Các Danh Mục

Đừng Đem Bố Về_Trần văn Lương
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Đừng Đem Bố Về_Trần văn Lương
Trong Ngục Lạnh – Thơ TPK
TRONG NGỤC LẠNH
Nhớ những đêm u buồn trong ngục lạnh
Lòng xót xa quạnh quẽ mảnh hồn côi
Suốt năm canh đói rách tím bờ môi
Thân xơ xác ôm phận đời thua trận
Trong lao tù ngồi cúi đầu tủi hận
Đã không tròn khí tiết phận làm trai
Không hiên ngang dâng hiến tấm hình hài
Không anh dũng tuẫn sinh ngày mất nước
Đời khổ sai nặng nề lê từng bước
Đêm lạnh lùng rét mướt ánh trăng vơi
Ngoài song sắt thăm thẳm một khoảnh trời
Lòng xao xuyến gởi về nơi cố xứ
Vợ con chừ gặp khó khăn trăm thứ
Mất lái rồi cơn gió dữ thuyền trôi
Đời mịt mờ trong đói khổ tả tơi
Kiếm miếng ăn nước mắt rơi từng bữa
Trời tháng tư, ôi tháng tư đỏ lửa
Đốt thành tro một trang sử hùng anh
Bao nhiêu năm tự do sống an lành
Nay một thoáng vàng son thành tăm tối…
TPK
4/2022
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Trong Ngục Lạnh – Thơ TPK
Tiểu Thơ – Truyện ngắn của Phạm Tín An Ninh
TIỂU THƠ
– Phạm Tín An Ninh –
Rầm!
Tôi và hai thằng bạn vừa rà thắng xe đạp trước rạp Tân Tân để vào xem phim “Ba Chàng Ngự Lâm Pháo Thủ” thì bị một chiếc Vélo Solex húc từ đằng sau tới. Cả ba thằng ngã xuống đất. Riêng tôi còn bị cái xe của thằng bạn đè lên bụng đau muốn nín thở. Mới loi ngoi bò dậy, chưa kịp phủi bụi trên áo quần thì nghe tiếng quát tháo:
– Ê! Bộ ba “chàng ngự lâm pháo thủ” mù cả hà. Dừng ngựa mà chẳng coi chừng phía đàng sau! Đáng đời!
Vừa ngượng vừa tức giận bởi tự dưng bị húc té nhào giữa thanh thiên bạch nhật và trước bao nhiêu nguời đẹp, chưa kịp nắm cổ áo cho một trận, thì bị thủ phạm tiếp tục tấn công phủ đầu. Đúng là cà chớn. Nhưng nhìn lên thì… à… cả ba thằng khựng lại: đối phương là một cô gái, tuồi ô mai, tóc còn thắt bím, ngồi trên Vélo, vòng tay trước ngực, trề môi, rồi trợn đôi mắt to như hai cái đèn “ô tô”:
– Số còn hên đó. Cái vélo không bị hư gì. Tiểu thơ tha cho đó. Lần sau liệu hồn!
Nói xong cô bé nguýt một cái rồi rồ ga chạy mất tiêu.
Dù chưa bao giờ bị thầy Bửu Cân phán cho cái tội “con nhà không có lư hương”, bọn tôi cũng phải chửi thề một tiếng cho hả giận. Thằng Cường, đứa hiền lành ít nói nhất trong bọn tôi, xăn tay áo, xổ nho trước:
– Đ.m., con gái nhà ai trông đẹp thế mà đanh đá như bà chằn. Phải mà con trai thì biết tay tao.
Đúng là cô bé khá xinh, nhất là đôi mắt thật to và đôi môi mộng đỏ, dù có trề lên ngạo nghễ, cũng vẫn đáng yêu ghê lắm. Tôi nghĩ vẩn vơ như thế khi theo người soát vé dẫn tới chỗ ngồi. Trong rạp tối mò. Ba thằng chúng tôi vào trễ. Trên màn ảnh đang chiếu phim thời sự: Tổng thồng Ngô Đình Diệm đang kinh lý Ban Mê Thuột (nhưng không thấy cảnh ông bị ám sát hụt).
Suốt buổi hôm ấy, mắt nhìn lên màn ảnh, mà tâm trí tôi thì chỉ thấy có đôi mắt cô bé, trừ khi nào có tiếng súng nổ của ba chàng ngự lâm, tôi mới giật mình trở lại với truyện phim đôi ba phút.
Cha tôi nói đúng. Hồi mới ba tuổi, tôi đã khóc đến cả tháng trời khi mẹ tôi mất, ông bảo rồi sau này tôi sẽ là một thằng đa sầu đa cảm. Và hôm nay, dường như tôi bắt đầu biết tương tư đây.
Nha Trang cũng chẳng lớn hơn cái thành phố núi Pleiku là bao nhiêu, để ông nhà thơ nào đó “đi dăm phút trở về chốn cũ”, vậy mà cả mấy tháng rồi, tôi chưa gặp lại cô bé, mặc dù thời ấy Nha Trang đã có khá nhiều vélo solex, đủ làm tôi nhìn theo muốn ngoẹo cổ. Tôi nghĩ, chắc là cô bé từ đâu đến chơi. Trông nước da trắng hồng, có thể là từ Đà Lạt xuống thăm ai đó rồi lại biến mất như một nàng tiên trong cổ tích.
Quê tôi ở ngoài Vạn Giã. Vào Nha Trang học, ở nhà ông chú, trước ở gần rạp ciné Moderne của ông Bác Ái, sau này dọn lên gần Ty Thông Tin. Chú tôi, ngoài làm chủ tiệm bán mọi vật dụng về điện, còn thầu các công trình diện. Ông bà chỉ có một cô con gái rượu, cưng như trứng mỏng, nên mọi thứ ngược xuôi giao dịch ông cần tới tôi. Để tôi lên tinh thần, bỏ bớt cái tật ham chơi và lười biếng có lẽ từ khi còn trong bụng mẹ, ông thường bảo: “cháu còn nhỏ mà coi bộ có khả năng thương mại. Cố gắng theo chú học hỏi, sau này dám qua mặt tao nữa đó “. (Cái này thì ông nói trật lất. Vì sau này tôi trở thành lính đánh giặc, nên cả đời có buôn bán được cái gì đâu).
Cả năm cứ mong tới mùa hè là tôi dọt về quê thăm cha tôi và chơi với mấy thằng bạn nối khố, rủ nhau ra con sông quê, ngày bơi lội, tối cắm câu, ngủ ngoài trời mà đua nhau đếm thử có bao nhiêu vì sao, tìm đâu là dải Ngân Hà có cái Cầu Ô Thước của Ngưu Lang Chức Nữ. Coi bộ vui và lãng mạn hơn ở trong cái thành phố Nha Trang này nhiều. Vậy mà mùa hè này tôi bị ông chú tôi giữ lại, sau khi thuyết phục được ông già tôi, bảo là để cho tôi tập làm quen với thương trường (!). Tôi nghe mà phát sợ, cứ như là sắp sửa bị ông đẩy tôi ra giữa chốn sa trường!
Bài học đầu tay là tôi xách cặp theo ông, đi dự một cuộc họp với mấy ông thầu khoán khác, trong một công trình “hợp tác mỗi bên cùng có lợi”. Nơi họp là một ngôi biệt thự khá đẹp nằm trên con đường Duy Tân có gió reo sóng vỗ.
Tôi rụt rè theo sau ông chú, bước vào phòng khách. Nhiều người đã có mặt. Ông nào trông cũng bệ vệ, đặc biệt có một ông mặc quân phục, oai phong cao lớn, mà coi bộ mọi người ai cũng nễ trọng. Nghe nói chuyện một hồi tôi mới biết đó là ông đại tá Đỗ Cao Trí, chỉ huy quân trường Đồng Đế. Lúc ấy tôi còn nhỏ, đâu có biết gì nhiều về lính tráng, nhưng tôi có nghe nhiều người kể chuyện tình ông đại tá này với một bà dược sĩ nào đó có tiệm thuốc tây trên đường Độc Lập. Bà này mới vừa ly thân ông chồng dược sĩ, có ông bồ là đại úy phi công trẻ tuổi đẹp trai thường đèo bà trên chiếc vespa chạy vòng vòng ngoài bờ biển, mặc dù bà có chiếc xe hơi thể thao trọc mui duy nhất ở thành phố này. Tội nghiệp ông phi công, vừa mới bị ông đại tá này nói nhỏ bạn bè làm lớn bên Không Quân cho bay ra tận ngoài vùng 1 xa tít mịt mù. (Sau này ông phi công hào hoa lấy một cô ca sĩ có giọng hát buồn… vào hồn không tên nào đó). Nghe mấy ông bàn bạc, tôi mới biết buổi họp này là để bàn việc xây cất và chỉnh trang lại toàn bộ doanh trại của quân trường Đồng Đế, mà chú tôi và mấy ông bạn thầu khoán vừa mới trúng thầu.
Tôi ngồi sau lưng ông chú, ghi ghi chép chép cứ như là… phóng viên tập sự. Nửa buổi thì ngưng họp ăn cơm. Một bữa ăn thịnh sọan từ nhà hàng mang tới. Vì thuộc hàng con nít, nên tôi được ưu tiên ra sân sau ngồi chung với mấy anh tài xế và con cháu ông chủ nhà. Vừa bước ra, chưa kịp tìm chỗ ngồi, thì tôi giật mình, sững sờ đến mấy phút. Cô bé, cô tiểu thơ… vélo solex, tông bọn tôi trước rạp Tân Tân gần ba tháng trước, đang ngồi chễm chệ tự lúc nào trong cái ghế bành duy nhất bên bàn ăn.
Lấy lại bình tĩnh, tôi đến kéo chiếc ghế bên cạnh cô bé:
– Chào tiểu thơ, chàng ngự lâm pháo thủ bị xe tông… ngã ngựa có được phép ngồi đây không ạ?
Cô bé nhìn tôi tròn xoe đôi mắt. Đôi mắt mà tôi đã tìm kiếm hơn ba tháng nay, cứ tưởng đã biến mất khỏi Nha Trang, bỗng dưng bây giờ đang mở lớn hết cỡ trước mắt tôi. Tôi ngồi yên như bị thôi miên. Dường như vừa mới nhớ ra tôi, cô bé nhoẻn miệng cười:
– À, hữu duyên thiên lý năng tương ngộ! Vous cứ tự nhiên.
Tôi ngạc nhiên, cô bé coi bộ tây này còn xổ cả tiếng nôm tiếng hán. Tôi nhủ lòng: Không phải vừa đâu nghe.
Vậy mà cái cuộc trùng phùng khá bất ngờ này lại đưa đẩy tôi đến một nấc thang danh vọng: làm gia sư cho cô bé. Nói gia sư cho oai phong, chứ hồi đó chì có mỗi chữ “dạy kèm” thôi chứ sư với siếc gì.
Số là sau này, khi thực hiện công trình, tôi thường theo chú tôi đến đây, cũng có nhiều lúc tôi đến một mình để trao giấy tờ và tham khảo ý kiến của ông chủ thầu, papa của nàng. Dần dà tôi quen thân với cả nhà. Gia đình trước sống ở Đà Lạt, làm chủ mấy cái hotel. Bà vợ bị chết bởi một tai nạn giao thông ngay trên đèo Ngọan Mục, ông già buồn quá không muốn mỗi ngày nhìn thấy bóng dáng bà vợ trong thành phố sương mù, nên dọn xuống Nha Trang, trở lại nghề thầu khoán gia truyền từ mấy đời trước. Ông bà chỉ có mỗi một cô con gái, nhưng trong nhà ông nuôi nhiều cháu và gia nhân. Gặp tôi nhiều lần, và qua chú tôi, ông già cô bé nghe nói tôi cũng gốc nhà quê, hiền lành chăm chỉ, nên nhờ tôi, cứ ba tối mỗi tuần ghé lại nhà kèm cô con gái cưng của ông về môn toán và Việt văn. Cô bé vừa từ trường Domaine de Marie ở Đà Lạt chuyển xuống lớp đệ ngũ trường Nữ trung Học Nha Trang, đọc thơ Chinh Phụ Ngâm và Cung Oán Ngâm Khúc mà không hiểu bà Đoàn thị Điểm và ông Ôn Như Hầu nói cái gì trong đó…
Môn toán thì tôi không biết vẽ rồng vẽ rắn, chứ cái môn Việt văn này coi bộ bao la trời biển quá, vẽ cái gì chẳng được.
Hôm đầu tiên, tiểu thơ vẫn còn cao điệu, gọi tôi là Thầy. Không biết là do lệnh của ông già, vì đề phòng tôi “tán bậy” con gái, nên phong cho tôi cái chức ” bán tự vi sư nhất tự vi sư” để tôi biết phận mà giữ mình, hay là cô bé choc quê tôi không biết.
Thấy “diễn nôm điển tích” mấy câu thơ trong Cung Oán Ngâm Khúc coi bộ không ăn khách, chẳng hấp dẫn nổi cô bé, tôi quay sang đọc thơ cho cô bé nghe. Hồi đó ở Võ Tánh có hai nhà thơ rất sớm nổi tiếng, mà dù là tên thật hay bút hiệu gì nghe cũng đẹp làm sao: Thanh Nhung và Cao Hoành Nhân, Tôn Nữ Nha Trang và Bùi Cao Hoành gì đó. Không biết có đúng hay không, nhưng tôi nghe bạn bè thêu dệt về cuộc tình lãng mạn của hai nhà thơ học trò vang bóng một thời này. Tôi chọn mấy bài thơ ướt át nhất của hai người đọc cho cô bé nghe. Và cũng lạ, không cần diễn nôm diễn nghĩa gì cả, cô bé không những hiểu rất nhanh mà còn cảm nhận đến độ lim dim đôi mắt… nhìn xa xăm.
Có một điều tôi quên nói: cô bé cũng thuộc dòng Tôn Nữ, cũng có một cái tên hay lắm: Tôn Nữ Giáng Vân. Nhưng tôi vẫn thích gọi cô bé là Tiểu Thơ, cái tên mà nàng đã tự xưng khi đụng tôi trước rạp Tân Tân. Hơn nữa tôi thấy cái tên này cũng hợp với cô bé lắm. Tôi nghĩ thầm, có lẽ nàng Tôn Nữ xứ Huế nào cũng đẹp và… lãng mạn đa tình.
Các tác phẩm của Tự Lực Văn Đoàn, cô bé mê nhất là Hồn Bướm Mơ Tiên, nên thường bắt tôi kể lại cho nàng nghe. Mẹ nàng vốn là một phật tử ngoan đạo. Sau ngày bà chết, ba nàng cúng dường khá nhiều tiền để chỉnh trang hai ngôi chùa Tỉnh Hội, Hải Đức và cung thỉnh thêm nhiều tượng Phật. Cô bé thường theo cha lên chùa Hải Đức. Nàng bảo mỗi lần lễ Phật, nàng cứ tưởng tượng mình là “chú tiểu” Lan, nhưng lại rất sợ và bịt kín tai khi nghe có tiếng đại hồng chung, nên chắc không thể nào giả trai lên chùa tu được.
