Tháng 4 gọi hồn – Thơ Phien Nguyen

THÁNG 4 GỌI HỒN

 

Tháng tư đốt nến cầu trời

Thắp hương khấn nguyện cho người chiến binh

Một đời vì nước hy sinh

Thác không bia mộ vong linh lạc loài

Núi rừng ôm xác thân trai

Hồn thiêng u ẩn tuyền đài chẳng yên

Trăm năm nguyện ước tơ duyên

Ngàn thu vĩnh biệt nỗi niềm chưa tan

Gọi hồn từ chốn quan san

Sa trường đầu nuí cuối ngàn biển khơi

Tình nầy trọn kiếp không vơi

Tháng Tư Đen đến cầu Trời vọng nhân.

Phiến Nguyễn

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Tháng 4 gọi hồn – Thơ Phien Nguyen

30 tháng 4 1975 – Thơ Thái Bá Tân

30 THÁNG TƯ, 1975
Thái Bá Tân, Apr. 19, 2019

Bộ đội Miền Bắc chết
Một triệu một trăm nghìn.
Số lính Miền Nam chết –
Hai trăm tám hai nghìn.

Vì chiến tranh, dân chết –
Trên dưới hai triệu người.
Lính Miền Nam cải tạo,
Ngồi tù – một triệu người.

Trong số một triệu ấy,
Một trăm sáu lăm nghìn
Chết vì đói, lao lực,
Vì không còn niềm tin.

Trốn chạy khỏi cộng sản –
Hơn một triệu rưỡi người.
Hai trăm nghìn đã chết,
Bỏ xác ngoài biển khơi.

Từ đấy, dẫu đất nước
Hết chiến sự, bình yên,
Chín mươi triệu người Việt
Mất tự do, nhân quyền.

Vậy xin hỏi các vị:
Ngày ấy là ngày gì?
Vui mừng và kỷ niệm?
Nhưng vui mừng cái gì ?

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở 30 tháng 4 1975 – Thơ Thái Bá Tân

CẢM XÚC 30 THÁNG TƯ (Fb Lê Nguyễn)

CẢM XÚC 30 THÁNG TƯ, 

Ngày trở về của “người thua cuộc”

This image has an empty alt attribute; its file name is pic.png

Trước 1975:  Dự tiệc với TT.Nguyễn Văn Thiệu.  (ảnh trên)

Sau 1975:  Trở về từ trại cải tạo miền Bắc.  (ảnh dưới) Người đàn ông râu tóc bạc phơ trong ảnh là nguyên Đại tá VNCH Nguyễn Công Vĩnh. 13 năm sau ngày chiến tranh kết thúc (1975-1988), ông từ trại cải tạo trở về theo chuyến xe lửa dừng lại ga Hòa Hưng, Sài Gòn.

Ngày đi tóc vẫn còn xanh, ngày về tóc râu đã bạc, hom hem trong bộ quần áo tù màu xám.

Người vợ sau 13 năm gian khổ mỏi mòn, tóc cũng đã hoa râm, răng cũng rụng dần, nhưng vẫn còn chút xuân sắc của một thời mệnh phụ.

Người con, cằn cỗi với tháng năm trong một xã hội phân biệt đối xử, vì cha anh là tù “cải tạo”, nức nở ôm tay cha già, sau anh là người em trai cũng đang lau nước mắt.

Những giọt nước mắt này phải chăng để mừng đời “giải phóng” , hay ứa ra từ nỗi đớn đau của những người thua cuộc?

Bạn có thể quên vì bạn chưa sống với người Cộng Sản.

Anh có thể quên vì anh ở nước ngoài từ 1975.

Em có thể quên vì em sanh ra sau 1975.

Nhưng tôi, tôi không quên được, dù tôi muốn quên đi.

Bức hình này làm tôi ứa nước mắt mỗi khi nhìn. Ở đó tôi thấy thân phận bạn bè tôi, đồng đội tôi, vợ con tôi và bản thân tôi của một thời dĩ vãng.

Chỉ vì tôi là người trong cuộc !!!

 (Fb Lê Nguyễn)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở CẢM XÚC 30 THÁNG TƯ (Fb Lê Nguyễn)

Hãy công tâm với lãnh đạo VNCH ! (Lâm Mạnh Di)

Hãy công tâm với lãnh đạo VNCH !

Tác giả : Lâm Mạnh Di

Tôi đã viết rất nhiều bài viết về lý do tại sao miền Nam thua trận mất về tay CS. Nhưng dường như năm nào vào tháng 4, vẫn phải viết lại. Vâng, cho dù còn một chút sức tàn, tôi vẫn phải viết, vì rất nhiều người nhìn vào sự sụp đổ đó như cái tội của lãnh đạo VN thời bấy giờ, là cái tội của ông Thiệu ông Kỳ ..

This image has an empty alt attribute; its file name is p2.png

Chính tôi, hơn 40 năm trước khi miền Nam sụp đổ tôi cũng đã nghĩ và “đổ tội” như vậy. Nhưng, với thời gian, với những tài liệu được bạch hóa, tôi thấy mình ngây thơ và hồ đồ khi nghĩ như thế.

Trước hết, ta không nên nhìn sự sụp đổ của miền Nam trong giới hạn của tháng tư 1975, mà ta phải có cái nhìn tổng thể, nhìn từ lúc ra đời HĐ Geneve 1954 chia đôi đất nước.

Người CS không bao giờ giữ lời với những gì họ đã ký. HĐ Geneve chưa ráo mực, thì Lê Duẫn thay vì phải tập kết ra Bắc, ông ta đã ở lại miền Nam để tổ chức chiến tranh. Mà lại là chiến tranh khủng bố, chiến tranh du kích.

Ông ta làm chiến tranh khủng bố, chiến tranh du kích y như của Mao Trạch Đông theo đúng phương châm: lấy nông thôn bao vây thành thị.

Miền Tây sông ngòi chằng chịt, là vựa lúa nuôi cả miền Nam. Xây dựng một cây cầu nhỏ bắc qua sông cho sự di chuyển hàng hóa lúa gạo, cần biết bao nhiêu nhân lực và thời gian. Nhưng, chỉ cần 1 tên VC và 30 phút trong bóng đêm, là cây cầu đã bị giật sập. Miền Nam vì thế, sống trong sự khủng bố thường xuyên.

Chưa có đất nước nào thắng được chiến tranh khủng bố. Giàu mạnh như Mỹ, mất cả ngàn tỷ dollar, chỉ mới lấy được cái đầu của tên trùm khủng bố Bin Laden.. rồi sau đó lại mọc thêm những tổ chức khủng bố khác như IS.. etc. Âu Châu, phương tây khốn đốn như thế nào để chống khủng bố, thì có lẽ ai cũng biết ..

Trở về cuộc chiến VN, tôi không đổ tội người Mỹ cho sự sụp đổ miền Nam, nhưng tôi vẫn nhớ câu nói danh tiếng “Làm kẻ thù còn dễ hơn làm bạn với Mỹ”. Người Mỹ trước hết vì quyền lợi của họ, đến giúp miền Nam chặn đứng làn sóng đỏ phương bắc.This image has an empty alt attribute; its file name is p1.png

Nhưng, qua các cuộc bầu cử, ông Tổng Thống Mỹ nào cũng nghĩ trước hết làm thế nào mình thắng được cho cuộc bầu cử sắp đến. Vì thế mới có cuộc du hành của Nixon qua Bắc Kinh để bắt tay Mao Trạch Đông… Số phận miền Nam đã thấy được từ đó !

Ông Thiệu hiểu người CS hơn ai hết và biết trước, ký vào HĐ Paris là ký vào án tử cho miền Nam, ông đã cố kéo dài như có thể. Nhưng trước sức ép cúp viện trợ, rồi phong trào phản chiến đui mù khắp thế giới, ông đành phải ký bút.

HĐ Paris, trên danh nghĩa là hiệp định lập lại hòa bình chấm dứt chiến tranh, chấp nhận sự tự quyết của dân miền Nam có quyền chọn lựa một chính thể qua lá phiếu.

Nhưng, người CS cũng như với HĐ Geneve, họ chẳng bao giờ giữ những cam kết họ đã ký. Biết thời cơ đã đến, họ biến chiến tranh du kích thành chiến tranh quy ước, và vẫn giữ sự khủng bố ở các thành phố lớn.

Chúng ta bình tâm mà suy nghĩ, đến viện trợ nhân đạo 400 triệu dollar cũng bị quốc hội Mỹ từ chối, thì miền Nam còn hơi sức nào để chống đỡ với bọn VC ? Trong khi đó, 13 nước CS trên thế giới lúc bấy giờ viện trợ mãnh liệt cho VC, viện trợ từ cây súng, xe tăng, đến đôi giày, và đến từ ngay những bữa ăn.

Một người đã què quặt, làm sao có thể chống cự với thằng khỏe mạnh sức lực dồi dào ??

Sự sụp đổ miền Nam vào tay CS là điều dĩ nhiên trong bối cảnh lúc bấy giờ…

Lãnh đạo miền Nam, và trước hết những người lính anh hùng của QLVNCH đã làm hết những gì họ đã có thể. Người miền Nam từ đó phải chấp nhận cái chết trên biển cả mà tìm đường ra đi..

Tôi xin chấm dứt bài viết này với những lời comment của Ngô Nhật Đăng, một người bạn, một người em mà tôi rất quý mến và kính trọng:

“Em cũng tiếc VNCH, nhưng rồi một hôm đọc 1 ý kiến của 1 người VNCH nói rằng : sự thua của VNCH như là định mệnh đã được an bài, nó như 1 sự trừng phạt người miền Nam vì đã có lúc không biết trân trọng điều mình đã được hưởng vv….đại khái thế. Và em hiểu rằng, sự “thua” ấy là một điều cần để cho 1 cuộc hồi sinh vĩ đại của đất nước, cả Trung-Nam- Bắc.”

Tôi hy vọng bạn tôi, em tôi có lý!

Lâm Mạnh Di

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Hãy công tâm với lãnh đạo VNCH ! (Lâm Mạnh Di)

GIA  ĐÌNH  TÔI  VÀ  NGÀY  30-04 _ BS Trần Văn Tích

This image has an empty alt attribute; its file name is tran-van-tich.pngGIA  ĐÌNH  TÔI  VÀ  NGÀY  30-04 

BS. Trần Văn Tích, Nguyên Y sĩ trưởng Bệnh xá Phủ Đặc uỷ Trung ương Tình báo – VNCH

Vào ngày 30.04.75 tôi đang giữ chức vụ Y sĩ trưởng Bệnh xá Phủ Đặc uỷ Trung ương Tình báo. Nhân viên tình báo an ninh được xếp vào thành phần bị đe doạ tính mệnh nếu Miền Nam rơi vào tay cộng sản. Theo tác giả Frank Snepp trong “Sauve qui peut”, bản dịch tiếng Pháp cuốn “Decent Interval” thì Kissinger yêu cầu Quốc hội Hoa Kỳ biểu quyết chấp nhận cho 130.000 công dân Đông Dương nhập cảnh Hoa Kỳ, trong số có 50.000 người được xem là ở hoàn cảnh “chí nguy“ (de haut risque). Nhân viên Mỹ thuộc cơ quan DAO phải làm việc 24 giờ trên 24 để tiến hành thủ tục di tản các thành phần này*.

Tuy nhiên cầu di tản hàng không bằng trực thăng (chiến dịch Gió Tới Tấp, Frequent Wind) chỉ hoạt động từ 2 giờ chiều ngày 29 đến 4 giờ 42 sáng ngày 30 thì chấm dứt và chỉ bốc đi được hầu hết người Mỹ và 5.500 người Việt, chí nguy hay không. Trong khi đó thì nhiều tàu Hải quân lúc rời bến di tản vẫn còn rất rộng chỗ. Cuộc di tản bằng đường thuỷ kéo dài nhiều ngày. Ở Sài Gòn đến chiều ngày 30-4, khi VC đã vào chiếm Đô thành rồi, vẫn có những tàu Hải quân bắt đầu nhổ neo di tản. Cả những tàu đã nằm ụ từ lâu ở bến Bạch Đằng hay đang tu bổ ở Hải quân Công xưởng cũng được sửa chữa vội vàng để làm sao có thể chạy thì thôi.

Những ngày cuối tháng tư năm 1975 đó, trong không khí hoang mang lo sợ của toàn Miền Nam, các ông Trưởng ban – chức vụ tương đương với Giám đốc – thuộc Phủ Đặc uỷ thường xuống bệnh xá ngồi nói chuyện với tôi. Họ cho biết phía Mỹ đã yêu cầu Phủ Đặc uỷ thiết lập một danh sách toàn thể nhân viên của Phủ. Các cô nữ thư ký đang đánh máy không ngừng nghỉ danh sách đó, qui tụ đến vài ngàn nhân viên và gia đình. Danh sách đã hoàn tất kịp thời và một phái đoàn của Phủ, gồm một Trung tá và một Đại uý, đã mang danh sách sang Guam để chuẩn bị đón tiếp nhân viên Phủ. Từ ngày 28.04 trở đi, tôi được thông báo phải thường xuyên liên lạc với Phủ để nếu có lệnh tập họp di tản là phải chở vợ con đến địa điểm tập họp ngay tức khắc. Ngày 28 và ngày 29 tôi vào Bệnh xá Phủ và cùng với nhân viên Bệnh xá ngồi chờ lệnh. Chiều ngày 29 tôi không vào trụ sở Phủ ở bến Bạch Đằng mà đến một cơ quan phụ thuộc của Phủ đóng trụ sở tại đường Trần Bình Trọng gần nhà tôi để cùng các nhân viên khác của Phủ ngồi chờ. Rất nhiều nhân viên của Phủ Đặc uỷ không tìm cách khác để chạy trốn cộng sản vì tin tưởng vào lệnh của Phủ bảo phải chờ để được di tản chính thức, hợp lệ. Chúng tôi cùng có chung tâm trạng là người Mỹ đã hứa thì không thể phủ nhận sự tin cậy vào lời hứa của họ để tự minh dấn thân theo những con đường di tản ngoài dự trù.

Tối 30.04, tôi được nhân viên y tá thông báo phải đưa vợ con đến tập trung tại một ngôi nhà an toàn của Phủ nằm ngay sát cạnh Toà Đại sứ Hoa Kỳ trên đường Thống Nhất để chuẩn bị được di tản. Tại địa điểm này tôi đã gặp mặt đầy đủ các giới chức cao cấp phục vụ tại Phủ Đặc uỷ mà tôi từng quen biết hàng chục năm qua. Chúng tôi nằm ngồi la liệt trên sàn nhà. Riêng gia đình tôi được dành cho một cái bàn làm việc. Bà xã tôi và thằng con út nằm nghỉ trên bàn còn tôi và hai đứa con lớn thì chỉ có sàn nhà mà thôi. Cổng ra vào được bộ phận an ninh mang súng M16 canh gác chặt chẽ. Càng về khuya càng sốt ruột vì tiếng máy bay trực thăng lên xuống nóc nhà toà Đại sứ Mỹ ầm ĩ liên miên mà phía chúng tôi không nhận được chỉ thị gì cả. Không thể nào ngủ được và để bớt hoảng sợ, hai ba ông Trưởng ban rủ tôi ra ngoài đến gần Toà Đại sứ Mỹ xem cơ sự ra sao. Chúng tôi đã đứng nhìn cảnh trực thăng vần vũ hạ xuống rồi bay lên trên nóc toà Đại sứ. Chúng tôi đã đứng nhìn cảnh bàn dân thiên hạ đổ xô chen chúc nhau thành một khối người đông kinh khủng trước hai cánh cổng bằng sắt đóng im ỉm của Toà Đại sứ.

Rồi máy bay trực thăng không xuất hiện nữa trong khi trời bắt đầu hửng sáng. Chúng tôi đối diện với sự thực phũ phàng và chỉ còn cách thất thểu ai về nhà nấy. Riêng tôi thì xe Lambretta tôi chở vợ con đến nơi tập trung đã bị đánh cắp. Chúng tôi ra đứng bên lề đường chờ tắc xi nhưng mãi chẳng thấy. Bỗng một chiếc Volkswagen đậu xịch cạnh tôi. Hoá ra đó là xe của một vị Trung tá biệt phái phục vụ trong Phủ. Gia đình tôi lủi thủi lên xe nhờ vị Trung tá chở về nhà.

*

Theo wikipedia thì có 1.932 nhân viên tình báo đã tham gia trình diện “học tập cải tạo”. Hãy tạm chấp nhận con số gần hai ngàn người vào tù mút mùa sau 30.04 vì tin vào lời hứa di tản của phía Mỹ. Trong thực tế, có một số người tránh trình diện mà không ai có thể biết rõ là bao nhiêu. Sau khi tôi ở tù cộng sản về, có vài ba anh em đã đến thăm tôi và cho biết rằng họ giấu biệt gốc gác tình báo nên không bị tù. Trái lại, có nhân viên của Phủ Đặc uỷ nằm trong tù cộng sản đến mười bảy năm và chỉ được “cấp giấy ra trại” cùng thời điểm với một số sĩ quan cấp tướng Việt Nam Cộng Hoà.

Những ngày cuối tháng tư, thấy phía Tình báo có vẻ im lìm, Hải quân Việt Nam Cộng Hoà đã gọi điện thoại hỏi Tình báo có cần phương tiện di tản bằng đường thuỷ không, nếu cần Hải quân rất sẵn sàng cung cấp. Lúc này phụ trách lãnh đạo Phủ Đặc uỷ Trung ương Tình báo là Ông Nguyễn Phát Lộc, Quyền Đặc uỷ trưởng. Người nhấc máy điện thoại để Ông Nguyễn Phát Lộc trả lời phía Hải quân là một vị Đại uý biệt phái, hiện nay đang ở bên Cali. Nhưng Ông Nguyễn Phát Lộc chỉ biết cám ơn Hải quân và từ chối lời mời gọi di tản vì phía Mỹ đã hứa sẽ đảm trách chuyện này rồi. Các chi tiết này tôi được nghe kể lại vào những dịp tôi hội ngộ trên đất Hoa Kỳ cùng cựu nhân viên Phủ Đặc uỷ. Họ sang Mỹ theo diện HO. Có người còn cho biết là Colby, đầu sỏ CIA ở Sài Gòn năm 1975, đã xin lỗi Tướng Nguyễn Khắc Bình vì tổ chức di tản nhân viên tình báo Việt Nam Cộng Hoà thất bại!?

Kết quả là hầu như toàn bộ nhân viên Phủ Đặc uỷ vào tù cộng sản và một số chết trong tù. Ông Quyền Đặc uỷ trưởng Nguyễn Phát Lộc và Ông Trưởng ban T Nguyễn Kim Thuý là hai nhân vật cao cấp nhất hy sinh trong vòng ngục tù Việt cộng. Ông Nguyễn Phát Lộc vốn xuất thân từ Trường Quốc gia Hành chánh. Ông có tài đặc biệt về xem tử vi. Ông đã biên soạn hai ba cuốn sách xem tử vi được giới độc giả rất hâm mộ. Các anh em cùng ở tù với Ông kể cho tôi nghe là Ông Nguyễn Phát Lộc bảo rằng theo tử vi thì số Ông không chết trong tù. Quả nhiên khi Ông lâm bệnh nặng sắp mất thì giặc di chuyển Ông ra khỏi những hàng rào kẽm gai lớp lớp bao quanh trại giam và đưa Ông ra ngoài khu giam giữ tù nhân để cho Ông vào nằm cái gọi là bệnh xá của trại cải tạo và Ông lìa đời tại đây, dẫu sao thì cũng ở ngoài khuôn viên nhà tù cộng sản. Ông Nguyễn Kim Thuý rất thân với tôi khi chúng tôi cùng phục vụ tại Phủ Đặc uỷ. Ông mang nhiều bệnh khá trầm trọng nên thường được tôi khám bệnh cấp thuốc. Khi biết tin Ông vào tù, tôi rất lo cho sức khoẻ của Ông. Quả nhiên Ông đã không thể sống sót để trở về với vợ con. Bà vợ Ông Thuý là Hiệu trưởng một trường Trung học ở Sài Gòn trước 75.

*

Năm 1954, khi giao Miền Bắc cho Việt Minh, người Pháp đã thương thuyết để những người không chấp nhận sống với cộng sản có đủ, thậm chí có thừa, thời gian di cư vào Miền Nam. Do đó đã có chừng một triệu người dân Miền Bắc chọn di cư và tự do. Hải quân và Không quân Pháp phải cáng đáng và đã chu toàn mọi công việc chuyển di, với sự hỗ trợ của chừng ba mươi chiếc tàu thuỷ Mỹ và Anh. Đến lượt mình, năm 1975, người Mỹ đã không làm được như người Pháp.

Họ dự trù ngân khoản, phương tiện, cơ sở để đón những người không được cộng sản cho tiếp tục sống trong chế độ mới. Nhưng họ tính một đàng mà làm một nẻo. Thậm chí vì tin tưởng vào lời hứa của Mỹ nên Phủ Đặc uỷ Trung ương Tình báo Việt Nam Cộng Hoà đã từ chối lời mời gọi di tản bằng đường thuỷ của Hải quân Việt Nam.

Chiến dịch di tản người Mỹ và nhất là người Việt do phía Mỹ tổ chức ngày 30.04.75 là một chiến dịch tiến hành trong hỗn loạn. Có thể người Mỹ đã rút quân trong danh dự theo Hiệp định Paris nhưng Đại sứ Mỹ Martin thì lại phải ôm quốc kỳ Mỹ tháo chạy trối chết trên nóc toà Đại sứ. Còn người Việt Nam thì chẳng những cả ngàn nhân viên tình báo đã bị kẹt lại mà bên cạnh còn có nhiều nhân vật hoạt động chính trị chống cộng rất tích cực cũng chẳng được ai đoái hoài nên đã không thoát được thân.

Đành rằng Hoa Kỳ đã có những chương trình thương thuyết với Việt cộng để đón tiếp một tập thể rất đông đảo quân cán chính Miền Nam không chấp nhận sống chung với cộng sản. Nhưng cái giá mà người Việt Miền Nam phải trả vì cung cách bỏ rơi Việt Nam Cộng Hoà của Mỹ vẫn là một cái giá quá cao. Hơn nữa, sau Nam Việt Nam, đã có những tình huống bỏ mặc, không quan tâm đến đối với một số các sắc dân hay quốc gia khác đã từng cộng tác với Hoa Kỳ.

Theo suy tư của cá nhân tôi, đây là một cục diện hết sức đáng buồn và đáng tiếc.
06.04.2021
BS. Trần Văn Tích

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở GIA  ĐÌNH  TÔI  VÀ  NGÀY  30-04 _ BS Trần Văn Tích

Dinh Độc Lập ngày 30/4/1975- Hồi ký của K1 VĐN

DINH ĐỘC LẬP

ngày 30 tháng 4 năm 1975.

ddl

Mặc dù đã hơn ba mươi ba năm trôi qua, nhưng cứ mỗi độ tháng tư về, không ai bảo ai, muôn người dân của chế độ Việt Nam Cộng Hòa như một, không phân biệt thành phần dân quân cán chính, trong mọi hoàn cảnh dù nhọc nhằn sinh sống ở trong nước hay bôn ba nơi hãi ngọai đều có những phút giây bâng khuâng, bàng hoàng hồi tưởng về ngày 30 tháng 4 năm 1975 với biết bao kỹ niệm đau thương, tràn đầy nước mắt cùng những ngậm ngùi, xót xa và luyến tiếc cho chuỗi ngày tươi đẹp đã qua.

Thật vậy, ngày 30 tháng 4 năm 1975 mà chúng ta thường gọi ngày quốc hận hay ngày mất nước là ngày mà cả miền Nam thân yêu của chúng ta rơi vào tay Cộng Sản, ngày mà chế độ Việt Nam Cộng Hòa đã bị bọn Cộng Sản miền Bắc xâm lược khai tử. Không những nền độc lập, dân chủ và tự do đã chết theo cùng với chế độ chính trị mà cuộc sống ấm no, hạnh phúc của toàn dân miền Nam Việt Nam cũng bắt đầu sa sút, thê thãm và chết dần, chết mòn từ đó.

