Các Danh Mục

Một mẩu chuyện ngắn của tác giả Lê Thí
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Một mẩu chuyện ngắn của tác giả Lê Thí
Thuốc chủng ngừa Covid-19 bảo vệ mình được bao lâu? _ Phạm Thanh Nga

Thuốc chủng ngừa Covid-19 bảo vệ mình được bao lâu?
Người ta focus vào chữ vaccine nhiều quá…nên nghĩ đơn giản là vaccine (một khi chích vào rồi) thì nó bảo vệ mình (không bị nhiễm). Phải nói lại cho chính xác như sau: cái bảo vệ mình, không phải là vaccines mà là antibodies của mình. Antibodies này được (cơ thể) làm ra, khi chích vaccines vào.
Từ định nghĩa này, cho thấy:
1) Không cần biết là vaccine loại nào, của hãng nào. Cứ hễ chích vào, thì nó tạo ra antibodies. Cho nên, đợt này chích Pfizer, năm sau chích J&J cũng được…chứ không nhất thiết là phải chích cùng loại.
2) Mục tiêu là để đưa cái antibodies của mình lên tới Protective Level. Vấn đề ở đây là:
– Cái protective level của antibodies này, kéo dài trong bao lâu ? Những vaccines truyền thống (vì có chất adjuvant) nên kéo dài rất lâu…có khi cả đời…như vaccine về yellow fever, measles, BCG etc…
Nói thêm ở đây là được tạo ra (do vaccines), có 2 thành phần là B cell và T cell. Cái B cell nó gọi là immune memory. Một khi được tạo ra…nó sẽ chạy vô “tủy” và nằm trong đó. Khi cần thì nó lại chạy ra để tạo antibodies tiếp (coi hình ở cuối e-mail). Chính vì thế, nên những em bé (khi xương chưa phát triển) hoặc người quá lớn tuổi (xương bị co lại), thì B cell trong tủy rất ít, nên khi cần thì phải có thời gian rất lâu để tạo ra antibodies.
– Những vaccines loại mới như của Pfizer, Moderna, J&J và Astrazenecca, vì không xử dụng adjuvant, nên dù có antibodies (sau khi chích vào), thì cái antibodies này cũng giảm rất nhanh (trong vòng 6-8 tháng max). Cho nên, sau đó, nếu muốn antibodies lên lại ở protective level…phải chích booster nữa. Mà nên nhớ, đây là chưa nói tới variants đó…
Cái lằn đỏ là level cần thiết để bảo vệ. Chích mũi đầu…antibodies chưa lên tới, phải chích mũi thứ 2, thì nó mới vượt lên trên lằn đỏ này (protective level), nhưng sau đó (tự nhiên) nó sẽ giảm xuống với thời gian (6-8 tháng). Đến khi nó xuống dưới lằn đỏ…thì phải chích mủi thứ 3 (booster) để đưa nó lên lại. Cứ như thế…là mỗi 6-8 tháng phải chích lại một lần (mà nhớ là không cần chích lại cùng loại thuốc…vì mục tiêu là antibodies chứ không phải vaccine).
Hơn nữa, bây giờ lại có đủ loại variants…nên nhiều khi cái cũ chưa giảm (xuống khỏi lằn đỏ), lại phải chích nữa để deal với variants mới (xem hình 4)
Đó là mới nói sơ lược….nói thêm chi tiết, thì phải đề cập tới cái B cell (nằm trong tủy). Theo lý thuyết (giải thích ở trên) thì (coi lại hình phía dưới), chuyện gì xảy ra, khi antibodies giảm xuống dưới lằn đỏ, và mình không chích mũi booster số 3 (hoặc vì không sản xuất kịp để mọi người có thể chích) ?
Lúc đó (lúc antibodies giảm xuống dưới lằn đỏ) và mình bị nhiễm…thì B cell sẽ từ trong tủy nhào ra, và sẽ tự chế tạo antibodies để đưa nó lên trên lằn đỏ lại, với điều kiện: thời gian khi bị nhiễm và thời gian nó phác tác (vì virus cần một khoảng thời gian gọi là incubation period để bắt đầu hoành hành) chậm hơn thời gian mà B cell đưa antibodies lên. Vấn đề là:
1) Những con virus trước đây (yellow fever, measles etc…), thời gian incubation là 6 tuần – 6 tháng. D0 đó, B cell có thời giờ làm antibodies trước khi nó hoành hành. Khi nó phát tác, thì antibodies đã mạnh mẽ (trên protective level)…nên có thể dứt điểm virus nhẹ nhàng…
2) Hiện nay, Covid (cũng giống như vài loại virus khác) có thời gian incubation quá nhanh (14 ngày). Nên khi bị nhiễm, mà antibodies đang ở chỗ thấp và B cell không kịp làm ra antibodies mới trong vòng 14 ngày…thì coi như dính chấu…
Kết luận: Covid này còn kéo dài lắm…đừng nghĩ là đã chích vaccine rồi thì …có thể đi vui chơi khắp nơi và tất cả sẽ trở lại bình thường nhanh chóng. Trái lại, bình thường thì chưa chắc nhưng có thể sẽ phải chích tiếp mỗi 6-8 tháng Trừ khi:
Novavax và Sanofi Pasteur cho ra vaccines được bào chế bằng adjuvant, nên thời gian antibodies bị giảm…sẽ lâu hơn (thí dụ 1 hay 2 năm hay lâu hơn), có đủ thời giờ (để sản xuất) để có thể đạt được herd immunity trên toàn thế giới…thì lúc đó mới hy vọng trở lại bình thường…
Cám ơn chị Tdsgx Phương-mai đã giúp em dịch những danh từ chuyên môn qua tiếng Việt để mọi người hiểu rõ hơn và chúng ta cùng nhau cảnh giác cái con vìrus quái ác này
Novavax thì cở cuối mùa thu 2021 sẽ có. Còn Sanofi thì tới cuối năm 2021.
(Bài do K1 Nguyễn Văn Vinh chuyển)
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Thuốc chủng ngừa Covid-19 bảo vệ mình được bao lâu? _ Phạm Thanh Nga
TẢN MẠN THÁNG TƯ_Nguyễn Hùng (K10)
Tản mạn tháng tư:
Niềm đau thế kỷ _ Nguyễn Hùng K10
“Đời người thật ngắn không đủ thời gian cho hận thù dài lâu”. Đó là câu nói mới đây của một người tôi rất ngưỡng mộ, tỷ phú Elon Musk (chủ nhân hãng xe điện Tesla và phi thuyền vũ trụ Space-X). Nó càng gây cho tôi một cảm giác se sắt buồn trong thời điểm của dòng hoài niệm khôn nguôi của lần tan vỡ năm xưa: Tháng Tư 1975.
Cuộc hành trình 46 năm mà chúng ta đang đi tìm dòng tâm thức êm ả gội rửa vết nhơ hận thù mà lịch sử nghiệt ngã bôi đen lên số phận dân tộc bởi bạo lực chủ nghĩa cuồng điên. Cuộc hành trình cùng ánh sáng tự do rực rỡ luôn là dược liệu bồi dưỡng tâm thức kẻ thua cuộc sống còn sau kỳ trả nợ máu xương của quá khứ hãi hùng với cái ác luôn được tôn vinh và hiện hữu. Trong tâm thức “kẻ thắng cuộc” vẫn không hề phai, vẫn hằng khơi dậy từ những tiệc mừng chiến thắng “hoành tráng” hơn cả ngày lễ tưởng niệm những bậc tiền nhân đã dựng nước hàng ngàn năm. Với những phát ngôn không e dè, cấp lãnh đạo đảng cộng sản vẫn ra rả miệt thị bọn “lưu vong phản động luôn nuôi dưỡng hận thù của cuộc bại trận năm xưa mà xuyên tạc đánh phá với ý đồ lật đổ chính quyền nhân dân”. Chính vì thế ý niệm hòa hợp dân tộc cũng chỉ là … ý niệm mới có kể từ ngày đảng CSVN kêu gọi lấy tình thương xóa bỏ hận thù để người Việt hải ngoại trở thành khúc ruột ngàn dậm của tổ quốc đóng góp tài vật xây dựng thành trị xã hội chủ nghĩa, cái chủ nghĩa tưởng rằng đã có thể chết tiệt từ giữa thập niên 80 nếu không có cuộc thay máu trở lại bằng liều thuốc tuyệt vời của nền kinh tế tự do miền Nam trước đó mà “bên thắng cuộc” đánh cắp chân lý tuyên truyền cho đó là do đảng sáng tạo.
Việt Nam với thành quả kinh tế giàu mạnh hôm nay là nhờ vào sự “thay đổi hay là chết” của đời tổng bí thư VC Nguyễn Văn Linh lấy “kinh tế thị trường” tức kinh tế tư bản để cứu vãn sự suy sụp, mời gọi các tập đoàn thương mại quốc tế đầu tư khai thác tài nguyên. Thật ra vì sự tồn vong, đảng cộng sản không thể tiếp tục phát huy lộ trình nguyên thủy (kinh tế tập trung thất bại) mà bắt buộc họ đi ngược lại hay nói cách khác là phản bội lý tưởng cộng sản rõ ràng nên họ hổ thẹn không thể giải thích cái cụm từ kinh tế thị trường lại lồng trong xã hội chủ nghĩa được.
Cộng sản che dấu những biến đông họ gây ra nhằm đánh tráo lịch sử nhưng sự thật tội ác vẫn phơi bày dưới ánh sáng chân lý khi họ không thể triệt tiêu được chứng nhân của lịch sử. Điển hình là sự kiện cải cách ruộng đất ông Hồ Chí Minh với sự chỉ đạo của quan thầy Trung Cộng đã giết hại bao vạn người miền Bắc sau hiệp định Geneve 1954 (báo CS tiết lộ chừng 127 ngàn người đến năm 1956). Trước đó ông kêu gọi đoàn kết dân tộc, toàn dân kháng chiến chống Pháp, liên kết các đoàn thể đảng phái quốc gia (ông che dấu thân phận CS quốc tế) đến khi vững mạnh ông âm thầm giết hại người quốc gia vì không theo lý tưởng cộng sản. (Đức Huỳnh Phú Sổ PGHH, Trương Tử Anh, Phan Văn Giáo Đại Việt, Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm CS Đệ Tứ …vv )
Mao Trạch Đông từng giết hại đồng chí đã sát cánh trong cuộc vạn lý trường chinh năm xưa như … bắt Lưu Thiếu Kỳ (phó chủ tịch quân ủy trung ương) tống vào ngục bỏ đói đến chết, giết Lâm Bưu, Bành Đức Hoài (cho rằng âm mưu đảo chánh?) …v.v những công thần xây dựng đảng cộng sản từ buổi sơ khai và còn nhiều nữa …
Văn hào Richmal Crompton nói “Có những người cộng sản muốn làm mọi việc tốt hơn bằng cách giết hết mọi người trừ họ ra” …!
Nhìn cuộc bể dâu…đã dài hằng thế kỷ…
K10 Nguyễn Hùng
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở TẢN MẠN THÁNG TƯ_Nguyễn Hùng (K10)
Hãy Ngủ Yên Đà Nẵng Của Tôi Ơi_ Trần Trung Đạo
HÃY NGỦ YÊN ĐÀ NẴNG CỦA TÔI ƠI
– Trần Trung Đạo
(Ảnh Đà Nẵng sưu tầm từ internet)
Đà Nẵng của tôi, nơi những buổi chiều của tuổi mười ba, tôi vẫn thường đứng nhìn những đoàn xe mang nhãn hiệu Sealand, RMK, GMC nối đuôi nhau mỗi ngày trên chiếc cầu màu đen mang tên của một viên tướng thực dân. Những chiếc chiến xa nặng nề, những khẩu đại pháo nòng dài được cất lên từ những chiếc tàu lớn neo ngoài cửa biển Sơn Chà. Tiếng gầm thét của những đoàn phi cơ chiến đấu đang đáp xuống phi trường quân sự ngoài ngã ba Duy Tân. Tiếng nhạc, tiếng cười, tiếng chọc ghẹo, okay, hello, goodbye của những người lính Mỹ và những cô gái Việt Nam vào tuổi chị tôi, vọng lại từ những hộp đêm dọc bờ sông Bạch Đằng. Tất cả đã khơi dậy trong lòng tôi nhiều câu hỏi, nhiều băn khoăn và cả những tủi thẹn đầu đời của một đứa bé Việt Nam xót xa cho số phận của một cây cổ thụ bốn ngàn năm đang biến thành cây chùm gởi. Tại sao? Tại sao lại là Đà Nẵng? Tại sao là Việt Nam quê hương tôi mà lại không phải một nơi nào khác?
Đà Nẵng của tôi, như định mệnh an bài, cũng là nơi an nghỉ của người lính Mỹ đầu tiên thuộc chiến hạm Hoa Kỳ lừng danh, USS Constitution. Không phải đợi đến 1965, khi các chiến hạm thuộc Đệ Thất Hạm Đội thả neo tại cửa biển Đà Nẵng để đổ bộ các đơn vị Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ đầu tiên nhưng từ hơn 120 năm trước, Đà Nẵng đã là một nơi hẹn hò đầy định mệnh giữa quân đội Việt Nam thời Thiệu Trị và Hộ Tống Hạm Hoa Kỳ đầu tiên của hải quân Hoa Kỳ dưới quyền của hạm trưởng John Percival. Theo các tài liệu còn ghi lại, năm 1845, chiến hạm USS Constitution của Hải Quân Hoa Kỳ, trên chuyến hải hành hai năm vòng quanh thế giới, dừng lại cảng Đà Nẵng để xin cung cấp thực phẩm và nước ngọt. Cũng tại hải cảng lịch sử nầy, Hạm trưởng John Percival xin phép quan trấn thủ thành Đà Nẵng để chôn cất thủy thủ William Cook vừa qua đời, dưới chân Núi Khỉ nằm trong rặng Sơn Chà. Thậm chí ông còn “viện trợ” hai Mỹ kim để lo phần hương khói. Tiếc thay, chỉ vài ngày sau đó, vì việc triều đình Huế bắt giam Giám Mục Dominique LeFevre, đã làm cho tang lễ thắm đượm tình nhân đạo của con người biến thành một xung đột quân sự giữa hai quốc gia. Cuộc chạm trán ngắn ngủi năm 1845 rất ít người biết đến. Những viên đại pháo bắn vào lãnh hải Việt Nam, dù chỉ để đe dọa, cũng đã vô tình gây thương tích cho quan hệ đầy oan trái giữa hai quốc gia Việt Mỹ sau này.
Đà Nẵng của tôi có khu Ngã Ba Huế nhộn nhịp, nơi tôi từ Hội An về thăm cô tôi những chiều thứ Sáu trong những chiếc xe khách hiệu Renault già nua màu xanh đậm. Tôi vẫn nhớ căn nhà nhỏ, ánh đèn dầu leo lét, bàn tay xanh xao của cô khi dúi vào túi tôi những tờ giấy bạc được gói kín trong nhiều lớp vải. Đó là những đồng tiền khó khăn và vô giá mà cô dành dụm cho đứa cháu trai vào Hội An nương náu trong chùa ăn học. Tôi ra Đà Nẵng tìm cô vào đầu năm 1968. Nhà cô nghèo, con cháu lại quá đông. Nhiều đêm tôi phải ngủ đói trên căn gác của một trại cây ở hẻm 220 Hùng Vương, ngang hông phường Thạc Gián. Vài tuần sau, vì nhà đông đúc, cô đưa tôi đến sống với người anh họ và bà chị dâu khó tánh ở Cổ Mân, Sơn Chà. Chị dâu tôi khó tánh đến nỗi, chỉ sau một thời gian ngắn, tôi không chịu đựng được nữa nên lặng lẽ bỏ đi. Tôi vào chùa Viên Giác. Năm tháng như mây trời, bao độ hợp tan mang theo những giận hờn, thương ghét. Cô tôi đã về bên cõi khác nhưng lòng tôi sao vẫn nhớ vẫn thương. Trên xứ người, nhiều đêm không ngủ được, nhớ lại tiếng ho của người cô bịnh hoạn, tôi vẫn còn nghe nhức nhối như thuở mới về thăm. Chiến tranh và nghèo đói đã cướp đi bao thế hệ Việt Nam vô tội.
Đà Nẵng của tôi không phải chỉ là điêu linh tang tóc mà còn là thành phố cảng đẹp tuyệt vời. Những bờ biển uốn cong như mái tóc của người con gái Việt Nam đang đứng trông ra Thái Bình Dương bao la bát ngát. Từ eo biển mỹ miều đó những thương thuyền ngoại quốc đã đến thăm thành phố từ mấy trăm năm trước.
Đà Nẵng của tôi có hàng phượng đỏ hai bên đường Bạch Đằng, đường Độc Lập với những chiếc ghế đá dọc bờ sông mang chứng tích của một thời học trò đầy kỷ niệm. Đà Nẵng của tôi có bãi Mỹ Khê (không phải China Beach), với bờ cát trắng chạy dài và hàng dương vi vu theo gió, có bãi Thanh Bình với những chiếc ghe đánh cá đi về và cảnh chợ chiều nhộn nhịp. Những ngày hè oi bức, tôi và đám bạn vẫn thường ôm đàn ra ngồi dựa lưng vào những gốc dương liễu dọc bãi biển. Trong tiếng sóng từng nhịp vỗ vào bờ, chúng tôi cùng cất cao bài hát ra khơi như để cổ võ cho những chiếc thuyền đánh cá đang giong buồm ra biển. Tôi đâu biết vài năm sau, bạn bè tôi cũng lần lượt ra khơi như thế nhưng chẳng còn ai dám đến tiễn đưa.
Đà Nẵng của tôi có những hàng cây sao tình tự dọc đường Thống Nhất, nối từ bờ sông đi ngang qua Trường Nữ, nơi các cô cậu học trò Phan Châu Trinh, Phan Thanh Giản vẫn thường đứng đợi người trong mơ sau mỗi buổi tan trường. Những chiếc áo dài trắng thướt tha. Những mái tóc thề chấm vai thơ mộng. Những đôi mắt nai tơ đó đã từng là nguồn cảm hứng của nhiều nhà thơ xứ Quảng đa tình. Xin mời đọc vài câu thơ của nhà thơ Luân Hoán Luân Hoán viết về các cô nữ sinh Đà Nẵng:
chiều chiều luồn chợ Vườn Hoa
trôi theo Đồng Khánh bám tà áo bay
mắt hồng liệng cái ngoắt tay
dắt qua Độc Lập dựa cây đèn đường
chập chùng xuân ảnh vải hương
ngó ai lòng cũng yêu thương tức thì
giả vờ châm thuốc nhâm nhi
nuốt thầm vóc đứng, dáng đi quanh mình.
(Đà Nẵng, thơ Luân Hoán Luân Hoán)
Các cô nữ sinh của một thời thơ mộng tung tăng như những con bướm vàng trên đường Thống Nhất, Lê Lợi, Hoàng Diệu, Khải Định ngày xưa đã không về nữa. Các cô đã ra đi, bỏ lại sau lưng hàng cây sao rợp bóng bên đường, bỏ lại những chiếc ghế vuông, những ly chanh muối, những quán chè. Các cô bây giờ đã lớn, đã trưởng thành. Nhiều cô đã là những bà mẹ tay bồng tay bế, để rồi 17 năm sau ngồi nhớ lại năm mình 17 tuổi.
