Chia buồn cùng bạn Huỳnh Minh Thanh

HMT

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Chia buồn cùng bạn Huỳnh Minh Thanh

Tại Sao Nên Nằm Ngủ nghiêng Về Bên Trái- TPK Sưu Tầm

LÝ DO TẠI SAO NÊN NẰM NGỦ
NGHIÊNG VỀ BÊN TRÁI.

(TPK sưu tầm)

Vì chỉ cần nằm nghiêng bên trái thôi là bạn đã có thể cải thiện sức khỏe của mình 1 cách đáng kể rồi.

Chúng ta biết rằng, giấc ngủ có vai trò cực quan trọng đến sức khỏe của bạn. Ngoài thời gian ngủ, vị trí ngủ thì tư thế ngủ cũng ảnh hưởng không nhỏ tới tinh thần, thể chất của bạn.

Bạn thường nằm ngủ ở tư thế nào nhất? Nằm ngửa, nằm sấp, nằm nghiêng trái, nghiêng phải? Nhưng bạn có biết đâu là tư thế chuẩn chỉnh nhất không?

unnamed (3)

Ngủ nghiêng trái là tư thế ngủ tối ưu nhất!

Theo bác sĩ Steven Park thuộc ĐH Y New York thì tư thế ngủ tốt nhất dành cho bạn chính là nằm “nghiêng trái”. Và lý do để bạn quyết định nằm nghiêng trái đó là vì…

1. Cải thiện các chức năng của hệ bạch huyết

Cần nhấn mạnh rằng, bên trái chính là nơi tế bào limpho hệ bạch huyết thống trị. Hệ bạch huyết là phần quan trọng của hệ thống tuần hoàn và hệ miễn dịch.

unnamed (4)

Chức năng chính của hệ bạch huyết là chống lại mầm bệnh, các dị vật và tế bào biến dạng (ung thư). Ngoài nhiệm vụ bảo vệ cơ thể, hệ bạch huyết cũng là một phần của hệ tuần hoàn với nhiệm vụ cân bằng thể dịch, hấp thu chất béo.

Do đó khi nằm nghiêng trái, cơ thể sẽ có nhiều thời gian để lọc bỏ độc tố qua ống ngực và hạch bạch huyết, rất tốt cho cơ thể.

2. Dễ dàng đi “nặng” hơn

Các đường giao nhau giữa ruột non và ruột già cư ngụ ở phía bên trái cơ thể của bạn, trong khu vực được gọi là van ileocecal. Chức năng quan trọng của phần cơ vòng này là để hạn chế các chất trào ngược từ ruột già vào ruột non.

unnamed (5)

Khi nằm nghiêng bên trái, trọng lực sẽ hỗ trợ sự di chuyển sản phẩm thải từ ruột non đến ruột già. Và điều đó sẽ giúp đỡ lớn trong việc loại bỏ các chất thải qua phân vào buổi sáng.

3. Giảm ợ nóng

Một số nghiên cứu cho thấy ngủ nghiêng bên trái có thể làm giảm đáng kể các triệu chứng ợ nóng. Lý do được các chuyên gia đưa ra đó là do, nằm nghiêng trái sẽ có ít hoặc không làm dịch axit dạ dày trào ngược lên thực quản – nguyên nhân gây ra chứng ợ nóng.

unnamed (6)

Do đó, nếu bạn mắc chứng ợ nóng sau khi ăn, nên nằm nghiêng về bên trái để thoát khỏi tình trạng này.

4. Cho một trái tim khỏe mạnh

Sự lưu thông máu đến tim cũng tăng lên như việc các mạch máu nhận máu cung cấp tới tim.

unnamed (7)
Tim có nhiệm vụ nhận máu từ phổi và bơm ra khắp cơ thể. Vì thế, ngủ nghiêng về bên trái làm giảm khối lượng công việc áp lực lên trái tim do việc bơm máu của tim đã được lực hấp dẫn trợ giúp.

Bên cạnh đó, tư thế này cũng tạo điều kiện thuận lợi cho các chức năng của hệ tuần hoàn – đặc biệt là động mạch chủ, tĩnh mạch dưới… lưu thông máu từ tim tới các mạch máu nhịp nhàng hơn.

5. Bảo vệ gan

Gan nằm ở phía bên phải cơ thể bạn và là cơ quan tham gia quá trình chuyển hóa và bài tiết. Vì thế, hiển nhiên rằng gan có xu hướng tích tụ nhiều chất thải và độc tố trong cơ thể.

unnamed (8)

Với tư thế nằm ngủ nghiêng về bên trái sẽ giúp ích cho các cơ quan này đào thải chất độc tốt hơn.

6. Hỗ trợ chức năng của lá lách

Lá lách đóng vai trò rất quan trọng trong việc lọc máu và thực hiện các chức năng cơ thể quan trọng khác. Và đương nhiên, lá lách cũng nằm ở bên trái của cơ thể.

unnamed (9)

Vì vậy, ngủ nghiêng bên trái giúp lá lách hoạt động hiệu quả. Lúc này, chúng sẽ thúc đẩy dòng máu đến lá lách, cho phép việc lọc tạp chất trong máu nhanh chóng và tốt hơn.

Và nếu bạn vẫn còn  chưa biết ngủ thế nào mới đúng và có lợi nhất cho sức khỏe thì hãy tham khảo bức hình dưới đây nha!

image

Tư thế nằm ngửa từ trước đến nay vẫn được xem là rất tốt. Ưu điểm của nó là giúp lưng bạn không đau, và nếu kê gối cao hơn một chút còn giúp ngăn ngừa hiện tượng trào ngược dịch vị.

Tuy nhiên, tư thế nằm ngửa dễ có xu hướng ngáy hơn do lưỡi gà và các cơ màn hầu trong họng bị kéo trùng xuống, dễ gây hẹp đường thở – tạo ra tiếng ngáy. Ngoài ra, một số ý kiến cho rằng tư thế này có thể gây áp lực cho vai, dễ gây tổn thương.

Theo Trí Thức trẻ

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Tại Sao Nên Nằm Ngủ nghiêng Về Bên Trái- TPK Sưu Tầm

Việt Cộng – Việt Cộng – Bài của Lê Dinh

Việt cộng – Việt cộng

Hai tiếng này, tôi không hiểu sao, cho đến ngày nay, nó trở thành hai tiếng xấu xa, kinh tởm nhất trong số những danh từ để ám chỉ những hạng người mà ai ai cũng oán ghét, hận thù và muốn xa lánh. Nhưng hai tiếng Việt Cộng nguyên thủy đâu có gì là xấu xa, nó chỉ là một danh từ ghép thường thôi, như rừng núi, biển khơi, đồng áng… nhưng theo thời gian biến đổi, nó trở thành một danh từ ghê tởm và rùng rợn lúc nào chúng ta không hay.

unnamed (1)
    Nhạc sĩ Lê Dinh

Nếu ai chỉ một tên nào đó mà nói “Mầy là thằng Việt Cộng”thì có nghĩa người đó là một người xấu xa nhất trong xã hội hiện nay. Chẳng thà chửi cha người ta, người ta không giận bằng chủi “Mầy là thằng Việt Cộng”. Như vậy đủ biết hai chữ Việt Cộng bị người đời thù ghét như thế nào rồi. Mà nghĩ cũng đúng thôi. 

Nhớ lúc tôi còn nhỏ, năm tôi 11 tuổi, còn học ở trường Tiểu học Vĩnh Lợi, cách làng Vĩnh Hựu của tôi chừng ba cây số. Mỗi sáng thứ hai đầu tuần, mẹ tôi phải đưa tôi đến trường và tôi lưu trú tại nhà dì tôi cho đến cuối tuần mới trở về Vĩnh Hựu. Một buổi sáng thứ hai đầu tuần, cũng như mọi khi, mẹ tôi xếp đâu 2 chục trứng gà vào một cái giỏ để khi đưa tôi đến trường xong là mẹ tôi ra chơ bán 2 chục trứng gà đó, lấy tiền mua các thức ăn khô khác. Hai mẹ con đang đi, độ còn nửa đường là tới làng Vĩnh Lợi, thình lình trong một bụi cây rậm rạp, có một người mặc đồ đen, tay cầm khẩu súng ngắn sáng loáng, nhảy ra chận mẹ con tôi lại, quát to: Đứng lại! Anh ta đưa họng súng ngay truớc trán mẹ tôi, rồi đưa sang qua tôi, quơ qua quơ lại trên đầu tôi, hỏi mẹ con tôi có phải đem trứng ra chợ để bán cho Tây không? (Lúc đó, ở tại chợ Vĩnh Lợi, ngay phía bên kia đầu cầu sắt, có một cái đồn của người Pháp đóng tại đó). Mẹ tôi run run nói:

– Dạ thưa ông, đâu phải, tôi đem trứng này ra chợ bán để lấy tiền mua thức ăn.

– Chứ không phải mẹ con bà đem lương thực cung cấp cho Tây sao?

– Dạ thưa ông, đâu có phải như vậy.

– Thôi lần này tôi tha cho mẹ con bà đó, nhưng giỏ trứng thì bị Ủy ban tịch thu. Nhớ lần sau, còn gặp mẹ con bà đem trứng ra chợ như vậy nữa là tôi sẽ bắn bỏ.

– Dạ mẹ con tôi đội ơn ông.
Thật hú hồn hú vía. Lần đầu tiên trong đời, tôi mới nhìn thấy khẩu súng lục. Sao nó uy dũng, hiên ngang, trông rất dễ sợ. Và cũng lần đầu tiên trong đời tôi mới biết đó là những kẻ gọi là Việt Minh, những người mặc đồ đen, đầu quấn khăn rằn, rồi sau này trở thành Việt Cộng và hai chữ Việt Cộng đã ám ảnh tôi từ suốt thời bé thơ cho đến khi khôn lớn.

Nếu không có lần bị đón đường, bị đe dọa bắn bỏ hôm đó, tôi đã trở thành một tên Việt Minh từ thời trẻ dại này rồi. Tôi còn nhớ rất rõ, ở tuổi 11, 12, tôi say mê những bài hát êm đềm, như:

“Còn đâu trên chiến khu trong rừng chiều
Bên đèo lắng suối reo, ngàn thông reo
Còn đâu trên chiến khu trong rừng chiều
Bên đèo đoàn quân réo, đạn bay vèo…”

Hay hùng dũng, như:

“Mùa thu rồi ngày hăm ba, ta ra đi theo tiếng gọi sơn hà nguy biến…”

Hoặc:
“Đoàn giải phóng quân một lòng ra đi
Nào có sá chi đâu ngày trở về…”

Và còn nữa:

“Nào anh em ta cùng nhau xông pha lên đàng
Kiếm nguồn tươi sáng…”

Hay là những bài thơ mà giờ đây hơn 60 năm qua, tôi vẫn còn nguyên trong trí nhớ: 

“Tôi muốn tôi là một cứu thương
Cạnh theo chiến sĩ đến sa trường
Nằm lăn trên lá hay rơm ủ
Băng trắng đầu mình những vết thương”

Thật là lãng mạn, thật là dễ thương. Làm sao mà tôi không bị quyến rũ bởi nét nhạc, lời thơ như vậy được. Cho nên tôi có ý nghĩ là mình sẽ phải theo mấy anh lớn để được vào bưng, được nghe tiếng suối reo, ngàn thông reo, được nằm lăn trên lá hay rơm ủ, được nữ y tá săn sóc vết thương… Rồi một ngày nọ, tôi được theo đoàn biểu tình đi bộ từ làng Vĩnh Hựu của tôi lên tới tỉnh Gò Công, cách xa làng tôi 14 cây số, để gọi là… ủng hộ Việt Minh. Thức dậy từ 3 giờ khuya, chuẩn bị cơm vắt muối mè, tập hợp lại rồi tháp tùng đoàn người, đi theo nhịp trống quân hành “rập rập thùng, rập rập thùng”… lội bộ suốt 14 cây số, nhờ vừa đi vừa hát “Nào anh em ta cùng nhau xông pha lên đàng”, cho nên thằng con nít 11 tuổi như tôi, khi đến nơi, nào có thấy chút mệt mỏi gì đâu? Nhưng sau lần gặp gã Việt Minh với khẩu súng giết người đó, tôi đã bừng tỉnh giấc mơ bỏ học, trốn cha mẹ để ra bưng biền.


Việt Cộng! Chỉ hai tiếng thôi, nhưng sao thiên hạ hoảng hốt, kinh hoàng khi nghe đến nó. Năm 1954, gần một triệu đồng bào miền Bắc, cũng vì hai tiếng này mà phải bỏ hết của cải, quê hương, làng xóm, mồ mả ông bà để chạy vô miền Nam xa lắc xa lơ, trốn khỏi bè lũ Việt Cộng. Năm 1975 cũng vậy, vì hai tiếng này mà hơn hai triệu người dân miền Nam phải liều chết, bằng đủ mọi cách để lánh xa loài quỷ dữ. Ở thôn quê miền Nam, khi nghe mấy tiếng “Việt Cộng về” hay “Mấy ổng về” là bà con gồng gánh, già trẻ, bé lớn chạy trối chết về phía thành phố để trốn khỏi bọn Việt Cộng. Rồi nào Việt Cộng pháo kích vào thành phố, vào quận lỵ giết hại dân lành, giết hại trẻ thơ nơi trường học. Việt Cộng đào lộ, đấp mô, đặt mìn, phá cầu…
 Còn Việt Cộng ngày nay thì ngoài tham nhũng còn tội bán nước, buôn dân, bàn tay chúng phạm trăm ngàn thứ tội ác. Việt Cộng ngày nay bán rừng, bán biển, bán giang sơn cha ông cho Tàu, Việt Cộng ngày nay độc ác, tàn nhẫn với dân chúng, nhưng co ro, cúm rúm trước thằng Tàu như sợ ông nội, ông cố của chúng, bắt dân bỏ tù nếu dân đứng lên yêu nước chống lại lũ Hán xâm lăng. Rồi tôi miên man suy gẫm, không biết những tên như Nguyễn Tấn Dũng, Trương Tấn Sang, Nguyễn Phú Trọng nghĩ sao – nhưng không biết những tên này có biết suy nghĩ không – chúng có thấy rằng sao mình đi đến đâu, thiên hạ bỏ chạy hết vậy? Mình giành được phân nửa xứ sở miền Bắc, đáng lẽ dân chúng phải ở lại với mình để kiến thiết xứ sở chứ, sao gần cả triệu người lại bỏ chạy vào Nam. Rồi mình cướp được luôn phân nửa miền Nam còn lại, thiên hạ lại ùn ùn bỏ chạy nữa, cả hơn hai triệu người xa lánh mình. Tại sao và tại sao? Chúng không tự đặt câu hỏi đó với chính chúng sao? Mình đi đến đâu thì người ta chạy trối chết khỏi nơi đó. Mình là thứ gì vậy? Nhìn hình ảnh cuộc di cư năm 1954, trên những chiếc tàu há mồm, nhìn những gương mặt hớt hơ hớt hãi, mất hồn, chạy đôn chạy đáo để rời khỏi Saigon tháng tư năm 1975, rồi nhìn những cảnh liều chết vượt biển lên đến cao điểm, từ năm 1975- 1980, nếu chúng là người, chúng phải suy nghĩ chứ? Mình cũng là người như họ, đầu, mắt tay chân cũng đầy đủ như họ, tại sao họ sợ mình mà chạy hết như thế? Mình có phải là quỷ dữ hay ác thú gì đâu? Nhưng tôi nghĩ, Việt Cộng còn đáng sợ hơn là quỷ dữ nữa.Nhìn lại, từ cái thời bé thơ, thuở mà mẹ con tôi đem hai chục trứng gà ra chợ bán để có tiền mua thức ăn cho gia đình, đến ngày nay, đã hơn 60 năm trôi qua, tôi cảm thấy rùng mình, ghê sợ. Từ những việc bắt người cho mò tôm, thả xác trôi sông thuở đó, cho đến những vụ lường gạt, gian dối cướp giật của Việt Cộng ngày nay, nhìn sự dã man tàn ác của Việt Cộng đối với người dân cùng chung máu mủ … thật không thể nào tưởng tượng nổi. Quỷ chỉ nhát, chỉ hù người ta thôi, chứ không hại người ta, mà nếu quỷ có hại thì chỉ hại một người thôi. Còn Việt Cộng hại cả một dân tộc, tiệu diệt tất cả, đất đai, sông biển, núi rừng không còn, nhưng đó là nói về mặt những gì còn nhìn thấy được. Còn về mặt không nhìn thấy được thì là Việt Cộng tàn phá cả đạo đức, dung dưỡng tội ác, giết chết sự trong trắng trong lòng trẻ thơ, đưa nhiều thế hệ con em chúng ta vào vòng tối ám, dạy chúng dối trá, dạy chúng tội ác…

Nhưng như vậy cũng chưa đủ. Những nguời đã quá sợ chúng mà bỏ xứ ra đi, để xứ cho chúng ở cũng chưa được yên thân. Chúng còn cho tay chân bộ hạ, núp bóng dưới danh nghĩa này, danh nghĩa nọ, chạy theo ra ngọai quốc để quyết hành hạ những người tỵ nạn Cộng sản này cho đủ… 36 kiểu của chúng. Thật trời không dung, đất không tha. Ngày xưa, chúng đã chiếm được phân nửa nước Việt Nam, tưởng đâu rằng chúng cùng miền Nam thi đua làm cho dân giàu nước mạnh, nhưng như chúng ta đã biết, Việt Cộngcho đến 1975, còn chưa thấy cái thang máy “biết tàng hình” là gì, chưa được nhìn chiếc đồng hồ “12 trụ, 2 cửa sổ, không người lái” là gì, không hiểu cái bồn cầu “để rửa rau” hay để làm gì, trong khi miến Nam lúc đó đã là một trong những quốc gia tân tiến ở Đông Nam Á châu. Rồi lòng tham vô đáy, thực hành chủ nghĩa Cộng sản toàn cầu của chúng, chúng cướp luôn miền Nam. Thiên hạ lại bỏ chạy, chúng rượt theo ra đến ngoại quốc để áp dụng… 36 kiểu lên đầu lên cổ người đã sợ chúng mà bỏ chạy 36 năm trước.

Nếu tôi có làm anh muôn vàn bực tức, xin anh cứ chửi tôi là thằng mất dạy, thằng láu cá, thằng bỉ ổi, thằng đê tiện, thằng vô học, thằng… thằng gì cũng được, hay bảo tôi là thằng không cha không mẹ, hay là thằng do… con gì sanh ra cũng được nốt, nhưng xin đừng bảo tôi là Việt Cộng. Mầy là thằng “Việt Cộng”, hai tiếng này nặng lắm, anh biết không? Nói như thế là anh chửi tôi đấy, mà chửi tôi thật nặng, đó là tiếng chửi ghê gớm nhất, đáng sợ nhất trong những tiêng chửi đương thời. Vì hai tiếng này đồng nghĩa với ác nhân, hung đảng, ác quỷ, ác tinh, man di, mọi rợ, lưu manh, gian xảo, côn đồ, thảo khấu… , lọai quỷ quái tinh ma, nghĩa là bọn trời đánh thánh đâm, trời tru đất diệt. 

Lê Dinh

Đăng tải tại Sưu Tầm | Chức năng bình luận bị tắt ở Việt Cộng – Việt Cộng – Bài của Lê Dinh

Tâm sự của một Bác sĩ Miền Bắc_BS Lê Nhàn

May be an image of 2 people, people standing and text that says 'Tâm sự của một Bác Si miền Bắc TẠI SAO TÃI YÊU MIỀN NAM?'

Đứa Nào Ăn Cháo Đá Bát

Bs Lê Nhàn

Nếu như có người hỏi là:

“Tại sao Nhàn Lê sinh ra lớn lên, học hành ở miền Bắc nhưng bây giờ lại nói người Bắc chúng tôi làm hỏng hết, rồi lại thích miền Nam, lại thích luôn cái chế độ miền Nam trước 1975 nữa! Nhàn Lê đã ăn cháo, đá bát… nói chung là phụ bạc nơi nuôi mình khôn lớn, vậy Nhàn Lê trả lời sao?”

Tính không trả lời câu hỏi này vì không có thời gian, bởi tuần này đổi thời khóa biểu nên suốt từ 7g tối qua đến 12g trưa nay tôi làm việc liên tục. Về nhà ngủ được một giấc rồi lại phải đi làm, đến giờ mới vừa ăn cơm xong.

Nhưng thôi, trả lời cho thỏa lòng người hỏi.

* * *

Thưa các anh chị,

Thưa các bạn và các em,

Chính vì tôi đã nhìn quá rõ, tôi hiểu quá thấu nên tôi biết nó hỏng, và tôi nói ra sự thật là nó hỏng.

1- Tại sao tôi làm bác sĩ?

Mẹ tôi nói:

“Con ạ, bây giờ đi bệnh viện mà không có tiền thì họ không chữa cho mình đâu!”.

Tôi đã nói:

“Mẹ cố gắng mẹ nhé, lớn lên con sẽ làm bác sĩ, con chữa bệnh cho mẹ khi ấy mẹ sẽ không phải mất tiền nữa, còn bây giờ mẹ phải tìm mọi cách để giữ lấy mạng sống của mình”.

Vì lời hứa của đứa trẻ 8 tuổi khi ấy đã thôi thúc tôi vượt qua rất nhiều khó khăn mà không thể kể hết của một đứa con nhà nghèo, đến ăn còn không đủ no, ăn 2 bữa cơm độn khoai cho no đã là quá sức của cha mẹ nó, bữa sáng là một điều xa xỉ.

Tôi hỏi ngược lại, nếu một xã hội tốt đẹp thì một đứa bé 8 tuổi nó có phải nghĩ tới vấn đề nhức nhối đó không? Hay nó được lớn lên với một tuổi thơ trong sáng, êm đềm và mơ mộng?

Cha mẹ tôi đã phải bán mặt cho đất, bán lưng cho trời để có được hạt gạo mà nuôi chị em tôi trong khốn khó, vậy TÔI PHẢI BIẾT ƠN AI?

– Vì đất nước phải bước vào thời kỳ quá độ để đi lên Chủ Nghĩa Xã Hội, cho nên đảng và chính phủ đã tập trung xây dựng nên những con người mới XHCN.

Ở nông thôn, ông bà cha mẹ chúng tôi bị ép buộc vào hợp tác xã, nhưng hậu quả của nó như thế nào thì ai cũng thấy rõ, một ngày lao động (một công) được tính bằng 800g thóc, toàn dân đói rã họng nhưng không ai được đi ngược lại chủ trương của đảng và nhà nước.

Không ai được trồng thêm củ sắn, củ khoai để cứu đói cho đàn con đang tuổi ăn, tuổi lớn của mình.

Chị em chúng tôi phải đi vớt bèo dưới cái lạnh cắt da, cắt thịt để nuôi lợn, con lợn ấy lớn lên phải bán nghĩa vụ cho hợp tác xã, nhìn họ cướp đi công sức của mình mà nước mắt lưng tròng, chúng tôi thèm nhỏ dãi miếng thịt nhưng không có ăn, đến tết thì hợp tác xã mới chia cho được mấy lạng … Để hậu quả kéo dài cho tới tận bây giờ cứ có mùi nhang là tôi lại thèm ăn thịt luộc (bởi hồi đó Tết thắp nhang cúng ông bà thì mới có thịt ăn một bữa liếm mép).

Ai đã nuôi tôi khôn lớn? Cha mẹ tôi hay đảng và chính phủ?

Ai đã cướp con lợn, ai đã cướp miếng thịt của chị em chúng tôi để giờ đây nói tôi đá bát?

Dưới cái lạnh cắt da cắt thịt của mùa đông, chúng tôi sống hoang dã như những đứa trẻ mà Giáo Sư Ngô Bảo Châu đã nhìn thấy và mô tả. Có ai cho tôi manh áo ấm không? Chúng tôi đi chân trần trên băng giá, có ai cho tôi đôi dép không (?) hay chỉ biết đến cướp đi thành quả lao động của chúng tôi?

Và nếu hồi đó không có cái chủ trương vào hợp tác xã chết tiệt ấy thì chiều cao của tôi có lẽ hơn bây giờ ít nhất là 5 cm, khi đi ra quốc tế tôi có thể nhìn ngang chứ không phải như bây giờ là phải ngước lên và tự hỏi rằng “cao như thế có mát hơn không”.

Thời ấy muốn thịt con gà cũng phải giấu giếm đừng để nó kêu, bởi ăn thịt là có tội, mình nuôi nó lớn nhưng không được phép ăn mà phải bán cho nhà nước … để làm gì?

“Mỗi người làm việc bằng hai

Để cho cán bộ mua đài mua xe.

Mỗi người làm việc bằng ba

Để cho cán bộ xây nhà xây sân”

Như vậy phải hỏi tôi có hận hay không chứ? Tại sao tôi phải biết ơn, ơn ai? Ơn cái đứa chết tiệt nào nó đẻ ra cái chính sách vận hành ngu xuẩn và dốt nát thế? Để một thế hệ người Việt thấp còi và đần độn vì thiếu dinh dưỡng?

Ai nuôi tôi lớn kiểu điên rồ như thế để bắt tôi phải biết ơn?

2- Tại sao tôi yêu miền Nam?

Khi tôi nửa ăn, nửa nhịn để cố gắng lê lết cho hết 6 năm đại học, có những hôm đi phụ mổ bị té xỉu … nói lời hay ý đẹp là kiệt sức, nhưng thực ra là ĐÓI ĂN.

Tôi đói ăn suốt 6 năm đại học, chất dinh dưỡng nào để cho tuổi này cạnh tranh tầm vóc với thế giới? Có ai cho tôi xu nào để tôi ăn cho đỡ đói không (?) hay chính mẹ tôi, đến cái bánh cũng không dám ăn mà phải để dành tiền cho tôi, cho dù chỉ là 500 đồng?

Và sau khi ra trường, tôi long đong lận đận đến 3 năm, cầm tấm bằng mà bao nhiêu lần bật khóc!

Bố tôi đã nói:

“Con ạ, mình không có chức, không có quyền cũng không có tiền nên xin việc khó lắm, có lẽ bố mẹ đã bất lực, con hãy tự tìm đường đi cho mình. Xã hội này không có chỗ nào công bằng để đấu sức bằng trí tuệ của mình, đâu con!

Tất cả đều được đo đếm bằng tiền cho dù tiền đó là tiền tham nhũng, cho dù tiền đó là tiền hối lộ, cho dù đó là tiền tham ô mồ hôi và nước mắt của người dân để họ đút vào túi riêng, cái túi tham vô độ làm cho cuộc sống của người dân trở nên khốn cùng !

Cha mẹ nuôi 6 năm ăn học đã kiệt sức lắm rồi con!”.

Nhắc lại lần thứ ba là đã có lúc tôi tính đến việc đi vận chuyển ma túy thuê để có tiền xin việc, nhưng may thay chợt nhớ tới câu của nhà Phật rằng “Phàm làm việc gì cũng phải nghĩ đến hậu quả của nó” và tôi đã giật mình tỉnh thức. Nếu không thì có lẽ thân xác này đã trở về với cát bụi hoặc giờ này tôi đang cải tạo với cái án chung thân trong một nhà tù nào đó.

Có ai và có bao giờ rơi vào tình cảnh tuyệt vọng như thế không?

Chỉ vì không có tiền xin việc, cho nên tôi hỏi lại đứa nào ăn cháo, đứa nào đái vào bát?

Nếu không có mảnh đất Sài Gòn cho tôi lưu lạc thì giờ này có tôi đang ngồi gõ phím không?

Nếu không có con người Miền nam hiền hòa thì tôi có sống được?

Nếu họ lưu manh lừa lọc khi tôi mới chân ướt chân ráo đến đây thì cuộc đời tôi sẽ khốn nạn ra sao?

Vì sao họ lại hiền hòa như vậy?

Đó là vì cha ông của họ sống có nhân, có nghĩa và chính lớp người đi trước đã dạy con cháu họ như vậy, chứ không phải cái thứ lưu manh, lừa đảo.

