Các Danh Mục

DUYÊN TIỀN ĐỊNH_Phạm Thành Châu
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở DUYÊN TIỀN ĐỊNH_Phạm Thành Châu
THƯ TRI ÂN CỦA TỔNG HỘI CSQG VỀ CHƯƠNG TRÌNH TRỢ GIÚP THƯƠNG BINH & QUẢ PHỤ CSQG-VNCH
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở THƯ TRI ÂN CỦA TỔNG HỘI CSQG VỀ CHƯƠNG TRÌNH TRỢ GIÚP THƯƠNG BINH & QUẢ PHỤ CSQG-VNCH
TẠ ƠN NƯỚC MỸ_Phiến Nguyễn
Tạ Ơn Nước Mỹ
Tôi đến đây lúc tuổi đời đúng ngọ
Khi bạo quyền trấn lột hết sức hơi
Ngót 10 năm trong ngục tù lao cải
Rồi đọa đày qua thuỷ lợi xung công
*
30 năm thảnh thơi nơi xứ lạ
Quên thời gian quên cả cuộc truân chuyên
Nguồn vui sống mải mê theo ngày tháng
Đoạn đường trần mong sao được dài thêm
*
Cám ơn ai ngày Tạ Ơn nước Mỹ
Vòng tay nào cứu vớt kẻ khốn cùng
Thân ngã ngưạ được vào vùng đất hứa
Niềm vui khắp lối ngập trời gấm nhung
Phiến Nguyễn
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở TẠ ƠN NƯỚC MỸ_Phiến Nguyễn
TẢN MẠN MÙA TẠ ƠN_Thơ: Tống Phước Kiên
TẢN MẠN MÙA TẠ ƠN
Tạ ơn Chúa Cả trên trời
Cho con thân phận làm người trần gian
Đỡ nâng con lúc gian nan
Qua cơn nguy biến đầu non cuối gành
Tạ ơn công đức sinh thành
Mẹ cha chăm sóc dỗ dành yêu thương
Dẫn con tập tễnh trên đường
Lo cho con trẻ tới trường thi đua
Học hành rồi lại vui đùa
Thầy cô giảng dạy sớm trưa sá gì
Ơn thầy muôn thuở khắc ghi
Kiến thức học được khác chi khuôn vàng
Tình nhà nợ nước vai mang
Sống sao cho xứng đôi đàng chớ phai
Làm trai cho đáng nên trai
Quê hương chinh chiến kê vai đáp đền
Việt Nam một thuở buồn tênh
Anh em một mẹ hai bên hận thù
Hòa bình sao lại ngục tù ?
Nên tình huynh đệ thiên thu chẳng gần
Đành tìm viễn xứ dung thân
Xin vào Mỹ quốc hưởng phần tự do
Tạ ơn đất nước Cờ Hoa
Cho người tị nạn hòa chung một nhà
Tình người đây đó mặn mà
Sẵn sàng giúp đỡ can qua ngặt nghèo
Tới đây mới hết gieo neo
Cuộc đời êm ắm hòa theo tiếng cười.
Tống Phước Kiên
Mùa Tạ Ơn 2022
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở TẢN MẠN MÙA TẠ ƠN_Thơ: Tống Phước Kiên
Ký Ức Không Bao Giờ Quên – LHN
Đây là K2 Phạm Văn Tuyền , nguyên Giảng Sư Học Viện cho tới ngày sập tiệm .

Ngày 30/04/1975 , Phạm Văn Tuyền và Lê Hữu Nghĩa chạy bộ từ Học Viện về Saigon sau khi có lịnh đầu hàng . Hai thằng đi tới cầu xa lộ thì bị đóng đường nên vòng trở lại đi theo ngả chợ Thủ Đức định qua cầu Bình Triệu về Saigon . Tới ngả tư Bình Triệu , trên cầu Bình Triệu có một xe tăng VNCH đang bốc cháy đỏ rực (sắt mà cháy như gỗ luôn) mà cứ vài phút là phát nổ cái đùng làm miểng lửa văng lên trời . Hai thằng mới tính qua cầu Bình Lợi nhưng đứng ở chân cầu hồi lâu mà hổng dám qua . Vì cầu đã bị sập một nhịp nhưng còn dính một miếng nhỏ ở một bên mép cầu , thiên hạ phải chen nhau như đi xiếc để qua . Hai thằng bàn nhau , trở lại cầu Bình Triệu , chờ cho có tiếng nổ và miểng lửa rớt xuống xong là cắm đầu chạy . Chỉ có hai thằng tui dám chạy ẩu qua cầu thôi . Về tới ngả tư Hiền Vương + Trương Minh Giảng thì hai đứa chia tay vì nhà Tuyền ở bên kia cầu Trương Minh Giảng . Tui về tới nhà ở Bình Đông lúc 7 giờ chiều . Cây cầu Chữ U bị sập một quảng do kẹt cầu vì thiên hạ vác gạo từ kho bến Bình Đông qua bến Lê Quang Liêm , Quận 6 .
Sau đó tui vô tù tháng 6/1975 . Còn Tuyền bữa đó hổng về nhà mà trốn luôn , tới một năm sau mới bị bắt ở Rừng Lá .
Mấy năm trước Phạm Văn Tuyền còn làm Thầy Sáu ở Kansas City , bây giờ đã 80 tuổi chắc nghỉ rồi .
LHN
Trong hình trên đây , Phạm Văn Tuyền mặc đồ Cảnh Sát Dã Chiến , mang kiếng gọng đen , đứng ở bìa phải .
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Ký Ức Không Bao Giờ Quên – LHN
Phân Ưu NT Tôn Thất Trác
Cám ơn bạn Huỳnh Vĩnh Hưng đã thực hiện Phân Ưu nầy cho một số anh em.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Phân Ưu NT Tôn Thất Trác
Cáo Phó NT Tôn Thất Trác vừa mới qua đời
CÁO PHÓ
Căn Nhà Nhỏ vừa được bạn Huỳnh Vĩnh Hưng từ Nam Cali báo tin cho biết: NT TÔN THẤT TRÁC,
nguyên Thiếu Tá CSQG VNCH.
Nguyên Giảng Viên TT HL và Tu Nghiệp Trung Cấp CSQG Sài Gòn,
Nguyên Chỉ Huy Phó BCH CSQG Vũng Tàu và Long An.
Đã qua đời hôm 29/10/2022 .
Hưởng Thượng Thọ 85 tuổi
– Tang lễ sẽ cử hành vào
hai ngày cuối tuần 19 và 20/11/2022.tai nhà quàn
PEEK FUNERAL HOME # Phòng số 2.
7801 Bolsa Ave. Westminster CA 92683
Vậy kính xin thông báo đến quý NT và quý Chiến Hữu CSQG dành thì giờ đến thăm viếng và tiễn đưa NT Tôn Thất Trác về an nghỉ nơi miền Tịnh Độ

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Cáo Phó NT Tôn Thất Trác vừa mới qua đời
ĐI BỘ VÀ ĐẠP XE LÀ CÁI CHẾT TỪ TỪ CỦA HÀNH TINH _Sưu tầm
Chạy Bộ Và Đạp Xe Là Cái Chết Từ Từ Của Hành Tinh
Giám đốc điều hành Ngân hàng Euro Exim khiến các nhà kinh tế suy nghĩ rất nhiều khi ông nói:
′′ Người đi xe đạp là thảm họa cho nền kinh tế đất nước: anh ta không mua ô tô và không vay tiền để mua. Anh ta không trả tiền cho các hợp đồng bảo hiểm. Anh ta không mua nhiên liệu, không trả tiền cho bảo dưỡng và sửa chữa xe cần thiết. Anh ta không sử dụng bãi đậu xe trả tiền. Anh ta không gây ra tai nạn nghiêm trọng. Anh ta không yêu cầu nhiều đường cao tốc nhiều làn. Anh ta không bị béo phì.
Người khỏe mạnh không cần thiết cũng chẳng mang lại lợi ích gì cho nền kinh tế. Họ không mua thuốc, không đến bệnh viện hay gặp bác sĩ. Họ không đóng góp thêm gì cho GDP của đất nước.
Ngược lại, mỗi cửa hàng McDonald’s mới đều tạo ra ít nhất 30 việc làm: 10 bác sĩ tim mạch, 10 nha sĩ, 10 chuyên gia dinh dưỡng, và rõ ràng nhất là những người làm việc trong cửa hàng”.
Do đó hãy lựa chọn thật kĩ: một người đi xe đạp hay một cửa hàng Mcdonald?
Đáng để suy ngẫm
Đi bộ còn kinh khủng hơn. Người đi bộ thậm chí còn không mua xe đạp.
Sưu tầm
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở ĐI BỘ VÀ ĐẠP XE LÀ CÁI CHẾT TỪ TỪ CỦA HÀNH TINH _Sưu tầm
Ly cà phê ngày cuối tuần – Thơ Toàn Như
LY CÀ PHÊ NGÀY CUỐI TUẦN
*Thân tặng nhóm bạn cà phê cuối tuần

Cái quán nhỏ đã là nơi hò hẹn
Cho bạn bè mới cũ đã thân quen
Gặp lại nhau sau một tuần mỏi mệt
Trút tâm tư cho vơi bớt ưu phiền
Cái quán ấy đã trở thành quen thuộc
Mỗi cuối tuần tụ hội lúc bình minh
Dăm đứa bạn bên ly cà phê đắng
Ôn chuyện đời nói những chuyện linh tinh
Những câu chuyện đã nhiều lần đem kể
Mà nghe như vẫn mới ở quanh đây
Đời tị nạn biết bao là dâu bể
Chốn quê xa bỗng chốc hóa lưu đày
Thời binh lửa đã chìm trong dĩ vãng
Tuổi học trò cũng mất hút sau lưng
Nhắc với nhau những ngày xa xưa cũ
Nghe mơ hổ trong nỗi nhớ mông lung
Cứ gặp nhau nói hoài không hết chuyện
Chuyện ngày xưa và chuyện của hôm nay
Những buồn vui những tháng ngày tất bật
Đời tha hương xứ lạ đếm từng ngày
Rồi đôi lúc ngậm ngùi lòng trĩu nặng
Ly cà phê thêm đắng giữa ban mai
Nghe tin buồn về một người vắng mặt
Lời hàn huyên bỗng chốc hóa bi ai
Đời tị nạn vô thường nào ai biết
Cuối con đường phía trước thoát được đâu
Hãy vui đi kẻo quỹ đời sắp cạn
Bạn bè ơi niềm vui mãi mong cầu
TOÀN NHƯ
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Ly cà phê ngày cuối tuần – Thơ Toàn Như
Video “Thương Quá Sài Gòn” Nhạc: Lê Hữu Nghĩa – Lời: Toàn Như.
