Giải Mật Hồ Sơ Việt Nam 1963 (Điểm sách)

Hoa Kỳ Giải Mật Hồ Sơ Việt Nam 1963

LỜI GIỚI THIỆU

Sách này sẽ được ghi theo hình thức biên niên sử, về các sự kiện từ ngày 8/5/1963 cho tới vài ngày sau cuộc chính biến 1/11/1963, nhìn từ phía chính phủ Hoa Kỳ. Phần lược sử viết theo nhiều tài liệu, trong đó phần chính là dựa vào tài liệu Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ “Foreign Relations of the United States 1961-1963”, một số tài liệu CIA lưu giữ ở Bộ Ngoại Giao, và một phần trong sách “The Pentagon Papers” của Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ, ấn bản Gravel Edition (Boston: Beacon Press, 1971). Vì giờ tại Việt Nam và Hoa Kỳ cách biệt nhau, cho nên đôi khi ghi ngày sai biệt nhau một ngày.

Sách này chỉ trình bày từ kho tài liệu của chính phủ Hoa Kỳ, tức là nhìn từ phía chính phủ Mỹ. Còn hai kho tài liệu khác chưa phổ biến hết: (1) Văn khố chính phủ Việt Nam Cộng Hòa (tức Nam VN), hiện đang được nhà nước Hà Nội tịch thu từ sau ngày 30/4/1975, cho thấy diễn biến Miền Nam VN trong năm 1963 nhìn từ chính phủ Tổng Thống Ngô Đình Diệm và Cố vấn Ngô Đình Nhu; (2) Văn khố chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (tức Bắc VN), cho thấy diễn biến Miền Nam VN nhìn từ Hà Nội và từ lực lượng du kích MTGPMN.

Sách này rất hữu ích cho các sử gia và sinh viên ngành sử. Độc giả có thể kiểm chứng với tài liệu gốc tiếng Anh khi đọc sách này. Sách dễ dàng dò ngược về các tài liệu gốc.

– Thí dụ, độc giả muốn đọc hồ sơ gốc bằng tiếng Anh về buổi nói chuyện giữa ông bà Trần Văn Chương (cha mẹ của bà Ngô Đình Nhu) và Edward Lansdale, chỉ cần vào Google và gõ vài chữ từ-khóa trong sách này – “tran van chuong lansdale 1963” – thì sẽ ra đường dẫn:

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1961-63v03/d304

– Thí dụ, thắc mắc về Giáo sư Smith đang theo dõi tình hình VNCH vào những ngày sắp đảo chánh, chỉ cần vào Google.com và gõ “professor Smith Mcnamara saigon 1963” thì sẽ ra:

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1961-63v04/d150

– Thí dụ. Sẽ phức tạp hơn, nếu độc giả muốn tìm bản tiếng Anh trong câu nói của Đại sứ Lodge nhận định về hai ông Diệm và Nhu được dịch trong sách này là:

 “Họ trong cốt tủy là một kiểu gia đình độc tài, kiểu thời trung cổ Đông phương, họ hiểu rất ít, nếu gọi là hiểu, về cái nghệ thuật công quyền quần chúng. Họ không thể nói chuyện với người dân, họ không thể thuyết phục báo chí, họ không thể trao được thẩm quyền hay gợi được lòng tin; họ không thể hiểu được khái niệm về chính quyền như là kẻ phục vụ cho người dân. Họ chỉ quan tâm tới an ninh thể chất và sống còn, chống lại bất kỳ hiểm họa nào — dù là hiểm họa cộng sản hay phi cộng sản.”

Chúng ta biết rằng Lodge nói câu này, biết điện văn gửi từ tòa đại sứ và biết về gia đình nhà Ngô với thời gian cụ thể ghi trong sách này, độc giả vào Google gõ “lodge embassy family september 5 1963 3 p.m.” thì sẽ ra bản Anh văn ở:

Như thế, hầu hết các trang trong sách này có thể dò ngược ra bản tiếng Anh từ kho hồ sơ giải mật của Hoa Kỳ.

 Tuy chỉ nhìn từ 1/3 hướng nhìn, sách này cũng cho thấy các tài liệu Wikipedia có nhiều điểm sai lầm. Chính biến 1963 hoàn toàn là do người Việt thực hiện, không hề như lời đồn “do chính phủ Mỹ xúi giục lật đổ ông Diệm vì ông Diệm không muốn Mỹ đưa quân vào VN.” Thêm nữa, các tướng lo sợ phía Hoa Kỳ bán đứng cuộc chính biến, nên chỉ báo cho phía Hoa Kỳ biết cuộc khởi động vũ lực chỉ 4 phút đồng hồ trước khi khai hỏa, thay vì như đã hứa là sẽ báo trước 48 giờ hay 4 giờ. Sách này cũng cho thấy sự do dự phía Mỹ: vào ngày 30/10/1963 (hai ngày trước khi khởi động vũ lực), Tướng Harkins, Tư Lệnh MACV, còn cố vấn cho Tổng Thống Kennedy rằng có lẽ nên yêu cầu các tướng dẹp bỏ âm mưu dung vũ lực để “đảo chánh”.

Các tài liệu trong kho dữ liệu CIA và Bộ Ngoại Giao Mỹ thực ra cũng bất toàn, hoặc bất nhất. Thí dụ, vài điện văn trong tháng 8/1963 ghi rằng có 3 nhà sư (trong đó có Thượng tọa Thích Trí Quang) vào trụ sở USOM xin ẩn trú, nhưng các điện văn tháng 9/1963 ghi rằng các nhà sư đã vào ẩn trú trong Tòa Đại sứ Mỹ. Thí dụ, về cái chết của hai ông Diệm và Nhu, các hồ sơ này ghi nhiều lời kể dị biệt từ nhiều người khác nhau. Có thể hiểu rằng, các nhà ngoại giao và tình báo nghe sao thì ghi lại như vậy, có thể có thêm vài lời bình luận; họ không có thì giờ và không có nhiệm vụ để điều tra xem ai là thủ phạm hay ai là người ra lệnh giết chết hai anh em nhà Ngô. Do vậy, đây là các tài liệu gốc: chuyện xảy ra trong ngày, ngay buổi chiều hay tối là báo cáo qua điện văn về Washington liền; báo cáo trễ lắm là hôm sau.

Nhiều tài liệu được dịch tóm tắt trong sách này, vì kho tư liệu mênh mông, không thể dịch hết những gì không quan trọng. Cách xưng hô trong sách này sẽ gọi cho gọn theo phương pháp viết của quốc tế là, một lần gọi là Tổng Thống Diệm, rồi sau đó gọi ngắn là Diệm. Không phải là cố ý xưng hô bất kính. Các chữ viết tắt đặt ở cuối sách này. Có những chữ, hay đọan, in đậm là do những người dịch muốn làm rõ thêm tầm quan trọng của sự kiện.

 Phần cuối sách này là bản Việt dịch từ bài “New Light in a Dark Corner: Evidence on the Diem Coup in South Vietnam, November 1963” trong Văn Khố An Ninh Quốc Gia (National Security Archive, viết tắt là: NSA), Đại Học George Washington University. Bài này do 2 người biên tập – John Prados và Luke A. Nichter – ghi vài chuyện ít kể về 1963.

 Sách được xuất bản bởi nhà xuất bản Ananda Viet Foundation và đã phát hành trên mạng Amazon:

https://www.amazon.com/Hoa-Giai-Mat-Viet-Vietnamese/dp/1087950023/

(Nguồn: TreDepOnline)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Giải Mật Hồ Sơ Việt Nam 1963 (Điểm sách)

Lịch Sử Lâu Dài, Xấu Xí Về Nan Phân Biệt Chủng Tộc Người Gốc Á_Đoản Kiếm (dịch)

LỊCH SỬ LÂU DÀI, XẤU XÍ

VỀ NẠN PHÂN BIỆT CHỦNG TỘC VÀ BẠO LỰC

CHỐNG NGƯỜI MỸ GỐC Á

  Đoản Kiếm dịch  
 
Một thanh niên da trắng, Robert Aaron Long, đã giết chết tám người tại ba tiệm spa ở Atlanta vào tối thứ Ba; sáu trong số các nạn nhân là phụ nữ gốc Á. Dường như vụ giết người có động cơ chủng tộc! Nghi phạm bị buộc tội giết 8 người trong vụ xả súng ở khu vực Atlanta nhằm vào các spa do người châu Á điều hành.
Theo một nghiên cứu gần đây, tội phạm chống lại người châu Á đã tăng vọt 150% kể từ khi đại dịch Covid bắt đầu. Chỉ trong 2 tháng vừa qua đã có trên 500 vụ tấn công người gốc Á châu!
Người gốc Á đã có mặt ở Hoa Kỳ hơn 160 năm, và từ lâu đã trở thành mục tiêu của sự cố chấp, kỳ thị. Dưới đây là cái nhìn về bạo lực và phân biệt chủng tộc mà người nhập cư gốc Á và người Mỹ gốc Á đã phải đối mặt trong lịch sử nước Mỹ.
People v. Hall
Những người nhập cư Trung Quốc bắt đầu đến Hoa Kỳ với số lượng đáng kể vào những năm 1850, phần lớn đến California và các bang bờ Tây, để làm việc trong lĩnh vực khai thác mỏ và xây dựng đường sắt. Nhu cầu đối với những công việc nguy hiểm, lương thấp này khá cao, và người nhập cư Trung Quốc sẵn sàng làm việc đó. Gần như ngay lập tức, trào lưu phân biệt chủng tộc “Người châu Á đến để ăn cắp việc làm của người da trắng” ra đời. Năm 1854, Tòa án Tối cao California đã củng cố vấn đề phân biệt chủng tộc đối với những người nhập cư châu Á với vụ kiện “People v. Hall,” ra phán quyết rằng những người gốc Á không có quyền làm chứng chống lại người Da trắng trước tòa. Như vậy, người da trắng có thể thoát khỏi sự trừng phạt vì bạo lực chống lại người châu Á. Trong trường hợp này, đó là một vụ giết người: George Hall bắn chết người nhập cư Trung Quốc Ling Sing, và lời khai của các nhân chứng người Tàu đã bị bác bỏ vì họ đều là người châu Á. George Hall thoát tội!
Thảm sát người Hoa năm 1871
Ngày 24 tháng 10 năm 1871, sau khi một người đàn ông Da trắng bị chết trong cuộc giao tranh giữa các băng nhóm người Hoa, hơn 500 người Da trắng và Hispanic đã bao vây và tấn công cộng đồng người Hoa ở Los Angeles. Ít nhất 17 người đàn ông Trung Quốc đã bị giết, trong đó có một bác sĩ. Họ bị treo cổ bất cứ nơi nào mà những kẻ bạo loạn có thể treo dây thòng lọng. 8 trong số những kẻ bạo loạn bị kết tội “ngộ sát,” nhưng bản án của họ đã bị hủy. Không ai bị trừng phạt!!!
Đạo luật loại trừ người Hoa năm 1882
Khủng hoảng kinh tế trong những năm 1870 đã tạo ra một đợt gia tăng chủ nghĩa phân biệt chủng tộc chống người châu Á. Năm 1882, Quốc hội Mỹ thông qua Đạo luật Loại cấm người Trung Quốc nhập cư trong 20 năm. Tổng thống Chester A. Arthur đã phủ quyết nó, nhưng sau đó đã ký một phiên bản khác với lệnh cấm 10 năm. Đây là luật đầu tiên đặt ra hạn chế người Tàu nhập cư vào Hoa Kỳ. Nó được gia hạn hơn 60 năm trước khi bị bãi bỏ vào năm 1943.
Bùng phát bệnh dịch hạch ở San Francisco
Năm 1900, một trận dịch hạch bùng phát ở San Francisco. Nhiều khả năng dịch bùng phát từ một con tàu từ Úc, nhưng vì nạn nhân đầu tiên của tiểu bang là một người nhập cư Trung Quốc, nên cả cộng đồng TQ bị đổ lỗi. Khu phố Tàu của San Francisco bị cảnh sát bao vây, không cho bất cứ ai, trừ cư dân Da trắng, ra vào. Người Trung Quốc bị lực lượng chức năng khám xét nhà và phá hủy tài sản.
Đây là khúc dạo đầu cho chủ nghĩa phân biệt chủng tộc nhắm vào người Mỹ gốc Á trong đại dịch coronavirus, mà cựu Tổng thống Donald Trump thường gọi là “virus Trung Quốc”, “virus Vũ Hán” và Kung Flu!
Trại tập trung người Nhật trong WWII:
Vào những năm 1940, đã có hàng chục nghìn người nhập cư Nhật Bản và người Mỹ gốc Nhật sống tại Hoa Kỳ. Sau khi Nhật Bản ném bom Trân Châu Cảng và Hoa Kỳ tham gia Thế chiến thứ hai, chính phủ Hoa Kỳ buộc tất cả họ vào các trại tập trung trong suốt thời gian chiến tranh vì nghi ngờ rằng họ có thể viện trợ cho kẻ thù. Điều kiện trong các trại rất khắc nghiệt, nóng như đốt vào mùa hè và lạnh cóng vào mùa đông. Không có gián điệp nào được tìm thấy. Sau chiến tranh, họ được trả tự do. Nhiều người quay trở về để thấy nhà cửa và cơ sở kinh doanh của họ bị phá hoại hoặc bị tịch thu. Năm 1988, những người sống sót đã nhận được lời xin lỗi của tổng thống Reagan và $20.000 bồi thường mỗi người.
Người nuôi tôm Việt Nam và KKK:
Đây là câu chuyện mà nhiều người Việt Nam ở Mỹ thường kể cho nhau nghe…
Sau Chiến tranh Việt Nam kết thúc, nhiều người Việt Nam chạy trốn cộng sản sang định cư ở Texas, nhiều người trong số những người nhập cư đã theo nghề đánh bắt tôm. “Chúng tôi thích thời tiết, chúng tôi thích đánh bắt tôm, chúng tôi muốn có cơ hội để bắt đầu kinh doanh của riêng mình”, Ông Nguyễn Văn Nam nói với The Washington Post vào năm 1984. Khi họ làm việc chăm chỉ và bắt đầu thống trị ngành tôm, khẩu hiệu “người châu Á đến lấy công việc của người da trắng” quay trở lại, và lần này nó đội mũ trùm đầu màu trắng KKK!. Lãnh đạo của Ku Klux Klan, Louis Beam, huấn luyện các thành viên KKK tấn công người Việt theo kiểu biệt kích; họ đốt cháy những chiếc thuyền do người Việt làm chủ.
Vụ giết Vincent Chin
Ngày 19/6/1982, người Mỹ gốc Hoa 27 tuổi Vincent Chin, chuẩn bị kết hôn và tổ chức tiệc mừng với bạn bè ở Detroit. Hai người đàn ông da trắng đã gây lộn với Chin ở quán bar, cho Chin là “người Nhật” đã phá hủy ngành công nghiệp ô tô của Mỹ. Họ dùng gậy bóng chày đánh Chin. Chin chết vài ngày sau đó. Những kẻ tấn công anh ta đã mặc cả về tội ngộ sát, có thể chịu mức án 15 năm. Nhưng thẩm phán chỉ tuyên phạt quản chế và phạt $3.000. Bản án kỳ quặc đã gây phẫn nộ trong cộng đồng người Mỹ gốc Á.
Cuộc bạo loạn ở L.A.
Căng thẳng đã hình thành giữa cộng đồng người Mỹ da đen và người Mỹ gốc Hàn ở Los Angeles trong nhiều năm. Sau đó đến ngày 29 tháng 4 năm 1992, sự tha bổng các nhân viên cảnh sát đánh Rodney King đã đẩy thành phố LA vào bạo loạn, các doanh nghiệp Mỹ gốc Hàn trở thành mục tiêu; hàng ngàn cửa hàng bị đập phá trong thời gian đó.
Hận thù nhầm vì 9/11.
Sau vụ tấn công khủng bố ngày 11 tháng 9 năm 2001, tội ác chống người Hồi giáo đã tăng vọt. Bao gồm cả những người được coi là Hồi giáo, cả người gốc Nam Á. Chỉ 4 ngày sau vụ khủng bố, Frank Silva Roque đã sát hại Balbir Singh Sodhi, chủ một cây xăng người gốc Ấn Độ theo đạo Sikh, mà thủ phạm Roque nhầm là người Hồi giáo.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Lịch Sử Lâu Dài, Xấu Xí Về Nan Phân Biệt Chủng Tộc Người Gốc Á_Đoản Kiếm (dịch)

CON NGƯỜI CÓ SỐ – Đoàn Dự

Con người có số

Đoàn Dự

saigon.jpg

Tên hắn là Khải. Hắn học với tôi năm lớp 11 tại trường Tân Phương, Gò Vấp. Nhà hắn ở trại định cư Cái Sắn nằm giữa hai tỉnh Long Xuyên và Rạch Giá. Hình như bố mẹ hắn có quen với một ông trùm họ đạo ngày trước cũng ở Cái Sắn, sau lên Sài Gòn, trông coi giúp Cha sở ở nhà thờ Ngã năm Bình Hòa, Gia Định. Rồi hắn lên Sài Gòn, nhờ ông trùm đó xin với Cha cho ở nhờ ngoài hành lang nhà thờ, làm người kéo chuông, trông coi, quét dọn… để có chỗ ăn ở, đi học. Cha thấy hắn ngoan ngoãn, lễ phép, nhất là trước đây lại cùng họ đạo với ông trùm nên rất vui lòng.

Lúc ấy, tại Xóm Gà Gia Định có trường Tân Phương của ông Phan Ngô mới mở, dạy tới lớp Đệ Nhị (tức lớp 11 bây giờ). Cha nói với ông Phan Ngô xin cho hắn học miễn phí để chuẩn bị đi thi Tú tài I. Phần vì trường mới mở đang cần học sinh, phần vì nể lời Cha nên ông Phan Ngô cũng đồng ý. Ngoài ra, Cha thấy hắn ham học ngoại ngữ, giỏi tiếng Anh nên mỗi tháng cho tiền hắn học thêm Anh văn cao cấp ở Hội Việt-Mỹ đường Mạc Đĩnh Chi, Tân Định. Như vậy, ngoài việc học ở trường Tân Phương vào các buổi sáng, cứ đến buổi chiều, mỗi tuần ba lần, hắn cuốc bộ từ Gia Định lên Tân Định để học tại Hội Việt-Mỹ. Cha cũng thích ngoại ngữ, buổi tối hắn thường chỉ dẫn thêm tiếng Anh cho Cha.

Trường hợp tôi thì lại khác. Nhà tôi cũng nghèo, mẹ tôi làm thợ dệt nhưng tôi thi đậu hạng nhì vào lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ) trường Nguyễn Trãi nên được học bổng, mỗi tháng 300 đồng, tương đương với một chỉ vàng lúc bấy giờ, việc sách vở, học hành đỡ phải lo lắng. Ba năm sau, khi bắt đầu lên đến lớp Đệ Ngũ (lớp 8), tôi và hai bạn khác trong lớp rủ nhau “học nhảy”: Trường Nguyễn Trãi lúc đó chưa có cơ sở nên phải học nhờ tại trường Tiểu học Đa Kao ở số 94 đường Phan Đình Phùng (bây giờ là đường Nguyễn Đình Chiểu). Tất cả các lớp đều học buổi chiều, còn buổi sáng thì học sinh trường Đa Kao học.

Buổi sáng được nghỉ, ba đứa chúng tôi đóng học phí học lớp Đệ Tứ (lớp 9) trường Cộng Hòa của giáo sư Phạm Văn Vận ở đường Pasteur để thi Trung học Phổ thông, nếu đậu sẽ sớm được một năm, cái đó kêu là “học nhảy”. Nhà nghèo, nên dù học thêm lớp Đệ Tứ trường tư nhưng tôi vẫn tiếp tục học lớp Đệ Ngũ trường công để được học bổng và đề phòng nếu rớt Trung học thì vẫn có chân trong trường công.

Cuối năm ấy, cả ba đứa chúng tôi đều đậu Trung học, rồi thi vào lớp Đệ Tam (lớp 10) trường Hồ Ngọc Cẩn, tức lại trở lại trường công. Tôi đậu hạng 5 trong số 52 học sinh thi đậu, hơi thấp, không được học bổng vì Bộ Quốc gia Giáo dục chỉ cho mỗi lớp có 3 người, từ hạng 1 tới hạng 3. Hai anh bạn yên tâm học lớp Đệ Tam tại Hồ Ngọc Cẩn, còn tôi, nhảy được một năm nhưng mất học bổng, tôi ân hận lắm.

Đúng lúc ấy ông Phan Ngô mở trường Tân Phương có tới lớp Đệ Nhị (lớp 11 bây giờ – thời đó trường tư chưa trường nào có lớp Đệ Nhất, học xong lớp Đệ Nhị, đậu xong Tú tài I được quyền xin vào Đệ Nhất trường công, bắt buộc trường công phải nhận, thời ông Diệm là như thế, rất ưu tiên cho học sinh).

Ông Phan Ngô là hiệu trưởng trường Tân Thạnh ở đường Đinh Công Tráng, Tân Định. Người em con chú con bác với ông là ông Phan Thuyết làm giám đốc. Trường dạy giỏi, nổi tiếng nên rất đông học sinh. Nhưng không hiểu hai anh em có chuyện xích mích gì đó nên bán trường, ông Phan Thuyết về mở trường Đạt Đức ở Phú Nhuận, còn ông Phan Ngô mở trường Tân Phương ở Gò Vấp.

Vào học lớp Đệ Nhị trường Tân Phương, tôi quen với hắn rồi dần dần hai đứa trở thành thân thiết với nhau. Tôi chưa từng thấy một người bạn nào nghèo như vậy. Ngày nào đi học hắn cũng mặc một bộ đồ duy nhất: chiếc áo sơ mi cũ màu cháo lòng có hai miếng vá, một miếng ở lưng, một miếng ở vai; chiếc quần ka ki cũng cũ, vá một miếng lớn ở mông. Có lẽ hắn tự vá lấy bằng chỉ đen, đường chỉ vụng về trông thô kệch chẳng ra sao cả. Chân hắn đi đôi dép Nhật mòn vẹt, sứt mẻ, một quai màu xanh, một quai màu đỏ, cột bằng dây kẽm. Có lần tôi hỏi sao hai quai dép lại bên xanh bên đỏ? Hắn cười, hơi mắc cỡ: “Tại mình nhặt được trong thùng rác ấy mà. Nó bị đứt, họ vứt đi, mình kiếm được hai cái quai cột vô đi tạm chứ chẳng lẽ đi học lại đi chân không”.

Hắn nghèo, cả lớp ai cũng biết nhưng ai cũng thông cảm, chẳng ai chê cười. Nhất là các chị, nhiều khi giấm giúi cho hắn tiền uống nước. Ngày tết, trường tổ chức cắm trại, thi đấu bóng chuyền và văn nghệ ở trong sân, mỗi lớp có một cái quầy nho nhỏ cung cấp bánh mì, kẹo bánh và nước ngọt cho lớp của mình. Mỗi bạn trong lớp đóng mỗi người 10 đồng, hắn không có tiền, định không tham dự, các chị bàn nhau không bắt hắn đóng.