Các cậu học trò cũng thế. Những chàng thanh niên với buồng phổi và trái tim chất đầy hùng khí của xứ địa linh nhân kiệt đã ra đi. Thế hệ trẻ Việt Nam trong thời chinh chiến và cả khi đất nước hòa bình, đã chịu đựng quá nhiều thiệt thòi mất mát. Nỗi bất hạnh lớn nhất của một đời người vẫn là bất hạnh không có tuổi hoa niên. Các cậu ra đi, bỏ lại sau lưng những chiếc xe đạp, những quán Cà-phê Thạch Thảo, Thanh Hải, Ngọc Lan, những rạp hát Trưng Vương, Chợ Cồn, bỏ lại cây đàn guitar cũ kỹ và những bản tình ca chưa viết trọn trong sân trường. Để rồi nhiều năm, sau cuộc biển dâu, chinh chiến, gian lao, tù tội trở về. Trở về chỉ để thấy thành phố xưa nay đã đổi chủ và con đường xưa nay đã đổi thay tên. Tuổi thơ không bao giờ trở lại. Suối vẫn chảy, nước vẫn reo nhưng điêu linh tang tóc đã xua bầy nai tơ lạc đàn đi biền biệt, mất dấu đường về bên khe đá cũ.
Sau 1975, những bãi biển Mỹ Khê, Thanh Bình, Tiên Sa, Thanh Khê, Tân Thái, Mân Quang, Chợ Mai, Chợ Chiều, Non Nước, Nam Ô, v.v.., vẫn còn là điểm hẹn nhưng không phải là nơi hẹn hò của những cặp tình nhân mà là nơi những người con Đà Nẵng hẹn nhau để bỏ quê hương mà ra đi. Xin đừng hỏi họ đi đâu, về đâu trong những đêm tối trời lầm lủi đó. Không ai biết chắc. Chỉ một điều họ biết là họ không còn chọn lựa nào khác hơn là phải ra đi. Không một người dân Quảng nào bỏ quê hương ra đi mà không đau xót.
(Bải biển Tiên Sa Đà Nẳng)
Xin đừng dán lên lưng, lên trán họ những nhãn hiệu theo Tây, theo Mỹ. Không. Người dân Quảng là những người yêu nước. Ông cha họ đã từng cười mà bước lên máy chém thực dân. Những cơn bão lụt tàn phá mỗi năm đã không làm họ bỏ làng mạc ra đi. Nạn hạn hán làm ruộng đồng khô cháy mỗi năm không buộc họ phải bỏ mồ mả tổ tiên ra đi. Sụp căn nhà này họ cặm cụi xây trên nền đất cũ căn nhà khác. Trôi căn nhà này họ lại xẻ gỗ, lợp tranh xây lên căn nhà khác. Bao thế hệ đã sống và đã chết trên vùng đất cày lên sỏi đá đó. Nhưng chế độ mới, một chế độ nhân danh những mục tiêu tốt đẹp nhất trên đời đã buộc họ phải ra đi. Sự thôi thúc của tự do như tiếng gọi thiêng liêng của người cha già vọng về từ một nơi xa thăm thẳm. Và sẽ không ai biết, bao nhiêu người, trong số hàng ngàn, hàng vạn người bỏ Đà Nẵng ra đi, đã đến được Hong Kong, Philippines, và bao nhiêu người không may mắn đã bị chôn sâu trong lòng biển, chết thảm thương trong bàn tay hải tặc, chết trong đói khát sau những tuần, những tháng lênh đênh ngoài biển cả.
Đà Nẵng của tôi sau 1975 không còn thơ mộng nữa. Những câu ca dao đậm đà tình quê hương đất nước:
“Ngó lên hòn Kẽm đá Dừng,
thương cha nhớ mẹ quá chừng bậu ơi”
đã được thay bằng những khẩu hiệu đấu tranh giai cấp chất chứa toàn chuyện oán thù. Những điệu hò khoan đậm đà hương vị Quảng Nam
“Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm,
rươụ hồng đào chưa nhấm đà say”
đã được thay bằng những đêm dài học tập, thảo luận, khuyến khích thầy cô, cha mẹ, anh em tố cáo lẫn nhau. Ánh trăng không còn là những dải lụa vàng Duy Xuyên đang trải trên dòng sông Hàn mỗi đêm rằm, nhưng là những vết dao nghèo đói đang chém xuống một quê hương vốn đã chịu đựng nhiều bất hạnh.
Ngày cuối cùng của tôi ở Đà Nẵng như đoạn kết của một cuốn phim buồn. Tôi và cô bé, lý do cho những bài thơ tình học trò đầy sáo ngữ của tôi, ngồi trên chiếc ghế đá trên đường Bạch Đằng, nhìn sang hướng Sơn Chà.
– Anh sắp phải đi xa.
– Em biết.
– Sao em biết, anh chưa nói với em mà?
– Anh nói với em rồi. “Anh phải vô Sài Gòn học đại học. Học xong anh sẽ về quê, không đi nữa.” Em còn nhớ anh nói với em câu đó lúc mấy giờ, ngày nào và tại đâu nữa kìa.
– Không phải. Đó là chuyện hồi chưa “giải phóng”, bây giờ thì khác.
– Bây chừ anh tính đi đâu?
– Anh vượt biên. Nếu đi lọt, có thể anh sẽ qua Mỹ học.
– Bộ ở Việt Nam không có trường cho anh học sao. Em nghe nói Mỹ xa lắm, chắc là xa hơn Sài Gòn nhiều. Mùa hè làm sao anh về thăm quê được.
– Anh sẽ về nhưng chắc không phải mùa hè.
– Anh lại hứa.
Hai đứa nhìn ra sông. Chiếc phà An Hải vẫn mệt mỏi đưa người qua lại. Giọng hát buồn não nuột của anh thương phế binh cụt hai chân từ ngoài bến vọng vào:
“Rừng lá xanh xanh cây phủ đường đi.
Thành phố sau lưng ôm mộng ước gì.
Tôi là người đi chinh chiến dài lâu.
Nên mộng ước đầu nghe như đã chìm sâu”.
Anh hát để tưởng nhớ bạn bè nhưng không biết rằng bạn bè anh đang lần lượt bỏ anh đi. Hàng phượng dọc bờ sông đã bắt đầu nở rộ nhưng không còn để “lòng man mác buồn” nhưng là chia tay vĩnh viễn, nát tan.
( Ảnh phụ họa st trên internet)
Nước sông Hàn lững lờ trôi mang theo dăm chiếc lá. Hai đứa ngồi im lặng, không biết phải nói gì. Nói gì rồi cũng chia tay. Em đơn giản, hồn nhiên và ngây thơ đến tội nghiệp. Em sẽ chẳng thể nào hiểu được tôi, và tôi cũng chẳng biết giải thích thế nào cho em hiểu. Trái đất của em nhỏ nhoi, bao bọc bởi những rặng tre xanh hiền hòa. Tâm hồn em là dòng sông mùa thu êm đềm, tĩnh lặng. Tâm hồn tôi hoàn toàn tương phản, trùng điệp núi đèo, ghềnh thác. Tôi sinh ra trong cuộc đời này để gánh hết khổ đau, để làm tên du mục đi lang thang trên chính quê hương mình. Ngày mai, tôi lại sẽ bắt đầu hành trình du mục mới. Con nước trôi còn biết mình đang ra biển. Chiếc lá rơi còn biết cội quay về, nhưng tôi không biết sẽ về đâu.
Bao nhiêu năm rồi tôi chưa về Đà Nẵng. Cô tôi đã qua đời. Bạn bè mỗi người một ngã. Cô bé ngày xưa đã có gia đình. Khuôn mặt thành phố mang nhiều thay đổi. Đà Nẵng thân yêu ơi, có còn nhớ đến tôi không? Căn gác đường Hùng Vương, căn nhà lá phía trong Ngã Ba Huế, cồn cát trắng Mân Quang, nơi tôi chôn dấu kho tàng tuổi thơ khốn khổ của mình, biết có còn nhận ra tôi, cho dù tôi trở lại. Đêm nay, tôi ngồi đây, tưởng tượng một ngày về Đà Nẵng.
Và biết đâu, nhờ chưa về mà thành phố còn nguyên vẹn trong trái tim tôi. Nếu tôi về thăm, Đà Nẵng chắc sẽ không còn nữa. Hãy ngủ yên Đà Nẵng của tôi ơi.
Trần Trung Đạo
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Hãy Ngủ Yên Đà Nẵng Của Tôi Ơi_ Trần Trung Đạo
Thơ Quốc Hận – K1 TPK
SẼ MỘT NGÀY
Kể từ khi cơn đau quốc biến
Nửa bên nầy đau điếng hồn côi
Bầu trời sụp đổ mất rồi
Khoảnh khắc ác mộng ôi thôi hãi hùng
Kẻ bên tê từ rừng xuống phố
Đem đau thương đổ xuống miền Nam
Người dân ngơ ngác bàng hoàng
Bỗng nhiên gánh lấy muôn ngàn oan khiên
Có ngờ đâu tự nhiên thành “ngụy”
Tội chi ri? khổ lụy bao người
Đuổi nhà cướp đất khắp nơi
Chồng cha “cải tạo”cuộc đời tối tăm
Trong tủi nhục mười năm đày ải
Nhưng lòng ta vẫn mãi trung trinh
Bao nhiêu năm tháng của mình
An dân bảo quốc giữ gìn tự do
Bởi vận nước cam go hoạn nạn
Do đồng minh đổi bạn thành thù
Ta đành mang nhục thiên thu
Đọa đày khổ ải trong tù bất nhân
Dù phải chịu thân tàn ma dại
Bị cai tù chửi mãi “ngụy quân”
Nhưng ta vì nước vì dân
Có đâu như kẻ bán thân cho Tàu
Sẽ một ngày đổi màu thay áo
Mùa thu về lá rụng chơi vơi
Vàng bay phấp phới ngập trời
Là lúc dân Việt sống đời tự do
Trăng thanh bình trải cho trăm họ
Phá nhà tù xóa bỏ xiềng gông
Gấm hoa tô điểm non sông
Nhà nhà hạnh phúc muôn phần sướng vui.
Tống Phước Kiên (February 2021)
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Thơ Quốc Hận – K1 TPK
Chính Trường hay Hí Trường (Sổ Tay Ký Thiệt)
Chính trường hay hí trường?
(Sổ Tay Ký Thiệt)
Chuyện Tổng thống Joe Biden ngày càng lú lẫn, khó ngồi hết nhiệm kỳ bốn năm ngày càng thấy rõ thì khả năng bà Kamala Harris sẽ “lên ngôi” làm tổng thống thứ 47 và là nữ tổng thống đầu tiên của siêu cường Hoa Kỳ là chuyện khó tránh khỏi.
Gần đây đã có nhiều người nói về chuyện này và quan ngại về bà tổng thống tương lai của nước Mỹ.
Tuần vừa qua, ông Newt Gingrich, cựu chủ tịch Hạ viện, đã xuất hiện trong chương trình Fox & Friends của Fox News để nói về những chuyện đang xảy ra trong nội tình Tòa Bạch Ốc và cho rằng do bộ ba Kamala Harris, Nancy Pelosi và Chuck Schumer đạo diễn, mà theo kịch bản đó họ đã giữ ông Biden tránh xa khỏi báo chí và trong mấy lần xuất hiện hiếm hoi trước công chúng đã kết thúc với việc ông tổng thống chỉ trả lời vài câu hỏi vớ vẩn từ những kẻ ái mộ ông ta trong giới báo chí cùng phe. Ông Gingrich nói thêm:
“Theo sự phỏng đoán của tôi, ông ta chỉ giữ một quyền hành rất nhỏ bé bên trong ngôi nhà ấy và Tòa Bạch Ốc đang nằm trong sự điều hành tăng dần của Harris, Pelosi, và Schumer.”
Khi ông Biden bước chân lần đầu tiên vào Tòa Bạch Ốc với tư cách tổng thống, nhiều người đã tiên đoán rằng chỉ là vấn đề thời gian cho đến lúc ông ta bước ra một bên và để cho Kamala Harris chính thức nắm quyền tổng thống.
Nhưng, Kamala Harris là ai, thân thế và lai lịch ra sao có lẽ phần lớn cử tri đã không biết khi bỏ phiếu cho liên danh Joe Biden – Kamala Harris trong cuộc bầu cử vừa qua, vì ứng cử tổng thống và phó tổng thống Mỹ không cần phải thông qua thanh kiểm an ninh (security clearance) như một nhân viên thường tại Tòa Bạch Ốc!
Thiếu tướng Geoffrey B. Higginbotham, Thủy Quân Lục Chiến (hồi hưu) có viết một bài quan điểm tựa đề “The History of Kamala Harris” cho CVFC PAC (Combat Veterans for Congress Political Action Committee), một ủy ban hỗ trợ cho việc bầu cử các cựu chiến binh Hoa Kỳ vào Thượng viện và Hạ viện Mỹ.
Gần đây, do sự đồng ý của tác giả, bài quan điểm này được phố biến rộng rãi, xin lược dịch như sau:
Cha của Kamala Harris đã từng tự nhận là một giáo sư Mác-xít trong bộ môn Kinh Tế tại Đại học Stanford ở Palo Alto, California. Cả cha và mẹ của Harris đều là thành viên hoạt động của Hội Mỹ – Phi (Afro – American Association) đặt trụ sở tại Berkeley. Fidel Castro và Che Guevara đều là những anh hùng của hội này.
Lãnh tụ của nhóm này, Donald Warden (aka Khalid al-Mansour), quan thầy của hai thành viên trẻ trong Afro-American Association, Huey Newton và Bobby Seale; họ cùng nhau lập ra Black Panther Party (Đảng Báo Đen) được sự hỗ trợ mạnh mẽ của Trung Cộng. Black Panther Party được dùng như một kiểu mẫu để tạo ra tổ chức Black Lives Matter theo chủ nghĩa Mác. Khalid al-Mansour cũng là người đã lo tiền bạc và tạo sự thuận lợi cho Barack Hussein Obama được nhận vào học tại Trường Luật Harvard.
Về phần Kamala Harris, sau khi tốt nghiệp đại học, cô trở về California và thành tình nhân của Willie Brown, Jr., 60 tuổi, chủ tịch Nghị viện California, người được hỗ trợ về chính trị và tài chánh của Bác sĩ Carlton Goodlett, chủ nhân tờ The Sun Reporter và nhiều tờ báo thân cộng khác.
Khi Willie Brown, Jr. được bầu làm Thị trưởng San Francisco, đã mạnh mẽ ủng hộ chủ thuyết chính trị thân cộng của Hariss, dẫn dắt cô leo cao trong chính trường California và được bầu vào chức Tổng Chưởng Lý của tiểu bang rộng lớn này tại bờ biển phía tây nước Mỹ. Willie Brown, Jr. được biết từ lâu như một cảm tình viên cộng sản. Ông ta đã được bầu chức vụ công cử đầu tiên phần lớn là nhờ sự hỗ trợ của đảng Cộng sản Mỹ.
Ngày nay, Willie Brown được biết nhiều như là một trong những người thân Trung Cộng nhất tại Vùng Vịnh San Francisco.
Trong thời gian làm công tố viên tại San Francisco, Kamala Harris đã chỉ đạo Lateefah Simon, một tay trẻ cuồng Mao thuộc phong trào cách mạng STORM. Simon hiện đứng đầu Ban Quản Trị của hệ thống xe điện tại Vùng Vịnh San Francisco, gọi là Bay Area Rapid Transit (BART). Simon luôn luôn là bạn thân của người tạo lập Black Lives Matter, Alicia Garza, cũng như Van Jones, thuộc nhóm STORM và say mê cộng sản.
Kamala Harris đã công khai và tích cực hỗ trợ Black Lives Matter theo Mác; Kamala Harris vẫn còn liên kết sát cánh với Lateefah Simon theo Mao và Alicia Garza theo Mác.
Sau khi tiết lộ thêm những liên hệ của Kamala Harris với những cá nhân và tổ chức cộng sản tại Mỹ, Tướng Higginbotham kết luận bài quan điểm như sau:
May mắn cho Harris, nhưng là tiềm tàng thảm họa cho nền Cộng Hòa của nước Mỹ, những chức vụ dân cử không phải qua thủ tục thanh kiểm về an ninh (security clearance process). Nếu FBI đã làm một cuộc điều tra lý lịch của Kamala Harris, Harris đã không bao giờ qua khỏi, bởi vì với 40 năm liên hệ chặt chẽ với những thành phần cộng sản Mác, Mao, và Trung Cộng. Harris đã không bao giờ được chỉ định để nhận một chức vụ trong chính quyền Mỹ, hay có thể được chấp thuận bổ nhiệm vào một chức vụ quan trọng cho một nhà thầu quốc phòng với cấp độ an ninh cao. Vậy mà từ khi Joe Biden đắc cử, Harris đang đầy triển vọng trở thành tổng thống Mỹ.
Hiến pháp Hoa Kỳ đang bị Trung Cộng đe dọa từ bên ngoài, và do những điệp vụ rất tích cực tại bên trong Hoa Kỳ. Trung Cộng, dưới tên Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, với 1 tỉ 400 triệu dân, cai trị bởi 90 triệu đảng viên Cộng sản, đã và đang hợp tác với Nga trong hơn 70 năm qua để hủy diệt nền Cộng Hòa Hiến định Hoa Kỳ.
Nếu cử tri Mỹ biết lý lịch của Kamala Harris, họ đã không bao giờ ủng hộ bà ta để được bầu làm phó tổng thống Hoa Kỳ.
Joe Biden đang bắt đầu có những triệu chứng mất trí và sẽ tiếp tục suy nhược não bộ, ông ta sẽ không bao giờ có thể làm hết nhiệm kỳ tổng thống bốn năm.
Từ khi Biden đắc cử, những người cộng sản lèo lái Kamala Harris đang đặt kế hoạch viện dẫn Tu Chính án thứ 25 để loại Joe Biden ra khỏi nhiệm sở, và Harris có thể trở thành Tổng thống cộng sản đầu tiên của Hoa Kỳ.
Tướng Higginbotham báo động dân Mỹ, từ khi làm tổng thống, ông Biden đã không đủ khả năng để sử dụng quyền hạn và làm tròn trách nhiệm, nên Kamala Harris có thể sẽ lấn quyền để cố chỉ định những người thiên tả chống Mỹ, cộng sản, xã hội chủ nghĩa rất nguy hiểm nắm giữ những vai trò trọng yếu tại Washington, như những chức vụ trong các cơ quan Tình Báo Hoa Kỳ, trong Bộ Nội An, trong Bộ Quốc Phòng, Bộ Tư Pháp, Bộ Ngoại Giao, FBI, CIA, Hội Đồng An ninh Quốc gia, các nhân viên nội các, và nhân viên Văn phòng Tòa Bạch Ốc.
Kamala Harris đã là một đồng chí đồng hành với những người Cộng sản, Xã hội chủ nghĩa, Cấp tiến, và Trung cộng trong suốt hơn 35 năm, và là một đe dọa rất nghiêm trọng cho chính sự tồn tại của Cộng Hòa Hiến định Hoa Kỳ.
Không biết dân Mỹ đã “tỉnh thức” sau khi đọc những lời báo động của Tướng Higginbotham hay không, vì thật ra những chuyện trên đây cũng không có gì mới lạ, như chính lời ông tướng, Trung cộng “đã và đang hợp tác với Nga trong hơn 70 năm qua để hủy diệt nền Cộng Hòa Hiến định Hoa Kỳ.”
Nhưng, trong 70 năm qua, Hoa Kỳ vẫn là siêu cường số một trên thế giới. Nước Mỹ vẫn là thành trì của “Thế giới Tự do”, lãnh đạo cuộc “Chiến tranh Lạnh” để chống cộng, dù là ngay trên nước Mỹ cũng có một đảng Cộng sản công khai hoạt động một cách hợp pháp, và dù là đã tháo chạy khỏi VN vào tháng tư năm 1975.
Chuyện ông Biden già nua lú lẫn, bà Harris cực đoan thân cộng cũng không có gì là bí mật. Chính ông Trump, trong thời gian vận động tái tranh cử nhiệm kỳ tổng thống thứ hai cũng đã gọi ông Biden là “sleepy Joe” và cáo buộc bà Harris là một kẻ lật đổ theo cộng sản (a communist subverter).
