Ý kiến về Website Học Viện CSQG

Ý kiến về Website Học Viện CSQG VNCH của K3 Thái Văn Hòa:

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Ý kiến về Website Học Viện CSQG

Có những kiệt tác không hạ giá. Đó là Tấm Lòng

CÓ NHỮNG KIỆT TÁC KHÔNG HẠ GIÁ,
ĐÓ LÀ “TẤM LÒNG”

Posted on February 23, 2021 by TamAn

72110170_1420582374732096_3879500424964734976_n

(Trích từ Website Chính Nghĩa Việt Nam Cộng Hòa)
 (Ảnh minh họa)

Thời buổi này còn cái gì không hạ giá nhỉ? Sách vở, quần áo, đồ điện tử… v.v… hạ giá!

Tôi cầm mảnh bằng Đại học, cạy cục mãi chưa tìm ra việc làm, cũng nhào ra vỉa hè bán sách đại hạ giá.

Từ Victor Hugo, Leon Tolstoy, Tagore, Dostoevsky… đến Khái Hưng, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng…. cả thảy đều bị “hạ” nằm la liệt.

Lắm lúc ngồi chồm hổm nhìn xuống các tên tuổi từng “vang bóng một thời”, tôi thầm hỏi:

– Nên cười hay nên khóc, thưa chư liệt vị?

Cách đây ít lâu, một ông lão hình dáng tiều tụy mang đến bán hai pho sách dày :

1 – Một cuốn là “Hán Việt Từ Điển” của Đào Duy Anh do Khai Trí tái bản.

2 – Cuốn kia là “Petit Larousse Illustré” in tại Paris năm 1973.

Sách còn tinh tươm lắm, hẳn chủ nhân đã xài rất kỹ. Thấy giá rẻ, tôi mua. Loại ấn bản này đây, gặp loại khách biên biết, bán cũng được lời!

Ngoài bìa và một số trang ruột của mỗi cuốn, đều có ấn dấu son hình ellipse: “Bibliothèque – Đô Bi – Professeur”.

À, té ra ông lão vốn từng là giáo chức. Thảo nào!

Cất tiền vào ví rồi mà ông cứ dùng dằng nuối tiếc, ngoảnh lại nhìn những tài liệu – tài sản phải đứt ruột bán đi. Ngoái mãi mấy lần rồi ông mới dắt chiếc xe đạp cà tàng đạp về.

Mắt ông đỏ hoe.

Lòng tôi chợt se lại!

Chiều 25 Tết.

Ngồi cạnh các danh tác, tôi vẫn lim dim, thấp thỏm, chồm hổm ra đấy.

Qua đường không ai thấy lá vàng rơi trên giấy. Sài Gòn chả có mưa bụi cho đủ khổ thơ Vũ Đình Liên. Nhưng bụi đường thì tha hồ, đủ khổ thứ dân lê lết vệ đường như tôi.

– Anh mua bánh bò, bánh tiêu?

Một chị hàng rong đến mời. Tôi lắc đầu.

Bỗng chị sững người chăm chú nhìn vào hai bộ từ điển. Chị ngồi thụp xuống, đặt sề bánh bên cạnh, cầm hết cuốn này đến cuốn kia lật lật. Rồi chị hỏi giá cả hai.

Ngần ngừ lúc lâu, chị nói:

– Anh có bán…. trả góp không?

– Trời đất ơi! Người ta bán trả góp đủ thứ, chứ sách vở, sách đại hạ giá ai đời bán trả góp? Vả lại, tôi nào biết chị là ai? ở đâu?

– Tôi cần mua cả hai – chị nói tiếp – Xin anh giữ lại, đừng bán cho người khác! Khi nào góp đủ, tôi sẽ lấy trọn. Anh thông cảm, làm ơn giúp tôi!

Thấy lạ, tôi hỏi chuyện mới vỡ lẽ. Đô Bi chính là thầy cũ của chị hàng rong.

Chị Tám (tên chị) bất ngờ thấy có dấu son quen, hiểu ra hoàn cảnh của thầy, bèn nảy ý chuộc lại cho người mình từng thọ ơn giáo dục.

Song, bán bánh bò bánh tiêu nào được bao nhiêu, lại còn nuôi con nhỏ, không đủ tiền mua một lần, nên chị xin trả góp.

Tôi cảm động quá, trao ngay hai bộ từ điển cho chị Tám:

– Chị hãy cầm lấy, kịp làm quà Tết cho thầy. Tôi cũng xin lại đúng số vốn mà thôi chị à!

– Nhưng…

– Đừng ngại, chị trả góp dần sau này cũng được!

Chị lấy làm mừng rỡ, cuống quít trả tôi một ít tiền:

– Chao ôi, quý hóa quá! Cảm ơn…. cảm ơn…. anh nhá!

Hôm sau quay lại, chị Tám trả góp tiếp. Chị kể:

– Thầy Bi thảm lắm… Gần Tết, cô lại ngã bệnh…Thầy nhận sách, mừng mừng tủi tủi tội ghê, anh à!… Thầy cũ trò xưa khóc, khóc mãi!

Tôi vụt muốn nhảy cỡn lên và thét to:

– “Hỡi ông Victor, ông Lev, ông Dostoievski…. ơi! Ông Khái, ông Vũ, ông Ngô… ơi! Có những thứ không bao giờ hạ giá được!

Có những người bình thường, vô danh tiểu tốt, nhưng có những kiệt tác không hạ giá nổi, đó là ‘Tấm lòng’ ”.

NGƯỜI VIẾT DẤU TÊN.

Thân mến

TQĐ

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Có những kiệt tác không hạ giá. Đó là Tấm Lòng

Thơ Đường Cóc Tưởng Niệm Quốc Hận 30/4

TƯỞNG NIỆM QUỐC HẬN 30/4

Thân mời quị lão họa bài cho ngày 30/4 sắp tới .
Cóc Chát

Xướng: ĐẦU DÊ THỊT CHÓ

Chủ nghĩa búa liềm lộng giả chân
Vỏ lê hồng táo ruột toàn bần
Lục lâm đóng kịch người hai mặt
Thảo khấu hiện hình thú bốn chân
Chính Trị ngôi cao nguyên lũ dốt
Trung Ương ghế cả một bầy đần
Đầu dê cộng sản bình phong bám
Thịt chó độc tài thống trị dân .

Cóc Chát

Họa 1: NHÂN NGÀY QUỐC HẬN

Nước Việt khi nào hết giả chân
Đi đâu cũng thấy cảnh cơ  bần
Lọc lừa, mánh khóe che muôn  mặt
Dối trá, cúi lòn dấu cặp chân
Biển đảo không còn vì lũ dốt
Tài nguyên mất hết bởi thằng đần
Nhân ngày Quốc Hận cùng lên tiếng
Chống bọn cường quyền áp bức dân.

Cóc Nhà  (Quốc Hận 2021)

Họa 2VIỆT NAM THỜI CỘNG SẢN

Cộng nô mới lộng giả thành chân
Lật lọng điêu ngoa lũ cán bần
Giải phóng trông lầu quên rớt mũ
Vào Nam thấy của quýnh đôi chân
Thiên tai khắp nước đâu cần giúp
Dịch bệnh quanh vùng chẳng đỡ đần
Tư bản đỏ lòm trông thấy rõ
Việt Nam đảng trị khổ người dân

Cóc Ươn

Họa 3: CHÂN TRẦN CŨNG ĐAU

Liềm búa làm chi có giả chân
Sao vàng cờ đỏ Bác thằng bần
Giao liên lải nhải môi khô miệng
Trợ lý lang bang háng rã chân
Du kích vùng lên lừa đứa dốt
Nằm vùng giải phóng gạt anh đần
Ăn mừng đại thắng lòi đuôi khỉ
Gom hết sang giàu hành hạ dân./-

Cóc Ớt TQN.

Họa 4: HẬN THÁNG TƯ

Lòng người khó biết giả hay chân
Tưởng tốt ngờ đâu lại quá bần
Cố vị hung hăng không bẽ mặt
Tham quyền hiếp đáp chẳng chùn chân
Quê hương rách nát vì thầy dốt
Đất nước tan hoang bởi chú đần
Mỗi tháng Tư về thêm uất hận
Căm hờn giăc Bắc ngập lòng dân.

CL (Thân hữu Không quân)

Họa 5: HÃY ĐỪNG SỢ

Xin đừng nói chuyện gỉa hay chân
Với lũ cộng nô vốn dĩ bần
Giải phóng phèng la tuồng rẻ mạt
Tự do bánh vẽ ghế ba chân
Khoe khoang trí tuệ đỉnh cao dỏm
Múa mép văn chương lộ mặt đần
Kắt mạng búa liềm gieo nỗi sợ
Hãy đừng sợ nữa hỡi người dân

CX

Họa 6: NHẮN VỚI BÊN KIA

Bao giờ mi đứng thẳng đôi chân
Để dụ thằng ngu, đứa cố bần
Chủ nghĩa tam vô đầy chuyện dối
Phong trào cải cách thiếu lời chân
Non sông điêu đứng do bầy ngố
Đất nước tan hoang bởi lũ đần
Bốn sáu năm làm trang sử rách
Thì sao thuyết phục được lòng dân

Cóc QT-TP

Họa 7: CHỈ KHỔ DÂN

Triều kiến bắc phương mọp bốn chân
Xum xoe nịnh bợ giống thằng bần
Cúi đầu vâng dạ khôn thành dại
Tráo trở gian manh giả hóa chân
Cắt bán đất đai phường phản quốc
Hiến dâng biển đảo lủ ngu đần
Một mai quê mẹ thân nô lệ
Chúng nó chuồn êm chỉ khổ dân

CH 

Họa 8: GIẢ THÔI

Giả thôi chẳng có thứ gì chân
Hiện tại tương lai chỉ thấy bần
Mặc sức quơ quào quan thượng cấp
Tha hồ liếm láp lũ tay chân
Kẻ khôn muốn sống đành nên ngốc
Người giỏi cầu an phải hóa đần
Thấy việc bất bình không dám nói
Búa liềm cắt cổ đập đầu dân

CCR

Họa 9: LỘNG GIẢ THÀNH CHÂN (Nghịch Vận)

Giải phóng! Chúng làm khốn khổ dân,
Nghênh ngang khố rách, lũ ngu đần.
Thu Hương dậm cẳng kêu lầm lối,
Bùi Tín cúi đầu bước sái chân.
Bốn thập niên dư non nước mất,
Bảy mươi năm lẻ triệu người bần.
Cộng Hồ xã nghĩa là như thế,
Mọi việc đều thành lộng giả chân.

Cóc Chay

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thơ Đường Cóc Tưởng Niệm Quốc Hận 30/4

TRUNG QUỐC VÀ KÊNH ĐÀO PANAMA _ Hồ Đắc Vũ

Dân Mỹ đã biết rằng Trung Quốc là mối đe dọa đáng sợ, nhưng có lẽ họ không đoán được nó chết người tới cỡ nào. Trung Quốc đã trở thành một cường quốc hung dữ và nguy hiểm. Rõ ràng là các tay chóp bu của họ muốn thâu tóm cả thế giới! Tham vọng này càng gia tăng vì TQ quan hệ chặt chẽ với Nga. Vấn đề sau đây có thể chứng minh cho âm mưu của TQ chống lại Mỹ và nó sẽ làm tan nát nước Mỹ trong tương lai rất gần.

Cần một kênh đào để nối Thái Bình Dương và Ðại Tây Dương xuyên qua Trung Mỹ là mục tiêu trong nhiều thế kỷ. Nhưng cho đến năm 1880, thương gia người Pháp mới hoàn thành ý tưởng này dưới thời Ferdinand de Lesseps. Họ đã chi cỡ 6 tỉ đô (giá hiện nay) và hủy bỏ công trình sau trận dịch lớn làm 22,000 công nhân mất mạng.

Nhưng vào năm 1903, Tổng Thống Mỹ Theodore Roosevelt đã thuyết phục Panama tách khỏi Colombia, tuyên bố độc lập và ký một hiệp ước với họ. Mỹ trả cho Pháp $40 triệu tiền thiết bị và công việc đã đào kênh, $10 triệu cho chính phủ Panama. Và người Mỹ tiếp tục công việc này.

Roosevelt là TổngThống đầu tiên nhìn thấy nước Mỹ thực sự trở thành cường quốc của thế giới.

Sau 10 năm vất vả, tốn hằng trăm triệu, với 5,600 người bỏ mạng, người Mỹ đã thành công xây dựng kênh đào Panama.

Thay vì phải đi một vòng 8,000 miles xuống vùng biển nguy hiểm của Cape Horn cuối Nam Mỹ, để tới Ðại Tây Dương, bây giờ tàu bè chỉ cần đi qua kênh Panama dài 51 miles là tới nơi.

Ðây là một trong “7 kỳ quan thế giới”. Kênh Panama không chỉ phục vụ cho người Mỹ mà mở rộng cho vận chuyển thương mại và các dịch vụ khác của bao nhiêu quốc gia.

Trong thế chiến 2, Mỹ có 9 đồn lính ở mỗi đầu kênh, và nhiều đồn dọc theo hai bên như căn cứ quân sự, Không Quân và Hải Quân. Căn cứ Quân đội Mỹ đã bao phủ chừng 90,000 mẫu đất, chừng 5,420 tòa nhà trị giá cỡ 4 tỉ đô. Thời gian cao điểm của thế chiến 2, Mỹ đã có 60,000 lính đồn trú khắp Panama để bảo vệ vị trí chiến lược vô giá với khả năng di chuyển chiến hạm, tiếp liệu, quân lính một cách nhanh chóng từ Ðại Tây Dương tới Thái Bình Dương.

Suốt thời kỳ chiến tranh lạnh, kênh đào Panama là cửa ngõ chiến lược, là Bộ Tư Lệnh Miền Nam của Mỹ. Binh sĩ Mỹ tại đây đã thúc đẩy tự do dân chủ ở vùng Tây Bán Cầu và chống lại sự lan tràn của chủ nghĩa Cộng Sản.

Không một con đường hàng hải nào trên thế giới lại rất quan trọng với Mỹ như kênh đào Panama.

Nhưng tiếc thay! Mỹ đã mất tiêu nơi này!

Dù rằng dân Panama đã hưởng lợi về kênh và khu vực kiểm soát của quân đội Mỹ chung quanh. Nhưng họ bắt đầu bất bình vì sự có mặt của người Mỹ trên đất nước mình, từ sau cuộc cách mạng Cuba 1959. Trong cuộc cách mạng đẫm máu này, những người cộng Sản do Fidel Castro lãnh đạo đã chiếm Cuba. Năm 1964 một số Cộng Sản tràn tới Panama và xách động dân chúng, học sinh, sinh viên đứng lên chống Mỹ (Giống tuồng ở miền Nam Việt Nam). Ðám này đã gây bạo loạn trong khu vực kênh đào và hơn 20 người đã thiệt mạng.

Chính quyền Panama tạm thời cắt bang giao với Mỹ và Tổng Thống Lyndon B. Johnson thấy bị áp lực phải giao trả kênh đào. Trong một diễn văn năm 1964, ông hứa hẹn một kế hoạch lâu dài và thay đổi quan trọng cho kênh đào Panama.

Ðó là một kế hoạch tồi tệ, ký năm 1977, lúc ấy nhà độc tài của Panama, Omar Torrijos đã ký một hiệp ước với Tổng Thống Mỹ Jimmy Carter, hiệp ước này thay thế hiệp ước năm 1903 của Roosevelt.

Theo các điều khoản mới, Carter đồng ý chuyển nhượng kênh Panama cho một nhóm chính trị côn đồ của Panama. Nói một cách khác thì Tổng Thống Carter đã bỏ đi “Viên ngọc chiến lược” này. Nhóm chính trị đã không điều hành nổi một đất nước nhỏ bé, biểu tình và bạo động đã làm gián đoạn giao thương qua kênh, cho nên Tổng Thống Carter đã bỏ cuộc hoàn toàn.

Thời gian cuối của hiệp ước Torrijos-Carter là 31-12-1999, Mỹ chấm dứt quyền kiểm soát. Nhưng chuyện này vẫn còn nhiều điều cho thế giới, đặc biệt là Mỹ.

Ngay cả trước ngày bàn giao kênh Panama, một điều xảy ra đáng lẽ phải làm rung động nước Mỹ, nhưng không ai để ý. Ngày 1-3-1997, một tập đoàn khổng lồ của Trung quốc nắm quyền quản lý 2 cảng do Mỹ xây ở 2 đầu kênh Panama.

Như các công ty lớn của Trung Quốc, Hutchison Whampoa (Bây giờ là CK Hutchison Holdings) đều dưới quyền kiểm soát của Ðảng Cộng Sản Trung Quốc (CCP). Có nghĩa là: Cuối cùng thì CCP có quyền lực để kiểm tra ai có thể ra vô kênh Panama.

Bất kỳ một ai, dù chỉ mới là học viên quân sự chiến lược, cũng thấy những điều đáng sợ trong thỏa thuận của Panama và Trung Quốc.

Ðó là doanh nghiệp thuộc nhà nước Trung Quốc, quốc gia có quân đội đông nhất thế giới, đang tích cực mở rộng không quân, hải quân, nắm quyền kiểm soát kênh đào Panama, cửa ngõ giao thương đường biển quan trọng nhất giữa Ðông và Tây. Nếu vì lẽ gì, Trung Quốc đánh đắm một tàu lớn ngay giữa kênh hoặc phá hoại nó, hoặc trong điều kiện cần thiết của chiến tranh, họ cũng có quyền từ chối Hải Quân Mỹ đưa chiến hạm băng qua khu vực này. Ðiều ấy đáng báo động!

Hiện nay Trung Quốc có một vị trí thương mại vững chắc tại kênh đào Panama, nên ngăn cản mấy cha Cộng Sản này mở căn cứ quân sự, chuyển quân đội, tàu ngầm, chiến hạm và phi cơ chiến đấu tới đó là điều không dễ.  Thật ra  thì trong hiệp ước Torrijos-Carter có một điều khoản là Panama “Hoạt động trong sự trung lập”, và nếu thế lực nào tấn công hoặc xây dựng căn cứ quân sự tại đây, họ sẽ bị Mỹ can thiệp. Nhưng Trung Quốc, liệu có canh me chờ nước Mỹ rối loạn, suy yếu để mà mưu đồ hay không? Câu trả lời là có.

Christopher R. O’Dea, Trợ lý tại viện Hudson đã viết “Chúng ta phải biết các hãng xây cất và vận tải biển do nhà nước Trung Quốc làm chủ đã thiết kế các cảng của mình trên khắp thế giới và họ có thể biến thành căn cứ quân sự, Trung Quốc sẽ quân sự hóa các cảng thương mại của mình, và họ đã có ý định đó tại vùng kênh đào Panama”.

Chiến hạm của Trung Quốc đã thăm cảng Panama, các năm gần đây, các chiến hạm mang cờ đỏ Trung Quốc đã neo ngoài khơi Cuba và Venezuela. Viện Hải Quân Mỹ đã viết về hiện tượng này vào tháng 6-2019 “Trung Quốc sẽ luôn tận dụng cơ hội để có mặt tại Châu Mỹ La tinh khi cần thiết”.

Trung Quốc là một nguy cơ cho Mỹ là có thật, khi cần, Trung Quốc sẽ chuyển quân tới Panama, không những họ cấm hải quân Mỹ vào kênh đào mà còn dùng Panama là căn cứ để tấn công Mỹ với chiến hạm, tàu ngầm, và oanh tạc cơ, chỉ có 900 miles để tới Miami. Ðây là một vị trí tốt cho Trung Quốc tấn công. Nếu Trung Quốc đưa chiến đấu cơ và hỏa tiễn tới Panama để bảo vệ quyền lợi của mình, thì nhiều thành phố chính của Mỹ sẽ nằm rất ngay trong tầm sát hại.

Mối đe dọa của Trung Quốc đã thành hình. Bạn có nghĩ là điều này sẽ ảnh hưởng nặng nề tới Mỹ trong tương lai?

Hồ Đắc Vũ

(Báo Trẻ Online)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở TRUNG QUỐC VÀ KÊNH ĐÀO PANAMA _ Hồ Đắc Vũ

TÌNH NGHĨA và KIẾP NGƯỜI

Tôi đang ngồi xem tin tức thế giới trên màn hình chiếc máy tính Bảng hiệu Apple, cái máy ấy tuy là thứ vô tri vô giác, thế nhưng bây giờ lại chính là bạn, là con, là cháu của tôi trong những tháng ngày còn lại , của cuộc đời trong cái Viện dưỡng lão Club Health care này đây, tôi sống trong một phòng riêng vì là còn tự chăm sóc bản thân được, không như những người khác lú lẫn , mất tự chủ thì phải sống chung phòng lớn 2-3 người, để còn tiện hổ trợ nhau trong việc bấm chuông gọi điều dưỡng khi cần giúp.

Bổng chuông điện thoại reo vang :

– Hello.

Đầu dây bên kia giọng cô con gái thứ của tôi lên tiếng :

– Con chào Ba , Ba có khoẻ không ?

– Ba khoẻ, ăn uống ngon miệng, ngũ tốt, nói chung là Ba khoẻ tụi con đừng lo lắn , ở đây Ba sống thấy rất thoải mái.

– Ba ơi ! Ba còn nhớ câu chuyện về đứa bé lai Mỹ đen , mà khi xưa Ba kể Ba tính nhận nuôi , khi người Mẹ muốn bỏ ở Quân Y Viện Nha Trang , nhưng Mẹ không chịu vì thằng bé là lại Mỹ đen, nên Mẹ sợ người đời dị nghị đó không B .

– Ừ Ba nhớ, nhưng sau hả con ?

– Hôm nay, con có khám mắt cho một người, khi đọc hồ sơ thì con khá ngạc nhiên là anh ta có ngày tháng năm sinh trùng với con và cả nơi sinh luôn. Cho đến khi gặp anh, thì Ba biết không anh ấy là người Việt lai Mỹ đen luôn, thật quá trùng hợp phải không Ba.

– Trời, không lẽ quả đất tròn đến vậy sao?

– Trong khi thăm khám mắt, chúng con có hỏi chuyện nhau, thì anh ấy cũng rất ngạc nhiên và muốn được gặp Ba, nên con gọi điện để hỏi ý Ba đây.

– Ồ tốt thôi, con cứ nói anh ấy có thể đến gặp Ba bất cứ lúc nào nha.

– Dạ, để con thông báo lại cho anh ấy.

– Nè con, thằng Kevin và con Tina tụi nó vẫn chơi đùa khoẻ chứ?

– Dạ , hai cháu khoẻ và quậy phá lắm Ba à, để con sắp xếp cuối tuần nào đó sẽ chở hai cháu vào thăm Ba nghen.

– Ừ, vậy đi, chớ Ba nhớ tụi nó lắm rồi.

– Vậy thôi con tiếp tục làm việc đây, Ba nhớ giữ gìn sức khoẻ đó nghen, con chào tạm biệt Ba.

– Ừ.

Tiếng đặt máy đánh “cộc“ khô khan từ phía bên kia vọng lại , như tiếng gõ của vị quan toà khi kết án một người, nó gọi bằng điện thoại bàn của Bệnh Viện Mắt đó mà.

*

Tôi năm nay mới 67 vừa mới đúng tuổi về hưu năm ngoái, vợ của tôi đã mất cách đây 5 năm Năm ngoái sau khi về hưu, đêm đó bị tôi bị tai biến mạch máu não, nên đưa vào Bệnh Viện nằm điều trị , sau một thời gian tôi phục hồi hẳn, chỉ bị liệt nhẹ một bên cơ mặt , nhưng không hiểu sao .. sau đó tôi lại được chuyển thẳng vào cái Viện dưỡng lão này , chứ không được về nhà … thật là tủi thân! Sau đó tôi có hỏi nhân viên Văn phòng tại đây để biết lý do, thì mọi sự mới vớ lẽ… đến bẽ bàng cho đời tôi.

Số là tất cả mọi người già được người thân gởi vào đây, chủ yếu là do nguyên nhân lú lẫn, hay quên hoặc mất tự chủ trong vấn đề vệ sinh cá nhân. Họ vào đây từ nhà của họ và sau khi họ đã trò chuyện với con cái, rồi thống nhất đi đến quyết định .. vậy họ đỡ tủi hơn tôi rồi, vì họ được một phần quyền quyết định.

Riêng tôi, khi ở Bệnh Viện chuẩn bị xuất viện, thì con cái tôi đã nói chuyện với Bác Sĩ và than phiền rằng tôi hay lú lẫn, quên trước quên sau .. ôi trời ! tụi nó còn trẻ mà đôi khi còn quên tắt bếp nấu , quên nồi nước đang sôi, chứ huống hồ tôi .. luật ở Mỹ nó thế, Đất mước văn minh mà, nghe vậy là hợp lệ rồi , đây là người cần sự chăm sóc và theo dõi thường xuyên, vậy thì các cơ sở Viện dưỡng lão mới mọc như nấm , ăn nên làm ra được chớ và rồi con được tiếng là Đất nước có chế độ chăm sóc người già tốt nhất nhì thế giới nửa chứ .. ôi ! cái sự đời đầy nghịch cảnh chát .. chua .

Tôi có đến ba đứa con , 2 trai , 1 gái .. con trai đầu là kỹ sư đang làm việc cho NASA , đưa con gái thứ hai là Bác Sĩ Mắt và thằng con trai út CEO của tập đoàn Dầu khí ESSO MOBIL và hai cháu ngoại , bốn cháu nội tất cả còn nhỏ , đứa lớn nhất chỉ 7 tuổi … một gia thế khủng , được chăm lo nuôi nấng ăn học từ đôi tay của người Ba già nua này , nhưng già mà sức khoẻ tôi còn rất tốt , đi đứng nhanh nhạy , đầu óc minh mẫm … thế mà thật cay nghiệt .

Ba ngày sau , tôi được thông báo có người muốn gặp , đã biết trước nên tôi đồng ý .

Bước ra , tôi trông thấy một người đàn ông trung niên , ừ tuổi bằng con gái tôi là 39 đúng rồi , anh ta là Mỹ lai đen , thân hình khá phốp pháp , cao to như di truyền của Cha anh ta vậy .

Gặp tôi anh đứng dậy bắt tay :

– Con chào Bác , rất mừng vì Bác đã cho phép con được gặp mặt .

– Chào Cậu , Cậu có muốn uống cafe , hút thuốc để nói chuyện được lâu và thoải mái không ?

– Ôi quí quá , mới gặp Bác lần đầu mà con đã cảm thấy nhẹ nhõm , thoải mái với sự ân cần của Bác rồi đấy . Dạ như vậy cũng được ạ .

– Vậy để tôi thông báo với người chịu trách nhiệm ở đây , về yêu cầu của mình nha .

Tôi đi vào trong nói chuyện với nhân viên , để họ cho phép khách của tôi bào phòng riêng và sau đó ra vườn đi dạo .

Tôi dẫn chàng trai đi vào phòng mình , để pha cafe xong :

– Bác cháu mình đem cafe ra ngoài sân vườn uống và nói chuyện nha .

– Dạ .

Chúng tôi song bước ra ngoài vườn , đi trong im lặng như để cho đối phương đủ thời gian để cảm nhận về nhau và suy nghĩ về những gì cần nói .. ra đến nơi có bàn ghế đá và bóng râm , gió mát , chủng toii ngồi xuống , đốt điếu thuốc tôi hỏi :

– Sao ? bây giờ tôi có thể giúp anh điều gì nào ?

– Bác có thể kể cho cháu nghe về tất cả những gì Bác biết không ạ .

