh vẫn thán phục cha mình ở cái tính khiêm tốn của ông. Anh có thể hiểu được thái độ đó. Nhiều người tị nạn Việt Nam chỉ muốn quên đi những đau đớn trong quá khứ. Họ đã mất đi bao nhiêu thứ, thân phận, địa vị, gia đình, tiền của… Họ chỉ muốn nhắm vào tương lai.
Miki ngó Jacobs khi ông nầy tới trước đám quan khách trong phòng tiếp tân.
“Chúng tôi dành phần sau chót cho điều đáng kể nhất” – ông ta vừa nói vừa nhìn ông Nguyễn.
Jacobs đọc một đoạn tuyên dương Nguyễn về hành động gan dạ của người sĩ quan phi hành.
“Với tài ba của một phi công, thái độ trầm tĩnh trong lúc nguy cấp, hành động của ông Nguyễn đã mang về một hình ảnh tốt đẹp cho đất nước ông và đã nói lên được một truyền thống cao đẹp nhất của Hải quân Hoa Kỳ”.
Nguyễn không nói được lời nào khi ngồi yên ngó lên từ chiếc xe lăn. Một sĩ quan Hải quân cúi xuống gắn huy chương Không quân biểu dương lòng can đảm lên ve áo của ông.
Trong chiếc xe lăn Nguyễn vặn vẹo cử động thân mình. Miki, đứng sau ông, không hiểu cha mình muốn gì. Ông cựa quậy hai chân, rồi thẳng người lên trong cái áo khoác màu xám tro. Ông nhìn thẳng vào Jacobs. Và, ông chào bằng cách run rẩy đưa bàn tay mặt của mình lên trán…
***
Nguyễn qua đời vì bệnh Alzheimer 3 năm sau ở cái tuổi 73, ông đã vĩnh viễn ngủ luôn một giấc dài vào một đêm mùa hè. Nhưng trong cái buổi họp mặt đáng ghi nhớ đó, lúc thời gian quay ngược trở về một ngày khó quên của tháng 4, 1975, Miki đã thấy cha mình phác một cử chỉ dường như để nhắc với anh rằng, “Dù thân thể ông không thể cử động được nữa, nhưng ông – người cha mà anh đã tin chắc thế nào cũng tới để đưa anh và cả gia đình ra đi – ông vẫn mãi còn đó…”.
Trước khi đọc bài ” Cô gái có tên ” Nguyễn thị Di Tản” Mời các bạn và các NT, thân hữu nghe lại bài ca ” NGƯỜI DI TẢN BUỒN” của Nam Lộc với tiếng hát Diễm Liên.
CÔ GÁI CÓ TÊN “NGUYỄN THỊ DI TẢN”
Tôi là họ Nguyễn. Chỉ riêng họ Nguyễn đã chứng tỏ tôi là người Việt Nam. Nhưng lúc rời Việt Nam tôi chỉ là cái bào thai trong bụng mẹ, theo mẹ trên đường di tản và chào đời trên đảo Guam. Từ ngày ấy, tên tôi là Nguyễn Thị Di Tản.
Đến nay 48 năm qua, tôi đã trưởng thành nơi miền đất tạm dung của một tỉnh lỵ miền Tây Canada. Thành phố Winnipeg, buồn hắt hiu như tâm sự “Người Di Tản Buồn” – bản nhạc của nhạc sĩ Nam Lộc mà mẹ rất yêu thích.
Ngày còn bé, bằng bài hát ấy mẹ đã ru tôi ngủ. Riết rồi tôi quen với từng lời ca tiếng nhạc. Mẹ nói đêm nào không nghe bài hát ấy thì tôi không ngủ. Đến lúc tôi bập bẹ biết nói, mẹ dạy tôi hát. Tôi vừa quấn quít bên mẹ vừa đỏ đẻ hát những câu cuối cùng:
“Cho tôi xin lại một lần, ở nơi tôi dừng quân cũ
Cho tôi xin lại bìa rừng, nơi từng chiến đấu bên nhau
Cho tôi xin một lời chào, chào bao nhiêu người đã khuất
Cho tôi xin một mộ phần, bên ngàn chiến hữu của tôi!”.
Bạn bè đến chơi, mẹ đem “con sáo” của mẹ ra khoe, bảo tôi hát. Mỗi lần hát xong các bạn của mẹ đều rươm rướm nước mắt. Có lần tôi thỏ thẻ hỏi:
“Sao con hát hay mà mẹ với các bác lại khóc?”
