MƯA HÀ NỘI, MƯA SÀI GÒN, MƯA CALI_Lê Phương Lan

MƯA HÀ NỘI, MƯA SÀI GÒN, MƯA CALI

Bài của Lê Phương Lan

Lời đầu tiên là phải xin lỗi cố nhạc sĩ Phạm Đình Chương vì đã viết không theo đúng tựa đề bài hát”Mưa Sài gòn, Mưa Hà Nội”, một sáng tác âm nhạc đẹp từ trong ca từ, ý nghĩa đến giai điệu của ông để cho phù hợp với thứ tự theo dòng thời gian của một chứng nhân thời đại đã thăng trầm cùng vận nước.Bài này được viết sau khi xem một video clip về cơn mưa tháng tư đầu mùa đã làm ngập lụt tê liệt mọi sinh hoạt của thành phố Sài Gòn,từ đó cả một dòng kỷ niệm về những cơn mưa tuôn tràn trong ký ức.

1- Mưa Hà Nội:

Hà Nội, cố đô Thăng Long, một thành phố lịch sử được mệnh danh là “thủ đô ngàn năm văn vật” của các thế hệ đi trước chúng tôi . Bản thân tôi chưa từng được sống tại đây mà chỉ được nghe biết từ bố mẹ về một thành phố mà vào những năm của thời kỳ tiền chiến đã được bố tôi cho biết là đã một thời được gọi là “Tiểu Paris”. Tôi cũng đã được biết về Hà Nội thanh lịch qua văn thơ, nhất là qua những lời ca thật trữ tình mà tôi yêu thích nhất là bài hát “Mưa Sài Gòn, Mưa Hà Nội” của Phạm Đình Chương:

”Ôi! Thơ ngây má nhung hường,

Hà thành trước kia thường, thường về cùng lối đường.

Khi mưa xuống, lạnh mình ướt, chung nón dìu bước thơm phố phường.”

Và bài “Hà Nội Ngày Tháng Cũ” của cố nhạc sĩ Song Ngọc:

“Nhớ Hàng Bạc, nhớ qua Hàng Đào,

Nhớ cơn mưa phùn chạy qua thành phố.

Ta bên nhau cùng đội mưa mà đi, mà đi …”

Cơn mưa của Hà Nội thanh lịch đó cũng là nơi trú mưa khi đợi tàu điện của hai đấng sinh thành qua bài thơ của bố tôi:

“Anh nhớ mãi buổi chiều êm ả ấy,

Anh và em cùng đứng đợi tàu qua.

Thoạt mới trông, lòng đã kết muôn hoa,

Máu đang chảy trong tim như ngừng lại!”

Hà Nội đẹp là thế! Thế mà bố mẹ tôi cùng với hàng triệu người dân miền Bắc đã phải đành đoạn bỏ lại tài sản và mọi người thân để ra đi khi một chủ thuyết ngoại lai đã nhuộm đỏ nửa phần đất nước. Một vận nước bi thảm khiến tôi suy nghĩ đến giả thuyết mà tôi cho là sự ra đời của chủ thuyết cộng sản lại rất trùng hợp với mộng thôn tính từ bao đời nay của người láng giềng phương bắc khi tác giả Bằng Phong Đặng Văn u trong một bài viết đã nêu lên câu hỏi:”Phải chăng khởi nguồn từ sự đối kháng giữa bóng tối và ánh sáng do nhóm thủ lĩnh dân Do Thái ngày xưa đã giết Chúa Giêsu mà dân tộc Việt Nam bị vạ lây?” Ông đưa ra dẫn chứng lịch sử:

Karl Marx, người khai sinh ra chủ thuyết cộng sản là người gốc Do Thái.

1945 Thủ tướng Pháp Pierre Mendes France gốc Do Thái cùng với Chu n Lai cắt đôi nước Việt đẩy dân tộc vào cuộc chiến huynh đệ tương tàn!

1975 Henry Kissinger cũng là người gốc Do Thái, cố vấn của Tổng Thống Nixon bắt tay với Mao Trạch Đông bỏ rơi Việt Nam Cộng Hòa!