Và tôi biết qua những người bạn thì Sài Gòn nay cũng không còn được như xưa nữa, vì sao?

Ai đã làm nó trở nên hoang tàn như thế? Ai đã làm cho nó mất tình người như thế?

“HÃY TRẢ LỜI TÔI ĐI. HÃY TRẢ LỜI TÔI ĐI!”

Bs Lê Nhàn

https://nguoivietboston.com/?attachment_id=16746

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Tâm sự của một Bác sĩ Miền Bắc_BS Lê Nhàn

Hồi Kết của Đời Người – Bài của Dâu K1

“HỒI KẾT” CỦA ĐỜI NGƯỜI

Hai tuần kể từ sau lễ Độc Lập The Fourth of July là thời gian tôi chìm đắm trong nỗi tiếc thương, hụt hẫng và lắng đọng tâm tư do sự ra đi rất bất ngờ của một người bạn thân và một người bạn tâm giao rất thân của tôi. Trong hai tuần lễ liên tiếp, vợ chồng chúng tôi đã dành trọn hai ngày cuối tuần để thăm viếng và tham dự hai tang lễ thật cảm động.

Cả hai người bạn đều từ giã mọi người thân với hai triệu chứng cướp mạng sống nhanh nhất là trụy tim và đột quỵ. Người bạn với chứng trụy tim đã ra đi rất nhanh trong vòng tay của chồng mình chỉ trong một phút. Chúng tôi quen nhau vì cùng là người tỵ nạn được định cư theo diện tù nhân chính trị. Gia đình chị đến Mỹ chỉ sau chúng tôi vài tháng. Đây là gương điển hình của sức làm việc vượt khó khăn để đi đến thành công của một gia đình người Việt tỵ nạn cộng sản. Anh chị đều có vóc dáng nhỏ nhắn. Bạn bè thường gọi đùa là “ đôi vợ chồng chim chích”, nhưng rất nhanh nhẹn, tháo vát và có sức làm việc cần cù của người dân miền Trung “đất cày lên sỏi đá”. Cả hai cô con gái đầu, ngày xưa là hai cô bé đã có lần cùng với mẹ ngồi trên yên phía sau. Phía trước, trên tay lái của chiếc xe đạp còn trĩu nặng mấy cái bị cói gói ghém các món lương khô tích lũy từ những chắt chiu, vất vả của một thiếu phụ vừa mới ngoài hai mươi tuổi đi thăm nuôi chồng trong tù. Khi phải vượt qua một ngọn đồi thì chị đuối sức lắm rồi không thể dắt xe đạp lên dốc nổi nữa, phải bỏ cháu lớn xuống để cho cháu đi bộ. Con bé cong chân lại, không chịu đi. Chị phải phát vào mông cháu một cái thật đau. Con bé vừa khóc vừa lúp xúp chạy theo mẹ. Thế là cả ba mẹ con cùng khóc ròng cho đến khi vào đến cổng trại giam!

Nhờ được “huấn luyện” từ bé và thấu hiểu được cảnh khổ cực của bố mẹ nên các con chị rất ngoan, cố gắng học hành rất chăm chỉ và ra sức làm việc để vươn lên. Hai cháu lớn ngoài những ngày đi học đều cùng nhau dành hai ngày nghỉ cuối tuần để phụ với mẹ ra chợ trời bán hàng. Tất cả năm người con của anh chị đều thành công với các nhà hàng ăn nổi tiếng. Để cho các con yên tâm làm việc, căn nhà của chị trở thành nhà trẻ vô thời hạn cho các cháu nội, cháu ngoại. Tình thương yêu các con của chị còn thể hiện qua việc sẵn sàng đưa về nhà mình hoặc đến tận nhà chăm sóc cho cả hai mẹ con của các cô con gái, con dâu ngay sau thời gian sinh nở.

Gia đình riêng của chị là những Phật tử thuần thành nhưng chị đã theo đạo Công giáo sau khi cảm nghiệm được những ơn lành của Chúa và Đức Mẹ đã ban cho gia đình anh chị. Bên cạnh lòng hy sinh vô bờ bến cho chồng con, chị còn thể hiện lòng bác ái qua những công việc từ thiện gửi tiền về giúp đỡ người nghèo và giáo xứ tại quê nhà. Chị cũng đã dặn dò trước là sẽ dành cơ phận để hiến tặng cho các bệnh nhân. Tuy nhiên vì là nội tạng của người lớn tuổi nên bệnh viện chỉ muốn để lại làn da trắng hồng mịn màng của chị dùng để hiến tặng cho những bệnh nhân bị ung thư da.

Sự ra đi bất ngờ của chị dù rằng đã để lại bàng hoàng, thường tiếc cho người thân và bạn bè nhưng lại là một cái chết lành vì không hề phải chịu đựng sự đau đớn nào, một cái chết đẹp vì ra đi ngay trong vòng tay của người chồng thân yêu.

Sự ra đi của người bạn tâm giao của tôi cũng là một cái chết bất ngờ vì không kịp nói một lời nào đối với người thân yêu. Tuy nhiên khi đan kết những sự kiện, những tâm sự được chị gửi gấm, tôi thấy hình như chị có một sự linh cảm trước về sự ra đi của mình.

Chúng tôi kết thân với nhau từ khi bắt đầu bước vào nghề dạy học tại Mỹ và lúc đầu được phân công dạy tại cùng một trường tiểu học. Với khối óc thông minh và tinh thần sáng tạo nhạy bén chị đã giúp tôi rất nhiều trong việc khai triển phương pháp dạy học sao cho linh hoạt, sáng chế các dụng cụ dạy học đơn giản mà hữu hiệu. Chị cũng “cố vấn” cho tôi phương cách khi có vấn đề với các học sinh cá biệt, với các phụ huynh, ngay cả đối với hiệu trưởng. Chúng tôi thân nhau như hai chị em và thường xuyên tâm sự với nhau những tâm tư, tình cảm trong gia đình cũng như ngoài xã hội.

Chị cũng là một “tân tòng”, chị đã gia nhập hội thánh Công giáo vào năm 1985. Sau đó chị đã trở thành một tông đồ rất nhiệt thành tham gia các phong trào Legio Marie, Lòng Chúa Thương Xót, Thăng Tiến Hôn Nhân, hướng dẫn lớp Giáo Lý Tân Tòng, và đã cùng tôi dạy một năm cho lớp Giáo Lý cho các cháu lớp 7 là lớp chuẩn bị chịu phép Thêm Sức. Tuy rằng ngoài xã hội chị rất năng động và thành công nhưng lại có nhiều khúc mắc trong gia đình. Trước hết, việc chị theo đạo Công giáo đã đem lại sự buồn lòng cho người mẹ của chị. Tiếp theo là sự khác biệt giữa hai ý thức hệ “quốc, cộng” là một vấn nạn xảy ra trong hầu hết các gia đình người Việt sống tại miền nam Việt Nam từ sau 1975. Chị cho rằng thật khó để tìm sự đồng cảm khi đảng cộng sản cầm quyền ra sức thuần hóa người dân như những chú ngựa cho họ quen với nếp sống bị chủ nuôi che hết hai bên mắt để chỉ được nhìn ngắm những gì cho phép nhìn, di chuyển trên những đoạn đường đã được chỉ định và tự hài lòng với các phần thực phẩm cỏ khô do chủ nhân phân phát cho.

Khi về thăm gia đình đang sinh sống tại miền bắc, đặc biệt là khi đến với gia đình những thân nhân từ miền bắc đã được vào miền nam sau năm 1975, chị thấy họ rất tự hào về những tiến bộ so với những cơ cực trong chiến tranh. Tất cả những góp ý xây dựng về cách quản lý, những tiêu cực của lãnh đạo để đưa đến tình trạng tham nhũng như một quốc nạn, để chỉ ra những áp bức , bất công đang áp đặt trên vai người dân nghèo trong nước đều bị gán cho là phản động, vọng ngoại! Đáng buồn nhất khi sự khác biệt ý thức hệ xảy ra trong cùng một gia đình, một mái ấm, nơi mọi người cần được nghỉ ngơi bồi dưỡng cả về tinh thần lẫn thể xác. Nhất là trong hoàn cảnh đại dịch hiện nay.

Trong gia đình tại nước Mỹ thì khuynh hướng chính trị cũng lại đem đến những tranh luận, thậm chí chia rẽ giữa anh chị em với nhau. Chị và cậu em trai đã có những bất đồng khi tranh luận gay gắt giữa việc ủng hộ hai đảng phái chính trị lớn tại Mỹ khiến hai chị em không muốn liên lạc với nhau suốt hai năm qua. Rất may mắn là hai chị em đã làm hòa lại với nhau và chị mất trong thời gian cậu em từ nam Cali lên thăm.

Khoảng thời gian trước khi ra đi, chị gọi điện thoại rất thường xuyên vào buổi trưa là lúc tôi được rảnh rỗi không bận việc kiểm soát việc học của hai cháu ngoại. Chị bày tỏ những lo âu về tình trạng sức khỏe sa sút của cả hai anh chị, những trăn trở trong gia đình, nhất là những lo âu về thời cuộc và cho thế hệ tương lai con cháu. Chị thường nói đùa:”Lan cứ chịu khó làm cái thùng để nghe mình đổ rác nhé!”.

Ngày July 4th sau khi đi thăm gia đình hai cô em, trên đường từ Sacramento về nhà, chúng tôi còn nói chuyện với nhau qua cellphone. Thế nhưng câu chuyện vẫn còn dang dở và tôi còn hẹn để gọi lại cho chị. Hôm sau thì chị bị đột quỵ rồi hôn mê bốn ngày sau chị đã vĩnh viễn ra đi!

Trong một tuần lễ đón nhận liên tiếp hai cái chết bất ngờ của hai người bạn làm tôi suy nghĩ rất nhiều. Có một định đề của Socrates:”Làm người ai cũng phải chết! Socrates là người nên Socrates phải chết!” Cơn nhân tai đại dịch còn đang cướp đi sinh mạng của hàng triệu người! Rồi những thiên tai vẫn đang xảy ra khắp nơi trên thế giới. Thế mà hình như không mấy ai chuẩn bị, hay ít ra là nghĩ đến sự mỏng manh của thân phận làm người.

Tôi vừa chứng kiến hồi kết cuộc đời của hai người bạn đồng trang lứa. Một người cả đời tập trung tâm sức và thời gian hoàn toàn cho gia đình và hầu như không vướng mắc gì vào những tranh luận về thời cuộc. Một người chia sẻ bớt đi tâm sức và thời gian cho những hoạt động cộng đoàn, xã hội và trước khi ra đi vẫn còn những nỗi lo lắng, trăn trở. Tôi học được bài học gì đây? Tôi sẽ trang bị hành trang gì và cần buông bỏ những gì để tập sống theo lời dạy “kính Chúa, yêu người”? Để từ đó tìm ra được điểm quy hướng chính cho quãng đời còn lại để được thanh thản tiếp bước trên hành trình đi đến đích điểm là cõi vĩnh phúc đời đời.

Lê Phương Lan (Dâu K1)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Hồi Kết của Đời Người – Bài của Dâu K1

Các bài thơ Mừng CNN 10 năm

Thơ mùng CNN

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Các bài thơ Mừng CNN 10 năm

Sài Gòn Vỡ Trận – Thơ TPK

SÀI GÒN VỠ TRẬN

photo1612970342061-1612970342461697325162

Sài Gòn đang vỡ trận
Bởi dịch bệnh lây lan
Phố phường bị phong tỏa
Cấm chợ đóng cửa hàng

Chống dịch bằng nghị quyết
Ai lén đi mua hàng
Theo lệnh trên ký phạt
Thẳng mực tàu mà phan

pha-t-co-m-tu-thie-n15-1624027213Phố phường chẳng chợ búa
Dân lấy gì mà ăn
Không chết vì Covid
Thì đói cũng nhăn răng

Nhiều người lâm bệnh nặng
Gọi cấp cứu suốt ngày
Chức năng không đến giúp
Nên chết, thảm thương thay

VN-Update-dan-thao-chay-khoi-Sai-Gon-1

Hàng ngàn người tháo chạy
Ra khỏi đất Sài Gòn
Lây lất đường vạn nẽo
Chua xót cùng nước non

Dân còng lưng đóng thuế
Nuôi cán bộ đảng viên
Nhưng đến khí hữu sự
Lại hành dân như điên

Bao nhiêu lần đảng hứa
Gói kích cầu cho dân
Mà chỉ nghe gió thoảng
Thì thầm ở ngoài sân

Dân mình sao lận đận
Mang nhiều nỗi gian truân
Thiên tai rồi nhân họa
Đắng cay kiếp phong trần

Tống Phước Kiên
Tháng Tám 2021

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Sài Gòn Vỡ Trận – Thơ TPK

Phân Ưu Nhạc Mẫu K1 Phạm văn Các

pu

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Phân Ưu Nhạc Mẫu K1 Phạm văn Các

Tiếng nói của dân Sài gòn và Người Miền Nam – Bài viết của Kim Tố Nguyễn

Uyen Le
4 giờ ·

HÃY ĐỂ NGƯỜI SÀI GÒN & MIỀN NAM QUYẾT ĐỊNH MẠNG SỐNG CỦA MÌNH.

ĐỪNG ĐỐI XỬ VỚI CHÚNG TÔI NHƯ NHỮNG KẺ ĂN MÀY.

Kính gởi:

-Ông Nguyễn Văn Nên -Bí thư Thành Ủy TP. (xóa 3 chữ)
-Ông Nguyễn Thành Phong – Chủ tịch UBND TP. (xóa 3 chữ)
– Ông Nguyễn Thanh Long- Bộ trưởng Bộ Y tế
-Ông Vũ Đức Đam – Phó Thủ Tướng Chính Phủ

Trước tiên, tôi đề nghị tất cả những ai muốn chửi , hay ghép tội “ phản động” cho tôi, thì phải đọc và suy nghĩ kỹ những gì tôi sắp nói. Tôi nói với tất cả tấm lòng của một người con đối với miền Nam & trách nhiệm với đồng bào mình.

Thưa hai ông Nên & ông Phong, là những người Nam bộ chắc các ông hiểu rằng cái gốc người Nam bộ là lấy nhân nghĩa ở đời làm đầu, tôi hiểu các ông rất đau đầu trong chuyện cầm trịch phòng chống dịch tại TP. (xóa 3 chữ). Tuy nhiên, chuyện chính quyền TP. (xóa 3 chữ) đang có kế hoạch buộc người dân chính vaccine Vero Cell của Trung Quốc sản xuất là điều khó chấp nhận đối với người dân chúng tôi.

Trong một diễn biến khác, tập đoàn Vạn Thịnh Phát lại được ưu tiên chí loại vaccine Astra Zeneca, là loại vaccine do Anh sản xuất & nó được tài trợ cho dân TP. (xóa 3 chữ) chứ không phải cho tập Đoàn Vạn Thịnh Phát. Đó chính là cái sai của các ông.

Nếu các ông cho rằng Vạn Thịnh Phát đóng góp ngân sách nhiều cho thành phố, thì tất cả những người dân thành phố (xóa 3 chữ) cũng còng lưng là đóng thuế mới có 84% ngân sách nộp về Trung Ương, chứ không riêng Vạn Thịnh Phát hay Vin Group.

Mặt khác, có một người tự xưng là nhà báo nick Cao Bao Do, lập luận rằng: Vạn Thịnh Phát tự nhập vaccine Trung quốc chứ không phải Bộ Y tế nhập. Vậy, ông Nguyễn Thanh Long & Vũ Đức Đam cho tôi hỏi: Nếu Bộ Y tế không cấp phép thì liệu Vạn Thịnh Phát có nhập vaccine về được không? Và tôi xin nhấn mạnh một điều:
NGƯỜI DÂN THÀNH PHỐ (XÓA 3 CHỮ) CÓ TỰ MÌNH MỞ MIỆNG RA XIN VẠN THỊNH PHÁT VACCINE KHÔNG?

TÔI KHẲNG ĐỊNH LÀ KHÔNG.

Vậy Vạn Thịnh Phát nhập vaccine Trung Quốc khi người dân không yêu cầu thì lý do thật sự là ở đâu?

Cũng từ lập luận của nhà báo tự xưng này, rằng: vaccine Vero cell đã được WHO & Bộ Y Tế chứng nhận, nhưng, chính nhà báo này, cũng như các ông đã bỏ qua những điều quan trọng này:

-Đối với WHO, họ đã chứng nhận 4 loại vaccine của Trung Quốc. Trung Quốc đã sử dụng 1.6 tỷ liều ho dân họ, nhưng, dịch vãn bùng phát, Bắc kinh hiện tại vẫn bị phong tỏa. Chính Trung quốc thừa nhận vaccine của họ không hiệu quả.

Nhìn qua các nước trong khối Đông Nam Á ,đặc biệt là Indonesia số lượng người chết vẫn tăng dù đã chích ngừa vaccine của Trung Quốc. Vậy, chứng nhận của WHO có đáng tin cậy không?

-Đối với Bộ Y tế: tôi nhớ không lầm thì Bộ trưởng tiền nhiệm là bà Nguyễn Thị Kim Tiến đã duyệt cho vaccine Quinvaxem chích cho trẻ em trong chương trình tiêm chủng quốc gia, đã có bao nhiêu trẻ chế oan vì loại vaccine này?

VÌ VẬY, CÁC ÔNG & TAY NHÀ BÁO TỰ XƯNG ĐÓ THUYẾT PHỤC CHÚNG TÔI TIN WHO & BỘ Y TẾ LIỆU CÓ QUÁ ĐÁNG & DUY Ý CHÍ LẮM KHÔNG?

Ở một diễn biến khác, rất nhiều kẻ ở Hà Nội -những kẻ đã được chích ngừa vaccin của EU & Mỹ– chửi dân miền nam chúng tôi là đòi hỏi, & “ăn mày mà đòi xôi gấc”, hoặc “gần chết đuối người ta quăng cho cái phao bơi mà còn chê”….

Chúng tôi không lấy là lạ về chuyện này, đó là biểu hiện cùa những kẻ “KHÁC MÁU, TANH LÒNG” có sẵn trong huyết quản đời này sang đời khác & thành bản chất mặc định của họ, nhưng, không phải tất cả những người Hà Nội đều như họ, có rất nhiều ngừơi vẫn hiểu chuyện nhân nghĩa ở đời.

Cho tôi hỏi bốn ông: với 84% ngân sách mà người Sài Gòn chúng tôi nộp, chúng tôi có được cái quyền tự quyết sự an nguy của mình hay không? Các ông & những kẻ đang chửi chúng tôi hãy đặt mình vào vị trí của chúng tôi & trả lời đi.

Cho tôi hỏi những kẻ vô cảm ngoài kia: CÁC NGƯỜI ĐÃ TỪNG NGHE HAY THẤY NGƯỜI SÀI GÒN MỞ MIỆNG RA XIN CÁC NGƯỜI HAY CHÍNH PHỦ NGOÀI KIA BẤT CỨ CÁI GÌ CHƯA MÀ NÓI CHÚNG TÔI ĂN MÀY? CÁC NGƯỜI MẠT SÁT DÂN NAM CHÚNG TÔI, NHƯNG BẢN THÂN CÁC NGƯỜI CÓ CAO QUÝ HƠN KHÔNG, HAY TRỞ NÊN HÈN HẠ HƠN?

Cho tôi hỏi kẻ nói là quăng cái phao cứu sinh mà còn chê rằng: NẾU CÁI PHAO CỨU SINH CÁC NGƯỜI QUĂNG RA RỒI ĐÂM LỦNG NÓ ĐỂ XÌ HƠI RA HẾT, THÌ LIỆU CÁC NGƯỜI ĐANG CỨU NGƯỜI HAY ĐẠO ĐỨC GIẢ ĐỂ GIẾT NGƯỜI?

Tóm lại: NGƯỜI SÀI GÒN & NAM BỘ CHÚNG TÔI KHÔNG CẦN CÁC NGƯỜI BỐ THÍ.

VẠN THỊNH PHÁT CÓ THỂ NHẬP VACCINE LOẠI TỐT Ở CÁC QUỐC GIA EU & MỸ RỒI BÁN LẠI CHO CHÚNG TÔI.

CHÍNH TP.  & BỘ Y TẾ ĐỂ CHO CHÚNG TỘI TỰ CHỌN LỰA VACCINE CHO MÌNH. CHÚNG TÔI SẲN SÀNG TRẢ TIỀN MUA VACCINE.

CÒN NHỮNG NGƯỜI KHÔNG MUỐN MUA THÌ CÁC ÔNG CÓ THỂ CHO HỌ MIỄN PHÍ LOẠI NÀO TÙY CÁC ÔNG.

NẾU CÁC ÔNG LÀM NHƯ VẬY, KHÔNG CHỈ CÁC ÔNG MANG TIẾNG THƠM LÀ SÁNG SUỐT, VẠN THỊNH PHÁT KHÔNG CHỈ KINH DOANH PHÁT ĐẠT , MÀ CÒN ĐƯỢC TIẾNG ĐÓNG GÓP NGÂN SÁCH NƯỚC NHÀ.

CÁC ÔNG CÓ QUYỀN LỰC, NHƯNG CÁC ÔNG VẪN LÀ NHỮNG CON NGƯỜI . “NHÂN VÔ THẬP TOÀN”, NÊN CÁC ÔNG CẦN LẮNG NGHE NGUYỆN VỌNG NGƯỜI DÂN, NHỮNG NGƯỜI ĐANG LÀM NUÔI CÁC ÔNG. NẾU CÁC ÔNG VẪN LÀM 1 CÁCH DUY Ý CHÍ , TÔI E RẰNG CÁC ÔNG SẼ TRỞ THÀNH TỘI NHÂN THIÊN CỔ, VÌ ĐÂY LÀ MẠNG CỦA NHIỀU CON NGƯỜI, KHI NGƯỜI TA ĐÃ CHẾT THÌ KHÔNG CÓ GÌ CÓ THỂ CỨU VÃN NỖI.

CÁC ÔNG CẦN NHỚ CÂU NÀY

TRĂM NĂM BIA ĐÁ THÌ MÒN
NGÀN NĂM BIA MIỆNG VẪN CÒN TRƠ TRƠ”

TÔI HY VỌNG CÁC ÔNG SẼ SUY NGHĨ THẤU ĐÁO MỌI LẼ TRƯỚC KHI KÝ VÀO 1 VĂN BẢN CƯỠNG CHẾ NÀO ĐÓ GIÁN TIẾP GIẾT DÂN.

Từ ngày đầu dịch bùng phát tại Vũ Hán, Trung Quốc cho tới bây giờ, tôi chưa bao giờ chỉ trích về chuyện phòng chống dịch của Chính phủ Việt Nam, vì tôi hiểu rằng để bảo đảm an toàn cho một đất nước nhỏ, mật độ dân số quá đông là điều vô cùng khó khăn, tôi chỉ không thích sự ca ngợi quá đà của truyền thông & những kẻ nịnh hót không đúng chổ & đúng lúc.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Tiếng nói của dân Sài gòn và Người Miền Nam – Bài viết của Kim Tố Nguyễn

Tính Sổ Cuộc Đời của NCM

 TÍNH SỔ CUỘC ĐỜI

ÔNG CỤ

Mấy chữ “ tính sổ cuộc đời” này là của ông cụ. Ông tính thế nào tôi không biết. Chỉ biết là ông không thoát đi nước ngoài mà chết bỏ xác trong tù cải tạo. Thỉnh thoảng tôi lại nhớ đến ông, chính vì không hiểu nổi tại sao. Ông cụ có chút nào giống với Tổng Thống Diệm đã nộp mình cho chúng giết ?

Tôi có chút duyên với ông cụ. Thấy tôi ngồi ăn phở ở gốc cây đầu đường Sương Nguyệt Ánh, ông cụ rề vào ngồi chung thân mật nói chuyện. Tôi không phải là người ông cụ biết riêng từ trước. Có lẽ tôi tuy mặc áo sơ mi thường nhưng quần, giây lưng và giày là đồ Cảnh sát cộng thêm cái mặt chắc không đến nỗi tối tăm nên ông cụ đoan chắc tôi là một tên học trò cũ xuất thân từ Học Viện. Ăn xong, bao giờ ông cụ cũng là người trả tiền, tôi không dám dành trả. Đã mấy lần như vậy. Ông cụ không bao giờ hỏi tôi tên gì làm ở đâu. Giản dị, đơn sơ và thân thiết.

Vừa ăn ông cụ vừa chậm rãi nói chuyện. Thật ra chỉ mình ông nói, tôi chỉ ngồi nghe. Có lần ông bảo “Cái thằng to xác ấy chỉ biết có vật chất”. Ngay lúc ấy tôi không hiểu ông nói ai. Nhưng sau đó tôi hiểu. Thời gian ấy tôi ở Nha ANCL. Họ lập ra một toán 4 người gồm một BTV lớp trước tên H. làm Trưởng toán, ba người còn lại gồm 2 BTV/K1 ( TVA và tôi) cùng một TSV/K1 tên T. Chúng tôi suốt ngày ngồi hai xe có tấm bảng “BỘ TƯ LỆNH CSQG KIỂM SOÁT” chạy rong khắp Đô thành, dùng máy ảnh có telescope nghe nói là của chính Tướng Tư Lệnh đưa cho mượn, chụp hình những anh Cảnh Sát Công Lộ có vẻ bê bối. Hai xe “Con Cua” này chắc là nổi tiếng lắm. Chẳng hiểu ông cò Dung có rung rinh gì không.

Ít lâu sau, chúng tôi lại được phái qua Sở Ngoại Kiều gọi là để kiểm tra gì đó. Người trực tiếp chỉ huy chúng tôi là Trung Tá DTY, Chánh Văn Phòng Tư Lệnh.Ngồi ở Sở Ngoại Kiều gần ba tháng chúng tôi chỉ chơi không, không có việc gì làm, được dịp đôi lúc lại tán dóc với hai bạn K1 Lê đức Thanh và Nguyễn năng Thỏa. Chẳng hiểu cái “lão to xác” ấy có tìm được chút “vật chất” gì ở đó không.

Nhắc lại chuyện này chẳng phải để chỉ trích ai kết tội ai. Cái thời nó thế. Từ cái ngày 19-6 Quân đội nắm chính quyền, những ông Tướng ông Tá quan lớn quan nhỏ ùn ùn sang bên Cảnh Sát ngồi chễm chệ vào những chỗ cao. Các ông cò lão luyện trong nghề được đẩy vào chỗ huấn luyện cho đúng sách vở thánh hiền tiến vi quan thối vi sư. Giờ thì mọi chuyện đều đã qua. Ngao ngán gì thì cũng đã qua. Đắng cay gì thì cũng đã qua.

Nhưng vẫn còn chút dư vị trong tôi. Ngày Họp Mặt 50 năm mà phải nghe ông này nói lăng nhăng thiên địa suốt nửa giờ thì thật chẳng ra đâu vào đâu. Họp mặt K1 năm 2017 tại San Jose lại phải nghe cái ông nói dài nói dở nói dai này, tôi bỏ ra ngoài đường đứng tán dóc.

NHÀ VĂN

Mậu Thân 1968. Tôi là người có nhiệm vụ thẩm vấn rồi giải giao qua Khối CSĐB tất cả những ai bị các đơn vị CSDC bắt giải về Bộ Chỉ Huy Khối CSDC. Một đêm nọ, họ giải về một người đàn ông dáng nhỏ thó, trông như chỉ hơn tôi dăm tuổi, mặc thường phục. Hóa ra đây là nhà văn Nguyễn Đức Sơn đang lọ mọ trong nhà in, in tác phẩm. Nhà văn NĐS tức nhà thơ Sao Trên Rừng đã nổi tiếng lẫy lừng trên văn đàn, tôi thật là có duyên lắm mới được gập ông. Mà lại là duyên kỳ ngộ vì hoàn cảnh gập gỡ quá lạ lùng. Nhờ đó, tôi được biết ngoài việc văn thơ, công việc chính (hay phụ ?) của ông là Cử nhân Anh văn, Giáo sư trường Trịnh Hoài Đức, Bình Dương.

