Một Chuyện Tình Khó Tin Nhưng Có Thật – Vỏ Thiệu sưu tầm

Một Chuyện Tình Khó Tin Nhưng Có Thật

Vào dịp cuối năm 1994, một buổi họp mặt các cựu tù nhân chính trị được tổ chức ở San Diego. Xướng ngôn viên của buổi lễ cho biết : “Khi tôi xướng tên trại nào, nếu quý anh là trại viên của trại đó, xin đứng dậy và tự giới thiệu tên của mình để các anh em khác được biết”. Nhiều trại cải tạo ở miền Bắc được lần lượt xướng tên như “Phong Quang”, “Yên Báy”, “Vĩnh Phú”, “Thanh Cẩm”, “Lý Bá Sơ”, “Nam Hà”, “Phú Sơn” v.v Trại nào cũng có năm bảy anh đứng dậy và giới thiệu tên của mình. Khi xướng tên trại Nam Hà, tôi đứng dậy và có thêm bốn anh nữa , trong đó có một anh, tự giới thiệu tên của mình là Lê Trung Đạo. Tôi lẫm nhẫm Lê Trung Đạo, Lê Trung Đạo…sao tên nghe quen quá, hình như anh ấy ở chung đội với tôi thì phải. Khi phần giới thiệu các anh em trại Nam Hà chấm dứt, tôi đi đến bàn của anh Đạo, đứng đối diện và nhìn kỹ anh ấy. Tôi nhận ra anh Đạo ngay. Tôi ôm chầm lấy anh, và anh ấy cũng ôm tôi trìu mến. Tôi thì thầm bên tai Đạo : “Em còn nhớ anh không? ” Đạo trả lời ngay: “Anh Uyển, mà sao em có thể quên được, thật vui mừng được gặp lại anh. Em trông chờ ngày này đã lâu lắm rồi!”

Khi cùng sống trong cảnh đọa đày nơi trại Nam Hà, phân trại C, tôi và Đạo nằm gần nhau. Ra đồng, bắt được con cua, con cá, tôi và Đạo cùng chia sẻ với nhau. Đạo là một Thiếu Úy Cảnh Sát Đặc Biệt, mới ra trường, không biết làm Trưởng G hay H gì đó..mà bị đày ra cải tạo ở miền Bắc.Anh còn quá trẻ, khoảng 24, 25 tuổi. Tôi xem anh như một người em của tôi và tôi rất quý mến anh. Đạo chưa lập gia đình. Anh chỉ còn một mẹ già đang sống ở Vĩnh long. Vì vậy, từ ngày bị đưa ra Bắc, Đạo chưa bao giờ nhận được quà của thân nhân từ trong Nam gởi cho anh. Anh sống hiền hòa, vui tính, nên anh em trong đội ai cũng mến anh. Đạo xem tôi như một người anh trong gia đình, anh tâm sự với tôi : “Đời em chẳng còn gì nữa, chỉ có một người mẹ, mà từ ngày bị đày ra Bắc, đã trên 5 năm rồi em chẳng có tin tức gì của mẹ em. Không biết bà còn sống hay đã ra người thiên cổ”

Đạo nắm tay tôi và cảm động nói: “Giờ đây em chỉ có anh là người duy nhất thương mến em, cho em chút an ủi để sống qua ngày!”

Như có một động lực nào thúc đẩy, Đạo tâm sự với tôi : “Anh ạ,mình phải sống chứ anh, mà muốn sống, dù là cuộc sống thấp nhất, cũng phải có một ước mơ gì đó để mà mộng tưởng, để tiếp sức cho mình. Các anh em ở đây , dĩ nhiên ai cũng mơ ước sớm được trở về với gia đình. Ngoài xã hội thì kẻ này mơ trúng số, kẻ kia mơ nhà cửa , ruộng vườn v.v. Nhưng sống nơi địa ngục trần gian này, anh em mình mơ ước điều gì đây? Tất cả đều nằm ngoài tầm tay của mình. Em chợt nhớ lại một câu chuyện cổ tích của Pháp, tựa đề là “Un Peu De Soleil Dans L’eau Froide” kể lại câu chuyện một ông lão nghèo khổ, sống cô đơn một mình trong căn lều nhỏ bé, trống trước, trống sau. Bổng một bà tiên hiện ra và cho ông một điều ước. Bà tiên cứ nghĩ, thế nào ông lão nghèo nàn này cũng sẽ ao ước có một căn nhà, hoặc ao ước có nhiều tiền bạc..v..v. Nhưng bà tiên vô cùng ngạc nhiên, khi ông lão nghèo khổ ấy chỉ xin “Một Nụ Cười”

Đạo như chợt tỉnh, ông lão bất hạnh trong câu chuyện cổ tích, đã chỉ cho Đạo một mơ ước, mà dù trong hoàn cảnh nào cũng có thể đạt được, đó là một nụ cười. Không cần phải là nụ cười của giai nhân, mà chỉ cần một nụ cười thân ái của ai đó, chân thành trao cho anh, vì yêu mến anh, có thế thôi.

Cuộc sống tù đày cứ kéo dài triền miên trong đói khổ, vô vọng. Nhưng khi nghĩ đến một nụ cười, Đạo thấy tâm hồn mình có chút an ủi, nhẹ nhàng. Hằng ngày , Đạo ước mơ nhận được nụ cười. Đêm đêm Đạo cũng ước mong trong giấc mơ, anh sẽ gặp được một nụ cười. Nhưng buồn thay, những giấc mơ đến với Đạo chỉ là những cơn ác mộng mà thôi.

Nhưng thật kỳ diệu, từ ngày Đạo ôm ấp ước mơ có được một nụ cười, anh thấy cuộc đời của anh có chút ý nghĩa, vì dù sao anh cũng có một ước mơ, để mà thương, mà nhớ, mà mong chờ.

Một hôm, đội được dẫn đi gặt lúa, khi đi ngang qua cổng cơ quan, Đạo thấy nhiều chiếc áo vàng đứng ở đó. Nhìn lướt qua, Đạo chợt thấy một nữ cán bộ nhìn anh mỉm cười. Anh không tin ở mắt mình, anh nghĩ rằng có thể cô ta cười vu vơ gì đó, chứ đâu phải cười với anh. Anh quay lại nhìn một lần nữa, vẫn thấy cô ta nhìn anh và mỉm cười.

Từ ngày ấy, mỗi khi đội đi ngang qua cỗng cơ quan, Đạo đều bắt gặp nụ cười của người nữ cán bộ dành cho anh. Vì vậy khi đi lao động, Đạo luôn luôn đi cuối hàng để dễ đón nhận nụ cười của cô nữ cán bộ. Đạo cũng cười đáp lễ với cô ta. Đạo bắt đầu thấy cuộc đời của mình, có một chút gì thi vị, đáng sống. Khi ăn, khi ngủ, nụ cười đó luôn luôn theo anh, cho anh niềm an ủi, và chút lạc quan để sống. Anh em trong đội đều biết mối tình mắt nhìn mắt và trao đổi nụ cười của Đạo và cô nữ cán bộ.

Không những Đạo nhớ đến nụ cười, anh còn nhớ đến đôi mắt như muốn nói với anh muôn ngàn lời, anh nhớ đến người con gái ấy. Ban đầu anh nghĩ rằng cứ giã bộ vui vẻ cho qua ngày. Nhưng trong tâm trí anh, luôn luôn nhớ đến cô gái ấy và anh nhận ra rằng anh đã yêu cô ta. Đạo nhớ lại ngày xưa Elvis Presley đã hát một bài hát nỗi tiếng là bài Don’t Gamble With Love nay thật đúng như trường hợp của Đạo. Bây giờ Đạo không còncho rằng lao động là khổ sai nữa, mà anh trông chờ mỗi buổi sáng được đi ngang qua cỗng cơ quan, để đón nhận nụ cười của người nữ cán bộ.

Một buổi chiều khi đi lao động về,nghe các anh em Công Giáo tập hát bài “Đêm Đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời”, Đạo mới biết, đêm nay là đêm Noel. Khi cửa phòng giam đóng lại, anh em Công Giáo vội vã thiết trí một ngôi sao Giáng Sinh và hàng chữ “Mừng Chúa Giáng Sinh” ở vách tường cuối phòng. Họ nắm tay nhau ca hát, đọc kinh, cầu nguyện. Đạo nằm mơ màng, lơ đãng nhìn về cuối phòng, chung quanh hàng chữ “Mừng Chúa Giáng Sinh”, Đạo tưởng tượng như có những bóng đèn màu chớp sáng. Anh mơ hồ nghe như có tiếng nhạc bài Silent Night dịu dàng thoảng đi trong gió…Anh thiếp đi trong giấc ngủ yên lành.

Vào một buổi sáng chúa nhật, chúng tôi được gọi ra sân để nhận quà của thân nhân từ trong Nam gởi ra. Thường thì 80 đến 90 phần trăm anh em đều nhận được quà. Riêng Đạo thì chưa bao giờ nhận được quà của thân nhân. Nhưng thật bất ngờ, hôm nay cán bộ lại kêu tên Đạo lên nhận quà, ai cũng ngạc nhiên và mừng cho Đạo.Anh nhận một gói quà bình thường, nhưng cách gói quà , khác với những gói quà từ trong Nam gởi ra. Đạo sững sốt nhận gói quà, đem về phòng, cẩn thận mở ra. Một mãnh giấy nhỏ nằm trên những gói đồ ăn, anh đọc vội hàng chữ “Trìu mến gửi anh Đạo – Em : Kim Chi”. Với mấy chữ ngắn gọn đó, Đạo biết ai gởi cho anh món quà tình nghĩa này. Anh ôm gói quà vào lòng. Anh không ngờ người nữ cán bộ có nụ cười dễ thương đó, lại dám liều lĩnh gởi quà cho anh. Hai hàng nuớc mắt chảy dài xuống má, đây là những giọt nước mắt hạnh phúc mà từ lâu anh không hề có.

Trại Nam hà, Phân trại C, nơi chúng tôi đang ở, phía sau là con đường làng. Trại chỉ ngăn cách với bên ngoài bởi những bụi tre thấp và hàng rào kẽm gai. Dân chúng đi ở ngoài, chúng tôi có thể thấy họ. Thường vào buổi chiều, sau khi ăn cơm xong , chúng tôi hay ra ngồi chơi ở sân sau đó, nhìn người qua lại. Một hôm, chúng tôi thấy cô cán bộ Chi đi lui, đi tới ở ngoài hàng rào, rồi thình lình quăng vào trong một cái gói nhỏ. Chúng tôi biết cô ấy gởi gì đó cho Đạo, chúng tôi mang vào cho anh. Đạo không biết Chi gởi gì cho anh, nhưng anh cảm động lắm. Anh em hiếu kỳ đứng quanh giường của của Đạo, để xem cô Chi đã gởi gì cho anh: đó là một gói xôi và một con gà vàng rộm. Đối với tù nhân, đói triền miên như chúng tôi, thì gói xôi gà này là cao lương mỹ vị bậc nhất trên thế gian này. Đạo rất hào phóng, anh chia đều xôi, gà cho tất cả 32 anh em trong đội, mỗi người được một muỗng xôi và chút ít thịt gà. Có người ăn ngay, nhưng cũng có vài anh em để đó, hít hít mùi thịt gà cho đỡ thèm.

Đạo thấy thương Chi quá, vì yêu anh, nàng đã gan liều làm những việc như vậy, vì nếu bị phát giác, nàng ở tù như chơi. Đạo càng thương Chi khi nghĩ đến tương lai : một cán bộ công an yêu một sĩ quan cảnh sát ngụy..thì đời nào có thể sum họp được. Anh thở dài !

Vào một sáng chúa nhật, một anh trật tự đến phòng chúng tôi, bảo anh Đạo chuẩn bị ra có người thăm nuôi. Chúng tôi rất ngạc nhiên, vì từ bao năm nay, Đạo thuộc diện con mồ côi, chưa hề có ai gởi quà cho Đạo, nói gì đến chuyện thăm nuôi.Thế mà hôm nay, lại có người thân nào đó đến thăm Đạo. Chúng tôi mừng cho Đạo. Khoảng 9 giờ sáng, anh được cán bộ dẫn ra nhà thăm nuôi. Chúng tôi hồi hộp chờ Đạo trở vào để xem anh nhận được những quà gì của thân nhân đem đến.

Nhưng chúng tôi chờ mãi…đã ba , bốn giờ chiều rồi, vẫn chưa thấy Đạo trở vô trại. Thường một trại viên được gặp mặt thân nhân khoảng 15, 20 phút, tối đa là nửa giờ. Thế mà , Đạo ra nhà thăm nuôi đã hơn bốn, năm tiếng rồi mà chưa thấy vô. Chúng tôi bắt đầu lo lắng cho Đạo, không biết chuyện gì đã xảy ra cho anh, lành hay dữ. Và từ đó, chúng tôi không còn biết tin tức gì về Đạo nữa.

Hôm nay gặp lại Đạo, tôi đem chuyện ấy ra hỏi Đạo, anh đã kể cho tôi nghe câu chuyện sau đây:

“Anh nhớ không, ngaỳ chúa nhật hôm đó, em được dẫn ra nhà thăm nuôi, nói là có thân nhân đến thăm. Em vô cùng ngạc nhiên vì em đâu có thân nhân nào từ trong Nam có thể ra thăm em. Bước vào nhà thăm nuôi, em thấy Chi và một ông Thượng Tá công an ngồi ở đó.Chi vội vã đứng lên giới thiệu : “Đây là cậu Du của Chi, đang công tác ở tỉnh Thái Bình, em nhờ cậu ấy đến thăm anh.” Đạo bối rối nhìn Chi, nhìn ánh mắt, nụ cười của Chi. Chi mặc đồ công an, trên cổ áo có đeo quân hàm Thiếu Úy. Chi biết Đạo ngõ ngàng, thắc mắc nên cô nói ngay : “Anh đừng lo, em bảo anh làm gì thì cứ làm theo, chớ có hỏi han gì hết”. Chi dẫn Đạo vào một căn nhà ở gần nhà thăm nuôi, nhà không có ai cả. Chi bảo tôi cởi bộ áo quần tù ra, và mặc ngay bộ đồ công an đã để sẵn ở đó; ngoài áo quần, có cả nón, cặp da và giấy chứng nhận đi công tác miền Nam. Tôi như trên trời rớt xuống, nhưng không có thì giờ để hỏi Chi, việc gì đang xảy đến cho tôi. Khi tôi đã mặc xong bộ đồ công an, Chi nhìn tôi mỉm cươì , rồi kéo tôi ra ngỏ, bảo tôi leo lên một chiếc xe Jeep nhà binh đậu sẵn ở đó., và chạy ra ga xe lửa Phủ Lý. Chi bảo tôi cứ ngồi trên xe, Chi vào mua vé xe lửa đi về Sàigòn. Khi đưa tôi lên xe lửa, Chi ân cần căn dặn: “Không nên về nhà, cũng đừng liên lạc với mẹ, mà tìm một người bà con nào đó ở tỉnh khác xin trú ngụ vài ngày, rồi tìm đường vượt biên. Tốt nhất là đi đường bộ qua ngã Campuchia”. Chi đưa cho tôi một gói giấy và nói: “Đây là ít tiền để anh tiêu dùng, nhớ là phải vượt biên ngay nhé!”. Chi cầm tay tôi và chân thành nói : “Em là vợ của anh, anh đừng quên em!”. Tôi ôm Chi vào lòng, nước mắt ràn rụa. Chi cũng khóc trên vai tôi. Xe lửa từ từ lăn bánh, hình ảnh Chi cô đơn đứng một mình trên sân ga, nhỏ dần, nhỏ dần.. Tôi thấy nhiều lần Chi đưa tay lên lau nước mắt. Trong tim tôi, mối tình mà Chi dành cho tôi quá sâu đậm, đã chiếm trọn cuộc đời tôi. Tôi vỗ vỗ vào trái tim của mình “Đạo, Đạo, mày phải sống xứng đáng để đền ơn đáp nghĩa cho Chi nghe chưa”

Khi xe lửa dừng lại ở ga Bình triệu, Sàigòn, tôi không về nhà tôi ở Vĩnh Long, mà đến nhà dì tôi ở Cần Thơ xin trú ngụ.Chồng của dì tôi là một Đại úy Công Binh Việt nam Cộng Hòa, trước năm 1975, ông phục vụ ở Tiểu Đoàn 24 Công Binh Kiến tạo, mới được trả tự do. Gia đình dì, dượng tôi đang âm thầm chuẩn bị vượt biên. Dì, dượng tôi vui vẻ chấp thuận cho tôi cùng đi theo. Tôi đã đưa gói tiền mà Chi trao cho tôi, cho dì tôi để bà tiêu dùng. Mở gói ra xem, dì bảo tôi : “Tiền đâu mà cháu có nhiều vậy?” Tôi trả lời ngay : “Của vợ con cho đó!”

Vào một đêm tối trời, ghe máy chở cả nhà ra cữa biển Đại Ngãi, vì tàu lớn đang đậu ở đó. Sau 3 ngày và 4 đêm, tàu của chúng tôi đã đến hải phận Thái Lan, được tàu tuần duyên của Thái Lan đưa về trại Sikiew. Trong cuộc phỏng vấn thanh lọc, nhân viên Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc hỏi tôi rất ít. Tôi nghĩ là họ có đầy đủ hồ sơ cá nhân của ngành Cảnh Sát Đặc Biệt. Họ chỉ hỏi tôi là làm Trưởng G hay Trưởng H, tôi trả lời. Người nhân viên đó lấy trong tập hồ sơ ra một tấm ảnh, anh nhìn tôi rồi gật đầu.Thế là tôi vượt qua cuộc thanh lọc. Mấy tháng sau, họ chuyển tôi qua trại Pulau Bidong ở Mã Lai, để chờ chuyến bay đi định cư ở Mỹ.