Chuyện bát nháo trên chính trường Mỹ và cuộc xâm lăng không tiếng súng của Trung cộng trên nước Mỹ cũng đã có nhiều bài báo, nhiều cuốn sách nói tới, đếm không hết. Bây giờ, một ông tướng hồi hưu rảnh rang viết thêm một bài về “lịch sử Kamala Harris” chắc cũng không gây tiếng vang nào, nói chi tới một “quả bom” mà ông tướng hy vọng làm dân Mỹ tỉnh thức.
Còn nước Tàu cộng sản đóng kín như bưng, nào màn tre, màn sắt, nào tường lửa, tường đá như một nhà tù khổng lồ, lại thêm lời dạy cổ xưa “Quân cơ bất khả lậu”, chuyện binh bị phải giữ kín, thế mà một anh giáo sư chóp bu kiêm cố vấn cao cấp của đảng Cộng sản Tàu, đã công khai phổ biến chi tiết kế hoạch tổng quát của đảng Cộng sản Tàu nhằm đánh bại Hoa Kỳ, kể cả lèo lái các cuộc bầu cử tại Mỹ.
Trên đây cũng là tựa đề của một bài đăng trên tờ EPOCH TIMES đề ngày 26.3.2021, tác giả là Nicole Hao.
Nicole Hao đã dẫn lời Giáo sư Jin Canrong để cho biết rằng Tàu cộng có một chiến lược đa diện liên quan tới một loạt những hành động hiểm độc nhằm lật đổ Hoa Kỳ trong lúc tăng cường sức mạnh của Cộng sản Tàu.
Kế hoạch ấy gồm có: can thiệp vào những cuộc bầu cử tại Mỹ, kiểm soát thị trường kinh tế Mỹ, gieo cấy những kẻ thù chống Mỹ trên thế giới, ăn cắp kỹ thuật của Mỹ, bành trướng lãnh thổ nước Tàu, và tạo ảnh hưởng trong các tổ chức quốc tế.
Kế hoạch này đã được Jin Canrong giải thích với đầy đủ chi tiết trong một bài thuyết trình vào tháng 7 năm 2016 tại một cuộc hội thảo kéo dài hai ngày ở Thành phố Quảng Châu.
Tại đây, Jin nói: “Chúng ta muốn là nước lãnh đạo thế giới”, và giải thích khát vọng của Tập Cận Bình về một cuộc “trẻ hóa” nước Tàu. Jin Canrong là một học giả nổi tiếng với những lời phát biểu chống Mỹ gay gắt, và là cố vấn cho hai bộ phận đầy quyền lực của đảng Cộng sản Tàu, nhưng không rõ thân cận cỡ nào với Tập Cận Bình.
Trong bài thuyết trình dài, Jin giải thích về bốn sách lược nhằm làm suy yếu Hoa Kỳ:
1. Lèo lái các cuộc bầu cử tại Mỹ.
Jin nói rằng Tàu cộng nên can thiệp vào các cuộc bầu cử tại Mỹ để đưa các ứng cử viên thân Bắc Kinh vào quyền lực. Ông ta chỉ ra những cuộc tranh cử vào Hạ viện như một mục tiêu dễ nhất.
Ông ta lưu ý dân số Mỹ hiện vào khỏang 312 triệu, ước tính có 435 đơn vị bầu dân biểu, và có khoảng 750 ngàn cư dân sống trong mỗi đơn vị. Tỉ lệ đi bầu tại Mỹ là vào khoảng 30 phần trăm, như vậy có nghĩa là khoảng 200 ngàn cư dân cho mỗi đơn vị bầu cử dân biểu. Thường thì số phiếu cách biệt giữa hai ứng cử viên là 10 ngàn phiếu hay ít hơn. Như vậy, nếu Tàu cộng có trong tay hàng ngàn phiếu bầu thì có thể là chủ nhân ông của các ứng cử viên, cho nên nhà nước Trung cộng muốn sắp xếp cho các nhà đầu tư Tàu tại mỗi đơn vị bầu cử dân biểu để có thể kiểm soát hàng ngàn cử tri tại mỗi đơn vị. Jin bảo rằng tham vọng của Tàu cộng kiểm soát Hạ viện Mỹ là tối thiểu.
2. Kiểm soát thị trường kinh tế Mỹ.
Jin nói rằng những đầu tư của người Tàu ồ ạt vào Mỹ là một con đường khác để tạo ảnh hưởng vào hệ thống chính trị của nước này, và lưu ý rằng chiến thuật này đã đem thêm lợi tức làm giàu cho doanh gia Tàu và đảng Cộng sản Tàu. Những cơ hội đầu tư tại Hoa Kỳ tương đối tốt. Thị trường Mỹ mở rộng, mở rộng hơn tại Nhật và Âu châu, thêm vào vấn đề lợi tức là tầm cỡ, sự trong sáng, và ổn định.
Ông ta nói nhà nước Tàu cộng muốn doanh gia Tàu kiểm soát thị trường kinh tế Mỹ và cũng để phát triển công việc làm ăn của họ trên nước Mỹ. Để đạt mục tiêu này, chính quyền Tàu cộng đã cố gắng thương thuyết với Washington cho một thỏa hiệp gọi là “Hiệp ước Đầu tư Song phương Mỹ-Trung” (US-China Bilateral Investment Treaty, viết tắt là BIT). Thỏa hiệp này đã được điều đình tích cực trong thập niên trước năm 2017, nhưng đã bị khựng lại trong suốt thời gian với chính quyền Tổng thống Donald Trump.
3. Cổ xúy những kẻ thù của Hoa Kỳ
Jin nói rằng “công tác chiến lược” của đảng Cộng sản Tàu là giữ cho Hoa Kỳ luôn luôn có không dưới bốn kẻ thù.
Bốn kẻ thù là cần thiết để dàn mỏng tài nguyên của Hoa Kỳ trong lúc chính quyên bị sa lầy trong những cuộc tranh cãi nội bộ về việc đe dọa nào là ưu tiên. Thí dụ, trước Thế Chiến II Hoa Kỳ có hai địch thủ, Đức Quốc Xã và Liên bang Sô-viết. Người Mỹ đã tranh cãi tới lui mãi về việc ai là kẻ thù thực sự. Nếu Hoa Kỳ có bốn kẻ thù thì sẽ hoàn toàn mất hướng.
Phân tích tình hình năm 2016, Jin kết luận rằng lúc đó Hoa Kỳ chỉ có ba kẻ thù: Khủng bố dứt khoát là một kẻ thù của Mỹ, Nga có vẻ là một kẻ thù khác nữa. Chắc chắn, Hoa Kỳ đối xử với chúng ta như một đối tượng cạnh tranh… Như vậy chưa đủ.
Ông giáo sư nói rằng trong vài năm trước đây, đảng Cộng sản Tàu đã cố phát triển Brazil để trở thành một đối thủ của Hoa Kỳ, nhưng đã không thành công vì nước này “đã không muốn được cải thiện.” Ông ta bảo rằng đảng Cộng sản Tàu đã bơm rất nhiều đầu tư vào Brazil với mục đích có được sự ủng hộ của nước này về những vấn đề toàn cầu, trong đó có việc chọn lập trường chống đối Hoa Kỳ.
Tập Cận Bình đã tới thăm Brazil vào năm 2014 và đồng ý đầu tư để phát triển hạ tầng cơ sở tại vùng phía tây nước này, cũng như thiết lập một đường hỏa xa nối liền những hải cảng ở Brazil và Peru.
Jin cho biết Trung cộng đã hủy bỏ giải pháp này và đang cố gắng tìm một ứng viên khác để phát triển thành… kẻ thù của Hoa Kỳ!
4. Tạo ra những vấn đề quốc tế cho Hoa Kỳ
Jin nói rằng Trung cộng ở trong tư thế có lợi về chiến lược nhờ vai trò “sen đầm quốc tế” của Mỹ: bất cứ nơi nào trên thế giới có một cuộc khủng hoảng, Hoa Kỳ sẽ can thiệp dể duy trì sự ổn định toàn cầu, và việc ấy sẽ làm hao mòn tài nguyên của Hoa Kỳ và xao lãng sự canh chừng khỏi Trung cộng.
Thí dụ, chiến tranh tại Afghanistan và Iraq, mà Jin nhận định là “hoàn toàn vô giá trị về chiến lược đã làm Hoa Kỳ hao tổn 6 ngàn tỉ đô-la và 10 ngàn mạng quân sĩ.”
Jin nhận định rằng kết quả là Hoa Kỳ đã “mất mười năm xao lãng, không hay biết sự phát triển của nước Tàu, và đã để nước Tàu trở nên lớn mạnh.”
Jin còn nói thêm vài thí dụ nữa và nói về bốn phương cách làm cho chế độ cộng sản tại nước Tàu trở nên vững mạnh:
1. Đánh cắp kỹ thuật của Hoa Kỳ.
2. Bành trướng lãnh thổ của chế độ.
3. Xây dựng ảnh hưởng tòan cầu bằng những dự án khổng lồ.
4. Tạo ảnh hưởng lên những tổ chức quốc tế.
Trong suốt bài nói, Jin Canrong đã nhấn mạnh rằng Tập Cận Bình không giống như các lãnh tụ Cộng sản Tàu tiền nhiệm trong tham vọng của ông ta. Các người lãnh đạo đảng Cộng sản Tàu, như Đặng Tiểu Bình, Giang Trạch Dân, và Hồ Diệu Bang đã làm việc hăng say để phát triển quyền lực của chế độ nhưng lại không dám sử dụng quyền lực ấy.
Jin lý luận: “Bất kể một người nắm trong tay bao nhiêu quyền lực, điều ấy cũng chẳng có nghĩa lý gì nếu người đó không dám dùng quyền lực ấy. Chủ tịch Tập dám sử dụng nó. Thẩm quyền của ông có lực, dám sử dụng lực ấy, và tất cả lực ấy tấn công sẽ làm phía đối phương đổ máu.”
Khi Tập Cận Bình lên nắm quyền vào năm 2012, ông ta thúc đẩy nước Tàu thực hiện “Giấc mơ Trung quốc”. Điều này có nghĩa là trở nên thịnh vượng tương đối vào năm 2021, và rồi một “quốc gia hùng mạnh, dân chủ, văn minh, hài hòa, và xã hội chủ nghĩa tân tiến” vào năm 2049.
Giáo sư Jin Canrong bảo thế và giải thích rằng mục tiêu của Tập Cận Bình thực ra là thay thế Hoa Kỳ trong vị trí siêu cường số một trên thế giới.
Xin hỏi nhà tiên tri Canrong có cần thêm điều kiện là Donald Trump không ra tái ứng cử, và nếu lại ra lần nữa thì sẽ không đắc cử vào năm 2024?
Ký Thiệt (Tạp chí Đời Nay 2/4/2021)
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Chính Trường hay Hí Trường (Sổ Tay Ký Thiệt)
Đoạn Trường Tháng Tư Đen: Thảm Sát Tù Binh Giờ Thứ 25.

Đoạn Trường Tháng Tư Đen: Thảm Sát Tù Binh Giờ Thứ 25
(theo lời kể của Mũ Nâu Thiên Lôi)
Trong lịch sử chiến tranh thế giới từ năm 1948, chưa nghe nói một quân đội nào thảm sát tù binh trên chiến trường cả. Vậy mà cái gọi là quân đội nhân dân của bọn Việt cộng, đã ra tay làm điều phi công ước quốc tế và phi nhân tính như thế.
Kính lạy linh hồn các Anh. 12 người Lính Biệt Động Quân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, thuộc Tiểu Đoàn 38 BĐQ. Chúng tôi biết viết lại điều này, có thể làm cho thân nhân của các anh, sống lại nỗi buồn đau.
Nhưng không thể nào để cho bọn vô nhân tính Việt cộng, phủi tay với tội ác mà chúng nó đã gây ra.
Liên Đoàn 32 Biệt Động Quân, được lịnh bỏ Bình Long, về trấn thủ Gò Dầu Hạ Tây Ninh, làm vòng đai bảo vệ Thủ Đô từ xa. Liên Đoàn gồm có 3 tiểu đoàn và một đại đội Trinh Sát. Các Tiểu Đoàn vẫn hoạt động bình thường, và chận đứng những đợt tấn công của cộng quân. Thì đùng một cái, nhận được lịnh bỏ súng đầu hàng ngày 30/4/1975 từ Ông Liên Đoàn Trưởng.
Hai tiểu đoàn 30 và 33 tuân lệnh thượng cấp. Nhưng riêng với tiểu đoàn 38 BĐQ, thì bất tuân thượng lệnh (với quân đội, bất tuân thượng lệnh sẽ bị đưa ra tòa án quân sự, kỷ luật là sức mạnh của quân đội, xin nhớ cho)
Tiểu Đoàn Trưởng 38 BĐQ là Thiếu Tá Trần Đình Tự. Một người Bắc di cư từ năm 1954 lúc tuổi đời còn nhỏ. Ông tham gia quân đội và tung hoành trên nhiều mặt trận, đã từng bị cộng sản bắt làm tù binh một lần. Ông tập họp tiểu đoàn lại và nói: “Tổng Thống đã ra lịnh đầu hàng, anh em có quyền chọn lựa. Ai muốn về với gia đình thì cứ ra đi.Riêng tôi sẽ không tuân lệnh đầu hàng. Ai đi với tôi thì ở lại.”
Cuộc chia tay nhiều ngậm ngùi và vội vã. 90 người đi theo vị Tiểu Đoàn Trưởng này.
Họ tiến về Bộ Chỉ huy Biệt Động Quân từ Gò Dầu Hạ. Vừa đi vừa đánh. Đến Ấp Trung Lập Hạ, Củ Chi thì còn lại đúng 13 người gồm cả vị TIểu Đoàn Trưởng. Tại đây họ lại đụng với một lực lượng du kích có lẫn chính quy.
Đến 4 giờ ngày 30/4/1975 thì những anh hùng Mũ Nâu này hết đạn. Cộng quân tràn lên bắt sống họ.
Diễn tiến vụ thảm sát:
Thằng chỉ huy cộng quân, dí súng vào đầu Thiếu Tá Tự, ra lịnh cho ông phải tháo cặp lon Thiếu Tá trên cố áo xuống. Ông từ chối, viện dẫn luật tù binh của Liên Hiệp Quốc.
Thằng Việt cộng gào lên chửi bới những lời thô tục và mất dạy.
“Chúng mày là ngụy, là tay sai giặc Mỹ, là bọn ác ôn, ăn gan uống máu nhân dân, tao ra lịnh cho mày phải cởi hết quần áo ra, nằm úp mặt xuống đất. Cãi lịnh tao bắn. Tổng Thống của tụi mày đã đầu hàng, nghe rõ chưa?”
Thiếu Tá Tự trả lời nó: “Ai đầu hàng chứ tao thì không. Tao không cởi, mày muốn giết thì giết đi.”
Thằng Việt cộng mắt long lên sòng sọc, nó rút lưỡi lê bên hông của Ông Thiếu Tá và đâm vào bụng Ông ấy, nó rọc xuống một đường.
Ông Thiếu Tá đổ người xuống, nó rút K54 và bắn vô đầu Ông.
Dũng Tướng Về Trời.
Thằng Việt cộng ra lịnh đem xác Ông ra phía sau ngôi trường và vất ở đó, sau đó nó ra lịnh dẫn 12 người Lính Biệt Động Quân còn lại đem ra đó xử bắn luôn.
Xác những người Anh Hùng nằm chồng chất lên nhau.
Họ đã đền xong Nợ Nước.
Ba ngày sau, người nhà của ông Thiếu Tá nghe tin và tìm lên Củ Chi lấy xác ông ấy về mai táng.
Riêng 11 thân xác của các chiến hữu của Ông phải đến mấy mươi năm sau mới được cải táng.
Nhờ vào tấm lòng của tất cả đồng bào trong và ngoài nước, cùng các chiến hữu của Binh Chủng Biệt Động Quân. Người Lính mang máy truyền tin cho Ông Thiếu Tá là Binh Nhất Đức Trọc, nhờ giả chết mà còn sống sót. Người dân ở đó đã che giấu và giúp đỡ Anh ấy trốn về Sài Gòn.
Tội ác này không được lãng quên.
Dù ai có nói ta điên
Còn sống ngày nào ta cũng nhắc đi nhắc lại
Để thế hệ đời sau rõ mặt quân thù.
Theo lời kể của Mũ Nâu Thiên Lôi (dongsongcu.wordpress.com)
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Đoạn Trường Tháng Tư Đen: Thảm Sát Tù Binh Giờ Thứ 25.
Thơ Tứ Tuyệt Xướng Họa : Thăm Hỏi
Xướng: THĂM HỎI
Đã lâu nhớ quá nói sao vừa !
Covid thuốc ngừa đã chích chưa ?
Cơm nguội còn nhơi hay đã bỏ ?
Vẫn còn có chỗ đứng như xưa ?
Cóc Chát

Các Hồi Đáp:
1.- TRẢ LỜI
Thưa rằng nhớ lắm nói sao vừa
Hai mũi chích rồi yên chí chưa?
Cơm nguội nóng gì cũng ráng sực
Dù ngồi hay đứng chẳng như xưa.
CX
2.- ????
Giờ đây chẳng biết có còn vừa
Ngọn lửa năm nao tắt thật chưa
Ngồi ngắm hoa xuân trong nắng ấm
Bâng khuâng lại nhớ một thời xưa
CCR
3.- VẪN NHƯ XƯA
Covid rằng mi ác chẳng vừa
Phòng thân đã chích tại sao chưa
Cơm nhà vẫn vậy ăn ngon bữa
Rượu uống cầm chừng khác lúc xưa
ĐNN
4.- DẤU XƯA
Hỏi bạn bao nhiêu mới thấy vừa
Tiêm rồi chích nữa khỏi hay chưa
Nếu mà còn nước minh còn tát
Dù biết dễ gì giống thuở xưa ./-
TQN.
5.- AN TÂM
Hai mũi tớ đây cũng mới vừa
không biết giờ nầy vững hay chưa ?
Nhưng mà cảm thấy an tâm lắm
Nóng nguội cứ nhơi giống thuở xưa
CH
6.-THÁCH ĐỐ
Giận con covid nói sao vừa
Đại dịch tràn lan mầy biết chưa
Hai mũi vaccine tau mới chích
Bây giờ sức khỏe lại như xưa
CN-NCV
7.- NHỚ BẠN XƯA
Lưng chén cơm, canh bụng đã vừa
Thân già như tuổi,lú thì chưa
Ngày qua tâm tưởng chừng khơi lại
Cánh cánh nỗi niềm nhớ bạn xưa
CÓC BIỂN
8.- TRỞ LẠI XƯA
Covid nay đang giảm mức vừa
Bạn đà tiêm chủng vacime chưa ?
Làm theo khuyến cáo ngành y tế
Hết dịch sum vầy trở lại xưa.