Tiếp theo đứa con đầu lòng, xin được giới thiệu với quí niên trưởng và các bạn đứa con kế tiếp của cặp ‘gay’ Toàn Như – Lê Hữu Nghĩa : Thương Quá Sài Gòn .
Mong được mọi người đón nhận và giới thiệu với nhiều người khác .Video nầy đã được edit lại theo yêu cầu của một số bạn, không có cờ máu và cắt bỏ bớt đoạn kết có hình nghĩa trang.
Kính chúc sức khỏe.
LHN
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Video “Thương Quá Sài Gòn” Nhạc: Lê Hữu Nghĩa – Lời: Toàn Như.
Tượng đài và con đường Ngô Đình Diệm tại Banglades – Thơ Bùi Chí Vịnh
TƯỢNG ĐÀI VÀ CON ĐƯỜNG
NGÔ ĐÌNH DIỆM TẠI BANGLADES
Ở Banglades có một con đường mang tên Ngô Đình Diệm
Con đường mang tên Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa
Con đường có pho tượng Tổng Thống giơ tay vẫy chào trước thời gian bất biến
Hai bên tượng đài là hoa sen Việt Nam, đúng nghĩa quốc hoa
Không phải tự nhiên mà xứ sở người ta
Thuộc lòng câu tục ngữ “ăn cây nào rào cây nấy”
Năm 1960 Banglades bị nạn đói hoành hành
Dân chúng phải ăn thịt lẫn nhau như loài thú dại
Đúng lúc ấy Việt Nam Cộng Hòa đã giúp đỡ cho nước Nam Á này gói cứu trợ không hoàn lại
Gồm 200 ngàn tấn gạo, 5 triệu đô la và hỗ trợ y tế kịp thời
Một đất nước sửa soạn bị diệt vong vì chết đói
Bỗng hồi sinh bằng lòng nhân ái cầm hơi
Sau 1975 “nhiễu điều phủ lấy giá gương” ở trong nước bỏ đi chơi
Nhưng ở nước ngoài người ta nhớ “một con ngựa đau cả tàu không ăn cỏ”
Người ta biết Việt Nam có câu “uống nước nhớ nguồn”
Có câu “ăn trái nhớ kẻ trồng cây” nhớ ngày gian khổ
Sau 1975 bọn “ăn cháo đá bát” ở Việt Nam đá nhân dân thành man rợ
Nhưng tại Banglades nghĩa tình kia đã để quốc tang khi Ngô Tổng Thống
mất 7 ngày
Chỉ cần một lần hàm ơn là mắc nợ
Là đặt tên đường, dựng tượng đài ân nhân đứng vẫy tay
Tôi làm bài thơ về sự kiện ít người Việt Nam biết đến hôm nay
Rằng tại một xứ sở không xa người ta vẫn vinh danh Ngô Tổng Thống
Rằng bọn bạo chúa độc tài đàn áp bóc lột nhân dân cũng sẽ có ngày
Được báo đáp đền ơn bằng những sợi dây thòng lọng !
9-11-2022
BÙI CHÍ VINH
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Tượng đài và con đường Ngô Đình Diệm tại Banglades – Thơ Bùi Chí Vịnh
Toàn Quốc Nói Ngọng Bài của Đỗ văn Phúc
Toàn Quốc Nói Ngọng!
Đỗ Văn Phúc
Vấn đề dân chúng một số vùng ở Việt Nam nói ngọng đã được chúng tôi đề cập trong bài viết “Tiếng Việt Qua Ba Miền” in trong cuốn Chuyện Dài Chữ Nghĩa từ trang 194 đến trang 202. Sau đó, có vài vị quan tâm đến vấn đề này, đã đề nghị tác giả viết thêm để giải thích tại sao hiện tượng này phát triển quá nhanh và quá rộng để đến nay, gần như người trong nước Việt Nam đa số nói ngọng và viết ngọng!
Trước đây, chúng tôi biết rằng chỉ có dân một vài vùng nói ngọng; và khi họ viết ra chữ thì cũng ít sai. Nhưng hiện nay, theo dõi trên các trang truyền thông liên mạng; tình hình đã đến độ tồi tệ. Có thể, sự sai này đã trở thành tiêu chuẩn mất rồi. Không chỉ quần chúng nói ngọng, viết sai; mà cả các cơ quan công quyền, báo chí nhà nước cũng sai nhan nhản mà chúng ta có thể thấy hàng ngày. Xin đưa ra vài thí dụ với hình ảnh chứng minh như sau:
“Hình ảnh về hoạt động ‘sảm’ xuất nông nghiệp … Thành tích Huân‘Truơng’ Độc Lập, Huân ‘Trương’ Lao Động.” (Trong phòng triển lãm thành tựu của Bộ Nông Nghiệp)
“Lao động tích cực, làm theo ‘gơng’ đạo đức bác Hồ” (Bảng lớn (billboard) trong thành phố)
“Lịch tiếp dân – ‘Sử’ lý vi phạm.” (Tại văn phòng cơ quan hành chánh)
“Cấm đổ ‘giác’” (Bảng cắm ở góc đường)
“Thùng ‘giác’ (trong sách giáo khoa cấp 1”
“Đường ‘ghồ” ghề, các phương tiện giảm tốc độ.” (Bảng báo về lưu thông công lộ)
“Nóng ‘nòng’ chờ hỗ trợ.” (bản tin trên nhật báo của đảng)
“Dù ai đi ngược về xuôi; nhớ ngày ‘dỗ’ Tổ ‘mùng’ mười tháng ba!” (Sách giáo khoa)
“Tủ đựng ‘rụng’ cụ đặc biệt.” (trong một bệnh viện)
Một điều lạ là người Bắc có thể phát âm đúng cả hai nguyên âm “l” và “n”; nhưng họ lại phát âm trái chiều “l” thành “n” và “n” thành “l”? Ví dụ: Lo lắng thành ‘no nắng’ và ngược lại ‘nông nỗi’ thành ‘lông lỗi’!
Tại sao từ khi có đảng Cộng Sản cầm quyền, ngôn ngữ Việt Nam bị thoái hóa?
Một sự mâu thuẫn lớn trong hàng ngũ đảng viên Cộng Sản. Những lãnh tụ chóp bu, khai sáng ra đảng thường là các người có học, thông minh. Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp đều học xong bằng Thành Chung là trình độ rất hiếm hoi vào thời đầu thế kỷ 20 ở nước Việt Nam. Tuy là đảng của giai cấp Công nhân, nhưng giai cấp này lúc đó chưa hình thành vì con số chẳng bao nhiêu; đa số là cu li trong các đồn điền. Tuyệt đại đa số đảng viên Cộng Sản Việt Nam xuất thân từ thành phần nông dân quê mùa thất học (ngay cả ở Nga và Trung Hoa cũng thế). Bọn này vì ngu muội nên đảng dễ sai khiến lừa bịp. Chúng ngoi lên rất nhanh, nắm giữ những địa vị quyền lực như chủ tịch, bí thư các cấp sau chiến dịch cải cách ruộng đất. Thành phần trí thức lầm lạc theo đảng thì quá ít oi và bị vậy quanh bởi một tập thể ngu dốt kiêu căng nhưng có quyền hành tuyệt đối. Họ biết thân phận; khôn hồn muốn yên thân thì ngậm miệng hùa theo, chớ dại mà lên tiếng chỉ bày cái sai của bọn cầm quyền. Người nào chính trực không nén được mà lên tiếng thì trước mắt là bị loại ra khỏi hàng ngũ, bị cô lập, kềm chế, bị đưa đi cải tạo ở vùng sơn lam chướng khí hay xa hơn có thể bị thủ tiêu vứt xác xuống sông trong một đêm đen nào đó.
Không thiếu các nhà trí thức đi theo Hồ Chí Minh khi ông Hồ còn che đậy tông tích Cộng Sản mà núp dưới chiêu bài chống Pháp. Những người này đã kẹt lại sau khi đảng Cộng Sản cướp chính quyền. Họ không có lối thoát mà chỉ biết cam chịu nhục nhã để sống sót qua những giai đoạn đấu tố, thanh trừng man rợ. Sự hèn hạ này đã được ngay nhiều người “cách mạng lão thành” thú nhận vào khoảng thập niên 1990s khi chế độ Cộng Sản đã có chút nới lỏng hơn và cũng là khi những vị này đã ở độ tuổi trên dưới 80, không có gì để mất, không còn gì để sợ nữa. Nhạc sĩ Tô Hải, tác giả bài ca nổi tiếng “Nụ Cười Sơn Cước” từ bỏ đảng Cộng Sản năm 2014 khi ông 87 tuổi sau 65 năm theo đảng. Ông viết cuốn Thằng Hèn để tự thú về nỗi hèn hạ, khiếp nhược của chính ông. Nhà Văn Nguyễn Tuân – tác giả Vang Bóng Một Thời – theo đảng từ trước Cách Mạng Tháng 8, trước khi qua đời cũng nói một câu để đời: “Sở dĩ tôi còn sống đến ngày hôm nay, là do biết cách chịu hèn nhục.” Nhà văn Tô Hoài rồi cũng thức tỉnh, viết tập bút ký ngắn Ba Người Khác để nói lên tính cách man rợ trong phong trào đấu tố, cải cách ruộng đất những năm 1953-1956 ở một vùng nông thôn miền Bắc. Còn nhiều, nhiều lắm.
