Khai Bút Đầu Xuân Đợt 2 – TPK xướng

KHAI BÚT ĐẦU XUÂN NHÂM DẦN – ĐỢT 2

CHỈ  MÁNH

Khai bút đầu năm chỉ mánh chơi
Làm sao phú qúy nhất trên đời
Buôn dân bán nước vơ vàng khối
Chạy chức mua quyền hốt hụi thôi
Quy hoạch đuổi nhà xây biệt phủ
Quơ cào móc ruột dựng cơ ngơi
Túi tham miệng rộng mà vô đáy
Sông núi riêng mình cứ việc xơi

CÓC HUẾ

Bài họa 1:

ĐẢNG VÔ ĐỊCH
Bốn bảy Tết rồi đâu phải chơi
Cộng nô giỏi nhất ở trên đời
Chính quyền cướp giựt rồi vơ vét
Cán bộ thâu gom mãi chẳng thôi
Cướp đất đào mồ xây biệt thự
Đuổi nhà quy hoạch dựng cơ ngơi
Thi đua nói phét lừa dân chúng
Tộc Việt ngu ngơ mặc sức xơi./-

TQN.

Bài họa 2:

THẾ THÔI
Tự do dân chủ chỉ trò chơi
Đổi trắng thay đen mới thật đời
Bán tước mua quan mè một lứa
Sâu dân mọt nước thế mà thôi
Tham ô công quỹ hoài không ngớt
Hút máu cùng đinh mãi chẳng ngơi
Đất nước là mồi ngon Đảng cướp
Tha hồ mặc sức xúm nhau xơi

CCR

Bài họa 3:

TỰ NHŨ
Vì đã già rồi sợ cái chơi
Vướng bao nhiêu bệnh ở trên đời
Tiểu dường, bánh ngọt đành từ chối
Áp huyết, bia ngon xin chịu thôi
Thể dục dưởng sinh, gìn sức khỏe
Rượu chè cờ bạc, mất cơ ngơi
Cũng còn ham sống vài năm nữa
Quyết chí thực hành đai-ét xơi.

CÓC NHÀ

Bài họa 4:

XÚM NHAU XƠI
Dân làm nuôi đảng ăn rồi chơi
Một bọn lưu manh ở cõi đời
Bợ đít thằng Tàu dâng biển cả
Bắt tay người Mỹ kiếm đô thôi
Lòng tham vô đáy như dòng chảy
Của cải ngập nhà tợ nước ngơi
Mẹ Việt giống nai tơ mắc nạn
Cả bầy lang sói xúm nhau xơi

CÓC QT

Bài họa 5:

ĐỪNG NGHE CỘNG SẢN NÓI
Bần cố dụ làm cách mạng chơi
Nghèo nàn thất học muốn lên đời  ?
Hy sinh liều chết nhiều hơn nữa
Ám sát giết người quyết chẳng thôi
Cuốc mả đào mồ xây sự nghiệp
Chửi cha mắng mẹ dựng cơ ngơi
Ba đời đổ máu nghe lời phỉnh…
Cướp được của tiền độc Đảng xơi.

CÓC KHÔ

Bài họa 6:

 PHÍ CÔNG
Mánh nầy Việt cộng đã, đang chơi
Đâu đến lượt ta phải dạy đời
Chui rút bày lươn hao sức lắm
Cởi truồng dạy đĩ mất công thôi
Hút khô ruộng biển không trì hoãn
Rỉa sạch núi rừng chẳng nghỉ ngơi
Muốn chỉ làm ơn xin hãy nói
Cách nào để chúng hết còn xơi.

CÓC CHÁT

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Khai Bút Đầu Xuân Đợt 2 – TPK xướng

Nhà Thơ Nguyễn Tất Nhiên – Bài của Đỗ Trường

NGUYỄN TẤT NHIÊN

MỘT TRƯỜNG THIÊN KỊCH BẢN BI AI

(Mục chân dung nhà văn- Đỗ Trường)

social_media

Khi ngôi sao mai Nguyễn Nho Sa Mạc chợt vụt tắt, khoảng trống để lại tưởng như khó có thể bù lấp, thì may mắn thay, trên vòm trời thi ca xuất hiện một Nguyễn Tất Nhiên. Tuy còn tuổi học trò, và khác nhau về thi pháp sáng tạo, nhưng có thể nói, Nguyễn Nho Sa Mạc và Nguyễn Tất Nhiên là hai thi sĩ đích thực. Sự xuất hiện của họ góp phần làm dịu mát, và giải tỏa sự bế tắc của văn thơ, cũng như âm nhạc miền Nam trong giai đoạn chiến tranh khốc liệt nhất của dân tộc.

Đọc và đi sâu vào nghiên cứu, ta có thể thấy, thi sĩ Nguyễn Tất Nhiên tên thật là Nguyễn Hoàng Hải, sinh năm 1952 tại Biên Hòa. Ông là hiện tượng rất đặc biệt của văn học miền Nam. Cái đặc biệt ấy, không chỉ ở tài năng chín sớm, mà ta còn thấy rõ ý tưởng, cũng như hình tượng và ngôn ngữ mới lạ trong thơ Nguyễn Tất Nhiên.

Thật vậy, 14 tuổi (năm 1966) cùng với Đinh Thiên Phương, cậu học trò Nguyễn Hoàng Hải với bút danh Hoài Thi Yên Thi đã cho xuất bản tập thơ đầu tay Nàng Thơ Trong Mắt. Năm 16 tuổi, Hoài Thi Yên Thi in chung tập thơ thứ hai Dấu Mưa Qua Đất cùng với bút đoàn Tiếng Tâm Tình. Và sau khi đổi bút danh thành Nguyễn Tất Nhiên, ông cho xuất bản Thiên Tai vào năm 1970. Thi tập này là thẻ thông hành, đã đưa Nguyễn Tất Nhiên thẳng vào làng văn. Đây là dấu mốc quan trọng nhất trong sự nghiệp sáng tạo của Nguyễn Tất Nhiên. Dù lúc đó ông vẫn còn ngồi trên ghế trung học Ngô Quyền, Biên Hòa. Ngay sau đó, một loạt thi phẩm của Nguyễn Tất Nhiên được các nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang, Phạm Duy phổ nhạc, tên tuổi ông càng đóng đinh vào lòng người đọc nhiều hơn, nhất là giới sinh viên, học sinh. Năm 1978, Nguyễn Tất Nhiên vượt biên, và tị nạn tại Pháp. Và ở đó, nhà xuất bản Nam Á đã ấn hành thi tập “Thơ Nguyễn Tất Nhiên“ vào năm 1980. Khi đến định cư tại Hoa kỳ, Nguyễn Tất Nhiên cho in ấn và phát hành Chuông Mơ (1987) Tâm Dung (1989) cùng thi tập Minh Khúc. Đặc biệt tập nhạc Những Năm Tình Lận Đận của ông sáng tác từ khi còn ở trong nước cho đến ra hải ngoại, do nhà xuất bản Tiếng Hoài Nam, Hoa Kỳ ấn hành, vào năm 1984. Nếu đọc, và nghiên cứu đầy đủ, ta có thể thấy, ba khía cạnh chính làm nên chân dung nhà thơ tài hoa Nguyễn Tất Nhiên: Tình yêu, ý tưởng và những hình tượng trong thơ, cũng như chiến tranh, sự phân ly tác động đến tư tưởng, cùng cuộc sống bế tắc với nỗi đau tuyệt vọng của ông.

Năm 1992, bước vào tuổi bốn mươi, có lẽ trái tim mong manh, dễ vỡ của người nghệ sĩ Nguyễn Tất Nhiên, không vượt qua được cái bế tắc của cuộc sống, cũng như tâm hồn, nên ông đã tự kết thúc cuộc đời mình. Sự ra đi đang ở độ chín, và sung sức nhất của Nguyễn Tất Nhiên, làm cho rất nhiều người ngơ ngác và tiếc nuối. Và khoảng trống ông để lại không hề nhỏ, suốt mấy chục năm qua, chưa người (thi sĩ học trò) nào có thể thay thế, bù lấp.
*Tình yêu, ý tưởng và hình tượng mới lạ trong thơ.

Tình yêu chiếm một vị trí quan trọng nhất trong sự nghiệp sáng tạo của Nguyễn Tất Nhiên. Đọc ông, làm tôi nhớ đến thi sĩ Đinh Hùng. Bởi, cái chất cuồng nhiệt đến tận cùng, với những hành động mà người đời cho là điên điên khùng khùng, tỉnh tỉnh say say ấy trong tình yêu của hai thi sĩ quyện chặt vào nhau đến vậy. Không rõ, Nguyễn Tất Nhiên có đọc, hoặc chịu ảnh hưởng tí ti nào từ Đinh Hùng hay không? Bởi, khi đọc ông sự ám ảnh cứ vẩn vơ đeo bám tôi, y như đọc thơ Đinh Hùng vậy. Tuy nhiên, một chừng mực nào đó, tôi nghĩ, Nguyễn Tất Nhiên có chịu ảnh hưởng ý tưởng, xây dựng hình tượng từ Du Tử Lê, ở một số bài viết vào khoảng năm 1970- 1971. Ta có thể thấy, cùng viết nỗi đau của tình yêu: “ Tình yêu như dao nhọn/ Anh đâm mình, lút cán“ và “ Về như dao nhọn/ ngọt ngào vết đâm“ hai hình tượng so sánh trong Khúc Thụy Du của Du Tử Lê, và Khúc Tình Buồn của Nguyễn Tất Nhiên khá tương đồng. Và tất nhiên, Khúc Thụy Du đã ra đời sớm hơn Khúc Tình Buồn của Nguyễn Tất Nhiên hai năm.

Cái Tôi, cái nghệ thuật vị nghệ thuật là nền tảng, xương sống để làm nên khung thơ Nguyễn Tất Nhiên. Mỗi bài thơ được vắt ra từ cảm xúc của những mối tình đơn độc, nghiệt ngã trong ông. Và thủ thuật đưa tên tuổi thật của người yêu vào thơ, để gõ vào tâm lý (tò mò) của người đọc, nhằm đào sâu vào giá trị chân thực. Tuy nhiên, thủ pháp này, không phải là mới. Bởi, trước Nguyễn Tất Nhiên có Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng hay Du Tử Lê… đã sử dụng nghệ thuật này. Nhưng ở lứa tuổi học trò dám sử dụng, và sử dụng hay như Nguyễn Tất Nhiên, không phải nhà thơ nào cũng làm được. Do những đặc tính trên, nên những bài thơ này, thường có sức sống rất lâu dài. Hoặc trở thành những giai thoại, hay câu chuyện tình sử để lại cho hậu thế:

“…nếu vì em mà ta phải điên tình
cơn giận dữ đã tận cùng mê muội
thì đừng sợ, Duyên ơi, thiên tài yếu đuối
tay tre khô mối mọt ăn luồn
dễ gãy dòn miểng vụn tả tơi xương
khi tàn bạo siết cổ người yêu dấu!
em chẳng bao giờ rung động cũ
ta năm năm nghiệt ngã với tình đầu…“
(Duyên của tình ta con gái Bắc)

Thơ và tình yêu, hai thứ đam mê, cuồng nhiệt nhất đối với Nguyễn Tất Nhiên. Thất bại tình yêu đầu đời như một nhát dao chém tâm hồn ông. Để rồi, mang theo những vết thương bốn mùa luôn mưng mủ ấy, cùng nỗi thất vọng và cô đơn, Nguyễn Tất Nhiên cuộn mình vào trong thơ. Và tưởng chừng thơ ca sẽ làm giảm bớt nỗi đau, giải thoát linh hồn người thi sĩ. Nhưng không phải vậy, bởi cái thất vọng ấy, nỗi đau ấy ủ trong thơ còn nhức nhối, và day dứt hơn sức chịu đựng của con người. Chỗ Tôi, là một bài thơ đã bật ra từ cái ung ủ như vậy của Nguyễn Tất Nhiên. Xét về nghệ thuật, đây là một bài thơ dở của ông, nhưng đọc, ta thấy được sự đắng cay, ê chề, như một lời tự thú của thi nhân vậy:

“Tôi có chỉ cho gia đình
Người tôi yêu
Là một nàng con gái Bắc
Mẹ tôi hai lần nhìn
Dáng em đi
Và nói nó còn nhỏ dại
Không hiểu nó thương mày chỗ nào
Tôi trả lời chỗ con làm thi sĩ
Tuy nhiên tôi vừa đau nhói trái tim
Vì hiểu rằng
Muôn đời
Em vẫn ngó tôi nửa mắt
Có gì đâu
Thiên hạ lâu nay cứ nhạo báng tôi khùng!“

Cũng như Lục bát, thơ Ngũ ngôn rất dễ làm, song khó hay. Bởi, từ thơ đến vè có khoảng cách rất gần, nếu nhà thơ không thực tài. Tuy nhiên, ta có thể thấy, những bài thơ hay của Nguyễn Tất Nhiên thường thuộc về thể thơ này. Ngũ ngôn thơ Nguyễn Tất Nhiên hay, không phải chỉ ở tài năng sử dụng từ ngữ, mà còn ở sự hình tượng hóa, cũng như ý tưởng mới lạ. Nhìn lại văn học sử, dường như chưa ai dám cả gan đưa những hình tượng thánh thiện nơi Thánh đường, cửa Phật để ẩn dụ, so sánh với những cái được cho là kỵ húy như Nguyễn Tất Nhiên. Sự so sánh, tưởng chừng như bất nhã ấy, nhưng thật kỳ lạ, hình ảnh trong thơ Nguyễn Tất Nhiên hiện lên rất độc đáo và tinh tế, đẹp một cách trong sáng và hồn nhiên. Và Ma Soeur là một trong những bài thơ như vậy. Vâng, dù bao nhiêu hạt mưa rơi cũng chưa đủ, chưa thấm bằng tình của người thi sĩ rụng xuống linh hồn thánh thiện ấy:

“vai em tròn dưới mưa/ ướt bao nhiêu cũng vừa/ cũng chưa hơn tình rụng/ thấm linh hồn ma-sơ“.

Một hình tượng so sánh ẩn dụ, dường như, thi nhân muốn khỏa lấp nỗi đắng cay, bất lực, cùng thủ thuật nhân cách hóa, (hay tưởng tượng) để tự ru hồn mình vậy. Đây là bài thơ rất hay của Nguyễn Tất Nhiên. Và Phạm Duy phổ thành ca khúc: Em hiền như Ma Soeur, được nhiều người ưa thích từ gần nửa thế kỷ qua:

“…em hiền như ma-sơ
vết thương ta bốn mùa
trái tim ta làm mủ
ma-sơ này ma-sơ
có dịu dàng ánh mắt
có êm đềm cánh môi
ru ta người bệnh hoạn
ru ta suốt cuộc đời
cuộc đời tên vô đạo
vết thương hành liệt tim!…“

Có thể nói, Nguyễn Tất Nhiên là nhà thơ giàu trí tưởng tượng. Tài năng sáng tạo từ mới, cụm từ mới để tạo nên những hình tượng độc đáo, táo bạo gây sửng sốt, thú vị cho người đọc, xuất hiện ngay từ ngày đầu cầm bút của ông. Nếu ở bài Ma Soeur, Nguyễn Tất Nhiên đã dùng thủ pháp so sánh hình tượng hóa sự thánh thiện của người tình, thì đến với Linh Mục, ông hóa thân cho chính mình, để tìm dĩ vãng, đi đến tận cùng sự thật của cái địa ngục tình yêu ấy:

“ Vì tôi là linh mục/ giảng lời tình nhân gian/…tín đồ là người tình/ người tình là ác quỷ/ ác quỷ là quyền năng“.

Thật vậy, những cụm từ so sánh ẩn dụ cũ kỹ và dân dã này, đã được thi sĩ đặt đúng văn cảnh trong cái ý tưởng độc đáo của mình, nó trở thành nghĩa mới, hình tượng mới. Bởi vậy, nó gây cảm hứng cho nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang chuyển thành ca khúc Vì Tôi Là Linh Mục, được mọi tầng lớp đón nhận, yêu thích, nhất là giới trẻ. Đây là một trong những đặc tính làm nên hồn thơ đặc trưng riêng Nguyễn Tất Nhiên. Đặc tính này xuyên suốt sự nghiệp sáng tạo của ông:

“dĩ vãng là địa ngục
giam hãm đời muôn năm
tôi – người yêu dĩ vãng
nên sống gần Satan
ngày kia nghe lời quỉ
giáng thế thêm một lần
trong kiếp người linh mục
xao gầy cơn điên trăng!

vì tôi là linh mục
giảng lời tình nhân gian
nên không có thánh kinh
nên không có bổn đạo
nên không có giáo đường
một tín đồ duy nhất
vừa thiêu huỷ lầu chuông!…“

Tôi không cân đong, đo đếm kỹ lắm, nhưng dường như thơ Nguyễn Tất Nhiên nằm trong Top được phổ nhạc nhiều nhất từ trước đến nay? Bởi, ngoài ngôn ngữ giầu nhạc tính, thanh âm, thì ý tưởng mới lạ trong thơ của ông tạo ra rất nhiều cảm hứng cho các nhạc sĩ sáng tạo. Và cái ý tưởng ấy, như một luồng gió mới thổi vào cái không khí âm nhạc thời chiến lúc đó. Thật vậy, một loạt các ca khúc của Phạm Duy ra đời từ thơ Nguyễn Tất Nhiên. Đặc biệt có ca khúc Cô Bắc Kỳ Nho Nhỏ, Phạm Duy đã mượn ý tưởng bài thơ Cô Bắc Kỳ Nho Nhỏ và cảm hứng từ Đám Đông để viết nên. Có thể nói, đây là bài thơ điển hình về tài năng trí tuệ liên tưởng của Nguyễn Tất Nhiên, đã giúp cho Phạm Duy chuyển thành một ca khúc hay đến vậy. Và hơn thế nữa, với tài năng của mình, Phạm Duy vẫn giữ nguyên được sự nhẹ nhàng, tính vui nhộn cùng từ ngữ mộc mạc của bài thơ:

“cô Bắc Kỳ nho nhỏ/ tóc “demi-garçon”/ chiều đạp xe vô chợ/ mắt như trời bao dung/ đời chia muôn nhánh khổ/ anh tận gốc gian nan/ cửa chùa tuy rộng mở/ tà đạo khó nương thân/…qua giáo đường kiếm Chúa/ xin được làm chiên ngoan/ Chúa cười rung thánh giá/ bảo: đầu ngươi có sừng!“.