Tôi mau chóng gởi thư cho má tôi ở Vĩnh Long, báo tin tôi đã bình yên đến trại Pulau Bidong ở Mã Lai, đang chờ chuyến bay để đi định cư ở Mỹ. Khoảng 2 tuần sau, tôi vui mừng nhận được thư hồi âm của má tôi, và một bất ngờ thú vị đến với tôi là có cả thư của Chi nữa! Má tôi đã viết cho tôi : “Đạo con, má rất vui mừng nhận được tin con đã đến nơi bình yên. Má cho con biết là Chi đang ở đây với má. Chi đã kể cho má nghe hết mọi chuyện. Má rất hạnh phúc có được một con dâu hiếu thảo như Chi, má mừng cho con”

Đạo run run mở thư của Chi ra đọc: “ Anh Đạo yêu quí của em, nghe anh đã đến đảo và đang chờ chuyến bay để đi Mỹ, má và em mừng quá anh ơi. Khi anh đi về Nam chưa đầy một tháng, họ đuổi em ra khỏi ngành công an. Em đã về Vĩnh Long ở với má, em thay anh phụng dưỡng, săn sóc má, anh yên tâm ! “

Với lời lẽ chân tình, mộc mạc, tôi uống từng chữ, từng lời trong bức thư ngắn gọn của Chi, tôi áp bức thư vào ngực và đi vào giấc ngủ.

Năm 1982, tôi được đi định cư ở Mỹ. Khi có thẻ xanh, tôi đã làm hồ sơ bảo lãnh Chi. Trong thời gian ở với má tôi ở Vĩnh Long, không biết Chi hỏi thủ tục bảo lãnh ở đâu mà nàng ra Thái Bình, nhờ người cậu Thượng Tá Công An của nàng, làm một giấy hôn thú của tôi và Chi, có đầy đủ chữ ký và khuôn dấu đỏ xác nhận của chính quyền địa phương.

Năm 1987 khi tôi được nhập quốc tịch Mỹ, tôi đã bổ túc hồ sơ bảo lãnh. Chi đã nhanh chóng được phỏng vấn. Lúc này, những trường hợp gian dối chưa xảy ra nhiều, nên việc chấp thuận cho chồng bảo lãnh vợ tương đối dễ dàng nếu có đầy đủ giấy tờ chứng minh.

Vào một ngày se lạnh ở miền Nam Cali, tôi và vài bạn bè thân quen đến đón Chi ở phi trường Los Angeles. Tôi ôm Chi vào lòng, vì quá cảm động, tôi chỉ thốt lên được một tiếng “Em!” Chi cũng vậy, nàng thổn thức trên vai tôi “Anh!”. Chỉ 2 tiếng “Anh” “Em”, nhưng đã gói trọn cuộc tình mà chúng tôi nghĩ là không bao giờ có thể sum họp được. Tạ ơn Trời Đất !

Đạo xây qua người đàn bà ngồi bên cạnh anh, và giới thiệu với tôi : “Thưa anh, đây là Chi, vợ em” Chi bẽn lẽn cúi đầu, che dấu nụ cười đã đem lại sức sống và hạnh phúc cho Đạo.

Tôi đã được nghe , được biết nhiều mối tình ly kỳ, éo le lắm. Nhưng nếu nói đến một mối tình thật lãng mạn, mà người con gái đã dám hy sinh sự nghiệp và cả tính mạng mình cho người yêu, thì không thể không nói đến mối tình của nàng Kim Chi và chàng Trung Đạo.

Bửu Uyển

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Một Chuyện Tình Khó Tin Nhưng Có Thật – Vỏ Thiệu sưu tầm

Kỷ Niệm Học Viện CSQG 56 năm : 1966-2022 – K1 Tuyến Đinh.

Thân Chào các khứa lão K1 !

Screen Shot 2021-07-24 at 10.28.36 AM copy 3

Chúc mừng các bạn K1,  

Năm 2022 này chúng ta đã và đang bước vào ngưỡng cửa 80 .
Thời gian qua nhanh thật. Cách đây đúng 56 năm tròn :
Ngày 28 tháng 01 năm 1966, trên 400 học viên ,Đặc biệt còn có 47 Bông hoa thơm phức ! được  nhận vào nhập học Khoá 1 Sĩ Quan Cảnh Sát tại Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia, nằm trong Trại Lê Văn Duyệt.

Những ngày đầu : Cơ bản thao diễn liên miên mấy tháng trường,trong khi chờ đợi Văn kiện chính thức thành lập Học Viện CSQG. Vì thế khoá học bị kéo dài hơn thời gian theo qui định.

Sau khi mãn khoá  chúng ta được tung ra 4 vùng chiến thuật, nơi nào cũng có mặt sĩ quan Cảnh sát Học viện.
Rồi tới ngày vận nước đã tới 30-04-1975, sau 9 năm phục vụ trong lực lượng CSQG, Chúng ta, ngoại trừ một số ít may mắn thoát khỏi VN vào những giờ phút cuối cùng, còn lại chúng ta đều bị giam cầm trong trại tù cải tạo của Việt Cộng.
Đa số chúng ta đều hưởng thời gian ở tù dài hơn thời gian làm Cảnh Sát, thậm chí nhiều bạn chúng ta gần gấp đôi : 17 năm !

Để Kỷ Niệm 56 năm (1966-2022) Học Viện, dịp này tôi có làm một Video giới thiệu Học viện CSQG, xin mời Các Bạn Xem.

K1 Tuyến Đinh

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Kỷ Niệm Học Viện CSQG 56 năm : 1966-2022 – K1 Tuyến Đinh.

Thơ Đường Cóc K1 Mừng Xuân Con Cọp

kisspng-tiger-lion-whiskers-illustration-clip-art-5b688022aa01d1.0296756515335752026964

MỪNG XUÂN CON CỌP

Đón cọp xuân về chiêng trống khua
Tiễn trâu mãn nhiệm Tết vui đùa
Thay phiên để vận đen tiêu nạn
Đổi gác cho năm mới được mùa
Đem liệng cống thây ma lộng kiếng
Lấy quăng sông tượng quỉ thờ chùa
Đuổi tà diệt ác toàn dân quyết
Dựng lại nước nhà đã rách tua .
Cóc Chát

Họa 1
VẬN NƯỚC SỚM ĐỔI TUA
Trâu khổ ách nài chửa hết khua
Cọp sa cơ nhốt nhẫn tâm đùa
Vận đen đeo đẳng dài vô hạn
Kiếp nạn hoằng vai nặng mút mùa
Lạy Chúa cầu Trời từng thánh thất
Van Thần Khẩn Phật khắp đền chùa
Trừ gian diệt cộng hồi công chính
Vận nước xoai vần sớm đổi tua
COC KHÔ

Họa 2
MONG MỘT NGÀY
Mừng xuân con cọp kẻ gian khua
Dịch bệnh triền miên lắm đứa đùa
Kít tét Việt Nam bay bỗng giá
Công ty Việt Á bội thu mùa
Tội đồ dân tộc ung dung miếu
Sư sãi quốc doanh chễm chệ chùa
Mong một ngày cờ vàng phất phới
Dân mình vui sướng hết te tua
Cóc QT

Họa 3
Ngày ấy đến rồi
Trâu lìa năm cũ ách thôi khua
Cọp đến tân niên hết muốn đùa
Tức nước vào tù vô hạn định
Hờn gian bị gạt biết bao mùa
Dân tình thế thái bươi thùng rác
Tượng ảnh tội đồ treo bục chùa
Chính nghĩa vùng lên trừ giặc Vẹm
Cho dân tộc Việt thoát te tua./-
TQN.

Họa 4
BUỒN TẾT CON CỌP
Cọp về chiêng, trống chẳng còn khua
Vắng vẻ con thơ chạy, nhảy, đùa
Vui Tết tha hương đà mấy độ ?
Buồn Xuân ly xứ đã bao mùa ?
Dẹp hình Đồng vẩu dơ thôn xóm
Xé ảnh Hồ ly bẩn cảnh chùa
Diệt lũ tội đồ Chinh , Trọng lú
Chúng làm nước Việt quá te tua !!!
CÓC TÍA

Họạ 5
CÒN ĐẢNG CÒN MÌNH
Nhâm Dần cọp cộng dũa răng khua
Năm Mới tham quan tiếp tục đùa
Giải toả đền bù oan thế kỷ
Trưng thu cưỡng chế hoạ tư mùa
Tài nguyên đất nước đồ vô chủ
Sản nghiệp nhân dân ấy của chùa
Còn đảng còn mình ta cứ đớp
Mặc người đói khổ rách te tua
CÓC KHÔ

Họa 6

TUỔI DẦN

Xin chiêng đừng đập trống đừng khua
Năm tuổi vợ tôi chẳng phải đùa
Bát phở đành quên từ mấy kiếp
Tô cơm làm chuẩn đã bao mùa
Con bò suốt tháng nhơi rơm ruộng
Chú tiểu quanh năm sực oản chùa
Lỡ dại một vài câu léng phéng
Tam bành nổi máu chắc te tua
CCR

Họa 7

OAI HỔ HẾT TE TUA

Giao thừa báo hiệu chày kình khua
Trâu Cọp bàn giao,Covid đùa
Bệnh dịch năm qua không đợi tiết
Siêu vi xuân đến chẳng theo mùa
Khẩu trang,tiêm chủng cầu ơn Chúa
Giản cách,thuốc thang hưởng phước Chùa
Oai hổ Nhâm Dần Covid tẩu
Trần gian thiên hạ hết te tua
CÓC BIÊN

Họa 8

CỌP VỀ ĐỔI NGƯỢC TUA

Lủ vẹm chuyên nghề môi mép khua
Ôi thôi chém gió tựa như đùa
Nói : nhờ cọng sản mà no ấm
Bảo : có đảng ta mới được mùa
Chống dịch huyênh hoang toàn khẩu hiệu
Ăn tiêu vơ vét bởi tiền chùa
Năm qua trâu mọp dân điêu đứng
Xuân mới cọp về đổi ngược tua
CÓC HUẾ

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thơ Đường Cóc K1 Mừng Xuân Con Cọp

Sớ Táo Quân K1 -Tống Phước Kiên

Hôm nay, ngày 23 tháng Chạp năm Tân Sửu (2021) thần Táo khắp nơi tức tốc du hàng thiên quốc, trình diện trước Ngọc Hoàng Thượng Đế để trình tấu mọi chuyện đã xảy ra trong năm qua với nhiều biến chuyển đau thương ở thế giới ta bà.
Cũng như mọi năm, Táo Quân K1 Tống Phước Kiên cũng áo mão chỉnh tề đáp chuyến bay tốc hành ra đi từ sáng sớm.
Chúc Táo thượng lộ bình an rồi mau mau quay về trần gian để đón giao thừa mừng năm mới Nhâm Dần 2022 cùng vợ con, bằng hữu và đại gia đình K1.
Thượng lộ bình an. Thượng lộ bình an.

slide 1

Slide2

Slide3

Slide4

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Sớ Táo Quân K1 -Tống Phước Kiên

Tinh Thần Đặc Biệt của Tiếng Việt – BS Nguyễn Hy Vọng

Cái tinh thần đặc biệt của Tiếng Việt.

Bài: BS Nguyễn Hy Vọng
sưu tầm & tản mạn

unnamed (12)ảnh: Ông Bà BS. Nguyễn Hy Vọng

Theo các nhà ngữ học thì tiếng Mỹ là thứ tiếng nói vay mượn rất nhiều từ ngữ của các tiếng khác trên khắp thế giới, vì vậy mà nó rất dồi dào và sống động, nó là tiếng nói số một của loài người hiện nay

 Theo tôi thì tiếng Việt cũng không thua kém chi.
Nó đang đứng thứ 12 về số đông người nói [83 triệu] và đang lan ra khắp thế giới tự do từ cái biến cố 1975.

Nó có một nguồn gốc rất là đa dạng vì qua 2,3 ngàn năm nó đã mượn rất nhiều tiếng Tàu mà xài, rồi gần đây lại còn mượn hàng trăm tiếng một của Pháp mà nói, bây giờ đã trở thành tiếng Việt rồi, thí dụ như béret, kaki, kilo, gara, accu, v.v… Các bạn có thể kể ra vài trăm tiếng như thế

Hiện nay tiếng Việt lại còn đang dùng rất nhiều tiếng Anh Pháp Mỹ vay mượn như computer, battery, charge, v,v,, mượn như thế sau này một thời gian sẽ Việt hoá và trở thành tiếng Việt luôn.

Đó là một điều hay, rất hay, tiếng Việt dồi dào thêm, có thêm nhiều cách nói, nhiều ngữ vững, nhiều cách phô bày tư tưởng.

Nhưng ta nên để ý rằng dù có nói bao nhiêu thứ tiếng khác nhau đi nữa, ta cũng chỉ có một thứ chữ abc hiện nay để viết, ta không còn viết chữ Nôm nữa, ta không còn viết chữ Tàu nữa, ta không còn biết chữ khoa đẩu là chữ gì nữa, và sẽ không bao giờ.

Như trong câu nói sau đây: cho xe vô gara, rồi check giùm cái bình điện, nếu hết charge thì câu điện giùm, vô nhà coi công tơ [compteur] tháng này tiền nước bao nhiêu. Có đến 6 ngôn ngữ khác nhau của cả thế giới trong câu nói ngắn đó mà ta không ngờ ! [Việt, Tàu, Pháp, Anh, Mỹ]

Một chuyện lạ hơn nữa là, cách đây mấy ngàn năm, ngoài tiếng Tàu ra, ông bà ta còn dùng và xài không biết bao nhiêu là tiếng nước ngoài ở Đông nam Á châu mà ta cứ tưởng đâu là tiếng Việt của ta, không ngờ đó là tiếng nói của biết bao ngôn ngữ láng giềng, mà lại không phải là tiếng Tàu.

Thí dụ ta nó:
– tha thiết thiết tha đó là tiếng Thái
– vắng vẻ, đó cũng là tiếng Thái luôn
– đủng đỉnh, vâng, cũng là tiếng Thái !
– vơ vẩn vẩn vơ, đó là tiếng Lào đó bạn ơi
– chân tay, chân mây. nó là tiếng Khmer đó
– một ngày, một hai ba bốn năm, đó cũng là tiếng Miên luôn !

Cụ Nguyễn gia Thiều cách đây gần 200 năm đã viết :

– “Trẻ tạo hoá đành hanh quá ngán”
[đành hanh là tiếng gốc Chàm đó bạn ơi, có nghĩa là ganh ghét, ganh tị]

Cụ Nguyễn Trãi cách đây gần 600 năm nói:

– Tuy rằng bốn bể cũng anh tam,
[Đó là tiếng Mã lai hiện nay đó bạn ơi, có nghia là thằng em trai]

Hay là : Hai chữ công danh tiếng vả vê
Đó là tiếng Lào xưa đó, vả vê có nghĩa là trống vắng, mà bây giờ người Việt không còn ai nói nữa

Người Việt nói cái dùi cui hay đùi cui thì 250 triệu người Indonesia và Malay cũng nói là đulkul … y hệt!

Hai tiếng Nôm na mà ai cũng cho là Nôm là Nam, vậy thì  na là gì ? mọi người đều lờ đi !

Thật ra, Nôm và na đều có nghĩa gốc là xưa, cũ, lâu đời…đã có từ lâu.

[Các tiếng Lào Thái Khmer đều có ghi hai tiếng “nôm na” và đều giải thích như vậy]

Tiếng Nôm là tiếng nói xưa của người nước ta, đã nói như vậy từ lâu, truớc khi ông bà ta gặp người Tàu.

Còn nhiều nữa, rất nhiều nữa, cả thảy 27 ngàn 400 tiếng Việt như vậy, ta đã cùng nói cùng xài chung, dùng chung, của không biết bao nhiêu là ngôn ngữ anh em chung quanh ta, đến nỗi là không có một tiếng Việt nào mà lại không có chung đồng nguyên [gốc gác] với một vài ngôn ngữ khácở miền Đông nam Á này

Các tiếng nói Đông nam Á [Khmer, Lào, Thái, Chàm, Malay, Indonesia, Nùng, Hmong Bahnar, Rhade, v.v.. bao bọc tiếng Việt trong một vòng dây thân ái của tình anh em ngôn ngữ chung giòng chung họ hàng mà chúng ta không ngờ đến đó thôi.

Nhưng tiếng Việt có một điểm rất lạ, dễ thì dễ mà khó cũng thật là khó, vì ta tưởng là ta viết đuợc tiếng Việt là ta hiểu được tiếng Việt ,

Thật ra ta không hiểu tiếng mẹ đẻ của chúng ta nó ra làm sao cả:

– ta nói đau đớn mà ta không hiểu đớn là gì, [đớn là tiếng Mon có nghĩa là đau cái đau của lòng mình]
– ta nói rộn rịp mà không hiểu rịp là gì,  [rịp là bận việc], gốc tiếng Lào Thái đó bạn ơi
– ta nói săn sóc, chăm sóc mà ta chẳng hiểu săn là gì mà sóc là gì.  Săn là theo dõi, sóc là sức khoẻ # health [gốc Sanskrit / Pali đó]

Có cả thảy chừng 10 ngàn tiếng Việt gốc gác như thế !

Thành thử dù cho ta có biết viết chữ Nôm, hay chữ Tàu đi nữa, ta vẫn không thể nào bíết ý nghĩa của mỗi từ ngữ trong tiếng Việt của ta đâu!

Biết thêm vài ba ngàn tiếng Pháp, tiếng Anh, chữ Tàu chữ Nôm thì cũng tốt thôi, ta sẽ trở thành một thứ học giả “bất đắc dĩ”, nhưng đừng tưởng rằng như vậy là đã hiểu thông suốt tiếng Việt.

Cái này đòi hỏi phải có một trình độ và khả năng hiểu biết ý nghĩa nguồn gốc của mỗi chữ mỗi âm, mỗi từ trong tiếng Việt mà con số lên đến gần 10 ngàn tiếng đơn như vậy.

Chỉ có một cách qua được cái khó khăn vuợt bực đó.