Sau Hiệp Định Geneve, bọn Cộng Sản chiếm miền Bắc. Những gia đình trí thức, trung lưu đã cao chạy xa bay vào miền Nam; số còn lại bị truy bức đẩy ra khỏi thành phố, đuổi lên những vùng núi non Yên Bái, Lao Cay… Đám dân quê gia đình bộ đội viên chức đảng tràn vào Hà Nội và các thành thị khác. Hà Nội thanh lịch, ngàn năm văn vật chỉ còn vang bóng một thời. Từ đây, thứ văn hoá bần nông lên ngôi. Đi đâu cũng nghe những giọng nói ngọng nghịu; những câu quê mùa thô lậu nhưng lại ưa pha những chữ văn hoa mà chính người nói chẳng hề hiểu ý nghĩa của chúng! Từ các loa gắn các góc đường phố, đầu ngõ làng quê; mỗi ngày người dân bị tra tấn bởi những câu, những bản văn tuyên truyền do những cán bộ thông tin vừa học qua lớp xóa nạn mù chữ và được chỉ đạo bởi các cấp trưởng mù chữ. Làm sao mà dân chúng miền Bắc không bị thâm nhiễm bởi các ngôn ngữ sai trái và giọng nói ngọng nghịu.
Một bạn của tôi, nhà báo NGQ ở Minnesota đã cho biết thực tế là: “Khi sống chung với đám bần nông thất học gốc gác các vùng quê đồng bằng Bắc bộ; các nhà trí thức phải học theo cách nói ngọng, nói sai của chúng để như tự xác nhận mình cũng thuộc thành phần như bọn chúng.”
Chế độ Cộng Sản từ khi nắm quyền cho đến hàng chục năm sau, chỉ coi trọng việc phát triển an ninh, quân sự để củng cố quyền lực mà không quan tâm đến việc phát triển giáo dục, văn hoá. Nếu có đi chăng thì cũng nhằm vào mục đích tuyên truyền nhồi sọ là chính. Vả lại, họ chẳng có nhân lực có đủ khả năng trình độ để làm công việc phát triển văn hoá giáo dục. Chúng ta đều biết việc học hành thi cử trong chế độ Cộng Sản ra sao rồi! Cán bộ, thấy giáo nói ngọng thì dân chúng hay học trò phải nói ngọng theo. Từ đó, cả miền Bắc cùng nói ngọng và không ai nhìn thấy sự lố bịch; và cũng chẳng ai dám gồng mình lên tiếng sửa sai!
Trở lại miền Nam. Chắc chúng ta còn nhớ vào những ngày tháng đầu tiên khi Cộng Sản mới chiếm miền Nam; những chiếc áo dài màu sắc tươi thắm của các cô, các bà biến mất, thay vào đó là những bộ bà ba đen thô thiển; những chiếc áo vét, chiếc cà vạt, đôi giày da trên người các nam tử cũng thay bằng chiếc sơ mi đơn sơ bỏ ngoài quần và những đôi dép nhựa, thậm chí những đôi dép râu. Người miền Nam tự mình thay đổi sao cho không bị nhìn thấy sự khác biệt so với các cán binh Cộng Sản từ Bắc vào hay từ núi rừng mới ra thành thị. Sự thay đổi đột ngột không chỉ ở hình thức bên ngoài mà còn trong ngôn ngữ và cung cách sống. Những người Cộng Sản vốn ganh tị, thù ghét giai cấp trí thức, khá giả. Vì thế, muốn tạm sống yên thân trong xã hội mới thì cách hay nhất là hoà vào trong cái tồi tàn, bần cùng như kẻ chiến thắng.
Những kẻ bần cùng thất học, khố rách áo ôm một khi có quyền lực trong tay thì tự cao tự mãn, tự coi mình là tài giỏi hơn, cao hơn hết thảy mọi người khác – điều mà chúng a thường nghe những người Cộng Sản Việt Nam tự khen mình là ‘đỉnh cao trí tuệ.’ Nhưng những kẻ này lại nhanh chóng tự mâu thuẫn với chính họ khi còn mặc cảm tự ti, nên cố gắng bắt chước lối sống, cách ăn nói của giới phú nông, địa chủ mà họ từng căm thù và tiêu diệt.
Theo cách ông bà xưa từng dè bỉu “dốt hay nói chữ,” bọn thất học này tập tành sử dụng những từ ngữ, cách nói của giới có học; nhưng chính họ không hề hiểu hết ý nghĩa của những chữ đó. Ngày trước có một chuyện cười tiêu biểu về một tên bần hàn mới làm giàu đã học cách nói chữ Nho mà anh ta nghe lỏm được. Đó là câu “Giáo đa thành oán” (Dạy dỗ nhiều qua cũng có thể đem tới lòng oán giận). Anh nhà giàu mới một hôm răn đe con, đã nói “Tao biết ‘Gáo tra dài cán,’ la mắng mày nhiều thì mày oán tao!”
Có lẽ trường hợp như trên ngày nay không còn là chuyện châm biếm mà đã là sự thật mất rồi. Hết phương cứu chữa chăng?
Đỗ Văn Phúc
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Toàn Quốc Nói Ngọng Bài của Đỗ văn Phúc
Chốn Cũ – Thơ TPK
CHỐN CŨ
Tống Phước Kiên

Sẽ có một ngày về nơi chốn cũ
Qua sông Hàn thăm lại Ngủ Hành Sơn
Động Lên Trời nghe gió lộng bốn phương
Lưng chừng núi động Huyền Không tĩnh lặng
Ngoài xa khơi biển trời hòa xanh thắm
Sóng xô bờ thấm mặn bãi Mỹ Khê
Gió chiều lên mơn trớn mái tóc thề
Bao du khách tuôn về đùa với sóng
Vinh Tiên Sa trời vào thu yên ắng
Cụm Sơn Trà soi bóng dưới trời mây
Đứng hiên ngang làm dũng sĩ đêm ngày
Che Đà Nẵng khỏi mưa dày bão táp
Ngược Bạch Đằng nghe nỗi buồn man mác
Tiếng oan hờn trong tháp cổ Chăm-Pa
Dấu tích xưa oanh liệt Chế Bồng Nga
Còn vang vọng “Hận Đồ Bàn”cay đắng
Đường quanh co đèo Hải Vân hùng tráng
Đỉnh Bà Nà mây trắng giọt sương sa
Bãi Nam Ô ghềnh đá sóng phủ nhòa
Hoàng hôn xuống dãi Thanh Bình nhạt nắng
Ta nhớ hoài những chiều hè Đà Nẵng
Ra bờ sông ngồi hóng mát chờ trăng
Tà áo bay lay động bóng chị hằng
Ánh trăng vàng mờ soi thuyền xuôi ngược
Phố phường chừ có còn vui như trước ?
Nhớ chợ Hàn với bánh ướt chè sen
Đường Hùng Vương rộn rả lúc lên đèn
Quanh Chợ Cồn quán hàng đêm suốt sáng
Ta sẽ về nhìn phố phường xứ Quảng
Nơi một thời bảo quốc với an dân
Dù cuồng phong dậy sóng biết bao lần
Nhưng vẫn vững bên trùng dương đại hải
Rồi rão quanh đi tìm người con gái
Dễ chừng nay đã qúa tuổi bay mươi
Dẫu thời gian tàn úa nét môi cười
Vẫn son sắc một thời đầy hoa mộng.
TPK
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Chốn Cũ – Thơ TPK
Một Đời Nhớ Ơn – Thơ TPK
MỘT ĐỜI NHỚ ƠN
Em ơi qùy xuống bên anh
Dâng lời cảm tạ ơn lành Chúa ban
Thuở xưa chinh chiến gian nan
Tên bay đạn lạc muôn vàn hiểm nguy
Chúa thương dẫn dắt cho đi
Thoát bao hoạn nạn khắc ghi trong lòng
Đến khi vượt biển long đong
Trùng dương mù mịt đục trong khó lường
Sau lưng mờ nhạt quê hương
Rời xa thân tộc tìm đường tự do
Hải trình dậy nỗi âu lo
Mây đen kéo đến sóng to gió gào
Con thuyền chới với lao đao
Gió nhồi sóng phủ ôi chao hãi hùng
Giữa cơn tuyệt vọng mịt mùng
Nâng cao tràng hạt cầu cùng Trời Cao
Chúa ơi xin giống thuở nào
Ngài truyền biển lặng cứu bao mạng người
Chúa thương nên đã nhậm lời
Thuyền qua bảo tố tới bờ tự do
Bây giờ áo ấm cơm no
Gia đình sum họp cháu con nên người
Chúng con cảm tạ ơn Trời
Lòng lành Chúa, Mẹ một đời nhớ ơn
TPK
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Một Đời Nhớ Ơn – Thơ TPK
Vì sao miền Nam vẫn chưa thân quen miến Bắc – Bài của LS Trịnh Hữu Long
Vì sao miền nam
vẫn chưa thân quen miền Bắc?
Trịnh Hữu Long – Luật Khoa
Sự khác biệt vùng miền là chuyện hết sức bình thường, ở nước nào cũng có. Nhưng để cho những sự khác biệt đó trở thành lối ứng xử kỳ thị vùng miền thì là đại họa, bởi nó là ngọn nguồn của bạo lực. Hiểu về những điều khác biệt đó để tìm ra cách ứng xử phù hợp, do vậy, trở nên đặc biệt quan trọng.
Sự khác biệt, và cả kỳ thị, mang tên Bắc Kỳ – Nam Kỳ là một câu chuyện bắt buộc phải có lời giải trong một cộng đồng dân tộc. Trong bài này, tôi xin chia sẻ một số hiểu biết rời rạc của bản thân nhằm giúp những người miền Bắc như tôi hiểu hơn về vài điều nhạy cảm về chính trị của miền Nam. Không có gì là tuyệt đối, tôi không quy chụp mọi thứ cho một vùng miền nào, nhưng có những khác biệt đáng kể mang tính phổ biến.
Tôi không có ý lên án những người miền Bắc thiếu tế nhị trong cách hành xử với người miền Nam, bởi chính tôi cũng chỉ học được những điều dưới đây khi ngấp nghé độ tuổi 30. Và tôi viết những điều này với ý thức rằng sự kỳ thị có thể đến từ cả hai phía. Không có tham vọng giải quyết hết được mọi vấn đề trong một bài viết, tôi mạn phép thảo luận chuyện này từ một góc còn ít được nói đến hiện nay.
