“Trịnh” là một đề tài chưa bao giờ thu hút khán giả!
“Em và Trịnh” là một phim hư cấu về T C S, thực ra với cả cuộc đời ông Trịnh thì khán giả chưa bao giờ có chút cảm giác tò mò hay háo hức, cũng như có ý định tìm hiểu và “ngưỡng mộ” cả.
Trịnh có hình dong ốm nhách, mặt mày lợt lạt, dáng yếu xìu, người mái mái, tái tái.Cái giọng thì quá âm nhu thiếu sức sống, chậm chạp yếu ớt thiếu sinh khí ở đời thực.
Với đàn bà, có cảm giác Trịnh chỉ như “hửi bụi” kiểu “để bà ngửi chớ bà không ăn”. Thành ra nhiều thư từ yêu thương, nhiều giai thoại cũng chỉ là …giai thoại khẳng định Trịnh không phải gay. Song tình Trịnh mang tính chất tình “thơ”, tình “ảo”, tình “lãng mạn”. Mà cái gì có chữ lãng cũng dễ thành “lãng nhách”, “lãng gian” lắm.
Về âm nhạc thì T C S là tác giả lớn, không ai chối đặng. Song cái lớn của ông là sự mong manh, mõng mãnh kiểu “hư” nhiều hơn “thực”.
Nhiều người khen nhạc Trịnh mộng mị, có chất thiền, nhìn thấy vô cùng thiền, nhưng nghe thường vài bài rõ ràng cái mộng mị đó là do ông nhiều khi tráo chữ, tức là trong cơn say rượu và khói trắng mà phóng bút ra, chữ tuôn ào ạt và nhiều chữ lại vô hình chung không có nghĩa gì ráo trọi.
Mưa chữ lộn xộn!
Không ai qua T C S về ca từ viết “năm non bảy núi”, con chữ minh mông, lê thê, vòng vèo. Có lẽ ông cũng không ngờ ổng viết ra mà thiên hạ quy cho là có hơi hám “thiền”, dù nhiều câu chẳng hiểu mùi gì trong đó.
Nhiều khúc nhạc nghe là hay đó, nhưng chẳng thể nào xa hơn, vì nó chẳng có nghĩa gì hết. Nghe tằng tắng tăng chơi vui, không hiểu muốn nói gì.
Trịnh cũng hay nói ra những câu ít ai hiểu nghĩa nó là gì, thí dụ:
“Con người sinh ra vốn bất toàn và để làm những điều lầm lỗi.
Nó đẹp vì bất toàn
Nó đáng yêu vì nó luôn luôn lầm lỗi
Vậy thì cứ yêu mà đừng tuyệt vọng…”
T C S chơi rất thân với cố chuẩn tướng Lưu Kim Cương, có lẽ bài “Cho một người vừa nằm xuống” là nghe dễ hiểu nhứt:
“Anh nằm xuống sau một lần đã đến đây
Đã vui chơi trong cuộc đời nầy
Đã bay cao trong vòm trời đầy
Rồi nằm xuống, không bạn bè, không có ai
Không có ai, từng ngày, không có ai đời đời
Ru anh ngủ vùi, mùa mưa tới trong nghĩa trang này có loài chim thôi!”
T C S gắn với nhạc “phản chiến”, có chữ “phản” trong “chiến”.
Mặc dù nhạc da vàng của ông có thể gây ấn tượng, song về bản chất của một người trai với những thứ cần rặc ròi với quyền lợi, chánh kiến của Miền Nam thì ông hay bị thiên hạ hoài nghi.
T C S không làm tròn nghĩa vụ người trai sống thời chiến.Trịnh Công Sơn là một thanh niên trốn quân dịch và cứ trốn, tìm mọi cách làm mình ốm nhách đặng trốn quân dịch.
T C S là một người đàn ông xìu xìu ển ển từ thanh niên tới khi về già và cả trước khi chết. Cái khí chất lịch sự mà ông thể hiện với công chúng là yếu đuối, nhu nhược chứ không mạnh mẽ.