Nhìn về xa xăm , như một cuộc phim quay chậm đang được tua lại cách đây 39 năm …

– Sáng hôm ấy vào thăm vợ của tôi đang nằm ở Bệnh Viện Quân Y Nha Trang , nghe vợ kể đêm qua có một người phụ nữ vừa sanh một bé trai lai Mỹ đen , đang muốn cho .. tôi đi qua nhìn thấy một đứa bé da ngâm đen nhưng thật dễ thương , trông nó còn đẹp hơn cả đứa con gái mà vợ tôi mới sinh , trán có ba nếp nhăn giống tôi , trán vồ , mũi gãy .. tôi nói với vợ hay xin nó về nuôi luôn một thể , có gì thuê người trông nom phụ , nhưng vợ tôi không chịu vì sợ người ngoài đàm tiếu sanh đôi mà một đứa đen , một đứa trắng , vậy là đi lang chạ sao ? thế nên chịu .. Mẹ cậu là một người đàn bà cao đẹp , nghe nói có chồng thường xuyên đi công tác xa , có lẽ bà có cuộc sống phóng túng nên khi sanh , phải từ Đà Nẳng vào tận Nha Trang để sanh , nếu là đứa con thuần Việt thì bế về nuôi , còn không thì … chứ làm sao ăn nói với chồng đây , lúc đó thời chiến nên những đứa trẻ như cậu sẽ được đưa vào Trại cô nhi viện chăm nuôi , nếu có ai nhận làm con nuôi thì cho … Tôi chỉ biết có vậy thôi , không biết còn giúp gì được cho cậu nữa không ?

– Thưa Bác , suốt thời gian qua cháu chỉ thắt mắc về lý do tại sao Mẹ lại bỏ cháu mà thôi. Bây giờ qua chuyện Bác kể cháu đã biết lý do rồi .. cháu cũng vì thắc mắc lý do đó, mà đem lòng thù hận đàn bà và chấp nhận sống độc thân cho tới tận bây giờ.

Bỗng bất ngờ không kiềm chế được, tôi bật cười vang .. ha .. ha .. ha .. tiếng cười chất chứa một sự chua chát, khinh thường cái sự đời, như luôn chớ trêu phận người.

– Có gì mà Bác cười nghe cảm giác chua chát đến vậy ạ.

– Tôi cười vì chợt nhận ra anh suy nghĩ ấu trĩ và tôi thì ngu muội đến phũ phàng .. anh thử nghĩ mà xem, sau giải phóng tôi vượt biên sang Mỹ , một thân một mình đi cày bán mạng để dành dụm tiền bạc gởi về phụ vợ nuôi con và lo mua nhà để bảo lãnh vợ con sang đoàn tụ .. bảo lãnh vợ con sang , thì phải cày bán mạng hơn nửa để lo cho con ăn học .. nay ba đứa con đã lo cho yên bề gia thất, học vị kỹ sư, Bác Sĩ, Tổng gián đốc .. nhưng rồi sao? tụi nó thông đồng quyết định tống khứ Ba của tụi nó vô đây, mặc dù tôi tỉnh táo không lú lẫn, khoẻ mạnh nhanh nhẹn không mất tự chủ trong sinh hoạt cá nhân, mặc kệ người Ba đã tận tuỵ dầy công , hy sinh nuôi chúng khôn lớn thành đạt như hôm nay .. nhưng cũng lỗi ở tôi , vì đi làm nhiều quá không có thời gian để dạy bảo chúng thành người trước .. thay vì thành danh .

Thế nên , anh hãy quẳng cái suy nghĩ hận thù đàn bà ấy đi , cho tâm trí nó nhẹ nhàng và vui vẽ sống những năm tháng còn lại của cuộc đời , đừng quá đau đầu về nó mà uổng phí tuổi trẻ , nghe không ?

Tôi mà biết trước cái sự đời như thế vậy, tôi đã mặc kệ vợ con ở Việt Nam , mà ăn chơi bay nhảy cho khỏi uổng phí tuổi trẻ của tôi rồi.

Tiếng cười chua chát lại vang lên nghe thắt ruột , nhưng lần này là kèm theo hai dòng lệ tuôn rơi đầy đau xót.

Anh cám ơn và từ giã Bác ấy ra về, anh thầm cảm ơn buổi nói chuyện nay , chẳng những giúp anh biết rõ lý do vì sao Mẹ bỏ mình, mà còn chứng kiến và hiểu hơn về mãng đời còn tăm tối hơn cả mình, thế mà chính người đang mang mãng đời đầy cay nghiệt đó , vẫn cố tiếp sức cho anh đi tiếp quãng đời còn lại bằng chính câu chuyện của đời mình . Nhưng Bác ấy đâu biết rằng, anh đã không kể hết về đời mình .. rằng anh đi ghép với một GĐ cũng có ba con nhỏ , khi qua Mỹ anh xem họ như GĐ mình , vì là anh lớn .. anh không đi học mà đi làm luôn để phụ giúp GĐ nuôi các em , cho đến khi các em học xong Bác Sĩ , kỹ sư và sắp chuẩn bị kết hôn , thì Cha Mẹ bảo anh ra riêng sống .. chỉ vì sợ mang tiếng với thông gia .. thế là anh đành xách valy ra đi, với vốn tiếng Anh ít ỏi lụm lặt từ cuộc sống khi đã gần 40.

Bổng anh chợt bật cười khanh khách một mình .. mắt cay nồng , tim đau nhói .. cho kiếp người của Bác ấy và cho anh!!!

KD (viettudomunich.org)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở TÌNH NGHĨA và KIẾP NGƯỜI

CUỘC HÀNH TRÌNH CUỐI CÙNG _ Nguyễn Hùng K10

Cuộc hành trình cuối cùng

Khóa 10 SQ/CSQG không có đêm lễ gắn Alfa truyên thống dưới ánh lửa bập bùng trong bộ tiểu lễ quỳ ở vũ đình trường TTHL/CSQG Vũng Tàu vì phải khẩn cấp di chuyển về Học Viện tránh tình trạng hoang mang của dịch bệnh đau màng óc làm khóa sinh lo sợ (có khóa sinh đột tử). Về Học Viện, K10 chúng tôi được lệnh tự…gắn Alfa cho mình .

Tất cả đã sắp đặt những toan tính rộn ràng cho buổi ấy…thằng về miền tây, thằng về miền trung hỏa tuyến, kẻ về nẻo phố hay cao nguyên. Hãy tưởng tượng vòng tay thương yêu của cha mẹ già em gái, ánh mắt rạng rỡ hạnh phúc của người yêu nụ cười chia sẻ reo vui của bạn bè…vv cũng đủ làm tâm hồn người trai trẻ bâng khuâng héo hắt bởi hụt hẫng tương phùng sau bao ngày cách biệt cho cuộc dấn thân đầu đời vào binh lửa .

Thế mà , sau kỳ hiến máu (mỗi svsq hiến 150cc) chúng tôi được 48 giờ phép sau khi được hưởng một bữa ăn thịnh soạn có bò bít tết trứng ốp la săn quých trét bơ cà phê sữa và một trái chuối… Thằng Sinh phóng lên chuyến xe tốc hành về cao nguyên Pleiku (chắc chắn nó hạnh phúc với gia đình) trở xuống nó mang cho tôi một chiếc áo thổ cẩm của người Thượng mà tôi thường ao ước và một bịch cà phê chưa xay gần 2 ký (thiệt là phiền phải năn nỉ mấy em ở CLB xay cho hoài, và trong Đại Đội chỉ một ít thằng ghiền nên ngày xập tiệm tôi phải bỏ cà phê chạy lấy người) .

Mới hơn 10 giờ sáng, ánh dương quang rực rỡ mang một bầu không khí ấm áp lan tỏa đến không gian tưng bừng náo nhiệt của đám sinh viên đang rộn ràng hạnh phúc với gia đình người thân bên bánh mứt của ngày mùng 2 tết ở vườn tao ngộ. Trốn thực tại lẻ loi bên ly cà phê khói thuốc ở Câu Lạc Bộ trong tiếng hát Ngọc Cẩm Nguyễn Hữu Thiết thả hồn đưa tôi về hoài niệm của tình tự quê hương nào đó xa xưa. Thằng Hải ùa vào vực tôi dậy như một cơn lốc xoáy …”mày ra vườn tao ngộ với tao ngay bây giờ…nhanh lên…” thấy gương mặt hắn có vẻ rạng rỡ nghiêm trọng “có gì… vậy mày?” “còn hơn trời sập, tao mới quen 2 em rất đẹp, tụi nó chờ ngoài kia, tao để mày con chị tao xí con em rồi nhé “.

Tâm tư chúng tôi cũng rộn ràng xao xuyến với ánh nhìn triu mến buổi tương phùng khi nàng hất ngược cặp kính đen lên mái tóc dài óng ả phủ bờ vai trên chiếc ao thung vàng bó sát eo thon với chiếc quần hippy ống rộng cùng chiếc thắt lưng to bản của bộ đồ thời trang theo hình tượng hiện sinh của ca sĩ Pháp nào đó. Để từ đó chúng tôi có những buổi chan hòa hạnh phúc nơi phố phường Sài Gòn hoa lệ cùng nàng thay đổi hình tượng theo mong muốn của tôi trong những chiếc áo dài tha thướt nhu mì bên bộ tiểu lễ kaki dày cộm tuôn đổ mồ hôi của tôi giữa trời trời Sài Gòn nóng bức, dìu nhau nhẹ bước trên những con đường cây dài bóng mát , dừng lại ở những quán kem rạp xi nê hay len lỏi vào hẻm nhỏ thưởng thức nhũng món ăn bình dân.

Và bộ mặt thật của niềm hạnh phúc chan hòa mà các chàng tuổi trẻ vốn dòng hào kiệt đều mơ ước chiêm ngưỡng đó là cái giá phải trả cho “hạnh phúc tăng cao nỗi buồn đến mau mau” khi chàng tuổi trẻ vung tay bạt mạng xua đuổi những đồng tiền ít ỏi trong túi ra đi không hối tiếc để phải trả giá cho những lần ký vào sổ vàng đại đội của ông chủ nhà mồ (chủ cho vay) với 15% phân lời (tối đa 4 ngàn và phải thanh toán trong kỳ lương tháng tới mới được mượn tiếp, để rồi ông chủ đã mất số tiền khổng lồ vì ngang nhiên bị quịt nợ từ hàng trăm SV/K10 của ngày xập tiệm mắc toi).

Gần 2 giờ sáng, từ vòng đai phòng thủ chúng tôi kéo quân về cao ốc đại đội để tạm ngả mình lên chiếc giường nệm êm ái với nguyên trang phục tác chiến còn thấm đẫm sương đêm để nhanh chóng thiếp đi trong giấc ngủ mệt mỏi rã rời. Bỗng còi báo động rú lên thảng thốt xé màn đêm làm chúng tôi bật dậy với động tác nhanh nhẹn thuần thục trong bóng đêm dày đặc, đồng thời cùng tiếng nổ dồn dập giòn tan của các loại súng và tiếng pháo nổ chụp ầm vang từ hướng bắc gần kề đâu đó (Biên Hòa). Tôi phóng lại tủ dựng cây M16 lên giá chụp cây M79 với túi đạn 6 viên chống chiến xa (mới được sử dụng lần đầu) cài thêm 4 trái lựu đạn M67 gọn nhẹ (thay M26) trong tiếng soàn soạt hối hả của những bước chân ngoài hành lang với âm vang vũ khí đạn dược va chạm lách cách rộn ràng .

Băng qua Vũ Đình Trường thắp thoáng hàng trăm chiếc nón sắt của những chàng trai trẻ vũ khí tận răng vùn vụt chạy về vị trí chiến đấu của các SV 2 khóa 10 và 11 với hàng ngàn tay súng trong ngoài vòng đai phòng thủ. Phút chốc không gian trở nên im vắng khi bóng người mất hút trong sương đêm mờ mịt và chỉ còn là thời gian chờ đợi hiểm nguy đe dọa gần kề khi tiếng súng tiếng pháo vẫn đì đùng xa xa với những ánh chớp lóe sáng bùng lên từng hồi để thấy mọi vật sẽ tan vở nơi chiến trường khốc liệt … Nhìn quanh những chàng chiến binh không khó phát hiện sự thất vọng trên những gương mặt đăm chiêu tư lự, trên bước đi uể oải cúi đầu cùng ánh mắt nhìn xa vắng, ánh lửa lặp lòe của điếu thuốc rít liên tục trên môi. Tất cả tắt hẳn những nụ cười hồn nhiên của những ngày qua cùng nhau chia sẻ những niềm vui thú hoan lạc hay khó khăn của đề tài học tập hóc búa với bộ luật hình sự tố tụng hay điều tra tư pháp…vv , nhất là nỗi thất vọng đớn đau của những SV miền giới tuyến trong cơn lốc của biệt ly bất ngờ cùng gia đình người thân trong một sớm mai …!

Trời đã sáng tỏ, ánh dương quang rụt rè ẩn mình trong làn mây xám chiếu tia sáng yếu ớt phủ chụp một bầu không khí bi thảm xuống đất nước đang đi đến cuối đường oan nghiệt tang thương …9 giờ sáng tôi kéo quân rời bỏ vị trí phòng thủ như có linh tính (thật sự như vậy) để chừng 10′ sau hàng loạt đạn pháo từ những chiếc T54 của địch rền vang cày xới tan hoang khắp nơi trong Học Viện kể cả tuyến phòng thủ của tôi, những cao ốc 3 tầng là nơi chúng tôi trú ẩn an toàn cho loại đạn pháo nổ cao.

Có lẽ tôi là thằng SV cuối cùng rời Học Viện sau khi lệnh buông súng của tổng thống Dương văn Mình để về phòng trút bỏ bộ hoa màu đất thân yêu, ngậm ngùi vuốt nhẹ chồng sách mà tôi mua mỗi tuần về phép, tôi nghẹn ngào…thôi chúng mày hãy ở lại bình yên tao đi phép vĩnh viễn đây…và tôi nhét vào túi vải cuốn “the longest day” mới mua cùng chai dầu gió xanh mà má tôi dặn dò phải luôn mang theo mình bất cứ khi nào ….Rời Học Viện đúng 10 giờ 30 sáng 30 tháng 4 năm 1975 .

K10 Nguyễn Hùng

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở CUỘC HÀNH TRÌNH CUỐI CÙNG _ Nguyễn Hùng K10

Chuyện Đái Đường ở Mỹ _ Dương Chi Lan

Tôi là một bà già quê dốt đặc cán mai, nửa chữ bẻ đôi mà hỏi tui còn hổng biết, làm sao mà nói được tiếng Mỹ. Những người quen biết, ai gặp tui cũng hỏi thăm sao tui hay quá vậy.

Thật ra, chuyện tui “tự nhiên “ được chữa khỏi con mắt bị hỏng,  lãnh tiền trợ cấp và được ở nhà housing thiệt hoàn toàn ngoài sức tưởng tượng của tui và tất cả những người quen biết với tui.

Tui qua Mỹ theo làn sóng vượt biên, cũng nhờ gia đình tui là nghề đánh cá, một chiếc tàu vượt biên lớn sợ “bể” đã cho tui đi “chùa” nghĩa là không phải đóng “cây”. Thuyền tui đi lại gặp  may nên chẳng gặp một thằng cướp biển nào, khi đến đảo  lại được  “bốc” vô Mỹ rất nhanh.

Thế là tui được ở một đất nước mà mọi người đều mơ ước.  Tui nghe nói nhiều người có tiền mà đi hoài không được,  nhiều khi còn bị bắt giam cả mấy năm, ở tù phải lao động  cực khổ không thua mấy ông sĩ quan học tập cải tạo.

Một hôm, cũng như mọi ngày, tui đi bộ để vừa chiêm ngưỡng những nhà cửa sang trọng với những bãi cỏ xanh và đủ loại hoa đẹp rực rỡ như cảnh tiên. Đang đi bỗng mắc đái không chịu được, sẵn thấy chân cầu có vẻ kín đáo, tui bèn bước vội đến đó, nhìn trước nhìn sau thấy coi bộ hổng có ai dòm, chỉ có xe hơi chạy nườm nượp hàng hàng lớp lớp, yên chí lớn, ai mà thèm dòm đít bà già. Thì tui đã quen làm như vậy khi ở Việt Nam mà!

Tui ung dung ngồi chồm hỗm xuống, khoai khoái dễ chịu vô cùng. Vừa đứng lên thì xe cảnh sát ở đâu bất ngờ trờ tới, thắng nghe một cái réec, ra dấu biểu tui để hai tay lên xe,  tui vừa để lên thì nó lấy hai tay tui bẻ quặt ra đàng sau, tui  nghe một tiếng “cắc” rồi cảm thấy hai cổ tay lạnh ngắt, thì  ra tui đang bị còng tay.

Tui sợ điếng người nhưng đành chịu vì có biết tiếng Mỹ nào đâu mà nói với chẳng nói. Mấy ổng dìu tôi vô xe, thật ra mấy  ổng vừa dìu vừa đẩy thì đúng hơn vì tui thấy sợ quá, không  muốn vô xe cảnh sát chút nào.

Mấy ông cảnh sát đưa tui tới một chỗ gì mà thấy rùng rợn lắm, chỗ nào cũng có máy móc thấy ngộp, muốn xỉu. Một ông đi đâu một hồi rồi trở lại với một ông khác, nhìn thấy ông này tui càng sợ hơn vì ổng mặc cái áo choàng màu xanh và lại còn đeo mặt nạ màu xanh, không biết họ sẽ làm gì tui đây! 

Tự nhiên tui nổi gai ốc khắp người. Ông mới ra dấu biểu tôi nằm vô giữa máy rồi ấn hết nút này đến nút khác, một hồi  cái đầu tui bị kẹp chặt, tui cố cựa quay mà hổng ăn thua gì. 

Tui nhắm mắt lại thật chặt, bụng nghĩ là chắc tụi nó cho tui lên máy chém, tui niệm Chúa niệm Phật lung tung. Biết vậy  thà ở Việt Nam cho sướng hơn, muốn đái đâu cũng được,  cùng lắm thì bị chọc quê chứ làm gì mà tới phải lên  máy chém!

Nhớ lại hồi còn ở Việt Nam, mỗi lần đi xe đò, lâu lâu xe đậu  lại là mấy ông mấy bà mạnh ai nấy đái: mấy ông thì cứ đứng đái đại lề đường, còn mấy bà thì kiếm lùm cây.

Tui tưởng mình đã chết, chợt nghe hai bên đầu được nới rộng  dần, rồi có người lay tôi dậy. Thì ra tui vẫn còn sống! Để chắc  ăn, tui lắc thử cái đầu và sờ vào cổ không thấy máu me gì cả. Hú hồn!

Rồi có một người Việt Nam đến, ông ta tự giới thiệu là thông  dịch, họ đua nhau hỏi tại sao tui có sẹo trên mặt phía trên con mắt bên phải, họ nói trong óc của tui có dấu vết tổn  thương nặng. Hèn chi tui nhức đầu hoài. Họ hỏi tui nhiều câu lắm. Tui giải thích là do bị VC đánh bằng báng súng trong lúc họ đuổi tui đi kinh tế mới mà tui hổng chịu, tui cho họ biết con mắt phải của tui bị hư là do lần bị đánh đó.

Kết quả gởi về tận nhà cho biết tui bị thần kinh và bị mù một  mắt. Họ còn gởi cho tui nhiều giấy tờ khác nữa. Nhờ những giấy tờ này mà sau này tui được hưởng đủ thứ giúp đỡ: được Mỹ chữa khỏi con mắt bị hư, được cấp thuốc uống  không mất tiền, rồi lại còn được ở nhà housing đến bây giờ, mỗi tháng tui còn được lãnh một món tiền nho nhỏ,  tui xài tiện tặn, lâu lâu gởi về chút đỉnh cho bà con,hàng xóm.

Nếu tui còn ở Việt Nam thì giờ này vẫn còn ngày hai bữa ăn cơm với rau muống luộc chấm nước mắm, một giỏ cá nục phải chia ra ăn cho đủ hai ngày.. Con mắt của tui làm gì mà có tiền chữa, mà có tiền chưa chắc đã chữa được. 

Cái đầu của tui bây giờ không còn bị giựt giựt như trước  khi được Mỹ mổ. Thiệt không uổng công tui vượt biên  đi Mỹ chút nào.

Nhưng xin bà con đừng bắt chước tui mà đái ngoài đường  à nghen! May mà họ tưởng tui điên. Người không điên làm sao dám làm chuyện đó ở xứ văn minh lịch sự này! 

Tui nghe người ta nói tội đái bậy bị phạt rất nặng mà còn bị ghi vào lý lịch suốt đời. Nước Mỹ có nhà vệ sinh sạch và  tiện nghi lắm, bởi vậy nên nó được đặt tên là “Rest room” là “nhà để nghỉ” đó mà. 

Nghe nói đi xa vài chục dặm là có một “rest area” để khách du lịch đi vệ sinh và nghỉ ngơi thoải mái không những thế  còn có những bàn ghế bằng đá, có thùng đựng rác khắp  nơi và nhất là có phong cảnh rất hữu tình. Vậy thì đái bậy  bị phạt nặng cũng phải.

Tui cũng muốn nói thêm điều này, vì đây là điều tui rất khoái: người nào đến xứ Mỹ cũng biến thành người lịch sự, đi đâu làm gì cũng “get line” chớ không có thói quen chen lấn như ở nước mình nên bà con cứ yên tâm.  Tui bây giờ cũng lịch sự lắm.

Mỗi lần kể chuyện này, tui chỉ muốn đi tìm lại hai ông cảnh  sát Mỹ để nói lời cám ơn đã còng tay tui lúc đó. Nếu không  thì làm gì tui có ngày nay.

Dương Chi Lan

(VVNM/Việt Báo – Viết theo lời kể của một người quen tình cờ)

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Chuyện Đái Đường ở Mỹ _ Dương Chi Lan

ĐIỂM BÁO PHÁP QUỐC NGÀY 05/03/2021: Trung Cộng Thách Thúc Lớn Nhất Của Hoa Kỳ

TRUNG QUỐC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
HIỆN ĐẠI ĐỘC TÀI
THÁCH THỨC LỚN NHẤT CỦA MỸ

image001

Ảnh minh họa : Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình trong buổi khai mạc kỳ họp Quốc Hội tại Đại sảnh đường Nhân Dân, được chiếu lên màn hình lớn trên đường phố Bắc Kinh ngày 05/03/2021. REUTERS – TINGSHU WANG
Thụy My


Trung Quốc đặt ra mục tiêu đến năm 2035 thì GDP tính theo đầu người sẽ tăng gấp đôi để trở thành « một đất nước xã hội chủ nghĩa hiện đại ». Đàn áp Tân Cương, Tây Tạng, Hồng Kông, hung hăng với Đài Loan… đối với Washington, Bắc Kinh hùng mạnh và độc tài là thách thức địa chính trị quan trọng nhất của thế kỷ.

Chuyến tông du Irak của Đức giáo hoàng Phanxicô, việc phân phối vac-xin chống Covid ở châu Âu, kỳ họp Quốc Hội Trung Quốc là những chủ đề chính của báo chí Pháp ngày 05/03/2021.

Những đường lối kinh tế cho năm năm tới được Bắc Kinh công bố trong dịp này. Les Echos nhận định : « Trung Quốc tiến lên mạnh mẽ hậu Covid-19 », trong một thế giới bị rung chuyển bởi đại dịch và sự đối địch Mỹ-Trung.

Mục tiêu biến Trung Quốc thành quốc gia « xã hội chủ nghĩa hiện đại »

Tuy không loan báo một trường hợp dương tính nào từ một tháng qua, tất cả đại biểu đều phải xét nghiệm và đoàn đại biểu từ Hồng Kông còn được tiêm chủng. Họ chỉ được di chuyển từ khách sạn đến Đại sảnh đường Nhân Dân bằng những xe đã được khử trùng và tài xế đã chích ngừa. Các nhà ngoại giao và những nhà báo hiếm hoi được mời dự lễ khai mạc phải xét nghiệm và qua đêm tại một địa điểm được chỉ định.

Kỳ họp Quốc Hội lần này có tầm quan trọng đặc biệt vì là dịp « để bày tỏ sự tự tin và sức mạnh vào lúc khởi đầu một năm kỷ niệm 100 năm thành lập đảng Cộng Sản Trung Quốc » – theo Viện Merics. Đây cũng là năm đầu của kế hoạch 5 năm lần thứ 14.

Sau khi tránh được suy thoái trong năm 2020, kế hoạch 2021-2025 sẽ đưa ra « tầm nhìn biểu lộ những thách thức chính mà các nhà lãnh đạo Trung Quốc cho rằng sẽ phải đối đầu » – theo nhà quan sát Mark Williams của Capital Economics. Quan trọng nhất là « một môi trường thế giới mang tính thù địch hơn ». Trong bối cảnh đó, Trung Quốc muốn tự chủ được công nghệ, trông cậy vào tiêu thụ nội địa, và đặt ra mục tiêu đến năm 2035 thì GDP tính theo đầu người sẽ tăng gấp đôi để trở thành « một đất nước xã hội chủ nghĩa hiện đại ».

Lờ đi việc đàn áp Tây Tạng, Tân Cương, bóp nghẹt dân chủ Hồng Kông

unnamed (5)
Le Monde ghi nhận thủ tướng Lý Khắc Cường không hề nhắc đến Tây Tạng lẫn Tân Cương, còn về Đài Loan thì nhắc lại muốn « xúc tiến việc phát triển quan hệ giữa hai bờ eo biển một cách hòa bình ». Hồi năm 2020, các nhà quan sát đã lo lắng khi từ « hòa bình » biến mất, nay đã tái xuất hiện, vào lúc quân đội Trung Quốc bắt đầu tập trận trên Biển Đông trong một tháng kể từ ngày 01/03.

Tiếp tục dọn đường cho một nhiệm kỳ thứ ba năm 2022, bóp nghẹt những tiếng nói chỉ trích, Tập Cận Bình làm ngơ khi thế giới lên án việc đàn áp người Duy Ngô Nhĩ và biểu tình Hồng Kông. Tám tháng sau khi luật an ninh mới có hiệu lực và những khuôn mặt hàng đầu của phong trào dân chủ Hồng Kông đã bị khởi tố, Bắc Kinh muốn hoàn tất việc thâu tóm đặc khu bằng việc sửa đổi luật bầu cử địa phương để đè bẹp những dạng thức đối lập cuối cùng.

Nguyên tắc « Nhất quốc, lưỡng chế » bị vĩnh viễn chôn vùi

image003
Một nhà ngoại giao châu Âu nói với Les Echos, khi quyết định chỉ để cho những người « yêu nước » – có nghĩa là trung thành với đảng Cộng Sản – được tham chính, « Tập Cận Bình đã chôn vùi vĩnh viễn nguyên tắc một đất nước, hai chế độ. Đó là hồi kết của nền dân chủ, dù không hoàn hảo, của Hồng Kông ».

Tương tự, trang web Le Monde nhận định « Trung Quốc ra lịnh mới cho Hồng Kông : phải yêu nước ». Ông Tập đã đích thân tuyên bố hồi tháng Giêng, nên hôm nay người Hồng Kông không ngạc nhiên khi nghe loan báo tại Quốc Hội là sẽ « cải thiện hệ thống ». Đó là nhằm loại hẳn đối lập ra khỏi đời sống chính trị, trong khi Hiến Pháp của đặc khu ghi rõ « Hồng Kông được lãnh đạo bởi người Hồng Kông » và không hề nói đến xu hướng đảng phái.

Hồi năm 2019, đối lập đã giành được chiến thắng tại 17/18 quận nhờ sự ủng hộ của 1,6 triệu cử tri Hồng Kông. Nay theo báo chí Hồng Kông, ủy ban bầu cử để bầu ra trưởng đặc khu, từ 1.200 người được mở rộng thành 1.500 để làm loãng đi vài tiếng nói dân chủ còn sót lại, và các cố vấn cấp quận mà 90% là đối lập sẽ không còn được bỏ phiếu bầu ủy ban này. Về tư pháp, hầu như toàn bộ các cựu dân biểu ủng hộ dân chủ đều đã bị tạm giam tối qua sau năm ngày câu lưu. Họ nằm trong số 47 người đã tham gia tổ chức cuộc bầu cử sơ bộ không chính thức, bị cáo buộc « âm mưu lật đổ ».