Cuối năm ấy, lớp chúng tôi có 51 người, thi đậu ngay trong khóa 1 là 13 người, trong đó có tôi và hắn. Tỉ lệ như vậy là khá cao, bởi vì thi tú tài thời đó rất khó, trường tư giỏi lắm cũng chỉ đậu khoảng 10% là cùng, đằng này đậu tới hơn 25%. Thầy Phan Ngô mừng lắm, thầy nói: “Trường Tân Phương là nhứt, không khác gì trường Tân Thịnh ngày trước”.

Sau khi đậu xong Tú tài phần I, các bạn người Nam thì đa số nộp đơn vào học lớp Đệ Nhất (lớp 12) trường Petrus Ký, còn tôi và hắn là người Bắc nên nộp đơn vào trường Chu Văn An. Tôi từ trường công lại trở lại trường công, “nhảy” được hai năm. Còn hắn, có sự tiến bộ: ông trùm nhà thờ Ngã năm Bình Hòa cho hắn mượn một chiếc xe đạp cũ. Hội Phụ huynh học sinh Chu Văn An cứu xét, thấy hắn nghèo, cho hai kỳ học bổng, mỗi kỳ 500 đồng và một bộ quần áo may sẵn, hơi ngắn.

Cuối năm ấy, đậu xong Tú tài phần II, tôi thi vào Đại học Sư Phạm còn hắn thì thi vào trường Kỹ sư Phú Thọ nhưng rớt. “Cậu ngốc lắm, giá thi Sư Phạm với tớ có lẽ đã đậu, thi Kỹ sư Phú Thọ khó muốn chết, tớ không dám nghĩ đến”. “Tại tớ thi ngành Điện nên mới rớt chứ giá thi Công chánh hay Công nghệ thì đỡ hơn”. Hắn rớt, đáng lẽ bị kêu đi sĩ quan Thủ Đức nhưng có người anh cũng đã ở trong quân đội nên được hoãn. “Tớ phải về Cái Sắn làm giấy tờ nộp hồ sơ hoãn dịch cậu ạ”. “Hoãn thì được rồi nhưng làm sao có tiền đi xe?”. “Cha có cho. Cha dặn làm giấy tờ xong, nhớ lên xem người ta có cho thi vào ngành nào thì thi chứ không lại lỡ mất một năm học”.

Hôm lên, hắn đến nhà tôi chơi và hỏi những ngày hắn về Cái Sắn, ở Sài Gòn họ có cho thi gì không. Tôi nói Tổng nha Cảnh sát ra thông cáo cho thi lấy 50 người vào học khóa Biên tập viên cảnh sát, học bổng mỗi tháng cũng 1,500 đồng giống như Đại học Sư phạm và Quốc gia Hành chánh. “Biên tập viên cảnh sát là làm gì?”. “Tớ không rõ, họ nói cũng học 3 năm, ra làm phó quận cảnh sát”. “Được đấy, có lẽ tớ sẽ nộp đơn thi Biên tập viên cảnh sát”. Thời chúng tôi, con nhà nghèo, thi vào ngành nào thì phải nhắm có học bổng chứ nếu học những trường không có học bổng như Y khoa, Dược khoa, Luật, Văn khoa, Khoa học v.v…, tuy không phải thi tuyển nhưng không có tiền ăn học suốt bao nhiêu năm.

Giữa lúc hắn đang lo làm đơn thi Biên tập viên cảnh sát thì có tin Bộ Quốc gia Giáo dục ra thông cáo, Cơ quan Văn hóa Liên Hiệp Quốc UNESCO cho hai học bổng, một thi tiếng Anh, du học tại Mỹ, một thi tiếng Pháp, du học tại Pháp hay Thuỵ Sĩ gì đó, tất cả mọi khoản đều do Liên Hiệp Quốc đài thọ, học tiến sĩ kinh tế, sau này sẽ ra làm cho Liên Hiệp Quốc, giúp đỡ các nước nghèo. “Cậu đã biết tin đó chưa?”. “Chưa, tớ không biết gì hết, nhà thờ đâu có radio mà nghe. Cậu có nộp đơn không?”. “Không, Tú tài II tớ đậu Bình Thứ chứ đâu phải hạng Bình như cậu.

Họ bắt phải từ hạng Bình trở lên mới được thi”.

Thời chúng tôi, thi tú tài I hay tú tài II, kết quả thi đậu có 5 hạng gọi theo tiếng Pháp: đậu thường gọi là hạng Thứ (Passable); trên Thứ là Bình Thứ (Assez Bien); trên Bình Thứ là Bình (Bien); trên Bình là Ưu (Honorable); rồi đến Tối Ưu (Très Honorable) là hết mức, môn nào cũng phải đạt tối đa khoảng 20 điểm. Hắn đậu Bình, cao hơn tôi một bậc.

“Nộp thì nộp vậy thôi chứ cả Anh văn lẫn Pháp văn mới lấy có hai người, khó lắm, chắc tớ không đậu được đâu”. “Biết đâu đấy, cứ nộp đơn đi, may mà giờ vinh quang đã điểm thì bọn cắc ké nghèo mạt rệp như tụi mình cũng ngon lành ra phết”. “Vậy tớ nộp đơn cả bên UNESCO lẫn bên Biên tập viên cho chắc ăn”.

Hắn nộp đơn xong, khoảng hai tháng sau thì dự cuộc thi của UNESCO. Hắn kể rằng, đợt thứ nhất, hơn 200 người cả Anh văn lẫn Pháp văn, thi viết, loại bớt còn 50 người. Đợt thứ nhì, 50 người lại loại lần nữa, còn lại 10 người trong đó có hắn. Rồi 5 người trong nhóm Anh văn bọn hắn vào “sát hạch” tại tòa đại sứ Mỹ, còn 5 người nhóm Pháp văn thì sát hạch tại tòa đại sứ Pháp hay Thuỵ Sĩ, hắn không để ý.

Hắn kể, giám khảo nhóm Anh văn của hắn gồm ba giáo sư, một ông người Mỹ, một ông người Canada, một ông người Úc hay Tân Tây Lan gì đó hắn không biết rõ, tất cả đều nói tiếng Anh.

Họ thay đổi nhau quay hắn về tình hình kinh tế các nước trên thế giới, về vai trò của một nhà kinh tế học đối với các nước nghèo như ở châu Phi chẳng hạn.

Cuối cùng, vị giáo sư người Úc hay Tân Tây Lan hỏi hắn quê ở đâu, cha mẹ làm nghề gì, từ nhỏ tới lớn sống như thế nào…, hắn nói thật rằng quê hắn ở Nam Định, di cư vào Nam năm 1954, ở trại định cư Cái Sắn thuộc tỉnh Long Xuyên, bố mẹ hắn rất nghèo, làm nghề trồng cói và dệt chiếu ở Cái Sắn, còn hắn thì kéo chuông và hầu hạ trong Nhà thờ Bình Hòa để có chỗ ăn học.

Tất cả ba vị giám khảo đều trợn tròn mắt, không ngờ một học sinh được vào chung kết của một cuộc thi quan trọng như vậy mà gia đình lại nghèo đến thế. “Dám cậu thắng mấy người kia nhờ cái nghèo của cậu lắm ạ! Người Tây phương họ có cái nhìn khác lắm, sẵn sàng ưu tiên cho người nghèo nếu thấy thực sự đó là người giỏi chứ không khinh bỉ người nghèo như bên Việt Nam mình”.

“Tớ cũng hy vọng như vậy. Trông nét mặt ba vị giám khảo thấy họ có vẻ có cảm tình với tớ lắm. Nhưng thôi, kệ, muốn đến đâu thì đến. Tớ cam đoan với cậu thi Biên tập viên cảnh sát tớ đậu là cái chắc. Làm phó quận trưởng cảnh sát cũng bảnh ra phết!”.

Trong khi tâm sự, hắn kể với tôi rằng bữa đi mua giấy tờ lập hồ sơ thi du học, hắn mua ở tiệm sách Thanh Trúc gần Ngã tư Phú Nhuận. Cô con gái bà chủ cỡ chừng 15 – 16 tuổi, xinh lắm và rất tốt bụng.

Thấy hắn vét túi mà vẫn không đủ tiền trả, cô ta cười rồi cho luôn, không tính một đồng nào cả.

“Cô bé cỡ 15 – 16 tuổi, vậy là cô em. Cô chị lớn hơn, khoảng 17 – 18 tuổi, mặt tròn, cũng đẹp nhưng không xinh bằng cô em”.

“Ủa, thế cậu cũng biết tiệm đó?”.

“Biết chứ, tớ là dân Phú Nhuận mà, vẫn mua sách ở tiệm đó”.

Tôi kể cho hắn nghe bà mẹ còn tốt hơn nữa. Hồi tôi được phần thưởng cuối năm ở trường Tân Phương, trong số các cuốn sách lãnh thưởng có cuốn Triết Học Nhập Môn của tác giả gì tôi quên mất tên.

Cuốn sách đó nghiên cứu về triết học nói chung chứ không phải sách lớp Đệ Nhất dạy về triết học để đi thi tú tài II. Tôi đem đến tiệm Thanh Trúc nhờ bà chủ đổi cho cuốn Luận Lý Học của tác giả Trần Bích Lan tức nhà thơ Nguyên Sa, giáo sư triết trường Chu Văn An.

Bà coi qua cuốn sách của tôi rồi cười: “Sách người ta tặng cho các trường để phát phần thưởng thường là sách khó bán nên họ mới tặng. Tiệm tôi không bán loại này. Nhưng thôi, cậu được phần thưởng như vậy là quý, muốn đổi thì tôi cũng đổi để cậu may mắn, năm tới thi đậu. Một vài cuốn sách chẳng đáng bao nhiêu…”.

Cuốn Luận Lý Học của giáo sư Trần Bích Lan đắt hơn cuốn Triết Học Nhập Môn một chút nhưng bà chủ tiệm cũng cho luôn, không bắt trả tiền chênh lệch.

Tôi kết luận rằng bà mẹ tốt bụng như thế nên các cô con gái cũng tốt là một chuyện thường.

Hắn thở dài, nét mặt hơi buồn: “Nhà họ giàu, tiệm sách có tới mấy tầng lầu ở ngoài mặt đường, còn mình thì nghèo rớt mồng tơi không đáng xách dép cho họ. Tớ nói thật, nếu tớ được học bổng đi du học bên Mỹ kỳ này, đậu xong tiến sĩ tớ sẽ trở về, quỳ xuống dưới chân cô ấy, nói với cô ấy rằng nhờ cô cho giấy tờ lập hồ sơ nên tôi mới được du học, không bao giờ tôi dám quên ơn cô…”.

Tôi bật cười: “Cậu ngốc thấy mẹ, nếu đậu thì đến báo tin từ trước khi đi cho người ta còn chờ đợi chứ đậu xong tiến sĩ, hàng chục năm trời, họ lấy chồng mất tiêu rồi thì lúc ấy có ngồi mà khóc!”.

“Ừ há, mình cũng ngu thật. Nhưng biết họ có đợi hay không?”.

“Tại sao lại không? Vấn đề là cậu có thắng được mấy người kia hay không chứ nhà giàu thì họ khôn lắm, họ dư biết giá trị của một thằng học sinh nghèo được học bổng du học bên Mỹ”.

Và tôi nói thêm: “Ngoài ra, sang đấy ăn ở ra sao, học hành thế nào cậu luôn luôn viết thư về cho em chứ đâu phải như Kinh Kha sang Tần, một đi là không trở lại”. “Ờ há, vậy mà tớ không nghĩ ra, tớ phải ghi địa chỉ tiệm sách nhà em mới được”.

Thế rồi hắn đậu thật, hơn 200 người, lấy có 2 người, khó chứ không phải dễ. Tội nghiệp, trước khi đi hắn vẫn còn nghèo bởi vì sang bên ấy, vào học trường nào rồi người ta mới trả lại tiền vé máy bay và bắt đầu cho lãnh học bổng chứ không phải họ đưa trước.

Mọi thứ chi phí như mua sắm va-li, giày dép, quần áo mặc trong mùa lạnh, kể cả tiền vé máy bay v.v… đều là của Cha (LM) cho. Cha còn nói hôm hắn đi, Cha bận không đưa tiễn được nhưng sẽ cho tài xế chở hắn ra phi trường.

“Rồi ông cụ bà cụ cậu ở dưới Cái Sắn có lên không?”.

Hắn lắc đầu, vẻ mặt buồn buồn:

“Không, gia đình tớ nghèo lắm, không có bà con anh em gì ở trên này. Bố mẹ tớ nói lên đây vừa tốn tiền lại vừa làm phiền Cha, không có chỗ ở chẳng lẽ lại ở nhờ Cha trong nhà thờ”.

Tôi tưởng tượng ra cảnh hôm hắn đi, chắc chỉ có mình tôi và người tài xế của Cha đưa hắn ra phi trường. Nhưng ra đến đấy người tài xế sẽ quay trở lại chứ đâu có tiễn làm gì, chung quy chỉ có mình tôi mà thôi.

– “Cậu đã đến từ biệt cô bé chưa?”.

– “Có, tớ có đến nhưng cô ấy mắc đi học, chỉ gặp bà mẹ. Tớ kể cho bà ấy nghe chuyện cô bé cho giấy tờ làm đơn, nhờ đó tớ mới được du học, tớ đến chào từ biệt và gửi lời nhờ bà cám ơn cô bé giùm”. “Bà ấy có nói gì không?”. “Có, bà ấy xuýt xoa, thế ạ, quý hóa quá nhỉ, tôi không biết gì hết chứ nếu biết tôi đã mời cậu đến nhà dùng bữa cơm thân mật.

– Bao giờ cậu đi? –

– Dạ, thưa sáng mai. –

– Sáng mai, sớm vậy sao? Vậy là không kịp rồi, cậu không đến đây từ trước.

Bà ấy tiếc lắm. Tớ cám ơn bà ấy rồi đi…”. “Đó, cậu thấy chưa, tớ đã nói nhà giàu, nhất là một tiệm sách quen với chữ nghĩa, họ không dại gì mà không biết giá trị của con người”, và tôi giục:

– “Cậu đến nữa đi, phải gặp cô bé bằng được và dặn cô ấy chờ đợi, học xong cậu sẽ trở về”. Hắn lắc đầu:

– “Không dám đâu, đến sợ lại gặp bà ấy nữa tớ mắc cỡ lắm. Dù sao cô ấy cũng hãy còn nhỏ…”.

– “Trời đất ơi, 15-16 tuổi mà nhỏ cái gì! Sang đấy cậu phải học cử nhân, cao học, tiến sĩ, ít nhất cũng 8 năm nữa. Lúc ấy cậu khoảng 28, cô bé 24, chả nhỏ một tí nào cả”. Hắn khẽ thở dài:

– “Nói thật với cậu, từ bé tới lớn tớ khổ sở quá nên không dám nghĩ tới chuyện cao xa. Trước khi ra đi, tớ chỉ mong được nhìn thấy cô ấy một lần, được nghe thấy cô ấy nói một tiếng là sung sướng lắm rồi. Sang đấy tớ sẽ cố gắng học hành để đền đáp ơn nghĩa cô ấy…”.

Thật kỳ cục, có đáng gì đâu mấy tờ sơ yếu lý lịch, mấy tờ mẫu đơn tiếng Việt phải dịch sang tiếng Anh để nộp cho cơ quan UNESCO mà tên bạn tôi lại đặt nặng vấn đề đến thế?

Nếu cô bé không xinh xắn, tính tình không vui vẻ và không có lòng thương người thì hắn có mê cô ta đến mức đó hay không?

Tưởng tượng tới cảnh hắn lên máy bay chẳng có ai đưa tiễn, tôi nghĩ ra cách là ngay buổi chiều hôm đó đến tiệm sách kể hết mọi chuyện với bà mẹ. Có cả cô bé cũng có ở đấy. Nghe tôi kể, cô chỉ cúi mặt mỉm cười, hai gò má ửng hồng còn bà mẹ thì rất chú ý.

Cuối cùng, bà cười dễ dãi: “Hồi sáng cậu ấy có đến đây, tôi có biết mọi chuyện. Ý cậu là muốn nhờ em Trúc đi tiễn cậu ấy giùm phải không?”.

“Vâng ạ”.

“Mấy giờ thì cậu ấy lên máy bay?”.

“Dạ thưa 11 giờ 30, nhưng phải đến sớm ít nhất 2 tiếng đồng hồ để nó còn vào làm thủ tục”.

“Có, tôi biết. Sáng mai Chủ nhật em Trúc đi được. Vậy khoảng 8 giờ 30 cậu đến đây đi cả với em cho vui. Chắc có em Thanh cũng đi nữa”.

Tôi đoán Thanh là tên người con gái lớn của bà.

“Dạ, vâng ạ”.

Cô bé vẫn cúi mặt cười, tay cầm cây bút Bic không mở nắp vẽ vẽ bâng quơ trên mặt tủ kính quầy hàng cho đỡ mắc cỡ, chắc cô cũng quên không nhớ mặt hắn.

Sáng hôm sau, tôi đến. Hai cô con gái mặc juýp theo kiểu đơn giản thời đó, cô lớn juýp trắng, cô bé juýp hồng nhưng cũng rất đẹp.

Nhất là cô chị, cô có thoa chút phấn hồng nên lại càng đẹp, tôi nghe đâu đây thoang thoảng mùi thơm của phấn son hay của hương trinh nữ?

Ôi chao, đời đẹp quá, tôi, một thằng sinh viên bắt đầu học năm thứ nhất ĐHSP, nhà nghèo, mẹ làm thợ dệt nhưng đứng bên cô, ngửi mùi hương ngan ngát đó tôi vẫn thấy đời đẹp như thường.

Chắc cô cũng có cảm tình với tôi, thấy trong lúc đợi xe taxi, cô đứng sát bên cạnh tôi. Bà mẹ tiễn ra tận vỉa hè. Bà đưa tiền cho cô lớn: “Đây, tiền đây, nhớ trả tiền cho anh, đừng để anh trả nghe con!”. Cô không cầm, giọng con gái Bắc ngọt như mía lùi: “Con có rồi mẹ!”.

Chúng tôi đến. Hắn đang đứng một mình bên cạnh chiếc va-li hơi cũ, có lẽ của Cha cho mượn và một chiếc túi xách để trên mặt chiếc va-li đó.

Thấy chúng tôi tới, hắn cứ ngớ ra coi bộ hết sức ngạc nhiên. Tôi cười, giới thiệu:

– “Đây là cô Thanh, chị của cô Trúc. Còn đây là cô Trúc, người bạn vẫn nhớ ơn đó. Các cô thân hành ra đây tiễn bạn…”. Hắn không ngờ mình được hân hạnh đó nên lúng túng như gà mắc dây thun, mỉm cười khẽ gật đầu chào. Các cô chào lại. Cô chị nói:

– “Chúng em đến tiễn anh, chúc anh lên đường mạnh giỏi. Thỉnh thoảng anh nhớ viết thư về cho Trúc”.

– “Vâng, cám ơn các cô, thế nào tôi cũng phải viết”.

Tôi cười:

– “Được viết thư cho người đẹp sướng thấy bố rồi lại còn phải viết với không phải viết. Sao nào, nếu học xong tiến sĩ kinh tế, có trở lại thăm cô Trúc không nào?”.

Hắn cười, mặt đỏ bừng, bây giờ tôi mới thấy hắn nói được một câu có thể coi là thông minh:

– “Có chứ, đó là mơ ước lớn nhất trong đời mình, nếu hai cụ nhà cho phép và cô Trúc sẵn sàng chờ đợi”. Cô chị hỏi: “Học tiến sĩ thì mất chừng bao lâu hả anh?”.

Hắn nói: “Khoảng chừng 8 năm, sớm nhất cũng phải 6 năm. Bên Mỹ nếu cố gắng vẫn có cách học vượt thời gian như vậy. Bên mình thường thường là phải 10 năm…”.

Cô chị nói:

– “Lúc ấy Trúc mới 22 hay 24 tuổi, còn sớm chán”.

Tôi cười, nói đùa:

– “Sao, ‘cô bé đẹp’, có đợi được không thì cho biết ý kiến?”.

Cô bé chỉ cúi mặt cười, không nói gì cả. Tôi hỏi gặng quá bắt buộc cô phải trả lời:

– “Dạ được”. “Được thì ngoéo tay đi, hắn là dân Công giáo, đã nói là sẽ giữ lời, có tôi làm chứng!”.

Cô chị cười: “Em cũng làm chứng luôn”.

Mọi người cùng cười, hắn đã bạo dạn nên đưa tay ra ngoéo tay cô bé khiến cô đỏ mặt nhưng cũng ngoéo lại.

Trời đất ơi, phải chi tôi được ngoéo tay cô chị nữa thì đỡ quá! Nhưng nhà tôi nghèo, mẹ tôi làm thợ dệt, tôi 20 tuổi, còn cô thì khoảng 18 tuổi, kém tôi 2 tuổi, làm sao tôi có điều kiện lấy vợ trong lúc còn đang đi học mặc dầu cô cũng có vẻ quý mến tôi, luôn luôn đứng sát cạnh tôi.

Cuộc tiễn đưa chỉ có thế. Ba năm sau, tôi tốt nghiệp, đi dạy. Thời đó chúng tôi học Đại Học Sư Phạm theo régime 3 năm, các ban khoa học đều phải học bằng tiếng Pháp, thi cử cũng bằng tiếng Pháp. Sau khóa của tôi thì được đổi sang régime 4 năm và đã được chuyển ngữ, học bằng tiếng Việt. Ngoài ra, thời đó các trường trung học đệ nhị cấp dạy tới lớp 12 rất ít, ở các tỉnh lớn mới có, nên tôi đậu hạng 5 mà phải đi xa, Bạc Liêu cách Sài Gòn gần 300 cây số, vài tháng lễ, tết mới về nhà một lần.

Có lẽ cũng đến 5-6 năm, một lần tôi về, thấy trên mặt bàn có tấm thiệp của hắn làm đám cưới với Thanh Trúc. Hai chị em nhà đó có cái lạ là cô em tên Thanh Trúc, cô chị tên Trúc Thanh, ngược lại với nhau.