Sau 30-4 ông dẫn vợ và con trai nhỏ về một vùng thâm sơn cùng cốc ở gần đầu Đèo Bảo lộc. Con trai thi sĩ Lưu Trọng Lư là Lưu Trọng Văn ở ngoài Bắc ngưỡng mộ ông, lặn lội vào tìm gập, kể rằng nhà văn Nguyễn Đức Sơn vợ và con trai cả ba trông như người rừng. Họ sống nhờ kiếm củi bán.

Tôi không hiểu nổi. Sao khổ thế ông ơi.

MỘT CHUYỆN KHÓ QUÊN

Khi đám H.O chúng tôi mới qua Mỹ, người ta ưu ái gọi chúng tôi là cựu can cứu chính trị. Cái tên nghe sang cả làm sao. Họ bốc chúng tôi lên mây, nói rằng bây giờ chỉ còn tập thể cựu can cứu chính trị là có thể chống cộng thôi. Quả thật chúng tôi khổ nhiều với Cộng sản. Nhưng chúng tôi phải vất vả kiếm sống, vợ chồng cha con dắt díu nhau đi bấm thẻ làm hãng, tối tăm mặt mũi cho việc mưu sinh. Chúng tôi không hưởn để múa may quay cuồng theo ý họ. Họ bắt đầu thấy chúng tôi là lũ vô tích sự và ngu xuẩn. Họ, những người trốn chạy từ trước 30-4, chẳng biết cái trại cải tạo của Cộng sản nó ra làm sao. Họ, tự cho mình là những người chống cộng chân chính, là thành trì bảo vệ giá trị quốc gia. Họ bắt đầu dạy bảo chúng tôi phải nói thế này không được nói thế nọ, chữ này là cộng sản chữ kia là quốc gia. Thật là một sự sỉ nhục cho chúng tôi. Chúa dạy tha thứ vì chúng không biết việc chúng làm. Nhưng sao khó quá. Lòng tôi nặng nề.

8/2/21

NCM

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Tính Sổ Cuộc Đời của NCM

Happy Birthday Website K1

Happy Birthday CNN

Hôm nay kỷ niệm sự ra đời của website K1 vừa tròn 10 năm: yêu thương, đoàn kết và tương trợ.
Tháng 6 năm 2011 hội ngộ 45 năm Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia tổ chức tại Bắc Cali. Về tham dự họp mặt lần nầy sau nhiêu năm rời xa trường Mẹ. Mỗi đứa mỗi nơi đem chí trai phục vụ đất nước, bảo vệ Miền Nam thân yêu. Cùng toàn quân, toàn dân ngăn chận làn sóng “ĐỎ” từ phương bắc tràn xuống, để bảo vệ cuộc sống an lành hạnh phúc cho người dân.

Nhưng vận nước đã đến hồi đen tối, miền Nam đã rơi vào tay cộng sản và những đứa con của Mẹ phải bị đưa vào vòng lao lý trong bàn tay độc tài, ác độc của bè lũ CSBV.
Có nhiều bạn đồng môn phải bỏ mình trong các trại tù trên miền thượng du Bắc Việt. Những người như chúng ta nhờ sự can thiệp của thế giới tự do và nhất là của chính phủ Hoa Kỳ, được trở về, nhưng bị coi như phế nhân bị ruồng bỏ, đối xử phân biệt khinh rẻ.

May nhờ chương trình HO, chúng ta được sang đinh cư tai Hoa Kỳ. Nhưng vì kế sinh nhai, vì cuộc sống mới còn bương chải, nên chúng ta khó có dịp gặp lại nhau.
Hội Ngộ Học Viện CSQG 2011 là cơ hội cho tôi tìm gặp lại bạn bè cùng khóa, những cựu SVSQ Khóa 1 thân thương ngày nào.
Nhớ ngày hôm đó, nhìn mặt các bạn mình nhưng không nhớ “NÓ LÀ AI”. Bạn Lê Quang Phú cùng đại đội, cùng trung đội, cùng “lùn” như nhau mà ngồi sát ghế bên nhau cũng không biết “hắn là ai”.
Thời gian đã làm thay đổi, đứa thì mập ra , đứa thì râu ria rậm rạp, đứa thì mái tóc bạc phơ, dầu ngồi sát bên nhau nhưng trông như người xa lạ.
Sau đại hội, ngồi trên xe đò Hoàng về Nam Cali thăm bà con, trong xe có cả K1 Trần Ngọc Thạch. Trong đầu óc mình phát sinh một suy nghĩ: Khóa 1 BTV và TSV trên 400 đứa mà có mặt trong ngày hôm đó chỉ hơn 30 người. Thế thì phải làm cách nào để chúng ta tìm về với nhau, đừng bỏ sót ai.

Sau nầy mình được biết có nhiều bạn K1 sống ngay tai Nam Cali, cách xa nhau chừng 20-30 phút lái xe, nhưng không hề biết nhau, thì thử hỏi các bạn sống ở các tiểu bang xa xôi làm sao găp nhau được.
Đăc san Kỷ yếu K1 mỗi  năm phát hành một lần và cũng chỉ đến với các bạn quen biết, còn các bạn ở xa thì mù tịt.
Đó là lý do thúc đẩy mình, giúp mình có suy nghĩ lập nên trang web để kết nối tất cả anh chị em khóa 1 lại với nhau.
Thú thật với các  bạn, đây là suy nghĩ rất táo bạo, vì lúc đó mình không biết website là cái gì, còn dốt đặc, mặc dù xem trên mạng internet thấy có nhiều hội đoàn sử dụng các trang web để sinh hoạt với nhau.
Nhưng đã có suy nghĩ như thế thì quyết làm cho bằng được. Bắt đầu bằng cách mình đến thư viện mượn sách về đọc tìm hiểu cách hướng dẫn tạo một website, gặp ai có hiểu biết thì mình không ngại xấu hổ bèn hỏi cho đến cùng nhờ sự giúp đỡ, đúng là “mò kim đáy biển”. May quá có đứa con của anh bạn, cháu đang làm việc cho một cơ quan chính phủ thành phố, nghe vậy cháu nói “để cháu giúp cho“.
Cháu sẽ giúp chú tạo một website free và đăng bài dễ dàng, chứ làm theo hướng dẫn trong sách thì khó lắm,  mất thì giờ mà chú cũng lớn tuổi rồi.”
Ngày 28 tháng 6 là ngày sinh nhật của mình cũng là ngày trang web sơ khởi được thành hình. Sau đó phải mất hơn một tháng mình vừa làm quen, vừa nhờ sự hướng dẫn, vừa tập tành đăng bài, nếu trở ngại thì hỏi tiếp, cho đến ngày 2 tháng 8 2011 trang web mới chính thức được giới thiệu đến các bạn đồng môn K1.
Những ngày tháng kế tiếp, mình học cách design lại trang web, làm lại cái banner và đặt tên cho website K1 là Căn Nhà Nhỏ. Vì sự hiểu biết abc của mình nên không dám dao to búa lớn mà chỉ nhận đây là mái nhà nho nhỏ để anh chị em k1 chúng ta tìm về với nhau.
Những năm đầu phải công nhận hiệu quả của Căn Nhà Nhỏ thấy rõ. Các bạn đồng môn truyền khẩu cho nhau về sinh hoạt trong Căn Nhà Nhỏ càng ngày càng đông. Đến giờ ngày nầy đã có gần 200 anh chị em K1 có tên trong email group K1 do anh Trưởng khóa thành lập. Nhiều bạn qua CNN đã kể lại những chuyện vui buồn của đời mình, truyện dài truyện ngắn chuyện cười  thơ phú được nhiều bạn đóng góp. . . Nhưng thời gian sau thì thưa dần, thưa dần.  .  .
Người đặt tên tắt cho Căn Nhà Nhỏ là bạn K1 Nguyễn Thanh Hoàng. Thay vì gọi Căn Nhà Nhỏ thì bạn ấy viết tắt là CNN. nên sau nầy các bạn thường gọi là CNN.
Sau khi CNN hoạt động được 5 năm, lúc đó sức khỏe của mình bắt đầu có vấn đề, đau ốm và đi bác sĩ thường xuyên. Nhận thấy trách nhiệm CNN cũng đã hoàn thành, mình tính cho nó về hưu sớm.

Nhưng rồi Hội Ngộ 50 Học Viện tại Nam Cali lại đến và các lần họp mặt K1 kế tiếp và nhất là sự thiết tha của vài người bạn đối với CNN, nhất là cái miệng dẻo nhẹo của Bửu Hồng: “Mầy làm sao thì làm, phải có mặt của Căn Nhà Nhỏ không thì mầy chết với tau”. Quả thật hắn làm mình không nỡ bỏ bạn bè.

Căn Nhà Nhỏ hoạt động sau nhiều năm bài vở cũng phong phú hơn, màu sắc cũng xinh xinh hơn, thấy vậy họ không cho  mình hưởng Free như trước nữa mà phải đóng tiền. May mắn được quỹ K1 tài trợ nên CNN còn sống đến nay.
Để duy trì một website không đơn giản ở cái tâm, mà đôi khi phải tốn ít tiền, mà không lẽ vì vậy mà mình viện lý do để xin tiền các bạn, may nhờ có cái quỹ từ thiện do bà con ở đây đóng góp.
Càng ngày tuổi mình cao, càng thêm bệnh nầy bệnh kia, cao máu, cao mỡ nhất là bệnh đau lưng không thể ngồi lâu mà chăm lo cho CNN được và ngại cái lẽ vô thường sẽ đến bất cứ lúc nào.

Hằng ngày các bạn nhìn vào trang web K1 biết hôm nay có kỷ niệm sinh nhật của ai và cũng biết được bạn nào của chúng ta vừa mới ra đi, hoặc là sức khỏe của bạn ta đang hồi nguy kịch mà chung tay cứu giúp, như trường hợp của bạn Nguyễn văn Suốt nhà mình . . .

Rồi mình lại nghĩ vào những ngày nào sắp tới đây, cũng không xa . . . các bạn vào xem Căn Nhà Nhỏ sao thấy toàn những bài, tin cũ mấy tuần trước mà không có gì mới. Lúc đó các bạn có biết đâu người mà các bạn thân thương gọi là ‘dám đốc cnn’ đã ra người thiên cổ mà không ai hay biết và CNN bỗng nhiên vắng lạnh . . .

Với mong muốn CNN được sống cho đến những người bạn cuối cùng, mình mới năn nỉ anh trưởng khóa giúp tiếp tục giữ gìn Căn Nhà Nhỏ. Đươc anh đồng ý, mình bắt đầu chuyển giao những kinh nghiệm mà mình đã học hỏi được khi điều hành website K1 cho anh. Và các bạn thấy đó nhiều lần mình bịnh hay vì công việc đồng hương bỏ bê CNN, nhưng đã được anh Trưởng K1 bù đắp một cách rất tốt đẹp. Và hy vọng đến một ngày nào đó không thấy bài của mình post lên CNN, thì CNN vẫn luôn luôn ở bên các bạn, các bạn nhé.

Hôm nay kỷ niệm 10 năm Căn Nhà Nhỏ được thành lập và sinh hoạt cùng chúng ta, mình xin có vài lời được tâm sự.
Kính chúc sức khỏe đến quý Niên Trưởng, quý thân hữu đồng môn Học Viện và lời chúc đặc biệt nhất luôn dành cho anh chị em và gia đình trong Đại Gia Đình Cựu Sinh Viện Sĩ Quan Khóa 1 Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia.
Kính mến.

K1 Nguyễn công Vinh

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Happy Birthday Website K1

SÀI GÒN NGÀY PHONG TOẢ THỨ HAI MƯƠI_Đỗ Duy Ngọc

SÀI GÒN NGÀY PHONG TOẢ THỨ HAI MƯƠI

ĐAU THƯƠNG VÀ NGHĨA TÌNH.

(Bài do Tuấn Hoàng chuyển)

Đêm hôm qua không ngủ được. Nằm lắng nghe tiếng của đêm. Đêm Sài Gòn không còn âm thanh. Hình như có cảm giác tiếng dế giờ không cất tiếng nữa, chó cũng không sủa, tiếng mèo gọi đực cũng không còn trên những mái nhà. Không khí như đông đặc lại, nén chặt đầy bất trắc. Ánh đèn đường rọi xuống căn phố vắng, xuống con đường không bóng đổ của người đi. Giống như cảnh trong một cuốn phim mô tả một khu phố ma không tiếng thở. Thỉnh thoảng một chiếc xe cứu thương hú còi chạy vội vã, âm thanh như tiếng của tử thần. Giờ phút này, nếu dính bệnh mà được nằm trong chiếc xe cấp cứu là một diễm phúc. Bởi dù nặng hay nhẹ, dù bệnh dữ hay bị nhiễm virus, dù hấp hối hay còn thoi thóp thở mà liên lạc được xe, liên lạc được bộ phận có trách nhiệm, liên lạc được một bệnh viện nào đó đồng ý nhận có nghĩa là còn cơ hội sống. Trong những bộn bề và quá tải của các bệnh viện, chuyện sống chết bây giờ chỉ trông vào hên xui của số mệnh.

Vừa đọc một đoạn viết rất ngắn của một bác sĩ trẻ trên tuyến đầu chống dịch. Anh kể về một gia đình gồm hai vợ chồng và một đứa con. Cả nhà bị dính dương tính, đưa vào khu cách ly. Chồng 50 tuổi, khoẻ mạnh, không bệnh nền nhưng chỉ vài ngày sau bệnh trở nặng, đưa vào viện nhanh chóng rơi vào suy hô hấp, nội khí quản thở máy chỉ số SpO2 cải thiện rất ít, phổi như nát bét, trắng xoá, bệnh nhân không thở được. Các bác sĩ đã cố gắng tìm mọi cách để liên hệ đưa bệnh nhân lên tuyến cao hơn nhưng tất cả đều đang chật kín không còn chỗ trống. Bệnh nhân đã không chờ đợi được và không qua khỏi chỉ sau 72h nhập viện. Mọi thứ diễn ra quá chóng vánh. Anh bác sĩ báo tin cho người vợ và bàn chuyện hậu sự cho anh. Người vợ bệnh nhân vừa khóc vừa nói vọng trong điện thoại : Cầu xin bác sĩ tìm cách cứu con gái tôi, vì cháu nó ở khu cách ly và cũng đang diễn biến nặng lên, sốt cao, khó thở đã hai hôm nay rồi mà không được thở oxy, không có nhân viên y tế thăm khám, càng không có bệnh viện nào còn giường để chuyển đi. Bác sĩ liên lạc mãi mà không còn chỗ cho bé, đành chịu. Người vợ gần như gục xuống, năn nỉ: Các bác sĩ ở đây đã liên hệ khắp nơi mấy ngày rồi, nhưng không có nơi nào còn giường cho cháu, bình oxy ở đây cũng đã hết rồi cháu không có oxy để thở, bố cháu mới mất, bác sĩ đưa bố cháu đi thế là còn 1 giường, nhờ bác sĩ cho cháu được “nằm thế chỗ” vào đấy …Tôi đã mất chồng rồi, chỉ còn mỗi đứa con gái thôi, mất nó nữa thì tôi không sống nổi mất”.

Đọc đến đấy thì tôi khóc không đọc tiếp được nữa, buồn quá, bi đát quá. Không biết rồi số phận em bé sẽ ra sao? Cứ ngỡ như là những tình tiết trong một vở bi kịch trong hồi cao trào đầy nước mắt, khó có ở ngoài đời. Một chiếc giường, chỉ cần một chiếc giường để ở đó một mạng người có thể được chăm sóc và cũng có thể được sống. Một chiếc giường thôi. Nhưng khó quá!

Trong đại dịch này, nhiều gia đình có nhiều người liên tiếp ra đi. Hai vợ chồng bị cách ly, vợ vừa mới sinh, con chết. Còn đứa con ở nhà đành gởi cho bà ngoại. Bà ngoại cũng bị dính và tử vong. Kêu bà nội chăm con giúp, bà nội cũng đi luôn vì cúm Tàu. Chỉ trong vòng nửa tháng, ba người chết. Thê thảm quá! Hình ảnh 5 anh em mặc đồ bảo hộ từ khu cách ly về đưa tang cha. Người vợ tự lái xe đến bệnh viện sinh con một mình vì chồng đang bận đi chống dịch. Hình một cô gái thiện nguyện với nụ cười tươi trên môi vừa qua đời vì dính dịch với lời nhắn nhủ cuối cùng. Tất cả đều là những hình ảnh không thể nào quên trong mùa dịch này.

Hồi thành phố Vũ Hán vừa bị cơn dịch tấn công, đọc tin trên báo, xem đài, thấy những cảnh tượng bi ai. Có một đoạn clip thu những tiếng thét đầy ai oán xé trời lúc nửa đêm từ những chung cư. Tôi rùng mình và cũng không hình dung nổi những đau thương mà con người phải gánh chịu trong cơn đại dịch này. Giờ nó đang ở đây, nó đang có mặt ở đây và những đau thương hiện diện. Gọi Chúa, kêu Phật, cúi xin các thánh thần. Tất cả đều vắng mặt trước những nỗi đau của con người. Kiếp nạn này giờ chẳng biết kêu ai, trách ai, chửi mắng ai. Chỉ biết nhẫn nhục mà gánh chịu. Thương người nhiễm bệnh ra đi và không được sống trở về.

Trở về. Mấy hôm nay cũng có nhiều người đang tìm mọi cách để trở về nhà. Họ là những người tha phương vào miền Nam kiếm sống. Người làm lao công, phu hồ, công nhân trong các nhà máy. Kẻ đi bán vé số, bán hàng rong khắp vỉa hè, lượm ve chai, mua phế liệu…Họ làm đủ mọi nghề để có miếng cơm qua ngày, còn để nuôi con đi học, để giúp cha mẹ già viên thuốc lúc bệnh, miếng cháo lúc đói. Họ lam lũ, miệt mài vì sinh kế nhưng không thoát nổi cảnh nghèo. Rồi dịch đến, rồi cách ly, giãn cách, phong toả. Đường phố không người buôn bán cho ai. Nhà máy đóng cửa, thất nghiệp. Đã mấy tháng sống nhờ hộp cơm, bao gạo của các nhà hảo tâm. Cũng đã có người lâm vào cảnh đói. Tiền hết, gạo hết, không việc làm, vọ chồng chỉ biết nhìn nhau thở dài và không biết tương lai, mai mốt sẽ ra sao. Muốn về quê mà không có tiền, lại chẳng còn xe chạy. May thay, trong bế tắc cùng cực đó, các Hội đồng hương, các nhà hảo tâm đã tổ chức cho họ quy hương. Đà Nẵng có xe, Hà Tĩnh có máy bay, Bình Định có nhiều chuyến bay, Phú Yên có xe Phương Trang tài trợ, còn cho tiền tiêu. Hãng xe Phương Trang có kế hoạch sẽ sử dụng 5000 chuyến xe để chở người lao động miền Trung, miền Tây về quê. Quý hoá biết bao những tấm lòng, những bàn tay chìa ra đúng lúc. Nhìn những người lao động tha hương trở về mà chạnh lòng. Nhìn ai cũng lam lũ, ai cũng khắc khổ trên nét mặt. Họ mừng vui vì được giúp nhưng nụ cười vẫn hiu hắt, héo hon. Hai vợ chồng già đã vào Sài Gòn bán vé số mấy chục năm, ngày trở về gia tài chỉ là hai chiếc xe đạp cũ với hai túi xách nhẹ tênh. Hai vợ chồng người dân tộc mừng rớt nước mắt vì được về nhà, cả đêm không ngủ được vì nóng lòng, gia tài lỉnh kỉnh cũng chỉ áo quần và cái quạt máy trên vai người chồng. Tất cả đều khóc vì mừng, vì vui ngày quy hương. Ai cũng bảo được về quê, cháo rau gì cũng được, cứ được ở nhà mình, quê mình là hạnh phúc rồi.

Cũng có hàng đoàn người trên xe gắn máy vượt đường về quê. Họ đội nắng, dầm mưa và có người chịu đói để trở về. Ngày trước xuôi về Nam kiếm sống, giờ đây lại ngược đường để về trong gian khó và thiếu thốn. May mắn trên đường đi, họ được nhiều địa phương giúp đỡ. Có nơi là cả đoàn xe hộ tống để không cho dịch bệnh lan tràn. Có nơi tặng xăng, gởi thức ăn với lời chúc an lành. Cũng có nơi đem quà bánh, cơm xôi ra đầu ranh giới tỉnh để phát cho đoàn xe hơn trăm chiếc. Những món quà đầy tình thương và trên hết là nghĩa đồng bào. Nghĩa tình đó làm cho ta cảm động. Không đánh trống khua chiêng, không cờ xí khẩu hiệu, nhưng sao nghe mát lòng làm sao, cảm xúc làm sao. Nhìn tấm ảnh mấy mẹ con trên hành trình về quê ở Lào Kai đang dừng chân ở Đà Nẵng mà thấy cay trong mắt. Đường xa còn diệu vợi, những đôi chân trần liệu có về được nhà không? Dân ta còn khổ quá. Người nghèo còn nhiều quá. Nước ta có lắm Hội đoàn, lắm tổ chức hàng năm ăn hàng chục ngàn tỷ của ngân sách. Nhưng trong tình cảnh thế này chẳng thấy đâu. Chỉ có dân giúp dân. Chỉ có dân biết thương dân. Lá rách đùm lá nát. Đâu rồi những biệt phủ, những lâu đài? Đâu rồi những thúng hột soàn, những va li đô la? Đâu rồi những chiếc xe tiền tỷ, những cặp đầy sổ đỏ? Đâu rồi những cuộc ăn chơi xem tiền như rác, những lễ hội, những cổng chào, những tượng đài hoành tráng, những dự án bỏ không hàng ngàn tỷ? Tất cả cũng từ tiền dân mà có, đây là lúc đưa bàn tay giúp dân qua cơn ngặt nghèo. Như là một cách để trả nợ cho dân, trả nợ cuộc đời, là dịp để thấy cái tình, cái nghĩa với đồng bào. Sao chẳng thấy?

Sống trong thời kỳ đầy âu lo của dịch bệnh, chứng kiến nhiều bi thương nhưng cũng được nhìn thấy những nghĩa tình. Ngày lại trôi qua. Giãn cách còn đó, giới nghiêm còn đó, cách ly vẫn còn đó và con virus hàng ngày đã tiêm nhiễm hàng ngàn người. Vaccine chậm quá mà lại nẩy sinh lắm bất công và tiêu cực. Báo hôm nay đăng đình chỉ một cán bộ phường ưu ái cho người thân được ưu tiên chích vaccine ở quận Tây Hồ, Hà Nội. Có lẽ trên đất nước này, chuyện như vậy chắc là không hiếm, chẳng qua không phát hiện hay bỏ qua thôi. Cho nên những người trong danh sách ưu tiên đành chờ vậy? Cũng có điều lạ là hôm qua Bộ Y tế lại đề nghi ngân sách sẽ không mua thêm vaccine nữa và thực hiện tiêm xã hội hoá. Cái vụ này tui có hơi thắc mắc. Thứ nhất là hình như, tôi nói hình như vì nhiều khi có chỉ thị mật thì làm sao dân đen như tôi biết được, là từ trước đến nay đã dùng ngân sách để mua vaccine đâu mà giờ bảo thế? Đa số vaccine đang có ở Việt Nam đều là viện trợ và của chương trình Covax. 14 triệu liều vaccine toàn viện trợ, nhà nước đã mua đâu? Hơn nữa, khi bùng dịch, nhà nước đã kêu gọi nhân dân, doanh nghiệp đóng góp thành Quỹ Vaccine, và theo báo chí thì cũng đã thu gần chục ngàn tỷ đồng, số tiền đó giờ đang nằm ở đâu và đang dùng để làm gì? Dân chịu thua, không hề biết. Bây giờ đề nghị xã hội hoá, tốt thôi, dân đang cần chích, xã hội đang cần có nhiều người chích để cuộc sống sớm bình thường hoá. Đành chịu trả tiền để được chích vậy. Cán bộ chích rồi, con ông cháu cha chích rồi, quan hệ tốt cũng chích hết rồi bằng toàn thuốc tốt. Giờ đến dân không ưu tiên thì móc hầu bao ra trả để bảo vệ sinh mạng mình thôi. Người nghèo không có cơm ăn thì tiền đâu mà chích dịch vụ, thôi đành chịu vậy. Chấp nhận nhưng cũng ức chứ!

Nếu ức thì lắm chuyện để ức. Như chuyện shipper. Khi chợ búa, hàng quán đóng cửa, xe cộ lưu thông bị khống chế thì shipper trở thành huyết mạch để hàng hoá, thực phẩm, đồ dùng thiết yếu được lưu thông. Không ra khỏi nhà, siêu thị thì chờ đợi rất mất thời gian mà đôi khi lại không có món hàng muốn mua thì online là tiện nhất, lợi nhất. Và lúc đó shipper là cầu mối liên lạc. Nhưng rồi chính shipper cũng gặp nhiều khó khăn khi vận chuyển hàng hoá. Cấm di chuyển quận này qua quận khác. Thắc mắc mãi với nhau thế nào là thiết yếu. Lại thêm người mua cũng ngại tiếp xúc với những shipper vì sợ dính bệnh khi trao đổi với người lạ. Để giải quyết những khó khăn trong việc lưu thông hàng hoá, thực phẩm trong mùa giãn cách, nhà nước nên có một chính sách riêng ưu tiên và thuận lợi cho các công ty vận chuyển thông qua các shipper. Đồng thời cá nhân những người vận chuyển này được ưu tiên chích vaccine đầu tiên. Họ là người đi lại nhiều, đến nhiều khu vực, tiếp xúc nhiều người nên là đối tượng dễ dính bệnh và truyền bệnh nhất. Giảm các thủ tục cho các tài xế và xe chở lương thực, thực phẩm từ các nơi về thành phố. Trong nội đô, tạo điều kiện tốt nhất cho các shipper. Được như vậy, Sài Gòn sẽ không thiếu hàng hoá và việc lưu thông, phân phối sẽ thuận tiện hơn nhiều. Rất mong đề nghị này được giới lãnh đạo lưu tâm.

Số ca mắc virus Vũ Hán trong cộng đồng tiếp tục tăng cao nhưng các bệnh viện hiện hữu đã quá tải, thành phố gấp rút huy động lực lượng xây dựng và đưa vào sử dụng Bệnh viện Dã chiến thu dung điều trị virus Vũ Hán số 16 tại quận 7.

Tính đến ngày 28.7 tại TPHCM đã có 73.911 trường hợp mắc dịch được Bộ Y tế công bố. Các bệnh viện hiện đang điều trị 39.114 bệnh nhân dương tính, trong đó có 744 bệnh nhân nặng đang thở máy và 13 bệnh nhân can thiệp ECMO. Tính cộng dồn đến nay toàn thành phố đã có 815 bệnh nhân tử vong. Để tăng khả năng đáp ứng điều trị, các bệnh viện dã chiến đang được gấp rút xây dựng, đưa vào vận hành.

Tình hình vẫn buồn tênh ở con số người chết.

28.7.2021

Sài Gòn lockdown ngày thứ hai mươi

DODUYNGOC

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở SÀI GÒN NGÀY PHONG TOẢ THỨ HAI MƯƠI_Đỗ Duy Ngọc

Mặc Áo Diêm Vương _ Tràm Cà Mau –

Mặc áo Diêm Vương

– Tràm Cà Mau –

dia-nguc-kp-kenh14-03a-90b59-640x440

Nhằm lúc vợ con đi thăm người chị ở tiểu bang xa, tôi xin sở nghỉ phép một tuần. Nằm nhà đọc sách, an dưỡng tinh thần trong thanh vắng. Chỉ một mình tôi ở nhà, tự nấu ăn, tự lo liệu lấy.