Một hôm cô bé nhất quyết bắt ông thầy phải làm cho cô bé một bài thơ. Nếu không thì không chịu học. Cái này thì đúng là tiểu thơ muốn hại “đời tư” của tôi đây. Mang tiếng là học ban C nhưng hồi giờ tôi có thơ với thẩn gì đâu, chỉ lâu lâu cùng với mấy thằng bạn trong lớp nghịch ngợm bày ra trò chơi nối vần một bài lục bát con cóc để ghẹo cô bạn nào đanh đá trong lớp. Vậy mà hôm ấy, không biết con tim nó ướt át đến cỡ nào, tôi phóng bút làm xong một bài thơ chưa đầy mười phút. Đọc qua nghe có mùi cải lương không chịu nổi, nhưng tôi cũng tự phục mình. Tôi đưa bài thơ cho nàng đọc:
Ngày tháng trôi dần theo nhớ thương
I như duyên nợ đã vấn vương
Nên tình mây nước cùng trăng gíó
Hẹn ở ngày mai một nẻo đường
YÊU vầng trăng sáng in cành lá
Và khúc nhạc lòng dâng đến hương
Ân ái giờ đây là mơ ước
Ngỡ một tâm tình một vấn vương
Cô bé đọc xong không biết có hiểu gì không, (mà thực ra bài thơ cũng có nghĩa gì đâu mà hiểu với không), gật gù khen và hỏi:
– Sao bài thơ không có tên?
– Có tên rồi đó mà tiểu thơ không thấy à?
Cô bé lật qua lật lại mảnh giấy:
– Tên với tựa gì đâu, không thấy. Trả lại thầy, không thèm.
Tôi cười, vuốt ve cô học trò:
– Thì Vân cứ ghép tất cả các mẫu tự đầu ở mỗi câu lại, sẽ thấy cái tựa liền.
Khổ thật, tôi còn phải giải nghĩa thêm mẫu tự là cái gì, thì cô ta mới tìm được cái tựa bài thơ. Cô bé đỏ mặt, vất mảnh giấy có bài thơ xuống đất :
– Không thèm chơi với Thầy nữa.
Nói là không thèm chơi, nhưng cũng kể từ hôm ấy cô bé thân thiết và gần gũi với tôi hơn. Ba nàng cũng thấy tin và quí ông gia sư nhóc tì này, vì thấy con gái cưng của mình chăm học, vui vẻ yêu đời hơn.
Mùa hè năm đó, cô bé theo tôi về nhà quê chơi, nhân tiện có cô con gái của ông chú tôi cùng về thăm quê nội. Dường như đó là lần đầu tiên cô bé ra một vùng quê. Không biết là gió nội hương đồng hấp dẫn cô bé, hay là suốt ngày dung dăng dung dẻ làm nũng làm nịu với “ông Thầy”, cô bé ca hát líu lo và bảo là yêu… đồng quê ghê lắm. Và đó cũng là một mùa hè đẹp nhất, có ý nghĩa nhất trong đời học trò của tôi, dù ở quê tôi chẳng có cây phượng vĩ và cũng chẳng nghe có tiếng con ve sầu nào rên rỉ.
Hai năm sau, tôi rời Nha Trang vào Sài gòn học tiếp. Tôi buồn và tiếc nuối vì phải chia tay cái nghề gia sư với cô hoc trò nhỏ nhưng có đôi mắt thật to… của mình. Cô bé được ông già chở lên ga Nha trang tiễn tôi đi. Tôi cũng cố làm ra vẻ “đi là chết ở trong lòng một ít”, làm cô bé mủi lòng muốn khóc. Ông già cứ tưởng là nhờ ơn tôi mà cô bé vừa đậu cái bằng trung học kỳ rồi, nên cũng nắm chặt tay tôi, lì xì một mớ tiền và cám ơn rối rít…
Vậy mà cái tình yêu ấy (không biết có đúng là tình yêu hay không, nhưng cứ nói như thế cho nó lãng mạn và người lớn một chút) cũng làm cho lòng tôi xốn xang một dạo
Sau đó chỉ có vài lần tôi nhận được thư cô bé, kể chuyện những bạn bè thân quen của cô bên trường Nữ, và chuyện chiếc máy bay phản lực rơi xuống bên cạnh rạp Tân Tân, nơi mà lần đầu tiên tôi biết cô bé nhờ chiếc vélo của cô tông tôi ngã xuống bên lề đường. Nhưng lần nào cũng kèm theo một bài thơ tình… con cóc.
Năm năm sau, khi cô bé đã trở thành người lớn và quên “ông Thầy” thích đọc thơ tình cho cô học trò… lim dim đôi mắt, thì cũng là lúc tôi hát khúc Biệt Kinh Kỳ, xếp bút nghiên theo việc kiếm cung.
Ra trường, tôi được bổ sung về một đơn vị lưu động trên vùng Cao nguyên gió lạnh mưa mùa. Năm 1972, tôi bị thương trong trận Mủa Hè Đỏ Lửa ở Kontum, được đưa về QYV Pleiku điều trị. Khi vết thương vừa lành, tôi nhận Sự Vụ Lệnh của đơn vì đề cử về Sài gòn trong đoàn “chiến sĩ xuất sắc” được Tổng Thống tiếp đón tại khu vườn Dinh Độc Lập. Thực ra là tôi có xuất với sắc cái gì đâu. Khi còn độc thân thì hăng máu lắm, chứ đã có vợ rồi thì cũng hơi lạnh cẳng, ngại cái cảnh “anh trở về dang dở đời em”. Nhưng chiến tranh đang hồi ác liệt, nếu cử chiến sĩ xuất sắc thứ thiệt đi thì thiếu người đánh giặc giỏi, mà lại hao hụt quân số tác chiến, tôi đang trong tình trạng bất khiển dụng, nên cho tôi đi là nhất cử lưỡng tiện. “Chiến sĩ xuất sắc” được ưu ái đi bằng máy bay dân sự. Tại phi trường Pleiku bụi đỏ, tôi bất ngờ gặp lại Tiểu Thơ khi tôi vừa ngơ ngác bước lên máy bay Air Vietnam và khựng lại trước đôi mắt thật to của cô hôtesse de l’air đang mỉm cười chào khách. Trong chiếc áo dài màu thiên thanh, có thêu hai con rồng trên cổ áo, nàng đẹp như một nàng tiên. Khi chiếc máy bay DC 4 đã lấy lại thăng bằng trên cao độ, nàng đến ngồi chiếc ghế trống trước mặt tôi, quay ra sau trò chuyện. Trong chớp nhoáng, tôi biết là nàng đã có chồng. Anh ta là một phi công phản lực F5, thuộc đơn vị Biên Hòa. Hai người làm đám cưới hơn một năm. Tôi nghĩ, con gái đẹp thường chọn mấy ông không quân, vừa được tiếng có ông xã hào hoa, đi mây về gió, vừa khó trở thành góa phụ. Anh phi công nào phải vừa bô trai vừa tốt số lắm mới lọt được vào đôi mắt của Tiểu Thơ này. Tôi nghĩ như thế mà lòng thì cũng thấy một chút bâng khuâng.
Chỉ nói chuyện được vài câu, nàng ghi địa chỉ của tôi ở Sài gòn, rồi hẹn sẽ cùng đức lang quân ghé đón đi Maxim nghe Lệ Thu hát bài Kỷ Vật Cho Em. Tôi cười, bảo là rất sợ bài hát này, cái bài hát mà thằng lính nào nhát gan nghe xong là không còn muốn “đáo nhậm” đơn vị nữa. Cuối cùng nàng đến có một mình, “ông xã” vừa mới biệt phái ra Vùng 1. Tối đó thay vì đến nhà hàng Maxim, nàng đưa tôi ra Quán Cái Chùa cho có vẻ nghệ sĩ một chút, mời “ông Thầy” uống cà phê có hương vị Tùng Đà Lạt – mà chủ nhân thường pha chế đặc biệt cho riêng nàng – để nhớ những ngày cô còn ở đó… Dường như khi đã lớn rồi, người ta lại muốn tìm về cái thời đi học. Hai đứa chỉ ngồi nhắc lại chuyện Nha Trang, chuyện mấy bài thơ con cóc, rồi chia tay không hẹn ngày tái ngộ. Thời chiến tranh mà, “cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi” biết đâu mà hẹn.
Tháng 3/1975, Nha Trang rồi cả Vùng 2 mất. Bao nhiêu năm sống chết với núi rừng Hoàng Triều Cương Thổ, tôi theo đơn vị chỉ còn một phần tư quân số “di tản” vào Vũng Tàu để tái bổ sung, rồi kéo xuống tham dự những trân đánh cuối cùng cô đơn và buồn tẻ ở những địa danh xa lạ: Bến Lức, Cần Giuộc thuộc tỉnh Long An, nhằm ngăn chận địch quân đang tràn về vây hãm và pháo kích Sài Gòn.
Cũng như nhiều đơn vị khác, vào giờ thứ 25, chúng tôi đánh giặc không có “đại bàng”. Lần cuối cùng tập họp anh em lại hô “tan hàng” mà không còn nghe “cố gắng” nữa, thì tôi mới biết là ông tướng tư lệnh đã có mặt trên đệ thất hạm đội Mỹ trước đó hai ngày rồi! Thôi thì, xưa nay người ta đã nói”nhất tướng công thành vạn cốt khô” mà. Cuối cùng thì miền Nam cũng thất thủ. Đám tụi tôi được người “anh em” chiến thắng mời vô trại cải tạo để được hưởng “chính sách khoan hồng của kách mệnh”!
Tám năm lưu đày từ nam ra bắc, cuộc đời thôi đành cứ như gởi theo những đám mây bay. Cái hạnh phúc bây giờ chỉ còn là những phút giây hồi tưởng. Mà hồi tưởng cũng phải “cảnh giác”, chứ không khéo cũng bị cùm vì cái tội “luyến tiếc quá khứ”. Bạn bè cùng cảnh luyến tiếc điều gì thì tôi không biết, nhưng riêng tôi lại tiếc nhớ cái tuổi học trò, và cái thời con tim mới biết yêu. Tôi lại nhớ đến Tiểu Thơ, đến đôi mắt tròn xoe của cô bé, và nhớ tới cái hạnh phúc làm “gia sư” của tôi còn hơn là nhớ tới mười mấy năm làm bạn với ông Nguyễn Bắc Sơn “ta vốn hiền khô – ta là lính cậu, đi hành quân rượu đế vẫn mang theo, mang trong đầu những ý nghĩ trong veo, xem chiến cuộc như tai trời ách nước”. Tôi hình dung bây giờ chắc nàng đang hạnh phúc ở một chốn thiên đường nào bên nước Mỹ. Ông xã là không quân mà, lại đóng ở Biên Hòa nữa. Chỉ cần một lần cất cánh nhẹ nhàng là thay đổi cả cuộc đời.
Ra tù, trở lại thành phố xưa, tôi có cảm gíác Nha Trang sao bây giờ xa lạ quá, không còn là “hang động tuổi thơ”của bọn tôi ngày trước nữa. Nhưng rồi tôi cũng đâu có được phép ở lại cái thành phố này, mà phải về tạm trú ở quê tôi ngoài Vạn Giã. Ở đó tôi chỉ còn một bà cô già sống quạnh hiu trong ngồi nhà từ đường có mái ngói âm dương của ông bà nội. Cha tôi thì cũng đã chết cách đây sáu năm trong trại cải tạo Đá Bàn. Mồ mả còn chưa biết ở đâu. Nhưng rồi tôi còn có cái may, là gần như mỗi ngày tôi đều ghé lại Nha Trang một lần, bởi tôi được ông anh bà con cho tôi làm tài xế phụ kiêm lơ xe cho chiếc xe đò nhỏ của ông chạy đường Nha Trang – Tuy Hòa. Xe chạy bằng than và khách hầu hết là mấy bà đi buôn chuyến.
Một hôm tôi đang lui cui đứng trên mui, thì một bà khách kêu tôi nhấc hộ đôi thúng của bà lên. Bà lấy hết sức đưa từng chiếc thúng lên, nhưng rồi lại bị sà xuống. Trong đôi thúng là những thỏi đường màu đen khá nặng. Tôi phải dùng một cây móc sắt đưa xuống, bảo bà móc vào để tôi kéo lên. Khi lấy sức kéo đôi thúng lên tôi bất ngờ gặp đôi mắt thật to và tròn xoe. Đôi mắt nhìn tôi tựa hồ như xoáy vào lòng tôi nhát dao đau buốt. Tôi nhảy xuống xe, nắm chặt đôi vai gầy còm của bà khách:
– Là em, là Tiểu Thơ đây à?
Nàng nhìn tôi, rồi nước mắt đầm đìa.
– Tiểu Thơ, à quên… Vân, làm sao mà em lại ra đến nỗi này.
Nàng cúi xuống im lặng, không nói một lời nào.
Ra đến Tuy Hòa, tôi gánh hộ nàng gánh đường giao cho một cái quán trong chợ, rồi mời nàng đi ăn cơm trưa. Tôi đang nóng lòng được biết về hoàn cảnh của nàng:
– Ông xã em bị kẹt ngoài Vùng 1 rồi mất tích luôn từ đó tới bây giờ. Em có đi hỏi một vài người bạn cùng phi đoàn, thì họ cho biết là anh ấy bị bắn rơi khi yểm trợ cho anh em Thủy Quân Lục Chiến rút về Đà Nẵng. Em chờ đợi xem anh có bị bắt cầm tù ở đâu không, nhưng đến bây giờ thì chắc chắn là anh đã chết thật rồi.
– Còn ba em đâu?
– Nhà cửa ba em bị tịch thu hết. Ông bị bắt đi cải tạo với lý do từng thầu xây cất doanh trại cho Mỹ trong phi trường. Chỉ một năm là ông chết.
– Vậy bây giờ Vân ở với ai?
– Em ở với con gái em. Nó gần mười tuồi rồi. Khi gặp anh ở Sài gòn là em vừa mang thai nó mà chưa biết. Mẹ con em được đền bù một căn nhà tôn nhỏ của thương phế binh hồi trước, nằm sau ga xe lửa.
Tôi nhét vào tay Vân tất cả số tiền mà tôi kiếm được hôm ấy, bảo nàng mua hộ tôi quà cho cháu gái.