Phong bì bên ngoài đã có vẻ cũ, bám bụi. Tấm thiệp bên trong đề ngày cưới cách đấy đã hơn hai tháng. “Thằng Khải nó về rồi hở mẹ?”. “Ừ, cậu ấy về, nghe đâu đã đậu tiến sĩ, về làm đám cưới với cô con gái tiệm sách ở gần ngã tư Phú Nhuận. Cả hai cô cậu ấy đến chơi, đem thiệp cưới đến mời anh nhưng tôi nói anh dạy học ở mãi Bạc Liêu, chắc không về kịp. Cậu ấy nói cưới xong sẽ đưa cô ấy sang Mỹ, bao giờ có dịp về sẽ gặp anh sau”. Thời chúng tôi, người Việt ở bên Mỹ rất ít, nên họa hoằn lắm, hễ có ai về Việt Nam cưới vợ thì sau khi cưới xong, đem đi rất dễ chứ không khó khăn, phải làm đủ thứ giấy tờ bảo lãnh mới được đi như bây giờ. Cái thằng đó giỏi thật, lúc nó ra đi thì tôi bắt đầu vào Sư Phạm, học xong 3 năm, đi dạy 6 năm, tức mới 9 năm mà nó đã đậu đạt, đi làm, để dành được tiền về cưới vợ, giỏi thật. Tôi rất phục nó.

Thế rồi tôi được đổi về trường Trung học Dĩ An, Biên Hòa, cách Thủ Đức khoảng 10 cây số.

Năm năm sau, 1975, miền Nam sụp đổ, các giáo viên – giáo sư trung học bây giờ gọi là giáo viên – của 7 trường thuộc hai huyện Dĩ An và Lái Thiêu chúng tôi phải đi cải tạo tại K4 Long Khánh. Người cán bộ giáo dục về tiếp thu các trường thuộc hai huyện đó thấy người ta cách ly các sĩ quan và hạ sĩ quan cảnh sát thuộc hai tỉnh Bình Dương và Biên Hòa tại hai trường An Mỹ và Trịnh Hoài Đức, có du kích gác, rồi sẽ đưa đi học tập cải tạo thì bắt các nam giáo viên chúng tôi đi học tập cho… có tinh thần yêu nước vậy thôi. Hơn sáu tháng trời cải tạo tại K4 Long Khánh, tôi suýt bỏ mạng tại đấy. Bởi vì cơ thể tôi ưa lạnh chứ không ưa nóng. Cứ hễ trời nóng là tôi ho rũ rượi, ở nhà thường uống Terpin-Codein, một thứ thuốc rất rẻ do Việt Nam chế tạo. Đi học tập, trong trại không có thuốc men, lại ăn uống kham khổ nên tôi ho liên tục, ban đêm không ngủ được, thân hình gầy xác như con cá mắm.

Sáu tháng sau, các giáo viên được thả về. Sài Gòn buồn thê thảm và nghèo không thể tưởng tượng nổi. Mẹ và em gái tôi nói chuyện người ta đánh tư sản mại bản (nghĩa là tư sản mất gốc), các tiệm lớn ở Phú Nhuận bị tịch thu nhà cửa, hàng hóa, gia đình bị đuổi đi kinh tế mới, tiếng khóc như di.

Còn ở Chợ Lớn, các tiệm người Tàu sợ quá, ném những cây vải còn nguyên cả xấp và các đồ đạc xuống đường, kệ ai muốn nhặt thì nhặt nhưng chẳng ai dám nhặt.

Em tôi kể thêm: “May hồi trước anh Khải về làm đám cưới với cô con gái thứ hai tiệm sách Thanh Trúc rồi đưa cô ấy sang Mỹ chứ không thì bây giờ bị kẹt, tiệm đó bị đánh, muốn cưới cũng chẳng được”.

Tôi ngạc nhiên:

“Sao, tiệm sách Thanh Trúc cũng bị đánh? Người ta bán sách chứ có làm gì đâu mà đánh?”.

“Có, cả nhà may Bảo Toàn cũng bị đánh, tiệm bị tịch thu, nghe đâu người ta đuổi ông bà ấy lên cái gác xép nhỏ tí mãi tuốt tầng ba trên lầu, bây giờ nghèo lắm”.

Bảo Toàn là nhà may lớn nhất Phú Nhuận, trước đây tôi thường may quần áo ở đấy nên cũng khá quen, ông bà Bảo Toàn rất tốt, đối đãi với khách hàng rất niềm nở, ân cần.

“Tiệm sách Thanh Trúc còn một cô con gái lớn nữa tên là Thanh. Cô có nghe nói gì về cô con gái lớn đó không?”.

“Họ nói cô ấy lấy chồng, có bầu, nhà chồng là một tiệm vàng cũng ở gần đấy.

Hôm đánh tư sản, cả hai tiệm bị tịch thâu, cô ấy buồn quá định tự tử nhưng người ta cứu được…”.

Miệng tôi đắng ngắt. Tôi nhớ đến hôm tiễn Khải ra phi trường, có cả cô chị cùng đi, cô thường đứng sát bên cạnh tôi, cái mùi son phấn thơm thơm sang trọng tôi không thể nào quên được.

Rồi chúng tôi được Ty Giáo dục Sông Bé – Dĩ An trước thuộc Biên Hòa, bây giờ thuộc tỉnh Sông Bé – cho đi học tập chính trị hè sau đó cho đi dạy lại. Nghèo lắm. Lương tôi trước 63 ngàn, bây giờ chỉ còn 41 đồng, nghèo không chịu nổi.

Rồi tôi lấy vợ. Nhà tôi cũng dạy cùng trường nhưng môn Anh văn, tốt nghiệp ĐHSP sau tôi 6 năm. Năm ấy tôi 32 tuổi.

Lương của hai vợ chồng cộng lại chưa đầy 80 đồng. Nhà tôi dạy thêm Anh văn buổi tối cho các học sinh gia đình sắp đi vượt biên hoặc được bảo lãnh. Còn tôi, lúc rảnh tôi dịch truyện bán cho các nhà xuất bản ở trên Sài Gòn, buổi tối giữ con cho vợ dạy học. Giáo viên chúng tôi anh nào cũng gầy như cò bợ, quần áo ngày trước mặc vừa, bây giờ rộng thùng thình, áo thì mặc được còn quần cài dây nịt dúm dím, mặc không được.

Một hôm tôi nghĩ ra cách là khi về nhà ở Phú Nhuận, Sài Gòn thì đem hai chiếc quần tây đến tiệm Bảo Toàn, leo lên cái gác xép tận trên lầu ba theo cái cầu thang bên cạnh, nhờ ông Bảo Toàn sửa lại giùm. Ông đo người tôi, xem kỹ hai chiếc quần tây rồi nói: “Sửa không được đâu. Bây giờ phải tháo hết các đường chỉ ra, ủi cho thẳng rồi cắt lại như cắt quần mới chứ sửa đâu có được”. Tôi hỏi giá cả, ông nói: “Ông là người quen, tôi tính ông mỗi chiếc ba đồng gọi là có thôi”.

Tôi mừng quá, cám ơn rối rít. Ông nói: “Ông thấy tôi khổ như vậy đó. Ngày trước tiệm tôi lớn nhất Phú Nhuận, ngay cả may đồ cho khách tôi cũng chỉ trông nom chứ đã có thợ, đâu phải nhúng tay vào. Bây giờ thì đi may lại chiếc quần, kiếm ba đồng bạc…”

. “Hình như tiệm sách Thanh Trúc bên kia cũng bị đánh tư sản như bên tiệm bác?”.

“Có chứ, tiệm nào hơi có máu mặt một chút mà chả bị đánh. Họ bảo bán sách là toàn các thứ phản động, đáng lẽ họ đuổi đi kinh tế mới nhưng cô Thanh cô ấy tự tử, họ cho cả nhà ở tạm cái bếp ở phía đằng sau”.

Rồi ông nói thêm:

“Nhà bà ấy cũng bị tịch thu hết, nghèo lắm. May nhờ có vợ chồng cô Trúc ở bên Mỹ gửi quà về nên mới sống được”. Tưởng tôi không biết gì về vợ chồng Khải, ông kể:

“Nghe nói người chồng cô Trúc đậu tiến sĩ kinh tế, trước làm trong cơ quan Liên Hiệp Quốc, sau làm giáo sư dạy đại học tại California”.

Rồi ông kết luận:

“Con người ta có số cả. Lúc lấy chồng, cô Trúc mới hăm mấy tuổi, gia đình lại khá giả nhưng vẫn quyết định đi, bây giờ đang bảo lãnh cho cả nhà sang bên ấy đấy. Tôi thấy họ đi được là đúng, gia đình bà ấy đối xử với ai cũng tốt lắm”.

Con người có số hay không tôi không biết, nhưng theo tôi nghĩ, câu chuyện giữa cô bé 16 tuổi tên Trúc và anh chàng học sinh nghèo tên Khải hơi giống chuyện cổ tích của một thời đã qua, nay khó có nữa.

Chuyện kể của Đoàn Dự

(Bài do K1 Bửu Hồng chuyển)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở CON NGƯỜI CÓ SỐ – Đoàn Dự

Tin thêm về Website chung HVCSQG

Tin thêm về Website chung HVCSQG

 

– Kính thưa NT Trần Minh Công, Nguyên Viện Trưởng Học Viện CSQG,
– Kính Thưa Quý vị Cựu Giảng Sư, Cán bộ HVCSQG,
– Thưa Anh Thái Văn Hòa, Anh Nguyễn Văn Diệp và Quý bạn đồng môn các Khóa HVCSQG

Lời đầu tiên tôi xin cám ơn NT Trần Minh Công và các bạn đồng môn đã thương mến tín nhiệm đề cử tôi (K1 Nhữ Đình Toán) là người sẽ đại diện Tập Thể Cựu SVSQ Học Viện CSQG để thành lập và điều hành một trang nhà (website) chung chính thức cho Đại Gia Đình Học Viện CSQG theo như ước nguyện của NT Trần Minh Công cũng như một số Niên Trưởng và Cựu Giảng sư Học Viện.

Trước sự ủy nhiệm và thương mến này, trong lúc đã và đang tham khảo một số đồng môn và thân hữu để xúc tiến việc ‘design’ trang nhà HVCSQG thì tôi nhận được thư (email) của NT Trần Minh Công để nghị tôi liên lạc với anh Diệp để nếu có thể đề nghị anh Diệp “nhường” lại website HVCSQG của anh cho Tập Thể Học Viện để tránh tình trạng có 2 website trùng tên thì không hay và để bảo tồn sự đoàn kết giữa anh em cùng một Trường Mẹ. Điều này cũng nói lên sự đoàn kết của Gia Đình HVCSQG nói riêng và LL/CSQG nói chung.

Nhận được lời đề nghị của NT Trần Minh Công, lúc đầu tôi cũng e ngại, nghĩ khó mà anh Diệp chịu “nhường” lại cái website mà anh đã tốn nhiều công sức gây dựng từ nhiều năm qua. Tuy nhiên, trước sự đề nghị tha thiết có tình có lý của NT Công, tôi đã email cho anh Diệp và sau đó đã nói chuyện bằng điện thoại với anh Diệp về vấn đề này và thật bất ngờ anh Diệp đã vui vẻ nhận lời sẽ cộng tác với tôi trong việc điều hành trang website này với một số cải tiến về hình thức và nội dung theo đề nghị của tôi.

Trước thiện chí của anh Nguyễn Văn Diệp (K3) như vừa nêu, tôi rất vui mừng xin thông báo đến NT Trần Minh Công, Quý Thầy và toàn thể các bạn đồng môn Cựu SVSQ/HVCSQG, sắp tới chúng ta sẽ có một trang nhà chung cho Tập Thể Học Viện CSQG. Trang nhà này là trang nhà Học Viện CSQG cũ (của anh Diệp) nhưng sẽ được làm mới lại trong những ngày sắp tới. Tôi sẽ chịu trách nhiệm về phần nội dung, còn anh Diệp sẽ giúp về phần kỹ thuật. Tôi sẽ mời thêm một vài bạn phụ giúp việc điều hành, kỹ thuật hoặc tham vấn để trang web ngày một hay và hấp dẫn, đáp lại lòng mong mỏi của Quý Thầy và Quý Bạn. Trong khi chờ đợi, xin quý vị cho chúng tôi một thời gian để Ban Kỹ Thuật chúng tôi chuẩn bị mọi công tác cần thiết.

Kính thưa NT Trần Minh Công và Quý Vị,

Theo suy nghĩ chủ quan của tôi, đây là một tin vui cho Tập Thể Học Viện CSQG. Xin tất cả chúng ta hãy ghi nhận thiện chí của anh Diệp và hoan hô tinh thần vì tập thể của anh. Mọi khúc mắc, hiểu lầm, hay tranh cãi trong quá khứ xin không nhắc lại nữa. Riêng về lệ phí trang web, anh Diệp cho biết anh đã thanh toán đầy đủ; trong tương lai khi cần ‘renew’ hàng năm chúng tôi sẽ thông báo sau. Về số tiền này, ngay sau lá thư trước của tôi nêu ra, đã có nhiều mạnh thường quân lên tiếng sẵn sàng ủng hộ cho chi phí này; cụ thể trong số đó có NT Trần Minh Công, K3 Nguyễn Văn Diệp, K4 Liu Hậu Sâm, các bạn Cựu SVSQ Bắc CA, một K4 ẩn danh, và nhiều đồng môn khác.

Vài hàng xin kính thông báo đến NT Trần Minh Công và toàn thể quý vị.

Thân kính,

K1 NHỮ ĐÌNH TOÁN

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Tin thêm về Website chung HVCSQG

Thơ Xướng Họa: HẬU BẦU CỮ

Xướng: HẬU BẦU CỬ MỸ

Cờ Hoa bầu cử đã xong rồi
Chiếc ghế tông tông nay đổi ngôi
Bác Bảy núp hầm nhưng vẫn thắng
Ông Trâm xông xáo thế mà toi
Cộng Hòa bại bởi RINO* phá
Dân Chủ thắng nhờ đám RATS** hôi
Thêm Bọn Lờ Mờ ra sức quậy
MAGA đành phải bị thua thôi.

CX
* RINO = Republic In Name Only = Cộng Hòa gỉa hiệu
** RATS = DemocRATS viết tắt ám chỉ giống như lũ Chuột

Họa 1: CHỜ COI

Coi vậy mà chưa phải đã rồi
Biden hổng chắc vững trên ngôi
Lơ ngơ xe cộ thường đi đứt
Lụm cụm cầu thang dễ chết toi
Chức tước gian manh bằng kế bẩn
Thanh danh ô uế tựa bùn hôi
Lưới trời lồng lộng không sao thoát
Ác báo thế nào cũng thấy thôi .

Cóc Chát

 

Họa 2: KỲ THỊ CHỦNG TỘC

Kỳ thị ngang nhiên thấy rõ rồi
Chúng mình đâu có lấn dành ngôi
Ra đường lạng quạng hung thần đánh
Dạo chợ lang thang chúng chém toi
Cảnh giác tầm nhìn loài quỉ dữ
Trông chừng hướng ngắm lũ tanh hôi
Phòng thân cẩn thận bà con nhé
Gây sự xin đừng thiệt mạng thôi

C/Ư

Họa 3: CƯỚP CẠN VƯƠNG TRIỀU 

Bầu cử xem như chuyện đã rồi 
Nhưng mà chú Bảy chẳng yên ngôi
Tuổi già đường thẳng đi còn mệt 
Sức yếu cầu thang chạy để toi ?
Chức trọng mưu toan đầu óc bẩn 
Quyền cao xảo quyệt bản thân hôi
Làm sao thoát được lưới trời rộng
Cướp cạn vương triều phải trả thôi

Cóc QT-TP

Họa 4: TIẾC THAY

Tà gian đã thắng nghĩa nhân rồi
Cái Ác giờ đây chiếm đoạt ngôi
Luật pháp ai ngờ bao kẽ hở
Kiện thưa nào biết chỉ công toi
Người khôn vẫn bại tay thằng ngốc
Mãnh hổ đành thua lũ cáo hôi
Công nghiệp tan tành trong phút chốc
Còn chăng nuối tiếc mãi không thôi

CCR

Họa 5: THỜI LOẠN

Trời ơi nước mất nhà tan rồi
Dựng Cụ Bai Đần lên tiếm ngôi
Sắc lệnh luôn tay dương mắt ký
Biên phòng thả cửa mặt mày toi
Ngân hàng dự trữ đem phân phát
Thuế má tu vào ra sức hôi
Hi-tech truyền thông thì tráo trở
Ô là dân chủ loạn đi thôi./-

Cóc Ớt-TQN.

Họa 6: THỎA MỘNG ĐẾ VƯƠNG

Bảy Đần thỏa mộng đế vương rồi
Cướp phiếu đếm gian để đoạt ngôi
Nói trước quên sau đầu lú lẫn
Bước lên té xuống mạng e toi
Ngoại giao nịnh bợ bầy lang sói
Nội trị nuông chiều lũ chuột hôi
Không biết tuổi già còn sức bám ?
Hay là tại vị mấy năm thôi

CH

Họa 7: NÉM BÚT

Bầu cử năm nay chán quá rồi,
Bảy Đần lú lẫn được lên ngôi.
Gian manh kết hợp phường lòi tói,
Xảo trá tiêu lòn lũ mắc toi.
Đáng trách Voi to không gắn bó,
Ghê thay Chuột nhỏ lắm tanh hôi.
Hoa Kỳ đất hứa đâu còn nữa,
Thất chí, nên đành ném bút thôi.

CÓC CHAY

Họa 8: BIÊN GIỚI PHÍA NAM

Biên giới phía Nam lộn xộn rồi
Sau ngày anh Bảy ngự trên ngôi
Huênh hoang nói phét như con vẹt
Tuyên bố ba xàm dễ chết toi
Trong nước dân tình chưa ổn định
Bên ngoài tỵ nạn chực chờ hôi
Mong mau chận đứng đoàn người đó
Mỹ Quốc bình yên, chỉ vậy thôi.

CN-NCV

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thơ Xướng Họa: HẬU BẦU CỮ

Sự quan trọng của thẻ chích ngừa Covid

Mỹ: Tấm card chích ngừa covid nó quan trọng đến mức nào sau ngày 1 tháng 9 
nếu không có giấy này.

unnamed (7)

Tấm card chích ngừa covid lúc này trở thành tờ giấy rất quan trọng. Sau ngày mở cửa 1 tháng 9, 2021, nếu không có giấy này, có thể các bạn không được dùng các phương tiện công cộng, nhất là máy bay hay xuất cảnh. Nơi tôi ở hiện nay, có tấm card này mới được vào ngồi trong nhà hàng, nếu không có chịu khó ngồi phía ngoài.

Nếu các bạn đã hoàn thành việc chích ngừa, lấy phone ra lúc này, chụp lại tấm card, upload trong google hay Apple photo để có thể lấy nó lại dễ dàng khi cần. Việc thứ hai là gởi hình tấm ảnh card này đến bác sỹ của bạn để bác sỹ cập nhật hồ sơ chích ngừa của mình .

covid-19-vaccination-record-card-template-design-a5be14458898fba0ca24579d0d68307e_screenMột tấm thẻ chứng nhận tiêm chủng tại Bộ y tế và Dịch vụ Dân sinh

Các bạn có Kaiser vào immunization records cập nhật nếu các bạn không chích ngừa từ Kaiser.

Làm ngay việc này sáng này trước khi làm các việc khác.
Nhân tiện cũng có thể lưu giữ bằng lái xe hay passport luôn trong phone phòng lúc cần thiết.

Hiện nay nhiều nơi đã chấp nhận digital Image thay thế khi cần, điển hình nhất là vé máy bay. Nên nhớ đây là các giấy tờ quan trọng nên lúc nào phone của bạn cũng phải để chế độ bảo mật.

Dr. Leah Croll

March 23, 2021, 5:06 AM

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Sự quan trọng của thẻ chích ngừa Covid

Chuyện Cô Tiên của Buu Nguyen

CHUYỆN CÔ TIÊN


(Chuyện tình đẹp trước 1975 do Bữu Hồng sưu tầm và chuyển cho CNN)

unnamed (3)

Ba tôi qua đời bất ngờ năm 1964, nhỏ em út còn trong bụng Má. Tôi phải nghỉ học, tìm việc làm ngày đêm để phụ giúp Má tôi nuôi 6 đứa em còn nhỏ dại.

Đầu năm 1965, tôi được mời đến dạy kèm Toán cho cô con gái lớn một gia đình người Việt ở Nam Vang. Mỗi ngày 2 tiếng, từ 7 đến 9 giờ tối, từ thứ Hai đến thứ Sáu. Em học trường Providence, còn gọi là trường Bà Phước, lúc đó chỉ dành cho nữ sinh. Em nhỏ hơn tôi một tuổi nhưng mới ở lại Cinquième, trong khi tôi đã đậu Brevet d’Études du Premier Cycle hai năm trước.

Có lẽ vì là con gái nhà khá giả nên em hơi… làm biếng học, nhất là toán, géometrie và algèbre. Lúc đầu, tôi hơi nản lòng vì… em nhìn bài vở như thấy ma, tôi thường phải làm bài giùm em, nhưng từ từ em nghe lời tôi khuyên, chịu làm bài, chịu học bài, và được lên lớp mỗi năm.

Đầu năm 1968, em học Troisième, chuẩn bị thi Brevet. Tôi kèm em từng môn, giúp em làm những bài vở mà đúng ra tôi không cần giúp. Em trả ơn bằng cách mời tôi ở lại ăn cơm tối.

Tôi cho em mượn những quyển sách mà tôi đã học qua, trong một lần trả sách, em kèm theo tấm giấy chỉ viết một câu “cho moi làm amie intime của toi nha”. Tôi gật đầu vì sợ em giận, em không thèm học nữa. Từ đó, em hẹn tôi đi chơi cuối tuần, tôi cũng gật đầu với điều kiện là em phải xin phép Ba Má đàng hoàng và phải ráng học.

Tôi biết em thương tôi, tôi cũng thương em. Tôi gọi em là “cô Tiên” vì em có dáng dấp qua cầu gió bay, có bước đi lả lướt nhẹ nhàng như các nàng tiên nữ trong vũ khúc nghê thường, vì em đã mang đến cho tôi những cảm xúc mà người trần gian chưa từng cho tôi trước đó.

Những ngày mưa, không đi chơi được thì tôi ngồi hát em nghe bên mái hiên nhà:

Một chiều cuối tuần mưa bay lất phất và mây trắng giăng giăng
Em đến thăm anh vì trời mưa mãi nên không kịp về
Bên anh, em lặng nhìn bầu trời và ánh mắt mộng mơ
Sợ người yêu khóc, khe khẽ bên tai anh kể chuyện ngày xưa.

Chuyện xưa kể rằng trên thiên giới ấy ngày vui kết hoa đăng
Thiên Quốc đang vui một nàng tiên nữ làm rơi ly ngọc ngà
Đang say nên trời bèn đọa đày nàng tiên xuống trần gian
Làm người dương thế không biết bao lâu mới được quay về trời.

Em ơi nàng tiên ấy xuống dương trần một chiều mưa bay nhiều
Và vì thương trần thế, thương kiếp sống phong sương
Nên dù rằng một hôm Thiên Quốc trời sai
Gom mây hồng làm xe đưa tiên về
Tiên nói dối tiên còn đang giận trời nên tiên chẳng về đâu.