Một buổi chiều, có lẽ vì đọc sách nhiều, tôi cảm thấy hơi nhức đầu, mở tủ thuốc lấy một viên thuốc uống. Nhưng vừa uống xong chừng mười phút, thì tôi nổi cơn nóng lạnh. Toàn thân lạnh ngắt, da bụng run bần bật như máy rung với tần số thấp, đầu óc như có nước đá tẩm đông cứng. Tôi trùm mền điện vặn số nóng nhất, nhưng cũng không làm sao dịu được cơn buốt giá. Tôi cố gắng cầm cự với cơn lạnh.

Khi đã quá mệt trong cuộc chiến đấu chống lại cơn lạnh lẽo, thì tôi thiếp đi trong một giấc ngủ nặng nề. Lúc trời đã về khuya, tôi tỉnh dậy loạng quạng vịn giường lần vào phòng tắm để đi tiểu. Vừa xả xong thứ nước dư thừa trong thân thể, thì tôi không còn biết gì nữa, mất thăng bằng, lăn ra bất tỉnh. Trong một thoáng rất mau, tôi không còn thấy đau đớn khó chịu nữa.

Như trong mộng, nhưng rõ ràng hơn, tôi thấy lại tất cả quá khứ của đời tôi, giống một cuốn phim, chiếu lại từ đầu đến cuối. Từ lúc mới lọt lòng khóc oe oe, nằm trên tay mẹ, bú mớm, rồi lớn lên, thời tiểu học, trung học, đại học, thời bước chân vào đời, khi mới biết yêu đương, những kỷ niệm vui buồn, đau khổ, sung sướng, những việc làm xấu tốt trong đời, những ngày bôn ba chạy tìm đường trốn ra ngoại quốc, những ngày lênh đênh gần chết khát trên biển cả, những ngày đầu lang thang giữa đất lạ quê người, đầy đủ không thiếu một giai đoạn nào. Cho đến những hình ảnh cuối cùng, khi uống thuốc, bị cơn lạnh hành, vào cầu tiêu và té nằm bên bể tắm, đầu kê trên tấm thảm chà chân.

Tôi thấy rõ ràng tấm thân của tôi đó, nhưng hình như linh hồn và thể xác không còn dính liền chặt chẽ nữa. Rồi bỗng có tiếng động nhẹ ở cánh cửa thông gió của nhà cầu, tôi thấy hai người chui qua cửa, mang toàn đồ đen, trên đầu có sừng cong như sừng trâu, mặt mày dữ dằn, khó coi, thở ra khói mỏng mầu trắng, tay cầm đinh ba làm vũ khí. Hai người nắm hai tay tôi, kéo bừa băng qua khung cửa sổ, như bay là là trên mặt đất. Vừa ra khỏi cửa, thì có tiếng nhạc thoảng êm đềm, có mùi thơm đâu đó vọng lại.

Rồi bỗng có hai người mang áo trắng, vai có cánh như chim, từ trời hạ xuống. Hai người mặc áo trắng này, mặt mày đều đặn, hiền hậu, ánh mắt dịu dàng, mỗi người nắm lấy một tay tôi kéo đi. Tôi bị giằng co giữa hai phe áo đen và áo trắng, kéo qua kéo lại không bên nào chịu thua, như họ đang tranh giành tôi. Bàn tay của hai gã áo đen nắm tôi đau điếng, như muốn bóp tan nát thịt xương, nhưng hai người áo trắng thì tay mát mẻ, êm ái, dịu dàng, song không phải vì vậy mà yếu thế trong cuộc giằng co.

Tôi nghiệm ra, nếu sự việc này kéo dài, thì chẳng có bên nào thắng bại, chỉ làm cho tôi càng khó chịu thêm, đau đớn thêm mà thôi. Tôi hỏi nho nhỏ, các ông là ai, tại sao lôi kéo tôi làm chi vậy, sao không dùng lời hơn lẽ thiệt mà nói chuyện, việc chi phải dùng sức mạnh, tranh chấp nhau, chỉ có khổ cho tôi. Hai người áo đen cho biết, họ là quỉ ở địa ngục, được lệnh bắt tôi về cho Diêm Vương phán xét, đền tội lỗi đã phạm khi đang sống ở trần gian. Hai người áo trắng bảo rằng, họ là thiên thần, xuống dẫn lối cho tôi về thiên đường hưởng đời cực lạc.

Tôi thầm nghĩ rằng, đấng tối cao vô cùng sáng suốt, soi rọi đến mọi vật mọi loài, chắc có sự lầm lẫn nào đây trong việc thi hành mệnh lệnh. Bởi vậy cho nên có cuộc giằng co giữa quỉ sứ và thiên thần để dành lấy linh hồn tôi. Tôi tự xét mình, khi sống ở trần gian cũng đã phạm nhiều tội, thì có lẽ hai ông thiên thần trong trắng quá, nhìn lầm tôi với người khác chăng. Tôi cũng ham được về thiên đường, ở đó đời đời vui thú, tôi cũng sợ về địa ngục, bị xét xử và hành tội đau đớn. Tôi nhẹ nhàng trình bày với các vị thiên thần rằng, có tội hay không, thì không thể lọt qua lưới trời, và sự phán xét của đấng tối cao vô cùng phân minh. Bây giờ giằng co mãi cũng chẳng đi đến đâu, thôi thì hãy để các ông quỉ sứ này đưa tôi về địa ngục trước, nếu tôi được xét là vô tội thì xin hai vị về dẫn đường sau cũng không muộn. Nếu được đưa về trời trước, mà sau khi xét xử lại, thấy có sự lầm lẫn, đuổi tôi xuống địa ngục thì ê mặt xấu hổ, và khi đó đã lỡ biết thiên đường rồi, chỉ thêm khổ tâm mà thôi.Hai vị thiên thần áo trắng thoáng hiện nét buồn trong ánh mắt, thở dài, bảo rằng, thôi cũng được, ta chỉ sợ sau này người ân hận không kịp đó thôi. Thiên thần buông tôi ra, và như hai vệt khói, bay khuất vào chân trời.

Tôi đi theo cuộc dẫn độ của quỷ sứ, gió lạnh về đêm xuyên qua thân thể tôi như dao cắt. Đi qua một vùng tối đen mù mịt không thấy cảnh vật, rồi ánh sáng tỏ dần. Ngang qua một con sông có chó ngao, đang cắn giằng xé xác người, miệng đàn chó đỏ ròng ròng máu me, những người bị hành hình kêu khóc vang dậy, làm tôi lạnh ớn óc. Họ đẩy tôi đi qua cây cầu bắc bằng một thanh gỗ tròn nhỏ, lắc lư, thanh gỗ trơn như bôi mỡ. Tôi chao mình, nhiều lần cố giữ cho khỏi ngã xuống sông, mà bên dưới chó ngao đang cắn xé người có tội.

Tôi quay lại hỏi hai ông quỷ sứ rằng, làm khó nhau mà chi ? Nếu có tội thì sau khi xét xử, đem ra hành hình, việc chi bắt tôi đi trên cây cầu khó khăn này. Hai ông quỷ sứ im lặng không nói. Tôi lại hỏi, ở dưới này chắc cũng không thiếu gì kỹ sư công chánh, sao không kêu họ làm lại cây cầu khác, tiện nghi hơn, đi lại dễ dàng hơn. Những người bị dẫn độ như tôi, đang đi đông lắm, và nhìn tôi bằng con mắt ngạc nhiên như ngầm bảo tôi sắp bị hành hình mà còn hỏi lôi thôi.

Đi qua một đoạn khác, thấy một cánh đồng rộng lớn, chông mọc tua tủa cao đến nửa ống chân, hàng trăm ngàn người đang nhẩy bàn chông. Cứ co chân này lên, thì đạp chân kia xuống, đau quá chịu không nổi, phải vội co lên lại, và chân kia đạp xuống, cứ thế co lên đạp xuống, máu me ròng ròng. Dưới mặt bàn chông là thép nóng lửa đỏ, khói da thịt cháy kêu xèo xèo. Khiếp quá, tôi muốn nhắm mắt lại không dám nhìn, nhưng một hình ảnh làm tôi chú ý, một ông già đội nón cối, râu ba chòm, trên túi áo có đeo ngôi sao vàng, đang nhẩy bàn chông, nhảy mau hơn ai hết, và bên cạnh ông, cũng những người ăn mặc tương tự, đang cãi nhau, chửi nhau ầm ĩ bằng những lời thô tục bẩn thỉu nhất. Thỉnh thoảng tụi đầu trâu mặt ngựa đứng bên ngoài, cầm roi gai quất túi bụi vào đầu, vào mặt cả bọn, máu me tuôn dầm dề.

Gặp lại cố nhân

Ông già râu ba chòm rất quen, tôi sực nhớ hình ảnh ông treo cùng khắp xóm làng, những nơi công cộng. Tuy trong lòng chán ghét và ghê tởm ông lão, nhưng tôi cũng thấy bất nhẫn. Đám người đội nón cối cùng chịu cực hình quanh ông già đều quen mặt cả. Tôi cúi đầu đi, thấy vạc dầu sôi sùng sục, vạc dầu to lớn bằng cả năm bẩy cái sân vận động cộng lại.

Dầu đang sôi, bên trong hàng ngàn người la hét kêu gào vì nóng bỏng. Da thịt bỏng lột, có đoạn trơ xương. Những người này mặt mày lem luốc, lồi mắt, miệng vỡ, tôi khó mà nhìn ra có ai quen biết. Quỷ đầu trâu mặt ngựa cho tôi biết sau thời gian nhẩy bàn chông, sẽ được đưa qua tắm vạc dầu, và sẽ đưa đi nơi khác chịu cực hình, tùy theo tội nặng nhẹ.

Đến một đoạn khác, tôi thấy một ông mày rậm râu thép, tóc chải ngược vuốt ra đằng sau, đang bị trói ké theo một thế quỳ mặt ngửng lên trời. Hai con quỷ đang múc từng gầu nước thép chảy màu hồng đổ vào miệng ông, khói lên nghi ngút. Nước kim loại chảy ra từ hậu môn tội nhân thành từng vũng lớn, được thu lại đổ vào nồi nấu sôi. Tôi nhớ ra ông này có hình tượng nhiều nhất ở nước Nga. Đã một thời làm điêu đứng hàng triệu người. Đã đầy hàng triệu dân Nga đi Tây Bá Lợi Á, đã thủ tiêu nhiều chục triệu người mà ông ta nghi ngờ. Dù chẳng cảm tình chi với ông già tàn bạo kia, nhưng tôi cũng cảm thấy đau đớn trong lòng.

Qua một nơi khác tôi thấy một ông Á đông, mắt sụp, mập mạp, đang nằm trên một cái thớt gỗ lớn, tôi nhận ra ông Mao ngay. Ông này đã viết cuốn Hồng Thư hay gì gì đó, và đã cai trị cả tỷ người. Một bầy quỷ cầm đại đao quanh cái thớt, hô một tiếng lớn, chúng nó đồng loạt nhẩy vào băm vằm tội nhân nát nhừ, đến khi thịt xương nhỏ nát như chả băm , thành một đống như đất sét. Tôi nghĩ ông này may mắn, vằm nát một lần rồi thôi, không phải chịu cực hình lập lại như mấy ông kia. Nhưng không, con quỷ đầu đàn đưa hai tay lên cao niệm thần chú, thân hình tội nhân từ từ hồi phục lại vóc dáng cũ. Chờ đến lúc tội nhân mở mắt nhìn đám quỷ với tất cả sợ hãi, thì tiếng thét lớn, lũ quỷ lại nhảy vào băm vằm. Tôi không hiểu lũ quỷ này thích thú gì với trò chơi dã man như thế. Tên quỷ áp giải tôi nói rằng, ông cụ Mao kia phải chịu băm thây hàng triệu lần. Ở thế gian ông giết bao nhiêu người thì ở đây ông chịu bấy nhiêu lần băm thây.

Bên góc phải, một ông tóc vàng mắt xanh, râu cứt mũi, bị lũ quỷ cầm kềm rứt từng miếng da, từng miếng thịt, cho đến khi chỉ còn bộ xương. Quỷ lấy kềm kẹp xương vỡ rôm-rốp, cả cái đầu cũng vỡ, tan nát vì bị búa tạ nện. Sau đó, được hóa phép lại toàn thây, rồi kềm kẹp lóc da tiếp. Quỷ địa ngục cho biết, ông này gây nên thế giới đại chiến lần thứ hai, đã sáu mươi năm qua, mới chịu có ba cực hình. Còn chịu cả ngàn cực hình khác nữa.

Quỷ dẫn tôi tiếp tục đi. Tôi thấy những cực hình khủng khiếp, những lò lửa nóng đỏ hừng hực (có lẽ là hỏa ngục), hàng ngàn người lăn lộn trong đó. Tôi nhận diện được một số người, gồm cả những danh tướng thế giới, những người mà ở trần gian gọi là vĩ nhân, những tỷ phú, những thương gia, luật sư, đủ cả các thành phần của xã hội.

Tôi hỏi quỷ dẫn độ rằng tại sao những vị danh tướng cũng bị hành tội nơi đây? Ông quỷ bảo rằng, làm tướng là giết người nhiều hơn ai cả. Giết người ở thế gian mà còn được ca ngợi, giết đối phương, giết quân của chính họ. Đi tới nữa, tôi thấy cả Nã Phá Luân, Alexander, Thành Cát Tư Hãn.

Tôi ngạc nhiên, quỷ sứ cho tôi biết có những kẻ phải đời đời chịu tội. Năm ba ngàn năm chịu cực hình đâu đã thấm gì. Bây giờ thì tôi bắt đầu thực sự run sợ, và ân hận đã nói với thiên thần là tôi theo quỷ sứ về địa ngục trước. Thôi thì lỡ rồi ! Tôi tự trách mình ngu dại. Quỷ sứ dẫn tôi đi qua hàng ngàn nơi, có hàng ngàn thứ cực hình dã man mà đầu óc tôi có tài ba đến đâu cũng không thể tưởng tượng được .

Điếc không sợ súng

Khi quỷ sứ dẫn tôi đến gặp Diêm Vương, thì tội nhân xếp đến mười hàng, mỗi hàng dài cả cây số. Chờ phân xử. Việc xét xử hình như mau lắm, mỗi người chỉ vài giây đồng hồ là xong bản án.

Tôi thấy Diêm Vương râu dài, ngồi mệt mỏi trên ngai vàng, soãi người ra trong thế nửa ngồi nửa nằm. Đầu Diêm Vương quẹo qua một bên, hai mắt lim dim như ngủ gật, thỉnh thoảng đưa lưỡi móc giòng nước bọt đang chực rơi bên mép. Áo ông đóng khớm dơ dáy, bụi bặm, dưới tà áo có con nhện giăng đã chết khô từ lâu, mà tơ nhện thì rách rưới, chứng tỏ ông ta đã nhiều năm chưa rời ghế. Trong lòng tôi bỗng nổi lên cơn giận không kềm được. Xử án mà lơ mơ ngủ như thế này thì làm sao công minh được! Thế nào cũng xử oan cho bao nhiêu triệu người, và oan cho cả tôi nữa là chuyện khác.

Đến phiên xử tôi, hai con quỷ xô tôi ngã sấp trước chân Diêm Vương, tôi gào lên thật to:

“ Thưa Diêm Vương cho tôi hỏi một câu.”

“ Câm miệng lại. Hỏi gì mà hỏi?” Diêm Vương nói như giọng người nằm mơ ngủ say.

“ Không! Tôi muốn được hỏi vài câu trước khi chịu tội.” Tôi gào xong rồi hai tay nắm chặt lấy chiếc hài của ông, nhất định không buông ra.

“ Thằng nhãi này cứng đầu, lôi thôi! Thôi, thì cho mày hỏi một câu. Một câu thôi nhé!”

“ Thưa Diêm Vương, luật xử ở đây ai đặt ra, và có từ bao giờ”?

Diêm Vương có vẻ lúng túng, sửa người, và ngóc đầu dậy, đưa tay bóp trán, rồi nói lơ mơ trong miệng:

“ Luật đây là luật trời! Không biết ai soạn thảo. Đã có từ hàng triệu năm!”

Tôi không để mất cơ hội, đứng thẳng dậy và la lớn, đưa tay chỉ trỏ:

“ Luật ở đây dã man quá! Con người ở thế gian ngày nay, luật lệ còn nhân đạo hơn ở đây ngàn lần. Luật pháp không cho hành hạ thể xác tội nhân. Không cho phép tra tấn cực hình. Có nơi còn bỏ cả án tử hình. Hành xử những thứ luật lệ xưa đến triệu năm, tàn ác như thế này, thì ông hãnh diện lắm sao?”

Diêm Vương bỗng đỏ mặt, hai mắt nhướng lên, ngồi thẳng dậy, nhìn vào tôi:

“ Thằng nhãi này gan quá nhỉ! Hàng triệu năm nay chưa ai dám cãi lại ta một lời, dù chỉ một lời nhỏ! Người bảo sao, luật lệ ở đây cổ hủ và dã man ư ?

“ Phải ,dã man lắm lắm. Hành hạ thể xác con người bằng đủ thứ tàn ác! Luật lệ nào cũng phải thay đổi cho hợp thời hợp cảnh. Con người ở thế gian, luật lệ đã tiến hóa rất nhiều. Có những điều cách đây trăm năm là có tội, mà nay luật pháp không kể là tội nữa, và ngược lại .Những điều ở thế gian chúng tôi được phép làm, thì ở đây cũng kết tội nữa sao? Phải hợp tình hợp lý. Phải dung hòa phối hợp luật lệ cả hai cõi âm dương may ra mới có chút công bằng.”

Diêm Vương nhếch môi cười mỉa:

“ Một trăm năm! Dài không bằng cái xì mũi của ta. Nhưng hình như ngươi cũng có lý phần nào đó! Mấy triệu năm nay, ta chưa hề nghe ai đề cập đến cải sửa luật lệ! Mà sửa bằng cách nào mới được chứ! Này! Ngươi còn điều gì muốn nói nữa không? Cho nói luôn thể”

“ Thưa Diêm Vương tha lỗi cho tôi! Hình như Ngài ngủ gật trong lúc xử tội. Hình như ngài không thèm nhìn đến tội nhân và xử tội một cách lơ là cẩu thả. Chắc chắn án oan nhiều vô số. Hình như ngài mệt mỏi lắm!”

Diêm Vương cười, tiếng khà khà đặc quánh trong cổ, rồi chậm rãi nói:

“ Phải! Ta mệt mỏi lắm. Ngồi xử kiện cả bao nhiêu ngàn năm nay, không có thì giờ ăn uống, tắm rửa, thay áo quần, hôn vợ. Liên tu bất tận, không ngơi nghỉ. Không mệt sao được. Ngươi xem vai áo ta bụi đóng đen kịt mà không có thì giờ phủi. Còn oan thì không ai bị oan đâu!”

“Ngài nửa ngủ nửa thức, thì làm gì sáng suốt để xử kiện? Mà hình như mỗi người xử một vài giây đồng hồ, chưa kịp ho, đã lãnh bản án đem đi.”

“ Này này!” Diêm Vương ngắt lời tôi. “ Đừng lầm tưởng. Ta mệt quá nên đôi khi có chợp giấc đi thật. Nhưng xử oan thì không. Xử mỗi tội nhân, chỉ cần một phần ngàn giây đồng hồ là quá đủ. Ngươi không biết đó thôi! Ngồi trên ghế này, ta chỉ cần một phần triệu giây thôi, là thấy đủ chi tiết, đời sống hành động của bất cứ ai. Đến một cái gãi đầu, một tiếng ho cũng không sót. Tất cả công đức và tội lỗi được xếp thành hai cột rõ ràng, có điểm âm dương và điểm tổng cộng, có thăng bằng tội lỗi với công đức. Chỉ cần một phần triệu giây là bản án ghi xong theo định lượng tội lỗi.”

“Có phải ở đây cũng có máy vi tính (computer) như ở thế gian? Máy ở đây bộ nhớ được bao nhiêu?”

“Xì! Cái kiến thức về máy vi tính ở thế gian mà ra cái thá gì? Chỉ đáng so như một hạt bụi với một tinh cầu. Với kỹ thuật ở nơi đây, không ai bị oan đâu! Ngươi ngu dốt nên phát ngôn bừa bãi.”

Tôi cố cãi, kéo dài thời gian thụ hình càng lâu càng tốt, và định lung lạc Diêm Vương:

“Oan hay không thì chưa chắc. Nhưng điều chắc nhất là luật lệ ở đây quá cổ hủ, quá dã man tàn bạo. Ngài thấy người ta bị hành hình mà trái tim không xúc động sao? Có kẻ bị hành hình liên tiếp cả mấy trăm năm! Sao ngài không sửa đổi luật lệ lại cho hợp tình hợp lý. Xử kiện máy móc thì chỉ có lý chứ không có tình. Con người, không phải là vật vô tri, yếu tố “tình” phải được cứu xét chung với lý, may ra thêm chút công bình!”

“Sửa đổi luật lệ, lý, tình?” Diêm Vương càu nhàu lẩm bẩm. “Ai sửa cho bây giờ, luật đã ra thì cứ theo . Lý và tình phải hòa hợp? Cũng là một ý hay. Còn những tội đồ thụ hình cả mấy trăm năm ư ? Thế cũng chưa trả được phần của tội lỗi chúng gây ra. Phải là đời đời chịu tội cũng chưa đủ. Mà này ,ngươi vừa đề cập đến sửa đổi luật lệ! Ngươi có sửa được không? Sửa làm sao bây giờ?”

Tôi trình bày cùng Diêm chúa rằng, kiến thức của tôi hẹp hòi, không đủ để điều chỉnh lại các bộ luật. Tôi có ý kiến là tạm ngưng tất cả những hình phạt tàn ác như nhẩy bàn chông, rút lưỡi, uống kim khí nóng chảy, bằm da xẻ thịt, tất cả hình phạt gây đau đớn thể xác đều tạm ngưng, chờ khi luật sửa đổi xong sẽ áp dụng luật mới. Đồng thời thành lập một ban nghiên cứu sửa đổi luật lệ, có đại diện của các thành phần tội nhân, các thành phần quỷ sứ, và Diêm Vương làm chủ tịch.

Diêm Vương có vẽ giận nói:

“Đại loạn! Chủ tịch cái mốc khô! Nghe cái danh từ chủ tịch là ta đã buồn nôn, muốn đem tất cả cái lũ chủ tịch cho nhảy bàn chông, tắm vạc dầu cả. Mà này ta nói cho ngươi rõ, ta đã chán ngán cái ghế Diêm Vương này đến ứ tận cổ. Cả mấy ngàn năm nay ta muốn thôi, hiềm không ai thay thế. Nay ta thấy người có ý hay, ta muốn giao cho ngươi chức vụ này một thời gian. Ngươi ráng làm cho tròn bổn phận.”

Tôi hết hồn, hốt hoảng thưa:

“Thưa Diêm Chúa! Làm sao tôi có thể xử tội thiên hạ được? Ngay cả bản thân, đôi khi tôi cũng không tự phán xét mình được, làm sao mà phán xét thiên hạ. Tôi không muốn phán xét sai lầm cho ai. Tôi nghĩ rằng, không đủ khả năng để ngồi ghế Diêm Vương, mà có đủ khả năng thì tôi cũng không muốn nhận. Thà tôi đi chịu cực hình còn hơn.”

Nói thế, nhưng nghĩ đến cực hình thì tôi run lắm. Diêm Vương chạy từ ngai vàng xuống, cởi áo máng lên vai tôi. Xô tôi ngồi ngã ngửa trên ngai vàng. Ông đè tôi xuống:

“Không có lôi thôi gì cả! Mặc áo Diêm Vương này, ngồi đây xử tội giúp ta một thời gian. Làm được ta giao luôn. Ta cũng cần nghỉ ngơi, vui thú gia đình, an dưỡng tâm trí.”

Tôi vùng vẫy dữ dội, gắng thoát ra khỏi ngai vàng. Nhưng Diêm Vương quá mạnh, đè tôi sát lên ghế, ngực đau như xương sườn sắp gẫy. Diêm Vương cởi ủng mang vào chân tôi, rồi nói:

“ Ngươi không từ chối được đâu. Ngươi rời cái ngai vàng này thì ta cho quỷ sứ bắt đi hành hình. Chịu tất cả những cực hình thảm khốc ghê gớm nhất ở đia ngục này. Bị hành hình đời đời kiếp kiếp. Bây giờ, cho người toàn quyền xử lý.”

Nghe vậy tôi sợ khiếp vía. Ngồi trên ngai vàng, tôi thấy rõ cả ngàn dặm bốn phía địa ngục, một cảnh xa hàng ngàn dặm mà thấy rõ như cách vài ba bước chân. Thật lạ lùng. Đâu đâu cũng đầy cả tội nhân bị hành hình. Nhiều hình ảnh tàn ác, khủng khiếp, quay qua bên nào, tầm mắt cũng bắt gặp. Trái tim tôi đau nhói, muốn tan vỡ.

Lũ quỷ ở địa ngục hướng về tôi tung hô vạn tuế. Một số tội nhân a dua dong tay ngoác miệng hô theo. Tiếng hô vang dội không ngớt. Tôi đỏ mặt vì xấu hổ. Ngồi trên ngai vàng này, tôi hướng mắt về bất cứ một người nào, thì thấy hết toàn thể cuộc đời của người đó, từ khi mẹ thụ thai, cho đến hiện tại. Thấy cả từng chi tiết nhỏ, từng ý nghĩ vụn vặt, từng toan tính, từng sinh hoạt. Trong phần triệu giây là thấy hết, thật lạ lùng, khó tin. Tôi nhìn quanh, thấy Diêm Vương mặc áo lót, vì cái áo quàng đã mặc vào cho tôi, đang ngồi thoải mái và cười khoái trá.

Quan án công bình ?

Sau một thời gian ngưng trệ, việc xử án lại bắt đầu. Hai con quỷ đầu trâu mặt ngựa xô một người đàn ông té sấp trước chân ghế! Người đàn ông mặt mày đau đớn sợ hãi. Tôi nhìn xuyên thấu cuộc đời ông ta trong nhấp nháy. Thuở bé, nhà nghèo, đói khát, bị gia đình bạc đãi, xã hội ruồng rẫy. Lớn lên làm đủ điều tội lỗi, trộm cắp, lường gạt, đâm chém, đánh nhau. Hắn lấy vợ, chém vợ lòi ruột, vợ hắn trốn đi. Hắn tiếp tục đời sống xấu xa. Chết lúc bốn mươi lăm tuổi. Bản ghi hình phạt dành cho hắn, có cả mục nhẩy bàn chông năm mươi năm, tắm vạc đầu hai năm, bị đưa vào lò luyện thép mười năm, bứt da thịt hai năm.

Tôi ôm đầu, nghĩ rằng tiêu chuẩn hình phạt nặng nề quá. Nếu tôi chấp thuận bản án này, thì tôi phải chịu trách nhiệm trên nỗi đau đớn của nạn nhân. Diêm Vương thấy tôi chậm chạp, nhắc chừng rằng thời gian trung bình để xử mỗi tội nhân chỉ có một phần tư giây thôi. Xử chậm cái đuôi sẽ dài cả chục dặm.

Tôi đánh bạo truyền lũ quỷ đem tội nhân đến một nơi vắng vẻ, ấm cúng, cho ăn uống tử tế, cấm hành hạ, để tội nhân suy nghĩ, sám hối tội lỗi đã làm. Tôi xử tiếp, bản án nào cũng đề nghị quá khắc nghiệt, khủng khiếp, không hợp ý tôi. Tôi cho tất cả tội nhân đi sám hối, cùng một cách.

Tạm thời, những tội nhân mới được giải xuống địa ngục, được đưa đến một nơi tiện nghi, ấm áp, được đối xử tử tế. Mỗi người được xem đi xem lại cuốn phim chiếu lại tất cả đời sống họ, từ sơ sinh cho đến chết, đủ tất cả các chi tiết, các cảm xúc đau buồn vui sướng. Rồi mỗi người tự xét lấy lỗi lầm, tự đề nghị lấy bản án. Trong thời gian tạm ngưng xử, tôi truyền quỷ sứ giải tất cả các bạo chúa, độc tài đến cho tôi phỏng vấn.