Sau đó, tôi gặp lại nàng chỉ thêm hai lần nữa, vì ông anh họ tôi đã phải bán rẻ cái xe hơi cho người khác, bởi không đủ tiền sửa chữa mà còn cứ bị chính quyền trưng dụng đi chở lúa cho hợp tác xã, không trả một đồng nào. Cũng đúng vào lúc này, tôi tính chuyện vượt biên.
Tôi kể chuyện Tiểu Thơ cho vợ tôi nghe. Bây giờ tôi thương cô như một người em gái. Vợ tôi tốt bụng, thương mẹ con cô cũng như hoàn cảnh của chính mình, sẵn sàng cùng tôi giúp mẹ con nàng đi cùng chuyến vượt biên, do chính tôi tổ chức.
Một tuần trước khi ra đi, tôi vào Nha Trang tìm đến nhà nàng. Căn nhà khóa kín cửa. Tôi chờ đến tối mà chẳng thấy mẹ con cô trở về. Tôi gõ cửa căn nhà bên cạnh. Chủ nhà lại là một anh thương phế binh, nhờ mất cả hai chân nên không bị đuổi khỏi nhà… Anh cho biết là mẹ con nàng đã dọn đi đâu cả mấy tuần rồi, không thấy về nhà.
Trời thương, chuyến vượt biên cũng đến được bến bờ, nhờ một chiếc tàu chở dầu của Vương Quốc Na Uy vớt trên biển, trước khi cơn bão ập đến. Với ân tình này, vợ chồng tôi chọn Na Uy là nơi để gởi gấm phần đời còn lại của mình và vun đắp tương lai cho mấy đứa con nhỏ dại.
Mùa hè năm 1989, vợ chồng tôi đưa hai cô con gái sang Mỹ học, nhân tiện ghé thăm và chia buồn gia đình ông anh họ, đi từ năm 78, định cư ở thành phố Sacramento, bắc Cali. Anh chị vừa có thằng con trai bị chết đuối khi theo cha đi câu ngoài biển.
Bao nhiêu năm gặp lại nhau, anh chị tiếp đón chúng tôi thật ân cần, nhưng không vui vì cái bàn thờ đứa con trai còn nghi ngút khói hương.
Sáng hôm sau, anh chị đưa tôi đến nghĩa trang thăm mộ cháu rồi chở chúng tôi đến một ngôi chùa Sư Nữ ở gần đó, để bàn việc làm lễ cầu siêu cho cháu. Anh cho biết anh chị rất thân quen với Sư Bà trù trì, Bà rất quí anh chị không chỉ vì biết nhau từ lúc còn ở Nha Trang mà vì anh làm nghề thầu sửa chữa nhà cửa, nên cả ngôi chùa này phần lớn là do công sức của anh cúng dường.
Ngôi chùa không lớn lắm, khu chánh điện còn đang dang dở, nhưng vườn khá rộng và trồng nhiều loại hoa. Trong chùa tiếng tụng kinh, gõ mõ càng đượm không khí trang nghiêm. Chúng tôi được một cô phật tử mời ngồi uống trà và xin chờ chừng nửa tiếng, vì Sư Bà đang cúng ngọ.
Khi ông anh bà chị đứng bật dậy, chúng tôi chợt nhìn thấy Sư Bà vừa bước ra. Tôi ngạc nhiên vì Sư Bà còn trẻ và trông rất phương phi, nhất là hai tai thật to và dài xuống như tai các tượng Phật tôi thường nhìn thấy trong các ngôi chùa. Điều làm chúng tôi thú vị là bà rất vui vẻ cởi mở. Bà bảo bà cũng là dân Nha Trang nên rất mừng khi tiếp được người đồng hương từ tận bắc Âu đến viếng.
Sau một lúc hàn huyên, tôi biết được Sư Bà là người có trình độ học vấn cao. Bà có cử nhân Văn Khoa và đang học năm cuối cao học văn chương tại đại học Vạn Hạnh thì miền Nam thất thủ.
Điều ngạc nhiên hơn là Sư Bà cho biết có khá nhiều ni cô gốc Nha trang đang tu ở chùa này, trong đó có con gái của ông chủ tiệm ảnh nổi tiếng một thời ở đường Phan Bội Châu mà ngày xưa tôi cùng đám bạn bè thường đến để chụp ảnh, con gái một bà chủ tiệm vàng trước Grande Pharmacie, và một vài ni cô nữa. Bà còn bảo thật là tội nghiệp, có vài cô đã gặp bao nhiêu nghịch cảnh thương tâm trên biển Đông, chồng chết con chết, chỉ còn lại một mình. Ban đầu, Bà đưa về chùa cưu mang, rồi sau đó các cô xin được xuống tóc qui y luôn. Sư Bà mời chúng tôi ở lại dùng cơm chay cùng với Bà, nhân tiện bà giới thiệu với mấy ni cô gốc Nha Trang cho biết, bởi tôi cũng là một phật tử thuần thành.
Tôi theo ông anh bà chị xuống bếp phụ dọn cơm. Nhưng ông anh ngăn lại:
– Chú là người lạ, không nên vào bếp. Hôm nay chú thím là khách của Sư Bà mà.
Ngồi dọc theo chiếc bàn dài, gồm các ni cô và một vài phật tử, chỉ có chúng tôi là “dân sự”. Sư Bà giới thiệu chúng tôi là đồng hương, những phật tử đến từ tận Bắc Âu. Tôi vừa đứng lên chấp hai tay trước ngực, bỗng bất ngờ bắt gặp đôi mắt thật to, tròn xoe của một ni cô ngồi ở phía cuối bàn. Ni cô cũng vừa nhìn tôi rồi cúi xuống. Đôi mắt đó với tôi có một cái gì thần giao cách cảm. Đúng. Trên thế gian này chỉ có Tiểu Thơ mới có đôi mắt ấy mà thôi
Dùng cơm xong, là đến giờ nghỉ trưa của Sư Bà. Chúng tôi cám ơn Sư Bà và xin được cúng dường một số hiện kim để trùng tu chánh điện.
Tôi từ giã Sư Bà, trong lúc mắt nhìn quanh như muốn tìm kiếm một điều gì. Nhưng tất cả chỉ có im lặng, ngoài tiếng chuông chùa ngân nga như chẳng bao giờ muốn tan đi trong không gian bao la vô tận.
Tôi bước ra khỏi cổng chùa. Chùa nằm trên một khu đất bằng phằng, nhưng sao tôi có cảm giác như mình đang lững thững bước xuống chân đồi. Tôi hình dung đến Ngọc vừa chia tay “chú tiểu” Lan lần cuối cùng ở chùa Long Giáng trong Hồn Bươm Mơ Tiên của nhà văn Khái Hưng, mà ngày xưa Tiểu Thơ đã bắt tôi phải kể đi kể lại bao nhiêu lần.
Phạm Tín An Ninh
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Tiểu Thơ – Truyện ngắn của Phạm Tín An Ninh
Thuyết “Ít” “Nhiều” của Người Nhật (ST)
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Thuyết “Ít” “Nhiều” của Người Nhật (ST)
Vần Thơ Tưởng Nhớ Quốc Hận 30/4 – Tuyến Lê
Tháng Tư cuộc chiến U – Nga
Putin bạo chúa mộng nhà LÊNIN
Tháng Tư đất khách ngóng nhìn
Quê hương Cộng trị Dân mình lầm than
Tháng Tư Thu Úc lá vàng
Nhớ thương tủi phận lệnh hàng tháng Tư.
-:- -:- -:- -:-
THÁNG TƯ THỨ 47
Tháng Tư bốn bảy thoáng qua mau
Giải phóng miền Nam máu, lệ trào
Thống nhất quê hương Dân khốn khổ
Hoà bình đất nước Đảng sang giàu
Lòng Dân phẫn uất cam đành chịu
Ý Đảng khoe khoang dám tự hào
Chủ nghĩa vô thần quân bán nước
Việt Nam Cộng sản mãi hay sao!?
TƯỞNG NIỆM TRUNG TÁ LONG
Tuẫn tiết tháng Tư năm bảy lăm
Người hùng Cảnh sát Nguyễn văn Long
Nêu gương dũng khí không hàng Cộng
Tỏ chí can trường quyết nhủ lòng
Kết liễu đời mình trang Cảnh phục
Tay cầm súng lục bắn ngay cằm
Chết vinh! Sống nhục đày thân xác
Cảnh sử oai hùng ảnh Tá Long.
Mùa Thu Australia,
Tuyến Lê,
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Vần Thơ Tưởng Nhớ Quốc Hận 30/4 – Tuyến Lê
Vì Đâu Nên Nỗi – Dâu K1 Lê Phương Lan
VÌ ĐÂU NÊN NỖI
Tháng Tư! Bây giờ là tháng Tư! Tục ngữ Việt Nam có câu: “Miếng ngon nhớ lâu. Niềm đau nhớ đời”! Niềm đau của thời kỳ nội chiến và nhất là thời hậu chiến sau ngày 30 tháng 4 vẫn còn sâu đậm đến nỗi vẫn còn có một vách ngăn chưa thể vượt qua được hay sao? Vì đâu nên nỗi?!
Người dân Việt bản chất là một dân tộc hiền hòa, hữu thần. Từ ngàn xưa, tổ tiên ta đã thờ đạo Mẫu và để lại cho con cháu những lời dạy chan chứa tình người: “Ở sao có đức có nhân, mới mong đời được hưởng ân lộc Trời” Cha ông chúng ta luôn dạy bảo con cháu phải “Làm lành tránh dữ”, sợ rằng sẽ bị “quả báo”, “ác giả ác báo” vì tin tưởng vào sự thưởng phạt của Ông Trời, “chạy Trời không khỏi nắng” vì ”Ông Trời có mắt” và rằng “Lưới Trời tuy thưa nhưng khó thoát”!
Qua hàng ngàn năm dưới ách đô hộ của Trung Hoa cho nên về tư tưởng thì người Việt chúng ta đã chịu ảnh hưởng của học thuyết Khổng Tử mà giữ lấy chữ “nhân” làm đầu. “Nhân là đầu các điều thiện, là chủ hồi dưỡng sinh của vạn vật” và là nhân cách đầu tiên trong ngũ thường “Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín”. Lòng nhân đạo của người Việt Nam đã được thể hiện rõ nét qua bài “Bình Ngô Đại Cáo” của Nguyễn Trãi: “Đem đại nghĩa để thắng hung tàn. Lấy chí nhân mà thay cường bạo”.
Về tín ngưỡng thì trước khi tiếp xúc với phương Tây, tôn giáo chính của người Việt là Phật giáo. Phật Thích Ca là thái tử Tất Đạt Đa. Tên dòng họ Ngài là Gotama (Cổ Đàm) có danh hiệu là Sakya (Thích Ca) Thái tử dù sống trong nhung lụa vẫn nghiệm thấy là con người ai cũng không thể thoát khỏi cảnh già nua, đau bệnh rồi chết . Những hình ảnh siêu thoát của vị tu sĩ giúp thái tử sớm thấy được con đường giác ngộ để dẫn đến niết bàn bất tử. Chủ trương của Phật giáo là:
1- Chủ trương từ bi hỷ xả đối với các sinh linh.
2- Con người đều có Phật tánh, ai cũng có thể thành Phật.
3- Muốn tiến tới niết bàn phải giải thoát con người qua luật nhân quả và vòng luân hồi.
Đức Phật đã phân tích nguyên nhân của đau khổ là do thập nhị nhân duyên:
1- Vô minh (mê lầm, tăm tối).
2- Hành (hành động khiến gây ra nghiệp)
3- Thức (phân biệt đúng sai)
4- Danh sắc ( nhận dạng được hình, sắc)
5- Lục nhập (6 căn tội)
6- Xúc (tiếp xúc)
7- Thọ (tiếp nhận cảm giác)
8- Ái (tham vọng)
9- Thủ (nắm giữ)
10- Hữu
11- Sinh và 12- Tử
12 nhân duyên này quan hệ với nhau buộc ta vào vòng luân hồi.
Thiên Chúa Giáo đã được giới thiệu vào Việt Nam từ thế kỷ thứ 16. Trong Thiên Chúa Giáo sự hiện hữu của Thượng Đế là hiển nhiên, hằng hữu. Sự tương quan giữa con người và Thượng Đế theo ba ý niệm sau đây: Sự Sáng Tạo – Lẽ Công Bằng – và Tình Thương.
Kinh Thánh mở đầu bằng sự khẳng định Đức Chúa Trời dựng nên vũ trụ, vạn vật và con người. Con người là công trình sáng tạo sau cùng của Thiên Chúa và được Ngài trao ban cho một món quà quý giá nhất là sự tự do. Nhưng rồi món quà này đã bị lạm dụng và con người đã đánh mất Thiên Đàng do lòng kiêu ngạo là căn nguyên tội lỗi dẫn đầu trong “Bảy Mối Tội Đầu”.
Tuy nhiên theo sau lẽ công bằng là tình thương. Thiên Chúa đã hứa sẽ ban cho loài người một Đấng Cứu Thế sẽ chịu sát tế như một con chiên để chuộc lại lỗi lầm ban đầu của tội nguyên tổ và dùng tình thương để cảm hóa, để đẩy lùi tội ác ra khỏi nhân loại.
Đức Giê Su đã từ bỏ ngai trời xuống thế làm người, nhập thế hành đạo trong một hoàn cảnh nghèo khổ như chưa từng có ai nghèo khổ hơn! Những bài học về lòng yêu thương, bác ái trong lời giảng dạy của Ngài thường là qua các dụ ngôn. Giáo lý của Ngài tập trung vào hai điều: “kính Chúa và yêu người”. Ngài không đến để xóa hết đau khổ. Ngài cũng không giải thích nguyên nhân của sự đau khổ mà bằng chính cuộc sống của mình Ngài đã chứng minh rằng trong đau khổ con người vẫn tìm ra được niềm bình an, hạnh phúc một khi ta đón nhận và cải hóa sự đau khổ, hay nói cách khác là khi ta đã biết thánh hóa sự đau khổ để biến “thập giá trở nên thánh giá”. Cái chết của Đức Giê Su là một tấm gương cao cả cho sự hy sinh tuyệt đối trong quan niệm yêu thương, bác ái của Thiên Chúa Giáo. Tín đồ Thiên chúa Giáo hay người Công giáo cách riêng tin rằng con người chỉ có một cuộc đời để sống, để lập công đức bằng việc thực thi thương yêu, bác ái với mọi người ta tiếp xúc. Và phần thưởng cho người sống công chính là một đời sống viên mãn, vĩnh hằng trên thiên đàng.