1. Người miền Nam nhìn “cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước” khác người miền Bắc
Người miền Bắc không có cách nào khác để nhìn nhận giai đoạn lịch sử 1954 – 1975 ngoài “cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước”. [1] Họ coi việc đất nước bị chia cắt là không thể chấp nhận, coi Mỹ và chính quyền Sài Gòn là kẻ thù, và coi người dân miền Nam là những nạn nhân cần phải được “giải phóng”.
Nhưng mọi chuyện rất khác khi nhìn từ lăng kính của người miền Nam. Họ coi một nửa đất nước – miền Nam – là một quốc gia hoàn chỉnh có tên Việt Nam Cộng hòa (từ 1955). Góc nhìn này trùng khớp với góc nhìn của công pháp quốc tế. [2]
Họ trân trọng lá cờ vàng ba sọc đỏ, quốc kỳ của Việt Nam Cộng Hòa. Trong khi đó, lá cờ này lại bị xa lánh, kỳ thị ở miền Bắc.
Họ không sống với lý tưởng phải “giải phóng” miền Bắc. Toàn bộ giai đoạn 1954 – 1975 là cuộc đấu tranh gìn giữ miền Nam trước các cuộc “xâm lăng” và “khủng bố” của miền Bắc. Nếu nghe lại các bài nhạc vàng, ta dễ thấy họ gọi quân miền Bắc là “giặc”, “quân thù”. Rất nhiều người miền Nam đã mất mạng ngay trên đất miền Nam dưới nòng súng của miền Bắc, đặc biệt là trong trận Mậu Thân năm 1968. [3]
Họ coi chính quyền Sài Gòn là chính quyền hợp pháp của họ. Họ kính trọng Tổng thống Ngô Đình Diệm [4] của nền Đệ nhất Cộng hòa, [5] họ lập ra Hiến pháp 1967 và bầu ra chính quyền Nguyễn Văn Thiệu của nền Đệ nhị Cộng hòa. [6] Và mặc dù có rất nhiều bất đồng với các quan chức, họ không coi chính quyền đó là kẻ thù.
Họ coi Mỹ là đồng minh, là một đất nước tiến bộ. Thời Việt Nam Cộng Hòa, người miền Nam coi việc đi Mỹ du học là một thành tựu lớn trong đời. Họ nhìn lính Mỹ ở miền Nam như những người bảo vệ họ trước miền Bắc, mặc dù có thể họ không hài lòng với việc có quân đội ngoại quốc trên đất Việt Nam.
Góc ảnh Sài Gòn xưa và nay.
Góc ảnh Sài Gòn xưa và nay. Ảnh: Khánh Hmoong via Flickr.
Khác với niềm tin mãnh liệt của người miền Bắc thời kỳ đó, người miền Nam không có nhu cầu được giải phóng. Họ có một nền kinh tế, giáo dục, kỹ nghệ, nông nghiệp phát triển hơn hẳn miền Bắc. Và đặc biệt, họ có thứ tự do chính trị mà chính Hồ Chí Minh đã tuyên xưng tranh đấu nhưng lại hoàn toàn vắng bóng ở miền Bắc.
Ngày 30/4/1975 với phần lớn người miền Nam là ngày “mất nước” và là ngày bắt đầu một chuỗi bi kịch khổng lồ.
2. Người miền Nam bị truy bức về chính trị sau năm 1975
Sau ngày mà người miền Bắc gọi là “giải phóng miền Nam”, người miền Nam bắt đầu bị truy bức về chính trị.
Những ai từng đi lính hay làm việc cho chính quyền Việt Nam Cộng Hòa (kể cả giáo viên) đều bị đưa đi trại cải tạo. [7] Gọi là trại cải tạo (re-education camp) nhưng về bản chất không khác gì các trại tập trung (concentration camp) của phát-xít Đức ngày xưa. Có đến 21 trại cải tạo được lập ra sau chiến tranh, giam giữ khoảng 300 nghìn người, trực tiếp ảnh hưởng tới hàng triệu người khác. [8]
Người miền Nam bị bắt vào đây mà hoàn toàn không qua bất kỳ một phiên tòa xét xử nào. [9] Họ phải lao động khổ sai. Rất nhiều người đã chết ở đây, suy kiệt sức khỏe và tinh thần ở đây. Họ bị giam giữ hàng năm, thậm chí hơn mười năm trời mà không được, hoặc rất ít khi được gặp gia đình. Những ai sống sót trở về thì gia đình hoặc là cũng đã ly tán, hoặc là khánh kiệt, bị chính quyền mới phân biệt đối xử, gặp khó dễ khi làm giấy tờ, con cái không được đi học đại học, nhìn chung đã rơi xuống đáy xã hội.
Người miền Bắc hay đùa cợt về việc “đi cải tạo”, biến nó thành một thành ngữ mà không cân nhắc kỹ đến bi kịch khủng khiếp này của hàng triệu người miền Nam. Với người miền Nam ngày nay, “đi cải tạo” vĩnh viễn là một cơn ác mộng, một nỗi đau không bao giờ dứt.
3. Người miền Nam bị bần cùng hóa sau năm 1975
Sau khi “giải phóng” xong, chính quyền mới áp đặt nền kinh tế kế hoạch hóa, tập thể hóa lên toàn miền Nam. Ngày nay, chúng ta biết rằng đó là một thảm họa kinh tế đã dẫn toàn bộ đất nước tới khủng hoảng trầm trọng và ngấp nghé bờ vực sụp đổ vào thập niên 1980. [10] Cuộc khủng hoảng đó nghiêm trọng tới nỗi Đảng Cộng sản phải thừa nhận sai lầm, từ bỏ giáo điều kinh tế Mác – Lê-nin để “đổi mới”, chuyển sang kinh tế tư bản chủ nghĩa, mà ngày nay họ gọi là kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. [11]
Cái nền kinh tế thị trường ngày nay, trên thực tế, đã từng là một hiện thực ở miền Nam trước năm 1975. Chuyện mở công ty làm ăn, phát hành cổ phiếu, giao thương với nước ngoài, tiếp nhận các nhà đầu tư nước ngoài là chuyện hết sức bình thường.
Với một nền kinh tế thị trường tự do như vậy, miền Nam đã có các đô thị thịnh vượng. Mặc dù mức sống ở nông thôn còn thấp nhưng không đến mức đói khổ như miền Bắc, và cơ hội làm giàu luôn hiện hữu, khác với miền Bắc coi làm giàu là chuyện sai trái.
Người miền Nam sau năm 1975 như bị đẩy xuống vực sâu, bởi tài sản của họ bị tịch thu, doanh nghiệp phải đóng cửa, việc làm ăn buôn bán bị cấm đoán, hàng hóa tắc nghẽn vì ngăn sông cấm chợ, đường nhựa ở đô thị bị cày lên trồng khoai, rất nhiều người bị đưa đi các vùng kinh tế mới, v.v.
Cùng với nạn truy bức chính trị thì việc bị bần cùng hóa về kinh tế như vậy càng làm dày thêm tấn bi kịch của họ.
4. Người miền Nam phải liều mạng bỏ nước ra đi
Người miền Bắc hay đùa cợt chuyện “vượt biên” nhưng không biết gì đáng kể về phong trào vượt biên ở miền Nam sau năm 1975.
Vì bị truy bức chính trị, bị bần cùng hóa về kinh tế, và bị phân biệt đối xử nặng nề, rất nhiều người miền Nam đã đi đến một quyết định táo bạo, và với họ là quyết định duy nhất hợp lý: liều mạng vượt biên đi tìm một cuộc sống mới. [12]
Ước tính có hơn một triệu người đã vượt biển bằng thuyền với hy vọng được tàu nước ngoài cứu hoặc đến được với bờ biển của các nước, vùng lãnh thổ láng giềng như Philippines, Malaysia, Indonesia, Thái Lan, Hong Kong. Họ trở thành một hiện tượng lịch sử, một thảm họa nhân đạo có tên “Thuyền nhân Việt Nam” (Vietnamese Boat People). Hàng trăm ngàn người trong số họ chết trên biển. Số còn lại đạt được mục đích và sau này đi định cư ở các nước như Mỹ, Canada, Úc và một số nước châu Âu. Một số ít khác đến Ấn Độ, Nhật, tùy thuộc vào việc họ được tàu nước nào cứu. Họ ngày nay trở thành phần lớn của cộng đồng người Việt hải ngoại.
Một số khác thì vượt biên đường bộ sang Campuchia rồi tới Thái Lan. Số này không nhiều bằng thuyền nhân.
Khi ra đi, họ mang tâm thế rằng nếu đi được sẽ liên lạc về gia đình, gửi tiền về nuôi gia đình, và nếu thuận lợi thì sẽ tìm cách đưa gia đình ra nước ngoài. Thực tế là sau khi đã định cư được ở các nước tự do, họ đã làm thủ tục bảo lãnh đưa gia đình sang.
“Tị nạn” là một từ hay bị mang ra để chế giễu ở miền Bắc, nhưng họ không biết rằng với hàng triệu người miền Nam, đi tị nạn từng là lối thoát duy nhất cho cuộc sống của họ.
5. Bi kịch của người miền Nam chưa bao giờ được thừa nhận
Tất cả những bi kịch khổng lồ như vậy của người miền Nam chưa bao giờ được thừa nhận, chứ chưa nói gì đến một lời xin lỗi từ chính quyền.
Họ không được thừa nhận là đã bị truy bức chính trị.
Họ không được thừa nhận là đã bị cướp mất kế sinh nhai.
Họ không được thừa nhận là đã bị phân biệt đối xử nặng nề.
Họ không được thừa nhận là đã bị ép vào đường cùng phải liều mạng bỏ Tổ quốc ra đi.
Không những không được thừa nhận, không được xin lỗi, năm nào người miền Nam cũng phải chịu đựng những lời ngợi ca “chiến thắng 30/4”. Nghĩa trang quân nhân Việt Nam Cộng hòa không có mấy ai chăm sóc, bị hoang hóa đi theo thời gian. Thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa bị chính quyền bỏ mặc, phải nương tựa vào nhau và vào sự hỗ trợ của cộng đồng. Trong khi đó, những người miền Nam xưa kia bỏ nước ra đi giờ đây đang gửi mỗi năm hàng chục tỷ đô-la tiền mặt về nước (trong tổng số kiều hối năm 2020 là 17,2 tỷ USD). [13]
Với chừng ấy vết thương mà lịch sử để lại, người miền Nam trở nên đặc biệt nhạy cảm với hàng loạt từ, ngữ, diễn ngôn chính trị cũng như cách hành xử. Người miền Bắc nên biết rằng những vết thương này chưa bao giờ được vá lại và nên chọn lấy cách ứng xử phù hợp nhất trong cả lời nói lẫn hành động.