2- Mưa Sài Gòn:

Cuộc di cư 1954 đã đưa bố mẹ và ba anh em tôi vào Sài Gòn. Tôi muốn nói đôi điều tha thiết về thành phố thân yêu này. Tôi yêu Sài Gòn, nơi đã cho tôi sống thời thơ ấu và tuổi hoa niên đầy hồn nhiên, êm đẹp. Tuổi thơ của chúng tôi đã được nuôi dưỡng trong một môi trường hiền hòa của thời kỳ trước cuộc nội chiến. Trong cuộc sống tự do, cảnh thanh bình thịnh trị của nền Đệ Nhất Cộng Hòa đã nở rộ những ca khúc ca ngợi miền Nam tươi đẹp. m nhạc miền Nam ca ngợi tình yêu quê hương, tình yêu đôi lứa nồng nàn nhưng sau đó cũng nhuốm màu chia ly trong chiến tranh đã ru tôi vào đời và ở lại với tôi cũng như trong lòng người dân Việt mãi mãi. Thế hệ cha anh chúng tôi tại miền Nam đã xây dựng trong 20 năm một nền giáo dục rất nhân bản. Ngay từ những lớp Tiểu Học khi vào lớp học, trên tấm bảng đen trước mặt học sinh là hàng chữ”Tiên học lễ, hậu học văn”. Các sách Quốc Văn, Luân Lý Giáo Khoa Thư đã dạy chúng tôi những bài học đạo đức căn bản làm nền tảng đạo đức của con người. Sách Công Dân Giáo Dục dạy chúng tôi sống với lương tâm trong sáng, những bài học tôn trọng của công và nghĩa vụ đối với đất nước của một người công dân. Các câu tục ngữ ngắn gọn, những câu cách ngôn, châm ngôn, các loại sách học làm người đều dạy chúng tôi sống lương thiện “Đói cho sạch, rách cho thơm”.và các bài học rất thiết thực trong cách xử thế.

Khi chiến tranh đã tiến vào thành phố cũng là lúc tôi bước vào tuổi mộng mơ. Bên cạnh những trang giấy, sách vở học trò là những bài thơ, bài hát viết về những cuộc tình rất lãng mạn của người lính và những cô nữ sinh yêu kiều! Và không biết từ lúc nào tôi đã yêu tiếng mưa đêm vỗ đều đều trên mái tôn như tiếng ru tôi vào giấc ngủ với những giấc mơ cho một tương lai tươi đẹp! Những cơn mưa đến đã làm cho thành phố Sài Gòn xưa của tôi sạch đẹp thêm, con đường hoa Nguyễn Huệ tươi hơn, thơm hơn với những quầy hoa tươi rực rỡ, và nhất là làm cho những “con đường tình ta đi” thêm thướt tha,quyến rũ dưới hai “hàng cây lá xanh gần với nhau” giúp cho những đôi tình nhân càng gần bên nhau hơn ! Những cơn mưa cũng là đề tài ta tìm thấy nhiều nhất trong thi ca và âm nhạc của miền Nam Việt Nam ngày trước.

1975- Sau khi Sài Gòn thất thủ thì cơn mưa đầu mùa ập đến chính là lúc tôi đạp xe đi tìm tin tức của người cha và người chồng thân yêu! Tôi nhớ đến hai câu thơ của Trần Dần:

”Tôi đi không thấy phố, không thấy nhà!

Chỉ thấy mưa sa trên nền cờ đỏ!”

Những cơn mưa trong những tháng năm dài này chỉ làm cho những người vợ tù thêm cơ cực khi phải lo chạy chợ, buôn bán với những gánh hàng rong ế ẩm! Những cơn mưa chợt đến lúc xưa thì chàng đã nhường áo để “ anh che cho mưa đừng làm ướt áo” thì lúc này nàng phải bỏ áo mưa trên mình để che cho những gói quà thăm nuôi chồng đựng trong các bị đan bằng cói chở vào các trại tù khỏi bị ướt!

Niềm đau bao trùm trên thân phận của cả hai đã được nhà thơ Yên Ba nói lên não lòng:

”Dìu nhau qua chốn ưu phiền!

Anh non tay chống cho thuyền em chao!

Thương thì thôi, xót xa nhau!

Cho nhau trọn kiếp! Kiếp sau anh đền!”