Như đã nói trên, khi sử dụng quyền tự do được trao ban, những con người với sự ngạo mạn, vẫn chống lại những điều thiện hảo để tiếp tục gây ra tội ác, để tự hủy diệt lẫn nhau. Vào thế kỷ thứ 19, một người gốc Do Thái sinh ra tại Đức tên là Karl Marx đã lập ra một học thuyết mà sau này được áp dụng như một thứ tôn giáo mới tại các nước cộng sản. “Đạo” của Karl Marx đã đi ngược hoàn toàn với tín lý Thiên Chúa Giáo. Tín lý Thiên Chúa Giáo dạy tình yêu thương, lòng bác ái và tha thứ, dẫn đưa nhân loại đến sự thật. “Đạo” Karl Marx dạy hận thù, độc ác, dối trá, đấu tranh giai cấp với mục đích chia rẽ, phân hóa để thống trị loài người, quảng bá quan điểm vô thần, một giả thuyết có nguồn gốc từ Tây phương nhưng đã bị chính các nhà khoa học Tây phương hoài nghi. Von Braun, nhà khoa học không gian hiện đại đã từng viết: “Sự thần kỳ và vô biên của vũ trụ chỉ có thể chứng thực cho đức tin của chúng ta rằng chắc chắn có Đấng Sáng Thế”.
Văn hóa truyền thống Á Đông nói chung luôn coi trọng tín ngưỡng, coi trọng mối quan hệ hài hòa giữa “Thiên-Địa-Nhân”, nhưng kể từ khi du nhập “đạo” Karl Marx vào thì các đảng cộng sản đứng đầu là đảng cộng sản Trung Quốc ra sức nhồi nhét chủ thuyết vô thần, cổ súy triết học đấu tranh theo như tuyên ngôn của Mao Trạch Đông: “Đấu với trời là niềm vui vô tận! Đấu với đất là niềm vui vô tận! Đấu với người là niềm vui vô tận!”
Đối với dân tộc Việt Nam từ 1945 cho đến sau 1975 niềm đau dẫu cho không muốn nhớ đời nhưng đến những ngày giỗ, Tết những nén hương vẫn còn được thắp trên bàn thờ để cầu siêu, xin lễ cho hàng triệu sinh linh, những oan hồn uổng tử đã chết trong cuộc cải cách ruộng đất tại miền Bắc, trong cuộc nội chiến, trong Tết Mậu Thân, trên đại lộ kinh hoàng, trong các trại tù cải tạo, trên đường vượt biên, vượt biển!
Suy cho cùng thì vách ngăn chia cách lòng người chính là sự độc ác, dối trá, hận thù! Một khi con người biết sống với lòng nhân, với sự thiện tâm tin rằng: “trên đầu ba thước có thần linh” để tránh sự quả báo , thoát kiếp luân hồi. Khi con người tin rằng sẽ có sự thưởng phạt theo lẽ công bằng thì những hành động bạo tàn, những âm mưu nham hiểm sau cùng cũng sẽ bị xét xử bởi một đấng Thượng Đế công minh. Khi “Bát Chánh Đạo” của Phật Giáo và “Mười Điều Răn” của Thiên Chúa Giáo được làm ánh sáng soi đường. Và rồi ra lời dạy của các tôn giáo chân chính sẽ xóa bỏ được vách ngăn giữa người với người.
Lê Phương Lan
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Vì Đâu Nên Nỗi – Dâu K1 Lê Phương Lan
ÔI “THẦN DƯỢC” MI HẠI TA_Huỳnh Chiếu Đẳng
Ôi “Thần Dược” Mi Hại Ta!
Huỳnh Chiếu Đẳng
(Bài do K1 Nguyễn Văn Vinh chuyển)
Nghe thiên hạ rỉ tai nhau nói có cặp vợ chồng sồn sồn khỏang 50, 60 gì đó ở Mỹ làm youtube làm món ăn bếp núc và tiện thể quảng cáo rất khéo léo đủ loại cream, serum bôi mặt gốc chệt nhưng giả mạo tên của phương tây và quảng cáo đông trùng hạ thảo, sâm nhung bổ khỏe..sao mà ác vậy! Thật là tội nghiệp cho những người ngây thơ thiệt thà, tiền mất tật mang.
Thử điểm mặt qua những thứ món thuốc mà người Việt chúng ta tự bày cho nhau (cũng đôi khi bắt chước người Mỹ hoặc người Tàu mà bày thuốc cho nhau):
Nhìn chung thì hầu như mọi thứ thực phẩm quanh ta đều được email và webpage người Việt ca tụng là “thần dược” trị ung thư và bá bịnh.
Nhiều người vang bóng một thời, người bày ra món này đã hốt nhiều chục triệu bạc xong lặn mất. Kế đó là nước măng cụt, bây giờ còn chút tiếng vang. Kế nữa là Canh Dưỡng Sinh, được phe ta uống như điên trong thời gian chừng sáu tháng rồi tịt ngòi.
Tiếp theo thì ngàn hoa đua nở: hết dưa chuột, rồi thì lá đu đủ, rồi tới mãng cầu. Đầu tiên là mãng cầu Mễ (bán nhiều tại Mỹ) sau chê phải là mãng cầu Xiêm loại trồng ở Việt Nam.
Hai thứ sau này đang phất cờ tiến mạnh vào niềm tin của bà con ta. Chắc chừng năm sau sập tiệm, tuy nhiên mấy vị nhanh tay chế viên mãng cầu, nước mãng cầu cũng kiếm được mươi triệu đô rồi.
Sau đó là dầu dừa được ca ngợi (do công ty Tây Mỹ bày bán, kiểu bán mỡ rắn thời nẩm), có một vị MTC suýt chết vì dầu dừa hai năm trước, vị này ở Hố Nai chạy xuống Bến Tre mua dầu dừa ép lạnh về uống hai ba tháng đi hết nổi. May mà đọc thấy email MTC lúc đó về dầu dừa mới tỉnh ra mà ngưng uống, nhưng tức quá gởi email la làng cho hả giận.
Hiện giờ thì trái Sung, cây Bồ Công Anh, trước đó thì Kim Thất Tai (sao hiện giờ ít nghe ai nhắc nói tới, chắc nó âm thầm dẹp tiệm rồi). Hiện giờ cũng còn đang hoành hành sức khỏe bà con ta là Cây Lượt Vàng, trước đây là cây Cần Tây, nay thì Cây Cần Tây cũng lặn mất rồi. Vài năm trước thì là Trà Xanh là thần dược, Trà mọi loại là tiên dược, những vị uống trà ngừa và trị bịnh hiện nằm nhà thương hay ra vào nhà thương (tôi nói ẩu) cũng bộn nên hết hơi sức để vuốt đuôi ca ngợi theo gian thương Trung Cộng. Nay thì được biết người ta hơi né trà rồi, lý do là thuốc trừ sâu (và đủ thứ hương thơm hóa chất vô danh) ướp vào trong đó, kể cả trà ướp xác chết cũng được bán ta cho bà con ghiền thưởng thức (chuyện này nói thật, có thật, không nói ẩu đâu, có “chạy Nhật Trình” mà).
Sau khi chê Trà thì bà con ta sang ca ngợi Cà phê. Hình như trong tâm trí một số phe ta phải có cái gì đó để ca ngợi mới sống được chăng? Hiện trứng gà được một vị tung lên tới mây xanh (kết quả là thống kê vừa công bố những vị nam giới ăn 7 trứng gà hay hơn mỗi tuần thì mau chết hơn những vị không ăn).
Còn gì nữa, cà chua, sả, xoài, trái chuối chín rục đều “trị được ung thư” (chắc mấy tiệm bán chuối chế ra chuyện để tiêu thụ chuối chín thâm đen cho khỏi bỏ thùng rác?). Trước đó một chút và ngay hiện giớ chanh được ca tụng là giết tế bào ung thư 10000 lần mạnh hơn “chimo”. Trước nước chanh trị ung thư thì có Giấm Táo và mật ong. Hiện giờ thì mật ong và Bột Quế, mới đây thì phong trào củ cải trắng chanh và nghệ.
Nói chung thì: Bất cứ rau trái nào trước mặt các bạn cũng đều được người Việt ca tụng là thần dược trị ung thư hay trị được những thứ bịnh mà Tây Y còn đang vật lộn!
Quên nữa còn gạo đen (dân Gò Công gọi: “gạo nhum”) cũng trị ung thư và nhiều bịnh ngặt, trước đó gạo lức được tâng lên làm thần dược, nay thì gạo lức rang pha nước uống là “thần dược”. Gạo lức được dân BBC gọi là gạo nâu đó nghe bà con. Nói thêm theo thống kê hiện giờ thì gạo lức chứa nhiều kim loại nặng có hại hơn là gạo giả trắng. Hai món sống dai là củ tỏi và gạo lức, không biết có bao nhiều người theo và bao nhiêu người khỏi bịnh. hiện giờ củ tỏi hầu hết 75% là do Trung Cộng trồng.
Gạo lức bị Mỹ điểm mặt năm trước, năm nay tỏi Trung Cộng cũng bị Mỹ điểm mặt.
Các bạn đọc chán chưa, còn nữa mấy mươi năm nay người ta ca ngợi Đậu Hũ đậu nành trị ung thư, thế mà mấy mươi năm nay cũng chưa thấy ai nhờ nó mà sống thêm. Quên nữa CâySả hiện được bà con ta nói trị ung thư mạnh hơn 10000 lần “chimo” (con số nghe quen quen). Các bạn còn nhớ lá đu đủ một thời là khắc tinh bịnh ung thư, sau đó thấy không hiệu nghiệm bèn bày ra Lá Đu Đủ Đực mới hiệu nghiệm. Nhiều người cũng tốn tiền mua lá đu đủ khô hay viên về uống. Còn hết? Thưa còn thí dụ: “Măng tây ai mà ngờ” (tôi thêm: ai mà ngờ vô dụng). Mới vài tuần nay thì khoai môn Trung Cộng được ba con ta ca ngợi ăn nó không bị ung thư nữa. Nên lưu ý, cái gì mà Trung Cộng sản xuất cũng đều mang mầm bịnh, bà con biết rồi mà.
Còn hết? Thưa còn dài dài, hiện đang bày nhau: xay cam, bôm, cà chua, cabbage, cà rốt, Lô Hội và bỏ thêm 1 muỗng Mật Ong.. hằm bà lằng, uống hàng ngày để ngừa ung thư. Thôi nghe, kể hoài còn hoài.
Thưa quí bạn, những thứ được kể bên trên là tôi chợt nhớ ra, chắc mới liệt kê được chừng phân nửa mà thôi. Hôm nào tôi ghi lại coi tất cả mọi thứ thực phẩm chúng ta ăn coi có món nào KHÔNG phải là thần dược hay không.
***
Một bằng hữu góp ý (nhiều năm trước):
Một đoạn phản hồi cho “những bài thuốc” (trích trong bài viết “Bà Nội Tướng Của Tôi” – Người Phương Nam)
“…Chẳng hạn như tôi nói với nàng là có người mách cho một bài thuốc rất đơn giản, chỉ cần gạo đem rang rồi nấu nước uống hằng ngày như uống trà thì có công hiệu rất tốt cho cơ thể như ngủ ngon, giảm huyết áp, giảm mỡ vv… thì nàng hỏi lại tôi bộ miracle hả? Gạo rang hay không rang cũng là gạo, tại sao nấu cơm ăn hằng ngày thì chỉ chữa bệnh đói còn đem đi rang, cho qua lửa luyện tội lại trở thành “dược phẩm” là sao, vô lý quá vậy. Ấy vậy mà tôi cũng đòi nàng phải rang gạo nấu nước “thánh” cho tôi hết một thời gian hai ba tháng. Nàng bực mình lắm, tuy chìu ý tôi nhưng trong lòng không phục cho là what a silly vớ vẩn!
Có một thời gian, người ta đua nhau đi kiếm mua rau má đỏ con mắt, nói là rau này chữa được bệnh thấp khớp làm tôi cũng ráng đi tìm cho được (vì là mùa đông nên khó kiếm chớ mùa hè thì loại rau này mọc đầy dãy trong vườn nhổ không kịp) thì nàng bảo rau cỏ nào mà không có dược tính. Theo nàng biết thì rau má có tác dụng giải nhiệt, khi nào nóng trong người uống vô sẽ hạ hỏa nhưng nếu lạm dụng nó thì sẽ sinh hàn. Mà thấp khớp thì kỵ hàn. Uống riết chắc đi không nổi phải bò luôn.
Rồi còn nhiều phương thuốc khác nữa như Lô hội, trái Nhào, đậu nành, canh dưỡng sinh gì đó lung tung, thứ nào cũng chữa bá bệnh như là thần dược.
Tôi thì thứ nào cũng muốn thử coi có hiệu nghiệm không chớ nàng thì nhứt định giữ vững lập trường không là không. Nàng nói thời buổi y học tân tiến này, có biết bao là thuốc hay thầy giỏi, bệnh gì thuốc đó, chữa còn không được, ở đó mà nghe người ta bày.
Muốn bào chế một viên thuốc, người ta phải nghiên cứu dung hòa bao nhiêu chất trong đó chớ đâu phải đơn giản một thứ một mà được. Phàm cái gì cũng vậy, phải có chừng mức, cứ một thứ mà tống vào cho cố xác thì có hại chớ sao. Có thể nó chữa được bệnh này nhưng lại phản ứng sinh bệnh khác, hễ có hợp thì có khắc, có lành tính thì cũng có ác tính. Vì vậy trung dung là thượng sách hơn cả, rủi ai phát giác ra là có hại thế nào đó thì mình cũng không đến đỗi nào, còn trở tay kịp.
Cụ thể như một lọai cải có tên là Phi Long (English spinach) mà tất cả các giống dân âu, á, trung đông gì cũng rất ưa chuộng (nhất là Lebanese, mua một lần cả trolley) vì nó có rất nhiều chất sắt làm tăng cường sinh lực đến đổi có một phim cartoon muốn khuyến khích trẻ con ăn vegies đã bịa ra chuyện một nhân vật tên Popye.
Anh Popye này nhờ ăn thật nhiều spinach nên mới có đủ sức mạnh để đấu lại mấy thằng baddies. Đó là nói về mặt lợi ích của lọai cải này, nhưng đồng thời nó cũng có tác hại gây bệnh gout (thống phong) nếu ăn nhiều (không biết nhiều là bao nhiêu) vì nó cũng chứa hàm lượng uric acid rất cao.
Như vậy thì tốt nhất là đừng nghe ai cả mà hãy nghe chính mình. Mỗi tuần nấu canh họặc xào ăn hai ba lần là đủ liều rồi, cứ coi đó là thức ăn thôi, còn muốn làm thuốc thì để cho pharmacist họ làm, đâu có tới phiên mình.
Cũng như rượu, mỗi ngày một ly nhỏ cho máu lưu thông điều hòa thì có ích cho tim mạch nhưng nếu cứ uống cạn ly đầy, rót đầy ly cạn thì sơ gan đứng tim luôn là cái chắc.”