Mẹ ôm tôi vào lòng và nói: “Bao giờ lớn lên, con sẽ hiểu”.
Trí óc non nớt của tôi mơ hồ cảm nhận có điều khác thường ở mẹ, một sự mất mát lớn lao trong đời mẹ. Những lúc rảnh, sau giờ cơm chiều mẹ dạy tôi nói:
– Con là người nước nào?
– Dạ thưa, con là người Việt Nam.
– Con tên gì?
– Con tên là Di Tản.
– Con có yêu nước Việt Nam không?
– Con yêu Việt Nam lắm, vì đó là quê hương của con.
Tôi đã thuộc nằm lòng những câu mẹ dạy. Tôi đã quen với cái tên Di Tản, thấy nó ngồ ngộ, dễ thương làm sao á.
Khi tôi 5 tuổi, mẹ dắt tôi đến trường gần nhà ghi tên đi học. Lần đầu tiên đến trường, một khung cảnh mới, người mới. Các học sinh cùng lớp với tôi hoàn toàn là những khuôn mặt xa lạ.
Cô giáo cũng thế. Lúc mẹ chào cô ra về, tôi ở lại trường với tâm trạng thật lạc lõng, bơ vơ. Tôi muốn khóc. Tôi ngồi cô đơn trong góc lớp. Cô giáo rất trẻ, đến bên tôi nhỏ nhẹ hỏi:
“What is your name?” (Tên con là gì?)
Tôi cúi mặt, bặm môi chừng như rướm máu, lí nhí đáp bằng cái giọng Việt Nam đặc sệt “Dạ .. Di Tản”.
Cô giáo chừng như không hiểu, xem lại quyển sổ và nói: “Your name is Đaithen”.
Tôi lắc đầu và lặp lại “Di Tản”. (DiTan). Cả lớp rộ lên cười. Và tôi bật khóc!
Sau buổi học, mẹ đón tôi về. Suốt quãng đường về nhà tôi lặng thinh, không nói điều gì. Mẹ âu yếm hỏi:
– Con đi học có vui không?
Chừng như chỉ chờ mẹ hỏi, tôi òa lên khóc và nói:
– Sao mẹ không đặt cho con cái tên nào dễ kêu như Helen, Cindy hay Linda như tụi nó mà lại đặt tên là Di Tản? Cô giáo đọc không được tên con, mấy đứa cùng lớp tụi nó chọc ghẹo con!
Mẹ tôi dịu dàng, từ tốn bảo:
– Con có biết cả nước Canada có biết bao nhiêu là Helen, là Cindy không? Còn tên Di Tản chỉ có mỗi mình con. Con không thấy con đặc biệt sao? Con phải hãnh diện vì cái tên rất là Việt Nam của con mới phải chứ!
Tôi nũng nịu pha chút hờn dỗi:
– Mà cô giáo đọc là Đaithen Mẹ thấy có kỳ không?
Mẹ trìu mến đưa tay vuốt tóc tôi, hiền hòa khẽ bảo:
– Tại cô không biết cách phát âm của người Việt mình thôi. Con phải đọc lại cho cô biết, rồi từ từ cô sẽ đọc đúng mà!
Giọng mẹ thiết tha hơn, chùng xuống, sũng đầy nước mắt:
– Mẹ đã mất tất cả rồi con ơi! Chỉ còn cái tên Việt Nam mà mẹ gởi cho con, con biết không?
Đầu óc của một đứa bé lên năm làm sao hiểu được hết những gì mẹ nói, song tôi biết mẹ buồn lắm. Có một cái gì làm mẹ khổ tâm lắm. Tôi cảm thấy ân hận. Tôi ôm mẹ hôn và nói:
– Con xin lỗi mẹ. Con làm mẹ buồn lắm phải không?
Tôi thấy mắt mẹ long lanh ngấn lệ:
– Không phải đâu, con của mẹ ngoan lắm!
Đó là chuyện ngày tôi 5 tuổi. Mãi cho đến những năm sau này, tên tôi vẫn là một đề tài cho lũ bạn chọc ghẹo. Nhưng chọc ghẹo cho vui chớ không có ác ý nào cả.
Lúc vào Highschool (Trung học) tôi đã lớn rồi. Tôi hiểu những u uất của đời mẹ và thương mẹ hơn bao giờ hết.