Đó là phải có một bộ từ điển nguồn gốc tiếng Việt, tham khảo khắp cả 58 thứ tiếng lớn nhỏ ở nam Á châu, từ tiếng Thái Lào, Khmer, Miến, Malay, Indonesia cho đến những tiếng nói thiểu số với vài ba trăm ngàn người, tiếng Muờng, tiếng Nùng, tiếng Hmong, tiếng Chàm …Chúng nó đều có đóng góp âm thanh, giọng nói và ý nghĩa gốc gác, hay làm nguồn cội ban đầu cho mọi từ, mọi ngữ trong tiếng Việt.

Và đó là bộ Từ điển nguồn gốc tiếng Việt, sắp xuất bản mà chúng tôi xin phổ biến truớc một ít từ ngữ nguồn gốc Việt để các bạn và quý vị xem cho vui.

BS Nguyễn Hy Vọng

* * *

Bác sĩ Nguyễn Hy Vọng sanh năm 1932, tại Huế
Tốt nghiệp Đại Học Y Khoa Sài Gòn năm 1958
Đã hành nghề bác sĩ tại Miền Nam Viêt Nam và tại Hoa Kỳ từ ngày ra trường cho đến năm 1997.

Cộng tác với  cố học giả Đào Đăng Vĩ soạn Pháp Việt Đại Từ Điển (1952), Pháp Việt Tiểu Từ  Điển (1954),  Bách Khoa Từ Điển (phần danh từ khoa học, Volumé A,B,C, (1960)

Bắt đầu nghiên cứu và soạn thảo Từ Điển Nguồn Gốc Tiếng Việt từ năm 1981. Đang sửa soạn  xuất bản điã CD và sách giấy.

Hiện sống tại Tustin, California.
Thú vui: du lịch, đời sống gia đình, và nghiên cứu từ điển.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Tinh Thần Đặc Biệt của Tiếng Việt – BS Nguyễn Hy Vọng

Tết Xưa – Bài của Người Phương Nam

Tết Xưa

tet

Hôm nay đã là ngày rằm tháng chạp âm lịch, con trăng này là con trăng cuối cùng trong năm, chỉ còn nửa tháng nữa thôi là năm hết Tết đến.  Giờ này nơi quê nhà, chắc hẳn thiên hạ đang tưng bừng sắm sửa chuẩn bị đón năm mới trong tâm trạng   háo hức rộn ràng chớ không như người Việt tha hương viễn xứ, tết đến trong im lìm lặng lẽ buồn tênh không kèn không trống, không chút không khí báo hiệu ngày xuân cho nao nức xôn xao lòng người. Trót đã mang thân vong quốc tị nạn, nhập gia tùy tục, đời sống hằng ngày phải hội nhập theo chân người bản xứ, mọi nghi lễ tập tục truyền thống khi xưa của dân tộc mình giờ đây chỉ còn là trong tưởng niệm ngậm ngùi.

Quê người chẳng có ngày xuân
Chẳng hương hơi Tết, chẳng xuân trong lòng
Cách ngăn cả một biển đông
Quê hương bỏ lại xuân hồng chẳng sang
Thương về quê cũ bẽ bàng
Thiêng liêng truyền thống son vàng đã xa

Thùy còn nhớ, ngày xưa mỗi năm cứ khỏang đầu tháng chạp là mọi người đã bắt đầu rục rịch bàn tính chuyện tết nhứt, giàu thì ăn tết lớn, nghèo thì ‘’xính xái’’ tính theo nghèo, làm gì làm cũng phải ăn tết ăn nhứt như người ta cho khỏi tủi thân bẻ mặt với bà con xóm làng. Tết là cái mốc thời gian khởi điểm cho mọi sự bắt đầu lại như một cuốn lịch mới tinh nguyên bắt đầu cho một năm mới tràn trề  hy vọng.

Bởi vậy cho nên ai ai cũng cố gắng chuẩn bị cho gia đình mình một cái tết thật chu đáo kỹ càng và đầy đủ được chừng nào hay chừng nấy. Nhà cửa được sơn phết dọn dẹp sạch sẽ ngăn nắp từ trong ra ngòai, màn cửa mới toanh, lư hương tủ thờ được lau chùi sáng bóng. Vui nhứt là mấy chị em được má dẫn đi chọn hàng vải may đồ mới, mỗi đứa vài bộ đồ, hai ba đôi giày dép guốc hoặc có thể xin mua sắm gì thêm nữa theo ước muốn với lý do chính đáng vững chắc là ‘’tết mà’’, một năm chỉ có một lần, lẽ nào ba má từ chối không cho.

Từ hai mươi ba tháng chạp, đưa ông táo về trời xong là mấy bà mấy cô luôn bận rộn không ngừng với chuyện nữ công trang hòang nhà cửa và chuyện gia chánh nấu ăn như làm dưa (dưa món, củ kiệu, củ cải, bông cải vv…) sênh mứt (mứt mảng cầu, mứt me, mứt dừa, mứt gừng, mứt bí, mứt thơm) hoặc nướng các lọai bánh (bánh gai, bánh men, bánh quy, bánh thuẩn, bánh hạnh nhân…) tùy thích. Làm xong đem cất trong các ngăn quả keo lọ để dành đãi khách trong những ngày tết hoặc làm quà biếu xén bà con xa gần. Đó cũng là cơ hội cho các cô con gái tới tuổi cập kê thi đua trổ tài khéo léo của mình với  bạn bè hàng xóm chung quanh, nhứt là với những gia đình có con trai lớn đang ngắm nghé  chọn dâu cưới vợ.

Ngày ba mươi tết, năm nào rước ông bà về ăn tết với con cháu, cả nhà Thùy cũng đều tụ tập qua nhà bà dì, chị cả của má để cúng kiến chung, bữa cúng đó rất thịnh sọan linh đình, ngòai nồi thịt kho hột vịt, tiêu chuẩn không thể thiếu trong ba ngày tết còn có những   món ngon mà ngày thường Dì ít khi làm tới như vịt tiềm bạch quả hột sen, nấm đông cô um với tóc tiên, lẩu thập cẩm, gà nấu dấm, chả tôm quết, thịt đông(miền nam tiết trời không đủ lạnh, muốn cho thịt đông phải để tủ lạnh), bánh tét do dì gói và bánh củ cải cũng do dì làm.

Bánh củ cải là đặc sản của người Tiều minh hương, một lọai bánh hấp làm bằng củ cải trắng bào sợi trộn chung với tôm khô, đậu phọng, thịt ba chỉ, tỏi lá xắt nhuyển và bột gạo rồi cho vào khuôn hấp. Khi ăn xắt miếng dày chừng một phân nhúng vào trứng bỏ vô chảo chiên sơ ăn với xì dầu tương ớt họăc nước mắm ớt Việt Nam là hết sảy. Đồ ngọt thì có sương sa, bánh quai vạc, bánh ít bánh dày bánh tổ và trái cây tươi phủ phê đủ loại kể sao cho xiết.

Không biết tổ tiên ông bà ông vải có ăn được miếng nào không mà cúng xong vẫn còn y nguyên hiện để rồi sau đó con cháu dọn xuống ráp lại ăn nhậu phè phởn tưng bừng một bữa trả thù những khi phải ăn sơ sịa quấy quá cho qua ngày. Nhưng cho dù có nhậu quắc cần câu hay ăn cách mấy đi nữa cũng không hết nổi chừng ấy món ăn, thứ nào cũng còn dư ê hề, nhứt là dĩa tam sanh thịt luộc, tôm nướng, mực khô cúng ông thần tài  vẫn còn chình ình tại chỗ không ai đụng tới. Vì vậy cho nên bà dì kêu Thùy lại bảo ra chợ mua giùm dì hai ký cải phụng (mùi vị giống y cải xanh nhưng lá to bẹ dài gấp bốn lần cải xanh) để dì nấu chung với mớ đồ dư thành xà bần để ăn dài dài tới ra giêng. Thùy nhăn nhó gãi đầu bẻ mình bẻ mẩy ẹo tới ẹo lui một hồi rồi ngần ngừ nói:

– Con sợ pháo quá hà, ra đường mấy thằng con trai liệng pháo vô mình hổng có ai kế bên cho ôm chắc con chết giấc quá. Dì kêu con Hương đi giùm đi, để con ở nhà phụ dì mấy công chuyện khác.

Dì trừng mắt gạt ngang:

– Pháo tiểu nổ lẹt đẹt mà sợ cái nổi gì. Con Hương nó không có biết lựa cải, mua về ba cái cải già ngắt sơ không có môn mà dục bỏ chớ ăn gì được. Thôi thì hai đứa đi chung đi, đi lẹ lên không thôi người ta dọn chợ về ăn tết hết là tụi bây hỏng có xà bần ăn đó nghe con. Lớn đầu rồi còn sợ pháo y như là con nít, thiệt tình. À, mà dặn hờ nè, nếu hết cải phụng thì mua hai cái bắp bắc thảo nghe chưa, đừng có về tay không là tao bắt trở ra nữa đó.

Thùy vừa đi vừa phân trần với Hương, nhỏ em, con bà dì:

– Đâu phải nhỏ mới được… quyền sợ, lớn như tao với mày cũng sợ vậy, cái gì nổ cái đùng là giựt mình sợ hết hồn hết vía luôn, trời gầm sấm chớp tao cũng sợ thấy bà cố nội kiếm chỗ núp không kịp chớ bộ.

Hương nhảy đong đỏng chận họng Thùy:

          – Ê, không có tao trong đó à nghe, tao không có sợ cái giống gì hết á. Tính lôi tao vô cho có bạn hả mậy?Nghèo mà ham!

Thùy vuốt ve giả lả:

        – Ờ phải à, bởi vậy mới kêu mày ‘’hộ tống’’ tao đó. Tao sợ nhiều thứ lắm. Ngay cả con gà, tao cũng sợ nữa. Hôm qua má tao kêu  xách con gà lại nhà bạn má biếu tết, con gà đã được nhốt trong giỏ ràng dây chằng chịt mà tao cứ sợ nó ngóc mỏ lên mổ cái tay, vừa đi vừa hồi hộp cho tới khi ‘’giao hàng’’ xong mới thôi.

Hương trề môi háy Thùy một cái dài nhằng:

– Cái đồ thỏ đế, trời gầm mà cũng sợ, hổng biết mai mốt lớn lên mày làm cái gì ăn nữa, không lẽ trốn trong nhà hòai được sao.

Thùy la làng chói lói:

          – Ê, bữa nay nói vậy còn được chớ ngày mai mùng một tết, mày làm ơn kiêng cử cái miệng của mày lại giùm chớ mà phát ngôn bừa bãi như vậy thì tao xui cả năm đó nghe con quỷ.

Buổi trưa rước ông bà xong, tối lại tới cúng giao thừa đón năm mới. Giao thừa còn gọi là tống cựu nghinh tân. Tục truyền rằng vào giữa khuya đêm này, vị thần cai quản việc thế gian năm cũ mãn nhiệm kỳ ra đi bàn giao công việc lại cho vị thần mới về nhậm chức. Để bày tỏ lòng thành kính biết ơn, nhân gian mới lập bàn cúng tế ra giữa trời, một công mà bốn việc, vừa đưa tiễn, vừa đón rước, trước cúng sau ăn. Thông thường thì cúng giao thừa người ta chỉ cúng đồ chay như trà nước, bánh mứt trái cây hoặc nấu một món chè gì đó thanh đạm thôi chớ không rượu thịt rình rang như rước ông bà.

Cũng trong lúc này, trên trời, hỏa châu được bắn lên tới tấp sáng ngời cả một vùng đêm đen trừ tịch báo hiệu giờ phút thiêng liêng của một năm đã đến, dưới đất những dây pháo dài thậm thượt được đốt lên nổ rền liên tục để xua đi những gì xui xẻo rủi ro trong năm cũ và đón về một năm mới may mắn tốt đẹp thanh quang.

Sáng mùng một tết, mấy chị em Thùy hăng hái dậy sớm, sung sướng diện vào bộ quần áo mới mừng tuổi ba má chờ tiền lì xì. Đây là một tuc lệ rất được giới con nít hưởng ứng hoan nghinh, đứa nào lớn nhứt thì được tiền nhiều nhứt vì đã có nhu cầu xài tiền hơn những đứa còn nhỏ. Người lớn có khi cũng được lì xì tượng trưng để lấy hên cho năm mới được phát đạt tấn tài.Và khi chiếc radio Philips nhiều băng tần của ba Thùy vừa trổi lên bản nhạc ‘’Câu chuyện đầu năm’’ hay ‘’Ly rượu mừng’’ cũng là lúc ba đã chỉnh tề lịch sự trong bộ ‘’đồ vía’’ với đôi giày đen bóng láng mà cả năm bị treo trong tủ, cất trong hộp đợi đến ngày tết mới lấy ra mặc một lần để đi thăm viếng chúc tụng bà con. Quanh năm suốt tháng ăn mặc ra sao cũng được nhưng hôm nay là tết nhứt thì phải trịnh trọng ‘’đóng bộ lên đồ’’ đàng hòang như đi làm chú rể chớ không được lè phè giỡn mặt coi thường. Thế mới biết Tết Nguyên Đán trang trọng thiêng liêng đến thế nào trong tinh thần dân tộc!

Trước tiên, ba Thùy qua xông đất các nhà hàng xóm kế bên. Xưa nay, ba vốn được người trong xóm quý mến vị nể cho nên họ rất hoan nghinh mừng rỡ khi thấy ba tới trước cửa nhà họ. Ghé nhà người nào ba cũng lì xì cho cả nhà đó mỗi người hai tấm vé số ‘’kiến thiết quốc gia’’ để ‘’giúp đồng bào ta xây đắp cơ đồ’’ và nếu vận may đến thì ‘’giàu sang mấy hồi’’ làm ai cũng hớn hở mừng vui như…tết.

Sau đó, ba má dẫn mấy chị em Thùy đi mừng tuổi bà nội đang sống chung nhà với chú thiếm ở cách xa nhà Thùy khỏang cây số. Mùng một tết đúng thật là cái ngày thiên hạ ngơi nghỉ ăn chơi. Dù có bao nhiêu công lên việc xuống hay bao nhiêu lo lắng giận dữ buồn phiền, người ta cũng tạm  thời gác lại một bên để tạo cho mình một ngày nhàn nhã thảnh thơi, một ngày không bận rộn chỉ để ngồi chơi xơi nước, đi chùa hái lộc, đến nhà thờ cầu kinh hoặc đi thăm viếng bà con bạn bè, lắc xí ngầu bầu cua cá cọp thử vận may năm mới.

Thế nên trên suốt mỗi con đường, đâu đâu cũng nhộn nhịp tấp nập khách du xuân với những tà áo mới tinh muôn màu sặc sỡ, tiếng cười đùa chào hỏi lẫn trong tiếng pháo lạch tạch đì đùng đó đây tạo nên một họat cảnh tết thanh bình tự do no ấm đầy dấu ấn tuyệt vời mà cho đến bây giờ Thùy vẫn còn nhớ như in trong tâm trí. Đi tới nhà nào chị em Thùy cũng được lì xì và mời ăn uống, nhà nào cũng hoa mai vàng dưa hấu đỏ, xác pháo ngập đầy sân, nhà nào cũng bánh mứt hột dưa nước ngọt bánh chưng bánh tét phủ phê đầy bàn nhưng chẳng mấy ai muốn ăn mà chỉ lai rai cắn vài hột dưa, nhâm nhi chung trà tách nước, hết nhà này tới nhà nọ là đủ thấy lâng lâng no vui trong lòng vì huyền diệu thiêng liêng của không khí  ngày xuân dân tộc.

Từ ngày biệt xứ xa nhà
Còn đâu nguyên Đán tết ta thuở nào
Đầu xuân nâng chén rượu đào
Chúc nhau phúc lộc dồi dào quanh năm
Du xuân hái lộc đầu năm
Phố phường áo mới tung tăng dập dìu
Dáng mai khoe sắc yêu kiều
Pháo rền hy vọng tin yêu cho người
Nàng xuân e ấp nụ cười
Đất trời hòa quyện niềm vui chan hòa

Tết xưa là như vậy đó, giờ đây có còn chăng chỉ là trong ký ức mà thôi. Kể từ khi lưu lạc  xứ người, nhứt là những năm đầu sống xa cộng đồng người Việt, Thùy không còn biết tết đi tết đến lúc nào. Ngày nào cũng như ngày nấy, áo mới muốn mặc lúc nào thì mặc, không còn cái háo hức chờ năm sang tết đến mới trịnh trọng “lên đồ” như xưa.

Thấm thóat mà  đã ba mươi hai năm trôi qua, ba mươi hai cái tết vô nghĩa đối với Thùy bởi vì Thùy không còn cảm nhận được nữa cái hương vị đặc thù của tết quê nhà năm xưa  dù rằng mỗi năm xuân vẫn sang, tết vẫn đến theo chu kỳ. Hơn thế nữa, Tết lại thường hay rơi vào những ngày  trong tuần, ai cũng bận đi làm, con trẻ thì đi học, chưa kể những người có lịch trình hẹn với bác sĩ hay nhà thương, hay với văn phòng dịch vụ nào đó cho nên không thể ăn tết đúng ngày mà phải đợi tới cuối tuần. Như vậy thì còn gì là cái ý nghĩa thiêng liêng của ngày Nguyên Đán cổ truyền, vui đâu không thấy mà chỉ thêm nuối tiếc ngậm ngùi, thương cho Việt Nam cộng hòa một thuở nào vang bóng đã bị bức tử chôn vùi oan khiên, thương cho quê hương không biết đến bao giờ mới có mùa xuân trở lại!

Xuân xưa cả một quốc gia
Xuân này riêng chỉ mình ta cộng đồng
Lạc lòai xuân chẳng ấm nồng
Bồi hồi quê cũ chạnh lòng xuân xưa !!

