Quốc hận 30/4 – Đoàn tàu ra bắc về Nam (K2 Huan N Du)


1588273971-ToLich1975

ĐOÀN TÀU RA BẮC VỀ NAM

Tháng tư buông súng bỏ cờ
Tan hàng rã ngũ quên lời thề xưa
Đổi đời dãi nắng dầm mưa
Rừng ôm mối hận đất thừa nổi đau

Tàu sông Hương đoạn trường dạo khúc
Hằng ngàn người chen chúc nhục vinh
Nén đau thương trong khoang tàu địa ngục
Hồn vật vờ ra biển sáng mờ sương

Hoàng liên sơn mây trời phủ núi
Vượt suối băng rừng đốn nứa chặt cây
Chén cơm sắn lát tàn thân xác
Một cỏi đi về nắm đất vùi thây

Xuôi về Tân lập miền đất tổ
Con cháu vua Hùng sống kiếp khổ đau
Cô phụ thăm chồng qua Ấm thượng
Bến đục bến trong cố nuốt lệ trào

Thanh hóa đón tù gió Lào nắng cháy
Biệt xứ buồn khu sãn xuất Thanh lâm
Rừng núi đêm nay gió gào thác đổ
Còn chút hơi tàn chống đở thiên tai

Còn đó mùa xuân nhớ đôi má thắm
Thoáng hương xưa đón phút giao thừa
Tiếng hát xuyên qua rừng núi thẳm
Phố nhỏ trông con mắt mẹ nhòa

Tiếng hát xuôi nam đàn lổi nhịp
Bước sang ngang chẳng hẹn ngày về
Còn đâu đôi lứa đường in bóng
Đoàn tàu hú còi đánh thức cơn mê
Huan N Du

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Quốc hận 30/4 – Đoàn tàu ra bắc về Nam (K2 Huan N Du)

Dân tộc lưu vong _ Lê phương Lan sưu tầm

Dân Tộc Lưu Vong

dantoc_luuvong

1.-Trong lịch sử nhân loại, có hai dân tộc chịu số phận bi thảm hơn các dân tộc khác. Rất không may, một trong hai lại là dân tộc Việt chúng ta. Một trong hai còn lại là Do Thái.

Cái “lỗi” của dân tộc Do Thái là sinh ra Chúa rồi hành hình Chúa trên thập giá. Họ đã bị kỳ thị, xua đuổi, bị truy bức giết hại và lưu vong khắp nơi. Năm 1947, cái dân tộc rã rời nát vụn đó đã cùng nhau gom góp từng đồng tiền, từng mảnh đất để gầy dựng lại quốc gia của mình. Định mệnh bi thảm của dân tộc đã khiến họ gắn kết với nhau thành một khối, nhờ đó quốc gia Israel đã phát triển không ngừng. Một mình họ đã đánh bại quân đội của liên minh các nước Ả rập để bảo vệ sự tồn vong của đất nước. Và giờ, họ đã có bom nguyên tử…

Khác với dân tộc Do Thái lưu vong hơn ngàn năm trước, dân Việt chỉ bắt đầu lưu vong đại trà từ sau 30 Tháng Tư, 1975. Dân tộc này không hành hình Chúa nhưng vẫn phải chịu một định mệnh bi thảm không kém. Cuộc chiến tranh giữa hai miền anh em với vũ khí bom đạn của ngoại bang kết thúc, đất nước được gom về một mối những tưởng sẽ bắt đầu một thời đại vàng son, nhưng không ngờ, thời đại đó biến thành một cuộc phân ly bi thảm.

Vượt qua cả dân tộc Do Thái, người Việt “vươn lên” dẫn đầu lịch sử lưu vong của nhân loại bằng cuộc di cư chính trị quy mô nhất về mặt số lượng từ trước đến nay. Hàng triệu người đã lao ra biển trên những chiếc tàu đánh cá các loại để thoát khỏi đất mẹ của mình, chấp nhận cả cái chết để… lưu vong. Một phần của dân tộc đã làm mồi cho cướp biển cho cá mập và bị nhốt trong những trại tị nạn nghẹt thở ở các nước Đông Nam Á đồng liêu.

Cuộc di cư khốc liệt của người Việt đã đưa họ đến khắp nơi trên thế giới, kể cả Châu Phi, điều mà trước 1975, cả hai miền Nam Bắc đều không hề có. Tâm thức lưu vong kể từ mốc thời gian đó, đã phục kích trong các tầng lớp dân Việt, đóng đinh trong đầu họ cho đến tận ngày nay, không ngơi nghỉ và không có cơ hội để chấm dứt…

2.- Sau 30 Tháng Tư, 1975, ở Phan Thiết quê tôi, người vượt biên bằng đường biển rất nhiều do thành phố này sống bằng kinh tế biển với rất nhiều tàu đánh cá. Người Phan Thiết không chỉ giúp “đồng bọn” quê mình vượt biển mà còn giúp cả dân Sài Gòn, với giá vài ba cây vàng/người, có khi chủ tàu chỉ thu đủ sở hụi để mua dầu, thực phẩm và đút lót cho bộ đội biên phòng. Có nguyên một làng chài hay cả xóm đạo vượt biên sạch.

Sau đó, khi đất nước đói meo, thì những người vượt biên bắt đầu góp phần gầy dựng quê nhà bằng… những thùng hàng gởi về từ nước ngoài. Dân quê tôi gọi đó là hàng thùng. Một người vượt biên thoát được qua nước ngoài thì cả gia đình được nhờ, cả gia đình cùng thoát thì dòng họ được nhờ. Dân sống bằng hàng thùng chả cần làm gì vẫn phong lưu vì nhận hàng thùng đều đặn gởi về. Gia đình nào sống bằng hàng thùng thì con trai rất dễ lấy vợ và con gái, dù xấu, cũng rất dễ lấy chồng. Tâm thế chờ đợi hàng Mỹ, hàng Tây đã ăn sâu từ đó vào ký ức của cộng đồng. Không chỉ chờ đợi hàng thùng và đô la từ nước ngoài, người thân trong nước của các Việt kiều thường xuyên sống trong tâm trạng chờ đợi được bảo lãnh. Gặp nhau là họ hỏi thăm nhau bằng một câu cửa miệng: “bao giờ đi?” Đi ở đây chính là lưu vong, là thoát khỏi nơi họ chôn nhao cắt rún!

3.- Năm 2017, tôi đi du lịch Mỹ để thăm thú bạn bè định cư ở đất nước này. Ngày tôi đi cũng là ngày một nhà báo đồng nghiệp rất thân với tôi tại Đài Phát Thanh TP.HCM xách va ly qua Mỹ để… lưu vong. Anh đã nghỉ hưu và được gia đình bảo lãnh. Rất nhiều nhà báo mà tôi quen biết khi về hưu đã sang Mỹ định cư, coi việc lưu vong là điều hết sức bình thường. Ai thắc mắc tuổi già còn sang Mỹ để làm gì, cứ hỏi họ đi rồi sẽ nhận được câu trả lời.

Tại Mỹ, tôi ghé San Jose thăm L.Hoàng, bạn học thời trung học của tôi ở Phan Thiết. Năm 1977, trong khi tôi đi bộ đội thì Hoàng vượt biên. Cậu qua Mỹ rồi tiếp tục học hành để lấy bằng kỹ sư, giờ cậu là trưởng một bộ phận trong một công ty có 5,000 căn hộ cho thuê. Cậu ở trong khu da trắng, với một ngôi nhà trị giá $800,000 và lái chiếc “Mẹc” 7 chỗ.

Mười bảy tuổi, Hoàng đã là nhà tổ chức vượt biên cho người khác và từng vô tù ngồi 6 tháng. Sau khi tổ chức nhiều chuyến tàu vượt biển thành công, cậu cùng 5 anh chị em của mình quyết định ra đi. Giờ họ cùng nhau sinh sống trên đất Mỹ. Hoàng bảo tôi khi gặp lại, rằng gia đình cậu lúc đó nghèo quá và thấy đất nước cũng nghèo quá nên vượt biên là con đường duy nhất mà cậu buộc phải lựa chọn. Cậu bảo,“tao đâu muốn sống lưu vong, nhưng không vượt biên làm sao có tương lai. Nước Mỹ lúc đó là miền đất hứa và họ đã cưu mang tao nên cuối cùng tao cũng quen với cuộc sống bên này.”

Đã có 3 thế hệ người Việt sống lưu vong trên đất Mỹ, thế hệ thứ nhất là những người bỏ chạy khỏi nước khi quân đội miền Bắc tràn vào Sài Gòn và những người vượt biển. Thế hệ thứ hai là các sĩ quan VNCH và gia đình họ qua đây theo diện HO cùng với những người được thế hệ thứ nhất bảo lãnh. Thế hệ thứ 3 là con em người Việt sang du học, tìm kiếm việc làm, định cư và bảo lãnh cha mẹ. Trong số cha mẹ này có rất nhiều cán bộ nhà nước, họ đầu tư tiền bạc cho con cái ăn học, mua nhà cửa, gởi tiền vào tài khoản ngân hàng và chờ đợi thời cơ để… lưu vong. Tiền họ có được, dĩ nhiên đến từ túi của nhân dân, vì lương tháng của Thủ tướng Việt Nam chưa tới 20 triệu đồng Việt Nam (khoảng $850) thì họ lấy gì để nuôi con du học?

4.- năm, người Việt trong nước bỏ tiền tỉ đô la để mua nhà ở Mỹ. Ai có khả năng này? Chỉ có cán bộ và doanh nhân. Ở một thành phố của quận Cam, có cả một” ngôi làng” của cán bộ nhà nước. Họ chuyên sống bằng hồn của Trương Ba nhưng da hàng thịt. Họ ở Việt Nam, làm việc trong bộ máy của chế độ nhưng tâm hồn thì để trong những ngôi nhà ở Mỹ. Ở đó có con cháu họ chờ sẵn. Giống như Võ Kim Cự Formosa vậy, nếu cần thiết lên đường xuất ngoại là đi thôi. Tiền đã gởi, nhà đã mua, con cháu đã chuẩn bị đón chào. Tôi biết Tổng biên tập một tờ báo nọ, vẫn đương chức ở Việt Nam nhưng đã có thẻ xanh ở Mỹ. Tổng biên tập phải là đảng viên, nhưng chuyện này dễ ẹt, một khi lòng người đã muốn… lưu vong thì không có gì là không thể. Có Tổng biên tập một tờ báo chửi Mỹ không còn nước non gì, thế mà cuối đời xách đít qua Mỹ để sống… lưu vong.

Các nhà báo đàn anh tôi, cùng lứa tuổi tôi hoặc nhỏ hơn ở Sài gòn, bằng cách này cách khác, đều gởi con du học Mỹ hoặc Úc. Đó là tương lai mới không chỉ cho con cái họ mà cho cả họ. Giờ họ là công dân Việt Nam nhưng mai mốt đây họ sẽ là công dân Mỹ Úc, nếu muốn. Cả đất nước đều như vậy. Nhiều công dân Việt hiện nay đã lên kế hoạch cho cuộc sống tương lai của mình không gắn với Việt Nam. Dân thường, cán bộ viên chức, nhà văn nhà báo, lãnh đạo cấp cao… Không từ một tầng lớp nào. Ai dám chắc rằng các lãnh đạo cao cấp ko chọn trước cho mình một chỗ để… lưu vong khi cần thiết. Cuộc đời, thời cuộc mà, đâu nói trước được điều gì. Người thân Mỹ chọn chỗ sẵn ở Mỹ, người thân Tàu chọn chỗ sẵn ở Tàu. Có biến là “dzọt” thôi. Vậy thì làm sao trách các công dân Việt thu nhập thấp tìm qua Đài Loan hay Nhật Bản để… lưu vong bất hợp pháp. Đã lưu vong thì bình đẳng, giống như sự bình đẳng của con người trong tuyên ngôn nhân quyền vậy, dù người giàu tiền và nghèo tiền thì chọn cách lưu vong khác nhau.

5.- Vậy tại sao người Việt lại khát khao… lưu vong như thế? Câu hỏi này quá dễ trả lời bằng câu thành ngữ Việt Nam “đất lành chim đậu.”

Khi đất mẹ không còn lành thì người dân Việt sẽ tìm cách ra đi như một tất yếu để tìm đến mảnh đất lành hơn. Không ai muốn tương lai gia đình con cái mình sống trong môi trường nhiễm độc, nền giáo dục – y tế thiếu chất lượng, sự bất nhất giữa nói và làm của những người điều hành xã hội, sự giả dối lừa lọc nhau giữa người và người, niềm tin cùn mòn vì mọi thứ đều có thể làm giả, từ học vấn giả, nhân cách giả, đến cả lịch sử cũng bị làm giả; những “thành phố đáng sống” thì kẹt xe và ngập nước quanh năm, sinh mạng con người không biết “đứt bóng” lúc nào bởi tai nạn giao thông; dân sinh thì khổ ải, dân chủ và dân quyền thì lắm vấn đề và người dân thì bị cấm đoán nói lên sự thật của đất nước mình… vân vân và vân vân. Đó là chưa kể nỗi sợ hãi bị mai phục và thôn tính đến từ anh bạn vàng ròng láng giềng khổng lồ phương Bắc…

6.- Chưa bao giờ tôi muốn sống lưu vong, nhưng tôi lại muốn con cái mình được đào tạo bởi nền giáo dục Mỹ, Úc và đó cũng là nơi sinh sống thật tuyệt cho chúng nếu chúng muốn… lưu vong. Tâm thức cá nhân được định hình từ tâm thức xã hội, do vậy ngay trong bản thân, tôi đã bị tâm thức lưu vong chế ngự, kể từ khi đứa con của tôi bắt đầu xách cặp tới trường để học… tiếng Anh.

Một quốc gia sao có thể hùng cường khi người dân của quốc gia ấy cứ nhấp nhổm… lưu vong và không coi trọng đất nước của mình? Khó có thể gắn kết những con người nhấp nhổm ấy lại với nhau bằng tình cảm quốc gia để đoàn kết như dân Do Thái.

Ai cũng biết rằng, kẻ lưu vong là kẻ bị nhổ bật gốc rễ khỏi quê hương, như bụi lúa bị nhổ bật khỏi ruộng nước. Đó là một nỗi đau từng là điều không chịu nổi đối với người tha hương xa xứ, vậy mà giờ đây, nó đang biến thành một món ăn tâm lý hạng nhất của người Việt chúng ta. Vì đâu nên nỗi cuộc này, hả người?

Ngọc Vinh https://vietluan

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Dân tộc lưu vong _ Lê phương Lan sưu tầm

30/4/2023 Ngày tưởng niệm Sài gòn thất thủ _ ST của Vỏ Lâu

BÀ THỐNG ĐỐC THỨ 49 CỦA TIỂU BANG MICHIGAN
ĐÃ KÝ MỘT TUYÊN BỐ CÔNG NHẬN:

343633203_742457760909074_5899984371326355775_n

30/04/2023: Ngày Tưởng Niệm
Sài Gòn Thất Thủ

30 Tháng Tư, 2023

XÉT RẰNG, ngày 30 tháng 4 năm 2023, đánh dấu kỷ niệm 48 năm kết thúc chiến tranh Việt Nam và bắt đầu cuộc di cư của hàng triệu người Việt Nam ra khỏi Việt Nam sau khi thủ đô Sài Gòn của miền Nam Việt Nam rơi vào tay cộng sản vào ngày 30 tháng 4 năm 1975; và,

XÉT RẰNG, đối với nhiều người Việt Nam và Cựu chiến binh đã trực tiếp tham chiến và những người Mỹ gốc Việt định cư tại Hoa Kỳ, chiến tranh Việt Nam là một thảm kịch đầy đau thương và mất mát sinh mạng của người Mỹ, người Việt Nam và Đông Nam Á; và,

XÉT RẰNG, hơn 58.000 người đã thiệt mạng và 304.000 người bị thương trong tổng số 2,59 triệu người đã phục vụ trong Chiến tranh Việt Nam; cứ mười người Mỹ từng phục vụ ở Việt Nam thì có một người trở thành nạn nhân chiến tranh; và,

XÉT RẰNG, các lực lượng vũ trang Nam Việt Nam đã mất 275.000 binh sĩ và nhiều người khác bị thương, cùng với một số thương vong không xác định của công dân Việt Nam; và,

XÉT RẰNG, bắt đầu từ năm 1975, và kéo dài đến giữa thập niên 1990, nhiều làn sóng người tị nạn Việt Nam bắt đầu rời Việt Nam; gần 800.000 người đã liều mạng trên những chiếc thuyền nhỏ, nguy hiểm để đến các trại tái định cư ở Hồng Kông, Malaysia, Indonesia, Thái Lan và Philippines trước khi cuối cùng được tái định cư tại Hoa Kỳ; và,

XÉT RẰNG, để phục vụ cộng đồng của họ và thịnh vượng ở Mỹ, người Mỹ gốc Việt đã thành lập các khu thương mại dành cho người Mỹ gốc Việt lâu đời và thịnh vượng trên khắp Hoa Kỳ, bao gồm cả ở phía đông nam Quận Oakland và Tây Michigan; và,

XÉT RẰNG, hơn 25.000 người Việt hiện đang sinh sống tại Michigan; và,

XÉT RẰNG, chúng ta phải dạy cho con cháu chúng ta và các thế hệ tương lai những bài học quan trọng từ Chiến tranh Việt Nam, kể cả hoàn cảnh của những người tị nạn Việt Nam sau khi chiến tranh kết thúc là một ví dụ mạnh mẽ về các giá trị tự do và dân chủ như thế nào;

VÌ VẬY, NGAY BÂY GIỜ, tôi, Gretchen Whitmer, thống đốc bang Michigan, tuyên bố ngày 30 tháng 4 năm 2023 là Ngày Tưởng niệm Sài Gòn thất thủ/Tháng 4 Đen ở Michigan.