Chỉ trong khoảnh khắc, có cả vạn người đứng trước mặt tôi. Những bạo chúa từ vài ba ngàn năm về trước cũng hiện diện. Đứng đầu là đám cùng hung bạo chúa. Gồm có ông râu kẽm mày rậm đeo phù hiệu búa liềm người nước Nga. Kế đến là ông Mao và đông đảo người mang đấu búa liềm. Có cả ông già râu xứ Việt Nam tôi. Cả ông người Đức râu cứt mũi. Những ông Đại Đế của Nga, của La Mã, của Mông Cổ, Trung Hoa, Thổ Nhĩ Kỳ, đều có mặt.

Tất cả đều khép nép, run cầm cập, mắt nhìn xuống đất. Không còn có nét hào hùng nào của một thời ngang dọc, coi mạng người như cỏ rác. Trông họ thật tả tơi, có lẽ thấm đòn tàn độc hành hạ thể xác và tinh thần nơi địa ngục.

Tôi cho gọi đám lãnh tụ mang dấu búa liềm của thế giới ra để hỏi chuyện. Bọn họ xếp hàng ngang, mười mấy người, cả Âu, Á, Phi đều hiện diện. Tôi hỏi ông già trán hói, râu xồm, thấp người:

“ Ai cho ông bày ra cái Đảng kỳ cục, làm đau khổ, đói khát dân Nga bảy mươi năm, làm các dân tộc khác trên thế giới đau khổ theo? Bầy ra để làm chi vậy?”

“ Thưa Ngài.”- Ông ta trả lời, nhưng tôi cắt ngang:

“ Đừng gọi tôi là Ngài. Tôi không quen nghe!” Tôi nói mau và cảm thấy hơi xấu hổ.

“ Thưa Ngài, à không, thưa Diêm Vương, con phải bày đặt ra cái gì mới, để thu gom quyền lực, để củng cố địa vị chứ? Phải lừa gạt nhân dân, lấy thợ thuyền làm sức mạnh mới cướp được chính quyền.”

“ Xin đừng xưng con với tôi.” Tôi cảm thấy bực mình nói “Sau khi cướp được chính quyền rồi, sao còn độc tài, giết chóc, gây khổ đau cho toàn dân?”

“ Thưa nếu không độc tài, không tù đày, thanh toán thì làm sao giữ được quyền hành lâu dài. Bởi vì căn bản của chế độ dựa trên sự dối gạt, không gây sợ hãi thì bị lật đổ ngay. Xin Diêm Vương hiểu cho, và gia giảm tội hình!”

Trong lòng tôi chán ngán, nhưng ít nhất lão già cũng có phần thành thật, không che giấu tội lỗi. Mà có lẽ nơi đây, chẳng ai che giấu được điều gì, nên phải nói thật chăng? Tôi chỉ ông râu kẽm, tóc chải ngược, mặt vuông và mày rậm hỏi:

“Ông kia! Sau khi kế vị, sao ông giết hết bạn bè thân tín, giết hàng chục triệu dân Nga. Đầy ải hàng trăm triệu người, cai trị dân hà khắc, độc tài, đau khổ lấy chi đo lường cho được?”

Ông râu kẽm đập đầu binh binh xuống sàn, khóc lóc lạy lục, xem bộ lão này tư cách kém lắm. Sau một hồi sụt sùi ông bảo:

“Thưa ngài, bạn bè tôi cũng toàn thứ tội lỗi đầy mình, khi nào cũng sẵn sàng giết tôi để tranh giành ngôi vị. Không giết họ, thì họ cũng giết tôi. Còn giết hại nhân dân, thì phải giết để củng cố chế độ. Đầy ải lên Tây Bá Lợi Á, để có dân lao động, và dằn mặt những kẻ không tuyệt đối phục tòng. Thưa Diêm Vương, nếu ngài ở địa vị tôi, và muốn giữ ngôi vị, thì cũng hành động như thế thôi.”

Cựu Diêm Vương ngồi dậy, khoát tay nói lớn:

“Thôi thôi! Đừng nói thêm những lời bỉ ổi, nghe bẩn tai. Tăng cực hình cho nó thêm hai ngàn năm nữa cũng chưa xứng! À, mà thôi, bây giờ thì để tân Diêm Vương quyết định.”

Tôi hỏi ông mặt thịt, có nốt ruồi trên mặt:

“Này ông kia, tại sao sau khi thâu gồm được nước Trung Hoa, ông bày đặt chi đủ thứ, nào là đại trại, nào là cách mạng văn hóa, hàng trăm triệu người chết tức tưởi, vì tư tưởng điên khùng của ông. Cả tỉ người tận cùng đau khổ. Đói và chết đói hàng chục triệu người. Trong lúc ông ăn chơi xa xỉ, gái và rượu vô độ. Lại còn hành hạ, giết chóc những kẻ thân tín, những bạn bè đã đưa ông lên địa vị đó?”

Ông già mặt xám ngắt, chắc đã thấm những đòn nhục hình của lũ quỷ, ông không còn dáng dấp phong cách của một bạo chúa nữa. Ông lạy dài rồi quỳ xuống, hai tay che ngang trán, như dáng điệu trong phim Tàu:

“Muôn tâu bệ hạ. Thần đã biết tội lỗi của mình. Bệ hạ thử nghĩ cai trị cả một tỉ dân, thứ dân ưa xưng hùng xưng bá, nếu không độc tài, hà khắc thì làm sao giữ được ngôi vị. Năm bảy chục triệu người chết thì đã thấm gì so với tổng số dân. Phải bày đặt ra đủ thứ như cách mạng văn hóa chẳng hạn, để loại bỏ những kẻ có tư tưởng thiếu trung thành với tại hạ. Những kẻ thủ túc của tại hạ mà bị loại bỏ, hành hình, cũng vì dám có tư tưởng phê phán tại hạ. Phần ăn chơi, thì xứ của tại hạ, xưa nay vua chúa nào cũng vậy. Tại hạ được làm vua, mà không hưởng thụ cũng uổng lắm sao? Mấy chục năm nay bị hành hình không ngớt, tại hạ biết tội lỗi, đã ăn năn lắm rồi. Xin ngài khoan giảm tội cho. Nếu ngài tha, được đi đầu thai lại, xin được làm một nông dân bình thường, có chút ruộng đủ ăn, đủ mặc, có vợ, chỉ lo vui thú gia đình mà thôi, mộng bá đồ vương chỉ mua khổ lụy vào thân!”

Lão nói đến đây, thì có lời lao xao phản đối khắp nơi, hàng triệu tiếng kêu la, yêu cầu để lão đền tội ác đã gây ra. Những lời phản đối này toàn giọng Trung Hoa. Họ hỏi: “Trong thời lão cai trị, mấy ai có được cuộc sống thần tiên như lão mong ước: Có chút ruộng, đủ ăn, đủ mặc, có vợ con.” Lão già úp mặt khóc lóc, không nói nữa. Cựu Diêm Vương cũng có vẻ bất bình, khịt khịt trong cổ họng. Tôi sực nhớ lời Đạt Lai Lạt Ma Tây Tạng viết rằng, những người cộng sản thường nói dối một cách tự nhiên, không biết xấu hổ! Nhưng trường hợp này tôi tin lão nói từ mong ước của tâm can.

Tôi kêu cụ già đồng hương, râu ba chòm, áo bốn túi, đội nón cối, đến trước bệ. Mắt ông cụ nhìn lấm lét, có vẻ sợ hãi, chân rách nát vì chông đâm, môi run run làm râu rung động. Ông cụ bắt chước dáng điệu của ông già Tàu , cũng quỳ hai tay bưng ngang trán. Tôi yêu cầu ông cụ đứng dậy. Trong lòng tôi cũng còn ớn vì những đòn tàn độc mà ông cụ giáng xuống cho nhân dân, làm tôi cũng chung chịu. Tôi hỏi:

“Này, ông cụ! Sao ông nhẫn tâm đem dân tộc vào cuộc chiến khốc hại ba mươi năm? Hãy nhìn ra các nước Á Phi bị trị khác, có xứ không cần đổ một giọt máu cũng giành được độc lập. Tại sao ông đem chủ thuyết dối trá không tưởng về xứ làm đau khổ nhân dân. Phát động chiến tranh liên miên. Không lo xây dựng ấm no hạnh phúc hòa bình?”

Ông cụ đưa tay gạt nước mắt, trả lời với giọng nghẹn ngào.

“Muôn tâu Diêm Vương! Ban đầu tôi cũng chỉ muốn làm thầy thông thầy ký, có một cuộc sống bình thường. Nhưng hoàn cảnh xô đẩy, bố tôi say rượu đánh chết người, bị tước phẩm trật, bị đuổi về quê, tôi học chưa hết nửa lớp Ba phải lang bạt giang hồ. Chỉ mong được làm bồi bếp thợ thuyền yên thân. Gặp các nhà cách mạng Việt Nam ở hải ngoại, khơi dậy trong lòng tôi nỗi nhục mất nước. Tôi theo hoạt động và rồi cũng hoàn cảnh đưa đẩy tôi qua Liên Xô vĩ đại. Các ông này là thầy tôi đây”- Ông cụ chỉ vào các ông trùm- “ Các ông thầy đã dậy tôi đủ thứ mánh khóe bịp bợm, khủng bố, giết chóc, gạt gẫm, phá hoại, láo khoét, đại ngôn, tàn nhẫn, khoác lác. Những thứ này, luân lý cấm kỵ nhưng lại rất hiệu nghiệm trong việc tranh đoạt quyền hành. Tôi bị lún sâu, kẹt cứng vào cái vòng sai khiến của quan thầy. Không thể làm khác được. Phần chết chóc hàng triệu người thì đâu có thấm vào so với chết chóc ở Trung Hoa, Liên Xô,. Dân Việt Nam đau khổ, đói khát, thoái hóa, thì cũng là một hy sinh cho chủ nghĩa cộng sản thế giới. Nếu cần thì cũng nên hy sinh. Mà không hy sinh thì cũng không được, các quan thầy bắt ép làm chiến tranh để gây suy yếu cho thế giới tư bản, gây chia rẽ, có lợi cho đại cuộc của quốc tế cộng sản.”

Nghe đến đây, tôi thấy ông phát khởi cộng sản ở Nga Sô trề môi dưới ra có vẻ chế diễu, còn ông trùm Trung Hoa thì nhếch mép khinh bỉ. Tôi hỏi tiếp ông già:

“Ông có còn tin là“ Không có gì quý bằng Tự do không?”

“Thưa Ngài , tôi vẫn còn tin” Ông cụ nói mau. “Sông có thể cạn, núi có thể mòn, niềm tin đó không bao giờ thay đổi. Tự do quý lắm. Biết là quý, nên tôi lấy hết tự do của nhân dân, chỉ còn dành cho họ tí ti thôi, rất ít thôi, để họ ngoan ngoãn tuân phục tuyệt đối. Nếu không, thì tôi lấy thêm mất cái tí ti còn lại, thì hoàn toàn hết tự do, khổ lắm. Những điều đó tôi học rất thuộc từ thầy truyền cho. Đại khái là “ bạo lực cách mạng”, “chuyên chính vô sản”.”

Tôi hỏi thêm:

“ Thật là vô sản không? Sao các ông lãnh tụ nào cũng sống đế vương, dâm dật, phung phí?”

Các trùm không được hỏi nhưng cũng nhao nhao lên đồng điệu:

“Phải nói thế để gạt những kẻ nhẹ dạ, gạt nông dân thợ thuyền ngu dốt, mới đưa họ vào tròng được. Không thì ai theo mình?”

Tôi thở dài chán nản. Cựu Diêm Vương nói nhỏ với tôi rằng: “Bọn chúng có tiền thân là quỷ cả. Thứ quỷ dữ dằn nhất. Được sai xuống trần gian gây tai họa”. Tôi nghĩ rằng, Thượng Đế bất công khi dùng lũ quỷ này để trừng phạt nhân gian. Bọn họ gây khổ đau cho toàn dân, từ người tốt đến kẻ xấu. Những người có lòng, thì khốn đốn cơ cực sống với bọn chúng. Những kẻ xấu xa thì theo bè đảng quỷ, cho nên bớt cơ cầu hơn.

Tôi cho gọi ông già râu viết chủ thuyết quỷ đến hỏi tội. Ông phân trần:

“Tôi nguyên là một nhà báo, cảm được cái đau khổ của thợ thuyền bị bóc lột, viết lên những suy nghĩ cá nhân. Ước mơ xã hội được đổi thay. Những ý nghĩ của tôi thì đúng vào cái thời điểm tôi viết ra. Tôi không ngờ những điều tôi viết, đã được bọn quỷ sứ khốn nạn này dùng để lừa gạt thế giới, gây đau khổ cho nhân loại, làm đau đớn, chết chóc, âu lo, cơ cực cho cả tỷ người trên thế giới bao nhiêu năm. Dù sao tôi cũng vô tình tiếp tay cho chúng, tội lỗi của tôi cũng tầy đình, khó tha thứ. Tôi xin hoàn toàn nhận tội và nhận hình phạt. Nhưng cúi xin Ngài, cho tôi được bớt cực hình. Đau đớn quá. Thảm khốc quá.”

Tất cả bọn họ đều nằm rạp xuống, đập đầu binh binh lên sàn, xin được bớt hình phạt. Rồi lại khóc rống lên thảm thiết. Tôi thấy phía dưới những ông trùm, là người đàn bà cầm đầu “Tứ Nhân Bang” trong cách mạng văn hóa ở Trung quốc, tôi định kêu lại hỏi mấy câu, nhưng sực nhớ bà đã vỗ háng trước phiên tòa xử bà khi bị truất phế. Tôi sợ bà làm ẩu, mất mặt nên lờ đi.

Tôi nhìn quanh địa ngục, thấy nơi nào cũng đầy tiếng kêu la thảm thiết, đau đớn, khóc gào. Những hình phạt dã man, tàn bạo. Con người ở thế gian còn nhân đạo hơn gấp triệu lần. Con người ở thế gian dù có kẻ xấu, người tốt, nhưng không có luật lệ nào cho phép ra tấn nhục hình. Tôi lớn tiếng truyền ngưng tất cả những hành hình, làm lũ quỷ ngơ ngác, và tội nhân cũng ngạc nhiên không kém. Tôi đứng dậy, và nói, tiếng của tôi vang khắp chín từng địa ngục, vang khắp ra xa ngàn ngàn dặm:

“Ta là tân Diêm Vương! Truyền phán cho tất cả biết, luật lệ ở đây đã cũ cả triệu năm, không còn hợp thời nữa. Cần được thay đổi, sửa chữa. Trong khi chờ đợi, tất cả những cuộc hành hình đều tạm ngưng.” Nói đến đây thì tiếng reo vui khắp chín tầng địa ngục vang dội. “Tất cả quỷ đầu trâu mặt ngựa đầu phải tụ họp lại ở tầng thứ chín để chờ lệnh mới. Tất cả tội nhân đều được tự do đi lại, thăm viếng nhau, gặp gỡ, chuyện trò. Ta tin rằng, không còn ai muốn gây rối nữa.”

Cựu Diêm Vương mặt mũi tái mét, chạy đến bên tôi, ông gào lớn:

“Phá hoại hay sao? Làm loạn? Xưa nay làm gì có chuyện như thế này? Ngươi lãnh hết trách nhiệm đó!”

“Thưa cựu Diêm Vương”, tôi ôn tồn nói, “con người trên thế gian được tạo nên, gồm cả tốt và xấu lẫn lộn. Con người phải chiến đấu trường kỳ với cuộc xung khắc tốt xấu trong lòng. Khi cái xấu thắng, thì họ làm bậy. Tội lỗi nào cũng có thể được tha thứ, không ai hoàn toàn xấu, mà cũng không ai hoàn toàn thánh thiện. Dùng cực hình để trừng phạt tội lỗi là một điều sai lầm. Cần được bãi bỏ.”

Tôi truyền quỷ sứ phá bỏ đồng chông, lấp hố vạc dầu, phá tan hỏa ngục, phá nát và đem chôn tất cả hình cụ, những thứ vũ khí của quỷ sứ địa ngục đều bẻ gẫy, phá vỡ hết. Chỉ trong chớp mắt, toàn thể địa ngục đều thay đổi hẳn. Không còn tiếng đau đớn kêu gào, không còn hình phạt nào nữa cả. Không ai bảo, mà các nhạc sĩ làm đủ thứ nhạc cụ, đàn ca vang rân, thi sĩ làm thơ ngâm nga, những họa sĩ vẽ tranh và nơi các môn thể thao tràn ngập. Con người không cần lo cơm áo, mà quyền hành thì không ai dám tơ tưởng nữa, vì đó là đầu mối của mọi hệ lụy, khổ đau. Cho nên tất cả đều lo vui chơi thôi.

Trên một sân rộng mênh mông, nhạc trống rập rình, nhạc công cả ngàn người, đủ các thứ nhạc cụ đang hòa tấu, thiên hạ nhảy múa theo nhịp điệu. Cựu Diêm Vương ở trần, mang xà lỏn dài đến đầu gối, lông ngực xồm xoàm, đang dẫn vợ nhảy một bản Tango ở cuối sân, mùi mẫn. Quỷ sứ đầu trâu mặt ngựa cũng nhảy múa, chơi nhạc. Nhảy nhót mệt thì nằm nghỉ, xuống sông tắm, bơi lội, chơi xuồng, rồi nghe ngâm thơ, kể chuyện. Đàn ông, đàn bà rủ nhau tụ họp, chuyện trò, vui chơi không mệt mỏi. Nơi đây không còn sự sinh nở, không có ai chết, không đói rét, không khổ đau, không có tiền bạc, không có danh vọng để đua tranh, không có quyền hành để tham vọng. Ai ai cũng chỉ vui chơi thỏa thích. Không âu lo chuyện gì cả.

Tôi truyền phá hủy cả ngai vàng của Diêm Vương, và đốt luôn cái áo bào Diêm Vương thành tro bụi. Tôi ngồi xổm ở vực thềm, nhìn thiên hạ vui chơi, và chợt nhớ vợ, nhớ con, nhớ bạn bè. Tôi chợt mừng, vì những người thân của tôi, nếu có chết đi, may về thiên đàng thì thôi, có xuống địa ngục cũng được vui chơi, khỏi bị hành hình đau đớn, cực khổ. Tôi ngồi nhìn rộng ra cả vương quốc địa ngục, thấy mấy ông bạo chúa, lãnh tụ, đang tụm năm tụm bảy đánh bài tây, người nào thua thì bị búng vào trái tai. Họ cũng vui cười thoải mái, không ông nào toan tính cuộc khởi loạn, cách hoặc tranh giành. Xa hơn nữa, trên sân nhảy, hàng ngàn phụ nữ nhan sắc mỹ miều, người thì ăn mặc hở hang, phơi đùi, phơi ngực, đang õng ẹo múa máy, người thì ăn mặc theo lối xưa mấy trăm năm trước, họ cũng múa quạt, múa lụa. Cựu Diêm Vương mệt thở hổn hển sau khi nhảy một bản nhạc “rock and roll”, đến ngồi bên tôi. Ông chỉ cho tôi biết bà nào là Tây Thi, bà nào là Bao Tự, Dương Quý Phi, Viên Viên, Cleopatre … Tôi hỏi ông tại sao đàn bà đẹp ở địa ngục đông đảo? Ông cho biết không có bà nào đẹp mà được về thiên đàng cả. Ở thiên đàng toàn là đàn bà xấu xí hoặc có nhan sắc tầm thường. Tôi hỏi ông, có khi nào động lòng tà dâm hay không, khi đàn bà đẹp đẻ vây quanh? Ông rùn vai lại và bảo rằng chán lắm, nhan sắc họ thì nghiêng nước nghiêng thành, nhưng khi đã biết rõ cuộc đời họ, thì cũng ớn tận cổ. Chỉ những tên ngu dại mới đâm vào lãnh đầu máu.

Quay về chốn cũ?

Một đám đông mấy ngàn người sắp đi về trần gian đầu thai, đến năn nỉ tôi xin ở lại địa ngục, khỏi về lại làm kiếp người. Tôi bảo ai muốn làm gì thì làm, muốn ở thì ở, muốn đi thì đi. Tất cả bọn họ vui vẻ xin ở lại với các cuộc chơi đang dang dở. Thực ra, thì tôi chẳng còn quyền hành gì nữa, mang cái hư vị mà thôi. Đám đầu trâu mặt ngựa quỷ sứ, xem như quân đội, đã được giải tán. Ngai vàng đã phá, áo bào đã đốt, ấn tín đã quăng bỏ.

Tôi được thông báo là có thiên thần do Thượng Đế sai xuống thanh tra địa ngục. Việc thanh tra định kỳ nầy, mấy trăm năm một lần. Hai ông thiên thần mặc áo trắng, ôm một cặp giấy tờ dày cộm và cầm một cái hộp nhỏ như bao diêm. Cái hộp này có thể ghi lại tất cả dữ kiện trong trời đất và phát ra mau lẹ chớp choáng. Một ông thiên thần da đen, một ông da trắng. Hai ông nhìn tôi và Cựu Diêm Vương với ánh mắt bất bình. Sau khi nghe tôi giải thích, vị thiên thần da đen ra sàn nhảy nhạc “rock” cùng với đám nam nữ đang nối hàng dài, vị thiên thần da trắng thì xin ra nhập đội banh đá. Họ vui chơi, tham gia từ nhóm này qua nhóm kia. Họ bảo ở địa ngục vui quá, không muốn trở lại trời nữa. Ở thiên đàng thì chỉ có thong thả, vô lo, nhàn rỗi, lơ lửng… nhàm và chán lắm. Địa ngục có đủ thứ vui chơi, rượu cũng ngon hơn, đàn bà cũng đẹp hơn, nhạc cũng sống động hơn, thơ văn cũng đa dạng hơn.

Hai vị thiên thần mảng vui chơi, cho tới khi nhận được công điện thứ tư của thượng đế, mới thu thập dữ kiện, và chào ra về với vẻ luyến tiếc, vừa đi vừa ngoảnh đầu trông lại.

Hai vị thiên thần vừa về không lâu, thì ầm ầm một phái đoàn từ Thượng Giới xuống bắt tôi và Cựu Diêm Vương về hỏi tội. Cựu Diêm Vương mặt xanh như tàu lá, run run nói với tôi:

“Tất cả mọi chuyện đều do cậu đặt bày ra cả? Tôi không chịu trách nhiệm đâu! Cậu liệu sao mà trả lời với thượng đế cho trôi chảy. Lần này thì chết cả đám.”

Thiên thần giục tôi mang áo bào, đội vương miện, mang hia để đi gấp. Tôi bảo áo mão đã bị đốt hết. Thôi thì có sao mặc vậy. Tạm thời nhét cái áo nhàu nhò quần và đi đôi dép đứt quai. Còn cựu Diêm Vương thì chân đất mang xà lỏn, kiếm được cái áo cánh không tay rách khoác tạm. Chỉ thoáng chốc, chúng tôi đã đứng trước sân rồng của Thương Đế. Tôi thấy Thượng Đế mặt phương phi đỏ ửng, có lẽ ông cũng bị áp huyết cao, Thượng Đế có vẻ giận lắm, đến nỗi nói cà lăm mà xỉ vả chúng tôi:

“Kìa! Dơ dáy quá! Xấu hổ quá! Trông chẳng khác chi hai đứa không nhà lang thang ngủ đầu đình xó chợ. Áo Mão hia giày đâu? Ai cho phép các người xáo trộn trật tự đã bày ra từ thuở khai sinh trời đất? Tại sao?”

Cựu Diêm Vương run rẩy chỉ vào tôi. Đổ hết tội lỗi cho tôi. Phần tôi thì cũng lo lắng thật, nhưng cũng biết không thể làm gì khác. Tôi thong thả trình bày đại ý rằng, luật lệ đã xưa cũ, không hợp thời nữa. Hình phạt quá tàn nhẫn, khắt khe, án quá nặng và quá lâu. Lỗi lầm nào cũng có thể tha thứ. Đau đớn thể xác chỉ gây sợ hãi chứ không cảm hóa được ai. Những người đang ở địa ngục hôm nay, đều đã nhận ra tội lỗi của họ, và không ai muốn tái phạm nữa. Họ đang vui thực sự với đời sống sung sướng ở địa ngục. Thượng Đế vẫn chưa nguôi giận, hình như Ngài chẳng thèm để ý đến lời biện bạch của tôi. Ngài nhìn thấy cái vòng khâu trên trái tai của cựu Diêm Vương mà nhăn mặt khó chịu. Ngài lẩm bẩm:

“Dơ dáng dạng hình, còn bắt chước lũ nhóc xâu vòng tai! Chẳng còn cái thể thống chi cả. Nghe theo lời thằng phản loạn làm đảo lộn trật tự.”

Thượng Đế ho một chuỗi dài, tiên nữ đứng hầu bưng cái ống nhổ bằng ngọc, Ngài khạc cục đàm xanh lè, to tướng, nhổ toẹt vào ống. Ngài khản giọng chỉ vào tôi phán:

“Thằng giặc con này! Phá rối trật tự trời đất. Tội ngươi lớn lắm. Nếu địa ngục mà sung sướng vui chơi như vậy, thì lấy ai để trị tội những kẻ tội lỗi ở thế gian? Như thế thì sinh đại loạn. Mà thế thì bất công với những kẻ được rước về thiên đàng. Ngay cả thiên thần đi thanh ra, cũng ham vui muốn ở luôn địa ngục, không muốn về. Vui thế thì chính ta cũng ham nữa, nói chi kẻ khác. Ta tuyệt đối cấm ngươi lảng vảng cách địa ngục hai triệu dặm, mà… mà, dĩ nhiên ngươi cũng không được phép ở thiên đàng. Ta cũng ngại ngươi tuyên truyền phản động.”

Rồi ngài phán cấp phát áo mão giày hia cho Cựu Diêm Vương, buộc trở về địa ngục, tái lập trật tự, xây dựng lại địa ngục y như cũ, không được đổi khác. Cựu Diêm Vương ra đi, còn quay lại nháy mắt với tôi. Đi một quãng xa, tôi thấy Cựu Diêm Vương đưa ống tay áo quẹt nước mắt.

Tôi nhìn qua bên đám thiên thần đang đứng xem, nhận diện được hai vị đã xuống đón tôi lần trước, và họ đã tranh nhau với quy sứ , tôi mỉm cười cúi mình chào, hai vị quay mặt đi, vờ như không quen biết, có lẽ hai ông cũng sợ liên lụy chăng?

Theo lệnh Thượng Đế, mười hai thiên thần xốc nách áp tải tôi về trần thế! Chỉ nhấp nháy đã đưa tôi len qua cửa, vào nhà. Trong nhà vắng ngắt, đồ đạc bừa bãi. Cái xác của tôi cũng không còn nằm đó nữa. Vị thiên thần đầu đàn đưa tay lên mắt, như cầm ống dòm nhìn quanh, rồi ra dấu xốc nách tôi đi. Họ đưa tôi đến nhà đòn đám tang. Tôi thấy cái xác tôi nằm trong hòm, mang kiếng cận, mặt mày tô son trát phấn, bà con và bạn bè tôi xếp hàng dài buồn bã, để đi qua nhìn tôi lần cuối. Vợ con tôi xanh xao phờ phạc mang áo tang. Hai vị thiên thần ném cái hồn tôi nhập vào xác.

Tôi lồm cồm ngồi dậy từ trong quan tài. Vợ con tôi, bạn bè, sợ hãi la thét đạp nhau chạy. Vị sư tụng kinh cũng quăng chuông mõ chạy rách cả áo cà sa. Mấy ngọn đèn cầy bập bùng cháy. Tôi khát như cháy cổ, nhổ ra mấy hạt gạo và một khâu vàng. (Có lẽ gia đình đã nhét vào mồm tôi theo tục lệ cũ). Tôi lạng quạng bước xuống sàn, đến vòi nước uống một hơi đã khát.