Cuộc đời ông lúc nào cũng lơ lơ lửng lửng, lưng chừng. Chánh kiến không rõ ràng, đàn ông pha chút âm nhu, không tiến không lui, không tà không chánh với sở trường nói những điều mộng mị. Tới chết lập trường sống vẫn không rõ ràng!
T C S lại không có chánh kiến rõ ràng, nên dù nhạc Trịnh cũng được xếp là “rất hay” nhưng thiên hạ vẫn cảnh giác với Trịnh.
Trong dòng đời này ai cũng phải chọn một chánh kiến và một lý tưởng đặng mà sống, đặng an ủi, chở che tâm hồn mình. Ai cũng chọn lựa cho mình một lý tưởng. Nhưng hình như Trịnh thì không.
Trịnh suốt đời hoang mang và lại cố công tạo ra một thế hệ trẻ không biết đứng không biết ngồi, lúc nào cũng mộng mị giữa trưa nắng đặng tự nhốt mình vào cái thế bí của “đời người”, tự mình nhét mình vô thế bít đường của tâm tưởng với rượu và khói trắng.
Một thế hệ fan sẽ hoang mang vì nghe nhiều nhạc Trịnh.
Một thế hệ bắt chước đời sống như Trịnh khi cứ càm ràm “Tiến thoái lưỡng nan”cả đời tới khi tắt thở.
Thành ra những bộ phim về Trịnh ít ai coi, chưa bao giờ thu hút khán giả là vì vậy. Ai dám làm phim về đề tài Trịnh thì phải phục là họ thích Trịnh dữ lắm.
Cuộc đời Trịnh có cái gì hay ho mà học hỏi.
Xin lỗi! Nếu T C S có từng yêu bà Tuyết Mai, Lâm Thanh Hà hay bà Thẩm Thúy Hằng cũng không phải là điều mà thiên hạ cần chú ý.
Nguyễn Gia Việt
(Nguồn: Fb Nghia Van)







VC Thảm Sát Tù Binh Giờ Thứ 25
Đôi mắt người Sơn Tây của tôi
Hồ Gươm cây cối xanh tốt với nhiều cây sấu, bàng lá đỏ, rặng phượng thắm và liễu ướt đẫm sương đêm rũ bóng mặt hồ xuất hiện sau làn sương mỏng. Sương xuân và hoa đào của Vũ Thư Hiên? Mặt hồ với những đợt sóng lăn tăn vỗ nhẹ nhàng, trông giống như một tảng thạch bích xanh mướt giữa lòng thủ đô. Tôi ngồi xuống một ghế đá ven bờ, châm điếu thuốc đưa mắt nhìn Tháp Rùa rêu phủ, Tháp Bút, đền Ngọc Sơn và cầu Thê Húc màu son đang bừng lên trong nắng mai và nhớ về…








Trong một khách sạn sang trọng do Bộ Ngoại giao Mỹ mướn cho ở, Phạm Minh Chính đang định đi cầu thì chuông điện thoại reo. Đầu dây bên kia là Trọng Lú, giọng gắt gỏng:
Sài Gòn xưa: Trăm nghìn nhánh khổ
Tôi năm nay 21 tuổi, đang du học tại Mỹ. Kết thúc 4 năm Đại học, tôi muốn về Việt Nam. Nhưng ai cũng ngăn cản: ‘Đi đi, đừng về!’
Dẫn cả một phái đoàn chính phủ đi công du tại quốc gia được cho là cường quốc số một thế giới mà lại không hề ý tứ, cẩn thận trong phát ngôn. Tại thủ đô của Hoa Kỳ, trong phòng họp của họ, mà lại ăn nói một cách vô giáo dục, lịch sự tối thiểu cũng cóc cần. Ông Phạm Minh Chính và thuộc cấp bình luận vô tư vể các quan chức Mỹ, gọi phái đoàn người ta là “nó” mà quên hẳn việc có thể bị ghi âm và ghi hình, một cách công khai hay bí mật (Hoa Kỳ cũng thuộc loại chúa ghi âm, nghe lén, thậm chí cả đồng minh châu Âu). Một sự điên rồ, ấu trĩ về ngoại giao của Hà Nội.