Thống đốc

344006413_789230955752561_4179632404857226711_n

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở 30/4/2023 Ngày tưởng niệm Sài gòn thất thủ _ ST của Vỏ Lâu

Tin mới nhất về sức khỏe K1 Bửu Trần

TÌNH TRẠNG SỨC KHỎE
CỦA K1 BỬU TRẦN.

IMG-2776

Chiều nay 28/4/2023 mình có gọi gặp được bạn Bửu và nói chuyện với con gái của Bửu.
Con gái của Bửu cho biết bạn Bửu Trần đã được về nhà 4 hôm rồi nhưng còn yếu nói chưa được vì cái lưỡi còn đau. Nhiều khi Bửu nói mà con gái không hiểu, nên phải dùng giấy bút để trao đổi, nhưng bàn tay còn yếu nên chữ viết ngoằn ngèo khó hiểu.
Khi mình nói chuyện với Bửu thì Bửu khóc vì không nói được, làm mình cũng mủi lòng.
So với mấy tấm hình post lên CNN tuần trước thì thấy nay  Bửu đã khá hơn nhiều. Hy vọng thời gian hồi phục cho bạn Bửu sẽ nhanh hơn.
Bửu viết trên giấy đưa cho con gái đọc ” gởi lời cảm ơn tất cả bạn bè”

Dưới đây là vài tấm hình mới nhất của Bửu chụp lại trên màn hình laptop (nên hơi mờ)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Tin mới nhất về sức khỏe K1 Bửu Trần

Chuyện ngày Quốc Hận -Người phi công liều mạng

NGƯỜI PHI CÔNG LIỀU MẠNG

174189866_488522085662563_1831427639088260095_n

Ngày 29-4-1975, ông Nguyễn Văn Ba – giống như trong mẩu truyện được xé ra từ kịch bản quay một cuốn phim loại “Mission imposible” – đã cùng với vợ và ba đứa con tìm cách đào thoát trong khi quân miền Bắc đang tiến qua những cửa ngõ vào Sài Gòn.

Sau 20 phút bay căng thẳng, chiếc trực thăng của Nguyễn lượn vòng trên biển Đông trong tình trạng một sống một chết, và những thủy thủ Hoa Kỳ trên chiếc tàu gần đó chỉ còn biết đứng ngó sững.

“Không thể nào hiểu được anh ta đã làm cách nào. Đúng là một phù thủy Ấn Độ” – lời của Hugh Doyle, sĩ quan trưởng cơ khí trên một tàu hải quân gần chỗ chiếc trực thăng của ông Nguyễn đang quần trên trời.

Nguyễn không phải là một anh hùng mà đang ở trong tình thế cực kỳ tuyệt vọng. Ông là một trong hàng ngàn người lính miền Nam đang cố tìm cách thoát ra khỏi nước trong khi đại quân Bắc Việt đang ào ạt tiến tới Sài Gòn.

Sự can thiệp quân sự của Hoa Kỳ đã chính thức chấm dứt từ 2 năm trước với hiệp định hòa bình ký tại Paris, nhưng vào thời điểm đó vẫn còn các nhân viên ngoại giao và dân sự Mỹ cần được di tản, đằng sau đó là những thường dân Việt Nam cố bám theo để tìm đường thoát. Nhiều người trong số đó là quân nhân giống như Nguyễn – một thiếu tá Không quân VNCH – nếu kẹt lại, có thể họ sẽ lãnh án nặng và cả gia đình sẽ tan tác trong những trại tập trung chết người.

Nhưng Nguyễn đã có sẵn một kế hoạch. Ông cho vợ con về ở nhờ họ hàng bên vợ trong một khu dân cư Sài Gòn, và dặn vợ ông – bà Nho – chuẩn bị mọi thứ, ông sẽ lái chiếc Chinook CH-47 đến bốc đi – đó là một loại trực thăng cỡ lớn của Không quân VNCH mà tiếng động cơ không nhầm lẫn của nó có thể nhận ra được từ mấy cây số.

“Khi nghe được tiếng Chinook, phải sẵn sàng” – Nguyễn dặn vợ như thế.

Miki, đứa con trai lớn, nằm dưới gầm giường để tránh đạn từ đêm trước. Suốt đêm nó nghe súng nổ ran khắp nơi lẫn tiếng rít hỏa tiễn. Quân cộng sản đã quá gần. Nhưng nó vẫn bình tĩnh và tin chắc cha nó thế nào cũng tới!

Miki nghe được tiếng động cơ Chinook vào lúc sáng sớm. Nó chụp vội túi quần áo, luôn cả bình sữa cho đứa em gái 10 tháng – Mina – cùng với cả gia đình lao nhanh ra chiếc Chinook, trên đó đã có sẵn vài người bạn của cha nó.

Lên được chiếc máy bay, nó nghe ông Nguyễn nói thấy có nhiều trực thăng Mỹ bay ra khơi, chắc chắn họ sẽ đáp xuống ở đâu đó.

“Coi thử ra sao” – Nguyễn nói như thế trong khi đưa chiếc trực thăng hướng ra biển, vừa lúc đèn đỏ nhấp nháy báo bình xăng sắp cạn.

Ra tới biển, Nguyễn bật qua tần số cấp cứu và nghe được âm thanh trao đổi giữa các tàu Mỹ. Có người ngó xuống thấy một chiếc tàu đang ở ngay dưới bụng trực thăng. Đó là chiếc USS Kirk với một sân đáp nhỏ. Nguyễn cho trực thăng sà xuống.

Chỉ huy chiếc USS Kirk là Đại úy Paul Jacobs – thuộc cấp vẫn gọi ông ta là “Big Jake”. Dân New England, cao 6.3 ft, bộc trực và thẳng tính, ông ta được lệnh bắn hạ bất cứ phi cơ nào không xác định được danh tính và nhắm mòi đe dọa đến cuộc di tản đang diễn ra ồ ạt từ Sài Gòn.

Lẽ ra Jacobs đã cho bắn rơi chiếc trực thăng của Nguyễn nhưng ông đã không làm như vậy. Ông ta độ chừng Nguyễn là một người lính miền Nam đang tìm đường thoát. Bầu trời ngày hôm đó dầy đặc những phi công Việt Nam đưa gia đình và đồng đội bay ra biển trên những chiếc trực thăng cuối cùng còn sót lại.

“Chỉ khi nào nó bắn xuống, không thì mình sẽ không khai hỏa trước” – Jacobs ra lệnh.

Nguyễn liên lạc với chiếc Kirk. Tiếng Anh của ông ta chỉ tạm đủ, trên tàu cũng có một thủy thủ bập bẹ được chút ít tiếng Việt. Ông ta bảo với những người dưới tàu rằng chiếc Chinook có chở theo đàn bà và con nít. Và máy bay ông ta sắp cạn xăng.

“Hoặc là tôi hạ cánh trên tàu hoặc sẽ rớt xuống biển”, Nguyễn nói. “Hãy cứu chúng tôi!”

Nhưng đám thủy thủ trên chiếc USS Kirk giơ tay làm hiệu xua Nguyễn bay đi chỗ khác. Sân đáp quá nhỏ mà chiếc Chinook lại quá cồng kềnh. Nếu xuống thấp, cánh quạt có thể va đụng gây nguy hiểm cho đám hành khách, luôn cả đám thủy thủ trên tàu.

Nguyễn bỗng nảy ra một ý và lập tức cho dưới tàu biết. Ông sẽ lái chiếc Chinook quần trên boong. Vợ con ông ta sẽ liều mạng nhảy đại xuống đám người giăng tay chờ bên dưới…

Kent Chipman là một trong số những người đứng chờ sẵn dưới đó. Dân Texas, có một hàng ria quặp, được đồng đội gọi bằng cái tên “Chippy”. Anh ta chỉ nặng có 130 lbs và đang đánh lô tô trong bụng. Biết đủ sức hứng đám người nhảy ra từ chiếc trực thăng hay không đây. Trong lúc căng hai tay chờ đợi, một ý nghĩ cứ quẩn quanh trong đầu anh chàng: “Chắc chết cả đám!”.

Nguyễn lái chiếc Chinook tới phần đuôi của chiếc tàu, cố tránh không cho cánh quạt tới gần những chỗ quan trọng. Chỉ cần một luồng gió hay một sơ sẩy, chong chóng trực thăng sẽ chém trúng tàu, giết chết cả vợ con ông lẫn đám người dưới kia đang dang tay chờ đợi.

Người co-pilot mở cửa, ra hiệu cho vợ Nguyễn: “Nghe đây! Chị và mấy đứa nhỏ sẽ nhảy xuống trước!”. Miki nhảy ra. Kế đến là thằng em nó. Bà Nho bồng đứa con gái nhỏ, nhoài người thả nó xuống cho đám thủy thủ trước khi chính mình cũng nhảy xuống. Đám người chờ sẵn bên dưới hứng được hết.

Bây giờ trên chiếc Chinook chỉ còn lại một mình Nguyễn.

Làm cách nào đáp khối sắt 12 tấn nầy xuống chiếc tàu? Ông ta chợt nghĩ ra cách khác – một cách chưa ai từng thử qua: Đâm xuống biển!

Ông ta bay ra xa chiếc tàu cách một khoảng an toàn và giữ cho chiếc trực thăng đứng yên chừng 10 phút với giàn bánh đáp nhấp nhô trên mặt sóng.

Chipman đứng chết lặng trên boong, ngó theo. “Cái thằng điên! Nó đang cởi bộ đồ bay” – Chipman nghĩ thầm, trong lúc mắt không rời chiếc trực thăng.

Nguyễn cởi bỏ cái áo bay và tháo dây súng trong khi vẫn giữ cần lái cho chiếc trực thăng đứng yên. Một phi công trông thấy cảnh đó sau này đã nói rằng, không thể hiểu sao Nguyễn có thể trút bỏ bộ đồ bay trong khi vẫn kềm cho chiếc trực thăng đứng yên một chỗ.

Xong xuôi Nguyễn nhấc cánh quạt bay về phía bên phải, xa khỏi chiếc tàu.

Khi chiếc trực thăng vừa chạm mặt nước, ông ta nhảy ùm xuống biển. Âm thanh cú va chạm nghe giống như cả một toa xe lửa bị lật. Mảnh vụn từ cánh quạt chiếc trực thăng bay veo véo qua chiếc USS Kirk. Chiếc trực thăng nằm lật ngửa trên mặt biển, mấy bánh xe chổng lên trời.

Một khoảng im lặng nghẹt thở khi cả bọn ngó xuống một vùng màu đỏ loang rộng ra chỗ Nguyễn nhảy xuống. Không ai thấy ông ta đâu. Đột nhiên một cái đầu nhô lên khỏi mặt biển. Nguyễn còn sống! Ông ta đã cố lặn thật sâu khi chiếc Chinook vừa chạm mặt nước. Còn khoảng màu đỏ loang trên biển là dầu thủy điều của chiếc trực thăng.

Đám người trên chiếc Kirk òa vỡ trong niềm vui lẫn thán phục. Ai nấy huýt sáo vang lừng.

“Cừ quá!”, một người hét to. “Một cú tài tình”, người khác phụ họa theo.

Chiếc Kirk cho xuồng máy vớt Nguyễn lên. Ông ta lên tới boong tàu chỉ mặc độc một quần đùi màu đỏ của vợ may và một sơ mi trắng in hình hoa hòe. Mấy miếng vàng nhét trong túi đã rớt đâu mất. “Anh ta đòi được gặp vợ con ngay” – Doyle cơ khí trưởng trên tàu sau nầy nhắc lại.

Chiếc USS Kirk sau đó đã vớt thêm nhiều đợt người tị nạn tả tơi đào thoát trên những tàu hải quân VNCH, tàu buôn và cả tàu đánh cá. Jacobs cùng thủy thủ đoàn đã vớt tổng cộng 30,000 người đào tẩu từ Nam Việt Nam.

Sau này Jacobs nhắc lại rằng các thủy thủ của ông ta khá lành nghề nhưng đồng thời cũng rất may mắn. Biển Đông vốn có tiếng không hiền hòa, những đợt sóng cao 20 ft và gió giật rất mạnh là chuyện thường ngày. Vậy mà hôm đó mặt biển lại lặng yên.

“Thượng đế đã ngó xuống. Mấy ngày đó mặt biển phẳng lì như lưng con cá bơn”, ông ta nói.

Còn Chipman không bao giờ quên được thái độ trầm tĩnh của Nguyễn trong tình thế cấp bách và nhớ rõ mình đã vui mừng thế nào khi hứng được đứa con gái nhỏ cùng người vợ của viên phi công.

“Một kết thúc tốt đẹp cho một cuộc chiến khốn nạn” – anh ta nói. “Ông ta khá khiêm tốn”.

Đó cũng là một kết cục pha trộn giữa vui mừng và cay đắng cho Nguyễn. Ông ta cứu được vợ con nhưng mất hết mọi thứ khác – tiền bạc, sự nghiệp, thân bằng quyến thuộc và luôn cả Tổ quốc.

Gia đình ông về sống ở Seattle, sau đó ông tìm được việc làm trong hãng Boeing. Ông ta đi tiếp cuộc đời mới, vẫn bằng sự bền bỉ tháo vát mà ông đã có lúc vội vã bay ra biển để tìm đường sống. Một gia đình trong hội nhà thờ Lutheran bảo trợ cho gia đình ông. Ông chăm chỉ học thêm tiếng Anh. Ban đầu làm công việc lau dọn ban đêm và học thêm điện tử vào ban ngày. Sau khi được nhận vào làm cho hãng Boeing, ông thức dậy lúc 4 giờ sáng và rời nhà nửa tiếng sau đó.

Sáu tháng sau khi tới Mỹ, gia đình Nguyễn không cần tới sự trợ giúp của chính phủ nữa, ông bảo rằng xứ nầy là mảnh đất của rất nhiều cơ hội. Ông không muốn nhận, nhưng luôn luôn muốn cho. Ông bảo với vợ con, trong vòng 5 năm tới chúng ta sẽ phải là công dân Mỹ để được đóng thuế và đi bầu.

Đối với con cái, ông muốn chúng phải học thật giỏi, rằng đại học là ngưỡng cửa không gì thay thế được và ông sẽ giúp trả học phí nếu chúng học khá. Nhiều lúc, có thể nói, ông huấn luyện con cái giống như chúng là nhân viên phi hành của mình trên chiếc Chinook ngày nào.

Ông đặc biệt chăm lo cho đứa con gái út giống như cái ngày ông đem cô theo trong chuyến bay vượt thoát. Khi Mina bắt đầu hẹn hò với một anh nhạc sĩ – người sau nầy sẽ trở thành chồng cô – ông đã lựa dịp để ngồi nói chuyện tay đôi với anh chàng. “Cháu chưa bằng được con gái bác”, ông nói với anh ta. “Sao cháu không có bằng tiến sĩ? Con nhỏ nó có rồi đấy!”.

                                                        ***

Chuyến vượt thoát tới đất Mỹ của cả gia đình đã trở thành một cái gì gần như huyền thoại. Nó không còn là câu chuyện trao đổi trên bàn ăn mà đã được cô đọng lại thành những giá trị được hết thảy mọi người nâng niu gìn giữ.

Sau khi ông thôi việc ở Boeing và về hưu năm 2000, Miki biết sẽ tặng cha mình món gì. Đó là một hộp kính thật đẹp bên trong có cái quần đùi màu đỏ mà ông đã mặc trong chuyến bay vượt thoát của gia đình. Nguyễn nhận món quà đó với một thái độ nhẹ nhàng. Ông nhận nó mà không nói lời nào.

Có lần ông đã viết về chuyến hành trình gian nan của gia đình ông trên một tờ báo Việt ngữ nhưng bằng lời kể của ngôi thứ ba. Ông không nhận mình chính là người phi công đó.

“Ba tôi không thích khoe khoang” – Miki nói. “Nhưng ông biết chắc ông đã làm một chuyện quá sức liều mạng”.

Suốt trong nhiều năm, viên chỉ huy tàu USS Kirk đã nhiều lần dò hỏi tung tích cái anh chàng pilot Việt Nam đã lái chiếc Chinook đâm xuống biển. Năm 2009, Jacobs xuất hiện trong một chương trình TV Việt ngữ, hỏi xem có ai biết gì về người phi công này.

Công việc dò tìm vẫn tiến hành với ít nhiều hi vọng vì cộng đồng Việt Nam trên đất Mỹ cũng chẳng to lớn gì. Một ngày nọ, Miki nhận được một e-mail trong đó có lời rao của Jacobs. Anh trả lời: “Nếu ông đang tìm người phi công lái chiếc Chinook ấy, thì có thể đó là cha tôi”. Sau đó là những cú điện thoại gọi về tới tấp…

Jacobs và những thuộc cấp cũ của ông trên chiếc USS Kirk tổ chức một buổi họp mặt đoàn tụ vào ngày 10-7-2010 tại Springfield, Virginia, và họ đã gởi thư mời ông Nguyễn. Ông không còn là người phi công trực thăng ngày nào trong tháng 4 năm 1975. Ông đã mất đứa con trai giữa – Mika – chết vì xuất huyết não năm 2003. Phần ông thì mắc bệnh Alzheimer sau khi về hưu. Bây giờ ông ngồi trong xe lăn. Không nói chuyện được, chỉ ú ớ qua cổ họng.