Chung quanh tôi vắng ngắt, mọi người đã cao chạy xa bay, dép rơi ngổn ngang trên sàn. Tôi chóng mặt ôm đầu. Một lúc sau mười xe cảnh sát hú còi inh ỏi vây quanh. Mười mấy cảnh sát núp sau xe, mặt mày căng thẳng nghiêm trọng, chĩa mũi súng run run về phía tôi. Tôi đưa tay vẫy chào và toét miệng cười. Vài ông cảnh sát hết hồn làm cướp cò súng nổ. Tôi lẩm bẩm buồn bã: “ Thiên đàng không nhận, địa ngục không dung, đâu có chuyện phải sống đời đời trên thế gian này?”

Tràm Cà Mau

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Mặc Áo Diêm Vương _ Tràm Cà Mau –

Đừng Hỏi Vì Sao? (Fb Ngô trường An

ĐỪNG HỎI VÌ SAO!

(Fb: Ngô trường An): Ông thủ tướng NXP đặt câu hỏi: “Tại sao người Việt thông minh, rất thông minh; nhưng, đất nước còn nhiều người khổ, rất khổ”?

Đây là một câu hỏi hay, nhưng chẳng biết với cương vị của ông, ông đặt ra câu hỏi này để hỏi ai? Hỏi Bộ chính trị? Hỏi Trung ương đảng? Hay hỏi nhân dân??

Nếu câu thắc mắc này ông dùng để hỏi nhân dân, thì, với tư cách là một người dân, tôi sẽ nêu lên ý kiến giải đáp thắc mắc của ông. Tất nhiên, đây là quan điểm của cá nhân tôi, chứ tôi không dám đại diện cho toàn dân.

Ông hỏi: “tại sao dân tộc Việt thông minh, nhưng nước Việt lại nghèo”? Cả 2 vế này đều đúng. Bởi, khi ta vào google gõ cụm từ người Việt thành công ở hải ngoại, hoặc các chính khách gốc Việt ở nước ngoài, thì google sẽ cho ra hàng trăm kết quả. Trong đó có đầy đủ các nhân tài gốc Việt trong mọi lĩnh vực, như: chế tạo thành công bom áp nhiệt; đóng mới Hàng Không Mẫu Hạm tối tân nhất thế giới; nghiên cứu ngăn, không cho bệnh ung thư phát triển; phát hiện thêm các thiên hà trẻ nhất trong vũ trụ, phát minh ra máy ATM…. Nói chung, từ khoa học, y học, thiên văn học, toán học, hội họa…lĩnh vực nào cũng có người Việt. Ngoài ra, còn rất nhiều nhà chính trị, tướng lĩnh, chính khách….nắm giữ các chức vụ ở những quốc gia hùng mạnh như Mỹ, Đức, Úc….

Đấy, người Việt ở hải ngoại họ thông minh, giỏi giang như thế. Còn trong nước thì sao? Với phương châm ngầm trong giới lãnh đạo từ trung ương xuống tận địa phương là: giỏi hơn ai, tài hơn ai cũng được. Nhưng, không được tài giỏi hơn lãnh đạo”?!

Chính phương châm hẹp hòi, nhỏ nhen, ích kỷ này đã gieo họa và hành hạ biết bao nhiêu nhân tài trong nước. Điển hình như cha con ông Trần Quốc Hải đã mày mò nghiên cứu chế tạo thành công máy bay trực thăng để xử dụng trong lĩnh vực phun thuốc trừ sâu, sản xuất nông nghiệp. Thế nhưng, cha con ông cầm dự án xin cấp bằng sáng chế, chạy tới, chạy lui cầu xin các cơ quan công quyền cả hàng chục năm trời, nhưng cuối cùng, chẳng ma nào đồng ý. Uất ức, cha con ông cầm bản vẽ qua bán cho bộ quốc phòng Campuchia, được chính phủ Campuchia ưu ái trọng dụng và họ lập tức tặng thưởng cho cha con ông huân chương Đại Tướng Quân (loại huân chương danh giá nhất của hoàng gia Cam).

Vậy đấy! Không chấp nhận người tài hơn mình đã đẩy biết bao nhiêu tinh hoa dân tộc bỏ xứ ra đi, và các tinh khôi của olympic đi du học cũng chẳng ai muốn trở về phục vụ đất nước.

Một đất nước mà lãnh đạo không muốn ai tài giỏi hơn mình thì đất nước đó làm sao có cơ hội phát triển?

Một đất nước mà bọn tội phạm đứng lên rao giảng đạo đức, in sách ca tụng băng nhóm của mình. Còn bác sỹ, kỹ sư, luật sư, nhà giáo, nhà báo, cha đạo, thầy chùa và những tri thức nhiệt huyết với đất nước đều bị tống vào tù vì họ muốn góp ý xây dựng chính sách, chủ trương để đưa đất nước phát triển?

Một đất nước mà lãnh đạo đòi chống ngập bằng Lu; đòi kéo đám mây điện toán của xứ khác về nhà mình làm của hồi môn; đòi kéo não người Việt ở lại trong ao làng; đòi áp dụng tư tưởng người đã chết cách đây hơn nửa thế kỷ làm mô hình phát triển kinh tế cho thời đại công nghệ 4.0; đòi nơi này giống Paris, nơi kia như Kyoto, nơi nọ thành Singapore… toàn mơ mộng thành bọn tư bản, trong khi đó mình quyết đi theo con đường cộng sản….

Một đất nước mà lãnh đạo không có lập trường ổn định, lúc ngã bên này, lúc dựa bên kia, đu dây, chàng hảng, ngã ngớn như con đĩ. Xây dựng mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nó giống như nửa thiên đàng, nửa địa ngục chẳng giống ai, thì đất nước phát triển theo hướng nào?

Tóm lại, đất nước giàu mạnh không hẵn nhờ dân tộc đó thông minh. Hoặc, đất nước nghèo nàn không hẳn là dân tộc đó bạc nhược! Cùng là người Hoa, nhưng dân Hongkong, Đài Loan, Trung Quốc trình độ nhận thức khác nhau, mức sống khác nhau. Cùng là người Triều Tiên, nhưng dân Nam Hàn và Bắc Hàn có mức sống giàu nghèo khác nhau. Điều này chứng minh rõ rằng, dân tộc đó giàu hay nghèo, mức sống thấp hay cao đều do lãnh đạo và đường lối chính trị của đất nước đó. Dù rằng, dân tộc họ không thông minh, nhưng đất nước họ biết trọng dụng nhân tài của nước khác để làm giàu cho họ như trường hợp của Campuchia xử dụng nhân tài VN, đó mới là điều đáng nói.

Mỹ, biết tận dụng trí tuệ của bà Dương Nguyệt Ánh để giải quyết thành công chiến trường Trung Đông; biết xử dụng chất xám của bà Giao Phan để sở hữu Hàng Không Mẫu Hạm tối tân nhất thế giới; biết trọng dụng các nhân tài bất kể màu da, sắc tộc trong nhiều lĩnh vực để đem lại sự vững mạnh toàn diện cho đất nước họ.

Kết: đất nước phát triển, dân tộc ấm no hoặc, đất nước tụt hậu dân tộc đói nghèo đều do ở đường lối chính trị và trí tuệ của người lãnh đạo ở đất nước đó. Vậy, ông thủ tướng đừng có có đặt câu hỏi VÌ SAO nữa nghe. Dị* lắm ông ạ!

‐———————————————–

*Dị (tiếng Quảng Nam đồng nghĩa với xấu hổ)

(Fb: Ngô trường An)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Đừng Hỏi Vì Sao? (Fb Ngô trường An

Gả Con Cho Giặc – Tác giả Nguyễn Thị Thanh Dương

Gả con cho giặc

-Nguyễn Thị Thanh Dương ..

Cô Lạc báo tin cho cha mẹ là sẽ về thăm Việt Nam cả tháng nay thì cả tháng nay anh chị Siêu mừng vui đến mất ăn mất ngủ.

Phen này thì cả làng An Bình sẽ lên cơn sốt như cách đây 3 năm họ đã lên cơn khi biết cô Lạc nhà quê nhà mùa, trình độ văn hóa lớp 6 kết hôn với một ông kỹ sư người Mỹ.

Nhà anh Siêu nghèo, mấy sào ruộng nhà nước chia theo tiêu chuẩn đầu người không đủ cho hai vợ chồng cầy cấy nuôi 3 đứa con, anh đi bộ đội về cảnh nhà eo hẹp nên lấy vợ trễ, con còn nhỏ.
Cô Lạc lớn nhất nhà đã được bố mẹ gởi gấm theo vài người anh em họ vào thành phố Sài Gòn làm ăn.
Trong làng, nhà nào cũng có người vào Nam kiếm sống nên đồng hương cũng giúp đỡ nhau nói chi là họ hàng.

Lạc xin vào làm cho một hãng nhựa tư nhân ở Chợ Lớn, ngày làm 12 tiếng, một tuần làm 6 ngày quần quật cực nhọc không thua gì làm ruộng nương nơi quê nhà.
Ăn dè để dành mỗi năm Lạc cũng tom góp được chút tiền gởi về quê phụ giúp cha mẹ nuôi hai em, còn Lạc không dám mơ đến chuyện về thăm quê, bởi tiền tàu xe từ Nam ra Bắc sẽ ngốn hết những đồng tiền để dành ít ỏi ấy.

Đột nhiên người anh họ tên Chu của anh Siêu từ Mỹ về thăm quê hương, người anh họ mà anh Siêu chưa bao giờ biết mặt vì cách ngăn bởi vĩ tuyến 17 giữa hai miền Nam Bắc.

Năm 1975 từ Sài Gòn anh Chu cùng gia đình di tản qua Mỹ, sau bao nhiêu năm yên ổn cuộc sống nơi xứ người anh Chu mới thể theo lời trăn trối của người cha già trước khi nhắm mắt là hãy về thăm lại quê quán, tìm gặp người thân nơi miền Bắc.
Thấy cảnh nhà anh Siêu nhà xiêu mái dột, con cái nheo nhóc tương lai là cày thuê cuốc mướn đói nghèo, anh Chu thương cảm cho thêm quà, thêm tiền.
Chợt nhìn thấy tấm hình cô con gái lớn anh Siêu đóng khung để trên bàn, tấm hình mà Lạc đã chụp ở Sài Gòn làm kỷ niệm gởi về để cả nhà ngắm cho đỡ nhớ, trông cô hiền lành xinh xẻo nên anh Chu chợt nảy ra một ý định là kiếm chồng ở Mỹ cho cô, đó là cách giúp đỡ dài lâu và thiết thực nhất.

Anh Chu mang tấm hình cô Lạc về Mỹ. Làm cùng hãng với anh là một ông kỹ sư Mỹ tuổi trung niên độc thân và cô độc.
Hai người ngồi cạnh nhau nên thân nhau, anh Chu đã đưa hình Lạc ra và ngỏ ý muốn giới thiệu cho ông.

Chuyện cầu may mà thành sự thật, Richard mừng lắm, vì cuộc đời ông đã mấy lần ly dị, lần này lấy một cô gái quê chất phác, dòng máu Á Đông dịu dàng chắc sẽ chung thủy với ông suốt đời.
Hơn nữa, lại là một cô gái trẻ tuổi trinh nguyên và xinh đẹp, thì làm sao mà ông Richard không vui vẻ chấp nhận.

Thế là sau một thời gian trao đổi thêm thư từ hình ảnh giữa ông Richard và Lạc, có anh Chu làm thông dịch cho đôi bên, thì cả hai cùng đồng ý đi đến hôn nhân dù ông Richard lớn hơn Lạc hơn 20 tuổi, nhưng bù lại ông sẽ mang Lạc đi Mỹ, sự trao đổi cũng tương xứng, công bằng cho cả hai.

Anh chị Siêu mừng lắm, đứa con gái nhà anh lấy chồng được đi Mỹ có nằm mơ cũng chả dám, dù là người chồng lớn tuổi, nhưng còn hơn ở lại Việt Nam lấy được thằng chồng trẻ ngang vai phải lứa, cùng nông dân cày cuốc thì cái nghèo đói lại di truyền từ đời vợ chồng Lạc tới con cháu nó không biết đến bao giờ mới ngóc đầu lên nổi.

Để mong thoát cảnh đói nghèo bao nhiêu con gái quê Việt Nam phải lấy chồng ngoại Đài Loan, Đại Hàn hay Trung Quốc, mà phần nhiều là chồng già hay có vấn đề về sức khỏe, sung sướng thì ít, đau thương thì nhiều, chứ dễ gì lấy được chồng Mỹ và đi Mỹ, cái đất nước nổi tiếng to đẹp, hùng mạnh nhất thế giới.

Ông Richard và anh Chu cùng về làng An Bình. Đám cưới Richard và Lạc sẽ diễn ra ở đây.

Đột nhiên họ hàng, làng xóm thấy anh chị Siêu phát lễ hỏi như dân phố Hà Nội là trầu cau, trà sen, bánh xu xê, bánh cốm trong hộp có giấy bóng kính màu đỏ và thiệp cưới in đẹp đẽ đến từng nhà, ai cũng kinh ngạc vì quà đám hỏi to quá.

Tin Lạc sắp lấy chồng Mỹ như một quả bom vừa pháo kích vào ngôi làng bé nhỏ êm ả này.
Đám cưới diễn ra ai được mời cũng không từ chối, vì ai cũng tận mắt muốn xem mặt thằng chú rể người Mỹ của làng An Bình.

Sau đám cưới ông Richard về lại Mỹ làm giấy tờ bảo lãnh Lạc. Cả làng xôn xao bàn tán, khi thì ở trên bờ đê lúc tạm ngừng làm ruộng, khi thì trong hàng chè xanh nơi đầu làng:
– Con Lạc sắp đi Mỹ rồi. Sao số nó sung sướng thế nhỉ?
– Ôi giời, lấy thằng giặc Mỹ mà hãnh diện à? Bố con Lạc từng là anh hùng diệt Mỹ thời chiến tranh chống Mỹ Ngụy đấy nhé
– Nghe nói chồng nó là kỹ sư cơ đấy?
– Phô trương thế thôi, ai biết đâu mà kiểm chứng? Có khi là thằng Mỹ đầu đường xó chợ cũng nên?
– Chưa biết chừng nó mang sang Mỹ bán cho động mãi dâm như bọn buôn người qua Trung Quốc đấy. Phúc đâu chưa thấy, họa lại mang vào người.
Một ông có vẻ hiểu biết, phản đối:
– Đời nào có, tôi chưa nghe chuyện gái Việt Nam lấy Mỹ bị bán vào động mãi dâm bao giờ.
– Bọn Mỹ là ác lắm, việc gì chúng chẳng làm….
Ông kia tiếp tục khoe sự hiểu biết:
– Các bác không đọc báo, nghe đài à? Ta và Mỹ bây giờ là bạn rồi, có cái tàu Mỹ đến thăm Việt Nam và Hải Quân ta ra tận tàu Mỹ nghênh tiếp nữa mà.
Rồi lại có cái tàu gì to lắm, có chỗ cho máy bay đỗ và đáp cơ đấy, cũng sang thăm Việt Nam và phe ta lên tàu tham quan thích lắm.
Giọng đàn bà nhà quê đanh đá:
– Gớm, to lớn mấy cũng bị bộ đội ta diệt thời chống Mỹ rồi. Mỹ vẫn là thằng giặc thua trận.

Ông “hiểu biết” giảng giải chuyện đời miễn phí:
– Biết đâu là bàn cờ thế cuộc, chứ họ văn minh thế kia mà. Nay thời thế đã đổi khác, bạn hóa thù, thù thành bạn.
Xưa Trung Quốc là bạn hàng xóm gần gũi thân yêu của ta, như “môi và răng” môi hở thì răng lạnh, từng giúp đỡ ta trong chiến tranh. Nay bạn hại ta đấy thôi, từ chuyện kinh tế, hàng hóa đồ dùng Trung Quốc ồ ạt sang Việt Nam để giết chết ngành công kỹ nghệ sản xuất của ta, cả trái cây Trung Quốc như nhãn, vải, táo, cam cũng lấn chiếm thị trường nông sản Việt Nam làm thiệt hại các nhà trồng vườn, đến chuyện lấn chiếm vùng đất, vùng biển Hoàng sa, Trường Sa. Họ đã hiếp đáp, bắt giữ tàu và ngư dân đòi tiền chuộc hoặc làm chết ngư dân mình.

Một bà rụt rè lẩm bẩm:
– Ừ nhỉ, lúc này đi đâu cũng thấy hàng hóa Trung Quốc, mà nghe nói toàn là hàng độc hại. Trông mẫu mã đẹp mắt mà chết người.
Những lời dị nghị, đồn đãi không hay đã đến tai vợ chồng anh Siêu, anh chị vừa tức giận vừa xấu hổ chẳng biết đường nào mà phân bua, mà cãi..
Trong làng có bà tên Cào, tên thật của bà người ta không thèm gọi mà chỉ gọi bằng cái tên nghề nghiệp vì bà chuyên nghề đi thuyền cào tôm, cá ngoài sông.
Bà gặp chị Siêu đã mát mẻ mỉa mai:
– Sướng nhé, có con gái gả cho Mỹ rồi tha hồ mà hưởng quà đế quốc Mỹ. Nhưng con gái tôi thì không thèm đâu, thà ở làng quê này đi cào cá cào tôm như cha mẹ nó, tuy nghèo mà có tình quê hương, chẳng phải lệ thuộc thằng nước ngoài nào cả.
Chị Siêu nén giận cười gượng:
– Vâng, mỗi người một hoàn cảnh. Chúng tôi có dám mơ ước cho con gái lấy Mỹ bao giờ đâu, chẳng qua bác nó ở Mỹ muốn giúp đỡ.

Lạc được Tòa Lãnh Sự Mỹ gọi phỏng vấn và bị từ chối. Thời điểm này chính phủ Mỹ khám phá ra mấy vụ người Việt Nam và người Mỹ bản xứ kết hôn với người bên Việt Nam là “dịch vụ” lấy tiền để đưa người từ Việt Nam nhập cư vào Mỹ nên họ nghi ngờ và cho “rớt” khá nhiều.
Anh chị Siêu và Lạc lo lắm, Lạc không đi Mỹ được thì dân làng lại có đề tài mà mỉa mai châm chọc thêm cho đáng đời kẻ ham muốn gả con cho giặc Mỹ, chứ chắc gì họ buông tha?

Ông Richard đã làm đơn khiếu nại, gởi bổ sung thêm những chứng cớ cần thiết và Mỹ phỏng vấn Lạc lần thứ hai đã chấp nhận hồ sơ cho Lạc được đi Mỹ đoàn tụ với chồng.
Anh chị Siêu mừng rối rít, gọi điện hỏi thăm anh Chu là ông Richard đã “chạy” đường dây nào mà hay thế? tốn phí hết bao nhiêu tiền?

Tội nghiệp anh chị Siêu, từ cha sinh mẹ đẻ quen bị hà hiếp, bóc lột, quen phải hối lộ cho chính quyền từ phường xã tới quận huyện, từ việc lớn đến việc nhỏ, và vì trình độ văn hóa thấp, chỉ quanh quẩn ở làng quê không biết gì ngoài ruộng lúa và lũy tre làng, nên ngây thơ hồn nhiên tưởng ở bất cứ nơi đâu trên thế gian này cũng ăn hối lộ tận tình như quê hương Việt Nam mình.

Anh Chu kể rằng ông Richard chẳng chạy chọt đường dây nào cả, khi có đầy đủ chứng cớ thì Mỹ phải chấp nhận cho đi.
Ngoài ra anh Chu còn kể thêm có những hồ sơ bảo lãnh đã được phỏng vấn và chấp thuận mà người bên Việt Nam vì lý do gì đó chưa muốn đi Mỹ nên chần chờ chẳng tiến hành thêm gì cả, hàng năm Sở Di Trú vẫn gởi giấy nhắc nhở họ có muốn đi Mỹ thì làm tiếp một hai bước thủ tục sau cùng.
Vẫn không có trả lời dứt khoát, cuối cùng Sở Di Trú phải gởi cho người bên Việt Nam một “tối hậu thư” hỏi có muốn đi Mỹ hay không? Nếu không thì lần này Mỹ sẽ đóng hồ sơ.

Anh chị Siêu kinh ngạc quá, ai đời quyền lợi của họ, họ không hưởng thì thôi, việc gì Mỹ phải nhắc nhở họ và hỏi đi hỏi lại mãi thế?
Ở Việt Nam, có mà cầu cạnh, đút lót cả đống tiền chưa chắc mua được sự việc như ý, dù mình có cả tỷ lý do vô cùng chính đáng.

Lạc đi Mỹ được hai năm thì tiền bắt đầu gởi về cho cha mẹ xây sửa nhà cửa, vì Lạc đã đi làm nail nên có tiền riêng tha hồ gởi giúp gia đình, người chồng Mỹ của Lạc, với đồng lương sung túc của mình, chỉ cần Lạc đẻ cho ông một hai đứa con và chung thủy suốt đời là hạnh phúc rồi.

Hàng xóm họ hàng càng bàn tán, càng vu khống nhiều hơn, dù chị Siêu đã mang ra khoe với họ những tấm hình vợ chồng Lạc và 1 đứa con của họ.
– Tiền gởi về cho bố mẹ nhiều thế này đích thực là tiền làm gái mà ra chứ của đâu sẵn thế?
– Ừ nhỉ, làm gì mà ra tiền nhanh thế nhỉ?
– Nhưng bà Siêu có khoe hình con Lạc chụp với thằng chồng Mỹ, cái thằng đã về làng cưới nó hẳn hòi mà.
Một bà gạt phăng:
– Ối giời ôi, thằng Mỹ nào trông cũng giống nhau, có khi là thằng chồng thứ bao nhiêu rồi đấy?

Những lời dèm pha này lại cố tình đến tai vợ chồng anh Siêu. Nghe những lời ganh tị mấy năm nay anh chị đã quen tai, nhưng anh chị cũng đã thấy vài kẻ trong làng thèm thuồng được như anh chị lắm, khi họ ghé vào thăm ngôi nhà 3 tầng khang trang mới xây trên cái nền đất của căn nhà xộc xệch cũ, khi họ nhìn những tấm hình Lạc đẹp đẽ từ Mỹ gởi về, và thấy cuộc sống vật chất nhà anh Siêu thong thả hẳn ra.
Một người họ hàng bên vợ anh Siêu, ở tận Hà Nội, nhà giàu có, con cái đứa thì bằng cấp đại học, đứa đang chuẩn bị thi vào đại học, mà còn mong ước gả cô con gái lớn cho người Mỹ, các em thì không thèm du học ở Anh, Úc, Gia Nã Đại, mà chỉ thích Mỹ.

Xưa nay anh chị Siêu mấy lần có dịp lên Hà Nội nào dám bén mảng tới nhà họ chơi, vì khoảng cách giàu nghèo và trình độ, nhưng từ dạo Lạc đi Mỹ, từ dạo nhà anh Siêu xây to nhất làng, thì chính người họ hàng đó đã vồn vã mời chào, nhờ thế anh Siêu mới biết được những tâm tư khát khao của gia đình họ và của nhiều người dân thành thị.
Người ta không còn căm thù người Mỹ nữa, giới trẻ đua nhau học tiếng Mỹ, các nhà khá gỉa còn cho trẻ con học tiếng Mỹ từ thuở vỡ lòng song song với tiếng Việt, các cửa hàng, dịch vụ trên phố xá từ Hà Nội đến Sài Gòn, đến các thành phố lớn nhỏ khác đều kèm theo tiếng Mỹ, con gái Việt Nam nhiều người lấy chồng Mỹ rồi, và nhờ thế anh chị Siêu mới vơi bớt mặc cảm tội lỗi gả con cho giặc Mỹ mà một số dân làng An Bình đã ganh tị và ác cảm đổ cho anh chị.

Qua con gái anh chị Siêu đã biết được một nước Mỹ tự do dân chủ, cuộc sống thoải mái..
Lạc kể mua cái ti vi về coi mấy tuần thấy không vừa ý đã đem trả lại tiệm, hay đơn giản có lần Lạc mua một cây Lê trong chợ Mỹ về nhà trồng, cây bị chết sau đó, Lạc đã gọi phone than phiền với chủ tiệm, vậy mà người ta xin lỗi và mời cô đến chọn lại cây lê khác, dĩ nhiên là không phải trả tiền lần nữa và họ cũng không cần Lạc mang bằng chứng cây lê đã bị khô chết kia.
Thật là trung thực, tin cậy lẫn nhau, một xã hội có cuộc sống, có nếp suy nghĩ như thế không biết đến đời kiếp nào Việt Nam mới bắt chước được?

Ở Việt Nam người ta mua gian bán lận, làm hàng giả, lừa đảo khách hàng vì lợi nhuận, vì lòng tham sao cho đầy túi, làm gì có chuyện mua hàng về nhà xài rồi đem trả lại?
Chúng đã không đổi cho mà còn mắng chửi té tát vào mặt. Ngay như mua vàng hôm trước, hôm sau mang ra chính tiệm ấy bán lại, chúng cũng kiếm cách ăn chận, nào là hôm nay vàng vừa mới xuống giá, nào là vàng…hao hụt, để trả giá rẻ, để lời nhiều.

Hàng hóa giả, còn có cả bằng cấp rổm nữa, những anh chị y tá có công với đảng được “đề bạt” học bổ túc chuyên môn là trở thành bác sĩ, hay con ông cháu cha học hành thì ít ăn chơi thì nhiều nhưng chạy chọt vào trường Y khoa, cũng ra trường bác sĩ như ai dù kiến thức thì chẳng bằng ai. Nên các bệnh nhân ở Việt Nam gặp nhiều ‘biến cố” chết người không có gì làm lạ.

Những chuyện đời thường của nước Mỹ mà nghe xong anh Chị Siêu còn giật mình không muốn tin, nếu không do chính con gái anh chị kể ra thì chắc chắn anh chị cho là bịa đặt, là chuyện hoang đường trên trời rơi xuống.
Anh chị dần dần cảm mến nước Mỹ, những nước thuộc thế giới tự do họ có lý tưởng của họ trong chiến tranh, Mỹ có căm thù gì dân Việt Nam đâu mà tàn ác giết hại dân Việt Nam?.

Anh chị thương thằng con rể Mỹ, nó hiền hòa, trung thực, nó đã đổi đời cho Lạc, thương yêu chiều chuộng con gái anh, đối xử tốt với gia đình nhà vợ. Người xấu người tốt ở đâu cũng có, cũng tùy người..
Anh Siêu thấy xấu hổ khi nhớ lại ngày xưa anh đã căm thù đế quốc Mỹ, hình ảnh những người lính Mỹ là tàn ác, ghê gớm, là gieo rắc đau thương cho xóm làng, nhân dân Việt Nam.

Anh đã đăng ký đi bộ đội sớm, khi chưa đủ tuổi để mong tiêu diệt kẻ thù, bằng chứng là tấm giấy khen công anh hùng diệt Mỹ của anh vẫn còn kia, vì anh đã cùng vài người khác tóm cổ được một lính Mỹ đi lạc trong rừng.
Năm ấy anh Siêu mới 18 tuổi, cái tuổi trẻ mới lớn dễ tin người, tin đời. Anh hãnh diện nghĩ mình đã lập được công trạng cho đất nước, cho đồng bào.

Ngày anh chị Siêu mong chờ cũng đã đến. Từ Mỹ vợ chồng Lạc và đứa con về thăm làng An Bình.
Anh chị thuê chiếc xe tải nhỏ ra phi trường Nội Bài đón con cháu.
Xe về làng, về nhà, mấy va ly, mấy thùng quà Mỹ được mở ra, mùi thơm thơm lạ lùng từ một phương trời xa mà cả đời anh chị Siêu chưa được biết đến.

Anh chị hoa mắt sung sướng với đủ những món quà anh chị Siêu đã dặn con gái mua cho, nào kính mát, áo vét cho anh Siêu, nào áo khoác ấm cho chị Siêu, vì mùa Đông miền Bắc dài và lạnh, rồi quà cho các em, họ hàng chú bác, đến hàng xóm láng giềng ít nhất cũng được cục xà bông hay bịch kẹo “sô cô la”, cũng được hưởng mùi qùa Mỹ.