Người Phương Nam

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Tết Xưa – Bài của Người Phương Nam

Order 4 bộ “Covid Home Tests”

Các bạn thân mến.
Tôi vừa apply cho 4 bộ test covid tại nhà và order sẽ ship đến trước Tết âm lịch.
Vậy xin gởi tiếp cái link dưới đây để các bạn mình apply sớm để ăn Tết mừng xuân vui vẻ. Rất dể, chỉ cần click vào cài link dưới đây rồi điền địa chỉ của gia đình mình là xong, khoảng 3 phút thôi. Nhanh tay để có test về sớm.
Chúc may mắn,

COVID Home Tests | USPS

COVID Home Tests | USPS

COVID Home Tests | USPS

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Order 4 bộ “Covid Home Tests”

Chuyện vui cười xả tress -Võ Thiệu sưu tầm

CHỊ DẬU THOÁI VỐN

unnamed (9)

Nghe tiếng chó sủa, Nghị Quế nhìn ra thấy chị Dậu tay cắp rổ Chó con, tay đẩy cổng bước vào.

Nghị vội bước ra sân, quát:
– Mày đến đây làm gì, hả con mụ Dậu kia?

Chị Dậu khép nép để rổ Chó xuống đất, lí nhí:
– Dạ bẩm ông! Nhà con hết gạo nên con đem mấy con chó này đến đây xin thoái vốn ạ!
– Thoái vốn là sao?
– Dạ, ông đưa tiền cho con rồi lấy mấy con chó này ạ.
– Đệch bố! Mày đến đây bán chó thì nói bán chó mẹ nó đi! Bày đặt thoái vốn với thu hồi vốn!
– Ậy, ậy… dạ, con sợ nói bán thì chính quyền nhân dân họ bắt bỏ tù đấy ạ.
– Mày láo! Bán chó thì chính quyền nào bắt bỏ tù?
– Dạ, con thấy ở thiên đường này chỉ có người mua là không bị gì, còn người bán đều bị xử tù hết đấy ông ơi!

Nghị Quế nổi giận chỉ tay vào mặt chị Dậu quát:
– Con Dậu kia! Mày vu khống chính quyền nhân dân chúng tao à?
… Mua bán phi pháp đều phạm tội đồng lõa như nhau, tại sao chính quyền của ông chỉ bắt người bán mà tha cho người mua, hử …?…

– Dạ con thấy chính quyền ông chỉ bắt người bán dâm, bán ma túy, bán bằng đại học…. chớ có bắt mấy người mua mấy thứ ấy đâu? Có khi chính quyền còn đưa họ vào diện bí mật quốc gia, chứ chưa ai được biết danh tính mấy ngài mua dâm ngàn đô, mua bằng đại học… hết ạ. Bởi, con sợ vậy nên mới nói thoái vốn thay vì bán chó!

Nghị Quế lúng túng vì câu hỏi của chị Dậu nhưng vẫn lên giọng:
– Chính quyền của ông là chính quyền chuyên chính! Bán thì nói bán, việc quái gì phải sợ thằng Tây nào!
– Dạ, chính quyền ông chuyên chính thế sao bán rừng ông hô chuyển đổi mục đích sử dụng? Bán cảng biển, bán đất ông hô chuyển quyền sử dụng? Bán công ty bia SG, bán tập đoàn sữa Vinamilk… ông hô thoái vốn? Bán hãng xưởng, bán xe công… ông gọi thanh lý ??

Nghị Quế mặt đỏ gay đập bàn thét lớn:
– Á, Á…. Mày đến đây bán chó hay chất vấn ông hả con Dậu kia? Lính lệ đâu, lôi cổ nó ra nọc…….

( Sưu tầm…bậy…)

……………….. ……………….

Thân mến

TQĐ

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Chuyện vui cười xả tress -Võ Thiệu sưu tầm

Hội Ngộ cuối đời

Các bạn K1 thân mến,
Các bạn xem và hãy nhớ người nầy là ai.
Nếu không nhớ thì đọc các comments phía dười ( copy từ FB của bạn Nguyễn Văn Hoàng ở Virgina.)

272038542_6678327305571147_3254329875561565136_n

271963051_6678326992237845_1703360222880668066_n

Hoang Nguyen:       Gap lai ban cu hon 40 nam.. Khoa 1 /HVCSQG..Tai Virginia.    .hom nay Jan 15 2022..NGUYEN VAN QUI..
Quang Le:        Ai đây vậy Hoàng? Mình thấy quen mà không nhớ tên?
Hoàng Nguyen Quang Le         Qui..khoa 1/BTV..chung minh..
Quang Le Hoang Nguyen     Quý Hạnh? Anh em Bến Cũ có cho biết đá về VN sống? Khác nhiều quá. Mong gap hắn.
Christine Tran        Phải Anh Quí trước ở đây rồi dọn đi Cali không Anh ?
Toan Pham:      Quí đội hầu cờ phải không?
Hoang Nguyen Toan Pham        Dung. QUI..001..chong cua Hanh..1/BTV
 Niem K Phan         sao no mac do giong dai can qua. Nhin khong ra.
 Vinh C. Nguyen       Nhìn không nhớ là ai. Hoàng có thể nói rõ hơn cho anh em được biết
Toan Nhu  Vinh C. Nguyen       Nguyen Văn Quý thủ khoa BTV k1
Hoang Nguyen Vinh C. Nguyen       Qui..chong Hanh/khoa 1/BTV
Vinh C. Nguyen       Mình cũng đoán vậy nhưng giờ thấy lạ quá. Mà mặc đồ giống ông Cha quá.
Toan Pham       Sau hơn 1/2 thế kỷ khg gặp lại, trông hắn xa lạ quá, khg còn nhận ra. Quí đã ở SG và sang chơi phải khg? Đại gia SG có khác.
Quang LeToan Pham       Đúng đó Toán.
Hoang Nguyen Toan Pham      ve My..o luon..vi co o VN..da qua doi…gio 80 tuoi o My..co y te tot..
Quang Le       Thằng Quý vậy mà còn khôn. Haha!Haha.

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Hội Ngộ cuối đời

Có một thời như thế đó – tác giả Vũ Đông Hà Montreal

CÓ MỘT THỜI NHƯ THẾ ĐÓ!

Vũ Đông Hà  (Cộng Đồng NVQG Vùng Montreal) 8/05/2017

Nếu ai hỏi tôi rằng sau ngày 30 tháng 4, 1975 cái gì mà cộng sản không thể “giải phóng” được; cái gì vẫn âm thầm nhưng vũ bão giải phóng ngược lại tâm hồn khô khốc của người dân miền Bắc lẫn nhiều cán binh cộng sản; cái gì vẫn miệt mài làm nhân chứng cho sự khác biệt giữa văn minh và man rợ, giữa nhân ái và bạo tàn, giữa yêu thương và thù hận; cái gì đã kết nối tâm hồn của những nạn nhân cộng sản ở cả hai miền Nam Bắc… Câu trả lời là Âm Nhạc Miền Nam.

Nếu ai hỏi tôi, ảnh hưởng lớn nhất để tôi trở thành người ngày hôm nay, biết rung động trước hình ảnh của Ngoại già lầm lũi quang gánh đổ bóng gầy dưới ánh đèn vàng, biết nhung nhớ một khe gió luồn qua hai tấm ván hở của vách tường ngày xưa nhà Mẹ, biết man mác buồn mỗi khi đến hè và trống vắng với một tiếng gà khan gáy ở sau đồi, biết tiếc nuối một mặt bàn lớp họckhắc nhỏ chữ tắt tên người bạn có đôi mắt người Sơn Tây, biết ngậm ngùi trăn trở chỉ vì một tiếng rao hàng đơn độc đêm khuya… Câu trả lời là Âm Nhạc Miền Nam.

Âm Nhạc Miền Nam đã trở thành một chất keo gắn chặt cuộc đời tôi vào mảnh đất mang tên Việt Nam. Âm Nhạc Miền Nam đã làm tôi là người Việt Nam.

*Tôi lớn lên theo những con đường đất đỏ bụi mù trời và cây reo buồn muôn thuở. Niềm say mê âm nhạc đơm mầm từ các anh lớn của Thiếu và Kha đoàn Hướng Đạo Việt Nam, trổ hoa theo những khúc hát vang vang của các anh giữa vùng trời Đạt Lý đang vào mùa cà phê hoa trắng nở: *”Tôi muốn mọi người biết thương nhau. Không oán ghét không gây hận sầu. Tôi muốn đời hết nghĩa thương đau. Tôi muốn thấy tình yêu ban đầu…”* Các bậc đàn anh như nhạc sĩ Lê Hựu Hà, Nguyễn Trung Cang của Phượng Hoàng đã lót đường nhân ái cho đàn em nhỏ chúng tôi chập chững trở thành người, để biết ngước mặt nhìn đời và *”cười lên đi em ơi, dù nước mắt rớt trên vành môi, hãy ngước mặt nhìn đời, nhìn tha nhân ta buông tiếng cười…”* Những đêm tối, giữa ngọn đồi nhiều đại thụ và cỏ tranh, bên nhau trong ánh lửa cao nguyên chập chờn, chúng tôi cảm nhận được niềm hãnh diện Việt Nam với bước chân của cha ông và bước chân sẽ đi tới của chính mình: *”Ta như giống dân đi tràn trên lò lửa hồng. Mặt lạnh như đồng cùng nhìn về một xa xăm. Da chân mồ hôi nhễ nhại cuộn vòng chân tươi. Ôm vết thương rĩ máu ta cười dưới ánh mặt trời…”* Và anh Nguyễn Đức Quang, người nhạc sĩ của thị xã đèo heo hút gió đã trở thành thần tượng của chúng tôi. Có những buổi chiều buông trong Rừng Lao Xao bạt ngàn, những đứa bé chúng tôi theo anh ngậm ngùi số phận *”Xương sống ta đã oằn xuống, cuộc bon chen cứ đè lên. Người vay nợ áo cơm nào, thành nợ trăm năm còn thiếu. Một ngày một kiếp là bao. Một trăm năm mấy lúc ngọt ngào. Ôi biết đến bao giờ được nói tiếng an vui thật thà.”* Nhưng cũng từ anh đã gieo cho chúng tôi niềm lạc quan tuổi trẻ: *”Hy vọng đã vươn lên trong màn đêm bao ưu phiền. Hy vọng đã vươn lên trong lo sợ mùa chinh chiến. Hy vọng đã vươn lên trong nhục nhằn tràn nước mắt. Hy vọng đã vươn dậy như làn tên…”* Và từ anh, chúng tôi hát cho nhau *”Không phải là lúc ta ngồi mà đặt vấn đề nữa rồi. Mà phải cùng nhau ta làm cho tươi mới.”* Cô giáo Việt văn của tôi đã mắng yêu tôi – tụi em thuộc nhạc Nguyễn Đức Quang hơn thuộc thơ của Nguyễn Công Trứ! Nguyễn Công Trứ. Đó là ngôi trường tuổi nhỏ có cây cổ thụ già, bóng mát của tuổi thơ tôi bây giờ đã chết. Tôi nhớ mãi những giờ cuối lớp tại trường, Cô Trâm cho cả lớp đồng ca những bài hát Bạch Đằng Giang, Việt Nam Việt Nam,

Về Với Mẹ Cha… Đứa vỗ tay, đứa đập bàn, đứa dậm chân, chúng tôi nở buồng phổi vang vang lên:* “Từ Nam Quan, Cà Mau. Từ non cao rừng sâu. Gặp nhau do non nước xây cầu. Người thanh niên Việt Nam. Quay về với xóm làng. Tiếng reo vui rộn trong lòng…” *Nhìn lên lớp học lúc ấy, có những biểu ngữ thủ công nghệ mà cô dạy chúng tôi viết: *Tổ quốc trên hết, Ngày nay học tập ngày sau giúp đời, Không thành công cũng thành Nhân.*.. Nhưng đọng lại trong tôi theo năm tháng vẫn là những câu hát* “Tình yêu đây là khí giới, Tình thương đem về muôn nơi, Việt Nam đây tiếng nói đi xây tình người…”* Cô giáo của tôi đã ươm mầm Lạc Hồng vào tâm hồn của chúng tôi và cứ thế chúng tôi lớn lên theo dòng suối mát, theo tiếng sóng vỗ bờ, theo tiếng gọi lịch sử của âm nhạc Việt Nam, để trở thành những công dân Việt Nam yêu nước thương nòi và hãnh diện về hành trình dựng nước, giữ nước của Tổ tiên. Trong cái nôi nhiều âm thanh êm đềm nhưng hùng tráng ấy, trừ những ngày tết Mậu Thân khi tiếng đạn pháo đì đùng từ xa dội về thành phố, cho đến lúc chui xuống gầm giường nghe tiếng AK47 và M16 bắn xối xả trước nhà vào ngày 10 tháng 3, 1975, tuổi thơ tôi được ru hời bởi dòng nhạc trữ tình của miền Nam để làm nên “Những Ngày Xưa Thân Ái”của chúng tôi.

Những ngày xưa thân ái xin buộc vào tương lai
Anh còn gì cho tôi tôi còn gì cho em
Chỉ còn tay súng nhỏ giữa rừng sâu giết thù
Những ngày xưa thân ái xin gởi lại cho em…

Các anh, những người anh miền Nam đã khoác áo chinh nhân lên đường đối diện với tử sinh, làm tròn lý tưởng Tổ Quốc – Danh Dự – Trách Nhiệm, đã hy sinh cuộc đời các anh và để lại sau lưng các anh những ngày xưa thân ái cho đàn em chúng tôi. Nhờ vào các anh mà chúng tôi có những năm tháng an lành giữa một đất nước chiến tranh, triền miên khói lửa.

Lần đầu tiên, chiến tranh tưởng như đứng cạnh bên mình là khi chúng tôi xếp hàng cúi đầu đưa tiễn Thầy của chúng tôi, là chồng của cô giáo Việt Văn, một đại úy sĩ quan Dù đã vị quốc vong thân. Cô tôi, mồ côi từ nhỏ, một mình quạnh quẻ, mặc áo dài màu đen, tang trắng, đứng trước mộ huyệt của người chồng còn trẻ. Cô khóc và hát tặng Thầy lần cuối bản nhạc mà Thầy yêu thích lúc còn sống –
Ta ngắt đi một cụm hoa thạch thảo…
Đôi chúng ta sẽ chẳng còn nhìn nhau nữa!
Trên cõi đời này, trên cõi đời này.
Từ nay mãi mãi không thấy nhau…
Và tôi say mê Mùa Thu Chết từ dạo đó. Trong những cụm hoa thạch thảo đầy lãng mạn ấy có đau thương đẫm nước mắt của Cô tôi. Có hình ảnh lá cờ vàng ba sọc đỏ phủ nắp quan tài của người Thầy Đại úy Sĩ quan Binh chủng Nhảy Dù vào mùa Hè hầm hập gió Nồm năm ấy.

Từ những ngày xa xăm tuổi nhỏ, những người lính VNCH là thần tượng của chúng tôi Tôi mơ được làm một người lính Dù bởi *anh là loài chim quý, là cánh chim trùng khơi vạn lý, là người ra đi từ tổ ấm để không địa danh nào thiếu dấu chân anh*, và cuối cùng anh bi hùng ở lại Charlie. Giữa những đau thương chia lìa của chiến tranh, những dòng nhạc của Trần Thiện Thanh đã cho tôi biết thương yêu, kính trọng những người lính không chân dung nhưng rất gần trong lòng chúng tôi. Những *”cánh dù ôm gió, một cánh dù ôm kín đời anh”* cũng là những cánh dù ôm ấp lý tưởng đang thành hình trong tâm hồn tuổi nhỏ của chúng tôi.
Nhìn lại quãng thời gian binh lửa ấy, tôi nhận ra mình và các bạn cùng lứa không hề biết rõ Phạm Phú Quốc là ai, chỉ biết và say mê huyền sử của một người được

“Mẹ yêu theo gương người trước chọn lời.
Đặt tên cho anh, anh là Quốc.
Đặt tên cho anh, anh là Nước.
Đặt tên cho Người. Đặt tình yêu Nước vào nôi”
chỉ ước ao một ngày chúng tôi cũng được như anh, cũng sẽ là những *”Thần phong hiên ngang chẳng biết sợ gì!”.*
Chúng tôi, nhiều đứa núi đồi, rừng rú, chưa bao giờ thấy biển nhưng thèm thuồng màu áo trắng và đại dương xanh thẳm, thuộc lòng câu hát *”Tôi thức từng đêm, thơ ấu mà nghe muối pha trong lòng. Mẹ là mẹ trùng dương, gào than từ bãi trước ghềnh sau. Tuổi trời qua mau, gió biển mặn nuôi lớn khôn tôi. Nên năm hăm mốt tuổi, tôi đi vào quân đội. Mà lòng thì chưa hề yêu ai”* .

Chúng tôi cũng không tìm đọc tiểu sử, cuộc chiến đấu bi hùng của Đại tá Nhảy Dù Nguyễn Đình Bảo, cũng không biết địa danh Charlie nằm ở đâu, nhưng Đại tá Nguyễn Đình Bảo là biểu tượng anh hùng của chúng tôi để chúng tôi thuộc lòng khúc hát *”Toumorong, Dakto, Krek, Snoul. Trưa Khe Sanh gió mùa, đêm Hạ Lào thức sâu. Anh! Cũng anh vừa ở lại một mình, vừa ở lại một mình. Charlie, tên vẫn chưa quen người dân thị thành.”*
Chúng tôi không biết “Phá” là gì, “Tam Giang” ở đâu, nhà thơ Tô Thùy Yên là ai, nhưng “*Chiều trên phá Tam Giang anh chợt nhớ em, nhớ ôi niềm nhớ ôi niềm nhớ đến bất tận. Em ơi, em ơi…” *đã thân thiết chiếm ngự tâm hồn để chúng tôi biết thương những người anh chiến trận đang nhớ người yêu, nhớ những người chị, cô giáo của chúng tôi ngày ngày lo âu, ngóng tin từ mặt trận xa xăm.