Nàng tiên giáng trần không đôi cánh trắng giờ đang ngắm mưa bay
Đang đứng bên anh thầm cầu mưa mãi cho tiên đừng về
Anh ơi lỡ mà trời gọi về thì tiên chẳng về đâu

(Bài hát “Huyền Thoại Một Chiều Mưa”)

https://www.youtube.com/embed/vNlD5a2CSVA

Nhưng tôi luôn nhớ mình là con trai nhà nghèo, chỉ có chiếc Mobylette cà tàng làm chân đi kiếm cơm mỗi ngày. Em là con gái nhà khá giả, đi học có xe đưa rước, về nhà không làm động móng tay vì đã có chị bếp, chị bồi, chị vú lo toan mọi việc. Nếu hai đứa thành vợ thành chồng, em cực thân là cái chắc.

Trong một lần kề vai nhau đi quanh công viên Chùa Tháp, trời bỗng dưng mưa. Tôi bật dù che hai đứa nhưng mưa càng lúc càng nặng hột, em bỗng xoay người lại ôm hôn tôi dưới mưa. Tôi than thầm trong bụng “gặp oan gia truyền kiếp rồi”.
Năm đó, em thi đậu Brevet và tôi nghỉ dạy vì vừa xin được cái job thư ký kế toán ở hãng L’UCIA, Nam Vang.

Lúc trước gặp nhau 5 ngày mỗi tuần, có nhiều thì giờ để nói với nhau những gì muốn nói. Giờ phải chờ đến cuối tuần mới được gặp nhau vài tiếng, nhớ ơi là nhớ. Tôi bắt đầu làm thơ “nhớ em”…

Nhớ lúc xưa kia mới biết nhau
Rồi thương rồi nhớ suốt đêm thâu
Ðêm nào cũng vái cho mau sáng
Nhớ quá trời ơi! Nhớ phát rầu.

Nhớ những chiều em qua phố vắng
Dáng hồng xen lẫn bóng hàng cau
Mân mê vạt áo, em e lệ
Những lúc anh nhìn, má đỏ au.

Nhớ lúc mình đan tay đếm bước
Em run run hỏi: – Sẽ ra sao ?
Anh cười, anh nói như đinh đóng:
– Anh sẽ yêu em đến bạc đầu!

Đưa bài thơ cho em, em bỏ túi nói sẽ về nhà đọc. Tuần sau gặp nhau, em không nhắc gì về bài thơ của tôi mà hỏi tôi nghĩ gì về cuộc sống hai đứa sau này.
Tôi nói là nhà tôi nghèo, em nói em biết rồi, tôi phải đi làm giúp Má nuôi các em còn nhỏ, em nói em cũng biết rồi, nếu mình cưới nhau thì em sẽ cực thân hơn là sống với Ba Má em…

Em trả lời làm tôi chưng hửng “hiện nay, cái khổ nhất mà “moi” phải chịu đựng hàng ngày là nhớ “toi”, cái cực nhất mà moi phải chịu đựng hàng ngày là làm sao để gặp toi sớm hơn, nên moi không sợ gì cả. Trời sanh voi sanh cỏ”.

Tôi khuyên em nên kiên nhẫn, nói cho em hiểu lúc này là thời gian đẹp nhất trong cuộc tình hai đứa, cái nhớ cái thương bây giờ sẽ làm mình gắn bó nhau hơn sau này…

Em nghe lời tôi và chuyện hẹn hò của chúng tôi kéo dài cho tới đầu năm 1970.
Tướng Lon Nol lật đổ vua Sihanouk, tự phong là tổng thống xứ Kampuchea (Cao Miên).

Một số người Miên quá khích thừa nước đục thả câu, “cáp duồn” (nghĩa là chặt người Việt) lẻ tẻ. Đang đêm, họ đến gõ cửa nhà người Việt ở những vùng thôn quê hẻo lánh. Một số người Việt không may đã bị họ cha.t đầu, xa’c thả trôi sông về tới Tân Châu, Hồng Ngự… Nhiều người Việt có chút của ăn của để ở Cao Miên bán tháo tài sản để về Miền Nam Việt Nam lánh nạn. Ba Má em cũng không ngoại lệ.

Em gặp tôi bàn chuyện này. Tôi đem việc này hỏi ý kiến ông giám đốc hãng L’UCIA. Ông giám đốc đưa hai đứa tôi về biệt thự do hãng mướn cho ổng ở trên đại lộ Norodom, ngay trung tâm thủ đô Nam Vang. Ổng nói: “nhà tao có 2 người bồi bếp, có 2 con chó berger giữ nhà. Nhà có 5 phòng, tao ở chỉ một phòng. Nếu hai đứa thấy ở nhà mầy không an toàn thì đến đây ở với tao. Tao tin tưởng và cần thằng B. giúp tao giữ gìn sổ sách của hãng nên hai đứa mầy muốn ở phòng nào, muốn ở bao lâu cũng được”.

Nghe vậy, chúng tôi yên tâm và quyết định ở Nam Vang dù Ba Má em có về Sàigòn.

Em về xin Ba Má cho hai đứa làm đám cưới. Má em có cảm tình với tôi nên gật đầu. Ba em im lặng vì biết tôi nghèo, sợ con gái cưng của ông sẽ cực khổ khi về làm vợ tôi. Em nói với Ba Má em “nếu Ba Má không tổ chức đám cưới cho hai đứa con, tụi con sẽ tự lo. Con muốn làm vợ anh B. danh chánh ngôn thuận”.

Và hai đứa tôi tự tổ chức lễ cưới của mình.

Sáng ngày 24/02/1970, Má tôi và tôi mang trầu cau và phẩm vật đến xin cưới em. Chúng tôi lạy bàn thờ tổ tiên nhà em, xin quý ngài chứng giám cho chúng tôi thành vợ thành chồng. Tôi mướn xe Mercedes để rước “cô Tiên” xuống trần.

Tối đến là tiệc cưới tại nhà hàng La Lune, đối diện State Olympic, với 200 quan khách, họ hàng và bạn bè nhà trai, nhà gái. Dĩ nhiên là có nhạc sống do mấy tên bạn tôi tự mang đồ nghề đến giúp vui. Đêm đó, hai đứa tôi khiêu vũ và cụng ly với bạn bè gần tới sáng.

Sau ngày chúng tôi thành hôn thì tình hình chính trị giữa hai nước Kampuchea và Miền Nam Việt Nam biến chuyển dồn dập. Ông bà nhạc tôi và gia đình bay về Sàigòn vài ngày sau đó. Vợ chồng tôi vẫn ở Nam Vang. Tôi vẫn đi làm ở L’UCIA .

Khi xa’c nhiều người Việt trôi về tới Hồng Ngự, Tân Châu, ông Nguyễn Cao Kỳ – lúc đó là Phó Tổng Thống VNCH – ra lệnh cho Quân-đoàn 3 tràn qua biên giới, lấy cớ là để “bảo vệ kiều bào VN”. Trung tướng Đỗ Cao Trí nhận lệnh với lời tuyên bố làm chấn động chính phủ Cao Miên: “Cho tôi 24 tiếng, tôi sẽ chiếm Nam Vang”.

Ông Lon Nol nghe muốn té đa’i. Mới làm tổng thống có mấy ngày, nếu để QLVNCH chiếm Nam Vang thì mất mặt bầu cua. Ông gọi điện năn nỉ chính phủ VNCH đừng chiếm Nam vang nên Quân-đoàn 3 dừng lại ở Neak Luong (người Việt mình gọi là Hố Lương), một bến phà chỉ cách Nam vang 60 cây số.

Nghe tin QLVNCH tràn qua biên giới, cả trăm ngàn kiều bào VN ở Cao Miên, trong đó có vợ chồng tôi, bỏ tất cả tài sản, dắt díu nhau vào các trại tị nạn. Các sân trường trung học, chùa, nhà thờ bỗng trở thành những trại tị nạn khổng lồ. Vợ chồng tôi vào trường Seminaire, nơi tôi đã học năm cuối chương trình Tú tài Pháp hai năm trước.

Trong trại Seminaire, người ta chia ra nhiều nhóm, mỗi nhóm 10 gia đình, trước hết là để lãnh nước uống, sau là thức ăn, lúc đó chỉ có khô cá lóc do Red Cross cung cấp. Tôi làm trưởng nhóm 31.

Đầu tháng 5/1970, ông Nguyễn Cao Kỳ bay lên Nam Vang, nói là thăm xả giao tướng Lon Nol nhưng thật sự là đi thanh tra các trại tị nạn. Tối đêm trước, tôi và các trưởng nhóm được lệnh phải thu tất cả những những gì có thể coi như là vũ khí gồm dao, gậy,… và cùng nhiều người thức gần sáng đêm để dựng cái sân khấu dã chiến.

Khi ông Kỳ vào trại Seminaire, ông đến từng lều, bắt tay và hỏi thăm từng người. Điều làm mọi người chú ý là 2 anh đại-úy cận vệ. Họ cao hơn ông Kỳ 1 cái đầu, mặc đồ bay, mang súng ngắn dưới nách, nhưng không cản trở khi kiều bào đến bắt tay, thậm chí ôm hôn ông Kỳ.

Ông Kỳ lên sấn khấu, nói vài lời thăm hỏi xã giao rồi hứa: “Tôi sẽ đưa tất cả đồng bào về quê hương!”

Ông nhận được những tràng pháo tay như sấm động của mấy ngàn người trong trại Seminaire. Nhiều bà lão bò ra khoảng trống trước sân khấu lạy ông Kỳ như tế sao.

Vài ngày sau, chúng tôi được phát thịt heo lần đầu, dù không ai biết ai cho nhưng mọi người nghĩ là từ chính phủ VNCH. Tuần sau, một đoàn “tàu há mồm” của Hải quân VNCH cặp bến sông Mekong.

Danh sách từng nhóm được gọi để rời trại xuống tàu về nước. Vợ chồng tôi thuộc danh sách thứ 31 nên gần cuối tháng 5/1970 mới được rời trại. Sau 1 ngày lênh đênh trên sông Tiền (hay sông Hậu?) thì về tới trại Đồng Tâm, Mỹ Tho, lúc đó là hậu cứ của Sư-đoàn 7 BB.

Vợ chồng tôi chỉ ở trại Đồng Tâm 5 ngày. Làm giấy tờ nhập cảnh xong thì Ba em lái xe xuống rước về Sàigòn.

Cuộc sống chúng tôi từ ngày về Sàigòn không còn… tà tà như lúc ở Nam Vang. Cũng như tất cả Việt kiều hồi hương lúc đó, tôi được hoãn dịch 18 tháng. Thời gian không nhiều nên tôi làm ngày làm đêm. Em cũng đi làm. Cuối tuần hai đứa đưa nhau đi ăn mì xào dòn, hay ăn nghiêu luộc.

Mỗi tối đi đàn về, tôi chạy thẳng vô Chợ Lớn mua cho em cái bánh bao Ông Cả Cần của Bà Năm Sa-Đéc. Lúc này em không còn thơ thẩn, mà ngược lại… em ăn rất bạo. Dù không nói ra, tôi biết em đang chuẩn bị cái bụng cho đứa con đầu lòng của chúng tôi, dù không biết lúc nào nó sẽ tượng hình.

Nhiều người trong gia tộc hai bên thường trề môi nói “thằng B. con nhà lính tính nhà quan, mới ở Nam Vang về tay trắng mà vợ nó muốn gì được nấy”….

Mấy người này không biết là lúc còn độc thân, tôi đã đọc một câu định nghĩa “người phụ nữ lý tưởng” của 1 người đàn ông như sau: “Người phụ nữ lý tưởng của một người đàn ông là người bạn, người tình và là người vợ của người đàn ông đó”.

Hồi đọc câu đó, tôi chưa gặp cô Tiên nên tôi đã tự hỏi ngược lại là “tôi có thể vừa là người bạn, vừa là người tình, và là chồng của vợ tôi không”. Ông nào muốn biết cái vụ này nó khó cỡ nào cứ thử cua một cô bạn gái rồi cưới cổ về làm vợ thì sẽ hiểu câu… “chưa thấy quan tài chưa đổ lệ”.

Nhưng khi gặp rồi thương yêu cô Tiên, cái định nghĩa xưa tự nó cho tôi lời giải đáp.

Lúc mới thương nhau, tôi thường kể em nghe chuyện bồ bịch của tôi lúc trước. Em chẳng những không ghen hờn, mà còn góp ý đôi khi rất tiếu lâm, rồi hai đứa cười hí hí. Lúc hai đứa đi chơi, gặp cô nào có “ngực tấn công, mông phòng thủ” là tôi hay quay lại nhìn, em im lặng nắm tay tôi, đợi cô đó đi khỏi tầm mắt mới hỏi “bộ toi hổng thấy cổ đi hai hàng hả?”. Khi vào tiệm bán sách, tôi có cái tật (hổng biết xấu hay tốt) là đứng hơi lâu trước mấy cái đặc san người lớn như PlayBoy. Em im lặng đứng bên tôi, đến khi rời tiệm sách em mới phê bình… “nhỏ này vú đẹp, cô kia mông teo…”. Chỉ khi đến kệ bày mấy cuốn Salut les Copains, em mới thò tay lựa cuốn mới nhất và tự ra quầy trả tiền.

Em chưa bao giờ bắt tôi trả tiền những gì em mua cho riêng em. Em chưa bao giờ lớn tiếng hay dùng lời lẽ không lịch sự với bất cứ ai, dù đôi khi tôi hay ai đó vô tình hoặc cố ý làm em giận.

Ba em nói với em “Ba thấy nó đi nhảy đầm, tay trái một con, tay mặt một con”. Em trả lời “những gì ảnh làm lúc còn độc thân là quyền của ảnh, con không cần biết (thật ra tôi đã kể em nghe hết rồi). Chỉ cần biết hiện giờ hai đứa con thương nhau thật lòng là được rồi”.

unnamed (4)

Em có cách hôn, chỉ phớt nhẹ, làm tôi hồn phi phách tán. Khi thấy tôi buồn, em cầm tay tôi, xoa nhè nhẹ lên mu bàn tay, khiến tôi quên hết mọi phiền não. Sau này thành vợ thành chồng, em vẫn là người tình tuyệt vời. Em biết cách làm tôi quên những nghiệt ngã mà tôi đã trải qua trong ngày hôm đó.

Em biết tiết kiệm, vén khéo với số tiền mà chúng tôi kiếm được. Em không se sua, dù luôn ăn mặc thanh lịch. Mỗi lần hai đứa ra đường là tôi phải ngó trước nhìn sau, coi có tên nào nhìn lén em không. Khi đứa con đầu lòng của chúng tôi chào đời năm 1972, em tự nguyện bỏ bớt chuyện mua sắm cho riêng mình, để có đủ tiền cho con chúng tôi bú sữa Guigoz 3 năm liên tục.

Cô Tiên đã là một người bạn, một người tình và là người vợ tuyệt vời của tôi.
Được một người vợ như cô Tiên, em muốn gì được nấy không có gì quá đáng.
Bán nhà cho em cũng được, huống chi là ba cái lẻ tẻ.

Tháng 4/1972, tôi hết hạn hoãn dịch, phải đi lính cho tới ngày tan hàng.

Sau 75, có ngày hai đứa phải ăn sáng bằng… cơm nguội, nhưng em luôn dành 1 hoặc 2 đồng cho con chúng tôi có gói xôi nóng hay tô cháo huyết.

Cực nhất là lúc chúng tôi về quê tôi sống từ năm 1976 đến năm 1979. Má tôi cho 2 công ruộng và nửa công vườn, đủ cho gia đình chúng tôi sinh sống, không cần phải đi làm mướn, làm thuê. Nhưng không may là hai năm 77-78, lũ lụt tràn vào ngập ruộng trước khi lúa chín. Nông dân vùng Tân châu đói thể thảm. May mà tôi cất nhà sàn, cao khoảng 1.5m, nên nước ngập lé đé sàn nhà.

Nhiều nông gia ở nhà đất, phải kê tủ giường lên cao, có người kê giường tới gần đụng nóc nhà.

Mỗi ngày, cô Tiên ngồi trên sàn nước, miệt mài câu từng con cá chốt, cá sặc, cá lòng tong. Tôi không dám nhìn lâu. Đến bữa ăn chỉ có món cá kho thập cẩm vậy mà thằng con khen “má kho cá ăn ngon”. Tôi mắc nghẹn từng hồi. Rồi cũng qua.

Ở quê, em không cho con đi học, nói mấy ổng dốt mà dạy cái gì! Vợ chồng tôi thay nhau dạy con nói và viết tiếng Việt, tiếng Pháp. Bài học tiếng Việt đầu tiên là bốn câu thơ của ngài Lý Thường Kiệt :

Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên phận định tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.

Tiếng Pháp thì chúng tôi dạy con nói và viết những câu chào hỏi thông thường, không ngờ khi qua Úc nó học tiếng Anh nhanh hơn những bạn tị nạn khác nhờ tiếng Pháp và tiếng Anh có nhiều chữ giống nhau.

Qua năm 79, tôi trúng mùa. Bán mấy chục giạ lúa, thêm chút tiền dành dụm, mua được cái ghe nhỏ, tính chuyện lớn. Khoang ghe chỉ vừa đủ cho hai người lớn và một đứa nhỏ chen vai nhau ngủ. Tôi không biết chèo, tập cả tháng sau mới chèo được 2 chèo. Em không biết lội nhưng nhất quyết đòi đi đến những nơi có thể cho chúng tôi thấy được tương lai. Em nói “mình đã sống mấy năm ‘có miệng không nói lại câm, hai hàng nước mắt chan dầm như mưa’. Đủ rồi, phải đi tìm tương lai cho mình và cho con”.

Vậy là đi. Chèo từ Tân châu tới Long xuyên mất hai ngày. Nghỉ xả hơi một ngày rồi chèo tiếp tới Ô Môn, Cần Thơ, Ngã 7, Sóc Trăng, Hộ Phòng, Gành Hào, và sau cùng là ngã 3 cây Tàn. Ở ngã 3 cây Tàn hơn 1 tháng vì có người mướn tôi đào ao nuôi cá. Đào ao 1 tháng được 2 giạ gạo và một mớ tiền. Chúng tôi trở ra Gành hào vì thấy nơi này là nơi lý tưởng để ra đi. Tôi giấu dưới khoang ghe cái máy đuôi tôm, thường ngày không dám sử dụng, sợ người ta dòm ngó, định khi nào đi mới xài.

Ở Gành Hào đêm trước, thì đêm sau bị bão.

Mưa như trút nước, sấm chớp đầy trời. Chiếc ghe tôi lắc lư như người say rượu, nửa đêm đứt dây buộc sào trôi ra giữa sông. May là lúc đó nước lớn, nước từ ngoài biển đổ vô sông, nếu ngược lại thì có thể bão đã đưa chúng tôi qua Thái Lan hay hổng chừng… vô bụng cá. Tôi cột sợi dây quanh bụng, cố gắng lội vô bờ.

Hình như… lúc không còn cái gì để sợ nữa thì mình mạnh hơn bình thường nên tôi đã kéo chiếc ghe tới dưới dạ cầu chợ Gành hào. Buộc dây ghe lại đàng hoàng là tôi ngã lăn ra thở dốc, lạnh run cầm cập. Em lau mình cho tôi và đưa tôi cái bánh bía, hổng biết em mua lúc nào, đúng là cô Tiên. Ăn cái bánh bía đêm đó, hương vị thơm ngon còn phảng phất tới bây giờ.

Bye bye Gành hào, tôi gắn máy đuôi tôm chạy về Long Xuyên. Chúng tôi ở Long Xuyên gần 3 năm. Tôi làm bất cứ chuyện gì, miễn là lương thiện, để có tiền nuôi vợ con. Có lúc đạp xe lôi, có lúc vác lúa gạo ở các nhà máy xây lúa, có lúc làm tạp nhạp.

Đến tháng 2/1982, em tìm được đường dây ra nước ngoài vừa với khả năng của vợ chồng tôi lúc đó. Cái may là chúng tôi chỉ đi một lần là tới Mã Lai. Ở Bidong 1 tháng rưỡi là được phái đoàn Úc nhận. Qua trại chuyển tiếp Sungei Besi2, ngoại ô Kuala Lumpur để khám bệnh, bổ túc hồ sơ. 3 tháng rưỡi sau là chúng tôi có list đi Úc.

unnamed (5)

<img class=”aligncenter” src=”https://i.imgur.com/4RiJLFd.jpg” />

Chụp với vợ chồng ông quản lý Trung tâm tạm cư Tamarind, trong lễ Giáng sinh đầu tiên tại Úc năm 1982.

Vài ngày sau khi đặt chân lên đất Úc, lúc đó chúng tôi chỉ biết tiếng Pháp chưa biết tiếng Anh. Em nói với tôi “moi không thích nhờ thông dịch, nhà mình phải có một người giỏi tiếng Anh, toi phải đi học. Moi sẽ đi làm nuôi toi và con”! Nghe ghê chưa?

Mà em cũng không biết tiếng Anh thì đi làm cái gì? Em quên mình từng là một tiểu thơ được cơm bưng nước rót, em quên mình từng đi học có xe đưa rước, em quên mình là… cô tiên của tôi,. nên ai mướn gì làm nấy. Quét dọn nhà cửa cho người Úc, chăm sóc con em của đồng hương, làm chả giò bán sĩ (không biết em học ở đâu mà làm chả giò và đổ bánh xèo ngon nhất Darwin).

Tôi cũng đi làm ban ngày, đi học ban đêm. Bảy năm ròng rã, tôi lấy được 2 cái Certificates về kế toán và quản trị địa ốc và xin được cái job “Security Administrator” tại trường đại học Charles Darwin University ở Darwin đầu năm 1985. Tôi làm việc tại CDU liên tục hơn 27 năm, đến khi nghỉ hưu cuối năm 2012.

Em không đi học tiếng Anh một ngày nào nhưng sau này… lại làm thông dịch cho bạn bè, nhiều nhất là mấy cô lấy chồng Úc, mới qua Úc chân ướt chân ráo, tìm đến em nhờ giúp đỡ. Em chở họ đi làm hồ sơ nhập cư, điền đơn xin tiền an sinh xã hội… Bà xã tôi thương đồng hương nên ai nhờ thì giúp, cứ ăn cơm nhà vác ngà voi, không đòi hỏi ai phải trả đồng bạc nào dù biết làm thông dịch cũng được trả tiền. Mấy cô vợ Úc thương em lắm, cuối tuần là ghé nhà tôi xào xào nấu nấu … thật vui.

Hỏi em mới biết, em học tiếng Anh bằng cách theo dõi các chương trình Play School trên TV. Chương trình này dạy con nít Úc nói/viết tiếng Anh để chuẩn bị vô mẫu giáo. Em đọc báo tôi mang về mỗi ngày. Không hiểu chữ nào, đoạn nào thì em hỏi tôi hay tra tự điển.