Những nạn nhân đầu tiên của tập doàn Cộng Sản khát máu phải kể đến là hằng triệu quân nhân thuộc mọi binh chủng, các chiến sĩ thuộc các lực lượng bán quân sự, và nhân viên các cấp trong chính quyền từ trung ương đến địa phương thuộc các ngành lập pháp, hành pháp và tư pháp còn ở lại trong nước. Đây là những thành phần mà Cộng sản đánh giá là phản động và là kẻ thù hàng đầu cần phải trừ khử bằng mọi cách kể cả việc bắn giết ngay tại chỗ hoặc lập ra các pháp trường để hành hình một cách vô tội vạ.  Số người sống sót còn lại được chúng đưa đi “học tập cải tạo”, một mỹ từ mà Cộng sản dùng để che đậy cho sự tẩy nảo kẻ thù và cũng là thực thi sự trả thù hèn hạ của chúng. Các trại tập trung được mọc lên như nấm ở khắp mọi nơi, từ thành thị đến thôn quê, từ đồng bằng đén tận chốn rừng sâu nước độc, là nơi hành hạ, đày ải hàng trăm ngàn người tù “cải tạo”. Thông qua lao động khổ sai, những người ‘tù cải tạo” bị chết lần chết mòn trong lao lực, trong đói khát và cả trong bệnh tật. Không những thể xác bị hành hạ mà tinh thần và danh dự của những người tù “cải tạo” này cũng bị nhục mạ, bị chà đạp, bị dày xéo dưới những hình thức tàn ác, vô nhân như hạn chế liên lạc thư tín, kiểm duyệt thư từ của gia đình, họp hành bầu bán hằng đêm để đấu tố nhau hoặc tự kiểm điểm. Độc hại nhất là thời gian “học tập cải tạo” không được tuyên bố rõ ràng mà thay vào đó là chế độ chồng án tập trung cải tạo, cứ mỗi lần là ba năm. Sự ác độc và vô nhân của án tập trung này là người “tù tập trung cải tạo” không biết được ngày nào sẽ mãn án như những người tù hình sự, mà những người tù này chi còn một cách duy nhất là mòn mõi đếm thời gian đi qua để biết rằng mình đã bị tù bao lâu và mong đợi một ngày vô định nào đó mình sẽ được tha về mà thôi. Do đó, người tù tập trung phải luôn cố gắng “cải tạo tốt”, nghĩa là lúc nào cũng phải “an tâm cải tạo và lao động thật tốt” đúng như tiêu chuẩn của Trại Cải Tạo đề ra, mới mong có ngày được về, như câu nói chiêu dụ hằng ngày ở dầu môi chót lưởi của bọn cai tù Cộng sản.

Những nạn nhân kế tiếp là vợ con, gia đình và thân nhân của những người “tù cải tạo” thuộc các diện trên. Lúc đầu, Cộng sản chiêu dụ gia đình, vợ con và thân nhân của các thành phần quân, cán, chính Việt Nam Cộng Hòa nên di chuyển lên sinh sống tại các “vùng kinh tế mới”- những vùng đất khô cằn, hoang vắng không thể canh tác được – và giao nhà cửa đang ở cho chúng quản lý để chồng, cha, con, anh, em đang” hoc tập cải tạo ”sớm được tha về. Chiêu bài này không gây được hiệu quả vì mọi người dân miền Nam đã hiểu được bộ mặt tráo trở, gian manh của Cộng sản, thế là chúng bèn xoay qua dùng bạo lực để cưởng bức. Chúng ép buộc gia đình của những thành phần “cải tạo” này phải vào trụ sở Phường, Khóm hoc tập, kiểm điểm, ký giây“tình nguyện” đi “vùng kinh tế mới”, rồi ép buộc, xua đuổi họ lên xe, chở đến những vùng đầt hoang dã, khỉ ho cò gáy, ở tận đâu đâu, bỏ mặc những gia đình này với bao thảm thương, dãi dầu mưa nắng, bơ vơ phấn đấu với đói khát, với bệnh tật và chết chóc…

Rồi đến những nhà tư bản, công kỹ nghệ gia miền Nam mà bọn Cộng sản gán cho là giai cấp “tư sản mại bản”, một giai cấp “bóc lột” cần phải diệt trừ bằng cách tịch thu tài sản và đưa đi “tập trung cải tạo”.

Những nạn nhân bất hạnh sau cùng là toàn dân miền Nam. Mọi người dân miền Nam đều phải sống trong một nhà tù khổng lồ, bị quản chề bởi một đội ngũ công an dày đặc. Ngoài ra, với chế độ kiểm soát hộ khẩu, người dân không còn được tự do đi lại từ nơi này sang nơi khác để mưu sinh. Hơn thế nữa, cả việc ăn mặc của người dân cũng bị hạn chế và kiểm soát qua việc cấp phát tem phiếu. Và sau cùng, để bần cùng hóa người dân miền Nam đến tận cùng, bọn lảnh đạo Cộng sản đã thực hiện chính sách đổi tiền. Kết quả đưa đến đúng như dự tính của bọn chúng: sau hai lần đổi tiền, cuộc sống người dân miền Nam không còn sung túc, ấm no như trước mà đã trở nên tơi tã, đói nghèo và “bình đẳng” ngang với người dân đói khổ miền Bắc sống dưới chế độ “ưu việt” Xã Hội Chũ Nghĩa” đã hơn hai mươi năm qua.

Rồi thì một số người lũ lượt rời bỏ “cái thiên đường xã hội chũ nghĩa” để đi tìm tự do ỏ một quốc gia vô định nào đó. Họ đành ngậm ngùi rời bỏ quê cha đất tổ, phó mặc cho số phận đẫy đưa, có người đi bằng đường bộ, băng rừng vượt suối, có kẻ lại dùng những con thuyền mỏng manh, nhỏ nhoi đạp sóng, vượt trùng dương bao la đầy bảo táp. Vì đâu mà những người dân lành này phải chấp nhận hiểm nguy, đói khát, thú dữ, hải tặc cướp của, hảm hiếp, và có khi phải hy sinh, đánh đổi cả mạng sống của minh. Ôi! Thương thay cho những người dân vô tội đành gạt nước mắt, lìa xa quê hương tị nạn Cộng Sản và cũng cao quý thay cho hai chữ “Tự Do”!

Hệ luỵ của ngày 30 tháng 4 năm 1975 đối với người dân Việt Nam Cộng Hoà quả thật hết sức nghiêm trọng, to tát và xót xa như thế. Riêng đối với tôi, hệ lụy của ngày này cũng đã khiến cho tôi thành một người tù “cải tạo” gần 13 năm lưu đày từ Nam ra Bắc, phải chịu đựng những ngày dài tăm tối, đói khổ và cô đơn trong kềm kẹp, gông cùm ở Trại 5 Lý Bá Sơ, cùng những nhọc nhằn và trăn trở trong chốn kiên giam lạnh lẽo nơi Trại Thanh Cẫm. Thật vậy, ngày 30 tháng 4 năm 1975 này vĩnh viễn lưu lại một ấn tượng sâu đậm khó quên trong ký ức tôi dù khá nhạt nhòa bởi năm tháng. Sở dĩ không thể quên được vì sáng ngày 30 thàng 4 năm 1975, chính tôi lại là một trong những chứng nhân hiếm hoi đã hiện diện trong Dinh Độc Lập vào những giây phút lịch sữ sang trang đớn đau cùa miền Nam Việt Nam này.

Chúng tôi đến Dinh Độc Lập vào khoảng 10 giờ sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975, tình hình lúc bấy giờ tương đối yên tỉnh và vắng vẻ vì ít người qua lại trong dinh. Được biết trước đó chẳng bao lâu, một số anh em binh sĩ và sĩ quan thuộc lưc lượng Lôi Hỗ đã đến tập họp ở sân cỏ, trong vòng rào sắt, nằm ở mặt tiền dinh, với ý định quyết tử thủ với Cộng quân. Nhưng vì phải tuân lệnh buông súng của thượng cấp, số anh em binh sĩ này chuyển ý và định dùng lựu đạn tự sát tập thể. Sau khi chất vấn và được Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh, với tư cách Quyền Tổng Tham Mưu Trưởng, giải thích, số quân nhân Lôi Hổ này đã tự động rút đi. Chiếc trực thăng ứng trực, duy nhất và sau cùng cũng vừa được lệnh của Tổng Thông Dương văn Minh cho di tản và đã cất cánh bay đi.

Trung Tá Chánh Văn Phòng của Tổng Thống Minh cũng cho biết thêm là đất nước hiện đang trải qua một tình huống thật hết sức nghiêm trọng, nếu không muốn nói là thê thảm vì các Tướng lảnh cũng như các Đơn vị trưởng quân đội cấp trung ương hầu như không có mặt tại đơn vị, ngay như Tướng Vĩnh Lộc, Tổng Tham Mưu Trưởng vùa được chỉ định bởi Tổng Thống Minh, cũng đã được Mỹ bốc đi đêm qua.

Vào khoảng 11 giờ, Thủ Tướng Vũ văn Mẫu đuợc đoàn xe mô-tô hộ tống đưa vào Dinh để gặp Tổng Thống Minh. Trong phòng khánh tiết bên cánh trái Dinh Độc Lập lúc này cũng khá đông, trên dưới ba mươi người, mà tôi còn nhớ một ít, gồm một số thành viên Nội Các cũ như các Ông Nguyễn văn Hảo, Nguyễn văn Diệp, Chủ Tịch Giám Sát Viện Bùi Hòe Thực, một số thành viên thuộc Nội Các Vũ văn Mẫu như các Ông Bùi Tường Huân, Bùi Thế Dung, Lý Quý Chung, Chuẩn Tướng Nguyễn Hữu Hạnh cùng một số ít sĩ quan và binh sĩ tùy tùng.

Hơn mấy mươi con người tập trung tại đây, mặc dầu có những mục đích, suy nghĩ cá biệt nhưng nói chung mọi người đều an lòng chờ đợi một biến cố quan trọng đang đến sẽ quyết định cho số phận cá nhân mình cũng như cho vận mệnh tương lai của đất nước thân yêu. Thật sự, cho đến giờ phút này chừng bao nhiêu con người ấy, kể cả Tổng Thống Minh, Thủ Tướng Mẫu đều không biết được rồi đây sự việc sẽ diễn biến như thế nào, theo chiều hướng nào, có đổ máu hay không, một khi Cộng quân tiến vào Dinh Độc Lập, nơi tập trung đầu nảo sau cùng của chính quyền Việt Nam Cộng Hoà.

Trong lúc mọi người đang chờ đợi Cộng quân, Phó Tổng Thống Nguyễn văn Huyền vừa đi vào vừa nói lời xin lổi vì đến trê. Ông cho biết đúng ra đã đến sớm hơn, nhưng vì bị kẹt xe nên không thể đến đúng giờ như đã hứa được. Có một chi tiết nhỏ mà tôi thấy cũng nên đề cập đến trong khoảng thời gian nầy là khi đi vệ sinh, tôi có gặp Chuẩn Tướng Hạnh, người duy nhất còn mặc quân phục bộ binh Việt Nam Cộng Hòa, màu ô-liu với một ngôi sao trắng năm cánh đính trên cổ áo. Tôi liền hỏi:” Thiếu Tướng có thường phục không? Nếu có thì nên thay thường phục vì khi Việt Cộng vào có thể họ sẽ làm nhục bộ quân phục của minh.” Sau đó, tôi thấy Chuẩn Tướng Hạnh đã thay thường phục và khi vào phòng vệ sinh tôi thấy bộ quân phục nằm dưới sàn gạch ở một góc phòng và ngôi sao bạc đã được tháo gở đi không còn trên cổ áo nữa.

Đến khoảng hơn 12 giờ trưa, hai chiếc xe tăng mang cờ Mặt Trận Giải Phóng theo đại lộ Thống Nhất lao vào, ủi sập cổng sằt phía trước và tiến vào sân Dinh. Một nhóm Cộng quân, chừng năm, sáu tên mặc quân phục không đeo cấp bậc, trang bị vũ khí cá nhân chạy lên những bậc thang ở tiền đình, tiến vào bên trong Dinh. Khi vào đến bên trong, tên đi đầu, có vẻ là tên chỉ huy, tay cầm súng ngắn chỉa thẳng vào nhóm chúng tôi đang đứng đợi ở hành lang, điệu bộ rất hung hăng, hách dịch quát hỏi: ” Thằng nào là Dương văn Minh”. Tướng Minh bước ra khỏi đám đông, trả lời:” Tôi đây, chúng tôi đang chờ các anh đến để nói chuyện.” Tên cầm súng ngắn với thái độ trịch thượng, bước nhanh tới, một tay chộp cổ áo Tướng Minh, tay kia cầm súng ngắn chỉa thẳng vào ngực Tướng Minh và bảo:” Không có nói chuyện gì cả, chúng tôi là kẻ chiến thắng”. Tướng Minh rất điềm tỉnh, ôn tồn trả lời:” Từ từ, chúng tôi chờ đợi các anh ở đây mà.” Trước sự điềm tỉnh của Tướng Minh, thái độ tên cầm súng bớt hống hách, có phần nào dịu đi, liền buông tay ở ngực áo Tướng Minh xuống. Ngay lúc đó, một tên lính Việt Cộng khác, tay cầm cây cờ Mặt Trận Giải Phóng, chạy đến hỏi có ai biết đường đưa hắn lên nóc dinh để cắm cờ. Nếu tôi nhớ không lầm thì dường như Đại Tá Chiêm, Chánh Võ Phòng của Tổng Thống Thiệu, người rành địa thế trong dinh nhất trong số những người có mặt lúc bấy giờ, đã phải hướng dẫn tên lính lên nóc dinh cấm cờ. Trong khi đó, Tướng Minh hỏi tên cầm súng ngắn: ” Tôi muốn gặp người chi huy các anh.”. Tên cầm súng gằn giọng:” Không có ai để gặp cả.” Sau đó, hắn bảo tất cả chúng tôi đi vào căn phòng lớn kế bên ngay tầng hai và căn dặn là không ai đựơc ra khỏi phòng, nếu muốn đi vệ sinh hoặc uống nước phải báo cáo với hai tên bộ đội gác ở phía ngoài đầu phòng. Riêng Tướng Minh, Ông Huyền, Ông Mẫu cùng gia đình và thân nhân của Tướng Minh thì ở trên lầu ba.

VDN 1

Gian phòng, khá rộng cho trên dưới ba mươi người chúng tôi, tọa lạc ở tầng hai, bên cánh trái dinh Độc Lập cách một hành lang giữa và đối diện với phòng làm việc của Tổng Thống Thiệu nằm bên cánh mặt. Xung quanh phòng, trừ tấm vách cuối phòng bên trái, toàn bằng kính trong suồt có màng phủ chung quanh. Nghe nói trước đây là phòng họp nội các hay phòng khánh tiết gì đó. Tuy bị giữ ở trong phòng, nhưng chúng tôi rất thoải mái, kẻ ngồi trên ghế, người nằm dài trên thảm. Một nhóm tụ tập nói chuyện ồn ào, nhóm khác ngồi hoặc nằm trầm ngâm, suy tưởng. Khác với mọi người nói trên, riêng Ông Nguyễn văn Hão lần ra cửa phía hành lang giữa gợi chuyện cùng tên cán binh Việt Cộng đứng gác ở đó. Tên cán binh này rất trẻ, mặt non choẹt, mặc quân phục, không cấp bậc và đeo khẩu AK trên vai, nói giọng miền Bắc. Tôi còn nhớ nội dung cuộc đối thoại giữa hai người đại khái như sau, xin kể ra đây để quý vị đọc giã cùng thưởng thức nghệ thuật nói láo của Vẹm:

– Anh ở ngoài Bắc vào?

– Đúng vậy.

– Trước khi đến đây, anh có đi ngang quaThủ Đức không?

– Có.

– Thế anh có thấy nhà máy biến điện thật lớn ở Thủ Đức không?

– Có.

– Thế ở ngoài Bắc, các anh có nhà máy biến điện như thế không?

– Thiếu chi, cứ vài trăm mét là có một cái.

Thế đấy, đó là lần đầu tiên mà chúng tôi được biết sự nghiệp giáo dục cao qúy của Bác và Đảng đã khéo dạy cho các cháu thiếu niên miền Bắc tài nói …láo thật là siêu việt.

Đến khoảng 3 giờ chiều, bầu không khí trong phòng vẫn yên tỉnh vâ trầm lắng vì cho đến giờ phút này vẫn chưa có người nào bên đối phương đến tiếp xúc cả. Thình lình, cả tòa nhà bị rung chuyễn do những tiếng nổ chát chúa khá lớn và nghe rất gần, không thể phân biệt được do đạn pháo kích hay tiếng bom nổ do phi cơ oanh kích. Đang lúc chúng tôi còn hoang mang, không biết việc gì xảy ra, một cán binh Việt Cộng, mặc quân phục nhưng không đeo cấp bậc, bước vào phòng hỏi: ”Có ai biết hầm trú ẩn trong dinh ở đâu? Hảy đưa tất cả các anh ở đây tạm thời xuống đấy lánh nạn.” Có tiếng trả lời :”Không biết hầm trú ẩn, nhưng có biết tầng hầm”. Thế là chúng tôi được hướng dẫn bởi một vị nào đó mà tôi không nhớ rỏ là ai trong chúng tôi, đi xuống tầng hầm. Tuy nói là tầng hầm nhưng thật ra đây chỉ là một gian phòng nhỏ, kích thước mỗi bề khoảng năm thước, nằm dưới mặt đất, bên cánh mặt, liền ngay phía sau dinh và được dùng làm nơi chứa vật dụng cá nhân của các quân nhân thuộc đơn vị bảo vệ Tổng Thống Phủ. Sở dỉ được suy đoán như thế là nhờ có những ngăn tủ bằng cây dựng chung quanh vách phòng cùng những áo quần và lương khô vương vãi trong phòng. Vì phòng này tương đối hẹp và nóng nực do không có máy điều hòa không khí nên chúng tôi phải chen chúc nhau, kẻ ngồi người nằm, một vài người còn cởi áo ngoài chỉ mặc đơn độc chiếc áo thun cho đở nóng nực. Tướng Minh ngồi trầm ngâm tựa lưng vào cửa ngăn tủ, còn Ông Hảo chỉ mặc áo thun và nằm dài trên sàn gạch. Mọi người đều đinh ninh đây là phòng giam mà bọn Việt Cộng dành cho chúng tôi sau khi chúng bắt giữ được hầu hết những thành phần lảnh đạo của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa còn nán lại ở Sàigòn. Nhằm làm giảm bớt phần nào căng thẳng, một vài người nghịch ngợm lục lọi các ngăn tủ không khóa, bắt gặp vài bao gạo xấy khô hay một vài bao mì ăn liền. Thế là chúng tôi phân phát và chia nhau những mẫu mì khô nho nhỏ nhai cho vui miệng và chờ thời gian trôi qua. Tuy nhiên, trái với những suy nghĩ của chúng tôi, đến xế chiều chúng tôi lại được đưa lên trở lại phòng khánh tiêt trên tầng hai. Trên đường trở lại phòng khánh tiết, chúng tôi có hỏi dò xem lý do tại sao lại có những tiếng nổ đó và được tên cán binh trả lời ngắn gọn và qua loa  là: “quân ta bắn lầm, không có chi.”

Đến tối khuya, chúng tôi được đưa xuống phòng ăn để dùng cơm tối. Người đưa chúng tôi đến phòng ăn, theo như anh ta tự nhận là Thượng Sĩ Mười, tài xế của Tổng Thống Thiệu và cũng là Việt Cộng nằm vùng. Phòng ăn này khá lớn, chiếm nguyên cánh mặt của tầng một, là nơi dành để đải ăn cho quan khách của Tổng Thống Thiệu. Khi chúng tôi bước vào, việc đầu tiên đập vào mắt chúng tôi là một chiếc bàn lớn, dài nằm giữa và chiếm gần hết căn phòng với hai dãy ghế chạy dài hai bên bàn. Chiếc bàn được phủ bằng một chiêc khăn trải bàn trắng rầt sang trọng, bên trên muỗng, nĩa, và dĩa ăn đã được chưng bày sẵn. Cơm và thức ăn cũng đã được dọn sẵn trong những tô lớn và dĩa bàn lớn. Nói chung, cách thức trang hoàng và trình bày cho bửa ăn rất là hào nhoáng và sang trọng, nhưng phần thức ăn thì ngược lại chỉ toàn là mỗi cơm ẩm và cá khô mốc mà thôi. Được Thượng Sĩ Mười cho biết đây là nổ lực của anh ta và các nhân viên, binh sĩ cũ đến trình diện trong ngày đã dùng những hàng tồn kho kiếm được trong Dinh nấu nướng để “đải các ông thầy”. Đặc biệt, chúng tôi không thấy sự hiện diện của quý Ông Minh, Huyền và Mẫu trong bửa ăn muộn màng này. Sau bửa ăn chúng tôi lại được đưa trở lên phòng khánh tiết ở tầng hai để ngủ qua đêm.

Sau khi trở lại phòng khánh tiết, như đã nói ngoại trừ quý Ông Minh, Huyền, Mẫu và thân nhân của Ông Minh vẫn bị giữ ở tầng lầu ba, mỗi người chúng tôi liền tự động tìm chỗ nghĩ ngơi cho mình. Rải rác đây đó, người thì nằm trên ghế dài hoặc ngay trên thảm, kẻ thì ngồi trên ghế, người thì vẫn mặc nguyên áo quần, kẻ thì chỉ mặc áo thun hoặc ở trần. Chỗ này tập họp năm ba người ngồi nói chuyện vớ vẩn, góc kia vài ba người nằm riêng rẽ, suy tư chờ giấc ngủ qua đêm. Bên ngoài phòng vẫn túc trực hai cán binh Việt Cộng với khẩu AK trên vai đứng canh gác. Vì phòng vệ sinh và máy nước uống nằm bên ngoài phòng khánh tiết, nên mỗi khi có người nào trong chúng tôi cần đi vệ sinh hay uống nước thì phải báo cáo với một trong hai cán binh trên. Suốt đêm tuyệt nhiên không một người lạ nào bước vào phòng phiền nhiễu chúng tôi cả.

Hôm sau nhằm ngày lể Lao Động 1 tháng 5, nhưng buổi sáng tình hình ở đây vẫn yên lặng và không có gì mới lạ. Thỉnh thoảng xuất hiện một vài cán binh Việt Cộng, mặc quân phục xanh lá cây, có vẻ là giới chức nhưng không đeo cấp bậc, đứng bên ngoài cửa kính nhìn vào và nói chuyện với những người tháp tùng rồi đi mất.

Mãi đến khoảng 10 giờ sáng, một cán binh bộ đội bước vào phòng hỏi chúng tôi về việc ẫm thực. Anh cho biết có ba giải pháp về việc ăn trưa và chiều cho ngày hôm đó mà chúng tôi phải chọn một:

-thứ nhất là gia đình mỗi người chúng tôi sẽ được thông báo để mang thực phẩm đến.

-thứ hai là chúng tôi phải xuất tiền túi và họ sẽ cử người đi mua thức ăn ở những tiệm ăn gần đó.

-thứ ba là họ vẫn cung cấp bửa ăn cho chúng tôi, nhưng giống như tối hôm qua, chỉ là cơm ẩm và khô mốc mà thôi.

Sau khi bàn thảo, chúng tôi đã đi đến quyết định chung là chọn giải pháp thứ nhất, thông báo gia đinh mang phần ăn đến cho chúng tôi. Sở dĩ chúng tôi chọn giải pháp này vì nó đáp ứng được nổi lo âu trong lòng của chúng tôi là muốn thông báo đến gia đình tình trạng thực tế của mình lúc bấy giờ. Thế là chúng tôi mỗi người tìm một mảnh giấy để viết điạ chỉ của minh rồi gom góp lại chuyển cho tên cán binh đó.

Một lúc sau, tên cán binh trên trở lại và phổ biến quyết định mới nhất mà chúng tôi cho là đã có từ đầu là vì không đũ người đi đến từng gia đình để thông báo nên chúng tôi phải đưa tiền để họ đi mua thức ăn. Biết được đây chỉ là mưu ma chước quỹ của Việt Cộng nên chúng tôi không thắc mắc gì, chỉ cùng nhau chung tiền để họ đi mua thức ăn. Một lúc sau thức ăn được mang về gồm bánh mì, thịt nguội và bánh ngọt. Lần này, thay vì được xuống phòng ăn, Thuợng Sĩ Mười cho người quét dọn và lau sạch sàn gạch của hành lang ngay phía sau phòng khánh tiết và để thức ăn ngay trên sàn gạch cho chúng tôi tự dùng. Khi “bửa ăn” gần xong, Ông Minh thình lình xuất hiện, đi về phía chúng tôi và hỏi có còn thức ăn không vì các cháu bé trên lầu đói lắm. Nhân tiện, tôi có hỏi Ông tình hình có biến chuyển mới lạ gì không, và được trả lời vẫn không có gì thay đổi vì đến lúc bấy giờ phía đối phương vẫn chưa ai đến gặp cả. Đó là lần gặp gở và tiếp chuyện sau cùng giữa Ông Minh và tôi. Sau đó, theo ý Ông, chúng tôi gói ghém những thức ăn và bánh ngọt chưa được dùng đến, trao cho Ông để mang lên lầu cho các người bị giữ trên ấy dùng. 