Tới dự buổi họp mặt với thủy thủ đoàn chiếc tàu USS Kirk, lần này bà vợ đẩy xe cho ông. Chiếc xe lăn được đẩy vô phòng tiếp tân, có con trai và con gái cùng đi với cha mẹ. Người đầu tiên mà bà thấy trong hành lang là “Chippy” Chipman, anh chàng thủy thủ đã hứng được bà và cô bé gái con bà khi cả hai nhảy ra khỏi chiếc trực thăng mấy chục năm về trước.

Nguyễn cũng nhận ra Chipman. Mắt ông ứa những giọt lệ.

“Ông ấy ngó tôi và tôi cũng ngó ông ấy trâng trâng. Ông ấy nhận ra tôi, và tôi cũng thế”, Chipman kể lại. Chipman tới bên Nguyễn đưa tay chào. Tự giới thiệu mình và nhắc lại chuyện xưa. Anh ngó qua Miki, giờ đã là một gã trung niên. “Tôi là người đã chụp được cậu lúc cậu nhảy xuống tàu”, anh nói bằng giọng Texas đặc sệt, trong lúc Miki không thốt được lời nào vì quá xúc động.

Đoạn anh ngó qua Mina. Trông cô tươi tắn như một bông hoa. Anh bảo với cô rằng lúc đó anh đã nhủ mình phải cố chụp cho được lúc cô rớt khỏi chiếc trực thăng cho dù phải đánh đổi bằng chính sinh mạng mình đi nữa…

“Tôi hãnh diện lắm”, Chipman kể lại tâm trạng mình lúc gặp Mina. “Tôi không có con, nhưng có một cái gì giống như bất ngờ mình gặp lại đứa con gái thất lạc đã lâu, nay gặp lại lúc nó khôn lớn. Cô ấy đã trưởng thành một cách hết sức tốt đẹp”.

Buổi họp mặt biến thành buổi tuyên dương ông Nguyễn. Người ta chiếu lại khúc phim màu ghi lại những pha gian nan của chiếc Chinook. Nhiều thủy thủ trên tàu ngày hôm đó đã chụp ảnh và quay được cảnh tượng xảy ra trên mặt biển. Mina nhìn vào tấm hình lúc cô đang dán khuôn mặt bé thơ của mình lên lớp kính chiếc Chinook khi nó bay vòng trên chiếc tàu. Cô cũng thấy được tấm hình lúc cô rớt xuống đôi tay của Chipman. “Tôi lạnh cả sống lưng”, cô nói.

Cô cũng được xem lại khúc phim cha cô nhào ra khỏi trực thăng lúc đâm xuống biển.

“Giống như Tom Cruise”, cô bảo. “Nghĩ rằng người đó là cha tôi. Nghĩ rằng đó là cảnh gia đình tôi đang nhảy khỏi máy bay từng người một. Những ý nghĩ đó làm tôi choáng cả người”.

Còn Miki có ý nghĩ riêng của anh. Trong nhiều năm, anh vẫn thán phục cha mình ở cái tính khiêm tốn của ông. Anh có thể hiểu được thái độ đó. Nhiều người tị nạn Việt Nam chỉ muốn quên đi những đau đớn trong quá khứ. Họ đã mất đi bao nhiêu thứ, thân phận, địa vị, gia đình, tiền của… Họ chỉ muốn nhắm vào tương lai.

Miki ngó Jacobs khi ông nầy tới trước đám quan khách trong phòng tiếp tân.

“Chúng tôi dành phần sau chót cho điều đáng kể nhất” – ông ta vừa nói vừa nhìn ông Nguyễn.

Jacobs đọc một đoạn tuyên dương Nguyễn về hành động gan dạ của người sĩ quan phi hành.

“Với tài ba của một phi công, thái độ trầm tĩnh trong lúc nguy cấp, hành động của ông Nguyễn đã mang về một hình ảnh tốt đẹp cho đất nước ông và đã nói lên được một truyền thống cao đẹp nhất của Hải quân Hoa Kỳ”.

Nguyễn không nói được lời nào khi ngồi yên ngó lên từ chiếc xe lăn. Một sĩ quan Hải quân cúi xuống gắn huy chương Không quân biểu dương lòng can đảm lên ve áo của ông.

Trong chiếc xe lăn Nguyễn vặn vẹo cử động thân mình. Miki, đứng sau ông, không hiểu cha mình muốn gì. Ông cựa quậy hai chân, rồi thẳng người lên trong cái áo khoác màu xám tro. Ông nhìn thẳng vào Jacobs. Và, ông chào bằng cách run rẩy đưa bàn tay mặt của mình lên trán…

                                           ***

Nguyễn qua đời vì bệnh Alzheimer 3 năm sau ở cái tuổi 73, ông đã vĩnh viễn ngủ luôn một giấc dài vào một đêm mùa hè. Nhưng trong cái buổi họp mặt đáng ghi nhớ đó, lúc thời gian quay ngược trở về một ngày khó quên của tháng 4, 1975, Miki đã thấy cha mình phác một cử chỉ dường như để nhắc với anh rằng, “Dù thân thể ông không thể cử động được nữa, nhưng ông – người cha mà anh đã tin chắc thế nào cũng tới để đưa anh và cả gia đình ra đi – ông vẫn mãi còn đó…”.

(FB Nguyễn Phú Yên)

(st)

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Chuyện ngày Quốc Hận -Người phi công liều mạng

Cô gái có tên “Nguyễn Thị Di Tản” – Từ FB Bach Đang

Trước khi đọc bài ” Cô gái có tên ” Nguyễn thị Di Tản” Mời các bạn và các NT, thân hữu nghe lại bài ca ” NGƯỜI DI TẢN BUỒN” của Nam Lộc với tiếng hát Diễm Liên.

CÔ GÁI CÓ TÊN “NGUYỄN THỊ DI TẢN”

Tôi là họ Nguyễn. Chỉ riêng họ Nguyễn đã chứng tỏ tôi là người Việt Nam. Nhưng lúc rời Việt Nam tôi chỉ là cái bào thai trong bụng mẹ, theo mẹ trên đường di tản và chào đời trên đảo Guam. Từ ngày ấy, tên tôi là Nguyễn Thị Di Tản.
Đến nay 48 năm qua, tôi đã trưởng thành nơi miền đất tạm dung của một tỉnh lỵ miền Tây Canada. Thành phố Winnipeg, buồn hắt hiu như tâm sự “Người Di Tản Buồn” – bản nhạc của nhạc sĩ Nam Lộc mà mẹ rất yêu thích.
Ngày còn bé, bằng bài hát ấy mẹ đã ru tôi ngủ. Riết rồi tôi quen với từng lời ca tiếng nhạc. Mẹ nói đêm nào không nghe bài hát ấy thì tôi không ngủ. Đến lúc tôi bập bẹ biết nói, mẹ dạy tôi hát. Tôi vừa quấn quít bên mẹ vừa đỏ đẻ hát những câu cuối cùng:
“Cho tôi xin lại một lần, ở nơi tôi dừng quân cũ
Cho tôi xin lại bìa rừng, nơi từng chiến đấu bên nhau
Cho tôi xin một lời chào, chào bao nhiêu người đã khuất
Cho tôi xin một mộ phần, bên ngàn chiến hữu của tôi!”.
Bạn bè đến chơi, mẹ đem “con sáo” của mẹ ra khoe, bảo tôi hát. Mỗi lần hát xong các bạn của mẹ đều rươm rướm nước mắt. Có lần tôi thỏ thẻ hỏi:
“Sao con hát hay mà mẹ với các bác lại khóc?”
Mẹ ôm tôi vào lòng và nói: “Bao giờ lớn lên, con sẽ hiểu”.
Trí óc non nớt của tôi mơ hồ cảm nhận có điều khác thường ở mẹ, một sự mất mát lớn lao trong đời mẹ. Những lúc rảnh, sau giờ cơm chiều mẹ dạy tôi nói:
– Con là người nước nào?
– Dạ thưa, con là người Việt Nam.
– Con tên gì?
– Con tên là Di Tản.
– Con có yêu nước Việt Nam không?
– Con yêu Việt Nam lắm, vì đó là quê hương của con.
Tôi đã thuộc nằm lòng những câu mẹ dạy. Tôi đã quen với cái tên Di Tản, thấy nó ngồ ngộ, dễ thương làm sao á.

Khi tôi 5 tuổi, mẹ dắt tôi đến trường gần nhà ghi tên đi học. Lần đầu tiên đến trường, một khung cảnh mới, người mới. Các học sinh cùng lớp với tôi hoàn toàn là những khuôn mặt xa lạ.
Cô giáo cũng thế. Lúc mẹ chào cô ra về, tôi ở lại trường với tâm trạng thật lạc lõng, bơ vơ. Tôi muốn khóc. Tôi ngồi cô đơn trong góc lớp. Cô giáo rất trẻ, đến bên tôi nhỏ nhẹ hỏi:
“What is your name?” (Tên con là gì?)
Tôi cúi mặt, bặm môi chừng như rướm máu, lí nhí đáp bằng cái giọng Việt Nam đặc sệt “Dạ .. Di Tản”.
Cô giáo chừng như không hiểu, xem lại quyển sổ và nói: “Your name is Đaithen”.
Tôi lắc đầu và lặp lại “Di Tản”. (DiTan). Cả lớp rộ lên cười. Và tôi bật khóc!
Sau buổi học, mẹ đón tôi về. Suốt quãng đường về nhà tôi lặng thinh, không nói điều gì. Mẹ âu yếm hỏi:
– Con đi học có vui không?
Chừng như chỉ chờ mẹ hỏi, tôi òa lên khóc và nói:
– Sao mẹ không đặt cho con cái tên nào dễ kêu như Helen, Cindy hay Linda như tụi nó mà lại đặt tên là Di Tản? Cô giáo đọc không được tên con, mấy đứa cùng lớp tụi nó chọc ghẹo con!
Mẹ tôi dịu dàng, từ tốn bảo:
– Con có biết cả nước Canada có biết bao nhiêu là Helen, là Cindy không? Còn tên Di Tản chỉ có mỗi mình con. Con không thấy con đặc biệt sao? Con phải hãnh diện vì cái tên rất là Việt Nam của con mới phải chứ!
Tôi nũng nịu pha chút hờn dỗi:
– Mà cô giáo đọc là Đaithen Mẹ thấy có kỳ không?
Mẹ trìu mến đưa tay vuốt tóc tôi, hiền hòa khẽ bảo:
– Tại cô không biết cách phát âm của người Việt mình thôi. Con phải đọc lại cho cô biết, rồi từ từ cô sẽ đọc đúng mà!
Giọng mẹ thiết tha hơn, chùng xuống, sũng đầy nước mắt:
– Mẹ đã mất tất cả rồi con ơi! Chỉ còn cái tên Việt Nam mà mẹ gởi cho con, con biết không?
Đầu óc của một đứa bé lên năm làm sao hiểu được hết những gì mẹ nói, song tôi biết mẹ buồn lắm. Có một cái gì làm mẹ khổ tâm lắm. Tôi cảm thấy ân hận. Tôi ôm mẹ hôn và nói:
– Con xin lỗi mẹ. Con làm mẹ buồn lắm phải không?
Tôi thấy mắt mẹ long lanh ngấn lệ:
– Không phải đâu, con của mẹ ngoan lắm!

Đó là chuyện ngày tôi 5 tuổi. Mãi cho đến những năm sau này, tên tôi vẫn là một đề tài cho lũ bạn chọc ghẹo. Nhưng chọc ghẹo cho vui chớ không có ác ý nào cả.
Lúc vào Highschool (Trung học) tôi đã lớn rồi. Tôi hiểu những u uất của đời mẹ và thương mẹ hơn bao giờ hết.

Thấm thoát tôi đã là cô gái 18. Soi gương tôi cũng biết mình đẹp lắm. Mẹ không cho tôi cắt tóc ngắn. Cả trường con gái, mái tóc dài chấm lưng với khuôn mặt Á Đông của tôi vẫn là một đề tài nổi bật nhất.
Lại thêm cái tên Di Tản nữa. Lúc này tôi không còn buồn mỗi lần bị giáo sư đọc trật tên. Bạn bè tôi, những đứa quen nhau từ lớp mẫu giáo đến giờ đã biết cách phát âm tên tôi đúng lắm. Tụi nó bỏ dấu còn lơ lớ nhưng tạm được.
Nhưng mỗi lần bắt đầu một niên học mới, tên tôi lại là một tràng cười cho lũ bạn cùng lớp mỗi khi giáo sư mới gọi tên tôi. Giáo sư nào cũng thế, ngập ngừng hồi lâu mới đọc.
Tôi cũng không nín cười được cái giọng như ngọng nghịu của một giáo sư Canada, đọc cái tên lạ hoắc chưa bao giờ nghe thấy. Trên tay cầm bài test của tôi, ngập ngừng rồi thầy gọi “Đai then”. Cả lớp ồ lên: “Oh, my god”. Giáo sư lúng túng, đảo mắt nhìn quanh. Cả lớp nhao nhao như bầy ong vỡ tổ. Chừng như tụi nó thích những dịp như thế để câu giờ, “nhứt quỉ, nhì ma, thứ ba học trò” mà. Con Linda ngồi cạnh hích cùi chỏ vào tôi khẽ bảo:
– Di Tản, ổng đọc sai tên mầy rồi kìa, sửa cho ổng đi.
Tôi đỏ mặt. Tôi chưa kịp nói gì cả thì tụi con trai ngồi sau lưng tôi ào ào lên như chợ nhóm:
– Di Tản, Di Tản not Đai then!Vị giáo sư lúc đó mới vỡ lẽ, biết là mình phát âm sai, ông gục gặc đầu nói xin lỗi và lập lại “Di Tản, Di Tản”…
Lúc nầy tôi không còn nhút nhát như ngày xưa nữa. Bạn bè tôi Tây, Tàu, Gia Nã Đại, đều “cứu bồ” mỗi lần có tình trạng như trên xảy ra. Dần dà mọi người gọi tên tôi rất ư là dễ thương.

Đến giờ nhớ lại những lời mẹ nói ngày nào, tôi hãnh diện vô cùng về cái tên mẹ đã cho tôi. Tôi thương mẹ vô cùng. Quê hương Việt Nam gắn với mẹ tôi như hình với bóng trong cuộc đời lưu lạc xứ người hơn một phần tư thế kỷ. Một điều mà tôi có thể khẳng định rằng, “dù hoàn cảnh có thể tách rời mẹ ra khỏi quê hương nhưng không thể nào tách rời quê hương ra khỏi tâm hồn mẹ được”.
Mẹ sống như chờ đợi, như mong mỏi một điều gì sẽ đến. Có lần tôi bắt gặp mẹ ngồi một mình trong đêm, tay mân mê, vuốt ve bức ảnh bán thân của cha tôi. Mẹ vẫn nuôi hy vọng cha còn sống và sẽ có ngày gia đình tôi đoàn tụ như xưa. Nhưng định mệnh đã an bài. Sau khi nhờ một người bạn làm ở Usaid đưa mẹ con tôi di tản, cha hứa sẽ gặp lại mẹ sau.
Vậy là, mẹ bụng mang dạ chửa lên phi cơ theo đoàn người di tản và mong có ngày gặp lại. Nhưng niềm hy vọng đó vơi dần theo năm tháng,  cho đến ngày mẹ được tin cha đã nằm xuống nơi trại tập trung cải tạo. Cuộc sống của mẹ đã thầm lặng từ bấy lâu, nay càng thầm lặng hơn.
Ngoài giờ ở sở, về nhà cơm nước xong, trò chuyện với tôi đôi lát rồi mẹ vào phòng. Cái khoảng đời quá khứ ngày xưa. Những kỷ niệm ngọc ngà ngày nào của cha và mẹ như chút dấu yêu còn sót lại. Mỗi lần nhắc tới cha, mẹ như trẻ lại, mắt long lanh ngời sáng. Mẹ kể cho tôi chuyện tình của cô sinh viên Văn khoa với chàng sĩ quan hải quân.
Tôi thuộc nhiều bài hát Việt lắm nên ghẹo: “Mẹ và cha giống em hậu phương và anh nơi tiền tuyến quá!”.
Ngoài tình mẹ con, tôi như người bạn nhỏ để Mẹ tâm sự, để mẹ trang trải nỗi niềm. Nào là “con biết không, cha con hào hoa, đẹp trai lắm”… v.v… và v..v…
Tôi nịnh Mẹ: “Cha không đẹp trai làm sao cua được mẹ!”.
Mẹ cười thật dễ thương. Một điều mà tôi biết chắc chắn rằng không ai có thể thay thế hình bóng cha trong tim mẹ. Tôi muốn cùng mẹ nâng niu, gìn giữ những kỷ niệm dấu yêu, ngọc ngà của mẹ và cha đến suốt cuộc đời.

Hôm nay, nhân ngày giỗ lần thứ 44 của cha, con muốn thưa với cha một điều: Con cám ơn cha mẹ đã tạo cho con nên vóc nên hình. Dù chưa một lần gặp mặt, cha đã nằm xuống, đã đi thật xa, không trở lại với mẹ với con. Song với con, cha vẫn hiện hữu bên con từng giờ, từng phút. Con nghĩ cha đã che chở mẹ con và con hơn một phần tư thế kỷ nay. Xin cha hãy giữ gìn, che chở mẹ trong suốt quãng đời còn lại. Con mong ngày nào đất nước thật sự thanh bình, mẹ sẽ đưa con về thăm lại quê hương. Con sông xưa sẽ trở về bờ bến cũ.
Ngày ấy ở một phía trời nào đó của quê hương, con sẽ thấy cha mỉm cười và nói với con: “Cha sung sướng lắm, con biết không? Con yêu dấu…!”