Tập Cận Bình muốn biến đảo Hải Nam thành Hawai châu Á

Về kinh tế, Le Monde có bài phóng sự nói về đảo Hải Nam « Một Hawai châu Á, giấc mơ của Tập Cận Bình ». Ông Tập muốn hòn đảo nằm giữa Hồng Kông và Việt Nam trở thành địa điểm du lịch và thương mại hàng đầu châu Á.

Trước đây là một trong những nơi mà các hoàng đế Trung Hoa đày ải thần dân, nay hòn đảo 9 triệu dân có vị trí chiến lược ở Biển Đông còn là một căn cứ quân sự quan trọng hàng đầu. Hải Nam không có những bãi biển xinh đẹp bằng Thái Lan và các khách sạn không thể địch nổi với Hồng Kông, nhưng 30 năm sau Thâm Quyến, hòn đảo này sẽ là một biểu tượng mới cho sự mở cửa của Trung Quốc. Kể từ năm 2025, toàn bộ Hải Nam sẽ được coi là khu vực Duty Free Shop – một công thức từ đầu thế kỷ đã được người Nhật áp dụng thành công tại đảo Okinawa và người Hàn tại đảo Jeju.

Hoa Vi, vũ khí chiến lược của Bắc Kinh để đàn áp Tân Cương

image004
Trên lãnh vực nhân quyền, ở trang Ý kiến của Le Monde, chuyên gia Adrian Zenz khẳng định « Hoa Vi là vũ khí chiến lược của Nhà nước Trung Quốc để đàn áp người Duy Ngô Nhĩ ».

Chỉ vì ở trong toa-lét quá thời gian cho phép là 20 giây, Gulzira Auelhan đã bị chích điện vào đầu. Vâng, vào đầu, bởi vì theo các quản giáo, cú sốc này sẽ để lại dấu vết sâu hơn so với các bộ phận khác của cơ thể. Câu chuyện của Auelhan, một phụ nữ người Kazakhstan ở Tân Cương, không phải xảy ra vào thời Cách mạng văn hóa, mà năm 2018. Vùng đất này là phòng thí nghiệm quy mô chưa từng thấy trong chính sách đàn áp của Bắc Kinh, với sự trợ giúp của Hoa Vi (Huawei).

Tuy các lãnh đạo tập đoàn đã hai lần lên tiếng chối cãi, nhưng các bằng chứng vẫn rành rành. Hoa Vi cung cấp hệ thống giám sát cho toàn bộ Tân Cương từ năm 2014, và vào thời đó, tất cả các dữ liệu của mạng lưới camera dày đặc đã được lưu trữ trong các cloud nhờ công nghệ Hoa Vi. Một brochure của Hoa Vi tháng 11/2017 còn khoe ra việc hiện đại hóa hệ thống theo dõi ở thành phố Kashgar, nơi 90% cư dân là người Duy Ngô Nhĩ, giúp trung tâm chỉ huy của công an có thể xử lý nhờ trí tuệ nhân tạo.

Đến tháng 5/2018, nhiều trại tập trung được mở rộng trong đợt bắt bớ thứ hai, Hoa Vi ký « hợp đồng hợp tác chiến lược » với bộ Công An ở Tân Cương, và tháng 12/2018 đến lượt hợp đồng hợp tác với công an thủ phủ Urumqi về « chiến lược số hóa toàn bộ », đóng vai trò chính trong việc giám sát các mục tiêu cụ thể và tống giam người sắc tộc thiểu số.

Nhà nghiên cứu người Đức kết luận, Hoa Vi không chỉ là vũ khí chiến lược của Bắc Kinh để đàn áp Tân Cương, và có thể là con ngựa thành Troie đe dọa an toàn viễn thông trên thế giới. Nên chăng để mặc cho Trung Quốc múa gậy vườn hoang ? Adrian Zenz cho rằng vào lúc một số ngôi sao như cầu thủ Antoine Griezmann của Pháp đã chủ động hủy hợp đồng quảng cáo cho Hoa Vi, và ngày càng nhiều chính phủ tố cáo các tội ác chống nhân loại ở Tân Cương, cần khẩn cấp đặt lại vấn đề về quan hệ với tập đoàn Trung Quốc này.

Mỹ chủ trương hợp tác với các đồng minh để ngăn chận Trung Quốc

Về phía Washington, Les Echos nói về chiến thuật của Biden để đối phó với Trung Quốc toàn trị : củng cố sức mạnh kinh tế và dân chủ của Mỹ, với sự hỗ trợ của các đồng minh.

Trung Quốc rõ ràng là thách thức lớn nhất đối với Hoa Kỳ. Báo cáo công bố hôm thứ Tư 03/03 về các chọn lựa chiến lược và an ninh quốc gia, cũng như bài diễn văn đầu tiên của ngoại trưởng Antony Blinken đều nhấn mạnh Trung Quốc là « nước cạnh tranh duy nhất có thể phối hợp cả sức mạnh kinh tế, ngoại giao, quân sự lẫn công nghệ » trong một hệ thống quốc tế ổn định và rộng mở. Đó là « thử nghiệm địa chính trị quan trọng nhất » của thế kỷ.

Washington muốn hợp tác với các đồng minh, đồng thời tái đầu tư vào các tổ chức quốc tế mà Bắc Kinh đang lũng đoạn. NATO sẽ được hiện đại hóa để đối phó với cả Trung Quốc chứ không chỉ nhắm vào Nga.

Các đối tác được nêu tên cụ thể trong bản báo cáo an ninh quốc gia. Liên minh với Úc, Nhật Bản, Hàn Quốc được coi là « các nhân tố chiến lược », còn quan hệ với Ấn Độ, New Zealand, Singapore và Việt Nam, ASEAN sẽ được đào sâu. Mỹ cũng nhìn nhận « lợi ích sống còn » khi kết nối chặt chẽ với khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương, châu Âu và khối phương Tây. Cuối cùng, vấn đề dân chủ, nhân quyền quay lại trong các bài diễn văn : Đài Loan, Hồng Kông, người Duy Ngô Nhĩ và Tây Tạng sẽ được Mỹ cùng với các đồng minh bênh vực.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở ĐIỂM BÁO PHÁP QUỐC NGÀY 05/03/2021: Trung Cộng Thách Thúc Lớn Nhất Của Hoa Kỳ

BS Nguyễn Ý Dức : TỎI và Sức Khoẻ

BS Nguyễn Ý Đức : TỎI VÀ SỨC KHỎE

20200602_cong-dung-cua-toi-1

Tháng 12 năm 1998, một cuộc hội thảo kéo dài hai ngày rưỡi đã được tổ chức tại New Port Beach, California, để thảo luận và trình bày kết quả nghiên cứu về công dụng của tỏi.

Hội thảo được Viện Ung Thư Quốc Gia Hoa Kỳ và Đại Học Pennsylvania bảo trợ, với sự tham dự của trên hai trăm khoa học gia, chuyên viên y tế, dinh dưỡng đến từ 12 quốc gia trên thế giới.

Kết luận của hội thảo là các cuộc nghiên cứu trong nhiều năm qua đã xác định những ích lợi của tỏi đối với sức khỏe con người.

Kinh nghiệm chữa bệnh bằng tỏi.

Chữ viết đầu tiên của dân Sanskrit cách đây 5000 năm đã nhắc đến TỎI nhiều lần.

Trong mộ cổ Ai Cập 6000 năm về trước có những củ tỏi khô nằm ướp trong nắm xương. Sách Y học Ai Cập trên 3000 năm về trước có ghi hai mươi bài thuốc tỏi để trị một số bệnh như đau bụng, đau nhức khớp xương, nhiễm độc, cơ thể suy nhược…

 Công nhân xây đắp Kim Tự Tháp được cung cấp thực phẩm có tỏi để tăng cường sức lao động. Những giác đấu Hi Lạp, binh sĩ La Mã cũng được cho ăn tỏi để chiến đấu can trường, dũng cảm hơn.

Trong các cuộc hải hành, dân Virking đều mang tỏi theo làm lương thực và để trị bệnh khi cần đến.

Tỏi đã được các vị thầy thuốc xưa kia ca ngợi như một dược thảo có giá trị. Ông tổ nền y học tây phương Hippocrates (460-377 trước Cơng nguyn) đ coi tỏi là môn thuốc tốt để trị các bệnh nhiễm độc, bệnh viêm, bệnh bao tử, và loại trừ nước dư trong cơ thể.

Galen (129 – 199), một trong những danh y nổi tiếng sau Hippocrtes, đ  ca tụng tỏi như môn thuốc dân tộc trị được nhiều bệnh.

Theo Pedonius Dioscorides (40 – 90), một danh y  Hy Lạp, thì tỏi làm giọng nói trong trẻo, làm bớt ho, làm thông tắc nghẽn ở mạch máu, làm lợi tiểu, bớt đau răng, chữa bệnh ngoài da, và chữa cả hói tóc nữa.

Vào thế kỷ 16, Alfred Franklin nói với dân chúng thành phố Paris là nếu họ ăn tỏi tươi với bơ vào tháng Năm thì họ sẽ được khỏe mạnh trong những tháng còn lại.

Trong thế chiến thứ nhất, người Nga đã dùng tỏi để trị bệnh nhiễm vi trùng. Họ gọi tỏi là “thuốc kháng sinh Nga Sô ”. Các bác sĩ Anh cũng đ biết dùng tỏi để trị vết thương làm độc ở chiến trường.

 Khi có các dịch cúm vào đầu thế kỷ 20, nhiều quốc gia trên thế giới, kể cả Hoa Kỳ, đã dùng tỏi như một phương tiện để chống lại sự hoành hành của bệnh.

Sách xưa có ghi lại câu chuyện về bốn tên trộm lừng danh ở thành phố Marseille: trong vụ dịch hạch kinh khủng ở thành phố này, có bốn tên trộm vẫn ngang nhiên vào nhà các người bị bệnh để trộm của mà không bị lây bệnh. Khi bị bắt, chính quyền hứa sẽ tha tội nếu họ nói bí quyết không lây bệnh. Bốn chú đạo trích khai là suốt thời gian dịch hạch, họ ăn rất nhiều tỏi tươi, do đó họ không bị bệnh.

Vào thời Trung Cổ, khi đi vào  những vùng nhiễm độc, các thầy thuốc đều mang nhiều nhánh tỏi để phân phát cho dân chúng cũng như để ngăn chặn hơi độc xâm nhập vào mũi.

Các triết gia cũng có nhiều nhận xét về giá trị của tỏi.

 Celsius, vào thế kỷ I đã  khuyên dùng tỏi để trị nóng sốt và bệnh đường ruột.

Virgil (70 – 19) thấy tỏi làm tăng sức lực của nông dân.

Aristophanes (448 – 385 trước Công nguyên) thì nhắc nhở lực sĩ, chiến sĩ ăn tỏi trước khi xuất trận để chiến đấu cang cường hơn.

Dân Nga xưa kia ngâm tỏi với rượu vodka, để lâu hai tuần rồi uống và tin là sẽ sống lâu.

Dân Ukraine uống nước chanh ngâm tỏi để làm tăng sức lực, làm người trẻ ra.

Dân Da Đỏ bắt chước đoàn thám hiểm Tây Ban Nha, dùng tỏi để trị các bệnh khó tiêu, đau bụng, đau tai và họ rất ít bị bệnh yết hầu vì mùi tỏi làm cuống phổi mở rộng, hô hấp sể dàng.

Người Mỹ xưa kia chữa bệnh tim phổi bằng cách đắp tỏi giã nhỏ lên chân và họ giải thích là như vậy tỏi sẽ hút hết chất độc xuống để đưa ra ngoài. Tổng Thống Benjamin Franklin thích ăn súp nấu với tỏi, còn binh sĩ của Tổng Thống George Washington thì được cho thêm tỏi trong khẩu phần.

 Vào đầu thế kỷ trước, bệnh lao rất phổ biến và khó trị vì chưa có thuốc kháng sinh. Các bác sĩ bèn chữa bằng tỏi và thấy là rất công hiệu để diệt vi trùng lao. Sau đó một thời gian, nước Mỹ bị dịch cúm và bệnh tinh hồng nhiệt, dân chúng bèn đốt tỏi trong nhà và hơi khói tỏi che trở nhiều người khỏi bị bệnh. Nhiều người còn nhai tỏi để ngửa bệnh cúm.

Năm 1941, bác sĩ Emil Weiss ở Chicago làm một cuộc thử nghiệm trị bệnh bằng tỏi cho 22 người mang các bệnh khác nhau như đau bụng, nhức đầu, táo bón. Kết quả là những người này hết bệnh.

Về niềm tin dị đoan, tỏi đã được dùng là vũ khí để trừ tà ma , quỷ quái. Dân Âu châu xưa rất sợ ma cà rồng hút máu và để xua đuổi, mỗi nhà đều cheo nhiều nhánh tỏi ở trước cửa. Văn tự Ấn Độ giáo từ nhiều ngàn năm trước có ví một củ tỏi như một tráng sĩ diệt trừ yêu quái.

 Dân nài ngựa cheo vài nhánh tỏi vào cương để ngựa phi mau hơn. Nằm mơ thấy tỏi là điềm lành.

Trong các cộng đồng Do Thái xưa kia, vài nhánh tỏi được trang điểm vào áo cưới cô dâu với niềm tin là cuộc hôn nhân sẽ muôn vàn hạnh phúc.

Dân Ai Cập so sánh hương vị cay hôi của tỏi với những thăng trầm của cuộc đời.

Các tu sĩ nói với con chiên là khi họ cầm vài nhánh tỏi trên tay tức là đang cầm mọi phức tạp của cuộc đời. Và khi tuyên thệ, họ đặt tỏi trên bàn tay hay trên bàn thờ.

Bên Việt Nam ta, các cụ cheo tỏi trước cửa buồng đàn bà mang bầu để trẻ sinh  ra được mẹ tròn con vuông, khỏe mạnh

 Đông Y việt Nam ta ghi nhận công dụng trị bệnh của tỏi như sau: “tỏi có vị cay, tính ôn, hơi độc nằm trong hai kinh can và vị. Tác dụng thanh nhiệt, giải độc, sát trùng, chữa bệnh lỵ ra máu, tiêu nhọt, hạch ở phổi, tiêu đàm, chữa đầy chướng bụng, đại tiểu tiện khó khăn. Người âm nhu, nội thiệt, có thai, đậu chẩn, đau mắt không nên dùng.

Kết qủa nghiên cứu công dụng tỏi trong trị bệnh

Qua nhiều nghiên cứu khoa học và qua kinh nghiệm xử dụng của dân chúng, thì tỏi không những là một thực phẩm ngon mà còn có nhiều công dụng trị bệnh.

Năm 1951, hai nhà hóa học Thụy sĩ Arthur Stoll và Ewald Seebeck đã tìm ra hóa chất chính của tỏi là chất Alliin và men Allinase. Hai chất này được giữ riêng rẽ trong tế bào tỏi

1-TỎI VÀ CHOLESTEROL.

Khi quan sát dân chúng ở một số vùng ăn nhiều tỏi, các nhà nghiên cứu thấy họ rất ít bị các bệnh về tim mạch, mặc dù họ ăn nhiều thịt động vật và uống nhiều rượu vang. Có  người cho là do ảnh hưởng của rượu vang, nhưng các bác sĩ ở địa phương thì cho là nhờ uống rượu và ăn nhiều tỏi.

Sự kiện này thúc đẩy các chuyên viên của Đại Học Western Ontario, Canada, để tâm nghiên cứu và họ kết luận rằng một dân tộc càng ăn nhiều tỏi thì bệnh tim mạch càng ít. Bằng chứng là dân Triều Tiên ăn nhiều tỏi và họ cũng ít bị bênh tim.

Nhiều khoa học gia bèn nghiên cứu tương quan giữa tỏi và bênh tim ở súc vật trong phòng thí nghiệm. Họ đều thấy là tỏi làm chậm sự biến hóa của chất béo trong gan, khiến gan tiết ra nhiều mật, đồng thời cũng lấy bớt mỡ từ thành động mạch.

Các bác sĩ H.C. Bansal và Arun Bordia ở Ấn Độ nhận thấy khi ăn bơ với tỏi, cholesterol trong máu đã không lên cao mà còn giảm xuống.

Năm 1990, nghiên cứu do bác sĩ F.H. Mader ở Đức cho hay, nếu mỗi ngày ăn vài nhánh tỏi thì cholesterol sẽ giảm xuống tới 15%.

Một nghiên cứu tương tự ở Đại học Tulane, New Orleans do bác sĩ A. K. Jain thực hiện năm 1993 cho thấy người có cholesterol cao, khi dùng tỏi một thời gian, thì cholesterol giảm xuống được 6%. Đó là một sự giảm đáng kể.

Bác sĩ Benjamin Lau, thuộc Đại Học Loma Linda, California cho biết là tỏi giúp chuyển cholesterol xấu LDL thành cholesterol lành HDL. Còn bác sĩMyung Chi của Đại Học Lincoln ở Nebraska chứng minh là tỏi làm hạ cholesterol và đường trong máu.

Một câu hỏi được nêu lên là tỏi có làm giảm cholesterol ở người có mức độ trung bình không? Các nhà nghiên cứu cho là tỏi có một vài ảnh hưởng, nhưng nếu cholesterol cao thì tác dụng của tỏi tốt hơn. Có bác sĩ còn cho là tỏi công hiệu hơn một vài âu dược hiện đang được dùng để chữa cholesterol cao trong máu.

Do hạ thấp cholesterol trong máu, tỏi có thể ngăn ngừa nguy cơ một số bệnh tim. Đã có nhiều bằng chứng rằng cholesterol trong máu lên cao là nguy cơ đưa tới các bệnh vữa xơ động mạch và dột quỵ.

 2-TỎI VÀ SỰ ĐÔNG MÁU.

Tỏi có tác dụng ngăn sự đóng máu cục, một nguy cơ của kích tim và tai biến động mạch não.

Máu cục gây ra do sự dính chùm của tiểu cầu mỗi khi có dấu hiệu cơ thể bị thương để ngăn ngừa sự xuất huyết

Trong tỏi có chất Ajoene được  bác sĩ Eric Block, Đại học Nữu Ước, khám phá ra. Theo ông ta, chất này có công hiệu như aspirin trong việc làm giảm sự đóng cục của máu, lại rẻ tiền mà ít tác dụng phụ không muốn. Điều này cũng phù hợp với nhận xét của bác sĩ I.S. Menon là ở miền nam nước Pháp, khi ngựa bị máu đóng cục ở chân thì nông gia đều chữa khỏi bằng cách cho ăn nhiều tỏi và hành.

Bệnh viện Hải quân Hoa Kỳ trong trại Pendleton, California, cũng công bố là tỏi có chất ngừa đông máu do đó có thể làm máu lỏng và ngăn ngừa tai biến động mạch não, kích tim vì máu cục.

Ngay cả ông tổ của nền y học cổ truyền Ấn Độ Charaka vào thế kỷ thứ 2 cũng  ghi nhận là “ tỏi giúp máu lưu thông dễ dàng, làm tim khỏe mạnh hơn và làm con người sống lâu. Chỉ vì mùi khó chịu của nó chứ không thì tỏi sẽ đắt hơn vàng”.

Các thầy thuốc xưa kia cũng nói là tỏi làm máu loãng hơn.Tác dụng này diễn ra rất mau, chỉ vài giờ sau khi dùng tỏi. Chưa có trường hợp nào trong đó ăn nhiều tỏi đưa đến máu loãng rồi dễ xuất huyết, vì tỏi chỉ làm máu loãng tới mức bình thường thôi.

3-TỎI VÀ CAO HUYẾT ÁP.

Tỏi được dùng để trị bệnh cao huyết áp ở Trung Hoa từ nhiều thế kỷ trước đây. Tại Nhật Bản, giới chức y tế chính thức thừa nhận tỏi là thuốc trị huyết áp cao.

Năm 1948, bác sĩ F.G. Piotrowski ở Geneve làm thế giới ngạc nhiên khi ông tiết lộ kết quả tốt đẹp khi dùng tỏi để trị cao huyết áp. Theo ông, tỏi làm giãn mở những mạch máu bị nghẹt hay bị co rút, nhờ đó máu lưu thông dễ dàng và áp lực giảm. Các nghiên cứu ở Ấn Độ, Gia Nã Đại, Đức cũng đưa đến kết quả tương tự.

Nhà sinh học V. Petkov thực hiện nhiều nghiên cứu ở Bulgarie cho hay tỏi có thể hạ huyết áp tâm thu từ 20-30 độ, huyết áp tâm trương từ 10 tới 20 độ.

 4-TỎI VÀ BỆNH CÚM.

Trong các dịch cúm vào đầu thế kỷ trước, dân chúng đã dũng tỏi để ngăn ngừa sự lan tràn của bệnh này. Y học dân gian nhiều nước đã chữa cảm cúm bằng cách thoa tỏi tươi mới cắt vào b  \ Trong dịch cúm ở Liên Xô cũ vào năm 1965, dân Nga đã tiêu thụ thêm trên 500 tấn tỏi để ngừa cúm. Trước đó, vào năm 1950, một bác sĩ người Đức đã công bố là tinh dầu tỏi có khả năng tiêu diệt một số vi sinh có hại mà không làm mất những vi sinh vật lành trong cơ thể.

Bác sĩ Tarig Abdullah ở trung tâm nghiên cứu tại Tampa, Florida, công bố năm 1987 là tỏi sống và tỏi chế biến đều làm tăng tính miễn dịch của cơ thể với vi trùng, ngay cả HIV và làm giảm nguy cơ vài bệnh ung thư. Cá nhân ông ta đã liên tục dùng mấy nhánh tỏi sống mỗi ngày từ năm 1973 và chưa bao giờ bị cảm cúm.

Từ năm 1950, bác sĩ J. Klosa bên Đức đã dùng tỏi để chữa lành những bệnh đau cuống họng, sổ mũi, ho lạnh. Ông ta vừa cho bệnh nhân uống vừa ngửi tinh dầu tỏi. Theo ông ta, đó là nhờ chất Alliin trong tỏi.

Trong bệnh cảm cúm, bệnh nhân thường sưng cuống phổi, bị ho, sổ mũi. Bác sĩ Irvin Ziment, California, nhận thấy tỏi có thể làm giảm những triệu chứng trên, làm bệnh nhân bớt ho, long đàm, thở dễ dàng và không bị nghẹt mũi. Theo vị thầy thuốc này thì vị hăng cay của tỏi kích thích bao tử tiết ra nhiều dịch vị chua; dịch vị này chuyển một tín hiệu lên phổi khiến phổi tiết ra nhiều dung dịch lỏng làm long đờm và đưa ra khỏi phổi.

Các bác sĩ bên Ba Lan trước đây dùng tỏi để trị bênh suyễn và viêm phổi ở trẻ em

5-TỎI VÀ UNG THƯ.

Hiện nay đang có nhiều nghiên cứu coi xem tỏi có công dụng trị ung thư ở người như kết quả nhận thấy ở động vật trong phòng thí nghiệm hay không.

Từ năm 1952, các khoa học gia Nga Sô Viết đã thành công trong việc ngăn chặn sự phát triển của một vài tế bào ung bướu ở chuột.

Thí nghiệm ở Nhật Bản cho hay tỏi có thể làm chậm sự tăng trưởng tế bào ung thư vú ở loài chuột và tỏi có chất oxy hóa rất mạnh để ngăn chặn sự phá tế bào do các gốc tự do gây ra.

Tại viện Ung Thư M.D. Anderson, Houston, các bác sĩ đã cứu một con chuột khỏi bị ung thư ruột già bằng cách cho uống chất Sulfur trong tỏi. Viện Ung Thư Quốc Gia Hoa Kỳ đang đặt trọng tâm vào việc nghiên cứu khả năng trị bệnh ung thư của hóa chất sulfur này.

Nghiên cứ tại Trung tâm Y khoa Sloan Kettering  cho hay nước chiết của tỏi có thể chăn sự tăng trưởng tế bào ung thư nhiếp hộ tuyến.

6-TỎI DÙNG LÀM THUỐC KHÁNG SINH.

Từ lâu, dân chúng tại nhiều quốc gia trên thế giới đã dùng tỏi để chữa một số bệnh gây ra do vi khuẩn như kiết lỵ, bệnh tiêu chẩy, bệnh thương hàn, viêm cuống họng, mụn nhọt ngoài da, thối tai và tỏi được gọi là thuốc kháng sinh dân tộc.

Trong hai thế chiến, tỏi được dùng để chữa vết thương cho binh sĩ tại chiến trường. Người ta cũng dùng tỏi để trị vết thương do côn trùng, rắn cắn. Nông dân, thợ săn đều mang theo tỏi phong hờ khi bị các sinh vật này cắn thì tự chữa.

Năm 1858, nhà bác học Pháp Louis Pasteur (1822 – 1895) đã chứng minh được công dụng diệt vi khuẩn của tỏi.

Năm 1944, nhà hóa học Chester J. Cavallito, làm việc cho công ty hóa chất Winthrop  ở Hoa Kỳ, đã phân tích được hóa chất chính trong tỏi có công dụng như thuốc kháng sinh. Đó là chất Allicin, chỉ có trong tỏi chưa nấu hay chế biến. Kháng sinh này mạnh bằng 1/5 thuốc Penicilin và 1/10 thuốc Tetracycline, có tác dụng trên nhiều loại vi khuẩn, xua đuổi hoặc tiêu diệt nhiều sâu bọ, ký sinh trùng, nấm độc và vài loại virus.

Theo nhiều nghiên cứu, allicin có tác dụng ức chế sinh trưởng vi khuẩn nhiều hơn là diệt chúng. Nói một cách khác, chất này không giết vi khuẩn đã có sẵn mà ngăn chặn sự sinh sôi, tăng trưởng và như vậy có thể ngừa bệnh, nâng cao tính miễn dịch, làm bệnh mau lành.

Nghiên cứu tại Brazil năm 1982 đã chứng minh là nước tinh chất của tỏi có thể chữa được nhiều bệnh nhiễm độc bao tử, do thức ăn có lẫn vi khuẩn, nhất là loại Salmonella. Các nghiên cứu tại Đại Học California ở Davis cũng đưa đến kết luận tương tự. Ngoài ra, tỏi cũng được dùng rất công hiệu để trị bệnh sán lãi, giun kim, các bệnh nấm ngoài da…

Một nhà nghiên cứu đã hào hứng tuyên bố rằng “ tỏi có tác dụng rộng rãi hơn bất cứ loại kháng sinh nào hiện có. Nó có thể diệt vi trùng, nấm độc,siêu vi trùng, ký sinh trùng lại rẻ tiền hơn, an toàn hơn vì không có tác dụng phụ và không gây ra quen thuốc ở vi trùng”.

Giáo sư Arthur Vitaaen (1895-1973), người đoạt giải Nobel năm 1945, cũng đồng ý như vậy.

Do đó ta không lấy làm lạ là trong Thế chiến thứ nhất, các bác sĩ Anh quốc đã dùng tỏi để chữa vết thương làm độc.

Thực tế ra, tỏi được dùng với những nhiễm độc nhẹ, không nguy hiểm tới tính mạng. Còn các trường hợp nhiễm trùng cấp tính và trầm trọng thì không thể dựa vào các loại “kháng sinh thực vật” này.

7-TỎI VÀ TUỔI THỌ.

Theo dân chúng vùng Ukraine, ngâm nửa kí tỏi cắt hay giã nhỏ bỏ vào nước vắt của 25 quả chanh, để qua đêm rồi mỗi ngày uống một thìa pha với nước lạnh, trong hai tuần sẽ thấy trẻ khỏe ra. Các nhà văn Ukraine nói thêm rằng  uống thường xuyên rượu tỏi thì con người sẽ cảm thấy trẻ trung.