CB
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Thơ Tứ Tuyệt Xướng Họa : Thăm Hỏi
Giải Trí Một Chút (Sưu tầm không rỏ tác giả)
Đặt tên cho con
Số là tui có một cô bạn gái người gốc Bắc kỳ 9 nút, cô ta được Cha Mẹ đặt cho một cái tên cúng cơm rất đẹp, Đái thị Xinh Xinh, (bên nội của cô ta chính là họ hàng của nhà thơ Đái Đức Tuấn). Ấy thế mà cô ta có được yên thân với lũ quỷ bạn học cùng lớp đâu. Cô ta rất đau khổ vì cái tên Đái thị Xinh Xinh của mình trong suốt những năm tiểu học. Ngày nào cũng bị các bạn đem cái tên của cô ta ra trêu cợt để làm trò đùa, như là con Đái nầy, con Đái nọ, Đái mà xinh cái gì, con nhỏ nầy khai quá!…vv…
Bẳng đi một thời gian, sau năm 1975, đám nhóc tì tụi tui năm xưa tình cờ gặp lại nhau tại Cali ở tuổi thất tuần, trong số nầy cũng có mặt vợ chồng cô bạn học cũ, họ Đái tên Xinh Xinh năm xưa. Hôm gặp nhau, bạn bè ai cũng vui vẻ giành nhau nhắc lại chuyện cũ, và đương nhiên phải có câu chuyện cô bạn họ Đái năm xưa … Thiệt là “chạy Trời không khỏi nắng”, cô ta vừa cười, vừa thở, vừa than, rằng… Cái số của Xinh nó không Xinh chút nào, các bạn có biết không, sau khi được chồng bảo lãnh sang Mỹ đoàn tụ, sau đó mình thì đậu vô quốc tịch, họ cho mình được đổi tên. Mình tính không đổi, nhưng tên của mình người Mỹ họ không phát âm nghe không rõ, cho nên mình quyết định thay tên XINH XINH thành một tên Mỹ, tên Cindy, và từ đó mình bắt đầu có tên mới, tên CINDY ĐÁI. Có một lần ngồi chờ nhận Vali bị lạc tại phi trường, họ kêu tên mình mãi mà nào mình có hay biết chi !!!
– Có ai Xin Đi Đái không? Ai là Xin Đi Đái???
Thiệt là “Quỷ tha ma bắt” cho mình, ở trong xứ đã khổ vì cái họ Đái, cho đến nửa thế kỷ sau, ra nước ngoài ngỡ rằng sau khi đổi tên sẽ được yên thân, ai dè lại phải gặp thêm cái nạn tên họ lần nữa…
XIN ĐI ĐÁI (CINDY Đái, người Mỹ gốc Mít)
(Ghi lại theo lời kể của chị Đái thị Xinh Xinh, tự Cindy Đái, một “nạn nhơn” của cái vụ đặt tên họ)
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Giải Trí Một Chút (Sưu tầm không rỏ tác giả)
Giai thoại về tác giả nhạc phẩm Làng Tôi
Giai Thoại Về
TÁC GIẢ Nhạc Phẩm LÀNG TÔI
Tác Giả: Phan Văn Thanh, CHS Văn Đức Lớp 12C Niên Khóa 1972 – 1975
Làng tôi có cây đa cao ngất từng xanh
Có sông sâu lờ lững vờn quanh êm xuôi về Nam …
Làng tôi bao mái tranh san sát kề nhau
Bóng tre ru bên mấy hàng cau đồng quê mơ màng!
Năm ấy, đoàn hát Kim Chung lần đầu tiên có kế hoạch thực hiện bộ phim nhựa có tiếng nói (âm thanh). Để cho bộ phim thêm phần hấp dẫn, trang trọng và gây ấn tượng với công chúng trong buổi chiếu ra mắt, toàn bộ êkíp điều hành, bầu sô, đạo diễn … đồng ý việc tổ chức một cuộc thi sáng tác bài hát làm nền cho phim với giải thưởng lớn cho tác phẩm được chọn. Đây cũng là bộ phim nhựa có âm thanh đầu tiên của ngành điện ảnh Việt Nam vào thời ấy. (1952)
Cuộc thi được tổ chức rộng rãi trong công chúng, không phân biệt tuổi tác, chuyên nghiệp hay nghiệp dư…đã có nhiều nhạc sĩ tên tuổi cùng một số những người mới thành danh trong làng ca nhạc giải trí thời đó tham gia. Đề tài sáng tác là quê hương và con người Việt Nam.
Sau nhiều lần chọn lựa rất công bằng và vô tư, ban giám khảo đã mất khá nhiều thời gian bàn bạc, nhận xét rồi cân nhắc để đưa ra một sự chọn lựa chính xác, dù biết đó là một quyết định rất khó khăn. Cuối cùng, Ban tổ chức đã công bố, tác phẩm được chọn để trao giải là bài hát “Làng Tôi” của một tác giả vô danh tiểu tốt, cái tên nghe chừng như rất xa lạ trong làng ca nhạc Việt thời ấy đó chính là nhạc sĩ Chung Quân.
Bản nhạc Làng Tôi được chọn vì nó mang hơi thở của một vùng quê yên bình, lời lẽ cũng mộc mạc, dung dị thấm đẫm tình cảm của người dân Việt Nam, cho dù năm đó tác giả bài Làng Quê mới chỉ vừa 16 tuổi. Nhạc phẩm Làng Quê và cái tên Chung Quân ra đời từ dạo ấy. Nhờ giai điệu du dương, thắm thiết tình người tình quê của Làng Tôi cứ mãi bay xa mà cái tên nhạc sĩ Chung Quân trở nên nổi tiếng và đi vào lòng người.
Nhiều nhạc sĩ tên tuổi và giới văn nghệ thời đó có hơi ngỡ ngàng, nhưng mọi người đều công nhận bản nhạc “Làng Tôi” xứng đáng được nhận giải thưởng vinh dự đó.
Quê tôi chìm chân trời mờ sương
Quê tôi là bao nguồn yêu thương
Quê tôi là bao nhớ nhung se buồn
Là bao vấn vương tâm hồn … người bốn phương.
Bản Làng tôi đã giành được giải của công ty điện ảnh, đoàn cải lương Kim Chung ở Hà Nội để làm bản nhạc nền cho phim Kiếp Hoa.
Hành trình về phương Nam
Thế rồi, thế sự đổi thay theo mệnh nước nổi trôi. Năm 1954, Chung Quân cùng gia đình di cư vào Nam, định cư ở vùng Khánh Hội (Sai! Vĩnh Hội mới đúng. Ông ở sau Hãng Phân Thần Nông, mà lối vào là Hẻm Ogliastro cạnh Hãng Phân này. Tôi biết rõ vì tôi ở cách nhà ông khoảng 30 mét-TTG). Nhờ đã từng học sư phạm chuyên ngành về nhạc và danh tiếng của Làng Tôi, Chung Quân được Bộ Quốc gia Giáo dục của Đệ Nhất Cộng Hòa ưu đãi, cho dạy môn nhạc tại hai trường trung học Chu Văn An, và Nguyễn Trãi. Thời gian giảng dạy ở trường Nguyễn Trãi, Chung Quân là thầy dạy nhạc của nhiều nhạc sĩ nổi tiếng sau này như Ngô Thụy Miên, Vũ Thành An, Đức Huy, Nam Lộc… Cũng khoảng thời gian 1955 – 1956, ông có soạn bản hợp xướng Sông Bến Hải, theo một vài ý kiến thì đó là một trường ca có giá trị nghệ thuật, viết về cuộc di cư năm 1954, nhưng về sau không thấy phổ biến rộng rãi.
Trường Nguyễn Trãi năm ấy có cậu học trò nghèo nên buổi trưa thường không về nhà mà nghỉ lại ở trường cùng bữa ăn trưa là gói xôi mà mẹ cậu đã mua cho cậu đem theo từ sáng sớm. Thay vì nghỉ trưa, cậu học trò lại tha thẩn trong trường để rồi lắng nghe được câu chuyện tranh cãi giữa hai người thầy.
Trong một căn phòng, tiếng của vị giáo sư Hà Đạo Hạnh (cử nhân toán) đang ầm ĩ nói với nhạc sĩ Chung Quân
– Trình độ học vấn của anh chỉ đáng là học trò của tôi thôi. Việc anh được dạy chung với những giáo sư như chúng tôi là một vinh dự cho anh, anh có biết điều đó không?
– Nhưng thưa giáo sư, nếu hỏi công chúng có biết nhạc sĩ Chung Quân là ai không? Thì chắc chắn nhiều người biết đó là tác giả của bản nhạc Làng Tôi. Còn như hỏi họ, có biết giáo sư Hà Đạo Hạnh là ai không? Tôi tin người ta không mấy người biết.
Câu chuyện đang đến hồi hấp dẫn, và cậu học trò cố áp sát tai để chờ nghe tiếp xem Giáo sư Hà Đạo hạnh trả lời ra sao, bỗng từ phía sau, một bàn tay lạnh lùng của thầy giám thị véo vào tai cậu học trò kéo đi chỗ khác! Và vì thế mà câu chuyện đành dở dang ở đây.
Rồi thời gian trôi qua, tưởng mọi chuyện đã rơi vào quên lãng. Nhưng không, nhạc sĩ Chung Quân đã không chịu bỏ qua dễ dàng như vậy, ông nhất định phải đòi lại món nợ danh dự này. Không công danh thà nát với cỏ cây.
Nhạc sĩ Chung Quân sau đó đã quyết chí tiếp tục con đường kinh sử, ông ghi danh theo học và hoàn thành tú tài toàn phần, sau đó, ông lại tiếp tục việc học để đạt cho kỳ được mảnh bằng Đại học. Cuối cùng, ông đã tốt nghiệp cử nhân văn chương tại Anh quốc.
Đã mang tiếng đứng trong trời đất
Phải có danh gì với núi sông
Nhớ lại câu chuyện ngày xưa, nhạc sĩ Chung Quân sao chép tất cả văn bằng mà mình có được gửi về cho giáo sư Hà Đạo Hạnh kèm theo lời nhắc nhở rất nhẹ nhàng lịch sự.
Thưa giáo sư Hà Đạo Hạnh, tất cả những gì mà giáo sư làm được thì Chung Quân tôi cũng đã làm được. Còn những gì Chung Quân tôi làm được thì giáo sư đã không làm được.
Viết tới đây tôi bỗng nhớ tới bài thơ của cụ Nguyễn Công Trứ có đoạn như sau:
Đã hẳn rằng ai nhục ai vinh
Mấy kẻ biết anh hùng khi vị ngộ
Cũng có lúc mưa dồn sóng vỗ
Quyết ra tay buồm lái với cuồng phong
Chí những toan xẻ núi lấp sông
Làm lên tiếng phi thường đâu đấy tỏ …
Nhạc sĩ Chung Quân đã đòi lại món nợ danh dự năm xưa một cách sòng phẳng bằng ý chí và lòng kiến nhẫn của chính ông. Rất lịch sự, tế nhị mà cũng rất quân tử. Không ồn ào, không gióng trống khua chiêng làm người khác phải ngượng ngùng, mất thể diện. Quả thật, chẳng ai biết trước được chuyện gì xảy ra trong cuộc đời.
Cậu học trò nghe lén câu chuyện ngày xưa sau này cũng theo cái nghề “gõ đầu trẻ”. Ông dạy Trung học đệ nhị cấp (cấp 3) ở miệt dưới tận tỉnh Bạc Liêu. Ngoài công việc dạy học, ông còn làm thêm nghề tay trái là viết báo, viết văn với bút hiệu Thái Phương. Sau biến cố 1975, ông nghỉ dạy và chuyển hẳn sang viết báo. Hiện nay, độc giả biết nhiều đến ông với bút danh nhà văn Đoàn Dự.
Đã có lần, nhà văn Đoàn Dự gặp lại thầy cũ là giáo sư Hà Đạo Hạnh và ông có hỏi vị giáo sư:
– Thưa Thầy, sao ngày đó thầy lại nặng lời với Nhạc sĩ Chung Quân thế ạ!
– Hồi ấy tôi có hơi nóng nảy nên đã quá lời
Mọi chuyện rồi cũng qua đi, người xưa giờ cũng đã trở về cùng cát bụi, nhưng câu chuyện thì sẽ còn mãi như một bài học, một tấm gương về cách đối nhân xử thế của người xưa vậy./.
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Giai thoại về tác giả nhạc phẩm Làng Tôi
Đạo hòa hợp giữa vợ chồng: 3 nhiều, 3 ít, 3 không _ Minh An
Đạo hòa hợp giữa vợ chồng:
3 nhiều, 3 ít, 3 không
Minh An
(Bài trích từ http://rangdongonline.com/)
Khi vợ chồng hòa thuận, hòa hợp là điều quan trọng nhất. Sự hòa hợp êm ấm giữa vợ chồng sẽ tạo nên giai điệu hài hòa.
Cổ nhân nói: “Tu trăm năm mới ngồi chung thuyền, tu ngàn năm mới nên duyên vợ chồng”.
Trong biển người mênh mông, hai người bước vào lễ đường hôn nhân vốn đã rất khó, ở bên và giúp đỡ nhau lại càng khó hơn.
Hôn nhân không thể tách rời tình yêu, nhưng cũng không thể chỉ có tình yêu. Giữa vợ chồng lại càng cần có sự chân thành để vun vén cho cuộc hôn nhân tu bao đời mới có được.
Cách tốt nhất để một cặp vợ chồng hòa hợp là: 3 nhiều, 3 ít, 3 không.
Ba nhiều
1. Quan tâm nhiều hơn
Có câu nói rằng: “Tình yêu không quý ở nồng thắm, mà quý ở bền lâu”.
Thể hiện sự quan tâm, chăm sóc là cách tốt nhất để giữ cho tình cảm bền lâu.
Giữa vợ chồng không tránh khỏi những lúc bất đồng hay cãi nhau vì những chuyện vụn vặt. Năm tháng trôi qua, tình cảm nồng nàn phai nhạt dần, giữa hai người dường như chỉ còn lại những điều thực tại. Lúc này, vợ chồng càng cần có trái tim thông cảm cho nhau.
Vợ hiểu và thông cảm cho chồng đi làm vất vả, chồng hiểu cho vợ phải gánh vác các công việc nhà. Vợ chồng mỗi người quan tâm một chút, hôn nhân đương nhiên tràn ngập yêu thương.
Muôn đời nay vẫn vậy, sự quan tâm mãi mãi đứng ở vị trí đầu tiên.
2. Tôn trọng nhiều hơn
Điều chú trọng nhất trong hôn nhân là tình cảm đúng mực.
Mỗi người đều là một cá thể độc lập, dù mối quan hệ có tốt đến đâu cũng cần để cho đối phương có không gian riêng.
Hai người sống cùng nhau thì điều cấm kỵ nhất là ham muốn kiểm soát một cách cực đoan. Mọi việc đều muốn quản chặt, cũng đồng nghĩa với việc bóp nghẹt tình cảm. Tốt hơn là nên lưu lại chút không gian và tôn trọng nhau hơn.
Hiểu biết và ủng hộ sở thích của vợ hoặc chồng; đối với các vấn đề lớn trong gia đình, cùng nhau thảo luận và giải quyết; không bí mật dò xét việc riêng tư của đối phương. Chỉ có tôn trọng người bạn đời của mình, mới có thể nhận được sự tôn trọng trở lại của họ.
Tôn trọng nhau thì hôn nhân mới có thể luôn duy trì tươi mới.
3. Khích lệ nhiều hơn
Một cuộc hôn nhân tốt đẹp không bao giờ dè sẻn với những lời khen ngợi.
Một người chồng tốt và một người vợ tốt sẽ luôn nhìn thấy những điểm tốt của người bạn đời mình. Họ sẽ nhìn đối phương với ánh mắt tán thưởng và luôn khuyến khích và khen ngợi nhau.
Một lời động viên, khen ngợi có tác động rất lớn, không ai có thể bỏ qua. Dù là người phải bôn ba làm việc bên ngoài, hay lao tâm vất vả việc nhà, thì một lời động viên cũng có thể biến mọi mệt mỏi tan thành mây khói.
Lời động viên, quan tâm nói ra, sưởi ấm người khác, nuôi dưỡng tâm hồn.
Ba ít
1. Ít nghi ngờ
Sự tin tưởng là nền tảng của hôn nhân; sự nghi ngờ là kẻ giết chết tình cảm.
Một khi xuất hiện nghi ngờ, giữa hai người sẽ có khoảng cách, thì dù đồng sàng cũng dị mộng. Như câu nói “trên đời vốn không có việc gì, chỉ là người tầm thường tự quấy nhiễu bản thân”, nghi ngờ là điều vô nghĩa nhất.
Hãy tưởng tượng rằng hai người đã kết hôn và đã cùng nhau trải qua bao điều, vì sao phải nghi ngờ lẫn nhau? Nếu nghi ngờ nhiều, cho dù không sao, nhưng sẽ vô cớ xảy ra chuyện.
Vứt bỏ sự nghi kỵ, đứng ở góc độ của đối phương và dễ dàng tha thứ hơn.
Khi có tâm thái tin tưởng, sự ngăn cách giữa vợ và chồng sẽ tự nhiên tan biến mất.
2. Ít oán giận
Giữa vợ và chồng sẽ không tránh khỏi những va chạm nhỏ. Xung đột là điều bình thường. Điều kỵ húy là chỉ đứng tại góc độ của bản thân, mù quáng chỉ trích đối phương.
Thường xuyên phàn nàn không ngừng sẽ biến một cuộc hôn nhân tốt đẹp thành một mối quan hệ xấu. Trên thực tế, chỉ cần hiểu nhau hơn, thì sẽ bớt phàn nàn, oán trách hơn.
Vợ chồng với các nghĩa vụ trong gia đình, mỗi người đều có vất vả, khó khăn riêng. Khi có thể hiểu được chỗ khó khăn của người kia, bạn sẽ nuốt lời phàn nàn vào bụng.
Nhẫn nhịn, bao dung, hôn nhân sẽ là trời xanh nước biếc, là trời cao biển rộng.
3. Bớt trút giận sang người khác
Trong đời người, khó tránh khỏi có nhiều điều không vừa ý.
Khi bị người khác khiến phải chịu thiệt, rất nhiều người sẽ trút giận lên người bạn đời của mình. Lâu ngày hai người nhìn thấy nhau là chỉ muốn nổi đóa, cả nhà tràn ngập năng lượng tiêu cực.
Thay vì để đối phương vô cớ chịu cơn giận cá chém thớt, tốt hơn hết là nên trao đổi thẳng thắn.
Khi chịu thiệt thòi trong cuộc sống, có thể bình tâm tĩnh khí chia sẻ với đối phương và để họ lắng nghe. Như thế vừa có thể giải tỏa áp lực, vừa có thể phát triển mối quan hệ.
Suy cho cùng, giao tiếp rất quan trọng đối với việc vợ chồng hòa hợp
Ba không
1. Không nhắc lại chuyện cũ
Trên đời, không có cặp vợ chồng nào mà không cãi vã.
Điều thường thấy nhất khi các cặp đôi cãi nhau là lôi lại những vết thương cũ và những chuyện cũ của nhau.
Người xưa nói “chớ nhìn lại quá khứ”.
Ai cũng có một quá khứ buồn. Mỗi lần lật chuyện cũ tương đương với việc xát muối vào vết thương của đối phương. Dù cuộc hôn nhân có tốt đẹp đến đâu, cũng không thể chịu nổi việc dày vò quá khứ hết lần này đến lần khác.
Quá khứ đã qua, quá khứ không đáng để đưa ra làm tổn thương tình cảm của hiện tại.
Đừng nhắc đến những chuyện đã qua, điều bạn cần trân trọng chính là cuộc sống hiện tại.
2. Không để lộ khuyết điểm
Như câu nói: “Nhân vô thập toàn, không có ai hoàn hảo”.
Tình yêu là đánh giá cao ưu điểm của đối phương; hôn nhân là bao dung những khuyết điểm của nhau.
Không ai muốn bị người khác làm lộ ra khuyết điểm. Việc vạch trần những khuyết điểm của nhau tương đương với việc rắc muối vào vết thương. Khi trái tim bị tổn thương sâu sắc, sẽ mất đi khả năng yêu, cuộc sống hôn nhân sẽ bước vào bờ vực khủng hoảng.
Nếu bạn yêu một ai đó, bạn nên yêu cả những khuyết điểm của họ. Dù họ có muôn vàn cái sai nhưng họ lại luôn luôn là người yêu bạn nhất, quan tâm và gần gũi bạn nhất.