Thấm thoát tôi đã là cô gái 18. Soi gương tôi cũng biết mình đẹp lắm. Mẹ không cho tôi cắt tóc ngắn. Cả trường con gái, mái tóc dài chấm lưng với khuôn mặt Á Đông của tôi vẫn là một đề tài nổi bật nhất.
Lại thêm cái tên Di Tản nữa. Lúc này tôi không còn buồn mỗi lần bị giáo sư đọc trật tên. Bạn bè tôi, những đứa quen nhau từ lớp mẫu giáo đến giờ đã biết cách phát âm tên tôi đúng lắm. Tụi nó bỏ dấu còn lơ lớ nhưng tạm được.
Nhưng mỗi lần bắt đầu một niên học mới, tên tôi lại là một tràng cười cho lũ bạn cùng lớp mỗi khi giáo sư mới gọi tên tôi. Giáo sư nào cũng thế, ngập ngừng hồi lâu mới đọc.
Tôi cũng không nín cười được cái giọng như ngọng nghịu của một giáo sư Canada, đọc cái tên lạ hoắc chưa bao giờ nghe thấy. Trên tay cầm bài test của tôi, ngập ngừng rồi thầy gọi “Đai then”. Cả lớp ồ lên: “Oh, my god”. Giáo sư lúng túng, đảo mắt nhìn quanh. Cả lớp nhao nhao như bầy ong vỡ tổ. Chừng như tụi nó thích những dịp như thế để câu giờ, “nhứt quỉ, nhì ma, thứ ba học trò” mà. Con Linda ngồi cạnh hích cùi chỏ vào tôi khẽ bảo:
– Di Tản, ổng đọc sai tên mầy rồi kìa, sửa cho ổng đi.
Tôi đỏ mặt. Tôi chưa kịp nói gì cả thì tụi con trai ngồi sau lưng tôi ào ào lên như chợ nhóm:
– Di Tản, Di Tản not Đai then!Vị giáo sư lúc đó mới vỡ lẽ, biết là mình phát âm sai, ông gục gặc đầu nói xin lỗi và lập lại “Di Tản, Di Tản”…
Lúc nầy tôi không còn nhút nhát như ngày xưa nữa. Bạn bè tôi Tây, Tàu, Gia Nã Đại, đều “cứu bồ” mỗi lần có tình trạng như trên xảy ra. Dần dà mọi người gọi tên tôi rất ư là dễ thương.
Đến giờ nhớ lại những lời mẹ nói ngày nào, tôi hãnh diện vô cùng về cái tên mẹ đã cho tôi. Tôi thương mẹ vô cùng. Quê hương Việt Nam gắn với mẹ tôi như hình với bóng trong cuộc đời lưu lạc xứ người hơn một phần tư thế kỷ. Một điều mà tôi có thể khẳng định rằng, “dù hoàn cảnh có thể tách rời mẹ ra khỏi quê hương nhưng không thể nào tách rời quê hương ra khỏi tâm hồn mẹ được”.
Mẹ sống như chờ đợi, như mong mỏi một điều gì sẽ đến. Có lần tôi bắt gặp mẹ ngồi một mình trong đêm, tay mân mê, vuốt ve bức ảnh bán thân của cha tôi. Mẹ vẫn nuôi hy vọng cha còn sống và sẽ có ngày gia đình tôi đoàn tụ như xưa. Nhưng định mệnh đã an bài. Sau khi nhờ một người bạn làm ở Usaid đưa mẹ con tôi di tản, cha hứa sẽ gặp lại mẹ sau.
Vậy là, mẹ bụng mang dạ chửa lên phi cơ theo đoàn người di tản và mong có ngày gặp lại. Nhưng niềm hy vọng đó vơi dần theo năm tháng, cho đến ngày mẹ được tin cha đã nằm xuống nơi trại tập trung cải tạo. Cuộc sống của mẹ đã thầm lặng từ bấy lâu, nay càng thầm lặng hơn.
Ngoài giờ ở sở, về nhà cơm nước xong, trò chuyện với tôi đôi lát rồi mẹ vào phòng. Cái khoảng đời quá khứ ngày xưa. Những kỷ niệm ngọc ngà ngày nào của cha và mẹ như chút dấu yêu còn sót lại. Mỗi lần nhắc tới cha, mẹ như trẻ lại, mắt long lanh ngời sáng. Mẹ kể cho tôi chuyện tình của cô sinh viên Văn khoa với chàng sĩ quan hải quân.