Trong cái nôi của những ngày xưa thân ái ấy, từ nơi khung trời đầy mộng mơ của mình chúng tôi chỉ biết đến nỗi niềm của các anh bằng những *”Rừng lá xanh xanh lối mòn chạy quanh, Đời lính quen yêu gian khổ quân hành”*. Giữa mùa xuân pháo đỏ rộn ràng con đường tuổi thơ thì chính âm nhạc nhắc cho những đứa bé chúng tôi biết đó cũng là *”ngày đầu một năm, giữa tiền đồn heo hút xa xăm, có người lính trẻ, đón mùa xuân bằng phiên gác sớm”*.
Giữa những sum vầy bình an bên cạnh mai vàng rực rỡ, thì ở xa xăm có những người con rưng rưng nhớ đến Mẹ già và gửi lời tha thiết *”bao lứa trai cùng chào xuân chiến trường, không lẽ riêng mình êm ấm, Mẹ ơi con xuân này vắng nhà…”* Âm nhạc Việt Nam đã gieo vào tâm hồn chúng tôi hình ảnh rất bình thường, rất người, nhưng lòng ái quốc và sự hy sinh của thế hệ đàn anh chúng tôi – những người lính VNCH – thì ngời sáng. Và chúng tôi biết yêu thương, khâm phục, muốn noi gương các anh là cũng từ đó.*

Sau ngày Thầy hy sinh, chúng tôi gần gũi với Cô giáo Việt Văn của mình hơn. Nhiều đêm thứ bảy, tôi và các bạn ghé nhà thăm Cô. Đó là lúc chúng tôi đến với Một thời để yêu – Một thời để chết. Chúng tôi bắt đầu chạm ngõ tình yêu với những Vũng lầy của chúng ta, Con đường tình ta đi, Bây giờ tháng mấy,
Ngày xưa Hoàng Thị, Tình đầu tình cuối, Em hiền như Ma Soeur, Trên đỉnh mùa đông, Trả lại em yêu… Đó là lúc Cô đọc thơ Chiều trên Phá Tam Giang của Tô Thùy Yên cho chúng tôi nghe, giảng cho chúng tôi về tài nghệ “thần sầu” của Trần Thiện Thanh trong lời nhạc *”anh chợt nhớ em, nhớ ôi niềm nhớ… ôi niềm nhớ…….. đến bất tận. Em ơi… em ơi!…”* khi diễn tả nỗi nhớ ngút ngàn, và sau đó chú Trần Thiện Thanh Toàn – em ruột của nhạc sĩ Nhật Trường ở Sài Gòn lên thăm Cô, vừa đàn vừa hát. Những buổi tối này, mình tôi ở lại với Cô tới khuya. Cô đọc thơ và hát nhạc phổ từ thơ của Nguyễn Tất Nhiên, chỉ cho tôi tính lãng đãng của lời nhạc Từ Công Phụng, khắc khoải của Lê Uyên Phương, mượt mà của Đoàn Chuẩn – Từ Linh, sâu lắng của Vũ Thành An… Và qua âm nhạc, Cô kể tôi nghe chuyện tình của Cô và Thầy. Hai người đến với nhau khởi đi từ bản nhạc mà Cô hát khi Cô còn là nữ sinh Đệ Nhất và Thầy là Sinh Viên Sĩ Quan Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam. Bản nhạc ấy có những dòng như sau:

”Nhưng anh bây giờ anh ở đâu
con ễnh ương vẫn còn gọi tên anh trong mưa dầm
tên anh nghe như tiếng thở dài của lòng đất mẹ
Dạo tháng Ba tên anh lẫn trong tiếng sấm đầu mùa mưa
nghe như tiếng gầm phẫn nộ đến từ cuối trời.”

Thầy và cô tôi yêu nhau từ sau khúc hát Người Tình Không Chân Dung và *”người chiến sĩ đã để lại cái nón sắt trên bờ lau sậy này” * cũng là định mệnh Thầy, của cuộc tình bi thương giữa một cô giáo trẻ và người lính VNCH. Cô tôi sống một mình và qua đời vào năm 2010. Bạn cùng lớp của tôi là Phương lùn, vào một ngày cuối năm, từ Sài Gòn trở về Ban Mê Thuột, xách đàn đến trước mộ Cô và hát lại *”Ta ngắt đi một cụm hoa Thạch Thảo”* để thay mặt những đứa học trò thơ ấu kính tặng hương hồn của Cô. Còn tôi, năm tháng trôi qua nhưng tôi biết rõ trong dòng máu luân lưu và nhịp đập của tim mình vẫn đầy tràn những thương yêu mà Cô đã gieo vào tôi bằng Âm Nhạc Miền Nam.

Một buổi tối chúng tôi ngồi hát với nhau. Các bạn từ Hà Nội, Nam Định, Yên Bái, Đà Nẵng, Sài Gòn… nhưng chỉ có mình tôi là sinh ra và lớn lên trước 1975. Các bạn tôi, hay đúng ra là những người em đang cùng đồng hành trên con đường đã chọn, đã thức suốt đêm hát cho nhau nghe. Rất tự nhiên, rất bình thường: toàn là những ca khúc của miền Nam thân yêu.

Đêm hôm ấy, cả một quãng đời của những ngày xưa thân ái trong tôi sống lại. Sống lại từ giọng hát của những người em sinh ra và lớn lên trong lòng chế độ độc tài. Các em hát cho tôi nghe về những người lính miền Nam mà các em chưa bao giờ gặp mặt “Anh sẽ ra đi nặng hành trang đó, đem dấu chân soi tuổi đời ngây thơ, đem nỗi thương yêu vào niềm thương nhớ, anh sẽ ra đi chẳng mong ngày về…”.

Tôi hát cho các em mình về những ngày tháng mộng mơ trước “giải phóng” của những
“Con đường tuổi măng tre, nắng vàng tươi đẹp đẽ, bóng người dài trên hè, con đường tình ta đi…”
Các em tâm sự về cảm nhận đối với người lính VNCH qua những dòng nhạc êm đềm, đầy tình người giữa tàn khốc của chiến tranh: “Tôi lại gặp anh, người trai nơi chiến tuyến, súng trên vai bước lê qua đường phố; tôi lại gặp anh, giờ đây nơi quán nhỏ, tuổi 30 mà ngỡ như trẻ thơ…” Tôi chia sẻ với các em về nỗi ngậm ngùi quá khứ:
“Như phai nhạt mờ, đường xanh nho nhỏ, hôm nay tình cờ, đi lại đường xưa đường xưa.
Cây xưa còn gầy, nằm phơi dáng đỏ, áo em ngày nọ, phai nhạt mây màu, âm vang thuở nào, bước nhỏ tìm nhau tìm nhau”…

Đêm ấy, khi các bạn nói lên cảm nhận về những mượt mà, êm ả, nhân ái của Âm Nhạc Miền Nam, tôi đã tâm sự với các bạn rằng: Chỉ cần lắng nghe và hát lên những dòng nhạc ấy, các em sẽ hiểu thấu được những mất mát khủng khiếp của con người miền Nam. Những mất mát không chỉ là một cái nhà, một mảnh đất, mà là sự mất mát của cả một đời sống, một thế giới tâm hồn, một đổ vỡ không bao giờ hàn gắn lại được. Khi những mượt mà, nhân ái ấy đã bị thay thế bởi những *”Bác cùng chúng cháu hành quân” *và *”Tiến về Sài Gòn” *thì các em hiểu được tuổi thanh xuân và cuộc đời của những thế hệ miền Nam đã bị đánh cắp hay ăn cướp như thế nào.

Gần 42 năm trôi qua, Âm Nhạc Miền Nam vẫn như dòng suối mát trôi chảy trong tâm hồn của người dân Việt. Chảy từ đồng bằng Cửu Long, xuôi ngược lên Bắc, nhập dòng sông Hồng để tưới mát tâm hồn của mọi người dân Việt đang bị thiêu đốt bởi ngọn lửa bạo tàn cộng sản. Dòng suối trong mát ấy cũng cuốn phăng mọi tuyên truyền xảo trá của chế độ về xã hội, con người miền Nam trước 1975 cũng như về tư cách, phẩm giá, lý tưởng của những người lính VNCH và tình cảm trân quý, yêu thương của người dân miền Nam dành cho họ.

Gần 42 năm trôi qua, trong tuyệt vọng của những kẻ thật sự đã thua trận trong cuộc chiến giữa chính nghĩa và gian tà, nhà cầm quyền cộng sản đã tìm mọi cách để tiêu diệt Âm Nhạc Miền Nam. Nhưng họ không biết rằng, dòng âm nhạc đó không còn là những bản in bài hát, những CD được sao chép, bán buôn… Âm Nhạc Miền Nam đã trở thành máu huyết và hơi thở của người dân Việt, bất kể Bắc – Trung hay Nam, bất kể sinh trưởng trước hay sau 1975.

Bạo tàn và ngu dốt có thể đem Âm Nhạc Miền Nam vào những danh sách cấm đoán vô tri vô giác, nhưng không bao giờ đem được Âm Nhạc Miền Nam ra khỏi con người Việt Nam.

Ai giải phóng ai? Hãy hỏi* Con Đường Xưa Em Đi* và đốt đuốc đi tìm xem *Bác Cùng Chúng Cháu Hành Quân* đang nằm trong cống rãnh nào trên những con đường Việt Nam!!!

Vũ Đông Hà

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Có một thời như thế đó – tác giả Vũ Đông Hà Montreal

Chia Buồn

CHIA BUỒN

Căn Nhà Nhỏ vừa được bạn TPK báo tin Cụ Bà là người Chị Cả của K1 Nguyễn Văn Sáo vừa qua đời tại Việt Nam hưởng Thượng Thọ 90 tuổi.
Căn Nhà Nhỏ xin chia buồn cùng bạn Nguyễn Văn Sáo và cầu nguyện cho cụ bà sớm sanh về cõi lành.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Chia Buồn

Sửa Chua (Yogurt) công dụng và chế biến

Yogurt

unnamed (7)

Bác sĩ Nguyễn Ý Đức

Truyền thuyết dân gian kể lại rằng:

Vào buổi sáng hôm đó, khi xuống chuồng vắt sữa bò như thường lệ, một trại chủ thấy bình sữa bỏ quên trong góc nhà. Cầm lên coi, ông ta thấy sữa hơi đông lại, ngửi không thấy hư, ông ta bèn nếm. Sữa có vị hơi chua chua, ngọt ngọt và thơm. Tiếc của Trời, ông ta mang về cho bà vợ và cả nhà cùng ăn. Ai cũng khen ngon và không bị phản ứng gì!

Trại chủ liền khoe với lối xóm là đã chế được món sữa đặc biệt. Ông ta tiếp tục “bỏ quên” nhiều bình sữa như thế rồi mang ra chợ bán. Mọi người đều ưa thích món sữa “bỏ quên” này và ông ta đã kiếm được rất nhiều tiền.

Sữa chua (yogurt) được khám phá ra như thế, và nhanh chóng được phổ biến khắp nơi.

Rồi đến thời kỳ Phục Hưng ở bên Pháp vào đầu thế kỷ thứ 16, vua Francois I bị chứng đau bụng đi cầu đã lâu ngày, mọi danh y đều bó tay. Một thầy thuốc người Thổ Nhĩ Kỳ được mời đến. Sau khi khám bệnh, ông ta cho nhà vua dùng một bài thuốc gia truyền trong một tuần lễ, nhà vua khỏi bệnh. Đó là món sữa chua mà gia đình vị lang y kia vẫn dùng để chữa cho dân chúng bị bệnh khó tiêu.

Từ đó, sữa chua được liên tục dùng khắp nơi trên thế giới như một thực phẩm và thuốc trị bệnh theo.

Khám phá khoa học về sữa chua

Nhưng phải đợi tới đầu thế kỷ thứ 20 thì nguyên lý tạo thành sữa chua mới được làm sáng tỏ qua nghiên cứu của một bác học người Nga, ông Ilya Metchinov (1845-1916).

Nhà khoa học này khao khát đi tìm một phương thức kéo dài tuổi thọ. Do đó, ông rất quan tâm đến một nhóm dân Bulgaria có tỷ lệ rất cao số người sống đến trên một trăm tuổi. Ông nhận thấy là họ tiêu thụ nhiều sữa chua. Vì thế, ông bắt đầu tìm hiểu đặc tính của loại sữa này và thấy trong sữa có những vi sinh vật làm thay đổi hóa chất của sữa, khiến sữa trở thành tốt hơn cho sức khỏe con người. Ông ta đặt tên cho một trong nhiều vi sinh vật đó là Lactobacillus Bulgaricus.

Từ đó sữa chua được chế biến khoa học hơn. Cũng xin lưu ý là Ilya Metchinkoff được giải thưởng Nobel về Y Học năm 1908 nhờ sự khám phá ra tính miễn dịch trong cơ thể con người. Ông cũng là bạn thân của nhà bác học nổi tiếng Louis Pasteur của nước Pháp.

 Theo định nghĩa của Codex Alimentarius Commissions, một tổ chức quốc tế có nhiều uy tín trong việc đưa ra các tiêu chuẩn chung về thực phẩm, sữa chua là sản phẩm từ sữa được lên men và làm đông đặc bằng cách để cho bay hơi. Trong những điều kiện thuận lợi về thời gian và nhiệt độ, đường lactose của sữa chuyển thành acid lactic, dưới tác dụng của các vi sinh vật như Streptocoous thermophilus, Lactobacillus Bulgaricus, Lactobacillus acidophilus... Sau đó sữa trở thành một chất giống như kem và có vị chua đặc biệt.

 Yogurt có thể làm từ sữa cừu, sữa dê, sữa trâu… nhưng thường thường là từ sữa bò.

Sữa chua cung cấp số năng lượng tương đương với sữa tươi, nhưng giá trị dinh dưỡng cao hơn. Sữa chua có nhiều chất đạm, carbohydrat, sinh tố, các khoáng calci, phosphat, potassium, niacin, riboflavin. Chất đạm trong sữa chua rất dễ tiêu và dễ hấp thụ vào máu.

Trong 100g sữa chua có: 4,3g chất đạm, 4,8 g carbohydrat, 1,1 g chất béo, 4 mg cholesterol, 173 mg calci, 0,18 mg riboflavin, 110 mg phosphor và cung cấp 50 calori. Nước chiếm tỷ lệ 88% và là nguồn cung cấp nước rất tốt cho cơ thể.

Nhiều người khi uống sữa tươi vào là bị tiêu chẩy, vì không tiêu hóa được đường lactose trong sữa. Khi dùng sữa chua thì không có vấn đề, vì đường này đã được chuyển hóa ra lactic acid.

Lactic acid và vi sinh vật trong sữa chua làm tăng độ chua trong bao tử, giúp sự tiêu hóa chất đạm và sinh tố C được dễ dàng

Công dụng chữa bệnh của sữa chua

Cách đây hơn nửa thế kỷ, Ilya Ilich Metchnikov đã nêu ra giả thuyết là một số bệnh tật gây ra do độc tố từ vi trùng trong ruột bị hư rữa, đưa đến phá hoại thành mạch máu. Theo ông ta, sự việc này có thể ngăn ngừa bằng các vi sinh vật trong sữa chua.

Sau đó các khoa học gia đã dành nhiều cố gắng để nghiên cứu về công dụng của sữa chua. Theo dõi công dụng này ở cơ thể con người có phần khó khăn, nên đa số đều thực hiện với những con chuột trong phòng thí nghiệm. Kết quả đều cho thấy là sữa chua rất tốt và có ích để chữa một vài bệnh.

1-Sữa chua giúp tiêu hóa đường lactose trong sữa

Theo thống kê, hiện nay có khoảng 75% người lớn tuổi trên thế giới không tiêu hóa được đường lactose trong sữa, nhất là dân châu Á và châu Phi. Khi uống sữa là họ bị đau bụng, đầy hơi, tiêu chẩy… Nguyên do là vì họ thiếu lactase để tiêu hóa đường sữa lactose. Khi ăn sữa chua, họ tránh được vấn đề trên vì lactose đã được chuyển ra lactic acid.

2- Sữa chua chữa bệnh tiêu chẩy

Trong ruột có rất nhiều vi sinh vật có lợi cũng như có hại, đua nhau tăng trưởng. Loại nào phát triển mạnh hơn thì sẽ tạo ảnh hưởng đến sự tiêu hóa và sức khỏe con người.

Ruột trẻ em có nhiều vi khuẩn E Coli gây ra tiêu chẩy. Sữa chua có thể chữa một số trường hợp tiêu chẩy.

Một nghiên cứu ở Nữu Ước năm 1963 đã so sánh tác dụng của sữa chua với hỗn hợp thuốc trị tiêu chẩy Kaopectate và kháng sinh neomycin. Kết quả cho thấy là vi sinh vật trong sữa chua rút ngắn thời gian bị tiêu chẩy.

Các nhà nghiên cứu ở Ý nhận thấy sữa chua làm giảm số vi khuẩn E Coli trong ruột. Sữa chua cũng làm bớt tiêu chẩy gây ra do thuốc kháng sinh. Ở các nước Ý và Nga, sữa chua được cho trẻ em bị tiêu chẩy dùng để chữa bệnh này.

Bên Nhật, sữa chua được dùng để trị bệnh kiết lỵ.

Năm 1995, cơ quan Y Tế Thế giới (WHO) có khuyến cáo là khi chữa tiêu chẩy, nên thay thế sữa thường bằng sữa chua, vì sữa chua dễ tiêu hơn , có thể ngừa thiếu dinh dưỡng.

Nhiều nghiên cứu khác cho hay sữa chua còn có tác dụng nhuận tràng.

3- Sữa chua có chất kháng sinh

Bác sĩ Khem Shahani, một chuyên gia nổi tiếng trên thế giới về sữa chua, thuộc trường Đại học Nebraska, cho hay là ông ta đã phân tích được hai loại kháng sinh từ sữa chua do các vi sinh vật L acidophilus và L. bulgaris tiết ra.