Từ FB Bach Dang

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Cô gái có tên “Nguyễn Thị Di Tản” – Từ FB Bach Đang

Tâm thư của Trưởng K1 – Kêu gọi giúp các con của cố K1 NVL

PROJECT HỔ TRỢ CHO CÁC CON  CỐ K1 NGUYỄN VIẾT LỘC

download (1)

Các Bạn K1 thân mến,

Cuối năm vừa qua, trong dịp gởi chút quà Tết về cho các bạn ta ở trong nước, tình cờ tôi được nơi dịch vụ chuyển tiền cho biết K1 Nguyễn Viết Lộc đã mất khoảng năm 2020 nhưng rất tiếc chúng ta không biết tin buồn này. Sau đó, tôi cũng nhờ dịch vụ chuyển lại số tiền dự tính cho bạn Lộc tới Chị Văn Thị Niệm (vợ của Nguyễn Viết Lộc) thì buồn thay được biết chị Niệm cũng đã mất. Vì không biết ai là thân nhân (các con của AC Lộc) nên nơi dịch vụ đã hoàn lại số tiền đó cho tôi.

Vì lý do trên, sau khi thông báo tin buồn đến các bạn K1, tôi cũng forward tin này tới các diễn đàn CSQG để hy vọng quý chiến hữu đồng môn Học Viện sẽ tiếp tay giúp tìm kiếm các người con của Cố K1 Nguyễn Viết Lộc hầu chúng ta có thể giúp đỡ họ nếu cần. May mắn thay, mới đây, anh Nguyễn Linh (K9) đã giúp tìm ra tung tích của các người con của của K1 Nguyễn Viết Lộc (xem email của K9 Nguyễn Linh ở dưới).

Qua email của anh Nguyễn Linh, được biết 2 người con gái của cố K1 Nguyễn Viết Lộc hiện ở cùng địa phương với Nguyễn Viết Lộc trước đây, còn người con gái đầu hiện ở Thừa Thiên-Huế. AC Nguyễn Viết Lộc không có con trai.

Trước hoàn cảnh đáng thương của gia đình một người bạn K1 đã quá cố, tôi đề nghị, chúng ta nên có một chút quà tình nghĩa cho những người con của cố K1 Nguyễn Viết Lộc. Cụ thể, tôi sẽ trích ra $300 từ Quỹ K1 để giúp cho 3 người con này (mỗi người $100). Ngoài ra, quý AC nào muốn giúp đỡ thêm cho các cháu, xin gởi check về địa chỉ 323 N. Euclid St., # 150, Santa Ana, CA 92703. Check xin đề tên “HuỳnH Vĩnh Hưng hay Hung Huynh) + Memo: K1 Nguyen Viet Loc Project.
Hiện đã có K1 Võ Đăng Ngọc ủng hộ $100 vào Project này.

Ít hàng thông tin đến Quý Bạn.

Thân mến,

Nhữ Đình Toán

Nguyên văn nội dung email của K9 Nguyễn Linh gởi Tổng Hội CSQG:

“KÍNH BÁO

Kinh gởi: Tổng Hội Cảnh Sát Quốc Gia VNCH Hải Ngoại

Ngày 2 tháng 2 năm 2023 anh Thái Văn Hòa gọi điện cho tôi và trao đổi về việc tìm kiếm Cựu Đại Úy CSQG NGUYỄN VIẾT LỘC …sau đó có gởi cho tôi xem bản tin đề nghị của anh K1NDT…..

Với tinh thần quý mến đối với người đã ra đi cùng thương cảm đến nhưng người con đang sống trong khó khăn tại quê nhà…cho nên tôi đã cố gắng gọi điện cho nhiều nơi,hỏi thăm nhiều chổ,và bằng mọi cách thì cuối cùng vào lúc 1 giờ sáng ngày Chúa Nhật (giờ Việt Nam) tôi đã gặp được cô con gái út của Cựu Đại Úy Nguyễn Viết Lộc tên Nguyễn Thanh Tâm…chúng tôi cả hai người đều đã rất xúc động khi cùng nghe và hỏi về một người đã ra đi.…

Sau đây là những chi tiết về Đ/Úy Nguyễn viết Lộc mà tôi đã ghi nhận được từ cháu Nguyễn Thanh Tâm :

=Cựu Đ/Úy Nguyễn Viết Lộc sinh năm 1945
=Quê quán: Làng Phò Trạch,huyện Phong Điên,tinh Thừa Thiên
=Đơn vị phục vụ sau cùng:BCH/CSQG Thị Xã Tam Ky,Quãng Ngãi
=Địa chỉ cư trú sau năm 1975:Thôn Lạc Thành,xã Tu Tra,huyện Đơn Dương,tinh Lâm Đông.
=Cựu Đ/úy Lộc từ trần năm 2020
=Bà Nguyễn Viết Lộc mất cuói năm 2022
=ÔB Nguyễn Viết Lộc chỉ có 3 người con gái,không có con trai.
=Con gái đầu hiện đang sống và sinh hoạt tại quê nhà tỉnh Thừa Thiên.
=Con gái thứ hai và con gái út hiện đang sống và sinh hoạt tại xã Tu Tra.
=Con gái út tên là NGUYỄN THANH TÂM
=Địa chỉ: số nhà 139,thôn LẠC NGHIỆP,xã TU TRA,huyện ĐƠN DƯƠNG,tỉnh LÂM ĐÔNG.
=Số diện thoại:(84)037 525 2589

Trên đây là những chi tiết tôi đã ghi nhận được từ cháu út Nguyễn Thanh Tâm về cựu Đ/úy Nguyễn Viết Lộc….
Xin kính gởi đến Tổng Hội để tường và tùy nghi…
Kính chào

K9 NGUYỄN LINH”

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Tâm thư của Trưởng K1 – Kêu gọi giúp các con của cố K1 NVL

Hội ngộ K1 Tôn Thất Biên ở Little Saigon

Hội ngộ K1 Tôn Thất Biên ở Little Saigon

1681875431343blobVào lúc 10 sáng Thứ ba 18/4/2023, một số anh chị K1 ở Little Saigon, Nam CA, đã có buổi hội ngộ với K1 Tôn Thất Biên và phu nhân tại nhà hàng Phở Lovers trên đường Westminster, TP Garden Grove, nhân dịp AC Biên từ Minnesota đến Nam California thăm người thân và bạn bè. Buổi gặp gỡ đã diễn ra rất rộn ràng vui vẻ với những câu chuyện hàn huyên, chuyện trò thân mật đến gần 12 giờ mới bịn rịn chia tay. Cùng gặp mặt trong buổi gặp gỡ này còn có các thân hữu K3: AC Tôn Thất Anh/Lệ Ngọc (bà con của K1 TT Biên) và anh Nguyễn Ngọc Tiến (K3), người bạn học cũ của bạn Biên.

Nhữ Đ. Toán tường trình từ LSG

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Hội ngộ K1 Tôn Thất Biên ở Little Saigon

Vài hình ảnh về bạn Bửu Trần

BẠN BỬU TRẦN

Bạn Bửu Trần bị tai biến nằm nhà thương mấy tuần nay. Đây là vài hình ảnh của bạn ta do Bửu Hồng cung cấp.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Vài hình ảnh về bạn Bửu Trần

Sinh, Lão, Bệnh, Tử – Tâm sự của Lê Phương Lan

SINH, LÃO, BỆNH, TỬ

sinh-lao-benh-tu

“Sinh, lão, bệnh, tử” là chu kỳ tất yếu đời người phải trải qua. Trong đó sinh và tử là thuộc ngoài tầm kiểm soát và ý muốn của ta. Còn như lão và bệnh cho đến ngày nay với sự hiểu biết và tiến bộ của y khoa, con người đã có khả năng nhận biết để có thể kiểm soát được hoặc làm chậm lại tiến trình của hai chu kỳ này.

Dù muốn hay không khi dòng đời vẫn cứ đều đặn trôi nhanh thì tuổi già sẽ đến như một định luật tất yếu. Làm cách nào để chuẩn bị tốt cho tuổi gia hay tuổi về hưu sẽ là một bài chia sẻ tiếp theo. Theo thời gian thì khi cơ thể chúng ta đã bắt đầu lão hóa thì đó là lúc mà bệnh tật dễ thâm nhập và tấn công nhất. Những căn bệnh về thể lý thì chúng ta khó tránh khỏi nhưng vẫn có khả năng đề phòng hoặc khám phá sớm để chữa trị. Tuy nhiên, điều tôi muốn nói ở đây là có những căn bệnh tâm lý có khả năng làm cho chúng ta bị chấn thương hay thậm chí dẫn đến cái chết mà ít được người Việt xem là quan trọng.

Khi cơ thể đã bắt đầu lão hóa thì những căn bệnh tinh thần như nỗi cô đơn, sự buồn phiền, đau khổ khiến cho thể xác hao mòn rất nhanh. Khi đi tập thể dục trong Gym, tôi có biết một bác đã lớn tuổi đến Gym để tập tành thì ít mà chính là để làm bà tám và đem theo các loại bánh được bác làm tại nhà để bán những người bạn trong đó. Thời gian sau không thấy bác ấy nữa, tôi hỏi thăm thì được biết cô con gái thấy bác làm bánh tốn điện, tốn nước quá nên đã vứt hết các dụng cụ để làm bánh khiến bác mất đi nguồn vui và sinh lực và nay thì đang bị bệnh rất nặng! Một đôi bạn già trước đây vẫn rất khỏe mạnh, vui vẻ, tham dự thánh lễ mỗi tuần chung với nhau. Nay bác trai đã mất, bác gái lưng còng hẳn xuống, chống nạng “walker” đi lễ con gái phải đưa vào tận chỗ ngồi trong nhà thờ!

Bản thân tôi thì trong khoảng thời gian diễn tiến cái chết đột ngột của cô em út cũng là lúc tôi phải chịu đựng những cơn đau đầu gối và đau lưng dữ dội đến nỗi phải chống gậy mỗi lần vào bệnh viện thăm em. Căn bệnh này làm cản trở những sinh hoạt rất bình thường mỗi ngày khiến cho tôi cảm thông nỗi buồn của những bệnh nhân khao khát được tự làm cho bản thân những hoạt động vệ sinh cá nhân.

Đáng lo hơn nữa là khi căn bệnh đau lưng đầu gối chỉ mới bớt đi thì tôi bắt đầu cảm thấy có từng cơn đau nhói phần ngực bên trái và đôi lúc cảm thấy như phải hít vào thật sâu thì mới có đủ hơi để thở. Khi gọi cho bệnh viện Kaiser để xin khám bệnh thì y tá trực chuyển ngay cho bác sĩ. Tôi được khuyến cáo là phải vào ngay phòng cấp cứu! Tại đó tôi được khám rất kỹ để chụp X ray và chuyền thuốc từ động mạch tay thẳng vào tim để phát hiện ra những bệnh trạng có thể xảy ra. Ngay hôm sau thì bác sĩ gọi lại báo tin vui cho biết là không tìm thấy có nguy cơ gì về căn bệnh tim mạch hết và những cơn đau có thể do những chấn động tâm lý! Bấy giờ tôi mới ý thức tác hại của những chấn thương thể lý gây ra do những chấn thương tâm lý. Kìa như chàng Từ Hải đã bị “heart attack” chết đứng khi sa cơ bị gài bẫy bởi Hồ Tôn Hiến! Ngũ Tử Tư sau một đêm suy nghĩ vận nước mà bạc trắng mái đầu!

Tôi phải tự giải cứu mình thôi! Tôi bắt đầu tập những động tác cho khớp gối và cột sống, tập Dịch Cân Kinh, tập ngồi thiền để hít thở thật sâu chuyển khí công đến các vùng bị đau đều đặn mỗi sáng. Mỗi tuần hai ngày vào Gym tập các máy vận động cho đầu gối và vùng lưng. Sau đó ngâm hồ nước Spa để các tia nước nóng phun thẳng massage các vùng bị đau và các huyệt đạo.

Bây giờ thay vì thương tiếc em thì tôi đọc kinh, xin lễ cho em và những người thân đã khuất. Trời đã sang xuân, khí hậu ấm áp cho tôi được thưởng thức vẻ đẹp bình dị “cây nhà lá vườn”: Sáng mở hết màn cửa sổ ngắm các chú chim sâu “hummingbirds” chuyền nhanh trên các cành hoa lê trắng muốt tại sân trước. Chiều đến đi bộ quanh vườn sau ngắm hoa mai, hoa lan, và hoa mười giờ cùng hít thở hương thơm của giàn dạ lý hương “jasmin” của nhà hàng xóm leo trên hàng rào. Nhất là tôi cố gắng giảm thiểu tối đa những gây hấn với “đối phương” để duy trì nền “hòa bình, thịnh vượng chung” trong đó “đôi bên cùng có lợi”!

Vẫn biết rằng “ Giày dép còn có số, huống chi là con người!” Nhưng trước cái viễn ảnh khi ta chưa “tới số” được mà đã bị bệnh quật ngã nằm một chỗ. Đau khổ nhất là khi đầu óc thì tỉnh táo nhận biết hết mọi sự mà mọi cử động, sinh hoạt cá nhân đều phải nhờ vào người khác hay các dụng cụ y khoa thì dù ở bất cứ tuổi nào thì đầu tư vào sức khỏe để được sống vui, sống khỏe phải kể là sự đầu tư khôn ngoan nhất.

Lê Phương Lan

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Sinh, Lão, Bệnh, Tử – Tâm sự của Lê Phương Lan

Tống Phước Kiên ghé thăm Đền Hùng

VIẾNG ĐỀN HÙNG

341118472_213281811344348_6388417482360355790_n

Con về thăm Phú Thọ
Lên viếng ngôi Đền Hùng
Hướng lòng về Quốc Tổ
Hương khói tỏa mông lung

Rừng cây xào xạc lá
Hồn sông núi thiêng liêng
Như lẫn khuất đây đó
Linh hiển khắp mọi miền

Dâng hương cầu Quốc Tổ
Ban ơn cho quê hương
Biên cương luôn bền vững
Đất nước mãi hùng cường.

TPK

340808728_673357267931664_9092252628122058431_n

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Tống Phước Kiên ghé thăm Đền Hùng

“Việt Nam” nghĩa là gì? – Tuyen Dinh sưu tầm

“VIỆT NAM” NGHĨA LÀ GÌ?

1/ Không ít người bây giờ vẫn tưởng “Việt Nam” nghĩa là “nước Nam của người Việt”. Hoặc là, qua một số em sinh viên trẻ cho tôi biết ở trường giải thích: “Việt Nam” nghĩa là nước Việt nằm về phương Nam (so với Tàu). Mắc giống gì mà danh xưng một quốc gia lại đi lấy một quốc gia khác làm “hệ qui chiếu”? Coi đi, quốc gia của người Hàn nằm về phía đông nước Tàu, họ đâu giải thích nước họ là … “Hàn Đông”.

Ý nghĩa của hai chữ “Việt Nam” bấy lâu nay thường được diễn giải theo chủ quan của hậu thế, NHƯNG cho dù diễn giải vi diệu/hay ho/cao siêu tới đâu đi nữa thì – xin nhấn mạnh – hãy nhớ rằng tên nước VIỆT NAM 越 南 là do Nhà Nguyễn chính thức định danh. Thành thử phải tìm hiểu Nhà Nguyễn gọi vậy với ý nghĩa gì (chớ đừng nhồi nhét cách diễn giải của đời sau vào miệng tiền nhân)!

Screen Shot 2023-04-13 at 4.11.39 PM

… Hệt như có một làn gió mát mẻ, hết sức khỏe khoắn sau khi tôi may mắn biết được ý nghĩa đích xác của tên nước “VIỆT NAM” khi vua Gia Long định danh.

“Việt” trong quốc danh “Việt Nam” 越 南, té ra không phải làm một với “Việt” trong quốc danh “Đại Việt” 大 越 (mặc dù nhìn vô mặt chữ hệt nhau)!

Nói vào ngay, “Việt” đàng nào cũng có cái hay, nhưng lại không giống nhau.

2/ VIỆT NAM trở thành quốc danh chính thức, lần đầu tiên là vào đời vua Gia Long, năm 1804.

2a) Ban đầu, năm 1802 (Nhâm tuất) vua Gia Long đặt tên nước là “Nam Việt” 南 越.

Nhưng nhà Thanh e ngại hai chữ 南 越 (Nam Việt) lặp lại quốc danh “Nam Việt” mà Triệu Võ Đế (Triệu Đà, năm 204 TCN – năm 137 TCN) đặt ra, bấy giờ lãnh thổ không chỉ có Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam (đồng bằng sông Hồng cho tới Hà Tĩnh) mà bao trùm luôn Lưỡng Quảng (Quảng Đông, Quảng Tây).

2b) Để tránh sự e ngại từ nhà Thanh, đầu tháng hai năm Giáp tý (1804) vua Gia Long đã đổi “Nam Việt” thành VIỆT NAM (越 南).

Dầu “Nam Việt” hoặc “Việt Nam” cũng đều chung ý nghĩa. Trịnh Hoài Đức (1765-1825), sử gia nổi tiếng sống dưới thời vua Gia Long, có mặt trong đoàn sứ qua Tàu đàm phán với nhà Thanh, cho biết:

“Việt Nam là quốc danh thích hợp để chỉ một lãnh thổ hợp nhứt giữa Đàng Trong với Đàng Ngoài”, “chúng ta (Nhà Nguyễn) sở hữu đất của Việt Thường trước, và vùng An Nam được thêm vào sau đó”.

Hai chữ VIỆT NAM là sự kết hợp giữa VIỆT (THƯỜNG) với (AN) NAM.

3/ Việt Thường là xứ mô?

Theo những sách cổ xưa như “Hậu Hán thư”, “Thượng thư đại truyện”, “Tư trị thông giám cương mục” thì nước Việt Thường 越 裳 nằm về phía nam Giao Chỉ.