Tôi thuộc nhiều bài hát Việt lắm nên ghẹo: “Mẹ và cha giống em hậu phương và anh nơi tiền tuyến quá!”.
Ngoài tình mẹ con, tôi như người bạn nhỏ để Mẹ tâm sự, để mẹ trang trải nỗi niềm. Nào là “con biết không, cha con hào hoa, đẹp trai lắm”… v.v… và v..v…
Tôi nịnh Mẹ: “Cha không đẹp trai làm sao cua được mẹ!”.
Mẹ cười thật dễ thương. Một điều mà tôi biết chắc chắn rằng không ai có thể thay thế hình bóng cha trong tim mẹ. Tôi muốn cùng mẹ nâng niu, gìn giữ những kỷ niệm dấu yêu, ngọc ngà của mẹ và cha đến suốt cuộc đời.
Hôm nay, nhân ngày giỗ lần thứ 44 của cha, con muốn thưa với cha một điều: Con cám ơn cha mẹ đã tạo cho con nên vóc nên hình. Dù chưa một lần gặp mặt, cha đã nằm xuống, đã đi thật xa, không trở lại với mẹ với con. Song với con, cha vẫn hiện hữu bên con từng giờ, từng phút. Con nghĩ cha đã che chở mẹ con và con hơn một phần tư thế kỷ nay. Xin cha hãy giữ gìn, che chở mẹ trong suốt quãng đời còn lại. Con mong ngày nào đất nước thật sự thanh bình, mẹ sẽ đưa con về thăm lại quê hương. Con sông xưa sẽ trở về bờ bến cũ.
Ngày ấy ở một phía trời nào đó của quê hương, con sẽ thấy cha mỉm cười và nói với con: “Cha sung sướng lắm, con biết không? Con yêu dấu…!”
Cuối năm vừa qua, trong dịp gởi chút quà Tết về cho các bạn ta ở trong nước, tình cờ tôi được nơi dịch vụ chuyển tiền cho biết K1 Nguyễn Viết Lộc đã mất khoảng năm 2020 nhưng rất tiếc chúng ta không biết tin buồn này. Sau đó, tôi cũng nhờ dịch vụ chuyển lại số tiền dự tính cho bạn Lộc tới Chị Văn Thị Niệm (vợ của Nguyễn Viết Lộc) thì buồn thay được biết chị Niệm cũng đã mất. Vì không biết ai là thân nhân (các con của AC Lộc) nên nơi dịch vụ đã hoàn lại số tiền đó cho tôi.
Vì lý do trên, sau khi thông báo tin buồn đến các bạn K1, tôi cũng forward tin này tới các diễn đàn CSQG để hy vọng quý chiến hữu đồng môn Học Viện sẽ tiếp tay giúp tìm kiếm các người con của Cố K1 Nguyễn Viết Lộc hầu chúng ta có thể giúp đỡ họ nếu cần. May mắn thay, mới đây, anh Nguyễn Linh (K9) đã giúp tìm ra tung tích của các người con của của K1 Nguyễn Viết Lộc (xem email của K9 Nguyễn Linh ở dưới).
Qua email của anh Nguyễn Linh, được biết 2 người con gái của cố K1 Nguyễn Viết Lộc hiện ở cùng địa phương với Nguyễn Viết Lộc trước đây, còn người con gái đầu hiện ở Thừa Thiên-Huế. AC Nguyễn Viết Lộc không có con trai.
Trước hoàn cảnh đáng thương của gia đình một người bạn K1 đã quá cố, tôi đề nghị, chúng ta nên có một chút quà tình nghĩa cho những người con của cố K1 Nguyễn Viết Lộc. Cụ thể, tôi sẽ trích ra $300 từ Quỹ K1 để giúp cho 3 người con này (mỗi người $100). Ngoài ra, quý AC nào muốn giúp đỡ thêm cho các cháu, xin gởi check về địa chỉ 323 N. Euclid St., # 150, Santa Ana, CA 92703. Check xin đề tên “HuỳnH Vĩnh Hưng hay Hung Huynh) + Memo: K1 Nguyen Viet Loc Project. Hiện đã có K1 Võ Đăng Ngọc ủng hộ $100 vào Project này.