Rồi một đêm nữa lại trôi qua, tình hình vẫn yên tĩnh và không có gì mới lạ xãy ra cho đến khoảng 10 giờ sáng ngày 2 tháng 5, từng người một trong chúng tôi lần lượt được mời đi “làm việc” và được trả tự do liền sau đó. Khi được mời đi “làm việc” vào khoảng 11 giờ, tôi được hướng dẫn đến gặp một cán binh Việt Cộng, mặc quân phục không đeo cấp bậc, ngồi chờ sẳn tại bàn làm việc của nguyên Tổng Thống Thiệu. Hắn không xưng tên họ cũng như cấp bậc hay chức vụ, chỉ hỏi tên họ và địa chỉ của tôi rồi điền vào những khoảng trống trên một mảnh giấy đánh máy, nhỏ bằng bàn tay và trao cho tôi rồi bảo tôi có thể đi về nhà. Nếu tôi nhớ không lầm thì mảnh giấy này có nội dung là chứng nhận trình diện và do Cao Đăng Chiếm ký thay mặt Uỹ Ban Quân Quản Thành Phố.

VDN 2

Thay lời kết: Dù đã được cố gắng ghi lại đầy đũ và khách quan những sự việc xảy ra vào những giây phút lịch sữ khổ đau này, nhưng với thời gian, chắc hẳn bài viềt này cũng không thoát khỏi ít nhiều sai sót, do đó mong quý độc giã niệm tình tha thứ và sửa sai cho. Ngoài ra, vì muốn giữ tính trung thực và khách quan, trong bài viết này, tôi có đề cập đến danh tánh của một số quý vị mà tôi không thể liên lạc để xin phép trước. Nhân đây, cũng xin quý vị đã được nêu tên trong bài viết này miển thứ cho tôi về sự mạo muội này và xem đây như là lời xin phép vậy. Xin đa tạ.                                                                                Los Angeles, tháng 9 năm 2008.
Võ Đăng Ngọc.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Dinh Độc Lập ngày 30/4/1975- Hồi ký của K1 VĐN

Tương Lai Nước Mỹ – BS. Nguyễn Tiến Cảnh

Tương Lai Nước Mỹ – BS. Nguyễn Tiến Cảnh

Nước Mỹ có thể ngồi lại với nhau để đoàn kết được không? Đây là câu hỏi cấp thiết và cực kỳ quan trọng trong lúc này. Một quốc gia đứng đầu thế giới đang lâm nguy về luân lý. Vẫn còn dư đầy sức mạnh và khả năng để làm những việc vỹ đại và cao thượng, nhưng lại đang là lúc bị tấn công. Tương lai đã trở thành vấn đề. Những dòng chữ viết tay hiện diện ở trên tường. Bạn hiểu gì, biết gì về tương lai Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ?

Tình trạng đối nghịch của người dân giữa hai phe cấp tiến và bảo thủ cũng trở nên gây cấn hơn bao giờ hết. Ngay cả trong ‘y giới’ tình thân thiết cũng bị rạn nứt, gay gắt có khi đến độ không muốn nhìn mặt nhau. Vì những chuyện có vẻ vớ vẩn chẳng ăn nhập gì với cuộc sống bình thường như ở quá khứ. Người ta không hiểu tại sao? Ngay cả trong cùng một gia đình. Nói chi ngoài xã hội.

Nhìn ngược về quá khứ một năm trước, thì không phải là vô lý khi đưa ra vấn đề, dân Mỹ có thể thực sự ngồi lại với nhau được không hay cái gì có thể giúp cho Hoa Kỳ ngồi lại với nhau để đoàn kết? Năm 2020 bắt đầu với một cuộc đảo chính tổng thống bất thành bằng một cuộc đàn hạch. Ít lâu sau đó là một cuộc đóng cửa quốc gia để ứng phó với nạn dịch Covid-19. Tình trạng kinh tế Hoa Kỳ bị đụng khá nặng một cách đặc biệt với hàng triệu người lâm cảnh thất nghiệp và khối nợ dâng cao khiến chính phủ phải bơm tiền cho nền kinh tế và túi tiền người dân với một lãi xuất đặc biệt. Tình trạng này tồi tệ hơn nữa là vào những tháng tình trạng cướp phá xẩy ra ở những thị trấn lớn. Những tai nạn do cảnh sát làm chết những công dân da đen lại bị gán cho tội kỳ thị. Loại kỳ thị có hệ thống. Cướp phá, đốt cháy và hôi của kể từ thập niên 1960 đã không thấy, nay lại biến nhiều khu phố ở Minneapolis, Portland, Chicago và Seattle thành bãi chiến trường. Những cuộc tranh cãi về kỳ thị lại được hâm nóng, gây cảnh chia rẽ ghê gớm hơn cả hàng chục năm về trước. Điều thiếu sót là không thấy có đủ tiếng nói hợp lý để tìm kiếm hòa bình, để hiểu và đưa ra những giải pháp cần thiết. Giống như những thời kỳ mà nền văn hóa Hoa Kỳ thiếu vắng sự khôn ngoan và phương cách lãnh đạo hợp lý, lại là một thiếu sót rất đáng buồn.

Dĩ nhiên, tiếp đó là đến cuộc bầu cử tổng thống. Đỉnh điểm là những hãng truyền thông lớn và những công ty kỹ thuật cao đang kiểm soát gắt gao công luận, đã cho biết trước những việc bầu phiếu và đếm phiếu bất thường, tạo nên nghi vấn về cảnh bầu cử gian lận ở 6 tiểu bang căn bản, đã khiến cho hàng triệu cử tri Mỹ đi đến kết luận bầu cử gian lận là có thật. Nhưng tìm ra sự thật về gian lận sẽ phải cần cả hàng tháng hay hàng năm, hoặc chẳng bao giờ… Bây giờ thì những vấn nạn này xem ra lại làm cho nhiều người khó chịu, và sự thật hiển nhiên là nó sẽ bị cho chìm xuồng!

TÒA NHÀ LẬP PHÁP-US CAPITOL BỊ XÂM NHẬP

Tiếp theo đó, chúng ta đã thấy những biến cố thê thảm xẩy ra ở tòa nhà lập pháp quốc hội ngày 6-1-2021, ngày quốc hội họp để xác định phiếu bầu của cử tri đoàn. TT Trump đã nói trước đám biểu tình vĩ đại có đến cả hàng trăm ngàn người tụ họp để yểm trợ những thách thức hợp pháp tại quốc hội về kết quả cuộc bầu cử. Tuy nhiên, trước khi Trump kết thúc bài nói chuyện tại diễn đàn gần Tòa Bạch Ốc thì một nhóm người phản đối tràn vào chiếm nhiều phần của tòa nhà quốc hội US Capitol. Một số người phá cửa nhảy vào, một số được tự do bước vào thong dong đi tới đi lui.

Nhiều người thắc mắc về việc này. Có người chen lấn tràn vào văn phòng của các dân biểu và những phòng lớn trong khi có kẻ đập bể kính cửa sổ để tràn vào cả những vùng có an ninh canh giữ. Cảnh sát phải đánh lại và giải tỏa. Một người phản đối đã bị cảnh sát bắn chết. Bên ngoài, một số người đã xô xát với cảnh sát để tràn vào bên trong tòa nhà.

Dù chỉ một số nhỏ đã tham gia vào việc xô xát tại tòa nhà quốc hội trong khi cả nhiều ngàn người vẫn biểu tình ôn hòa trong trật tự. Đó là một thời khắc xấu xa, tệ hại và đen tối mà truyền thông đã thổi phồng lên thành một bức tranh vẽ cảnh những người ủng hộ Trump là những kẻ khủng bố và bạo động!

Không cần phải làm an lòng ai, tất cả nước và thế giới cũng đang thấy một thể chế cộng hòa vĩ đại nhất thế giới đang đi xuống do phân hóa vì không biết là bầu cử có công bằng hay không, do xô xát ở tòa nhà quốc hội US Capitol và do một cuộc đàn hạch nữa sẽ tiếp nối sau đó.

Mỹ quốc hẳn không còn hãnh diện về một cuộc chuyển đổi quyền hành trong hòa bình và trật tự. Uy tín của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ đã bị tổn thương quá nặng. Những kẻ thù của quốc gia -chẳng còn hồ nghi gì nữa- đã nhận thấy Hoa Kỳ yếu hẳn đi rồi. Họ đang chăm chú quan sát để quyết tâm lợi dụng thời điểm chính biến này.

Tòa nhà quốc hội US Capitol là biểu hiệu của nền Cộng Hòa. Kiến trúc cổ điển của nó với mái vòm tròn và đỉnh nhọn cao vút lên không trung cùng nghệ thuật điêu khắc cho thấy ý nghĩa của một nhà thờ chính tòa dân sự. Không phải một đền thờ tôn giáo. Nó là một đền thờ dân chính bao gồm mọi ý nghĩa cùng những đặc tính và lý tưởng của nó đã được ghi trong Hiến Pháp. Những người phản đối nổi giận đã đi lung tung, lang thang, lục lọi mọi xó xỉnh, trong các hành lang, đã làm mất đi vẻ nghiêm trang cổ kính của nó. Đó là một quang cảnh quái dị trong một lâu đài biểu hiệu cho những lý tưởng cao quí nhất của những Tổ Phụ Lập Quốc.

Trong khi Mỹ Quốc vẫn còn khỏe và đủ sức mạnh làm điều thiện, việc tốt cho thế giới, thì những ngày đó nay chỉ còn là những ngày đang được đếm trên đầu ngón tay. Những chữ viết bằng tay về sự phán xét vẫn còn in hằn ở trên tường. “Thiên Chúa, là đấng đã làm cho Mỹ Quốc trở nên vĩ đại. Chớ có nhạo báng Người”. Phải chăng quốc gia đã đi tới điểm mà không bao giờ có thể trở ngược lại được nữa?

CÂU CHUYỆN HAI NHÓM NGƯỜI TỤ HỌP

Chúng ta cần phải ý thức để nhận ra rằng căn nguyên của những việc đã xẩy ra là yếu tố tinh thần. Một trận chiến tâm linh đã trải rộng trên quê hương Hoa Kỳ.

Khi nghe những bản tin về đám đông tụ họp ở khán đài trước Nhà Trắng và chung quanh khu thương mại quốc gia vào ngày 6-1-2021, tôi nhớ lại một cuộc tụ họp khác cũng tại địa điểm này ít tháng trước đó vào ngày 26 tháng 9 năm 2020. Những người này tụ họp nhau lại để cầu nguyện hầu canh tân đời sống thiêng liêng của quốc gia.

Ngày đó có cả hàng chục ngàn người đã đáp ứng lời kêu gọi đến Washington để cầu nguyện trong lúc quốc gia lâm cảnh cực kỳ nguy hiểm. Ngày đó là một ngày hoàn toàn hòa bình. Nhiều người đã hướng dẫn cả cầu nguyện chung và cầu nguyện riêng. Nhiều xướng ngôn viên đã kêu gọi quốc gia ăn năn thống hối khi còn thời giờ, chưa quá muộn. Không có phá rối hoặc kích động bạo loạn. Nhiều người vẫn còn hy vọng về một kết quả bầu cử tốt, chưa đưa quốc gia đến tình trạng luân lý tồi bại và phân hóa.

Quang cảnh buổi tập họp ngày 6-1 lại rất đặc biệt. Đúng vậy, người ta đọc kinh, hát thánh vịnh, nhiều nữ tu tận hiến cũng đã có mặt. Đa số những người hiện diện đều biểu lộ tinh thần ôn hòa và hòa bình như họ đã có trong những cuộc biểu dương hậu bầu cử vào tháng 11 và 12. Nhưng lần này, một số người vì nhiệt tình đã nổi giận và muốn mọi người ai cũng phải biết, kể cả tổng thống.

Đa số họ đã nhận ra là không có một cuộc thảo luận nào về việc kiểm phiếu bất thường trong cuộc bầu cử năm 2020 mà lại khẳng quyết loại bỏ những phiên tòa xét xử công bằng. Người ta cũng bực bội đối với quốc hội và một số quan chức đã để mặc cho đất nước trôi qua không cần đếm xỉa đến tình trạng sai trái đúng phải của vấn đề.

Tổng thống kêu gọi dân chúng bình tĩnh và giữ trật tự hòa bình. Nhưng lần này, không như những lần trước, một số ít người cực đoan có trang bị thuốc xịt hóa học, gậy gộc, khẩu trang chống hơi cay và nón sắt, hiển nhiên là đến để chiến đấu. Buồn thay, một số khác trong đám đông lại tràn vô tòa nhà, nhập bọn với đám gây rối -dù đã có nhiều người  ngăn cản.

Nhìn vào một đoạn của cuốn phim dài này thì những ai còn có một chút tình với đất nước, một lòng tôn trọng hiến pháp, luật lệ và trật tự cũng phải ngán ngẫm thở dài. Những cuộc phản đối bạo động như vậy đã gây thiệt hại cả vật chất lẫn tinh thần, cuốn theo cả cái chết thì thật sự không thể tha thứ được.

Nhưng những hành động vô kỷ luật và bạo động như vậy lại trở thành bình thường đối với truyền thông báo chí và nhân viên nhà nước khi tuyên bố về những cuộc bạo loạn còn tồi tệ hơn và kéo dài trong nhiều tháng ở những thành phố lớn, và coi đó là chấp nhận được. Cảnh sát ở Minneapolis đã phải rút lui khỏi sở khi đám côn đồ nổi giận tấn công, nổi lửa đốt cả tòa nhà. Một tòa nhà liên bang ở Portland đã bị bao vây nhiều ngày trong khi nhân viên công lực vẫn còn ở bên trong. Một phần của thành phố Seattle bị chiếm đóng và tuyên bố làm khu “tự trị”, cấm cảnh sát không được vào hoặc lai vãng.

Nhiều người cũng quên rằng đã có một cuộc bạo loạn lớn đã xẩy ra ở Washington DC năm 2017 vào ngày TT Trump nhậm chức. Dĩ nhiên là không một cuộc bạo loạn nào lại có thể chấp nhận được.

Khi mọi người tụ họp lại cầu nguyện để ăn năn thống hối và thỉnh xin ý Thiên Chúa, dĩ nhiên là với một tinh thần khác. Ngày 26 tháng 9, hàng ngàn người Mỹ cầu nguyện xin Thiên Chúa của Abraham với tâm niệm đất nước Hoa Kỳ cần phải trở lại với Chúa và bước theo đường lối của Người, không phải là cuộc bầu cử. Trong khi những lời kinh nguyện được cất cao giọng với vẻ chân thành và khiêm tốn trong cung cách và bầu khí của biến cố hôm đó, thì người ta lại thấy thiếu hẳn lời kêu gọi phải xám hối.

Còn nhiều loại như vậy nữa cần phải để ý đến ở ngày 6 tháng 1 năm 2021.

MỞ CỬA ĐI VÀO ĐÊM TỐI

Ba ngày trước biến cố kinh hồn đó ở US Capitol đã có vài điều xẩy ra mà ít ai hiểu. Phần lớn là không biết. Người ta mau quên vì những biến cố lớn tiếp theo sau đó.

Theo truyền thống, tân quốc hội sẽ họp vào ngày 3 tháng Giêng và có cầu nguyện. Dân biểu  Emmanuel Cleaver (D.MO), một mục sư đã đọc lời nguyện. Ông đọc: “Xin Chúa soi sáng cho chúng tôi và ban bình an cho chúng tôi, bình an trong gia đình chúng tôi, bình an trên đất nước này và, chúng tôi cũng xin, lạy Chúa! ban bình an trong phòng họp này.” Đến đây, thì mọi sự đều coi là được, không có gì ngang trái.

Nhưng rồi ông kết thúc lời cầu nguyện như sau: “Chúng tôi cầu xin nhân danh Thiên Chúa Độc Thần, Brahma, và ‘Thiên Chúa’ với nhiều danh hiệu khác nhau của nhiều niềm tin khác nhau. Amen và awoman.”

Lời chú thích “awoman” này được ông thêm vào sau chữ Amen đã gây chú ý và tạo vẻ chế nhạo. Chữ Amen là tiếng Do Thái / Hebrew có nghĩa là “thực vậy”, “xin được như vậy”. Nó không có gì để nói về đàn ông hay đàn bà để mà ông cần phải thêm vào chữ awoman để cho nó cân bằng!

Lại nữa, Thần “Brahma” mà ông nhắc đến là thần sáng tạo chính của dân Hindu. Ông cũng nhắc đến “Thiên Chúa với nhiều danh hiệu” trong đó gồm tất cả mọi thần của mọi hệ thống niềm tin khác nhau của loài người. Ông dân biểu này nêu tên một vị thần dân ngoại rồi kết luận là thần nam hay thần nữ của dân ngoại mà người ta đang tin. Đây quả là bất kính và phạm thánh chống lại Thiên Chúa của Abraham, Thiên Chúa nói trong Kinh Thánh mà những Tổ Phụ Lập Quốc đã nêu lên.

Thiên Chúa của Abraham –tức Thiên Chúa của Kinh Thánh- là Thiên Chúa được dùng trong tựa đề “In God We Trust / Chúng Tôi Tin Thiên Chúa”. Người là cùng một Chúa có ý nghĩa trong Lời Thề Trung Thành với Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ, “Một quốc Gia nằm dưới quyền năng của Thiên Chúa / One Nation under God.” Kinh Thánh cũng cảnh báo “Chớ có chế nhạo Thiên Chúa”, bởi vì ngươi sẽ bị loại bỏ ra ngoài vì những lời nhạo báng mà ngươi đã nói (Gl 1:7-8; Mt 12: 36).

Những thần của dân ngoại không thể gom lại về cùng một mối với Thiên Chúa thật như họ đã làm. Thánh Phaolo cắt nghĩa là những ai thờ ngẫu tượng thần ngoại là thờ ma quỉ: “Thế nghĩa là gì? Thịt cúng là gì? Ngẫu tượng là gì? Tuy nhiên, đồ cúng là ‘cúng cho ma quỉ, chứ không phải cho Thiên Chúa’; mà tôi không muốn anh em hiệp thông với ma quỉ. Anh em không thể vừa uống chén của Chúa vừa uống chén của ma quỉ được; anh em không thể vừa ăn ở bàn tiệc của Chúa, vừa ăn ở bàn tiệc của ma quỉ được”(1Cr 10:19-21; Lv 17:7; Dnl 32:16-18; Cv 106:35-37).

Phải nói cho rõ ràng và đúng là ngày hôm đó người ta đã cầu cứu ma quỉ ngay trong phòng họp của quốc hội Hoa Kỳ.

Chúng ta có thể tự hỏi mình xem Thiên Chúa đã đáp trả những lời cầu nguyện phạm thượng đó như thế nào? Nó có liên hệ giữa sự phạm thánh này và cuộc gây rối của đám côn đồ 3 ngày sau tại tòa nhà quốc hội hay không, khiến cho cùng những vị đại diện dân đó phải chạy trốn, co rúm lại vì sợ hãi?

Đó là câu hỏi cần phải được đặt ra. Và trong khi một số tên xúi giục có lẽ đã lên kế hoạch để tấn công tòa nhà quốc hội, thì Thiên Chúa chắc chắn cũng có thể ngăn cản việc đó. Nhưng, Người đã không làm. Chúng ta không biết được tất cả những chủ đích của Người trong vấn đề này, cũng không có thể biết được câu trả lời của Người là thế nào hay Người đơn thuần cứ để cho chúng ta có những quyết định điên cuồng như thế để rồi sẽ lãnh đủ mọi hậu quả của nó.

Nhưng nên hiểu rằng cầu nguyện là quan trọng, và tội lỗi sẽ gây sóng gió bão loạn (Hs 8:7). Phải chăng chúng ta đang hướng nhìn về Thiên Chúa để xin Người đưa tay giúp đỡ, che chở, cứu giúp dân nước Hoa Kỳ thoát nạn sau những ngày biến loạn tội lỗi chống lại Người?

Chẳng có gì là hợp lý khi câu chuyện đã xẩy ra ở những tháng ngày trước đây. Nhiều người đã phải đau khổ vì bị nhốt ở nhà và vì kinh tế xa sút. Chúng ta đang phải hàng ngày chứng kiến những cảnh nhiễu nhương về luật lệ đầy tính khôi hài. Nhân viên nhà nước phải xin lỗi về những vụ quấy rối, cướp bóc và phá hoại cả hàng tháng trời tại nhiều thành phố bởi những đám côn đồ. Phó TT Kamala Harris lại đã từng tuyên bố những vụ rối loạn và phản đối kiểu như vậy không chỉ không ngừng ở những thành phố ở Hoa Kỳ trước cuộc bầu cử 2020, mà nó sẽ phải không được ngừng sau này.

Thật chẳng có toa thuốc nhiệm màu nào có thể dùng để tái tạo trật tự hay chữa trị những bất công đã xẩy ra trong nhiều tháng nay, hoặc nêu lên những hành động thực tâm thiện chí để vá lành những chiếc áo Hoa Kỳ trên toàn nước nay đã bị rách nát. Chẳng ngạc nhiên gì cả quốc gia đã bị phân hóa mà từ thời nội chiến đến nay đã gần hai thế kỷ chưa thấy có.

Điều gì hiện đang thực sự xảy ra? Chúng ta đã và đang chứng kiến những hành động đầy gian ác, lỗi luân lý trong những giai cấp ở giới thượng tầng xã hội, vượt quá những sai trái và lầm lẫn của con người. Kinh Thánh đã cho chúng ta biết là thế giới phải thực sự hành động thế nào, khuyến khích chúng ta làm sao để đứng lên chống lại những mưu kế đó của ác quỉ. Không để chúng ta vật lộn chống lại “thịt máu”, nhưng chống lại “quyền lực thần thiêng”, chống lại những “kẻ cầm quyền” trong bóng tối của thời đại, chống lại những “thần linh ác quái”chốn trời cao (Ep 6:11-12).

Kinh Thánh cũng mật mí tên lãnh đạo của những thế lực tinh thần vô hình này. Satan ác quỉ là “thần của thời đại này” và là “ông hoàng của quyền lực trên không, là thần khí hiện đang hoạt động nơi những kẻ bất vâng phục” (2Cr 4:4; Ep 2:2). Hắn thống trị một vương quốc tinh thần của ác quỉ đang hoạt động để lật đổ kế hoạch của Thiên Chúa dành cho loài người.

Trước đây Thiên Chúa đã dùng Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ để ngăn cản chủ nghĩa độc tài toàn trị. Chúng ta đã chứng kiến việc này ở thế chiến II và trong Chiến Tranh Lạnh. Và, trong khi phong trào cổ động cho tự do là chính đang trên đà tiến thì Kinh Thánh lại hé mở cho thấy sức mạnh của chủ thuyết toàn trị đang đến sẽ thống trị thế giới trước khi Chúa Giesu Kito trở lại lần nữa để thiết lập vương quốc Thiên Chúa ở trần thế này. Mỹ quốc và những dân tộc nói tiếng Anh đang được ân phúc, nhưng phải chịu trách nhiệm về những hưng thịnh vượt mức của quốc gia cũng như sức mạnh mà Thiên Chúa rất lâu về trước đã hứa với Abraham và con cháu ông vào những ngày cuối cùng. Đó phải chăng là lý do chính để sức mạnh ác quỉ dưới quyền Satan cố gắng phá hủy những quốc gia này?

CẢ QUỐC GIA ĐANG NHÀO XUỐNG VỰC THẲM ĐEN TỐI

Như đã đặt vấn đề ở trên, còn cái gì nữa có thể giúp nước Mỹ ngồi lại với nhau? Chỉ có Thiên Chúa! Thiên Chúa hứa chắc với Abraham là Người ở giữa một Hoa Kỳ đứng đầu thế giới và một Hoa Kỳ đang trên bờ vực thẳm –chỉ cần một cú té nhào là có thể trở thành thảm họa ghê gớm và làm nô lệ cho một thế lực mới địa chính trị xuyên quốc gia đang trỗi dậy. Quyền lực này được nói tới trong Kinh Thánh như một “con thú” mang đầy nọc độc (Kh 13:17; 18) đang lừa gạt, cắn xé, làm tiêu tan và mua bán trên “thân xác và linh hồn” con người (c.11-13).

Phải chăng chúng ta đang đứng ở điểm quyết định sống chết của chiều dài lịch sử của Hoa Kỳ?