Nhiều vị cao niên Việt Nam cũng thường uống rượu ngâm với tỏi, tin tưởng là sẽ được cải lão hoàn đồng, kéo dài tuổi thọ. Họ nghiền khoảng 200 gr tỏi tươi, ngâm trong 300gr rượu mạnh, để vào nơi mát trong hai tuần rồi uống trước mỗi bữa ăn chừng năm tới mười giọt .

Ở vùng Balkan, số người thọ trên 100 tuổi rất cao và được giải thích là họ nhai nhiều nhánh tỏi mỗi ngày.

Ngoài ra, Tỏi còn một số công dụng khác như:

Nhà thiên nhiên học La Mã Pliny viết rằng tỏi mà đưa cay với rượu vang thì con người làm tình rất điệu nghệ. Do đó dân chúng La Mã ăn nhiều tỏi và coi tỏi là thuốc kích thích tình dục.

Nghiên cứu mới đây ở loài chuột cho thấy tỏi có thể có tác dụng tốt trên các chức năng của não bộ, tăng trí nhớ và có thể nâng cao tuổi thọ.

Theo bác sĩ Paavo Airola, một nhà chuyên môn dinh dưỡng tại Phoenix, Arizona, tỏi với các hóa chất sulfur của nó, có thể chữa được bệnh mụn trứng cá, bệnh khí thũng phổi làm khó thở, khó tiêu bao tử, táo bón, cảm lạnh.

Các nghiên cứu của bác sĩ D Sooranna và I Das bên Luân đôn cho hay dùng tỏi khi mang thai có thể làm giảm nguy cơ tiền sản giật , ( cao huyết áp và đạm chất trong nước tiểu ) và làm trẻ chậm lớn được mau lên cân hơn.

Và cuối cùng là một nghiên cứu ở Monnel Chemical Senses Center, Philadelphia, cho biết là  khi mẹ ăn tỏi, con sẽ bú sữa mẹ lâu hơn và nhiều hơn vì tỏi làm tăng khẩu vị của em bé.

Bác sĩ Nguyễn Ý Đức

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở BS Nguyễn Ý Dức : TỎI và Sức Khoẻ

Mai vẫn nở trên điêu tàn của Huế

Mai vẫn nở trên điêu tàn của Huế

Trần Văn Thuận

product2691513819609

Sau gần hai tháng giao tranh đẫm máu, cố đô Huế đã được tái chiếm.  Sau một thời gian ngắn, Ba Mạ tôi dọn hẳn về Sài Gòn, vì nơi cả gia đình sinh sống bao năm, cùng với bốn căn nhà cho thuê đã thành gạch vụn. Riêng tôi, ở lại vì đang theo học tại Viện Đại Học Huế.

Tôi tạm quen dần với đời sống tự do bất ngờ cùng với vài người bạn thân cũng bám trụ ở Huế: Trí, con út dì ruột tôi và cũng là người bạn chí thân của tôi, một người yêu chuộng hòa bình, tiếp tục sự nghiệp “Make Love, Not War”.

Lớn hơn tôi hai tuổi và nhỏ hơn anh kế tôi hai tuổi, Trí chơi thân với cả hai anh em. Không có tâm sự nào của y mà tôi không biết và ngược lại, chuyện vui, buồn, tốt, xấu, hay, dở của tôi Trí cũng đều hay.

Tôi thường nói đùa với Trí: “Ngày nào nếu tao trở thành Tổng Thống, tao sẽ cho mi hai lựa chọn: Một là làm Cố Vấn An Ninh cho tao, hai là đi “mò tôm”, vì mày lỡ biết quá nhiều!”

Kế đến là Sử, cựu đệ tử Dòng Chúa Cứu Thế Huế, đang học Dự Bị Văn Khoa Ban Anh Văn. Sử người gốc Quảng Trị, thích thể thao, tánh khí hồn nhiên, lạc quan, hiền lành, tiếu lâm.

Sau cùng là Tuấn, một bạn tương đối mới, đang học Dự Bị Y Khoa. Ngoài những giờ sinh hoạt riêng ở trường, bọn tôi hay tập họp ở phòng của Trí, ở lầu hai của biệt thự đang để trống của ông anh rể, gần Cư Xá Xavier của các Cha Dòng Tên.

Căn biệt thự hai tầng bề thế trước đây, nay bị thiệt hại nặng nề, vách tường đổ nát, cầu thang rã rệu, tầng trên gần như không còn, duy chỉ có căn phòng của Trí là còn tạm thời đứng vững, nằm vất vưởng, cheo leo như một chuồng cu. Diện tích phòng cũng vừa đủ cho một cái giường và vài thứ lặt vặt.

Tuy còn độc thân, vui tính, nhưng sinh hoạt của bọn tôi lúc đó, có thể xem là khá lành mạnh. Đúng ra, cũng chẳng phải bọn tôi thánh thiện gì, chẳng qua là chẳng thằng nào có đủ tiền để…hư thân, mất nết. Rảnh rỗi bọn tôi đàn hát, đùa giỡn. Nhậu nhẹt cũng chút chút, vì không có khả năng nhậu xỉn hơn. Thỉnh thoảng bọn tôi cũng xây sòng, nhưng thay vì ăn tiền, bọn tôi ăn cà rem cây. Bọn tôi mua nguyên thùng, lúc đầu, ai thắng, được cây kem; ăn ớn tới họng rồi, luật chơi đổi: Ai thua, ăn cây kem.

Riêng việc cơm nước thì thả nổi, khi tự túc, khi đóng góp ăn chung, khi cơm “nhà”, khi ghé ăn cơm ở Cantine Cư Xá Xavier. Bàn cơm không lấy gì làm thịnh soạn mà có đến bốn đứa muốn ăn ngon! Cách giải quyết tốt nhất là rút bài: Đứa nào hên được bài lớn, chọn món ngon nhất, và cứ tuần tự cho đến thằng xui xẻo nhất, đành vừa chửi thề vừa húp canh.

Thời đó, khi cần, tôi có thể “báo cơm” với bà Toán, người giữ nhà. Tôi khoái nhất là món cá nục con kho tiêu, cộng thêm món tương ớt bà tự làm lấy, thật đặc biệt. Ăn mãi không thấy no. Đúng là “Cơm với cá như Mạ với con”, một câu ca dao Ba tôi hay nói.

Trong khi chờ đợi thông báo của Viện ĐH Huế về việc đi học trở lại, tôi quyết định nộp đơn gia nhập Không Quân, sau khi tạm thời được “độc lập tự do”. Thư khiếu nại của Mạ tôi, cộng thêm sự phản kháng thầm lặng của cô bạn gái khiến tôi bỏ ý định.

Những ngày sau, chúng tôi được thông báo các nam sinh viên sẽ phải tham dự chương trình huấn luyện Quân Sự trong vòng một tháng. Đó là lần đầu tiên chương trình Quân Sự Học Đường được áp dụng trên Đại Học toàn quốc và tiếp tục duy trì những năm sau đó.

Chương trình Huấn luyện thường bắt đầu lúc 8 giờ sáng và chấm dứt khoảng 4 giờ chiều. Thời gian này, các trung tâm tỵ nạn đã đóng cửa để trả lại phòng ốc cho các trường học. Sau buổi tập, nếu không hẹn đi thăm bạn gái, tôi thường ham vui theo đám bạn, chạy lòng vòng, theo “nghễ” mấy cô Đồng Khánh. Đi “nghễ”, một từ rất Huế, là đi ngắm các cô, một sinh hoạt phổ biến của con trai, không riêng gì ở Huế.

Vì vậy, dù đã có bạn gái, và dù không có bất cứ dự tính “đen tối” nào, mỗi khi rảnh rỗi, tôi vẫn theo Trí và Sử lượn ngang, lượn dọc theo đường Lê Lợi, để ngắm mấy cô nữ sinh áo trắng tan học, tung tăng như bầy bướm.

Giờ nhìn lại, quả tình thấy mình đã đùa với lửa mà không hay! Không phải lửa thường, mà là lửa từ trời, là “Tích lịch Hõa”. Những người tuổi Kỷ Sửu như tôi mạng Tích lịch Hõa, có nghĩa là lửa do sấm sét, chứ không phải lửa bếp, lửa than.

Dòng điện sấm sét có thể lên đến 100 triệu, hoặc có thể tới một tỷ volt. Những chuyển biến tình cảm đột ngột đó thật nguy hiểm, nên người Pháp mới gọi là “Coup de foudre”, tiếng Việt mình thì gọi là “Tiếng sét ái tình”.

Một buổi chiều, cũng như những buổi chiều khác, sau giờ tập quân sự, tôi theo mấy thằng bạn ra bến đò Thừa Phủ, nơi một số các nữ sinh Đồng Khánh ở phía Tả Ngạn, sau giờ tan trường, thường đón phà, hoặc đò qua sông, vì cầu Trường Tiền đã bị giật sập mất “vài” giữa.

nu-sinh-dong-khanh

11-2

Trong đám đông lố nhố, tôi bất chợt bắt gặp một đôi mắt, một đôi mắt câm lặng, thật lớn, thật ướt và thật buồn! Điều kỳ lạ là chủ nhân của đôi mắt ấy lại là một cô bé, mà trông cô ta bé thật. Thoạt nhìn, tôi đoán cô bé không quá tuổi 16 và chắc học đệ Ngũ đệ Tứ là hết cỡ.

Ở lứa “tuổi ô mai”, tuổi của vô tư, của mộng mơ, nhí nhảnh, vậy mà sao đôi mắt ấy có thể buồn đến vậy? Dáng người nhỏ nhắn, xinh xắn, khá gầy, tóc thề chấm vai. Bắt gặp bị nhìn trộm, đôi mắt tránh vội sau vành nón. Và cứ thế, hai ánh mắt, một bám chặt như đinh đóng, một tránh né, rụt rè.

Tránh né nhưng không nghiêm khắc, khó chịu; rụt rè nhưng không hoảng sợ, cuống quýt. Tôi thẫn thờ đứng đó cho đến khi “cô-bé-mắt-buồn” (CBMB) lên được chuyến phà kế tiếp. Tôi dõi mắt nhìn theo. Châm điếu thuốc, hít một hơi thật sâu, tôi thắc mắc: Tại sao giữa đám người đông đúc, tôi chỉ nhìn thấy độc có đôi mắt buồn?

Điều gì đã xảy ra khiến lòng tôi như dậy sóng? Tôi nhớ câu thơ của Quang Dũng trong bài “Đôi mắt người Sơn Tây”: “Đôi mắt người Sơn Tây/ U uẩn chiều lưu lạc/ Buồn viễn xứ không khuây…” Đôi mắt buồn mãi theo tôi từ hôm đó!

Nạn nhân vô tội của tiếng sét quái ác kia là cô bạn gái của tôi. Cô vẫn hồn nhiên, vui vẻ, không hay biết và cũng chưa cảm nhận được rằng có một điều gì đó đã xảy ra. Nói cho đúng, vào lúc đó, chưa có điều gì đã thật sự xảy ra. Sấm sét, giông bão có chăng là chỉ mới dấy khởi trong lòng tôi. Sau gần hai, ba tuần lể theo dính như cái đuôi, tôi còn chưa biết đến tên CBMB nữa là…?

Thế rồi, tháng huấn luyện Quân Sự Học Đường cũng chấm dứt. Chúng tôi trở lại trường, tiếp tục chương trình bị dang dở vì chiến cuộc. Tôi gặp lại cô bạn gái đều đặn mỗi ngày. Càng gặp, tôi càng mặc cảm mình đã làm điều sai trái, dù điều “sai trái” chỉ mới manh nha.

Tôi không quen lừa dối, cũng không thích lừa dối. Tôi không có tính tham lam, cũng không thích tham lam. Nhưng giờ đây, làm sao chối bỏ điều tôi là người vừa tham lam, vừa lừa dối?

Sau bao ngập ngừng, dằn vặt, tôi quyết định là không thể và không nên kéo dài tình trạng mập mờ nữa. Phải có sự lương thiện tối thiểu, phải lấy hết can đảm để “thú tội”, rằng tôi không còn xứng đáng sự tin cậy của nàng nữa.

Có lẽ, đây là một trong vài trường hợp hiếm hoi trong đời, tôi đã tự trách mình thậm tệ. Nàng bỏ học hai ngày. Lúc trở lại, mắt vẫn còn đỏ hoe. Tôi ghét tôi vô cùng tận, không những lúc đó, mà ngay cả bây giờ, mỗi khi nhớ lại.

Không còn bị lương tâm cắn rứt, tôi yên tâm làm cái đuôi ngoan ngoãn của CBMB. Tôi cũng đã biết được thêm một vài tin tức, không phải trực tiếp từ đương sự, mà là tin tình báo từ mấy tên bạn, qua các cô bạn mới mà bọn nó đang ráo riết theo đuổi. Cô bé mang họ Hoàng, Hoàng Thị T., học lớp Đệ Nhị C.

Việc “theo” Hoàng Thị cũng có vài thay đổi: thay vì chỉ khắc khoải chờ đợi ở bến phà, nay tôi còn tìm cách nới rộng “địa bàn hoạt động”. Tôi theo nàng qua tận bên kia sông, nơi nàng gửi xe, rồi từ đó, lẽo đẽo theo sau, đến tận nhà nàng, ở mãi tận Bãi Dâu, một vùng đất mà mới cách đó vài tháng, trong thời gian biến động, đã nổi tiếng với các vụ lùng sục, bắt bớ của các Tòa Án Nhân Dân mà chánh thẩm không ai khác hơn là “Thầy” Hoàng Phủ Ngọc Tường, một nhà mô phạm đã lột xác biến thành đao phủ. Các bản án tử hình được đọc và thi hành một cách vội vã, không có sự hiện diện của bất cứ Luật Sư biện hộ nào.

Trước đây, tôi chỉ biết đến đường Chi Lăng, khu Gia Hội, vì thỉnh thoảng đi xem phim tại rạp Châu Tinh và Gia Hội, nhưng chưa bao giờ có dịp đặt chân đến khu Bãi Dâu. Những lần đầu khi theo đuôi Hoàng Thị đến khu này, tôi vẫn thấy rờn rợn như đi vào bãi tha ma. Cũng may có Trí luôn theo hộ tống, nên tôi cũng bớt rét.

Nghĩ lại, tôi thấy mình thật ngu ngơ: đi tán “người ta” mà lại chở theo thằng bạn ngồi lù lù phía sau, hỏi sao người ta không hãi? Chắc vì vậy mà dọc đường, Hoàng Thị vẫn luôn giữ im lặng, mắt luôn nhìn thẳng đàng trước, nhứt định áp dụng chiến thuật “không nghe, không thấy, không nói” trước những câu hỏi vớ vẩn làm quen của tôi.

Một hôm trên đường về, trời đổ mưa bất chợt, không biết sao hôm đó tôi lại có đến hai cái áo mưa, mà nàng thì không có cái nào. Đúng là dịp may hiếm có để tôi “tiếp cận” người đẹp. Nhưng mặc cho tôi năn nỉ, nàng vẫn một mực lắc đầu từ chối, mặc cho mưa thổi tạt ướt như chuột lột. Cũng may, tôi vốn là kẻ yêu mưa từ trong bụng mẹ, nên được dịp, tôi vui vẻ, nếu không nói là hoan hỷ, theo nàng đội mưa. Và cứ thế, trời nắng hay mưa, ngay cả lúc giông bão, cây gẫy, ngói bay…lúc nào cũng có tôi, mong ngóng, chờ đợi, không nản chí.

Thế mới biết khi yêu, con người có thể trở nên kiên nhẫn, lì lợm. Dù vậy, trước sự câm lặng khá lì lợm của CBMB, đôi khi tôi cũng phải tự hỏi: phải chăng mình đang theo đuổi một bóng ma?

Nhà nàng nằm trong một con hẻm cụt. Thêm một trở ngại. Tuy thế, đó chỉ là chuyện nhỏ. Tôi tìm cách “tán” luôn anh chàng SV Khoa Học tên Thắng, nhà ở ngay cuối hẻm. Thế là từ đó tôi “danh chánh ngôn thuận” ra vào con hẻm, vô ra ngõ thường hơn, thoải mái hơn, nhất là vào những ngày nàng nghỉ học.

Dù không diện kiến, ít ra, tôi cũng vẫn hít thở được khoảng “không gian” của nàng. Nếu may mắn, tôi có thể nhìn thấy nàng hiện ra ở khung cửa sổ phòng nàng trên căn gác lửng, dưới tàng cây vú sữa, tóc xỏa dài, mắt buồn, lặng lẽ nhìn xuống.

Với tôi, hình ảnh nàng vào giây phút đó, là hình ảnh của một Thánh Nữ, tinh khiết, tuyệt vời, dù hơi u uẩn. Từ một mẫu người rất “đàn ông”, mạnh dạn, chủ động, cứng rắn, tôi bỗng hạnh phúc đóng vai Đoàn Dự, một nhân vật tôi rất yêu thích trong Thiên Long Bát Bộ, người đã thành khẩn dập đầu đến tươm máu, trước vẻ đẹp xuất phàm của pho thạch tượng mỹ nữ. Trong giây phút ngắn ngủi, đôi mắt chạm nhau không tránh né, tôi đã cảm nhận trọn vẹn niềm hạnh phúc tuyệt vời nàng ban cho.

Rồi niên học chấm dứt, Hoàng Thị thi đỗ kỳ thi Tú Tài Bán Phần. Ngày có kết quả, không phải thí sinh mà cũng chẳng phải thân nhân, tôi hăng hái chen lấn trước khung niêm yết. Tên nàng kèm với ngày sinh nằm nơi gần cuối bảng. Tôi lại đoán sai: CBMB chỉ nhỏ hơn tôi chưa tới một tuổi.

Còn tôi, kết quả kỳ thi cuối năm đã khiến tôi giật mình. Trong nhóm ba đứa bạn chơi thân cùng học Dự Bị, chỉ có mình tôi may mắn đỗ kỳ thi cuối năm. Sử rớt DB VK Anh Văn, Tuấn rớt DB Y Khoa. Riêng Trí thì vẫn tiếp tục “tàng tàng” chống chiến tranh! Thế là “Liên Minh” tan rã: Sử gia nhập trường Chiến Tranh Chính Trị Đà Lạt, Tuấn tình nguyện vào Hải Quân.

Được tin tôi thi đỗ, gia đình thúc hối tôi vào SG để thi vào ĐHSP. Tôi miễn cưỡng chấp thuận và tự trấn an: Thôi thì cứ đồng ý. Vào đó cố tình thi “quấy quá” để rớt. Rớt rồi, tôi sẽ có lý do chánh đáng để xin trở về học tiếp ở ĐHSP Huế. Làm sao có thể rời xa “Pho thạch tượng” của tôi được, dù cho đến giờ này, nàng vẫn chưa bày tỏ một dấu hiệu cụ thể nào để làm tin?

Hai ngày trước khi lên máy bay rời Huế, tôi quyết định đến gặp nàng. Tôi thu nhặt mấy cuốn sách Triết lớp Đệ Nhất của tôi trước đây, viết vội trên một miếng giấy nhỏ vài hàng, đại khái báo cho nàng biết tôi sẽ rời Huế vào ngày… và ngỏ ý muốn được gặp nàng, ngày mai, lúc một giờ trưa, ở ngay đầu hẻm. Tôi cẩn thận kẹp miếng giấy vào cuốn Tâm Lý Học. Lần này, thay vì chạy lướt qua, tôi lấy hết can đảm quẹo xe vào nhà nàng. Hình như nàng đang giúp Mẹ làm gì ở sân trước. Thấy tôi xuất hiện khá đột ngột, đôi mắt buồn bỗng mở to, với một thoáng ngạc nhiên, thắc mắc.

Có một biến đổi nhẹ nhàng trên khuôn mặt, tôi đoán là một nụ cười. Không hốt hoảng như tôi đã dự đoán, nàng nhìn thẳng vào mắt tôi, khẽ hỏi: “Ông đi mô đây?” Tôi giật mình bởi tiếng “Ông”, vừa lạnh lùng, vừa xa lạ, nhưng cố gượng cười, tôi cho nàng biết là tôi mang mấy cuốn sách Triết đến cho nàng mượn.

Nàng quay lại cười cười với mẹ rồi nói: “Anh con nhỏ bạn cùng lớp mang cho con mượn mấy cuốn sách.” Sau đó, nàng mời tôi vào nhà, kêu tôi ngồi xuống và đi vào trong lấy nước. Từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác, trước đây, tôi đã đoán sai tuổi, sai lớp, và giờ đây, tôi lại đoán sai cả phản ứng của nàng, trước sự đột nhập của tôi.

Không ở chơi lâu, tôi chỉ chia vui với nàng vừa thi đỗ và mang mấy cuốn sách năm tới nàng có thể sẽ cần đến. Trong lần gặp gỡ ngắn ngủi đó tôi không nhớ đã nói cho nàng biết tôi sẽ rời Huế. Có lẽ tôi nghĩ tờ giấy nhỏ kẹp trong sách sẽ thay tôi làm điều này. Phần nàng, mặc dù cũng có nói chuyện chút chút, lịch sự, nhưng một tiếng “Ông”, hai tiếng “Ông” như cố tình vạch một lằn ranh, không muốn tôi vượt quá. Tôi ra về, lòng thắc mắc.

Ngày hôm sau, hồi hộp đến điểm hẹn, tôi tự hỏi: Nàng đến hay không? Với tôi, đến hay không sẽ giúp tôi biết được lòng nàng trước khi tôi rời Huế. Dù sao, tôi cũng đã chuẩn bị một món quà nhỏ, nhưng mang nặng giá trị biểu tượng: Một trái tim tôi tự cắt đẽo, từ một miếng quế (Quế là tên nàng ở nhà). Miếng quế dày khoảng hơn 1cm và là món quà của mấy anh lính Thiết Giáp đã lén lấy và đem tặng gia đình tôi, khi trấn giữ Dinh Cậu Cẩn trong dịp đảo chánh TT Diệm.

Đúng một giờ, vẫn trong tà áo dài trắng, CBMB lững thững đạp xe ra khỏi ngõ. Tôi hoan hỷ như vừa trúng số độc đắc. Chưa kịp biểu lộ mừng rỡ, tôi thấy nàng trợn mắt ra vẻ ngạc nhiên khi trông thấy tôi: “Ông đi mô mà giờ ni ở đây?” Đúng là con gái Huế, đã đến chỗ hẹn với người ta rồi, mà còn làm bộ mắc cở hỏi này, hỏi nọ! Tôi nghĩ thế và cười chọc lại: “Thấy buồn buồn, không biết đi mô, nên đến đứng đây chơi. Còn T., đi mô mà nắng nôi rứa?” Nàng mau mắn trả lời: “T. qua Bưu Điện gửi thư”. Rồi cũng như mọi khi, người rồ xe, người lọc cọc đạp xe bên nhau, giữa đường phố ít người. Lòng tôi ngổn ngang tâm sự và lời lẽ thì thưa vắng.

Bình thường tôi lí lắc, thông minh, hoạt bát, tiếu lâm. Bên cạnh CBMB, tôi như người cụt lưỡi, biến thành Đoàn Dự, vụng về, bị động, cù lần! Có phải “dòng điện siêu cao thế” trong phút chốc đã biến đổi não trạng của những thằng bị “sét đánh” như tôi?

Đối tượng bỗng chốc trở thành Tiên Thánh, riêng bản thân, trở nên thuần thành như một tín đồ, cộng chút vụng về, ngốc nghếch. Người ta tán tỉnh, chinh phục người thương. Có ai tán tỉnh, chinh phục Tiên Thánh bao giờ?

Trên đường về, tôi gợi ý mời nàng cùng ghé uống nước chanh đá ở một quán ven đường. Nàng cười mỉm, lắc đầu. Đi loanh quanh, rồi cuối cùng cũng về gần tới ngõ, tôi lặng lẽ móc túi, lấy trái tim quế, mà trước đó tôi đã đục một lỗ nhỏ và xâu giây, với tay qua và móc vào guidon xe nàng.

Phải nói, tôi hơi thất vọng về lần hẹn hò đầu tiên. Tôi có cảm tưởng như có một làn sương mỏng luôn bao phủ quanh nàng, luôn ngăn cản, không cho phép tôi được thật sự đến gần. Mà tôi đâu còn thời gian nữa, ngày mai tôi đã phải rời xa nơi chốn này rồi! Theo thuyết nhà Phật, phải chăng đây là “quả báo nhãn tiền” tôi phải trả cho sự sai trá của tôi đối với cô bạn gái?

Khi đặt chân đến Sài Gòn, tôi vui mừng được gặp lại Ba Mạ cùng gia đình Anh Chị, nhưng chút tình dang dở để lại Huế vẫn là niềm ám ảnh khôn nguôi. Tôi viết vội vài hàng thăm Hoàng Thị, báo cho hay tôi đã đến nơi bình yên, và luôn nghĩ đến nàng.

Khoảng mười ngày sau, tôi nhận được thư hồi âm. Cầm thư trên tay, nhìn thấy tên nàng, tim tôi đập loạn xạ. Ôm thư chạy vội lên gác, phóng lên giường, với tay lấy chăn đắp, chẳng khác gì khi còn bé, vào những đêm đông mưa lạnh, tôi hăm hở nhảy lên giường trùm chăn kín, một gói đậu phụng rang còn nóng hổi giấu vội trong túi áo.

Lá thư này, với tôi, là chứng tích đầu tiên, thấy được, sờ được, sau bao ngày mong đợi. Trên nền giấy trắng, nét chữ bằng mực tím, mạnh dạn nhưng lả lướt, khác hẳn con người nhỏ nhắn, rụt rè, đã kích thích tôi đến ngộp thở. Tôi vẫn còn nhớ cái cảm xúc tuyệt vời của giây phút đó. “Trước hết, xin được phép thay thế tiếng “Ông” xa lạ bằng tiếng “Anh”, lá thư mở đầu.

Trong thư, nàng kể lại một sự kiện thật lạ lùng: Sau lần chót gặp tôi ở đầu ngõ, liên tiếp hai ngày không thấy tăm dạng, mãi thắc mắc vì sự vắng bóng của chiếc xe Honda màu đen, mỗi ngày vẫn thường lượn qua lại trước nhà. Ngồi buồn, lơ đãng lật mấy cuốn sách Triết tôi mang “cho mượn” bổng nhiên, một tờ giấy nhỏ rớt xuống. Vội vã nhặt lên, nàng mới hay đó là lời nhắn gửi tôi đã kẹp vào trang sách, báo nàng biết tôi sắp phải rời xa Huế. Nàng đã bật khóc! “Đọc được những dòng chữ đó khi anh đã xa ngút ngàn…”

Nàng kể: Trước ngày tôi đi, tự nhiên nàng cảm thấy một cái gì đó thôi thúc khiến nàng vội lấy xe đi ra ngoài, tiện thể ghé Bưu Điện bỏ thư. Vì vậy khi gặp tôi đứng đợi ở đầu hẻm, dưới nắng trưa, nàng hết sức ngạc nhiên. Không phải giả vờ vì mắc cỡ như tôi đã nghĩ oan cho nàng. Thì ra thần giao cách cảm là chuyện có thật. Đó không phải là lần duy nhất.

Có gì đâu một lá thư, giấy như giấy trắng,
Mực như mực thường.
Cũng chưa một chữ rằng thương,
Mà tôi đọc cả đêm trường sang mai.
Không nhớ nữa, ngắn hay dài?
Hình như tôi đọc cả ngoài trang thư…”

Sáu câu thơ lục bát tuyệt vời của một nhà thơ nào đó, rất tiếc tôi đã quên tên, đã nói lên trọn vẹn nỗi cảm xúc của tôi, khi nhận được lá thư đầu tiên của CBMB. Nhưng rồi sau đó, tôi phần nào thất vọng khi biết mình vừa trúng tuyển vào ĐHSP Sài Gòn. Thì ra cái bản năng háo thắng, muốn thi đỗ của tên thí sinh, dường như đã lấn lướt, chiến thắng cái âm mưu thi quấy quá của tên si tình, thi rớt để được trở vể với người tình sầu mộng.