Vẫn mang tâm trạng oán trách buồn đau, khắc khoải của Hai Năm Tình Lận Đận, do Phạm Duy phổ nhạc, Anh Bằng đã đưa bài lục bát Trúc Đào vào âm nhạc mượt mà, và nhẹ nhàng hơn. Song nó vẫn giữ nguyên được hồn vía của bài thơ. Với tôi, Trúc Đào là một bài thơ hay nhất ở thể lụt bát của Nguyễn Tất Nhiên. Nó không chỉ hay về nội dung tư tưởng, mà có lời thơ rất mượt mà

“Chiều xưa có ngọn trúc đào/ Mùa thu lá rụng bay vào sân em…“

Tuy nhiên, Khúc Tình Buồn được Phạm Duy phổ nhạc với lời tựa Thà Như Giọt Mưa, cho tôi nhiều cảm xúc nhất. Khúc Tình Buồn thuộc thể tứ ngôn, là một trong những bài thơ hay nhất của Nguyễn Tất Nhiên. Bài thơ, ông viết khi đang là học sinh năm cuối trung học. Vẫn thủ pháp so sánh ẩn dụ, Nguyễn Tất Nhiên đã mượn hiện tượng của tự nhiên giãi bày nỗi lòng đớn đau, sự bất lực của kẻ si tình, của một tình yêu đơn phương:

“thà như giọt mưa/ vỡ trên tượng đá/ thà như giọt mưa/ khô trên tượng đá/ có còn hơn không“.

Để rồi, từ trong nỗi bất lực, và tình si ấy, người đọc mới chợt nhận ra, cái giá trị tuyệt đối và vĩnh cửu của tình yêu. Tuy nhiên, bác nào đang bị tình phụ, hay tình đơn phương, tim mạch yếu kém, thì chớ nên đọc bài thơ này:

“người từ trăm năm
về qua sông rộng
ta ngoắc mòn tay
trùng trùng gió lộng
người từ trăm năm
về khơi tình động
ta chạy vòng vòng
ta chạy mòn chân“

Nếu trước đó, văn học sử Việt không có những thi sĩ thiếu niên Chế Lan Viên với Điêu Tàn, Tế Hanh với Nghẹn Ngào, hay Nguyễn Nho Sa Mạc với Trăng Lạnh, thì có lẽ không ai tin thi phẩm Thiên Tai là do người học trò trung học Nguyễn Tất Nhiên viết ra. Bởi, sự già dặn của bút pháp cũng như tư tưởng, với những câu thơ được ủ chín tâm hồn thi nhân. Tôi không biết chính xác, bài thơ Oanh được Nguyễn Tất Nhiên viết từ khi nào. Nhưng chắc chắn, nó được viết trước tập Thiên Tai, lúc đó ông đang học lớp 10 hoặc lớp 11. Một bài thơ già dặn, và lời thơ tuyệt đẹp:

“Hãy yêu chàng, yêu chàng như yêu cánh gió/ Chơi giỡn tung tăng hai vạt áo dài/ Gió đưa mây về, trời mưa, bong bóng vỡ/ Chàng đưa tình về, xót ngọn cỏ may“.

Bài Thiên Thu viết năm Nguyễn Tất Nhiên 18 tuổi. Với bài thơ này, Nguyễn Tất Nhiên có thể ngồi cùng mâm nhấc lên đặt xuống với các cụ Đinh Hùng, Bùi Giáng…Du Tử Lê rồi. Với tôi, đây là bài thơ toàn bích nhất của Nguyễn Tất Nhiên. Đọc nó, tôi bị ám ảnh, mộng mị hết mấy đêm liền. Cả bài thơ là một câu hỏi tu từ. Không một lời giải đáp, buộc Nguyễn Tất Nhiên lìa hồn mình ra khỏi của cái thế giới hiện thực. Ông co giò chạy trốn quá khứ. Nhưng chạy đâu cũng thấy “chạy vòng vòng“ đang “chạy mòn chân“ rồi quay về với cái hiện hữu của chính mình. Vâng, đó cũng như một trường thiên kịch bản bi ai, vận vào chính cuộc sống cũng như tâm hồn Nguyễn Tất Nhiên vậy:

“…sao thiên thu không là thiên thu?/ nên những người yêu là những ngôi mồ/ tôi đứng một mình trong nghĩa địa/ và chắc không đành quên khổ đau!“.

Đang định viết lời kết cho giai đoạn này, cũng như nguyên nhân dẫn đến sự thành công rất sớm của Nguyễn Tất Nhiên, chợt làm tôi nhớ đến câu chuyện. Hôm rồi, tân gia nhà một người bạn, trong lúc khật khừ, tôi buột miệng nói với một bác nhà thơ cộng đồng đến từ Berlin: Với tôi, kể từ sau 1954 đến nay (2019) văn học Việt Nam ở tuổi học trò, có hai thi sĩ tài năng nhất. Đó là Nguyễn Nho Sa Mạc, người xứ Quảng, với tập thơ Vàng Lạnh, và nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên người xứ Nam, với tập thơ Thiên Tai. Bác nhà thơ này, goặc lại tôi: Ông nói thế chó nào ấy chứ, xứ Bắc có không ít các thần đồng thơ, chả lẽ không đáng nói đến sao. Tôi bảo bác ấy: Đây là ý kiến chủ quan của cá nhân tôi, có thể là sai. Nhưng ta có thể thấy, trong giai đoạn đó ở miền Bắc cũng xuất những tài năng thi phú trẻ, và được gắn mác mỏ thần đồng như: Hoàng Hiếu Nhân, hay Trần Đăng Khoa… Tuy nhiên, các thần đồng thi ca này, được các nhà thơ tên tuổi Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Trần Nhuận Minh… chăm sóc, định hướng tư tưởng rất kỹ càng. Do vậy, có những câu thơ của họ đọc lên cứ tưởng của Diệu, của Chế, của Minh. Hơn nữa, mấy “thần đồng“ này chỉ làm được thơ thiếu niên, nhi đồng. Sau này, Hoàng Hiếu Nhân bị tịt ngòi không viết lách được nữa. Còn Trần Đăng Khoa viết lay lắt, với những dấu ấn mờ nhạt. Thành thật mà nói, nếu ngoa ngôn dùng danh từ thần đồng để đo lường tài năng thi phú, thì với tôi, kể từ khi xuất hiện thơ mới đến nay, chỉ xảy ra một lần duy nhất. Đó là cậu bé thần đồng Chế Lan Viên với thi tập Điêu Tàn. Một tập thơ vừa ra đời đã trở thành cổ thi.

Kinh hơn nữa, thời gian gần đây chẳng hiểu ăn phải cái bả gì, mà ông Giáo sư Phong Lê, ông Phó chủ tịch Hội nhà văn Việt Nam “cựu thần đồng“ Trần Đăng Khoa cùng một số nhà thơ, nhân vật tên tuổi phát động cuộc thi “Sáng tác văn tế Đại thi hào Nguyễn Du”. Một việc làm hoặc ấu trĩ, hoặc của chùa cùng nhau chia oản. Quả thực, xa Việt Nam đến quá nửa đời người, vậy mà nghe cái từ phát động, với phong trào tôi sởn hết cả người.

Nghệ thuật Lục bát, tài năng thi phú của cụ Nguyễn Du đã được khẳng định từ mấy trăm năm qua cùng với Kiều Truyện. Không còn bàn cãi. Tuy nhiên, hồn vía của tác phẩm này thuộc về anh ba Tàu phương bắc. Do vậy, với tôi những tác phẩm Việt thuần chủng (Việt tính) đi vào lòng người hơn, từ mấy trăm năm qua phải là: Đặng Trần Côn với Chinh Phụ Ngâm, hay Nguyễn Gia Thiều với Cung Oán Ngâm Khúc.

Dài dòng một chút về vấn đề này để cho thấy, miền Bắc không phải, không có những tài năng trẻ, từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường. Nhưng với sự dẫn dắt, tư tưởng đến nay vẫn còn như thế này, thì tài năng nào không thui chột, hoặc biến dạng mới là chuyện lạ. Cũng may, Nguyễn Tất Nhiên sinh trưởng ở miền Nam, bằng không cũng mất hút con mẹ hàng lươn như “thần đồng thơ“ Hoàng Hiếu Nhân trên thi đàn là cái chắc.
*Chiến tranh, cùng nỗi thống khổ sau cuộc chiến.

Sinh ra và lớn lên trong giai đoạn tang thương nhất của đất nước, tuy không phải là người lính, song Nguyễn Tất Nhiên cũng không thể bước ra khỏi cuộc chiến ấy. Tuy nhiên, cứ tưởng, thơ văn thi phú của ông chỉ ngắc ngư với giăng hoa, ong bướm, Oanh, Duyên, Minh Thủy. Nhưng tôi đã lầm. Mảng viết về thế sự, xã hội tình người của Nguyễn Tất Nhiên không hề nhỏ. Viết về chiến tranh, dường như bút pháp, cũng như nội dung hiện thực ông đào sâu vào khía cạnh rất khác so với các thi sĩ cùng thời. Bởi, đọc ông, tôi không hề thấy tiếng bom rơi, đạn nổ, vậy mà khói lửa, chết chóc thương đau trải dài trên trang thơ của ông. Thật vậy, vừa rời ghế nhà trường, (19 tuổi) Nguyễn Tất Nhiên đã viết “Chiều Mệnh Danh Tổ-Quốc”. Một bài thơ, không chỉ người lính, hoặc những người trải qua chiến tranh, mà tôi, kẻ chưa hề biết đến súng đạn, vậy mà ngồi đọc, và viết cũng phải rưng rưng:

“…Chiều quân đội nghĩa trang
Chiều mệnh danh tổ quốc
Có muôn ngàn câu kinh
Có muôn ngàn tiếng khóc

Có chuyến xe nhà binh
Đưa “Thiên Thần” xuống đất
Còn ai, còn ai chăng ?…“

Có thể nói, từ thơ tình đến thơ thế sự của Nguyễn Tất Nhiên bài nào cũng vậy, rất nhẹ nhàng, không hề lên gân, song đã gieo vào lòng người đọc nỗi đau day dứt khôn nguôi. Vào giai đoạn cuối của cuộc chiến, thân phận người lính càng bi đát hơn. Sự kiên cường của họ trước sự hèn nhát, tháo chạy của những cấp lãnh đạo cao nhất, làm cho Nguyễn Tất Nhiên xúc động:

“Về trên nạng gỗ mà trông/ Lô nhô lãnh đạo cong lưng bôn đào”.

Thật vậy, sự đồng cảm đối người lính trong thơ ông, không chỉ trong chiến tranh, mà ngay sau cuộc chiến, ta càng thấy đậm nét hơn. Chiến tranh qua đi, nỗi đau về thể xác lẫn tâm hồn của người lính thương phế binh, và những hệ lụy cho gia đình, cháu con còn bi thương, rách nát hơn gấp nhiều lần. Về Trên Nạng Gỗ là một bài thơ như vậy. Nó là một trong những bài thơ thế sự hay nhất, từ trước đến nay, mà tôi đã được đọc. Tính hiện thực như một bản cáo trạng đối với chế độ xã hội đương thời của nhà thơ, cùng lời cảm thông sâu sắc, xoa dịu nỗi đau của con người. Đọc xong bài thơ này, tôi không còn biết đây là thơ, hay là lời ru nỗi đau của Nguyễn Tất Nhiên. Các bạn đọc lại đoạn trích dưới đây, xem có cảm giác như tôi không:

“…Về trên nạng gỗ mà trông
Chín năm chinh chiến đeo tròng nguỵ quân
Con thơ nhục nhã đến trường
Ê a phỉ báng máu xương cha mình
Cha “lính nguỵ” – con tự nhiên
Thành phần không được ngóc lên làm người
Học vừa đủ biết đọc thôi
Đủ làm gia súc hiểu lời Đảng sai
Hãy cười đi phế binh ơi
Một tay cũng rán mà… moi củ mì
Từ đây dỗ đói thường khi
Ru con tôi hát não nề ca dao“

Cái đau của người thi sĩ là ru được người chứ không thể ru được chính mình, tâm hồn mình. Do vậy, trong cái bi đát đó, Nguyễn Tất Nhiên buộc phải trốn chạy, hay tìm đến: “Ta mời ta viếng mộ/ Lìa thảm cảnh dương gian“. Và cầu Nại Hà cũng đã bị gãy nhịp, người thi sĩ quay về nơi địa ngục. Không nghe lời sám hối, mà vọng lên tiếng kêu than thỉnh cầu của thi nhân: “Phải sống nơi địa ngục/ Mới hiểu thấu thân ta“. Dường như không có lời đáp vọng lại. Bởi, sự bất lực, hấp hối tro tàn ấy, đâu chỉ riêng thi sĩ:

“…Ta mời ta viếng mộ
Lìa thảm cảnh dương gian
Chúc Phật còn lui chân
Trước bạo quyền chế độ
Huống hồ chút hư danh
Nguyễn Tất Nhiên thống khổ
Ôi chữ nghĩa văn chương
Bất lực, càng bất lực
Phải sống nơi địa ngục
Mới hiểu thấu thân ta
Đôi mắt người ngây thơ
Không hề vương vấn tội
Có chở tình ta theo
Tới cõi nào diệu vợi?
Lửa đời ta đã lụn
Đang hấp hối tro tàn“ (Tháng 11, Thơ Mưa)

Thành thật mà nói, chỉ khi đi sâu vào đọc, tôi mới nhận ra thơ văn Nguyễn Tất Nhiên luôn gắn liền với xã hội và đời sống của con người. Thơ của ông có tính thời sự cao. Tôi nghĩ, mảng đề tài này góp phần không nhỏ làm nên sự nghiệp sáng tạo của ông. Nhưng dường như, bấy lâu nay chúng ta đã quên hẳn nó. Do vậy, văn học sử Việt Nam rất cần những nhà nghiên cứu khai quật, đánh giá cho thật đầy đủ, và khách quan về thơ văn Nguyễn Tất Nhiên.
Chia ly, với cuộc sống bế tắc, cùng những nỗi đau tuyệt vọng.

Ra đi là con đường duy nhất để giải thoát Nguyễn Tất Nhiên ra khỏi nơi địa ngục. Con thuyền lá tre kia vừa cập bến tự do, thì linh hồn ông đã chết ngay khi đặt chân lên miền đất lạ:“kẻ vượt biển đã tới bến mạnh lành/ nhưng chết ngay khi đặt chân lên bờ đất“. Những mâu thuẫn nội tâm, và bi kịch của người thi sĩ bắt đầu từ đó. Để rồi, cuộc sống và thi ca Nguyễn Tất Nhiên luẩn quẩn trong cái vòng tròn định mệnh ấy. Có thể nói, đây là tâm lý chung của tất cả các văn nghệ sỹ trốn chạy sau biến cố 1975, chứ không riêng Nguyễn Tất Nhiên. Tuy nhiên, sự hòa nhập, nghị lực và khát vọng tự do, khát vọng sống của mỗi con người khác nhau. Bài thơ Paris, Khúc Tháng Chín  được Nguyễn Tất Nhiên viết trong tâm trạng, và hoàn cảnh như vậy. Đây là bài thơ hay, một lần nữa chứng minh cho ta thấy, sự liên tưởng, trí tưởng tượng phong phú của ông:

“…kẻ leo rào đã chụp được Tự Do
nhưng tức thời buông tay bổ ngửa
là ta

phải, ta đánh rơi ta
nát vụn
sau khi đánh rơi Việt Nam
bên kia bờ biển mịt

cây cối sẽ phục sinh vào đầu tháng tư năm tới
phần ta
cách gì tươi tắn lại
khi đời đã sang thu
cộng với lần bứng gốc…“

Những năm tháng ly hương, cuộc sống Nguyễn Tất Nhiên, dường như hồn đã lìa khỏi thân xác. Với ông, đó là những nỗi đau và cô đơn không có thể bù lấp: “Quê hương đã lìa/ Người tình đã xa/ Bạn bè đã tàn/ Mọi thứ đã rã tan cùng đại dương xanh”. Do vậy, với tâm hồn, nghị lực mong manh yếu đuối luôn làm cho người thi sĩ Nguyễn Tất Nhiên chán nản bi ai: “Có lẽ em không hay/ Đôi cách chàng đã gãy“. Tuy vậy, cùng nỗi nhớ thường trực, trái tim mẫn cảm của người nghệ sĩ luôn hướng về quê hương, đất nước. Nhớ Nội, là một bài thơ thất ngôn như vậy. Một bài thơ hay và cảm động, tiêu biểu cho tâm trạng của Nguyễn Tất Nhiên trong giai đoạn này:

“…từ lúc giặc về, con biệt xứ
nát lòng chim quốc nhớ quê hương
mấy thu vàng úa đời xa cội
chẳng biết mộ phần nội có yên?“

Bi kịch gia đình, bi kịch xã hội ảnh hưởng trực tiếp đến tư tưởng, và thi pháp sáng tác của Nguyễn Tất Nhiên. Đây là giai đoạn nặng nề, cùng cực, cô đơn nhất của ông. Do vậy, những bi ai, u uất đã trải dài từ thi tập Tâm Khúc cho đến Minh Khúc. Sự chia ly, đổ vỡ của tình yêu và gia đình“…như dao nhọn/ ngọt ngào vết đâm“ tan nát trái tim Nguyễn Tất Nhiên. Ông bất lực trong nỗi bơ vơ, và trống trải:

“bây giờ em đã xa tôi/ hay là sông núi xa đời lãng du…chim đêm hót tiếng đau tình/ đau tim tôi chở lòng thành kiếm em… “.