Trong cuốn “Đại Nam Chính biên Liệt truyện sơ tập” thì xác định tên gọi VIỆT THƯỜNG “là tên cổ của xứ Champa”!

Một nguồn khác cho biết cách gọi “Việt Thường” là để chỉ lãnh thổ về phía nam của Giao Chỉ, bao gồm cả Phù Nam (sau này trở thành vùng Thủy Chân Lạp).

Khi Trịnh Hoài Đức viết “chúng ta sở hữu đất của Việt Thường 越 裳 trước”, là nhằm ghi nhận các bậc tiền nhân của vua Gia Long (là các Chúa Nguyễn) đã hùng cứ tại Đàng Trong (Champa, Thủy Chân Lạp). Sau đó Nguyễn Phúc (phước) Ánh (vua Gia Long) đã “thêm vào vùng An Nam 安 南 ” là xứ lấy Thăng Long làm kinh đô (tức Đàng Ngoài).

4/ HÃNH DIỆN HAI CHỮ “VIỆT NAM”!

Trước đó, theo dòng lịch sử qua các đời Lý, Trần, Lê… cho dù tự xưng quốc danh “Đại Việt, Đại Nam”… hay đại gì đi nữa. Tuy nhiên, nước Tàu không tôn trọng mà họ cứ gọi xứ sở (lấy Thăng Long làm kinh đô) là “An Nam” miết (và gọi các đời vua Lý, Trần, Hậu Lê đều là “An Nam quốc vương”)!

Đến đời Hoàng đế Gia Long, ban đầu triều đình bên Tàu ép vẫn phải dùng quốc danh “An Nam”, không chịu “Việt Nam”. Nhưng sứ giả của vua Gia Long không đồng ý.

Với quốc danh VIỆT NAM, quí bạn chú ý: Đây là LẦN ĐẦU TIÊN trong suốt lịch sử cả ngàn năm, Tàu đã phải từ bỏ cách gọi truyền kiếp “An Nam” đối với nước Việt chúng ta!

Đời nay chúng ta mỗi khi hãnh diện về hai chữ “Việt Nam” thì nên nhớ tới cái danh xưng đó do Hoàng đế Gia Long đặt ra, thống nhất sơn hà, và sau đó năm 1808 vua phân chia địa giới khu vực. Đừng uống nước mà quên luôn cái nguồn quốc hiệu đó từ đâu, đừng bị nhiễm thói ăn cháo đá bát.

5/ THAY LỜI KẾT

“Việt” (trong “Đại Việt” 大 越 ) dùng để chỉ Việt tộc.

Còn “Việt” (trong “Việt Nam” 越 南 ) tuy cùng mặt chữ nhưng được lấy từ trong danh từ kép “Việt Thường” 越 裳 (định danh về địa lý).

Ghép chữ “Việt” (trong “Việt Thường”) với “Nam” (trong “An Nam”) thành quốc danh VIỆT NAM, là sự ghi nhận đàng hoàng về nguồn gốc của từng vùng lãnh thổ!

Qua đó, vua Gia Long cho thấy niềm hãnh diện trước việc hợp nhứt Đàng Trong với Đàng Ngoài. Lãnh thổ nước ta LẦN ĐẦU TIÊN trải rộng từ bắc đến nam, từ ải Nam Quan cho tới mũi Cà Mau bao gồm quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, nếu theo đường cái quan đi từ Quảng Ninh tới mũi Cà Mau thì thành đường cong chữ S.

Screen Shot 2023-04-13 at 4.20.42 PM

Tắt một lời, VIỆT NAM là quốc danh mang ý nghĩa về SỰ HỢP NHỨT LÃNH THỔ.

Ý nghĩa nêu trên của hai chữ VIỆT NAM, thiệt hay hết sức, độc đáo hết sức trong tinh thần đoàn kết các cộng đồng dân tộc ./.

Sưu tầm.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở “Việt Nam” nghĩa là gì? – Tuyen Dinh sưu tầm

Người Cộng sản là gì? – LHN

Người cộng sản là gì ?

hoacongsan1

   Đó là những người đã từng bước, từng bước đi vào con đường một chiều theo trình tự sau :
1 – Đầu tiên là bị người ta xí gạt, dụ dỗ mà đi theo con đường cộng sản .
2 – Khi biết mình bị gạt rồi thì không thể trở lui nên phải tự cố  gạt bản mình để tiếp tục sống .
3 – Khi đã tự gạt được chính mình thì sẽ trở thành một người cộng sản thực thụ .
4 – Người cộng sản thực thụ sẽ tiếp tục tìm gạt nhiều người khác nữa .

    Cứ như vậy mà đảng cộng sản được thành lập. Như vậy thì những  người cộng sản là những người chuyên lừa bịp, lừa bịp chính bản thân và lừa bịp mọi người. Ngoài lừa bịp thì người cộng sản bắt buộc phải tàn bạo, dã man để giữ quyền cai trị. Do đó có thể nói nếu không lừa bịp, không tàn bạo và không dã man thì không phải là người cộng sản.

Những điều nầy đã được chứng minh qua thực tế. Sau 48 năm thì những gì CSVN đã lừa bịp và cố che dấu đã tự bộc lộ dưới ánh sáng mặt trời .

Không kể những chuyện cũ, chỉ gần đây thì còn gì dã man hơn những việc làm trong các vụ Covid Kit Test, các chuyến bay giải cứu và mới đây là chuyện đưa ma túy vào đầu độc dân Việt Nam
Bản chất thật sự của CSVN đã tự bộc lộ .

LHN

     Bể Bọc

Ung thư bể bọc lòi ra sáng
Lúc nhúc một bầy chuột ghẻ lang
Sợi chỉ* không tham, tham biển bạc
Cây kim* chẳng lấy, lấy rừng vàng
Thuốc men dụng cụ cho bà quản
Ma túy xì ke để cháu mang
Hủ mắm chính chuyên** hôi cả nước
Hầm cầu vô sản** thúi nguyên làng .

    LHN

    * Người cộng sản không lấy một cái kim , sợi chỉ của nhân dân .
   ** Chính quyền cộng sản là chính quyền chuyên chính vô sản .

nguyen-van-thieu

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Người Cộng sản là gì? – LHN

Tình Già _ Truyện ngắn của Cung Vũ

Tình Già

images (2)

Hôm nay lão vui. Mân mê mãi trong tay tấm thiệp mời đi dự hộiTết trường trung học Bông Mai, mồ hôi tay đã làm cho một góc giấy mềm đi, mà ngó tới ngó lui cái đồng hồ trên tường dường như chỉ có một cây kim làm việc, hai cây kia cứ nằm ì ra đó, thật dễ ghét.“Trung học Bông Mai”, cái tên nghe quen lắm, gợi ra nhiều điều có khi mơ hồ, có khi gần gũi. Hình như cỡ đâu 50 năm trước, không nhớ là lão đã dạy, hay đã học ở đó. Cái trường trung học bé tí ở tỉnh, mỗi “đệ” chỉ có hai lớp. Hiệu trưởng là ông thầy Nam kỳ, giáo sư dạy Toán, da ngăm ngăm đen nên đám học trò gọi ổng là “ông táo.”

 “Bữa nay ông táo bịnh, tụi mình được 2 giờ, kéo ra đình chơi nhen bây?” Hay “Chào cờ sáng nay có ông táo nhen bây. Đừng có láo nháo ổng leo xuống quất cho mấy roi, quê lắm à!”

Giám học là một ông thầy Bắc kỳ 54, tên là Anh Hùng, người thanh mảnh đẹp trai, trắng trẻo nhưng lùn, tánh tình hắc búa nên học trò gọi là A Lùn. “A Lùn” phát âm nhanh nghe từa tựa như “Anh Hùng”.

Ông giáo dạy Pháp văn cao ráo, thanh lịch, tánh tình xởi lởi dễ chịu, học trò đứa nào cũng thương nên gọi ổng là “Nehru”, theo tên ông thủ tướng đầu tiên của Ấn Độ. Ông giáo có cái mũi to ngoại khổ, lúc nào cũng đỏ. Ổng dạy tiếng Pháp nên học trò dịch “mũi đỏ” thành “nez rouge”, nhưng gọi vậy nghe lộ liễu quá, lũ trẻ bèn thương mến gọi thầy là Nehru, nghe cho nó… sang.

Lão thương cái trường đó. Đó là trường công lập, học sinh hỗn hợp nam nữ ngồi chung lớp, nam đông hơn nữ. Cái tỉnh đó lại nằm xa biển nên ít người đi thoát vào thời cả nước vượt biên, vượt biển. Qua tới bên Mỹ này lão tìm hỏi mãi mới ra được vài ba học sinh cùng trường nhưng khác lớp, khác niên học. Tuần trước đột nhiên không biết có ai đó gửi cho lão tấm thiệp mời đi dự hội Tết cựu học sinh Bông Mai, hỏi sao lão không mừng vui, háo hức!

Lão lôi trong tủ quần áo ra, chọn một bộ vừa vặn, đẹp đẽ nhất, đem đi giặt ủi tử tế. Lại chọn một đôi giày đẹp, đánh xi sơ qua cho dễ coi. Từ ngày vợ chết, rồi về hưu, lão ít khi đi ra ngoài, hoặc nếu có đi đâu thì ăn mặc xập xệ, miễn sao lành lặn và sạch sẽ là được, không cần trau chuốt. Nhưng hôm nay khác. Bạn cũ trường xưa, bê bối quá sợ mắc công người ta thương xót hay chê cười, “tưởng mầy qua Mỹ học được củ gì”. Lão chịu khó lên cây lên cối một chút, lại còn soạn sẵn tờ giấy 50 đô mới tinh để trả tiền vào cửa bao gồm tiền ăn tối.

Đúng 1 tiếng đồng hồ trước giờ khai mạc, lão lò dò ra xe. Chỉ cần đi 30 phút là tới nơi, tính ra sớm nửa tiếng, và tính theo giờ cao su Việt Nam, ít ra sớm gần 2 tiếng.Lão biết đồng hương của lão, mời “7giờ” có nghĩa là… 8giờ rưỡi hay hơn. Nếu là đám cưới, mời “7 giờ” thì sau 9 giờ mới bắt đầu. Đi đám cưới thì phải ăn trước ít nhất nửa bụng ở nhà, tới nơi mới đủ sức kiên nhẫn ngồi đồng chờ đợi.

7 giờ 35 phút tới nơi, chưa có ai, không thấy cả tấm bảng hay biểu ngữ chào mừng. Lão đi rảo một vòng chung quanh khu phố cho thoải mái. 20 phút sau trở lại hội trường, may quá, đã có người.

Lão đóng tiền vào cửa, được gắn cho cái bảng tên có chỗ chấm chấm để ghi thêm năm học. Tên “Vũ” thì nói cho người ta viết vào, còn niên khóa nào, đầu óc lão lơ mơ quá, cười cười trả lời “hổng nhớ” khiến người làm bảng suýt nữa đã ghi vào là “không biết” thay vì để trống.

Bước vào trong, lão thấy có tất cả 8 bàn tròn, mỗi bàn 10 ghế. Vậy là người ta dự trù đông nhất là 80 người, kể cả ban tổ chức. Tính ra, có thể có khoảng phân nửa hay gần phân nửa là cựu học sinh hay cựu giáo sư của trường, còn lại là thân nhân. Đông đó chớ, đối với 1 trường nhỏ ở miền Đông Nam phần. Lúc chưa đi, lão nghĩ, chắc gặp giỏi lắm là 10 hay 15 người là cùng. A! Đông hơn thì vui hơn. Ở xã hội nào cũng vậy, ai cũng nói “đông vui”, chẳng ai nói “vắng vui”, dù là tiếng của bất cứ nước nào!

Lão được xếp ngồi vào bàn đầu tiên trong cùng, lúc đó chưa ai ngồi. Nửa phút sau, ban tổ chức đưa tới người khách thứ hai, sau lão. Người đó mặc áo dài màu lụa trắng, tóc cắt ngắn vừa phải, dáng điệu thanh mảnh. Lão lịch lãm đứng dậy, kéo ghế cho phái nữ, đợi người ta yên vị xong mới ngồi xuống. Y như tây! Lão nghĩ thầm và mỉm cười.

Thật là khó đoán tuổi phụ nữ Việt Nam ở xứ này, phần lớn ai cũng sửa, cũng cắt, cũng bơm và cũng vừa trét vừa sơn đủ các loại mỹ phẩm, đủ thứ màu mè. Nhưng, may quá, cụ bà này có vẻ như chưa kịp tân trang gì nhiều, ngoài một tí son phấn để đỡ nhợt nhạt dưới ánh đèn đêm.

Bà cụ vừa ngẩng trông lên, liếc vội vào bảng tên lão đeo trước ngực rồi kêu lên:

Anh Vũ! Em là Nga nè!

À! Tiện quá, khỏi phải tự giới thiệu, nhưng không tiện nhìn vào ngực phụ nữ dù chỉ để đọc kỹ cái bảng tên xem học năm nào. Lão thò tay ra định nâng bàn tay cụ bà lên hôn vào mu bàn tay, nói “enchanté” cho phải phép, nhưng sực nhớ đây là chỗ Việt Nam, không phải tây u gì, làm vậy không hợp cảnh, nên kịp né tay qua, cầm một cái ly lật ngửa lên, hỏi:

Bà dùng chi?

Cụ bà nhắc lại:

– Em là Nga, Hồng Nga, em của anh Thành, Nguyễn Văn Thành, em học dưới anh một lớp.

Thì ra vậy. Bạch Nga, Hoàng Nga, Hồng Nga, Thiên Nga… nhiều ngỗng quá, em nào cũng là ngỗng mà sao lão chẳng nhớ ngỗng nào với ngỗng nào!

Hồng Nga tiếp:

Hồi đó anh hay tới nhà em để học luyện thi với anh Thành. Có lần… có lần… anh nắm tay em… Anh quên em rồi sao?

Chết mụ nội chưa! Ngoài chuyện cầm tay em, không biết lão có cầm… chỗ nào khác không nhưng cũng không tiện hỏi lại, bèn giả lả bằng một lời ca của ông nhạc sĩ nào đó, trong hoàn cảnh này thì nghe rất chi là cải lương nhưng hạp cảnh:

– “Làm sao mà quên được! Ánh mắt với nụ cười!..”

Cụ bà có vẻ hơi hơi cảm động. Lão bèn hỏi tiếp:

Anh… Thành giờ ra sao, thưa… em?

Chả nhớ là “anh Thành” nào, nhưng hỏi thì cứ hỏi.

Hồng Nga hơi cúi đầu, chớp mắt, giọng tự nhiên nhỏ xuống:

Ảnh chết trong trại tù cải tạo ở ngoài Bắc. Ảnh và ông nhà em đi tù chung trại. Nhà em ra tù về nhà, 4 ngày sau mới chết.

Lão mím môi. Thảm cảnh xã hội. Nhà nào cũng có người đi tù, người chết, chết trong tù hay chết trên đường vượt biên. Tự nhiên lão đặt tay lên bàn tay cụ bà, vỗ vỗ rồi siết nhè nhẹ.

Cụ bà không rụt tay lại, mà chồng thêm bàn tay kia lên tay lão:

Em không ngờ gặp lại anh ở đây. Em mừng quá. Còn chị đâu rồi anh, sao anh đi một mình?

Lão đáp nhẹ như tiếng thở:

Bả bỏ tôi đi đã 4 năm rồi, ung thư gan.

Cụ bà đột nhiên rụt cả hai tay lại, hơi lúng túng:

Tội nghiệp anh quá! Rồi anh sống làm sao? Có ở chung với con cháu không?…

Câu chuyện cứ thế mà nổ râm ran nho nhỏ giữa 2 người bạn đồng hương đồng khói.

Có sao nói vậy người ơi. Lão sống một mình trong căn phố thuê trong một cao ốc. Lão không nói rõ là lão thích cái chỗ ở tươm tất 3 phòng ngủ trong cái buyn-đinh nằm cạnh sân cù và mặt trước nhìn ra biển. Lão sống bằng lương hưu, con cháu có đời sống riêng, thỉnh thoảng có dịp thì gặp nhau.

Hồng Nga có vẻ bằng lòng với hiện tại hơn. Chồng sau của bà là 1 bác sĩ chuyên khoa người Mỹ, đã qua đời vì tuổi tác, để lại khá nhiều nhà. Bà chia cho các con mỗi đứa 1 căn, còn lại giao cho 1 công ty địa ốc cho thuê, kiếm thêm lợi tức để chi tiêu, không phải nhờ con cháu.

Câu chuyện tiếp tục rù rì rủ rỉ ấm áp. Hồng Nga mời lão lên sân khấu hát chung bài “Học sinh hành khúc” cùng với nhóm của bà. Lão mỉm cười lắc đầu. Hồng Nga thắc mắc:

Hồi đó anh đàn hát trong ban văn nghệ nhà trường mà?

Lão lại cười:

Ờ… Hồi đó…

Lão kịp nuốt ực nửa câu sau: “bây giờ khác, già rồi, ai lại leo lên đó làm trò!”

Hồng Nga lên hát. Lão đứng lên tiễn bà rời bàn. Bà hát giọng chánh, khá hay. Lão đứng lên vỗ tay rất lâu. Hồng Nga nhìn xuống, giơ tay hôn gió. Khi bà về lại bàn, lão kéo ghế cho bà, thầm thì bên tai bà:

Em hát hay lắm!

Hồng Nga cố tình hất má cho chạm vào môi ông, cười hích hích, bảo:

Anh nịnh đầm nha!