Huỳnh Chiếu Đẳng
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở ÔI “THẦN DƯỢC” MI HẠI TA_Huỳnh Chiếu Đẳng
TĨNH TÂM_Lê Phương Lan
TĨNH TÂM
Lê Phương Lan (Dâu K1)
Để chuẩn bị mừng đón hai ngày đại lễ trong đạo Công Giáo là lễ Giáng Sinh và lễ Phục Sinh, các giáo xứ thường xuyên tổ chức cho giáo dân các buổi tĩnh tâm. Tại sao để có sự chuẩn bị lại cần đến tĩnh tâm? Xin đưa ra hai hình ảnh sau đây:
– Ngày kia, có một nhà thông thái cố ý tìm đến một thiền sư để đàm đạo. Mở đầu buổi tiếp kiến, ông được vị thiền sư mời uống trà và ngài cứ thong thả tiếp tục rót mãi nước vào tách trà khi đã đầy tràn. Khi được khách nhắc nhở, vị thiền sư nhẹ nhàng nói:”Nước trà sẽ chỉ được chứa đựng khi tách vẫn còn trống rỗng. Nếu ngài đến thăm bần đạo với đầy ắp những hiểu biết đã có sẵn thì buổi gặp gỡ này ngài sẽ không nhận được gì hơn là những tranh luận mà thôi!”
– Khi quan sát thói quen uống nước của loài voi, người ta nhận thấy khi voi tìm ra được nguồn nước, bất kể là một vũng nước nông hay sâu, thay vì để yên cho nước tĩnh lặng, trong trẻo, chúng thường dùng vòi khuấy cho nước đục ngầu lên để chịu uống loại nước đầy bùn đó. Hiện tượng khuấy động được giải thích là vì làn nước trong khiến cho loài voi sợ khi nhìn thấy hình ảnh phản chiếu của chính nó.
Do vậy, khi ta chọn lọc để tìm biết, học hỏi những tư tưởng hay, những hiểu biết sâu sắc thì cần phải trang bị cho mình một tâm hồn tĩnh lặng, buông bỏ để đón nhận thì mới hy vọng nhìn ra bản ngã của chính mình hầu được kín múc nguồn nước trong lành. Có một câu từ nhà Phật nói rằng:”Sự bình an của chính mình là món quà bác ái lớn nhất dành cho tha nhân.” Vì nguyên nhân của 90% những đau khổ, tang tóc là do con người gây ra cho nhau. Những đau đớn làm hư nát tâm hồn luôn đến từ những vấn nạn trong đời sống gây ra hơn là những bệnh tật nơi thể xác. Các bác sĩ tâm lý hay tâm thần đều nghĩ rằng hầu hết những căn bệnh bất trị của con người phát sinh từ các xúc cảm tiêu cực mãnh liệt tiềm tàng bên trong, và cứ âm thầm phá hủy các cơ phận trong con người! Ngược lại, ngay khi bị ung thư tàn phá, AIDS hủy hoại, mà con người vẫn còn tâm tình yêu thương, hy vọng thì sức chịu đựng càng kiên cường và sự bình an càng chan chứa.
Tuy nhiên, làm thế nào để giữ cho thân tâm được thanh tịnh hay an bình?
Xin tóm tắt những góp ý trong bài giảng tĩnh tâm mùa chay 2022 của linh mục Trần Tiến Đạt:
1- Bỏ bớt những chấp nhất không quan trọng trong đời sống hằng ngày, bỏ bớt những mong cầu, đòi hỏi nơi người thân “Thân nhẹ thì tâm an”. Bỏ bớt để không bị “dính” mãi vào những hận thù, hay những lời nói chê bai, những hành động làm mình tổn thương.
2- Tập một lối suy nghĩ tốt, một hoạt động lành mạnh nào đó để tạo thành thói quen mỗi ngày cho tâm được nhẹ nhàng (release stress). Tư tưởng Phật giáo dạy rằng:” Tâm tư con người khi chưa được hóa giải thì tựa như một bình nước chứa nhiều muối nên rất mặn. Những thói quen tốt tựa như những ly nước sạch đổ vào bình. Lâu dần muối sẽ bị loại bỏ và nước sẽ trở nên thanh khiết. Khi thói quen tốt dần dần thay thế cho thói quen xấu thì nhân đức sẽ nảy nở.”
3- An vui với những gì là “tương đối” trong cuộc sống: càng mong cầu sự “tuyệt đối” càng bất mãn, chán đời khi không đạt được. Tập không luôn quy hướng về mình để cho “cái tôi” mỗi ngày nhỏ lại một chút.
4- Hoán chiếu suy nghĩ và hành động theo triết lý không có gì là vĩnh cửu (vô thường) “Ở dưới bầu trời này, mọi sự đều có lúc, mọi việc đều có thời: một thời để chào đời, một thời để lìa thế; một thời để trồng cây, một thời để nhổ cây ….” (trích sách Giảng Viên 3:1)
5- Luôn hoán chiếu về luật “nhân quả” trong tương quan với người chung quanh. Biết rằng cuộc sống chính mình chỉ có thời hạn, tại sao chúng ta không gieo cho nhau những hạt giống nâng đỡ hay hy vọng thay vì những hạt giống của chê bai, hiềm khích?
6- Biết ơn mỗi ngày từ những gì mình đang có: sức khỏe, tình thương yêu và khoảng không gian, thời gian khi còn được sống bên những người thân. Tri ân ngay cả những gì tưởng chừng như miễn phí như không khí trong lành, nguồn nước sạch, cảnh đẹp thiên nhiên …
Cuối cùng,“tâm bình, thế giới bình” là tựa đề của một bài thuyết pháp tôi đã được nghe và cũng là lời kết của bài viết này.
Mong rằng những chia sẻ trên đây sẽ phần nào giúp cho chúng ta trong khi phải vất vả đối phó để lo cho kinh tế gia đình cộng với những điều xảy đến không như ý muốn, những bất toàn không thay đổi được của người thân. Thay vì cứ mãi đau khổ, bất mãn, chúng ta thử cố gắng giúp mình tìm được niềm bình an trước những thử thách, lo âu trong cuộc sống hàng ngày.
Riêng tôi, những chia sẻ này cũng sẽ là những nhắc nhở, luyện tập cho chính mình để mong có được một tâm thân an tịnh vì ngoài những vấn đề gây ảnh hưởng tiêu cực trong đời sống, còn là những lo âu của cơn đại dịch vẫn tiếp tục xuất hiện những biến thể; của chiến tranh có nguy cơ lan rộng từ tham vọng ngông cuồng không lường trước được của các ác nhân, bạo chúa! Nhất là nỗi lòng của người đã gần 50 năm qua vẫn chưa nhìn thấy được ánh sáng hưng thịnh tại quê hương thân yêu bên kia bờ đại dương!
Lê Phương Lan
Tháng Tư đen trong những ngày cuối mùa chay 2022-
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở TĨNH TÂM_Lê Phương Lan
Thương cho đồng bào Ukraina _ Nhạc Trúc Hồ
Hello! Lost Eyes
Music by Trúc Hồ
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Thương cho đồng bào Ukraina _ Nhạc Trúc Hồ
Ôi Hởi Bucha _ Thơ Tống Phước Kiên
ƠI HỠI BUCHA
Ơi hỡi Bucha , lệ ướt nhòa
Một màu tang tóc buổi can qua
Mồ chôn tập thể đau thương qúa
Tội ác giết người của lính Nga
Xua quân xâm chiếm nước Ukraine
Con gấu Bạch Nga quyết một phen
Cướp đất lấy thành xây bá đạo
Xưng hùng xưng bá thỏa lòng ghen
Thành phố Bucha giặc chiếm rồi
Giết dân như nghóe hỡi trời ơi
Trói tay bắn bỏ bên đường phố
Đào hố chôn vùi khắp mọi nơi
Nga học Việt Nam tự lúc nào
Mà sao tội ác lại hao hao
Mậu Thân dân Huế trông như rứa
Chôn sống đập đầu thảm biết bao
Thế giới văn minh hãy mạnh tay
Phải đưa tội phạm chiến tranh này
Ra tòa công lý mà phân xử
Bắt bọn hung đồ tống ngục ngay
Tống Phước Kiên
Tháng Tư 2022
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Ôi Hởi Bucha _ Thơ Tống Phước Kiên
Thơ Quốc Hận: Lại Một Tháng Tư – TPK
Một tháng tư đen lại trở về, buồn ghê. Xin gởi đến anh chị em một bài TPK vưa mới viết. Nhờ bạn NCV gởi vào trang “Gia Đình K1/HVCSQG” để các bạn đồng môn đọc cho buồn. Thân chúc mọi người được luôn an mạnh.
Thân mến
TPK
LẠI MỘT THÁNG TƯ

Tháng tư đen lại về lần nữa
Người lính gìa tựa cửa sầu vương
Nhớ ngày mắt lệ rơi tuôn
Giang sơn giặc chiếm súng buông nghẹn ngào
Bao nhiêu năm vào sanh ra tử
Những chiến công quân sử lưu truyền
Từ vùng hỏa tuyến Trị Thiên
Đến đất An Lộc xuống miền Cà Mâu
Anh xông pha rừng sâu núi thẳm
Đem máu xương tô thắm sơn hà
Giữ gìn sông núi ông cha
Xây nền dân chủ nước nhà xinh tươi
Nhưng nghiệt ngã một thời tăm tối
Trời tháng tư bảo nổi tơi bời
Giặc về dẫm nát khắp nơi
Búa liềm phủ xuống cuộc đời sang trang
Trong ngục tối tàn canh thao thức
Anh gục đầu tủi nhục xót xa
Buồn không giữ được sơn hà
Để cho đất mẹ quê cha hận sầu
Nước bây giờ quân Tàu vây hãm
Lũ cầm quyền chẳng dám đôi co
Người dân canh cánh âu lo
Sợ phường thái thú cống cho bắc triều
Nơi hải ngoại nhiều đêm không ngủ
Thương dân mình chẳng đủ cơm ăn
Cuộc đời lắm nỗi khó khăn
Làm ăn vất vả mà lần không ra
Biết bao giờ sơn hà hồi phục ?
Đời tự do hạnh phúc nơi nơi
Trong ngoài sum họp vui cười
Bắt tay dựng lại khung trời Việt Nam
Tống Phước Kiên
Tháng Tư 2022
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Thơ Quốc Hận: Lại Một Tháng Tư – TPK
Nhìn bằng trái tim (chuyện nên suy ngẫm online)
NHÌN BẰNG TRÁI TIM
Gần nhà ngoại tôi có một đôi vợ chồng già bị mù. Họ đã có với nhau một đàn con cháu đông đúc. Nghe ngoại nói, năm nay hai cụ đã ngót nghét tám mươi tuổi.
Ngoại kể, ngày xưa, khi lấy nhau, người chồng ngồi xe bò đi đón vợ. Tuy cô dâu và chú rể đều không nhìn thấy gì, nhưng chú rể vẫn nhờ người cuốn đầy lụa điều lên chiếc xe và đầu con bò, như vậy cho giống đám cưới.
Khi cô dâu vừa về nhà chồng, chú rể dắt tay vợ rà mò từ nhà trên xuống nhà bếp, khắp lượt các ngóc ngách trong gia đình. Rồi cũng từ đó, suốt hơn nửa thế kỷ, trong cái thôn nghèo chẳng mấy ai biết đến ấy, dù trời mưa hay nắng, người ta luôn nhìn thấy họ tay trong tay, lẳng lặng cùng nhau làm mọi việc.
Có lẽ trong tất cả công việc thì khó nhất vẫn là múc nước từ giếng lên. Lần nào cũng thế, hai người họ đều dắt nhau đi. Người vợ sờ thấy cây gỗ ở cạnh giếng, một tay ôm chặt cây, còn tay kia níu chặt bàn tay chồng. Người chồng quỳ trên sàn giếng thả gầu xuống múc, kéo nước lên.
Có người nhìn thấy họ múc nước khó khăn ngỏ ý muốn giúp nhưng hai vợ chồng đều cảm ơn rồi từ chối. Họ bảo:
– “Các ông bà giúp được chúng tôi một lần, nhưng không giúp được chúng tôi một đời”.
Cứ như thế, hai vợ chồng luôn tay dắt tay nhau đi lấy nước cho đến khi đứa con đầu lòng có thể gánh được một gánh nước.
Dân làng đều cảm thấy lạ lùng. Trong thôn cũng có nhiều trai gái trẻ từng vì đất trơn mà trượt chân ngã xuống giếng, nhưng đôi vợ chồng mù chưa lần nào té ngã. Càng lạ lùng hơn, dù không thể nhìn thấy nhưng vợ chồng họ vẫn có thể tìm ra nhau trong đám đông đang nói chuyện ồn ào.
Người chồng là một người thổi kèn trong ban nhạc ở thôn quê. Ông thường đến các đám cưới thổi những bài: “Trăm con chim phượng hoàng”, “niềm vui đầy nhà”… Dù đi thổi kèn ở đâu, ông cũng có một yêu cầu, để người vợ mù của ông đi cùng. Ông nói, để vợ ở nhà một mình, ông không an tâm.
Mỗi khi tiếng kèn của người chồng cất lên, người vợ ngồi bên rất chăm chú nghe. Dường như những giai điệu ấy đều là ông thổi riêng cho bà. Người ta bảo, những lúc ấy, khuôn mặt người vợ mù thường đỏ ửng lên, khiến ai nấy đều cảm thấy người phụ nữ đang ngồi lặng lẽ kia xinh đẹp biết nhường nào.
Sau này, khi hai vợ chồng đều đã già và không cần đi ra ngoài nữa, họ bắt đầu trồng hoa trong sân nhà. Dù chẳng thể nhìn thấy được những đoá hoa tươi rực rỡ mình trồng lên, nhưng ông bà đều rất hạnh phúc mỗi khi đến mùa hoa nở.
Những người con của ông bà từng hỏi bố mẹ :
– “Nếu ông trời dành cho bố mẹ một cơ hội, liệu bố mẹ có muốn nhìn nhau bằng mắt không?”
Ông tự hào nói:
– “Dắt tay nhau một đời, có bao nhiêu đường vân trong lòng bàn tay mẹ con, đều đã in trong trái tim bố. Bố chưa từng trông thấy người đẹp nhất. Trong trái tim bố thì mẹ con là người đẹp hơn cả. Cần mắt để làm gì ? Mắt là thứ tham lam nhất trần đời, nhìn cái gì cũng đánh giá tốt hay xấu, xinh hay không xinh; nhìn cái gì hay là muốn có cái đó. Trên mặt người ta có một vết sẹo cũng có thể để trong tim suốt đời.”
Tim sáng hơn mắt. Nó là sáng nhất, thật nhất!.