Tiếu lâm nhất là khi bà hàng xóm nhờ em làm thông dịch. Bà này gốc Ý (Italy), có chồng gốc Tây Ban Nha (Spain). Bà ta đến Úc theo diện vợ chồng năm 1978 và không đi học ngày nào. Khi rảnh rỗi bà ta qua nói chuyện với bà xã tôi. Bà ta nói “broken english” với giọng Ý nên tôi và mọi người không ai hiểu cả. Vậy mà bà xã tôi hiểu nên mỗi lần bà hàng xóm cần đi bác sĩ, hay bất cứ cơ quan công quyền nào ở Darwin là qua năn nỉ nhà tôi theo làm thông dịch.

Một năm sau ngày đến Úc, tôi được bầu làm tổng thư ký Hội Người Việt Tự Do tại Darwin, sau đổi tên thành CĐNVTD Bắc Úc cho tới bây giờ. Tôi dính với các sinh hoạt của CĐ mình cho tới năm 2017 mới rút chân ra được. Suốt thời gian này, bất cứ tôi làm cái gì đều có sự giúp đỡ, yểm trợ khi công khai khi âm thầm của cô Tiên.

Đứa con thứ hai của chúng tôi chào đời năm 1984 tại Darwin. Nhìn em cho con bú, tắm rửa cho con, nâng niu thằng nhỏ như vàng như ngọc, tôi nhớ lại những ngày hai đứa mới thương nhau, mỗi lần bên nhau là bàn chuyện mai này… tôi viết bài thơ tặng em.

Một chiều lãng đãng ánh tà dương
Em kể anh nghe chuyện mộng thường
Đôi mắt em nhìn xao xuyến quá
Như sao lấp lánh một trời thương.

Từ đó đời mình hết lẻ loi
Đan tay qua phố bước chung đôi
Em cười rạng rỡ như tiên nữ
Tiên nữ của anh – cũng được rồi.

Từ đó đời mình ươm ước mơ
Từng đêm anh cắn bút làm thơ
Mỗi dòng ôm ấp ngàn thương nhớ
Thương nhớ lớn theo nổi đợi chờ.

Từ đó mình bàn chuyện lứa đôi
Mai này, mình có hai con thôi
Trưởng nam, phần nó lo hương hỏa
Em nó, cô Ba – có rượu mời.

Từ đó mình bàn chuyện cưới nhau
Anh giành chọn áo cưới cô dâu
Màu vàng, hoàng hậu lòng anh đó
Em nói : – Màu hồng, áo cô dâu!

Từ lúc về làm vợ của anh
Âm thầm mình kết mộng ngày xanh
Trưởng nam bật khóc, cưng như ngọc
Đứa kế trai luôn, quý tựa vàng.

Nhiều đêm nằm gác tay lên trán
Anh cám ơn Trời, cám ơn em
Bảy nổi ba chìm mình chẳng ngán
Vì em có anh, anh có em.

Từ năm 2005 đến năm 2015, chúng tôi tổ chức những bữa ăn cứu trợ Thương Phế Binh còn sống khổ sở nơi quê mình bằng cách… tổ chức BBQ tại nhà tôi. Thức ăn do bà xã tôi và vài người bạn thân cùng chung sức nấu nướng, tôi bỏ tiền túi mua bia và nước giải khát. Ăn uống free. Tôi để 1 cái “Thùng Cứu trợ” trên bàn, ai cho bao nhiêu, tôi gởi về VN giúp anh em thương phế binh bấy nhiêu, theo tiêu chuẩn mỗi người 100 Úckim.

Vì số người Việt ở Darwin rất khiêm nhường, chỉ có vài trăm người, nên lúc đầu chỉ được vài ngàn. Từ từ, bà con tin tưởng nên khi có dịp đi ngang nhà tôi là họ bỏ tiền vô thùng thơ, không đợi đến Bữa ăn Cứu trợ.

unnamed (6)

<img class=”aligncenter” src=”https://i.imgur.com/lXXc8VU.jpg” />

Gõ máy tới đây, bỗng nhiên làm biếng… không muốn gõ máy nữa, vì đang nhớ cô Tiên, nhớ quá xá nhớ.

Cô Tiên của tôi đã về trời sau khi đã cùng sống chung với cha con tôi 43 năm, 3 tháng, 27 ngày hạnh phúc. Em quy tiên sau một cơn bạo bệnh. Từ một người mạnh khỏe bình thường, đúng 5 tuần sau thành người thiên cổ.

Trong những ngày cuối của cuộc sống nơi dương thế, khi thấy hai con đứng nhìn em, nước mắt lưng tròng, em cầm tay con lắc lắc, mỉm cười nói: “Chúa cũng chết, Phật cũng chết, thì Má cũng chết. Má đã trả xong món nợ ân tình với Ba con và các con thì Má đi. Con trai khóc… xấu lắm”. Con tôi quẹt nước mắt… miệng cười méo xẹo.

Trong Hospice Hospital, nơi dành cho những bệnh nhân… “terminally ill”, mỗi ngày có y tá đến đánh răng và lau mình cho em. Có một lần em cám ơn họ “Thanks so much for keeping my body clean. I know it’s shutting down”. Cô y tá người Úc trợn mắt nhìn em, rưng rưng nước mắt. Sau này, cô nói với tôi “Tao chưa thấy ai sắp chết mà còn lịch sự và tỉnh táo như vợ mầy”.

Khi biết mình sắp trả xong cái nghiệp ở dương gian, em nắm tay tôi dặn dò phải tổ chức tang lễ em như thế nào. Thỉnh vị tăng ni nào chủ trì tang lễ, xong phải hỏa thiêu và chỉ giữ tro cốt 100 ngày. Sau đó mang tro cốt em rải trên sông Parramatta, đoạn gần Opéra House ở Sydney, là nơi em thích đi dạo mỗi lần đi thăm con. Em nói nhỏ nhẹ như đang lo tang lễ của ai khác. Tôi chỉ biết im lặng gật đầu, ráng kềm cho nước mắt đừng chảy ra. Tôi đã làm đúng theo lời em dặn.

Từ ngày cô Tiên về trời, cha con tôi đứt ruột đứt gan, tan nát trong lòng. Tôi đã sống những ngày như người chết chưa chôn.

Câu chuyện kể thật của Buu Nguyen

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Chuyện Cô Tiên của Buu Nguyen

Khả năng Trung Quốc tấn công Đài Loan cao hơn mọi người nghĩ

Đô đốc Aquilino: Khả năng Trung Quốc tấn công Đài Loan cao hơn mọi người nghĩ

Thiện Đức | DKN

Đô đốc John Aquilino, ứng cử viên Tư lệnh Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của Hoa Kỳ (Ảnh dẫn từ theguardian)

Hôm thứ Ba (23/3), Đô đốc Aquilino, người được đề cử làm Tư lệnh Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương của Hoa Kỳ, nói rằng mối đe dọa xâm lược Đài Loan của ĐCSTQ nghiêm trọng hơn nhiều người biết, theo Epoch Times.

Ông nhấn mạnh rằng trước áp lực quân sự ngày càng tăng của Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) đối với Đài Loan, Hoa Kỳ nên tiếp tục duy trì khai triển các lực lượng răn đe, đồng thời tiếp tục bán vũ khí cho Đài Loan, và đảm bảo rằng hòn đảo này có khả năng tự vệ.

AFP đưa tin, John Aquilino hiện là chỉ huy Hạm đội Thái Bình Dương và là người được đề cử cho chức Tư lệnh Bộ Tư lệnh Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương của Hoa Kỳ. Ông nói với Ủy ban Dịch vụ Vũ trang Thượng viện hôm thứ Ba rằng Trung Quốc coi việc khôi phục quyền kiểm soát Đài Loan là “ưu tiên hàng đầu” của họ.

Ông cũng không đồng ý với nhận xét gần đây của Tư lệnh Ấn Độ-Thái Bình Dương và Đô đốc Philip Davidson sắp mãn nhiệm rằng ĐCSTQ có thể cố gắng tấn công Đài Loan trong sáu năm nữa.

Ông nói với Ủy ban Dịch vụ Vũ trang Thượng viện: “Tôi nghĩ vấn đề này cấp bách hơn hầu hết mọi người nghĩ, và chúng ta phải xem xét nó một cách nghiêm túc”.

Ông Aquilino cho biết mối đe dọa lớn đến mức Hoa Kỳ cần thực hiện một kế hoạch trị giá 27 tỷ USD được đề xuất nhằm tăng cường khả năng phòng thủ trong khu vực (Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương và eo biển Đài Loan) “trong ngắn hạn và trong những trường hợp khẩn cấp”.

Ông nhấn mạnh rằng việc chính quyền Trung Quốc phát động xâm lược Đài Loan trước hết gây ra mối đe dọa tiềm tàng với thương mại toàn cầu. Thứ hai, nó sẽ làm tổn hại đến uy tín của Hoa Kỳ đối với các đồng minh châu Á như Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc, và Philippines.

Ông Aquilino tuyên bố rằng Bộ Tư lệnh Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương sẽ tiếp tục cố vấn cho Đài Loan về việc phát triển sức mạnh quân sự, khả năng tương tác trong hoạt động, khả năng sẵn sàng chiến đấu và phát triển chuyên môn thông qua hợp tác an ninh và bán vũ khí cho Đài Loan theo “Đạo luật Quan hệ Đài Loan”. Đài Loan nên ưu tiên mua sắm các hệ thống phi đối xứng có tính cơ động cao, phi tập trung và có tính sát thương cao để đảm bảo rằng Đài Loan có khả năng phòng thủ trước các cuộc tấn công.

Ông nhắc lại cam kết lâu dài của Hoa Kỳ trong việc tuân theo Thông cáo chung giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc, “Đạo luật Quan hệ Đài Loan” và sáu đảm bảo tiếp tục hỗ trợ Đài Loan duy trì đủ khả năng tự vệ. Trong tương lai, ông sẽ thảo luận với Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ để duy trì hòa bình và ổn định trên eo biển Đài Loan và khu vực.

Khi nói về mối quan hệ giữa Mỹ-Trung, ông Aquilino nói rằng Hoa Kỳ và Trung Quốc có quan điểm rất khác nhau về tương lai, ĐCSTQ kỳ vọng tạo ra một thế giới phù hợp với mô hình chuyên quyền và mâu thuẫn với trật tự quốc tế dựa trên luật lệ. Nhưng ông cũng cho biết sẽ tiếp tục tìm cách thiết lập mối quan hệ quốc phòng mang tính xây dựng, ổn định và hướng tới kết quả với Trung Quốc để giảm nguy cơ hiểu lầm và đánh giá sai.

(Bản Tin trích từ trang mạng rangdongonline.com)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Khả năng Trung Quốc tấn công Đài Loan cao hơn mọi người nghĩ

Thơ Xướng Họa 3: Tưởng Niệm Quốc Hận 30/4

 TỔ QUỐC TRÔNG CHỜ

Tổ quốc trông chờ bậc trí nhân,
Dang tay xoay chuyển việc cơ trần.
Đưa dân ra khỏi đời tăm tối,
Dẫn nước vươn mình vượt khó khăn.
Chống giặc, Lạc Hồng nêu chính nghĩa,
Diệt thù, Đại Việt vẫn thi ân.
Non sông nguy biến từ phương Bắc,
Hào kiệt ai người đã xả thân?!

CÓC CHAY 

Họa 1: CẦU CHO ĐẤT NƯỚC

Việt Nam trông đợi đấng tài nhân
Xóa sạch lầm than chốn bụi trần
Thầy giáo chuyên hồng tay vứt phấn
Học sinh nhuộm đỏ cổ quàng khăn
Tài nguyên Tổ Quốc trên ban huệ
Cuộc sống dân mình đảng thí ân
Ngóng đợi anh hùng vung kiếm bạc
Diệt trừ tham nhũng ấm phì thân

C/Ươn

Họa 2: Mong

Dân Việt đang cần tài, đức nhân
Một lòng vì nước mặc phong trần
Kiên cường chống lại điều ngang trái
Bất khuất thi gan trước khó khăn
Giặc đỏ hoành hành gây khốn khổ
Anh hùng xuất hiện đáp đền ân
Muôn người nối lại vòng tay lớn
Đạp đổ tà quyền phải xả thân

TQN

Họa 3: SỐ PHẬN

Số phận kề bên lũ bất nhân
Làm sao tránh khỏi chúng xoay trần
Hăm he vũ lực đòi ngăn trở
Khống chế tinh thần tạo khó khăn
Đừng đợi quân Tàu thù hóa bạn
Không mong giặc cướp oán thành ân
May khi trái đất này rung chuyển
Thế sự xoay vần mới thoát thân

CCR

Họa 4: BẬC HIỀN ĐỨC

Khó lắm mới tìm được trí nhân
Trùm chăn bỏ mặc việc cơ trần
Quan tham đồng bọn an vui hưởng
Học giả bạn bè ngại khó khăn
Đất nước trông chờ người chí khí
Quê hương vẫn đợi  kẻ thi ân
Mong sao có được bậc hiền đức
Đứng dậy quên mình để xả thân

CN NCV 

Họa 5: MONG CHỜ

Tổ quốc đang chờ bậc chính nhân
Như tiên giáng thế xuống dương trần
Dẹp tan cường bạo qua nguy biến
Đoàn kết muôn lòng vượt khó khăn
Giặc cộng gây thù bao oán hận
Quốc gia nghĩa khí vẫn thi ân
Ước trời sớm tỏ vầng quang tỏa
Cho đất trời Nam được thoát thân

CX

Họa 6: TRONG TRẠI CẢI TẠO

Chúng bảo: “bọn mày kẻ tội nhân”
Nhưng ta phớt tỉnh chẳng phân trần
Cho dù đày ải đầy kham khổ
Vẫn cố trân mình chịu khó khăn
Lên lớp thì kêu quân phản động
Xuống đồng lại nói đảng ban ân
Ôi chao cộng sản toàn ngang ngược
Tin lũ búa liềm chỉ hại thân

CH

Họa 7: HẾT MONG

Kiếp nầy liệu có được “thành nhân” ?
Hận nước chưa tan giã cõi trần
Mấy độ xuân qua toàn võ miệng
Bao lần hạ đến chỉ cờ khăn
Quê hương chốn đó đành mang nợ
Tổ quốc kiếp nầy hết báo ân
Gởi nắm xương khô nơi đất khách
Còn gì để xả tấm tàn thân !

Cóc Chát 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thơ Xướng Họa 3: Tưởng Niệm Quốc Hận 30/4

PHỞ… từ Nguyễn Xuân Nghĩa đến Nguyễn Gia Kiểng (Tài liệu tham khảo) _ LS Nguyễn Văn Chức

PHỞ… từ Nguyễn Xuân Nghĩa đến Nguyễn Gia Kiểng

– LS. Nguyễn văn Chức–

Mùi phở đánh thức tôi dậy, sáng mùng một Tết Nhâm Ngọ.Mùng một tết năm ngoái, nhà tôi nấu bún bò Huế. Mùng một Tết năm kia, nhà tôi nấu bún ốc. Mùng một tết năm nay, nhà tôi  nấu phở.

Bún bò Huế, nhà tôi nấu ngon tuyệt vời. Bún ốc, nhà tôi nấu cũng ngon tuyệt vời. Nhưng phở, thì không ngon tuyệt vời. Bởi vì thiếu hương vị của đất Bắc, cái hương vị xa lạ đối với người con gái đất thần kinh.

Ngày xưa, cả làng tôi chỉ có một hàng phở. Gọi là hàng  phở, không đúng. Phải gọi là gánh phở. Gánh phở  của ông Bạ. Không có tái nạm tái gầu và  hành tây nước béo. Chỉ có thịt nạm, nước trong. Nhưng ngon tuyệt vời, cái ngon của quê huơng Bắc Ninh.

Em là con gái Bắc Ninh
Em nghiêng chiếc nón, mái đình nghiêng theo.

Ông Bạ khoảng 50 tuổi.  Ở tuổi ông, nhiều người đã “vào lão”, sau khi bỏ tiền ra khao làng khao xã. Nhưng ông Bạ nghèo, gia tài vẻn vẹn một gánh  phở rong. Cả làng mến ông. Cả làng quen tiếng rao phở của ông, tiếng rao trầm bổng trong đêm, cùng với mùi phở ngào ngạt trong đêm.

Thời đó, chỉ có hai xu một bát phở.

Ông Bạ có người vợ trẻ, quê Bắc Ninh, tuổi ngoài hai mươi, và đẹp. Ông Bạ chiều vợ, để vợ ở nhà, không cho đi theo ông bán phở. Ông phân bua với khách hàng: “Ấy, thùng  nước giùng là do bà nhà tôi nấu đấy. Ấy, bà  nhà tôi phải sửa soạn và đun từ tối hôm trước. Ấy, sáng nào cũng vậy, bà nhà tôi dậy từ lúc tinh mơ rờ đất, đổ nước phở và xương xảu vào cái thùng này để tôi gánh đi”.

Có người khách ăn phở kể rằng: một hôm ông Bạ vớt ra từ trong thùng nước phở đã cạn, một tấm vải trăng trắng. Ông khách nhìn kỹ, thì đó là một cái yếm. Có lẽ cái yếm của bà Bạ vô ý đánh rơi vào thùng phở đêm hôm trước.

Con đường Carreau Hà Nội rộng hênh thang, dài và đẹp, hai bên cây cối mọc xum xuê.  Khu Toà thượng thẩm Hà Nội toạ lạc trên con đường này, muà hè hoa phượng đỏ chói. Cách khu tòa án, là một ngõ cụt, Ngõ Nhà Đo, Tây gọi là Impasse de l’Identité. Đó là khu nhà ngày xưa dành cho những công chức người Pháp của sở căn cước, hoặc sở hoả lò. Nhà nào củng hai tầng, có sân  lát đá sỏi trắng, và có nhà xe nhà bồi riêng biệt.

Anh chị cả  tôi: Nguyễn Đức Chiểu & Phạm Thị Liên, đã mua được một căn nhà trong ngõ cụt đó.

Ngay đầu ngõ, có gánh phở. Cứ chập tối, người ta nghe thấy tiếng rao phở của ông ta. Ông ta tên Thìn, trạc độ 40, ăn nói sống sượng và ngổ ngáo. Nghe đâu ông ta đã từng đi lính O.N..S bên Pháp. Phở ông ta cũng y như phở làng tôi ngày xưa, nhưng có thêm hành tây nước béo. Khách ăn phở đêm của ông ta, phần đông là những cô gái giang hồ khu ga Hàng Cỏ hoặc khách sạn đường Gambetta gần đó..

 “Này ăn một bát phở  của tôi, là lao động cả đêm cũng không mệt.
    Này, đêm vừa rồi có khá không? Tiếp được mấy thằng lính lê dương.”

Mấy cô gái xồn xồn vừa húp phở vừa ong ỏng: cái ông quỷ này có để cho người ta nuốt không.

Con đường Careau, khu nhà của Anh Chị Cả tôi, ban đêm rất vắng. Mấy cô gái  xồn xồn hay tập xe đạp trên quãng đường đó.  Tập xe đạp phải có hai cô gái. Một cô gái ngồi trên cái yên (bằng da) của chiếc xe đạp, cũn ca cũn cỡn. Một cô gái nắm cái yên xe đạp, đẩy đi và chạy bộ sau xe, giữ cho người tập xe khỏi ngã, và cái xe đạp khỏi đổ. Cũn ca cũn cỡn.

Và ai tập xe đạp mà không có lúc ngã. Ngã xe và ngã cả  người. Mấy cô gái cũng vậy. Có lần ngã vào lề đánh rầm. Có khi cả người cả xe đâm vào gần gánh phở của ông Thìn. Và mỗi bận như vậy, ông Thìn lại lẫm bẩm:  ‘đồ quỷ, tao đã bảo chúng mày rút cái yên ra mà ngồi cho nó vững, chúng mày không nghe tao.”

Di cư vào Sài gòn, bát phở Bắc có thêm giá sống. 

Gần khu nhà ông Trần Văn Lắm và bà Dương Quỳnh Hoa, có gánh phở Bắc rất ngon. ngay bên lề đường. Chủ gánh phở  tên là Đang. Ông Đang, giọng nói ồ ồ, lúc nào cũng tỏ ra ưu thời mẫn thế. Khách ăn, hầu hết là công tư chức; họ nói với nhau toàn truyện thời cuộc.

Những buổi sáng đẹp trời, trên đường đến văn phòng luật sư hoặc đến Thượng Nghị Viện, tôi  thường ngừng xe trước gánh phở ông Đang. Gần như một thói quen. Và thế nào ông Đang cũng hỏi tôi về thời sự. Một hôm, ông Đang hỏi nhỏ tôi:”liệu có phải di cư lần nữa không, luật sư? “

Hoàng Cơ Minh điện thoại cho tôi:  “Anh Chức, ngày mai tôi sẽ gửi cái người viết bài Dựng Cờ Chính Nghĩa  xuống Anh.”

Đó là năm 1982, Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt Nam của hai ông Phạm Văn Liễu Hoàng Cơ Minh lên như diều gặp gió.

Ngày ông Minh ở “chiến khu quốc nội Thái Lan” trở về Mỹ ra mắt đồng bào tỵ nạn, thật là huy hoàng. Ông Minh ra mắt ở Cali trước. Sau đó, ra mắt ở Houston. Hôm ông ta về Houston, tôi ra tận phi trường đón ông, náo nức trong đám đông, trong rừng cờ và tiếng hoan hô.

Bài “Dựng Cờ Chính Nghĩa” được phân phát khắp nới, như một lời hịch. Bài đó, ý  hay và lời đẹp, dội vào hàng ngàn hàng vạn con tim xa quê hương.

Ai viết bài đó? Tôi hỏi Hoàng cơ Minh, anh ta im lặng. Phạm Nam Sách từ San Diego gọi cho tôi, vừa chửi vừa khen:” Chức ơi, chỉ có cậu mới viết được bài đó. Đừng giấu moa nữa.”  Chẳng riêng gì Phạm Nam Sách. Nhiều người  cũng nghĩ như vậy.

Năm 1983, Hoàng Cơ Minh gửi người đó xuống tôi. Người đó, là Nguyễn Xuân Nghĩa, cháu ruột của tên Mười Cúc Nguyễn Văn Linh  Ông Nghĩa xuống Houston đặt cơ sở cho Phở  Kháng Chíến cuả anh em Hoàng Cơ Minh Hoàng Cơ Long Hoàng Cơ Định.

Chiều hôm đó, ông Nghĩa đến thăm tôi tại nhà, người rong rỏng cao, dáng dấp hào hoa phong nhã. Ông nói nhiều lắm,về Charles de Gaulle và cuộc Kháng Chiến chống Đưc Quốc Xã 1940-1944 của De Gaulle. Rồi  ông  nói thao thao về  Kháng Chiến Quốc Nội.  Tôi nghe mà không nói gì.

Mấy ngày sau, Hoàng Cơ Minh gọi điện thoại: “ Sao, anh Chức, anh đã gặp Nguyễn Xuân Nghĩa chưa? Anh thấy thế nào?”