Chúng ta phải biết rằng NGÃ CHẤP thuộc về thức của Ý. Đối tượng của Ý là ngã tướng. Hình thái nhận thức của Ý là một hình thái nhận thức sai lầm. Ngã tham, ngã sân, ngã kiến, ngã ái tạo thành một cái THẤY BIẾT không còn BÌNH ĐẲNG nữa vì do pháp chấp và ngã chấp chúng nằm sâu bên trong chúng ta, cho nên những hoạt động hàng ngày phải được QUÁN CHIẾU vể VÔ THƯỜNG, VÔ NGÃ và KHÔNG của mọi hiện tượng để NGÃ và PHÁP CHẤP cùng sanh ra một lượt với chúng ta lần lần tan rã theo năm tháng. Điều này có nghĩa là TÂM-Ý-THỨC lệ thuộc vào dòng TÂM – TƯƠNG – TỤC đi liền trước đó nó bao gồm hết thẩy mọi thứ của Sắc Tưởng, Thanh Tưởng, Hương Tưởng, Vị Tưởng, Xúc Tưởng,v.v… của 5 thức GIÁC QUAN vốn dĩ là chưa tạo NGHIỆP, và để cho 5 thức GIÁC QUAN được an trụ chúng ta phải nương vào KIẾN PHẦN của TÀNG THỨC mà tạo ra một đối tượng là CHÂN NHƯ và KHÔNG của thế giới bản thể mà chúng ta ví dụ như là “NƯỚC”. 5 Thức Giác Quan gồm nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức chỉ có thể tiếp xúc với thế giới biểu hiện mà thôi mà chúng ta thường ví dụ là “SÓNG” tức thực tại của sanh diệt. Cái ví dụ về “SÓNG” và “NƯỚC” rất hay vì NƯỚC chưa từng rời SÓNG và SÓNG cũng chưa từng rời NƯỚC. Nó cho phép chúng ta quán chiếu thấy thực tại của CHÂN NHƯ và KHÔNG (“Nước”) biểu hiện thành thực tại SANH DIỆT (“Sóng”). Khi 5 thức GIÁC QUAN bị mê mờ đầy phiền não thì cái nhận thức về “SÓNG” nó sai lầm nhưng khi đã trừ khử được những kiến hoặc sai lầm đó rồi thì 5 Thức có thể nhận thức rõ bản thân thực tại, nhưng thực tại mà 1 trong 5 thức GIÁC QUAN đó nhận thức cũng vẫn là “SÓNG” tuy nhiên không còn sai lầm nữa. Ở đây chính là lúc trở về được trong cái thấy chỉ là THẤY , trong cái NGHE chỉ là cái nghe, trong cái thọ tưởng chỉ là Thọ Tưởng, trong cái thức tri chỉ là Thức Tri, thanh tịnh trong sáng như nó đang là một cách mới mẻ tinh khôi không có cái bản ngã ở trong, ở ngoài, ở chặng giữa. Vì vậy khi mà Quán về Chân Như và về Không qua phương diện hiện tượng bằng Thiền Minh Sát (Vi-passana) thì những đợt “SÓNG” này trình diện cái không sanh, không diệt, không tới, không đi, không một, không khác, không còn, không mất; ngay lúc đó đạt được TÁNH BIẾT thấy Pháp; cái thấy đúng thực tại gồm KIẾN PHẦN và Tướng Phần nó tương tức, tương nhập không còn chủ thể đối tượng, chúng gần như đã bốc khói trong cái Thấy Biết của Thiền, của Sát na hiện hữu. Do vậy mà Krisnamurti mới bảo CHÂN LÝ là cái mà ta có thể sờ đụng được; Riêng các Thiền Sư thì bảo: “Xúc mục vô phi thị ĐẠO”, nghĩa là bất cứ gì mà ta chạm mắt vào đều hết thảy là ĐẠO. Vậy thì từ cái thực tại sanh diệt là “SÓNG” mà trở lại với cái thực tại BẢN THỂ CHƠN NHƯ là “NƯỚC” tịch