Nhịp độ trao đổi thư khá đều đặn trong sáu, bẩy tháng sau đó. Trong mỗi lá thư, ngoài những nỗi niềm mong nhớ, tôi hay kể nàng nghe những sinh hoạt hằng ngày của mình: về ngôi trường Sư Phạm, Thầy Cô, bạn bè, mới có, cũ có…

Hiển nhiên là tôi không hề đả động gì đến việc trong số bạn cũ, có luôn cô bạn gái của tôi ở Văn Khoa trước đây. Tôi kể về câu lạc bộ của Trường, nơi thỉnh thoảng tôi vẫn hay lại ăn bánh cuốn, uống sửa đậu nành; về Nhà Thờ Tân Định, nơi tôi vẫn đi lễ hàng tuần; về quán cà phê Lan Anh, nằm ngay sát cạnh nhà thờ, đối diện với Bưu Điện Tân Định, với khoảng sân có tàng cây che mát, nơi mà Trí với tôi vẫn thích ngồi cuối tuần, vừa nhâm nhi cà phê, vừa nhìn ông đi qua, bà đi lại…

Phần nàng, mỗi lá thư đều mang một nỗi buồn man mác, mà tôi lờ mờ, không đoán nổi nguyên nhân. Thuở đó, tôi đã ngốc, mà nàng cũng chẳng khá gì hơn. Nàng buồn nản chắc tại nổi hụt hẩng, nhớ thương. Nhưng sao nhớ thương mà hổng nói đại ra cho người ta ấm lòng?

Tôi vẫn mong nghe được hai tiếng yêu thương từ CBMB của tôi. Tôi mong đợi một cái gì rõ ràng, cụ thể. Phần nàng thì lại thích gửi đi ẩn số, tín hiệu, mà toàn là loại tín hiệu phức tạp, mà một thằng loại “sét đánh” như tôi không thể nào giải mã được.

Tôi nào khác gì dân tộc Do Thái, vẫn ngày đêm mong đợi Đấng Cứu Thế, trong lúc Ngài đã đến, đã chết đi và đã sống lại về Trời. Cái ngu ngốc là ở chỗ đó: Cờ nắm trong tay mà cứ loay hoay tìm kiếm.

Cứ vậy cho đến một ngày, bổng nhiên thư nàng không đến nữa. Tôi quay quắt, thắc mắc không biết điều gì đã xảy ra? Thư đi thì có, thư hồi âm thì không. Thời đó, trở ngại không gian là cả một vấn đề. Bưu Điện nhãn hiệu “Con Rùa” là phương tiện duy nhất để liên lạc. Những tình cảm nóng hổi “vừa thổi vừa viết”, những trăn trở, thổn thức, lúc đến tay nhau, đã trở thành nguội lạnh, quá “đát”. Hai ba lá thư gửi đi không kết quả, tôi chán nản, mệt mỏi đầu hàng! Tưởng Tích lịch hỏa là lửa trời, là thiên thu, bất tận, nào ngờ cháy lẹ còn hơn cả lửa rơm!

Sau một thời gian giao động, ấm ức, mọi chuyện rồi cũng đi dần vào quên lãng. Vết thương cũ cũng đã thành thẹo. Mùa Hè năm 1970, tôi may mắn hoàn tất Cử Nhân Giáo Khoa Pháp Văn sớm hơn dự định và cũng vừa chấm dứt một mối tình khác, chưa đầy năm, với Bonnie, cô bạn gái hiền lành, dễ thương, văn nghệ, với dáng vẻ Hippy choi choi, ban Anh Văn.

Một ngày cũng khoảng tháng Mười năm đó, giữa trưa rực nắng, tôi rủ Trí lấy xe chạy lên Sài Gòn. Để làm gì? Thật tình tôi không nhớ rõ. Mà ở tuổi đó, hô đi là đi, cần gì lý do? Trí làm tài xế, tôi ngồi phía sau. Đang chạy ngang đoạn đường Nguyễn Huệ, ngay ngã tư Lê Lợi, mắt nhìn lơ đãng đám người đang vội vã băng qua đường, tôi bàng hoàng nhìn thấy một bóng dáng thật quen thuộc!

Không thể sai được, đúng nàng rồi, đúng CBMB của tôi rồi! Tim tôi nhảy thình thịch, mau chóng bắt lại “nhịp đập cũ”. Tôi vừa la, vừa thụi mạnh vào lưng Trí: “Ê Trí, dừng, dừng lại!” Trí thắng nhanh, trợn mắt quay lại, nhìn tôi thắc mắc. Trong hơi thở dồn dập, tôi nói: “Hoàng Thị Ngày Xưa” đằng kia kìa, mi thấy không?”

Không đợi câu trả lời, tôi nhảy vội xuống xe, chạy ngược dòng xe như bị ma rượt, mà cũng có thể là để rượt Ma, có lẽ đúng hơn. Khi còn cách một khoảng ngắn, tôi gọi lớn tên nàng. Giật mình, nàng quay đầu lại, đôi mắt nàng mở lớn, xúc động, ngạc nhiên không che dấu. Tôi vội hỏi: “Sao vô Sài Gòn hồi nào mà không cho anh biết?” Sau giây phút ngỡ ngàng, lấy lại bình tỉnh, nàng nhỏ nhẹ cho biết: “T. lên Đà Lạt nghỉ dưỡng bệnh gần tuần lể, trước khi về lại Huế, ghé SG thăm người chị bà con, luôn tiện dự lễ Mãn Khóa Thủ Đức của anh P.” Tôi khựng lại như bị điện giật!

Tôi biết P. đã lâu, ngày xưa cùng học chung Nhu Đạo ở sàn tập Lửa Hồng, của nhóm Hướng Đạo Huế. P. hơn tôi chừng vài tuổi, là thầy dạy kèm mấy chị em Hoàng Thị trước đây. Qua thư từ trao đổi trước đây, nàng cho biết là anh chàng đã ráo riết theo đuổi từ lâu, nhưng không kết quả.

Nhưng đó là chuyện ngày trước, mọi chuyện hình như bây giờ đã thay đổi. Dù khá hụt hẫng, tôi vẫn xin địa chỉ người chị bà con và hứa ngày mai sẽ ghé thăm, và nếu được, sẽ chở cô bé đi thăm Sài Gòn một chuyến. Nàng đồng ý. Thú thật, nỗi hăm hở trong tôi chưa kịp bùng dậy thì đã bị đẩy ngược, nhận chìm.

Hiện tại ra sao thì nàng đã nói rõ, chẳng còn gì để tôi phải thắc mắc hay khiếu nại. Duy nhất một điều cho đến giờ này, tôi vẫn chưa lý giãi được: Thúc dục nào, tiếng gọi nào, động lực nào đã thôi thúc, đã xô đẩy, để giữa trưa nắng cháy, không hẹn hò, không nhắn gửi, tôi tự vác mạng chạy lên Sài Gòn, đúng ngay thời khắc đó, địa điểm đó, để gặp lại người xưa, giữa một thành phố đầy người, tấp nập, nhốn nháo, một nơi, cho dù có hẹn hò trước, đã chắc gì là sẽ dể dàng tìm được nhau? Tôi chợt nhớ đến lần gặp chót ở đầu ngõ nhà nàng, trước ngày tôi rời Huế! Thật kỳ lạ! Sác xuất như tìm kim đáy biển mà lại xảy ra đến hai lần?

Có bao giờ tôi có thể mơ sẽ có dịp gặp lại “Hoàng-Thị-Ngày-Xưa” ở thành phố xa xôi đó? Tuy nhiên, sau nỗi vui mừng, xúc động, dường như có một điều gì tàn lụi trong tôi. Cảm giác gần gũi, thân quen vẫn còn đó, nhưng nhịp tim hỗn loạn, mà mới ngày hôm qua đây, đã dễ dàng trở lại, bây giờ bỗng dưng trở nên trì trệ.

Tôi cảm thấy thanh thản, không buồn giận, cũng chẳng trách móc. Qua nàng, giờ đây, chỉ còn lại hình ảnh tinh khôi của một người em gái.

Trong suốt buổi chở nàng viếng thăm thành phố, với những chặng dừng theo yêu cầu của nàng: ĐHSP, Câu lạc bộ, nhà thờ Tân Định… chúng tôi đã nhắc lại, kể lại, giải thích cho nhau nghe, những chuyện đã qua.

Thật sự, chúng tôi còn quá trẻ, dù được nối kết bởi “tiếng sét”, nhưng lại chưa gần nhau đủ, chưa hiểu gì về nhau, cộng thêm khoảng cách không gian vời vợi thì làm sao hy vọng đưa cuộc tình vào quỹ đạo của vĩnh cửu? Sự ngô nghê của tôi, niềm tự ái, kiêu hãnh ngốc nghếch của nàng, tất cả đã góp phần biến một “câu chuyện tình Mậu Thân” thành một chuyện tình buồn không đoạn kết. Thôi thì đành để gió cuốn đi.

Dù sao, trên bao điêu tàn đổ nát của mùa Xuân năm 1968 cũng đã nở được một nụ hoa. Hoa nay không còn, nhưng mùi hương nhẹ nhàng, tinh khiết, dường như vẫn còn quyện lại đâu đó, mãi sau gần nửa thế kỷ.

Trần Văn Thuận

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Mai vẫn nở trên điêu tàn của Huế

Những đại dịch bệnh đã từng diễn ra trong lịch sử thế giới (Sưu tầm)

Những đại dịch bệnh
đã từng diễn ra trong lịch sử thế giới

Đại dịch là kịch bản đen tối nhất có thể xảy ra của những căn bệnh truyền nhiễm, và thế giới của chúng ta đã từng trải qua rất nhiều cuộc đại dịch khủng khiếp, khi mà những căn bệnh vượt qua biên giới để lây lan toàn cầu và giết đi rất nhiều người.

Năm 430 trước Công Nguyên: đại dịch ở Athens

Đại dịch sớm nhất mà chúng ta từng ghi nhận xảy ra trong giai đoạn chiến tranh Peloponnesian. Căn bệnh đã xuất phát từ Ethiopia, qua Libya rồi Ai Cập, sau đó tới Athens trong cuộc chiến với người Spartan. Đã có 2 phần 3 dân số chết trong đại dịch này trong vòng 4 năm. Hậu quả của nó được ghi chép lại bởi các nhà sử học và cho tới bây giờ, khi người ta đọc lại vẫn cảm thấy sợ hãi. Triệu chứng của nó bao gồm sốt, khát nước, chảy máu ở họng và lưỡi, da đỏ và bị tổn thương. Căn bệnh này được cho là bệnh thương hàn, và nó trở thành một tác nhân cực kỳ lớn trong cuộc chiến vì nó làm suy yếu phần lớn người Athens và họ đã thất bại trước người Sparta. Và từ “Đại dịch” trong tiếng Anh là Pandemic có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp. Năm 165: Antoini Plague Đại dịch này giết tới 25% tổng số người mắc phải. Nó được đặt tên theo một vị hoàng đế La Mã là Marcus Aurelius Antoninus vì chính ông ta cũng chết do bệnh này. Triệu chứng của nó gây nên những cơn sốt, tiêu chảy, khô họng mà mọc nhiều mụn nhọt trên gia. Sau này, nhiều nhà khoa học cho rằng đó có thể là căn bệnh đậu mùa.

Năm 250: Dịch Cyprian

Đại dịch Cyprian đã ảnh hưởng tới đế chế Roman giai đoạn năm 249 đến 262, nó làm chết nhiều dẫn tới thiếu hụt dân số và nhân lực diện rộng, dẫn tới suy yếu cả đế chế. Tên của nó được đặt tên theo thánh Cyprian, linh mục của Carthage, người được cho là đã mắc bệnh và miêu tả lại những đặc tính của nó. Nhiều người cho rằng dịch này có thể là dịch cúm, đậu mùa hay sốt xuất huyết do virus. Triệu chứng của nó gồm tiêu chảy, nôn mửa, loét cổ họng, sốt và tay chân bị hoại thư. Bệnh xuất phát từ Ethiopia, vượt qua Bắc Phi vào Rome và tiến tới Ai Cập. Người dân ở vùng bị ảnh hưởng đã cố gắng di dời đi để tránh bệnh, nhưng họ không hề hay hành động đó đã làm cho căn bệnh ngày càng lan đi xa. Vào 3 thế kỷ sau, bệnh lại bộc phát vào năm 444 tại Anh bất chấp những đề phòng chặt chẽ.

Năm 541: Dịch hạch Justinian

Đầu tiên nó bắt đầu tại Ai Cập, sau đó lan nhanh qua Palestine và đế chế Byzantine rồi tiến thẳng vào vùng địa trung hải. Dịch bệnh này buộc hoàng đế Justinian lúc đó phải dừng kế hoạch đưa đế chế Roman trở lại và gây ra một sự lủng đoạn kinh tế rất lớn. Việc tạo ra một bầu không khí tận thế ảm đạm của nó cũng được xem là một trong những nguyên nhân nhỏ giúp Cơ Đốc giáo được lan rộng nhanh chóng. Bệnh được ghi nhận là đợt dịch hạch đầu tiên của nhân loại, lan ra nhanh chóng vì mầm bệnh nằm trong chuột và bọ chét trong những con tàu vận hàng đi khắp nơi giao thương. Đỉnh điểm là khi nó giết 10.000 dân ở Constantiople mỗi ngày theo sử gia Procopius. Theo nhiều ước tính, nó có thể đã giết đến 40% dân số trong thành phố và một phần tư dân số ở phia đông Địa trung Hải. Sau đó, vào năm 588, nó lây lan sang Pháp với mức độ nghiêm trọng hơn, giết tới 25 triệu người dân. Và trong vòng 800 năm sau đại dịch này, châu Âu không bị đại dịch nào tấn công thêm nữa. Tổng cộng, Dịch hạch Justinian đã giết khoảng 100 triệu người trên toàn thế giới, làm giảm 50% dân số châu Âu vào giai đoạn 541 tới 700 và khoảng 26% dân số thế giới.

Thế kỷ 11: Bệnh Phong

Mặc dù đã có từ rất lâu rồi, nhưng bệnh phong đã trở thành một đại dịch ở châu Âu vào giai đoạn thời kỳ trung cổ, dẫn đến việc người ta xây dựng nhiều bệnh viện tập trung vào bệnh phong để đáp ứng số lượng lớn nạn nhân bị nhiễm bệnh. Một bệnh vi khuẩn phát triển chậm gây ra vết loét và dị dạng, bệnh phong vào thời điểm lúc bấy giờ được cho là một hình phạt từ Chúa xuống các gia đình. Và vì sự mê tín này đã dẫn đến những cái nhìn đánh giá về đạo đức của người bệnh và họ bị tẩy chay nạn nhân. Bệnh có tên gốc gọi là bệnh Hansen, nó vẫn gây ra hàng chục ngàn người mỗi năm và có thể gây tử vong nếu không được điều trị bằng kháng sinh.

Năm 1350: Cái Chết Đen

Đại dịch sau 800 năm đó một lần nữa lại là bệnh dịch hạch với cái tên được gọi là Cái chết đen. Sở dĩ gọi là như vậy vì da người mắc bênh sẽ trở nên sẫm màu hơn người bình thường. Trong ba năm liên tục kể từ năm 1347, đã có 25 triệu người chết tại riêng châu Âu, ngoài ra nó còn hoành hành ở châu Á và khu vực Trung Đông, biến đây trở thành một đại dịch toàn câu. Mỗi lần bùng phát, dịch hạch đều mạnh và nghiêm trọng hơn lần trước. Vào thế kỷ 18 thì người ta ghi nhận đã có 137 triệu người chết và mỗi lần đại dịch đều giết 50% dân số tại những khu vực mà nó bộc phát. Người ta nói rằng tốn đến 150 năm để có thể khôi phục lại lượng dân số trước khi đại dịch này xảy ra, và nó thay đổi rất lớn cấu trúc xã hội lúc bấy giờ.

Năm 1492: thời kỳ trao đổi Columbus

Sự xuất hiện của người Tây Ban Nha tại vùng Caribbean đã truyền theo những căn bệnh từ châu Âu như đậu mùa, sởi và nhiều bệnh dịch khác. Vì không có sẵn sự miễn dịch do trước đây chưa từng tiếp xúc với những bệnh này, những người dân địa phương đã chết tới 90% dân số trên khắp lục địa. Khi Columbus đặt chân lên hòn đảo Hispaniola, ông bắt gặp người Taino với dân số khoảng 60000 dân, thế rồi vào năm 1548, con số này còn ít hơn 500 người. Vào năm 1520, đế chế Aztec đã bị tàn phá tận diệt bởi căn bệnh đậu mùa mang trong những người những nô lệ Châu Phi. Một nghiên cứu vào năm 2019 kết luận rằng khoảng 56 triệu dân châu Mỹ bản địa chết vào thế kỷ thứ 16 và 17 và nguyên nhân lớn là do các bệnh dịch.

Năm 1817: đại dịch tả đầu tiên

Bệnh tả được ghi nhận lần đầu tiên vào khoảng thế kỷ 16, nhưng mãi đến năm 1816 thì đại dịch tả mới bộc phát và trở nên khôn lường. Nó đã hoành hành ở Ấn Độ, tiến vào Nga và các nước Đông Âu, Tây Âu và Bắc Mỹ. Theo ghi nhận, chúng ta đã từng trải qua ít nhất 7 lần đại dịch tả, 6 trong số đó xuất phát ở thế kỷ 19 và gần như tất cả mọi châu lục trên thế giới đều nhiễm, trừ khu vực Nam cực. Lần thứ 7 gần nhất là ở Indonesia, nhưng lúc này thì điều kiện sống đã trở nên phát triển và sạch sẽ hơn nhiều nên nó cũng trở nên ít nguy hiểm hơn. Theo tổng cộng thì có đã giết hơn 150 ngàn người. Mặc dù vác xin tả đã được tìm ra vào năm 1885 nhưng hiện tại nó vẫn còn có thể tái diễn lần nữa.

Năm 1855: Đại dịch hạch lần thứ 3

Lần 1 là đại dịch Justinian, lần 2 là Cái chết đen và lần ba diễn ra vào năm 1855, bắt nguồn từ Trung Quốc, sang Ấn Độ và Hong Kong. Nó đã ảnh hưởng đến 15 triệu người. Ban đầu nó lây lan từ những con bọ chét từ Vân Nam và lan rộng đi khắp nơi. Nó được xác định là tồn tại cho tới tận năm 1960, khi mà lượng người bị nhiễm xuống dưới con số vài trăm thì người ta mới yên tâm là đại dịch đã kết thúc.

Năm 1875: dịch sởi ở Fiji

Sau khi được nhượng lại cho nước Anh vào năm 1874 từ tay chính quyền Úc, một bữa tiệc hoàng gia của nữ hoàng Victoria đã diễn ra. Khi dịch sởi bùng phát, cuộc gặp gỡ này đã đem những mầm bệnh lây lan và tàn phá người dân ở đảo Fiji, ước tính có hơn 40 ngàn dân trên đảo đã chết, chiếm khoảng 1/3 dân số ở đây.

Năm 1889: Cúm Nga

Giai đoạn bắt đầu của thế kỷ 20 bắt đầu bằng những đại dịch cúm, khởi nguồn là dịch cúm xuất phát từ Siberia và Kazakhstan, sau đó lây lan vào Moscow và tới nhiều nơi khác ở châu Âu như Phần Lan, Ba Lan và đi khắp Châu Âu. Nhiều năm sau đó, mầm bệnh được cho là đã tới Bắc Mỹ và châu Phi, theo ước tính có khoảng 360 ngàn người đã chết vào cuối năm 1890.

Năm 1918: Cúm Tây Ban Nha

Đây được xem là dịch cúm lớn nhất và gây chết nhiều người nhất. Ba nơi bị ảnh hưởng nặng nề nhất là Pháp, Mỹ và Sierra Leone. Khả năng gây tử vong của nó rất cao và thường giết nhiều người ở độ tuổi 20 tới 40. Chỉ trong vòng khoảng 6 tháng nó đã giết tới 25 triệu người, và làm 1/5 dân số thế giới mắc bệnh. Tổng cộng nó đã làm 50 triệu người thiệt mạng, nhiều hơn cả người chết trong Thế chiến thứ nhất. Người ta cho rằng bệnh cúm do gia cầm này có nguồn gốc từ Trung Quốc, lây lan do những người lao động Trung Quốc nhập cư. Những báo cáo chính thống nhất được đưa ra cho dịch cúm này xuất hiện sau khi một đợt dịch bộc phá tại thành phố Madrid vào mùa xuân năm 1918, do đó người ta gọi đó là cúm Tây Ban Nha. Mặc dù giết chóc rất kinh dị, nhưng nó bỗng biến mất vào mùa hè năm 1919 khi những người mắc bệnh, một là đã tự miễn dịch, hai là đã chết và không thể lây nhiễm nữa.

Năm 1957: Cúm châu Á

Bắt đầu từ Hong Kong và lan sang Trung Quốc rồi đến Mỹ, cúm châu Á đã lây lan nhanh chóng trong vòng 6 tháng, giết chết 14 ngàn người và sau đó lại bùng phát thêm một đợt cúm tại Mỹ làm 69,800 người chết. Tuy nhiên trong cùng năm đó, người ta đã tìm được vác xin và dịch cúm này kết thúc.

Năm 1981: Đại dịch HIV

HIV sẽ tàn phá hệ thống miễn dịch bên trong cơ thể, làm cho những căn bệnh cơ hội có điều kiện để giết chết người bệnh. Trường hợp nhiễm HIV/AIDS đầu tiên được quan sát là một người Mỹ nằm trong cộng đồng đồng tính. Nguồn gốc của căn bệnh là từ một virus trong tinh tinh từ Tây Phi. Nó lây lan qua đường máu, tình dục, từ mẹ sang con. Mặc dù đã có phương pháp điều trị nhưng đã có 35 triệu người chết kể từ khi nó được phát hiện và phương pháp điều trị triệt để tới nay vẫn chưa được tìm ra.

Năm 2003: Dịch Sars

Sars hay còn gọi là Hội chứng suy hô hấp cấp nặng lần đầu tiên được phát hiện vào năm 2003. Virus Sars được cho là bắt đầu từ dơi, lây sang mèo và lây sang người Trung Quốc, tiếp theo là lây sang các quốc gia khác, khiến 774 người tử vong. Các nỗ lực kiểm dịch đã chứng minh được tính hiệu quả. Đến tháng 7/2003, dịch đã được ngăn chặn và không xuất hiện kể từ đó.

Năm 2009 : Cúm A(H1N1)

Cúm A(H1N1) (hay từng được gọi “cúm lợn”) là bệnh nhiễm trùng đường hô hấp cấp tính do virus cúm A(H1N1) gây nên. Bệnh có khả năng lây nhiễm rất cao và lây lan nhanh trong cộng đồng. Tổ chức Y tế thế giới đã cảnh báo dịch ở cấp độ 6, cấp độ cao nhất và là đại dịch trên quy mô toàn cầu. Cho tới cuối tháng 7/2009, dịch đã lan rộng ra trên 160 quốc gia thuộc cả năm châu lục với hàng trăm ngàn trường hợp mắc và hơn một nghìn trường hợp tử vong.

Năm 2019: COVID-19

Vào ngày 11/03/2020, Tổ chức Y tế Thế giới đã chính thức thông báo Covid – 19 là đại dịch toàn cầu sau khi tấn công hơn 115 quốc gia trên thế giới. Các triệu chứng của dịch bao gồm: Suy hô hấp, sốt và ho, dẫn đến viêm phổi và tử vong. Trường hợp đầu tiên xuất hiện vào ngày 17 tháng 11 năm 2019 ở Trung Quốc không được công nhận. Thêm tám trường hợp nữa xuất hiện vào tháng 12 nhưng chính phủ Trung Quốc đã cố gắng ngăn chặn tin tức về virus, làm trì hoãn các hành động phòng ngừa. Đến thời điểm hiện tại, trên thế giới đã có 292.142 trường hợp mắc phải Covid-19, 12.784 người chết.

* Một sự trùng hợp đại dịch
những năm kết thúc vào năm 20?

Cuộc xâm lăng của Mông Cổ năm 1220

Năm 1220, không được biết đến bởi một đại dịch, nhưng bởi một thảm họa thậm chí còn tàn khốc hơn vào thời điểm đó: Đế quốc Mông Cổ đã bành trướng khắp Trung Á. Thành Cát Tư Hãn xua quân chiếm đốt và san bằng Bukhara (ngày 16 tháng 2), Otrar (ngày 17 tháng 3), Samarkand (tháng 3) và Harat (1221), hủy diệt những người gốc Slav và các thành phố lớn, như Kiev và Vladimir, mở các cuộc chinh phạt bao gồm cả Bohemia-Moravia, Ba Lan (Trận Legnica, 1241), Moldova, Wallachia, Transylvania, Hungary (Trận Mohi, 1241) và Bulgaria. Ít nhất 20 đến 40% dân số của các quốc gia bị người Mông Cổ tàn sát hoặc sau đó là các trận đại dịch.

Dịch hạch đen năm 1320

 Bệnh dịch hạch, hay còn gọi là bệnh dịch hạch đen, được cho là xuất hiện lần đầu tiên từ người Mông Cổ vào khoảng năm 1320. Triệu chứng của nó là đau đầu, sốt và ớn lạnh. Lưỡi của bệnh nhân thường xuất hiện màu trắng trước khi bị viêm hạch nghiêm trọng. Cuối cùng, những đốm đen và tím xuất hiện trên da của những người bị ảnh hưởng; Cái chết có thể xảy ra trong một tuần.

Bệnh đậu mùa năm 1520

Tây Ban Nha tràn sang Trung Mỹ đầu thế kỷ XVI chiếm các nước Nam Mỹ. Tây Ban Nha chiến thắng nhờ bệnh đậu mùa do người châu Âu mang đến, chẳng hạn như Tlatoani Cuitláhuac. Chưa đầy trong vòng một thế kỷ, 90% dân số thổ dân da đỏ, chủ yếu do sắc tộc Aztec thống trị đã bị biến mất, theo như con số ước tính của nhiều sử gia. Nó đã cướp đi mạng sống của khoảng 2 đến 3,5 triệu người bản địa.

Một bệnh lạ năm 1620

Vào ngày 16 tháng 3 năm 1620, những người định cư Plymouth đã đến Mayflower ở Hoa Kỳ và đại đa số hành khách được cho là đã chết vì một căn bệnh lạ nầy và lây lan ngay cả trong những cư dân ở bờ biển phía đông Bắc Mỹ.

Dịch hạch Marseille năm 1720

Grand San Antonio, một con tàu từ phía đông Địa Trung Hải đã đến Marseille vào ngày 25 tháng 5 năm 1720, là nguồn gốc của dịch bệnh. Thật vậy, hàng hóa của nó bao gồm lụa mịn và kiện bông đã bị ô nhiễm bởi trực khuẩn Yersin, nguồng bệnh dịch hạch. Sau một loạt các sơ suất nghiêm trọng và mặc dù các biện pháp an ninh nghiêm ngặt, bệnh dịch hạch lan rộng khắp thành phố. Trung tâm của Marseille và các quận cũ bị ảnh hưởng nhiều nhất. Bệnh dịch hạch lây lan nhanh chóng, giết chết khoảng 30.000 đến 40.000 người, trong tổng số 90.000 người.

Dịch tả năm 1820

Năm 1820, căn bệnh này bùng phát ở Java và Borneo. Lan đến Trung Quốc vào năm 1821, sau đó lan sang phía tây Ceylon và sau đó đến Ba Tư, Ả Rập, Syria và Nam Kỳ cùng năm. Các lãnh thổ rộng lớn của Đế quốc Nga đã bị ô nhiễm bởi quân đội bị bệnh và hàng chục ngàn người đã chết.