Giai đoạn này, dường như ông hòan toàn quay về với thể thơ lục bát. Những câu thơ của ông đọc lên như có tiếng ru đời và ru mình vậy. Vâng, hai tập thơ lục bát, cũng không thể cứu rỗi được hồn người thi sĩ. Đoạn trích về nỗi đau, và cô đơn trên con đường mịt mù sương khói trong bài Minh Khúc 90 đã báo hiệu số phận của Nguyễn Tất Nhiên:

“đường không gian – đã phân ly
đường thời gian- đã một đi không về
những con đường mịt sương che
tôi vô định lái chuyến xe mù đời
cu tí ngủ gục đâu rồi?
băng sau, ngoái lại, bời bời nhớ con…“

Có thể nói, nghị lực, và trái tim đa cảm của thi sĩ Nguyễn Tất Nhiên không thể vượt qua được nghịch cảnh ở nơi miền đất lạ. Nó làm cho ông khủng khoảng tinh thần trong nỗi cô đơn đến tuyệt vọng. Nếu nói, cuộc đời Nguyễn Tất Nhiên là một bi kịch, thì diễn viên là ông, và đạo diễn cũng là ông. Và kịch bản ông viết từ hai mươi năm trước đã vận vào đúng cuộc đời, cái chết của diễn viên Nguyễn Tất Nhiên vậy:

“Ta phải khổ cho đời ta chết trẻ
Phải ê chề cho tóc bạc với thời gian
Phải đau theo từng hớp rượu tàn
Phải khép mắt sớm hơn giờ thiên định“.

Tôi thuộc thế hệ sau Nguyễn Tất Nhiên khá xa, và cũng chưa một lần gặp gỡ, hoặc được quen biết ông. Tuy nhiên, tên tuổi Nguyễn Tất Nhiên, tôi đã biết khá lâu, khi đọc, hoặc viết về một số nhà văn gốc miền Nam khác. Đôi lúc tâm trạng buồn, vui tôi thường đàn hát những bản nhạc phổ từ thơ của ông, hoặc do ông sáng tác. Và Không hiểu tại sao, vài tuần nay như có một sợi dây tâm linh nào đó thôi thúc, buộc tôi tìm đọc, rồi viết về Nguyễn Tất Nhiên. Dù tôi cũng là “tên vô đạo“ như ông. Đọc và viết trong vài tuần, sau giờ làm việc, do vậy, tôi nghĩ, không tránh khỏi những thiếu sót, hoặc sai lệch. Nhưng đã đọc, mà không viết, cứ để ứ hự ở trong lòng thì quả thật, có lỗi với Nguyễn Tất Nhiên thi sĩ.

Leipzig 
Đỗ Trường

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Nhà Thơ Nguyễn Tất Nhiên – Bài của Đỗ Trường

Chúng Tôi Vẫn Sống_Huỳnh Kỳ Anh Tú

CHÚNG TÔI VẪN SỐNG

Huỳnh Kỳ Anh Tú (Người con của một cựu Sĩ Quan QLVNCH, một người trẻ rất đáng khâm phục.)

Tôi là một bác sĩ, sinh ra và lớn lên tại Sài Gòn nhưng sau này tôi đi du học và đã định cư tại nước ngoài từ lâu. Nhân tháng 4 năm nay, tôi muốn viết một thông điệp cho gia đình, bạn bè tôi, cùng tất cả những người từng là công dân Việt Nam Cộng Hòa, con cháu của họ, nhất là những đứa trẻ cùng thế hệ 8X như tôi….

Cha tôi là một sĩ quan quân lực VNCH, cấp bậc Trung úy. Ông có may mắn hơn nhiều bạn bè, khi chỉ phải đi tù cải tạo một thời gian ngắn. Năm 1979 cha tôi ra tù và về sống ở Sài Gòn (xin lỗi vì tôi không thể viết tên của kẻ tội đồ dân tộc mình), một năm sau tôi sinh ra.

Từ khi tôi biết nhận thức thế giới xung quanh cho tới năm 18 tuổi, cha và mẹ KHÔNG BAO GIỜ nói với tôi bất cứ điều gì có liên quan đến chính trị hay nói xấu chế độ mới, cha tôi sống hiền lành, nhẫn nhục nuôi con cái, hòa đồng với tổ dân phố. Cha ghét chiến tranh và không bao giờ nhắc đến thời chiến đấu xa xưa của mình, đến mức không cho tôi chơi những món đồ chơi như súng, máy bay. Mẹ tôi thì cấm tôi nghe nhạc vàng hay những bài ca về lính, dù vậy sau này tôi vẫn lén nghe. Họ để cho tôi tự do lựa chọn con đường mình đi, ngay cả tôn giáo. Vì thế những gì tôi viết cho các bạn xem đưới đây là do CHÍNH BẢN THÂN tôi nhận thức được từ cuộc sống xung quanh mình.

Với tính cách giang hồ lãng tử của cha tôi, trước 30-4 ông vốn đã không coi trọng tiền bạc, không nhà cửa, tiền vàng, chỉ có 2 bàn tay, chiếc xe máy cùng người vợ hiền nên sau 30-4 ông không mất gì cả về vật chất. Tuy nhiên, nỗi mất mát về tinh thần ám ảnh ông suốt đời như một vết thương không bao giờ lành được.

Nhà tôi rất nghèo, lại phải chịu bất công từ mọi phía, mẹ tôi bị ép phải nghỉ sớm do lý lịch của cha, bà phải đi buôn thuốc men, thực phẩm để nuôi tôi lớn…. Lúc tôi 3-4 tuổi cha tôi đi làm vắng nhà cả ngày, ông làm đủ thứ nghề, buôn bán hàng phế liệu, đạp xích lô, đến tối mịt mới về nhà. Ngày nghỉ ông chở tôi lang thang trên các con đường ở Sài Gòn bằng chiếc xe đạp. Đường phố Sài Gòn thập niên 80 còn hoang vắng, tôi để ý một điều là ông luôn gọi những con đường bằng tên cũ, chỉ cho tôi những tòa nhà và tên gọi của chúng, nhiều khi tôi thấy ông dừng rất lâu ở một nơi nào đó và khóc.

Lớn lên một chút, ông luôn tìm cách hướng tôi về những điều chân thiện mỹ, thay vì phó mặc cho sự nhồi sọ của trường lớp, đội nhóm. Tôi còn nhớ ông mua sách báo cũ thời VNCH cho tôi đọc, nhất là Thiếu Nhi tuần báo. Ngày tôi được kết nạp đội, cha tôi ôm tôi vào lòng và ông rất buồn, nhưng ông dắt tôi đi xem phim Batman và đêm đó trước khi ngủ kể cho tôi nghe ông đã phải đi bộ hơn 5 cây số để mua sữa cho tôi uống như thế nào.

Tôi nhìn ra rất sớm sự giả dối, bất công, ngay trong trường lớp của mình, những bài văn mẫu, những người thầy ép học sinh học thêm tại nhà, những bài học lịch sử dối trá.


Tôi muốn nói một điều với các bạn cùng lứa tuổi, rằng thế hệ sinh ra năm 78-80 tại Sài Gòn như chúng tôi PHẢI nhận thức rõ một điều rằng: Dù thể chế Việt Nam Cộng Hòa đã chết vào ngày 30/4/1975, nhưng nó vẫn tiếp tục cưu mang, nuôi dưỡng những đứa trẻ như tôi bằng tất cả máu thịt từ còn sót lại. Bọn cộng sản KHÔNG góp một chút công ơn nào hết trong việc nuôi dưỡng, che chở và giáo dục chúng tôi, thậm chí ngược lại là khác, chính bọn chúng là nguyên nhân gây ra mọi đau khổ, bất công, rủi ro cho số phận những đứa trẻ sinh ra giai đoạn này.

Tôi ra đời trong một nhà bảo sinh của VNCH, khi tôi đau ốm, các bác sĩ và nữ hộ sinh được đào tạo từ ngành y tế VNCH đã chăm sóc cho tôi, dù họ là những người bị ngược đãi, phải sống cực khổ ăn không đủ no vì chính sách nô dịch của cộng sản, nhưng vẫn giữ trọn y đức và trách nhiệm. Từ khi cắp sách đến trường tôi may mắn hơn những đứa trẻ miền Bắc, vì được che chở dưới những lớp học, mái trường do cha anh chúng tôi, công dân của VNCH xây nên, chúng tôi may mắn được xem phim trong những rạp ciné hiếm hoi còn sót lại ở Sài gòn của VNCH.

Trong khi đó, bọn cộng sản Bắc Việt đã làm gì cho chúng tôi? Từ tuổi sơ sinh, toàn bộ trẻ em như tôi phải chịu cảnh suy dinh dưỡng, ăn không đủ no, không có sữa để uống. Cha mẹ chúng tôi phải chạy ăn từng bữa, hy sinh những gì tốt nhất cho chúng tôi trong khi họ phải ăn độn bobo, khoai mì. Khi đau ốm bệnh tật không có đủ thuốc men chữa trị, phải đi vay mượn, đi mua kháng sinh ngoài chợ đen. Chúng tôi lớn lên, đứa thì lùn đứa thì còi xương, tội lỗi đó là do ai gây ra? Khi đi học chúng tôi bị nhồi sọ bằng những chuyện dối trá nhảm nhí, bị những cô giáo xã hội chủ nghĩa đánh đập không thương tiếc, phải đi nhặt lon, nhặt rác, dùng những cuốn sách giáo khoa cũ nát, đen thui, đêm về phải học bài dưới ánh đèn dầu tù mù, chịu nóng, muỗi đốt để mà kiếm cho được tấm giấy khen vô nghĩa. Lớn lên một chút, chúng tôi lại bị những thầy cô giáo bóc lột đến tận cùng bằng những chiêu trò dạy thêm tại nhà, ai không đến nhà thầy học thêm thì bị đì, bị đối xử bất công trên lớp. Lúc trưởng thành ra đời thì tương lai u tối vì 2 chữ lý lịch gia đình, phải hối lộ đút lót khắp mọi nơi mới kiếm được miếng ăn.

Tôi lại muốn nói điều này cho bọn cộng sản và con cháu của chúng: Việt Nam Cộng Hòa vẫn sống, và chưa bao giờ chịu khuất phục bởi bạo lực và sự đàn áp của cộng sản. Những người con của thế hệ VNCH vẫn sống, dù nhẫn nhục, nhưng không cúi đầu, không bao giờ chấp nhận đi chung đường với điều ác và dối trá…


Bọn cộng sản không bao giờ khuất phục được ý chí và tinh thần của những công dân VNCH, chúng không bao giờ hiểu được tại sao cha mẹ chúng tôi đặt tên cho con cái mình là Nguyễn Đình Bảo, Nguyễn Khoa Nam hay Phan Nhật Nam (cha tôi đặt tên cho tôi là Huỳnh Kỳ Anh Tú, và tôi tự hào vì điều đó!). Tại sao mấy chục năm nay người ta vẫn thích nghe nhạc của Lam Phương, Trần Thiện Thanh, Trúc Phương và dòng nhạc này đang hồi sinh.

Bọn cộng sản muốn trả thù hèn hạ con cháu của VNCH bằng cách xét lý lịch, thì chúng tôi, những công dân VNCH cũng dùng lý lịch, căn cước của cha anh mình như một dấu hiệu nhận diện nhau, đùm bọc nhau. Cuộc đời tôi đã trải nghiệm không biết bao nhiêu sự ưu đãi, giúp đỡ từ bạn bè của cha tôi, hay thậm chí những người xa lạ, mỗi khi họ tình cờ biết cha tôi từng là sĩ quan quân lực VNCH, một người thầy nổi danh đã nhận tôi vào lớp luyện thi đại học và miễn học phí (hơn 2 triệu đồng) vì tôi là con của lính VNCH, nhiều bác sĩ đã chữa bệnh cho tôi hồi nhỏ không nhận thù lao khi biết cha tôi từng đi lính, một linh mục tại nhà thờ Dòng chúa cứu thế dạy kèm tiếng Anh và tiếng Pháp cho tôi suốt 3 năm mà không lấy tiền.

Bọn cộng sản cũng không bao giờ hiểu được tại sao bên cạnh chúng không bao giờ có mặt những người trí thức, nhân tài hậu duệ của VNCH, vì những cá nhân này không bao giờ chấp nhận vào đoàn thanh niên cộng sản, không bao giờ đi làm cho nhà nước, và một khi ra nước ngoài du học không bao giờ quay trở lại để phục vụ cho chúng, chúng có kêu gào 1000 năm nữa và dụ dỗ bằng tiền tài hay danh lợi, những người này cũng sẽ không bao giờ trở về cộng tác với chúng. Chúng chỉ tìm thấy những kẻ cơ hội, bợ đỡ, bất tài và ngu ngốc chấp nhận làm nô lệ cho chúng mà thôi.

Đối với một số người, ngày 30-4 có thể là ngày đau buồn, họ cho đó là quốc hận, một số những kẻ ăn trên ngồi trước thì hoan hỉ ăn mừng, mừng cho việc họ đã giết, cướp chính anh, chị em một nhà của mình, nhưng tôi nhận rõ một điều là Việt Nam Cộng Hòa vẫn chưa chết, Sài gòn có thể bị chiếm đóng, chúng ta có thể bị đô hộ, nhưng công dân và hậu duệ của VNCH vẫn sống, vẫn vươn lên, vẫn đang giúp đỡ nhau, chúng tôi miễn dịch với mọi sự dối trá và độc ác của cộng sản, nhiều người vẫn đang đi tìm tự do, và sẽ có ngày chân lý sẽ chiến thắng./.
 Huỳnh Kỳ Anh Tú

(Nguồn: https://bienxua.wordpress.com)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Chúng Tôi Vẫn Sống_Huỳnh Kỳ Anh Tú

Cóc Biển Khai Bút Đầu Xuân với 7 bài họa

Thân kính gởi quí thi huynh, thi hữu, thân hữu,

Nhân ngày đầu Xuân NHÂM DẦN, Lão tôi thân kính gởi đến quí vị bài KHAI BÚT để làm quà đầu năm.

             KHAI BÚT

  Xuân nầy khác hẳn mấy Xuân qua
Dịch bệnh còn lây đến mọi nhà
Cô-vit, đeo-ta chưa lẩn trốn
Siêu vi, biến thể lại bùng ra
Khẩu trang giãn cách ngăn ngừa tạm
Tiêm chủng đủ liều hiệu quả đa
Năm mới vaccine đặc trị tốt
An tâm gặp gỡ bạn cùng ta.

  Mồng 2 Tết Nhâm Dần (2022)
  ĐẠT NHÂN -LVT

Họa 1:
CHÚC XUÂN

Đông tàn rồi, lại đón Xuân qua
Cầu chúc an vui tới mọi nhà
Cha mẹ ông bà trường thọ đến
Anh em con cháu làm ăn ra
Vui chơi cẩn thận dịch dù ít
Cảnh giác đề phòng bệnh tối đa.
Năm mới Nhâm Dần sức khỏe tốt
Yên lành hạnh phúc rộn lòng ta.

Cóc nhà NCV

 Họa 2: đảo vận :
TẾT Ở QUANH TA 

Tân niên rộn rã ở quanh ta
Mừng tết vui cười nói tối đa
Dẫu có phòng ngừa mang mặt nạ
Đâu còn sợ hãi đứng xa ra
Cộng đồng hội ngộ từng đơn vị
Gia tộc đoàn viên khắp mọi nhà
Xua đuổi Cô-Vi vào dĩ vãng
Xuân nầy rồi nhẹ nhõm trôi qua

Cóc Huế

Họa 3:
XUÂN CON CỌP

Cái ách theo trâu đã bỏ qua
Mừng xuân cọp đến rộn vui nhà
Cháu con hiếu thảo ông bà đến
Dịch bệnh chích ngừa covid ra
Xa xứ xa nhà xa tổ quốc
Nhớ làng nhớ xóm nhớ cây đa
Ra đi không hẹn ngày quay lại
Mẹ đợi cha chờ chẳng có ta.

Cóc QT

Họa 4:
MẦN THÔNG NIÊN

Quen rồi suốt mấy chục năm qua
Đón Tết thông niên chuyện nhứt nhà
Pháo nhỏ pháo to còn chửa đốt
Năm sau năm trước cũng chưa ra
Rung giường kê gối đơ như đớ
Cho Cọp bắt Trâu đã quá đa
Canh sắp giao thừa chừng mấy phút
Lấy đà bắt trớn cả đời ta .

Cóc Chát

Họa 5:
Con nào cũng là con

Tua Giáp con Trâu vừa bước qua
Tới phiên con Cọp đến thăm nhà
Việt Nam Trung Quốc luôn chào đón
Các nước lân bang mãi ngó ra
Tục lệ cổ truyền không thể thiếu
Văn minh hiện đại chẳng qua đa
Đâu ai tránh khỏi vòng xoay trục
Ba cái lăng nhăng luôn quấy ta./

TQN

Họa 6:
BÚT” KHAI

“Bút” khai vì nước mấy năm qua
Tiểu són nên chi thối khắp nhà
Thận yếu tiếc gì cao hải cẩu
Dương xìu uổng phí “vái gờ ra” (Viagra)
Tết người bánh ú lù đôi bưởi !
Xuân tớ gà rù rũ bánh đa !!
Cấp số Trời cho đà ứng trước
Xài hoang bắn ẩu trách người ta ??