nhiên bất động thúc đẩy ngăn ngừa không cho THỨC của Ý tham gia vào 5 Thức GIÁC QUAN thì đó là cái THẤY của Thiền Sư Bạch Ẩn. Ngài động thân phát ngữ từ CHÂN NHƯ khởi niệm “Thế À” rất nổi tiếng. Câu chuyện được truyền tụng: Vào thời đại của Thiền Sư Bạch Ẩn, trong vùng có một gia đình phú hộ ở gần am thất của Ngài. Người con gái trong gia đình này lén lút mang thai bởi cậu giúp việc, cha mẹ gạn hỏi cô thì cô bảo là do gần gũi hầu hạ Thiền Sư Bạch Ẩn. Cô nghĩ chỉ còn cách vu oan giá họa cho một nhân vật nổi tiếng thì may ra mới thoát được sự rầy la của cha mẹ. Khi bào thai gần đến kỳ sinh nở, cha mẹ cô tới am thất mà nói rằng “Ông” là chủ nhân của cái bào thai trong bụng con gái ông!. Thiền Sư yên lặng trả lời “Thế À” và khi đem đứa con đến giao cho Bạch Ẩn, Ngài cũng nói “Thế À” mà nhận con. Nhưng thái độ kỳ lạ nhất của Thiền Sư Bạch Ẩn là ôm đứa con trong lòng ra chợ xin sữa cho bé khỏi chết là do ở đâu khởi niệm? Khởi niệm từ đâu? Chính là từ Chân Như mà khởi niệm nên vẫn còn thanh tịnh! Đến khi người con gái là mẹ của đứa nhỏ không còn chịu đựng được nữa bèn đến Bạch Ẩn xin lại đứa con thì Ngài trao đứa bé với vỏn vẹn hai chữ “Thế À”. Và “Thế À” ở giai đoạn này rất là mới mẻ tinh khôi, không có sự dính dáng hay lập lại của “Thế À” ở chặng đầu, ở chặng giữa. Ngài Bạch Ẩn luôn luôn sống trọn vẹn trong khoảnh khắc hiện hữu tinh khôi mới mẻ nên gọi là người Đạt Đạo: “Nhập lâm bất động thảo”, “Nhập thủy bất động ba” (Vào rừng không đạp cỏ – Vào nước không dậy sóng). Nhập Đạo chính là tất cả các pháp mình thấy, mình nghe, v.v… đều như thật (paramattha). Do vậy, thường ngày ta hãy thực tập cái “NGHE RÕ” mỗi khi có ai đến nói gì với mình, ví dụ họ đến nói: “Tôi ghét chị lắm” hoặc “Cái đồ con nhà mất dạy” hoặc “Anh mà tu được cái gì!” thì mình một mực “Nghe Rõ” vậy thôi. Nghe rõ từng chữ, từng lời, đó là áp dụng trong cái NGHE chỉ là NGHE không để nghiệp thức xen vào chủ động. Ở chỗ này ông Bàng Long Uẩn nói “khó khó khó mười tạ dầu mè leo cây vuột”. Bà Bàng Long Uẩn lại nói “dễ dễ dễ trên đầu trăm cỏ ý tổ sư” còn cô con gái Linh Chiếu thì nói “Không khó cũng không dễ, đói đến thì ăn, mệt ngủ liền”. Cái Thực Hữu CHÂN ĐẾ (paramattha) phải vượt qua hình tướng, tên gọi. “Pháp bổn pháp vô pháp…” như trên hội Linh Khứu Sơn khi Đức Phật đưa cành hoa sen lên trước đại chúng được gọi là “Niêm hoa vi tiếu” để đáng thức TÁNH THẤY luôn mới mẻ tinh khôi nơi những đệ tử của Ngài mà đừng bị kẹt cứng bởi cành hoa. Khi Đức Phật nhìn đến Ca Diếp thì Ca Diếp chúm chím cười. Ngài cười cái gì? Cười với Phật (?) hay cười với cành hoa hồi nãy (?!) Kẹt gì cũng mang lại khổ thôi.

Bạn phải đăng nhập để bình luận.