Rồi họ lại chụm đầu rù rì rủ rỉ. Hơi thở của bà thơm, phần lão thì không hút thuốc lại vừa nhai kẹo cao su xong nên chắc không tệ. Họ nói chuyện gia đình, con cháu, xã hội bên này, bên kia…..

Khi câu chuyện từ từ tới lúc chín muồi, tình trong như đã mặt ngoài… hết e, lão cầm tay bà ân cần hỏi:

Em sống một mình có trống trải quá không? Có bao giờ em nghĩ rằng em cần một… ai đó sống bên cạnh em?

Hồng Nga nhìn lão, ánh mắt hơi khác lạ:

Có phải anh muốn hỏi, em có định tái giá lần nữa hay không chớ gì?

Lão gật đầu. Hồng Nga đáp:

Em không có ý định đó, nhưng nếu trời cao đặt để, gặp người em yêu thì em sẽ… không chạy trốn. Còn anh thì sao?

Lão kéo vai Hồng Nga lại gần, hỏi rất nhỏ:

Nếu người đó là anh, em bằng lòng làm vợ anh không?

Hồng Nga ửng hồng hai má, khẽ gật đầu:

Em…

Lão kéo vai cụ bà lại gần hơn nữa. Rồi họ hôn nhau, ban đầu chỉ hơi chạm môi, rồi hôn nồng nàn, vừa đúng lúc tiệc tàn. Rồi họ trao đổi số điện thoại, địa chỉ vi thư và tạm chia tay. Ai cũng lái xe nên chẳng ai được đưa ai.

Trên đường về nhà hôm đó, lòng lão lâng lâng, đi xượt qua chỗ rẽ trên xa-lộ hàng chục dặm mới nhận ra, quay trở lại, lại lố exit một lần nữa. Về tới buyn-đinh, lão luống cuống tra chìa khóa vào cửa phòng người khác…

Đêm đó lão không ngủ được. Hình ảnh cụ bà nhí nhảnh cứ nhảy múa lung tung trước mắt ông kèm theo giọng hát dịu mềm “Học sinh là người tổ quốc mong cho mai sau, Học sinh là người”… gì gì đó. Nhạc xập xình. Tiếng hát ỏn ẻn vọng lên trong đêm.

Nằm lơ mơ dỗ giấc, lão hoang mang không nhớ chắc, cứ thắc mắc khi lão ngỏ lời cầu hôn, bà cụ đã trả lời sao, chịu hay không chịu? Đầu óc lão rối bung lên, lẫn lộn, không nhớ. Lão chỉ nhớ môi bà ngọt mềm và tình tứ quấn quít môi lão. Lão hơi giận mình, sao lúc đó không lôi cái cell phone ra ghi “note” như lão thường làm hàng ngày mỗi khi cần ghi nhớ một điều gì.

Lão muốn gọi điện thoại hỏi lại cụ bà cho chắc, nhưng cũng không nhớ số điện thoại lúc đó ghi trên cái giấy khăn ăn rồi để đâu. Muốn liên lạc ban tổ chức thì không biết cả tên người gửi thiệp mời mình là ai, làm sao mà hỏi.

Cứ thế mà lão lay hoay trăn trở cho tới sáng banh mắt mới ngủ được một chút.

Suốt cả tuần lễ sau đó lão cứ bần thần ngồi đứng không yên, đêm biếng ăn ngày mất ngủ, người cứ gầy rạc cả ra, ngơ ngơ ngẩn ngẩn như vừa dò số thấy trúng độc đắc nhưng khi mang vé đi lãnh tiền, hãng xổ số xem lại bảo hàng số thì đúng nhưng ngày xổ thì sai, nên đi không rồi lại về không.

Qua tới ngày thứ 12, đột nhiên lão nhận được email của cụ bà. Hồng Nga không viết lời nào âu yếm hay nhắc lại chuyện lão cầu hôn, chỉ rủ Tết năm sau về nước dự họp mặt học sinh lớp 12 niên khóa năm con Vịt, hiện bạn bè còn sống gần phân nửa.

Lão đọc đi đọc lại email, muốn viết hỏi “cái hồi anh cầu hôn, em trả lời sao?” mà ngần ngại không dám hỏi, sợ thất thố làm buồn lòng người yêu. Cuối cùng lão chỉ viết rất gọn, hứa sẽ thu xếp để về nước trong cùng một khoảng thời gian đó để họp mặt bạn bè. Hẹn thì có hẹn đó, mà như trớt hơ!

Cụ bà nhận được email, cũng không thấy nhắc gì tới chuyện cưới xin nên chắc là hẫng, cảm thấy như nị hụt đõi. Hai bên tiếp tục “lạc” nhau thêm 1 tháng nữa. Cụ bà cảm thấy như bị đùa giỡn, hay nặng hơn nữa, bị phản bội, nên viết:

Nga cũng vui khi gặp lại người anh trường cũ, nhưng 2 đứa mình làm bạn thôi nha. Nga vẽ một đường làm ranh giới, ai bước qua sẽ bị chặt cụt chân.”

Không còn xưng “em”, và cụ bà trồi lên vị thế ngang hàng, “hai đứa mình” và vẽ ranh giới xác định mối giao thiệp bạn bè, kèm theo hình phạt cho bất cứ trong 2 người vi phạm!

Lão đọc xong xây xẩm mặt mày. Lão nhớ lại rồi. Khi lão ngỏ lời cầu hôn, cụ bà vừa trả lời “Em…” thì bị môi lão vít chặt với nụ hôn, không nói tiếp được nữa. “Em… đồng ý” hay “Em không”? Thiệt tình! Nhưng rõ ràng sau khi lão cầu hôn, họ đã hôn nhau, hay ít nhất, lão hôn trước và cụ bà hưởng ứng, không đẩy ra. Không ưng thì đẩy ra chứ sao lại nhận nụ hôn như trao nhau một lời hứa hẹn nồng nàn? Tại sao? Đàn bà thật khó hiểu hay đàn ông thật ngây ngô? Một nhà văn đã viết trên sách: trên đời này không có đàn ông mà chỉ có… đần ông. Chữ “đần” có dấu mũ hẳn hòi.

Lão cũng biết, phụ nữ Việt ở bên này có thói quen tính toán thiệt hơn, nhất là khi bên nhà gái giàu có hơn, không muốn bị đào mỏ. Hay là cụ bà có đồng ý nhưng khi về nghĩ lại, hoặc kể chuyện cho con cháu nghe, không ai thấy thoải mái khi cụ bỏ con bỏ cháu để xuống thuyền đi tái giá với 1 ông cụ hiện không làm chủ nổi một căn nhà, phải đi ở thuê.

Cụ bà có thể không nghĩ xa xôi chớ con cháu cụ chắc lo nơm nớp, sau khi hôn thú ký xong, gia tài 2 bên cộng lại chia đôi khi ly dị, thì chúng nó mỗi đứa sẽ mất vài cái nhà, chỉ còn sở hữu được mỗi 1 căn nhà mà chúng đang ở, đã sang tên xong xuôi đâu đó.

Lão càng nghĩ càng nóng mặt và tự trách tại sau trước đó, khi Hồng Nga kể chuyện có năm bảy cái nhà cho thuê, lão lại không nói là mặc dù lão đi ở thuê, nhưng nếu muốn mua, lão có thể mua 1 cái nhà trị giá bằng tất cả những căn nhà mà cụ bà có, cộng lại!

Lão không nói ra, vì lão vốn coi rất nhẹ chuyện tiền bạc và rất ghét mang tiếng khoe khoang. Hiện tại, khoảng lương hưu cộng với tiền lời nhà băng trong 1 tháng của lão đã đủ để lão tiêu pha thoải mái cả năm. Lão không hề nghèo. Tại sao lại không nói rõ để con cháu của người yêu phải lo lắng và gàn quải chuyện hôn nhân của 2 cụ? Lão giận mình tê tái.

1 tháng trôi qua sau khi suy nghĩ đâu đó cẩn thận, lão mới thong thả trả lời Hồng Nga về lằn ranh biên giới “bước qua thì bị chặt chân”. Cụ viết ngắn gọn:

“Xin Hồng Nga yên tâm, tôi không có ý định rước một cụ bà cùng trường về bầu bạn.”

Thư đi nhưng không có tin lại. Thời gian lặng lẽ trôi. Hồng Nga như cánh ngỗng đã thiên di về trời. Mỗi lần chạnh nhớ, lão cũng bâng khuâng thơ thẩn, ôn lại lời mời về nước họp mặt bạn cũ trường xưa.

Lão chưa một lần trở lại quê hương. Bạn bè còn kẹt lại đông, thân nhân cũng không ít, nhưng lão “giang hồ quen thói vẫy vùng”, đang sống ung dung tự tại, không muốn cúi đầu khép nép chui qua khung cửa hẹp để cho một thằng nhóc hỉ mũi chưa sạch làm việc ngoài sân bay cũng có thể ăn hiếp được mình.

Anh sẽ về”, về chứ, nhưng vốn quen đứng thẳng, lão không thể về trong cung cách “Bó thân về với triều đình, Hàng thần lơ láo phận mình ra đâu”, lúc nào cũng phải giữ gìn lời ăn tiếng nói, muốn cất tiếng gọi một tô phở cũng phải đánh lưỡi cho đủ 7 lần…

Lật bật rồi lại cuối năm. Lại nhận được thiệp mời họp mặt cựu học sinh trường cũ. Cầm tấm thiệp trong tay, lòng lão lại rộn ràng như năm ngoái. Lão lại lễ bộ quần áo giày dép chuẩn bị xôn xao, và lần nầy đến sớm hẳn tới 1 tiếng.

Ngồi yên vị khá lâu, cũng cái bàn trong trong cùng, đúng 7 giờ rưỡi tối, Hồng Nga tới, lần nầy đi với một bà sồn sồn cỡ dưới 50, chắc là con gái.

Hồng Nga nhận ra lão từ xa, mừng rỡ bước nhanh tới:

A! Anh Vũ, em là Nga em anh Thành nè. Anh còn nhớ em hông? Em học dưới anh một lớp…

A! Hay thật! Cũng cùng một câu tự giới thiệu mà cụ bà nói hồi năm ngoái, lần đầu gặp lại ông. Cụ bà sợ lão mang bệnh mất trí nhớ chăng?

Lão đứng dậy kéo ghế cho 2 mẹ con. Hồng Nga giới thiệu:

– Hồng Loan, con gái em.

Hồng Loan chào bác, lão chào cháu, rồi buột miệng hỏi:

Hồng Loan đây rồi, còn Đào Hoa đâu?

Hồng Nga hơi giật mình:

Anh cũng biết Đào Hoa hả. Cái thằng đó chẳng bao giờ chịu đi với mẹ.

Lão mỉm cười. Lão thấy con gái mà bị đặt cho cái tên cấm kỵ là Hồng Loan nên hỏi chơi cho đủ cặp, đâu biết người ta đã có đủ. Lão hơi ngần ngừ một chút rồi nhìn sâu vào mắt Hồng Nga, hỏi thẳng một câu trong lòng muốn hỏi:

Năm ngoái, cũng trong không khí này, anh hỏi cưới em, em còn nhớ em trả lời anh như thế nào không?

Hồng Nga ngạc nhiên:

Ủa, thì ra là anh đó hả? Em nhớ mang máng có ai đó tỏ tình, xin cưới mà không nhớ là ai, hóa ra là anh sao? Thiệt sao? Mà anh hỏi vậy thì em trả lời sao?

Cô con gái nhìn lão, muốn phân bua gì đó, nhưng thôi. Lão nói tiếp:

Thì là anh chớ ai vô đây. Em thiệt vô tình. Sau đó em còn gởi email cho anh, dặn giữ tình bạn, ai tiến tới sẽ bị chặt chưn…

Hồng Nga chưng hửng:

Em tuy có email nhưng có bao giờ xài đâu! Với lại, em có lòng thương mến anh, em có bao giờ viết bậy bạ vậy đâu? Anh buồn em lắm hả? Rồi anh có trả lời gì cho em hông?

Cô con gái lại định nói gì, nhưng một lần nữa, lại thôi. Lão ngập ngừng:

Em nhứt định không viết, không đọc email thiệt hả?
Hông có, thưa anh.
– Vậy bây giờ anh hỏi lại câu hỏi năm ngoái: “Em có bằng lòng làm vợ anh hông?

Hồng Nga thò tay qua nắm tay ông, giục giặc:

Em thương anh nhiều, em muốn làm vợ anh lắm, nhưng em đang có chồng mà, làm vậy sao được?

Tới phiên lão sững sờ:

Em mới tái giá hả?

Hồng Nga cười ra tiếng:

Không anh. Lâu rồi. Mấy chục năm rồi.
– Vậy thì anh ấy đâu mà em đi với con gái?

Hồng Nga lắc đâu:

– Hôm nay ảnh trực bệnh viện, em nhờ con Loan đưa đi.

Hồng Loan chợt đứng dậy, chồm qua lão, nói nhỏ:

Cháu xin phép thưa riêng với bác một chuyện…

Lão gật đầu bước ra gần bàn tiếp tân, Hồng Loan lửng thửng theo sau:

Thưa bác, thực tình thì bố dượng cháu qua đời lâu rồi. Cháu không dám giấu bác, mẹ cháu trở bệnh Alzheimer gần đây, khi nhớ khi quên, càng lúc càng tệ hơn, cháu đã thu xếp cho mẹ vào viện dưỡng lão, có y tá và bác sĩ trực chăm lo chu đáo hơn ở nhà. Khổ lắm bác ơi. Hôm nọ cháu đi vắng có chút xíu, mẹ ở nhà tự ý nấu nướng cái gì đó, suýt làm cháy nhà, may mà cháu về kịp.

Lão ngạc nhiên nhìn người đàn bà đang đứng trước mặt, thắc mắc:

Xin lỗi, xin bà tha lỗi, bà là ai và mẹ bà là ai? Tôi thấy quen quen mà tự nhiên bây giờ nhớ không ra?

Hồng Loan gần như chết điếng tại chỗ, chưa biết phản ứng làm sao, chợt nghe tiếng 1 người đàn ông trẻ thoảng bên tai, nhẹ như hơi gió:

Ô! Xin lỗi chị. Ba tôi dạo này bắt đầu quên trước quên sau…

Không đợi cậu kia nói thêm, lão vui vẻ giới thiệu liền, tỉnh queo như chưa hề hỏi câu “mẹ bà là ai”:

Đây là thằng Nam, con trai lớn của bác đó cháu, còn đây là… là…

Dạ là Hồng Loan…
Đúng rồi. Hồng Loan con riêng của.. người ba yêu và xin cưới.. Đầy đủ hết rồi nhe, “con em, con anh” đã đủ mặt, chỉ chờ “con chúng ta” ra đời…

Nói xong lão cười ha hả, thong thả trở lại bàn.

Hồng Loan và Nam bắt tay nhau, kéo ra một góc tỉ tê trò chuyện. Lão ngồi thầm thì tình tự với Hồng Nga, mặc ai ca hát, diễn trò, xổ số hay nhảy nhót quanh họ…

Nam cho Hồng Loan biết, lão đã vào viện dưỡng lão mấy năm nay. Phòng lão rộng và đẹp lắm, có bao lơn nhìn ra biển Thái Bình. Tiền tháng rất cao, Viện có hoa viên và sân cù chung quanh. Các cụ đi bộ cả 45 phút mới giáp một vòng. Lại còn hồ bơi, phòng thể dục, phòng xem phim, phòng chơi game, hòa nhạc, thư viện… thôi thì đủ cả. Cơm nước thì ngày 3 buổi tươm tất, đổi món luôn luôn. Nếu các cụ không xuống được phòng ăn, sẽ có người mang lên tận phòng, có khi tận giường. Việc lau chùi, quét dọn hay ngay cả tắm rửa, thay quần áo cho các cụ hàng ngày, có y công lo, nếu các cụ không tự làm được. Về y tế, có đủ y tá trực 24/24, 7 ngày trong tuần. Bác sĩ tới mỗi sáng một lần. Xe cứu thương thì cách đó 3 phút, bệnh viện lớn cách đó 10 phút. Mỗi tuần một lần, thân nhân tới đón các cụ ra ngoài du ngoạn, ăn nhà hàng hay về nhà thăm con cháu. Nếu thân nhân không đến được, có nhân viên trực lái xe đưa các cụ đi riêng, hoặc xe bus nhỏ chở một lúc 7 cụ đi ngoạn cảnh, ăn ngoài, mọi chi phí do Viện trả.

Trường hợp của lão năm ngoái, chưa bị nặng nên còn được phép lái xe. Sau lần lão quên mất đường về phải gọi cell phone cho viện dưỡng lão cho người tới dẫn về thì không được lái xe nữa. Đó là lý do tại sao hôm nay Nam có mặt đưa lão đến đây.

Hồng Loan ngập ngừng hỏi:

Tiền trả hàng tháng có cao lắm không anh Nam?

Nam gật đầu:

Cao hơn lương tháng của tôi, nhưng ba trả trước tất cả vào “trust fund” rồi, cho tới năm 100 tuổi, nếu thọ hơn, Viện sẽ tự trang trải. Tiền lời quỹ tín dụng đủ để trả bù vào tiền Viện gia tăng hàng năm, con cháu không phải lo. Nếu như ba có vợ hay bạn già tới ở chung, ba chỉ phải trả thêm 50 phần trăm. Ba lo được vì ba có tiền lời quỹ tiết kiệm ký thác ở ngân hàng. Ông già có tiêu gì đâu! Thế còn bác gái, mẹ của chị thì sao?