Ít hàng thông tin đến Quý Bạn.
Thân mến,
Nhữ Đình Toán
Nguyên văn nội dung email của K9 Nguyễn Linh gởi Tổng Hội CSQG:
“KÍNH BÁO
Kinh gởi: Tổng Hội Cảnh Sát Quốc Gia VNCH Hải Ngoại
Ngày 2 tháng 2 năm 2023 anh Thái Văn Hòa gọi điện cho tôi và trao đổi về việc tìm kiếm Cựu Đại Úy CSQG NGUYỄN VIẾT LỘC …sau đó có gởi cho tôi xem bản tin đề nghị của anh K1NDT…..
Với tinh thần quý mến đối với người đã ra đi cùng thương cảm đến nhưng người con đang sống trong khó khăn tại quê nhà…cho nên tôi đã cố gắng gọi điện cho nhiều nơi,hỏi thăm nhiều chổ,và bằng mọi cách thì cuối cùng vào lúc 1 giờ sáng ngày Chúa Nhật (giờ Việt Nam) tôi đã gặp được cô con gái út của Cựu Đại Úy Nguyễn Viết Lộc tên Nguyễn Thanh Tâm…chúng tôi cả hai người đều đã rất xúc động khi cùng nghe và hỏi về một người đã ra đi.…
Sau đây là những chi tiết về Đ/Úy Nguyễn viết Lộc mà tôi đã ghi nhận được từ cháu Nguyễn Thanh Tâm :
=Cựu Đ/Úy Nguyễn Viết Lộc sinh năm 1945 =Quê quán: Làng Phò Trạch,huyện Phong Điên,tinh Thừa Thiên =Đơn vị phục vụ sau cùng:BCH/CSQG Thị Xã Tam Ky,Quãng Ngãi =Địa chỉ cư trú sau năm 1975:Thôn Lạc Thành,xã Tu Tra,huyện Đơn Dương,tinh Lâm Đông. =Cựu Đ/úy Lộc từ trần năm 2020 =Bà Nguyễn Viết Lộc mất cuói năm 2022 =ÔB Nguyễn Viết Lộc chỉ có 3 người con gái,không có con trai. =Con gái đầu hiện đang sống và sinh hoạt tại quê nhà tỉnh Thừa Thiên. =Con gái thứ hai và con gái út hiện đang sống và sinh hoạt tại xã Tu Tra. =Con gái út tên là NGUYỄN THANH TÂM =Địa chỉ: số nhà 139,thôn LẠC NGHIỆP,xã TU TRA,huyện ĐƠN DƯƠNG,tỉnh LÂM ĐÔNG. =Số diện thoại:(84)037 525 2589
Trên đây là những chi tiết tôi đã ghi nhận được từ cháu út Nguyễn Thanh Tâm về cựu Đ/úy Nguyễn Viết Lộc…. Xin kính gởi đến Tổng Hội để tường và tùy nghi… Kính chào
Vào lúc 10 sáng Thứ ba 18/4/2023, một số anh chị K1 ở Little Saigon, Nam CA, đã có buổi hội ngộ với K1 Tôn Thất Biên và phu nhân tại nhà hàng Phở Lovers trên đường Westminster, TP Garden Grove, nhân dịp AC Biên từ Minnesota đến Nam California thăm người thân và bạn bè. Buổi gặp gỡ đã diễn ra rất rộn ràng vui vẻ với những câu chuyện hàn huyên, chuyện trò thân mật đến gần 12 giờ mới bịn rịn chia tay. Cùng gặp mặt trong buổi gặp gỡ này còn có các thân hữu K3: AC Tôn Thất Anh/Lệ Ngọc (bà con của K1 TT Biên) và anh Nguyễn Ngọc Tiến (K3), người bạn học cũ của bạn Biên.
“Sinh, lão, bệnh, tử” là chu kỳ tất yếu đời người phải trải qua. Trong đó sinh và tử là thuộc ngoài tầm kiểm soát và ý muốn của ta. Còn như lão và bệnh cho đến ngày nay với sự hiểu biết và tiến bộ của y khoa, con người đã có khả năng nhận biết để có thể kiểm soát được hoặc làm chậm lại tiến trình của hai chu kỳ này.