CÓC KHÔ

Họa 7:
NGÀY TẾT

Sắm sửa lu bu suốt tháng qua
Cầu dừa sài đủ sẵn trong nhà
Củ hành bánh tét chưa dùng hết
Dưa giá thịt kho đã dọn ra
Thăm bạn mừng xuân dăm chén rượu
Lễ chùa hái lộc một cành đa
Đêm về con cháu đà yên giấc
Lặng lẽ riêng mình bậu với ta.

CCR

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Cóc Biển Khai Bút Đầu Xuân với 7 bài họa

Năm Mới Chúc Mừng Vạn Sự An Khang – Thơ Tấn Tuyến

CUNG CHÚC TÂN XUÂN

Hai năm COVID hại ta
Xuân về đất khách, quê nhà buồn tanh
Tân niên hỏi chị thăm anh
Mừng Xuân tuổi Cọp chúc lành tám câu.

tuoi-dan

NĂM MỚI CHÚC MỪNG VẠN SỰ AN KHANG

NĂM Tân Sửu đại dịch lan nhanh
MỚI đón Nhâm Dần biến chủng hành
CHÚC Chị phòng ngừa tiêm kháng thể
MỪNG Anh chống dịch chích đi Anh
VẠN điều trắc trở gặp may mắn
SỰ việc gian nan được chuyện lành
AN hưởng tuổi già tâm tịnh dưỡng
KHANG ninh, Phúc, Lộc Thọ bình sanh.

Sydney, 28 tháng Chạp Tân Sửu
Tuyến Lê,

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Năm Mới Chúc Mừng Vạn Sự An Khang – Thơ Tấn Tuyến

Xuân về nghĩ đến Anh Hùng Vô Danh

Xuân Về
Nghĩ Đến Anh Hùng Vô Danh Qua
Thơ Đằng Phương  Nguyễn Ngọc Huy 

images (8)

Bạn có thể khiến mọi người rời bỏ quê hương họ, nhưng bạn không thể cướp mất quê hương trong trái tim họ. (Dos Parsons)

Bốn mươi năm năm qua, trong trái tim của hàng triệu người Việt, vì tự do phải biền biệt lưu vong, không ai mà lòng không quặn thắt khi nghĩ đến quê nhà. Từ ngày dựng nước đến nay, biết bao nhiêu anh hùng không tên, không tuổi mà máu xương họ đã thấm sâu vào lòng đất Mẹ. Họ là ai?  *Họ là kẻ tự nghìn muôn thuở trước – đã phá rừng xẻ núi lấp đồng sâu. Họ là những anh hùng vô danh đã vì đồng bào dân tộc mà vĩnh viễn nằm xuống để làm nên Tổ quốc.

Đằng Phương là một chiến sĩ tư tưởng, một chính khách khoa bảng, một nhà cách mạng lỗi lạc. Bằng hành động và ngòi bút, suốt đời ông đã hy sinh cho lý tưởng tự do của dân tộc. Các sử gia, học giả, bình luận gia đã viết quá nhiều về cuộc đời ông .

Xuân về, lòng người vọng về cố quốc, bùi ngùi đọc lại những vần thơ “Anh hùng vô danh của Đằng Phương -Nguyễn Ngọc Huy,” chúng ta lại càng thấm thía thêm nỗi nhớ nước, thương quê.

Thật vậy, anh hùng vô danh là ngọn đuốc thiêng không bao giờ tắt trên quê hương đất Việt. Từ những nắm tro tàn của người chết làm nên tổ quốc” (Lamartine)

Có thể nói: Tổ quốc bất diệt. Dân tộc hiển linh là nhờ anh linh của biết bao nhiêu thế hệ hiền tài, và cùng hòa quyện với biết bao tro tàn của anh hùng chiến sĩ vô danh. Anh linh của anh hùng đã cho ta niềm tin, sức mạnh; cũng như bất hạnh của họ làm ta đau đớn xót xa. Tất cả đã nuôi dưỡng tinh thần và lòng yêu nước suốt cả chiều dài lịch sử của dân tộc.

Họ là những anh hùng không tên tuổi
Sống âm thầm trong bóng tối mông mênh
Nhưng can đảm và tận tình giúp nước (*)

Những câu thơ xót xa trên đây là khởi đầu của bài “Anh hùng vô danh” theo lối thơ tám chữ, tên một bài thơ trong tập thơ Hồn Việt của Đằng Phương, xuất bản năm 1950, tại Paris. Trước 1975, bài thơ được in trong sách giáo khoa vào khoảng thập niên 50- 60 mà nhiều học sinh Trung học đều thuộc. Đằng Phương tên thật Nguyễn Ngọc Huy, một cựu chính khách Việt Nam Cộng hòa, một nhà cách mạng đức trí vẹn toàn cùng tấm gương hy sinh cho đất nước đã lưu danh muôn thuở. Ông nằm xuống trong luyến tiếc của biết bao nhiêu người.  Để nhớ ơn ông, hiện nay từng lớp người đứng lên làm tiếp những công việc tranh đấu cho Tự do dân chủ Việt Nam, mà ông và những người đi trước đã làm đang còn dang dỡ. Như nhà cách mạng Phan Bội Châu, thơ văn ông xuất phát từ lòng yêu nước, tư tưởng sâu sắc đầy nghệ thuật. Thơ văn đó được gắn chặt với hành động cách mạng và đánh mạnh vào cảm xúc của người đọc.

Ông làm thơ, không phải để than mây khóc gió, và ông cũng không muốn người đời gọi ông là thi sĩ:

Tôi chẳng phải là một nhà thi sĩ
Dùng thì giờ để thét gió, gào mây,
Tiếc mảnh tình tan vỡ, khóc hơi may,
Thơ chan chứa tuôn thành muôn suối lệ (*)

Thơ ông thúc đẩy lương tâm người đọc, và làm bùng vỡ lòng yêu nước, để có hành động cứu nước.

Thơ Đằng Phương không phải để giải trí, trà dư tửu hậu, mà để nghiền ngẫm suy tư những gì cần làm cho tổ quốc cho dân tộc. Thơ ông để nhận thức về nỗi đau thương cùng vận nước. Thơ xoáy vào tim, để tâm can nung nấu lòng báo ân đối với biết bao anh hùng tử sĩ vị quốc vong thân. Đọc thơ ông để không thờ ơ, không vô cảm trước vận nước Việt điêu linh.

Cả một đời đấu tranh, nhưng đôi lúc ông cũng có cảm giác tủi hổ khi nhìn gương tranh đấu của tiền nhân.

Tôi thấy mình vô dụng, lấy thơ văn
Ghi nỗi tủi một cuộc đời trống rỗng.(*)

Qua con người cách mạng và những gì ông viết trong “Thay Lời Tựa” của Tập Thơ Hồn Việt, người đọc dễ dàng nhận ra “Tuyên ngôn Thi ca” của Đằng Phương- Nguyễn Ngọc Huy, Tuyên ngôn này đã được xác quyết trong đoạn thơ xé lòng sau đây:

Tôi chỉ là một người dân nước Việt
Cảm nỗi lòng của kẻ mất quê hương,
Nỗi nhục nhằn, nỗi khổ cực đau thương
Của nòi giống nghẹt trong cùm lệ thuộc.
Lúc đường sống mịt mù chưa thấy được,
Tôi mượn thơ để tỏ nỗi căm hờn,
Nỗi u buồn chán nản kẻ cô đơn (*)

…….

Từ “Tuyên ngôn Thi ca” này đã làm người đọc cảm lòng, ray rức xót xa vì nỗi khổ cực, đau thương của dân tộc, thúc đẩy đồng bào cần phải làm một cái gì đó cho quê hương, cho Đất Mẹ đang bị đoạ đày.

Đằng Phương nói ông không phải là Thi sĩ, nhưng sự thật con người và thơ ông là một: bình dị, chân thật rung động. Thơ ông đầy tính chuyên nghiệp chứ không phải là thơ tài tử. Từ cách chọn chữ đầy thi tính, nhịp điệu trong ngôn ngữ réo gọi lòng người, nhất là tính tư tưởng thâm sâu, thơ chân thật bởi thoát thai từ lòng yêu nước thiết tha. Thơ Đằng Phương tràn đầy xúc động và dễ đọng lại sâu kín trong lòng người đọc. Anh hùng vô danh đã tác động sâu sắc trong trái tim của nhiều thế hệ. Đó là bài học yêu nước. Bài thơ đã sống vượt thời gian, tác động sâu và rộng, thì làm sao không thể nói Đằng Phương không phải là một Thi sĩ tên tuổi của đất nước; mà đó còn là ngọn đuốc thi ca yêu nước, thương nòi. Dễ gì một bài thơ đã hơn sáu mươi bốn năm qua mà biết bao thế hệ vẫn thuộc nằm lòng, và mỗi lần đọc lên càng sục sôi trước hiểm họa mất nước. Và trên hết, qua những dòng thơ đó con cháu đã biết cúi đầu tưởng niệm tổ tiên, biết trân quí và biết ơn các bậc cha ông đã hy sinh vô bờ bến để làm nên Quốc Tổ. “Thông điệp anh hùng vô danh” thúc giục con cháu đừng quên ơn Quốc tổ và đứng lên bảo vệ đất Mẹ ViệtNam.

Họ là kẻ muôn nghìn năm thuở trước
Đã phá rừng, xẻ núi, lấp đồng sâu
Và làm cho những đất cát hoang vu
Biến thành một giải sơn hà gấm vóc. (*)

Khi Tổ quốc gọi, họ đứng lên đáp lời sông núi. Đồng lòng cùng đi hy sinh tiếc gì thân sống, như tiếng Quốc ca.

Họ là kẻ không nài đường hiểm hóc,
Không ngại xa, hăng hái vượt trường sơn
Để âm thầm chuẩn bị giữa cô đơn
Cuộc Nam Tiến mở giang sơn lớn rộng (*)

Thơ ông là Hùng Ca Sử Việt, là chính khí ca, mãi mãi nằm sâu trong lòng mọi người con dân bất khuất. Chính khí ca khơi lên ngọn lửa hồng yêu nước. Bất cứ quân xâm lược nào cũng thất bại trước lòng yêu nước. Yêu nước là yêu Đất Mẹ. Đừng quên rằng mỗi người chúng ta đều có hai người Mẹ. Một người mẹ sinh ra ta, và người Mẹ kia là Đất Mẹ, là Tổ Quốc. Chín mươi triệu người Việt là con cùng một bọc Mẹ Âu Cơ. Mẹ Âu Cơ đã dạy con rằng gà cùng một Mẹ chớ hoài đá nhau. Nhưng thật đau đớn trong lịch sử Việt, con Mẹ đã xẻ da thịt Mẹ, đã chém giết đồng bào để mưu bá đồ vương. Đau đớn nhất và ngập tràn bất hạnh là con của Mẹ nhưng lại mang chủ nghĩa vô thần về chém giết anh em, đồng bào mình. Con của mẹ nhưng lại cắt đất, tùng xẻo thân Mẹ để bán cho giặc ngoại xâm.

Không có người Mẹ Việt Nam vĩ đại thì lấy đất nào cho chúng ta sống, nhưng khi Mẹ bị quân xâm lược Bắc phương hiếp đáp, thì một số con Mẹ quay lưng không hành động gì để cứu Mẹ, kể cả không nói lên được một tiếng căm thù quân bán nước và xâm lược. Chúng ta lưu vong vì chúng ta mất Đất Mẹ nên đã tứ tán khắp nơi. Đàn con Mẹ xa lìa tổ, và bơ vơ trên đất khách quê người. Đời sống dù có thành đạt sung sướng nhưng đàn con Mẹ Việt Nam vẫn có cảm giác bơ vơ vì đứng ngoài Tổ quốc. Tổ quốc đã bị đọa đày dưới ách cọng sản nên con Mẹ phải lià xa. Thật đau đớn, sống thì ly cách quê hương, nhưng khi chết nắm xương tàn vẫn hoài vọng về cố quốc, nắm xương và cả tro tàn vẫn muốn nằm sâu trong lòng Đất Mẹ, thì phải biết Đất Mẹ thiêng liêng cở nào.

Marie Curie (Pháp) nói: “Tổ quốc quan trọng hơn sinh mệnh, là cha mẹ của chúng ta, là đất đai của chúng ta.”

Bốn mươi năm người Việt lưu vong. Chúng ta có nỗi đau chung là đang xa Mẹ Việt  Nam, đang mất Mẹ Việt Nam. Có người biết Mẹ mất nhưng vẫn quay lưng và còn thông đồng với kẻ bán đứng Mẹ. Nhưng Tổ Quốc vẫn còn may mắn, đất nước vẫn còn những người con ngày đêm vẫn miệt mài hành động cho dân tộc.

Tổ quốc vẫn còn những người con của Mẹ biết sống.
Những người sống là những người biết sống;
Là những người không chịu đứng khoanh tay
Phó đời mình cho cuộc thế dần xoay;
Là những người không để ngày mình tr
ống,
(Tâm sự Tố Như. Đằng Phương)

Đàn con Mẹ vẫn còn biết bao nhiêu người vẫn ray rức khôn nguôi và luôn luôn nghĩ: “Dù tôi không làm gì cũng luôn nghĩ, nếu tinh thần và sức lực cho phép, tôi chỉ muốn phục vụ cho tổ quốc mình trước tiên. Pavlov (Nga).

Người biết sống là lòng son không biến chuyển. Tấm lòng son thủy chung với nước. Từ nỗi lòng đau khổ của kẻ mất quê hương, khi nòi giống nghẹt trong cùm nô lệ, bằng hành động cứu nước họ xông vào vòng khói lửa. Không thành công cũng thành nhân. Anh hùng vô danh đã ngẩng cao đầu, cười hiểm nguy bất chấp nỗi gian nan dẫu phải thịt nát xương tan, khi sa cơ thất thế.

Họ là kẻ khi quê hương chuyển động
Dưới gót giày của những kẻ xâm lăng
Đã xông vào khói lửa quyết liều thân
Để bảo vệ Tự Do cho Tổ Quốc
Trong chiến đấu, không nài muôn khó nhọc
Cười hiểm nguy, bất chấp nỗi gian nan,
Người thất cơ thành thịt nát xương tan
Nhưng kẻ sống lòng son không biến chuyển. (*)

Lòng son không biến chuyển vì thương Đất Mẹ, vì Đất Mẹ là máu huyết tâm can của mình. Mảnh Đất Mẹ dù khô cằn sỏi đá nhưng trong cuộc Nam tiến biết bao người đã hy sinh. Con dân nước Việt luôn luôn tin rằng nơi địa ngục tù đày của anh hùng vô danh, hồn tổ quốc là ngọn lửa thiêng mãi mãi sống còn ở đó. Người thất cơ quằn quại trong chốn lao tù, nhưng họ vẫn ngẩng cao đầu, và chấp nhận uống đau thương vì dân tộc. Uống đau thương là uống Chén tân khổ nhấp ngon mùi chính khí” (Văn tế).

Thấm thía câu văn tế này, lại càng thấm thía liên tưởng đến thơ Đằng Phương. Chén tân khổ của cuộc đời hoạt động cách mạng của ông làm cho thần khí thơ ông mạnh mẽ.

Đốt lòng mình bằng ngọn lửa thiêng, khi thất cơ đành thịt nát xương tan. Trước khi đầu rơi, và ngay trong phút giây co giật của thân mình để trở về lòng Đất Mẹ, con Mẹ vẫn hô to tên Mẹ Việt Nam.

Họ thản nhiên lần lượt bước lên đài
Và dõng dạc buông tiếng hô hùng dũng:
“Việt Nam muôn năm!” Một đầu rơi rụng.
“Việt Nam muôn năm!” Người kế tiến lên.
Và Tử thần kính cẩn đứng ghi tên
Những liệt sĩ vào bia ngư
ời tuẫn quốc.
(Đằng Phương- Ngày tang Yên Bái)

Thơ Đằng Phương là thơ nói về tình yêu và sự hy sinh đối với Tổ quốc Dân tộc. Thơ nói về sự chiến đấu kiên cường dưới gót giày xâm lược. Người đọc thấy các trận đánh quân Tàu xâm lược đã rền vang suốt cả tập thơ Hồn Việt.

Nhân loại, không ai mà không thương yêu đất nước mình. Trước tình yêu Tổ quốc, không có quân xâm lược nào chiến thắng nổi.

Hal, người Mỹ nói:

Tôi chỉ nuối tiếc một điều: tôi chỉ có một sinh mệnh hy sinh vì tổ quốc.

Tinh thần vô ngã vị tha quên mình lo cho người lo cho nước là đạo lý của dân tộc Việt. Khi công thành thì thân thối, khước từ lợi lộc vinh hoa. Vô danh là trọn nghĩa của anh hùng!

Và đến lúc nước nhà vui thoát hiểm,
Quyết khước từ lợi lộc với vinh hoa,
Họ buông gươm quay lại chốn quê nhà
Để sống lại cuộc đời trong bóng tối.
Tuy công nghiệp không ghi trong sử sách
Tuy bảng vàng bia đá chẳng đề tên
Tuy mồ hoang xiêu lạc dưới trời quên
Không ai đến khấn nguyền dâng l
ễ vật.(*)

Thomas Jefferson vị Tổng thống thứ III của Hoa Kỳ đã nói: “Chất kết dính Quốc gia là máu trong trái tim của mỗi người dân.”

 Máu anh hùng vô danh trải qua bao thế kỷ đã len vào mạch đất, hòa quyện vào trong huyết thống của dân tộc.