Tôi nói: ” Nghiã là cháu ruột của tên cộng sản lưu manh Mười Cúc Nguyễn Văn Linh bí thư Thành Ủy Hồ Chí Minh.. Nghĩa có học và thủ đoạn. Sau ngày 30 /4/1975, Nghiã đã ở lại Miền Nam, mà không bị một ngày tù tội. Một người như vậy, các anh không thể tin được, và chỉ nên dùng vào những công tác chuyên môn (nghiên cứu, dịch thuật). Không nên dùng vào những công tác tham mưu. “

Hoàng Cơ Minh không nghe  tôi. Và con ngựa thành Troie đã được rước vào thành.  Mặt trận Hoàng Cơ Minh đã trở thành  một băng đảng tay sai hèn hạ của Việt Cộng.

Tháng 29 tháng 12 năm 1984, nhân danh một nghị quyết của Hội Đồng Kháng Chiến  họp tại Quốc Nộ Thái Lan, Hoàng Cơ Minh tuyên bố khai trừ ra khỏi mặt trận một người đã cùng với anh ta  tạo lập nên mặt trận:  Phạm văn Liễu.

Hoàng Cơ Minh  loại Pham văn Liễu ra khỏi mặt trận, để cứu nguy khoảng 7 triệu Mỹ Kim  của quỹ kháng chiến lúc đó nằm trong tay một người. Người đó là  Hoàng Cơ Định.  Và ai đã cố vấn cho Hoàng Cơ Minh trong cái bước xẽ dịch lưu manh đốn mạt đó? Nguyễn Xuân Nghĩa.

Lúc đó là 1985, Hoàng cơ Minh từ “chiến khu quốc nội  “UDEDON” (Thái Lan) về Mỹ, để vận động cho chính nghĩa của ông. Ông ta  xuống Houston gặp tôi, xin tôi lên tiếng  ủng hộ ông ta. Tôi từ chối, tôi nói cho ông ta biết: tôi sẽ lên án ông ta trước dư luận.  Và tôi, Nguyễn Văn Chức, đã làm điều đó, bất chấp những đe dọa.

Cuối năm 1985, dăm ba bài báo xuất hiện trên tờ Kháng Chiến cuả Mặt Trận, đả kích tôi. Nhìn lối hành văn huênh hoang, tôi biết tác giả là ai.

Dù sao, tôi vẫn mến anh ta. Hôm đầu đến thăm tôi, anh ta gọi tôi là thầy, và xưng em.  Anh ta chê bọn Hoàng Cơ Minh – PhạmVăn Liễu ít học. Anh ta nhận xét đúng. Gần đây khi nghe tin anh ta thân với Vũ Quang Ninh (chủ đài phát thanh Little Saigon) và là cây bút chỉ đạo của tờ Viet Tide, tôi không ngạc nhiên. 

Ngoài Nguyễn Xuân Nghĩa, còn một người, tôi không thể quên: Nguyễn Gia Kiểng.

Nguyễn Gia Kiểng ngổ ngáo, liều lĩnh, và suốt đời thèm khát được dư luận chú ý, và sẵn sàng làm tất cả để được dư luận chú ý. Và anh ta đã tạo đuợc sự chú ý của dư luận, bằng sự ngổ ngáo liều lĩnh, dốt nát.

Năm 1986, đại hội 6 đảng CSVN kêu gọi hoà hợp dân tộc, tờ Thông Luận của anh ta lên tiếng phụ họa. Tờ báo còn đi xa hơn: chửi người Quốc Gia là con cháu cô Tư Hồng, khẳng định CSVN có chính nghĩa,và khẳng định cuộc chiến tranh Việt Nam (1945- 1975)  là một cuộc nội chiến.

Chưa hết,  tờ  báo của anh ta còn kêu gọi phong thánh cho tên chó đẻ Hồ Chí Minh. Chúng ta hãy nghe (nguyên văn):

“Một mai, tôi hy vọng sẽ rất gần đây, khi nước non thật sự thanh bình, anh em ta về, nếu có một đài chiến sĩ chung cho tất cả những người đã hy sinh vì Việt Nam, chúng ta sẽ đến đó cầu nguyện. Nếu lăng ông Hồ còn, chúng ta–dù đã chiến đấu trong hàng ngũ nào–cũng nên đến đó cầu nguyện, một cách để nói với nhau và với mai sau, là anh em ta đã quên hết những bài học hận thù”.  (Phong Thánh, Thông Luận số 20, tháng 10/1989,  trang 4)

Một năm sau, anh ta liếm môi, chửi Hồ Chí Minh như con chó.
 
Nguyên văn: “cuộc đời của ông Hồ có hại chứ không có lợi cho đạo đức, cho văn hoá, cũng như cho dân tộc ông” (Thông Luận, số  28, tháng 6/1990, trang nhất)

Chưa  hết, anh ta  còn bồi thêm nhát dao vào kẻ mà anh ta đã phong thánh: “Một thảm kịch cho ông Hồ Chí Minh là đảng CS của ông đã chọn đúng dịp kỷ niệm 100 năm sinh nhật của ông để tuyên bố bắt đầu từ bỏ chủ nghĩa CS”.

Người ta thắc mắc:  tài liệu nào cho phép anh ta khẳng định như thế?

Thì đây, anh ta  trưng bằng cớ:

“ Trần Bạch Đằng, cố vấn chính trị của tổng bí thư Nguyễn Văn Linh đã được phép tuyên bố rằng  đảng CSVN từ bỏ độc quyền chính trị”…

Thì ra, bằng cớ của anh ta  là lời tuyên bố của Trần Bạch Đằng. Nhưng, Trần Bạch Đằng tuyên bố ở đâu, ngày nào, và trong tài liệu nào?  Anh ta im lặng.

Giả sử Trần Bạch Đằng–với sự cho phép của Nguyễn văn Linh-có thực sự tuyên bố rằng “Đảng Cộng  Sản Việt Nam từ bỏ độc quyền chính trị“, thì nhóm của anh ta -tôi muốn nói: của Nguyễn Gia Kiểng – cũng không nên hồ hởi ca tụng lời tuyên bố đó như một đổi mới tư duy chính trị của đảng CSVN, có lợi cho đất nưóc.  Trừ phi họ-tôi muốn nói nhóm Nguyễn Gia Kiểng — là cò mồi.

Huống chi, Trần Bạch Đằng không hề tuyên bố như vậy. Ông nội thằng Trần Bạch Đằng, ông nội thằng Nguyễn Văn Linh, và ông nội cả lò cả ổ bọn chính trị bộ đảng CSVN cũng không dám tuyên bố như vậy. Nhóm Nguyẽn Gia Kiểng chỉ đánh hơi. Rồi vẫy đuôi sủa. Như những con chó.

Sau khi hồ hởi loan báo “đảng CSVN sẽ từ bỏ độc quyền chính trị“, nhóm Nguyễn Gia Kiểng hồ hởi bàn về nhà nước pháp trị trong chế độ Việt Cộng đang đổi mới.

Chúng ta hãy nghe:
“Trong một nhà nước pháp trị, mọi vấn đề có thể giải quyết một cách giản dị trong khuôn khổ luật pháp. Những ai xâm phạm nguyên tắc dân chủ sẽ phải trả lời trước toà án”.

Viết như vậy, sai và ngu.

Trong một chế độ pháp trị, tòa án không có quyền thụ lý hoặc lên án phạt những hành động vi phạm một nguyên tắc dân chủ.Toà án chỉ có quyền thụ lý những hành động vi phạm một điều luật.

Chưa hết, nhóm Nguyẽn gia Kiểng còn bước thêm bước nữa. Họ mách nước về những chánh đảng sẽ xuất hiện trong chế độ CS đang đổi mới.

Họ viết: “mọi công dân không can án đều có quyền tham gia hoặc thành lập chánh đảng”.   

Lại sai và ngu.

Trong một chế độ pháp trị, những công dân can án về một số tội phạm hình sự nào đó có thể bị luật pháp cấm ứng cử vào những chức vụ công cử, như các chức vụ tổng thống, nghị sĩ, dân biểu… Nhưng luật pháp không có quyền cấm họ tham gia hoặc thành lập những đảng phái chính trị..

Vẫn chưa hết.

Nhóm Nguyễn Gia Kiểng chủ trương dân chủ đa nguyên, coi đó như là đòi hỏi và điều kiện bức thiết cho một chế độ chính trị mới tại Việt Nam.

Lại sai và ngu.

Dân chủ, tự nó đã đa nguyên rồi.

Bởi lẽ: đa nguyên là bản chất của dân chủ; đa nguyên nguyên ít hay đa nguyên nhiều, đó là vấn đề mức độ.

Một ông bạn già H.O văng tục:  “Đù mẹ, đã là đàn ông thì phải có cái cụ Hồ. To hay nhỏ là truyện khác. Cũng như đã là đàn bà con gái thì phải có cái “hang Pác Bó để cho cụ Hồ rúc vào”. Rộng hay hẹp, đó là truyện khác.

Rất tiếc, nhóm Nguyễn Gia Kiểng không hiểu được điều sơ đẳng đó. Họ lẫn lộn thực chất với mức độ, lẫn lộn thực tiễn với triển vọng, lẫn lộn điều kiện với tiến trình.

Tôi vừa  đưa ra một vài cái sai cái dốt, của hàng  trăm cái sai cái dốt nằm ngổn ngang trong những viết  lách và suy tư của nhóm Nguyễn Gia Kiểng. Chưa kể sự hỗn xược đối với tiền nhân. Nguỵ biện, lập dị, táo bạo, đầy huyễn tưởng, và sẵn sàng làm bất cứ điều gì để được dư luận chú ý, và thực hiện những mưu đồ bất chính. Đó là Nguyễn Gia Kiểng.

Trung Đông có những kẻ cuồng tín ôm bom tự sát. Trái bom nổ tung, người ôm bom tan xác, và những nạn nhân vô tội tan xác. Hành động của họ gây rúng động trong thế giới văn minh..

Toàn bộ sự nghiệp suy tư  của Nguyễn Gia Kiểng từ gần 25 năm nay, và nhất là đại tác phẩm “Tổ Quốc Ăn Năn” của anh ta, chỉ là những trái bom “tự sát”. Trái bom nổ cái rầm. Tung toé những mảnh vụn. Trong đó có rất nhiều rác rưởi, ống bơ rỉ và băng vệ sinh..

Kẻ ôm bom không chết, nhưng được dư luận chú ý.
Đó là con người thật của  Nguyễn Gia Kiểng.A

Đêm nay, trăng sáng. Tôi ngồi viết dưới lùm thông sau nhà.

Tôi đã lạc đề chăng? Từ phở, đến mặt trận Hoàng Cơ Minh, đến Nguyễn xuân Nghiã, đến Nguyẽn Gia Kiểng.

Không, tôi không lạc đề. Hai ông Nghĩa ông Kiểng có duyên nợ với nhau.

Tháng 4 năm 1990, trong một chuyến đi Bắc Âu, ông Kiểng bị bọn Hoàng Cơ Minh hành hung.  Nhưng ông Kiểng đã tha thứ, không hận thù. Tôi mến ông ở chỗ đó.

Tôi còn mến ông ở chỗ ông thành thật. Thành thật ngay cả khi bịa đặt và nguỵ biện. Quyển “Tổ Quốc Ăn Năn” của ông còn đó.

Viết năm 2002
Phụ đính năm 2008

Nguyễn văn Chức

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở PHỞ… từ Nguyễn Xuân Nghĩa đến Nguyễn Gia Kiểng (Tài liệu tham khảo) _ LS Nguyễn Văn Chức

CÓ ĐI CHUNG VỚI NHAU LÂU ĐÂU _ Như Sao

Một thiếu nữ đang ngồi trên xe bus, một bà già mang đủ thứ lỉnh kỉnh miệng lẩm bẩm đến ngồi  bên cạnh xô mạnh cô. Bất bình anh thanh niên bên cạnh hỏi tại sao cô không phản đối và bảo vệ quyền lợi mình. Cô mỉm cười và trả lời: “Ðâu cần phải cãi cọ vì chuyện nhỏ như thế,  có đi chung với nhau lâu đâu! Trạm tới, tôi xuống rồi.”

Ðây là một câu trả lời mà chúng ta phải xem như một khẩu hiệu viết bằng chữ vàng để hướng dẫn cách cư xử hằng ngày của chúng ta ở khắp mọi nơi: «Ðâu cần phải cãi cọ vì chuyện nhỏ như thế, có đi chung với nhau lâu đâu!»

Nếu chúng ta có thể ý thức rằng cõi đời tạm của chúng ta dưới thế thật ngắn ngủi, cãi cọ tầm phào vừa làm cho mất vui, vừa làm mình mất thời gian và sức lực cho chuyện không đâu.

Có ai làm mình tổn thương? Bình tĩnh, có đi chung với nhau lâu  đâu!

Có ai phản bội, ức hiếp, sỉ nhục mình? Bình tĩnh, có đi chung với nhau lâu đâu!

Dù người ta có gây ra cho chúng ta buồn phiền gì chăng nữa, hãy nhớ rằng: có đi chung với nhau lâu đâu!

Chúng ta hãy ăn ở hiền  lành. Hiền lành là một đức tính không bao giờ đồng nghĩa với hèn nhát…   Chuyến đi chung của chúng ta trong cõi đời dưới thế này ngắn ngủi lắm và không đi trở ngược lại được.  Không ai biết chuyến đi của mình dài bao lâu!

Không ai biết mình có phải xuống ở trạm tới hay không!

Vậy hãy bình tĩnh, chuyến đi ngắn lắm.

Như Sao

(Bài do K1 Dương Mộng Oanh chuyển)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở CÓ ĐI CHUNG VỚI NHAU LÂU ĐÂU _ Như Sao

Phỏng vấn NT Phạm Tấn Ngọc

Phỏng vấn NT Phạm Tấn Ngọc, nguyên Thiếu Tá CSQG-VNCH, người vừa bị một kẻ lạ mặt người Mỹ da trắng vô cớ hành hung trọng thương ngày 17/3/2021 vừa qua tại San Francisco. Cuộc phỏng vấn do phóng viên Nghê Lữ và nhà báo Huỳnh Lương Thiện thực hiện.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Phỏng vấn NT Phạm Tấn Ngọc

Nghề Buôn Bán Bệnh Tật- Tác giả Trương văn Dân (Trích từ Saigòn Weekly)

NGHỀ BUÔN BÁN BỆNH TẬT

Trương Văn Dân

Sau đây là một trích đoạn từ tác phẩm “Trò Chuyện Với Thiên Thần”
của dược sỹ Trương Văn Dân (Italia).

vochong1-6089-1542774716

(Nhà văn Dược sĩ TRƯƠNG VĂN DÂN và phu nhân Tiến sị văn chương Pháp ELENA PUCILLO)

Thực phẩm chỉ là một phần của những tai ách hiện nay. Tôi  muốn nói với các bạn về dược phẩm, một thứ sản phẩm siêu lợi nhuận và nằm trong chính sách toàn cầu.

Y, Dược, nghề cao quý nhất, nhưng nó đang biến thành một cỗ máy kiếm tiền! Cái xác phàm của nhân loại hiện nay chính là nguồn lợi kếch xù của bọn người kinh doanh trên sự sợ hãi: bệnh tật.
Lãnh vực này hiện nay nằm trong tay các tài phiệt. Và họ bỏ rất nhiều tiền để tiếp thị hơn là nghiên cứu.

Một thuật ngữ mới ra đời: Disease mongering (Nghề buôn bán bệnh tật). Hoạt động đơn giản: Chỉ cần hạ thấp các chỉ số như các chỉ số về bệnh tiểu đường, áp huyết máu, cholesterol… hoặc chẩn đoán các tình trạng tinh thần nào đó như buồn rầu, hồi hộp, nhút nhát… rồi cho là “bất thường” thì số lượng “bệnh nhân” trên toàn thế giới tăng vọt!

PHÁT MINH RA BỆNH
– Khi ủy ban “khoa học” Mỹ tái định nghĩa hypercholesterolemia (có cholesterol cao trong máu) và chỉ cần giảm chỉ số để các bác sĩ cho phép dùng thuốc thì số “bệnh nhân” đột ngột tăng 3 lần!
– Chỉ trong năm 2016 công ty Pfizer đã chi 1,2 tỷ USD, theo sau là công ty Bristol Mayer Squibb chi 460 triệu USD để quảng cáo và tiếp thị thuốc!
Nhưng đây chỉ là đỉnh của băng sơn. Trên thực tế rất nhiều các nhà khoa học hướng dẫn cách dùng thuốc đều hưởng lợi nhuận từ các hãng dược!
Thông qua Disease mongering những trạng thái như buồn rầu, lo âu, hồi hộp… rất bình thường trong cuộc sống đã bị truyền thông hô biến thành bệnh (?) để làm mọi người sợ hãi, cảm thấy mình phải dùng thuốc. Các nhà khoa học chân chính nói rằng hiện nay có hơn 200 tình trạng tâm lý sẽ được xem là… bệnh lý và nghe ra thật buồn cười: lão hóa, buồn chán, hói đầu, tàn nhang, tóc bạc, kém xinh… Không ai nói với chúng ta là nỗi buồn là một phần của sự sống, và hàng thế kỷ trôi qua nó vẫn tồn tại để giữ một nhiệm vụ quan trong trong tâm sinh lý của con người.
Dược phẩm, dù muốn hay không đều sẽ có tác dụng một cách nhân tạo vào trật tự sống của con người và tự nhiên.
Bạn mất ngủ hả? Hãy uống thuốc ngủ! Mà có thật sự cần phải dùng thuốc không? Biết đâu không ngủ là một điều tuyệt vời. Thỉnh thoảng được thức giấc, mở cửa nhìn ra bầu trời đêm mà kẻ ngủ say sẽ không bao giờ biết.
Đã có người nói: Ban ngày để sống còn ban đêm là để hiểu cuộc sống.
Nhưng các tập đoàn dược chi ra số tiền càng ngày càng lớn cho việc bán thuốc “ảo”, kèm theo quà tặng, mời du lịch…

– Thí dụ bệnh tiểu đường type II, trước đây được xác định là đường huyết phải trên mức 140mg/dL. Năm 1997, ngạch mức trên bị Cơ quan y tế thế giới OMS rút xuống còn 126 mg/dL (7mmol/L)… Lập tức có thêm 1.700.000 người Mỹ được xếp vào danh sách bệnh nhân tiểu đường (suốt đời!).

– Cholestérol: Năm 1998, ngạch mức từ 240mg/dL bị rút xuống còn 200mg/dL. Lập tức xã hội Hoa Kỳ có thêm 42.600.000 bệnh nhân có cholesterol cao trong máu… Các nhà bào chế có thêm được 86% “khách hàng” mới.

Thủ thuật khác để mua chuộc… phủ khắp từ bác sĩ đến các sinh viên y khoa sắp ra trường. Ba mươi năm trước, giám đốc hãng dược phẩm Merck, Henry Gadsen, đã từng trả lời trong một cuộc phỏng vấn: “Giấc mơ của chúng tôi là sản xuất thuốc cho những người khỏe mạnh. Làm được thế, chúng tôi có thể bán thuốc cho bất kỳ ai”. “Trên thế giới, chỉ có hai nhóm người: nhóm người đã bệnh rồi và nhóm người chưa biết họ bệnh”.

MỘT NGHIÊN CỨU MỚI NHẤT TỪ NƯỚC PHÁP: 50% THUỐC LƯU THÔNG HIỆN NAY TRÊN THỊ TRƯỜNG LÀ VÔ ÍCH, 20% CÓ HẠI VÀ NHIỀU KHI NGUY HIỂM CHO NGƯỜI DÙNG.

Ai cũng biết sức khỏe tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, khí hậu và thực phẩm chứ không phải vào thuốc men, cách chữa trị hay các kỹ thuật hiện đại. Hiện nay nhiều người hễ thấy khó chịu một chút là uống thuốc mà không biết rằng không có loại thuốc nào là không có tác dụng phụ, là “1 phần thuốc chứa 3 phần độc”. Ít người biết rằng không có bộ máy nào hoàn hảo hơn thiên nhiên. Và cơ thể con người có một cấu tạo đặc biệt. Việc chữa bệnh cho cơ thể là nhiệm vụ của hệ miễn dịch, vì thế nếu chúng ta lạm dụng thuốc thì đã vô tình “ngăn” hoạt động của hệ miễn dịch, làm hao mòn và dần dần mất đi thiên chức tự nhiên vốn có.

Ngày xưa ai đi “khám” bác sĩ vì họ thấy trong người không khỏe, còn hôm nay khi bác sĩ gặp bệnh nhân là đề nghị: chúng ta hãy làm vài xét nghiệm để xem bạn có thật sự khỏe không?
Vì thị trường đang rất cần những bệnh nhân mới.

“Người mạnh khỏe là kẻ chưa biết mình bị bệnh!” Tâm đắc với quan niệm đó nên giám đốc bệnh viện San Raffaele ở Milano đã đưa ra dự án Quo vadis chăng? Hay bệnh viện… cho người khỏe mạnh: Thông qua một microchip điện tử được gắn dưới da các bác sĩ có thể thường xuyên và liên tục theo dõi tình trạng sức khỏe của “bệnh nhân” và sẵn sàng can thiệp và chữa trị trước khi bệnh làm phiền. Các chuyên gia sẽ cho ta biết trước khi bệnh xuất hiện và từ giờ cho đến lúc đó ta có thể vui chơi, đánh golf, đi du lịch, trượt tuyết, tắm biển… cho đến khi nhận được một tin nhắn, đại loại: “Khẩn cấp! Bạn cần trình diện ngay ở trung tâm ý tế gần nhất. Bệnh trĩ sắp xuất hiện!”.

CÁC HÃNG THUỐC, CÁC BỆNH VIỆN, HỌ LÀ AI?
Gần 80 năm đã trôi qua nên có thể quí vị không biết rằng văn phòng của Viện Đại học Frankfurt ở Đức ngày xưa chính là trụ sở chính của IG Farben.

Đó là một nhà máy được độc quyền sản xuất hóa chất của Đức thời quốc xã. Là trung tâm kinh tài của Hitler nên trong suốt thời kỳ diệt chủng (Holocaust) nó là nơi cung cấp khí ngạt Zyklon-B cho chính phủ Đức để giết chết gần 6 triệu người Do Thái! Nó cũng là nơi cung cấp dân Do Thái để làm chuột bạch cho các thử nghiệm về độc tố và y học.

Vì tham gia các tội ác chiến tranh nên sau 1945 phe đồng minh đã tịch thu và đóng cửa nhà máy. Thế nhưng, về sau nhà máy này đã được chia làm mấy phần và các đại công ty mua các phần lớn, chỉ chừa lại các phần nhỏ là Agfa, Basf và Bayer, trong khi công ty Hoechst được sáp nhập vào công ty Rhône-Poulenc của Pháp để cho ra đời công ty Sanofi Aventis hiện nay và có trụ sở ở Strasburg, nước Pháp.