Dịch viêm phổi hay cúm Tây Ban Nha năm 1920

Cúm Tây Ban Nha xảy ra cách đây 100 năm, khi mọi người đang vật lộn với vi-rút cúm biến đổi gen, khiến nó nguy hiểm hơn nhiều so với vi-rút thông thường. Virus này đã lây nhiễm 500 triệu người và giết chết hơn 100 triệu người trên toàn thế giới, đại dịch này là vụ chết người nhất trong lịch sử.

Coronavirus năm 2020

Hội chứng Hô hấp Trung đông (Middle East Respiratory Syndrome, MERS) là một căn bệnh hô hấp cấp tính do một loại vi rút có tên “Vi rút Corona Hội chứng Hô hấp Trung đông” (MERS-CoV) gây ra. MERS ảnh hưởng tới hệ thống hô hấp (các lá phổi và đường thở). MERS được phát hiện lần đầu tiên vào năm 2012 tại Ả rập Xê út. (ST)

(Nguồn: Triều Thành Weekly Magazine)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Những đại dịch bệnh đã từng diễn ra trong lịch sử thế giới (Sưu tầm)

TỔNG THỐNG HÀN QUỐC ĐẦU TIÊN THUỘC DÒNG DÕI NGƯỜI VIỆT_Nguyễn Chương Mt

TT Lý Thừa Vãn hội kiến TT Ngô Đình Diệm ở Saigon 1958

TỔNG THỐNG HÀN QUỐC ĐẦU TIÊN THUỘC DÒNG DÕI NGƯỜI VIỆT

Nhớ lại có một lúc báo chí VN trong nước làm rần rộ về một nghiệp chủ người Hàn cùng bà con trong họ về thăm quê cha đất tổ ở Bắc Ninh – vì họ thuộc hậu duệ của Nhà Lý nước Việt xa xưa. NHƯNG, còn rỡ ràng hơn nhiều, cũng người Hàn, là hậu duệ đời thứ 26 của vua Lý Anh Tông thì … báo chí VN không nhắc gì cho lắm (ngại nhắc đến?).

&1&

Ta nói Đại Hàn dân quốc (Dae Han min guk), còn gọi là Hàn Quốc (Han guk), bây giờ đã trở thành một quốc gia thăng tiến rỡ ràng, nằm trong khối G20.

Không thể không ngược dòng thời gian, trở lại với buổi đầu xây đắp nền móng cho quốc gia Đại Hàn – với vị Tổng thống đầu tiên: ông Lý Thừa Vãn (李 承 晩). Người Hàn gọi là Lee Sung Man (còn gọi Rhee Syng Man).

&2&

Hồi năm 1958, trong chuyến công du chính thức tới thăm Sài Gòn, Tổng thống Lý Thừa Vãn đã hội kiến với TT Ngô Đình Diệm của nền Đệ nhứt cộng hòa của Miền Nam VN. Lúc đó, TT Đại Hàn đã tuyên bố: TỔ TIÊN CỦA ÔNG LÀ NGƯỜI VIỆT.

Sau đó, đại sứ quán của Đại Hàn tại Sài Gòn đã cho biết:

“Tổng thống Lý Thừa Vãn là hậu duệ đời thứ 25 của Kiến Bình Vương Lý Long Tường – con của vua Lý Anh Tông nước Đại Việt (tức TT Lý Thừa Vãn là hậu duệ đời thứ 26 của vua Lý Anh Tông).

Lý Long Tường cùng gia quyến vượt biển sang tới Cao Ly vào đầu thế kỷ thứ 13 để tránh quốc nạn”.

(khi lật đổ nhà Lý, Trần Thủ Độ đã ra tay tàn sát rất nhiều người thuộc dòng dõi vua Lý)

Trong gia phả của dòng họ Lý bên xứ Hàn (gọi là “Lý Hoa sơn”: Lee Hwa-san) cũng đã xác nhận rõ rành.

LÝ THỪA VÃN, ông là tiến sĩ chánh trị học tại ĐH Princeton và ĐH Havard, trở thành vị Tổng thống đầu tiên của Đại Hàn. Vâng, người khởi đầu xây dựng nền Cộng hòa tại xứ sở kim chi lại thuộc dòng dõi Việt tộc!

TT Lý Thừa Vãn rất muốn về thăm quê cha đất tổ của các vua Lý ở Bắc Ninh. Nhưng không thể, vì hồi đó chính quyền Đại Hàn dân quốc chỉ đặt bang giao với chính quyền miền Nam (Việt Nam cộng hòa) chớ không bang giao với miền Bắc (Việt Nam dân chủ cộng hòa).

[mời quí bạn đọc tỉ mỉ về quá trình tìm hiểu gia phả của TT Lý Thừa Vãn: http://www.sugia.vn/…/di-tim-con-chau-thuyen-nhan-849… ]

* Mấy dòng về LÝ LONG TƯỜNG:

1) Hoàng tử Lý Long Tường (李龍祥, tiếng Hàn đọc là Lee Yong-sang) sinh năm 1174, con thứ bảy của vua Lý Anh Tông.

… Năm 1226 (lúc này nhà Lý đã bị lật đổ), Lý Long Tường đã bí mật về Kinh Bắc, vái lạy tạ biệt lăng miếu Đình Bảng, tới Thái miếu thu gom các bài vị, các đồ tế khí, rồi trở lại Đồ Sơn. Hoàng tử đã cùng 6.000 gia thuộc qua cửa Thần Phù, Thanh Hóa chạy ra biển Đông trên ba hạm đội.

Sau một tháng lênh đênh trên biển, đoàn thuyền gặp bão lớn phải ghé vào Đài Loan. Khi Lý Long Tường quyết định lên đường thì con trai là Lý Long Hiền ốm nặng nên phải ở lại cùng 200 gia thuộc (theo một nguồn tin thì Tổng thống Đài Loan Lý Đăng Huy là thuộc dòng dõi Lý Long Hiền người Việt, tuy nhiên giả thuyết này còn cần kiểm chứng kỹ lưỡng hơn trước khi kết luận).

Trên đường đi tiếp đoàn thuyền bị bão, dạt vào Trấn Sơn, huyện Bồn Tân, tỉnh Hoàng Hải, trên bờ biển phía tây Cao Ly.

2) … Vào năm 1231 Mông Cổ tiến đánh Cao Ly qua hai đường thủy bộ. Về đường thủy quân Mông Thát tiến vào tỉnh Hoàng Hải, nơi gia tộc của Lý Long Tường sinh sống.

Bấy giờ Lý Long Tường lãnh đạo gia thuộc, dân binh sát cánh cùng quân triều đình chặn đứng quân Mông Thát tại nơi đây. Ông thường cưỡi ngựa trắng đôn đốc binh sĩ, nên người dân địa phương thường gọi ông là “Bạch Mã tướng quân”.

* Đến năm 1253, Mông Cổ lại tiến đánh Cao Ly lần nữa. Chiến thuyền và bộ binh Mông Cổ thắng lợi khắp nơi, nhiều tướng Cao Ly tử trận.

Trước tình hình bi đát, Kiến Bình vương Lý Long Tường đến yết kiến người nắm binh quyền cao nhứt tại Cao Ly (Thái úy Vi Hiển Khoan), để dâng kế sách “Binh pháp Đại Việt” cho ông.

Lý Long Tường đã dùng binh pháp Đại Việt để huấn luyện cho binh sĩ và dân chúng Cao Ly. Cuộc chiến chống Mông Cổ tại Hoàng Hải diễn ra suốt 5 tháng ròng rã, quân Mông Cổ rốt cuộc phải thoái lui, mưu đồ xâm lược Cao Ly bất thành.

Vua Cao Ly tưởng thưởng hoàng tử Lý Long Tường, và phong cho ông là “Hoa Sơn tướng quân” (Hwasan Sanggun), tên “Hoa Sơn” dựa theo tên núi nơi ông cư ngụ.

Ở Hoa Sơn, Lý Long Tường thường hay ngồi trên đỉnh núi nhìn về phương Nam mà khóc. Nơi ấy sau này được gọi là “Vọng quốc đàn”.

* Sự nghiệp rỡ ràng của hoàng tử Lý Long Tường người Việt, tức Hoa Sơn tướng quân của Cao Ly, đã được tiếp nối và lên chót đỉnh với hậu duệ đời thứ 25 – đó là Lý Thừa Vãn, Tổng thống đầu tiên của nền cộng hòa tại Hàn Quốc!

(Ghi chú thêm: TT Lý Thừa Vãn, lúc sinh thời, không ưng chế độ xã hội chủ nghĩa)

Nguyễn Chương Mt
Nguồn FB. Nguyễn- Chương Mt

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở TỔNG THỐNG HÀN QUỐC ĐẦU TIÊN THUỘC DÒNG DÕI NGƯỜI VIỆT_Nguyễn Chương Mt

Sự Khác Nhau Giữa 2 PT Dân Chủ Miến Điện và Việt Nam

NĂM ĐIỂM KHÁC NHAU GIỮA
HAI PHONG TRÀO DÂN CHỦ
MIẾN ĐIỆN VÀ VIỆT NAM

155553790_4126867960670492_5254214237151858207_o

( Bài nầy của tác giả TRẦN TRUNG ĐẠO do đồng môn Thien Long Nguyen
post lên FaceBook của Nhóm Cựu Sinh Viên Học Viện CSQG- Trong nước)

Mỗi khi có một cuộc cách mạng dân chủ hay thắng lợi của phong trào dân chủ tại một nước độc tài nào đó, chẳng hạn như Miến Điện, người Việt quan tâm đến tương lai đất nước thường ngậm ngùi tự hỏi tại sao không phải là Việt Nam.

Thật ra, điều kiện chính trị của Miến Điện khác nhiều so với Việt Nam và do đó ảnh hưởng một cách căn bản đến cuộc vận động dân chủ.

1.- Cơ sở hạ tầng của Liên minh Dân tộc vì Dân chủ (National League for Democracy, NLD) hoạt động chặt chẽ, phong trào dân chủ Việt Nam chỉ mới hình thành

Đảng đối lập NLD có cơ sở hạ tầng vững chắc và đã thắng 396 trong tổng số 485 ghế Quốc hội trong cuộc bầu cử dân chủ công khai được quốc tế công nhận năm 1990, trước khi bị đám quân phiệt đàn áp. Cơ sở hạ tầng đó không bị tiêu diệt hay chết dần theo thời gian mà đã tiếp tục lớn lên. Ngay cả các đại diện ngoại giao và quốc tế của NLD vẫn tiếp tục hoạt động ngoài Miến Điện sau khi bà Aung San Suu Kyi bị tù.
Phong trào dân chủ Việt Nam chưa bao giờ có được cơ hội hoạt động công khai hay bán công khai. Các phong trào xã hội tại Việt Nam còn rất non trẻ và các lãnh đạo của phong trào lần lượt bị tù đày.

2.- Quân phiệt Miến độc tài, CSVN toàn trị

Tập đoàn lãnh đạo Miến Điện dù sao cũng chỉ là một tập đoàn quân phiệt tay ngang, võ biền chứ không phải là một chế độ độc tài toàn trị được tổ chức tinh vi, nắm trong tay không những quân đội, công an, nhà tù, sân bắn mà còn có khả năng kiểm soát từng ngôi chùa, nhà thờ, thánh thất, từng hộ khẩu, từng cân đường, cân gạo của mỗi người dân như đảng Cộng sản Việt Nam. Giới lãnh đạo Việt Nam đối với Trung Quốc thì rụt rè, khép nép nhưng trấn áp dân mình thì rất giỏi.

3.- Quân phiệt Miến xa rời lịch sử, CSVN sống bám vào lịch sử

Tập đoàn quân phiệt Miến không có chỗ dựa lịch sử. Lịch sử đứng về phía bà Aung San Suu Kyi và nhân dân Miến.
Đảng Cộng sản Việt Nam thì khác, họ bám sâu vào cây đại thụ dân tộc Việt Nam, sinh sôi nẩy nở bằng nhựa nguyên và nhựa luyện Việt Nam. Đảng CS đồng hóa đảng và dân tộc, lịch sử đảng và lịch sử dân tộc. Bộ máy tuyên truyền của đảng giải thích lịch sử theo quan điểm của đảng. Quá trình hình thành và phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam là một quá trình đầy ngộ nhận lịch sử và họ tồn tại đến ngày nay, một phần cũng nhờ vào những ngộ nhận đó.

4.- Quân phiệt Miến kiểm soát bậc đại học, CSVN đầu độc tuổi trẻ từ khi biết nói

Quân phiệt Miến độc tài nhưng không theo đuổi chính sách tẩy não tận cùng như CSVN đã và đang làm với các thế hệ Việt Nam. Tuổi trẻ Việt Nam lớn lên trong nền giáo dục một chiều và phản khoa học. Họ được dạy sự có mặt của Đảng Cộng sản trong đời sống chính trị và sinh hoạt xã hội Việt Nam tự nhiên chẳng khác gì bốn mùa xuân hạ thu đông. Nói như Mác, tự do là sự thừa nhận các quy luật tất yếu, và sự tồn tại của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng được giải thích như là tất yếu. Nền giáo dục vẹt tồn tại trong xã hội Việt Nam từ bao nhiêu năm qua đã giết chết mọi mầm mống sáng tạo tự nhiên trong con người. Sự nô lệ trí thức như là một loại vi trùng sinh sôi và lan rộng trong từng con người, qua nhiều thế hệ, xói mòn và tàn phá tính khai phóng, làm thui chột tính sáng tạo trong con người. Suy nghĩ lạc hậu đó được tiêm vào nhận thức tuổi thơ từ khi các em mới tập nói và cũng tồn tại trong một số không ít những người được gọi là trí thức. Muốn tháo gỡ ra, muốn tách hệ ý thức lạc hậu đó ra, mà không phải làm ung thối đi nguồn nhựa sống hay làm ngã cây cổ thụ dân tộc, không phải là một chuyện dễ dàng.

5.- Quân phiệt Miến bị thế giới cô lập, CSVN được Trung Cộng (TC) nuôi dưỡng

Không giống tập đoàn quân phiến Miến cô đơn trong lòng dân tộc và bị cô lập về mặt quốc tế, CSVN đang được TC nuôi dưỡng. Như người viết đã phân tích trước đây, mặc dù không công khai tuyên bố, giới lãnh đạo CSTQ cũng biết hiện nay chỉ còn năm quốc gia theo một loại chủ nghĩa mà giáo sư sử học Roderick Macfarquhar, thuộc đại học Harvard, gọi là chủ nghĩa Lê Nin không có Mác, tức một nhà nước chuyên chính sắt máu nhưng không còn dựa trên nền tảng triết lý duy vật. Hai cơ chế chính trị CSTQ và CSVN có một mối quan hệ hữu cơ mật thiết với các yếu tố tương quan và phụ thuộc vào nhau. Sự lệ thuộc về chính trị của Việt Nam vào TC không chỉ giúp để giữ an toàn phòng tuyến phía nam TC mà còn tránh sự sụp đổ dây chuyền trong trường hợp cách mạng dân chủ tại Việt Nam diễn ra trước. Không có bình sữa của TC, CSVN chết khô, chết héo từ lâu rồi.

SỨC MẠNH TOÀN DÂN LÀ YẾU TỐ QUYẾT ĐỊNH

Không thể phủ nhận vai trò lãnh đạo về mặt tinh thần của bà Aung San Suu Kyi. Tuy nhiên những người quyết định vận mạng Miến Điện không phải là Aung San Suu Kyi mà chính là nhân dân Miến suốt 53 năm dài vẫn kiên trì tranh đấu cho tự do dân chủ.

Các lãnh tụ phong trào dân chủ ý thức rằng chỉ tập trung được sức mạnh toàn dân mới thắng được CS.

Đừng quên, hàng trăm quốc gia đã chiến đấu đầy hy sinh gian khổ để giành được độc lập từ chủ nghĩa thực dân suốt thế kỷ 19 và thế kỷ 20 nhưng không phải quốc gia nào cũng có một Aung San Suu Kyi, Mahatma Gandhi hay Nelson Mandela.

Thay vì chờ đợi một nhân tài cứu nước hay đi vay mượn chiếc búa ngoại bang để về đập đổ bức tường chuyên chính, hãy bắt đầu từ những bàn tay Việt Nam nhỏ nhoi và kiên nhẫn để xoi mòn cơ chế độc tài đảng trị. Con đường có thể dài nhưng đích thực đó là con đường tự chủ.

Trần Trung Đạo

(Trích trong CHÍNH LUẬN II Bánh Mì Ai Cập, Cá Việt Nam, Khát Vọng Con Người)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Sự Khác Nhau Giữa 2 PT Dân Chủ Miến Điện và Việt Nam

Phi Trường Tân Sơn Nhứt trước 1975

ĐÔI ĐIỀU THÚ VỊ
VỀ PHI TRƯỜNG TÂN SƠN NHẤT

unnamed (2)

Phi trường Tân Sơn Nhứt là một trong những sân bay nhộn nhịp hàng đầu thế giới vào khoảng hơn 50 năm trước.

“Ngày đó, cứ trung bình mỗi phút, sẽ có một chuyến máy bay cất cánh hoặc hạ cánh ở phi trường này. Thậm chí, những giờ cao điểm, mật độ cất cánh và hạ cách của các chuyến bay chỉ còn có 30 giây”.

Sân bay Tân Sơn Nhứt là sân bay dân sự và quân sự. Hầu như các phi cơ chở người dân và các máy bay phục vụ quân sự đều tập trung về đây, từ trực thăng đến các chiến đấu cơ siêu thanh, từ những phi cơ phản lực tân tiến nhất đến những chiếc máy bay với cánh quạt cũ kỹ…

Ông Huỳnh Minh Bon – cựu phi công sống tại Sài Gòn hơn 40 năm trước vẫn còn nhớ như in cái thời Tân Sơn Nhứt nhộn nhịp và được mệnh danh là phi trường bận rộn nhất trên thế giới. Không chỉ những phi công Việt Nam, các chuyên gia Hoa Kỳ với nhiệm vụ trợ giúp việc điều hành sân bay thời kỳ này cũng không thể phủ nhận rằng: nhân viên Việt Nam ở sân bay Tân Sơn Nhứt, đặc biệt là bộ phận không lưu là những người xuất sắc, kỹ năng tốt, chuyên môn giỏi mới có thể đảm đương nổi khối lượng phi suất khổng lồ đó.

Mỗi phút một chuyến bay

unnamed (1) (1)

Số báo 134 của tờ báo Sài Gòn xuất bản vào ngày 2-4-1967 có một bài báo viết rằng: “45,000 phi cơ lên xuống Tân Sơn Nhứt trong một tháng”.

Bài báo thông tin rằng phi trường đang chuẩn bị hoàn thành đường băng hạng A thứ hai. Bài báo còn nói thêm rằng: Chiến tranh tại Việt Nam đã làm phi trường Tân Sơn Nhứt trở thành một trong những phi trường bận rộn nhất trên thế giới với trung bình 45,000 phi cơ đủ loại cất và đáp mỗi tháng”.

Theo số liệu đó, ước tính mỗi ngày, sân bay Tân Sơn Nhứt có 1500 chuyến bay cất cánh và hạ cánh, nghĩa là chưa đầy 1 phút, có một lượt máy bay hoạt bay hoặc đáp tại phi trường này.

Một số tài liệu quý hiếm được lưu trữ còn khẳng định rằng, sự phát triển của sân bay Tân Sơn Nhứt còn nhanh hơn dự tính và hoạch định của các nhà cầm quyền miền Nam Việt Nam và cả những kỹ sư hàng không giỏi.

unnamed (2) (1)

Sự phát triển nhanh chóng của sân bay Tân Sơn Nhứt được thể hiện rõ nét từ năm 1959, phi trường chỉ mới đón nhận 104,000 hành khách. Vậy mà chỉ 8 năm sau, tức năm 1967, số lượng hành khách đã tăng lên đến 1,150,000 người. Không dừng lại ở đó, chỉ 2 năm sau đó, tức vào năm 1969, số lượng người thuyên chuyển tại phi trường này tăng lên gấp đôi tương đương 2,312,000 người.

Số liệu này tuy không thể hiện rõ sự nhộn nhịp của máy bay hạ cánh và cất cánh ở sân bay thế nào, nhưng những con số đó cũng một phần cho thấy sự gia tăng nhanh chóng số lượng hành khách, kéo theo đó là số lượng phi cơ phải tăng lên đáng kể.

unnamed (3)Hơn nữa, giai đoạn những năm 60-70 là giai đoạn miền Nam Việt Nam đang trong thời kỳ chiến tranh, bên cạnh các phi cơ thương mại, số lượng và tần suất hoạt động các máy bay quân sự, các chiến đấu cơ cũng cất cánh và hạ cánh ở phi trường này cao hơn gấp nhiều lần.

Năm 1960, số lượt máy bay cất-hạ cánh ở Tân Sơn Nhứt là 40,000. Vậy mà đến năm 1962, con số này tăng kỷ lục lên đến 862,000 chuyến – đứng thứ nhất trong các sân bay Châu Á và nằm trong top đầu của thế giới.

unnamed (4)

Ông Hàn Khải Nguyên, một nhân viên an ninh sân bay thời kỳ này cho hay: “Các vòng an ninh chung bên ngoài thuộc trách nhiệm của quân đội.”

Lý do là từ năm 1955, phi trường Tân Sơn Nhứt thuộc yếu khu Tân Sơn Nhứt – khu vực quân sự thuộc kiểm soát của lực lượng không quân.

Ông Hàn Khải Nguyên cho biết thêm: “chúng tôi thuộc bộ phận kiểm soát các cổng ra vào máy bay và thường ở trong tình trạng căng thẳng do công việc quá tải. Ngày đó nhân viên phục vụ hàng không dân sự còn rất ít người so với bây giờ nhưng người dân đến các tỉnh xa toàn đi bằng máy bay, bởi nó vừa nhanh lại vừa an toàn với tình hình chiến sự lúc bấy giờ”.

unnamed (5)

Đến năm 1970, dưới thời Việt Nam cộng hòa, ở miền Nam có số lượng phi trường nhiều nhất thế giới với tất cả 500 phi trường lớn nhỏ phục vụ dân sự và quân sự. Trong số đó có 8 phi trường lớn với đường băng dài hơn 2500 mét như Tân Sơn Nhứt, Đà Nẵng, Nha Trang… Những đường băng lớn này có thể tiếp nhận các loại máy bay lớn như Boeing 727, 707, và DC8…

Ngoài những phi trường lớn ra, miền Nam còn có 4 phi trường với đường bằng dài 1800-2500m, 3 đường băng dài 1280-1800, 60 phi trường có đường băng dài 1060m, 15 phi trường có đường bằng dài gần 1000m và các sân bay trực thăng.

Những lần nâng cấp nhà ga

Bởi lượng khách ngày càng gia tăng, để nâng cao chất lượng phục vụ, sân bay Tân Sơn Nhứt được nâng cấp tổng cộng 4 lần kể từ năm 1954 đến năm 1975. Diện tích sân bay đầu tiên khi Pháp để lại là 1800m2, đến năm 1956 -1957, sân bay được mở rộng với diện tích lên đến 2500m2. 3 năm sau, diện tích lại được nâng lên đến 2800m2. Đặc biệt, đến năm 1964, sân bay tiếp tục mở rộng diện tích lên thành 6000m2. Ngoài diện tích Ty Hành Dịch, văи phòng các hãng, sảnh đợi của hành khách có diện tích dài 72m, rộng 15m. Ngoài ra, sân bay còn có cả một sân thượng để người Sài Gòn có thể ngắm cảnh máy bay cất cánh – hạ cánh.

Mặc dù vậy, chỉ một thời gian sau, nhà ga lại bị quá tải. Chính quyền miền Nam Việt Nam lại tiếp tục mở rộng diện tích đến 10.800m2. Trong đó, nhà ga dành cho hành khách Quốc Tế chiếm 6000m2, nhà ga cho khách nội địa chiếm 3000m2 và một nhà ga riêng biệt rộng đến 1800m2 chuyên dành cho quân nhân bay những chuyến bay quốc tế. Dự án mở rộng sân bay được thực hiện từ năm 1969 – 1972 với số tiền đầu tư là 1 triệu USD do Mỹ viện trợ.

Ước tính từ năm 1960 đến năm 1972, sân bay Tân Sơn Nhứt đã được đầu tư nâng cấp và mở rộng với số vốn 35 triệu USD.

unnamed (7)

Đặc biệt, sau khi nâng cấp sân bay lên đến 10,800m2 vừa được đưa vào sử dụng. Một kế hoạch nâng cấp mới lại được trình lên Phủ Tổng Thống Việt Nam cộng hòa. Bởi khu vực hành khách quốc tế chỉ có thể nhận được 250 hành khách từ một chuyến bay. Trong khi đó, máy bay Boeing 747 với lượng hành khách trên 500 người. Dự án nâng cấp nhà ga với tổng diện tích lên đến 30,000m2, nằm trong dự án quy hoạch tổng thể phát triển Sài Gòn – Hòn Ngọc Viễn Đông.

Ngày 7/1/1971, Nguyễn Đức Súy – giám đốc Nha Căи Cứ Hàng Không đã tổ chức một cuộc họp đặc biệt với các phái đoàn viện trợ Mỹ, Tổng cục tiếp vận của Bộ tổng tham mưu, Nha hàng không dân sự, Bộ tự lệnh không quân,… để họp bàn về dự án nghiên cứu và phát triển Tân Sơn Nhứt thời hậu chiến.

Mục tiêu và nhiệm vụ đặt ra là quy hoạch phi trường cho đến năm 1990, hoạt động máy bay Boeing 747.

unnamed (10)

Trong cuộc họp quan trọng này, bên cạnh các ý kiến về việc mở rộng thêm quy mô phi trường, Tổng cục tiếp vận – đại tá Nguyễn Văn Tám cũng đã đưa ra đề xuất xây thêm một sân bay mới ở vùng Dĩ An, ngay cửa ngõ Sài Gòn – Biên Hòa – Bình Dương để hạn chế việc sân bay Tân Sơn Nhứt bị quá tải. Thế nhưng, tình hình chiến sự và những thay đổi lịch sử khiến cho dự án này không thể thành hiện thực.

Những vị hành khách thời chiến

Bà Trần Thị Phượng là một hành khách thường xuyên của đường bay Sài Gòn – Pleiku từ những năm tháng ấy. Bà chia sẻ rằng, cha bà hồi đó là công chức Sài Gòn, được lệnh biệt phái lên Pleiku hỗ trợ. Vì vậy, mẹ con bà thỉnh thoảng lại bay lên Pleiku để thăm ba. Hồi đó, mẹ và bà đón xe của Air Việt Nam ở khách sạn Rex. Chiếc xe này đến đón hành khách tại cổng khách sạn rồi chở trực tiếp đến khu an ninh chung chứ không được ra vào tự do như bây giờ.

unnamed (11)

Bà vẫn còn nhớ những cô tiếp viên mặc áo màu xanh da trời, đầu đội mũ ca lô, đeo găиg tay trắng với cung cách phục vụ rất lịch sự.

Những chuyến bay thời đó chỉ là loại máy bay nhỏ với cánh quạt DC4, DC6, có thể chở được vài chục người mỗi chuyến. Hành khách trên chuyến bay được phát cho bông gòn để nhét tai, tránh bị ù tai.

Tình trạng trễ chuyến bay cũng xảy ra rất nhiều lần. Bà Phương nhớ lại, có lần, lịch trình bay khởi hành từ Pleiku về Sài Gòn vào buổi sáng, vậy mà bà và mẹ phải chờ đến tận 4h chiều mới được lên máy bay. Về đến Sài Gòn thì thành phố cũng đã lên đèn từ lâu.

unnamed (12)

“Hồi đó máy bay đi nước ngoài có nhiều hãng lắm. Nḥưng bay nội địa thì chỉ có mỗi hãng Air Việt Nam” – bà nói thêm.