Các nghiên cứu ở Nhật, Ý, Thụy sĩ, Hoa Kỳ đều cho là vi sinh vật trong sữa chua có thể tiêu diệt được nhiều loại vi khuẩn gây bệnh.

4- Sữa chua làm giảm cholesterol trong máu

Các nhà quan sát nhận thấy dân chúng ở bộ lạc Maasai bên châu Phi dùng tới 2 lít sữa chua mỗi ngày và lượng cholesterol trong máu rất thấp. Họ kết luận là sữa chua có thể làm hạ cholesterol.

Bác sĩ George Mann đã tìm ra một chất trong sữa chua mà ông ta đặt tên là hydroxymethyl glutarate có đặc tính làm giảm cholesterol. Sau đó, nhiều nghiên cứu kế tiếp cũng đưa tới kết luận là sữa chua làm tăng mức cholesterol lành HDL và hạ thấp tổng lượng cholesterol trong máu.

5- Sữa chua làm tăng tính miễn dịch

Các nhà nghiên cứu ở Pháp đã chứng minh là sữa chua làm tăng miễn dịch tính ở chuột trong phòng thí nghiệm. Năm 1986, nhóm khoa học gia ở Ý tiến xa hơn với kết luận là vi sinh vật trong sữa chua làm tăng tính miễn dịch ở người qua việc gia tăng sản xuất kháng thể.

Sữa chua cũng làm giảm bớt các triệu chứng của dị ứng mũi.

6- Sữa chua với bệnh ung thư

 Một nhóm các nhà nghiên cứu ở Nam Tư cho biết vi sinh vật L. bulgaricus trong sữa chua tiết ra chất blastolyn có thể ngăn chặn sự phát triển tế bào ung thư loại Rous Sarcoma.

Kết quả nghiên cứu tại đại học Boston bên Mỹ và bên Pháp đều kết luận là L. acidophilus chống được ung thư vú và ruột già bằng cách làm giảm hóa chất gây ung thư trong ruột già. Bác sĩ Shahani cũng đồng ý là vi sinh vật L. acidophilus ngăn chặn ung thư ở loài chuột.

7- Sữa chua ngừa loét bao tử

 Bác sĩ Samuel Money thuộc Trung Tâm Y khoa Brooklyn, Nữu Ước, cho hay trong sữa chua có chất kích thích Prostaglandin. Chất này có khả năng che trở niêm mạc bao tử với tác nhân độc hại như thuốc lá, rượu và do đó ngừa được bệnh loét bao tử. Chất Prostaglandinhiện đang được tổng hợp để làm thuốc chữa bệnh bao tử.

 Ngoài ra trong sữa chua còn có chất tryptophan có tác dụng làm dịu thần kinh, dễ ngủ. Đồng thời kết quả nghiên cứu tại Đại họcMassachusett lại cho thấy sữa chua có tác dụng hưng phấn, làm ta tỉnh táo.

Sữa chua cũng làm bớt nhiễm độc nấm ở cơ quan sinh dục nữ giới.

Chọn lựa sữa chua

image

Sữa chua được bầy bán với nhiều nhãn hiệu khác nhau, cũng như được pha thêm trái cây cho có hương vị đặc biệt. Có loại sữa chua giữ nguyên chất béo, có loại đã được lấy bớt đi.

Nhãn hiệu trên hộp sữa có ghi chú rõ ràng thành phần dinh dưỡng, như là có bao nhiêu calorie, số lượng chất béo bão hòa, cholesterol, muối sodium, chất carbohydrat, đường, chất xơ, đạm chất, sinh tố A, C, chất sắt và calci.

Điều quan trọng là sản phẩm phải có vi sinh vật còn sống (live cultures). Ta thường thấy ghi tắt chữ LAC (Live and Active Cultures) của Hiệp Hội các nhà sản xuất sữa chua Hoa Kỳ, có nghĩa là 100 g sữa chua chứa ít nhất 100 triệu vi sinh vật còn sống và hoạt động. Vì có sinh vật sống nên sữa chua cần được giữ trong tủ lạnh, tránh bị hơi nóng hủy hoại.

Cách làm yogurt

Cách thức làm sữa chua dùng trong gia đình cũng đơn giản. Chúng ta chỉ cần thực hiện các bước tuần tự như sau:

Chuẩn bị khoảng 2 lít sữa bột ít chất béo, một lon sữa đặc không đường, một thìa sữa chua ít chất béo. Pha lẫn hai loại sữa, khuấy cho đều với một chiếc thìa bằng gỗ. Đun sôi với nhiệt độ vừa phải. Trong khi đun vẫn tiếp tục khuấy để sữa khỏi bị cháy dưới đáy nồi. Khi sữa sôi có bọt thì nhắc ra, để nguội. Khi sữa nguội tới mức mà ta nhúng ngón tay vào mà không bị bỏng (khoảng từ 40ºC – 46ºC), thì cho thìa sữa chua vào, khuấy cho đều với một cái muỗng bằng gỗ khoảng 30 giây. Nhớ khuấy theo một chiều để vi sinh vật không bị tổn thương.

Phủ lên nắp bình mấy tờ giấy để hút bớt nước bốc hơi và để sữa đặc lại. Đậy nắp bình, bọc chung quanh bằng một cái chăn len, để qua đêm, sáng sau là sẵn sàng để ăn. Ta có thể pha thêm các loại trái cây hay hạt ngũ cốc khô để có thêm hương vị đặc biệt.

Kết luận

Sữa chua là một trong nhiều món ăn được nhiều người ưa thích và là món ăn vặt rất hấp dẫn giữa hai bữa cơm chính.

Ngoài hương vị ngon, sữa chua còn có nhiều chất dinh dưỡng, chất kháng sinh, chất chống ung thư, có khả năng làm giảm cholesterol, đặc biệt là chất đạm trong sữa chua rất dễ tiêu.

Người bị bất dung với sữa thường, có thể thay thế bằng yogurt.

Với một ly nhỏ sữa chua mỗi ngày, ta có đủ số lượng calci cần thiết. Trẻ em trên ba tháng cũng có thể dùng sữa chua được rồi.

Bác sĩ Nguyễn Ý Đức

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Sửa Chua (Yogurt) công dụng và chế biến

Kỷ Niệm 51 năm Hôn Phối của cặp đôi Văn Vinh- Phương Lan

Lan Vinh

ĐỐT THÊM MỘT NGỌN NẾN VÀNG

51 năm Hồng Ân Hôn Phối: 2/1/1971 – 2/1/2022
Viết tặng các con để luôn biết giữ hạnh phúc trong tầm tay.

Kỷ niệm đốt ngọn nến vàng.
Giữ được hạnh phúc dễ dàng hay không?
Khởi đầu thắp ngọn nến hồng,
Lung linh sáng tỏa ước mong đẹp đời.
Nhưng khi vật đổi, sao dời,
Giữ sao trọn ước với lời thệ hôn?
Không e gian khổ dập dồn,
Mà ngại chính lúc tâm hồn xa nhau!
Không còn ý hợp tâm đầu.
Để rơi đâu mất những câu ngọt ngào.
Người ngoài, sao dễ xã giao?
Người thương tiết kiệm từng câu ân tình.
Hạnh phúc đâu hưởng một mình:
Quanh ta còn cả gia đình chung vui.
Sao cho nhỏ bớt “cái tôi”.
Nghĩ về hậu vận cả đời “chúng ta”.
Khôn ngoan tìm đến dung hòa,
Hơn thua chi để cả nhà lạnh tanh!?
Tuổi già sẽ đến rất nhanh,
Sao cho con cháu luôn quanh ông bà.
51 năm ngọt đắng cũng qua
Nến vàng xin thắp để mà tạ ơn.

Những mùa xuân trong đời:
1971: Xuân kết giao, 1975: Xuân chia lìa, 1988: Xuân đoàn tụ,
1992: Xuân đầu tiên tại đất nước Mỹ,
2021: Xuân bonus cho tuổi hoàng hôn.

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Kỷ Niệm 51 năm Hôn Phối của cặp đôi Văn Vinh- Phương Lan

Người Hoa Kỳ viết về Văn Học Miền Nam- Trần Doãn Nho

Một tác giả Hoa Kỳ viết về
Văn Học Miền Nam

Trần Doãn Nho

IMG_0211D4492A66-1

Vào ngày 11/11/2021, tạp chí “The Los Angeles Review of Books” (LARB) cho đi một tiểu luận của Anthony Morreale nhan đề là “Nhìn Lại Nền Văn Học Miền Nam Bị Bỏ Rơi” (Abandoned: Reconsidering the Literature of South Vietnam). Mặc dầu có nhiều điểm chúng ta chưa hoàn toàn đồng ý với tác giả, nhưng có thể nói đây là một bài viết thuộc loại khá hiếm hoi với cái nhìn đầy thiện cảm về nền văn học Việt Nam Cộng Hòa của một nhà nghiên cứu Hoa Kỳ. Xin tóm lược một số nhận định của bài viết để giới thiệu cùng bạn đọc.

Sự sụp đổ của Kabul (Afghanistan) mới đây nhắc nhở Morreale đến sự sụp đổ của Sài Gòn gần 5 thập niên trước. Đối với người Mỹ, khi nhắc đến Việt Nam, nó không chỉ ám chỉ một dân tộc ở Đông Nam Á, mà còn quy cho những tranh chấp trong xã hội Hoa Kỳ ở giữa thế kỷ 20. “Những cuộc tranh đấu giữa các chủng tộc, giai cấp, và thế hệ được cô đọng vào một điểm nóng duy nhất và được phóng chiếu vào một con bung xung: Việt Nam.”Ấy thế mà, không những đất nước của những người đã góp xương máu và công lao cho chính nghĩa của miền Nam Việt Nam bị quên lãng mà linh hồn của miền Nam Việt Nam cũng bị phủ nhận. “Đó là lý do tại sao Miền Nam Việt Nam đã bị quên lãng một cách kỳ lạ trong phim tài liệu mới đây như “The Vietnam War” và tuyển tập văn chương như “Other Moons: Vietnamese Short Stories of the American War and Its Aftermath.”

Morreale không chấp nhận thái độ đó. Theo ông, “Để xua đuổi tà ma khỏi thế hệ chết chóc của chúng ta, và cắt dứt khỏi cái vòng chối bỏ luẩn quẩn này,” người Mỹ cần phải thành tâm cầu nguyện cho những linh hồn đã bị bỏ rơi, bằng cách phiên dịch lại văn chương của Việt Nam Cộng Hòa. “Bởi vì văn chương của một dân tộc là cái vỏ thời gian của cảm hứng quốc gia.” Nếu chỉ qua lịch sử mà con người có thể đi xuyên qua hàng thế kỷ để chia xẻ tư tưởng của tiền nhân, thì “văn chương là một phương tiện để giao cảm với linh hồn, để cho linh hồn sở hữu chúng ta, nói chuyện xuyên qua chúng ta và thì thầm lời chứng của họ vào trái tim chúng ta.” Nếu tiếp tục làm ngơ, “chúng ta đã mang họ theo chúng ta với một lương tâm cắn rứt.” Bằng cách thừa nhận họ, bằng cách phiên dịch văn học của họ, “chúng ta sẽ lấy lại được một phần nào cái đã mất của chúng ta, và mở ra một con đường đã đóng đối với con cái họ ở giữa chúng ta trong cộng đồng lưu vong.”

Đây không phải là điều dễ dàng. Vì theo Morreale, văn chương dịch thuật hiện đang lưu hành ở Hoa Kỳ tràn đầy tác phẩm của những tác giả cộng sản miền Bắc và những tác giả bất đồng chính kiến cộng sản thời hậu-cải-cách. “Các mối quan hệ nền tảng của công việc dịch thuật rõ ràng được hình thành nhằm để hòa giải giữa những người cộng sản Việt Nam với giới trí thức Mỹ (chủ yếu là những người da trắng và có xu hướng tự do), thường đi ngược lại ước muốn của những trí thức miền Nam cũ và những lãnh tụ cộng đồng di dân, những người chẳng nhận được bao nhiêu từ một cuộc mặc cả như thế. Những người tỵ nạn miền Nam viết văn bằng tiếng Việt cũng không được đưa vào lãnh vực nghiên cứu người Mỹ gốc Á đang phát triển lúc bấy giờ.” Đối với các nhà xuất bản ở Hoa Kỳ, ý thức về “văn chương” Việt Nam chỉ tập trung vào hai thành phần: một là những nhà văn bất đồng chính kiến hay kể- như- bất- đồng- chính-kiến ở Việt Nam như Bảo Ninh, Dương Thu Hương, Nguyễn Huy Thiệp và Phạm Thị Hoài; hai là những nhà văn Mỹ gốc Việt như Ocean Vương (đoạt giải Macarthur Genius Grant) và Nguyễn Thanh Việt (đoạt giải Pulitzer).

Nhiều người Mỹ vẫn còn hiểu lầm rằng những người miền Nam Việt Nam là “những cư dân sống dọc theo bờ biển và những thung lũng trải dài từ vĩ tuyến 17 đến Vịnh Thái Lan.” Thực ra, phần nhiều trong số những công dân Việt Nam Cộng Hòa, đặc biệt là giới trí thức và văn chương, đã di cư từ miền Bắc trước năm 1956: hơn 800 ngàn người. Miền Nam Việt Nam là một tập thể pha tạp, gồm nhiều nhóm khác nhau: tín đồ Thiên Chúa Giáo, tín đồ Phật Giáo, người quốc gia thuần túy, những người theo phái Đệ Tứ (Trotskyists) và những người dân chủ xã hội. Các cuộc đấu đá ý thức hệ và chính trị đã chia rẽ xứ sở này ngay từ thập niên 1920, trở thành đẫm máu toàn diện qua suốt thời kỳ Đệ Nhị Thế Chiến.

So sánh giữa hai miền Nam, Bắc, Morreale cho rằng cương lĩnh miền Bắc khá rõ ràng, đó là chế độ Marxist-Leninist. Miền Bắc chính thức tưởng niệm cái chết của Stalin. Các tổ chức quần chúng tiến hành công việc hàng ngày của những công dân với đầu óc như khuôn đúc. Chế độ đó, “Nó đỏ, hung hăng,tàn nhẫn và hiệu quả.” Trong lúc đó, chế độ miền Nam bị chia rẽ do sự tranh giành quyền lực giữa nhiều phe phái khác nhau. Cuộc tranh giành này “kéo theo Hoa Kỳ vào một cách oan nghiệt, mang theo thứ công thức của kẻ túi đầy tiền nhưng ngu dốt và nông cạn, như đổ thêm dầu vào lửa.”

Tuy nhiên, về văn chương thì khác. “Bất cứ là lý do gì, hầu hết những nhà phê bình văn chương Việt Nam đương đại đều đồng ý rằng miền Nam đã sản xuất ra một số tác phẩm văn chương hay nhất, hay hơn rất nhiều so với những tác phẩm ra đời ở miền Bắc trong cùng thời kỳ. Có lẽ là vì văn chương miền Bắc bị kiểm duyệt nặng nề trong lúc sự tự do trí thức ở miền Nam đã giành chỗ cho nó phát triển. Hay có thể bí ẩn của một nền văn chương hay ho xuất phát từ triết lý, và sự đón nhận tư tưởng của những ngôi sao sáng như Heiddegger, Sartre, và Barthes, trộn lẫn với tinh hoa có sẵn của Phật Giáo, Khổng Giáo, Thiên Chúa Giáo của miền Nam đã thổi một hơi thở tươi mới vào thế hệ của những tác giả trẻ hơn. Một trong những giải thích được ưa thích của tôi [về tình trạng này] là từ nhà văn cựu du kích cộng sản Nguyên Ngọc. Ông nói với tôi rằng một nền văn học dân tộc hay ho phải chuyển những vấn đề quốc gia hạn hẹp thành những vấn đề bao quát của nhân loại. Trong lúc miền Bắc đã cột cái ách quyền lợi quốc gia lên cổ các tác giả, thì ở miền Nam, các nhà văn được đi lang thang qua các đồng cỏ rộng lớn hơn. Hiện nay, ông lão 90 tuổi Nguyên Ngọc dẫn đầu một nhóm các nhà trí thức tái giới thiệu văn học miền Nam sau bốn thập niên bị đàn áp.”

Morreale đặt câu hỏi: Trong lúc nhiều tiểu thuyết cổ điển của nền văn học cũ của miền Nam đã nhận được sự thừa nhận của kẻ thù cũ, thì tại sao chúng lại không có được sự lưu ý của những người đồng minh cũ (là Hoa Kỳ)?Ông cho rằng, “Chúng ta [Hoa Kỳ] nên làm, vì những tác giả miền Nam đã nói lên những khía cạnh nhân bản phổ quát của thân phận họ.” Họ là những người yêu tự do, xem tự do con người là “một vấn nạn cần được lý giải. Họ vật lộn với nó, hoài nghi nó, tháo nó ra rồi ráp nó lại.” Ám ảnh về tự do được thể hiện rất rõ ở tập thơ “Tôi Không Còn Cô Độc” của Thanh Tâm Tuyền. Sự xuất bản tác phẩm này là một bước ngoặt đối với “các xu hướng phân tâm học và hiện sinh đi quanh co qua hai thập niên văn học miền Nam.” Đề tài tương tự cũng được tìm thấy ở nhiều tác giả nổi tiếng khác, chẳng hạn như Dương Nghiễm Mậu với hai tác phẩm “Gia Tài Của Mẹ” và “Tuổi Nước Độc”. Theo ông, tính cách tự do ở miền Nam không chỉ giới hạn ở nam giới. Những cây bút phụ nữ lần đầu tiên xuất hiện trong sinh hoạt văn chương Việt Nam là có ngay một số lượng độc giả lớn lao vì họ dám đi ngược lại với những điều cấm kỵ truyền thống như Trần Thị NgH, Nhã Ca, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Nguyễn Thị Hoàng. Trong thời gian qua, một số tác phẩm của Nguyễn Thị Thụy Vũ và Nguyễn Thị Hoàng vừa được tái bản ở trong nước sau hàng chục năm chỉ được lưu hành trong cộng đồng hải ngoại.