Đừng làm tổn thương người yêu thương của bạn chỉ vì một phút nóng giận.
3. Không tranh đúng sai
Các cặp đôi hay cãi vã, chỉ muốn tranh luận đúng sai. Vấn đề là đối với nhiều thứ, không có đúng sai tuyệt đối. Ngay cả khi cãi nhau tới đỏ mặt, cũng sẽ không có kết quả gì.
Trên thực tế, sự hài hòa quan trọng hơn sự thật của vấn đề.
Nếu thắng về mặt lý lẽ mà đánh mất đi tình cảm thì bạn sẽ chỉ nhặt được hạt vừng, mà mất cả quả dưa hấu.
Khi khí giận bốc lên thì sẽ nói nhiều và mắc sai nhiều. Thà rằng, mọi người im lặng không nói, sau khi bình tĩnh trở lại cùng nhau nói chuyện, không có gì là không thể giải quyết được.
Khi vợ chồng hòa thuận, hòa hợp là điều quan trọng nhất. Sự hòa hợp êm ấm giữa vợ chồng sẽ tạo nên giai điệu hài hòa.
Hôn nhân giống như món đồ sứ, nó cần được nâng niu, cầm nhấc cẩn thận, để ý bảo vệ. Hôn nhân cần được duy trì bằng tình yêu, và dùng tâm để xử lý.
Làm tốt “ba nhiều, ba ít, ba không”, thì dù trải qua bao thăng trầm, cuộc sống hôn nhân vẫn ngọt ngào, tình cảm vẫn sâu đậm.
Minh An
Theo Secretchina
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Đạo hòa hợp giữa vợ chồng: 3 nhiều, 3 ít, 3 không _ Minh An
Đôi Bạn Già Trong Viện Dưỡng Lão_Lý Khoa Văn

Đôi Bạn Già Trong Viện Dưỡng Lão
(VVNM): Cuối cùng thì Ông cũng thỏa lòng từ giã cái nơi mà không ai muốn đến ở lâu dài, để đi về một nơi mà bình thường ít ai muốn về sớm. Giờ phút mà Ông đã nhẹ gánh lên đường, các bạn đồng viện Dưỡng Lão đến cạnh giường để vuốt một bên mắt còn hé mở của Ông. Kẻ thì thầm nói lời “tạm biệt, hẹn tái ngộ”; Kẻ ngậm ngùi nhớ đến câu “nay người mai ta” mà không ngăn được dòng lệ chảy dài trên khóe mắt nhăn nheo!
Ngày Ông mới đến đây cũng cô đơn, lặng lẽ như lúc Ông ra đi. Vài năm trước, vào một buổi chiều thu ảm đạm, có chiếc xe hơi màu đen bóng loáng chợt dừng lại trước sân Viện. Một thanh niên mở cửa xe bước xuống, dìu Ông vào văn phòng, rồi vội vàng lùi xe đi mất!
Thủ tục nhập viện xong, người nhân- viên phụ- trách một tay xách hộ Ông cái ba lô hành- lý cá- nhân, một tay vịn chừng Ông đang khập khễnh chống gậy lê từng bước một. Trong ánh nắng nhạt nhòa thoi thóp của hoàng hôn trong sân Viện, trông Ông thật gầy yếu, cô- đơn, thiểu não như một người lính già bại trận!
Ông được chỉ định nằm ở một cái giường nệm chiếc kê sát tường, gần khung cửa sổ. Một cái tủ nhỏ, một chiếc bàn con đặt ở đầu giường, một đôi dép cũ bạc màu còn in đậm dấu bàn chân của nhiều người chủ đã đi qua nó, được đặt ngay ngắn ở gậm giường. Đó là tất cả phúc- lợi cá nhân mà một Viện- Dưỡng- Lão nghèo có thể dành cho mỗi Hội- Viên
Sau cái gật đầu và nói vài lời cám ơn người hướng dẫn, Ông đặt ba- lô lên chiếc bàn nhỏ, rồi ngã mình lên giường, quay mặt vào vách, kéo chiếc mền nhỏ phủ kín lên người, nằm im chẳng buồn chào hỏi ai. Đối với Ông, đây là đoạn cuối của một con voi già què quặt, cô đơn bệnh hoạn đang tìm về khu nghĩa địa hoang vu ở rừng sâu không ai biết đến, để âm thầm chờ rũ nắm xương tàn!
Suốt mấy ngày liền Ông chẳng ăn gì, chỉ uống chút nước cầm hơi. Hình như Ông có điều gì buồn giận ghê gớm chất chứa trong lòng. Vài người đồng cảnh muốn đến trò chuyện, hỏi han để an ủi Ông, nhưng Ông chỉ im lặng lánh xa họ, để cố giữ nguyên niềm đau khổ cho riêng mình. Các y tá cuả Viện cũng chẳng thay đổi gì được tình trạng của Ông.
Cuốí cùng, một Ông già tóc bạc phơ nằm ở giường gần Ông, ngồi xe lăn đến bên cạnh Ông nói lớn, chẳng cần biết Ông có chịu nghe hay không, ông ta nói một hơi.
– Này anh bạn, hãy nghe đây. Tôi đoán và hiểu rõ tâm sự u uất của anh rồi. Nỗi buồn khổ của anh không rộng lớn, sâu đậm hơn tôi đâu. Tôi rất buồn lòng mà tâm tình với anh rằng, trước đây tôi đã là người từng đứng đầu một Tỉnh của miền Nam- Trung Phần. Và đã từng trả giá nhiều năm trong lao tù cải tạo khắc nghiệt để đưa được vợ con đến đất nước tự do giàu có nầy, với hy vọng cùng chung hưởng sung sướng hạnh phúc trong những năm tháng cuối của cuộc đời mình. Nào ngờ sau cơn đột quỵ, tôi trở thành phế nhân! Họ đã bàn tính đưa tôi vào đây để hằng ngày khỏi phải nhìn thấy một ông già tật nguyền khó tính ở trong căn nhà sang trọng của họ. Đó, anh hãy mở mắt ra mà nhìn vào sự thật phũ phàng đánh dấu 10 năm trôi qua trong cuộc sống của tôi ở đây, là 10 tấm thiệp chúc mừng Giáng sinh và Năm mới của họ gởi cho tôi, mà tôi đã trân trọng dán ở đầu giường, để mỗi lần nhìn thấy những vật kỷ niệm đó tôi yên chí rằng họ vẫn còn sống ở đâu đây. Vào mỗi cuối năm, một cánh thiệp thay cho người đến thăm tôi, với lý do không về được vì bận rộn công việc làm ăn. Nhưng tôi chẳng buồn phiền chút nào, và hằng đêm tôi vẫn thiết tha cầu xin Chúa đầy lòng nhân từ tha thứ cho họ. Vì dù sao họ vẫn là những người yêu thương ruột thịt của tôi. Bây giờ họ đang ở một Tiểu bang tận cùng xa xôi nào khác mà tôi chưa hề biết đến. Họ đã chối bỏ tôi, mắc cỡ vì tôi, không muốn cho ai biết họ đang có một người chồng, một người cha tật nguyền xấu xí! Nhưng lòng tôi vẫn nhẹ nhàng thanh thản. Vì Chúa đã dạy tôi phải biết tha thứ, yêu thương và chúc phước cho cả kẻ thù của mình nữa. Tôi tên là Tư. Các bạn ở đây gọi một tôi là Ông Tư- Bạch- Kim vì mái tóc trắng bóng một màu của tôi. Còn anh, xin tạm gọi là Ông Năm- Muối- Tiêu, theo như màu tóc hai mùa mưa nắng của anh. Anh có đồng ý hay không, thì vẫn cứ gọi như vậy thôi!
Tuy đang buồn chán tưởng chừng như sắp tê liệt, nhưng Ông Năm Muối Tiêu vẫn bị lôi cuốn bởi câu chuyện riêng tư có tính cách bi hài của Ông Tư- Bạch- Kim. Ông mở to đôi mắt, ngạc nhiên nhìn chằm chặp vào ông già có mái đầu bạc phơ, nhưng đôi mắt thật trẻ trung, hiền từ vui vẻ đang ngồi trên một chiếc xe lăn trước mặt Ông. Thật không ngờ trong một hoàn cảnh phũ phàng, đắng cay, đau khổ tận cùng, lại có người bình thản, bao dung đến như vậy. Ông cảm thấy ngượng ngùng, cố gắng chống một tay còn cử động được, ngồi tựa vào tường, đối diện với ông già xa lạ. Ông ôn tồn nói:
-Cảm ơn ông đã cho tôi một tấm gương chiến đấu rất can đảm để tự thắng “cái tôi” mềm yếu của mình và để dễ dàng chấp nhận nghịch cảnh cùng số phận, mà mình vẫn không hề oán than, cầu khẩn! Tôi sẽ học hỏi ở Ông, chắc Ông có bí quyết đặc biệt nào đó?
-Thật ra chẳng có bí quyết nào cả. Ngày mới vào đây, tôi cũng buồn chán, tuyệt vọng, hận đời hơn anh nhiều. Lúc nào tôi cũng muốn đập phá một cái gì đó trong tầm tay để nguôi cơn giận. Nhưng từ khi có phái đoàn gồm vị Mục- sư và vài người trong Hội- Thánh Tin- Lành địa phương đến đây thăm viếng, ủy lạo tặng quà và làm chứng về Chúa cho mọi người, tôi cùng một số người đồng cảnh bất hạnh cúi đầu tin nhận Chúa. Từ đó Chúa thay đổi cuộc đời của tôi. Từ một kẻ nóng nảy, cộc cằn, cô đơn mặc cảm thành một người như tôi của ngày hôm nay mà anh đã biết. Nếu anh muốn thì trong một dịp nào đó, tôi mời anh theo xe của Hội Thánh đến Nhà Thờ…
Một buổi sáng Chúa- Nhật, sau khi giảng thờ phượng xong, Mục- sư Quản- nhiệm Hội- thánh mời quý thân hữu, ai được Chúa cảm động, xin tiến lên phía trước để Mục- sư đặt tay cầu nguyện. Người ta xúc động đến rơi nước mắt khi thấy hai ông già tật nguyền nương nhau từng bước khó khăn để bước lên. Ông Tư- Bạch- kim hướng dẫn cho Ông Năm- Muối- Tiêu. Ông Năm không thể quỳ gối được nên một tay ông chống gậy, một tay yếu ớt vịn vào thành xe lăn của ông Tư để khom mình cúi đầu xuống, xin Thánh- Linh của Chúa ngự vào lòng.
Những tuần sau đó, Ông Năm- Muối- Tiêu dần trở lại vui vẻ, ăn uống bình thường. Hai người giống như một đôi bạn tri- kỷ, thân quen từ thuở nào. Hằng ngày người ta thấy hai ông bạn già kề cận bên nhau. Họ tốt bụng, thân thiện chia xẻ buồn vui với mọi người. Người ta cũng thường nghe hai ông già thì thầm tâm sự.
Có lần ông Tư tò mò hỏi ông Năm về chuyện người thanh niên trong ngày đầu đưa ông đến Viện. Ông Năm thản nhiên nói:
– Con tôi đó. Nó là thằng con trai mà tôi vô cùng yêu mến chìu chuộng. Thuở còn niên thiếu, nó luôn kề cận bên tôi như hình với bóng. Thời gian gần đây bỗng nhiên nó lánh xa tôi, xem tôi như một người khách trọ qua đường. Do đó, tôi biết chắc tôi sẽ mãi mãi là người đứng bên lề cuộc sống đầy bận rộn của vợ và các con tôi. Tuy vậy, tôi chẳng còn chút bận tâm hay buồn giận nào cả. Đối với tôi, bây giờ chỉ tràn ngập tình yêu thương tha thứ mà thôi. Tôi cũng chẳng muốn liên lạc với họ, bởi vì tôi muốn họ trọn vẹn có được nếp sống bình an thoải mái, lòng không vướng bận chút nào về chuyện cũ đã qua.
-Tốt lắm, Chúa đã gõ cửa cõi lòng từ lâu khép kín, và đang vá lại trái tim rạn nứt của anh rồi đó.
Hai ông cũng đồng ý với nhau rằng họ là người kém may mắn nhất trong phần lớn những người bất- toại về thể- chất, nhưng lại được bù đắp bởi người thân yêu hết lòng chăm sóc, an ủi, vui vẽ hy sinh chịu đựng suốt cả trong thời gian 5 năm…10 năm…30 năm… cho đến giờ phút cuối của cuộc đời. Biết bao là ân tình sâu nặng. Nhìn chung thì mỗi người được sinh ra đều nhận lảnh một duyên may hay số phận.
Một buổi tối cuối năm trời lạnh lắm. Một đám mây màu trắng đục đang chở trên mình vành trăng khuyết thượng tuần về muộn, trôi chầm chậm ngang qua khung cửa kính phòng ông Năm, làm rõ thêm hình ảnh một cây thông già cao tuổi còn đọng một màu tuyết trắng xóa trên ngọn cao, đứng bơ vơ tự bao giờ trước cổng môt ngôi biệt thự sang trọng lúc nào cũng kín cổng cao tường. Ông bỗng thấy lòng mình trống vắng, cô đơn một cách lạ lùng. Ông lần mò chống gậy bước ra sân, thẩn thờ tìm kiếm điều gì mà Ông cũng không nhớ nữa. Hình như Ông muốn tìm lại những dấu chân chệnh- choạng hồi cha con Ông mới đưa nhau vào Viện.
Thời gian qua nhanh quá! Mới đó mà đã mấy năm trôi qua. Mấy đêm rồi, ông Năm không ngủ được. Hình như có điều gì không ổn. Vầng Trăng- khuyết vừa khuất sau một hàng cây. Ông cảm thấy chóng mặt. Vội lò dò đến ngồi nghỉ trên chiếc ghế đá dài đặt dưới gốc một cây táo đỏ vừa mới rụng hết lá. Nhưng… Ông ngồi hụt xuống đất! Cả thân mình ốm yếu xương xẩu va mạnh vào thành ghế. Ông đau đớn ngất đi trong chốc lát. Lúc tỉnh dậy, Ông quờ quạng tìm cây gậy, rồi cố gắng lết từng bước một vào giường của mình. Ông run rẩy kéo chiếc mền phủ kín người, rồi nằm yên bất động…
Sáng hôm sau, khi quá giờ ăn điểm tâm đã khá lâu mà vẫn chưa thấy Ông Năm thức dậy, người ta đến dở mền Ông ra, thì mới hay Ông đã chết tự bao giờ, một bên mắt còn hé mở, như tiếc nuối điều gì.
Rồi người đại diện của Viện- dưỡng lão đến đứng giữa phòng đọc tờ di chúc có công chứng mà Ông đã lập sau ngày Ông cúi đầu tin nhận Chúa. Tờ Di chúc ghi rõ Ông ủy quyền cho Ban Điều Hành của Viện được quyền xử dụng tất cả số tiền trong Trương- mục Tiết- kiệm của Ông gởi ở Ngân- hàng để thanh toán mọi phí tổn mai táng. Số tiền còn lại được xung vào công quỹ của Viện, để góp phần nâng cao tiện nghi trong sinh hoạt hằng ngày của các Hội- viên. Nguyện vọng của Ông là muốn được chôn cất đơn giản ở mức độ tối đa. Xin miễn thông báo thân nhân và gia đình. Xin miễn đăng cáo phó.
Một buổi chiều buồn tênh lạnh giá của mùa Đông xứ Mỹ, trong lúc Ông Mục- sư cùng một số ít người tiễn chân Ông Năm đang chuẩn bị gởi cho Ông vài nắm đất cuối cùng, để biểu lộ đơn sơ tình cảm yêu thương mến tiếc của mình. Ông Tư- Bạch- Kim bỗng lăn bánh xe đến cạnh quan tài Ông Năm- Muối- Tiêu. Ông buồn rầu nói nhỏ vài điều tâm sự chỉ vừa đủ cho hai người nghe, rồi Ông lớn tiếng đọc tặng Ông Năm bài thơ khóc bạn như sau:
Bạn hiền ơi, vĩnh biệt rồi
Thế là cũng hết một đời sao anh?
Nhớ xưa chinh chiến tung hoành
Công lao hiển hách, tuổi xanh rạng ngời
Giờ đây đất khách, quê người
Cô đơn đeo đuổi, cuối đời quạnh hiu.
Ngủ đi anh, sạch mọi điều
Về trong nước CHÚA muôn chiều thỏa vui
. . .
Giờ anh vui ở trên trời,
Tôi buồn ở lại, đơn côi một mình!
Đọc đến đây, Ông Tư nghẹn ngào xúc động, gục đầu trên thành xe lăn, hai dòng lệ tuôn dài. Đây là lần thứ hai Ông khóc, sau lần Ông xách gói vào trại tù cải tạo để bỏ lại tất cả sau lưng cái giờ phút kinh hoàng đen tối, uất ức tủi nhục, cùng những vinh- quang ngắn ngủi của một thời vang- bóng…
Lý Khoa Văn
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Đôi Bạn Già Trong Viện Dưỡng Lão_Lý Khoa Văn
NGUYỆN CẦU – Thơ Lệ Khanh
NGUYỆN CẦU

Quỳ chấp hai tay trước Tượng Đài,
Nguyện cầu Từ Phụ hướng tương lai.
Đưa dân thoát ngục, rời tăm tối,
Dẫn nước vươn mình, khỏi lụy tai.
Cộng bán non sông không giấu diếm,
Tàu vô lãnh hải chả kê khai.
Uất hờn dâng tựa muôn triều sóng,
Từ Bắc-Trung-Nam đến xứ ngoài.
Lâm râm khấn lạy dưới chân Đài,
Phật Tổ xin Ngài bảo vị lai.
Khiến gái nước Nam tâm dũng cảm,
Cho trai đất Việt trí mưu tài.
Đuổi quân xâm lấn, công còn mãi,
Dẹp lũ gian tham, sức chẳng hoài.
Tổ quốc bốn ngàn năm sáng chói,
Vang lừng chiến sử dễ gì phai.
LỆ-KHANH
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở NGUYỆN CẦU – Thơ Lệ Khanh
Niềm Đau Tái Ngộ ( ST từ Đặc san Lâm Viên online)
NIỀM ĐAU TÁI NGỘ
Trần Phố Hội
Tuy xa quê hương đã hơn 40 năm Trình vẫn không quên hình ảnh ở quê nhà. Có nhiều đêm khó ngủ Trình nằm cả giờ hình dung lại khung cảnh ngôi nhà thuở xa xưa khi Trình chưa đầy mười tuổi, nơi có cây chiêm chiêm trước ngõ, có hàng rào dâm bụt nở bông thật xinh, có cái giếng đá nước trong và ngọt ngào uống thật ngon. Đối với bao nhiêu người khác thì nơi Trình lớn lên chẳng có gì thơ mộng, đó chỉ là một làng quê nghèo nàn, thiếu mọi tiện nghi của cuộc sống, vậy mà Trình vẫn luôn nhớ đến và càng lớn lên, càng xa nơi đó Trình càng nhớ nhiều hơn.
Năm 13 tuổi Trình lên Trung Học nên phải rời quê nhà xuống sống ở Hội An, một thành phố cổ kính của miền Nam. Lần đầu tiên xa nhà, xa Ba Má, xa bạn bè, bỡ ngỡ với cuộc sống xa lạ Trình lo âu và buồn lắm. Vài tháng sau thì bắt đầu quen dần với cuộc sống nơi phố thị nên không buồn và lo âu nữa, rồi sau đó Trình thấy thích cuộc sống ở thành phố vì có những tiện nghi như đèn điện, nước máy, được nghe nhạc trên radio.