Còn bà thì trả lời:
– “Người ta nhìn người bằng mắt, bố mẹ nhìn người bằng trái tim. Tim sáng hơn mắt – thật.”
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Nhìn bằng trái tim (chuyện nên suy ngẫm online)
Ý Nghĩa Cuộc Đời: Nhảy Múa Dưới Cơn Mưa_Khuyết Danh
Ý NGHĨA CỦA CUỘC ĐỜI: NHẢY MÚA DƯỚI CƠN MƯA
Lúc đó khoảng 8.30 sáng, phòng cấp cứu rất bận rộn. Một ông cụ khoảng trên 80 tuổi bước vào phòng và yêu cầu được cắt chỉ khâu ở ngón tay cái. Ông cụ nói, ông rất vội vì ông có một cuộc hẹn vào lúc 9 giờ. Tôi bắt mạch, đo huyết áp cho ông cụ xong, tôi bảo ông ngôi chờ vì tôi biết phải hơn một tiếng đồng hồ nữa mới có người đến cắt chỉ khâu cho ông. Tôi thấy ông nôn nóng nhìn đồng hồ nên tôi quyết định sẽ đích thân khám vết thương ở ngón tay cái của ông cụ. Vì lúc đó tôi cũng không bận với một bịnh nhân nào khác cả.
Khi khám tôi nhận thấy vết thương đã lành tốt vì vậy tôi đi lấy dụng cụ để tháo chỉ khâu ra và bôi thuốc vào vết thương cho ông cụ. Trong khi săn sóc vết thương cho ông cụ, tôi hỏi ông là, ông vội như vậy chắc là ông có môt cuộc hẹn với một bác sĩ khác sáng hôm nay phải không.
Ông nói không phải vậy nhưng ông cần phải đi đến nhà dưỡng lão để ăn điểm tâm với bà cụ vợ của ông ở đó. Tôi hỏi thăm sức khỏe của bà cụ thì ông cho biết là bà đã ở viện dưỡng lão một thời gian khá lâu rồi và bà bị bịnh Alzheimer (bịnh mất trí nhớ ở người lớn tuổi). Khi nói chuyện, tôi có hỏi ông cụ là liệu bà cụ có buồn không nếu ông đến trễ một chút. Ông cụ nói bà ấy không còn biết ông là ai nữa và đã 5 năm nay rồi bà không còn nhận ra ông nữa.
Tôi ngạc nhiên quá và hỏi ông cụ, “và Bác vẫn đến ăn sáng với Bác gái mỗi buổi sáng mặc dù Bác gái không còn biết Bác là ai nữa?”
Ông cụ mỉm cười, vỗ nhẹ vào tay tôi rồi nói:
“Bà ấy không còn biết tôi nữa, nhưng tôi vẫn còn biết bà ấy là ai.”
Khi ông cụ bước ra khỏi phòng, tôi phải cố gắng lắm để khỏi bật khóc. Tôi vô cùng xúc động và thầm nghĩ, “Ước gì đời mình có được một tình yêu như thế!”
Tình yêu thật sự không phải là tình yêu thân xác, cũng không phải là tình yêu lãng mạn.
Tình yêu thật sự là sự chấp nhận tất cả những gì đang có, đã từng có, và sẽ có hoặc không.
Mỗi ngày bạn nhận được rất nhiều email và phần lớn là chuyện vui hoặc chuyện khôi hài; nhưng thỉnh thoảng cũng có những email mang theo những thông điệp có ý nghĩa như thế này. Và hôm nay tôi muốn được chia sẻ thông điệp này với các bạn.
Người hạnh phúc nhất không nhất thiết là người có được những điều tốt đẹp nhất, mà là người biết chấp nhận và sống một cách tốt đẹp nhất với những gì mà mình có được.
Tôi hy vọng bạn chia sẻ ý tưởng này với những người mà bạn yêu mến.
“Cuộc sống không phải là làm sao để chịu đựng cho qua cơn bão, mà là làm sao để biết nhảy múa dưới cơn mưa”
Khuyết danh
(Theo Fb Lan Le Nguyen – Dâu K1)
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Ý Nghĩa Cuộc Đời: Nhảy Múa Dưới Cơn Mưa_Khuyết Danh
Tường trình buổi họp mặt tai San Jose 28/3/2022
Mấy ngày cuối tháng 3 vừa rồi vợ chồng NCV nhân chuyến đi San Jose, ở nghỉ lại nhà K1 Vỏ Lâu và đến chiều thứ hai 28/3/2022 thì được một số bạn K1 Bắc Cali tiếp đón tại nhà K1 Đinh văn Hạp. Bên cạnh các bạn Hạp, Nghiệp, Hải, Thanh, Lâu, Vinh, Hồng còn có các phu nhân xinh đẹp đến tham dự và chuẩn bị các món ăn để tiếp khách từ cao nguyên tình xanh mưa nhiều nắng ít.

Nghe chị Lê Phương Lan phu nhân của Nguyễn văn Vinh than San Jose khô hạn nên mình có hứa sẽ đem mưa từ Seattle xuống. Và ông Trời đã giúp mình giữ đúng lời hứa bằng cách ông cho mưa xuống từ tối Chủ nhật cho đến tối thứ hai, không những chỉ có mưa mà còn lạnh nữa.
Mặc dù bên ngoài trời mưa lạnh, nhưng bên trong nhà bạn Đinh văn Hạp thì rất ấm cúng. Tiếng cười nói vui vẻ vì lâu ngày mới gặp nhau, bạn Phan Quang Nghiệp mở đầu tiệc vui, khui chai rượu vang để anh em cùng nâng ly mừng sức khỏe cho nhau.
Rồi các món ăn từ từ được dọn ra để mọi người vừa lai rai vừa tâm sự. Trước tiên là món bánh bèo Huế do cô gái Huế Mai Hương thực hiện. Tiếp đền có món gỏi xoài, miếng xào nấm mèo và sau cùng là món bún chả cá.Từ Seattle xuống, mình cũng đem theo mấy cái bánh tổ cắt ra mời các bạn để thưởng thức tài nội trợ của ông HO già nầy.

Nhân dịp nầy mình được biết nhà thơ Phương Trúc tức K1 Nguyễn Hoài Ân đang bị bệnh khá nặng, rất tiếc thời gian không cho phép nên mình không thể ghé thăm bạn hiền được. Hãy cố gắng giữ gìn sức khỏe b ạn nhé.
Ở tuổi bọn mình, trên duới 80 hết rồi mà có người còn đi làm mới tội chứ. Đó là bạn Fulro Trương ngọc Mỹ vì hoàn cảnh con mọn nên phải tiếp tục cày để bồi đắp tương lai cho con.
Còn vài hoàn cảnh đáng thương nữa nhưng vì mình không có thì giờ ghi nhận được.
Buổi gặp mặt nào cũng vậy có mừng vui, có chụp hình lưu niệm để rồi chia tay hẹn có một ngày gặp lại.
Vợ chồng NCV cảm ơn tình cảm của các ban K1 Bắc Cali đã dành cho chúng tôi, đặc biệt cám ơn vợ chồng hai bạn Lâu Phượng rất nhiều.
Mến chúc tất cả các bạn luôn luôn giữ gìn sức khỏe tốt, thật tốt và hạnh phúc.
Mời xem tất cả hình ảnh trong slideshow dưới đây. Hoặc trong link:
https://photos.app.goo.gl/4NPAViE7M3fSYw6h8
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Tường trình buổi họp mặt tai San Jose 28/3/2022
CỜ VÀNG_Trương Nhân Tuấn
CỜ VÀNG
Qua mấy vụ “chậm” chiếu các trận đá banh quốc tế, như trận VN đấu với Nhật hôm qua và trận với Úc hồi tháng Giêng, nguyên do vì “sự cố” lá cờ vàng bay “phất phới” ở khán đài sân vận động. Các đài truyền hình VN chiếu trễ khoảng 10 phút, thay vì chiếu trực tiếp. Thời gian để các “chuyên gia tuyên giáo” rà soát và “kiểm duyệt” hình ảnh (nếu có) lá cờ vàng. Việc chậm trễ được giải thích nhằm để “bảo đảm an ninh quốc gia”.
Theo tôi bên an ninh VN đã “méo mó” cái khái niệm về “an ninh quốc gia”.
Lá cờ vàng ba sọc đỏ lý ra là một “di sản văn hóa chính trị” của tất cả người VN. Tương tự những lá cờ của Mỹ trong cuộc nội chiến. Lá cờ phe thua trận ở bên Mỹ, ngay cả khi bây giờ nó là biểu tượng cho sự kỳ thị chủng tộc, lá cờ này vẫn không bị cấm đoán. Ta vẫn thấy (rất) nhiều người Mỹ treo nó trước cửa nhà, trên xe, phất bên trong sân vận động… “Ta chưa hề thấy “an ninh quốc gia” của Mỹ bị đe dọa, hay bị thương tổn bao giờ.
Chiến tranh VN, từ khi ký hiệp định Paris 1973, trên danh nghĩa pháp lý, đã trở thành cuộc “nội chiến”. Người Mỹ đã rút lui, không còn tham gia chiến tranh nữa. Chiến tranh “giữa những người Việt với nhau”, như thời Trịnh Nguyễn phân tranh, là cuộc chiến tranh giành quyền lực giữa các “thế lực” bên trong đất nước VN.
(Tính chẵn) năm mươi năm sau nhìn lại. Bên thắng bên bại đã rạch ròi, mặc dầu nhiều sử gia phê phán rằng CSVN “thắng trong chiến tranh nhưng thua trong hòa bình”.
Nhưng còn lằn ranh bên nào đúng bên nào sai ? Bên nào chánh bên nào ngụy?
VN hiện nay vẫn “ngạo nghễ” đứng dưới lá cờ chủ nghĩa Mác Lê nin, vẫn tôn thờ xã hội chủ nghĩa, trong khi các chủ nghĩa này từ lâu đã bị nhân loại đào thải. Chiến tranh lạnh kết thúc, VN đứng về phía thất bại.
Không thể phản bác, VN đứng về “lẽ trái” của lịch sử. Cũng không thể phản bác, đảng viên đảng CSVN “đội lốt” giai cấp vô sản để “nắm quyền lực và để làm giàu”.
Đội lốt ai đó, núp dưới một “danh nghĩa” nào đó, nếu không thể gọi là “ngụy” thì gọi là gì (cho đúng) ?
Lằn ranh đúng sai được vạch ra bởi phe chiến thắng. Sau 75, nhân danh “diệt trừ văn hóa phản động đồi trụy”, ta thấy sách vở, báo chí, các tác phẩm văn hóa của VNCH… bị tiêu diệt. Cái nào đốt được thì họ đốt. Cái nào đốt không được thì họ đập phá.
Nếu tính chẵn 50 năm. Đảng CSVN lãnh đạo toàn diện đất nước, trên mọi lãnh vực. Chính trị, không nói làm chi, kinh tế, văn hóa, xã hội…. làm tổng kết lại, có ai thử đưa ra một thí dụ cụ thể, cho thấy là đảng CSVN đã “thành công” hơn VNCH ở một lãnh vực nào đó?
Lá cờ vàng tưởng “chết” 50 năm rồi, tưởng đã chôn sâu trong tiềm thức rồi, vậy mà nó vẫn “ngạo nghễ” ngoi lên. Đối với đảng CSVN đây là hành vi của “đám phản động, tàn dư của Mỹ Ngụy ở hải ngoại”. Nhưng đối diện với chân lý và lương tâm, lá cờ tượng trưng cho cái “đúng”.
Chẳng có “thế lực phản động” nào “chống lại đất nước và tổ quốc Việt Nam” hết cả. Đảng CSVN đang dẫn dắt đất nước và cả khối quốc dân đi ngược lại đà văn minh của nhân loại. Việc phất cờ vàng có mục đích phản đối những cái sai, những cái cố chấp và ác độc của đảng CSVN. Hành vi phất cờ vàng có thể thách thức đảng CSVN nhưng việc này không quan hệ gì tới “an ninh quốc gia” cả. Ngoại trừ khi đảng CSVN đồng hóa với “quốc gia”.
trương nhân tuấn
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở CỜ VÀNG_Trương Nhân Tuấn
Ukraine bất diệt – thơ Tống Phước Kiên
UKRAINE BẤT DIỆT

Ukraine ơi , hãy kiên cường lên nhé
Vững lòng tin giữ quê mẹ đi nghe
Súng cầm tay cương quyết chớ rụt rè
Sau lưng bạn có bạn bè khắp chốn
Đất nước bạn đang bên bờ nguy khốn
Bởi gấu Nga quyết xâm lấn giang san
Bầu trời xanh cùng đồng lúa chín vàng
Đang mịt mờ tan hoang vì bom đạn
Vung tay lên hãy ra đòn mạnh dạng
Đánh cho tan bóng dáng kẻ ngông cuồng
Đánh cho bầy xâm lược máu lệ tuôn
Cho từ bỏ mộng bá vương vô đạo
Một cường quốc mà hành vi thô bạo
Ỷ mạnh hiếp cô sao đáng anh hùng
Thế giới nầy không sợ bọn cùng hung
Sẽ vạch tên cho muôn đời phỉ nhổ
Dân tộc bạn khiến toàn cầu ngưỡng mộ
Bởi hiên ngang chống thổ phỉ Putin
Giữ tự do độc lập cho nước mình
Để Ukraine được đời đời bất diệt
TPK

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Ukraine bất diệt – thơ Tống Phước Kiên
Xuân Lạnh – Thơ Tống Phước Kiên
XUÂN LẠNH
Đang giữa mùa xuân trở gió đông
Ngàn hoa tê tái nhạt hương nồng
Ngày nào khoe sắc tình phơi phới
Nay cánh tàn phai nhuỵ trống không
Thuở ấy dập dìu lủ bướm ông
Vờn bay quyến rủ vút bên song
Trời xanh man mác say sưa mộng
Vui hưởng Xuân thì thoả ước mong
Một thoáng mây bay gió lạnh đầy
Cơn mưa trút xuống trĩu hàng cây
Đài hoa cúi mặt mờ hương phấn
Ủ rủ bên hè đứng lất lây
Thời gian lầm lũi cứ trôi đi
Bỏ mặc Trần ai mộng ước gì
Rụng cánh hoa tàn cơn gió thoảng
Chẳng ai níu mãi tuổi Xuân thì
TPK
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Xuân Lạnh – Thơ Tống Phước Kiên
Thuốc hết hạn – Bửu Hồng sưu tầm
THUỐC HẾT HẠN

Tôi từng bị viêm loét dạ dày rất nặng, hai lần cận kề sinh tử với biến chứng chảy máu. Nhiều năm trước, tôi phải nằm điều trị trong khoa hồi sức cấp cứu hàng tháng trời, nơi rất gần với nhà xác bệnh viện, hàng ngày nghe rõ tiếng kèn đám ma phát ra từ nhà tang lễ.