Morreale ghi nhận công lao của những nhà văn miền Nam lưu vong. Ông cho biết, “Nền văn học dân tộc này có thể sẽ mãi mãi bị đánh mất nếu không có sự kiên trì của cộng đồng Việt Nam hải ngoại. (…) Nền văn học của họ đã được cứu vớt bởi những người khổng lồ như Võ Phiến, người đã giành tiền tiết kiệm và những năm tháng vàng son của mình để sưu tập, phân loại và phân tích văn học Miền Nam, trong khi vẫn tiếp tục làm việc kiếm sống với tư cách một người tiểu công chức của thành phố Los Angeles. Bộ Văn Học Miền Nam Tổng Quan gồm bảy tập của ông giới thiệu, phân tích và tuyển chọn tác phẩm của hơn 100 nhà văn Miền Nam, một công việc cẩn thận được tiến hành chậm chạp vìthiếu tài liệu và vì sức khỏe.” Morreale cho biết cùng với Võ Phiến, vài khuôn mặt hải ngoại khác như Nguyễn Mộng Giác, Phạm Phú Minh, và Thụy Khuê ở Pháp, đã xây dựng nên một cộng đồng Việt ngữ sinh động bằng báo in và các trang mạng. Nhưng vẫn còn vô số những người vô danh khác đã trải qua hàng thập niên kêu gào trong vô vọng. Hôm nay, tiếng nói của họ đã truyền qua thế hệ con cháu họ. Nhưng hầu hết thế hệ trẻ, tạm mượn chữ của nhà văn Nguyễn Thanh Việt, “đã mất tiếng mẹ đẻ, hay đã bị cắt đứt hẳn để chỉ sử dụng thứ ngôn ngữ tạm dung, chỉ còn một nhúm nhỏ càng ngày càng teo đi của cộng đồng lưu vong còn có khả năng cần thiết để đọc văn chương Việt Nam.”

Trong tình hình như thế, Morreale cảnh báo, nếu người Mỹ vẫn cứ bình chân như vại, thì sẽ chẳng có ai làm gì. “Cánh cổng đang khép lại và cùng với nó, cái cơ may của hàng triệu ngưởi Mỹ gốc Việt trẻ còn cảm thông với thế hệ cha anh cũng sẽ không còn nữa. Đây là lần phản bội thứ hai của người Mỹ.” Ông nhấn mạnh, “Nhưng ngoài sự phản bội, chúng ta còn đang tự lừa dối mình. (…) Chúng ta tự che chắn mình khỏi những bài học gian khổ của những người miền Nam, mà nhiều người trong số đó bây giờ là đồng hương của chúng ta. (…) Văn học của họ chứa đựng những suy ngẫm thông minh và sâu sắc nhất được tôi luyện từ cuộc chiến tạo ra thế giới đó (world-making war).”

*****

Tác giả Anthony Morreale đang làm luận án tiển sĩ tại Phân Khoa Lịch Sử, trường Đại Học Berkeley, California, nghiên cứu về lịch sử kinh doanh của các doanh nhân Việt Nam vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. Trước đây, ông đã từng nghiên cứu về lịch sử dịch thuật các tác phẩm Cộng Sản kinh điển sang tiếng Việt và lịch sử về chính sách chống người Hoa của Việt Nam Cộng Hòa.

TDN  (12/2021)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Người Hoa Kỳ viết về Văn Học Miền Nam- Trần Doãn Nho

Cuộc sống sẽ bình thường sau 2 tháng nữa ???

Ánh Sáng Cuối Đường Hầm?

Chuyên gia về Omicron tiên đoán:
“Cuộc sống bình thường sẽ trở lại sau 2 tháng nữa….!”

ĐAN MẠCH – Theo Tyra Grove Krause, trưởng nhóm dịch tễ học tại Viện State Serum ở Đan Mạch, biến thể Omicron của COVID-19 sẽ quét sạch tất cả các biến thể khác của vi rút và thế giới sẽ “có cuộc sống bình thường trở lại sau hai tháng nữa,” trang Greek Reporter đưa tin ngày Thứ Ba, 4 tháng 1 năm 2022.

Bà Krause cho biết, biến thể Omicron sẽ dẫn đến sự kết thúc của đại dịch COVID-19, dẫn chứng kết quả của một nghiên cứu mới ở Nam Phi, quốc gia chứng kiến một trong những đợt bùng phát sớm nhất của Omicron.

Trả lời trên kênh truyền hình Đan Mạch, bà Krause nói nghiên cứu mới của viện cho thấy nguy cơ phải vào bệnh viện do biến thể Omicron chỉ bằng một nửa so với biến thể Delta. Omicron sẽ tiếp tục làm gia tăng số ca nhiễm, sau đó sẽ giảm mạnh và rất nhanh.

“Tôi nghĩ trong hai tháng tới, đại dịch sẽ vào hồi kết thúc, tình trạng lây nhiễm sẽ bắt đầu giảm bớt và chúng ta sẽ có cuộc sống bình thường trở lại,” bà cho biết. “Omicron sẽ đạt đỉnh vào cuối tháng 1, và vào tháng 2, chúng ta sẽ thấy áp lực lây nhiễm giảm dần, các hệ thống chăm sóc sức khỏe cũng sẽ dễ thở hơn.”

Krause cũng cảnh báo “Nhưng mà chúng ta phải nỗ lực rất nhiều để vượt qua tháng Một.” Bà giải thích rằng biến thể Omicron cực kỳ dễ lây lan dường như nhẹ hơn bất kỳ biến thể nào khác đã biết trước đây của vi rút, điều này có nghĩa là nhiều người sẽ bị nhiễm, nhưng có các triệu chứng ít nghiêm trọng hơn – và sau đó trở nên miễn dịch. Đó là cách thế giới có thể thật sự đạt được khả năng miễn dịch cộng đồng, để quay lại cuộc sống bình thường.

Khả năng miễn dịch đối với biến thể Delta sau khi bị nhiễm Omicron.

Viện Nghiên cứu Sức khỏe Châu Phi ở Durban đã thực hiện một nghiên cứu quy mô nhỏ vào tháng 12 năm 2021, và thấy rằng những người đã bị nhiễm Omicron thực sự có khả năng miễn dịch cao hơn với biến thể Delta; và khả năng miễn dịch còn rõ rệt hơn ở những người đã được tiêm phòng.

Xác định các mục tiêu mới khi đại dịch vẫn đang hoành hành

Khi biến thể Omicron tiếp tục làm gia tăng số ca nhiễm trên toàn thế giới, hầu hết các chuyên gia đều tin dù đại dịch rồi sẽ kết thúc, nhưng một số dạng của con vi rút “mãi mãi ở bên chúng ta.”

Sẽ không có ‘liều thuốc duy nhất’ có thể diệt tất cả các dạng vi rút; hoàn toàn ngược lại. Mọi người ai cũng đã kiệt sức sau gần hai năm đối phó với đại dịch, về mặt xã hội, tài chính và cá nhân. Thế giới sẽ phải tìm ra một hướng đi khác, học cách sống với và kiểm soát rủi ro.

Số ca nhiễm Covid-19 ở Đan Mạch đang tăng cao trong vài tuần qua. Hôm Chủ Nhật, 2 tháng 1 năm 2022, Đan Mạch ghi nhận số ca nhiễm trung bình tuần lên tới 20,886, cao nhất từ trước đến nay. Hầu hết các ca nhiễm chỉ bộc lộ triệu chứng nhẹ. Bà Krause nói điều này phần nào giúp tăng mức độ miễn dịch của cộng đồng.

Chuyên gia dịch tễ hàng đầu Đan Mạch khuyến cáo người dân tiếp tục thực hiện các biện pháp phòng dịch, giãn cách xã hội và tự cách ly ở nhà nếu bộc lộ triệu chứng.

Bà Krause đưa ra bình luận vài ngày sau khi  Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) có bày tỏ sự lạc quan với đại dịch. “Chấm dứt sự bất bình đẳng mới có thể chấm dứt đại dịch và cơn ác mộng toàn cầu,” Adhanom Ghebreyesus, tổng giám đốc WHO, cho biết.

Vi rút rồi sẽ ‘cực thịnh tất suy’

CDC Hoa Kỳ đã giảm thời gian cách ly đối với những người bị nhiễm COVID-19 xuống còn 5 ngày, và giải thích rõ ràng là họ dễ lây nhiễm nhất trong 2 ngày đầu và 3 ngày sau khi xuất hiện các triệu chứng.

Theo Bác sĩ William Moss của trường Johns Hopkins Bloomberg, “vi rút sẽ phát triển tối đa” và rồi không thể tạo ra các biến thể mãi được. Ông nói: “Tôi không coi đây là một chu kỳ vô tận của các biến thể mới.”

Nhà miễn dịch học Ali Ellebedy tại trường Washington ở St. Louis nói với Reuters rằng khi đại dịch diễn ra, khả năng miễn dịch cơ bản của chúng ta đã được cải thiện đến mức ngay cả khi trải qua các đợt gia tăng đột ngột, số ca bệnh nặng, vào bệnh viện và tử vong sẽ giảm. Ông dự đoán sẽ tới một lúc nào đó, một người bị nhiễm COVID-19, nghỉ ngơi ở nhà từ hai đến ba ngày, rồi “mọi chuyện lại bình thường. Đó sẽ là lúc đại dịch kết thúc.”

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Cuộc sống sẽ bình thường sau 2 tháng nữa ???

Ai biết Cà Chớn là gì? Xin giải thích

CÀ CHỚN

Hai giờ sáng, điện thoại reo, nghe thằng bạn ó đâm hơn bốn mươi năm không gặp hét: “Đồ thằng CÀ CHỚN” . Cà chớn thì từ nhỏ đến lớn nghe rất quen tai, hổng hiểu từ này có trong tự điển hay không?

 Trèo lên cây bưởi hái hoa
Bước xuống ruộng cà hái ngọn tầm xuân

 Nào là cà độc dược, cà chua, cà pháo, cà tiêu, cà cuống, cà lăm, cà kê, cà khẳng, cà khêu, cà khịa, cà mèn, cà nhắc, cà nhom, cà niễng, cà phê, cà rà, cà rá, cà riềng, cà rỡn, cà sa, cà tăng, cà tửng, cà xốc. Lạ quá không thấy “cà chớn” ghi trong tự điển.

 “Cà chớn” là tiếng lóng ở miền nam, người Trung, người Nam nào cũng hiểu “cà chớn” là gì, nhưng người Bắc thì không biết từ này. Theo các nhà ngôn ngữ học, từ “cà-chớn” bắt nguồn từ tiếng Miên “Kchol”, người Việt phát âm “Cà chon”, đọc trại thành “Cà chớn”, có nghĩa là không đáng tin lắm từ lời nói đến hành động.

Nói ai cà chớn là có ý chê, nhưng cũng không có nghĩa là hoàn toàn xấu. Chẳng hạn “Chờ tới giờ này mà nó chưa đến, đồ thứ cà chớn”, hay “chiếc xe hôm nay cà chớn, đạp máy hoài mà không chịu nỗ”. Tuy nhiên, có thể nặng “Có tới bằng cấp đó, chức vụ đó mà ăn nói lý luận cà chớn quá”.

Vì gốc tiếng Miên, nên chỉ có dân Đàng Trong từ thời Chúa Nguyễn biết từ này, còn người Đàng Ngoài của chúa Trịnh tuyệt nhiên không biết. Từ này nhẹ hơn từ “cà tững”, có nghĩa gần như điên như khùng, thần kinh bị “mát”.

Hai từ “Cà Chớn” rất phổ biến ở miền nam trước 75. Mặc dầu bắt đầu bằng chữ “Cà” nhưng không có nghĩa là thực phẩm dùng để ăn như Cà chua, Cà pháo, Cà tô mát v.v… và cũng không có ý nghĩa là khuyết tật như Cà Lăm !

Cà chớn khó định nghĩa như thế nào cho chính xác. Cà chớn không hề có nghĩa là láo lếu, cũng không có ý nghĩa là xấu xa, nhảm nhí. Thí dụ bạn hẹn một người bạn đi uống cà phê, nhưng anh ta đến muộn, bạn phán là “thằng cà chớn”. Vậy không có nghĩa là anh bạn kia là một người bạn xấu.

Hoặc bạn nghe một người bạn nào đó đùa dai một câu như “trông cô gái kia phốp pháp, có vẻ hạp với ông đấy”. Bạn chỉ có thể kết tội anh ta là cà chớn chứ không thể cho là anh ta nói láo.

Đôi khi nó có nghĩa là xấu, đôi khi nó có nghĩa là vui đùa, đôi khi nó có nghĩa là không tốt, không xấu nữa. Thí dụ, bạn nói về một người bạn rằng: “Thằng ấy nó cà chớn thế thôi chứ không xấu bụng đâu”. Vậy cà chớn là không tốt cũng không xấu.

Xem ra hai tiếng “ cà chớn” này rất khó dịch sang tiếng ngoại quốc. Xin nhờ các dịch giả, các nhà nghiên cứu về ngôn ngữ học làm ơn dịch giùm. Tôi cứ nghĩ, nếu không là người Việt Nam thì khó mà hiểu nổi “cà chớn” có nghĩa là gì.

Tuy nhiên người Việt Nam nào cũng có thể cảm nhận được, hiểu ngầm được hai tiếng này. Nhóm chữ “văn hóa cà chớn” tôi dùng ở đây mang tất cả các ý trên.

Lại cũng xin xác minh rằng hai tiếng “cà chớn” đã có từ thời xa xưa chứ không phải chữ nghĩa hay lời nói mới phát sinh vào thời đại ngày nay ở Việt Nam (không phải chữ nghĩa VC).

Tôi nhớ rằng khi còn nhỏ, khoảng trên dưới 10 tuổi, mỗi buổi chiều khi tôi mê đá bóng hay đánh bóng chuyền, bóng bàn, về nhà trễ, tôi thường bị anh tôi mắng là “thằng cà chớn”. Tôi nghĩ ông ấy đã dùng chữ này thật chính xác. Nếu tôi mê đánh đinh đánh đáo, anh tôi có thể mắng là “thằng bố láo, thằng lười, ham chơi hơn thích học”, nhưng tôi mê thể thao cũng như ông ấy thì ông không dùng chữ “láo” được mà chỉ có thể có thể cho tôi là “thằng cà chớn” là đúng nhất.

Đôi khi người ta còn dùng là “cà chớn, cà cháo”, nhưng chữ “cháo” này không có nghĩa gì khác cả, chỉ là câu nói quen miệng cho trơn, cho xôm tụ thôi. Nhưng khi người ta nói “người ngợm đâu mà bẩn thế”, chữ “ngợm” ở đây có thêm nghĩa xấu, chứ nói về một người tốt, không ai thêm chữ “ngợm” vào cả.

Thế mới biết chữ nghĩa Việt Nam thâm thúy lắm. Cũng cùng một nhóm chữ, nhưng mỗi trường hợp phải được hiểu theo một ý khác nhau và hiểu được đúng lại càng khó. Đôi khi chỉ còn là sự cảm nhận của những người cùng chung một dân tộc, một huyết thống.”

 Nói về VN sau này cũng có nhiều thú vị. Một nhóm bạn xưa gặp nhau nói chuyện tầm phào về người này người nọ từng quen biết từ hồi thơ ấu. Khi đề cập tới một người khá quen biết, một bạn bỗng nói “Anh ấy bây giờ ở gần “kho đạn”, “nỗ” lắm đó, ai mà tiếp xúc với anh ấy thì bị văng miễng chịu không thấu đâu”.

Thật tình, nếu xa VN lâu năm sẽ không hiểu “kho đạn” và “nỗ” là gì. “Nỗ là khoe khoang quá lố, có chút ít lại nói thật nhiều, không có nói thành có, đôi khi khoe khoang lố bịch mà người nói tưởng là người nghe không biết. Rồi đến chuyện “cà”.

Mấy mươi năm ở hải ngoại, lo học hành rồi lo làm việc, chăm sóc gia đình, làm sao biết được sự phát triễn “tiếng lóng” ở trong nước trong mấy chục năm qua. “Sau 75, mấy ông ở miền ngoài vào nam “nỗ” lắm. Chẳng hạn như ở ngoài đó Tivi chạy đầy đường. Một anh miền nam, chơi khăm, cố tình gài câu hỏi: “chớ ngoài đó có biết ăn cà chua không?”. “Ngoài đó, tớ có đủ thứ cà, cà pháo, cà dĩa, cà chua ngon lắm, còn ngon hơn ở trong này”. Anh chàng miền nam bèn gài “chớ ngoài đó có “cà chớn” không?”. “Ối giời, thứ gì thì không rõ chứ thứ “cà-chớn” thì khối ấy”.

 Khi đề cập đến từ cà chớn thì ngày xưa có giai thoại về “Tư Cà Chớn”. Người lớn tuổi gọi anh là “Thằng Tư Cà Chớn”. Còn người nhỏ tuổi hơn không gọi “anh Tư Cà Chớn”, “chú hay bác Tư Cà Chớn”, mà thường gọi trõng là “Tư Cà Chớn”.

Nhà “anh Tư Cà Chớn” là gia đình cố cựu lập nghiệp từ bao đời, nhà có ngôi vườn trái cây rộng lớn vài ba mẫu đất, với ngôi nhà ngói đồ sộ và cổ kính, khác với các túp nhà tôn nhà lá nghèo nàn xây dựng tạm bợ của dân tản cư mới đến lập nghiệp. Nhà anh Tư thuộc loại giàu có hay khá giả trong xóm nhất. Anh “Tư Cà Chớn” được biết đến là do“đài radio Cái Răng” và  Chị Sáu đưa đò.

 Theo lờ chị Sáu cho biết, anh Tư mang danh “Tư Cà Chớn” nhưng sự thật thì anh Tư không đến nỗi “cà chớn” lắm, chỉ vì bị một cô gái lạ mặt chèo ghe trên sông nói anh hát đối “cà chớn”, câu chuyện được lan truyền trong xóm mà anh phải mang danh này từ ngày đó.