Hồng Loan cười buồn:

Tháng sau tụi em cũng đưa mẹ vào viện dưỡng lão cho an toàn. Viện nầy nhỏ thôi, nhưng cũng đắt lắm so với lợi tức của tụi em. Chắc phải bán cái nhà của mẹ đang ở để lấy tiền chung vào. Mẹ buồn lắm anh. Mẹ chỉ muốn ở nhà. Mẹ khóc…

Nam và Hồng Loan trở lại bàn. Họ trố mắt ngạc nhiên khi thấy 2 cụ đang hôn nhau đắm đuối như một cặp thiếu niên, bất chấp thiên hạ chung quanh thầm thì soi mói.

Thoáng thấy 2 trẻ, lão ngẩng lên phân bua, môi còn dính son toè loe:

Hồng Nga đồng ý lấy ba và dọn vào Viện sống chung với ba. Ba sẽ nhờ Viện tổ chức lễ cưới tại phòng tiếp tân, các con đưa hết con cháu, bạn bè tới dự nha!
Hôm đó ba với Hồng Nga sẽ lên sân khấu song ca bài “Học sinh hành khúc” theo lời yêu cầu của cô dâu.

Cung Vũ (NHN)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Tình Già _ Truyện ngắn của Cung Vũ

Gặp lại người em xứ Huế – Thơ TPK

GẶP LẠI NGƯỜI EM XỨ HUẾ

visithue_Mot thoang thu ve tren xu Hue 3

Gặp lại em đây người em xứ Huế
Bao năm trường vì dâu bể chia xa
Ta ra đi em mưa nắng nhạt nhòa
Ngày tháng lụn đời phong ba lớp lớp

Làng mình nay thịt da thay không ngớt
Đâu hàng cau phơn phớt ánh mai hồng?
Luỹ tre xanh không còn đứng ven sông
Chiều thôi xuống trên cánh đồng Vỹ Dạ

Còn đâu nữa cánh diều bay tháng hạ
Mái lầu cao che kín cả không gian
Đường xe cộ bụi bay khắp xóm làng
Ngỏ nhà em giờ rộn ràng chi lạ

Màu thời gian phủ mờ trên đôi má
Mắt đăm đăm nhìn quá khứ xa mờ
Mái tóc xanh giờ nhuốm bạc nhung tơ
Khép lại rồi thời tuổi thơ dịu ngọt

Cuộc Trần ai đời người như bèo bọt
Nước chảy hoa trôi sóng dạt đôi bờ
Giờ gặp lại niềm vui đến bất ngờ
Bao kỹ niệm khung trời xưa bừng dậy.

TPK

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Gặp lại người em xứ Huế – Thơ TPK

PQN Tường trình từ San Jose _ Thăm K1 NHA

Thăm bệnh nhân K1 Nguyễn Hoài Ân

Bạn ta K1 Nguyễn Hoài Ân bị bệnh đã lâu, bệnh tiền liệt tuyến khá nặng nhưng tính bạn ÂN không muốn phiền lòng bạn hữu thành thử Bạn Ấy nhắn là không muốn ai đến thăm . Nhiều lần các bận K1 gọi điện thoại nhưng bạn ấy không bắt.

IMG-1779

Sáng nay 2/4/2023 sáng kiến bạn Huỳnh Minh Thanh mời gọi một số bạn đi ăn phở Tàu Bay sau đó sẽ bàn kế hoạch thăm đột xuất Bạn NG.H. ÂN. Phái đoàn gồm có :

–       Vợ chồng Huỳnh Minh Thanh
–       Vợ chồng Bửu Hồng
–       Vợ chồng Võ Quang Lâu
–       Đinh Văn Hạp
–       Phan Quang Nghiệp
–       Trần Quốc Nại

Tập trung tại nhà Võ Quang Lâu xuất phát đi đến nhà NG.H.ÂN .Đến nơi cử Trưởng Nhóm Hạp Đinh ( Tóc Gió Thôi Bay ) và Võ Quang Lâu làm xung kích thình lình đột nhập gõ cửa trước và bấm chuông đợi một lúc lâu nhưng chẳng trả lời . Chặp sau thì có một cô gái trẻ xuất hiện ở cửa sau hỏi

Các Bác muốn gặp ai ?
-Các Bác là bạn của Bác ÂN đến thăm. Tên Bác là Hạp Đinh
-Bác Ân bệnh để con vào thông báo .

May quá cô gái ra và trả lời OK

Thế là cả bọn vào nhà. Một căn Mobile Home rất rộng chỉ một mình Bác ấy ở. Bạn ÂN nằm chèo queo trên một cái giường rộng. Người ốm da trắng bệt, nhưng nói chuyện, làm thơ vẫn còn sáng suốt. Tai nghe rõ. Bác ăn không được nhiều. Có người của Sở Xã Hội đến giúp.

Bạn ÂN xin lỗi vì không giám phiền lòng các bạn chớ không phải khó tính gì. Bạn ấy cám ơn các bạn K1 đến thăm.

Chúng tôi rất mừng là Bạn ÂN còn khoẻ và từ nay sẽ có dịp thăm viếng bạn ấy  nhiều hơn.

Thăm, nói chuyện trên trời dưới đất độ hơn 40 phút rồi chia tay.

Phan Quang Nghiệp tường trình từ San Jose ngày 2/4/2023

IMG-1793

IMG-1794

IMG-1789

IMG-1785

IMG-1780

IMG-0562

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở PQN Tường trình từ San Jose _ Thăm K1 NHA

Nhật ký tháng tư – Thơ Quốc hận Toàn Như

NHẬT KÝ THÁNG TƯ

maxresdefault (1)

Tờ lịch Tháng Tư lại đến rồi
Ngày Ba Mươi, nhớ lại buồn ơi !
Nhớ khi lệnh xuống tan hàng ngũ
Ngơ ngác nhìn nhau nước mắt rơi

Những tưởng từ đây chinh chiến tan
Người người cả nước sẽ hân hoan
Ngờ đâu bên thắng từ phương bắc
Sớm lộ nguyên hình lũ ác gian

Người lính miền nam nghĩ thoáng thôi
“Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi” (1)
Ngày tàn cuộc chiến còn sống sót
Đâu nghĩ ngục tù giăng khắp nơi

Mang thân tù tội mấy ai về
Rừng thẳm suối hoang ngỡ bến mê
‘Lao động vinh quang’ đời lao cải
Bao người xác gởi chốn sơn khê

Nhưng cũng đành thôi kiếp đoạn trường
Công hầu khanh tướng mộng đành buông
Nghĩ mình xấu số đời đen bạc
Tình nghĩa đồng minh thật chán chường

Hôm nay đất khách tháng tư này
Cờ rủ ngoài đường gió khẽ lay
Trời chẳng mưa sa mà mắt ướt
Bạc đầu quốc hận gió mây bay

Rồi sẽ một ngày trở lại thôi
Vinh quang ngày ấy rạng môi cười
Cờ vàng rực rỡ trên quê cũ
Ta sẽ mừng vui mắt lệ ngời

(1): Câu thơ cổ của Vương Hàn đời nhà Đường bên Trung Quốc

TOÀN NHƯ  (Tháng 4-2023)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Nhật ký tháng tư – Thơ Quốc hận Toàn Như

Nhìn lại lịch sử: Cuộc đời Ba Cụt Lê Quang Vinh

Cuộc đời ông Lê Quang Vinh (Ba Cụt) qua lời kể của vợ ông, bà Trần Thị Hoa

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Nhìn lại lịch sử: Cuộc đời Ba Cụt Lê Quang Vinh

Vì sao tôi yêu màu áo lính Cộng Hòa – Youtube

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Vì sao tôi yêu màu áo lính Cộng Hòa – Youtube

Truyện ngắn: Con cào bằng lá dừa. (Diễn Đàn Việt Thức)

Truyện Ngắn: Con Cào Cào Bằng Lá Dừa

maxresdefault (1)

Đứng trong hàng rào kẽm gai của khu thăm nuôi. Bé Mai cố nhướng mắt để tìm người cha thân yêu của mình trong số những đoàn người gầy guộc, xanh xao, vàng vọt đang lếch thếch cất bước trên đường về trại tù. Với ánh nắng trưa hè gay gắt, mọi nguời đi thăm nuôi đều đứng trong mái hiên ngẩng cổ nhìn ra. Riêng bé Mai bất chấp những tia sáng nóng đang rọi trên đôi má ửng đỏ, những giọt mồ hồ đang rịn trên trán. Cô bé cố giơ cao những con cào cào xanh hướng về phía đoàn người đang lần lượt đi qua, hầu mong cha của mình sẽ mau chóng nhận ra. Ông Sinh đã nhận ra con gái , ông giơ cao lon gô vẫy vẫy. Bé Mai sung sướng reo lên: “Má ơi. Con thấy ba rồi! Con thấy ba rồi !”

Đoàn tù vẫn bình thản bước lên đồi. Ông Sinh vừa đi vừa ngoảnh cổ lại đằng sau nhìn con. Khi không còn thấy hình bóng cha nữa, bé Mai mới chịu chạy lại bên mẹ thút thít khóc.  Thiếu phụ rút khăn tay lau mồ hôi trên trán con, vuốt mái tóc bé an ủi :

“Nín đi con, tí nữa mẹ con mình gặp cha rồi.”

Thời gian thăm nuôi thật ngắn ngủi, chỉ mười năm phút. Ông Sinh chỉ kịp ôm con vào lòng, hôn lên má con. Hỏi han vợ năm ba câu, chẳng nói được gì nhiều, đã gần hết giờ.  Mọi người trong phòng thăm nuôi chỉ biết nhìn nhau khóc và khóc. Đến gìơ. Tên cán-bộ oắt con quơ quơ khẩu súng AK. về phía mọi người:

“Đã hết giờ, yêu cầu mọi người đứng lên ra về.”

Ông Sinh vội vàng nắm chặt hai bàn tay vợ và ôm hôn con lần cuối, xách bị gói lương khô cùng mấy con cào cào theo chân mọi người ra cửa.  Ngồi trên chuyến xe lô trở về thành phố, hầu hết là những bà vợ đi thăm nuôi chồng, họ đều mệt mỏi trong cuộc hành trình dài. Phần vì đường xa, phần vì phải thức khuya dậy sớm để nấu thức ăn, giờ đây tất cả đều cố nhắm mắt thiu thiu ngủ dưỡng sức. Riêng bé Mai không tài nào ngủ được, dù rất muốn ngủ và mệt mỏi. Hình dáng của người cha luôn luôn lởn vởn trong trí óc bé, thân hình gầy gò, đen đủi của ông khác xa với hình dáng trắng trẻo, hồng hào, mập mạp trước kia rất nhiều. Bé là người được cha thương yêu nhất. Đêm nào ông cũng ru bé ngủ, kể truyện cho bé nghe, trước khi rời khỏi phòng ông không quên hôn lên nút ruồi son trên cổ bé, mà ông thường gọi đùa là : Nốt ruồi mang đến nhiều sự may mắn.”

Ông có đôi bàn tay rất khéo léo và nghệ thuật. Chính ông đã dậy cho bé xếp hình những con thú, đồ vật bằng giấy nhất là thắt hình những con cào cào bằng lá dừa non thật là tuyệt, trông chúng đẹp, hung dũng, oai phong biết bao! Bé rất thích và thường thắt để tặng bạn bè, vì thế chúng thường chọc và gọi bé lá con cào cào xanh. Biệt hiệu này bé rất thích và thường hay kể lại với cha. Ông nói con cào cào xanh với đôi chân cứng cáp, nhẩy xa, biểu hiện cho sự tương lai vững chắc. Cha muốn con gái của cha sau này cũng giống như những con cào cào này.

Riêng ông Sinh, ông không thể không cầm được nước mắt khi nhìn giỏ quà của vợ con. Sau gần hai năm tù cải tạo, đây là lần đầu tiên ông được thăm nuôi. Giỏ qùa dù ít nhưng nó đã gói ghém biết bao nhiêu mồ hôi, nước mắt, tình thương của gia đình, dù ít nhưng ông rất ấm lòng. Nhất là mấy con cào cào xanh, nhìn chúng ông cảm thấy vui vui và xao xuyến trong lòng. Cô bé không biết đã bỏ biết bao nhiêu công sức, tình thương yêu gói trọn vào đó để dành cho cha. Nghĩ tới đó tim ông như thắt lại.

Đây là lần đầu và cũng là lần cuối ông gặp mặt vợ con. Kể từ ngày thăm nuôi cho tới mấy năm sau này, ông không hề nhận được bất cứ tin tức gì về gia đình. Lòng ông như rối bời, tâm tính như mất trí, thân xác kiệt quệ. Mấy lần ông đã ngã qụy, tưởng không thể sống nổi, may nhờ bạn bè an ủi, giúp đỡ về vật chất cũng như tinh thần , ông đã qua khỏi.

Cuộc sống tù đầy cứ như thế: Chịu đựng, đau khổ, đói khát. Cho tới cuối năm 1981 ông được thả về.

Ra khỏi tù, ông không còn nơi nương tựa. Theo chòm xóm cho biết: Vợ con ông đã vượt biên năm 1976. Gia đình bên vợ thì đã bán nhà dọn đi nơi khác, không biết biệt tích nơi đâu. Còn bên ông thì không có ai cả, vì ông vô Nam chỉ có một mình khi ông mới mười hai tuổi. Thế là hết! không biết đâu mà mò.  Điều làm ông lo âu nhất, là vợ con ông có thật sự đi vượt biên không, hay là tin đồn nhảm?! Nếu đúng như vậy, liệu có thoát không? Hay là đã bị…ông không dám nghĩ tiếp. Nếu thoát, tại sao không gửi thư về để cho ông biết tin. Những câu hỏi tại sao?..tại sao?… làm cho ông điên đầu. Hiện giờ ông mù tịt, và cũng không hiểu vì sao?!

Ra khỏi nhà tù nhỏ, ông lại vô nhà tù lớn. Cũng lao động thân xác để kiếm miếng ăn, cũng phải học tập, trình diện hàng tháng. Người ông càng ngày càng tiều tụy, nhưng ông phải ráng sống để có ngày gặp lại mặt vợ con.

May mắn nhờ một người bạn tù cùng chung một tổ trong trại tù, đưa ông về nhà cho tá túc qua ngày, cùng chỉ ông cách thức vá giầy, dép cũ. Cuộc sống của ông cũng tạm đủ.

Dạo này trời Sài-Gòn hay đổ những cơn mưa bất tử, làm ông Sinh dọn hàng ra, vô muốn bở hơi tai. Hai năm sau này công việc làm ăn của ông đâm khá ra. Giầy dép cũ mới, chôm chỉa gì ông cũng mua tuốt luốt, đem sửa chút ít, dánh bóng lại bán được gía cao.

Một người khách đi đến gian hàng ông. Ngắm nghía lựa một đôi, sỏ vừa chân,, cầm lên hỏi:“Bác , Đôi này bao nhiêu?”

Đang cúi lau giầy, ông vội vàng ngửng đầu lên định trả lời. Nhưng thấy người khách ông bỡ ngỡ, cảm thấy rất quen nên chưa kịp đáp. Người thanh niên thấy mặt ông cũng giật mình lùi lại, trơn mắt như gặp phải ma. Cậu ta định thần nhìn kỹ. Vội hỏi:

“Xin lỗi, xin lỗi. Bác có phải…..phải tên Sinh không?”

Cũng vừa kịp lúc ông Sinh nhận ra người khách lạ, chẳng ai khác hơn chính là cậu em vợ của mình. Như bắt được vàng. Ông Sinh rối rít dọn hàng không bán nữa. Hai anh em kiếm một quán cà phê ngồi tâm sự.  Thì ra vợ con ông đi vượt biên thực sự, hiện định cư ở Mỹ. Vợ ông đã có chồng khác và đã có hai con, một trai, một gái. Cha mẹ vợ đã bán nhà ở thành phố, dọn về quê ở. Mấy năm nay ông bà vẫn đều đặn nhân được tiền bạc do con gái chu cấp hàng tháng, và hiện cậu em trai vẫn còn ở với cha mẹ. Không hiểu vì lý do gì, cố ý hay có uẩn khúc gì khác, ông bà lại báo với con gái là ông đã chết trong trại tù.

Ngay ngày hôm sau. Ông Sinh cùng cậu em vợ vội đáp xe đò về thăm gia đình vợ. Chuyến thăm này đã khiến ông Sinh nhận nhiều sự đắng cay tủi nhục. Sự ơ hờ, tiếp đón tẻ nhạt đã làm ông thất vọng. Ông không có địa chỉ cũng như không có tin tức gì về vợ con. Ông chỉ biết đạì khái là vợ ông không muốn cho ông biết nơi ở của nàng. Chuyện ông bị chết là do công an tới nhà báo tin.

Nhưng nhờ vào lòng tốt của cậu em vợ, cuối cùng ông cũng có được địa chỉ của vợ con trong tay. Nhưng làm được gì với địa chỉ này ? Đối với vợ, ông có lỗi với nàng chứ không phải nàng có lỗi với ông. Ở vậy chờ chồng nuôi con là việc tốt, nếu không thì đành phải chấp nhận, không thể oán trách. Nhưng với con, ông phải có bổn phận và trách nhiệm. Ông nhớ cô bé vô cùng không kể xiết.

Ông đã viết thơ nhiều lần, nhưng chẳng bao giờ được hồi âm. Lại mu tin, mù tịt. Đầu óc ông rối rắm tơ vò. Con ông ra sao rồi?!

Sau đó chương trình HO được cứu xét, đưa các sĩ quan tù nhân cải-tạo qua Mỹ. Ông sung sướng bán tín, bán nghi. Nhưng sự thật đã đến. Giờ đây ông đã ngồi trên máy bay đến Mỹ theo diện HO.8. Việc đầu tiên của ông dự định là sau khi lo thủ tục giấy tờ xong, ông sẽ đi tìm vợ con.