Thời gian xa cách lúc đầu qua rất chậm . Nhưng rồi chúng tôi phải cố quên đi do những vất vả lo toan đối phó với sự trả thù nghiệt ngã cộng với hoàn cảnh tuyệt vọng vì thời hạn giam cầm của những tù nhân này là vô hạn định! Thế rồi những người tù đã lần lượt trở về. Các tù nhân được trả tự do không bao giờ do sự ”khoan hồng” của nhà cầm quyền cộng sản mà là do những nỗ lực của chính phủ Hoa Kỳ. Một chương trình ra đi được thiết lập mà khi đọc bài “Người Tù chính Trị VN: Món Nợ Của Hoa Kỳ Đối Với Đồng Minh” của Đỗ Ngọc Uyển tôi mới được hiểu rõ ràng là những tù nhân chính trị này được đi định cư tại Hoa Kỳ ưu tiên theo chương trình ODP (Orderly Departure Program) với tư cách là người tỵ nạn chính trị (political refugees) chứ không phải là từ chương trình nhân đạo HO (Humantarity Operation) nào cả. Hoa Kỳ đã phải kiên nhẫn điều đình với cộng sản VN ròng rã trong 8 năm trời (1982 – 1989) để đưa được những tù nhân này ra khỏi các trại giam và được đi định cư vì họ là những cựu chính trị và là cựu đồng minh của Hoa Kỳ. HO không phải là chữ viết tắt của chương trình nhân đạo nói trên mà là sự suy diễn từ các danh sách của những người tù được ra đi bắt đầu với HO1, HO2, HO3 …

3- Mưa Cali:

1991 Nhờ vào chương trình ra đi do chính phủ Mỹ can thiệp này và do một điều mà lúc đầu tôi cho đó là may mắn gia đình chúng tôi đã được hai người ân nhân Việt Nam xa lạ bảo trợ đến định cư tại “tiểu bang vàng” (golden state) California rồi chúng tôi lại có quyết định tái lập nghiệp tại “thung lũng hoa vàng” San Jose. Như “sau cơn đại hạn gặp được mưa rào” hay theo cách nói của nhạc sĩ Vũ Thành An:” Sau dầm dề mưa tuyết, mới vui ngày nắng về”. Để rồi sau này khi đan kết những sự việc xảy ra trong đời, tôi nhận ra đó chính là những”cơn mưa hồng ân” cho gia đình chúng tôi.

Sau khi đã thoát được sự kỳ thị có hệ thống, được chỉ thị thành văn bản đối với các gia đình quân, cán, chính trong chế độ cũ tại Việt Nam, chúng tôi và nhất là các con tôi đã kiên nhẫn, khổ công sống tiết kiệm, tập trung thời giờ và công sức vào làm việc và học hành để vươn lên cùng với thế hệ thứ hai của các gia đình tỵ nạn Việt Nam khác nói chung.

Về điểm này xin minh định một điều là sự thành công của người Việt tại các nước được định cư không phải là “kết quả” của sự ra đi sau ngày 30/4/1975! Mà là “hậu quả” của việc cướp đoạt tài sản của người dân qua chính sách đánh tư sản, đổi tiền, và đuổi người dân đi các vùng kinh tế mới. Sự thành công này là cái giá rất đắt đã phải trả bằng mồ hôi, xương máu của các bậc cha anh trong các trại tù, sự hy sinh tính mạng của hàng triệu người Việt mà thống kê ước tính theo lời kể của những người còn sống sót thì con số người chết trên đường vượt biên, vượt biển còn cao hơn số người may mắn đến được bến bờ tự do!

Trong bài “Tâm Ca” nhạc sĩ Phạm Duy có viết:

“Kẻ thù ta đâu có phải là người.

Giết người đi thì ta ở với ai?

Kẻ thù ta tên nó là hung ác,

Kẻ thù ta tên nó là gian manh!”

Quá khứ nay đã trở thành lịch sử trong đó chúng ta là chỉ những chứng nhân để nói lên sự thật. Còn lại thì sẽ để cho lịch sử và trên hết là Đấng Chí Tôn rất công minh phán xét!

Lê Phương Lan

Bài này đã được đăng trong Tin Tuc Nội Bộ. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.