Anh là con trai duy nhất trong gia đình nên được nuông chìu. Nghe nói  hồi 4-5tuổi anh suýt chết đuối, nên đầu óc có bị ảnh hưởng chút ít, dầu không đến nỗi “cà tững”. Mặc dầu nhà giàu có, dinh dưỡng đầy đủ mà thân thể anh ốm “cà tong cà teo”.

Anh không thích học hành, từ hồi nhỏ anh chỉ “cà nhõng” trong thôn xóm, tới lớn cũng không có bằng cấp nghề nghiệp gì, mà lại thường “cà rà” ở các quán cà phê bên chợ Cái Răng hay nơi nào có tiệc tùng, có nhiều cô gái.

Nghe nói là ảnh cũng có bạn gái, nhưng rốt cuộc không đi đến đâu. Lý do là vừa mới quen cô gái nào, anh cũng đem giới thiệu khoe với bạn bè, mà nhè bạn bè lại đẹp trai, có nghề nghiệp đàng hoàng và ăn nói có duyên hơn, vì vậy cô bạn mới quen biết nào cũng đều bỏ anh, theo người mới.

Một lần Chị Sáu đưa đò nói với anh Tư: “Tại sao em lại đem bạn gái của mình giới thiệu với các anh bạn đẹp trai làm chi để nay phòng không chiếc bóng”. Anh trả lời tỉnh bơ: “Em thử lòng cô ta, nếu cô ta thực lòng thương em thì dầu gặp ai cô ta cũng vẫn lấy em. Còn nếu cô ta có tính như vậy, thà cô ta bỏ em bây giờ thì vẫn tốt hơn là bỏ em sau này, thế là may mắn cho em đó chớ”.

Chị Sáu đưa đò hết ý khuyên can. Anh Tư thích ca nhạc tân thời, hát vọng cỗ, và hò, nhưng anh ăn nói thuộc loại không có duyên lắm, mà lại hay “cà rỡn”. Chị Sáu kễ tiếp:

 Trong một buổi chiều tối nhá nhem, anh đang chèo ghe câu trên sông Cái Răng, bỗng thấy bóng dáng một cô gái bơi xuồng xa xa. Anh cất tiếng hò chọc ghẹo:

Hò…hơ…ớ…..hơ…lưới thưa anh bủa con cá duồng,
Buông lời mà hỏi bạn…hò….hơ…ơ…. chớ bạn bơi chiếc xuồng đi dâu?!

Cô gái chọc lại:

 Hò….hơ…ơ……lưới thưa em bủa con cá duồng,
Ở nhà em có chuyện hò……ơ…..nên em bơi xuồng đi tìm anh

Anh Tư tưởng bở là cá đã cắn câu, bèn cương câu hò:

 Hò…hơ…..con chim liễu nó biểu con hoàng oanh,
biểu to, biểu nhỏ, hò…hơ…biểu to biểu nhỏ, biểu anh thương nàng.

Cô gái cũng hát cương theo:

Hò ơ, … Anh kia xin chớ vội vàng
Nếu anh có giỏi, hò ơ, thì vài hàng đối chơi
hò….hơ…ơ…chớ con “cá đối” nằm trong “cối đá”
còn “mèo đuôi cụt” nằm “mút đuôi kèo”
nếu anh đối đặng, hò…ơ….. dẫu nghèo em cũng thương.

Anh Tư trả lời nghiêm chỉnh:

Hò…ơ……con “chim mõ kiến” nằm “trên miếng cỏ”,
chim “dàng (vàng) lông” đậu giữa “dòng (vồng) lan”.
Anh đà đối đặng, hò…hơ…. vậy nàng đến đây.

Thấy cô gái không hò trả lời. Anh Tư bèn hò tiếp:

 Hò hơ… ơ, Bớ chiếc ghe sau chèo mau anh đợi.
Hò hơ… ơ, Kẻo giông tắt đèn bờ bụi tối tăm.

 Không ngờ, cô gái hò đáp trả lời:

 Hò hơ… ơ, Bờ bụi tối tăm, anh quơ nhằm cái tộ bể
Hò hơ… ơ, Cưới vợ có chửa về thổi lửa queo râu.

 Qua câu hò đối đáp, biết cô gái chẳng vừa, anh bèn cà rỡn:

 Hò hơ, ơ… Cầu tre lắc lẽo gập ghình
Em xinh, em té xuống sình hết xinh

Cô gái hò đáp:

Hò hơ, ơ…Hởi  anh “cà chớn” kia ơi, em té xuống sình
Sao anh không vớt, mà ngồi chình ình vô duyên.

Cô gái chèo ghe đi khuất. Kễ từ đó, anh mang danh “Tư Cà Chớn”.

 Có những mẫu chuyện vui liên quan đến “cà chớn”:

…Mấy ngày sau 30.04.75, miền nam VN rơi vào tay cộng sản. Một cán bộ miền bắc vào Sàigòn tự cho là mình là “đỉnh cao trí tuệ” ra vẽ rất là hách dịch, thấy một người đạp xe lôi chở khách, liền lên giọng cán bộ nói:
“Miền nam sao mà nghèo thế! ở miền bắc chúng tôi thì xe hơi rất là nhiều, đến nỗi xe hơi chạy đầy đường đếm không hết. ”

Người lái xe lôi đạp hỏi tiếp:
“Thế ở miền bắc các anh có cà pháo không vậy?.”
Anh cán bộ hách dịch:
” À, cà pháo ở miền bắc chúng tôi rất là nhiều, đến nỗi cà pháo ăn không hết, mà còn phơi khô đầy đường đếm không xuể! “
Người lái xe lôi đạp từ tốn hỏi lại:
“Thế ở miền bắc các anh có cà rem không vậy?”
Anh cán bộ lại phô trương tài hiễu biết đĩnh cao:
” À, cà rem ở miền bắc chúng tôi có rất là nhiều, đến nỗi cà rem ăn không hết, mà còn phơi khô đầy đường. “
Người lái xe hỏi tiếp:
” Vậy thế ở miền bắc các anh có “cà chớn” không vậy?
Anh cán bộ tự đắc:
“Cà chớn hả ! Ôi Cà chớn ở miền bắc chúng tôi có rất là nhiều, đếm không hết. Chúng nó nhiều đến nỗi chạy đầy đường.”

Anh đạp xe, không còn lời gì để hỏi nữa !!!! Đúng là Xạo Hết Chổ Nói !

xxxxxxxxxx

Sau năm 1975, đám bộ đội khỉ Trường Sơn vào chiếm đóng các thành phố ở miền Nam. Thấy con gái ngụy đẹp quá nên buông lời tán tỉnh.
Rất bực mình, các cô khinh bỉ, bỉu môi.
– Đồ cà chớn!
Thấy thế, bộ đội lên đạn chỉa súng quát lên
– Này, cà chớn là gì thế hở? nói mau, nếu không, tớ xử lý ngay tại chổ.
Sợ quá, các cô ấp úng đáp.
– Dạ, cà chớn là tốt, ý tụi em muốn nói các anh bộ đội tốt lắm.
Thế là cả đơn vị bộ đội để chứng tỏ mình cũng là người văn minh nên truyền tai nhau học tập cà chớn là tốt.

Một hôm, Lê Duẩn ghé thăm đơn vị bộ đội này, tiểu đoàn trưởng đứng lên thuyết trình.
– Báo cáo đồng chí Tổng bí thư, tinh thần chiến đấu của anh em trong đơn vị nói chung là cà chớn. Tình cảm giữa các anh em đối với nhau cũng cà chớn lắm, anh em hạ quyết tâm noi gương cà chớn của các đồng chí lãnh đạo ạ!

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Ai biết Cà Chớn là gì? Xin giải thích

HAPPY NEW YEAR 2022

KÍNH CHÚC QUÝ NIÊN TRƯỞNG, QUÝ THÂN HỮU ĐỒNG MÔN, QUÝ BẠN BÈ ANH CHỊ EM VÀ GIA ĐÌNH KHÓA 1 HỌC VIỆN CSQG/VNCH BƯỚC SANG NĂM MỚI TRÀN ĐẦY SỨC KHỎE, CUỘC SỐNG LUÔN LUÔN AN BÌNH HẠNH PHÚC.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở HAPPY NEW YEAR 2022

Phút Cuối Cùng của Học Viện CSQG_- Ngô Bá Phước

PHÚT CUỐI CÙNG CỦA HỌC VIỆN CSQG

  • Ngô Bá Phước / Cựu Liên Đoàn Trưởng LĐSV-HVCSQG (1975)

                 Những ngày cuối tháng 4/75 sinh hoạt tại Học Viện CSQG thật căng thẳng. Tình hình thật bất lợi cho miền Nam Việt Nam. Quân Lực VNCH rút dần, co cụm về Quân đoàn III và chung quanh Sài Gòn.

            Từ đồi Tăng Nhơn Phú, nơi Học Viện tọa lạc, nhìn ra xa lộ Sàigòn – Biên Hòa, Sĩ quan Học Viện và các Sinh viên Sĩ quan đang thụ huấn thấy từng đoàn quân xa và các xe dân sự nối nhau hướng về phía Nam. Xa xa, phi trường Biên Hòa bị pháo kích và các trực thăng, chiến đấu cơ của Không Quân VNCH phải bay đi nơi khác. Dọc theo xa lộ, các nút chặn bằng thùng “phuy” đựng cát do Nghĩa Quân quận Thủ Đức thiết lập và trấn giữ. Sĩ quan, nhân viên Học Viện và Sinh viên Sĩ quan được lệnh sẵn sàng tác chiến.

            Đêm 29 rạng 30/4/75 Học Viện mất liên lạc vô tuyến với Chi Khu Thủ Đức. Cầu Rạch Chiếc trên xa lộ Biên Hòa bị đánh phá. Liên lạc máy PRC-25 với Biệt Khu Thủ Đô và Yếu Khu Tăng Nhơn Phú còn giữ được. Liên lạc với Bộ Tư Lệnh CSQG thì Đại Tá P.K.Q. chỉ hỏi tình hình tổng quát, khuyên cố gắng giữ vững vị trí chờ lệnh.

            6g30 phút sáng ngày 30/4/75 loạt đạn đầu tiên của chiến xa cộng quân bắt đầu nổ, phá hủy các cao điểm bố trí đại liên 30, 50 của Học Viện tại xạ trường. Các trụ “ăng ten” chính bị bắn gãy phải dựng các “ăng ten” phụ để liên lạc. Tiểu Đoàn III (SVSQ) quan sát tình hình báo cáo rất nhiều xe tăng và xe vận tải phủ lá ngụy trang với màu cờ xanh đỏ của cộng quân chạy nhanh về hướng Sàigòn. Chỉ có khoảng 4 chiếc tăng T-54 chạy tới lui và bắn về phía Học Viện ở hướng Bắc khiến các dãy lầu K và L bị hư hại khá nặng. Đại Giảng Đường cũng bị trúng đạn nhiều chỗ.

            Phía phòng thủ của Học Viện gồm Đại Đội Phòng Vệ, các Sĩ quan và nhân viên trực, 3 Tiểu Đoàn I, II và III gồm khoảng 800 SVSQ và 100 Sĩ quan các nơi về thụ huấn đã được huấn luyện trước nên đã sẵn sàng tại các vị trí phòng thủ chung quanh Học Viện. Sau giây phút giao động ban đầu, các Sĩ quan Liên Đoàn Sinh Viên và Đại Đội Phòng Vệ đã bám sát thuộc cấp để nâng cao tinh thần chiến đấu của anh em.

             Sĩ quan truyền tin Học Viện liên lạc Phòng Hành Quân Biệt Khu Thủ Đô để xin yểm trợ thì được yêu cầu cố gắng giữ vững vị trí. Liên lạc Yếu Khu Tăng Nhơn Phú để xin yểm trợ pháo binh, bắn rải dọc trên xa lộ đối diện Học Viện để khóa họng các chiến xa cộng quân đang bắn phá. Khoảng 8 giờ sáng, Đại úy Đặng Cao Quyền báo cáo, một xe tăng địch bị trúng đạn cháy ngoài xa lộ, các xe tăng khác của cộng quân hoảng loạn tràn xuống ruộng vừa tiến về hướng “lò sỏi” giữa Học Viện và Trường Bộ Binh Thủ Đức.

            Sinh viên Sĩ quan nhìn cảnh xe tăng địch bị cháy lên tinh thần la hét rầm rĩ và giữ chặt tay súng sẵn sàng chiến đấu.

            Khoảng 8g30, toán chiến xa địch chuyển hỏa lực về phía Trường Bộ Binh Thủ Đức, nơi bố trí pháo binh 105 ly và các chiến xa từ Trường Thiết Giáp Long Thành rút về. Tiếng bánh xe sắt cắn nát sỏi đá nghe rợn người. Có 4 chiến xa cộng quân đã được nhận diện, các chiến sĩ Phòng Vệ và SVSQ Học Viện được giao nhiệm vụ sử dụng vũ khí chống chiến xa từ trước được lệnh vào vị trí, chờ chiến xa địch lọt vào tầm bắn mới khai hỏa. Lúc này mục tiêu tấn công của chiến xa địch chuyển về phía Trường Bộ Binh nên Học Viện ít bị đạn pháo. Một chiếc xe tăng địch bị Trường Bộ Binh bắn đứt xích tại Niệm Phật Đường Chợ Nhỏ nhưng vẫn ngoan cố nhả đạn liên hồi cho đến khi bị cảm tử quân Trường Bộ Binh dùng lựu đạn lân tinh tiêu diệt.

            Tiếng đạn chấm dứt, Sinh Viên và Phòng Vệ Học Viện được lệnh củng cố hàng ngũ, sẵn sàng phản kích đợt tấn công kế tiếp của cộng quân. Một nhân viên Phòng Vệ và một SVSQ bị thương được di chuyển về phía trong chăm sóc.

            10g30 sáng 30/4/75, qua Đài Phát Thanh, Tổng Thống Dương Văn Minh ra lệnh buông súng sẵn sàng bàn giao. Mọi người đều ngơ ngác. Sĩ quan, Sinh viên nhốn nháo chờ lệnh. Một số ôm mặt khóc nức nở.

            Rồi tất cả cởi bỏ quân phục, vứt súng đạn lại, lủi thủi đi bộ ra hướng xa lộ tìm phương tiện về nhà chứ không để bị địch bắt làm tù binh.

            Phút cuối cùng của một đơn vị còn giữ được tay súng, tôn trọng kỷ luật, cương quyết chiến đấu và đã không hổ thẹn tự rã ngũ.

            Mẹ Học Viện vẫn giữ được tinh thần “Kỷ Luật – Danh Dự” đến phút cuối cùng.

NGÔ BÁ PHƯỚC

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Phút Cuối Cùng của Học Viện CSQG_- Ngô Bá Phước

Thuốc Paxlovid điều trị Covid-19

THUỐC PAXLOVID CỦA PFIZER
ĐIỀU TRỊ COVID-19

download

Hôm 22/12/2021, Cơ quan Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) đã cấp phép khẩn cấp cho dùng thuốc viên điều trị Covid-19 có tên Paxlovid của hãng dược phẩm Pfizer. Tổng thống Joe Biden hoan nghênh điều này, đồng thời, Nhà Trắng dự định mua tổng cộng 10 triệu liều  với 250.000 liều ngay từ tháng 1/2022.

Từ Washington, thông tín viên Guillaume Naudin tường trình :

“Tên thuốc là Paxlovid. Đây là một phương pháp điều trị dưới dạng kết hợp mỗi ngày uống 2 viên, và 2 lần, trong vòng 5 ngày. Paxlovid chỉ dành cho những người trên 12 tuổi có nguy cơ cao bị thể nặng của bệnh. Và cách sử dụng cũng rất hạn hẹp : điều trị phải được bắt đầu ngay từ lúc bệnh được chẩn đoán và trong vòng 5 ngày kể từ khi bắt đầu có triệu chứng.

Theo các thử nghiệm lâm sàng, thuốc có thể làm giảm 88% số ca nhập viện và tử vong của những người được điều trị.
Đối với FDA, phương pháp điều trị này xuất hiện vào thời điểm quan trọng của đại dịch, lúc các biến thể mới đang xuất hiện. Nhưng thuốc điều trị này không thể thay thế vac-xin, phương cách đề kháng tốt nhất.

Tổng thống Mỹ Joe Biden hoan nghênh sự xuất hiện của loại thuốc mới này trong các phương pháp điều trị của đất nước. Các nhà chức trách Liên bang đã đặt mua số lượng thuốc đủ để điều trị cho 10 triệu người. Nhưng số người được điều trị bằng thuốc này sẽ tăng dần dần bởi vì quá trình sản xuất mới được bắt đầu. Trước tiên, trong vài ngày tới, sẽ có 250.000 người được điều trị bằng Paxlovid“. 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thuốc Paxlovid điều trị Covid-19

Tin Buồn từ K1 Lê Ngọc Thịnh

cach-nhan-tin-chia-buon-dam-tang-3

Căn Nhà Nhỏ vừa được bạn Tống Phước Kiên báo cho biết tin buồn.
– Anh ruột của K1 Lê Ngọc T̀hịnh vừa qua đời tại Charlơtte NC, ngaỳ mai an táng.
Mình có gọi phone cho Thịnh nhưng có lẽ vì tang gia đang bối rối nên không có ngưới nhận phone.
CNN xin thông báo cho các bạn trong Gia Đình K1 được biết.
Nhân đây mình xin đại diện cho Căn Nhà Nhỏ và một số bạn đồng môn kính gởi lời chia buồn đến bạn K1 LÊ NGỌC THỊNH và tang quyến. Cầu mong cho hương linh người anh quá cố được siêu sanh về cõi lành.
THÀNH KÍNH PHÂN ƯU

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Tin Buồn từ K1 Lê Ngọc Thịnh