Nhiều thế kỷ trước, tiên tri Ezekiel đã có một viễn kiến thấy Thiên Chúa xuất hiện khởi đầu từ ở đền thờ Jerusalem (Ed 10:18). Tội lỗi của cả quốc gia tràn ngập trên khắp đất nước. Các thị trấn đầy dẫy bất công. Tôn thờ ngẫu tượng tràn lan mọi nơi mọi chốn tạo thành một nền văn hóa trống rỗng mà con người không thể nào kiếm ra được sự thật và lẽ công chính, nhưng lại chỉ toàn là những nghi lễ phù du khiến con người không biết đâu là mục đích và hiểu biết của mình.

Israel và Judea từ lâu đã không nhận ra được sứ mệnh của mình là ánh sáng cho những quốc gia khác. Họ nghĩ là Thiên Chúa vẫn để ý đến họ và để họ tiếp tục xa lìa Chúa cùng với tội ác của họ. Nhưng Chúa đã cảnh báo là họ sẽ phải trả giá cho những hành động của họ (Ed 9: 9-10). Nhiều nước khác ngày nay cũng đã đang phạm vào cùng một lỗi lầm đó.

Nhìn vào nước Mỹ và những quốc gia khác đang bước vào thiên niên kỷ 2020, chúng ta thấy nhiều biến cố đang xẩy ra với một nhịp độ khá nhanh. Chúng ta thắc mắc không biết hậu quả của những biến cố dồn dập và quan trọng này ở năm qua sẽ thế nào và nó sẽ dẫn đưa đất nước về đâu. Riêng tôi, tôi thấy có chút ít dễ chịu khi nghe có người nói rằng ‘nó cũng giống như mọi lần mà thôi, và rồi tình trạng sẽ trở lại bình thường’. Đứng trên quan điểm Kinh Thánh, -đối với tôi- những biến cố đó có thể là những dấu hiệu báo trước về một bước quẹo có tính tiên tri to lớn và quan trọng hơn. Là môn đệ của Chúa Giesu Kito, tôi phải lấy sự khôn ngoan từ Lời Người để biết “cắt nghĩa làm sao về thời kỳ hiện tại” (Lc 12:56).

Lại nữa, Ezekiel đã trông thấy trong viễn kiến, Thiên Chúa bay lượn trên đền thờ và rồi bay đi, bỏ lại quốc gia với số phận do tự nó tạo ra. Quả là một thực tế bi thảm! Tội lỗi của họ đã dẫn đưa họ tới đỉnh quyết định sống chết. Họ thờ lạy những thần ngoại nam nữ trong chính đền thờ của Thiên Chúa. Đền thờ này được xây lên để đề tặng cho Thiên Chúa của Abraham, để vinh danh Người ở trong đó. Nay đã trở thành vô nghĩa và trống rỗng. Chỉ là cái xác không hồn. Sứ mệnh của dân tộc Israel là ánh sáng chiếu rọi trên mọi quốc gia, nay đã bị bỏ quên. Thiên Chúa không còn hiện diện nữa và đã lấy đi ân phúc. Quốc gia đang bị mờ tối….

THIÊN THẦN TRONG BÃO TỐ

Hơn 20 năm qua vào một ngày mưa gió, lạnh buốt và đen tối, George W. Bush đứng ở phía Tây tòa nhà US Capitol và đọc diễn văn đầu tiên ngày khánh thành nhậm chức. Gần cuối bài, ông trích dẫn lời của John Page -một chính khách ở Virginia– đã nói với Thomas Jefferson khi vừa ký xong tuyên ngôn độc lập: “Chúng ta biết cuộc đua không phải để dành cho kẻ chạy nhanh, trận chiến cũng không phải để dành cho kẻ mạnh. Quí vị không nghĩ rằng một thiên thần có thể bay trong gió cuốn để điều khiển cơn bão tố này sao? Rồi TT Bush kết luận: “Công việc này vẫn tiếp tục. Câu chuyện này còn tiếp diễn. Và một thiên thần vẫn còn bay lượn trong gió cuốn để điều khiển cơn bão tố này.” [1]

Lời chú giải này của Page cũng đã nằm trong viễn kiến của Ezekiel nói về sự quan phòng của bàn tay Thiên Chúa trên dân tộc Israel. Trong gần 245 năm kể từ ngày tuyên ngôn độc lập, Mỹ quốc đã được Thiên Chúa chúc phúc, ban nhiều ơn lành, cho có trù phú, an bình, hùng mạnh, giàu sang và văn minh nhất thế giới trong lịch sử nhân loại, đúng như lời Thiên Chúa đã hứa với tổ phụ Abraham và con cháu ông.

Chúng ta có thể đặt vấn đề rõ ràng là phải chăng thiên thần đó -dù chỉ có nghĩa tượng hình- bây giờ đang bay lượn trên bầu trời Mỹ Quốc và rồi cũng để mặc cho đất nước này tàn lụi dần theo số mệnh đẩy đưa vào tay những thế lực khác đang trỗi dậy từ nhân dân thế giới hay sao? Thời giờ đó đang đến thì hiển nhiên là lúc mà một đất nước đang tự xé nát mình từ trong ra ngoài. Abraham Lincoln đã nói về sự tàn phá của một quốc gia như sau: “….Nếu việc đó xẩy ra cho chúng ta, thì nó phải bùng ra giữa chúng ta….Nếu việc hủy hoại đó là do phần số của chúng ta, chúng ta phải nhận phần trách nhiệm và tự sửa chữa. Là công dân của một đất nước tự do, chúng ta phải sống trọn vẹn cho đến cùng, nếu không thì nên tự vận chết đi cho rồi.”[2]

Cái gì hiện còn đang giữ người dân Mỹ Quốc liên kết keo sơn lại với nhau? Trong lúc này, chính là bàn tay của Thiên Chúa. Nhưng được bao lâu? Trong khi còn có thì giờ, quí vị có thể quay về với Thiên Chúa và dâng lời cảm tạ. Quí vị có thể hiểu biết sự hướng dẫn của bàn tay Người trong cuộc sống của quí vị. Quí vị có thể hiểu biết lời hứa của Thiên Chúa kéo dài được bao lâu để gìn giữ đất nước này và sẽ dẫn đưa đất nước này cùng tất cả mọi dân tộc khác đi đến giờ phút chót của cơn bão đang hoành hành tàn phá hiện nay!

Fleming Island, Florida

April 8, 2021

Nguyễn Tiến Cảnh

(Trích từ Blog Người Phương Nam)

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Tương Lai Nước Mỹ – BS. Nguyễn Tiến Cảnh

Truyện ngắn Đại Gia Ở Mỹ_ tác giả Nguyễn thị Thanh Dương

ĐẠI GIA Ở MỸ

        -Nguyễn Thị Thanh Dương-

Bà Xuân đã dọn dẹp nhà tươm tất, căn phòng apartment 1 phòng ngủ của hai vợ chồng bà ngày thường đã gọn gàng bà vẫn muốn gọn gàng hơn, lại có bó hoa tươi mới mua ở chợ về cắm để giữa bàn nên phòng khách chật hẹp bỗng tươi thắm và lịch sự hơn ngày thường.
Bà sốt ruột ngóng nhìn mông lung ra khung cửa sổ và nói với chồng:
– Chắc anh chị Bảo sắp đến rồi.
Rồi bà bỗng ngại ngùng:
– Họ là đại gia ở Việt Nam nhà cao cửa rộng, tiền bạc bề bề, chúng ta tuy ở Mỹ nhưng ngược lại…
Ông Xuân hiểu ý vợ:
– Mỗi thời mỗi khác, ngày xưa nhà bà giàu có trong khi bà Bảo là con nhà công chức nghèo mà hai người vẫn chơi thân nhau đấy.

Ngày xưa bà Bảo và bà Xuân là bạn bè cùng lớp từ trung học đệ nhất cấp đến đệ nhị cấp, cả hai cùng theo học anh văn Hội Việt Mỹ, cùng yêu thích tiếng Anh và thích một nước Mỹ xa xôi giàu đẹp.

Bà Xuân học năm thứ hai luật khoa thì lấy chồng. Ông Xuân cũng là sinh viên văn khoa vào đời lính. Chàng theo nghiệp đao binh bỏ dở học hành, nàng yêu lính sẵn sàng làm người vợ thời chiến. Cha mẹ bà Xuân cho vợ chồng bà một cửa hàng sửa xe gắn máy ở Đa Kao, nàng trông coi cửa tiệm với vài người thợ, chàng ở tiền đồn xa thỉnh thoảng về thành phố thăm vợ.

Bà Bảo không học đại học nào, bà đi làm công chức như cha, cô thư ký lương ba cọc ba đồng lấy chồng là một đồng nghiệp cũng chẳng khá giả gì. Hai người bạn có gia đình riêng, hai cuộc sống khác nhau. Dòng đời nổi trôi chia rẽ mỗi người một hướng và cách xa.

Gia đình bà Xuân sang Mỹ diện H.O. Sau những năm tháng dài tù tội nơi núi rừng từ Nam ra Bắc, ông Xuân bệnh hoạn đau yếu, ông đi làm được một thời gian ngắn thì phải nghỉ ở nhà, bà Xuân cũng làm chẳng bao nhiêu, nghỉ ở nhà để chăm sóc chồng. Hai ông bà đang hưởng tiền trợ cấp của chính phủ.

Ông bà Bảo đi tour du lịch sang Mỹ, đến thành phố Houston tiểu bang Texas. Hai người bạn xưa mới vừa biết tin nhau qua một vài người quen. Thế nên mới có cuộc hẹn gặp nhau bất ngờ ngày hôm nay.

Ông bà Bảo đang đứng trước cánh cổng sắt của khu apartment trên đường Beechnut, phải bấm số mật mã mới liên lạc được ông bà Xuân để cổng mở.

Ông lẩm bẩm khen:

– Nhà khu chung cư có cổng an ninh tốt quá, chẳng thua gì nhà mình ở Sài Gòn bà nhỉ.

Bà Bảo ngắm nghía tòa nhà và trầm trồ:

– Nhà chung cư cao tầng này vừa đẹp vừa mới, chắc giá thuê không rẻ đâu, anh chị Xuân vẫn phong lưu như ngày xưa…

Ông bà Xuân đã hớn hở tận tình đi ra cổng đón khách vào nhà, chào hỏi mừng vui ríu rít xong chủ và khách thong thả đi bộ qua những hành lang, bước lên những bậc thang sạch đẹp của chung cư. Bà Bảo cất tiếng khen:

– Khu chung cư cao cấp có khác, sạch sẽ không thấy một cọng rác.

Ông bà Xuân chưa kịp nói gì thì ông Bảo chỉ một bóng dáng bà Mễ đang lui cui quét dọn phía xa cuối hành lang:

– Bà nhìn kìa, có lao công quét dọn chăm chỉ thế cơ mà..

Nhà ông bà Xuân ở tầng hai, là một căn phòng nhỏ rộng khoảng 700 Sq Ft..

Bà Xuân thành thật khiêm nhường:

– Hai anh chị ở Việt Nam là đại gia, nhà cửa cao sang rộng lớn thông cảm cho vợ chồng chúng tôi căn phòng hẹp này nhé. Nghe bạn bè nói anh chị có công ty lớn lắm…

Được dịp bạn hỏi bà Bảo hãnh diện:

– Nhờ trời chúng tôi ăn nên làm ra. Dù bận trăm công nghìn việc chúng tôi cũng Mỹ du một chuyến cho biết đó đây.

Mời khách ngồi xuống ghế xong bà Xuân pha trà rót nước và giới thiệu:

– Đây là căn chung cư bình thường chứ chẳng cao sang gì, được cái là mới xây dựng 6-7 năm nay, dành cho những người cao niên hưởng trợ cấp nhà nước. Chúng tôi chỉ trả tiền thuê với một giá rất rẻ.

Bà Bảo ngạc nhiên suýt xoa:

– Ô, thích nhỉ…

Ông Bảo thì thực tế thắc mắc:

– Vậy là anh chị đã đi làm đóng thuế cho nhà nước nhiều lắm mới được hưởng tiêu chuẩn này?

– Trái lại, chúng tôi đi làm ít lắm, lúc có lúc không, thậm chí không đủ credit về hưu nữa, nên nhà nước phải trợ cấp mọi chi phí như nhà ở, y tế và tiền mặt để sinh sống.

Bà Bảo hỏi ngay:

– Mỗi tháng hai anh chị được trợ cấp bao nhiêu? Có thoải mái chi tiêu không?

Ông Xuân tỉ mỉ:

– Ở Texas này tiền trợ cấp cho một người là 771 đồng, cho hai vợ chồng ở chung thì hơn 1,100 đồng, lại còn thêm mấy chục đồng tiền food stamp nữa.. Tuổi già chúng tôi ăn xài là bao nên vẫn có dư tiền thỉnh thoảng gởi giúp vài họ hàng nghèo khó ở Việt nam.Về mặt y tế chúng tôi đi bác sĩ hay vào nằm bệnh viện không tốn một xu nào cả..

Bà Xuân kể:

– Có lần ông ấy cảm thấy mệt khó thở tôi gọi 911 vài phút sau là xe cấp cứu đến chở thẳng ông vào bệnh viện. Ở với ông suốt buổi chiều, cô y tá biết là tôi đói nhắn nhân viên nhà bếp mang lên cho tôi một xuất thức ăn bữa chiều nóng sốt ngon lành.

– Thế chị Xuân có phải “xã giao” cho tiền cô y tá không mà họ đối đãi tốt thế? Còn tiền “lót tay” cho bác sĩ là bao nhiêu?

– Ở Mỹ không phải như Việt Nam đâu chị Bảo ơi, bổn phận bác sĩ, y tá là phục vụ người bệnh đến nơi đến chốn mà.

– Ô, thích nhỉ..

Bà Bảo kêu lên xong lại so sánh:

– Những bác sĩ mà vợ chồng Xuân đến khám bệnh, bệnh viện mà chồng Xuân nằm là niềm ước mơ cao xa của biết bao người ở Việt Nam, phải có thật nhiều tiền, phải xin đủ thứ giấy tờ thủ tục mới đến được nước Mỹ để chữa bệnh.

– Vâng, nhờ sống ở Mỹ, y tế của Mỹ chăm sóc mà sức khỏe ông Xuân nhà tôi mới được như ngày nay.

Ông Bảo thắc mắc sang chuyện khác:

– Nhưng người ta bảo ở Mỹ không có…tình người. Ngay con cái họ, đến tuổi trưởng thành cũng bị “đuổi” ra khỏi nhà. Quanh năm ta chẳng thấy mặt mũi thằng hàng xóm ra sao. Họ lại kỳ thị những sắc dân da màu.

– Văn hóa, cách sống, suy nghĩ của mỗi dân tộc khác nhau thôi anh ạ. Người Mỹ không có tình người sao các ông bà tỷ phú Mỹ đã hiến tặng bao nhiêu của cải cho tha nhân, cho xã hội. Chính phủ Mỹ cho chúng ta bảo lãnh thân nhân đoàn tụ diện vợ chồng, con cái cha mẹ đã đành, kể cả diện anh chị em, một người ở Mỹ bảo lãnh cả đàn anh chị em và con cái họ sang Mỹ đoàn tụ.

Bà Bảo tán thành:

– Phải đấy, ngay dân gian Việt nam mình còn có câu “Kiến giả nhất phận” anh em ai có phận nấy chứ có đùm bọc nhau mãi đâu. Người Việt mình còn kỳ thị với nhau nữa là, nào kỳ thị vùng miền, tôn giáo, giai cấp, giàu nghèo…

Ông Bảo gật gù:

– Ừ nhỉ…suy ra mình còn kỳ thị mình nói chi ai, cho tới giờ này các diện bảo lãnh của Mỹ vẫn còn. Đúng là lòng bao dung nhân ái của nước Mỹ không ngừng nghỉ .

Bà Xuân nói:

– Nhìn những người handicap ở Mỹ là thấy tình người ra sao rồi, họ được đối xử tử tế và thân ái, mọi ưu tiên dành cho họ nơi công cộng.

Vừa lúc ấy có tiếng gõ cửa, thì ra cô Lan đến. Bà Xuân dặn dò nhờ cô nấu cho bữa ăn chiều với hai người khách xong ra bàn tiếp tục chuyện trò. Bà Bảo tò mò hỏi:

– Anh chị thuê mướn người giúp việc nhà hả?

Bà Xuân giải thích:

– Đây là người của Home care đến giúp chúng tôi những công việc nhà như đi chợ, nấu ăn, dọn dẹp nhà cửa, giặt giũ v..v…. Mỗi ngày cô đến làm việc 6 tiếng. Chi phí thuê mướn nhà nước chi trả.

– Trời, thế thì anh chị như ông hoàng bà chúa rồi còn gì, được trợ cấp đủ thứ lại còn kẻ hầu người hạ .

Ông Bảo cũng ngạc nhiên:

– Sao mà nước Mỹ rộng lượng tử tế đến thế chứ. Tuổi ngoài 70 như anh chị Xuân bao người ở Việt nam còn phải nắng mưa dãi dầu kiếm miếng cơm manh áo. Hèn gì tôi từng nghe nói ở Mỹ là thiên đường của tuổi già, nhưng hôm nay tận mắt thấy tai nghe, chỉ đôi điều trong nhà anh chị thôi, tôi đã hiểu cái thiên đường ấy tốt đẹp thế nào.

Bà Bảo bỗng buồn buồn:

– Chị Xuân còn nhớ không? Hồi chúng mình học Hội Việt Mỹ cả hai từng ngưỡng mộ nước Mỹ giàu đẹp. Xuân đã may mắn được đến nơi này còn tôi thì không.

Bà Xuân thành thật:

– Tuy ở Việt nam nhưng vợ chồng chị là đại gia giàu sang cũng sướng chán.

Bà Bảo càng thành thật hơn:

– Vợ chồng Xuân mới là đại gia ở Mỹ.

– “Đại gia” ….. hưởng trợ cấp nhà nước hả chị Bảo.

– Tôi nói thật đấy, không bông đùa đâu. Những gì vợ chồng chị đang hưởng chẳng con cái nào chăm lo cho được dù chúng ở Mỹ hay ở Việt nam, dù chúng giàu có đến đâu.

Bà Bảo kể lể:

– Vợ chồng tôi đại gia thật đấy nhưng làm ăn ở Việt Nam lắm cạnh tranh, lắm thăng trầm, lúc được lúc thua, đâu phải chỉ toàn là những thành công tiếp nối thành công. Nhất là phải xã giao, biếu xén, hối lộ mới xong thủ tục đầu tiên, nhưng cũng là cái dây thòng lọng treo cổ mình bất cứ lúc nào. Hôm nay đại gia mai bị nhà nước hỏi thăm xập tiệm mấy hồi.

Ông Bảo tiếp lời vợ:

– Anh chị được hưởng đầy đủ mọi tiện nghi cuộc sống của xã hội và an toàn cho đến cuối đời, tha hồ thảnh thơi an nhàn vui hưởng tuổi già. Còn một gia tài vô giá khác là anh chị sống ở một đất nước tự do dân chủ hàng đầu thế giới. Nếu được chọn lựa thì tôi sẽ chọn lựa là “đại gia” ở Mỹ như anh chị.

Bà Bảo tiếc rẻ:

– Giá mà ngày xưa chúng tôi được đi Mỹ như anh chị….

Cô Lan đã nấu xong và dọn cơm ra bàn, những món ăn quen thuộc của người Việt nam như cá đù ướp xả chiên, tôm rim và canh bí nấu tôm khô.

Bà Xuân nói với bạn:

– Mâm cơm toàn là sản phẩm ở Mỹ. Mời anh chị…

Bà Bảo lại so sánh:

– “Đại gia” ở Mỹ hơn hẳn đại gia ở Việt nam chúng tôi điều bình thường này nữa, hàng ngày được ăn những thực phẩm bảo đảm chất lượng. Ở Việt Nam có tiền cũng chưa chắc mua được những thực phẩm tươi sạch. Xã hội khiến người ta lọc lừa từ chuyện lớn đến chuyện nhỏ, chẳng biết tin ai. Sang Mỹ du lịch ăn món gì tôi cũng cảm thấy ngon vì cảm giác tin tưởng yên tâm vào thực phẩm.

Cả nhà vui vẻ ngồi vào bàn ăn. Bà Xuân thấy vui hơn vì vợ chồng bạn cởi mở chân tình và nhận xét đúng như quan niệm của bà.

Nếu phải đánh đổi hiện tại đang là người nghèo ở Mỹ hưởng trợ cấp chính phủ để trở thành đại gia giàu có ở Việt nam như vợ chồng chị Bảo thì chắc chắn ông bà Xuân cũng không bao giờ chấp nhận.

Nguyễn Thị Thanh Dương.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Truyện ngắn Đại Gia Ở Mỹ_ tác giả Nguyễn thị Thanh Dương

Vaccine Tốt Nhất Thế Giới – (Trích từ VietBF)

Một loại vaccine được mệnh danh
là tốt nhất
thế giới sắp được tung ra

curvac (2)

Ngày 17 tháng 4 năm 2021
Sự ồn ào của thế giới trong mùa dịch đã đẩy CureVac vào một góc yên lặng của riêng họ. Dù CureVac là vaccine có thành công đầu tiên trên thế giới trong giai đoạn thử nghiệm lâm sàng, cho đến bây giờ nó vẫn chưa có mặt ở thị trường. Ban giám đốc CureVac vẫn kiên quyết không để các áp lực chính trị và thời gian tác động đến sản phẩm của họ. Cùng với 3 tiêu chí: an toàn, hiệu quả và năng lực, CureVac đã tiến xa hơn BioNTech với một số ưu điểm:
– Nhiệt độ bảo quản từ 2-8°C.
– Nghiên cứu giai đoạn ba không có các trường hợp tụ máu não (cả AstrZeneca, BioNTech, Moderna đều có vấn đề tụ máu não).
– Vaccine duy nhất hiện nay chống được biến chủng Nam Phi (và các loại biến chủng khác).
– Nghiên cứu chủng cho thiếu niên dưới 18 tuổi.
– Nghiên cứu khả năng kết hợp với các loại vaccine cúm mùa trên thị trường.
– Năng lực hàng tỉ liều / năm.

Tổng hợp tin nhanh:
⚡Sau sụp đổ của AstraZeneca và J&J, sự quan tâm của thế giới đổ dồn vào CureVac.
Chứng tụ máu não đã đẩy vaccine Astrazeneca và Johnson & Johnson vào cơn khủng hoảng. Vaccine CureVac trở thành món hàng mong đợi hàng đầu của thế giới dù là nó vẫn chưa xin cấp giấy phép. Ưu điểm số một của CureVac là, nó được cho biết có khả năng chống lại biến chủng Nam Phi (khi mà cả AstraZeneca và BioNTech đều thất bại với biến chủng này).
Giám đốc điều hành Franz-Werner Haas đang có các cuộc đàm phán với các chính phủ, sáng kiến tiêm chủng Covax và Tổ chức Y tế Thế giới, nhằm cố gắng phân phối vaccine công bằng trên toàn thế giới.
Curevac đang giữa đúng tiến độ cho dự án của riêng mình bất chấp áp lực về chính trị và thời gian. An toàn, hiệu quả và năng lực vẫn là tiêu chí quyết định của CureVac. Chính quyền Đức hy vọng dữ liệu về hiệu quả của vaccine sẽ được công bố trong quý này. Việc nộp đơn xin cấp phép tiếp thị có điều kiện với Liên minh Châu Âu cũng nhằm vào quý II của năm (dự kiến cuối tháng 5 hoặc đầu tháng 6). EU đã đặt trước 405 triệu liều vaccine.

unnamed (2)
Tương tự như Biontech / Pfizer và Moderna, công nghệ của CureVac dựa trên tác động của RNA thông tin (mRNA), nó truyền tải thông tin đến các tế bào của con người để chống lại mầm bệnh. Trong khi các loại vaccine của Astrazeneca và Johnson & Johnson là vaccine vector dựa trên một loại virus cảm lạnh vô hại và gần đây đang có vấn đề vì những trường hợp tụ máu não hiếm gặp sau tiêm chủng. Chủ tịch Ủy ban EU Ursula von der Leyen cho biết hôm thứ Tư rằng Ủy ban hiện đang đàm phán các đơn đặt hàng vaccine cho những năm tới, các hợp đồng với các nhà sản xuất vaccine mRNA sẽ được EU ưu tiên hơn.

unnamed (3)
Curevac đặt mục tiêu sản xuất tới 300 triệu liều vaccine vào cuối năm 2021 và một tỷ liều vào năm 2022. Công ty có kế hoạch mở rộng chương trình vaccine của mình bao gồm ba nghiên cứu mới về các nhóm dân số cụ thể sẽ sớm bắt đầu. Ví dụ, theo kế hoạch, vaccine cũng sẽ được thử nghiệm trên thanh thiếu niên trong độ tuổi từ 12 đến 17. Cũng cần kiểm tra xem tác nhân có tương thích với các loại vaccine cúm mùa vẫn được tiêm hay không để có thể tiêm vaccine Covid-19 theo mùa. Trong một nghiên cứu bổ sung, vaccine Curevac đã chứng minh khả năng bảo vệ hoàn toàn chống lại bệnh nhiễm trùng gây tử vong bởi biến thể virus B.1.351, Nam Phi.