Thời điểm đó, gần 30 năm trước, các thầy của tôi ở trường Y là những bác sĩ siêu giỏi, nhưng việc bệnh nhân chết cứ diễn ra liên tục vì không có những loại thuốc đắt tiền để điều trị. Tính mạng của tôi từng bị đe dọa như thế.
Trở về bệnh xá nhà trường, mặc dù tôi được cứu sống nhưng ổ loét dạ dày gây thủng mạch máu vẫn còn, nguy cơ chảy máu tái phát bất cứ lúc nào. Bác sĩ nói với tôi có một cơ số thuốc đã hết hạn gần hai năm, được các chuyên gia quốc tế mang từ nước ngoài sang cho, nếu tôi đồng ý thì có thể dùng.
Theo các chuyên gia, thuốc đã hết hạn nhưng vẫn an toàn.
Sức khỏe bị đe dọa, tôi không còn lựa chọn nào khác là gật đầu đồng ý. Nhưng tôi cũng tin bác sĩ ở bệnh xá nhà trường đang cố gắng giúp tôi, tin các chuyên gia quốc tế đang tìm cách hỗ trợ cho hệ thống y tế. Và thật kỳ diệu, nhờ những viên thuốc hết hạn ấy, bệnh viêm loét dạ dày của tôi đã khỏi hẳn.
Nhiều năm làm bác sĩ, tôi cứ băn khoăn với suy nghĩ, mỗi ngày trên thế giới có quá nhiều loại thuốc phải mang đi tiêu hủy vì hết hạn, hầu hết là thuốc đắt tiền, trong khi ở châu Phi và châu Á còn hàng triệu người gặp vấn đề lớn về khả năng chi trả tiền thuốc.
Vậy thuốc hết hạn liệu có thể sử dụng an toàn?
Tìm hiểu, tôi được biết, vào năm 1985, kho dự trữ thuốc của quân đội Mỹ lên tới hơn một tỷ USD sắp hết hạn, sẽ phải tiêu hủy để thay thế thuốc mới. Điều đó quá lãng phí. Chẳng ai muốn vất bỏ những loại thuốc đắt tiền nếu như nó vẫn còn hiệu quả, vì vậy, quân đội đã yêu cầu Cơ quan Quản lý thực phẩm và dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) thực hiện chương trình thử nghiệm về khả năng kéo dài thời gian sử dụng các loại thuốc sau khi đã hết hạn ghi trên bao bì.
Thật bất ngờ, FDA công bố 88% trong tổng số hơn 3.000 lô của 122 sản phẩm thuốc hoàn toàn có thể sử dụng sau khi hết hạn tới hơn 15 năm. Ngay sau đó, FDA đã thực hiện chương trình gia hạn sử dụng cho 2.652 lô thuốc dự trữ trong kho của Bộ Quốc phòng Mỹ. Thời gian gia hạn trung bình là 66 tháng, dao động từ 12 đến 184 tháng, tối đa 278 tháng, tức hơn 23 năm.
Có 12% thuốc không được FDA gia hạn, đó là những kháng sinh đường tiêm, aspirin, nitroglycerin, insulin, kháng sinh mefloquine điều trị bệnh sốt rét và thuốc chống dị ứng epi-pens và sinh phẩm y tế. Mỗi thuốc không được phê duyệt có lý do khác nhau. Ví dụ tetracycline, kháng sinh này rất phổ biến ở thế hệ chúng tôi khi bé, đến nỗi tất cả “con cơ quan” bố mẹ tôi đều có “bộ răng tetracycline”. FDA không phê duyệt gia hạn sử dụng, vì tetracycline bị thoái hóa sẽ gây tổn thương ống thận, gọi là hội chứng Fanconi.
Hạn sử dụng ghi trên bao bì có nghĩa gì? Kể từ năm 1979, FDA yêu cầu các nhà sản xuất thuốc phải ghi hạn sử dụng lên bao bì thuốc, dựa trên cơ sở một số thử nghiệm về tính ổn định của thuốc. Cụ thể là ghi tháng và năm, kèm theo một trong số các từ “expiry, expiry date, expires, exp, exp date, use by, use before, best before”.
Để xác định ngày hết hạn của một loại thuốc, nhà sản xuất tiến hành nghiên cứu sự phá hủy của thuốc ở các ngưỡng nhiệt độ và độ ẩm khác nhau, đồng thời đánh giá sự xuống cấp của thuốc theo thời gian. Dựa vào nghiên cứu đó, công ty dược đề xuất ngày hết hạn. Hầu hết các thuốc hết hạn sau hai đến ba năm.
Vì lý do trách nhiệm pháp lý, các nhà sản xuất chỉ đưa ra khuyến nghị tính ổn định của thuốc cho đến đúng ngày hết hạn. Tuy nhiên, theo nghiên cứu của FDA từ năm 1985 đến năm 2017, ngày hết hạn ghi trên bao bì thuốc chỉ có ý nghĩa nhà sản xuất đảm bảo tính ổn định của thuốc trong khoảng thời gian đó.
Cantrell Lee, giáo sư dược lý học lâm sàng tại Đại học California, giám đốc phân khu San Diego của Hệ thống Kiểm soát ngộ độc California cho biết, bản thân chưa thấy tài liệu khoa học nào nói về thuốc hết hạn gây ra bất kỳ vấn đề nào ở người.
Năm 2012, Cantrell cùng với Roy Gerona công bố một nghiên cứu trên tạp chí JAMA về các thuốc kháng histamine, thuốc giảm đau và thuốc giảm cân được tìm thấy ở phía sau quầy thuốc. Kết quả phân tích những thuốc này vẫn giữ nguyên giá trị sau 40 năm.
Roy Gerona cũng là nhà nghiên cứu của Đại học California, chuyên gia phân tích hóa chất. Lớn lên ở Philippines, Gerona đã chứng kiến những người khỏi bệnh bằng cách uống thuốc hết hạn mà không có tác dụng phụ rõ ràng.
Gerona là một dược sĩ và Cantrell là một nhà độc học, cả hai đều cho rằng, thuật ngữ “ngày hết hạn – expiration date” là một cách gọi chưa hoàn toàn chính xác, đã gây ra sự lãng phí vô cùng lớn. Bệnh viện Newton-Wellesley thuộc thành phố Boston, nơi có 240 giường bệnh điều trị nội trú, riêng năm 2016 phải tiêu hủy số thuốc quá hạn với số tiền 200 ngàn USD. Trung tâm y tế Tufts gần đó, mỗi năm tiêu hủy số lượng thuốc gấp bốn lần, lên tới 800 ngàn USD.
Năm 2016, kho dự trữ thuốc của quân đội Hoa Kỳ lên tới 13,6 tỷ USD, FDA chi phí số tiền 2,1 triệu USD để thực hiện chương trình gia hạn sử dụng thuốc để tránh bị tiêu hủy. Kết quả thu được tiết kiệm cho chính phủ Mỹ 2,1 tỷ USD. Có thể hình dung việc làm của FDA đã mang lại lợi nhuận rất lớn: chi ra một USD để tiết kiệm 677 USD.
Năm 2000, Hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ đứng trước cuộc khủng hoảng thuốc, đã thông qua một nghị quyết thúc giục hành động. Hiệp hội này cho rằng, thời hạn sử dụng thuốc “dài hơn đáng kể” so với ngày hết hạn ghi trên bao bì, nếu không gia hạn sẽ gây “lãng phí không cần thiết, chi phí dược phẩm cao và giảm khả năng tiếp cận với các loại thuốc cần thiết cho một số bệnh nhân”. AMA đã gửi thư phối hợp với FDA, Công ước Dược điển Mỹ đưa ra các tiêu chuẩn để gia hạn thuốc và sinh phẩm y tế.
Nhưng AMA đã thất bại, các nhà sản xuất thuốc không đồng ý, vì nhiều lý do. Một trong những lý do, như bài bình luận của Đại học Harvard, rằng có lẽ các công ty dược phẩm thiết lập ngày hết hạn từ hai đến ba năm, thay vì nhiều năm, là nhằm mục đích thương mại bán được nhiều thuốc. Mayo Clinic đưa ra ý tưởng các công ty dược nên ghi ngày hết hạn sơ bộ (preliminary expiration date), sau đó cập nhật hạn sử dụng dựa trên cơ sở những thử nghiệm dài hạn, nhưng các hãng dược vẫn không đồng ý với lý do chi phí quá tốn kém.
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Thuốc hết hạn – Bửu Hồng sưu tầm
Vĩnh Biệt Người Em Gái Hậu Phương Dạ Lan_Lê Văn Hải
Vĩnh Biệt “Em Gái Hậu Phương” Dạ Lan!
Lê Văn Hải
Huyền Thoại “Người Đẹp” Trong Tim Cả Triệu Người Lính VNCH!
Tiếc Thương Giọng Nói ngọt ngào “Em Gái Hậu Phương” Dạ Lan 2 (Hồng Phương Lan) Xướng Ngôn Viên của Đài Phát Thanh Quân Đội VNCH, vừa mới ngừng tiếng nói!
Chút Quen Biết:
Tôi hân hạnh được biết Chị Phương Lan, (giọng nói Dạ Lan trên đài) khi tôi vừa mới lớn, khoảng năm đệ ngũ, đệ tam. Vì nhà tôi là hàng xóm, bên cạnh nhà Thiếu tá Cường, Tiểu đoàn 5 Chiến Tranh Chính Trị. Tôi chơi với Vượng, Hiển, là 2 con trai của TT. Chiều nào thu thanh từ đài Phát Thanh Quân Đội về, cả đoàn nghệ sĩ, thường ghé nhà TT Cường, nghỉ ngơi, vui chơi, ăn nhậu, ca hát.
Dù mới lớn, tối nào tôi cũng đón nghe chương trình phát thanh Dạ Lan. Ôi những lời tâm tình tha thiết, gởi những người trai đang ngoài trận chiến, mịt mù khói lửa. Những đoản văn mơ mộng giới thiệu những nhạc phẩm “tình ca thời chinh chiến”, kèm theo lời tặng đến các chiến sĩ đủ mọi Quân Binh Chủng, rất nồng ấm yêu thương. Chỉ một lần nghe, là nhớ mãi!
Được dịp gặp phía ngoài, tôi hơi chút ngạc nhiên, vì Chị trông không giống như những bức chân dung, mà đã phát cho các Anh Chiến Sĩ. Giọng nói phía ngoài, không ngọt ngào bằng, như khi nghe qua làn sóng phát thanh.
Khi tôi vào quân ngũ, cho đến ngày mất nước thì chưa một lần tôi nghe lại chương trình Dạ Lan cả. Trước nhất tôi không có Radio, thứ hai, trai tráng còn nhiều mục chơi khác sôi nổi hơn nhiều, hơn là ngồi trước cái Radio, thả hồn theo mây gió!
Hôm nay, nghe Chị qua đời, lòng thấy bồi hồi thương tiếc quá, biết Chị trên đất Mỹ này đã lâu, sao tôi đã không kiếm cách liên lạc, hỏi thăm.
Bản tính con người là thế, cứ để đến khi mất, mới thấy tiếc nuối.
Huyền Thoại 2 Dạ Lan, 1 Tiếng nói!
Nhiều người không biết, có 2 Dạ Lan, cùng một “Tiếng nói của những em gái hậu phương!”
Đầu thập niên 1960, ở miền Nam Việt Nam chưa có vô tuyến truyền hình, phải đến năm 1966, mới thành lập đài truyền hình ở Saigon. Thời điểm này, người ta chủ yếu đón chờ thông tin từ 2 đài phát thanh chính, đó là Đài Tiếng Nói Việt Nam và Đài Phát Thanh Quân Đội. Thường là sau bữa cơm chiều, rất nhiều người “ghiền”, nhất là các anh chiến sĩ xa xôi, canh mở Radio, để nghe Dạ Lan “Em gái hậu phương” tâm tình và giới thiệu những bài nhạc mới.
Dạ Lan 1
Dạ Lan là chương trình của Đài Phát Thanh Quân Đội thời kỳ 1964 đến1975. Nhằm an ủi và nâng cao tinh thần binh sĩ, trong đó lấy âm nhạc làm phương tiện chính. Chương trình bắt đầu được phát sóng năm 1964 và xướng ngôn viên là cô gái xưng tên là Dạ Lan. Chương trình phát thanh này được phát mỗi đêm trên làn sóng dành riêng cho quân đội, có công suất rất mạnh, có thể nghe từ Bến Hải, đến Cà Mau, nghĩa là khắp dải đất miền Nam.
Trong hồi ký của nhà văn Văn Quang, kể về quá trình hình thành chương trình Dạ Lan như sau:
“Vào khoảng đầu thập niên 1960, Đại tá Trần Ngọc Huyến là người có sáng kiến tạo ra Chương trình Dạ Lan trên Đài Phát Thanh Quân Đội. Ngay sau khi ra mắt, chương trình này được hầu hết quân nhân yêu thích. Dần dần trở thành chương trình được mến mộ nhất của đài.
Nhưng hơn một năm sau, vì lý do riêng, nữ xướng ngôn viên Xuân Lan xin nghỉ việc, dọn về Đà Lạt. Đài Phát thanh Quân Đội bèn chọn một nữ xướng ngôn viên khác, có giọng nói y hệt Xuân Lan, khiến thính giả không thể phân biệt được, đâu là người mới đâu là người cũ. (Đài cũng cố tình cho người nghe hiểu lầm như thế, nên đã không có một lời đính chính.) Người tiếp tục chương trình Dạ Lan, cũng do một sự tình cờ, lại vẫn có tên thật là Lan, Hồng Phương Lan.
Dạ Lan 2
Hai tiếng Dạ Lan có thể hiểu đó là một loại “hương thơm quyến rũ về đêm.” Cũng có một sự trùng hợp, tên 2 nữ xướng ngôn viên cùng có tên là Lan. Xuân Lan hay Phương Lan, nên có thể hiểu là một tên chung và cũng là tên riêng.
Chị Phương Lan làm việc tại Đài phát thanh Quân Đội cho đến phút cuối của Sài Gòn năm 1975. Như thế, thời gian Chị làm xướng ngôn viên Chương trình Dạ Lan khoảng 6 đến 7 năm.
Chương trình Dạ Lan được phát thanh từ 7 giờ đến 9 giờ tối mỗi ngày, bắt đầu bằng lời giới thiệu ngọt ngào:
“Đây là chương trình Dạ Lan, tiếng nói của những người em gái hậu phương, gửi những anh trai tiền tuyến”.