Tại Tòa án quốc tế Norimberga tất cả các lãnh đạo của IG Farben đều bị buộc tội diệt chủng, thiết lập chế độ nộ lệ và các tội ác khác nhưng chỉ sau một năm tất cả đều được trả tự do (?) nhờ thương lượng của bộ kinh tế Đức và sau đó họ đổi danh tánh để tham gia vào hệ thống kinh tế Đức hay các nước khác!

Nhắc lại chuyện này tôi chỉ muốn nêu lên một thắc mắc: Một công ty được hình thành với triết lý sản xuất hơi ngạt giết người, có thể nào sau đó lại có thể sản xuất thuốc để trị bệnh, cứu nhân độ thế?

Về sau công ty IG Farben đã tham gia vào các dự án của Hoa Kỳ trong việc sản xuất chất độc da cam dùng trong mục đích quân sự. Họ cùng lập nên công ty Chemagrow Corporation ở Kansas City, Missouri, và sử dụng các chuyên viên Mỹ và Đức nhằm phục vụ cho U.S. Army Chemical Corps.
Tiến sĩ Otto Bayer, người từng giữ chức vụ nghiên cứu phát triển của IG Farben, đã cùng với tiến sĩ Gerhard Schrader đã thử nghiệm thành công phần lớn các vũ khí hóa học.

MẶT TRÁI CỦA CÁC XÉT NGHIỆM Y KHOA

Trong 10 năm trở lại đây, các yêu cầu xét nghiệm đã tăng lên 50%, tương đương với việc tăng thêm hàng triệu USD mỗi năm. Nhưng nhiều khi các phương pháp xét nghiệm đó gây hại cho con người nhiều hơn là mang lại lợi ích: đau đầu gối, đau lưng, tức ngực, và PSA (prostate specific antigen – kháng nguyên đặc hiệu tiền liệt tuyến) có thể dẫn đến ung thư tuyến tiền liệt! Bên cạnh đó, những dịch vụ xét nghiệm y tế rắc rối và đắt đỏ như chụp scan cắt lớp (CT- computed tomography) và chụp cộng hưởng từ trường (MRIs – magnetic resonance imaging) được sử dụng một cách rộng rãi nhưng không thực sự cần thiết.
Trí thông minh là một vốn quý của con người nhưng tiếc thay nó đang là đồng lõa, biến con người trở nên biển lận, nhằm vơ vét tối đa.
Một thứ khoa học không có nhân văn! Có kiến thức mà không nhân cách thì chẳng khác gì người tập lái xe chưa có bằng mà cứ băng băng chạy ra đường phố.
Hiện nay trong cơn vật vã kiếm tiền, các bậc cha mẹ chẳng mấy ai “chơi” với con mà phó thác cho bà vú nuôi hay các thiết bị điện tử. Sự bỏ rơi ấy làm bé bị chấn động tâm lý, đói tình yêu… còn cha mẹ mang mặc cảm thiếu chăm sóc con nên bù trừ bằng sự nuông chiều và bằng tiền bạc, cho con ăn các món khoái khẩu được nhuộm phẩm màu thuộc bảng E độc hại.
Ngày nay, bậc làm cha mẹ phải thú nhận là bất lực, không còn đủ khả năng để bảo vệ con trẻ trước những mối nguy của cuộc đời! Chỉ năm, mươi năm nữa thôi, bệnh ung thư sẽ bùng phát dữ dội nếu không kiểm soát, và nó sẽ xói mòn sức lực và đẩy bao gia đình xuống tận cùng của sự khốn khổ.
Nghĩ thế, tự nhiên lòng tôi chùng xuống. tôi không dám hình dung tương lai sẽ về đâu nếu con người không thay đổi…
(Trích tác phẩm “Trò Chuyện Với Thiên Thần” Chương 37)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Nghề Buôn Bán Bệnh Tật- Tác giả Trương văn Dân (Trích từ Saigòn Weekly)

Thơ Xướng Họa 2: Tưởng niệm Quốc Hận 30/4

Xướng: SẦU MẤT NƯỚC

Quốc hận năm nay nhắc nhở sầu
Tháng tư ngày ấy tránh nơi đâu
Tiêu điều rã đám quân không tướng
Hoảng loạn tan hàng rắn mất đầu
Chiến hữu lầm than hờn vận nước
Anh hùng thất thế thẹn năm châu
Hát Ô cứu vãn đời đen tối
Mỹ Quốc cưu mang xóa khổ rầu
DNN (Quốc Hận 30/04/2021)

Họa 1: VÌ ĐÂU

Vì cớ làm sao dân Việt sầu
Nguyên nhân thù hận đến từ đâu
Rõ ràng Hồ tặc khơi mào trước
Cùng Giáp, Duẩn, Tôn mở tuyến đầu
Pác Pó tuyên truyền trong cả nước
Người nghèo vùng dậy khắp năm châu
Thì ra vô sản là không tưởng
Cộng Sản làm cho bần cố rầu
TQN 

Họa 2: NHỚ ĐÊM TIỀN ĐỒN

Đêm mưa rả rích giục cơn sầu
Xa lắc quê nhà mãi tận đâu
Lạnh lẽo hoang vu bờ giới tuyến
Đìu hiu lau lách bến giang đầu
Lô nhô rào kẽm hầm công sự
Lấp lửng lưng trời ngọn hỏa châu
Bên máy thu thanh câu vọng cổ
Nghe sao thúi ruột giọng rầu rầu
CCR 

Họa 3: “GIẢI PHÓNG”

Nhắc nhở làm chi gợi nỗi sầu
Chết người cả triệu xác nằm đâu
Bi Đông hải đảo ngoài biên giới
Đà Nẵng, Pleiku hay tuyến đầu
Vỡ tổ chim đàn bay tứ xứ
Tan nhà gia tộc tản năm châu
Cho ta hỏi thử bầy lang sói
“Giải phóng’’ thì sao dân lại rầu
Cóc QT-TP 

Họa 4: THÁNG TƯ BUÔNG SÚNG

Tháng Tư buông súng dạ u sầu
Ngơ ngác nhìn nhau hỏi bởi đâu?
Dân chúng thầy trò ong vỡ tổ
Quan quân binh lính rắn không đầu
Bao ngày lao nhục mong trời sáng
Những tối kiên giam nhớ hỏa châu
Tự trách phận mình sao bất lực
“Cổ lai chinh chiến” nghĩ mà rầu!
CX 

Họa 5: VƯỢT BIÊN

Bỏ nước ra đi luống nặng sầu
Mênh mông biển cả biết về đâu
Hải âu bay lượn trời xanh biếc
Sóng gợn lao xao sóng bạc đầu
Bỏ lại người thương mờ khóe mắt
Lìa xa quê mẹ đẫm dòng châu
Từ ngày cộng sản vào xâm chiếm
Mất hết tự do… thật qúa rầu
CH 

Họa 6: QUỐC HẬN RẦU

Nhắc đến tháng tư cảm thấy sầu
Miền Nam mất nước bởi vì đâu?
Đồng minh phản bội vào ngày cuối
Tàu cộng gia tăng ở tuyến đầu
Giặc bắc tràn vào chiếm Hậu Nghĩa
Quân ta cố thủ giữ Bình Châu*
Bất ngờ Minh mập kêu buông súng
Tủi nhục nào quên Quốc Hận rầu.
CN-NCV
*Vũng Tàu

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thơ Xướng Họa 2: Tưởng niệm Quốc Hận 30/4

Bản Lên Tiếng của Tổng Hội CSQG-VNCH về việc 1 Cựu Sĩ Quan CSQG bị hành hung vì kỳ thị chủng tộc

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Bản Lên Tiếng của Tổng Hội CSQG-VNCH về việc 1 Cựu Sĩ Quan CSQG bị hành hung vì kỳ thị chủng tộc

HỎNG RỒI TIẾNG NƯỚC TÔI _ Captovan

Hỏng rồi Tiếng Nước Tôi!!!

Captovan.

Lời Nói Đầu: Cơn đại ôn dịch VC trùng vào thời điểm các ứng cử viên so bì cao thấp, tạo nên cảnh “họa vô đơn chí, lòng buồn còn muốn nói năng chi”. Chẳng ai còn muốn viết muốn đọc gì nữa, trừ tin giả. Chính thời điểm này, chữ nghĩa VC mới lộ diện khá nhiều trên các phương tiện truyền thông ở hải ngoại!

Tổng thống đến rồi tổng thống đi, nhưng ngôn ngữ VC sẽ di hại mãi về sau nên chúng tôi đành gõ mõ này, xin báo động cùng đồng hương hải ngoại tiếp tay:

– “Tôi yêu tiếng nước tôi… từ khi mới ra đời, mẹ hiền ru… à ơi”.

Nhưng VC đã làm hỏng tiếng Việt rồi, mẹ hiền ơi!

Tiếng Việt đã hỏng ngay từ khi AK vào Nam “nhận hàng”! Nó càng thêm tan hoang khi ông tiến sĩ họ Bùi (Hiền) muốn “hán hóa”, biến chế tiếng Việt sang dạng CC (cải cách), ông thêm chữ “ô” vào cái họ “bùi” của ông ta thì nghe lạ tai quá!

Giáo Sư Trần Ngọc D.. (TTVH Hồng Bàng) nói rằng ngôn ngữ XHCN què quặt, vì họ bắt chước theo Tàu, mà ngôn ngữ Tàu thì nghèo nàn.

“Tiếng Nước Tôi” trong sáng, rõ ràng, “liên hệ” và “liên lạc” khác nhau, nhưng tiếng Tàu chỉ có “liên hệ” mà không có “liên lạc”, vì thế từ cái nôi “đỉnh cao trí tuệ” bắt chước theo Tàu nói sai, “toàn dân theo gương baác Hồ” cũng nói sai luôn! Họ chỉ biết nói hai chữ “liên hệ” mà không hiểu liên hệ là gì! Cả nước XHCN dùng “liên hệ” thay vì phải dùng “liên lạc”, tiếp xúc.

– Dốt!

“Liên hệ” là có liên quan, liên hệ huyết thống, liên hệ gia đình v.v..

Chuyện nội bộ XHCN của những đỉnh cao “xấu hay làm tốt, dốt hay nói chữ” thì “mackeno”, nhưng nó truyền nhiễm sang cộng đồng Việt ở hải ngoại, gieo rắc đó đây những mầm mống bệnh hoạn chữ nghĩa thì quả là tai hại khôn lường!

Kể từ khi xảy ra đại ôn dịch VC (virus China-virus Corona) chữ nghĩa VC được dịp tung hoành xâm lấn vào một số báo chí, radio, TV hải ngoại. Một số xướng ngôn viên phát ngôn cứ như nói trên “trung tâm nghe nhìn” của XHCN. Có thể họ mới đến nướcMỹ, chưa kịp nhập gia tùy tục, nên mới nói theo thói quen cũ. Nhưng điều đáng trách là những người tị nạn CS lại bắt chước mới là khôi hài.

Khán thính giả chúng tôi cám ơn các xướng ngôn viên đã nhanh chóng loan tin tức nóng hổi thời Coviq 19 và cái “đầu gối”. Tiếng nói của các MC quan trọng lắm, ảnh hưởng rất nhiều đến ngôn ngữ của khán thính giả. Ông “Có Công” nói:

– Tiếng nói của TT (tổng thống & truyền thông) rất quan trọng, cần phải chính xác, kẻo ảnh hưởng tai hại tới khán thính giả.

Đúng như vậy, nếu TT nói không đúng thì nói lại và rồi mọi chuyện sẽ qua, nhưng truyền thông hải ngoại cứ dùng ngôn ngữ VC sẽ di hại về sau. Trẻ em và người nhẹ dạ dễ nói theo khiến: “Hỏng Rồi Tiếng Nước Tôi”.

Ngoài những ngôn ngữ kỳ cục của “BK75”, đại loại như: “ấn tượng, bộ phận người, bức xúc, cục bộ, chỉn chu, đạo cụ, khẩn trương, khống chế, mặt bằng, hồ hởi, năng nổ, phản cảm, quá trình, quỹ thời gian, rốt ráo, sự cố, tác nghiệp, tham quan, thân thương, thiếu đói” v.v… thì nay (2020) ngôn ngữ VC theo chân ôn dịch VC đang làm đảo lộn ngôn ngữ tiếng Việt trong sáng của chúng ta khiến những ai còn tha thiết với tiếng Việt phải đau lòng, than theo của cụ Tản Đà:

– “Lễ nghĩa thời nay trời thu sạch, đạo đức cương thường đảo ngược ru”.

Lễ nghĩa đảo ngược, chữ nghĩa cũng đảo ngược theo.

Trong chương trình “Trường Học Trường Đời” trên Little Saigon Radio, khi đề cập tới chữ nghĩa VC, Tiến Sĩ Ngôn Ngữ Học Đinh X.Q.., Giáo Sư Nguyễn T.H.., và cô MC Nhã L.. đã cùng phải than:

– Đó là thứ tiếng Việt lai căng. Ngôn ngữ là văn hóa, là tấm gương của tâm hồn, kẻ thô tục thì nói lời thô tục.

Xin đơn cử một vài ngôn ngữ thô tục mà XHCN thường dùng:

“Phần cứng, phần mềm, điểm nhấn, người chơi, đầu vào đầu ra, bức xúc, gậy tự sướng, chụp ảnh tự sướng, một bộ phận người”!

“Cứng mềm” là cái gì chắc hẳn ai cũng đã nghe, đã biết chả cần nói thêm, nhưng “điểm nhấn” là gì?

Xin đọc đoạn tin trên báo điện tử XHCNVN Express:

– Điểm nhấn cảnh quan tại khu vực dọc phố Lê Thái Tổ và Hàng Khay là những thảm cây cảnh đa tầng, được thiết kế theo phương án “rừng cây đô thị”.

Tên Phùng Phú, Phó chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương (danh từ riêng mà VC viết chữ hoa kiểu ba rọi) tuyên bố:

– Hạnh phúc của nhân dân là “điểm nhấn” trong dự thảo văn kiện đại hội 13.

– Cú đúp của Zlatan Ibrahimovic vào lưới đội bóng cũ là điểm nhấn ở trận derby có kết quả 2-1 nghiêng về Milan, tối 17/10.

Vài ngày sau, tại Little Saigon, tờ tuần báo “Cờ-Lờ” viết:

– Khi tranh luận với Biden, “điểm nhấn” của Trump là ngắt lời…

Trên TV IBC (phát hình tại Little SG), khi nói về trang phục của Hoàng Gia Anh, cô Th..Lee nói:

– Công Nương Diana có những “điểm nhấn” về trang phục…

Ơ hay nhỉ! Báo tại Little SG viết cho người Việt tị nạn CS đọc thì tại sao lại đi “cọp-dê” hai chữ thổ tả “điểm nhấn” của VC!

Cầu mong hương hồn Bà Diana đừng nghe những gì cô MC này nói.

“Điểm nhấn” là cái gì vậy? Nhấn ở đâu? Nhấn trên hay nhấn dưới?

Người chơi!

Chúng ta gọi những người dự một chương trình giải trí, thể thao là “tham dự viên, người dự thi, đấu thủ” v.v.. nhưng XHCN thì họ gọi tất cả là: “người chơi”.

Trong “sô” đấu trường cờ Việt, cuộc đấu trí giữa hai người** (mà VC gọi là hai cặp đôi) một nam kỳ thủ là Vũ Quốc Đạt và một nữ kỳ thủ là Nguyễn Thị Liên, thì trọng tài gọi cậu Đạt và cô Liên là “người chơi” và ông ta ra lệnh:

– “Hai người chơi bắt đầu… chơi”!

(** chúng ta gọi hai người là một cặp, hoặc một đôi, nhưng VC gọi 2 người là “cặp đôi”! Đã cặp lại còn đôi! Nó sai như thế mà cả nước XHCN nhắm mắt nói theo thủ trưởng là: “cặp đôi”! Tội nghiệp tiếng nước tôi.

Cái que để gắn ai-phôn chụp hình của mình thì thì họ gọi là “gậy tự sướng”

Nhà máy và nguyên vật liệu tạo ra sản phẩm thì XHCN thì gọi là “đầu vào đầu ra”! Câu chuyện sau đây cho thấy xã hội thô tục dốt nát:

Quản giáo Môn, đội 2, trại 8 Hoàng Liên Sơn khoe với tù nhân:

-“Liên Sô có nhà máy chế biến thực phẩm rất cực kỳ, đầu vào là con lợn, đầu ra là cái xúc-xích”.

Tù nhân Đức Cống khúc khích cười đểu, nói với quản giáo Môn:

– XHCN ta có nhà máy Bác Hồ, đầu vào là xúc-xích đầu ra là con lợn.

Ăng-ten giải thích bậy với quản giáo, khiến tù Đức Cống bị cùm 7 ngày.

“Một bộ phận người”!

Thân thể người ta có nhiều bộ phận: đầu, mình, chân, tay, tâm, can, tì, phế thận. Thế nhưng XHCN gọi một nhóm người, một toán người, một đám người là “một bộ phận người”. Thật là quái đản, bộ phận người trên hay bộ phận dưới đây?

Chữ nghĩa VC vừa thô tục, vừa khó hiểu, nhưng điều đáng buồn là nó đã phá nát tiếng Việt trong sáng của chúng ta, nó lan tràn sang cộng đồng Việt hải ngoại, ở trong nước nói sao là hải ngoại nhép lại như vậy.

Tôi xin nêu ra một số ngôn ngữ VC đang lây lan như ôn dịch VC trên khắp các TV tiếng Việt tần số từ 14.1 đến 14.7

Mình, Tụi Mình, Tụi Này!

“Mình ơi đi mãi quên lời…

Em yêu tiếng gọi của mình, mình ơi!”.

Mình ơi! Mình mình ơi!

Khi nghe danh ca Ý Lan, Diệu Hương, Ngọc Hạ cất cao lời hát kèm theo tiếng gọi: “Mình ơi!” sao mà nó hay thế, sắt đá cũng phải mềm, những con tim 81 muốn quay ngay trở lại tuổi 18 để đáp lời gọi trong hạnh phúc:

-“Ơi ơiơi”.

Nhưng khi MC tự xưng: “mình, tụi mình, tụi này” thì tôi muốn tắt TV.

“Mình” là đại danh từ dành cho đôi nam nữ bày tỏ tình cảm yêu thương nhau nơi chốn riêng tư: “Mình ơi em có… Mình ơi đi ngủ…, mình ơi anh yêu mình v.v…”. Nhưng nơi công cộng, trên radio, TV, vì phép lịch sự, để tôn trọng khán thính giả, người đối thoại phải dùng những đại danh từ: “Tôi, chúng tôi”.

Ngày nay, dưới XHCN, đại đa người nói chỉ biết tự xưng “mình” với mọi người. Con nít xưng “mình” với người già, đàn bà xưng “mình” với đàn ông, không còn tôn ti trật tự là gì nữa. Khổ thay, những ngày gần đây, chữ “mình” từ trong nước theo làn sóng “cầu thực” ra hải ngoại, lây lan khắp nơi, bị dùng bừa bãi, bất kể đối tượng là ai. Thay vì dùng chủ từ “tôi, chúng tôi” một cách lịch sự, nghiêm trang, thì các đương sự cứ xưng “mình” với mọi người một cách vô tâm, vô ý… thức.

Trong chương trình quảng cáo dược thảo trị táo bón của BS Phạm… một nữ nhân “hồ hởi phấn khởi” oang oang trên radio cứ như chỗ không người:

– Giê-Su-Ma, mình táo bón lâu rồi, mà chỉ uống có 2 viên là ra ngay, bác sĩ!

Bà táo bón chứ Chúa có táo bón đâu mà bà kêu tên NGƯỜI vô cớ? Bà là cái thớ gì của BS mà xưng “mình” với ông ta! Bà bệnh không sợ bà bác sĩ ghen à? Xin đề nghị với bà, thay vì xưng “mình” thì: “Tôi” cho lịch sự một tí.

Ông Dr Dean nói về việc học y khoa với giáo sư H.. và cô NL cùng hàng ngàn khán thính giả trên LSR & TV. Ông nói:

– Mình phải học cố gắng, lấy nhiều tín chỉ, tụi này học ngày học đêm…

Đề nghị quan đốc dành riêng tiếng “mình” cho bà đốc. Còn hai chữ: “tụi này” là tụi nào vậy thưa ông đốc?

Mọi Người-Người Mọi!

Trong chương trình “truy lùng tài năng siêu trí tuệ” của truyền hình XHCN, một cháu nhỏ 7 tuổi** được giới thiệu là “siêu trí tuệ”, cháu đứng trên sân khấu trước hàng ngàn khán thính giả thuộc bậc ông, bà, cô, bác, cháu mở lời:

– Chào mọi người, hôm nay mình đến tham dự cuộc chơi…

Một đứa trẻ 7 tuổi** “siêu trí tuệ” XHCN xưng “mình” với ông, bà, cha, chú, bác! Cháu gom tất cả vào một hạng: “mọi người”!

“Giời ơi”!Trường học XHCN đã không dạy cho các cháu biết “tiên học lễ, hậu học văn” học đức khiêm tốn, nói năng lễ phép:

– “Kính thưa quý ông bà, kính thưa quý khán thính giả”.

Tuổi trẻ trong nước không được dạy về đại danh từ ngôi thứ nhất có những chữ biểu lộ sự lễ phép: “cháu, con, em, tôi”. Mà chỉ biết có chữ “mình”!

(** xin mở đấu ngoặc ở đây nói qua về chữ “tuổi” mà XHCN dùng.

Tự điển tiếng Việt trước 4/75, định nghĩa “tuổi” là thọ mệnh tính hằng năm. Đứa bé đẻ ra đủ 12 tháng mới gọi là 1 tuổi, ăn mừng con đầy tuổi. Nhưng sau 4/75 xuất hiện ngôn ngữ quái đản: “đứa bé 3 tuần tuổi, cháu gái mới 6 tháng tuổi v.v..”)

Quay trở lại hai chữ “mọi người”

Trong trường học là vậy, ngoài đường phố XHCN thì sao?

Năn nỉ xin “views”, lời nói đầu tiên của các “youtubers” là:

– “Chào mọi người, hôm nay mình… xin cho mình một cái lai”.

Tệ nạn này nó đã nhiễm trùng tràn lan vào tiếng Việt hải ngoại, có nguy cơ “Người Việt Giết Tiếng Việt”. Xin quý đọc giả theo dõi hiện tượng sau đây:

Một cô đỏ môi quảng cáo cho super-market PL trên đường Brookhurst:

– Chào mọi người…

Cô đẹp người mà ngôn ngữ chẳng đẹp tí nào, mời chào khách hàng thì phải lịch sự lễ phép: “Thưa quý khách”, chứ sao cô lại gom nam nữ trẻ già vào một rổ “mọi người”! Khách hàng đến mua thực phẩm chứ có mua…đồ của cô đâu.