Vì công ty đã phải đầu tư một khoảng chi tiêu rất cao (khoảng 1,3 tỉ euro) vào việc xây dựng cơ sở hạ tầng cho năng lực trong tương lai của họ, nên thời hạn đưa sản phẩm ra thị trường của CureVac tương đối chậm trễ so với BioNTech. Một phần vốn đầu tư này do chính phủ liên bang cung cấp.

https://www.n-tv.de/wirtschaft/Curev…e22493558.html
https://www.sueddeutsche.de/wirtscha…toff-1.5265953
https://www.t-online.de/gesundheit/k…-biontech.html

unnamed (5)
CureVac, được dự đoán là loại vaccine tốt nhất, đáng tin cậy nhất đang bước vào giai đoạn sản xuất hàng dự phòng – trước khi được cấp phép. CureVac là niềm hy vọng lớn của cả thế giới vì tính cách nghiên cứu cực kỳ nghiêm túc. Từ tháng Ba 2020, CureVac đã được thế giới biết đến như là thành công đầu tiên trong công cuộc nghiên cứu vaccine. Khi đó, tổng thống Trump đã đề nghị (cũng như trả tiền mua, tung tin đồn nhảm và gây áp lực) để CureVac trở thành vaccine của Mỹ, chỉ phục vụ cho nước Mỹ. Giám đốc công ty Dietmar Hopp (80 tuổi) đã thẳng thắng từ chối và tiến hành một cuộc nghiên cứu nghiêm túc nằm ngoài mọi áp lực chính trị cũng như thời gian. Mục tiêu lớn mà ông Hopp đề ra cho vaccine CureVac: hiệu quả và an toàn.

unnamed (6)
CureVac là công ty lớn, lớn hơn BioNTech rất nhiều, họ có khả năng sản xuất hàng tỉ liều trong năm tới. Hiện nay, trong thời gian chờ đợi thống kê đầy đủ dữ liệu giai đoạn cuối, CureVac ký hợp đồng với nhiều công ty dược phẩm lớn như Bayern, Glaxo-Smith-Kline nhằm nâng cao năng lực sản xuất vaccine cho toàn cầu. Đồng thời, họ cũng tiến hành công việc hoàn thiện khả năng chống biến chủng của vaccine.
Trước mắt, sau khi được cấp phép, CureVac sẽ cho ra đời 300 triệu liều vaccine. Một con số quá nhỏ cho toàn cầu, nhưng, đó là sự cố gắng hết mình của nước Đức. Khi mà, từ trước đến nay, nước Đức không hề có ngành công nghệ vaccine tầm cỡ thế giới. Những hoạt động trong lĩnh vực vaccine của người Đức trước đại dịch chỉ ở dạng cò con, bấp bênh, đầy lý tưởng khoa học được các đại tỉ phú nuôi dưỡng làm vườn hoa, cây cảnh. Như BioNTech, 3 lần đứng trước nguy cơ phá sản vì mơ ước đi tìm vaccine chống ung thư, nhờ có anh em đại tỉ phú Strüngmann cứu vớt mà BioNTech còn tồn tại cho đến khi đạt vinh quang.
Hiện nay, các đại tỉ phú đã quan tâm nhiều hơn đến ngành công nghệ vaccine, và họ cho rằng, đó là một cơ hội để nước Đức đổi mới.

unnamed (7)(Trích từ trang mạng VietBF)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Vaccine Tốt Nhất Thế Giới – (Trích từ VietBF)

MƯA HÀ NỘI, MƯA SÀI GÒN, MƯA CALI_Lê Phương Lan

MƯA HÀ NỘI, MƯA SÀI GÒN, MƯA CALI

Bài của Lê Phương Lan

Lời đầu tiên là phải xin lỗi cố nhạc sĩ Phạm Đình Chương vì đã viết không theo đúng tựa đề bài hát”Mưa Sài gòn, Mưa Hà Nội”, một sáng tác âm nhạc đẹp từ trong ca từ, ý nghĩa đến giai điệu của ông để cho phù hợp với thứ tự theo dòng thời gian của một chứng nhân thời đại đã thăng trầm cùng vận nước.Bài này được viết sau khi xem một video clip về cơn mưa tháng tư đầu mùa đã làm ngập lụt tê liệt mọi sinh hoạt của thành phố Sài Gòn,từ đó cả một dòng kỷ niệm về những cơn mưa tuôn tràn trong ký ức.

1- Mưa Hà Nội:

Hà Nội, cố đô Thăng Long, một thành phố lịch sử được mệnh danh là “thủ đô ngàn năm văn vật” của các thế hệ đi trước chúng tôi . Bản thân tôi chưa từng được sống tại đây mà chỉ được nghe biết từ bố mẹ về một thành phố mà vào những năm của thời kỳ tiền chiến đã được bố tôi cho biết là đã một thời được gọi là “Tiểu Paris”. Tôi cũng đã được biết về Hà Nội thanh lịch qua văn thơ, nhất là qua những lời ca thật trữ tình mà tôi yêu thích nhất là bài hát “Mưa Sài Gòn, Mưa Hà Nội” của Phạm Đình Chương:

”Ôi! Thơ ngây má nhung hường,

Hà thành trước kia thường, thường về cùng lối đường.

Khi mưa xuống, lạnh mình ướt, chung nón dìu bước thơm phố phường.”

Và bài “Hà Nội Ngày Tháng Cũ” của cố nhạc sĩ Song Ngọc:

“Nhớ Hàng Bạc, nhớ qua Hàng Đào,

Nhớ cơn mưa phùn chạy qua thành phố.

Ta bên nhau cùng đội mưa mà đi, mà đi …”

Cơn mưa của Hà Nội thanh lịch đó cũng là nơi trú mưa khi đợi tàu điện của hai đấng sinh thành qua bài thơ của bố tôi:

“Anh nhớ mãi buổi chiều êm ả ấy,

Anh và em cùng đứng đợi tàu qua.

Thoạt mới trông, lòng đã kết muôn hoa,

Máu đang chảy trong tim như ngừng lại!”

Hà Nội đẹp là thế! Thế mà bố mẹ tôi cùng với hàng triệu người dân miền Bắc đã phải đành đoạn bỏ lại tài sản và mọi người thân để ra đi khi một chủ thuyết ngoại lai đã nhuộm đỏ nửa phần đất nước. Một vận nước bi thảm khiến tôi suy nghĩ đến giả thuyết mà tôi cho là sự ra đời của chủ thuyết cộng sản lại rất trùng hợp với mộng thôn tính từ bao đời nay của người láng giềng phương bắc khi tác giả Bằng Phong Đặng Văn u trong một bài viết đã nêu lên câu hỏi:”Phải chăng khởi nguồn từ sự đối kháng giữa bóng tối và ánh sáng do nhóm thủ lĩnh dân Do Thái ngày xưa đã giết Chúa Giêsu mà dân tộc Việt Nam bị vạ lây?” Ông đưa ra dẫn chứng lịch sử:

Karl Marx, người khai sinh ra chủ thuyết cộng sản là người gốc Do Thái.

1945 Thủ tướng Pháp Pierre Mendes France gốc Do Thái cùng với Chu n Lai cắt đôi nước Việt đẩy dân tộc vào cuộc chiến huynh đệ tương tàn!

1975 Henry Kissinger cũng là người gốc Do Thái, cố vấn của Tổng Thống Nixon bắt tay với Mao Trạch Đông bỏ rơi Việt Nam Cộng Hòa!

2- Mưa Sài Gòn:

Cuộc di cư 1954 đã đưa bố mẹ và ba anh em tôi vào Sài Gòn. Tôi muốn nói đôi điều tha thiết về thành phố thân yêu này. Tôi yêu Sài Gòn, nơi đã cho tôi sống thời thơ ấu và tuổi hoa niên đầy hồn nhiên, êm đẹp. Tuổi thơ của chúng tôi đã được nuôi dưỡng trong một môi trường hiền hòa của thời kỳ trước cuộc nội chiến. Trong cuộc sống tự do, cảnh thanh bình thịnh trị của nền Đệ Nhất Cộng Hòa đã nở rộ những ca khúc ca ngợi miền Nam tươi đẹp. m nhạc miền Nam ca ngợi tình yêu quê hương, tình yêu đôi lứa nồng nàn nhưng sau đó cũng nhuốm màu chia ly trong chiến tranh đã ru tôi vào đời và ở lại với tôi cũng như trong lòng người dân Việt mãi mãi. Thế hệ cha anh chúng tôi tại miền Nam đã xây dựng trong 20 năm một nền giáo dục rất nhân bản. Ngay từ những lớp Tiểu Học khi vào lớp học, trên tấm bảng đen trước mặt học sinh là hàng chữ”Tiên học lễ, hậu học văn”. Các sách Quốc Văn, Luân Lý Giáo Khoa Thư đã dạy chúng tôi những bài học đạo đức căn bản làm nền tảng đạo đức của con người. Sách Công Dân Giáo Dục dạy chúng tôi sống với lương tâm trong sáng, những bài học tôn trọng của công và nghĩa vụ đối với đất nước của một người công dân. Các câu tục ngữ ngắn gọn, những câu cách ngôn, châm ngôn, các loại sách học làm người đều dạy chúng tôi sống lương thiện “Đói cho sạch, rách cho thơm”.và các bài học rất thiết thực trong cách xử thế.

Khi chiến tranh đã tiến vào thành phố cũng là lúc tôi bước vào tuổi mộng mơ. Bên cạnh những trang giấy, sách vở học trò là những bài thơ, bài hát viết về những cuộc tình rất lãng mạn của người lính và những cô nữ sinh yêu kiều! Và không biết từ lúc nào tôi đã yêu tiếng mưa đêm vỗ đều đều trên mái tôn như tiếng ru tôi vào giấc ngủ với những giấc mơ cho một tương lai tươi đẹp! Những cơn mưa đến đã làm cho thành phố Sài Gòn xưa của tôi sạch đẹp thêm, con đường hoa Nguyễn Huệ tươi hơn, thơm hơn với những quầy hoa tươi rực rỡ, và nhất là làm cho những “con đường tình ta đi” thêm thướt tha,quyến rũ dưới hai “hàng cây lá xanh gần với nhau” giúp cho những đôi tình nhân càng gần bên nhau hơn ! Những cơn mưa cũng là đề tài ta tìm thấy nhiều nhất trong thi ca và âm nhạc của miền Nam Việt Nam ngày trước.

1975- Sau khi Sài Gòn thất thủ thì cơn mưa đầu mùa ập đến chính là lúc tôi đạp xe đi tìm tin tức của người cha và người chồng thân yêu! Tôi nhớ đến hai câu thơ của Trần Dần:

”Tôi đi không thấy phố, không thấy nhà!

Chỉ thấy mưa sa trên nền cờ đỏ!”

Những cơn mưa trong những tháng năm dài này chỉ làm cho những người vợ tù thêm cơ cực khi phải lo chạy chợ, buôn bán với những gánh hàng rong ế ẩm! Những cơn mưa chợt đến lúc xưa thì chàng đã nhường áo để “ anh che cho mưa đừng làm ướt áo” thì lúc này nàng phải bỏ áo mưa trên mình để che cho những gói quà thăm nuôi chồng đựng trong các bị đan bằng cói chở vào các trại tù khỏi bị ướt!

Niềm đau bao trùm trên thân phận của cả hai đã được nhà thơ Yên Ba nói lên não lòng:

”Dìu nhau qua chốn ưu phiền!

Anh non tay chống cho thuyền em chao!

Thương thì thôi, xót xa nhau!

Cho nhau trọn kiếp! Kiếp sau anh đền!”

Thời gian xa cách lúc đầu qua rất chậm . Nhưng rồi chúng tôi phải cố quên đi do những vất vả lo toan đối phó với sự trả thù nghiệt ngã cộng với hoàn cảnh tuyệt vọng vì thời hạn giam cầm của những tù nhân này là vô hạn định! Thế rồi những người tù đã lần lượt trở về. Các tù nhân được trả tự do không bao giờ do sự ”khoan hồng” của nhà cầm quyền cộng sản mà là do những nỗ lực của chính phủ Hoa Kỳ. Một chương trình ra đi được thiết lập mà khi đọc bài “Người Tù chính Trị VN: Món Nợ Của Hoa Kỳ Đối Với Đồng Minh” của Đỗ Ngọc Uyển tôi mới được hiểu rõ ràng là những tù nhân chính trị này được đi định cư tại Hoa Kỳ ưu tiên theo chương trình ODP (Orderly Departure Program) với tư cách là người tỵ nạn chính trị (political refugees) chứ không phải là từ chương trình nhân đạo HO (Humantarity Operation) nào cả. Hoa Kỳ đã phải kiên nhẫn điều đình với cộng sản VN ròng rã trong 8 năm trời (1982 – 1989) để đưa được những tù nhân này ra khỏi các trại giam và được đi định cư vì họ là những cựu chính trị và là cựu đồng minh của Hoa Kỳ. HO không phải là chữ viết tắt của chương trình nhân đạo nói trên mà là sự suy diễn từ các danh sách của những người tù được ra đi bắt đầu với HO1, HO2, HO3 …

3- Mưa Cali:

1991 Nhờ vào chương trình ra đi do chính phủ Mỹ can thiệp này và do một điều mà lúc đầu tôi cho đó là may mắn gia đình chúng tôi đã được hai người ân nhân Việt Nam xa lạ bảo trợ đến định cư tại “tiểu bang vàng” (golden state) California rồi chúng tôi lại có quyết định tái lập nghiệp tại “thung lũng hoa vàng” San Jose. Như “sau cơn đại hạn gặp được mưa rào” hay theo cách nói của nhạc sĩ Vũ Thành An:” Sau dầm dề mưa tuyết, mới vui ngày nắng về”. Để rồi sau này khi đan kết những sự việc xảy ra trong đời, tôi nhận ra đó chính là những”cơn mưa hồng ân” cho gia đình chúng tôi.

Sau khi đã thoát được sự kỳ thị có hệ thống, được chỉ thị thành văn bản đối với các gia đình quân, cán, chính trong chế độ cũ tại Việt Nam, chúng tôi và nhất là các con tôi đã kiên nhẫn, khổ công sống tiết kiệm, tập trung thời giờ và công sức vào làm việc và học hành để vươn lên cùng với thế hệ thứ hai của các gia đình tỵ nạn Việt Nam khác nói chung.

Về điểm này xin minh định một điều là sự thành công của người Việt tại các nước được định cư không phải là “kết quả” của sự ra đi sau ngày 30/4/1975! Mà là “hậu quả” của việc cướp đoạt tài sản của người dân qua chính sách đánh tư sản, đổi tiền, và đuổi người dân đi các vùng kinh tế mới. Sự thành công này là cái giá rất đắt đã phải trả bằng mồ hôi, xương máu của các bậc cha anh trong các trại tù, sự hy sinh tính mạng của hàng triệu người Việt mà thống kê ước tính theo lời kể của những người còn sống sót thì con số người chết trên đường vượt biên, vượt biển còn cao hơn số người may mắn đến được bến bờ tự do!

Trong bài “Tâm Ca” nhạc sĩ Phạm Duy có viết:

“Kẻ thù ta đâu có phải là người.

Giết người đi thì ta ở với ai?

Kẻ thù ta tên nó là hung ác,

Kẻ thù ta tên nó là gian manh!”

Quá khứ nay đã trở thành lịch sử trong đó chúng ta là chỉ những chứng nhân để nói lên sự thật. Còn lại thì sẽ để cho lịch sử và trên hết là Đấng Chí Tôn rất công minh phán xét!

Lê Phương Lan

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở MƯA HÀ NỘI, MƯA SÀI GÒN, MƯA CALI_Lê Phương Lan

CHUYẾN HẢI HÀNH CUỐI CÙNG- Phạm Phú Nam

CHUYẾN HẢI HÀNH CUỐI CÙNG !

 – Phạm phú Nam-

(Bài do Nại Trần sưu tầm và gởi đến Căn Nhà Nhỏ)

Năm nay 2021, người Việt định cư tại Hoa Kỳ đã lên đến con số 2 triệu người. Nhiều em trẻ sẽ hỏi, tại sao người Việt mình đến Mỹ ? Đến từ lúc nào ? Bằng cách nào ? Tháng 4 năm nay là năm tưởng niệm thứ 46 biến cố Tháng Tư Đen, một biến cố mất nước khiến cho hàng trăm ngàn người Việt phải vùng thoát ra đi trốn chạy đoàn quân xâm lăng Cộng Sản độc tài tàn bạo, đã vào đến Thủ Đô Saigon lúc 10 giờ sáng Thứ Tư, ngày 30 tháng 4 năm 1975.image 1

https://www.youtube.com/watch?v=GbAwQvJgYXU&feature=emb_title

Quý vị cùng chúng tôi, rất nhiều người đã trải qua cuộc vùng thoát kinh hoàng đó. Exodus ! Hàng trăm ngàn người đổ xô ra bến Bạch Đằng, Bến Chương Dương, Bến Tân Cảng, Kho Hàng Khánh Hội, hay Bến Đò Thủ Thiêm và Cát Lái, leo lên mọi thương thuyền lớn nhỏ, tràn vào những chiến hạm Hải Quân để ra đi, không cần biết sẽ đi đâu, có thoát được không, và bất kể sẽ còn được sống hay phải chết, cũng đi.

Xin cùng nhau nhìn lại những tấm hình dưới đây và xem lại câu chuyện video này, xin hãy tiếp tay chúng tôi chuyển tiếp tới những thân hữu trong facebook của quý vị, và nhất là giới thiệu cho các em trẻ từ 50 tuổi trở xuống để tất cả mọi người Việt tỵ nạn chúng ta tại Hoa Kỳ đều hiểu rõ hơn cuộc hành trình gian nan từ Việt Nam sang Mỹ của đợt người Việt đầu tiên, đợt người mà nhạc sĩ Nam Lộc đã đặt cho một danh hiệu đáng nhớ mãi “Người Di Tản Buồn”.

image

Thật sự, ít có người biết, trong ngày và đêm 29/4/1975, hạm đội hành quân biển của Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa đã quyết định ra khơi, khoảng hơn 40 chiến hạm lớn nhỏ trong tổng số 80 chiếc của hạm đội, sẽ tập trung tại Đảo Côn Sơn chờ một mệnh lệnh cuối cùng.

Có những chiến hạm đang tuần dương như chiếc HQ17 hoặc chiếc HQ229 được lệnh ra đi luôn khiến thủy thủ đoàn phải bỏ lại vợ con thân nhân trong sự chia lìa bất ngờ thật đớn đau.

Có những chiến hạm đang đậu ở bến Bạch Đằng thì phải đón nhận hàng ngàn đồng bào tràn lên, như chiếc HQ801 hay chiếc HQ502, có chiếc bình thường chỉ có 200 thủy thủ đoàn, nay phải cáng đáng 5,000 đồng bào tràn ngập mọi khoang tàu, từ đáy lên đỉnh cột cờ, người đâu là người đông như kiến bu.

Có chiếc đã bị hư máy nằm ụ trong Hải Quân Công Xưởng như chiến Lam Giang HQ402, đang sửa chữa mà cũng có hàng ngàn đồng bào tràn lên, căng thẳng nằm chờ không chịu xuống, và cũng chẳng biết thủy thủ đoàn ở đâu, con tàu có ra đi không ?. Và con tàu đó, với một vài sĩ quan còn lại, bằng một cố gắng phi thường, cuối cùng cũng nổ được máy, ì ạch ra đi vào trưa ngày 30/4 ngay trước mắt những chiếc xe tăng của Quân Cộng Sản vừa đậu giương cao nòng súng trên bến cảng.

Cũng có những thủy thủ vì bị bất ngờ xa cách vợ con đã xin về, nay kể lại mới biết, quyết định sai lầm đó đã trả giá rất đắt vì chế độ Cộng Sản đã tống ngay tất cả mọi người trở về vào tù cải tạo, không hề được gặp mặt vợ con chút nào.

Cũng có đoàn chiến hạm 4 chiếc ra đi từ đảo Phú Quốc, mang theo khoảng 2,000 đồng bào chạy qua Singapore xin tị nạn, Singapore không nhận, 4 con tàu phải chạy qua Phi Luật Tân, trên đường đi, có một chiếc bị một nhóm người giết chết vị hạm trưởng, cướp tàu, lái về Việt Nam trở lại. Còn 3 chiếc kia, tiếp tục cuộc hành trình dài tổng cộng 22 ngày trên biển đi tìm tự do

image (1)

.

Nếu quý vị là những người đã ra đi bằng cách đó, quý vị có còn nhớ quý vị đi trên chiếc chiến hạm số mấy không  ? Tôi hỏi cả trăm người, không có một ai biết tàu nào, số mấy, loại gì.

Thật sự, nếu không kể lại thì sự kiện mà Hải Quân VNCH đặt tên là Chuyến Hải Hành Cuối Cùng của đoàn chiến hạm 43 chiếc đã ra khơi, tập trung tại Côn Sơn chờ mệnh lệnh cuối cùng, rồi 32 chiếc còn sức chạy được, đã ra đi mang theo 30,000 đồng bào ruột thịt đi tìm tự do tại Subic Bay-Phi Luật Tân sẽ hoàn toàn bị quên lãng .

Ai đã ra đi trong Chuyến Hải Hành Cuối Cùng đó? Quý vị có còn nhớ gì chăng ? Quý vị có còn nhớ giây phút được lệnh phải hạ cờ, cuốn cờ, sơn che lại số tàu, vất bỏ mọi đạn dược xuống biển thì  Phi Luật Tân mới cho tàu vào bến không ? Quý vị có còn nhớ giây phút linh thiêng khi tất cả mọi người trên 32 con tàu, thủy thủ cũng như dân chúng, đồng loạt hát bài quốc ca với nước mắt tuôn trào, đau đớn tột cùng trong cảnh bi hùng nước mất, nhà tan, mang thân phận của kẻ vô tổ quốc trong giây phút chào cờ lần cuối cùng đó không?

Lịch sử cần phải được ghi lại, cần phải được kể lại, nhất là kể cho con cháu chúng ta để các em hiểu rõ được tại sao người Việt đã đến đây? đến từ lúc nào, và bằng cách nào?

Một lần nữa, xin giúp chúng tôi chuyển tiếp video này đến mọi thân hữu xa gần. Chân thành cảm ơn tất cả quý vị.

 



 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở CHUYẾN HẢI HÀNH CUỐI CÙNG- Phạm Phú Nam

THƠ QUỐC HẬN- Của Cóc Chay- Cóc Huế _ TQN

TRÌNH TÂU THƯỢNG ĐẾ

Sơn hà Đại Việt sẽ về đâu?
Nghĩ đến, bầm gan tím ruột sầu.
Lãnh hải, Tàu man xâm chiếm hết,
Biên cương, Chệt đỏ lấn vào sâu.
Xưa Hồ cõng rắn, nên quỳ lụy,
Nay Trọng lòn trôn, phải cúi đầu.
Uất hận dâng tràn Nam chí Bắc,
Sự tình đất nước, giải bày tâu.

Sự tình đất nước, giải bày tâu,
Cộng sản gian manh, loại lớn đầu.
Đón rước kẻ thù qua trú ẩn,
Đọa đày hiền sĩ chốn rừng sâu.
Cao Nguyên, Hán tặc nhiều ưu đãi,
Xứ lạ, lao nô quá thảm sầu.
Ai hỡi! Đứng lên trừ đảng cướp,
Chung lòng sánh bước, ngại gì đâu?

CÓC CHAY (Quốc Hận 46)

 

VIỆT NAM ĐI VỀ ĐÂU

Tưong lai dân Việt sẽ về đâu
Nghĩ đến bầm gan tím ruột sầu
Kịch nghệ thi nhau liên tiếp diễn
Ân chơi xã láng suốt đêm sâu
Âm mưu ru ngủ đời trai trẻ
Thủ đoạn hao mòn nơi tuyến đầu
Thử hỏi còn chi non nước Việt
Ngàn năm văn hiến lấy gì tâu?

Thái Thú sẵn sàng quỳ gối tâu
Quyền to chức trọng ngẩn cao đầu
Cho dù chúng chưởi loài lang sói
Hay dẫu người chê thứ bọ sâu
Có dám khinh khi đồ Việt Cộng
Còn gan trách mắng sẽ mang sầu
Khắc ghi cương lĩnh Đảng ta dạy
Chống đối thẳng tay đập bễ đầu./-

TQN.