Đứng trước cánh cổng sắt của căn nhà sang trọng, trong một thành phố thuộc tiểu bang Illinois. Ông Sinh lưỡng lự không dám bấm chuông, lòng ông hồi hộp, tim đập loạn xạ. Ông đang tưởng tượng hình dáng vợ mình bây giờ thế nào? Con mình đã lớn khôn ra sao? Cô bé giờ đã hai mươi mốt tuổi rồi còn gì, không biết ông có còn nhận ra không?!

Rồi ông tự hỏi có nên vào hay không ? Gia đình người ta đang hạnh phúc, mình vào có đúng lúc không?! Đang lúc suy nghĩ miên man. Chợt ông thấy một thiếu phụ từ trong nhà đi ra, tay cầm bình tưới cây nhỏ, tưới vào những chậu hoa trước cửa. Ông không thể nhầm được, đó chính là vợ mình dù thời gian có thay đổi. Ông tính rướn người lên gọi nhưng kịp ngừng lại. Một người đàn ông tóc vàng từ bên hông nhà đi tới, đến sau lưng người thiếu phụ ôm choàng lấy nàng, hai người hôn nhau thắm thiết. Ông lặng người tê tái, quay gót bỏ đi.

Về quán trọ, ông viết vội vài chữ gửi cho vợ, hẹn nàng cho ông gặp mặt dù chỉ một vài phút. Ngồi trước mặt vợ, ông nhận thấy nàng rất đẹp, đẹp hơn trước nhiều, nhưng cũng không đấu được nhiều nếp nhăn trên trán khóe mắt, vành môi.

Để phá tan bầu không khí ngỡ ngàng. Ông Sinh khen vợ:

“Em. Trông em đẹp lắm !”.
“Cám ơn anh. Anh qua đây từ bao giờ? Trông anh già và ốm yếu quá ! Anh có cần sự giúp đỡ gì không? Chồng em quen biết rất nhiều.”

Ông Sinh thấy nàng tự nhiên qúa, không có nét xúc cảm nào lộ trên khuôn mặt. Ông cũng bình thản.

“Cám ơn em. Anh, chữ nghĩa tiếng Anh, tiếng u còn kém lắm, vả lại mới qua chưa cần gấp. Anh muốn gặp con, nó dạo này thế nào rồi ?”

Không trả lời vội. Nàng đẩy ly cà phê sữa tới trước mặt ông:

“Cà phê Starbuck này ở Mỹ có tiếng lắm. Em còn nhớ anh thích uống cà phê nên em kêu. Còn con hả, em cũng muốn mong gặp nó đây. Mấy năm nay nó chẳng hề ghé thăm mẹ. Lâu lâu gọi phôn lấy lệ”.

Ông Sinh nhỏm dậy:

“Em đã làm gì nó? Bây giờ nó ở đâu? Cho anh xin số phôn và địa chỉ của nó!
“Nào em biết. Nó không muốn cho em biết bất cứ điều gì.”

Ông Sinh như chết điếng:

“Em nói thật đó chứ?!”.
“Em không dối gạt anh. Dù chúng ta không còn là vợ chồng. Nhưng đối với con em rất mực thương yêu. Có anh đây em rất mừng, anh sẽ lo cho nó. Nó là đứa con rất có hiếu. Sự việc không hay xẩy ra, hoàn toàn do lỗi tại em. Anh đi tìm con dùm em. Cho anh biết thêm là hiện nay nó đang học nghành y-khoa, sắp ra trường. Anh cứ đi hỏi mấy trường đại học xem sao! Em đã dò hỏi khắp mọi nơi rồi, nhưng vẫn biệt vô âm tín. Anh mới qua chắc cần tiền bạc, em giúp.”

Vừa nói, nàng vừa mở bóp lấy cuốn chi phiếu.

Ông Sinh nghe vợ nói một hồi như lùng bùng lỗ tai. Không cần nghe thêm, ông xô ghế đứng dậy.

Nhờ những người quen biết chỉ dẫn. Ông Sinh đăng tin tìm người trên báo chí cả Mỹ lẫn Việt, cùng phôn tới tất cả các trường đại học xa gần, vẫn không có kết qủa. Ở nước Mỹ to lớn này gồm năm mươi tiểu bang, có biết bao nhiêu trường đại học mà kể, tìm người như tìm kim đáy biển, biết đâu mà mò. Rồi ông lại suy nghĩ vớ vẩn, nhỡ con bé tự tử. Nghĩ tới, nghĩ lui làm ông rối trí thêm. Cuối cùng ông đành buông xuôi cho số phận thời gian.

Để mưu sinh và cũng để tạo cơ hội tìm kiếm, ông ghi danh đi học khóa đào tạo y công, phụ giúp trong các bệnh viện, hầu hy vọng có một ngày nào đó gặp được con mình.

Thời gian cứ thế trôi qua. Ông đã phục vụ rất nhiều bệnh viện trong tiểu bang California này mấy năm rồi, cũng thăm hỏi nhiều rồi, sự hy vọng của ông càng ngày càng giảm, hầu như tuyệt vọng.

Niềm vui thú duy nhất của ông hiện thời là mấy con cào cào xanh, mà ông cất rất kỹ từ khi thăm nuôi tới giờ, dù chúng đã khô héo quắt queo. Mỗi khi nhớ con ông lại mang ra ngắm nghía, tâm hồn ông lúc đó hoàn toàn chìm đắm trên khuôn mặt cuả bé Mai.

mqdefault

Jennifer Trần là một bác sĩ trẻ, đẹp, làm việc rất siêng năng, cần mẫn, hay giúp đỡ mọi người. Ai cần việc gì, khó khăn gì hay trong nhà cần chuyện gì, cần người thay thế, bác sĩ vui lòng giúp đở, dù đó là ngày nghỉ của mình.Bác sĩ đã có vị hôn phu cùng phục vụ trong cùng một bệnh viện. Hai người tính làm đám cưới lâu rồi, nhưng không hiểu vì sao cứ lần này rồi lại lần khác, không thể thực hiện được. Bạn bè thúc giục, khuyên nhủ, nàng chỉ cười.. Tuy là người vui tính thích bong đùa, nhưng bác sĩ Trần vẫn không dấu được nét buồn của mình. Nét buồn đó càng làm tăng thêm vẻ đẹp dịu hiền, mà ai cũng gọi đùa là “nữ hoàng sầu muộn” Dù còn trẻ, nàng vẫn không thích nơi hội hè đình đám, những chỗ đông người, mà chỉ muốn sống cho riêng mình, nhưng đối với bạn hữu nàng cũng quậy ra trò.

Hôm nay ông Sinh nghỉ không đi làm. Ông rảnh rỗi cùng người bạn gìa đi thăm cháu gái của ông ta bị bệnh nằm trong bệnh viện. Tiện thể ông mang mấy con cào mà ông mới thắt đêm qua, cho cháu gái làm quà.

Ngày chủ nhật, bệnh viện sao có qúa nhiều ca mổ! Bác sĩ Trần đã thấm mệt, mồ hôi rịn đầy trán. Nàng lấy khăn mui xoa chấm chấm mồ hôi, bây giờ nàng mới thực sự được rảnh tay.

Bác sĩ Trần đi qua dẫy phòng khoa nhi để đến phòng ăn, vì từ sáng đén giờ nàng chưa có cái gì vào bụng. Những tiếng cười khanh khách của một bé gái nào đó vang lên từ phòng khoa nhi. Cảm thấy vui vui nàng ghé lại nhìn thử. Một bé gái, nằm quay mặt vào phía trong, hình như đang giỡn với vật gì đó, làm cho cô bé khoái chí cười nắc nẻ. Tính tò mò thúc đẩy, nàng rón rén lại gần, nhìn vào phía trong.. Bất gíác nàng run người lên , mắt mở trợn trừng. Cô bé đang cho hai con cào cào xanh đá nhau, hai con cào cào được thắt bằng lá dừa xanh , trông thật là đẹp. Nàng run run cầm lên mân mê. Hỏi :

“Ở đâu bé có hai con cào cào này?”

Như sợ bị la mắng, chơi đồ chơi trong phòng bệnh. Cô bé phân bua:

“Không phải của con mua, mà của ông gìa lúc nẫy cho con”.

Bác sĩ Trần không kềm được xúc động , hỏi dồn:

“Bao lâu rồi ? Ông đi đâu ?”

Cô bé hốt hoảng :

“Dạ…dạ, con cũng hổng biết. Đã lâu rồi!”

Bác sĩ Trần hốt hoảng bước ra khỏi phòng, dáo dác nhìn quanh. Mặc kệ cho bụng đói, nàng chạy từ phòng nọ qua phòng kia, từ dẫy nọ qua dẫy kia để tìm kiếm. Trước sự lạ lùng đó, mọi nhân viên trong bệnh viện đều vây lại hỏi thăm, Nàng hỏi bâng quơ :

“Có ai thấy ông gìa nào đó trong bệnh viện không?”

Trước câu hỏi ngây ngô đó, mọi người đều không nín được cười, nhưng không ai dám cười trước vẻ nghiêm trọng của bác sĩ Trần.
Trong bệnh viện này, biết bao nhiêu ông gìa, bà cả đi thăm con cháu, người thân. Cảm thấy câu hỏi của mình qúa ngớ ngẩn, nàng cười gượng:

“Thôi. Không có gì, cám ơn các bạn.”

Tuy nói vậy nhưng trong lòng nàng vẫn không yên, tự nghĩ: ”Chỉ có cha mình mới thắt kiểu đó, nhưng ông đã chết rồi mà! Chẳng lẽ vì quá nhớ cha mà đâm ra mê sảng ?.!”

Thôi đi ăn cơm!

Bác sĩ Trần, chính là bé Mai. Từ khi theo mẹ đi thăm nuôi cha, trở về nhà, không ngày nào bé không nghĩ đến cha của mình. Ngày vượt biển ra đi, bé nhất định không chịu , đợi ngày cha trở về đi cùng. Vì sự hăm dọa của ông bà ngoại cùng những lời khuyên giải của mẹ, bé đành chịu phép. Sang đến Mỹ bé nhất định phải học giỏi để có tiền gửi cho bà ngọại đi thăm nuôi cha đều đều. Bé sẽ nhẩy cao, sẽ cứng cáp như những con cào cào xanh mà cha đã từng nói.

Cuộc vượt biên êm xuôi. Sau hơn một năm ở trên đảo, bé cùng mẹ được định cư tại Hoa-Kỳ. Dòng đời đưa đẩy, mẹ lấy chồng khác, một anh chàng Mỹ giầu có. Cô bé có thêm hai đứa em gái.

Giờ đây, bé Mai đã mười chín tuổi, cái tuổi bước vô ngưỡng cửa đại học. Càng lớn nàng càng giống cha. Đã nhiều lần nàng biên thư và gửi tiền cho ngoại để hỏi thăm tin tức, cùng sức khỏe của cha trong trại tù, nhưng không ai trả lời. Có hỏi mẹ, chỉ được biết:

“Cha con đã chuyển đi ra ngoài Bắc rồi. Bà ngoại đã già không thể đi được.”

Nói sao nàng tin vậy. Mỗi lần nhớ ông, nàng lại mang hình hai cha con ra ngắm. Tấm hình nàng đã mang theo khi đi vượt biên.

Sống chung đụng trong cùng một mái nhà. Điều làm cho nàng ghê tởm, xấu xa, bỉ ổi nhất là anh chàng Mỹ kia cứ nhởn nhơ mặc quần lót đi trong phòng khách. Có lần hắn đã dám xàm xở ôm nàng xờ xoạng khi không có mẹ ở nhà. Từ đó nàng đã bỏ nhà đi sang tiểu bang khác, chỉ biết học và làm việc tự lo cho bản thân, lâu lâu hỏi thăm mẹ qua điện thoại công cộng.

Vào một ngày, khi điện thoại về thăm mẹ, được bà báo cho biết: Cha đã chết trong tù!

Mọi vật như xụp đổ. Nguồn hy vọng bám víu cuối cùng cũng không còn. Thế là hế!

Nàng đã khóc đến khô cả nước mắt, cuộc sống như tẻ nhạt, chán chường không còn tha thiết gì nữa! Nàng chỉ biết vùi đầu vào sách vở cho quên nỗi buồn, và phải chiến đấu, chiến đấu, cứng cáp như những con cào cào xanh mà cha nàng khi còn sống hằng mong mỏi. Cuối cùng nàng cũng lấy được mảnh bằng chuyên khoa giải phẩu.

Qua tin tức báo chí. Bác sĩ Trần được biết các sĩ quan tù cải tạo được chính phủ Mỹ cứu xét cho định cư tại Hoa kỳ theo chương tình HO. Không hiểu sao nàng hồi hộp lạ thường.

Rồi quyết định bỏ miền đông tuyết phủ, trở về với nắng ấm Cali.

Hôm nay là ngày lễ Thanksgiving day, nàng muốn đi ra biển. Không phải để tắm hay hóng gió mà nàng muốn làm một công việc, công việc này nàng đã dự tính từ lâu nhưng vì qúa bận rộn nên không thể thực hiện được. Nhân ngày lễ tạ ơn nàng phải làm điều gì để nhớ ơn cha. Nàng sẽ thắt thật nhiều, thật nhiều con cào cào thả xuống biển, để chúng mang lời cầu nguyện của nàng đến người cha thân yêu. Nàng tin tưởng rằng ở nơi xa xăm vĩnh cửu nào đó cha nàng sẽ nhận được lời khấn nguyện này. Nàng rủ bác sĩ Hải (vị hôn phu) cùng đi chơi biển. Chàng rất thích thú lẫn ngạc nhiên về lời yêu cầu này, khác với bản tính trầm lặng không thích nơi ồn ào của nàng từ trưóc đén giờ, bèn okay chấp nhận liền.

Trong khi chờ đợi vị hôn phu đi mua thức ăn. Nàng dã kiếm đựợc khá nhiều lá dừa xanh, cẩn thận chau chuốt tước từng lá và bắt đầu thắt những con cào cào. Nàng để hết tâm trí vào công việc, chìm đắm trong niềm thương nhớ cha.

Ngoài kia. Sau khi đã mua thức ăn, trên đường trở về chỗ cũ nơi bãi biển, chàng thấy một đám con nít đang vây chung quanh một cụ già Việt-Nam, trên tay đứa nào cũng cầm một con cào cào, thấy hay hay chàng cũng xin một con.

Vừa đi vừa ngắm con cào cào, chàng cảm thấy nó rất đẹp và còn có vẻ oai phong nữa. Chàng sẽ cho vị hôn thê, chắc nàng sẽ thích thú lắm! Về đến nơi. Thật, chàng không thể tin vào mắt mình, nàng cũng đang thắt…..con cào cào.

“Em đang làm gì vậy.”
“Thắt con cào cào.”
Chàng cầm con cào cào mới xin được, vẫy vẫy trước mặt nàng.
“Anh cũng có một con.”

Nhìn con cào cào, mặt nàng tái mét, hỏi dồn:

“Ở đâu anh có nó?”

Chàng chỉ về hướng đám trẻ:

“Một cụ già Việt-nam cho anh.”

Chẳng nói chẳng rằng, nàng nắm tay chàng chạy như bay về hướng chỉ. Một ông già, tóc bạc qúa nửa. đeo cặp kiếng lão, Hai tay đang thoăn thoắt thắt những con cào cào. Dù thời gian, tuổi tác có thay đổi, nhưng với hình dáng kia, nét mặt kia đã in sâu vào tâm khảm, nàng không thể nhầm được, chính là cha nàng. Qúa xúc động, nàng ngất xỉu.

Sự việc xẩy ra qúa đột ngột, bác sĩ Hải hoảng hốt la cầu cứu. Ông Sinh (vâng, chính ông Sinh) ở vị trí gần nhất nghe tiếng hét vội vàng nhào tới. Ông vội thọc tay vào túi quần lấy lọ dầu xanh thoa lên hai thái dương cô gái, giựt tóc mai, giựt gân cổ. Bỗng người ông run lẩy bẩy, tim như muốn ngừng đập, khi ông thấy nốt ruồi son trên cổ cô gái, trên tay cô còn nắm chặt con cào cào. Như có linh tính, ông định thần nhìn kỹ khuôn mặt thiếu nữ. Ông gào lên trong tiếng nức nở, nghẹn ngào:
“Trời ơi! Mai….Mai, con tôi.”

Cũng vừa lúc xe cứu thương tới nơi, đưa bệnh nhân lên xe. Ông Sinh, bác sĩ Hải cũng vội vàng leo lên theo. Cầm tay con gái, lòng ông Sinh bồi hồi xúc động, ông không nghờ gặp con trong hoàn cảnh này. Hai hàng nước mắt ngắn, dài chẩy trên hai gò má nhăn nheo. Nhưng ông cảm thấy sung sướng và ấm áp vô cùng.

Tin bác sỹ Trần thị Mai gặp lại được cha già sau hai mươi năm xa cách đã loan truyền khắp trong bệnh viện, một vụ trùng phùng đầy đau thương, thích thú, khiến ai cũng mủi lòng.  Hôm nay nhà bác sỹ Mai thật đông đảo khách tới thăm, bạn bè, thân hữu nghe tin mang hoa tới chúc mừng. Trong mấy năm qua , bây giờ mọi người mới thấy được nét tươi vui, rạng rỡ thực sự trên khuôn mặt u sầu của vị bác sỹ mà họ mến yêu. Nhưng người sung sướng nhất vẫn là bác sỹ Hải.

Dương Thịnh

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Truyện ngắn: Con cào bằng lá dừa. (Diễn Đàn Việt Thức)