(Nguồn: Tạp chí Luật khoa)
Translated by Nguyên Trần
A very good article, very true…..
……………..
Why is the South still not familiar with the North?
Trịnh Hữu Long – Faculty of Law
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Vì sao miền Nam vẫn chưa thân quen miến Bắc – Bài của LS Trịnh Hữu Long
Thơ Xướng Họa: GIỮ TẤM LÒNG SON (Lệ Khanh & Thanh Hoàng)
THơ Xướng-Họa: GIỮ TẤM LÒNG SON
Bài Xướng:
Bao năm vẫn giữ tấm lòng son,
Quang phục quê hương chí chẳng mòn.
Gian khổ ví như làn gió thoảng,
Hiểm nguy nào sá việc con con.
Vá trời chỉ muốn gìn sông núi,
Lấp biển hằng mong cứu nước non
Ngẫm chuyện ngựa Hồ chim Việt đó,
Tha phương ai nhớ mất hay còn?!
LỆ-KHANH
Họa:
Lòng tự nhủ lòng:”nguyện sắt son”,
Lập trường kiên định chẳng hao mòn
Đấu tranh dẫu lắm điều trăn trở
Quyết chí dù nhiều chuyện cỏn con
Sông biển mênh mông, rừng bát ngát
Ruộng đồng mơn mởn, lúa xanh non
Bởi loài ác quỷ phi nhân bản
Xáo thịt, nồi da hận mãi còn!!!
THANH-HOÀNG
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Thơ Xướng Họa: GIỮ TẤM LÒNG SON (Lệ Khanh & Thanh Hoàng)
XÓM CHIẾU_Huy Văn
Xóm Chiếu
Huy Văn (Huỳnh Văn Của)
Ba tôi làm thư ký đánh máy trong Công Ty điện lực Đông Dương của Pháp trên Nam Vang (Compagnie Des Eaux Et D’ Électricité De L’ Indochine, Phnom Penh- Cambodge), vào cuối thập niên 40 của thế kỷ trước. Sau khi Cambodge được trao trả độc lập cuối năm 1953, rồi đến năm 1954 nền đệ nhứt Cộng Hòa của miền Nam Việt Nam được hình thành; ba tôi liền xin vào làm việc trong Tổng Nha Công Vụ, trực thuộc Phủ Thủ Tướng, văn phòng đặt tại đường Catinat-Tự Do, thủ đô Sài Gòn (đối diện Bộ Nội Vụ).
Sau gần 4 năm đi đi, về về giữa Nam Vang và Sài Gòn, ba tôi quyết định đưa cả nhà về sống hẳn ở Việt Nam, thay vì vẫn ở chung với bà Nội tại đường Dekcho Damdin trên Nam Vang. Nhà của Nội tuy là một căn phố, nhưng khá khang trang và nằm giữa con đường rậm mát bóng me xanh, với hai đầu là hai ngã tư- có thể nói là- sầm uất nhứt của thủ đô xứ Chùa Tháp lúc bấy giờ. Hai ngã tư đó, cũng là nơi tọa lạc của hai rạp xi nê tối tân nhứt Nam Vang vào thời đó. Phía trái, ở bên kia đường, tại ngã tư Dekcho Damdin và Norodom Blvd là Ciné Lux. Còn phía bên phải, cùng dãy với nhà bà Nội, là rạp Prom Bayon Cinema tại giao lộ Preah Ang Yukanthor và Dekcho Damdin.
Như vậy, tôi có mặt tại Sài Gòn từ mùa hè 1957. Cho tới 1960 thì hè nào tôi cũng được ba cho về Nam Vang thăm Nội, nên hình ảnh ven đường tôi thuộc nằm lòng. Dạo đó, các hãng xe đò chạy đường Sài Gòn- Nam Vang, khi rời Sài Gòn thường theo lộ trình từ bến Bùi Quang Chiêu – còn gọi là đường “Cá Hấp” (*), dành cho xe đò lớn (loại autobus Renault), hoặc bến Phan Văn Hùm (xe nhỏ, loại Traction 5 CV hay Peugeot familiale 203)- chạy theo đường Lê Văn Duyệt, qua ngã ba Ông Tạ, Bà Quẹo, Hóc Môn để tới Tây Ninh, Trảng Bàng (thời đó cũng gọi là Quốc Lộ 1) và Gò Dầu Hạ, nơi có biên giới giữa Việt Nam và Cambodge (Cambodia), rồi trực chỉ đến Nam Vang.
Khi từ Nam Vang về lại Sài Gòn, thì tài xế thường quẹo trái tại ngã Tư Bảy Hiền. Lý do là vì đường Lê Văn Duyệt, nhỏ hẹp so với đường xá tại các nơi khác, nên hay bị kẹt xe. Họ chạy về hướng Lăng Cha Cả để theo Trương Minh Ký- Trương Minh Giảng (vắng xe hơn, do không phải là lộ trình “huyết mạch”) về ngang Trần Quý Cáp, qua Vườn Bờ Rô (Jardin Des Beaux Jeux/ Vườn Tao Đàn) rồi chạy về bến ở góc đường Lê Lai – Phan Văn Hùm cho tiện.
Sài Gòn khi đó còn hoang sơ lắm! Nhưng cũng thật xanh tươi với những hàng cây cao vút, rậm mát ở khắp mọi nơi. Cây trồng từ khi nào không biết, nhưng vào cuối thập niên 50 thì đã thấy những hàng Me, Sao, Dầu mọc đầy trong trung tâm thành phố, chưa kể cây Cao Su cũng có mặt trong khu vực bao gồm các đường từ Hiền Vương- Trương Minh Giảng- Lê Quý Đôn, qua Bà Huyện Thanh Quan- Tú Xương, đến tận ngã tư đường Trương Định- Trần Quý Cáp.
Vào những năm cuối thập niên 50, Sài Gòn đang trên đà phát triển. Lúc đó, sinh hoạt của thủ đô miền Nam Việt Nam tập trung vào trung tâm thành phố, với nhà cửa san sát, phố phường đông đúc. Nếu lấy Bưu Điện và Nhà Thờ Đức Bà làm trung tâm điểm, thì cách đó trên không đầy 3km đường chim bay về hướng Nam và Tây Nam, đã là ngoại ô với ruộng, vườn, kinh, rạch, ao, trũng, đầm lầy chằng chịt. Xóm Chiếu, bên quận 4, một địa danh khá quen thuộc của cư dân Sài Thành, nằm ngay nơi đó.
Quận 4 là một cù lao hình tam giác, bao quanh bởi sông Sài Gòn, rạch Bến Nghé và con Kinh Tẻ. Theo lời kể, thì thời xưa (vào khoảng thời gian Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam lập Phủ Gia Định, cuối thế kỷ 17) trên các sông, rạch, ao, hồ của vùng này mọc nhiều cây bàng và nhứt là lác (còn gọi là cây Cói), nên nhiều người dân địa phương cắt đem về dệt chiếu. Từ đó, địa danh Xóm Chiếu ra đời và tồn tại cho đến ngày nay.
Đầu thập niên 1950, Sài Gòn đã trở thành một trong số các thương cảng quan trọng của vùng Đông Nam Á. Đến khi có làn sóng di cư của đồng bào miền bắc vô Nam, rồi Đệ I Cộng Hòa ra đời, thì nền kinh tế nói chung tại miền Nam, càng thêm khởi sắc. Nhu cầu lao động tăng vọt. Dân tứ xứ kéo về Khánh Hội, Vĩnh Hội, cư trú trong những căn nhà dựng trên kinh, rạch, ao, đầm trong khu vực, để đi làm kiếm sống.
Do đó, quận 4 được thành lập theo nhu cầu của sự phát triển đô thị, gia tăng dân số và lớn mạnh về mặt kinh tế của thủ đô miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ. Nổi bật nhứt là sự “chuyển mình” và tân tiến hóa của bến Thương Khẩu trên sông Sài Gòn (tên cũ là Thương Cảng Sài Gòn, được xây dựng từ hồi Pháp thuộc) với chiếc kho lớn nhứt và tấp nập nhứt là Kho 5. Đây cũng là niềm hãnh diện của Kinh Tế và Thương Mại Sài Gòn trong thời kỳ của hai nền Cộng Hòa tại miền Nam Việt Nam!
Vào thời điểm của cuối thập niên 50, Xóm Chiếu tuy chỉ là một phường nhỏ, nhưng dân cư đông đúc hơn các phường còn lại (Vĩnh Hội, Khánh Hội, Cây Bàng…) do vị trí “đắc địa” nằm sát bờ sông Sài Gòn về phía đông và rạch Bến Nghé ở ngay hướng Bắc. Đồng thời, Xóm Chiếu cũng là “xương sườn” của quận 4, với các trục lộ giao thông quan trọng, trông không khác gì một bàn cờ ca rô, với các đường Đoàn Nhữ Hài, Hoàng Diệu, Lê Văn Linh và Tôn Đản chạy ngang (theo hướng Đông- Tây); Trình Minh Thế, Nguyễn Trường Tộ, Lê Thạch, Lê Quốc Hưng và Đỗ Thành Nhơn chạy dọc (theo hướng Nam- Bắc).
Đường Lê Văn Linh chạy từ đường Trình Minh Thế qua chợ, rồi nối dài tới đường Đỗ Thành Nhơn, nơi có phông tên nước là chấm dứt. Bên kia ngã ba Lê Văn Linh “nối dài” và Đỗ Thành Nhơn, là khu đầm lầy, có nguồn nước xuất phát từ rạch Bến Nghé ( Con rạch này nối sông Sài Gòn tới kinh Đôi, kinh Tẻ của các quận 6,7,8 về tận Chợ Đệm tại Bình Chánh/ Bình Điền, rồi đổ vào sông Cần Giuộc).