 

NHỚ TỚI THÁNG TƯ

Đêm nằm thao thức nghĩ đâu đâu,
Nhớ tới tháng tư những luống sầu.
Quân bắc tràn qua vùng giới tuyến,
Lính mình tan rã chốn rừng sâu.
Lịnh truyền buông súng buồn khôn tả,
Nước mắt rưng rưng đứng gục đầu.
Thế cuộc trói tay nên bại trận,
Chẳng còn tổng thống để mà tâu.

Chẳng còn tổng thống để mà tâu,
Trình diện ôi chao đứng cúi đầu.
Cải tạo mút mùa nơi núi thẳm,
Khổ sai biệt xứ chốn rừng sâu.
Vợ con nheo nhóc lòng cô quạnh,
Cha mẹ ngẫn ngơ dạ thảm sầu.
Mất nước thôi đành tan mộng thắm,
Tương lai dân tộc biết về đâu.

CÓC HUẾ

 

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở THƠ QUỐC HẬN- Của Cóc Chay- Cóc Huế _ TQN

ĐỐT MUỘN MỘT NÉN TÂM HƯƠNG_Hà Xuân Thiết

ĐỐT MUỘN MỘT NÉN TÂM HƯƠNG

(Sử Liệu CSQG – Tổng Hội CSQG-VNCH)

     I.- Ngày Tàn Cuộc Chiến:
     Khoảng 10:30 sáng chủ nhật ngày 27 tháng 4 năm 1975. Trên hệ thống truyền tin của đơn vị (Bộ chỉ huy CSQG Quận 8 Sài gòn), với danh hiệu Hồng Lĩnh, Trung Tâm Hành quân Cảnh lực thông báo: Lệnh của Thiếu Tá Chỉ huy trưởng sẽ có một phiện họp khẩn tại phòng họp Bộ chỉ huy vào lúc 11 giờ 30. Đúng giờ đó, chúng tôi toàn thể sĩ quan tham mưu bao gồm các Phụ tá, quý vị Chủ sự phòng, quý vị Trưởng cuộc tại 5 phường trực thuộc Quận 8 và còn có sự hiện diện của Đại Đội Trưởng CSDC (thuộc Biệt Đoàn 5 đang phục vụ về an ninh diện địa tại Q8). Hy vọng trí nhớ không nhầm thì đại đội của Đ/úy K3 Đỗ Kiến Huân. Ngoài ra cũng có lệnh mời Trung tá Quận trưởng Nguyễn Văn Lợi nhưng không tham dự được. Chỉ có Thiếu úy Đinh Công Sửu, Trưởng ban 3 Đặc khu 8 thay mặt. Chúng tôi, ai nấy không thấy có nụ cười, không như những lần họp về trước, ai cũng đang có một ưu tư trong hoàn cảnh dầu sôi lửa bỏng của đất nước. Trước tình hình chiến sự và đặc biệt là suy nghĩ việc bàn giao lần thứ 2 chức vụ Tổng Thống vào ngày mai 28/4, Sau một tuần lễ đảm nhiệm của đương kim TổngThống dân cử Trần Văn Hương nay bàn giao cho Đại Tướng Dương Văn Minh. Mỗi người một suy nghĩ, riêng tôi, không biết đất nước sẽ đi về đâu? Chúng tôi sẽ như thế nào? Thân phận sẽ bi đát và sinh mạng như chỉ mành treo chuông trong mỗi phút đi qua…đang chờ đón chúng tôi và gia đình vợ với 4 con thơ trong hai bàn tay trắng (nghĩa đen)? Chúng tôi biết, dù có hiệp định Paris đã ký kết nhưng không có gì bảo đảm cả. Và phải chăng đó chỉ là mớ giấy lộn để hợp thức hóa việc người ta bán đứng miền Nam?
     Hơn 11 giờ 30, để đánh thức mọi người về với thực tại, một âm thanh dõng dạc vang lên: Vào hàng ph..! Mọi người nghiêm chỉnh đứng dậy, riêng Đại úy Trương Trí Huệ chào tay và xin trân trọng mời Thiếu tá Chỉ huy trưởng an tọa (đơn vị chúng tôi thời gian đó không có Chỉ huy phó vì chưa được điền khuyết).
     Thiếu tá Chỉ huy trưởng cho biết: vừa tham dự phiên họp khẩn tại Bộ chỉ huy Thủ Đô với các vị tân chỉ huy. Thiếu tá thông báo: “tin tình báo kỹ thuật” (tin khai thác trên hệ thống truyền tin địch) cho biết: đêm nay 27/4/1975 cộng quân sẽ tấn công vào Sài Gòn qua 5 hướng, bằng lực lượng chính quy của cộng sản Bắc Việt, mà quận 8 là 1 trong 5 hướng chính yếu đó. Với kinh nghiệm qua 2 đợt tấn công của cộng sản Bắc Việt trong Tết Mậu Thân, thì địa bàn quận 8 đã có những cuộc giao tranh đẫm máu và thiệt hại đáng kể về nhân mạng lẫn tài sản. Và lực lượng cảnh sát Quận 8 vẫn giữ vững được lãnh thổ và đẩy lùi địch quân một cách kiên cường, dũng cảm. Nhưng lần này nghiêm trọng hơn, cần cảnh giác tối đa. Ngoài ra thiếu tá chỉ huy trưởng còn phân tích và chỉ rõ ra những chi tiết cần thiết khác. Nhưng lệnh chính thức là mỗi Cuộc, mỗi Phòng, Ban hãy tăng cường cẩn mật để sẵn sàng chống trả…Nói chung là phần ai nấy lo, nếu có gì khó khăn trình chỉ huy trưởng để xin giải quyết…
     Phiên họp kéo dài hơn 2 tiếng đồng hồ, mọi người rời phòng họp bước đi lòng nặng trĩu…và có ngờ đâu “đây là phiên họp cuối cùng”. Và mãi tới nay hơn 42 năm sau có nhiều người đã không hề gặp lại. Điều nổi bật nhất của buổi họp là sự hiện diện 100% của toàn thể sĩ quan trách nhiệm. Đây là một nét son then chốt nói lên tinh thần kỷ luật, trách nhiệm của chiến sĩ CSQG nói chung và bộ chỉ huy CSQG/Q8 nói riêng…trước tình hình đất nước mà quý độc giả đã từng biết rõ. Phần tôi , nắm giữ một phần lực lượng cơ hữu của đơn vị đã có sẵn và đã từng hoạt động hữu hiệu bấy lâu nay. Đặc biệt lực lượng này được hoàn thiện hơn sau biến cố Phước Long thất thủ giữa tháng 12/1974. Tôi với chức vụ Văn phòng trưởng Văn phòng thường trực Ủy Ban Phượng Hoàng quận. Tôi đã giẫm chân lên Phòng hành quân của (cố) Đại Úy Lê Văn Lời, vì do yêu cầu của cố Thiếu Tá chỉ huy trưởng tiền nhiệm Trần Công Hoàng. Mặc dù thi hành lệnh của cấp trên, nhưng tôi cũng có trao đổi với Chủ sự phòng liên hệ, đương sự đồng ý và hoan nghênh. Tôi đã hình thành lực lượng đó, cả quân số và các phương tiện trang bị, xin sơ lược như sau: Đại đội cơ hữu được sử dụng toàn bộ Cảnh Sát sắc phục và được chia làm 3 Trung đội: Trung đội 1 và 2 là tuyển chọn toàn bộ nhân viên trẻ, khỏe, năng động, nhiệt tình và kỷ luật cao. Không phân biệt cấp bậc và phần hành công tác.
     Tôi, Hà Xuân Thiết trung đội trưởng trung đội 1 gồm 3 tiểu đội, với quân số 65 nhân viên. Trung đội 2 do Đại Úy Tô Văn Để, chủ sự phòng kỷ thuật quân số cũng từ 64 – 66 nhân viên (từ sau phiên họp 27/4 đến nay không gặp lại Đại úy Để và không biết bây giờ đang ở đâu). Còn trung đội 3 gồm những nhân viên già yếu hay cảm mạo thương hàn, khò khè thoa dầu gió và một số công vụ đặc biệt..v.v.. với quân số gần 80 người. Trung đội 3 này đặt dưới quyền chỉ huy của Đại úy Trần Văn Du và cũng chia làm 3 tiểu đội. Tùy theo tình hình công việc để ban đêm từ 9 giờ tối đến 3g sáng chia nhau đi tuần quanh đơn vị. Bởi vì BCH Quận 8 diện tích rộng, mặt sau và bên phải là hồ sen, phía trái là trường trung học Quận 8 (thuộc loại cao ốc), chung quanh có 5 vọng gác, đi tới đâu là gõ kẻng tới đó và các vọng gác khác phải gõ theo. Đồng thời cũng tuần hành chung quanh đơn vị, và luôn canh trong giữ ngoài cẩn mật.
     Thưa quý chiến hữu và độc giả, theo tinh thần phiên họp vừa nêu, đêm nay 27/4 là phiên trung đội của tôi đi ra ngoài như thông thường, để trấn giữ các yếu điểm của địa bàn Quận, chúng tôi chỉ sử dụng 2 tiểu đội (khoảng 42-45 người). Nhưng đêm nay chúng tôi đã sử dụng toàn bộ. Điểm chính yếu là chốt tại cầu Nhị Thiên Đường phối hợp cùng CSDC ngăn chân bước tiến của cộng quân từ phía Nam, bán tiểu đội hợp tác với lực lượng của CSQG Ký Thu Ôn gác chận tại Xa Cảng (đường đi Cần Giuộc) và bán tiểu đội tại tổ báo động cuối đường Âu Dương Lân. Một bán tiểu đội khác phân phối chiếm giữ các phòng ốc của trường học sát nách trái của bộ chỉ huy. Cá nhân tôi đi với lực lượng chốt giữ cầu Nhị Thiên Đường (mặt trên cầu) còn mặt dưới có CSDC.
     Vũ khí trang bị: Carbine M2, AR15, M16 và mỗi tiểu đội có 2 cây M79 và 2 máy truyền tin HT1, không trang bị lựu đạn M26, mặc dù trong mỗi tiểu đội đều có cựu quân nhân, hoặc quân nhân biệt phái của các binh chủng Biệt động quân, Bộ binh, Địa phương quân.v.v..Mọi người ai cũng trong tư thế sẵn sàng chiến đấu. Đêm hôm đó (27/4/1975) địch chưa tới kịp để được đón tiếp bằng vũ khí và “tinh thần chiến đấu của CSQG” một mất một còn của chúng tôi.
     Ngày thứ hai 28/4/1975 thời gian nặng nề trôi, từ quan tới lính, mắt ai cũng sâu trũng, mặt mày hốc hác.
    Ngày làm việc, đêm thức trong tư thế sẵn sàng tử chiến…..khoảng 6 giờ chiều, cũng là giờ bàn giao nguyên thủ Quốc Gia. Một cơn mưa dông nặng hạt lại thêm sấm chớp tứ bề bủa giăng, sét đánh vang cả góc trời vùng Thủ Đô phía Bắc, nhìn từ trên pháo đài phòng thủ Quận 8. Trời mới dứt cơn mưa, nghe tiếng bom nổ liên tiếp, nhìn lên bầu Trời phía Đông Bắc, chúng tôi thấy 2 phi tuần chiến đấu cơ đang truy đuổi 2 oanh tạc cơ vừa dội bom ở khu phi trường Tân Sơn Nhất và Bộ Tổng Tham Mưu.(sau này được biết oanh tạc cơ xuất phát từ Đà Nẵng do tên phản tặc Nguyễn Thành Trung hướng dẫn vào tấn công Sài gòn)… Khoảng 10 giờ đêm, từ trên sân thượng Bộ chỉ huy CSQG/ Q8, chúng tôi quan sát qua cánh đồng ruộng thuộc địa phận Quận Bình Chánh Gia-Định, chúng tôi thấy những cây đuốc đi từ hướng Đông về hướng Tây. Cứ 5-6 cây đuốc đi lên thì 1-2 cây đi xuống. Trên một khoảng dài và mỗi toán cách nhau chừng 5-7 chục mét. Tôi đánh giá đây là một cuộc chuyển quân có nghi binh. Chúng tôi trình sĩ quan trực (Thiếu tá Võ Đăng Ngọc) và trình về Thủ Đô qua Trung tâm HQCL thì được trả lời: có thể đồng bào đi soi nhái vì hồi chiều mưa lớn không được bắn. Tôi liều mạng, kêu các xạ thủ đại liên bắn chỉ thiên. 2/5 con gà cồ vừa khạc đạn, lập tức tất cả các cây đuốc giữa cánh đồng đều tắt ngúm. (Tức khắc tôi xuống Trung tâm HQCL dặn các nhân viên âm thoại đang làm việc, cứ bảo chưa ghi nhận gì, đừng trả lời, nếu Thủ Đô có hỏi nơi nào nổ súng? Giá như không có ngày đứt phim, có lẽ tôi đã là con dê tế thần vì không chấp hành lệnh. Đách sợ! Tôi từng tuyên bố: là dân Vùng I, đã phục vụ Vùng II, bất cứ lúc nào muốn đẩy đi vùng nào cũng được miễn đừng đưa đi vùng V là OK.
     2:30AM khuya 29/4 bỗng nghe 5-6 tiếng nổ lớn, và báo cáo từ Trung tâm Hành quân Cảnh – Lực: Cuộc Ký Thu Ôn đang bị VC bắn B40 vào. Tiếp đó chúng tôi nghe có tiếng súng nổ lớn và nhận ra ngay là tiếng súng của đại liên. Cùng thời gian là tiếng pháo kích ở vùng phi trường TSN và vùng Bộ Tổng Tham Mưu và rải rác vài nơi trong Đô Thành.
Trên sân thượng bộ chỉ huy có Thiếu Tá Nguyễn Viết Thực, chỉ huy trưởng, Thiếu Tá Võ Đăng Ngọc, Thiếu Tá Nguyễn Thanh Thủy cùng một số sĩ quan khác. Tôi đang đứng ở tổ đại liên chủ lực và đang theo dõi trên hệ thống truyền tin. Tiếng Đại úy (K3) Nguyễn Hoàng Thanh đang điều động lực lượng Cuộc và đồng thời báo cáo sự việc. Cộng quân đang bắn B40 vào Cuộc, chưa có thiệt hại nhân mạng và chiến sĩ CSQG Cuộc đang anh dũng chống trả bằng Đại liên và súng cá nhân. Nguyễn Hoàng Thanh xin Chỉ Huy Trưởng yểm trợ gấp, yểm trợ, yểm trợ…….gấp…gấp…..Một lát sau, tôi nghe chỉ huy trưởng ra lệnh: Anh Ngọc!(Thiếu tá Võ đăng Ngọc đang là sĩ quan trực) anh đi xuống Ký Thu Ôn yểm trợ cho thằng Thanh, nó đang kêu cứu quá. Vì đứng gần, tôi nghe nên liền xuống lầu và bấm chuông báo động tập họp. Chỉ trong vòng 2 phút đơn vị có mặt đông đủ, chỉ trừ trung đội 2 của Đại úy Để công tác bên ngoài.
    Sau khi hàng ngũ chỉnh tề, tôi cho trung đội 3 giải tán để trở về lại nhiệm vụ. Đứng trước trung đội hiện diện 100% và vũ khí đạn dược đầy đủ của mỗi cá nhân. Tôi thông báo các anh: Việt Cộng đang tấn công cuộc Ký Thu Ôn bằng B40. Thừa lệnh Thiếu Tá chỉ huy trưởng, bây giờ chúng ta sẽ đi xuống đó để tiếp viện, quân số của địch chưa rõ. Địch chỉ sử dụng B40 bắn vào. Chúng nghĩ Cuộc sẽ bỏ chạy. Tôi đoán quân số của chúng cũng ít thôi. Bây giờ, trong tất cả các anh ở đây, có ai vì hoàn cảnh gia đình: vợ, con, cha mẹ ốm đau đặc biệt cần thiết, hoặc những lý do khác bất khả kháng, hoặc các anh đang bệnh .v.v cứ mạnh dạn bước ra khỏi hàng quân, Tôi nhắc lại một lần nữa và một không gian im lặng tuyệt đối, không có ai bước ra và cũng không một tiếng xầm xì nào cả.
     Được rồi! bây giờ Tôi yêu cầu các anh thi hành lệnh tuyệt đối và cùng đi với chúng ta có: Thiếu tá Nguyễn Thanh Thủy và chúng ta được đặt dưới quyền chỉ huy của Thiếu tá Võ Đăng Ngọc:
– Tất cả đưa súng lên trời và lên đạn, khóa an toàn và súng cầm tay trong tư thế tác chiến.
– Vì tình hình, tôi cử tiểu đội 2 do Thiếu úy Võ Văn Bửu đi trước, mỗi người cách nhau tối thiểu 2m, các anh di chuyển cẩn thận quan sát, đi tới đầu cầu đúc Hiệp Ân anh Bửu phải dừng lại bố trí và gọi máy về báo cho tôi. Thiếu úy Võ Văn Bửu (Trưởng ban Nhân huấn là 1 cựu quân nhân) dõng dạc trả lời “Nhận rõ” và chúng tôi xuất phát. Tôi nhìn phía trước thì thấy 2 vị Thiếu tá Ngọc và Thủy đã đi hàng đầu.
Thưa quý chiến hữu, trong việc điều động này, quý vị sĩ quan cao cấp đứng nhìn để tôi làm việc. Tất cả các vị chỉ quan sát không hề có ý kiến gì, không nói một lời nào, có lẽ quý vị tin tưởng ở tôi. Tôi đi theo tiểu đội sau cùng tạo thành một hàng dọc dài theo đường Phạm Thế Hiển. Khi vừa qua khỏi nhà Trung tá Đỗ Kiến Nâu một đoạn, tôi nghe Thiếu úy Bửu báo trên máy “đã đến nơi quy định”. Tôi bảo “dừng lại chờ tôi”. Tôi đi lên cầu Hiệp Ân, thấy 2 vị Thiếu tá đang đứng chờ. Tôi quan sát tổng thể, mặc dù trời đang còn tối, dưới ánh trăng mờ mờ của những đêm cuối trung tuần tháng 3 âm lịch. Tôi chỉ Thiếu úy Bửu và 2 vị Thiếu tá những chiếc ghe lớn, tàu thuyền đang neo đậu vì đó là Chành sửa chữa. Tôi sợ quân địch phục kích, ở đó sẽ trí súng cộng đồng tiêu diệt chúng tôi khi đoàn quân đi qua cầu. Tôi bảo Thiếu úy Bửu cử 3 chiến sĩ qua cầu từng người một cách nhau 5m, người trước vẫy tay người sau để người sau tiến tới, sau khi đã quan sát kỹ trong các hẻm và tất cả tiếp tục lần lượt cả tiểu đội vượt qua cầu. Một khoảng thời gian ngắn bình yên, hai vị Thiếu tá cũng qua cầu (không có gió bay). Tôi dặn Thiếu úy Bửu không đi đường chính, đi vào đường tắt đến trước quán Hương Huyền, dừng quân tại đó và chờ tôi. Tôi gọi máy 2 tiểu đội còn lại lần lượt tiến lên. Và tất cả chúng tôi đang có mặt tại điểm hẹn, nhìn đồng hồ Tôi thấy 4:40 AM. Có một điều đến nay, tôi không hiểu, hai vị đàn anh vẫn đứng tại địa điểm chờ tôi. Khi tôi lên tới quán Hương Huyền thì hai vị này cùng hai tay cận vệ đi tắt băng qua đường vào cuộc Ký Thu Ôn. Còn tôi dẫn nhân viên đi bọc ngã sau lưng quán Hương Huyền, băng qua phía ruộng khô để đi ra xa cảng, là nơi cũng có một số công sự chiến đấu. Tôi cho lính nằm hàng ngang dọc đường nhựa và tìm chỗ an toàn. Đối diện bên kia đường là khu nghĩa địa rộng. Trời mờ mờ nhìn mặt nhau chưa rõ, nhưng ở phía trái cách khoảng 50m, tôi thấy có một con đê. Tôi liền điều Thiếu úy Bửu đem tiểu đội tới nằm hàng ngang và chốt tại đó, để đề phòng địch đánh bọc sườn. Sau khi đã ổn định vị trí xong, trên pháo đài, đại liên vẫn nổ. Trời vẫn chưa sáng, tôi đi kiểm soát tư thế của từng người và bảo 4 anh mang M79 chuẩn bị. Lúc đó để ngăn chặn bước tiến của địch, 4 cây M79 vừa phóng 4 viên thử súng đầu tiên rót vào nghĩa địa. 4 tiếng nổ nghe cũng chát chúa và chắc e cũng có người chết 2 lần vì đang trong nghĩa địa. Trong ánh sáng chập chờn của bình minh, sau tiếng nổ thì có một vật tung lên, anh thì bảo nón cối VC, anh thì bảo thùng carton, anh thì bảo chiếc giày rách.. v.v… Tôi có thấy nhưng không xác định được vật gì. Trời bắt đầu sáng, chúng tôi vẫn án binh bất động, không có lệnh lạc gì, hệ thống truyền tin êm re. Tôi nhìn lên bầu trời , bây giờ trời bắt đầu sáng, thấy ở hướng tây có 2 phi tuần đang nhào lộn, tôi không xác định được vùng nào.
     Tôi đang quan sát chung quanh, nhìn lên trời về phía Tây Bắc, bỗng thấy một vệt lửa đang lắc lư bay từ dưới đất lên và máy bay vừa tới thì vệt lửa hít nhanh vào. Trong tíc tắc, máy bay rơi xuống và một đụm khói hình nấm bốc lên cuồn cuộn, Tôi không thấy phi công nhảy dù. Thôi thế là xong một người con của Tổ Quốc VN, một trong nhiều thanh niên trai trẻ đã dâng hiến đời mình để bảo vệ Tổ Quốc thân yêu trong giờ phút cuối cùng của cuộc chiến.
     Không gian vẫn im lặng, tiếng súng đại liên thỉnh thoảng nhả đạn, bỗng nhiên trên hệ thống truyền tin “Xin trình Hồng Lĩnh 1,” (tức Chỉ huy trưởng): “đến giờ này chúng tôi không thấy động tĩnh gì trong  
nghĩa địa cả”. Tức thì lệnh từ Hồng Lĩnh 1: “cho tràn vào kiểm soát và nhổ chốt”. Vừa nghe lệnh từ cấp chỉ huy trên máy, toàn thể 2 tiểu đội chạy hàng ngang, băng qua đường nhựa xung phong vào, không một ai nằm lại. Tôi hoảng hốt chạy theo hô “Dừng lại! Dừng lại!”, nhưng bất lực.
     Tôi lấy cái HT1 và gọi lại Hồng Lĩnh I. “Đây! Hồng lĩnh 23 trình thẩm quyền: “Tôi vừa thấy địch đang di chuyển để rút lui ở phía trong nghĩa địa”. Nhưng hoàn toàn không được đáp lại bằng một lệnh lạc nào khác cả. Nên tôi cũng chạy vào sâu bên trong theo anh em. Chúng tôi băng qua các ngôi mộ, tất cả nhân viên đều nằm. Tôi đứng quan sát từng người, nhìn phía trước thì thấy 1 cán binh đang bò qua giữa hai ngôi mộ lớn. Tôi đưa cây carbin M2 lên làm một tràng, tên này có trở thành liệt sĩ thì chắc không hẳn do những viên đạn bắn ra từ nòng súng của tôi (vì tôi phản ứng hơi chậm).
     Khi chúng tôi tràn vào thì đại liên trên pháo đài của Cuộc ngưng bắn. Vì thế địch ngóc đầu dậy quan sát và thấy tôi đang la hét điều động, tức thì một quả lựu đạn chày tung tới …Ầm…Ầm…Tôi nhảy xuống hố, còn nhìn thấy mấy mảnh ván hòm của quan tài ngôi mộ mới cải táng. Một thoáng suy nghĩ, nếu địch tung quả lựu đạn khác rơi xuống hố, tôi banh thây là cái chắc. Tôi nhảy lên và mãi quan sát phía trước, đột nhiên có người giựt giựt ống quần, Tôi nhìn xuống thì Trung sĩ Lê Văn Vinh (Phòng kỹ thuật) kêu nho nhỏ: “Đại úy! Đại úy! Em bị thương, em bị thương rồi.” Tôi hỏi: “Chỗ nào?” Vinh đưa tay chỉ sau mông, tôi cúi xuống, đưa tay ấn, ấn và thấy máu chảy ướt quần tạo thành vòng tròn bằng miệng chén. Tôi hỏi còn chỗ nào nữa không? Vinh bảo không thấy đau đâu nữa cả. Tôi bảo nằm đó đi, nhẹ không sao đâu.
     Tôi quay lại quan sát phía trước và chung quanh, tức khắc những cây súng từ phía của chúng tôi nhả đạn. Hai người bò tới: Nguyễn Văn Xuân (nhân viên Trung tâm tạm giam), người thứ 2 là Nguyễn Văn Sáu (nhân viên thuộc Ban nhân huấn), cả hai đều là quân nhân biệt phái. Xuân nói: “Đại úy, để hai đứa em dìu Vinh ra.” Tôi bảo: “Một người dìu thôi.” Miệng nói nhưng tôi vẫn đứng và mắt quan sát phía trước. Vài phút sau quay lại nhìn thì thấy cả hai thằng đã cùng dìu Vinh rời nghĩa địa chừng 10m.
     Nhìn trái, nhìn phải la hét, những tràng đạn bắn tới phía trước, vài ba quả M79 thay nhau nổ, một nón cối tung lên, bây giờ thì thấy rất rõ và rất gần, địch đang trườn ngửa ra và lùi rời vị trí chiến đấu. Một trái lựu đạn thứ 2 đã tung tới. Tôi ngã xuống, tai ù điếc luôn, máu mồm hộc ra, súng trên tay không còn, gục ngay tại chỗ. Nhưng bản năng sinh tồn vực tôi dậy và chạy ra ngoài được bao nhiêu mét không biết. Tôi ngã xuống, lại đứng dậy chạy nữa. Mắt hoàn toàn không thấy. Miệng thì gọi tên mấy đứa con: Ba chết rồi các con ơi! Tôi ngã xuống lần nữa không biết bao lâu thì đồng đội chạy ra vực tôi lên xe tải thương đưa về Bộ Chỉ Huy.
Tôi có nghe (không thấy mặt) tiếng nói của Đại úy Lê Công Danh (Trưởng ban 2 đặc khu 8) hướng dẫn mấy nhân viên tải thương để giúp tôi. Tôi nghe giọng nói của Trung úy Nguyễn Cao Hoách (quân nhân biệt phái, phục vụ tại Trung tâm HQCL) dù nhắm mắt mệt lả nhưng tôi vẫn cự nự: “Sao anh đi theo tôi?” Hắn bào chữa: “Ông nằm yên đi, tôi phải lo cho ông chứ.” Từ Bộ Chỉ Huy và chuyển tiếp tới Bệnh Viện Cảnh Sát. Bác sĩ Chung Châu Hồ săn sóc và chuyển tiếp tới Bệnh Viện Bình Dân.
      Tôi bị mấy mảnh lựu đạn xuyên qua cổ từ trái sang phải,có mảnh còn nằm ở trong cổ cho đến nay (2017). Chân phải bị đứt động mạch và nhiều mảnh lựu đạn ghim vào chân. Tại Bệnh Viện Bình Dân đường Phan Thanh Giản, Quận 3 Sài Gòn, Bác sĩ Nguyễn Văn Bích đã cứu sống tôi và chiều 30/4 tôi mới tỉnh lại và tiếng nói nghe được đầu tiên sau khi hồi sinh là “đầu hàng vô điều kiện” của Dương Văn Minh. Khi nằm tại phòng cấp cứu tôi đau và la quá. Bác sĩ Bích vỗ về tôi: “Anh cố gắng chịu đau, xong ca mổ này tôi đưa anh vào ngay. Bây giờ nếu mở ra máu chảy để anh bớt đau thì anh sẽ chết.” Nói vậy nhưng bác sĩ có mở dây buộc ở chân ra, Tôi thấy dễ chịu, sau đó buộc lại. Tôi hoàn toàn không thấy mặt bất cứ ai.
     Chiều 9/5/1975, bác sĩ Bích đến khám và bắt mạch ở dưới mắt cá chân. Bác sĩ bảo: “Chắc chắn anh sẽ không chết và chân anh khỏi phải cưa. Bây giờ tôi cho anh về với một số thuốc cần thiết, trong vòng 30 ngày anh trở lại gặp tôi. Và bất cứ lúc nào cần anh cứ tới Bệnh Viện. Anh về đi! Anh nằm ở đây bất lợi cho anh.” Bác sĩ Bích đã cho tôi nhiều thuốc và lời nói an ủi chia xẻ đúng chức năng của lương y như từ mẫu. Trong tiếng nói đó cũng mang ý nghĩa của những kẻ thua trận cùng chiến tuyến. Tôi vô cùng ngưỡng mộ và tri ân! Rất tiếc 42 năm qua tôi không gặp lại, dù có cố gắng tìm kiếm.
     Thưa quý chiến hữu: Đó là tinh thần phục vụ của Dân, Quân, Cán chính VNCH thể hiện ở bất cứ nơi đâu. Tôi đã chứng kiến, và hưởng được những ân huệ cao cả đó, không phải chỉ riêng ở Bệnh Viện Bình Dân mà ngay cả tại viện Bài Lao Quận 5, khi em tôi lên đó để nhận 8 bịch máu O ở vào giờ phút dầu sôi lửa bỏng trưa 29/4/75 mà nhân viên vẫn phục vụ tận tình và sốt sắng thỏa mãn. Không những trong giờ phút nguy ngập 29 và 30/4, với những ân huệ tôi đã nhận được mà mãi đến hôm 21/5/1975, tôi được người nhà đưa đi trình diện ở bên Tòa Hành Chánh Quận 8 (cũ), vì mấy tên an ninh địa phương cưỡng bức, tôi đã nhận được một tình cảm nồng hậu của những nhân viên CSQG/Q8 và một số đồng bào phường Xóm Củi đã đối xử với tôi thật vô cùng quý hóa. Tôi và gia đình ngày nay vẫn ghi nhớ tấm lòng giúp đỡ tôi và gia đình trong lúc hoạn nạn, không biết lấy gì đền đáp. Ngòi bút của tôi không đủ để diễn tả hết được tấm lòng của quý đồng bào, đồng đội đã biết hoàn cảnh tôi và cứu giúp. Tấm thịnh tình này còn được thể hiện ở tổ 1 lán 24 trại tập trung Suối Máu Biên Hòa. Các anh em trong tổ đã nhường cơm xẻ áo và một số nhu yếu phẩm cho tôi để bồi dưỡng thêm. Bởi vì đến lúc này tôi vẫn còn quá yếu chỉ 42 kg.
     Với trí nhớ qua 42 năm, tôi còn nhớ tên những chiến hữu CSQG/VNCH của tổ 1 này: K2 Phạm Thành Kính (lán trưởng); K4 Võ Văn Trọng tổ trưởng, cụ Trần Đình Thịnh; K6 Cao Anh Tuấn, K6 Nguyễn Anh Dũng, Nguyễn Vĩnh Phương (nhảy dù biệt phái); Nguyễn Văn Tiền (chuyển ngành); Trần Mạnh Cường(BTV/CN); Nguyễn Văn Hạnh (chuyển ngành); K2 Nguyễn Duy Thành (De Gaulle); Trương Văn Thành (không nhớ K mấy); K2 Hồ Thanh Khiết (đồi mồi); K2 Đỗ Văn Nhậm; K2 Vũ Đình Thọ; K3 Nguyễn Văn Thích; K3 Hồ Văn Quang; K3 Trương Quang Nghĩa (anh này đã chết trong trại tù ngoài Bắc vì kiệt sức, tôi nghe nói lại chứ không ở chung trại) và tôi, Hà Xuân Thiết ( K3T,K6B). Riêng Thành De Gaulle và Thành (lằm bằm) gánh nước cho tôi tắm giặt, phục vụ tối đa.
     Sự có mặt của tôi tại mặt trận Ký Thu Ôn coi như kết thúc ở thời điểm đó. Tôi xin ghi lại diễn tiến hoàn toàn chân thật. Không đánh bóng ai, tất cả đều phục vụ Tổ Quốc, với Danh dự, Trách nhiệm và lòng dũng cảm của chiến sĩ Cảnh Sát Quốc Gia, để bảo vệ màu cờ, sắc áo tới viên đạn cuối cùng, tới giọt máu cuối cùng.
– Tôi đã rời cuộc chơi khoảng lúc 7:30 sáng 29/4. Sau đó theo tôi biết, bằng lời kể lại của những nhân viên tham chiến đến chiều như Nguyễn Văn Vạn, Lê Tương Đối..v.v.. thì Đại đội 4 Biệt Đoàn 222/ CSDC tới tiếp viện, kết hợp với Cảnh Sát Q 8 do Thiếu tá Võ Đăng Ngọc chỉ huy. Tiêu diệt toàn bộ 23 tên bộ đội chính quy trẻ măng: 16 chết, 7 bị bắt (trong đó có 6 bị thương và 1 không bị gì).
     Riêng cá nhân tôi thì trên hệ thống truyền tin đã báo: tử trận tại chỗ !!! Cuộc tử chiến vào đêm 29 rạng 30 cũng tại cuộc Ký Thu Ôn và Đại úy Lê Văn Lời tử trận trên pháo đài cùng nhiều chiến sĩ CSDC cùng một số chiến sĩ Q8. Cùng những chi tiết khác sau đó. Nếu được xin quý huynh trưởng có thể tường thuật tiếp thêm vài lời với những người đã hy sinh kế tiếp.
Mãi đến chiều 4/11/1977, tôi được chuyển trại từ Tuyên Quang đến Nam Hà A, Trung tá Trần Tự Lập thấy tôi và mấy ngày sau ông bảo: “Thấy anh mà tôi trưởng là ma”….
      II. – Thay Lời Kết:
      Nhân cơ hội, dù trang báo có hạn, xin phép cho tôi nói vài lời với người bạn cùng đơn vị đã hy sinh tánh mạng để bảo vệ Tổ quốc trong giờ phút lâm chung.
     Trong thời gian tù đày, gặp những anh khóa 2 BTV, tôi đã hỏi để kiếm tìm gia đình Lê Văn Lời nhưng không ai biết. Tôi qua Mỹ 1990 (H02) Tôi cũng có tìm kiếm nhưng không có kết quả. Đến mùa xuân 2005, tôi đọc đặc san Phụng Hoàng Xuân Ất Dậu, khi đọc kỹ trong phần tương trợ CSQG Bắc Cali do anh Thái Văn Hòa thực hiện và điều hành, thì thấy có tên Đại úy Nguyễn Văn Lời hy sinh ở đơn vị Quảng Ngãi. Tôi hoài nghi và gọi về anh Hòa thì anh bảo tôi gọi anh Nguyễn Văn Cư là người phụ trách. Và anh Cư Đã coi lại hồ sơ và xin lỗi vi sai sót do ấn công. Anh Cư đã xác nhận đúng là Đại úy Lê Văn Lời, và cho tôi địa chỉ gia đình Lời ở Trà Vinh. Tôi đã liên lạc và được xác nhận đúng, bởi vì tôi chỉ đến nhà Lê Văn Lời có một lần, khi bà ấy mới về nhà từ bảo sanh viện sau 3 ngày sanh đứa con gái thứ 5, chưa đúng 1 tuần thì Lời tử trận. (để lại 1 vợ 5 con, cháu thứ 5 khoảng 10 ngày tuổi).
      Tôi ứng tiền ra trước gởi về gia đình Lời tức khắc và sau đó gọi xin những người bạn, những chiến hữu cùng đơn vị , và những người thuộc Quân Cán Chính VNCH, đồng thời có báo cho K2 Nguyễn Văn Lợi ở Nam Cali, K2 Trần Bửu Giao ở Bắc Cali để quyên góp giúp đỡ gia đình người bạn xấu số. Tổng cộng số tiền tôi xin được khoảng $5000, chưa kể của Lợi và Giao. Một điểm son, trong việc vận động tài chánh này là, tôi đã vận động các hậu duệ con em của gia đình HO cùng làm việc chung hãng với tôi và các cháu đã sốt sắng giúp đỡ đóng góp nhiều lần, cũng như những nhân viên Việt Nam cùng làm việc ở đó. Xin cám ơn những tấm lòng vàng.
     Trong số ủng hộ này, Tôi xin tán thán K2 Nguyễn Võ là người bạn đồng khóa. Anh Võ nói với tôi: “Bất cứ lúc nào anh gởi tiền về cho gia đình thằng Lời, anh cứ ứng ra, bao nhiêu cũng được. Tôi sẽ hoàn lại khi gặp anh, hoặc anh ghé chợ gặp tôi. Đừng gọi điện thoại hỏi han gì cả.” Tuy nhiên, tôi đã không lợi dụng lòng tốt đó, nếu tôi đóng góp bao nhiêu trong mỗi lần gởi, thì anh Võ bấy nhiêu. Những lần sau thì chỉ có anh Võ với tôi mà thôi.
      Đầu năm 2006, tôi và vợ tôi về VN, có liên lạc trước với Lê Phú Hưng (con trai thứ của Lời), cháu lên Sài Gòn gặp tôi và nhận tiền, để về mấy mẹ con ăn Tết Bính Tuất. Sáu tuần sau, hẹn gặp lại cháu Hưng ở Sài Gòn (vì vợ chồng tôi phải về Huế). Chúng tôi đi Cai Lậy, xong qua Bình Minh/Vĩnh Long, ngủ một đêm tại nhà người bạn mai đi Trà Vinh – Huyện Cầu Ngang – Mỹ Long Nam. Trên đường đi rất may mắn – sau khi đỗ khách tại bến xe – Tài xế là cựu Cọp Biển đã tham dự trận tái chiếm cổ thành Quảng Trị, đã đưa chúng tôi về tận nhà vợ của Lê văn Lời là Võ Thị Giáp (cách thành phố hơn 40km). Chúng tôi gặp 5 người con (2 trai 3 gái) các cháu đều đã có gia đình cùng các cháu nội ngoại. Riêng cháu út sinh cuối tháng 4/75 nay cũng có 2 cháu nhỏ. Con của Lời có 3 cháu là giáo viên. Vào nhà, vợ chồng tôi đốt một nén nhang và một điếu thuốc Pallmall cắm lên bát nhang. Khoảng 5 phút sau nén nhang đó cong vòng hình trôn ốc và điếu thuốc cũng cong như vậy. Vợ Lời bảo: “Bữa hôm trước cháu Hưng đem về 2 gói thuốc (1 Pallmall & 1 Winston đốt lên lần đầu nó cũng cong vậy). Tôi có ra thăm ngôi mộ (cải táng) của Lời cách nhà vợ Lời đang ở độ 200 mét. Có dựng 1 bia đơn giản nhưng các cháu để sai ngày, Tôi có nhắc các cháu và ngôi mộ đất sét đơn sơ chưa được xây lăng. Còn ngôi nhà của vợ Lời ở (một mình) quá khiêm nhường.
     Qua hồi ký thô thiển này chúng tôi là bạn cùng đơn vị rất cảm tình với Lê Văn Lời. Anh là người “dân chơi bất cần thân thể”, còn vợ Lời thì hiện nay thuộc loại suy dinh dưỡng. Số tiền nhận được do anh em giúp đỡ chị ấy có xây dựng lại căn nhà để ở. Chị ấy có viết thư báo cho tôi mấy năm trước đây.
     Tôi là kẻ may mắn hy hữu sống sót . Xin mạo muội đề nghị: Chúng ta hãy phát động tình đồng đội, để cho bạn mình có một nơi an nghỉ cuối cùng tốt hơn, để khỏi phụ lòng một chiến sĩ Cảnh Sát Quốc Gia VNCH đã hy sinh vào những giờ phút cuối cùng trong hoàn cảnh tuyệt vọng của đất nước. Chết vì Tổ Quốc, vì màu cờ sắc áo mà không có một nén nhang, không có một chiếc quan tài… Tới đây nơi trang giấy này, Tôi xin thay mặt người bạn để cảm ơn anh chủ tiệm gạo Công Sanh số 46 bến Cần Giuộc Q8 (người Việt gốc Hoa, anh của Quốc là giáo viên Hoa Việt bạn của Lời) đã giúp đỡ 80.000đ vào ngày 4/5/1975 để mua quan tài an táng Đại úy Lê Văn Lời “Vị Quốc Vong Thân” tại nghĩa địa Bình Tây và 5 năm sau do lệnh giải tỏa nên đã cải táng về quê nhà, nơi mà vợ chồng tôi sau 31 năm mới tìm ra và đốt được cho người bạn một nén hương. Để gói ghém tất cả nỗi lòng qua mùi hương và làn khói trắng. Tôi tin tưởng Lê Văn Lời đã chứng kiến.
Đứng trước mộ Lê Văn Lời sau khi đã đốt một nắm nhang, tôi khấn với anh: Mình đã được thông báo chết, ông đã nghe, đã biết, sao không tránh? Thằng đệ tử (Nguyễn Văn Nhẫn) của ông nó đi tìm ông trong bệnh viện, vào phòng gặp mình và hỏi thấy ông ở đâu không? Mình chịu. Không ngờ ông ở đây! Bây giờ chắc ông nhớ lại lời của tay thầy tướng số. Hắn ta hay thật, chính xác 100%. Thôi yên nghỉ đi nhé!
“Tiền đồng tịch kim bằng cộng lạc.
Hậu lâm nguy bất kiến đệ huynh…”
Tha thứ và phù hộ cho mình!
      Tháng 6/1990 trước khi rời VN, tôi có ghé lại địa chỉ trên để thăm anh Công Sanh, nhưng cả gia đình anh đã đi định cư ở Đan Mạch.
Trước khi chấm dứt, tôi xin lỗi, vì trình độ hạn chế không diễn tả hết tấm lòng, cũng như ý chí sẵn sàng hy sinh trong giờ phút tuyệt vọng để bảo vệ màu cờ sắc áo của những chiến sĩ CSQG VNCH nói chung và của những chiến sĩ CSQG Q8 nói riêng. Xin lỗi, tôi chưa diễn tả hết được ý thức kỷ luật và hành động kiên cường của họ. Tôi biết rằng bất cứ hoàn cảnh nào tôi luôn luôn ý thức: “Bại binh chi tướng bất khả dĩ ngôn dũng; Vong quốc chi đại phu bất khả dĩ đồ tồn”.
     Tôi chỉ là một con tép riu, là một hạt cát rất tầm thường trong sa mạc – Tôi may mắn được đóng góp một chút xương máu, trong cuộc chiến chính nghĩa mà hàng vạn, vạn người Việt Nam đã anh dũng hy sinh và đóng góp. “Thành bại bất luận anh hùng”. Bao nhiêu nghịch cảnh cuộc đời, Chúng tôi không hề than van, khóc lóc hay cầu xin. Luôn nghĩ mình may mắn hơn, được học những bài học vô cùng quý giá.
Xin quý niên trưởng, quý huynh trưởng, quý chiến hữu và đọc giả rộng lượng tha thứ, vì có nhiều thiếu sót về nhiều mặt. Hãy bắt tay nhau trong tình thân ái và tự hào là chiến sĩ Cảnh Sát Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa, bất cứ nơi đâu và bất cứ lúc nào.
Thân ái,