Trình ở trọ trên đường Kiến Thiết, đối diện với Tiểu Khu, cách tiệm phở “ông giàu” ba căn nhà. Tiệm phở này có đặc điểm là mỗi tô phở có kèm theo một đĩa đu đủ chua, chỉ năm sáu lát nho nhỏ thôi nhưng khách thích lắm, không ai biết tên ông chủ nhưng thiên hạ gọi phở “ông giàu” vì đa số công chức ở Hội An đều mắc nợ ông, họ ăn phở của ông và ghi sổ, cuối tháng lãnh lương thì đến thanh toán tiền nợ.
Lớn lên ở thôn quê nghèo nàn, quanh năm chỉ quanh quẩn với hình ảnh “đất cày lên sỏi đá”, “người bừa thay trâu cày”, v.v… nay làm quen với đời sống ở thành phố thấy biết bao điều mới lạ để học; một hôm đứng trước hiên nhà trọ nhìn xe cộ chạy ở ngã năm gần đó Trình thấy một ông cảnh sát đứng trên bục ngay giữa ngã năm điều hành lưu thông, xe đạp và xe gắn máy đến đó vẫn tiếp tục chạy nhưng xe hơi phải dừng lại, rồi ông cảnh sát chỉ đường nào thì xe phải chạy theo đường đó, một chiếc xe đầu làm vậy và những chiếc khác đến sau cũng làm vậy. Trình suy nghĩ rồi tự hỏi “ông cảnh sát có quyền bắt xe hơi chạy theo đường ông muốn?” hay “ông cảnh sát biết những người lái xe đó muốn đi đâu?”, suy nghĩ mãi mà không tìm được câu trả lời. Hôm sau đến trường Trình hỏi thầy Tứ, thầy người Sài Gòn dạy toán và rất thương Trình, thì thầy giải thích rằng những người lái xe và cảnh sát có học về luật giao thông nên tài xế dùng bàn tay ra dấu và cảnh sát hiểu.
Lên đệLục thì bạn bè biết nhau rõ hơn và thân thiết hơn, thằng bạn thân nhất của Trình là Côn, cũng là người ở quê lên như Trình, hắn hiền lành, học giỏi, vui tính, có máu văn nghệ nên rất hạp với Trình. Lúc bấy giờ cũng đã quen thuộc đường sá ở Hội An nên thỉnh thoảng hai đứa đi dạo phố với nhau, Trình thích nhất là sau buổi cơm chiều hai đứa rủ nhau ra đường Bạch Đằng hóng mát, xem người ta câu cá và nghe nhạc của rạp chiếu bóng Hòa Bình, rạp này thường xuyên cho chơi bài “Oh! Carol” do Neil Sedaka hát. Mặc dù lần nào đi dạo mát ở bờ sông cũng nghe bài này mà vẫn thích nghe chứ không chán, chắc là vì lời lẽ vừa si tình, vừa đau thương, vừa khờ dại.
Đám bạn của Trình còn có Hùng, Bằng (dân Bắc di cư), hai đứa này không biết văn nghệ văn gừng gì nhưng khoái đi tắm sông, tắm biển nên cả bọn hay rủ nhau ra tắm sông ở cầu An Hội, gần chùa Cầu, ở đó nước sâu và tương đối sạch, lại có cây cầu bắt qua bên cồn cát nên khi bơi mỏi thì níu chân cầu nghỉ mệt. Ít lâu sau thì khám phá ra phía bên kia của cồn cát có bãi sông nước trong sạch nên kéo qua bên đó tắm; vì chỗ này xa nên mỗi lần đến đó tắm thì hùn tiền mua một nải chuối mang theo, tắm xong nghỉ ngơi ăn chuối thật thú vị.
Hội An có bãi biển Cửa Đại rất đẹp, nước trong xanh, cát trắng và mịn, chỉ cách thành phố có bốn cây số nên nhiều lần Trình và đám bạn rủ nhau ra đó tắm biển. Dọc theo bờ, chính phủ có để nhiều phòng thay đồ, gọi là phòng cho xôm tụ chứ thực ra chỉ là những cái hộp đóng bằng gỗ vừa đủ cho một người đứng. Từ trong phố cuốc bộ ra Cửa Đại mất hơn một giờ nên Trình và đám bạn chỉ tắm biển vào cuối tuần, mang theo đồ ăn. Khi đã xuống nước rồi thì tắm say sưa chẳng muốn về, lúc thì nắm tay nhau nhảy sóng, khi thì thi nhau bơi ra thật xa, xa đến nỗi những phòng thay đồ thấy nhỏ như những chiếc hộp. Ngoài khơi là Cù Lao Chàm, nhìn hòn đảo Trình mơ ước có ngày sẽ đủ sức bơi ra đó.
Một hôm Côn đến khoe:
– Tau mới mua cây đờn guitar.
Trình ngạc nhiên hỏi:
– Mi biết đờn hả?
– Biết sơ sơ.
– Học ở đâu vậy?
– Tự học thôi, mua sách về học, nay mua đờn để tập
– Tau thì biết chơi mandoline
– Thiệt không? mẹ cái thằng nói láo!
– Thiệt đó, rồi mi sẽ biết tài của tau.
Chuyện Trình biết đánh đàn cũng khá đặc biệt. Khi lên sáu, lên bảy, Trình ở vùng bị việt cộng (VC) chiếm nên trẻ con chẳng học hành gì cả ngoài việc sinh hoạt thiếu nhi, Trình và Ba Má ở với bà Nội, chú Tạo và chú Cần. Suốt ngày Trình quanh quẩn trong nhà phụ Má làm những việc lặt vặt như mót củi, quét nhà, hái rau; hai chú trước có đi học nhưng nay ở nhà làm ruộng, đôi khi vào rừng đốn củi. Buổi tối thì thỉnh thoảng bạn của hai chú đến đem theo cây Banjo để ca hát vì hai chú có cây mandoline, những buổi tối như vậy Trình thích lắm, say sưa nghe và nhìn các chú đánh đàn. Nghe riết Trình đâm ra thích đàn nên khi hai chú đi làm thì Trình lấy cây mandoline ra tập, sau một thời gian ngắn Trình chơi được nhiều bài. Một hôm hai chú đi làm về sớm bắt gặp Trình đang cầm cây đàn nên chú Tạo quát:
– Phá hả mi? biết gì mà cầm đờn?
– Cháu đờn được mà.
– Thiệt hả? đờn tau nghe thử coi.
Trình liền chơi bản “Xuân và tuổi trẻ”, vừa đàn vừa hát nguyên bài, không sai một nốt, không sai một nhịp làm chú Tạo “lé mắt”.
– Thằng ni tài! thôi được, tau cho mi tập nhưng cẩn thận nghe con, đứt dây là tau đánh mi nát xương.
Trình biết chú nói thiệt chứ không dọa nên từ đó bớt đụng tới cây đàn.
Sau khi biết nhau về khả năng văn nghệ thì Côn rủ Trình đi mua cây đàn mandoline cũ rồi hắn huấn luyện cho thằng Huy, bạn cùng lứa nhưng ở lớp khác, đánh nhịp. Thỉnh thoảng Trình và Côn đến nhà Huy hòa tấu, cả bọn hay chơi bài Bambino vì bài này dễ, Côn khá rành về nhạc lý, Huy thì học nốt nhạc cũng mau, Trình nghe người ta chơi sao thì đánh lại y chang nhưng không cách chi đọc được nốt nhạc dù cố gắng học. Ngoài chuyện cùng say mê văn nghệ Côn và Trình còn thích chơi cờ tướng, hai đứa trình độ ngang nhau, vừa đánh cờ vừa chọc quê rất vui, nhất là khi có mấy thằng cùng lớp bu chung quanh coi và la hét.
Tuy vui tính và ưa thích văn nghệ nhưng Côn có ý thức về chính trị sớm. Một hôm Trình đến ty Thông Tin đọc báo thấy ngoài sân có sáu xác chết của VC, họ trưng bày xác để cảnh cáo những người bí mật theo VC, Trình kể chuyện đó cho Côn thì hắn phán ngay “bọn đó chết là đáng đời, nếu thích CS thì ra ngoài Bắc ở theo tinh thần Hiệp định Geneve, ở chi trong ni đi gài mìn, ám sát, làm tay sai cho VC”, rồi Côn kể tiếp ngoài Bắc nhiều khẩu hiệu “đả đảo đế quốc” bị dân thêm vào hai chữ CS phía sau.
Năm đệ Ngũ là năm vui nhất vì học ít và chơi nhiều, cuối năm đó thì Côn và Trình đã là bạn tri kỷ, thương nhau như anh em. Lên đệ Tứ thì bớt chơi và lo học vì cuối năm thi lấy bằng Trung Học, mảnh bằng này là một bước ngoặc trong đời của những học sinh con nhà nghèo vì có đứa phải tìm việc làm giúp gia đình, có đứa chuyển ngành, đi học sư phạm để kiếm sống. Nói đến những dự định trong tương lai thì Côn và Trình đều muốn trở thành giáo sư; thấy mấy thầy được học trò yêu thương, kính mến, được xã hội quý trọng, lương bổng cũng khá, bảo đảm có một cuộc sống sung túc thì hai đứa thấy chọn nghề thầy giáo là hợp lý nhất.
Sau khi hoàn tất bậc Trung Học thì Trình phải theo gia đình vào Sài Gòn sinh sống, đến chia tay Côn, hai đứa buồn vô hạn vì nghĩ rằng sẽ không có dịp gặp lại. Hành trang của Trình là một chiếc xách tay đựng áo quần và ít giấy tờ. Trình lội bộ ra bến xe đò Hội An, đón xe lên Vĩnh Điện, rồi từ đó lấy xe đò Đà Nẵng-Sài Gòn. Xe đến Nha Trang thì trời đã tối nên ngừng lại nghỉ qua đêm. Tối hôm đó Trình tưởng tượng thành phố Sài Gòn qua những câu chuyện nghe được từ các đàn anh đã có dịp viếng thăm Hòn Ngọc Viễn Đông. Trình nhớ anh Đức (trên Trình 3 lớp) kể chuyện về Sài Gòn như một thành phố ở một quốc gia nào khác, nơi đó hai người hàng xóm chẳng hề biết nhau, mặc ai nấy sống không dòm ngó lẫn nhau; xe cộ chạy như nước, có một loại xe rất đặc biệt chỉ có ở Sài Gòn thôi là xe xích lô máy; người đông chen chúc, phố xá sang trọng, và các phòng trà thì hết chê! Rồi anh khoe với Trình chiếc áo chemise trắng có dấu môi son đỏ chói chỗ bờ vai, anh nói đó là quà của cô vũ nữ đẹp nhất ở vũ trường Maxim tặng anh để làm kỷ niệm.
Năm thứ hai ở Đại Học thì Trình có quen với Thanh Xuân, sinh viên năm đầu Đại Học Sư Phạm. Ở lứa tuổi đôi mươi thì đi thăm người yêu là nguồn vui lớn, nhưng cũng có trường hợp phải chịu một chút cực hình trước khi được hưởng nguồn vui. Mỗi lần đến thăm Thanh Xuân ở trong cư xá Trần Quý Cáp Trình phải chờ dài cổ, tưởng nàng trang điểm gì ghê gớm nhưng khi nàng xuất hiện thì chẳng thấy trang điểm gì cho lắm, vài lần đầu Trình cố chịu đựng nhưng sau đó Trình than thở:
– Sao em bắt anh chờ lâu dữ vậy?
– Nghe anh đến em muốn gặp anh ngay nhưng mấy chị không cho, họ dạy rằng chờ là thước đo tình yêu của các anh, có yêu mới chờ, chờ càng lâu là yêu càng nhiều, anh nào không chờ nỗi là chỉ muốn chơi qua đường chứ không thật tình.
– Nhưng em cũng biết anh đâu phải như vậy?
– Em biết chứ, nhưng không nghe theo lời dạy đó thì sống sao nỗi với mấy chị ấy.
Một hôm Trình ngồi đọc sách chờ Thanh Xuân trong cư xá Trần Quý Cáp thì có một chàng vào thăm bạn gái, khi nhân viên cư xá hỏi tên thì nghe anh ta khai là Vũ Côn, Trình nghe tên bạn cũ và giọng nói cũng giống nên ngước nhìn thì đúng hắn, bình tĩnh chờ cho đến khi nhân viên vào bên trong Trình mới vội bước tới ôm choàng Côn và nói lớn “Trình đây mi”, hai đứa gặp lại nhau sung sướng vô ngần. Côn lên giọng:
– Mi chạy đường trời cũng không khỏi tau.
– Còn mi là con đỉa đói thì tau tránh sao được, cô nào bị mi theo thì đố mà thoát khỏi.
Từ đó Côn và Trình hay gặp nhau vào cuối tuần, nhắc lại những kỷ niệm ở Hội An trong khi đi dạo phố, uống cà phê, xem văn nghê, hoặc Trình rủ Côn về nhà dùng cơm. Nhiều lần Côn và Trình hẹn nhau đi thăm bạn gái trong cư xá Trần Quý Cáp, có khi ngồi chờ lâu hai đứa đánh cờ tướng với nhau, cả hai có trí nhớ khá tốt nên chơi cờ tướng mà chẳng cần bàn cờ và chẳng khi nào cải nhau, có lần chơi xong một ván cờ mà hai người đẹp vẫn chưa xuất hiện.
Côn khoe là đang học năm thứ hai Đại Học Sư Phạm; Trình thấy khi nhỏ Côn là một học trò ngoan, giỏi, ham học, hiền lành, sống có kỷ luật thì chắc Côn sẽ thành công trong ngành giáo dục và sẽ trở thành một giáo sư giỏi, gương mẫu. Sau ba năm tiếp cận với văn minh của Sài Gòn, Trình thấy được một lãnh vực mới thích hợp với mình hơn và con đường tiến thân cũng tốt hơn, đó là ngành kỹ thuật. Trình nghĩ đến làm giáo sư là một nghề cao quý, được học trò kính trọng nhưng sẽ đứng hoài ở một chỗ nhìn học trò đi qua, còn theo ngành kỹ thuật thì cần học hỏi liên tục và nhờ vậy con đường tiến thân luôn rộng mở.
Côn có vẻ không vui khi Trình cho hay là đang học năm thứ hai ở Trung Tâm Kỹ Thuật Phú Thọ, hắn trách nhẹ:
– Mi đổi ý, bỏ rơi tau?
Trình hiểu và thông cảm bạn nên giải bày:
– Khi tụi mình ở đệ nhất cấp đâu có nghe ai nói đến ngành kỹ thuật, sau mấy năm sống ở Sài Gòn tau mới biết, vả lại mi giỏi Việt văn thì làm thầy giáo là đúng nghề, còn tau khá toán thì theo kỹ thuật hạp hơn, nhưng nghề nào cũng tốt cả, miễn mình làm cho chu đáo.
Ra trường, Côn về dạy ở Sa Đéc còn Trình thì ra làm việc ở Đà Nẵng nên mỗi năm chỉ gặp nhau một lần khi Côn nghỉ hè về thăm quê, về sau Côn lập gia đình với cô gái miền Nam và ở luôn trong đó.
Sau đại họa 30/4/75 thì Trình mất liên lạc với Côn. Ba năm sau Trình vượt biển và định cư ở Canada, coi như vĩnh viễn từ biệt Ba Má và các em, và người bạn cũ cũng bị quên. Rồi một ngày trong tháng Tư năm 2006 em gái Trình email cho hay là Côn ghé nhà thăm, Trình mừng lắm liền email hỏi cô em tin tức của Côn để liên lạc nhưng cô em không biết gì hơn là Côn còn dạy học ở Sa Đéc và vợ Côn có cửa hàng buôn bán vật liệu xây cất nên rất khá giả. Trình email bảo cô em nếu Côn trở lại thì nhớ xin địa chỉ và email cho Trình, cô em email trả lời “em có xin số điện thoại và email nhưng anh Côn nói không cần thiết đâu, chưa chắc hắn còn nhớ tôi”.
Tháng 12/2006 em Trình cho địa chỉ, email và số phone của Côn, Trình rất vui vì nghĩ rằng Côn nhớ mình nên trở lại thăm nhưng không phải vậy, khi hỏi Côn trở lại thăm khi nào thì em Trình email trả lời “thấy anh muốn liên lạc với bạn cũ nên trong chuyến đi du lịch miền Tây em ghé Sa Đéc tìm anh Côn”.
Côn và Trình vô cùng sung sướng khi liên lạc được với nhau, những emails và những cuộc điện thoại luôn nhắc lại kỷ niệm xưa và cuộc sống sau 4/75. Thời gian Trình vượt biển và đến được Canada thì Côn bị tù ở Rạch Giá vì tội vượt biên, cũng may là Côn đi một mình, gia cảnh lúc ấy rất thê thảm không đủ tiền cho vợ và con đi theo. Côn ở tù gần một năm, ra tù về lại Sa Đéc, Côn phụ vợ buôn bán, hơn một năm sau nhờ người quen chạy chọt nên được cho dạy lại.
Biết anh vợ của Côn và hai người chị họ định cư bên Houston nên đầu năm 2008 Trình đề nghị vợ chồng Côn nên đi Mỹ thăm bà con và sang Canada ở chơi với Trình một tuần, Côn đồng ý ngay và sẽ cho biết thời gian dự tính sang Canada để Trình lấy một tuần nghỉ hè.
Thông thường thì tái ngộ nói lên một niềm vui; khi hai người bạn gặp lại sau một thời gian dài xa cách thì đó là niềm vui, khi anh em gặp lại sau một lần chia ly thì đó là niềm vui, khi cha con gặp lại sau nhiều năm bôn ba ở xa làm lụng kiếm tiền nuôi gia đình thì hẳn là một niềm vui lớn v.v… nhưng đó là trước 4/75. Sau cái ngày tang thương năm 1975 thì cuộc đời của người Việt bị đảo lộn, những chuyện quái gở lại xảy ra hàng ngày và trở thành “chuyện bình thường”, còn những chuyện bình thường thì trở nên hiếm hoi, và tái ngộ trở thành niềm đau thay vì niềm vui!
Côn đến phi trường Pearson International của Toronto vào chiều thứ Sáu cuối tháng 8/2008, sau hơn 34 năm mới được bắt tay và quàng vai bạn cố tri nên Côn và Trình đều vui mừng vô cùng. Về đến nhà Trình thì vừa đủ thì giờ cho Côn cất hành lý, nghỉ ngơi chút đỉnh trước khi dùng cơm chiều. Câu hỏi đầu tiên của Côn:
– Mi có tính về Việt Nam sống sau khi về hưu?
– Không, Trình trả lời ngay.
– Sao vậy? bây giờ khác lúc mi đi nhiều.
– Khác thế nào?
– Đất nước bây giờ phồn thịnh hơn nhiều, tiện nghi đầy đủ, cái gì cũng có, làm tiền cũng dễ, ăn chơi thoải mái.
Trình thất vọng với câu trả lời của Côn nhưng cũng điềm tĩnh tiếp tục câu chuyện để hiểu thêm về Côn, rồi Trình nói:
– Mi cũng biết tau bỏ nước ra đi không phải vì thiếu những thứ đó, tau đi vì thiếu tự do, vì không chịu nổi sự cai trị của bọn vô học nhưng độc tài, tàn ác.
– Tau hiểu, nhưng đó là chuyện xưa rồi, mi bỏ qua đi, giữ làm chi cho buồn bực.
– Chuyện đó đâu có xưa, ngày nay cũng bọn vô học đó cầm quyền, cũng thiếu tự do, nhưng thôi, mình sang đề tài khác đi, mi và tau có thiếu gì chuyện vui hơn để nói.