Từ hướng bắc, đường Nguyễn Trường Tộ chạy từ chân cầu Móng, tới Trạm Y Tế Xóm Chiếu, nơi có một khoảng đất trống khá rộng, vốn là sân thả diều của đám nhóc tì trong vùng. Tại đó, đường Nguyễn Trường Tộ chẻ ra hai nhánh là Lê Thạch và Lê Quốc Hưng, chạy cặp theo hai bên hông chợ Xóm Chiếu.
Cả hai đường này khá ngắn, chạy tới đường Lê Văn Linh là chấm dứt. Tuy vậy, nhờ bao quanh chợ, nên nhà cửa khá sầm uất. Trên đường Lê Thạch có nhà bảo sanh Hữu Đức, là nơi hầu hết các nhi đồng Xóm Chiếu chào đời. Phía bên kia đường là dãy hàng quán, không chỉ nổi tiếng bên quận 4, mà còn lan rộng qua trung tâm Sài Gòn ở hướng bắc. Dân nhậu Sài Thành không ai không biết tới gà đút lò Tám Lọ và ếch chiên bơ Tư Sanh. Ngày nào cũng nườm nượp khách sành điệu đến ăn, nhậu cho tới khuya.
Bên kia chợ, đường Lê Quốc Hưng, tuy kém “ì xèo” hơn vì không có nhà hàng hay quán nhậu nổi tiếng, nhưng lại được các bạn hàng khắp nơi chiếu cố tận tình, khi các sản phẩm vùng quê theo từng mùa, đặc biệt là trái cây và bông hoa ngày Tết, được bạn hàng trải chiếu, bày bán cả trên lòng đường.
Nhóc tì Xóm Chiếu không có dịp “đá cá” (vì Cá chỉ được bày bán trên các sạp gỗ hay thiếc ở trong chợ), nhưng mỗi lần Tết đến là đám nhóc có dịp phá phách khi thi nhau “lăn dưa”! Một hình thức thách nhau chứng minh sự “bạo gan và tánh chịu chơi” của con nít. Tất nhiên, phần thưởng là mấy trái dưa tí hon được chia phần cho cả đám. Còn khi bị bạn hàng nhéo tai, kéo về tận nhà để mắng vốn với cha mẹ, thì không thể tránh được những trận đòn sưng đít!
Đoạn giữa của đường Lê Quốc Hưng cũng là nơi chánh quyền địa phương thỉnh thoảng chọn chiếu phim, hay dựng sân khấu lộ thiên để bà con giải trí. “Khúc Ca Mùa Hè” và giọng hát của nữ ca sĩ Linh Sơn, ” Đoàn Người Lữ Thứ”, “Nhạc Rừng Khuya” với phần trình diễn của Ban Hợp Ca Đài Phát Thanh Sài Gòn, cùng với những thước phim giới thiệu cảnh đẹp miền Nam, cũng như những phát minh khoa học tân thời, là những hình ảnh được khán giả Xóm Chiếu ủng hộ rất nồng nhiệt.
Con đường có lộ giới khá rộng này, cũng là nơi nam thanh, nữ tú rảo bước mỗi tối để tận hưởng không khí đã bớt phần…”nồng nàn” của buổi chợ trong ngày. Con đường bách bộ chấm dứt tại khoảng đất rộng phía cuối đường Nguyễn Trường Tộ. Nơi đây cũng là sân thả diều quanh năm của nhi đồng Xóm Chiếu và khu vực Đỗ Thành Nhơn- Tôn Thất Thuyết. Đến năm 1960 thì ngôi nhà thờ Tin Lành đầu tiên của quận 4 được xây lên ngay tại khoảng đất trống đó.
Nếu lấy chợ Xóm Chiếu làm trung tâm điểm, thì cả bốn phía đều chỉ trên dưới 200 mét! Đất chật, nhưng người đông. Ngôi chợ nổi tiếng của cả quận 4 quả là môi trường sinh hoạt khẩn thiết đối với một lượng người không nhỏ và gồm đủ mọi thành phần trong xã hội.
Tuổi thơ Xóm Chiếu cũng từ đó tha hồ tìm được hương vị hồn nhiên và thú vui của thời con nít, với công viên dành cho thiếu niên và nhi đồng tại đường Đoàn Nhữ Hài, cạnh Ty CSQG/ Q4. Nơi đây có đầy đủ những thứ mà trẻ nhỏ thời nào cũng mê mẩn mỗi khi được phụ huynh cho ghé qua. Công viên tuy không rộng lớn nhưng cũng có cầu tuột, xích đu, vòng quay, thú gỗ và một khoảng sân nhỏ đủ cho đám nhóc tha hồ chạy, nhảy.
Đến 1960, theo đà phát triển của dân số và nới rộng thổ cư; các vũng, ao, rạch, đầm lầy, nghĩa địa và vùng đất ruộng nằm dọc theo đường Đỗ Thành Nhân về hướng tây, dần dần bị san bằng, lấp, đắp. Nhóc tì Xóm Chiếu mất đi cái thú câu lươn, bắt ếch hay tát cá (lìm kìm, bảy màu, lia thia…). Nhưng bù lại, bên kia đại lộ Trình Minh Thế- chỗ đường Hoàng Diệu băng qua- có một con đường thênh thang dẫn đến Bến Súc, là một bãi bốc dỡ hàng hóa trên sông Sài Gòn, cũng là nơi lý tưởng cho đám nhóc tha hồ tắm mát trong những buổi trưa hầm hập nắng.
Theo đà phát triển của đô thị và theo chiều phồn thịnh của kinh tế miền Nam Việt nam; đặc biệt là của Thương Khẩu Sài Gòn, Quận 4 nói chung và Xóm Chiếu nói riêng, đã là nơi tập trung dồn dập của khách thập phương từ cuối thập niên 50. Từ đồng bào di cư 1954, tới những người lìa bỏ thôn trang đã mất dần an ninh vào đầu thập niên 60, cho tới những người ở các vùng lân cận hay từ các quận ven đô ở phía tây thủ đô Sài Gòn, ai nấy đều đổ xô về quận 4 để lập nghiệp rồi an cư.
Khu tứ giác Đỗ Thành Nhân, Hoàng Diệu, Trịnh Minh Thế và Lê Văn Linh (kể cả đoạn đường nối dài) cùng với đường Tôn Đản bỗng chốc trở thành vùng đất được Nha Quy Hoạch và Phát Triển Đô Thị thuở xưa, liệt vào một trong những nơi phát triển nhanh nhứt của Đô Thành Sài Gòn. Chẳng mấy chốc, chợ Xóm Chiếu trở thành chiếc nôi dưỡng sức sống của vùng này, kiêm chất keo gắn chặt sinh hoạt thương mại và xã hội của thầy, thợ, bạn hàng, phu phen, bốc vác cùng những thành phần xã hội khác.
Chỉ qua một mùa hè của năm 1957 là Xóm Chiếu đã mang lại cho tôi một “thế giới” mới, khi sinh hoạt hằng ngày chuyển từ nhịp trầm lắng của đường phố êm ả, rợp bóng me xanh của Dekcho Damdin trên Nam Vang; qua những ồn ào, ráo riết và lắm khi có cả “bạo lực”, đặc biệt là “bạo lực đường phố” quanh xóm chợ và trong khu phố từ đoạn Lê Văn Linh “nối dài” tới phông tên nước, tại ngã ba đường Đỗ Thành Nhơn, xuống tận Tôn Đản.
Cho tới năm 1958, đoạn đường nối dài của Lê Văn Linh (từ ngã ba giao với cuối đường Lê Quốc Hưng) tới Đỗ Thành Nhân hoàn toàn chưa có chưa có Điện, Nước. Điện đường nằm ngay trên các đường phố chính, bao quanh chợ và chỉ có một ngọn duy nhứt ngay tại trụ đèn đặt tại ngã 3, tức ngay đầu phố. Trong các khu xóm, người dân thắp tạm bằng đèn cầy, đèn dầu hôi, đèn khí đá và nếu ai có dư chút tiền, thì sắm đèn Manchon (của Pháp), sáng hơn và (tất nhiên là) trông… sang hơn!
Còn Nước?! Chiếc phông tên 4 vòi, nằm tại ngã ba Lê Văn Linh “nối dài” và Đỗ Thành Nhơn, là nơi “ngầu hầm” nhứt của đoạn đường không đến 100 thước này! Nước được mở suốt ngày. Đúng ra là từ 7 giờ sáng tới 7 giờ tối. Hoạt cảnh tại phông tên rất náo nhiệt và không hề ngưng nghỉ trong suốt 12 tiếng đồng hồ đó. Tiếng thùng nước chạm nhau rầm rầm, tiếng cãi cọ; chửi bới ỏm tỏi giữa các chị, các bà, là âm thanh không thể thiếu. Việc “thượng cẳng tay, hạ cẳng chân” xảy ra như ăn cơm bữa.
Qua đầu thập niên 1960 thì khác! Hạ tầng cơ sở đã được nâng cao, đời sống phát triển thuận lợi đã mang tới cho Xóm Chiếu những thay đổi hầu như toàn diện. Sự phồn thịnh biểu hiện rất rõ nét qua việc nhà cửa mọc lên khắp nơi, từ trong hẻm ra tới ngoài mặt tiền đường. Tất nhiên, của các xưởng cưa gỗ, kho hàng, kho xi măng, kho gạo cũng xuất hiện nhan nhản ở khá nhiều nơi trên toàn địa bàn quanh chợ Xóm Chiếu.
Bên cạnh đó là nhu cầu giải trí cũng phát triển rầm rộ không kém khi hai rạp hát “bình dân” được mở ra cùng một lúc ở trên đường Đổ Thành Nhân (Rạp Văn Thuận nằm cách ngã 3 đường Lê Văn Linh- Đỗ Thành Nhân chừng 50 mét, về hướng đường Tôn Đản) và trong một con hẻm khá rộng lớn trên đường Lê Văn Linh (Rạp Hòa Bình, nằm trong khu đất trống mênh mông, nơi có một xưởng cưa gỗ và một kho chứa gạo khá “bề thế”, nằm đối diện với rạp hát. Ngoài ra, trong khu vực này, ngoài một số nóc gia, còn có một dãy phố biệt lập gồm 12 căn, khá khang trang và tiện nghi, do gia đình một phú hộ gốc Hoa kiều tên Triệu Tiết xây lên để cho mướn.)