       Hà Xuân Thiết
(Boston, Trọng Đông Đinh Dậu 2017)

(Trích trong Lược Sử CSQG-VNCH do Tổng Hội CSQG phát hành 2018-2019)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở ĐỐT MUỘN MỘT NÉN TÂM HƯƠNG_Hà Xuân Thiết

Tưởng Niệm Quốc Hận 30/4- Thơ CN NCV

TƯỞNG NIỆM QUỐC HẬN 30/4

quochan

Quốc hận lại về nhắc chúng ta
Vì sao bỏ nước để đi xa
Quê hương yêu dấu đành ly biệt
Ruột thắt buồn đau khắp mọi nhà

Thế giới dang tay ra cứu vớt
Đón người tỵ nạn kiếp lao đao
Giúp cho làm lại cuộc đời mới.
Tuy chẳng cùng chung giọt máu đào .

Miền Nam bị chiếm từ ngày đó
Bởi  đảng cộng nô lệ thuộc Tàu
Bán đảo dâng rừng cho giặc Bắc
Quê hương tan nát quặn lòng đau

Tưởng niệm tháng tư quốc hận nầy
Cầu cho cộng đảng khỏi nơi đây
Cờ vàng phất phới Nam Trung Bắc
Dựng lại quê hương đất mẹ gầy.

Th T.ncv

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Tưởng Niệm Quốc Hận 30/4- Thơ CN NCV

CCR và các bài thơ Đường Luật

CCR VÀ CÁC BÀI THƠ ĐƯỜNG LUẬT

Trước khi mời các bạn thưởng thức thơ của CCR, chúng ta hãy nghe bạn Cóc Chát LHN tán thưởng CCR như thế nào nhé.

Quí lão ơi ,
CCR có ý hay lắm : đem sự lãng mạn vào thơ Đường luật .

Tui nghĩ không chỉ sự lãng mạn mà tất cả mọi ý tưởng , mọi cảm xúc đều có thể đưa vào thơ Đường luật . Vì Đường luật cũng chỉ là một trong các thể loại thơ nhưng khó “nuốt” nhứt vì quy luật quá khắc khe .

Bài “Một Mùa Đông” của CCR “phỏng” thơ Lưu Trọng Lư cũng hay lắm , nhưng tác giả chưa vừa ý, cho rằng thiếu chất lãng mạn – nếu đúng như thế – thì theo tui không phải tại thể thơ mà chính là vì CCR muốn “phỏng” nên phải ráp lại “vật liệu” của Lưu Trọng Lư . Nếu CCR chỉ dùng ý mà không dùng lại vật liệu của LTL thì tui tin là bài Một Mùa Đông sẽ khác .

Và trước khi trình làng bài thơ “Một Mùa Đông” CCR có tâm sự rằng

“Thưa quý Lão :

Từ lúc tập tành làm thơ Đường, CCR muốn đem sự lãng mạn vào thơ Đường.

Nay, để thực hiện, CCR lấy một bài thơ của Lưu trọng Lư tháo banh ra rồi cố gắng sắp xếp, đẽo gọt, ráp lại vào cái khuôn thơ Đường. Kết quả là “bài thơ” này, nghe không ra thơ Đường mà cũng không ra thơ Tiền Chiến. Rõ ràng bản chất của thơ Đường không phải là lãng mạn, và đã gọi là lãng mạn thì không thể gò bó vào khuôn khổ thơ Đường. Công việc này, đem lãng mạn vào thơ Đường, rõ là thất bại.”


Slide2

Cóc Chát tiếp,
Chắc quí lão cũng đồng ý là ngoài sự lãng mạn thì mọi thứ khác như trào phúng , châm chích , chửi bới bậy bạ…đều có thể đưa vào thể loại thơ Đường luật .

Mời quí lão đọc lại bài Những Người Em Không Đợi của chính CCR để thấy “lãng mạn” hổng thua gì bài hát Hình Ảnh Người Em Không Đợi của Hoàng Thi Thơ .

Slide1

Chúc vui .

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở CCR và các bài thơ Đường Luật

Ngu hết Phần Thiên Hạ_Tác giả Ngô Trường An

NGU HẾT PHẦN THIÊN HẠ

ngu

Nhiều người cùng thế hệ với tôi hoặc anh chị tôi hiện nay đã ngoài 60 cả rồi. Nhưng chẳng hiểu họ giả vờ ngu hay là ngu bẩm sinh, mà không phân biệt được mốc thời gian của các giai đoạn lịch sử. Họ cứ đem chuyện HỒI XƯA để so sánh với giai đoạn hôm nay, rồi chửi rủa tôi là thằng phản động !

Họ nói với nhau rằng, thì, là, mà… Ngày xưa nghèo khổ, bây giờ được như ri là quá phát triển rồi. Rằng xưa đói, cơm không có ăn, áo không đủ mặc, giờ vầy còn đòi gì nữa? Rằng xưa trên bom dưới đạn, bây giờ hòa bình dù có vất vả ngủ cũng ngon giấc, chả sợ chết chóc vì bom rơi, đạn lạc. Bla…bla…

Cái ngu của các người là không phân định được hồi xưa là hồi xưa nào. Trong bài viết này, tôi sẽ chỉ ra cái mà các người thường gọi là “hồi xưa” ấy. Nó có 2 giai đoạn : trước 30.4.1975 và sau 30.4.1975.

Là vầy:

Trước 30.4.75 một người lao động bình thường có thể nuôi sống vợ và 7-8 đứa con. Công chức làm cho các hãng xưởng tư nhân hoặc công chức nhà nước đều được trả lương cả vợ lẫn con, thì làm sao mà đói ? Người già cả không nơi nương tựa, được chính phủ đưa vào viện DƯỠNG LÃO chăm sóc. Trẻ em mồ côi được chính phủ đưa vào viện CÔ NHI nuôi nấng. Kẻ tha phương cầu thực (chạy giặc) thì có trại TỊ NẠN nương thân. Người nghèo khổ thì có trại TẾ BẦN giúp đỡ. Kẻ lữ hành lỡ độ đường thì có QUÁN CƠM XÃ HỘI ăn uống hoàn toàn miễn phí. Vậy, đói khổ nó ở đâu ra ?