Dù muốn hay không khi dòng đời vẫn cứ đều đặn trôi nhanh thì tuổi già sẽ đến như một định luật tất yếu. Làm cách nào để chuẩn bị tốt cho tuổi gia hay tuổi về hưu sẽ là một bài chia sẻ tiếp theo. Theo thời gian thì khi cơ thể chúng ta đã bắt đầu lão hóa thì đó là lúc mà bệnh tật dễ thâm nhập và tấn công nhất. Những căn bệnh về thể lý thì chúng ta khó tránh khỏi nhưng vẫn có khả năng đề phòng hoặc khám phá sớm để chữa trị. Tuy nhiên, điều tôi muốn nói ở đây là có những căn bệnh tâm lý có khả năng làm cho chúng ta bị chấn thương hay thậm chí dẫn đến cái chết mà ít được người Việt xem là quan trọng.
Khi cơ thể đã bắt đầu lão hóa thì những căn bệnh tinh thần như nỗi cô đơn, sự buồn phiền, đau khổ khiến cho thể xác hao mòn rất nhanh. Khi đi tập thể dục trong Gym, tôi có biết một bác đã lớn tuổi đến Gym để tập tành thì ít mà chính là để làm bà tám và đem theo các loại bánh được bác làm tại nhà để bán những người bạn trong đó. Thời gian sau không thấy bác ấy nữa, tôi hỏi thăm thì được biết cô con gái thấy bác làm bánh tốn điện, tốn nước quá nên đã vứt hết các dụng cụ để làm bánh khiến bác mất đi nguồn vui và sinh lực và nay thì đang bị bệnh rất nặng! Một đôi bạn già trước đây vẫn rất khỏe mạnh, vui vẻ, tham dự thánh lễ mỗi tuần chung với nhau. Nay bác trai đã mất, bác gái lưng còng hẳn xuống, chống nạng “walker” đi lễ con gái phải đưa vào tận chỗ ngồi trong nhà thờ!
Bản thân tôi thì trong khoảng thời gian diễn tiến cái chết đột ngột của cô em út cũng là lúc tôi phải chịu đựng những cơn đau đầu gối và đau lưng dữ dội đến nỗi phải chống gậy mỗi lần vào bệnh viện thăm em. Căn bệnh này làm cản trở những sinh hoạt rất bình thường mỗi ngày khiến cho tôi cảm thông nỗi buồn của những bệnh nhân khao khát được tự làm cho bản thân những hoạt động vệ sinh cá nhân.
Đáng lo hơn nữa là khi căn bệnh đau lưng đầu gối chỉ mới bớt đi thì tôi bắt đầu cảm thấy có từng cơn đau nhói phần ngực bên trái và đôi lúc cảm thấy như phải hít vào thật sâu thì mới có đủ hơi để thở. Khi gọi cho bệnh viện Kaiser để xin khám bệnh thì y tá trực chuyển ngay cho bác sĩ. Tôi được khuyến cáo là phải vào ngay phòng cấp cứu! Tại đó tôi được khám rất kỹ để chụp X ray và chuyền thuốc từ động mạch tay thẳng vào tim để phát hiện ra những bệnh trạng có thể xảy ra. Ngay hôm sau thì bác sĩ gọi lại báo tin vui cho biết là không tìm thấy có nguy cơ gì về căn bệnh tim mạch hết và những cơn đau có thể do những chấn động tâm lý! Bấy giờ tôi mới ý thức tác hại của những chấn thương thể lý gây ra do những chấn thương tâm lý. Kìa như chàng Từ Hải đã bị “heart attack” chết đứng khi sa cơ bị gài bẫy bởi Hồ Tôn Hiến! Ngũ Tử Tư sau một đêm suy nghĩ vận nước mà bạc trắng mái đầu!
Tôi phải tự giải cứu mình thôi! Tôi bắt đầu tập những động tác cho khớp gối và cột sống, tập Dịch Cân Kinh, tập ngồi thiền để hít thở thật sâu chuyển khí công đến các vùng bị đau đều đặn mỗi sáng. Mỗi tuần hai ngày vào Gym tập các máy vận động cho đầu gối và vùng lưng. Sau đó ngâm hồ nước Spa để các tia nước nóng phun thẳng massage các vùng bị đau và các huyệt đạo.