Nhưng máu họ đã len vào mạch đất,
Thịt cùng xương trộn lẫn với non sông
Và anh hồn chung với tấm tình trung
Đã hòa hợp làm linh hồn giống VIỆT (*)

Thi sĩ Đằng Phương – Nguyễn Ngọc Huy, một đời hoạt động cách mạng. Cuối đời trong nỗi nhục nhằn lưu vong, cảm hoài nỗi lòng của kẻ mất quê hương. Ông nhắc nhở con dân nước Việt phải luôn luôn ghi nhớ di chúc của Vua Trần Nhân Tôn dặn:

-“Các người chớ quên, chính nước lớn mới làm những điều bậy bạ, trái đạo. Vì rằng họ cho mình cái quyền nói một đường làm một nẻo. Cho nên cái họa lâu đời của ta là họa Trung Hoa. Chớ coi thường chuyện vụn vặt xảy ra trên biên ải. Các việc trên, khiến ta nghĩ tới chuyện khác lớn hơn. Tức là họ không tôn trọng biên giới qui ước. Cứ luôn luôn đặt ra những cái cớ để tranh chấp. Không thôn tính được ta, thì gậm nhấm ta. Họ gậm nhấm đất đai của ta, lâu dần họ sẽ biến giang san của ta từ cái tổ đại bàng thành cái tổ chim chích.

Vậy nên các người phải nhớ lời ta dặn:”Một tấc đất của tiền nhân để lại, cũng không được để lọt vào tay kẻ khác”. Ta cũng để lời nhắn nhủ đó như một lời di chúc cho muôn đời con cháu.”

Ngày 28 tháng 7 năm 1990, Thi sĩ Đằng Phương đã hoà hợp làm linh hồn giống Việt, và qua đời tại Paris, Pháp Quốc. Qua đời là ra đi, là trở về gặp lại những hiền tài của Dân tộc, gặp lại các anh hùng vì dân tộc đã hy sinh, tuẫn tiết vì sự nghiệp dựng xây đất nước, gặp lại các bậc sinh vi tướng tử vi thần, như Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Trần Bình Trọng, Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu, Phan Thanh Giản, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám. Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh… và gặp lại các tướng lãnh miền Nam Tự do đã tuẫn tiết vì bảo vệ Tự do cho nước Việt.

Như bao anh linh của dân tộc, Đằng Phương- Nguyễn Ngọc Huy đã trở về với nguyên khí quốc gia. Sự ra đi của ông làm cho những tấm lòng cao cả trên thế giới phải tiếc thương và ngưỡng mộ. Tổng thống Hoa Kỳ George H.W. Bush đã gửi thư chia buồn về ông rằng: “…để lại phía sau một cuộc đời phục vụ tận tụy cho dân tộc Việt Nam…xứng đáng làm gương cho các thế hệ mai sau.”

Xuân về, lòng xót xa trong nỗi lưu vong nhưng vẫn rộn ràng với bao niềm hy vọng về tương lai Tổ quốc, rộn ràng và biết ơn các thế hệ trẻ vì tự do, vì tương lai rạng ngời của dân tộc, họ đang tiếp bước của những anh hùng dân tộc. Họ vẫn ngẫng cao đầu chiến đấu, chẳng sợ lao tù. Và đang :

đốt lên bằng ánh lửa thiêng,
ánh lửa nung lòng dân tộc.(*)

Và dân tộc Việt vẫn luôn luôn vững niềm tin, cho dẫu :

Trong lúc sương rơi lạnh trắng đồng,
Đêm đông dày đặc phủ non sông.
Ta cùng mong đợi ngày xuân sáng
Rọi ánh bình minh vạn ánh h
ồng.
(Đằng Phương- Nguyễn Ngọc Huy)

Xuân tha hương lại trở về. Như ước nguyện của Thi sĩ Đằng Phương trong niềm tin ánh bình minh chiếu rọi, chúng ta vẫn mong đợi ngày xuân sang, mỗi người Việt lưu vong là một cánh thiệp đầu Xuân mới.

Với cánh thiệp đầu Xuân và trái tim chân thành, chúng ta cùng nhạc sĩ Minh Kỳ hát lên trong ước nguyện, cùng chúc nhau thanh bình và vinh quang:

Tôi chúc muôn người mọi điều ước muốn
Non nước vinh quang trong tia nắng thanh bình
Để người anh yêu dấu quay về gia đình tìm vui bên lửa ấm.
Tôi chúc yên lành người người khắp chốn
Mong gió đưa duyên cho cô gái Xuân thì ước nguyện sao chóng thành rượu hồng xe duyên”

Kính chúc bạn đọc thân yêu an lành trong muà xuân mới.

Nguyễn Văn Nhớ

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Xuân về nghĩ đến Anh Hùng Vô Danh

Phai Tàn – Nhạc và Lời Lê Hữu Nghĩa

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Phai Tàn – Nhạc và Lời Lê Hữu Nghĩa

Khai bút đầu năm _ Cóc Nhà

Cóc Nhà khai bút mừng năm mới.
Chiều Ba Mươi, lạy Phật sám hối. Đưa Tân Sửu
“Sáng Mồng Một, hành hương hái lộc. Đón Nhâm Dần”
Xin phép cho cóc Nhà được múa rìu qua mắt thợ.

Câu đối đầu năm 2022

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Khai bút đầu năm _ Cóc Nhà

Thơ Lê Phương Lan _ Con Gái Tuổi Dần

con gai tuoi dan

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thơ Lê Phương Lan _ Con Gái Tuổi Dần

Căn Nhà Nhỏ Mừng Xuân Nhâm Dần 2022

Nhân dịp Xuân về, Căn Nhà Nhỏ kính mời Quý NT, Quý thân hữu và tất cả anh chị em K1  thưởng thức nhạc phẫm : “Ly Rượu Mừng” cùng những lời chúc lành đầu Xuân

K1 final 2

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Căn Nhà Nhỏ Mừng Xuân Nhâm Dần 2022

Chỉ hai thứ thội . . . Lan Lê Nguyên bien soạn

CHỈ HAI THỨ THÔI

3e80db578bcc3f0a99b960b465d3123b

Ngày đầu năm Dương lịch, người Mỹ thường hay tự đề xuất cho mình “New Year Solutions”.

 Đầu xuân Nhâm Dần năm nay xin chia sẻ cùng bạn đọc những phân tích, hướng dẫn rất hay mà chúng ta có thể tự suy nghĩ khi đi tìm cho mình “Những Điều Cần Thực Hiện Cho Năm Mới”.

Chỉ hai thứ thôi, chúng ta CẦN PHẢI:

TIẾT KIỆM: đó là sức khỏelời hứa.

CHO ĐI, ĐỪNG GIỮ LẠI: đó là lòng tốt và trí thức hay những gì mình đã biết.

THAY ĐỔI: đó là nhận thức của mình về người khác và về chính mình.

BIẾT GIỮ GÌN: đó là niềm tin và nhân cách của chính bản thân mình.

BIẾT TRÂN TRỌNG: đó là gia đình mình và giây phút hiện tại.

TỰ THỰC HIỆN ĐƯỢC: đó là tinh thần trách nhiệm và việc làm sinh lợi ích cho người khác.

MAU CHÓNG QUÊN ĐI: đó là đau thương và hận thù.

GHI KHẮC THẬT SÂU TRONG TIM: đó là công ơn cha mẹ và sự giúp đỡ của bất kỳ ai.

CÓ THỂ LÀM ĐỂ ĐƯỢC THÀNH CÔNG: đó là niềm đam mê chân chính và sự kiên nhẫn tột cùng.

TUYỆT ĐỐI KHÔNG NÊN LÀM: đó là đừng làm hại bất kỳ ai và đừng bao giờ phản bội.

BẢO VỆ MỘT CÁCH TRÂN TRỌNG: đó là danh dự của mình và lẽ phải.

CHẤP NHẬN VÌ KHÔNG CÓ SỰ CHỌN LỰA: đó là cái chết và sự khác biệt với người khác.

KIỂM SOÁT NÓ: đó là bản năng dục vọng và những cảm xúc không thể kiềm chế được của mình.

TRÁNH THẬT XA: đó là sự cám dỗ và tính ích kỷ.

DÙNG NGAY, ĐỪNG HÀ TIỆN: đó là tiền bạc và những kinh nghiệm mình thu tích được.

KHÔNG ĐƯỢC SỢ SỆT: đó là cái ác và sống thật với lòng mình.

CẦN NUÔI DƯỠNG: đó là tình yêu và lòng bao dung, tha thứ.

CẦN ĐẠT ĐƯỢC TRONG CUỘC SỐNG: đó là hạnh phúc và sự thành đạt của mình (mà không phải là bằng cấp).

SẴN SÀNG ĐÓN NHẬN: đó là ngày mai và những thử thách.

Trích bài giảng của linh mục Phạm Quang Hồng, một cựu tù nhân chính trị sau 1975. Những bài giảng được khảo cứu, biên soạn công phu của linh mục PQH rất tinh tế và sâu sắc. Đặc biệt ông có những bài nói về những kinh nghiệm cười ra nước mắt khi phải sống dưới sự kiểm soát của các cán bộ trại giam “đỉnh cao trí tuệ”trong các trại tù!

Lê Phương Lan biên soạn

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Chỉ hai thứ thội . . . Lan Lê Nguyên bien soạn

Mai Đào Chào Xuân – Thơ Phiến Nguyễn

Mai Dào mung xuan

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Mai Đào Chào Xuân – Thơ Phiến Nguyễn

Thơ Xuân Tống Phước Kiên

Chi có nhớ _ Thơ TPK

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thơ Xuân Tống Phước Kiên

Suy Nghĩ của Một Người Điên

This image has an empty alt attribute; its file name is you-r-free.jpg

“YOU ARE FREE – GO HOME”… Đó là câu nói mà những người Do Thái may mắn còn sống sót sau cuộc tàn sát của Hitler và Đức Quốc Xã ở trại tập trung tiêu diệt người Do Thái mang tên Auschwitz, được nghe từ những người lính Mỹ và đồng minh đến giải thoát họ “Bạn được tự do rồi. Về nhà đi.”

Sau khi các cánh cổng trại giam được quân đội đồng minh tháo mở, những tù nhân Do Thái còn lại chút sức lực, chỉ biết ngơ ngác, chưng hửng, lết những bước chân nặng nhọc đi quanh trại giam một cách vô chủ đích, với những ánh mắt lạc thần nhìn vào khoảng không gian vô định.

Tự Do Rồi. Về Nhà Đi. Nhưng nhà ở đâu?

Có đến 99% người Do Thái sau khi được “giải phóng” từ những trại tập trung, đã trở về nơi họ cư trú trước đó, chỉ để thấy được một điều, tài sản của họ đã bị người khác cưỡng chiếm, không còn nữa. Không chỉ vậy, ngay cả sau khi cuộc tận diệt đã xong, người Do Thái trở về cũng vẫn bị tẩy chay, vẫn bị bài trừ và vẫn bị xua đuổi ở chính những nơi mà họ đã một đời sinh sống bằng chính những người đã một thời là hàng xóm của họ và ở tất cả các quốc gia Âu Châu như Ba Lan, Áo, Ý chứ không chỉ riêng gì ở Đức.

Cuối cùng thì sau khi được trả lại tự do, đại đa số những người Do Thái sống sót này, lại được đưa vào những trại tập trung khác mang tên “Trại Dành Cho Những Người Bị Di Dời Quê Quán – Displaced Persons’ Camps” được quân đội đồng minh mở ra ở những quốc gia Tây Âu, ngay cả ở chính cái trại tập trung mà Hitler đã nhốt họ trước đó. Thảm não không?

Mãi đến ngày 11 tháng 7 năm 1947 thì chuyến tàu đầu tiên mang tên Exodus đã đưa 4,500 người Do Thái về vùng đất mà ngày nay gọi là Israel, họ được cấp giấy phép… “chủ quyền và chiếm đóng hợp pháp”, đất của người Palestine.

This image has an empty alt attribute; its file name is exodus_1947_12.jpg

**********

Tôi thường ráp nối lịch sử để tìm hiểu thêm về hiện trạng đang diễn ra trên thế giới và thấy ngay cái liên quan của người Việt mình hiện nay. Sau 1975, người Việt đã có mặt hầu như ở khắp nơi, từ Âu sang Á, từ Mỹ qua Úc và có luôn ở một vài quốc gia bên Phi Châu. Người Việt đi tạm cư ở khắp nơi qua nhiều dạng với nhiều hoàn cảnh, nhưng chỗ nào cũng có một cộng đồng của người Việt tụ tập lại để cùng sinh hoạt. Và một điều không thể thiếu đó là… Ở đâu có cộng đồng Việt, ở đó có nghĩa trang người Việt, cô đơn, lạnh lẽo và hoang vắng.

Có những cộng đồng nhỏ chỉ độ vài chục hoặc vài trăm người Việt như ở Dakar thuộc Senegal ở Phi Châu hoặc Luang Prabang, một cái làng nhỏ thuộc Lào ở Á Châu, cho đến những cộng đồng khổng lồ vài trăm ngàn người như ở Quận Cam California hoặc ở Bellaire Texas để đôi khi, tôi nghe vọng lại cái câu nói: “You are free. Go home” đó trong đầu.

Khi nào thì tôi sẽ được nghe câu “Bạn Được Tự Do Rồi – Về Nhà Đi?” Sau đó thì… tôi sẽ về nhà nào, ở đâu?

Không ít người Việt sống nơi xứ người như tôi, đã nhận nơi này là quê hương thứ 2 của họ. Tôi thì không, bởi tánh tôi kỳ quặc, rắc rối và khó hiểu, ngay cả với chính bản thân mình. Bởi nếu Mỹ … đã là quê hương của người Việt, thì tại sao lại có những “thủ đô tỵ nạn của người Việt trên đất Mỹ”? Người Mỹ chỉ có xua quân đi “khám phá ra thế giới mới của Thổ Dân Da Đỏ” chứ làm gì có chuyện mất nước để phải xin tỵ nạn?

Nhiều năm trước đây, tôi cũng đã cố gắng nhận nơi này là quê hương, thế nhưng càng sống ở đây lâu, tôi lại càng hiểu rõ ra là … ít ra là đối với cá nhân tôi, điều đó không bao giờ thành sự thật. It’s just a matter of time – Đến một lúc nào đó… mà thôi.

Sau hơn 40 năm sống ở đất nước này, giữ trọn bổn phận của một người công dân, đóng thuế đầy đủ cũng như đóng góp rất nhiều cho cộng đồng, cộng đồng người Việt cũng như cộng đồng người Mỹ, và với cuộc sống tạm gọi là thành công về mọi mặt, thế nhưng, tôi vẫn chưa tìm ra được Đồng Bào trên Quê Hương này.

Người Mỹ Da Trắng không coi tôi là đồng bào của họ. Chính quyền Mỹ không coi tôi là “Người Dân” của họ, vì trong hầu hết các thứ giấy tờ liên quan đến “đất nước này”, vợ chồng chúng tôi và con cái chúng tôi vẫn phải chọn đánh dấu vào cái “gốc gác” của mình là “Dân Gốc Châu Á”. Người ta gọi chúng tôi là “Người Mỹ Gốc Á hoặc rõ ràng hơn nữa thì Người Mỹ Gốc Việt – Asian Americans or Vietnamese Americans”.

Chỉ có người Mỹ Da Trắng mới là đồng bào với nhau trên đất nước này, làm gì có chỗ để tôi chen chân vào. Những thứ đó, nó vạch ra cho tôi thấy một điều rất rõ ràng, đó là, một ngày nào đó, có thể chúng tôi hoặc con cái chúng tôi, cũng sẽ được nghe cái câu: “You are free – Go home”.

Cũng đã gần 47 năm rồi còn gì?

Hơn chục năm nay tôi đã khổ công ra tìm NHÀ cho mình để VỀ. Tôi không tìm thấy NHÀ ở Bồ Đào Nha hay Tây Ban Nha, mặc dù người ta chấm điểm cho 2 quốc gia này rất đáng … để dọn nhà sang đó ở, dễ mà, vì chỉ cần bỏ ra vài trăm ngàn đô đầu tư để mua cái quốc tịch. Tôi cũng không tìm thấy NHÀ ở Thái Lan hay Mã Lai, cũng không thể thấy NHÀ ở Nam Hàn hay Đài Loan, mặc dù cũng chỉ phải chi ra độ 2 trăm ngàn để mua căn nhà và xin cái visa nghỉ hưu dài hạn là được. Nhất là ở những quốc gia Á châu này, không như ở các quốc gia của người Da Trắng, khi ra đường, chẳng ai có thể đoán ra được là chúng tôi… đến từ đâu và chắc chắn cũng chẳng có ai hỏi “Where are you from (originally)?”

Căn nhà cũ với cái ao to như cái hồ bơi quốc tế trên mảnh đất khổng lồ của chúng tôi trước năm 1975 nằm trên đường Hiệp Nhất thuộc quận Tân Bình đã không còn nữa từ lâu rồi. Hiện nay nó là một cơ sở kinh doanh thuộc “hạng khủng và to đùng”, cao cả chục tầng và có lẽ giá phải đến trăm tỷ tiền Hồ.

I AM FREE but NO HOME TO GO BACK TO … TÔI ĐANG CHỜ ĐẾN MỘT NGÀY TỰ DO THỰC SỰ, NGÀY VĨNH VIỄN RA ĐI.