Lần này thì dân làng tận mắt thấy mặt chồng Lạc, vẫn là ông Mỹ cách đây 3 năm. Có khác chăng là bây giờ ông Richard biết nói những câu tiếng Việt thông dụng, ai hỏi thì ông vui vẻ và thân thiện trả lời, giọng nói âm hưởng Mỹ nhưng tiếng Việt Nam ngọng ngịu của ông Richard làm mọi người cười vui.
Họ không thấy ở ông Richard một chút nào hình ảnh thằng giặc Mỹ tàn ác thời chiến tranh mà họ đã nghe qua sự tuyên truyền của đảng vẫn còn ít nhiều trong tâm tư họ nữa.
Lạc thì đổi mới hẳn ra, đẹp xinh với quần áo lụa là sang trọng, không phải là cô Lạc nhếch nhác quần đen ngắn lấc cấc với áo vải ngày nào. Còn đứa con gái của họ vừa có nét thùy mị Việt Nam vừa có nét phương tây mạnh mẽ trông thật dễ thương.

Chị Siêu mang quà của con gái đi biếu hầu như cả làng, đến nhà bà Cào, chị hơi e dè, sợ lại phải nghe những lời mỉa mai. Nhưng lạ chưa, bà Cào đã nắm tay chị Siêu, nói với tất cả niềm chân tình và rất lịch sự:
– Tôi cám ơn chị và cháu lắm. Nhờ chị nói với cô Lạc rằng về Mỹ xem có anh Mỹ nào thì làm mai cho con gái tôi với nhé, tôi còn hai đứa con gái chưa lấy chồng đây. Khổ quá, con lớn nhà tôi lấy chồng cùng thời với cô Lạc, tưởng ở lại làng để làm nghề cào lưới tôm cá cũng đủ sống rồi, ai ngờ khốn khổ chị ơi, bữa đói bữa no. Thà cứ gả quách cho giặc Mỹ… ấy chết, xin lỗi chị tôi cứ quen mồm, thà cứ gả quách cho người Mỹ như cô Lạc nhà chị mà sướng tấm thân và cả nhà được nhờ.

– Vâng, để em bảo cháu. Nhưng chẳng phải dễ đâu, bác nó ở Hà Nội có con gái vừa đẹp vừa học giỏi cũng đang kiếm chồng Mỹ cho con để xuất ngoại đổi đời mà chưa có đám nào.
Bà Cào nài nỉ:
– Thì tôi cứ dặn phòng xa thế, may ra có duyên nợ thì gặp. Chị nhớ nhé?
Chị Siêu về nhà thấy hả hê nhẹ cả lòng, bà Cào là người đanh đá mồm miệng nhất làng mà đã chịu xuống nước, nhìn vào sự thật như thế thì từ đây cả làng cũng sẽ nguôi ngoai, không ai có lý do gì để động chạm đến việc Lạc lấy chồng Mỹ, hay kết tội anh chị gả con cho giặc Mỹ nữa.

Gia đình Lạc ở làng quê An Bình chơi 4 tuần, ông Richard theo vợ đi chơi khắp làng, đến thăm họ hàng, hàng xóm. Đến nhà nào ông Richard cũng chào hỏi tử tế bằng mấy câu Việt Nam thấy mà thương.
Đến ngày trở về Mỹ, chiếc xe tải nhỏ lại được thuê chở khách Việt Kiều ra phi trường Nội Bài.
Anh chị Siêu kể cho họ hàng và những nhà hàng xóm thân rằng sang năm Lạc có quốc tịch Mỹ và sẽ làm đơn bảo lãnh cha mẹ sang Mỹ định cư.
Tin này đã nhanh chóng lan ra cả làng, ai cũng nói là vài năm nữa cả nhà anh Siêu sẽ sang Mỹ đoàn tụ với con gái. Cái nhà ấy có phước to.

Có người thật tình, có người vì tò mò đến nhà anh Siêu chơi để nghe thêm chuyện. Họ thấy trên tường, nơi phòng khách trang trọng nhất, nơi mà từ hồi căn nhà cũ, trên vách tường cũ vẫn treo tấm giấy khen “Anh hùng diệt Mỹ” đóng khung, lồng kính và đã bạc màu hoen ố theo thời gian của anh Siêu không còn nữa, mà thay thế vào là khung hình mới tinh, trên bức tường cũng mới tinh, hình gia đình cô Lạc, cô với người chồng Mỹ và đứa con gái của họ, thật là đẹp và hạnh phúc chứa chan.

Nguyễn Thị Thanh Dương

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Gả Con Cho Giặc – Tác giả Nguyễn Thị Thanh Dương

Cách Dạy Con Của Các Người Mẹ Do Thái

Chọn quả lê xấu và bài học đắt giá
về cuộc đời của bà mẹ người Do Thái
có 3 con là tỷ phú.

photo-3-162056696785668159136

photo1620567156707-16205671572931000817989Sara đã một tay nuôi 3 người con khôn lớn
và trở thành tỷ phú 

Người Do Thái có câu nói rằng: “Cuộc sống chính là giáo án hay nhất và cha mẹ là những người thầy tốt nhất.” Quả thực, các bà mẹ Do Thái thường lồng ghép những bài học đắt giá về cuộc đời để dạy con bất cứ khi nào có thể.

Ở Israel, các bà mẹ có thói quen dạy các con đi chợ cùng mình. Xưa kia, mỗi tuần chợ chỉ họp một lần, và người nông dân đều đem hết nông sản ngon lành họ trồng được tới đây bán. Nông dân Israel có thói quen khi hái quả sẽ hái cả cành ngắn để hạn chế việc mất nước, giữ được hương vị ngon lành của hoa màu. Vì thế, đôi khi hoa quả thường có vài vết xước nhỏ do các cành cây gây ra.

Sara Imas là một bà mẹ Do Thái nổi tiếng, là tác giả cuốn sách “Vô cùng tàn nhẫn, vô cùng yêu thương”. Bà có 3 người con, cả 3 đều rất thành công, tốt nghiệp đại học và trở thành người giàu có ngay từ khi còn rất trẻ.

Trong cuốn sách của mình, Sara chia sẻ: “Mỗi lần dẫn các con đi mua hoa quả, tôi lại yêu cầu mỗi đứa chọn một quả lê có chút vấn đề nhỏ nào đó nhưng vẫn có thể ăn được trong ngày”. Tất cả các quả lê đều có giá như nhau, nên lũ trẻ cảm thấy rất khó hiểu, nhưng bà Sara nhất quyết không giải thích ngay lập tức với chúng.

Đến tối, khi gọt hoa quả để ăn tráng miệng, Sara mới giải thích cho các con. Bà nói: “Trước tiên, chúng ta phải biết nghĩ cho người khác, nếu như ai cũng chọn quả ngon, quả đẹp thì những quả còn lại sẽ để ai ăn? Chúng ta giúp đỡ người khác một chút có phải tốt hơn không? Chúng ta mua giúp người bán hàng 3 quả lê không đẹp mắt, người khác cũng giúp họ mua vài quả, như vậy chẳng phải những quả lê xấu xí sẽ ít đi sao?”.

Người Do Thái được dạy rằng, họ phải biết quý trọng hoa tươi trái ngọt, bởi đó là những thứ mà nước và ánh mặt trời đã ban tặng cho họ. Bà mẹ Do Thái nói, những quả lê kia không phải là không ăn được nữa, chỉ có chút vấn đề nhỏ thôi, ăn vào cũng chẳng thể ảnh hưởng tới sức khỏe. Bà nói: “… Mẹ mong rằng từ chuyện quả lê nhỏ bé này, các con có thể học được cách chia sẻ và giúp đỡ người khác”.

Sau đó, cô con gái út liền hỏi lại bà: “Tại sao vậy? Tại sao con lại phải ăn những quả xấu xí này? Tại sao không cho con ăn những quả ngon đằng kia?”.

Thấy vậy, Sara Imas trả lời: “Một quả lê khi còn ở trên cây thì chẳng vấn đề gì, nhưng khi người nông dân hái xuống và cho vào giỏ, chúng va vào nhau nên mới có những vết xước sẹo. Cuộc đời chúng ta cũng vậy, sau này khi bước vào xã hội, các con sẽ phải va chạm với rất nhiều vấn đề, khi đó các con cũng sẽ hy vọng có người thấu hiểu và đồng cảm với mình, giống như hôm nay các con đồng cảm với những quả lê này vậy.”

Bà mẹ Do Thái đã dạy con một thói quen tốt, đó là biết cách thông cảm cho người khác. Một người dù thông minh đến đâu, nếu chẳng có thói quen tốt thì rất đáng lo ngại. Từ việc chấp nhận những quả lê, quả táo có vấn đề, khi bước chân vào xã hội, ta cũng học cách chấp nhận những khuyết điểm nhỏ bé của người khác.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Cách Dạy Con Của Các Người Mẹ Do Thái

Hướng Dẫn Đề Phòng Sốc Nhiệt Cho Người Lớn Tuổi – ST

3 cách dự phòng sốc nhiệt
cho người lớn tuổi

unnamed (4)

Tăng thân nhiệt nghiêm trọng” hay còn gọi là “Sốc nhiệt” là nguyên nhân gia tăng số trường hợp nhập viện và tử vong vào mùa hè, mùa nắng nóng hàng năm.

Sốc nhiệt là khi thân nhiệt một người tăng quá cao — thường hơn 104 độ F (40 độ C) — trong khi nhiệt độ môi trường cao và độ ẩm môi trường cao ngăn cản cơ thể tự làm mát bằng cách đổ mồ hôi và thở. Triệu chứng của sốc nhiệt gồm nhịp tim nhanh, thở gấp, chóng mặt, buồn nôn, chuột rút cơ và lú lẫn. Cuối cùng bệnh nhân có thể mất ý thức hoàn toàn.

Sốc nhiệt nếu không được điều trị kịp thời sẽ dẫn đến tử vong. Trung bình, có khoảng 658 người Mỹ chết mỗi năm vì sốc nhiệt, theo Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh.

unnamed (5)

Nạn nhân của sốc nhiệt có thể ở mọi lứa tuổi, nhưng thường là người lớn tuổi – đặc biệt là những người trên 70 tuổi – vì khả năng điều chỉnh thân nhiệt của cơ thể suy giảm theo tuổi tác.

Ngoài ra, nhiều loại thuốc thông thường được sử dụng để kiểm soát huyết áp, co giật và rối loạn tâm lý làm giảm khả năng điều chỉnh nhiệt độ của một người. Những rủi ro đó thậm chí còn tăng lên khi một người cao tuổi không có nhận thức về đợt nắng nóng nguy hiểm, không có máy điều hòa không khí hoạt động trong nhà của họ và không có ai kiểm tra và bảo trì máy móc.

unnamed (7)

Ngoài tuổi cao, các yếu tố khác làm tăng nguy cơ sốc nhiệt là béo phì, tiểu đường và bệnh tim.

Dưới đây là 3 cách dự phòng tình trạng có thể gây chết người này:

Uống đủ nước

unnamed (8)

Trong thời tiết nóng hơn, hãy uống nhiều nước hơn và tránh đồ uống có đường và rượu.

Trong thời tiết nóng hơn, hãy uống nhiều nước hơn và tránh đồ uống có đường và rượu. Nếu bác sĩ hạn chế lượng nước uống hàng ngày của quý vị vì suy tim hoặc một chẩn đoán khác, hãy liên lạc với họ trong đợt nắng nóng để tránh các biến chứng y tế.

Nghỉ ngơi sau khi tập thể dục 

unnamed (9)

Không tập thể dục vào những thời điểm nóng nhất trong ngày — thường từ 10 giờ sáng đến 5 giờ chiều — và hãy kéo dài thời gian nghỉ ngơi sau tập luyện khi nhiệt độ và độ ẩm tăng cao.

Tìm một môi trường mát mẻ

unnamed (10)

Nếu nhà quý vị không có máy lạnh hoặc ô tô không có máy lạnh, hãy thử vài cách sau:

– Mặc quần áo nhẹ, thoáng khí
-Tránh ra ngoài dưới ánh nắng trực tiếp
– Sử dụng quạt hơi nước và ngồi trước quạt
– Tắm nước mát hoặc tắm vòi hoa sen
– Chườm mát vùng cổ, nách hoặc đầu

Quạt có thể giúp ích, nhưng quạt không làm giảm nhiệt độ không khí. Quạt làm cho không khí di chuyển trên da, dẫn đến bay hơi mồ hôi, làm giảm nhiệt độ cơ thể. Mặc dù quạt rất hữu ích, nhưng điều hòa không khí sẽ tốt hơn ở độ ẩm cao vì nó tạo ra không khí khô hơn cho phép cơ thể tự làm mát dễ dàng hơn.

Trong đợt nắng nóng, hãy dành thời gian kiểm tra với những người hàng xóm, gia đình và bạn bè lớn tuổi để đảm bảo rằng họ có phương tiện để giữ mát.

Quý vị biết được những gì cần làm như chỉ cần giữ mát, nghỉ ngơi và cung cấp đủ nước cho cơ thể để tránh sốc nhiệt. Thật đơn giản, phải không ?

Gabriel Neal là phó giáo sư lâm sàng về y học gia đình tại Đại học Texas A&M.

Gabriel Neal – Thu Anh

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Hướng Dẫn Đề Phòng Sốc Nhiệt Cho Người Lớn Tuổi – ST

NỘI tác phẩm của Tiểu Tử do Hưng Huỳnh sưu tầm

Nội

Tiểu Tử

unnamed (1)

– Nội xuống kìa!
– Nội xuống! Ê! Nội xuống!
– Nội xuống!

Bầy con tôi reo mừng, chạy ùa ra ngõ. Ngoài đó, tiếng xích lô máy cũng vừa tắt.

Trong buồng, vợ tôi gom vội mấy giấy tờ hồ sơ nhét vào xắc tay, nhìn tôi, im lặng. Tôi hiểu: Bà già xuống như vậy, làm sao giấu được chuyện tôi và hai đứa lớn sẽ vượt biên. Sáng sớm mai là đi rồi…

Tôi choàng tay ôm vai vợ tôi, siết nhẹ:
– Không sao đâu. Để anh lựa lúc nói chuyện đó với má.

Khi vợ chồng tôi bước ra hiên nhà thì bầy nhỏ cũng vừa vào tới sân. Đứa xách giỏ, đứa xách bao, đứa ôm gói,hí hửng vui mừng.

Bởi vì mỗi lần bà nội chúng nó từ Gò Dầu xuống thăm đều có mang theo rất nhiều đồ ăn, bánh trái thịt thà …

Những ngày sau đó, mâm cơm dưa muối thường ngày được thay thế bằng những món ăn do tay bà nội tụi nó nấu nướng nêm nếm. Nhờ vậy, mấy bữa cơm có cái phong vị của ngày xưa thuở mà miền Nam chưa mất vào tay Việt Cộng…

Mấy con tôi thường gọi đùa bà Nội bằng “trưởng ban hậu cần” hoặc “chị nuôi” và lâu lâu hay trông có bà Nội xuống. Và lúc nào câu chào mừng của chúng nó cũng đều giống như nhau: “Nội mạnh hả Nội” Nội có đem gì xuống ăn không Nội”

Mới đầu, tôi nghe chướng tai, nhưng sống trong sự thiếu thốn triền miên của chế độ xã hội chủ nghĩa, lần hồi chính bản thân tôi cũng chỉ nghĩ đến miếng ăn thôi!

Con gái út tôi, mười một tuổi, một tay xách giỏ trầu của bà nội, một tay cặp kè với bà nó đi vào như hai người bạn.

Bà nó cưng nó nhứt nhà. Lúc nào xuống, cũng ngủ chung với nó để nghe nó kể chuyện. Nó thích bà nội ở điều đó và thường nói:
– “Ở nhà này chỉ có nội là thích nghe em kể chuyện thôi!”

Thật ra, nó có lối kể chuyện không đầu không đuôi làm mấy anh mấy chị nó bực. Trái lại, bà nó cho đó là một thi vị của tuổi thơ, nên hay biểu nó kể chuyện cho bà nghe, để lâu lâu bà cười chảy nước mắt.

Tôi hỏi má tôi:
– Sao bữa nay xuống trưa vậy nội.

Vợ chồng tôi hay gọi má tôi bằng “nội” như các con. Nói theo tụi nó, riết rồi quen miệng. Lâu lâu, chúng tôi cũng có gọi bằng “má” nhưng sao vẫn không nghe đầm ấm nồng nàn bằng tiếng “nội” của các con.

Hồi cha tôi còn sống, tụi nhỏ còn gọi rõ ra “ông nội” hay “bà nội”. Cha tôi mất đi, ít lâu sau, chúng nó chỉ còn dùng có tiếng “nội” ngắn gọn để gọi bà của chúng nó, ngắn gọn nhưng âm thanh lại đầy trìu mến.

Má tôi bước vào nhà, vừa cởi áo bà ba vừa trả lời:
– Thôi đi mày ơi!… Mấy thằng công an ở Trảng Bàng mắc dịch! Tao lên xe hồi sáng chớ bộ. Tới trạm Trảng Bàng tụi nó xét thấy tao có đem một lon ghi-gô mỡ nước, vậy là bắt tao ở lại. Nói phải quấy bao nhiêu cũng không nghe. Cứ đề quyết là tao đi buôn lậu!

Rồi má tôi liệng cái áo lên thành ghế bàn ăn, nói mà tôi có cảm tưởng như bà đang phân trần ở Trảng Bàng:
– Đi buôn lậu cái gì mà chỉ có một lon mỡ nước. Ai đó nghĩ coi! Nội tiền xe đi xuống đi lên cũng hơn tiền lon mỡ rồi. Đi buôn kiểu gì mà ngu dại vậy hổng biết!

– Ủa Rồi làm sao nội đi được. Bộ tụi nó giữ lại lon mỡ hả nội. Con gái lớn tôi chen vào.
– Dễ hôn! Nội đâu có đễ cho tụi nó “ăn” lon mỡ, con! Mỡ heo nội thắng đem xuống cho tụi con chớ bộ.

Ngừng lại, hớp một hớp nước mát mà con út vừa đem ra, xong bà kể tiếp, trong lúc các con tôi quây quần lại nghe:
– Cái rồi … cứ dan ca riết làm nội phát ghét, nội đổ lì, ngồi lại đó đợi tụi nó muốn giải đi đâu thì giải.

Nghe đến đây, bày con tôi cười thích thú. Bởi vì tụi nó từng nghe ông nội tụi nó kể những chuyện “gan cùng mình” của bà nội hồi xưa.

Con út nóng nảy giục:
– ”Rồi sao nữa nội”

– Cái rồi… lối mười một mười hai giờ gì đó nội hổng biết nữa. Ờ… cở đứng bóng à. Có thằng cán bộ đạp xe đi ngang. Nó đi qua khỏi rồi chớ, nhưng chắc nó nhìn thấy nội nên hoành xe lại chào hỏi: “Ủa” Bà Tám đi đâu mà ngồi đó vậy”

Nội nhìn ra là thằng Kiểu con thầy giáo Chén ở Tha-La, tụi bây không biết đâu. Kế nội kể hết đầu đuôi câu chuyện cho nó nghe. Nó cười ngất. Rồi nhờ nó can thiệp nên nội mới đi được đó.

Lên xe thì đã trưa trờ rồi… Ti! Kiếm cây quạt cho nội, con!

Ti là tên con út. Cây quạt là miếng mo cau mà má tôi cắt, vanh thành hình rồi đem ép giữa hai tấm thớt dầy cho nớ bớt cong.

Má tôi đem từ Gò Dầu xuống bốn năm cây quạt mo phân phát cho mấy cháu, nói:
“Nội thấy ba má tụi con gỡ bán hết quạt máy, nội mới làm thứ này đem xuống cho tụi con xài. Kệ nó, xấu xấu chớ nó lâu rách”.

Con út cầm quạt ra đứng cạnh nội quạt nhè nhẹ mà mặt mày tươi rói: tối nay nó có “bạn” ngủ chung để kể chuyện! Vợ tôi đem áo bà ba của má tôi vào buồng mấy đứa con gái, tôi trong đó hỏi vọng ra:
– Nội ăn gì chưa nội”
– Khỏi lo! Tao ăn rồi. Để tao têm miếng trầu rồi tao với mấy đứa nhỏ soạn đồ ra coi có hư bể gì không cái đã.

Rồi mấy bà cháu kéo nhau ra nhà sau. Tôi nhìn theo má tôi mà bỗng nghe lòng dào dạt.
Từ bao nhiêu năm nay, trên người má tôi chẳng còn gì thay đổi. Vẫn loại quần vải đen lưng rùa, vẫn áo túi trắng ngắn tay có hai cái túi thật đặc biệt do má tôi cắt may: miệng túi cao lên tới ngực chớ không nằm dưới eo hông như những áo túi thường thấy. Mấy đứa nhỏ hay đùa:
“Cha… bộ sợ chúng nó móc túi hay sao mà nội làm túi sâu vậy nội”

Má tôi cười: “Ậy! Vậy chớ túi này chứa nhiều thứ quí lắm à bây”. Những thứ gì không biết, chớ thấy má tôi còn cẩn thận ghim miệng túi lại bằng cây kim tây!

Tôi là con một của má tôi. Vậy mà sau khi cha tôi chết đem về chôn ở Gò Dầu, quê tôi, má tôi ở luôn trên đó. Nói là để châm sóc mồ mả và vườn tược cây trái.
Thật ra, tại vì má tôi không thích ở Sài Gòn, mặc dù rất thương mấy đứa cháu. Hồi còn ở chung với vợ chồng tôi để tránh pháo kích – dạo đó, Việt cộng hay bắn hỏa tiễn vào Gò Dầu về đêm – má tôi thường chắc lưỡi nói:
“Thiệt… không biết cái xứ gì mà ăn rồi cứ đi ra đi vô, hổng làm gì ráo”. Cái “xứ” Sài gòn, đối với má tôi, nó “tù chân tù tay” lắm, trong lúc ở Gò Dầu má tôi có nhà cửa đất đai rộng rãi, cây trái xum xuê, và dù đã cao niên, má tôi vẫn thường xuyên xách cuốc xách dao ra làm vườn, làm cỏ.

Vả lại chung quanh đất má tôi, là nhà đất của các anh bà con bên ngoại của tôi, thành ra má tôi qua lại cũng gần. Các anh chị bà con tới lui thăm viếng giúp đỡ cũng dễ. Cho nên, dù ở một mình trên đó, má tôi vẫn không thấy cô đơn hiu quạnh. Lâu lâu nhớ bầy con tôi thì xuống chơi với chúng nó năm bảy bữa rồi về. Má tôi hay nói đùa là “đi đổi gió”

Mấy năm sau ngày mất nước, cuộc sống của gia đình tôi càng ngày càng bẩn chật. Cũng như thiên hạ, vợ chồng tôi bán đồ đạc trong nhà lần lần để ăn. Má tôi biết như vậy nên xuống thăm mấy đứa nhỏ thường hơn, để mang “cái gì để ăn” cho chúng nó.

Nhiều khi nằm đêm tôi ứa nước mắt mà nghĩ rằng lẽ ra tôi phải nuôi má tôi chớ, dù gì tôi cũng mới ngoài bốn mươi lăm còn má tôi thì tuổi đã về chiều.
Vậy mà bây giờ, mặc dù là công nhân viên nhà nước xã hội chủ nghĩa với lương kỹ sư “bậc hai trên sáu”, tôi đã không nuôi nổi má tôi, mà trái lại chính má tôi phải cắt ca cắt củm mang đồ ăn xuống tiếp tế cho gia đình tôi, giống như má tôi mớm cơm đút cháo cho tôi thuở tôi còn thơ ấu!
Thật là một “cuộc đổi đời” đúng như Việt Cộng thường rêu rao: “Cách mạng là một cuộc đổi đời!”
Nhưng cuộc đổi đời của mẹ con tôi thì thật là vừa chua cay vừa hài hước!

Lắm khi tôi tự hỏi: “Rồi sẽ đi đến đâu” Bấy giờ tôi đã trở thành “trưởng ban văn nghệ” của cơ quan, một lối đi “ngang” mà nhờ đó tôi còn được ở lại với sở cũ. Bởi vì mấy chục năm kinh nghiệm trong nghề nghiệp chánh của tôi, nhà nước cách mạng cho là vô dụng, không “đạt yêu cầu”.
Thành ra, tối ngày tôi chỉ lo cho đoàn “nghiệp dư” của cơ quan tập dượt hát múa. Thật là hề. Còn về phần các con tôi, tương lai gần nhứt là đi đánh giặc Kampuchia, tương lai xa hơn thì thật là mù mịt!

Trong lúc tôi không có lối thoát thì một người bạn đề nghị giúp chúng tôi vượt biên, nhưng chỉ đi được có ba người.
Vậy là chúng tôi lấy quyết định cho hai đứa lớn đi theo tôi. Chuyện này, chúng tôi giấu má tôi và mấy đứa nhỏ, kể cả hai đứa đã được chọn. Phần vì sợ đổ bể, phần vì sợ má tôi lo.

Ai chẳng biết vượt biên là một sự liều lĩnh vô cùng. Rủi đi không thoát là bị tù đày chẳng biết ở đâu, may mà đi thoát cũng chưa chắc là sẽ đến bờ đến bến.
Người ta nói trong số những người đi thoát, hai phần ba bị mất tích luôn. Thành ra, “vượt biên” là đi vào miền vô định…

Theo chương trình thì sáng sớm ngày rằm cha con tôi đi xe đò xuống Cần Thơ rồi từ đó có người rước qua sông ông Đốc để xuất hành ngay trong đêm đó. Tôi thắc mắc hỏi:
“Tổ chức gì mà đi chui nhằm ngày rằm cha nội” Bạn tôi cười:
“Ai cũng nghĩ như anh hết. Tụi Việt Cộng cũng vậy. Cho nên hể có trăng sáng là tụi nó nằm nhà nhậu, không đi tuần đi rỏn gì hết. Hiểu chưa”

Bữa nay là mười bốn ta nhằm ngày thứ bảy, vợ chồng tôi định không nói gì hết, chờ sáng sớm mai gọi hai đứa lớn dậy đi với tôi xuống Cần Thơ. Như vậy là chúng nó sẽ hiểu. Và như vậy là kín đáo nhứt, an toàn nhứt. Rồi sau đó vợ tôi sẽ liệu cách nhắn tin về cho má tôi hay. Chừng đó thì “sự đã rồi”…

Bây giờ thì má tôi đã có mặt ở đây, giấu cũng không được. Đành phải nói cho má tôi biết. Nhưng nói lúc nào đây. Và nói làm sao đây.
Liệu má tôi có biết cho rằng tôi không còn con đường nào khác. Liệu má tôi có chấp nhận cho tôi không giữ trọn đạo hiếu chỉ vì lo tương lai cho các con.
Liệu má tôi … liệu má tôi … Tôi phân vân tự đặt nhiều câu hỏi để chẳng thấy ở đâu câu trả lời…

Tôi ngồi xuống thềm nhà, nhìn ra sân. Ở đó, bờ cỏ lá gừng xanh mướt ngày xưa đã bị chúng tôi đào lên đấp thành luống để trồng chút đỉnh khoai mì, một ít khoai lang, vài hàng bắp. Không có bao nhiêu nhưng vẫn phải có. Cho nó giống với người ta, bởi vì nhà nào cũng phải “tăng gia” cho đúng “đường lối của nhà nước”.