Bây giờ thay vì thương tiếc em thì tôi đọc kinh, xin lễ cho em và những người thân đã khuất. Trời đã sang xuân, khí hậu ấm áp cho tôi được thưởng thức vẻ đẹp bình dị “cây nhà lá vườn”: Sáng mở hết màn cửa sổ ngắm các chú chim sâu “hummingbirds” chuyền nhanh trên các cành hoa lê trắng muốt tại sân trước. Chiều đến đi bộ quanh vườn sau ngắm hoa mai, hoa lan, và hoa mười giờ cùng hít thở hương thơm của giàn dạ lý hương “jasmin” của nhà hàng xóm leo trên hàng rào. Nhất là tôi cố gắng giảm thiểu tối đa những gây hấn với “đối phương” để duy trì nền “hòa bình, thịnh vượng chung” trong đó “đôi bên cùng có lợi”!
Vẫn biết rằng “ Giày dép còn có số, huống chi là con người!” Nhưng trước cái viễn ảnh khi ta chưa “tới số” được mà đã bị bệnh quật ngã nằm một chỗ. Đau khổ nhất là khi đầu óc thì tỉnh táo nhận biết hết mọi sự mà mọi cử động, sinh hoạt cá nhân đều phải nhờ vào người khác hay các dụng cụ y khoa thì dù ở bất cứ tuổi nào thì đầu tư vào sức khỏe để được sống vui, sống khỏe phải kể là sự đầu tư khôn ngoan nhất.
1/ Không ít người bây giờ vẫn tưởng “Việt Nam” nghĩa là “nước Nam của người Việt”. Hoặc là, qua một số em sinh viên trẻ cho tôi biết ở trường giải thích: “Việt Nam” nghĩa là nước Việt nằm về phương Nam (so với Tàu). Mắc giống gì mà danh xưng một quốc gia lại đi lấy một quốc gia khác làm “hệ qui chiếu”? Coi đi, quốc gia của người Hàn nằm về phía đông nước Tàu, họ đâu giải thích nước họ là … “Hàn Đông”.
Ý nghĩa của hai chữ “Việt Nam” bấy lâu nay thường được diễn giải theo chủ quan của hậu thế, NHƯNG cho dù diễn giải vi diệu/hay ho/cao siêu tới đâu đi nữa thì – xin nhấn mạnh – hãy nhớ rằng tên nước VIỆT NAM 越 南 là do Nhà Nguyễn chính thức định danh. Thành thử phải tìm hiểu Nhà Nguyễn gọi vậy với ý nghĩa gì (chớ đừng nhồi nhét cách diễn giải của đời sau vào miệng tiền nhân)!
… Hệt như có một làn gió mát mẻ, hết sức khỏe khoắn sau khi tôi may mắn biết được ý nghĩa đích xác của tên nước “VIỆT NAM” khi vua Gia Long định danh.
“Việt” trong quốc danh “Việt Nam” 越 南, té ra không phải làm một với “Việt” trong quốc danh “Đại Việt” 大 越 (mặc dù nhìn vô mặt chữ hệt nhau)!
Nói vào ngay, “Việt” đàng nào cũng có cái hay, nhưng lại không giống nhau.
2/ VIỆT NAM trở thành quốc danh chính thức, lần đầu tiên là vào đời vua Gia Long, năm 1804.
2a) Ban đầu, năm 1802 (Nhâm tuất) vua Gia Long đặt tên nước là “Nam Việt” 南 越.
Nhưng nhà Thanh e ngại hai chữ 南 越 (Nam Việt) lặp lại quốc danh “Nam Việt” mà Triệu Võ Đế (Triệu Đà, năm 204 TCN – năm 137 TCN) đặt ra, bấy giờ lãnh thổ không chỉ có Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam (đồng bằng sông Hồng cho tới Hà Tĩnh) mà bao trùm luôn Lưỡng Quảng (Quảng Đông, Quảng Tây).
2b) Để tránh sự e ngại từ nhà Thanh, đầu tháng hai năm Giáp tý (1804) vua Gia Long đã đổi “Nam Việt” thành VIỆT NAM (越 南).
Dầu “Nam Việt” hoặc “Việt Nam” cũng đều chung ý nghĩa. Trịnh Hoài Đức (1765-1825), sử gia nổi tiếng sống dưới thời vua Gia Long, có mặt trong đoàn sứ qua Tàu đàm phán với nhà Thanh, cho biết:
“Việt Nam là quốc danh thích hợp để chỉ một lãnh thổ hợp nhứt giữa Đàng Trong với Đàng Ngoài”, “chúng ta (Nhà Nguyễn) sở hữu đất của Việt Thường trước, và vùng An Nam được thêm vào sau đó”.