Trước năm 1975, phi trường Tân Sơn Nhứt có 16 công ty hàng không nước ngoài hợp tác và khai thác đường bay quốc tế. Trong đó có các hãng hàng không nổi tiếng đến tận ngày nay như Cathay, PANAM, Air France… Ngoài vận chuyển hành khách dân sự, các hãng hàng không quốc tế còn chở quân nhân Mỹ đến Việt Nam trong cuộc chiến và cả đồng minh.

unnamed (13)

Máy bay AC-119G bay phía trên căn cứ không quân Tân Sơn Nhứt vào năm 1969. Con đường thẳng trước mặt là đường Quang Trung Gò Vấp. Khu vực được phủ bởi một màu xanh, có nhiều cây cối là sân Golf. Bên góc trái là giao lộ Ngã 5 Chuồng Chó, ngày nay là ngã 6 Gò Vấp.

unnamed (6)

Trực thăиg quân sự trong sân bay

unnamed (1) (2)

Máy bay chiến đấu AC-47 đang đỗ tại Sân Bay

unnamed (2) (2)

Trực thăиg vận tải

unnamed (3) (1)

Nữ tiếp viên 

Sưu tầm trên mạng Internet

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Phi Trường Tân Sơn Nhứt trước 1975

BA CÁI THIẾU KINH NIÊN CỦA NGƯỜI GIÀ_BS Đỗ Hồng Ngọc

Già thì khổ, ai cũng biết. Sanh lão bệnh tử! Nhưng già vẫn có thể sướng. Muốn sống lâu thì phải già chớ sao! Già có cái đẹp của già. Trái chín cây bao giờ cũng ngon hơn trái giú ép. Cái sướng đầu tiên của già là biết mình… già, thấy mình già, như trái chín cây thấy mình đang chín trên cây. Nhiều người chối từ già, chối từ cái sự thật đó và tìm cách giấu cái già đi, như trái chín cây ửng đỏ, mềm mại, thơm tho mà ráng căng cứng, xanh lè thì coi hổng được.

Mỗi ngày nhìn vào gương, người già có thể phát hiện những vẻ đẹp bất ngờ như những nếp nhăn mới xòe trên khóe mắt, bên vành môi, những món tóc lén lút bạc chỗ này chỗ nọ, cứng đơ, xơ xác… mà không ngờ nhanh vậy!

Thực tế con người ta có cái khuynh hướng dễ thấy khổ hơn. Khổ dễ nhận ra còn sướng thì khó biết! Một người luôn thấy mình sướng thì không khéo người ta nghi ngờ là có vấn đề về tâm thần!

Nói chung, người già có ba nỗi khổ thường gặp nhất, nếu giải quyết đựơc sẽ giúp họ sống “trăm năm hạnh phúc”:

* Một là thiếu bạn!

Nhìn qua nhìn lại, bạn cũ rơi rụng dần… Thiếu bạn, dễ hụt hẫng, cô đơn và dĩ nhiên… cô độc. Từ đó dễ thấy mình bị bỏ rơi, thấy không ai hiểu mình!.

Người già chỉ sảng khoái khi được rôm rả với ai đó, nhất là những ai “cùng một lứa bên trời lận đận”… Gặp đựơc bạn tâm giao thì quả là một liều thuốc bổ mà không bác sĩ nào có thể biên toa cho họ mua được!

Để giải quyết chuyện này, ở một số nước tiên tiến, người ta mở các phòng tư vấn, giới thiệu cho những người già cùng sở thích, cùng tánh khí, có dịp làm quen với nhau. Người già tự giới thiệu mình và nêu “tiêu chuẩn” người bạn mình muốn làm quen.

Rồi họ dạy người già học vi tính để có thể “chat”, “meo” với nhau chia sẻ tâm tình, giải tỏa stress… Thỉnh thỏang tổ chức cho các cụ họp mặt đâu đó để được trực tiếp gặp gỡ, trao đổi, dòm ngó, khen ngợi hoặc… chê bai lẫn nhau. Khen ngợi chê bai gì đều có lợi cho sức khỏe! Có dịp tương tác, có dịp cãi nhau là sướng rồi. Các tế bào não sẽ đựơc kích thích, đựơc hoạt hóa, sẽ tiết ra nhiều kích thích tố.

Tuyến thượng thận sẽ hăng lên, làm việc năng nổ, tạo ra cortisol và epinephrine làm cho máu huyết lưu thông, hơi thở trở nên sảng khóai, rồi tuyến sinh dục tạo ra DHEA (dehydroepiandoster one), một kích thích tố làm cho người ta trẻ lại, trẻ không ngờ!…

Dĩ nhiên phải chọn một nơi có không khí trong lành. Hoa cỏ thiên nhiên. Thức ăn theo yêu cầu. Gợi nhớ những kỷ niệm xưa… Rồi dạy các cụ vẽ tranh, làm thơ, nắn tượng… Tổ chức triển lãm cho các cụ. Rồi trình diễn văn nghệ cây nhà lá vườn. Các cụ dư sức viết kịch bản và đạo diễn. Coi văn nghệ không sướng bằng làm văn nghệ!

* Cái thiếu thứ hai là thiếu ăn!

Thực vậy. Ăn không phải là tọng là nuốt là xực là ngấu nghiến… cho nhiều thức ăn! Ăn không phải là nhồi nhét cho đầy bao tử! Trong cuộc sống hằng ngày có nhiều thứ nuốt không trôi lắm! Chẳng hạn ăn trong nỗi sợ hãi, lo âu, bực tức; ăn trong nỗi chờ đợi, giận hờn thì nuốt sao trôi? Nuốt là một phản xạ đặc biệt của thực quản dưới sự điều khiển của hệ thần kinh. Một người trồng chuối ngược vẫn có thể nuốt được dễ dàng! Nhưng khi buồn lo thì phản xạ nuốt bị cắt đứt!

Nhưng các cụ thiếu ăn, thiếu năng lựơng phần lớn là do sợ bệnh, kiêng khem quá đáng. Bác sĩ lại hay hù, làm cho họ sợ thêm! Nói chung, chuyện ăn uống nên nghe theo mệnh lệnh của… bao tử.

“Listen to your body”. Hãy lắng nghe sự mách bảo của cơ thể mình! Cơ thể nói… thèm ăn cái gì thì nó đang cần cái đó, thiếu cái đó! Nhưng nhớ ăn là chuyện của văn hóa! Chuyện của ngàn năm, đâu phải một ngày một buổi. Món ăn gắn với kỷ niệm, gắn với thói quen, gắn với mùi vị từ thuở còn thơ!

Người già có thể thích những món ăn… kỳ cục, không sao. Đừng ép! Miễn đủ bốn nhóm: bột, đạm, dầu, rau… Mắm nêm, mắm ruốc, mắm sặc, mắm bồ hóc, tương chao… đều tốt cả. Miễn đừng quá mặn, quá ngọt…là đựơc. Cách ăn cũng vậy. Hãy để các cụ tự do tự tại đến mức có thể đựơc. Đừng ép ăn, đừng đút ăn, đừng làm “hư” các cụ!

Cũng cần có sự hào hứng, sảng khoái, vui vẻ trong bữa ăn.. Con cháu hiếu thảo phải biết… giành ăn với các cụ. Men tiêu hoá được tiết ra từ tâm hồn chớ không chỉ từ bao tử.

* Cái thiếu thứ ba là thiếu vận động!

Già thì hai chân trở nên nặng nề, như mọc dài ra, biểu không chịu nghe lời ta nữa! Các khớp cứng lại, sưng lên, xương thì mỏng ra, dòn tan, dễ vỡ, dễ gãy!

Bác sĩ thường khuyên vận động mà không hướng dẫn kỹ dễ làm các cụ ráng quá sức chịu đựng, lâm bệnh thêm. Phải làm sao cho nhẹ nhàng mà hiệu quả, phù hợp với tuổi tác, với sức khỏe. Phải từ từ và đều đều. Ngày xưa người ta săn bắn, hái lượm, đánh cá, làm ruộng, làm rẫy… lao động suốt ngày.

Bây giờ chỉ ngồi quanh quẩn trong bốn bức tường trước TV!. Có một nguyên tắc “Use it or lose it!” Cái gì không xài thì teo! Thời đại bây giờ người ta xài cái đầu nhiều quá, nên “đầu thì to mà đít thì teo”. Thật đáng tiếc!

Không cần đi đâu xa. Có thể tập trong nhà. Nếu nhà có cầu thang thì đi cầu thang ngày mươi bận rất tốt. Đi vòng vòng trong phòng cũng được. Đừng có ráng lập “thành tích” làm gì! Tập cho mình thôi.. Từ từ và đều đều… Đến lúc nào thấy ghiền, bỏ tập một buổi… chịu hổng nổi là được!

Nguyên tắc chung là kết hợp hơi thở với vận động. Chậm rãi, nhịp nhàng. Lạy Phật cũng phải đúng… kỹ thuật để khỏi đau lưng, vẹo cột sống. Đúng kỹ thuật là giữ tư thế và kết hợp với hơi thở. Đó cũng chính là thiền, là yoga, dưỡng sinh…!

Vận động thể lực đúng cách thì già sẽ chậm lại. Giảm trầm cảm, buồn lo. Phấn chấn, tự tin. Dễ ăn, dễ ngủ…

Tóm lại, giải quyết được “ba cái lăng nhăng” đó thì có thể già mà… sướng!

Đ.H.N.

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở BA CÁI THIẾU KINH NIÊN CỦA NGƯỜI GIÀ_BS Đỗ Hồng Ngọc

Vì sao ông Trump vẫn được nhiều người ủng hộ? _ Nguyễn Quang Duy

Mặc dù ông Trump thất cử tổng thống 2020, nhưng ngay sau ngày 6/1/2021 đã rộ lên tin đồn ông Trump sẽ bỏ đảng Cộng Hòa thành lập đảng chính trị mới quy tụ những người ủng hộ ông.

Tin đồn được truyền thông chính mạch Mỹ triệt để khai thác, họ cho tổ chức nhiều cuộc thăm dò dẫn đến cùng một kết quả là cử tri đảng Cộng Hòa vẫn nồng nhiệt ủng hộ ông Trump và sẵn sàng gia nhập đảng thứ ba nếu ông thành lập.

Giới truyền thông chính mạch bấy lâu nay tập trung vào phần nổi là cá tính “độc đáo” của ông Trump mà quên đi phần chìm là những thách thức mà hệ thống chính trị Mỹ đang phải đối đầu.

Vì thế họ đã không giải thích lý do cử tri đảng Cộng Hòa vẫn tiếp tục ủng hộ dù ông Trump không còn là tổng thống.

Cử tri đảng Cộng Hòa nghĩ gì?

Kết quả từ một cuộc thăm dò được Viện thăm dò dư luận Gallup thực hiện từ ngày 21/1/2021 đến ngày 2/2/2021 và công bố ngày 15/2/2021 cho thấy:

Thứ nhất, có đến 68% đảng viên muốn ông Trump tiếp tục lãnh đạo đảng Cộng hòa;

Thứ hai, có 63% đảng viên tin rằng cả hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ đều quá sức tồi tệ nên cần có một đảng thứ ba thực sự đại diện cho người Mỹ;

Thứ ba, các đảng viên này muốn đảng Cộng Hòa trở lại với khuynh hướng bảo thủ thay vì càng ngày càng ngả sang cánh tả cấp tiến; và

Thứ tư, những đảng viên muốn có một đảng thứ ba cũng là những người vẫn xem ông Trump là lãnh đạo đảng và sẵn sàng bỏ đảng để gia nhập đảng của ông Trump.

Kết quả cho thấy uy tín của ông Trump trong đảng Cộng Hòa còn quá lớn để ông có thể trực tiếp ảnh hưởng đến kết quả các cuộc bầu cử sơ bộ đảng Cộng Hòa và các cuộc bầu cử 2022 và 2024 sắp tới.

Như thế nếu có một đảng thứ ba được thành lập thì đảng này chỉ quy tụ những đảng viên đảng Cộng Hòa không chấp nhập sự lãnh đạo của ông Trump, chứ không phải đảng do ông thành lập.

Lãnh đạo đảng Cộng Hòa nghĩ gì?

Mặc dù quan điểm chính trị của mỗi người mỗi khác nhưng các chính trị gia Mỹ cùng một đảng thường sẵn sàng gác bỏ những khác biệt để thống nhất về chính sách và chiến lược nhằm vận động cử tri dồn phiếu cho họ và cho đảng họ đại diện.

Vì thế, ngày 28/1/2021 Lãnh đạo phe thiểu số đảng Cộng Hòa tại Hạ Viện ông Kevin McCarthy đã chính thức xuống tận Câu Lạc Bộ Mar-a-Lago thuộc tiểu bang Florida để gặp ông Trump bàn luận về chiến thuật và chiến lược tranh cử năm 2022.

Ngày 23/2/2021, Thượng nghị sĩ Cộng hòa Lindsey Graham đã ghé thăm ông Trump sau đó ông Graham tuyên bố với báo chí là đảng Cộng hòa nếu muốn thắng cuộc bầu cử năm 2022 cần thực hiện những chính sách dưới sự hướng dẫn của ông Trump.

Ngày 25/2/2021, Thượng nghị sĩ Mitch McConnell Lãnh đạo phe thiểu số đảng Cộng hòa tại Thượng Viện cho biết ông sẽ ủng hộ ông Trump nếu ông ấy được đảng Cộng Hòa đề cử ra tranh cử tổng thống năm 2024.

Sắp tới vào ngày 28/2/2012 tại Hội nghị Hành động Chính trị Bảo thủ (CPAC) sẽ diễn ra tại Orlando, Florida, ông Trump sẽ có bài phát biểu để vạch ra hướng đi cho tương lai của đảng Cộng Hòa.

Lý do ông Trump được ủng hộ

Lý do mà đảng Cộng Hòa vẫn muốn gắn bó với ông Trump có thể được tóm lược như sau:

Về kinh tế việc cắt giảm thuế và khuyến khích vốn đầu tư quay trở lại nước Mỹ đã giúp tỉ lệ thất nghiệp xuống còn 3.5% vào tháng 9/2019, là tỉ lệ thấp nhất trong vòng 50 năm và có thể xem là tỉ lệ toàn dụng nhân lực (full employment).

Giải quyết được công ăn việc làm cho tầng lớp lao động là yếu tố quan trọng nhất trong các cuộc tranh cử tại Mỹ nên kinh tế vẫn là điểm mạnh nhất của Chính Phủ Trump.

Về năng lượng các chính sách khai thác tài nguyên nội địa thời ông Trump vừa giúp nước Mỹ không phải lệ thuộc vào nguồn nhiên liệu từ ngoại quốc lại còn tạo công ăn việc làm cho dân Mỹ.

Trận bão tuyết thổi qua tiểu bang Texas khiến điện gió và điện mặt trời ngừng hoạt động, mạng lưới điện sập, gây mất điện toàn tiểu bang là bài học để nước Mỹ xây dựng một chiến lược cân bằng năng lượng.

Các đảng viên đảng Cộng Hòa lo ngại khi nhận ra rằng các chính trị gia Mỹ ngày càng ngả sang cánh tả cấp tiến. Vì thế họ muốn những người lãnh đạo đảng phải quay về ủng hộ những chính sách di dân, văn hóa, giáo dục và bảo vệ những quyền tự do được ông Trump cổ vũ và thực hiện trước đây.

Chính sách quan trọng khác của ông Trump là quan tâm đến quyền lợi của tầng lớp lao động và chính kiến của các cộng đồng sắc tộc, thiếu chính sách này đảng Cộng Hòa khó có thể thắng được đảng Dân Chủ.

Về đối ngoại, từ năm 2017 ông Trump đề xướng và thực hiện Khung Chiến Lược Ấn Độ – Thái Bình Dương chủ trương liên minh với các quốc gia trong vùng, bao vây và cô lập Trung cộng, nhằm phá vỡ chiến lược Vành Đai Con Đường của Bắc Kinh.

Hiện chưa rõ Chính phủ Biden sẽ tiếp nối Chiến Lược Ấn Độ – Thái Bình Dương hay quay lại Chiến Lược Xoay Trục Thái Bình Dương thời tổng thống Obama. Hai chiến lược rất khác nhau xin hẹn một bài khác sẽ viết về đề tài này.

Nói chung đảng Cộng Hòa đã nhận thức được khuynh hướng toàn cầu hóa mà nhiều đời tổng thống trước ông Trump đeo đuổi đã không mang lại lợi ích thiết thực mà còn hủy hoại nước Mỹ.

Vì thế, đa số đảng viên đảng Cộng Hòa tin theo và tiếp tục ủng hộ những chính sách và chiến lược chống toàn cầu hóa thời Tổng thống Trump.

Ông Trump tranh cử tổng thống năm 2024?

Còn quá sớm để ông Trump cho biết có ra tranh cử nhiệm kỳ tới hay không, nhưng lên đến 68% số đảng viên đảng Cộng Hòa ủng hộ ông thì chắc chắn ông sẽ thắng trong kỳ tranh cử sơ bộ tổ chức vào giữa năm 2024.

Đối với giới truyền thống chính mạch tin tức về ông Trump vẫn là những tin tức được săn đón đưa lên hàng đầu cho thấy ông Trump vẫn là một nhân vật được quần chúng Mỹ để ý quan tâm.

Đối với đảng Dân Chủ ông Trump vẫn là đối thủ nặng ký nhất, vì thế dù ông đã mãn nhiệm tổng thống đảng Dân Chủ đã mang ông ra hạch tội lần thứ hai và họ sẽ tìm mọi cách loại trừ ông khỏi sinh hoạt chính trị.

Ngày 16/2/2021, Dân biểu đảng Dân chủ Bennie Thompson, chủ tịch Ủy ban An ninh Nội địa của Hạ viện, đã đâm đơn kiện ông Trump cùng ông Rudy Giuliani, luật sư riêng của ông Trump và hai tổ chức cánh hữu đồng lõa “kích động bạo loạn” tại Điện Capitol.

Đảng Dân Chủ muốn thành lập một “Ủy Ban độc lập” gồm những người được lưỡng đảng đề cử nhằm tiến hành điều tra việc người biểu tình xông vào Điện Capitol ngày 6/1/2021.

Đảng Dân Chủ muốn 11 người trong Ủy Ban sẽ có 3 người do Tổng thống Biden bổ nhiệm và 4 người do mỗi đảng bổ nhiệm, còn đảng Cộng Hòa đòi một Ủy ban cân bằng số người do mỗi đảng bổ nhiệm.

Mặc dù đảng Dân Chủ hiện đang nắm cả Thượng viện lẫn Hạ Viện nhưng với khoảng cách chênh lệch khá thấp rất dễ bị đảo ngược trong lần tranh cử giữa kỳ 2022 sắp tới.

Lấy lại Hạ Viện và Thượng Viện là phương cách để đảng Cộng Hòa kềm hãm những thay đổi từ Chính phủ Biden và từng bước tiếp nối con đường mà ông Trump đã gầy dựng.

Đến nay ông Trump và đảng Cộng Hòa còn tập trung vào cuộc tranh cử giữa kỳ 2022, tình hình chính trị ở Mỹ cũng như ở thế giới sẽ giúp ông Trump quyết định ra tranh cử hay đề cử một người từng sát cánh với ông ra tranh cử Tổng thống 2024 thay ông.

Người Việt ủng hộ ông Trump

Người Mỹ gốc Việt theo đảng Cộng Hòa ủng hộ ông Trump là điều hết sức bình thường, đáng lưu ý là đa số người Việt không sống ở Mỹ cũng nhiệt tình ủng hộ ông Trump.

Có người lý giải “đối thủ của kẻ thù là bạn”, ông Trump chống Trung cộng mà người Việt thì cũng chống Trung cộng nên người Việt ủng hộ ông.

Cũng có người cho rằng khen chê chính trị của Mỹ vừa hứng thú vừa an toàn, còn ở Việt Nam mọi thứ đã có “Đảng” lo, hơi đâu xen vào chuyện nội bộ của họ có khi lại phiền đến bản thân và gia đình.

Những lý do trên cũng chỉ là mặt nổi của tảng băng, còn phần chìm của nó thì theo tôi còn hai lý do khác sâu và rộng hơn:

Thứ nhất, những ý tưởng cánh tả cấp tiến kiểu Mỹ chưa ảnh hưởng đến cách suy nghĩ của đại đa số người Việt, nói cách khác người Việt cũng giống như những đảng viên đảng Cộng Hòa Mỹ còn rất bảo thủ trong cách suy nghĩ và hành động; và

Thứ hai, thế giới đã thay đổi quá nhiều và quá nhanh, ảnh hưởng quá mạnh mẽ đến đời sống của người Việt, từ mức độ chênh lệch giàu nghèo, đến thay đổi môi trường, văn hóa, giáo dục, xã hội, gia đình, mà hệ thống chính trị tại Việt Nam thì không hề thay đổi.

Hơn 30 năm qua, trường phái tân tự do ở Mỹ đẩy mạnh toàn cầu hóa đã không mang lại tự do và dân chủ cho Việt Nam, lại còn hủy hoại môi trường và con người Việt Nam.

Khi chứng kiến toàn cầu hóa ảnh hưởng xấu đến đất nước và con người, khuynh hướng bảo thủ và bảo tồn những giá trị truyền thống dân tộc trỗi dậy, người Việt vốn đã bảo thủ càng trở nên bảo thủ hơn.

Nên người Việt không khác gì người Mỹ thuộc đảng Cộng Hòa theo khuynh hướng bảo thủ, tận đáy lòng muốn bảo vệ những giá trị truyền thống đang bị toàn cầu hóa hủy hoại, vì thế không lạ gì khi thấy đa số người Việt vẫn tiếp tục ủng hộ ông Trump.

Nguyễn Quang Duy

Melbourne, Úc Đại Lợi

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Vì sao ông Trump vẫn được nhiều người ủng hộ? _ Nguyễn Quang Duy

Nguyện cầu đầu năm – Thơ Nguyễn Phiến

Nguyện cầu đầu năm Tân Sửu

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Nguyện cầu đầu năm – Thơ Nguyễn Phiến

CHIẾC ÁO BÀ BA – Tác giả Tuấn Khanh

Tại răng “áo bà ba”
mà không “áo bà tư”?

                                                                TUẤN KHANH

92b0556d16f5175dfc4f08b39f2df5fc                                               (Hình phụ họa)
Người Việt ai cũng biết áo bà ba. Đặc biệt là dân Nam bộ thì ai cũng biết bởi đó gần như là trang phục hàng ngày của phụ nữ từ đầu làng đến cuối xóm.

Cái tên “bà ba”, cũng là điều tranh cãi rất nhiều, vì không rõ nguồn từ đâu, và có từ khi nào. Duy từ hai giải thuyết đáng tin cậy nhất, có thể thấy cái tên “bà ba” xuất phát từ nhà văn Sơn Nam, và hoàn toàn không liên quan gì đến các bà Tư hay Năm…

Giả thuyết thứ nhất, với nhiều tài liệu cũ trước năm 1975 ghi rằng áo bà ba xuất hiện đầu tiên ở Nam bộ, vào nửa đầu thế kỷ 19, được học giả Trương Vĩnh Ký cách tân từ áo của người dân đảo Pénang (người Malaysia gốc Hoa) cho phù hợp với người Việt. Người ta tin rằng tên gọi chiếc áo bắt đầu từ hai chữ Baba-Nyonya.

unnamed (2)

Người Baba-Nyonya (峇 峇 娘惹), tiếng địa phương là Peranakan, có nghĩa là hậu duệ của những người nhập cư Trung Quốc đầu tiên đến định cư tại các thuộc địa của Anh trên Eo biển ở Malacca, Pénang và Singapore từ thế kỷ 16 đến 18. Baba (峇 峇) là một từ tiếng Trung Quốc có nghĩa là “cha” và dùng để chỉ nam giới. Nyonya xuất phát từ tiếng Bồ Đào Nha donha, “quý bà”, và dùng để chỉ phụ nữ. Có thể học giả Trương Vĩnh Ký đã thích thú trước cái áo rất dễ nhìn, dễ vận dụng trong đời sống làm việc lẫn sinh hoạt hàng ngày và mang về, chỉnh lại đôi chút cho người Việt.

Viết trong Văn minh miệt vườn, nhà văn Sơn Nam ghi rằng “Ở miệt vườn, kiểu quần áo bà ba là tiện lợi nhất, đồng thời quần áo bà ba cũng tiêu biểu cho sự trang nghiêm trong giới trung lưu… Áo bà ba gọn gàng, cởi ra mặc vào dễ dàng, giúp con người đi đứng khoan thai, ít câu thúc”.

Điều đáng chú ý, luận điểm của nhà văn Sơn Nam nhắc về việc người dân miền Nam nói trại đi chữ Baba nguyên gốc thành áo bà ba. Tương tự như giả thuyết về học giả Trương Vĩnh Ký, nhà văn Sơn Nam cũng ghi “Bà Ba là người Mã Lai lai Trung Hoa. Chiếc áo bà ba mà người miền Nam ưa thích, vạt ngắn không bâu chính là kiểu áo của người Bà Ba”.

01_15950571162148

Sau năm 1975, có một vài nhà nghiên cứu từ phía Bắc vào, và phủ nhận nhận quan điểm này, và nói rằng người Mã Lai không có tộc nào tên Baba hay Babas cả. Thậm chí còn bịa ra câu chuyện  là có một phụ nữa Nam Bộ nào đó chế ra kiểu áo này từ áo dài, và tệ hơn, có giả thuyết từ giới trí thức ấy, là áo bà ba được khởi đầu may tạo ra ba tà, nên có tên liên quan số 3.

Miền Nam là vùng đất của tất cả những con người lập lũ và khởi đầu cuộc sống mở mang, khai hoang ở thế kỷ 18 và 19. Do đó có thể khẳng định rằng tất cả hình thái ban đầu của chiếc áo bà ba, từ xưa đó cho đến nay, đã trải qua rất nhiều cải cách, dựa theo tính vận động và nghi thức lễ lạc của người miền Nam Việt Nam. Về sau nhiều tôn giáo và trang phục lễ nghi tôn giáo ở miền Nam cũng chấp nhận dùng áo bà ba, có nơi dùng áo bà ba nhưng khác màu sắc ngày thường.

unnamed (6)

Vì sao áo bà ba trở nên phổ biến ở miền Nam? Có một giả thuyết khác từ sử liệu nói rằng khi Chúa Nguyễn đời thứ tám, chúa Nguyễn Phúc Khoát (1714-1765), nắm quyền từ năm 24 tuổi, đã đặt ra nhiều cải cách về hành chính cũng như thay đổi y phục từ quan đến dân.

Người dân ở phía Nam đã chọn kiểu áo bà ba với màu tối, dùng chung cho cả đàn ông và đàn bà như một cách ứng xử tiện gọn cho sinh hoạt thường nhật. Bên cạnh đó, giai đoạn Chúa Nguyễn Phúc Khoát cầm quyền cũng là lúc hiềm khích giữa Đại Việt và Chân Lạp (tức triều đại cổ của người Khmer) ngày càng dâng.

Đặc biệt là Vua Nặc Nguyên chủ trương tấn công vào biên giới Đại Việt để hà hiếp, cướp bóc những tộc du cư đến Đại Việt như người Chăm, Mã Lai, Che Mạ (gọi chung là Côn Man) nên dân Việt hay mặc áo bà ba để phân biệt người mình.

ao-ba-ba-khoa-khoi

Về mặt thẩm mỹ mà nói, cho đến hôm nay, áo bà ba là một loại trang phục hết sức đặc biệt của miền Nam: Áo đàn ông thì trang nghiêm, đĩnh đạc. Áo cho đàn bà thì thanh thoát duyên dáng – thậm chí còn rất quyến rũ khi phối dựng với chất liệu vải và kiểu may cổ và xẻ tà.