Thật ra, trồng trọt bao nhiêu đó, nếu có… trúng mùa đi nữa, thì cũng không đủ cho bầy con tôi “nhét kẻ răng”! Vậy mà tên công an phường, trong một dịp ghé thăm, đã tấm tắc khen:
“Anh chị công tác tốt đấy chứ. Tăng gia khá nhất khu phố đấy! Các cháu tha hồ mà ăn”. Anh ta không biết rằng mấy nhà hàng xóm của tôi, muốn “tăng gia”, họ đã phải đào cả sân xi-măng hoặc sân lót gạch, thì lấy gì để “làm tốt”

Khi tôi trở vào nhà thì con út đang gãi lưng cho nội. Nó vén áo túi nội lên đến vai, để lộ cái lưng gầy nhom, cong cong và hai cái vú teo nhách. Tôi tự hỏi:
“Lạ quá! Chỉ có mình mình bú hồi đó mà sao làm teo vú nội đến như vậy được”. Rồi tôi bồi hồi cảm động khi nghĩ rằng chính hai cái núm đen đó đã nuôi tôi lớn lên với dòng sữa ấm, vậy mà chẳng bao giờ nghe má tôi kể lể công lao.
Tôi cảm thấy thương má tôi vô cùng. Tôi len lén từ phía sau lòn tay măn vú má tôi một cái. Má tôi giựt mình, rút cổ lại:
– Đừng! Nhột! Thằng chơi dại mậy!
Rồi má tôi cười văng cốt trầu. Con Ti la lên:
– Má ôi! Coi ba măn vú nội nè!

Tôi cười hả hê thích thú. Trong khoảnh khắc thật ngắn ngủi đó, tôi bắt gặp lại những rung động nhẹ nhàng sung sướng khi tôi măn vú mẹ thuở tôi mới lên ba lên năm…
Và cũng trong khoảnh khắc đó, tôi đã quên mất rằng má tôi đã gần tám mươi mà tôi thì trên đầu đã hai thứ tóc!
Và cũng quên mất rằng từ ngày mai trở đi, có thể tôi sẽ không bao giờ còn gặp lại má tôi nữa, để măn vú khi bất chợt thấy má tôi nhờ cháu nội gãi lưng như hôm nay…

Chiều hôm đó, khi ngồi vào bàn ăn, mắt bầy con tôi sáng rỡ. Bữa cơm thật tươm tất, đầy đủ món ăn như khi xưa. Có gà nấu canh chua lá giang, một loại giây leo có vị chua thật ngọt ngào mà hình như chỉ ở miệt quê tôi mới có. Món này, bà nội mấy đứa nhỏ nấu thật đậm đà. Bà thường nói:
“Canh chua phải nêm cho cứng cứng nó mới ngon”. Mà thật vậy. Tô canh nóng hổi, bốc lên mùi thơm đặc biệt của thịt gà lẫn với mùi chua ngọt của lá giang, mùi mặn đằm thấm của nước mắm và mùi tiêu mùi hành…

Húp vào một miếng canh chua, phải nghe đầu lưỡi ngây ngây cứng cứng và chân tóc trên đầu tăng tăng, như vậy mới đúng.
Nằm cạnh tô canh chua là tô cá kèo kho tiêu mà khi mang đặt lên bàn ăn nó hãy còn sôi kêu lụp-bụp, bốc mùi thơm phức vừa mặn vừa nồng cay lại vừa béo, bỏi vì trong cá kho có tép mỡ và trước khi bắt xuống, bà nội có cho vào một muỗng mỡ nước gọi là “để cho nó dằn”!

Đặc biệt, khi làm cá kèo, bà không mổ bụng cá, thành ra khi cắn vào nó, mật cá bể ra đăng đắng nhẹ nhàng làm tăng vị bùi của miếng cá lên gấp bội.
Ngoài hai món chánh ra, còn một dĩa măng luộc, tuy là một món phụ nhưng cũng không kém phần hấp dẫn nhờ ở chỗ sau khi luộc rồi măng được chiên lại với tỏi nên ngã màu vàng sậm thật là đậm đà …
Sau khi và vài miếng, vợ tôi nhìn tôi rồi rớt nước mắt. Nội hỏi:
– ”Bộ cay hả”
Vợ tôi “dạ”, tiếng “dạ” nằm đâu trong cổ. Rồi buông đũa, mếu máo chạy ra nhà sau. Tôi hiểu. Bữa cơm này là bữa cơm cuối cùng, bữa cơm mà cả gia đình còn xum họp bên nhau.
Rồi sẽ không còn bữa cơm nào như vậy nữa. Gia đình sẽ chia hai. Những người đi, rồi sẽ sống hay chết. Còn những người ở lại, ai biết sẽ còn tan tác đến đâu.

Tôi làm thinh, cắm đầu ăn lia lịa như mình đang đói lắm. Thật ra, tôi đang cần nuốt thật nhanh thật nhiều, mỗi một miếng nuốt phải thật đầy cổ họng… để đè xuống, nén xuống một cái gì đang trạo trực từ dưới dâng lên.

Mắt tôi nhìn đồ ăn, nhìn chén cơm, nhìn đôi đũa, để khỏi phải nhìn má tôi hay nhìn bầy con, ngần đó khuôn mặt thân yêu mà có thể tôi sẽ vĩnh viễn không còn thấy lại nữa.

Trong đầu tôi chợt hiện ra hình ảnh người đang hấp hối, trong giây phút cuối cùng lưỡi đã cứng đơ, mắt đã dại, vậy mà họ vẫn nhìn nuối những người thương để rồi chảy nước mắt trước khi tắt thở.
Rồi tôi thấy tôi cũng giống như người đang hấp hối, không phải chết ở thể xác mà là chết ở tâm hồn, cũng một lần vĩnh biệt, và cũng sẽ bước vào một cõi u-minh nào đó, một cõi thật mơ hồ mà mình không hình dung được, không chủ động được!

Má tôi gắp cho tôi một cái bụng cá to bằng ngón tay cái:
– Nè! Ngon lắm! Ăn đi! Để rồi mai mốt hổng chắc gì có mà ăn!

Ý má tôi muốn nói rằng ở với Việt Cộng riết rồi đến loại cá kèo cũng sẽ khan hiếm như các loại cá khác. Nhưng trong trường hợp của tôi, lời má tôi nói lại có ý nghĩa của lời tống biệt. Nó giống như: “Má cho con ăn lần này lần cuối. Ăn đi con! Ăn cho ngon đi con!”.

Tôi ngậm miếng cá mà nước mắt trào ra, không kềm lại được. Nếu không có mặt bầy con tôi, có lẽ tôi đã cầm lấy bàn tay của má tôi mà khóc, khóc thật tự do, khóc thật lớn, để vơi bớt nỗi thống khổ đã dằn vật tôi từ bao nhiêu lâu nay…
Đằng này, tôi không làm như vậy được. Cho nên tôi trạo trực nuốt miếng cá mà cảm thấy như nó thật đầy xương xóc!

Má tôi nhìn tôi ngạc nhiên:
– ”Ủa. Mày cũng bị cay nữa sao”
Rồi bà chồm tới nhìn vào tô cá. Các con tôi nhao nhao lên:
– Đâu có cay, nội.
– Con ăn đâu thấy cay. Hai có nghe cay hôn Hai.
– Chắc ba má bị gì chớ cay đâu mà cay.
– Con ăn được mà nội. Có cay đâu.

Các con tôi đâu có biết rằng cái cay của tôi không nằm trên đầu lưỡi, mà nó nằm trong đáy lòng. Cái cay đó cũng bắt trào nước mắt!
Tôi đặt chuyện, nói tránh đi:
– Hổm rày nóng trong mình, lưỡi của ba bị lở, nên ăn cái gì mặn nó rát.

Rồi tôi nhai thật chậm để có thời gian cho sự xúc động lắng xuống. Miếng cơm trong miệng nghe như là sạn sỏi, nuốt không trôi…

Sau bữa cơm, bà cháu kéo hết vào buồng tụi con gái để chuyện trò. Thỉnh thoảng nghe cười vang trong đó. Chen trong tiếng cười trong trẻo của các con, có tiếng cười khọt khọt của nội, tiếng cười mà miếng trầu đang nhai kềm lại trong cổ họng, vì sợ văng cốt trầu.
Những thanh âm đó toát ra một sự vô tư, nhưng lại nghe đầy hạnh phúc. Lúc này, có nên nói chuyện vượt biên với má tôi hay không. Tội nghiệp bầy con, tội nghiệp nội.

Ngoài phòng khách, tôi đi tới đi lui suy nghĩ đắn đo. Vợ tôi còn lục đục sau bếp, và cho dù vợ tôi có mặt ở đây cũng không giúp gì tôi được với tâm sự rối bời như mớ bòng bong.
Tôi bèn vào buồng ngủ, trải chiếu dưới gạch – từ lâu rồi, vợ chồng tôi không có giường tủ gì hết – rồi tắt đèn nằm trong bóng tối, gác tay lên trán mà thở dài…

Thời gian đi qua… Trăng đã lên nên tôi thấy cửa sổ được vẽ những lằn ngang song song trắng đục.
Trong phòng bóng tối cũng lợt đi. Không còn nghe tiếng cười nói ở phòng bên và tôi nghĩ chắc đêm nay vợ tôi ngủ với hai đứa lớn ngoài phòng khách, để trằn trọc suốt đêm chờ sáng.

Bỗng cửa phòng tôi nhẹ mở, vừa đủ để tôi nhìn thấy bóng má tôi lom khom hướng vào trong hỏi nhỏ:
– Ba con Ti ngủ chưa vậy.
Tôi hơi ngạc nhiên, nhưng cũng trả lời nho nhỏ vừa đủ nghe:
– Dạ chưa, má.
Má tôi bước vào đóng cửa lại, rồi mò mẫm ngồi xuống cạnh tôi, tay cầm quạt mo quạt nhè nhẹ lên mình tôi, nói:
– Coi bộ nực hả mậy.
– Dạ. Nhưng rồi riết cũng quen, má à.
Tôi nói như vậy mà trong đầu nhớ lại hình ảnh tôi và thằng con trai hè hụi tháo gỡ mấy cây quạt trần để mang đi bán.
Im lặng một lúc. Tay má tôi vẫn quạt đều. Rồi má tôi hỏi:
– Tụi bây còn gì đề bán nữa hông.
– Dạ…
Tôi không biết trả lời làm sao nữa. Chiếc xe hơi bây giờ chỉ còn lại cái sườn, không ai chịu chở đi. Trong nhà bây giờ chỉ còn bộ bàn ăn, cái tủ thờ nhỏ và bộ sa-long mây “sứt căm gãy gọng”.

Ngoài ra, trên tường có chân dung “Bác Hồ” dệt bằng lụa và nhiều “bằng khen”, “bằng lao động tiên tiến”… những thứ mà nhà nào cũng có hết, cho, chưa chắc gì có ai thèm lấy!

Bỗng tôi nhớ có một hôm tôi nói với bầy con tôi: “Ba tự hào đã giữ tròn liêm sĩ từ mấy chục năm nay. Bây giờ, đổi lấy cái gì ăn cũng không được, đem ra chợ trời bán cũng chằng có ai mua. Sao ba thấy thương các con và tội cho ba quá!”

Lúc đó, tôi tưởng tượng thấy tôi đứng ở chợ trời, dưới chân có tấm bảng đề “Bán cái liêm sỉ, loại chánh cống. Bảo đảm đã hai mươi năm chưa sứt mẻ”. Thật là khùng nhưng cũng thật là chua chát!

Nghe tôi “dạ” rồi nín luôn, má tôi hiểu, nên nói: “Rồi mầy phải tính sao chớ chằng lẽ cứ vậy hoài à. Tao thấy tụi bây càng ngày càng trõm lơ, còn mầy thì cứ làm thinh tao rầu hết sức.”

Má tôi ngừng một chút, có lẽ để lấy một quyết định:
– Tao xuống kỳ này, cốt ý là để nói hết cho mầy nghe. Tao già rồi, mai mốt cũng theo ông theo bà. Mầy đừng lo cho tao. Lo cho bầy con mầy kìa. Chớ đừng vì tao mà bắt mấy đứa nhỏ phải hy sinh tương lai của tụi nó. Mầy liệu mà đi, đi! Kiếm đường mà kéo bầy con mầy đi, đi! Ở đây riết rồi chết cả chùm. Không chết trận trên Miên thì cũng chết khùng chết đói. Thà tụi bây đi để tao còn thấy chút đỉnh gì hy vọng mà sống thêm vài năm nữa. Mầy hiểu hôn.

Nghe má tôi nói, tôi rớt nước mắt. Chuyện mà bao lâu nay tôi không dám nói với má tôi thì bây giờ chính má tôi lại mở ngỏ khai nguồn. Và tôi thật xúc động với hình ảnh bà mẹ già phải đẩy đứa con duy nhứt đi vượt biên để vui mà sống với ít nhiều hy vọng! Thật là ngược đời: có người mẹ nào lại muốn xa con. Chỉ có ở chế độ xã hội chủ nghĩa khốn nạn này mới xảy ra những chuyện “đổi đời” như vậy!

Tôi nắm bàn tay không cầm quạt của má tôi, lắc nhẹ:
– Má à! Lâu nay con giấu má. Bây giờ má nói, con mới nói. Sáng sớm mai này, con và hai đứa lớn sẽ xuống Cần Thơ để vượt biên.
Tôi nghe tiếng cây quạt mo rơi xuống gạch. Rồi yên lặng. Một lúc lâu sau, má tôi mới nói:
– Vậy hà…
Tôi nghe có cái gì nghẹn ngang trong cổ. Tôi nuốt xuống mấy lần, rồi cố gắng nói:
– Con đi không biết sống hay chết. Con gởi má vợ con và ba đứa nhỏ, có bề gì xin má thương tụi nó…

Nói tới đó, tôi nghẹn ngào rồi òa lên khóc ngất. Tôi nghe có tiếng quạt phe phẩy lại, nhanh nhanh, và bàn tay má tôi vuốt tóc tôi liên tục giống như hồi nhỏ má tôi vỗ về tôi để tôi nín khóc.
Một lúc sau, má tôi nói :
– Thôi ngủ đi, để mai còn dậy sớm.

Rồi bước ra đóng nhẹ cửa lại. Sau đó, có tiếng chẹt diêm quẹt rồi một ánh sáng vàng vọt rung rinh lòn vào khuôn cửa, tôi biết má tôi vừa thắp đèn cầy trên bàn thờ. Tiếp theo là mùi khói nhang, chắc bà lôi mấy đứa nhỏ đang cầu nguyện ngoài đó.
Tôi thở dài, quay mặt vào vách, nhắm mắt mà nghe chơi vơi, giống như đang nằm trong một cơn mộng…

Năm giờ sáng hôm sau, má tôi kêu tôi dậy đi. Hai con tôi đã sẵn sàng, mỗi đứa một túi nhỏ quần áo. Chúng nó không có vẻ gì ngạc nhiên hay xúc động hết. Có lẽ mẹ tụi nó đã gọi dậy từ ba bốn giờ sáng để giảng giải và chuẩn bị tinh thần.
Riêng tôi, thật là trầm tĩnh. Nước mắt đêm qua đã giúp tôi lấy lại quân bình. Thật là mầu nhiệm!

Tôi vào buồng hôn nhẹ mấy đứa nhỏ đang ngủ say, xong ôm vợ tôi, ôm má tôi. Hai người thật là can đảm, không mảy may bịn rịn.
Tôi chỉ nói có mấy tiếng:
– Con đi nghe má!
Rồi bước ra khỏi cổng.

Lần đó, tôi đi thoát.
Rồi phải ba bốn năm sau, tôi mới chạy chọt được cho vợ con tôi rời Việt Nam sang sum họp với tôi ở Pháp. Má tôi ở lại một mình.

Mấy ngày đầu gặp lại nhau, vợ con tôi kể chuyện “bên nhà” cho tôi nghe, hết chuyện này bắt qua chuyện nọ. Bà Nội được nhắc tới nhiều nhứt và những chuyện về bà nội được kể đi kể lại thường nhứt.

Tụi nó kể: “Ba đi rồi, mấy bữa sau cơ quan chỗ ba làm việc cho người đến kiếm. Tụi con trốn trong buồng, để một mình nội ra. Nội nói rằng nội nhờ ba về Tây Ninh rước ông Tư xuống bởi vì trên đó đang bị Cao Miên pháo kích tơi bời, tới nay sao không thấy tin tức gì hết, không biết ba còn sống hay chết nữa. Nói rồi, nội khóc thật mùi mẫn làm mấy cán bộ trong cơ quan tin thiệt, họ an ủi nội mấy câu rồi từ đó không thấy trở lại nữa”.

Rồi tụi nó kết câu chuyện với giọng đầy thán phục: “Nội hay thiệt!”
Nghe kể chuyện, tôi bồi hồi xúc động. Tôi biết lúc đó má tôi khóc thiệt chớ không phải giả khóc như các con tôi nghĩ. Bởi vì, trong hai trường hợp dù sự việc xảy ra có khác nhau, nhưng hoàn cảnh sau đó vẫn giống nhau y hệt.
“Ba con Ti đi không biết sống hay chết” vẫn là câu hỏi lớn đè nặng tâm tư của má tôi. Bề ngoài má tôi làm ra vẻ bình tĩnh để an lòng con dâu và cháu nội, nhưng là một cái vỏ mỏng manh mà trong khi kể chuyện cho các cán bộ, nó đã có dịp bể tung ra cho ưu tư dâng đầy nước mắt…

“Rồi sau đó – tụi con tôi kể tiếp – nội ở lại nhà mình để chờ tin tức và cũng để ra tiếp chuyện hàng xóm và chánh quyền địa phương, chớ má thì ngày nào cũng đi chùa, còn tụi con nội sợ nói hé ra là mang họa cả đám.
Lâu lâu, nội về Gò Dầu bán đồ rồi mua thịt thà đem xuống tiếp tế cho tụi con. Thấy nội già mà lên lên xuống xuống xe cộ cực nhọc quá, tụi con có can ngăn nhưng nội nói nội còn mạnh lắm, nội còn sống tới ngày con Ti lấy chồng nội mới chịu theo ông theo bà!”

Tôi biết: má tôi là cây cau già – quá già, quá cỗi – nhưng vẫn cố bám lấy đất chỉ vì trên thân cây còn mấy dây trầu… Hình ảnh đó bỗng làm tôi ứa nước mắt.
Thương má tôi và nhớ cả quê hương. Cái quê hương tuyệt đẹp của tôi mà Việt Cộng đã cướp mất. Cái quê hương mà trên đó tôi không còn quyền sống như ý mình muốn, phát biểu những gì mình nghĩ, ca tụng những gì mình thích.
Ở đó, ở quê hương tôi, tôi còn bà mẹ già, bà mẹ tám mươi đã cắt ruột đuổi con đi, bỏ quê hương mà đi, để bà còn chút hy vọng sống thêm vài ba năm nữa!
Bây giờ, vợ con tôi cũng đã đi hết. Má tôi còn lại một mình. Thân cây cau giờ đã nhẵn dây trầu, thêm tuổi đời một nắng hai mưa. Tôi biết! Má ơi! Con biết: cây cau già bây giờ đang nhớ thắt thẻo mấy dây trầu non…

Theo lời các con tôi kể lại, hôm tiếp được điện tín của bạn tôi ở Pháp đánh về báo tin tôi và hai đứa lớn đã tới Mã Lai bình yên, cả nhà tưng bừng như hội. Tụi nó nói: “Nội vội vàng vào mặc áo rồi quì trước bàn thờ Phật gõ chuông liên hồi. Đã giấu không cho ai biết mà nội gõ chuông giống như báo tin vui cho hàng xóm!”

“Mấy hôm sau, bỗng có công an phường lại nhà. Công an đến nhà là lúc nào cũng có chuyện gì đó cho nên nội có hơi lo. Thấy dạng tên công an ngoài ngõ, trong này nội niệm phật để tự trấn an. Sau đó, nội cũng kể chuyện ba về Tây Ninh rồi nội kết rằng ba đã chết ở trên đó. Rồi nội khóc…”

Mấy con tôi đâu biết rằng đối với má tôi, dù tôi còn sống, sống mà vĩnh viễn không bao giờ thấy lại nhau nữa thì cũng giống như là tôi đã chết.

“Sau đó nội than không biết rồi sẽ ở với ai, rồi ai sẽ nuôi nội, bởi vì má buồn rầu đã bỏ nhà đi mất. Nghe vậy, tên công an vội vàng an ủi: Bà cụ đừng có lo! Rồi chúng cháu sẽ đem bà cụ về ở với chúng cháu. Cứ yên chí!”

Sau khi tên công an ra về, nội vào buồng kể lại chuyện đó cho tụi con nghe, rồi nói: “Nội nghe thằng công an đòi đưa nội về nuôi mà nội muốn xỉu luôn! Không phải vì cảm động mà vì sợ! Ở với tụi nó, thà chết sướng hơn!”

Vợ con tôi được đi chánh thức nên hôm ra đi bạn bè thân quyến đến chia tay đầy nhà. Lúc mẹ con nó quì xuống lạy má tôi để giả biệt – hay đúng ra để vĩnh biệt – tất cả mọi người đều khóc.
Đó là lần cuối cùng mà má tôi khóc với bầy cháu nội. Và tôi nghĩ rằng má tôi khóc mà không cần tìm hiểu tại sao mình khóc, chỉ thấy cần khóc cho nó hả, chỉ thấy càng khóc thân thể gầy còm càng nhẹ đi, làm như thịt da tan ra thành nước mắt, thứ nước thật nhiệm mầu mà Trời ban cho con người để nói lên tiếng nói đầy câm lặng.

Bầy bạn học của các con tôi đứng thành hai hàng dài, chuyền nước mắt cho nhau để tiễn đưa tụi nó ra xe ngoài ngõ.
Tôi hình dung thấy những cặp mắt thơ ngây mọng đỏ nhìn các con tôi đi mà nửa hồn tê dại, không biết thương cho bạn mình đi hay thương cho thân phận mình, người ở lại vơi đầy chua xót…
Mấy con tôi nói: “Nội không theo ra phi trường. Nội ở nhà để gõ chuông cầu nguyện”.

Tôi làm việc ở Côte d’Ivoire (Phi Châu), cách xa vợ con bằng một lục địa, và cách xa mẹ tôi bằng nửa quả địa cầu.
Những lúc buồn trống vắng, tôi hay ra một bãi hoang gần sở làm để ngồi nhìn biển cả. Mặt nước vuốt ve chân cát, tiếng sóng nhẹ nghe như thì thào… những thứ đó làm như chỉ dành cho riêng tôi. Tự nhiên tôi cảm thấy như được vỗ về an ủi.
Những lúc đó, sao tôi nhớ má tôi vô cùng. Trên đời này má tôi là người duy nhứt an ủi tôi từ thuở tôi còn ấu thơ cho đến khi trên đầu tôi đã hai thứ tóc.

Ngay đến đêm cuối cùng trên quê hương, cũng chính trong vòng tay khẳng khiu của má tôi mà tôi khóc, khi gởi vợ gởi con… Lúc nào tôi cũng tìm thấy ở má tôi một tình thương thật rộng rãi bao la, thật vô cùng sâu đậm, giống như đại dương mà tôi đang nhìn trước mặt.

Bây giờ tôi hiểu tại sao tôi hay ra ngồi đây để nhìn biển cả…

Tiểu Tử

(Bài do Hưng Huỳnh chuyển)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở NỘI tác phẩm của Tiểu Tử do Hưng Huỳnh sưu tầm

Đàn Bà Dễ Có Mấy Tay- Nói Về Bà Thủ Tướng Đức. ST

ĐÀN BÀ DỄ CÓ MẤY TAY ! 


Tuần lễ cuối tháng ba đầu tháng tư vừa rồi, Tập Cận Bình, Chủ tịch Trung Quốc đến thăm ba nước Pháp, Đức, Bỉ.
Paris là điểm dừng chân đầu tiên. Ông giành ưu tiên này cho Pháp quốc bởi cách đây tròn 50 năm, tháng Giêng năm 1964, tổng thống Pháp, tướng Charles De Gaule là nguyên thủ phương Tây đầu tiên ban ân huệ cho Mao, công nhận nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.

Để tỏ lòng hiếu khách, Pháp không những trải thảm đỏ tận chân cầu thang máy bay, mà còn trải lòng ra đón. Yến tiệc xa hoa chưa từng có tại lâu đài Versailles nguy nga. Buổi hòa nhạc Trung Hoa tại nhà hát Opera. Dạ tiệc, khiêu vũ lu bù trong cung điện Roi-Soleil tráng lệ. Champagne trào bọt trắng lòa với những hợp đồng chục tỷ Euro.

Khác hẳn Pháp, người Đức đón Tập không ồn ào, xa xỉ, nhưng cũng vẫn giành được những hợp đồng không thua kém. Đặc biệt là bà Thủ tướng Angela Merkel đã ghi hai bàn thắng ngoạn mục, mà vẫn giữ đúng những nghi lễ ngoại giao.

Bàn thắng thứ nhất: Tập muốn sử dụng chuyến thăm Đức để gây một sức ép, buộc Nhật phải thừa nhận những tội lỗi đã gây ra cho Trung Quốc trong Thế chiến II. Để thực hiện ý đồ này, Tập khéo léo mời bà Angela Merkel cùng đến thăm đài tưởng niệm nạn nhân chiến tranh Holocaust. 

angela merkel
Bà Merkel khôn ngoan nhận ra ngay ý đồ. Bà đáp: “Ngài có thể đi một mình vào lúc rảnh rỗi”. Bà không dại gì tham dự vào vòng xoáy ma quái của những cuộc chơi do Tập bày ra. Bị từ chối thẳng thừng, Tập cười lịch sự, nhưng trong lòng hẳn cay đắng lắm.

Bàn thắng thứ hai: Trong bữa ăn tối chia tay, ở mục tặng quà lưu niệm, bà Merkel tặng Tập một tấm bản đồ Trung Quốc cổ, do nhà bản đồ học người Pháp Jean-Baptiste Bourguignon vẽ vào năm 1735, dựa trên những khảo sát địa lý của các nhà truyền giáo Dòng Tên, và được xuất bản tại Đức vài năm sau đó.

Tập cầm quà trong tâm trạng nửa cười nửa mếu. Trên tấm bản đồ có ghi “China Proper”(Trung Quốc chính thức) trong đó không có Tây Tạng, Tân Cương, Nội Mông, Điếu Ngư, hay biển Đông. Riêng đảo Đài Loan và Hải Nam được vẽ bằng một màu khác, ngụ ý rằng hai hòn đảo này chưa thuộc quyền kiểm soát hoàn toàn của nhà Thanh lúc đó.

Những nội dung trên tấm bản đồ này lại trái ngược với quan điểm chính thức của chính quyền do Tập đang điều hành. Theo họ thì Tân Cương, Nội Mông, Tây Tạng, Đài Loan, Điếu Ngư, và biển Đông là “lãnh thổ lịch sử không thể chối cãi của Trung Quốc”.
Hơn nữa, những chi tiết trên bản đồ lại gợi ra bao vấn đề. Bản đồ được vẽ năm 1735 là năm Hoàng Đế Càn Long trị vì. Ông là một nhân vật kiệt xuất nhất trong triều đại nhà Thanh, mà vẫn chưa thể kiểm soát nổi những vùng miền nói trên thế thì làm sao có thể gọi là “lãnh thổ lịch sử từ thời cổ đại”, “không thể tách rời”, “không thể chối cãi”.

Tổng thống Pháp François Hollande tiếp Tập lịch sự đến mức ông không dám nhắc đến chuyện “nhân quyền” mà Tập vốn ghét cay ghét đắng. Còn bà Thủ tướng Đức Angela Merkel đã chẳng ngại ngùng đánh thẳng vào lòng kiêu hãnh bành trướng không phải của riêng Tập mà cả dân tộc Đại Hán.
Báo chí phương Tây gọi món quà bản đồ là “cú tát tai của Merkel” có lẽ cũng không ngoa.

                      Quả là:
           Đàn bà dễ có mấy tay,
  Đời xưa mấy mặt, đời này mấy gan ?

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Đàn Bà Dễ Có Mấy Tay- Nói Về Bà Thủ Tướng Đức. ST

TÂM THƯ của Hội H.O. Cứu Trợ TPB & QP VNCH v/v tổ chức Đại Nhạc Hội Cám Ơn Anh Kỳ 14

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở TÂM THƯ của Hội H.O. Cứu Trợ TPB & QP VNCH v/v tổ chức Đại Nhạc Hội Cám Ơn Anh Kỳ 14