Hôm sau đưa Côn đi thăm Niagara Falls, Trình tránh chuyện thời sự, cố giữ chủ đề về cuộc sống và thắng cảnh ở Canada. Trình nhận thấy có vấn đề về quan điểm chính trị với Côn và cố tìm giải pháp để vẫn nói chuyện về Việt Nam mà giữ được hòa khí trong thời gian Côn ở chơi. Thỉnh thoảng Trình mới nói về sinh hoạt của người Việt tị nạn CS ở hải ngoại cho Côn biết, và để xem phản ứng của Côn ra sao, và lần nào Trình cũng thất vọng. Có lần Côn gay gắt hỏi:
– Các ông ngoài này làm ồn ào thì được gì? CS vẫn cầm quyền và càng lúc càng mạnh.
Trình thất vọng vô cùng với câu hỏi này nhưng cố điềm tĩnh giải thích:
– Tụi tau ngoài này không lật đổ được bọn VC trong nước đâu nếu không có sự nổi dậy của dân trong nước, nhưng những người tị nạn CS đã lập được nhiều thành tích đáng kể trong hơn 30 năm qua như nói lên sự thật về VC, về cuộc chiến VN, làm sáng tỏ chính nghĩa của miền Nam; xây dựng rất nhiều tượng đài ghi lại dấu tích cuộc tị nạn không phải vì chiến tranh mà vì hòa bình, ghi lại những anh hùng trong và sau cuộc chiến, những công trình này là những vết sẹo để lại trên bộ mặt lừa đảo, gian ác của Hồ chí Minh và đảng CSVN và nói lên tội ác của VC.
Thấy Côn im lặng nghe nên Trình nói tiếp:
– Người Việt tị nạn CS cũng đã lập được nhiều Cộng Đồng Người Việt Tự Do ở khắp thế giới để phổ biến văn hóa Việt Nam và sinh hoạt đấu tranh đòi tự do và dân chủ cho Việt Nam, thành quả quan trọng nhất mà các Cộng Đồng này đạt được là gì mi biết không?
Bất ngờ trước câu hỏi này Côn lúng túng trả lời:
– Biểu tình chống cộng 30/4.
– Sai rồi mi ơi, thành quả mà người Việt tị nạn tự hào nhất là dương cao ngọn cờ chính nghĩa của Việt Nam. Từ sau 30/4/75 đến nay cờ vàng tung bay khắp thế giới nhiều lần mỗi năm trong khi đó cờ VC chỉ ủ rũ trong khuôn viên các tòa đại sứ, ra bên ngoài là bị dập xuống ngay dù VC đã bỏ biết bao tiền bạc và công sức để phất cờ đỏ bên ngoài các tòa đại sứ, một việc họ làm dễ dàng trước tháng 4/75 nhưng nay bị người Việt tị nạn CS khống chế không làm nổi.
Một hôm Trình đưa Côn đi ăn tối ở nhà hàng Việt Nam, thấy tiệm treo tấm plaque hình bản đồ Việt Nam chia đôi với Sài Gòn là Thủ đô của miền Nam và cờ vàng làm nền, Côn liền chỉ trích:
– Đất nước đã thống nhất lâu rồi mà sao còn treo bản đồ chia đôi Nam Bắc.
Trình đáp thẳng thừng:
– Dân tị nạn tụi tau thấy thời bị chia đôi còn có tự do và đáng sống hơn thời thống nhất.
– Thế còn lá cờ của miền Nam đã bị xóa sổ rồi mà treo chi nữa?
Thấy Côn nhận định về lá cờ như kẻ thiếu học, Trình bực mình thì ít mà đắng cay thì nhiều, cố kềm chế cơn giận, Trình ôn tồn giải thích:
– Mi lớn lên ở miền Nam, hấp thụ một nền giáo dục nhân bản, học lịch sử đất nước từ những người thầy có kiến thức sâu rộng, từ những sử liệu trung thực, thì mi phải biết rằng cờ vàng ba sọc đỏ là quốc kỳ của Việt Nam sau bao triều đại, sau bao đổi thay, sau bao thăng trầm; còn cờ đỏ sao vàng là cờ của đảng cộng sản VN do Hồ chí Minh lập ra. Tuy bây giờ đám tị nạn tụi tau là công dân Canada nhưng vẫn giữ cái gốc Việt Nam, vẫn chào quốc kỳ Việt Nam, vẫn hát quốc ca Việt Nam. Lịch sử trung thực sẽ tồn tại mãi mãi và luôn được tôn trọng; đảng phái, chính quyền là giai đoạn. Tau có thể không chứng kiến được cuộc quang phục đất nước nhưng chuyện đó sẽ đến.
oOo
Từ nhà đến phi trường mất khoảng một giờ lái xe nhưng Trình dành hai giờ để đưa Côn đi, khi gần đến nơi và biết chắc đoạn đường còn lại không bị kẹt xe thì Trình ghé tiệm cà phê để trò chuyện lần cuối trước khi chia tay. Trình tự nhủ lần trò chuyện này tuyệt đối không đụng đến chính trị, và Trình đã làm được nên suốt một giờ Côn và Trình đã ôn lại những kỷ niệm êm đềm thời Trung học ở Hội An cũng như những kỷ niệm trong mấy năm Đại học ở Sài Gòn.
Trên đường về nhà Trình suy nghĩ miên man về Côn với những cảm xúc ghét thương lẫn lộn (thất vọng và thương hại thì đúng hơn), Trình thất vọng ê chề vì từ một cậu học trò ngoan, giỏi, hiền lành, hiếu học đến một giáo sư gương mẫu, hiểu biết nhiều về văn hóa, nay Côn lại ăn nói như một con vẹt không khác chi một cán bộ VC ở làng quê. Trình tự hỏi “sao Côn có thể thay đổi tệ hại đến như vậy?” và không thể nào trả lời được. Trình cố tìm cách chống chế, biện minh cho Côn, cố chứng minh rằng Côn vẫn còn xứng đáng là một nhà giáo nhưng không làm được.
Trình nhớ sau 4/75 nhiều người ngoài Bắc vào cũng ăn nói kiểu đó, khi ấy họ chỉ sống với VC có 21 năm, nay Côn sống với VC đã hơn 33 năm nên chắc đã bị tẩy não; nhưng rồi Trình cũng nhớ có một số người ngoài Bắc vào Nam cuối năm 1975 vẫn nhận ra những cái hay, điều tốt của miền Nam và vẫn chỉ trích những sai lầm, tội ác của VC; và ngày nay có biết bao người trong nước vẫn trân trọng miền Nam, vẫn nhận biết cờ vàng là của nước Việt, vẫn đấu tranh chống kẻ thù phương Bắc, đòi tự do, dân chủ, trong đó có nhiều người trẻ sinh sau 75; những điều này cho thấy VC không tẩy não được nhiều người có tư cách, có sức mạnh tinh thần.
Tại sao Côn không còn tư cách, không còn hiểu biết như khi còn đi học? Đối với Trình thì những trí thức nằm vùng làm tay sai cho VC trước 75 là không tưởng, là sai lầm, là khờ dại, và có thể tha thứ được; nhưng từ khi miền Nam thất thủ thì hầu hết người dân cả hai miền đều thấy VC là bọn hận thù giai cấp, cuồng tín, bị cộng sản quốc tế tẩy não để đánh thuê cho Nga, Tàu, là bọn vô học, chậm tiến, độc tài, tàn ác, tham ô; và những kẻ có học thức, những kẻ khoa bảng ngày nay mà ca tụng VC, theo VC, làm tay sai cho VC không phải vì họ sai lầm hay khờ dại mà vì họ hèn nhát, tham tiền, tán tận lương tâm, biết VC là thối tha, dơ bẩn nhưng vẫn khen, vẫn nịnh bợ để có chút bổng lộc; nói cách khác họ là những kẻ vô liêm sỉ và điều này làm cho Trình rất đau khổ khi nghĩ đến Côn, thằng bạn tri kỷ năm xưa.
Trần Phố Hội
(Đặc San Lâm Viên)
Tháng 3/2021
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Niềm Đau Tái Ngộ ( ST từ Đặc san Lâm Viên online)
Thơ Xướng Họa: ĐỪNG ĐỂ VẠ LÂY
Xướng: ĐỪNG ĐỂ VẠ LÂY
Kỳ thị chúng mình mắc họa lây
Căn nguyên Vũ Hán dịch lan đầy
Hận căm giềng xóm phường lòi tói
Thù ghét cận lân lũ phản thầy
Châu Á chệt Tàu tâm xảo quyệt
Việt Nam Âu – Lạc tính thơ ngây
Kết đoàn chủng tộc cùng nhau sống
Xây dựng Liên Bang Tổ Quốc nầy
C/Ư
Họa 1: Chích Vaccine Rồi
Đã chích vaccine đỡ sợ lây
Bởi con vi khuẩn vẫn lan đầy
Đề phòng cẩn thận cần thêm thuốc
Chạy chữa tào lao chọn lắm thầy
Vũ Hán phỉnh lừa quân xảo quyệt
Cận Bình lường gạt kẻ thơ ngây
Mong cho đại dịch qua mau khỏi
Thế giới bình yên dứt bệnh nầy
CN-NCV
Họa 2: Đề Phòng Họa Lây
Để trừ cúm Chệt độc, hay lây
Hảy chích vaccine đang có đầy
Hận tụi bá quyền như hận quỷ
Yêu người bác sĩ giống yêu thầy
Đề phòng những đứa say say xỉn
Xa lánh mấy thằng ngất ngất ngây
Lạy Đấng toàn năng ban phép lạ
Xuân về an lạc thế gian nầy
Cóc QT-TP
Họa 3: Mau Lên Tiếng
Cẩn thận coi chừng bị vạ lây
Cao trào kỳ thị đã lan đầy
Đập đầu Nhật, Việt dù là bạn
Bóp cổ Phi, Hàn bất kể thầy
Thù hận Cúm Tàu sao khờ khạo
Oán hờn Dịch Hán chẳng thơ ngây
Nhanh tay kêu gọi chính quyền mới
Bảo vệ người dân Chủng Quốc này./-
CX
*ke = care
Họa 5: Cạn Lời
Vaccine đã có sợ gì lây
Chỉ sợ trong tim hận ứ đầy
Mạt vận cùng đường mù dẫn lối
Suy vong tận mạng ngốc làm thầy
Hết con Cám nọ mồm gian xảo
Lại lão Đần kia mặt dại ngây
Phải thấy chúng mày tao muốn bịnh
Tụi bay mới thật dịch thời này.
CCR
Họa 6: Xin Đừng Kỳ Thị
Cũng do Trung Quốc dịch tràn lây
Gây cảnh bi thương chết chóc đầy
Thí nghiệm lưu manh quân dạ sói
Điều hành xảo quyệt lũ băm thầy
Vướng con vi khuẩn nằm lây lất
Lâm bệnh ác nhân thở ngất ngây
Kỳ thị càng lâu nhiều khổ lụy
Góp công xây dựng Quốc Gia nầy.
DNN
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Thơ Xướng Họa: ĐỪNG ĐỂ VẠ LÂY
Thơ Xướng Họa: Kỳ Thị Da Màu
KỲ THỊ DA MÀU
Kỳ thị nhắm vào sắc á châu
Hành hung đánh đập kẻ da mầu
Chị đang trong tiệm, bắn cho chết
Anh đứng ngoài đường, chém bể đầu
Luật pháp quang minh nên cặn kẽ
Nhân quyền công chính phải chuyên sâu
Hội đoàn người Việt cần lên tiếng
Bảo vệ đồng hương khỏi khổ sầu.
CN-NCV
Họa 1: KỲ THỊ DO THIỂU SỐ
Dân mình tỵ nạn khắp năm châu
Nòi giống Rồng Tiên quả nhiệm mầu
Mỹ Quốc dân giàu luôn dẫn trước
Cờ Hoa nước mạnh mãi đi đầu
Phải chăng kỳ thị còn dai dẳng
Không lẽ ghét ganh mãi khắc sâu
Hiềm họa tang thương do thiểu số
Hằng mong giải tỏa dứt âu sầu
C/Ư
Họa 2: LÊN TIẾNG
Hung tin loan tải khắp năm Châu
Kỳ thị phương Đông qua sắc mầu
Đại dịch nhiễm truyền gây chết chóc
Hờn căm trổi dậy tạo điên đầu
Vạ lây Vũ Hán làm sao tránh
Khổ nạn Á Châu lại thấm sâu
Vạch mặt chỉ tên Bình Tập Cận
Đưng vơ cả nắm chuốc thêm sầu./-
TQN.
Họa 3: HẾT U SẦU
Hình thành nước Mỹ đủ năm châu
Da trắng, da đen, da sậm màu
Tụ tập di dân thành hiệp chủng
Dựng xây đất nước mãi đi đầu
Nên xem khác tộc như huynh đệ
Chớ ép dị nòi giống bọ sâu
Luật pháp phân minh đừng nể trọng
Xử người đúng tội hết u sầu
Cóc QT-TP
Họa 4.- HOẠ NƯỚC MỸ
Thế giới tự do, nhất Mỹ châu
Thiên đường tỵ nạn đủ da màu
Năm Châu hội tụ người tài giỏi
Bốn bể chung xây phải đứng đầu
Dân Chủ bao dung người nhập lậu
Cộng Hoà trục xuất cả bầy sâu
Chủ trương kiếm phiếu mùa bầu cử
Chính sách Biden chuốc khổ sầu
Tuyến Sydney,
Họa 5: Cóc Nhà Ơi – Đừng Sợ
Bạn ơi đừng mặt ủ mày châu
Đừng đợi trông ai phép nhiệm mầu
Tự vệ: phòng xa là số một
Hộ thân: vũ khí phải hàng đầu
Đang khi có súng nhằm cho trúng
Gặp lúc dùng dao chém thật sâu
Hãy tự lo mình vui cuộc sống
Tội chi mà vướng mắc ưu sầu
CCR
Họa 6: CHUYỆN DÀI KỲ THỊ
Kỳ thị chuyện dài ở Mỹ châu
Đen vàng nâu đỏ đủ da màu
Ra đường súng đạn bắn toi mạng
Xuống phố gậy dao búa bể đầu
Công lý mị dân trò lố bịch
Mưu mô kiếm phiếu kế thâm sâu
Nạn nhân gốc Á bị mang họa
Biết tránh nơi đâu hết khổ sầu.
CX
Họa 7: VĂNG MIỂNG
Kỳ thị không nhằm gốc Á châu
Mà do da chệt cũng vàng mầu
Dân Tàu lạng quạng cây vô cổ
Người Việt lơ mơ miểng trúng đầu
Hiện tượng chỉ là nhìn lớp cạn
Căn cơ cần phải hiểu phần sâu
Vi trùng Vũ Hán nguyên nhân chính
Trung cộng gây ra cảnh lụy sầu .
Cóc Chát
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Thơ Xướng Họa: Kỳ Thị Da Màu
Người Mỹ Nhận Xét Về Người Việt Nam _ Trần Kinh Nghị

NGƯỜI MỸ NHẬN XÉT VỀ NGƯỜI VIỆT NAM
Trần Kinh Nghị
(Bài do CH Nguyễn Hải Sơn K6 chuyển)
Viện Nghiên Cứu Xã Hội Học Hoa Kỳ (American Institute for Social Research) sau khi nghiên cứu đã nói lên 10 đặc tính căn bản của người Việt, xin tạm dịch như sau:
1.- Cần cù lao động nhưng dễ thỏa mãn.
2.- Thông minh, sáng tạo khi phải đối phó với những khó khăn ngắn hạn, nhưng thiếu những khả năng suy tư dài hạn và linh hoạt.
3.- Khéo léo nhưng ít quan tâm đến sự hoàn thiện cuối cùng các thành phẩm của mình.
4.- Vừa thực tế vừa có lý tưởng, nhưng lại không phát huy được xu hướng nào thành những nguyên lý.
5.- Yêu thích kiến thức và hiểu biết nhanh, nhưng ít khi học sự việc từ đầu đến cuối, nên kiến thức không có hệ thống hay căn bản. Ngoài ra, người Việt không học vì lợi ích của kiến thức (lúc nhỏ học vì gia đình, lớn lên học vì sĩ diện hay vì những công việc tốt).
[when small, they study because of their families; growing up, they study for the sake of prestige or good jobs]
6. Cởi mở và hiếu khách nhưng sự hiếu khách của họ không kéo dài.
7. Tiết kiệm, nhưng nhiều khi hoang phí vì những mục tiêu vô nghĩa (vì sĩ diện hay muốn phô trương). [to save face or to show off].
8.- Có tinh thần đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau chủ yếu trong những tình huống khó khăn và nghèo đói, còn trong điều kiện tốt hơn, đặc tính này ít khi có.
9.- Yêu hòa bình và có thể chịu đựng mọi thứ, nhưng thường không thẳng thắn vì những lý do lặt vặt, vì thế hy sinh những mục tiêu quan trọng vì lợi ích của những mục tiêu nhỏ.
10.- Và sau cùng, thích tụ tập nhưng thiếu nối kết để tạo sức mạnh (một người có thể hoàn thành một nhiệm vụ xuất sắc; 2 người làm thì kém, 3 người làm thì hỏng việc).
[one person can complete a task excellently; 2 people do it poorly, and 3 people make a mess of it].
Những phân tích trên đây cho chúng ta thấy người Mỹ đã hiểu rất rõ người Việt. Tại sao người Việt lại có những đặc tính như thế này?
Người xưa cũng đã nhận ra.
Học giả Trần Trọng Kim (1883 – 1953) khi viết bộ Việt Nam Sử Lược, ấn hành lần đầu tiên năm 1919, cũng đã phân tích khá rõ ràng những đặc tính của người Việt và những yếu tố tạo nên những đặc tính đó. Đa số người Việt lớn tuổi, khi còn nhỏ đều đã được học bộ sử này.
Trong bài tựa, ông nói ngay:
“Người mình có ý lấy chuyện nước nhà làm nhỏ mọn không cần phải biết làm gì. Ấy cũng là vì xưa nay mình không có quốc văn, chung thân chỉ đi mượn tiếng người, chữ người mà học, việc gì cũng bị người ta cảm hóa, chứ tự mình thì không có cái gì là cái đặc sắc, thành ra thật rõ như câu phương ngôn: «Việc nhà thì nhác, việc chú bác thì siêng!»
“Cái sự học vấn của mình như thế, cái cảm tình của người trong nước như thế, bảo rằng lòng vì dân vì nước mở mang ra làm sao được?”
Trong nước, tiêu chuẩn của cuộc sống là có nhà sang cửa rộng, có xe hơi, có con đi du học ngoại quốc… Tiêu chuẩn ở hải ngoại cũng thế thôi: Đi dâu cũng nghe khoe nhà trên cả triệu bạc, xe loại sang trọng nhất, con đang học bác sĩ, dược sĩ, kỹ sư… Gần như không nghe ai khoe những công trình đang nghiên cứu hay thực hiện để đưa con người, cộng đồng và đất nước đi lên. Tất cả chỉ tập trung vào hai tiêu chuẩn là “đẹp mặt” và “ấm thân”.
[…]
Nếu mỗi gia đình và mỗi cá nhân chỉ lấy những mục tiêu như trên làm mục tiêu của cuộc sống và truyền từ đời nọ sang đời kia, còn lâu cộng đồng và đất nước với ngóc đầu lên được.
Trong khi người Việt nhiễm văn hoá Trung Quốc đã trở thành như đã nói trên, người Hoa khi ra hải ngoại lại thích ứng rất nhanh nên vươn lên khá nhanh và khá cao. Những đặc tính của người Hoa ở hải ngoại được mô tả như sau:
1.- Cần cù, việc gì cũng làm
2.- Tiết kiệm, không sống khoe khoang hay xa hoa.
3.- Khởi sự từ buôn bán nhỏ.
4.- Đơn vị kinh tế gia đình: Gia trưởng đóng vai trò quan trọng. Tài sản có thể truyền từ đời nọ sang đới kia.
5.- Hình thành những xí nghiệp không theo một hình thức chặt chẽ, không theo những quy luật nhất định, tất cả đều dựa vào chữ TÍN.