 Giao Thanh Phạm

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Suy Nghĩ của Một Người Điên

Một Chuyện Tình Khó Tin Nhưng Có Thật – Vỏ Thiệu sưu tầm

Một Chuyện Tình Khó Tin Nhưng Có Thật

Vào dịp cuối năm 1994, một buổi họp mặt các cựu tù nhân chính trị được tổ chức ở San Diego. Xướng ngôn viên của buổi lễ cho biết : “Khi tôi xướng tên trại nào, nếu quý anh là trại viên của trại đó, xin đứng dậy và tự giới thiệu tên của mình để các anh em khác được biết”. Nhiều trại cải tạo ở miền Bắc được lần lượt xướng tên như “Phong Quang”, “Yên Báy”, “Vĩnh Phú”, “Thanh Cẩm”, “Lý Bá Sơ”, “Nam Hà”, “Phú Sơn” v.v Trại nào cũng có năm bảy anh đứng dậy và giới thiệu tên của mình. Khi xướng tên trại Nam Hà, tôi đứng dậy và có thêm bốn anh nữa , trong đó có một anh, tự giới thiệu tên của mình là Lê Trung Đạo. Tôi lẫm nhẫm Lê Trung Đạo, Lê Trung Đạo…sao tên nghe quen quá, hình như anh ấy ở chung đội với tôi thì phải. Khi phần giới thiệu các anh em trại Nam Hà chấm dứt, tôi đi đến bàn của anh Đạo, đứng đối diện và nhìn kỹ anh ấy. Tôi nhận ra anh Đạo ngay. Tôi ôm chầm lấy anh, và anh ấy cũng ôm tôi trìu mến. Tôi thì thầm bên tai Đạo : “Em còn nhớ anh không? ” Đạo trả lời ngay: “Anh Uyển, mà sao em có thể quên được, thật vui mừng được gặp lại anh. Em trông chờ ngày này đã lâu lắm rồi!”

Khi cùng sống trong cảnh đọa đày nơi trại Nam Hà, phân trại C, tôi và Đạo nằm gần nhau. Ra đồng, bắt được con cua, con cá, tôi và Đạo cùng chia sẻ với nhau. Đạo là một Thiếu Úy Cảnh Sát Đặc Biệt, mới ra trường, không biết làm Trưởng G hay H gì đó..mà bị đày ra cải tạo ở miền Bắc.Anh còn quá trẻ, khoảng 24, 25 tuổi. Tôi xem anh như một người em của tôi và tôi rất quý mến anh. Đạo chưa lập gia đình. Anh chỉ còn một mẹ già đang sống ở Vĩnh long. Vì vậy, từ ngày bị đưa ra Bắc, Đạo chưa bao giờ nhận được quà của thân nhân từ trong Nam gởi cho anh. Anh sống hiền hòa, vui tính, nên anh em trong đội ai cũng mến anh. Đạo xem tôi như một người anh trong gia đình, anh tâm sự với tôi : “Đời em chẳng còn gì nữa, chỉ có một người mẹ, mà từ ngày bị đày ra Bắc, đã trên 5 năm rồi em chẳng có tin tức gì của mẹ em. Không biết bà còn sống hay đã ra người thiên cổ”

Đạo nắm tay tôi và cảm động nói: “Giờ đây em chỉ có anh là người duy nhất thương mến em, cho em chút an ủi để sống qua ngày!”

Như có một động lực nào thúc đẩy, Đạo tâm sự với tôi : “Anh ạ,mình phải sống chứ anh, mà muốn sống, dù là cuộc sống thấp nhất, cũng phải có một ước mơ gì đó để mà mộng tưởng, để tiếp sức cho mình. Các anh em ở đây , dĩ nhiên ai cũng mơ ước sớm được trở về với gia đình. Ngoài xã hội thì kẻ này mơ trúng số, kẻ kia mơ nhà cửa , ruộng vườn v.v. Nhưng sống nơi địa ngục trần gian này, anh em mình mơ ước điều gì đây? Tất cả đều nằm ngoài tầm tay của mình. Em chợt nhớ lại một câu chuyện cổ tích của Pháp, tựa đề là “Un Peu De Soleil Dans L’eau Froide” kể lại câu chuyện một ông lão nghèo khổ, sống cô đơn một mình trong căn lều nhỏ bé, trống trước, trống sau. Bổng một bà tiên hiện ra và cho ông một điều ước. Bà tiên cứ nghĩ, thế nào ông lão nghèo nàn này cũng sẽ ao ước có một căn nhà, hoặc ao ước có nhiều tiền bạc..v..v. Nhưng bà tiên vô cùng ngạc nhiên, khi ông lão nghèo khổ ấy chỉ xin “Một Nụ Cười”

Đạo như chợt tỉnh, ông lão bất hạnh trong câu chuyện cổ tích, đã chỉ cho Đạo một mơ ước, mà dù trong hoàn cảnh nào cũng có thể đạt được, đó là một nụ cười. Không cần phải là nụ cười của giai nhân, mà chỉ cần một nụ cười thân ái của ai đó, chân thành trao cho anh, vì yêu mến anh, có thế thôi.

Cuộc sống tù đày cứ kéo dài triền miên trong đói khổ, vô vọng. Nhưng khi nghĩ đến một nụ cười, Đạo thấy tâm hồn mình có chút an ủi, nhẹ nhàng. Hằng ngày , Đạo ước mơ nhận được nụ cười. Đêm đêm Đạo cũng ước mong trong giấc mơ, anh sẽ gặp được một nụ cười. Nhưng buồn thay, những giấc mơ đến với Đạo chỉ là những cơn ác mộng mà thôi.

Nhưng thật kỳ diệu, từ ngày Đạo ôm ấp ước mơ có được một nụ cười, anh thấy cuộc đời của anh có chút ý nghĩa, vì dù sao anh cũng có một ước mơ, để mà thương, mà nhớ, mà mong chờ.

Một hôm, đội được dẫn đi gặt lúa, khi đi ngang qua cổng cơ quan, Đạo thấy nhiều chiếc áo vàng đứng ở đó. Nhìn lướt qua, Đạo chợt thấy một nữ cán bộ nhìn anh mỉm cười. Anh không tin ở mắt mình, anh nghĩ rằng có thể cô ta cười vu vơ gì đó, chứ đâu phải cười với anh. Anh quay lại nhìn một lần nữa, vẫn thấy cô ta nhìn anh và mỉm cười.

Từ ngày ấy, mỗi khi đội đi ngang qua cỗng cơ quan, Đạo đều bắt gặp nụ cười của người nữ cán bộ dành cho anh. Vì vậy khi đi lao động, Đạo luôn luôn đi cuối hàng để dễ đón nhận nụ cười của cô nữ cán bộ. Đạo cũng cười đáp lễ với cô ta. Đạo bắt đầu thấy cuộc đời của mình, có một chút gì thi vị, đáng sống. Khi ăn, khi ngủ, nụ cười đó luôn luôn theo anh, cho anh niềm an ủi, và chút lạc quan để sống. Anh em trong đội đều biết mối tình mắt nhìn mắt và trao đổi nụ cười của Đạo và cô nữ cán bộ.

Không những Đạo nhớ đến nụ cười, anh còn nhớ đến đôi mắt như muốn nói với anh muôn ngàn lời, anh nhớ đến người con gái ấy. Ban đầu anh nghĩ rằng cứ giã bộ vui vẻ cho qua ngày. Nhưng trong tâm trí anh, luôn luôn nhớ đến cô gái ấy và anh nhận ra rằng anh đã yêu cô ta. Đạo nhớ lại ngày xưa Elvis Presley đã hát một bài hát nỗi tiếng là bài Don’t Gamble With Love nay thật đúng như trường hợp của Đạo. Bây giờ Đạo không còncho rằng lao động là khổ sai nữa, mà anh trông chờ mỗi buổi sáng được đi ngang qua cỗng cơ quan, để đón nhận nụ cười của người nữ cán bộ.

Một buổi chiều khi đi lao động về,nghe các anh em Công Giáo tập hát bài “Đêm Đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời”, Đạo mới biết, đêm nay là đêm Noel. Khi cửa phòng giam đóng lại, anh em Công Giáo vội vã thiết trí một ngôi sao Giáng Sinh và hàng chữ “Mừng Chúa Giáng Sinh” ở vách tường cuối phòng. Họ nắm tay nhau ca hát, đọc kinh, cầu nguyện. Đạo nằm mơ màng, lơ đãng nhìn về cuối phòng, chung quanh hàng chữ “Mừng Chúa Giáng Sinh”, Đạo tưởng tượng như có những bóng đèn màu chớp sáng. Anh mơ hồ nghe như có tiếng nhạc bài Silent Night dịu dàng thoảng đi trong gió…Anh thiếp đi trong giấc ngủ yên lành.

Vào một buổi sáng chúa nhật, chúng tôi được gọi ra sân để nhận quà của thân nhân từ trong Nam gởi ra. Thường thì 80 đến 90 phần trăm anh em đều nhận được quà. Riêng Đạo thì chưa bao giờ nhận được quà của thân nhân. Nhưng thật bất ngờ, hôm nay cán bộ lại kêu tên Đạo lên nhận quà, ai cũng ngạc nhiên và mừng cho Đạo.Anh nhận một gói quà bình thường, nhưng cách gói quà , khác với những gói quà từ trong Nam gởi ra. Đạo sững sốt nhận gói quà, đem về phòng, cẩn thận mở ra. Một mãnh giấy nhỏ nằm trên những gói đồ ăn, anh đọc vội hàng chữ “Trìu mến gửi anh Đạo – Em : Kim Chi”. Với mấy chữ ngắn gọn đó, Đạo biết ai gởi cho anh món quà tình nghĩa này. Anh ôm gói quà vào lòng. Anh không ngờ người nữ cán bộ có nụ cười dễ thương đó, lại dám liều lĩnh gởi quà cho anh. Hai hàng nuớc mắt chảy dài xuống má, đây là những giọt nước mắt hạnh phúc mà từ lâu anh không hề có.

Trại Nam hà, Phân trại C, nơi chúng tôi đang ở, phía sau là con đường làng. Trại chỉ ngăn cách với bên ngoài bởi những bụi tre thấp và hàng rào kẽm gai. Dân chúng đi ở ngoài, chúng tôi có thể thấy họ. Thường vào buổi chiều, sau khi ăn cơm xong , chúng tôi hay ra ngồi chơi ở sân sau đó, nhìn người qua lại. Một hôm, chúng tôi thấy cô cán bộ Chi đi lui, đi tới ở ngoài hàng rào, rồi thình lình quăng vào trong một cái gói nhỏ. Chúng tôi biết cô ấy gởi gì đó cho Đạo, chúng tôi mang vào cho anh. Đạo không biết Chi gởi gì cho anh, nhưng anh cảm động lắm. Anh em hiếu kỳ đứng quanh giường của của Đạo, để xem cô Chi đã gởi gì cho anh: đó là một gói xôi và một con gà vàng rộm. Đối với tù nhân, đói triền miên như chúng tôi, thì gói xôi gà này là cao lương mỹ vị bậc nhất trên thế gian này. Đạo rất hào phóng, anh chia đều xôi, gà cho tất cả 32 anh em trong đội, mỗi người được một muỗng xôi và chút ít thịt gà. Có người ăn ngay, nhưng cũng có vài anh em để đó, hít hít mùi thịt gà cho đỡ thèm.

Đạo thấy thương Chi quá, vì yêu anh, nàng đã gan liều làm những việc như vậy, vì nếu bị phát giác, nàng ở tù như chơi. Đạo càng thương Chi khi nghĩ đến tương lai : một cán bộ công an yêu một sĩ quan cảnh sát ngụy..thì đời nào có thể sum họp được. Anh thở dài !

Vào một sáng chúa nhật, một anh trật tự đến phòng chúng tôi, bảo anh Đạo chuẩn bị ra có người thăm nuôi. Chúng tôi rất ngạc nhiên, vì từ bao năm nay, Đạo thuộc diện con mồ côi, chưa hề có ai gởi quà cho Đạo, nói gì đến chuyện thăm nuôi.Thế mà hôm nay, lại có người thân nào đó đến thăm Đạo. Chúng tôi mừng cho Đạo. Khoảng 9 giờ sáng, anh được cán bộ dẫn ra nhà thăm nuôi. Chúng tôi hồi hộp chờ Đạo trở vào để xem anh nhận được những quà gì của thân nhân đem đến.

Nhưng chúng tôi chờ mãi…đã ba , bốn giờ chiều rồi, vẫn chưa thấy Đạo trở vô trại. Thường một trại viên được gặp mặt thân nhân khoảng 15, 20 phút, tối đa là nửa giờ. Thế mà , Đạo ra nhà thăm nuôi đã hơn bốn, năm tiếng rồi mà chưa thấy vô. Chúng tôi bắt đầu lo lắng cho Đạo, không biết chuyện gì đã xảy ra cho anh, lành hay dữ. Và từ đó, chúng tôi không còn biết tin tức gì về Đạo nữa.

Hôm nay gặp lại Đạo, tôi đem chuyện ấy ra hỏi Đạo, anh đã kể cho tôi nghe câu chuyện sau đây:

“Anh nhớ không, ngaỳ chúa nhật hôm đó, em được dẫn ra nhà thăm nuôi, nói là có thân nhân đến thăm. Em vô cùng ngạc nhiên vì em đâu có thân nhân nào từ trong Nam có thể ra thăm em. Bước vào nhà thăm nuôi, em thấy Chi và một ông Thượng Tá công an ngồi ở đó.Chi vội vã đứng lên giới thiệu : “Đây là cậu Du của Chi, đang công tác ở tỉnh Thái Bình, em nhờ cậu ấy đến thăm anh.” Đạo bối rối nhìn Chi, nhìn ánh mắt, nụ cười của Chi. Chi mặc đồ công an, trên cổ áo có đeo quân hàm Thiếu Úy. Chi biết Đạo ngõ ngàng, thắc mắc nên cô nói ngay : “Anh đừng lo, em bảo anh làm gì thì cứ làm theo, chớ có hỏi han gì hết”. Chi dẫn Đạo vào một căn nhà ở gần nhà thăm nuôi, nhà không có ai cả. Chi bảo tôi cởi bộ áo quần tù ra, và mặc ngay bộ đồ công an đã để sẵn ở đó; ngoài áo quần, có cả nón, cặp da và giấy chứng nhận đi công tác miền Nam. Tôi như trên trời rớt xuống, nhưng không có thì giờ để hỏi Chi, việc gì đang xảy đến cho tôi. Khi tôi đã mặc xong bộ đồ công an, Chi nhìn tôi mỉm cươì , rồi kéo tôi ra ngỏ, bảo tôi leo lên một chiếc xe Jeep nhà binh đậu sẵn ở đó., và chạy ra ga xe lửa Phủ Lý. Chi bảo tôi cứ ngồi trên xe, Chi vào mua vé xe lửa đi về Sàigòn. Khi đưa tôi lên xe lửa, Chi ân cần căn dặn: “Không nên về nhà, cũng đừng liên lạc với mẹ, mà tìm một người bà con nào đó ở tỉnh khác xin trú ngụ vài ngày, rồi tìm đường vượt biên. Tốt nhất là đi đường bộ qua ngã Campuchia”. Chi đưa cho tôi một gói giấy và nói: “Đây là ít tiền để anh tiêu dùng, nhớ là phải vượt biên ngay nhé!”. Chi cầm tay tôi và chân thành nói : “Em là vợ của anh, anh đừng quên em!”. Tôi ôm Chi vào lòng, nước mắt ràn rụa. Chi cũng khóc trên vai tôi. Xe lửa từ từ lăn bánh, hình ảnh Chi cô đơn đứng một mình trên sân ga, nhỏ dần, nhỏ dần.. Tôi thấy nhiều lần Chi đưa tay lên lau nước mắt. Trong tim tôi, mối tình mà Chi dành cho tôi quá sâu đậm, đã chiếm trọn cuộc đời tôi. Tôi vỗ vỗ vào trái tim của mình “Đạo, Đạo, mày phải sống xứng đáng để đền ơn đáp nghĩa cho Chi nghe chưa”

Khi xe lửa dừng lại ở ga Bình triệu, Sàigòn, tôi không về nhà tôi ở Vĩnh Long, mà đến nhà dì tôi ở Cần Thơ xin trú ngụ.Chồng của dì tôi là một Đại úy Công Binh Việt nam Cộng Hòa, trước năm 1975, ông phục vụ ở Tiểu Đoàn 24 Công Binh Kiến tạo, mới được trả tự do. Gia đình dì, dượng tôi đang âm thầm chuẩn bị vượt biên. Dì, dượng tôi vui vẻ chấp thuận cho tôi cùng đi theo. Tôi đã đưa gói tiền mà Chi trao cho tôi, cho dì tôi để bà tiêu dùng. Mở gói ra xem, dì bảo tôi : “Tiền đâu mà cháu có nhiều vậy?” Tôi trả lời ngay : “Của vợ con cho đó!”

Vào một đêm tối trời, ghe máy chở cả nhà ra cữa biển Đại Ngãi, vì tàu lớn đang đậu ở đó. Sau 3 ngày và 4 đêm, tàu của chúng tôi đã đến hải phận Thái Lan, được tàu tuần duyên của Thái Lan đưa về trại Sikiew. Trong cuộc phỏng vấn thanh lọc, nhân viên Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc hỏi tôi rất ít. Tôi nghĩ là họ có đầy đủ hồ sơ cá nhân của ngành Cảnh Sát Đặc Biệt. Họ chỉ hỏi tôi là làm Trưởng G hay Trưởng H, tôi trả lời. Người nhân viên đó lấy trong tập hồ sơ ra một tấm ảnh, anh nhìn tôi rồi gật đầu.Thế là tôi vượt qua cuộc thanh lọc. Mấy tháng sau, họ chuyển tôi qua trại Pulau Bidong ở Mã Lai, để chờ chuyến bay đi định cư ở Mỹ.