Hai chữ VIỆT NAM là sự kết hợp giữa VIỆT (THƯỜNG) với (AN) NAM.
3/ Việt Thường là xứ mô?
Theo những sách cổ xưa như “Hậu Hán thư”, “Thượng thư đại truyện”, “Tư trị thông giám cương mục” thì nước Việt Thường 越 裳 nằm về phía nam Giao Chỉ.
Trong cuốn “Đại Nam Chính biên Liệt truyện sơ tập” thì xác định tên gọi VIỆT THƯỜNG “là tên cổ của xứ Champa”!
Một nguồn khác cho biết cách gọi “Việt Thường” là để chỉ lãnh thổ về phía nam của Giao Chỉ, bao gồm cả Phù Nam (sau này trở thành vùng Thủy Chân Lạp).
Khi Trịnh Hoài Đức viết “chúng ta sở hữu đất của Việt Thường 越 裳 trước”, là nhằm ghi nhận các bậc tiền nhân của vua Gia Long (là các Chúa Nguyễn) đã hùng cứ tại Đàng Trong (Champa, Thủy Chân Lạp). Sau đó Nguyễn Phúc (phước) Ánh (vua Gia Long) đã “thêm vào vùng An Nam 安 南 ” là xứ lấy Thăng Long làm kinh đô (tức Đàng Ngoài).
4/ HÃNH DIỆN HAI CHỮ “VIỆT NAM”!
Trước đó, theo dòng lịch sử qua các đời Lý, Trần, Lê… cho dù tự xưng quốc danh “Đại Việt, Đại Nam”… hay đại gì đi nữa. Tuy nhiên, nước Tàu không tôn trọng mà họ cứ gọi xứ sở (lấy Thăng Long làm kinh đô) là “An Nam” miết (và gọi các đời vua Lý, Trần, Hậu Lê đều là “An Nam quốc vương”)!
Đến đời Hoàng đế Gia Long, ban đầu triều đình bên Tàu ép vẫn phải dùng quốc danh “An Nam”, không chịu “Việt Nam”. Nhưng sứ giả của vua Gia Long không đồng ý.
Với quốc danh VIỆT NAM, quí bạn chú ý: Đây là LẦN ĐẦU TIÊN trong suốt lịch sử cả ngàn năm, Tàu đã phải từ bỏ cách gọi truyền kiếp “An Nam” đối với nước Việt chúng ta!
Đời nay chúng ta mỗi khi hãnh diện về hai chữ “Việt Nam” thì nên nhớ tới cái danh xưng đó do Hoàng đế Gia Long đặt ra, thống nhất sơn hà, và sau đó năm 1808 vua phân chia địa giới khu vực. Đừng uống nước mà quên luôn cái nguồn quốc hiệu đó từ đâu, đừng bị nhiễm thói ăn cháo đá bát.
5/ THAY LỜI KẾT
“Việt” (trong “Đại Việt” 大 越 ) dùng để chỉ Việt tộc.
Còn “Việt” (trong “Việt Nam” 越 南 ) tuy cùng mặt chữ nhưng được lấy từ trong danh từ kép “Việt Thường” 越 裳 (định danh về địa lý).
Ghép chữ “Việt” (trong “Việt Thường”) với “Nam” (trong “An Nam”) thành quốc danh VIỆT NAM, là sự ghi nhận đàng hoàng về nguồn gốc của từng vùng lãnh thổ!
Qua đó, vua Gia Long cho thấy niềm hãnh diện trước việc hợp nhứt Đàng Trong với Đàng Ngoài. Lãnh thổ nước ta LẦN ĐẦU TIÊN trải rộng từ bắc đến nam, từ ải Nam Quan cho tới mũi Cà Mau bao gồm quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, nếu theo đường cái quan đi từ Quảng Ninh tới mũi Cà Mau thì thành đường cong chữ S.
Tắt một lời, VIỆT NAM là quốc danh mang ý nghĩa về SỰ HỢP NHỨT LÃNH THỔ.
Ý nghĩa nêu trên của hai chữ VIỆT NAM, thiệt hay hết sức, độc đáo hết sức trong tinh thần đoàn kết các cộng đồng dân tộc ./.
Bạn phải đăng nhập để bình luận.