Sinh hoạt nào có chiều đi lên, có hướng thăng tiến, cũng đều là những dấu hiệu tốt đẹp. Duy chỉ có một thứ đáng tiếc cũng vươn dần lên theo thời gian và theo đà tăng trưởng của dân số cùng sinh hoạt thường ngày. Đó là bãi rác ở cuối chợ, nằm ngay góc đường Lê Thạch và Lê Văn Linh, đối diện với con hẻm rộng thênh thang dẫn vào rạp hát Hòa Bình và các kho hàng và xưởng cưa bên kia đường.
Tại nơi đó, Sở Vệ Sinh Đô Thành có xây một ụ rác khá to, rộng, đủ để chứa toàn bộ những thứ phế thải sau buổi họp chợ. Nhưng dần dà rác không chỉ nằm trong ụ, mà còn tràn ngập ra ngoài lòng đường. Nhân viên của Sở Vệ Sinh dọn không xuể. Ngày nào nước thải từ phần rác còn dư, chưa dọn kịp, cũng chảy tràn lan ra cả một nửa mặt đường. Người lớn mỗi lần đi ngang qua đều không ngớt nhăn mặt. Nhóc tì Xóm Chiếu hết hứng chạy rong hay vào trong chợ chơi trò trốn tìm trên các sạp gỗ. Đường xá “chèm nhẹp” triền miên. Hôi hám và trông rất mất thẩm mỹ!
Tuy vậy, hình ảnh của Xóm Chiếu nói chung vẫn là những hoài niệm thật êm đềm. Mặc dù chỉ sống tại Xóm Chiếu trên dưới 5 năm nhưng kỷ niệm cũ, sau hơn 60 năm, vẫn chưa nhạt nhòa trong tôi. Nét đẹp của tuổi thơ Xóm Chiếu vẫn luôn theo tôi cho đến tận ngày nay. Trong từng con hẻm, trên từng góc phố, qua từng ngả đường của Xóm Chiếu, đâu đâu cũng có vết chân của đám con nít, đa số là nhóc tì húi cua, lê la đó đây.
Phải nói Xóm Chiếu nói chung và con đường Lê Văn Linh nối dài mang đậm nét “vàng son” của kỷ niệm đầu đời, vẫn luôn hằn nét trong ký ức của tôi. Những “Thằng” và “Con” ngày xưa bây giờ ra sao? Ai còn, ai mất? Ai đã lưu vong, ai còn tranh sống trên quê hương?! Vật đổi, sao dời huống chi con người! Trong số những mái tóc “bum bê”, đuôi gà, húi cua lẫn mấy cái đầu cạo trọc của Minh Tâm Học Đường và Xóm Chiếu, có Ai còn nhớ Ai không?
Tuấn, Toàn, Thu con bác Ba Truyện. Nhựt, Nga, Mỹ, con bác Tư Hỷ. Anh em thằng Xuân, thằng Thu con bà Mười. Thằng Gáo “thọt chân”, thằng Đáng, con ông Tám “Đỏ” chạy xe ba gác, thằng Tình con ông Mười “giặt ủi”, anh Thọ con bà bán cháo chiều, tối trong hẻm. Hai chị em “tây lai” Pauline, Cécile, những nàng “công chúa” kín cổng cao tường không có nhóc tì nào dám tới gần, vì hai con bẹc giê đáng ghét luôn ào ra sủa ào ào, nhức tai, mỗi khi có ai đến bên hàng rào.
Gia đình chú Sinh và em gái ông, cô Hoa, một bông hồng Trương Vương đầu thập niên 60. Ông bà Tố “di cư”, gia đình cô Tư má thằng Hiếu, nhóc tì đầu tiên trong xóm qua đời năm 1961 vì sốt xuất huyết. Hai chị em Hương, Huyền, con ông bà Hà làm nghề đóng guốc, nhà đối diện với tiệm giặt ủi. Ông bà chủ tiệm ảnh , nghe nói từng có tiệm hình tại Hà Nội (không nhớ tên hiệu).
Ông bà Thái, chủ lò chả lụa kế bên tiệm giặt ủi của ông Mười. Ông bà chủ tiệm tiệm tạp hóa kiêm chỗ cho mướn xe đạp (năm đó, 1960, xe cho mướn tính 1 Đồng / 1 giờ). Ông chủ tiệm thuốc Bắc mang tên Nhân Hòa Đường (bên kia đường Đỗ Thành Nhân), đối diện với tiệm tạp hóa .
Bà chủ tiệm uốn tóc (không nhớ tên) ngay cuối đường Lê Quốc Hưng (nơi Lê Văn Linh “nối dài” bắt đầu). Dì Năm, bà chủ tốt bụng có sạp báo đặt kế bên tiệm uốn tóc, cạnh trụ đèn đường. Nơi mà sáng nào, 3 nhóc tì “trường tây” cũng ra đó sớm, để vừa xin đọc ké những mẫu truyện bằng tranh có tên Bé Ngôn, Bé Luận và Mai Sơn Tráng Sĩ, vừa chờ xe Lambretta của hai người cha từ trong xóm chạy ra đón, chở đi học. Phước, Lợi! Hai bạn bây giờ đang ở đâu? Đã ra sao?!
Ông chủ tiệm giải khát kiêm đại lý Pepsi Cola tại đầu phố cũng tốt bụng không kém. Ông luôn vui vẻ cho đám nhóc tha hồ lượm nút khoén, hay đổi 10 cái chai không để lấy một chai Pepsi Cola miễn phí mang về cho cả nhà uống. Thời đó Pepsi Cola mới ra mắt ở Sài Gòn nên “cạnh tranh thương mại” kiểu như vậy.
Ngần ấy con người, cùng những sinh hoạt trong xóm là những “dấu ấn” tuổi thơ, là “di sản” của một đời người. Trong số những “Người Xưa”, chắc chắn rất nhiều vị đã trở thành “những người muôn năm cũ”. Nhưng dù năm tháng có qua đi, cảnh cũ đã không còn, người xưa đã biệt dạng, ký ức về Xóm Chiếu vẫn đầy ắp hình ảnh và chưa mờ nhạt trong bộ nhớ.
Mái tóc đuôi gà và đường về sau giờ mẫu giáo tại Minh Tâm Học Đường, những tối “đu xà” trên các sạp gỗ trong chợ hay chơi trò ” Trốn/Tìm” trong các vựa gỗ. Những lần mê cầu tuột trên công viên Nhi Đồng, hay tắm sông tại Bến Sức đến mức, mới 5, 6 tuổi đầu mà đã biết “cúp cua” để vui chơi. Những chiều tập xe, đạp lên, rồi thả xuống dốc cầu Mống không biết mệt và tất nhiên “đo đường” cũng nhiều không đếm xuể. Những đêm lén nhà, chui rào “coi hát cọp”, bị rượt không biết bao nhiêu lần mà vẫn tánh nào tật đó. Kỷ niệm xưa thật không thể nào quyên!
Xóm Chiếu từng bị mang tiếng là một “xóm lành trên đất dữ”! (Nói thật lòng thì ngày xưa, tại vùng ngoại ô Sài Gòn, có nơi nào mà không…”dữ”!?). Nhưng Xóm Chiếu cũng hơn một lần là niềm hãnh diện của cư dân quận 4, khi giữa năm 1961; ông Mười, chủ tiệm giặt ủi (không có bảng hiệu) nằm ở khoảng giữa đường Lê Văn Linh nối dài và Đổ Thành Nhân, câu được một con cá Hô nặng gần 100kg! Báo chí Sài Gòn lúc đó đổ xô tới chụp hình đăng tin rần rần trên trang nhứt của các nhựt báo.
Xóm Chiếu không có nhiều “công trình” hay cơ ngơi đáng kể, ngoài những gì đã ghi trên đây. Cũng không có gì đặc biệt ngoài những nhộn nhịp của phố chợ, ồn ào của xóm hẻm. Nhưng nét đặc thù của Xóm Chiếu nằm ngay trên phong thái và trong tính cách của cư dân địa phương. Họ sôi nổi và mau mắn trong thương mại, chân tình và xởi lởi trong ngôn từ cũng như cung cách sống trong nhà và ngoài phố. Xóm Chiếu của ngày xưa là như vậy đó!
HUY VĂN (HUỲNH VĂN CỦA)
(*) Gọi là đường “Cá Hấp” vì đây là chỗ đặt vựa cá, cũng là địa điểm trung gian, lấy hàng từ chợ Cầu Ông Lãnh lên. Đến sau 1960, với lý do đường Bùi Quang Chiêu nhỏ và chật, nên xe đò lớn chạy đường Sài Gòn- Nam Vang cũng dời về bến Phan Văn Hùm để tiện đường giao thông ( do đường Phan Văn Hùm nối thẳng vào Lê Văn Duyệt, qua Ngã 6 Sài Gòn ).
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở XÓM CHIẾU_Huy Văn
Ò E RÔ BE ĐÁNH ĐU_Đoàn Xuân
Ò E Rô Be Đánh Đu
Đoàn Xuân
Tui nhớ hồi tui 8, 9 tuổi, tía tui làm nghề tay trái là ký giả chuyên phê bình tuồng cải lương cho trang kịch trường báo Tiếng Dội của ông Trần Tấn Quốc ở thủ đô Sài Gòn.
Hồi đó gánh cải lương nào có tuồng mới dựng thường về rạp Vĩnh Lợi của thầy Năm Tú gần chợ Mỹ Tho để hát phúc khảo. Hát phúc khảo là tổng dượt lại. Thầy tuồng tức soạn giả coi lại từng cảnh, từng màn, nên thêm chỗ nào; bớt chỗ nào để vở tuồng được hay hơn. Tuồng hay, sau về rạp Nguyễn Văn Hảo ở đường Trần Hưng Ðạo, Sài Gòn hát tất ăn khách hơn; hát được nhiều suất hơn, hát lâu hơn. Hát phúc khảo cũng là dịp để đào kép hiểu tích, thuộc tuồng. Có vậy, nghệ sĩ mới nghĩ ra cách diễn xuất như thế nào để lấy được nước mắt của bà già trầu ở chợ Cầu Ông Lãnh hay mấy em bán mì ở chợ Nancy. Mà muốn có ai chỉ ra được cái hay, cái dở của tuồng tích không ai bằng ký giả kịch trường. Ðó là nghề của chàng.