Tôi mau chóng gởi thư cho má tôi ở Vĩnh Long, báo tin tôi đã bình yên đến trại Pulau Bidong ở Mã Lai, đang chờ chuyến bay để đi định cư ở Mỹ. Khoảng 2 tuần sau, tôi vui mừng nhận được thư hồi âm của má tôi, và một bất ngờ thú vị đến với tôi là có cả thư của Chi nữa! Má tôi đã viết cho tôi : “Đạo con, má rất vui mừng nhận được tin con đã đến nơi bình yên. Má cho con biết là Chi đang ở đây với má. Chi đã kể cho má nghe hết mọi chuyện. Má rất hạnh phúc có được một con dâu hiếu thảo như Chi, má mừng cho con”

Đạo run run mở thư của Chi ra đọc: “ Anh Đạo yêu quí của em, nghe anh đã đến đảo và đang chờ chuyến bay để đi Mỹ, má và em mừng quá anh ơi. Khi anh đi về Nam chưa đầy một tháng, họ đuổi em ra khỏi ngành công an. Em đã về Vĩnh Long ở với má, em thay anh phụng dưỡng, săn sóc má, anh yên tâm ! “

Với lời lẽ chân tình, mộc mạc, tôi uống từng chữ, từng lời trong bức thư ngắn gọn của Chi, tôi áp bức thư vào ngực và đi vào giấc ngủ.

Năm 1982, tôi được đi định cư ở Mỹ. Khi có thẻ xanh, tôi đã làm hồ sơ bảo lãnh Chi. Trong thời gian ở với má tôi ở Vĩnh Long, không biết Chi hỏi thủ tục bảo lãnh ở đâu mà nàng ra Thái Bình, nhờ người cậu Thượng Tá Công An của nàng, làm một giấy hôn thú của tôi và Chi, có đầy đủ chữ ký và khuôn dấu đỏ xác nhận của chính quyền địa phương.

Năm 1987 khi tôi được nhập quốc tịch Mỹ, tôi đã bổ túc hồ sơ bảo lãnh. Chi đã nhanh chóng được phỏng vấn. Lúc này, những trường hợp gian dối chưa xảy ra nhiều, nên việc chấp thuận cho chồng bảo lãnh vợ tương đối dễ dàng nếu có đầy đủ giấy tờ chứng minh.

Vào một ngày se lạnh ở miền Nam Cali, tôi và vài bạn bè thân quen đến đón Chi ở phi trường Los Angeles. Tôi ôm Chi vào lòng, vì quá cảm động, tôi chỉ thốt lên được một tiếng “Em!” Chi cũng vậy, nàng thổn thức trên vai tôi “Anh!”. Chỉ 2 tiếng “Anh” “Em”, nhưng đã gói trọn cuộc tình mà chúng tôi nghĩ là không bao giờ có thể sum họp được. Tạ ơn Trời Đất !

Đạo xây qua người đàn bà ngồi bên cạnh anh, và giới thiệu với tôi : “Thưa anh, đây là Chi, vợ em” Chi bẽn lẽn cúi đầu, che dấu nụ cười đã đem lại sức sống và hạnh phúc cho Đạo.

Tôi đã được nghe , được biết nhiều mối tình ly kỳ, éo le lắm. Nhưng nếu nói đến một mối tình thật lãng mạn, mà người con gái đã dám hy sinh sự nghiệp và cả tính mạng mình cho người yêu, thì không thể không nói đến mối tình của nàng Kim Chi và chàng Trung Đạo.

Bửu Uyển

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Một Chuyện Tình Khó Tin Nhưng Có Thật – Vỏ Thiệu sưu tầm

Kỷ Niệm Học Viện CSQG 56 năm : 1966-2022 – K1 Tuyến Đinh.

Thân Chào các khứa lão K1 !

Screen Shot 2021-07-24 at 10.28.36 AM copy 3

Chúc mừng các bạn K1,  

Năm 2022 này chúng ta đã và đang bước vào ngưỡng cửa 80 .
Thời gian qua nhanh thật. Cách đây đúng 56 năm tròn :
Ngày 28 tháng 01 năm 1966, trên 400 học viên ,Đặc biệt còn có 47 Bông hoa thơm phức ! được  nhận vào nhập học Khoá 1 Sĩ Quan Cảnh Sát tại Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia, nằm trong Trại Lê Văn Duyệt.

Những ngày đầu : Cơ bản thao diễn liên miên mấy tháng trường,trong khi chờ đợi Văn kiện chính thức thành lập Học Viện CSQG. Vì thế khoá học bị kéo dài hơn thời gian theo qui định.

Sau khi mãn khoá  chúng ta được tung ra 4 vùng chiến thuật, nơi nào cũng có mặt sĩ quan Cảnh sát Học viện.
Rồi tới ngày vận nước đã tới 30-04-1975, sau 9 năm phục vụ trong lực lượng CSQG, Chúng ta, ngoại trừ một số ít may mắn thoát khỏi VN vào những giờ phút cuối cùng, còn lại chúng ta đều bị giam cầm trong trại tù cải tạo của Việt Cộng.
Đa số chúng ta đều hưởng thời gian ở tù dài hơn thời gian làm Cảnh Sát, thậm chí nhiều bạn chúng ta gần gấp đôi : 17 năm !

Để Kỷ Niệm 56 năm (1966-2022) Học Viện, dịp này tôi có làm một Video giới thiệu Học viện CSQG, xin mời Các Bạn Xem.

K1 Tuyến Đinh

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Kỷ Niệm Học Viện CSQG 56 năm : 1966-2022 – K1 Tuyến Đinh.

Thơ Đường Cóc K1 Mừng Xuân Con Cọp

kisspng-tiger-lion-whiskers-illustration-clip-art-5b688022aa01d1.0296756515335752026964

MỪNG XUÂN CON CỌP

Đón cọp xuân về chiêng trống khua
Tiễn trâu mãn nhiệm Tết vui đùa
Thay phiên để vận đen tiêu nạn
Đổi gác cho năm mới được mùa
Đem liệng cống thây ma lộng kiếng
Lấy quăng sông tượng quỉ thờ chùa
Đuổi tà diệt ác toàn dân quyết
Dựng lại nước nhà đã rách tua .
Cóc Chát

Họa 1
VẬN NƯỚC SỚM ĐỔI TUA
Trâu khổ ách nài chửa hết khua
Cọp sa cơ nhốt nhẫn tâm đùa
Vận đen đeo đẳng dài vô hạn
Kiếp nạn hoằng vai nặng mút mùa
Lạy Chúa cầu Trời từng thánh thất
Van Thần Khẩn Phật khắp đền chùa
Trừ gian diệt cộng hồi công chính
Vận nước xoai vần sớm đổi tua
COC KHÔ

Họa 2
MONG MỘT NGÀY
Mừng xuân con cọp kẻ gian khua
Dịch bệnh triền miên lắm đứa đùa
Kít tét Việt Nam bay bỗng giá
Công ty Việt Á bội thu mùa
Tội đồ dân tộc ung dung miếu
Sư sãi quốc doanh chễm chệ chùa
Mong một ngày cờ vàng phất phới
Dân mình vui sướng hết te tua
Cóc QT

Họa 3
Ngày ấy đến rồi
Trâu lìa năm cũ ách thôi khua
Cọp đến tân niên hết muốn đùa
Tức nước vào tù vô hạn định
Hờn gian bị gạt biết bao mùa
Dân tình thế thái bươi thùng rác
Tượng ảnh tội đồ treo bục chùa
Chính nghĩa vùng lên trừ giặc Vẹm
Cho dân tộc Việt thoát te tua./-
TQN.

Họa 4
BUỒN TẾT CON CỌP
Cọp về chiêng, trống chẳng còn khua
Vắng vẻ con thơ chạy, nhảy, đùa
Vui Tết tha hương đà mấy độ ?
Buồn Xuân ly xứ đã bao mùa ?
Dẹp hình Đồng vẩu dơ thôn xóm
Xé ảnh Hồ ly bẩn cảnh chùa
Diệt lũ tội đồ Chinh , Trọng lú
Chúng làm nước Việt quá te tua !!!
CÓC TÍA

Họạ 5
CÒN ĐẢNG CÒN MÌNH
Nhâm Dần cọp cộng dũa răng khua
Năm Mới tham quan tiếp tục đùa
Giải toả đền bù oan thế kỷ
Trưng thu cưỡng chế hoạ tư mùa
Tài nguyên đất nước đồ vô chủ
Sản nghiệp nhân dân ấy của chùa
Còn đảng còn mình ta cứ đớp
Mặc người đói khổ rách te tua
CÓC KHÔ

Họa 6

TUỔI DẦN

Xin chiêng đừng đập trống đừng khua
Năm tuổi vợ tôi chẳng phải đùa
Bát phở đành quên từ mấy kiếp
Tô cơm làm chuẩn đã bao mùa
Con bò suốt tháng nhơi rơm ruộng
Chú tiểu quanh năm sực oản chùa
Lỡ dại một vài câu léng phéng
Tam bành nổi máu chắc te tua
CCR

Họa 7

OAI HỔ HẾT TE TUA

Giao thừa báo hiệu chày kình khua
Trâu Cọp bàn giao,Covid đùa
Bệnh dịch năm qua không đợi tiết
Siêu vi xuân đến chẳng theo mùa
Khẩu trang,tiêm chủng cầu ơn Chúa
Giản cách,thuốc thang hưởng phước Chùa
Oai hổ Nhâm Dần Covid tẩu
Trần gian thiên hạ hết te tua
CÓC BIÊN

Họa 8

CỌP VỀ ĐỔI NGƯỢC TUA

Lủ vẹm chuyên nghề môi mép khua
Ôi thôi chém gió tựa như đùa
Nói : nhờ cọng sản mà no ấm
Bảo : có đảng ta mới được mùa
Chống dịch huyênh hoang toàn khẩu hiệu
Ăn tiêu vơ vét bởi tiền chùa
Năm qua trâu mọp dân điêu đứng
Xuân mới cọp về đổi ngược tua
CÓC HUẾ

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thơ Đường Cóc K1 Mừng Xuân Con Cọp

Sớ Táo Quân K1 -Tống Phước Kiên

Hôm nay, ngày 23 tháng Chạp năm Tân Sửu (2021) thần Táo khắp nơi tức tốc du hàng thiên quốc, trình diện trước Ngọc Hoàng Thượng Đế để trình tấu mọi chuyện đã xảy ra trong năm qua với nhiều biến chuyển đau thương ở thế giới ta bà.
Cũng như mọi năm, Táo Quân K1 Tống Phước Kiên cũng áo mão chỉnh tề đáp chuyến bay tốc hành ra đi từ sáng sớm.
Chúc Táo thượng lộ bình an rồi mau mau quay về trần gian để đón giao thừa mừng năm mới Nhâm Dần 2022 cùng vợ con, bằng hữu và đại gia đình K1.
Thượng lộ bình an. Thượng lộ bình an.

slide 1

Slide2

Slide3

Slide4

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Sớ Táo Quân K1 -Tống Phước Kiên

Tinh Thần Đặc Biệt của Tiếng Việt – BS Nguyễn Hy Vọng

Cái tinh thần đặc biệt của Tiếng Việt.

Bài: BS Nguyễn Hy Vọng
sưu tầm & tản mạn

unnamed (12)ảnh: Ông Bà BS. Nguyễn Hy Vọng

Theo các nhà ngữ học thì tiếng Mỹ là thứ tiếng nói vay mượn rất nhiều từ ngữ của các tiếng khác trên khắp thế giới, vì vậy mà nó rất dồi dào và sống động, nó là tiếng nói số một của loài người hiện nay

 Theo tôi thì tiếng Việt cũng không thua kém chi.
Nó đang đứng thứ 12 về số đông người nói [83 triệu] và đang lan ra khắp thế giới tự do từ cái biến cố 1975.

Nó có một nguồn gốc rất là đa dạng vì qua 2,3 ngàn năm nó đã mượn rất nhiều tiếng Tàu mà xài, rồi gần đây lại còn mượn hàng trăm tiếng một của Pháp mà nói, bây giờ đã trở thành tiếng Việt rồi, thí dụ như béret, kaki, kilo, gara, accu, v.v… Các bạn có thể kể ra vài trăm tiếng như thế

Hiện nay tiếng Việt lại còn đang dùng rất nhiều tiếng Anh Pháp Mỹ vay mượn như computer, battery, charge, v,v,, mượn như thế sau này một thời gian sẽ Việt hoá và trở thành tiếng Việt luôn.

Đó là một điều hay, rất hay, tiếng Việt dồi dào thêm, có thêm nhiều cách nói, nhiều ngữ vững, nhiều cách phô bày tư tưởng.

Nhưng ta nên để ý rằng dù có nói bao nhiêu thứ tiếng khác nhau đi nữa, ta cũng chỉ có một thứ chữ abc hiện nay để viết, ta không còn viết chữ Nôm nữa, ta không còn viết chữ Tàu nữa, ta không còn biết chữ khoa đẩu là chữ gì nữa, và sẽ không bao giờ.

Như trong câu nói sau đây: cho xe vô gara, rồi check giùm cái bình điện, nếu hết charge thì câu điện giùm, vô nhà coi công tơ [compteur] tháng này tiền nước bao nhiêu. Có đến 6 ngôn ngữ khác nhau của cả thế giới trong câu nói ngắn đó mà ta không ngờ ! [Việt, Tàu, Pháp, Anh, Mỹ]

Một chuyện lạ hơn nữa là, cách đây mấy ngàn năm, ngoài tiếng Tàu ra, ông bà ta còn dùng và xài không biết bao nhiêu là tiếng nước ngoài ở Đông nam Á châu mà ta cứ tưởng đâu là tiếng Việt của ta, không ngờ đó là tiếng nói của biết bao ngôn ngữ láng giềng, mà lại không phải là tiếng Tàu.

Thí dụ ta nó:
– tha thiết thiết tha đó là tiếng Thái
– vắng vẻ, đó cũng là tiếng Thái luôn
– đủng đỉnh, vâng, cũng là tiếng Thái !
– vơ vẩn vẩn vơ, đó là tiếng Lào đó bạn ơi
– chân tay, chân mây. nó là tiếng Khmer đó
– một ngày, một hai ba bốn năm, đó cũng là tiếng Miên luôn !

Cụ Nguyễn gia Thiều cách đây gần 200 năm đã viết :

– “Trẻ tạo hoá đành hanh quá ngán”
[đành hanh là tiếng gốc Chàm đó bạn ơi, có nghĩa là ganh ghét, ganh tị]

Cụ Nguyễn Trãi cách đây gần 600 năm nói:

– Tuy rằng bốn bể cũng anh tam,
[Đó là tiếng Mã lai hiện nay đó bạn ơi, có nghia là thằng em trai]

Hay là : Hai chữ công danh tiếng vả vê
Đó là tiếng Lào xưa đó, vả vê có nghĩa là trống vắng, mà bây giờ người Việt không còn ai nói nữa

Người Việt nói cái dùi cui hay đùi cui thì 250 triệu người Indonesia và Malay cũng nói là đulkul … y hệt!

Hai tiếng Nôm na mà ai cũng cho là Nôm là Nam, vậy thì  na là gì ? mọi người đều lờ đi !

Thật ra, Nôm và na đều có nghĩa gốc là xưa, cũ, lâu đời…đã có từ lâu.

[Các tiếng Lào Thái Khmer đều có ghi hai tiếng “nôm na” và đều giải thích như vậy]

Tiếng Nôm là tiếng nói xưa của người nước ta, đã nói như vậy từ lâu, truớc khi ông bà ta gặp người Tàu.

Còn nhiều nữa, rất nhiều nữa, cả thảy 27 ngàn 400 tiếng Việt như vậy, ta đã cùng nói cùng xài chung, dùng chung, của không biết bao nhiêu là ngôn ngữ anh em chung quanh ta, đến nỗi là không có một tiếng Việt nào mà lại không có chung đồng nguyên [gốc gác] với một vài ngôn ngữ khácở miền Đông nam Á này

Các tiếng nói Đông nam Á [Khmer, Lào, Thái, Chàm, Malay, Indonesia, Nùng, Hmong Bahnar, Rhade, v.v.. bao bọc tiếng Việt trong một vòng dây thân ái của tình anh em ngôn ngữ chung giòng chung họ hàng mà chúng ta không ngờ đến đó thôi.

Nhưng tiếng Việt có một điểm rất lạ, dễ thì dễ mà khó cũng thật là khó, vì ta tưởng là ta viết đuợc tiếng Việt là ta hiểu được tiếng Việt ,

Thật ra ta không hiểu tiếng mẹ đẻ của chúng ta nó ra làm sao cả:

– ta nói đau đớn mà ta không hiểu đớn là gì, [đớn là tiếng Mon có nghĩa là đau cái đau của lòng mình]
– ta nói rộn rịp mà không hiểu rịp là gì,  [rịp là bận việc], gốc tiếng Lào Thái đó bạn ơi
– ta nói săn sóc, chăm sóc mà ta chẳng hiểu săn là gì mà sóc là gì.  Săn là theo dõi, sóc là sức khoẻ # health [gốc Sanskrit / Pali đó]

Có cả thảy chừng 10 ngàn tiếng Việt gốc gác như thế !

Thành thử dù cho ta có biết viết chữ Nôm, hay chữ Tàu đi nữa, ta vẫn không thể nào bíết ý nghĩa của mỗi từ ngữ trong tiếng Việt của ta đâu!

Biết thêm vài ba ngàn tiếng Pháp, tiếng Anh, chữ Tàu chữ Nôm thì cũng tốt thôi, ta sẽ trở thành một thứ học giả “bất đắc dĩ”, nhưng đừng tưởng rằng như vậy là đã hiểu thông suốt tiếng Việt.

Cái này đòi hỏi phải có một trình độ và khả năng hiểu biết ý nghĩa nguồn gốc của mỗi chữ mỗi âm, mỗi từ trong tiếng Việt mà con số lên đến gần 10 ngàn tiếng đơn như vậy.

Chỉ có một cách qua được cái khó khăn vuợt bực đó.