6.- Không làm những công việc có tính cách phức tạp hay quá to lớn, chỉ thích kinh doanh vào những lãnh vực đơn giản. Khi cần làm ăn lớn thường chia ra làm nhiều công ty con.
7.- Móc nối với chính quyền và cá nhân khác rất giỏi. Không tham gia chính quyền hay đảng phái nào, nhưng thường nắm được các nhân vật có địa vị quan trọng có thể bao che hay hổ trợ cho làm ăn.
(Tại Indonesia, người Hoa chỉ chiếm từ 3% đến 4% dân số, nhưng làm chủ 70% tài sản ở đất nước này với khoảng 160 trong số 200 xí nghiệp lớn của Indonesia. Gia đình ông Liem Sioe Liong, làm chủ xí nghiệp Salim với số vốn khoảng 9 tỷ mỹ kim, nhờ quen biết lớn với Suharto).
8.- Không thích tranh tụng, kiện cáo. Thường tìm cách dàn xếp mỗi khi có đụng chạm hay bị bắt vì vi phạm luật pháp.
9.- Phạm vi hoạt động gần như không biên giới.
10.- Thích ứng rất nhanh với những biến đổi của thời cuộc.
Trong bài “Mạng lưới kinh tế của người Hoa hải ngoại”, ông Phạm Văn Tuấn đã nhận thấy như sau về các hoạt động kinh doanh của người Hoa ở hải ngoại:
“Khi bắt đầu bước vào ngành thương mại, các người Hoa hải ngoại đã nhận được sự giúp đỡ từ các nhóm, các bang hay các cộng đồng của họ. Các hội tương trợ này được tổ chức căn cứ vào gia đình, hay nguồn gốc địa phương, hay thổ ngữ, chẳng hạn như các bang người Hẹ, Quảng Đông, Triều Châu, Phúc Kiến. Các hội hay các bang này đã hoạt động như một thứ ngân hàng nhờ đó người Hoa có thể mượn tiền, trao đổi tin tức, tuyển mộ nhân công, giới thiệu thương nghiệp, hay thương lượng các dịch vụ. Người Hoa hải ngoại thường tôn trọng chữ Tín, họ làm ăn bằng ước hẹn miệng và sự tin cẩn lẫn nhau, và họ không cần phải ký kết các văn bản, các giao kèo. Nếu một thương gia nào vi phạm lời hứa, người đó sẽ không bị truy tố ra pháp luật mà bị ghi vào sổ đen của các nhóm, các bang, đây là một tệ hại hơn, vì tất cả mạng lưới làm ăn của các cộng đồng người Hoa đều sẽ biết rõ sự việc, và việc kinh doanh của người vi phạm kể như bị chấm dứt.”
Số vốn của người Hoa hiện đang sống ở ngoại quốc được ước lượng khoảng 4.000 tỷ USD.
Cuộc kiểm tra năm 2010 cho thấy ở Mỹ hiện nay người Hoa chiếm 1%, còn người Việt là 0,5%, tức 1.548.449. Người Việt ở Cali là 581.946 nguời.
[…]
Trong khi người Việt đang chuẩn bị ra tranh cử các chức vụ dân cử tại địa phương, thành phố, tiểu bang và có thể liên bang, trong cuộc bầu cử sắp đến. Mục tiêu được mô tả là để bảo vệ và nói lên tiếng nói của cộng đồng. Thì, chúng tôi không thấy có một tổ chức chính trị nào của người Tàu hoạt động ở đây và không nghe nói họ sẽ đưa ai ra tranh cử.
Tôi nhớ lại trong cuộc bầu cử Tổng Thống Mỹ năm 2004, lúc đó liên danh George W. Bush đang tranh với liên danh John Kerry. Tôi có nhờ ông Tăng Kiến Hoa dẫn đến gặp một vài bang trưởng Tàu xem họ bầu cho ai. Họ cười và nói: Quy luật bầu cử là phù thịnh bất phù suy. Cứ thấy ai chắc thắng là đóng tiền cho người đó, không cần biết đường lối họ như thế nào. Họ đã nhận tiền là khi đắc cử họ sẽ giúp mình. Nếu hai người ngang ngữa, đóng tiền cho cả hai. Tôi hỏi người Tàu không có ai ra tranh cử dân biểu hay nghị sĩ gì sao. Họ cũng cười và nói: Người mình có vào được quốc hội cũng chẳng làm được chuyện mình muốn. Cứ thấy người nào có thế lực là đóng tiền cho người đó.
Thì ra người Tàu bầu cử bằng tiền chứ không phải bầu cử bằng phiếu như người Việt!
Tôi nhớ lại trong cuộc bầu cử năm 2000, vì hai liên danh George W. Bush và Albert A. Gore ngang ngữa, nên người Tàu đóng tiền cho cả hai. Tây An Tự và Thiền Sư Thanh Hải ở Los Angeles đã đóng tiền cho liên danh Gore nhưng lập danh sách giả những người góp tiền, bị đổ bể nên chúng ta mới biết được.
Chúng ta không mong người Việt có những nhà phát minh làm thay đổi nhân loại như John V. Blankenbaker (phát minh ra máy vi tính 1971), Bill Gates, Steve Jobs…, chúng ta chỉ mong người Việt biết quan tâm đến cộng đồng, đất nước và nhân loại nhiều hơn. Nhưng điều này quá khó. Đúng như người Mỹ đã nhận xét:
Người Việt vì những lý do vớ vẩn, có thể hy sinh những mục tiêu quan trọng vì lợi ích của những mục tiêu nhỏ (như kiếm chút danh chẳng hạn). [sacrifice important goals for the sake of small ones]
Người Việt thích tụ tập nhưng thiếu nối kết để tạo sức mạnh. Một người có thể hoàn thành một nhiệm vụ xuất sắc; 2 người làm thì kém, 3 người làm thì hỏng việc!
Chúng ta trông chờ vào thế hệ sắp đến, không bị vướng mắc với quá khứ, học được nhiều cái hay của xứ người, sẽ đưa cộng đồng và đất nước đi vào một hướng đi mới tốt đẹp hơn.
TKN
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Người Mỹ Nhận Xét Về Người Việt Nam _ Trần Kinh Nghị
Anh Sáu Nail Đi Thi Quốc Tịch Mỹ _ Nguyễn Hữu Thời

(TVVN): Anh Sáu là chồng chị Sáu Nail. Vợ anh làm nghề Nail, dân Việt trong chung cư nầy gọi anh là Sáu Nail cho tiện. Gần căn hộ của anh chị ở; có chị cũng tên Sáu. Để bà con dễ phân biệt, anh Tư Taxi đặt thêm “nick name” cho hai người; tùy theo nghề nghiệp họ đang làm: Chị Sáu Nail và chị Sáu Cuốn Chả Giò. Anh Sáu Nail làm thợ hàn. Tên thật anh là Lê Ráng. Bà thân mẫu anh hiếm muộn, cố gắng lắm, cầu khẩn, van vái khắp các đền chùa ở quê anh, mới sinh ra được anh. Nên cha anh đặt tên là Ráng. Lê Ráng.
Trước năm 1975, anh là trung đội trưởng nghĩa quân ở xã Nghĩa Thắng, Quảng ngãi, nhà anh gần rừng cao su, cận sơn. Vì vậy, Việt Cộng trên núi thường cứ tối đến là lẻn xuống làng, bắt bớ, hăm doạ, giết chóc, thu thuế. Anh được quận trưởng Tư Nghĩa khuyến khích, yểm trợ anh thành lập trung đội nghĩa quân. Từ đó xã Nghĩa Thắng được yên ổn một thời gian dài. Cộng Sản Bắc Việt chiếm Quảng ngãi vào tháng Ba năm 1975, chúng nhốt tù anh ba mươi hai tháng; lý do trung đội trưởng nghĩa quân “ Nguỵ”, và còn giữ khẩu súng “carbine” trong nhà, không khai báo, đem nạp, chúng nghi ngờ anh có âm mưu chống lại “cách mạng” (sic), và bắt nhốt tù, tra khảo anh, đánh đập dã man, anh chết đi, sống lại, cho đến khi gần chết chúng mới thả ra, về nhà chờ chết. Nhưng con người ta, sống chết đều có phần số, với thời gian dần dần anh trở lại bình thường. Anh ở tù Cộng Sản chưa tới ba năm; nên anh không đủ tiêu chuẩn trong chương trình HO. sau nầy.
Anh chị cũng hiếm muộn, chỉ sinh độc nhất có một người con gái tên Minh Nguyệt. Tên thật hay! Nguyệt là trăng. Minh là sáng. Minh Nguyệt là trăng sáng. Năm 1985, vợ chồng ký cóp, góp nhặt cho Nguyệt vượt biên. Chuyến đi thật may mắn, suông sẻ, không gặp bọn hải tặc, sóng êm, biển lặng. Đến đảo, cháu được nhà thờ Tin Lành bảo lãnh, và định cư ở Mỹ năm 1986.
Năm 2002, cháu Nguyệt thi đậu quốc tịch Mỹ; liền làm đơn bảo lãnh cha mẹ theo diện ODP (Orderly Departure Program) của chính phủ Hoa Kỳ đề ra. Anh chị đến Mỹ năm 2007. Cháu Nguyệt hướng dẫn anh chị học nghề ngắn hạn để đi làm ngay. Anh học thợ hàn, chị Sáu học nghề nail. Buổi tối, anh chị còn rủ nhau đi học Anh văn ở Trung Tâm BPSOS (Boat People SOS) ở đường Bolsa, Little Sài Gòn để thi quốc tịch Mỹ sau nầy.
Trung tâm có trụ sở chính tại Falls Church, tiểu bang Virginia, Hoa Kỳ do Tiến Sĩ Nguyễn Đình Thắng làm giám đốc điều hành, mục đích là giúp người Việt tị nạn hội nhập và phát triển khả năng sẵn có để xây dựng cho cộng đồng Việt Nam tại Hoa Kỳ vững mạnh, có một vị thế xứng đáng trên đất nước vĩ đại nầy. Trung tâm cũng tranh đấu cho người Việt bị đàn áp, bóc lột ở Việt Nam, phụ nữ VN bị bọn con buôn a tòng với bọn bạo quyền Cộng Sản VN lừa gạt đem bán cho bọn Tàu phù. Trung tâm cũng huấn luyện Anh ngữ cho những người Việt mới qua; để có đủ khả năng Anh ngữ cùng sự hiểu biết đại cương về lịch sử nước Mỹ, hiến pháp. bầu cử, ứng cử v… v… để thi nhập quốc tịch Mỹ.
Tôi gặp lại anh Sáu nơi đất khách, quê người sau hơn bốn mươi năm biệt tăm, không tin tức. “Tha hương ngộ cố tri” nên thỉnh thoảng tôi ghé thăm anh khi có dịp về Little Sài gòn; hầu ôn lại bao kỷ niệm thời trai trẻ ở quê nhà trước năm 1975. Tháng rồi gặp anh nơi buổi lễ đặ tượng Đức Thánh Trần, đường Bolsa. Sau lễ, anh mời tôi ghé qua nhà chơi. Trong câu chuyện anh kể:
“Anh Tám ơi! Tôi vừa thi rớt quốc tịch nữa rồi!”. Rồi anh buồn bã nói tiếp:
“Xui quá! Hai lần thi, tôi đều gặp giám khảo người Việt Nam“.
Tôi ngạc nhiên hỏi:
“Găp giám khảo người Việt Nam là may mắn sao gọi là xui xẻo? Nói nghe thử coi?”
“Cái đó cũng tuỳ người anh Tám ơi! Lần thứ nhất, tôi gặp người giám khảo Á Châu trẻ tuổi, tôi tưởng là Đại Hàn hay Phi Luật Tân. Ông nầy hỏi tôi nhiều câu về lịch sử nước Mỹ, về hiến pháp. Thượng viện, hạ viện v…,v… tôi trả lời suông sẻ. Xong, ông bảo tôi đọc và viết câu tiếng Anh. Tôi làm được lắm; nhưng khi ông quay tôi sự khác nhau giữa chữ NEVER và EVER, và đặt câu ví dụ, tôi ngập ngừng, lúng túng. Ông nầy còn trẻ lắm, tôi đoán trẻ hơn con Nguyệt nhà tôi”.
“Sao anh biết ông giám khảo nầy là người Việt Nam?
“Vì trước khi bảo tôi ra về, ổng nói với tôi bằng tiếng Việt?”
“Chú về học lại để thi lần sau đi. Chỗ nào không hiểu hỏi con cái trong nhà chỉ cho. Tôi ngạc nhiên, mắt sáng lên, nhìn vào cái thẻ thì ra cậu nầy người Việt tên Mỹ họ Việt; tôi mới biết rõ, ổng cũng là dân ăn nước mắm như mình. Chừng ba tháng sau, tôi nhận được cái thơ của Sở Di Trú cho thi lại kỳ hai. Cái thư còn để trong hộc bàn kia”.
“Anh cho tôi xem cái thư được không?”
Đọc thư, tôi mới biết đại khái là anh Sáu qua được phần đọc, viết tiếng Anh cùng lịch sử nước Mỹ. Thư cũng cho phép anh nạp đơn thi lại, và muốn khiếu nại thì ra toà “hearing”. Đọc thư xong, tôi có hỏi sao anh không nạp đơn khiếu nại “hearing”. Anh nói: “Họ chỉ cho phép 30 ngày nạp đơn khiếu nại, mà tôi nhận được thơ đã quá hạn cho phép”. Tôi lại hỏi tiếp:
“Lần thi vừa rồi sao anh lại hỏng nữa?”
Bỗng nhiên nét mặt anh trở nên căng thẳng, đôi mắt như sáng lên, anh ấm ức, chậm rãi trả lời:
“Thi lần nầy, bà vợ tôi xin sở nghỉ một ngày đi theo để rút kinh nghiệm cho kỳ thi sắp đến của bả. Chúng tôi ngồi nơi phòng chờ đợi. Một bà dáng dấp người Á Châu, mặc đầm, cở năm mươi, thấp, mang kiếng trắng bước ra khung cửa, quét mắt đứng nhìn tổng quát một vòng nơi phòng đợi, hình như đang tìm kiếm ai đó. Bà xã bấm tay vào đùi tôi nói nhỏ. “Mấy bà bạn học cùng lớp với em tả đúng dáng dấp bà nầy đây. Bà nầy Việt nam gốc Tàu Chợ Lớn hay gốc Miên gì đó. Họ nói, mười người Việt Nam thi quốc tịch gặp bà nầy hỏi thì chín người rớt!”. Nghe nói, tôi lo lắm, vái Trời đừng gặp bà nầy. Nhưng “ghét của nào Trời trao của nấy.” Chừng 5 phút sau, bà khi nảy, ôm xấp hồ sơ, gọi tên tôi. Trống ngực tôi đập thùm thụp. Tôi “nervous” lắm! đứng dậy đi theo bà. Bà làm theo thủ tục “thề thốt”, xem drive license, ID… xong, bà bắt đầu hỏi tên họ, tuổi tác, sinh quán, địa chỉ hiện tại, vừa hỏi, vừa nhìn vào hồ sơ. Giọng nói tiếng Anh của bà thật khó nghe, không giống giọng Mỹ, và không giống giọng Thầy Cô Việt Nam của tôi dạy thi quốc tịch ở BPSOS. Giọng nói của bà như là đang ngậm kẹo hay đang ăn cơm, vừa ăn, vừa nói. Nhưng tôi đã lấy lại bình tĩnh trả lời thông suốt. Bỗng bà hỏi tiếp, “Ông có muốn đổi tên không?”. Tôi ngập ngừng, phân vân chưa biết trả lời ra làm sao. Trong bụng tôi đang nghĩ; mình tên Ráng thì mình nên đổi tên Mỹ gì gần giống tên Việt Nam. Tên Ron, tên Ran, tên Ram gì đây. Tôi chưa kịp trả lời thì bà nói ngay:
“Tiếng Anh ông còn kém lắm, nghe không hiểu tiếng Anh”.
Rồi bà tiếp tục hỏi:
“Ông thi quốc tịch Mỹ để làm gì?“.
“Tôi thi để đi bầu cử, và khi về Việt Nam thăm bà con, cha mẹ già, anh em còn kẹt bên đó, nếu có chuyện gì, tôi chạy vào Tòa Đại Sứ Mỹ cầu cứu, nhờ họ giúp đỡ”.
Bà cười gượng, nét mặt có vẻ khi dễ và không tin. Lúc nầy, bà mới nói bằng tiếng Việt: “Già rồi, đi học để thi quốc tịch chi cho mệt, lên máu, đái đường, mất ngủ. Đi làm về ở nhà coi phim bộ hay hơn. Thi cử làm gì cho mất thời gian! Còn ông về Việt Nam với cái hộ chiếu Việt Nam cũng có sao đâu; miễn là ông đừng tham gia biểu tình, chống đối gì họ”.
Với cái giọng nói của bà kiểu đó, tôi biết thế nào bà cũng đánh rớt, nên tôi tính gân cổ cãi lại, và định nói: “Nếu chúng tôi không đi thi quốc tịch thì bà lấy “job“ đâu mà làm, mà phỏng vấn, hỏi han nầy nọ”. Tôi chưa kịp nói câu định nói; thì bà đứng dậy; đưa cái giấy thi rớt và bảo tôi ra về.
Tôi vừa đi ra cửa, vừa suy nghĩ câu nói của các bà bạn vợ tôi ở trường học: Gặp bà Việt Nam nầy phỏng vấn thì 10 người chỉ đậu được 1. Thật đúng quá!”.
Người đồng hương Việt Nam tị nạn Cộng Sản qua đây, đa phần họ thường sống quây quần, giúp đỡ nhau, chỉ dẫn cho nhau những điều họ biết về xã hội Mỹ, tìm giúp và giới thiệu việc làm; nhưng cũng có một số ít khác hẳn.
Thật đáng cho chúng ta phải suy gẫm, và cẩn thận khi gặp những trường hợp nầy!
Nguyễn Hữu Thời
(Nguồn: tvvn.org)
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Anh Sáu Nail Đi Thi Quốc Tịch Mỹ _ Nguyễn Hữu Thời
Tháng Tư Lạc Loài _ Thơ Nguyễn Phiến
THÁNG TƯ LẠC LOÀI.
Ai cũng gặp chỉ một người không gặp
Cô sinh viên duyên dáng chung giảng đường
Từng một thuở cùng đội nắng sân trường
Gõ nhịp bước giữa Sài Gòn hoa lệ
Cái thuở Xuân thì thắm sắc thơm hương
Sài Gòn đổi tên nàng mất chỗ ở
Sự nghiệp cuộc đời dập vuì dang dở
Tôi đoạ đày vô tịch chốn lao trường
Lưả nào đây thiêu hủy hết yêu đương
Tàn phá luôn cả thành thị phố phừơng
Đẩy con người vào rừng hoang nuí thẳm
Chập chùng bóng đêm xác xơ hoang vắng
Mấy chục năm rồi vật vờ cay đắng
Đất trời đảo lộn dâu bể khôn lường
Người về đâu buổi hoàng hôn gác núi
Tháng tư buồn man mác nỗi đau thương .
Phiến nguyễn
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Tháng Tư Lạc Loài _ Thơ Nguyễn Phiến
Đừng Trở Lại Sài Gòn_Nhạc Phạm Anh Dũng – Thơ Trần Trung Đạo
Đừng Trở Lại Sài Gòn
Nhạc: Phạm Anh Dũng
Lời: (Thơ) Trần Trung Đạo
Tiếng hát: Tâm Thư
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Đừng Trở Lại Sài Gòn_Nhạc Phạm Anh Dũng – Thơ Trần Trung Đạo





Bạn phải đăng nhập để bình luận.