Trong một đất nước đang chiến tranh thì làm sao mà phát triển cơ sở hạ tầng mà so bì với thời bình ? Nhưng dù sao thời đó cũng đủ trường học khang trang để học sinh ngồi học chứ không như các trường vùng cao ngày nay. Dù không phát triển, nhưng bệnh viện mỗi người một giường, chứ đéo có cảnh chen chúc dưới gầm giường như ngày nay. Dù kinh tế không bằng hôm nay, nhưng người dân chẳng gánh nợ công, mà lại được nhà nước chữa bệnh hoàn toàn miễn phí và học sinh đi học cũng chẳng tốn của cha mẹ đồng bạc học phí nào. Như vậy thì thử hỏi, hồi nào phát triển hơn ?

Nói bây giờ hòa bình sướng hơn hồi xưa vì không sợ tiếng súng, tiếng bom? Vậy thử hỏi các người, cuộc chiến này do ai gây ra ? Ai đem bom đạn Nga Tàu vào tàn sát Miền Nam ? Ngu thật hay giả ngu vậy mấy người ?

Còn nói về “hồi xưa” của giai đoạn sau 1975 mấy người bị đói là đúng rồi. Không đói sao được khi vừa im tiếng súng là họ đến nhà bắt nộp lúa nuôi quân hết đợt này sang đợt khác. Không đói sao được khi nhà ông có 500 đồng, họ chỉ đổi ông được 1 đồng. Không đói sao được khi ông thu hoạch mùa vụ xong đều phải gánh hết lên HTX.

Không đói sao được khi nhà ông nuôi được con bò hay con heo cũng không được bán hoặc làm thịt, mà phải giao cho HTX ? Không rách sao được, khi gia đình ông 3-4 người mới được xét duyệt cho mua 1m vải quần ? Không te tua sao được, khi ông cần 1 cái nồi để nấu cháo, lúc đến cửa hàng mậu dịch quốc doanh thì họ đưa cho ông 1 chiếc lốp xe đạp ?

Các ông phải biết cái hồi xưa đói khổ đó do ai gây ra chứ. Từ một đất nước tự do muốn đi đâu thì đi, muốn mua cái gì thì mua, muốn ăn cái gì cũng có… Tự nhiên quay sang muốn đi đâu phải xin giấy tạm trú, tạm vắng. Muốn mua cái quần, cái áo, đôi dép cũng phải chờ xét duyệt mà chưa chắc đã được. Muốn ăn thì phải xếp hàng mua phiếu nơi cửa hàng quốc doanh, mà chưa chắc đã được ăn món mình ưa thích… Những điều đó chế độ nào gây ra cho các người vậy ?

Già hết rồi, có ngu thì chừa lại cho đời một ít. Sao cứ giành hết phần ngu của thiên hạ vậy mấy cha ?

–Ngô Trường An

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Ngu hết Phần Thiên Hạ_Tác giả Ngô Trường An

Tôi Đã Từng Ngu tác giả Trần Quốc Bảo

TÔI ĐÃ TỪNG NGU (!)

(Bài do K1 Hoàng Tuấn sưu tầm. Trong bài có nhiều chữ dùng trong nước có thể
làm bạn không thích, nhưng là của tác giả không sửa được. Mong các bạn thông cảm
)

Không cứ phải kẻ thắng là hùng và người thua là hèn.

Tôi đã từng ngu như thế để phán đoán vội vàng với một nạn nhân của cuộc chiến tranh Việt Nam.

Khi đó tôi vừa đến Mỹ được 1 năm, và tôi quen ông, một Trung tá Việt Nam Cộng Hoà, dù tuổi tác chênh lệch rất xa nhưng chúng tôi nhanh chóng thành đôi bạn. Một ngày kia trong lúc tranh luận thật hăng say , tôi đã từng ngu để nói với ông: “Chóp bu VNCH là đám hèn nhát, bất tài và bỏ chạy mất dép vất dân chúng ở lại chịu khổ.”

Sau khi tôi nói, ông ngồi sững ra nhìn tôi, bất giác một hàng nước mắt lăn khỏi mắt ông và tình bạn giữa chúng tôi chấm dứt.

Tôi lớn lên trong mái trường XHCN cho dù tôi ham học, ham đọc nhưng 90% sách tôi đọc lúc đó là do nhà nước xuất bản. Bất cứ nơi nào cũng chỉ nhìn thấy nói về sự bất tài và hèn của chóp bu Việt Nam Cộng Hoà mà thôi. Điều đó vô hình chung như một dấu ấn ghi vĩnh viễn trong lòng tôi. Tôi sang Mỹ dấu ấn đó không hề thay đổi, nên tôi từng ngu như thế!

Rồi một ngày kia ngồi trong thư viện bất chợt tôi nhìn thấy quyển hồi ký của ông Henry Kissinger, tôi tò mò đọc và vỡ ra. Tôi đi khắp nơi lục tìm sách để đọc. Tôi tìm hiểu từng trận đánh ác liệt, từng chiến dịch trước 1975 và tôi hiểu. Tôi bị lừa, tôi vô tình bị cộng sản lừa. Tôi là một thằng ngu mà cứ tưởng mình khôn. Sự thật Việt Nam Cộng Hoà đã chiến đấu hết sức ngoan cường trong một hoàn cảnh hết sức cay đắng nghiệt ngã. Họ đã chiến đấu đến khi chả còn gì để hy vọng. Henry Kissinger nói: “Tôi vô cùng khâm phục sự kiên nhẫn chịu đựng nhịn nhục của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Ông ấy bất chấp mọi sự từ chối từ phía Mỹ, bất chấp tất cả mọi sự tuyệt vọng, đã kiên trì đến cùng cho việc đòi người Mỹ phải thực hiện giao ước tài chính với quân đội Việt Nam Cộng Hoà. Họ đã chiến đấu dù biết chắc chắn rằng đã không còn gì hết họ vẫn chiến đấu.”

Điều đó được nói bởi kẻ bán đứng Việt Nam Cộng Hoà đó, không phải kẻ bênh vực Việt Nam Cộng Hoà đâu.

Ngược lại Henry Kissinger bày tỏ thái độ hết sức khinh bỉ với các nhà ngoại giao Bắc Việt. Ông cho rằng: “họ đầy thủ đoạn bẩn thỉu đáng khinh.”

Rồi tôi tìm hiểu ngân sách của CS và biết chỉ riêng Trung Cộng đã viện trợ cho Bắc Việt hơn 800 tỷ USD. Đó là lý do Trung Cộng hận Việt Cộng tận xương tủy khi bị VC đá đít chạy theo Liên Xô. Ngân sách quân sự của Miền Bắc vượt xa lắc so với Miền Nam.

Rồi tôi tìm hiểu kỹ thuật quân sự mới vỡ ra rằng. Quân đội Miền Bắc được trang bị những vũ khí hiện đại bậc nhất và quân đội Miền Nam chỉ có đa phần là vũ khí hạng hai. Ví dụ như xe tăng T-54 là đỉnh của lúc bấy giờ trong khi M-41 của VNCH được xem là tạp nham Mỹ đóng vội bán rẻ chứ không hề xài. Vậy mà các bạn biết không trong trận xa chiến gần như là duy nhất và lớn nhất khi tăng chạm tăng tại Hạ Lào dù trong tình thế bất lợi, đơn vị tăng M-41 của VNCH đã đánh thắng đơn vị tăng T-54 của cộng sản giúp giảm bớt sự thiệt hại cho Việt Nam Cộng Hoà trong chiến dịch này.

Tại Quảng Trị trong trận phục kích M-41 VNCH đã tiêu diệt hoàn toàn đoàn tăng T-54/55 của CS.

Tôi từng đọc những bài nghiên cứu về tăng thiết giáp của Lục quân Hoa Kỳ và họ tỏ ta kính phục sự gan dạ và sáng tạo của lính tank Việt Nam Cộng Hoà dù phải đối đầu kẻ địch mạnh hơn.

Thế đấy VNCH có một lớp thối nát thật. Nhưng cơ bản từ Tổng Thống đến quân nhân họ đã cố gắng hết sức rồi. Họ thua do thế cuộc cay đắng. Hạng Võ thua cuộc mất cả sinh mạng nhưng người đời chưa có ai chê Hạng Võ hèn cả. Hai Bà Trưng thua trận phải tự sát nhưng Hai Bà là bậc vĩ nhân anh hùng.

Không cứ phải kẻ thắng là hùng và người thua là hèn. Điều ngược lại đã xảy ra trong cuộc chiến nửa thế kỷ trước ở VN.

Vậy mà có thời tôi đã  từng ngu như thế!

Trần Bảo Quốc

28/01/2021

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Tôi Đã Từng Ngu tác giả Trần Quốc Bảo

Sài Gòn Ngày Tháng Cũ – Toàn Như

SÀI GÒN NGÀY THÁNG CŨ

unnamed (3)

               Đã lâu lắm chưa về thăm chốn ấy

               Sài Gòn ơi nhớ lắm vẫn chưa quên

               Bóng hình xưa ký ức đã thân quen

               Chợt nhớ lại một thời bao yêu dấu

                        Thuở niên thiếu bước học trò chân sáo

                        Qua những đường rợp bóng lá me bay

                        Sao hồn nhiên êm ả những tháng ngày

                        Giữa thành phố yên bình không tiếng súng

               Rồi năm tháng bước vào đời chập chững

               Ly cà phê bên góc phố con đường

               Những ngày vui khói thuốc quyện mù sương

               Bao kỷ niệm của một thời tuổi trẻ 

                         Những ngày ấy sách đèn nhiều trăn trở

                         Bóng tương lai thấp thoáng cuộc tử sinh

                         Mắt môi cười như dấu nỗi bất bình

                         Bao bất trắc đang chực chờ phía trước

               Ngày vội hết chiều lang thang đếm bước

               Đường Tự Do, Lê Lợi đốt thời gian

               Quên chiến tranh đang rình rập lan tràn

               Người lính trận bạn trường xưa gục ngã

                         Vẫn nhớ mãi những con đường xưa cũ

                         Đã mất tên như thành phố tháng tư

                         Những cái tên sao lạ lẫm bây chừ  

                         Sẽ lạc lối như trong thành phố lạ

               Em đã thấy cuộc đổi đời nghiệt ngã

               Bao yêu thương bỗng chốc bị chia xa

               Dấu nhớ nhung trong mắt lệ hoen nhòa

               Đường đi tới em ơi đừng tuyệt vọng   

                         Rồi sẽ có một ngày về chuyển động

                         Phố hè xưa ta trở lại bước chân vui

                         Ôi mừng sao những ánh mắt nụ cười

                         Lau nước mắt ngày đoàn viên hội ngộ

               Vui biết mấy, ngày trở về chốn đó!

TOÀN NHƯ (Tháng 4/2021)

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Sài Gòn Ngày Tháng Cũ – Toàn Như

Một Ngày Không Có Người Mễ _ Nhã Duy

(TredepOnline): “Một ngày không có người Mễ Tây Cơ” (A day without a Mexican) là một phim hài phát hành năm 2004, kể về sự xáo trộn của California khi cộng đồng gốc Latino, phần lớn là người Mexican bỗng một ngày kia bị biến mất. Từ trong chính trường, truyền thông, giáo dục cho đến xây dựng, nông nghiệp, chuyện chân tay, công việc đình trệ, mùa màng không thu hoạch. Đến lúc đó người dân cùng các chính khách Cali mới thấy vai trò của những người Mexican.

Người Mexican, tức Mễ Tây Cơ mà người Việt tại Mỹ quen gọi tắt là “người Mễ” hay có người còn gọi kiểu xách mé, xem thường là “dân Xì”, không biết từ “Mexican” hay “Spanish” – tiếng Tây Ban Nha họ nói. Phần lớn thì cũng ít người phân biệt được nhóm này thuộc nhóm Latino- người Mỹ La Tinh hay người Mễ nói riêng, cũng tựa họ không phân biệt được các sắc dân Á Châu vậy.

Chiếm khoảng trên 11% dân số nước Mỹ và khoảng hai phần ba cộng đồng Latino, người Mễ là một cộng đồng lâu đời và khá mạnh trong nhiều lãnh vực tại Hoa Kỳ với khoảng 37 triệu dân, trong đó hơn 10 triệu người là sinh đẻ tại Mỹ.

Cộng đồng người Mễ có thể xem là một cộng đồng di dân, vừa là một cộng đồng bản địa của Hoa Kỳ. Sau cuộc chiến tranh tranh giành biên giới với Hoa Kỳ vào giai đoạn 1846-1848, bị thua trận, Mexico phải ký kết hiệp ước Guadalupe Hildago, đồng ý bán lại một phần lãnh thổ cho Hoa Kỳ vào năm 1848 và về sau. Một phần hay toàn bộ 10 tiểu bang của Mỹ hiện nay là đất của Mexico, từ Texas sang đến California, trong đó phần lớn California ngày nay từng là đất Mexico (* xem bản đồ đính kèm).

Hiệp ước này cho phép công dân Mexico tại các vùng lãnh thổ bị bán được chọn ở lại để trở thành công dân Mỹ với đầy đủ quyền lợi công dân hay dọn về biên giới thuộc vùng lãnh thổ Mexico. Cộng đồng gốc Mễ ra đời từ đây. Do đó cũng có thể xem họ là người dân bản địa, chính gốc như nói trên tại nhiều tiểu bang Hoa Kỳ như California, Texas, New Mexico, Arizona, Colorado… Làn sóng di dân, tị nạn sang Mỹ bắt đầu ồ ạt hơn từ đầu thế kỷ 20 sau các cuộc chiến tranh rồi lý do kinh tế, sum họp gia đình sau này, tập trung đa số tại California và Texas.

Cộng đồng người Mỹ gốc Mexican tham gia chính trường Mỹ rất sớm, từ năm 1877 đã có dân biểu đắc cử vào Hạ Viện Hoa Kỳ, rồi đến năm 1928 bắt đầu có thượng nghị sĩ đầu tiên. Hiện nay không kể việc tham gia cấp lãnh đạo trong các cấp chính quyền địa phương, tiểu bang và nội các chính phủ, mà có đến 47 dân biểu Quốc Hội là thuộc cộng đồng Mexican và Latino nói chung, trong đó có sáu thượng nghị sĩ thuộc cả hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ. Đa số các chính khách và cộng đồng gốc Mễ có xu hướng thuộc về đảng Dân Chủ.

Cộng đồng gốc Mễ cũng hiện diện đông đảo và đóng vai trò quan trọng trong các lãnh vực âm nhạc, thể thao, văn hóa nghệ thuật cho đến truyền thông, học thuật, kinh doanh với các tên tuổi không chỉ giới hạn trong nước Mỹ. Quân đội Hoa Kỳ cũng có những tướng lãnh cấp cao và tại NASA đã từng có ít nhất bốn phi hành gia và một trưởng khoa học gia là gốc Mễ.

Điều quan trọng hơn cho nền kinh tế California cùng sự thịnh vượng và phát triển của nước Mỹ là việc đóng góp từ lực lượng nhân công áp đảo trong kỹ nghệ xây dựng, công chánh, nông nghiệp, vận chuyển… của người gốc Mễ. Kỹ nghệ xây dựng và bảo trì nhà cửa, cầu đường, thu hoạch rau quả, dịch vụ sẽ rất khó khăn khi thiếu vắng họ bởi đây là nhóm nhân công đa số.

Nhắc đến cộng đồng người Mễ, ắt cũng nói sơ qua vấn đề di dân lậu liên quan đến người Mễ. Trong tổng số 11 triệu di dân lậu ước tính Mỹ tại hiện nay, những người Mễ trốn sang Mỹ hay tìm cách ở lại sau khi visa hết hạn đã chiếm hơn phân nửa và góp thêm nguồn nhân công cho Mỹ. Điều này luôn được bàn thảo và trong chương trình nghị sự của mỗi đời tổng thống Mỹ. Tuy nhiên chính sách di trú và vấn đề di dân lậu là vấn đề lớn của thế giới và nước Mỹ trải qua vài lần cải tổ dường như vẫn chưa giải quyết tận gốc rễ bởi tính hai mặt của nó.

Trong khi kiểm soát di dân lậu là việc cần thiết thì trên thực tế và theo các nghiên cứu từ chính phủ, các nhóm kinh tế gia cho đến các đại học đã cho thấy nhóm này phần lớn là những người cần cù, sẳn sàng làm các công việc chân tay, nặng nề mà người Mỹ không muốn làm hay không có người làm. Họ làm công việc tay chân lương thấp, giúp cho người tiêu thụ Mỹ hưởng được giá thành sản phẩm và dịch vụ rẻ hơn. Họ cũng đóng thuế và giúp gia tăng kinh tế Mỹ qua việc tiêu xài. Đồng thời các đạo luật cải tổ di dân cũng không cho phép họ được hưởng các quyền lợi xã hội như một số người nghĩ, trong khi tỉ lệ tội phạm không gia tăng so với thủ phạm nội địa, mặc dù vẫn có một nhóm nhỏ liên quan đến các tội phạm khác nhau như bất cứ sắc dân hợp pháp nào khác.

Bài toán di dân lậu cũng từng được các cấp thẩm quyền của chính phủ cân nhắc thận trọng, đặc biệt với California. Cũng nói thêm rằng, theo báo cáo của Bộ Nội An Hoa Kỳ vào năm 2014, Việt Nam cũng nằm trong 10 quốc gia có di dân lậu đến Mỹ đông đảo nhất, vào khoảng 200 ngàn người đã ở lại sau khi hết hạn visa (**). Dẫn số liệu này để thấy nếu Việt Nam có vị trí địa lý như Mexico, con số này chắc chắn tăng gấp bội và vấn đề di dân lậu với người Việt ắt nan giải không kém.

Một số người không có nhiều ý niệm về lịch sử cùng vai trò, ảnh hưởng của cộng đồng người Mexican nên khi tiếp xúc với phần lớn những người Mễ không nói tiếng Anh từ các vùng nông thôn Mexico và làm các công việc lao động cấp thấp, đã hình thành một định kiến, có sự kỳ thị và xem thường cộng đồng bạn. Không ít người còn đánh đồng họ như những kẻ di dân lậu, “đầu trộm đuôi cướp”, lặp theo cách nói của Donald Trump mà không biết chính họ là chủ nhân vùng đất mình đang sống, chính họ đã góp phần đắc lực vào việc phát triển nước Mỹ cho mình được hưởng nhờ.

Và nếu công bằng nhìn nhận thì cộng đồng gốc Việt muốn đạt được như cộng đồng người Mễ hay các cộng đồng thiểu số khác tại Mỹ là một con đường còn rất xa vì hầu hết các cộng đồng này có tổ chức và sự đoàn kết. Họ có sức mạnh chính trị cùng thực lực của lá phiếu cử tri để từng bước tạo ảnh hưởng và đưa người của mình vào các cơ cấu chính phủ một cách có tổ chức và sự đầu tư.

Trong khi đó cộng đồng gốc Việt lại là cộng đồng thiếu tính tổ chức, chú trọng các hình thức bề nổi nhiều hơn sự dự phần, cũng như có xu hướng đẩy giới trẻ tài năng gốc Việt xa lánh cộng đồng vì sự nhận thức, quan điểm quá khác biệt. Không ít người Việt còn phản đối, xúc phạm giới trẻ gốc Việt đang đơn độc tham gia chính trường Hoa Kỳ hiện nay, thiếu vắng sự ủng hộ chung từ chính cộng đồng mình.

Nên điều dễ nhận thấy là cộng đồng người Việt tại Mỹ hiện nay chỉ có các thành công cá nhân mà thiếu vắng sự đại diện cùng sức mạnh cộng đồng cần thiết và tương ứng dân số. Nếu có ai bảo người Mễ đông và đã ở lâu nên mạnh hơn thì hãy nhìn sang cộng đồng Cuba, mới và ít dân hơn cộng đồng Việt để thấy họ hùng mạnh thế nào. So sánh điều này nhằm điều chỉnh tâm thức với các cộng đồng bạn và nhìn nhận lại vị thế của cộng đồng Việt hiện nay ra sao sau gần nửa thế kỷ trên xứ người.

Một ngày không có người Mexican có thể sẽ không dẫn đến tình trạng xáo trộn quá mức như cách bộ phim hài “A day without a Mexican” đã thể hiện nhưng quả thật là nước Mỹ sẽ rất khó khăn nếu thiếu vắng họ. Xã hội sẽ bớt phần nhộn nhịp vì sự tươi vui và tràn đầy sức sống của một sắc dân phần lớn là chân thật và chăm chỉ.

Còn một ngày không có người Việt trên đất Mỹ thì sao?

04/2021

Nhã Duy

Nguồn : TreDepOnline

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Một Ngày Không Có Người Mễ _ Nhã Duy

Đi bộ chỉ 20 phút có tác dụng gì? (ST)

Đi bộ chỉ 20 phút có tác dụng gì?

Đi bộ nhanh 20 phút bạn sẽ đi được khoảng một dặm (1,6 km) và đi được từ 2.000 đến 3.000 bước, dẫn đến đốt cháy được 90 đến 110 calo. (Mỗi lần đi bộ, hãy biết rằng về cơ bản bạn đang đốt cháy calo tương đương với số calo khi bạn ăn một túi khoai tây chiên!).

Bằng cách bảo đảm rằng bạn sẽ đi bộ nhanh, tim của bạn sẽ đập “vào số” để tăng lưu lượng máu đến các cơ của bạn, và bạn “sẽ tối đa hóa lượng calo đốt cháy của bạn”. Theo thời gian, những lợi ích thu được sẽ bao gồm sức khỏe tim mạch tốt hơn, mức cholesterol và huyết áp tốt hơn, và ít viêm hơn.

2. Bạn sẽ giảm ngay nguy cơ tử vong

Một nghiên cứu lớn được công bố vào năm 2015 trên Tạp chí Dinh dưỡng Lâm sàng Mỹ cho thấy rằng đi bộ nhanh 20 phút mỗi ngày có thể giảm nguy cơ tử vong lên tới 30%. Trong số những người tham gia nghiên cứu, những người sống cuộc sống ít vận động và chỉ đơn giản là đi bộ ngắn hằng ngày đã có được lợi ích đáng kể nhất trong tất cả các nhóm được nghiên cứu.

Nói cách khác, chỉ cần xuống ghế đi bộ một quãng ngắn thôi cũng có tác động lớn đến tuổi thọ của bạn.

3. Bạn sẽ nhận được năng lượng

Theo nghiên cứu của Đại học Georgia (Mỹ) và được công bố trên tạp chí Psychotherapy and Psychosomatics, đi bộ 20 phút chỉ 3 ngày một tuần trong 6 tuần có thể giúp tăng thêm 20% mức năng lượng và giảm bớt cảm giác mệt mỏi.

4. Bạn sẽ cảm thấy sáng tạo và giàu trí tưởng tượng hơn

Một nghiên cứu mới được công bố trên tạp chí Scientific Reports cho biết bạn nên đi bộ để tăng cường khả năng sáng tạo. Hơn nữa, bạn càng đi bộ nhiều, bạn càng sáng tạo hơn.

The New York Times giải thích: “Những người hoạt động tích cực nhất cũng là những người sáng tạo nhất, đặc biệt là nếu họ thường xuyên đi bộ hoặc tập thể dục vừa phải”. Nghiên cứu cũng lưu ý rằng bạn càng năng động, bạn càng có nhiều khả năng trở thành một người hạnh phúc hơn về mọi mặt.

5. Bạn sẽ tắt các gien thúc đẩy… béo phì

Bạn sẽ phải đi xa hơn nữa để gặt hái được những lợi ích đầy đủ của điều này, nhưng theo một nghiên cứu lớn từ năm 2011 trên 7.740 phụ nữ và 4.564 nam giới, một nhóm nghiên cứu do Khoa Dinh dưỡng tại Trường Y tế Công cộng Harvard (Mỹ) đã phát hiện ra rằng “Đi bộ nhanh một giờ mỗi ngày” thực sự có thể làm giảm “ảnh hưởng của di truyền đối với bệnh béo phì” của cơ thể bạn.

Nghiên cứu cho thấy rằng ngồi và xem TV đến hai giờ mỗi ngày thực sự làm trầm trọng thêm ảnh hưởng của các gien liên quan đến bệnh béo phì của bạn lên đến 25%. Trong khi đó, một giờ đi bộ tương đương với việc tắt các gien đó, theo Eat This, Not That! (ST)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Đi bộ chỉ 20 phút có tác dụng gì? (ST)