Nguyên gốc áo bà ba vốn là áo không cổ – đó là sự khác biệt lớn giữa các trang phục có nét tương tự của các dân tộc khác. Thân áo phía sau may bằng một mảnh vải nguyên, thân trước gồm hai mảnh, ở giữa có hai dải khuy cài chạy dài từ trên xuống.

Áo chít eo, xẻ tà vừa phải ở hai bên hông. Tương tự như áo dài, áo bà ba có độ dài trùm qua mông, gần như bó sát thân làm tôn lên những đường cong tuyệt mỹ của cơ thể người phụ nữ.

unnamed (5)

Trong bối cảnh Trung Quốc đang lấn và chiếm nhiều giá trị văn hóa của Việt Nam, để mô tả tính chất chịu ảnh hưởng của chư hầu, chiếc áo bà ba cũng đang bị dòm ngó, không khác gì kimchi Hàn Quốc đang bị tiếm danh bởi Trung Quốc. Có tài liệu bậc tiến sĩ ở Hà Nội, gần đây còn chứng minh áo bà ba là trang phục từ người Minh Hương di cư đến miền Nam nên được lấy lại. Tài liệu gốc chứng minh thì được dẫn từ sách Trung Quốc.

acc81o-bacc80-ba1

Lịch sử Việt Nam từ sau 1975 đến nay đang bị nói lại, diễn giải lại hết sức duy ý chí, không thể không gọi làm đau lòng tiền nhân. Nhớ lại, dạy cho con cháu, những thứ đơn giản như tên gọi áo bà ba, cũng là một cách kính trọng tổ tiên Việt đã khai phá, và giữ lòng tự trọng của một người Việt Nam đứng ngoài nạn sính chữ điêu xằng.

Tuấn Khanh

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở CHIẾC ÁO BÀ BA – Tác giả Tuấn Khanh

NGĂN CHẶN TỪ XA VÀ TẬN GỐCNGUY CƠ “ĐẶC KHU CHỢ LỚN TỰ TRỊ” (Cù Mai Công)

NGĂN CHẶN TỪ XA VÀ TẬN GỐC
NGUY CƠ “ĐẶC KHU CHỢ LỚN TỰ TRỊ”

cho-lon

Thập niên 1950, Quân Giải phóng nhân dân Trung Hoa chiếm xong toàn bộ đại lục Trung Hoa. Chính quyền Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (Trung Quốc) lẫn Trung Hoa Dân quốc (Đài Loan) ngấm ngầm lẫn công khai có chủ trương tác động, gây ảnh hưởng đến các cộng đồng người Hoa khu vực Đông Nam Á.

Vốn trước năm 1949, người Hoa ở Việt Nam vẫn giữ quốc tịch Trung Quốc. Chính phủ Trung Hoa Dân quốc tuyên bố tất cả người Hoa ở nước ngoài đều là công dân Trung Quốc, rằng Trung Quốc có quyền ngoài – lãnh thổ: quyền can thiệp vào các quốc gia khác để bảo vệ công dân của mình.

(Đến thập kỉ 1950, sau khi chiếm xong đại lục Trung Hoa, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa mới chính thức thu hồi tuyên bố này).

CHIẾN LƯỢC “TẰM ĂN LÁ” CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯỜI HOA Ở SINGAPORE

Cũng trong những năm này, Singapore là thuộc địa Anh, nơi cộng đồng người Hoa chiếm đa số nổi lên phong trào đòi tự trị. Trong tổng tuyển cử đầu tiên năm 1955, lãnh đạo ủng hộ độc lập của Mặt trận Lao động là David Marshall giành chiến thắng; dẫn đầu một phái đoàn đến Luân Đôn để yêu cầu tự trị hoàn toàn, song người Anh bác bỏ. David Marshall từ chức và Lâm Hữu Phúc trở thành người thay thế, tiếp tục tiến hành các chính sách nhằm thuyết phục người Anh trao cho Singapore quyền tự trị nội bộ hoàn toàn đối với toàn bộ các vấn đề, trừ quốc phòng và đối ngoại.

Thực tế 4 năm sau, 1959, qua bầu cử tháng 5/1959, Đảng Hành động Nhân dân giành chiến thắng và Singapore trở thành một nhà nước tự trị nội bộ trong khối Thịnh vượng chung.

Và sau những biến động lịch sử, từ một thành viên của Liên bang Malaysia cùng với Malaya, Sabah và Sarawak (1962), Singapore thành bang tự trị vào tháng 9/1963. Cuối cùng, Singapore độc lập ngày 9/8/1965.

Đó là một ví dụ cụ thể gần đây của cái gọi là chiến thuật, mô hình “tằm ăn lá” kiểu Trung Hoa xưa nay không thay đổi: bắt đầu là đưa dân tới làm ăn ở một vùng đất nào đó, tạo thành khối, lực lượng chặt chẽ; sau đó là… chống lại chính quyền nơi đó, đòi tự trị rồi tách ra…

1.- ÔNG CHA TA QUÁ RÀNH THỦ ĐOẠN “TẰM ĂN LÁ”

Chiến thuật này ông cha ta “rành sáu câu”!

(Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim chép):

Đời vua Trần Anh Tông (1293-1314), đức Trần Hưng Đạo lui về trí sĩ ở Vạn Kiếp. Vua Anh Tông thấy ngài bệnh nặng sắp mất liền ngự giá đến thăm. Nhà vua đã cẩn thận xin ý kiến của Hưng Đạo Vương về cách thế đối phó với giặc phương bắc, mới hỏi rằng: “Thượng phụ một mai khuất núi, phỏng có quân Bắc lại sang thì làm thế nào?”

Hưng Đạo Vương tâu rằng: “(…) Khi nào quân giặc kéo đến ầm ầm, như gió, như lửa, thế ấy lại dễ chống. Nếu nó dùng cách dần dà, như tằm ăn lá, thong thả mà không ham của dân, không cần lấy mau việc, thế ấy mới khó trị…”.

2.- BIỆN PHÁP PHỐI HỢP TRIỆT TIÊU TẬN GỐC NGUY CƠ TỰ TRỊ Ở CHỢ LỚN: HÀNH CHÍNH VÀ ĐỊA GIỚI

Cũng trong thập niên 1950, cảnh giác nguy cơ “tằm ăn lá” và lấy ngay tấm gương tự trị Singapore sát cạnh, Chính quyền Ngô Đình Diệm đã tiến hành một loạt biện pháp cụ thể phòng chống nguy cơ tỉnh Chợ Lớn, thành phố Chợ Lớn – nơi có đa số cư dân là người Hoa – đòi tự trị.

Tỉnh Chợ Lớn (khác thành phố Chợ Lớn) vốn được chính quyền Pháp thành lập ngày 20/12/1899 với nhiều quận huyện. Dân số tỉnh Chợ Lớn ở thập niên 1950 khoảng 1.000.000 dân (bao gồm cả người Việt, người Hoa…), xấp xỉ Singapore lúc ấy.

Còn thành phố Chợ Lớn (khu vực quận 5, 6 và một phần quận 8, 10 hiện nay) vốn được thành lập sớm hơn, cùng thời điểm chính thức thành lập thành phố Sài Gòn 1865.

Đến 1956, dưới thời Chính quyền VNCH Ngô Đình Diệm, hầu hết người Hoa ở tỉnh Chợ Lớn, thành phố Chợ Lớn vẫn mang quốc tịch Trung Hoa (Trung Hoa Dân quốc – Đài Loan). Và cộng đồng này vốn có quan hệ rất chặt chẽ về gia đình, buôn bán với cộng đồng người Hoa ở Singapore – từ hàng trăm năm…

Tấm gương Singapore + tác động ngấm ngầm của của Chính quyền Trung Quốc lúc ấy + các nhóm Tam Hoàng (vốn là các nhóm Thiên Địa hội từ Trung Quốc tràn sang Việt Nam và rất manh động trong giới người Hoa ở miền Nam suốt thời Pháp thuộc) hoạt động ngấm ngầm, Chính quyền Tổng thống VNCH Ngô Đình Diệm đã ra tay: hàng loạt biện pháp phòng chống nguy cơ “diễn biến hòa bình” được thực hiện ngay những ngày đầu tiên của nền Đệ nhất Cộng hòa.

* NỔI BẬT LÀ HAI ĐỘNG TÁC CHÍNH:

A.- Công bố hàng loạt ngành nghề kinh doanh chỉ dành cho người Việt Nam; người nước ngoài không được hành nghề.

Cụ thể Thủ tướng VNCH Ngô Đình Diệm (Thủ tướng Diệm đắc cử tổng thống VNCH ngày 24/10/1956) ra Đạo dụ (một hình thức quy phạm pháp luật mang tính bắt buộc thời đó) số 53 ngày 6/9/1956 quy định người nước ngoài không được hoạt động 11 ngành nghề, chủ yếu nhắm vào Hoa kiều:

1/ Buôn bán cá thịt
2/ Buôn bán tạp hóa
3/ Buôn bán than, củi
4/ Buôn bán xăng, dầu lửa và dầu nhớt
5/ Cầm đồ bình dân
6/ Buôn bán vải, tơ lụa, chỉ sợi
7/ Buôn bán sắt, đồng, thau vụn
8/ Nhà máy xay lúa
9/ Buôn bán ngũ cốc
10/Chuyên chở hàng hóa, hành khách bằng xe hơi, hay tàu thuyền
11/Trung gian ăn huê hồng.

Người Hoa vốn mê buôn bán, làm ăn, đây lại là những ngành nghề họ hoạt động kinh doanh bao lâu nay, cha truyền con nối.

Giới Hoa kiều ở Chợ Lớn – Sài Gòn phản ứng khá dữ dội cả không chỉ chính trị mà cả với hoạt động kinh tế.

Người Hoa xuống đường biểu tình, bạo động, phản đối chính sách của Chính phủ Ngô Đình Diệm. Hè 1957, người Hoa vùng Chợ Lớn – Sài Gòn đóng cửa gần hết trường học, hoạt động thương mại, và rút tiền ra khỏi ngân hàng.

Khoảng 800 triệu đến 1,5 tỉ đồng VNCH lúc đó (gần 17% tiền tệ đang lưu hành ở miền Nam) biến khỏi thị trường .Thương mại ngưng trệ: giữa tháng 5/1957, khoảng 6.000 cửa hàng của người Hoa đã đóng cửa, 200.000 người mất công ăn việc làm. Hoa kiều còn phản đối bằng việc ngừng vận tải hàng hóa (các hãng vận tải lớn đều do họ nắm giữ).

Với sự hỗ trợ của giới buôn lớn, chủ ngân hàng Hoa kiều ở Đông Nam Á và chính quyền Đài Loan, người Hoa nhất loạt đình chỉ hoạt động, tẩy chay không bốc dỡ gạo VNCH đã cập bến cảng nước ngoài. Nông sản ứ đọng ở vùng quê, trong khi Sài Gòn – Chợ Lớn lại rất khan hiếm.

Nền kinh tế VNCH tưởng chừng sụp đổ.

Ngay lập tức, tháng 5/1957, Bắc Kinh phản đối và cho là “sự xâm phạm tàn nhẫn các quyền hợp pháp của người Hoa”.

Chính phủ Ngô Đình Diêm không nao núng, tiếp tục quyết liệt chính sách của mình.

Chỉ vài năm sau, 99,8% trên tổng số hơn 1 triệu người Hoa ở tỉnh, thành phố Chợ Lớn cũng như toàn miền Nam xin nhập quốc tịch Việt Nam; trở thành người Việt gốc Hoa như chúng ta thấy ngày nay, chứ không còn là Hoa kiều như trước đó. Một số ngoại kiều, không chỉ Hoa kiều không vô quốc tịch Việt Nam thì thoải mái “đi chỗ khác chơi” (tức trục xuất) hay tự về nước tùy ý.

Đến năm 1961, Bộ Nội vụ VNCH đã báo cáo lên Tổng thống Ngô Đình Diệm: Trên 1.000.000 người Hoa thuộc địa phận VNCH (miền Nam) chỉ còn 2.000 người già yếu, bệnh tật không nhập quốc tịch (0,2%) nên cũng không cần trục xuất.

Quốc tịch Việt Nam rồi thì còn đòi tự trị gì được! Không lẽ người Việt đòi tự trị với người Việt – bất hợp pháp với công pháp quốc tế.

* Trước đó, chỉ sau khi khai sinh Đệ nhất Cộng hòa (26/10/1955) gần một tháng rưỡi, để giải quyết dứt khoát vấn đề Hoa kiều ở miền Nam Việt Nam, ngày 7/12/1955, Thủ tướng VNCH Ngô Đình Diệm đã ký ban hành Dụ số 10 quy định về Bộ Luật Quốc tịch Việt Nam. Điều 12 ghi rõ: “Con chính thức mà mẹ là người Việt Nam, và cha là người Trung Hoa, nếu sinh đẻ ở Việt Nam thì là người Việt Nam”.

Lúc đó, giới Hoa kiều ở miền Nam vẫn hy vọng Thống chế Trung Hoa Dân quốc (Đài Loan) Tưởng Giới Thạch sẽ can thiệp nên có ý coi thường, không chấp hành đạo dụ này. Thủ tướng VNCH Ngô Đình Diệm ra tiếp Dụ số 48 (ngày 21/8/1956), Sửa đổi Bộ Luật Quốc tịch Việt Nam, Điều 16 quy định:

“Hoa kiều thổ sanh (sinh trưởng tại Việt Nam) sẽ là người Việt Nam, bắt buộc phải nhập và khai nhận quốc tịch Việt Nam, hoặc nếu không chịu nhập tịch thì có thể xin hồi hương (về Đài Loan) trước ngày 31/8/1957. Thời hạn ấn định cho những Hoa kiều sinh tại Việt Nam phải làm khai sinh để được cấp thẻ căn cước sẽ kết thúc ngày 08/4/1957, việc kiểm tra sẽ hoàn tất vào ngày 22/6/1957”.

Ai không muốn nhập tịch thì ra đi, mỗi người sẽ được chính quyền Sài Gòn cấp 400 đồng để “hồi hương”, đúng theo luật định.

8 ngày sau, 29/8/1956, Thủ tướng Ngô Đình Diệm lại ban hành Dụ số 52 quy định Hoa kiều sinh sống ở VNCH phải mang quốc tịch Việt để tự do giao dịch, đi lại và buôn bán. Người Hoa phải Việt hóa tên họ (như Trịnh, Quách, Mạch, Lâm, Giang, Diệp, Lưu, Vương, Hà, Hứa, Mã, Lý, Trần, Trương, v.v…) chứ không được xưng các tên ngoại quốc hay tên gọi riêng (như Chú, A, Chế…) kể cả bí danh, trong những văn kiện chính thức. Tên hiệu các cơ sở thương mại, văn hóa, phải viết bằng Việt ngữ.

Và 8 ngày sau nữa (6/9/1956), Thủ tướng Ngô Đình Diệm tung đòn nock-out bằng Dụ số 53 như đã nói ở trên.

Loạt sự kiện này đã làm rung chuyển giới Hoa kiều Sài Gòn – Chợ Lớn lẫn miền Nam lúc ấy. Đến mức con nít Sài Gòn hát um xùm một bài hát ngắn gọn mà đến nay chắc chắn nhiều người Sài Gòn còn nhớ: “Các (mấy) chú Ba Tàu, thằng nào cũng như thằng nấy – Thằng nào không giấy (quốc tịch Việt), đuổi ngay nó đi về Tàu…”.

B.- Một tháng rưỡi sau, biện pháp địa giới hành chính ngăn chặn tận gốc cụ thể cũng được ban hành. Ngày 22/10/1956, trước khi đắc cử tổng thống VNCH hai ngày (24/10/1956), Thủ tướng Ngô Đình Diệm ký Sắc lệnh 143/VN “Thay đổi địa giới và tên Đô thành Sài Gòn – Chợ Lớn cùng các tỉnh và tỉnh lỵ tại Việt Nam”.

Theo đó, địa phận VNCH gồm Đô thành Sài Gòn và 22 tỉnh. Lúc này, tỉnh Tân An hợp nhất phần lớn đất đai tỉnh Chợ Lớn để thành lập tỉnh mới Long An. Một số khu vực còn lại của tỉnh Chợ Lớn nhập vô tỉnh Gia Định.

Cũng theo sắc lệnh này, Đô thành Sài Gòn – Chợ Lớn đổi tên thành Đô thành Sài Gòn. Như vậy tên gọi “Chợ Lớn” không còn được dùng chính thức trong các tên gọi hành chính cấp tỉnh thành nữa. Kể từ đây, địa danh “Chợ Lớn” chỉ còn được dùng để chỉ khu vực quận 5, quận 6, quận 11 và một phần quận 8, quận 10 của Đô thành Sài Gòn.

Tỉnh Chợ Lớn có đa số cư dân là người Hoa tồn tại 57 năm (1899 – 1956) đến đó là hết! Thành phố Chợ Lớn 91 năm (1865 – 1956) cũng không còn! Chỉ là địa danh lịch sử – văn hóa.

Khu (région) Sài Gòn – Chợ Lớn vốn là đơn vị hành chính do Tổng thống Pháp ký thành lập năm 1931 (Région Saigon – Cholon hoặc Région de Saigon – Cholon). Ngày 30/6/1951, Thủ tướng Quốc gia Việt Nam Trần Văn Hữu (3 tháng sau, tháng 9/1951, Thủ tướng Trần Văn Hữu đã tuyên bố Hoàng Sa, Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam trước thế giới tại Hòa hội Cựu Kim Sơn) ký sắc lệnh số 311-cab/SG đổi tên Khu Sài Gòn – Chợ Lớn thành Đô thành Sài Gòn – Chợ Lớn (Préfecture Saigon – Cholon hoặc Préfecture de Saigon – Cholon hoặc Ville – capitale de Saigon – Cholon).

Với Sắc lệnh 143/VN, Đô thành Sài Gòn – Chợ Lớn chỉ còn Đô thành Sài Gòn. Chợ Lớn trở thành quận 5, 6… của Sài Gòn.

Chấm hết vĩnh viễn hai địa giới hành chính, khu dân cư nhiều người Hoa có nguy cơ tự trị ở miền Nam! Chấm hết âm mưu “tằm ăn lá” muôn đời nay của các nhà cầm quyền, thế lực Trung Hoa với miền Nam.

NÓI THÊM: Cũng vào giữa thập niên 1950, Chính quyền Sài Gòn đã đặt tên lại hàng loạt con đường vốn mang tên Pháp ở Sài Gòn. Chú ý: Các con đường từ Sài Gòn (khu vực người Việt) vô Chợ Lớn (khu vực đa số người Hoa) đều mang tên các danh tướng, danh nhân, địa danh đánh thắng các thế lực xâm lược Trung Hoa: Trần Hưng Đạo (bắt đầu từ trung tâm Sài Gòn, chợ Bến Thành tới đường Cộng Hòa – nay là đường Nguyễn Văn Cừ, ranh giới Sài Gòn – Chợ Lớn), Nguyễn Trãi, Trần Quốc Toản (nay là 3/2), Bến Bạch Đằng – Bến Chương Dương – Bến Hàm Tử…

(Stt đi vào cách nhìn nhận và xử lý nguy cơ ngoại bang, không đi vào ý thức hệ chính trị – không có lợi cho hòa hợp hòa giải dân tộc trước các thế lực ngoại bang. Mong các bạn comments chia sẻ điều này. Xin cảm ơn)

Nhà báo CÙ MAI CÔNG

(Theo Triều Thành Weekly Magazine)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở NGĂN CHẶN TỪ XA VÀ TẬN GỐCNGUY CƠ “ĐẶC KHU CHỢ LỚN TỰ TRỊ” (Cù Mai Công)

NHỮNG NGƯỜI ĐÃ ĐƯỢC CHÍCH VẮC XIN COVID 19 CÓ THỂ TRỞ LẠI CUỘC SỐNG BÌNH THƯỜNG. HNS. ISSA (Phạm Quang Chiểu)

HNS ISSA nói: Những người đã được chích vắc xin Covid 19 có thể trở lại cuộc sống bình thường

(Trích từ ZACHARY STIEBER VÀ JAN JEKIELEK Ngày 27 tháng 2 năm 2021 Cập nhật: ngày 27 tháng 2 năm 2021)

Những người đã chích ngừa COVID-19 không nên tiếp tục đeo khẩu trang và giữ khoảng cách với xã hội.

Issa nói với The Epoch Times:

“Trong gần 100 năm, kể từ khi chúng tôi phát triển khả năng miễn dịch, mọi người luôn biết nếu bạn sống sót sau bệnh đậu mùa, bạn sẽ không mắc lại bệnh này. Bạn bị thủy đậu, bạn sẽ không bị lại. Bạn được chủng ngừa bại liệt; bạn không còn lo lắng về bệnh bại liệt, v.v.

 Lần đầu tiên, đây là một loạt vắc-xin, an toàn và hiệu quả, hiệu quả hơn 95% và điều gì đang xảy ra? Họ nói với chúng tôi rằng hãy đeo khẩu trang đi, để tiếp tục giữ khoảng cách xa xã hội. Điều đó thật vô lý.” và ông ta nói thêm:

“Thực tế là lợi ích của việc sử dụng loại vắc xin an toàn và hiệu quả này là bạn có thể có được cuộc sống của mình, trở lại làm mọi việc như bình thường. Và kết quả là, chúng ta nên ăn mừng, không đeo mặt nạ, ”ông ta nói thêm.

Hơn 47 triệu người Mỹ đã nhận được ít nhất một liều vắc-xin COVID-19, theo dữ liệu liên bang được cập nhật lần cuối vào thứ Sáu, với 22,6 triệu người đã tiêm hai mũi.

pfizer shot

Một dược sĩ chuẩn bị một ống tiêm với vắc xin Pfizer-BioNTech COVID-19 tại một điểm tiêm chủng COVID-19 tại NYC Health + Hospitals Metropolitan, New York, vào ngày 18 tháng 2 năm 2021. (Mary Altaffer / Ảnh AP)

Trong khi đó, số ca COVID-19, nhập viện và tử vong đang giảm mạnh.

Nhưng các quan chức liên bang đang kêu gọi mọi người thay đổi một chút về cuộc sống của họ nếu họ đã chích ngừa.

“Có những điều, ngay cả khi bạn đã tiêm phòng, bạn sẽ không thể làm được những việc thường trong xã hội: ví dụ như ăn uống trong nhà hàng, rạp hát, những nơi mọi người tụ tập,” Điều đó thật vô lý

Các quan chức cho biết vẫn chưa rõ liệu vắc xin có ngăn chặn sự lây truyền của vi rút hay không. “Và vì lý do đó, chúng tôi muốn đảm bảo rằng mọi người tiếp tục đeo khẩu trang mặc dù thực tế là họ đã được tiêm phòng”, Fauci nói.

Issa đã đưa ra vấn đề với các khuyến nghị, mà một số chuyên gia nói rằng đang làm giảm nhiệt tình tiêm chủng.

Fauci “đang bảo chúng tôi đeo [mặt nạ] thứ hai vào,” Fauci nói với Đại Kỷ Nguyên. “Tổng thống Hoa Kỳ đã được tiêm chủng trở lại vào tháng 12, nhưng ông ấy vẫn giả vờ rằng chiếc mặt nạ phục vụ một mục đích nào đó. “

Khi người dẫn chương trình lưu ý rằng Biden có lẽ muốn mô hình hóa hành vi được khuyến nghị cho người Mỹ, Issa nói rằng, trong trường hợp đó, Biden không bao giờ được tháo mặt nạ của mình.

Issa đã nhận được hai liều vắc xin và do đó chọn không đeo khẩu trang. “Lý do tôi không đeo mặt nạ ngay bây giờ là tôi đã chụp hai mũi; Tôi đã được miễn dịch, ”anh nói.

Các quan chức của Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh (CDC) đã cho biết trong tuần này rằng những người đã được tiêm chủng có thể thực hiện ít biện pháp phòng ngừa hơn, chẳng hạn như không cách ly sau khi tiếp xúc với một trường hợp COVID-19.

Tiến sĩ Rochelle Walensky, giám đốc CDC, cho biết trong một cuộc họp ngắn gần đây: “Vì vậy, chúng tôi đang bắt đầu đưa ra một số hướng dẫn trong lĩnh vực này, và nhiều hơn nữa sẽ được ra mắt trong thời gian tới.

COVID-19 là căn bệnh do vi rút của ĐCSTQ (Đảng Cộng sản Trung Quốc) gây ra.

Nhận định

1.- Issa, vị Hạ nghị sĩ nói: ”Lần đầu tiên, đây là một loạt vắc-xin, an toàn và hiệu quả, hiệu quả hơn 95% và điều gì đang xảy ra? Họ nói với chúng tôi rằng hãy đeo khẩu trang đi, để tiếp tục giữ khoảng cách xa xã hội”. Ông nói tiếp

 “Có những điều, ngay cả khi bạn đã tiêm phòng, bạn sẽ không thể làm được những việc thường trong xã hội: ví dụ như ăn uống trong nhà hàng, rạp hát, những nơi mọi người tụ tập,” Điều đó thật vô lý. Mà vô lý thực vì người này có bị nhiễm bệnh đâu mà sợ và chẳng gây bệnh cho ai. Vậy mang khẩu trang làm gi? Thật vô lý.”

HNS nói rất đúng; khi chúng ta đã chích ngừa có hiệu quả có nghĩa là trong cơ thể của chúng ta không còn bất cứ một con siêu vi của Chệt truyền sang nữa. Đã không còn con siêu vi nào có nghĩa là: Thứ nhất người này không có bệnh. Thứ  hai người này không thể nhiễm bệnh. Thứ ba là người này không thể tự bản thân làm lây bệnh sang người khác chẳng hạn như hắt hơi, ho cũng chẳng có con vi nào bay vào không khí để người khác bị lây nhiễm. Thêm vào đó dù tay người này có dính siêu vi Chệt rồi lại gãi vào mặt mình; cũng chẳng sao. Cho nên ông Issa có lý để nói: “ Điều đó thật vô lý”

2.- Ngược lại ông Tiến sĩ Fauci lại nói:”

Các quan chức cho biết vẫn chưa rõ liệu vắc xin có ngăn chặn sự lây truyền của vi rút hay không. “Và vì lý do đó, chúng tôi muốn đảm bảo rằng mọi người tiếp tục đeo khẩu trang mặc dù thực tế là họ đã được tiêm phòng”, Fauci nói.

Là nhà khoa học, là Tiên sĩ mà phát biểu như trên thât là nói “bừa”, nói không suy nghĩ:”vẫn chưa rõ liệu vắc xin có ngăn chặn sự lây truyền của vi rút hay không”. Thưa ông TS, vậy nhà sản xuất nói kết qủa 95% là nghĩa làm sao mà nói:”vẫn chưa rõ liệu vắc xin có ngăn chặn sự lây truyền của vi rút hay không”..

Thật là ông ở trên sao Hoả mới về tới.

Fauci “đang bảo chúng tôi đeo [mặt nạ] thứ hai vào,” Fauci nói với Đại Kỷ Nguyên. “Tổng thống Hoa Kỳ đã được tiêm chủng trở lại vào tháng 12, nhưng ông ấy vẫn giả vờ rằng chiếc mặt nạ phục vụ một mục đích nào đó. “

 Phục vụ mục đích nào?

Dễ hiểu quá mà. Mục đích”chống lại CTT Trump”chứ gì. Trước kia ông Trump rất ít khi mang mặt nạ. Bây giờ ông muốn chứng tỏ mình là người thức thời, không giống như CTT Trump. Nhưng lại té ra là rất lố bịch.

Phạm Quang Chiểu

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở NHỮNG NGƯỜI ĐÃ ĐƯỢC CHÍCH VẮC XIN COVID 19 CÓ THỂ TRỞ LẠI CUỘC SỐNG BÌNH THƯỜNG. HNS. ISSA (Phạm Quang Chiểu)