Rồi những lời khen tặng của ký giả kịch trường sẽ in trên báo nhằm lăng-xê trước cho vở hát, được bầu gánh cho in ra giấy quảng cáo để xe ngựa đi phát ra, dụ khị bà con đi coi hát tối nay.
Sau khi cánh màn nhung khép lại, vãn tuồng rồi, soạn giả mời ký giả đi ăn cháo khuya. Hai người lai rai ba sợi, rượu vô lời ra, nhắc nhỏ nhau nghe, kêu thêm thắt chỗ nầy mà bỏ chỗ kia. Còn bài lên báo là hổng có cái vụ chê; chỉ có khen. Vì giết kẻ thù chớ giết bạn đành sao!
Chính vì thế mà soạn giả rất trọng vọng ký giả kịch trường. Mời ổng đi xem hát hai ghế thượng hạng. Ghế ngồi chính giữa, gần xịt bên sân khấu. Kép lấy hơi lên gân cần cổ để xuống vọng cổ tới sùi bọt mép mình còn nhìn thấy nữa đó!
Những lần như vậy, má kêu tía phải dắt tui theo. Mãi sau nầy lớn lên, tui mới hiểu má tui làm vậy là để bắn tiếng cho mấy cô đào thinh sắc là tía tui đã vợ con đùm đề rồi, sẽ không dám rủ rê tía tui đi “ăn chè” bất tử.
Tám giờ tối mới mở màn. Coi chưa hết màn đầu là tui buồn ngủ híp hai con mắt. Kèn thổi tò te, trống của dàn nhạc Tây nó đánh rầm rầm, đang mơ màng giấc điệp, ke chảy đầy mồm, bỗng giựt mình thức giấc. “Ò e Rô Be đánh đu, Tạc Zăng nhảy dù, Zô Rô bắn súng” là tui biết màn nhung đã khép lại rồi. Tuồng đã vãn. Mình thức dậy, đi về!
Sau nầy bèo dạt hoa trôi tới nước Úc này đây, đêm giao thừa đi nhậu, tui gặp lại bản “Ò e Rô Be đánh đu”. Té ra nó là dân ca “Auld lang syne” xứ Scotland.
Hồi chưa có dịch, mỗi chiều cuối năm, tui thường lang thang thả bộ ra pub (quán rượu) ở Footscray chỉ cách nhà tui khoảng 10 phút đi bộ, nhậu. Lúc đó còn đi cày, mệt thiệt nhưng tiền bạc cũng hơi rủng rỉnh.
Tui lại quầy mua bia để uống chơi, ngồi tán dóc để học thêm chút đỉnh tiếng đường phố của bọn Úc đá cá lăn dưa.
Người ta nói hổng có sai mà. Muốn giỏi tiếng Úc hãy học trên giường với con vợ Úc. Nếu không có con nhỏ Úc nào chịu làm vợ mình hết ráo thì nên học ở quán nhậu hàng đêm. Không phải tốn tiền học phí; chỉ phải tốn tiền bia. Tốn tiền nhiều chừng nào bụng bự và tiếng Úc mau giỏi chừng nấy.
Chính vì nghe cái giọng tiếng Úc lơ lớ, tá lả như xổ tràng đạn đại liên M60 của tui, con nhỏ Úc gốc Ý phục vụ bia bọt, “sexy” vì em cổ nhũ, mắt xanh mỏ đỏ nó rất khoái nói chuyện với tui.
Nhưng năm rồi nè, dịch bùng phát dữ dội, tiểu bang Victoria (trong đó có thủ phủ Melbourne của tui) mông xừ Thủ hiến Daniel Andrews ra lịnh đóng cửa quán nhậu một lèo tới 112 ngày.
Chiều chiều không đi nhậu tán dóc được với em, ở nhà cuồng cẳng, cuồng chân. Tui nhớ cái không khí ồn ào của quán nhậu vui hết biết chiều cuối năm mà buồn biết bao trong tấc dạ.
Giao thừa năm nay được thằng cha Thủ hiến tiểu bang xả cảng, tui vội vác càng tôm đến quán để gặp lại người xưa.
Em nháy mắt với tui rồi hỏi xỏ: “Bộ sút chuồng hả?”. Tui trả lời: “Tại nhức đầu!”. Em có vẻ lo lắng: “Nhức đầu sao đi nhậu?”. Tui trả lời: “Tui sung lắm! Nhức đầu là con vợ của tui”.
Em đặt trước mặt tui một ly bia đầy bọt. Tui ngửa cổ làm một hơi nghe cái ót, cạn hết nửa ly. Xong, tui kể cho em nghe câu chuyện tựa đề Thượng đế cho con hỏi như vầy nè:
Thượng đế ra lịnh: “Adam, ta muốn con làm một chuyện rất quan trọng này cho ta”. Adam đáp: “Tâu Thượng đế! Ngài muốn con làm gì?”. “Ði xuống thung lũng”. Adam hỏi lại: “Thung lũng là gì?”.
Thượng đế cắt nghĩa cho Adam nghe, rồi nói: “Qua sông”. “Sông là gì?”. Thượng đế lại cắt nghĩa cho Adam nghe, rồi nói: “Ði qua ngọn đồi”. “Ðồi là gì?”. Thượng đế lại cắt nghĩa cho Adam nghe, rồi nói: “Ở phía bên kia của ngọn đồi, con sẽ tìm thấy một cái hang cỏ mọc um tùm”. “Hang là gì?”. Thượng đế cắt nghĩa cho Adam nghe, rồi nói: “Trong hang, con sẽ tìm thấy một con nữ”. Adam hỏi: “Nữ là gì?”.
Thượng đế lại kiên nhẫn cắt nghĩa cho Adam nghe, rồi nói: “Ta muốn con sản xuất bé bi”. “Làm thế nào để con làm được chuyện đó?”. “Trời ạ!”. Thượng đế thở hào hển. Sau đó, ngài thở dài và đem hình ảnh con ong, con bướm ra làm giáo cụ trực quan để cắt nghĩa cho Adam nghe. Adam rất thích cái chuyện đó. Nên Adam háo hức xuống thung lũng, băng qua sông, qua đồi và chui vào một cái hang. Nơi đó Adam tìm thấy một con nữ. Một lúc sau, Adam quay lại và hỏi: “Tâu Thượng đế, nhức đầu là gì ạ?”.
Con nhỏ phục vụ bia bọt khoái chí cười hí hí. Tui bèn ướm lời: “Ðêm nay em có nhức đầu hông?”. Nó thè lưỡi nói: “Hổng dám đâu!”.
o O o
Trong lúc tui đón Giao thừa trong quán nhậu thì dân Úc lại túa ra đường xem bắn pháo bông. Mèo chuột ôm nhau hun hít và cười vui như con nít.
Khi nửa đêm ập đến, năm 2021 đáng để quên, lùi vào lịch sử. Màn bắn pháo bông đêm giao thừa dài 12 phút, nổi tiếng trên toàn thế giới tại cầu cảng Sydney, thủ phủ của tiểu bang New South Wales đông dân nhứt Úc Châu bắt đầu.
Mọi năm cả triệu người bu lại để xem bừng sáng pháo bông nói lời tạm biệt năm cũ. Nhưng năm rồi con Delta gây chết người nhiều quá. Năm nay con biến thể Omicron lây lan dữ quá, dân Sydney không còn xúm lại chùm nhum một đám. Tụi nó đổ ra đầy bãi biển Bondi. Vì nơi đó thông thoáng hơn; nguy cơ lây nhiễm cũng thấp hơn.
Rồi sau đó, những cảnh tượng hùng vĩ tương tự lần lượt nổ tung ở Adelaide, thủ phủ tiểu bang Nam Úc, Darwin thủ phủ lãnh thổ Bắc Úc và Perth, thủ phủ tiểu bang Tây Úc vì khác múi giờ.
Không chịu thua kém Sydney, bầu trời đêm Melbourne cũng bừng sáng pháo bông.
Úc này cũng vui! Cưới vợ là đặt dấu “on bon phi nan” cho đời sống độc thân tự do. Chấm dứt những ngày vui. Những ngày muốn làm gì làm. Giờ làm bất cứ cái gì cũng phải xin phép. Nghĩa là bắt đầu một cuộc đời nô lệ. Vậy mà cũng có một thằng Úc cho rằng mình là một người may mắn mới cưới được một con vợ thổ dân. Ðêm Giao thừa, nó dắt con vợ mới ra đứng giữa đường. Hai đứa ôm nhau xà nẹo. Chụp hình rồi post lên facebook khoe với bàn dân thiên hạ là tao vừa bị con vợ tao tuyên án chung thân.
“Ò e Rô be đánh đu”, thiệt là ngu như một con kangaroo!
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Ò E RÔ BE ĐÁNH ĐU_Đoàn Xuân
Phân ưu của Anh Chị Em Khóa 1 gởi K1 Lê Văn Thao

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Phân ưu của Anh Chị Em Khóa 1 gởi K1 Lê Văn Thao
Cáo phó từ gia đình K1 Lê Văn Thao

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Cáo phó từ gia đình K1 Lê Văn Thao
Ai có cho rằng tôi mê tín dị đoan nhảm nhí mặc kệ, tôi vẫn tin rằng có duyên “tiền định” mới nên vợ chồng. Chồng tôi người Việt nhưng quốc tịch Mỹ, lấy tên là Charle Lee, thường gọi là (Đít) Dick. Dick tốt nghiệp đại học Mỹ. Trong khi chờ ngày đi làm, bố chồng tôi có ý định đưa con trai về Việt Nam kiếm vợ. Anh ta học giỏi, đẹp trai, mặt mũi sáng láng nhưng khờ đặc trong việc giao tiếp với bạn bè. Ngay thời còn ở high-school, nhiều cô bạn cùng trường đến làm quen, anh ta cứ thụt lùi mãi, khiến các cô phát nản.





Bạn phải đăng nhập để bình luận.