Xướng ngôn viên của chương trình, là giọng nói một cô gái Bắc ngọt ngào. Ngoài những thông tin thời sự, phần hấp dẫn nhất của chương trình, là phần nhạc và phần thư tín.
Nhưng đối với những “anh trai tiền tuyến”, họ chỉ cần nghe được giọng Dạ Lan hàng đêm, nên cô xướng ngôn viên nghiễm nhiên là “linh hồn” của chương trình. Là đại diện của những người em gái hậu phương, hàng đêm nhỏ to tâm tình cùng các anh lính khắp miền đất nước. Trở thành “Người Tình Trong Mộng” của biết bao nhiêu chàng trai thế hệ.
Chương trình không ngờ thành công vượt bậc. Thư từ các chiến sĩ, nhất là từ các vùng đất xa. Thể theo lời yêu cầu, nên Cô Hoàng Xuân Lan được cho phép đi chụp hình in thành (carte postale) ảnh để trong bóp, để gửi tặng anh em chiến sĩ ngưỡng mộ. Bức ảnh được in trên bìa báo Xuân Chiến Sĩ Cộng Hòa năm 1965, do nhà nhiếp ảnh nổi tiếng Nguyễn Kỳ ở Saigon chụp vào thập niên 60.
Một số hình chụp cô Xuân Lan, “em gái hậu phương Dạ Lan” cũng được ấn hành, để gởi tặng đến các chiến sĩ tiền đồn. Nhiều anh còn phóng lớn treo ngoài vọng gác!
Tuy vậy nhân vật số 2 “em gái hậu phương Dạ Lan” thì chưa bao giờ xuất hiện trên truyền hình, báo chí hay sinh hoạt văn nghệ ngoài đời. Mà chỉ duy nhất qua làn sóng điện, vì ngoài đời nhan sắc cô không có gì gọi là “nghiêng nước, nghiêng thành” gì cả.
Nhưng Cô cũng nhận được không ít thư từ tỏ tình với cô, của các “anh trai tiền tuyến” Nhiều anh tiền tuyến đi phép về Sài Gòn, có tìm đến Đài phát thanh Quân Đội, nhưng không bao giờ gặp được Dạ Lan bằng xương bằng thịt.
Dạ Lan 2, Không Phải Là Người Bắc, Mà Là Người Trung, Muôn đời vẫn là … “Người Tình Không Chân Dung!”
Thực ra Hồng Phương Lan (Dạ Lan 2) là người Huế, nhưng lạ, là lại có giọng Bắc chính hiệu. Cô làm ở đài phát thanh quân đội từ những năm 1957 đến 58, trước cả Xuân Lan. Không ai biết mặt và biết tên Dạ Lan cả. Nên tên Dạ Lan có thể là bất cứ người nào. Vì vậy Dạ Lan được xem là người đẹp “huyền thoại”, ai muốn tưởng tượng Dạ Lan là ai, như thế nào cũng được.
Sau 75, thương nhớ đến chương trình Dạ Lan, nhiều người lại thắc mắc về xuất thân của Dạ Lan và số phận của 2 cô ra sao. Nhờ đó, các thính giả sau này mới biết được có 2 cô Lan, và sau đó, người ta đã liên lạc được với cả 2 cô.
Qua sự thăm hỏi của nhiều người, cuối cùng người ta được biết, cô Hoàng Xuân Lan (Dạ Lan 1) hiện đang sống ở Saigon và cô Hồng Phương Lan (Dạ Lan 2) đang định cư tại S.Carolina, và cho đến giờ này, lạ là trong thư từ và cả email giao thiệp cả hai cô, đều ký tên mình là Dạ Lan.
Kết
Dù 2 cô là ai, không quan trọng, nhưng giọng nói êm ái đầy tình thương tình mến Dạ Lan, vẫn sống mãi trong tim, hàng triệu những người Trai, một thời khoác bộ Quân Phục, cầm súng gìn giữ Quê Hương Miền Nam tự do, no ấm trên 20 năm. Dù cuộc chiến đã qua gần nửa thế Kỷ, giọng nói “cô em gái hậu phương” ngọt ngào có tên Dạ Lan vẫn thổn thức mãi trong tim những người Lính VNCH!
Kiếp người, rồi cuối cùng, cũng phải chia tay! “Những người muôn năm cũ, hồn…ở đâu bây giờ!”
(LVHải tổng hợp, như một nén hương, dâng người đã khuất!)
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Vĩnh Biệt Người Em Gái Hậu Phương Dạ Lan_Lê Văn Hải
Tôi là người nước nào?_Đỗ Chiêu Đức
TÔI LÀ NGƯỜI NƯỚC NÀO?
Đỗ Chiêu Đức
Bài viết dưới đây, của một người Việt gốc Hoa ,thể hiện sự biết ơn của mình đúng tinh thần ”Ăn cây nào, rào cây nấy”.Khởi đầu theo tác giả ,bài viết chỉ là “Đôi Điều Tâm Sự” mình gởi cho bạn bè đọc chơi ,nhưng không ngờ được nhiều người thích đăng lên mạng .Mru thấy bài viết hay ,dí dỏm ,chân thực nên mạn phép tác giả chia sẻ cho mọi người cùng đọc.
*****
Dĩ nhiên, tôi là Đỗ Chiêu Đức, được sanh ra ở xã Thường Thạnh và lớn lên ở xã Thường Thạnh Đông, chợ vườn chồm hổm ở Cái Chanh, 5 giờ sáng nhóm đến khoảng 9-10 giờ sáng thì tan chợ. Cái Chanh cách Thị Trấn Cái Răng khoảng 5 cây số đường đất với cầu ván đóng đinh cũng có, mà cầu tre lắt lẻo cũng nhiều, như câu hát ru em mà tôi thường nghe:
Ví dầu cầu ván đóng đinh,
Cầu tre lắt lẻo gập ghình khó đi….
Nên mặc dù là người Việt gốc Hoa (Triều Châu), tôi chỉ biết gọi Cha Mẹ Anh Chị bằng Pá Má Hia Chế và các từ thông dụng như Ăn cơm, ăn cháo là ” Chìa bừng, chìa múi…” ra, thì toàn bộ sinh hoạt gia đình đều bằng tiếng Việt của Nam kỳ Lục Tỉnh. 7 tuổi vào trường làng học lớp Đồng Ấu, học đánh vần với quyển Con Gà Con Chó, với các thành ngữ sau khi đã qua vần ngược là:
* Dùi đánh đục, đục đánh săng.
* Ách giữa đàng , mang vào cổ.
* Ăn bữa giỗ, lổ bữa cày.
* Đặng buồng nầy, xây buồng nọ.
* Ăn thì có, ó thì không…
Tôi lại nổi tiếng đánh Cờ Nhào giỏi nhất đám con nít ở Cái Chanh. Một hôm, có Bác Ba ở xóm Ông Cò Nhỏ nghe tiếng tôi tìm đến đánh thử, Bác ghìm với tôi chừng nửa tiếng đồng hồ, rồi cũng bị tôi lừa thế nhào đôi một cái, bác chỉ còn có 8 con cờ, đang tìm cách gở gạt, đi lầm một nước, tôi lại được dịp nhào ba, còn có 5 con cờ thua là cái chắc. Bác Ba xô bàn cờ đứng dậy, xoa đầu tôi và khen : ” Con Tùa Hia thông minh thiệt !”. Tôi nổi tiếng ” thông minh” từ đó ! 10 tuổi ( 1958) ra chợ Cái Răng học chữ Hoa, cậu tôi mới dạy cho tôi đánh cờ Tướng, và câu chuyện bắt đầu từ đây…
Trước 10 tuổi, lớn lên và học chữ Việt ở xã Thường Thạnh Đông, chợ Cái Chanh. Tôi là một đứa bé nông thôn nhà quê Việt Nam thuần túy. Khi ra đến Thị Trấn Cái Răng học chữ Hoa ở Trường Tiểu học Tân Triều của người Hoa sáng lập, tôi mới thấy được chiếc xe hơi Traction chạy đưa khách từ Cái Răng đi Cần Thơ, phố xá nhà lầu hai ba từng, và điều làm tôi ngạc nhiên nhất là một hôm đang trên đường đi tới trường, thì có mấy đứa nhỏ cũng đi học ở một trường Việt gần đó, chỉ trỏ và nói rằng : Mấy đứa “Ba Tàu” giàu hơn mình, đi học phải mang giày, còn mình thì đi chân không thôi ! Tôi không biết “Ba Tàu” là gì, nhưng rồi cũng phải biết, vì 2 tiếng “Ba Tàu” nầy theo tôi suốt thời gian niên thiếu, như khi chuyển sang học luyện thi bằng Tiểu Học ba tháng, lớp tôi 11 đứa đậu được 10 đứa, thì các bạn ở trường Việt lại khen : Mấy đứa “Ba Tàu” nầy giỏi thiệt. Một tháng sau, tôi đậu luôn vào Đệ Thất của trường Trung học Phan Thanh Giản Cần Thơ, thì lại nghe : Cái thằng “Ba Tàu” đó giỏi qúa ! Hai năm sau (1964), tôi đi thi ẩu … và đậu luôn bằng Trung Học Đệ Nhấp Cấp. Mấy anh học Đệ Tứ thi rớt lại mĩa mai một cách thán phục : Cái thằng “Ba Tàu” đó mới học Đệ Lục mà, sao mà đậu bằng Trung Học được ?!
16 tuổi (1964), Tôi và ông bạn Liêu Chương Cầu lên Chợ Lớn làm lao công trong trường Phước Đức ở số 226 đường Khổng Tử (nay là trường Trần Bội Cơ). Chợ Lớn là nơi kinh doanh buôn bán của người Quảng Đông, cả người Việt vào Chợ Lớn buôn bán cũng biết nói tiếng Quảng Đông. Tôi là người Tiều Châu, tiếng Tiều còn nói không rành, làm sao biết tiếng Quảng Đông mà nói. Tôi và ông bạn Cầu chỉ lỏm bỏm được vài câu Quan Thoại cà chật cà vuột, nên nhiều khi văn phòng hoặc thầy cô giáo sai biểu hoặc nhờ cậy điều gì, phải nói tới nói lui mấy lần hoặc phải ra dấu thì mới hiểu được, nên các thầy bà đó gọi chúng tôi là “Ón Nàm Chẩy 安南仔” (tiếng Quảng Đông có nghĩa là “Thằng An Nam“). Và không chỉ ở trong trường, đi mua đồ, hay đi ăn cơm ở các sạp cơm bình dân, vì đang tập nói tiếng Quảng Đông nên phát âm không chuẩn, họ vẫn gọi chúng tôi là “Ón Nàm Chẩy” như thường.
50 tuổi (1998), định cư ở Mỹ, rồi phải chạy theo cuộc sống ở đây, đâu có thời giờ để mà đi học tiếng Anh. 56 tuổi (2004) nhập quốc tịch Mỹ, nhưng nói chuyện với Mỹ vẫn “mỏi tay” như thường! Và mấy người Mỹ làm chung ở trường học vẫn gọi tôi bằng Vietnamese mặc dù tôi đã là công dân Hoa Kỳ rồi, nghĩ có tức không?! Nhưng nếu nói mình là người Mỹ, thì mình có nói rành tiếng Mỹ đâu mà câu mâu!? Nhưng, đây cũng là một điều bất công rất tự nhiên trên nước Mỹ: Người Đức, Người Ý, Người Pháp, người Anh… nói chung là người da trắng, khi nhập tịch Mỹ là thành ngay Mỹ Trắng. Người Châu Phi bất kể nước nào, nhập tịch Mỹ, thì thành Mỹ Đen. Nhưng người “da vàng mũi tẹt” nhập tịch Mỹ, không có ai gọi là “Mỹ Vàng” cả ! Ngay cả người da vàng với nhau, gặp nhau cũng hỏi: where do you come from? (Bạn từ đâu đến đây?) Ý muốn hỏi, bạn là người đến từ Đài Loan, Nhựt Bổn, Việt Nam, Đại Hàn, Phi Luật Tân…
Dưới 10 tuổi ở Cái Chanh, tôi là em bé quê Việt Nam, khi ra đến chợ Cái Răng thì thành “Ba Tàu”, lên đến Chợ Lớn thì lại thành “Ón Nàm Chẩy”. Qua đến Mỹ, mặc dù đã nhập tịch rồi vẫn bị gọi là Vietnamese!!! Việt Nam chê, gọi tôi là “Ba Tàu”, nhưng họ chưa chắc đã giỏi tiếng Việt bằng tôi. Cũng như Tàu chê tôi, gọi tôi là “Thằng An Nam”, nhưng họ cũng đâu có giỏi tiếng Tàu bằng tôi đâu! Chỉ có Mỹ chê, gọi tôi là Vietnamese thì tôi chịu, vì tôi nói tiếng Mỹ rất “mỏi tay”. Rốt cuộc, Đỗ Chiêu Đức là người gì đây?!
Nhờ các tiền bối, thân hữu “xử” dùm xem, Đỗ Chiêu Đức là người nước nào?
( Chinese, Vietnamese or American ?) Nay kính, Đỗ Chiêu Đức
TB: Hỏi chơi thôi! Chớ tôi là người Việt Nam chính hiệu mà! Sanh ra và lớn lên ở VN, nơi chôn nhau cắt rún là VN, mồ mả ông bà tổ tiên ở VN, cha mẹ còn ở VN, anh em con cháu còn ở VN … Chỉ có cái “gốc Hoa” mà thôi! Mà đã là “gốc” thì mình đâu có chọn lựa được! Qua Mỹ 20 năm (1998-2018) tôi không có về thăm “gốc” lần nào cả, vì có biết ai bên đó đâu mà “thăm”, có thăm thì cũng có ai biết mình là ai đâu mà “viếng”! Nhưng, tôi lại về VN đến 10 lần, cứ chắc mót 2 năm đủ tiền mua vé máy bay là vợ chồng tôi lại bay về VN thăm Cha Mẹ, em út, con cháu và bà con cô bác …. Đặc biệt năm 2013 về VN đến 2 lần vì Ba tôi mất …
Không phải chỉ riêng tôi, mà tất cả người Việt gốc Hoa đều như thế cả ! Về thăm Trung Quốc chỉ là để du lịch khi dư dả, còn về thăm thân nhân ở VN mới là chánh …Người Hoa ở VN cho con cái học tiếng Hoa vì sợ mất gốc, cũng giống như người Việt Nam chúng ta hiện nay ở Mỹ cho con cái học tiếng Việt Nam cũng chỉ vì sợ mất gốc mà thôi!
Hỡi ôi ! Buồn thay cho ” Cái thứ Ba Tàu !”
Đỗ Chiêu Đức

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Tôi là người nước nào?_Đỗ Chiêu Đức














Bạn phải đăng nhập để bình luận.