Đó là phải có một bộ từ điển nguồn gốc tiếng Việt, tham khảo khắp cả 58 thứ tiếng lớn nhỏ ở nam Á châu, từ tiếng Thái Lào, Khmer, Miến, Malay, Indonesia cho đến những tiếng nói thiểu số với vài ba trăm ngàn người, tiếng Muờng, tiếng Nùng, tiếng Hmong, tiếng Chàm …Chúng nó đều có đóng góp âm thanh, giọng nói và ý nghĩa gốc gác, hay làm nguồn cội ban đầu cho mọi từ, mọi ngữ trong tiếng Việt.

Và đó là bộ Từ điển nguồn gốc tiếng Việt, sắp xuất bản mà chúng tôi xin phổ biến truớc một ít từ ngữ nguồn gốc Việt để các bạn và quý vị xem cho vui.

BS Nguyễn Hy Vọng

* * *

Bác sĩ Nguyễn Hy Vọng sanh năm 1932, tại Huế
Tốt nghiệp Đại Học Y Khoa Sài Gòn năm 1958
Đã hành nghề bác sĩ tại Miền Nam Viêt Nam và tại Hoa Kỳ từ ngày ra trường cho đến năm 1997.

Cộng tác với  cố học giả Đào Đăng Vĩ soạn Pháp Việt Đại Từ Điển (1952), Pháp Việt Tiểu Từ  Điển (1954),  Bách Khoa Từ Điển (phần danh từ khoa học, Volumé A,B,C, (1960)

Bắt đầu nghiên cứu và soạn thảo Từ Điển Nguồn Gốc Tiếng Việt từ năm 1981. Đang sửa soạn  xuất bản điã CD và sách giấy.

Hiện sống tại Tustin, California.
Thú vui: du lịch, đời sống gia đình, và nghiên cứu từ điển.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Tinh Thần Đặc Biệt của Tiếng Việt – BS Nguyễn Hy Vọng

Tết Xưa – Bài của Người Phương Nam

Tết Xưa

tet

Hôm nay đã là ngày rằm tháng chạp âm lịch, con trăng này là con trăng cuối cùng trong năm, chỉ còn nửa tháng nữa thôi là năm hết Tết đến.  Giờ này nơi quê nhà, chắc hẳn thiên hạ đang tưng bừng sắm sửa chuẩn bị đón năm mới trong tâm trạng   háo hức rộn ràng chớ không như người Việt tha hương viễn xứ, tết đến trong im lìm lặng lẽ buồn tênh không kèn không trống, không chút không khí báo hiệu ngày xuân cho nao nức xôn xao lòng người. Trót đã mang thân vong quốc tị nạn, nhập gia tùy tục, đời sống hằng ngày phải hội nhập theo chân người bản xứ, mọi nghi lễ tập tục truyền thống khi xưa của dân tộc mình giờ đây chỉ còn là trong tưởng niệm ngậm ngùi.

Quê người chẳng có ngày xuân
Chẳng hương hơi Tết, chẳng xuân trong lòng
Cách ngăn cả một biển đông
Quê hương bỏ lại xuân hồng chẳng sang
Thương về quê cũ bẽ bàng
Thiêng liêng truyền thống son vàng đã xa

Thùy còn nhớ, ngày xưa mỗi năm cứ khỏang đầu tháng chạp là mọi người đã bắt đầu rục rịch bàn tính chuyện tết nhứt, giàu thì ăn tết lớn, nghèo thì ‘’xính xái’’ tính theo nghèo, làm gì làm cũng phải ăn tết ăn nhứt như người ta cho khỏi tủi thân bẻ mặt với bà con xóm làng. Tết là cái mốc thời gian khởi điểm cho mọi sự bắt đầu lại như một cuốn lịch mới tinh nguyên bắt đầu cho một năm mới tràn trề  hy vọng.

Bởi vậy cho nên ai ai cũng cố gắng chuẩn bị cho gia đình mình một cái tết thật chu đáo kỹ càng và đầy đủ được chừng nào hay chừng nấy. Nhà cửa được sơn phết dọn dẹp sạch sẽ ngăn nắp từ trong ra ngòai, màn cửa mới toanh, lư hương tủ thờ được lau chùi sáng bóng. Vui nhứt là mấy chị em được má dẫn đi chọn hàng vải may đồ mới, mỗi đứa vài bộ đồ, hai ba đôi giày dép guốc hoặc có thể xin mua sắm gì thêm nữa theo ước muốn với lý do chính đáng vững chắc là ‘’tết mà’’, một năm chỉ có một lần, lẽ nào ba má từ chối không cho.

Từ hai mươi ba tháng chạp, đưa ông táo về trời xong là mấy bà mấy cô luôn bận rộn không ngừng với chuyện nữ công trang hòang nhà cửa và chuyện gia chánh nấu ăn như làm dưa (dưa món, củ kiệu, củ cải, bông cải vv…) sênh mứt (mứt mảng cầu, mứt me, mứt dừa, mứt gừng, mứt bí, mứt thơm) hoặc nướng các lọai bánh (bánh gai, bánh men, bánh quy, bánh thuẩn, bánh hạnh nhân…) tùy thích. Làm xong đem cất trong các ngăn quả keo lọ để dành đãi khách trong những ngày tết hoặc làm quà biếu xén bà con xa gần. Đó cũng là cơ hội cho các cô con gái tới tuổi cập kê thi đua trổ tài khéo léo của mình với  bạn bè hàng xóm chung quanh, nhứt là với những gia đình có con trai lớn đang ngắm nghé  chọn dâu cưới vợ.

Ngày ba mươi tết, năm nào rước ông bà về ăn tết với con cháu, cả nhà Thùy cũng đều tụ tập qua nhà bà dì, chị cả của má để cúng kiến chung, bữa cúng đó rất thịnh sọan linh đình, ngòai nồi thịt kho hột vịt, tiêu chuẩn không thể thiếu trong ba ngày tết còn có những   món ngon mà ngày thường Dì ít khi làm tới như vịt tiềm bạch quả hột sen, nấm đông cô um với tóc tiên, lẩu thập cẩm, gà nấu dấm, chả tôm quết, thịt đông(miền nam tiết trời không đủ lạnh, muốn cho thịt đông phải để tủ lạnh), bánh tét do dì gói và bánh củ cải cũng do dì làm.

Bánh củ cải là đặc sản của người Tiều minh hương, một lọai bánh hấp làm bằng củ cải trắng bào sợi trộn chung với tôm khô, đậu phọng, thịt ba chỉ, tỏi lá xắt nhuyển và bột gạo rồi cho vào khuôn hấp. Khi ăn xắt miếng dày chừng một phân nhúng vào trứng bỏ vô chảo chiên sơ ăn với xì dầu tương ớt họăc nước mắm ớt Việt Nam là hết sảy. Đồ ngọt thì có sương sa, bánh quai vạc, bánh ít bánh dày bánh tổ và trái cây tươi phủ phê đủ loại kể sao cho xiết.

Không biết tổ tiên ông bà ông vải có ăn được miếng nào không mà cúng xong vẫn còn y nguyên hiện để rồi sau đó con cháu dọn xuống ráp lại ăn nhậu phè phởn tưng bừng một bữa trả thù những khi phải ăn sơ sịa quấy quá cho qua ngày. Nhưng cho dù có nhậu quắc cần câu hay ăn cách mấy đi nữa cũng không hết nổi chừng ấy món ăn, thứ nào cũng còn dư ê hề, nhứt là dĩa tam sanh thịt luộc, tôm nướng, mực khô cúng ông thần tài  vẫn còn chình ình tại chỗ không ai đụng tới. Vì vậy cho nên bà dì kêu Thùy lại bảo ra chợ mua giùm dì hai ký cải phụng (mùi vị giống y cải xanh nhưng lá to bẹ dài gấp bốn lần cải xanh) để dì nấu chung với mớ đồ dư thành xà bần để ăn dài dài tới ra giêng. Thùy nhăn nhó gãi đầu bẻ mình bẻ mẩy ẹo tới ẹo lui một hồi rồi ngần ngừ nói:

– Con sợ pháo quá hà, ra đường mấy thằng con trai liệng pháo vô mình hổng có ai kế bên cho ôm chắc con chết giấc quá. Dì kêu con Hương đi giùm đi, để con ở nhà phụ dì mấy công chuyện khác.

Dì trừng mắt gạt ngang:

– Pháo tiểu nổ lẹt đẹt mà sợ cái nổi gì. Con Hương nó không có biết lựa cải, mua về ba cái cải già ngắt sơ không có môn mà dục bỏ chớ ăn gì được. Thôi thì hai đứa đi chung đi, đi lẹ lên không thôi người ta dọn chợ về ăn tết hết là tụi bây hỏng có xà bần ăn đó nghe con. Lớn đầu rồi còn sợ pháo y như là con nít, thiệt tình. À, mà dặn hờ nè, nếu hết cải phụng thì mua hai cái bắp bắc thảo nghe chưa, đừng có về tay không là tao bắt trở ra nữa đó.

Thùy vừa đi vừa phân trần với Hương, nhỏ em, con bà dì:

– Đâu phải nhỏ mới được… quyền sợ, lớn như tao với mày cũng sợ vậy, cái gì nổ cái đùng là giựt mình sợ hết hồn hết vía luôn, trời gầm sấm chớp tao cũng sợ thấy bà cố nội kiếm chỗ núp không kịp chớ bộ.

Hương nhảy đong đỏng chận họng Thùy:

          – Ê, không có tao trong đó à nghe, tao không có sợ cái giống gì hết á. Tính lôi tao vô cho có bạn hả mậy?Nghèo mà ham!

Thùy vuốt ve giả lả:

        – Ờ phải à, bởi vậy mới kêu mày ‘’hộ tống’’ tao đó. Tao sợ nhiều thứ lắm. Ngay cả con gà, tao cũng sợ nữa. Hôm qua má tao kêu  xách con gà lại nhà bạn má biếu tết, con gà đã được nhốt trong giỏ ràng dây chằng chịt mà tao cứ sợ nó ngóc mỏ lên mổ cái tay, vừa đi vừa hồi hộp cho tới khi ‘’giao hàng’’ xong mới thôi.

Hương trề môi háy Thùy một cái dài nhằng:

– Cái đồ thỏ đế, trời gầm mà cũng sợ, hổng biết mai mốt lớn lên mày làm cái gì ăn nữa, không lẽ trốn trong nhà hòai được sao.

Thùy la làng chói lói:

          – Ê, bữa nay nói vậy còn được chớ ngày mai mùng một tết, mày làm ơn kiêng cử cái miệng của mày lại giùm chớ mà phát ngôn bừa bãi như vậy thì tao xui cả năm đó nghe con quỷ.

Buổi trưa rước ông bà xong, tối lại tới cúng giao thừa đón năm mới. Giao thừa còn gọi là tống cựu nghinh tân. Tục truyền rằng vào giữa khuya đêm này, vị thần cai quản việc thế gian năm cũ mãn nhiệm kỳ ra đi bàn giao công việc lại cho vị thần mới về nhậm chức. Để bày tỏ lòng thành kính biết ơn, nhân gian mới lập bàn cúng tế ra giữa trời, một công mà bốn việc, vừa đưa tiễn, vừa đón rước, trước cúng sau ăn. Thông thường thì cúng giao thừa người ta chỉ cúng đồ chay như trà nước, bánh mứt trái cây hoặc nấu một món chè gì đó thanh đạm thôi chớ không rượu thịt rình rang như rước ông bà.

Cũng trong lúc này, trên trời, hỏa châu được bắn lên tới tấp sáng ngời cả một vùng đêm đen trừ tịch báo hiệu giờ phút thiêng liêng của một năm đã đến, dưới đất những dây pháo dài thậm thượt được đốt lên nổ rền liên tục để xua đi những gì xui xẻo rủi ro trong năm cũ và đón về một năm mới may mắn tốt đẹp thanh quang.

Sáng mùng một tết, mấy chị em Thùy hăng hái dậy sớm, sung sướng diện vào bộ quần áo mới mừng tuổi ba má chờ tiền lì xì. Đây là một tuc lệ rất được giới con nít hưởng ứng hoan nghinh, đứa nào lớn nhứt thì được tiền nhiều nhứt vì đã có nhu cầu xài tiền hơn những đứa còn nhỏ. Người lớn có khi cũng được lì xì tượng trưng để lấy hên cho năm mới được phát đạt tấn tài.Và khi chiếc radio Philips nhiều băng tần của ba Thùy vừa trổi lên bản nhạc ‘’Câu chuyện đầu năm’’ hay ‘’Ly rượu mừng’’ cũng là lúc ba đã chỉnh tề lịch sự trong bộ ‘’đồ vía’’ với đôi giày đen bóng láng mà cả năm bị treo trong tủ, cất trong hộp đợi đến ngày tết mới lấy ra mặc một lần để đi thăm viếng chúc tụng bà con. Quanh năm suốt tháng ăn mặc ra sao cũng được nhưng hôm nay là tết nhứt thì phải trịnh trọng ‘’đóng bộ lên đồ’’ đàng hòang như đi làm chú rể chớ không được lè phè giỡn mặt coi thường. Thế mới biết Tết Nguyên Đán trang trọng thiêng liêng đến thế nào trong tinh thần dân tộc!

Trước tiên, ba Thùy qua xông đất các nhà hàng xóm kế bên. Xưa nay, ba vốn được người trong xóm quý mến vị nể cho nên họ rất hoan nghinh mừng rỡ khi thấy ba tới trước cửa nhà họ. Ghé nhà người nào ba cũng lì xì cho cả nhà đó mỗi người hai tấm vé số ‘’kiến thiết quốc gia’’ để ‘’giúp đồng bào ta xây đắp cơ đồ’’ và nếu vận may đến thì ‘’giàu sang mấy hồi’’ làm ai cũng hớn hở mừng vui như…tết.

Sau đó, ba má dẫn mấy chị em Thùy đi mừng tuổi bà nội đang sống chung nhà với chú thiếm ở cách xa nhà Thùy khỏang cây số. Mùng một tết đúng thật là cái ngày thiên hạ ngơi nghỉ ăn chơi. Dù có bao nhiêu công lên việc xuống hay bao nhiêu lo lắng giận dữ buồn phiền, người ta cũng tạm  thời gác lại một bên để tạo cho mình một ngày nhàn nhã thảnh thơi, một ngày không bận rộn chỉ để ngồi chơi xơi nước, đi chùa hái lộc, đến nhà thờ cầu kinh hoặc đi thăm viếng bà con bạn bè, lắc xí ngầu bầu cua cá cọp thử vận may năm mới.

Thế nên trên suốt mỗi con đường, đâu đâu cũng nhộn nhịp tấp nập khách du xuân với những tà áo mới tinh muôn màu sặc sỡ, tiếng cười đùa chào hỏi lẫn trong tiếng pháo lạch tạch đì đùng đó đây tạo nên một họat cảnh tết thanh bình tự do no ấm đầy dấu ấn tuyệt vời mà cho đến bây giờ Thùy vẫn còn nhớ như in trong tâm trí. Đi tới nhà nào chị em Thùy cũng được lì xì và mời ăn uống, nhà nào cũng hoa mai vàng dưa hấu đỏ, xác pháo ngập đầy sân, nhà nào cũng bánh mứt hột dưa nước ngọt bánh chưng bánh tét phủ phê đầy bàn nhưng chẳng mấy ai muốn ăn mà chỉ lai rai cắn vài hột dưa, nhâm nhi chung trà tách nước, hết nhà này tới nhà nọ là đủ thấy lâng lâng no vui trong lòng vì huyền diệu thiêng liêng của không khí  ngày xuân dân tộc.

Từ ngày biệt xứ xa nhà
Còn đâu nguyên Đán tết ta thuở nào
Đầu xuân nâng chén rượu đào
Chúc nhau phúc lộc dồi dào quanh năm
Du xuân hái lộc đầu năm
Phố phường áo mới tung tăng dập dìu
Dáng mai khoe sắc yêu kiều
Pháo rền hy vọng tin yêu cho người
Nàng xuân e ấp nụ cười
Đất trời hòa quyện niềm vui chan hòa

Tết xưa là như vậy đó, giờ đây có còn chăng chỉ là trong ký ức mà thôi. Kể từ khi lưu lạc  xứ người, nhứt là những năm đầu sống xa cộng đồng người Việt, Thùy không còn biết tết đi tết đến lúc nào. Ngày nào cũng như ngày nấy, áo mới muốn mặc lúc nào thì mặc, không còn cái háo hức chờ năm sang tết đến mới trịnh trọng “lên đồ” như xưa.

Thấm thóat mà  đã ba mươi hai năm trôi qua, ba mươi hai cái tết vô nghĩa đối với Thùy bởi vì Thùy không còn cảm nhận được nữa cái hương vị đặc thù của tết quê nhà năm xưa  dù rằng mỗi năm xuân vẫn sang, tết vẫn đến theo chu kỳ. Hơn thế nữa, Tết lại thường hay rơi vào những ngày  trong tuần, ai cũng bận đi làm, con trẻ thì đi học, chưa kể những người có lịch trình hẹn với bác sĩ hay nhà thương, hay với văn phòng dịch vụ nào đó cho nên không thể ăn tết đúng ngày mà phải đợi tới cuối tuần. Như vậy thì còn gì là cái ý nghĩa thiêng liêng của ngày Nguyên Đán cổ truyền, vui đâu không thấy mà chỉ thêm nuối tiếc ngậm ngùi, thương cho Việt Nam cộng hòa một thuở nào vang bóng đã bị bức tử chôn vùi oan khiên, thương cho quê hương không biết đến bao giờ mới có mùa xuân trở lại!

Xuân xưa cả một quốc gia
Xuân này riêng chỉ mình ta cộng đồng
Lạc lòai xuân chẳng ấm nồng
Bồi hồi quê cũ chạnh lòng xuân xưa !!

Người Phương Nam

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Tết Xưa – Bài của Người Phương Nam