Chàng tuổi trẻ đẹp trai tên Th.. nói trên TV tần số 14.2:

– Chào mọi người, khai trương café sáng, mình phải ăn mặc “chỉn chu”.

Này chú em, em rất đẹp trai, nói tiếng Việt lưu loát, em mới sang Little SGTV làm MC thì nên cố gắng trút bỏ những cái bụi bặm XHCN đi. “ăn mặc chỉn chu” là cái gì vậy? Phải nói là “ăn mặc chỉnh tề chu đáo”.

Xin cộng đồng nói tiếng Việt ở hải ngoại hãy trả hai tiếng “mọi người” về cho “người mọi” ở cái hang baác-bó xa xôi nào đó cho kẻ dốt hay nói chữ.

“Quá trình”:

Khi tôi nhắc tới hai chữ này, tên Tê nhìn đời bằng nửa con mắt kêu lên:

– “Biết rồi khổ lắm nói mãi”!

Nói mãi mà vẫn chưa hiểu, chưa thủng lỗ tai nên cần phải lập lại.

Tự điển tiếng Việt xuất bản trước 4/75 tại Saigon đã giải thích:

“Quá” là “đã qua, qua rồi”, quá khứ, quá vãng, quá cố. “Quá trình” là một sự việc đã diễn ra trong quá khứ. Nhưng VC dùng “quá trình” cho cả hiện tại và tương lai, “no dot no say so”, nhưng tai hại thay, một số người Việt hải ngoại cũng nhắm mắt nói theo, nhất là một số xướng ngôn viên.

Trên TV14.4 khi loan báo tin tức thế giới cô MC Thanh H phát ngôn:

– WHO đang trong quá trình điều tra về việc đối phó với đại dịch Coviq.

– Bộ Nội An đang trong quá trình điều tra việc gian lận tiền thất nghiệp.

MC chắc mới di cư từ XHCN qua, nhưng người soạn bản tin này từ đâu ra mà viết như vậy? “Đang” là hiện tại, tại sao lại cứ phải nhét thêm đi “quá trình” vào cho thêm rắc rối lộn ngược.

Tiếng Việt trong sáng dễ hiểu chỉ cần nói viết ngắn gọn:

– WHO đang điều tra về việc…

– Bộ Nội An đang điều tra việc gian lận…

Xin đừng nói bậy, viết bậy về hai chữ “quá trình” nữa, chỉ nên dùng nó khi diễn tả một sự việc đã xảy ra rồi, còn ở thời hiện tại và tương lai thì quăng nó đi hoặc nếu muốn văn hoa thì: “Đang trong tiến trình…” cho tiếng Việt được trong sáng.

“Khả năng”.

“Khả năng” là hai chữ mà XHCN dùng bậy nhất vì muốn háng-hóa theo ngôn ngữ Tàu.

Ngàn năm đô hộ giặc Tàu, tiếng Việt vẫn là tiếng Việt, vậy mà chỉ mấy chục năm bám theo chân mà VC đã đem cái nghèo nàn “háng-zăng” vào tiếng Việt!

“Khả” là tiếng Hán, bọn Tàu Ô cố vấn nói: “Thiên khả vũ”, thế là đám thủ trưởng nói theo: “trời có khả năng mưa”, rồi từ đó, dưới XHCN thi đua dùng “khả năng” cho mọi hoàn cảnh và ngày nay, ở hải ngoại, nhất và vùng Little SG, trên TV các băng tần 14.xx các xướng ngôn viên nhắm nói sai theo. Họ đọc bản tin như sau:

– Những đám cháy ở CA “có khả năng” lan rộng…

– Dịch coviq 19 “có khả năng” bộc phát trở lại vào mùa Thu.

– Trận bão Blu “có khả năng” gây ra lũ lụt tại miền Trung Tây HK.

Ba chữ “có khả năng” đã bị VC dùng sai vì cái tật “dốt hay nói chữ”, nhưng người Việt tị nạn VC đâu có thiếu chữ mà nói theo họ. Cho dù ba chữ “có khả năng” theo du học sinh vào đất Mỹ, mà du học sinh là những người có chữ thì cũng phải biết đúng sai chứ đâu có thể nhắm mắt nói theo, viết theo.

Tự điển tiếng Việt xuất bản tại miền Nam trước 4/75 định nghĩa:

Khả năng: Là tài sức, phẩm chất, đức tính, năng lực, tài năng v.v.., cái vốn vật chất và tinh thần để cáng đáng một việc gì đó.

Thí dụ: một người có thừa khả năng, đủ khả năng, thiếu khả năng…

Muốn hiểu rõ ý nghĩa của “khả năng” thì xin tra thêm tự điển Pháp-Mỹ để nói và viết cho đúng.Xin nghe tâm sự của Giáo Sư HB:

– Trong buổi thảo luận với một số thầy cô giáo dạy tiếng Việt nhân một khóa tu nghiệp Sư Phạm, tôi đã nói về từ “có khả năng”, và không đồng ý với những ai nói theo người trong nước như:

-“Thời tiết Nam California có khả năng nóng trong những ngày sắp tới”

Cá nhân tôi, không bao giờ nói, không bao giờ viết như thế.

Các thầy cô giáo tôi tiếp xúc cũng nghĩ như tôi, chúng ta chỉ nên nói là:

–“Thời tiết Nam California có thể sẽ nóng lên trong những ngày sắp tới.”.

Thưa quý thày cô Trung Tâm Việt Ngữ Hồng Bàng, quý thày cô trong chương trình: “Ước Mơ Việt, Bảo Tồn Tiếng Việt Trong Sáng”.

Cám ơn quý thày cô đã soi sáng và chỉ dạy nên dùng hai chữ: “có thể” để diễn tả sự thay đổi thời tiết, hoặc các hiện tượng bất thường khác do “trời” gây ra.

Xin các MC hải ngoại chớ bắt chước VC rước ba chữ: “Có khả năng” vào nhà khiến các cháu nhỏ ở Trung Tâm “Ước Mơ Việt” cười cho.

Hai chữ “Có thể” dễ dùng, rõ ràng và trong sáng như thế thì tại sao không dùng mà cứ học theo vẹt VC: “có khả năng”!

“Ý Định-Ý Đồ”

Từ trí thức đến trí ngủ XHCN không biết phân biệt “ý định & ý đồ” khác nhau thế nào. Hầu như họ quên mất hai chữ “ý định” rồi! Bất cứ ai dự định làm việc gì, dù cho tốt đẹp hay đen tối, họ chỉ biết dùng hai chữ “ý đồ” mà thôi.

Thí dụ: Chủ tịch tỉnh xx có “ý đồ” xây cây cầu cho dân “đi cầu”.

“Ý đồ” là có mưu đồ, có ẩn ý làm một việc gì có lợi cho mình mà hại cho người khác. Có thể người dân trong nước thâm hiểm, chửi xéo quan chức nhà nước chăng. Ông chủ tịch tỉnh có “ý đồ” xây cầu cho dân đi, nhưng thực chất là ông ta có âm mưu (ẩn ý) mượn cớ xây cầu để ăn cắp cốt sắt, xi măng…

Xin các MC hải ngoại nhớ phân biệt “ý định & ý đồ”, chớ nói theo VC, thí dụ như: “Bố tôi có “ý đồ” giúp tôi tài chánh để mua nhà.

Giống Như Là & Như Là.

Tự điển văn phạm Việt, Pháp, Mỹ đều giải thích cách dùng nhóm chữ này:

“giống như là”, “như là” dùng khi có ý so sánh…

Thí dụ: Trông em đẹp giống như là, (như là) tài tử ciné.

Nhưng thực chất không phải tài tử.

Khi muốn kể ra, liệt kê ra thứ gì đó thì chỉ dùng “như là”, không bao giờ dùng “giống như là” được, vì 3 chữ này chỉ dùng khi có ý so sánh

Hồi còn ở tù tại trại 8 Hoàng Liên Sơn, đám tù chúng tôi bị trại trưởng giải thích về lao động, hắn liệt kê ra một số công việc mà tù sẽ phải làm. Hắn nói:

– Nao động nà vinh quang, các anh phải nao động, “giống như nà”: cày ruộng, cấy núa, phá rừng trồng bắp, nàm ra của cải để tự luôi sống bản thân.

Không tù nào cười nổi việc hắn nói ngọng, mà cười hắn vì “dốt hay nói chữ”.

Nói đúng tiếng Việt, khi liệt kê cộng việc thì phải dùng 2 chữ “như là”:

– Các anh phải lao động, như là: cày ruộng, cuốc đất, cấy lúa, phá rừng v.v..

Tưởng chuyện đó chỉ có ở miền thượng du Hoàng Liên Sơn năm 1978, ai dè tới nay 2020, “giống như là” nó theo sang CA, Hoa Kỳ.

Xin quý khán thính giả Nam Bắc CA nghe các MC nói trên radio & TV, hầu như họ chỉ biết dùng ba chữ “giống như là” mà không biết dùng “như là” dù đó là liệt kê ra, kể ra chứ không phải muốn so sánh.

Xin nghe cô Ngoc…L.. nói:

– Trong lúc chữa trị dịch coviq, có những người làm việc tuyến đầu rất nguy hiểm “giống như là” các bác sĩ, y tá ở các bệnh viện (TV 14.xx cô NL).

Sai rồi cô Ng L..ơi! Lúc nào cô cũng dùng 3 chữ “giống như là”

Những người làm việc tuyến đầu chống coviq rất nguy hiểm không phải “giống như là” mà chính là, (như là) các bác sĩ, y tá, y công v.v..

Khi cô muốn kể ra, liệt kê ra cho thiên hạ biết họ là những ai thì cô phải dùng hai chữ: “như là” chứ không thể dùng ba chữ: “giống như là”.

Nhóm chữ “giống như là” chỉ dùng khi chúng ta có ý so sánh hai sự kiện.

Thí dụ: Các bác sĩ, y tá ở bệnh viện làm việc chống coviq nguy hiểm “giống như là” các chiến sĩ ngoài tiền tuyến.

Thế rồi đồng nghiệp của cô, chú Nguyễn Dài tiếp lời:

– Một số người khai gian lãnh tiền thất nghiệp tới 24 ngàn đô, để đi mua đồ có giá trị “giống như là” đồng hồ Rolex, túi xách tay vuitton.

Sai rồi chú Ng Dài ơi! Họ mua đồ quý giá thực sự “như là” Rolex, hột xoàn, chứ không phải đồ giả “giống như là” đồ thật.

– Khi bị nhiễm Coviq, bệnh nhân có những triệu chứng “giống như là” sốt trên 100F, ho khan, khó thở, mất vị giác (14.4 Dr QK và Võ ĐV).

Ngược đời rồi anh Võ Đức Vê ơi!

Những triệu chứng nhiễm Cô-Vi đúng như anh kể ra, chứ không phải những triệu chứng này của bệnh cúm. Khi nào triệu chứng của Cô-Vi tương tự như của cúm thì anh Võ mới nói: “giống như là” bệnh cúm.

Tóm lại khi có ý so sánh hai việc khác nhau thì mới dùng “giống như là”, còn khi chỉ chúng ta muốn kể ra thì chỉ dùng: “như là” mà thôi.

Xin quý anh chị em MC so sánh hai thí dụ dưới đây:

  1. Các MC chương trình Café Sáng đẹp “giống như là” tài tử ciné.

  1. Các MC chương trình Café Sáng “như là” ĐQAT, HHT, NT, NL nói tiếng Việt rất đúng và lưu loát.

Những người lên TV như là Ông X, Bà Y, Cô Z cứ dùng ngôn ngữ XHCN “giống như là” VC , mà không phải VC mà là tị nạn CS.

Muốn rõ hơn thì nên tìm hiểu tự điển Pháp-Mỹ những chữ nghĩa tương tự.

Cái Đuôi “Luôn”.

Tuổi trẻ trong nước ngày nay họ nói năng vô cùng lạ lùng, không bút mực nào mà kê khai ra cho hết được những điều quái dị! Những ngôn ngữ đó theo chân người từ trong nước, theo du học sinh xâm nhập vào cộng đồng Việt hải ngoại, thế rồi: “Điều hay khó học, điều dở dễ lây”.

Trong nước họ luôn kết thúc một câu nói bằng chữ (luôn) vô nghĩa. Thế là các một số người hải ngoại và MC cũng nói theo, khiến tiếng Việt muốn tắt thở.

Xin mời quý vị nghe xem các MC hải ngoại nói cái gì đây:

– Máy bay mà gặp các đàn chim là sợ lắm “luôn”.

Chú Ng T (TV 14.2) thêm chữ “luôn” vào cuối câu một cách hết sức vô duyên. Cũng băng tần này, khi hướng dẫn về cách nấu bún riêu thì người hướng dẫn nói:

– Nấu bún riêu theo cách này thì ngon “luôn”.

– Nấu bún riêu mà cho một “tea-spoon” mắm tôm thì thơm “luôn”

Cô MC Thanh H.. nói về các mẹo vặt:

– Làm theo cách này thì rất hay “luôn”.

– Cuối tuần, bãi biển Hungtington Beach quá đông người “luôn”

Ông tiến sĩ Kờ-Lờ.., chuyên viên ứng cử và thất cử thì than rằng:

– Các cuộc vận động tranh cử thì vô cùng khó khăn “luôn”

Thưa tiến sĩ, chữ “luôn” trong những câu trên không có nghĩa gì cả, nó là cái đuôi (tiếp vĩ ngữ) làm người nói trông dị hợm như có cái đuôi đằng sau. Ông muốn dùng chữ “luôn” cho đúng thì cần phải có hai sự kiện cùng song hành.

Thí dụ:

– Ông TS Kim L.. ra ứng cử, nên bà L.. cũng ra “luôn”. Và cả hai ông bà đều thất cử “luôn”.

– Ông đi chơi với bồ, nên bà cũng đi “luôn”.

Kính thưa quý đồng hương hải ngoại:

Trên đây tôi mới chỉ thu thập được 1/3 ngôn ngữ quái đản XHCN theo chân lớp người tha phương cầu thực du nhập vào làm đảo lộn chữ nghĩa “Tiếng Nước Tôi”. Chúng tôi xin quý vị trong cộng đồng hải ngoại, mỗi người giúp một ngón tay giữa, “ngón tay” mà quý vị ưng ý để chỉ vào ngôn ngữ “thủm” cho nó tiêu dần đi, để chúng ta duy trì tiếng Việt cho được trong sáng.

Nhất là các anh chị em xướng ngôn viên. Tiếng nói của quý anh chị quan trọng lắm, tiếng Việt tiếp tục được trong sáng hay bị lu mờ đi theo ngôn ngữ VC phần lớn là do trách nhiệm của truyền thông, của quý anh chị./.

Captovan.

(Kỳ sau viết tiếp: khống chế, bất cập, nói chung là v.v…)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở HỎNG RỒI TIẾNG NƯỚC TÔI _ Captovan

CNN mới đón nhận một thành viên mới

Kính thưa các bạn đồng môn K1. Tưởng rằng nhiệm vụ của Căn Nhà Nhỏ đã chấm dứt sau gần 10 năm sinh hoạt để kết hợp tất cả anh chị em K1 lại với nhau. Nào ngờ hôm nay có một con nhạn lạc bầy vừa tìm về với Đại Gia Đình Khóa 1 Học Viện CSQG.
Đó là bạn THÁI VĂN LÂM. Cựu SVSQ Khóa 1 TSV.

DSC_0018 (2)

DSC_0017DSC_1725Để mình tả vài nết về bạn TVL xem có bạn nào nhớ không nhé. Bạn TVL là một tay trống trong ban văn nghệ của HV khi học khóa 1. Sau khi ra trường bạn TVL được thuyên chuyển về Nha Đô Thành cùng với 40 bạn đồng khóa làm việc trong Đội Tuần Cảnh Hổn Hợp mới được thành lập.

Năm 1975 bạn TVL vượt biện tìm tự do và định cư tại Houston Texas cho đến nay. Con của TVL học chung trường với con trai của bạn Lê Phất Minh. Trong các lần biểu tình chống cộng tại Houston do bạn LPM tổ chức, bạn TVL đều có tham dự. Nhưng bạn không biết và  không sinh hoạt với anh chị em K1 tại Houston. Một dịp tình cờ bạn Thái văn Lâm vào được website Căn Nhà Nhỏ xem và thấy trong mục Happy Birthday tháng 7 có tên của bạn ta. Bạn ta thật bất ngờ và tìm hiểu qua trung gian K Nguyễn Minh Tân ( Ở Vancouver WA). Bạn Lậm xin số email và số phone của mình . Nhờ đó CNN mới bắt được con nhạn nầy cho nó quay về  tổ.
Hồi ở trong Học Viện bạn Thái văn Lâm có chụp một số hình của anh chị em Khóa 1 mà bạn nói chưa thấy trên net nên muốn gởi cho CNN. Khi nào có đầy đũ mình sẽ post lên CNN cho các bạn xem.
Kèm theo đây là số email và số phone của bạn Thái văn Lâm để các bạn có thể gọi hỏi thăm. Nhờ anh trưởng khóa ghi tên bạn Thái văm Lâm vào group khóa 1 để bạn ta có dịp trở lại sinh hoạt cùng chúng ta.

– email:  tdoan1945@att.net     phone:   281- 583-5174.

CHÚC MỪNG K1 THÁI VĂN LÂM TÌM VỀ CÙNG GĐ KHÓA 1

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở CNN mới đón nhận một thành viên mới

Mỹ phải làm gì để đánh bại Trung Cộng (yahoo.com)

Mỹ phải làm gì để đánh bại Trung Cộng  

Tom Cotton        

Chiến tranh Lạnh của Hoa Kỳ với Trung Cộng sẽ quyết định tiến trình của thế kỷ tới. Để quét chủ nghĩa Cộng sản Trung Cộng vào đống tro tàn của lịch sử, chúng ta phải tiến hành một cuộc chiến kinh tế lâu dài thông qua việc tách rời Trung Cộng và cạnh tranh kinh tế nghiêm ngặt với họ. Tháng trước, tôi đã phát hành một báo cáo nêu chi tiết chính xác cách đạt được mục tiêu này. 

Trong ba thập kỷ, Washington và Phố Wall đã tích cực hợp tác kinh tế của chúng ta với Trung Cộng. Trong khi đó, Đảng Cộng sản Trung Cộng đã lợi dụng việc này để gây ra một cuộc chiến tranh thương mại tàn khốc chống lại quốc gia của chúng ta. Thông qua gian lận, trộm cắp và gián điệp có hệ thống, Trung Cộng đã phá hủy hàng triệu việc làm của người Mỹ và giành được vị trí thống trị trong việc sản xuất công nghệ tiên tiến và nguồn cung cấp thiết yếu. Các nền kinh tế của chúng ta hiện đang bị ràng buộc một cách nguy hiểm và Hoa Kỳ tiếp tục thúc đẩy sự phát triển của đối thủ lớn nhất của chúng ta. Điều này phải chấm dứt. Hoa Kỳ phải tách nền kinh tế của chúng ta ra khỏi Trung Cộng nơi chúng ta dễ bị tổn thương, trả đũa sự lạm dụng của Trung Cộng và xây dựng lại sức mạnh kinh tế của Mỹ, đặc biệt là trong các nguồn cung cấp thiết yếu và sản xuất công nghệ cao.

ĐCSTQ dùng sự đối xử ưu đãi thương mại của Mỹ để tiến hành một chiến dịch xâm lược kinh tế. Để đối đầu với mối đe dọa này, Hoa Kỳ nên hủy bỏ Quan hệ Thương mại Bình thường Vĩnh viễn (PNTR) với Trung Cộng. Kết thúc PNTR cần Quốc hội và tổng thống phải phê chuẫn quy chế Tối huệ quốc (MFN) của Trung Cộng hàng năm. Điều này sẽ cho phép chính phủ Hoa Kỳ hạn chế Trung Cộng tiếp cận thị trường Hoa Kỳ hàng năm, nếu họ tiếp tục tấn công các công ty và công nhân của chúng tôi. Một chế độ tội phạm đánh cắp hàng trăm tỷ đô la tài sản trí tuệ mỗi năm, thao túng tiền tệ và bán phá giá các sản phẩm được trợ cấp trên toàn thế giới không xứng đáng được hưởng ưu đãi về thương mại. 

Tiếp theo, chúng ta nên cắt đứt đường ống thông tin đánh cắp tài sản trí tuệ của Trung Cộng từ các trường cao đẳng và đại học của Mỹ. Trung Cộng thực hiện tới 80% hành vi trộm cắp tài sản trí tuệ quốc tế và là đối tượng của gần một nửa số vụ phản gián của FBI vì tội gián điệp kinh tế. Phần lớn hoạt động ác ý này xảy ra trong các khuôn viên của Mỹ và trong các phòng thí nghiệm và cơ sở nghiên cứu của Mỹ. Tuy nhiên, trong năm 2018–19, khoảng 370.000 sinh viên Trung Cộng đã được phép du học tại Hoa Kỳ – một nửa trong số đó đã đăng ký các khóa học STEM (science, technology, engineering and mathematics). Công dân Trung Cộng vẫn theo học tại các cơ sở nghiên cứu uy tín, các nhà nghiên cứu Mỹ tham gia các chương trình tuyển dụng nhân tài của Trung Cộng và các công ty liên kết với ĐCSTQ tuyển sinh các trường cao đẳng, đại học và giáo sư. Quyền truy cập mở này là không khôn ngoan và nên bị hạn chế. Chính phủ Hoa Kỳ nên cấm công dân Trung Cộng theo học các lảnh vực STEM ở cấp đại học hoặc sau đại học, cấm Trung Cộng tài trợ cho các trường đại học và tổ chức nghiên cứu của Hoa Kỳ và chấm dứt hệ thống đại học vệ tinh của Hoa Kỳ ở Trung Cộng. Điều này sẽ giảm thiểu hành vi trộm cắp tiếp tục xảy ra và chấm dứt việc chào đón các nhà nghiên cứu quân sự Trung Cộng vào các phòng thí nghiệm tiên tiến nhất của đất nước chúng ta. 

Chúng ta cũng phải chấm dứt sự phụ thuộc vào Trung Cộng đối với các nguồn cung cấp thiết yếu như nguyên tố đất hiếm (rare-earth elements), dược phẩm (pharmaceuticals) và thiết bị bảo vệ cá nhân (PPE). Trung Cộng cung cấp 80% lượng đất hiếm nhập khẩu của Mỹ – vốn cần thiết cho sản xuất công nghệ cao – và xử lý 85% nguồn cung cấp nguyên tố đất hiếm của thế giới. Trung Cộng đã sử dụng đòn bẩy của mình đối với các nguyên tố đất hiếm để rút tiền nhượng bộ khỏi Nhật Bản và hiện đang tìm cách hạn chế xuất khẩu đất hiếm cần thiết cho việc sản xuất F-35 của Mỹ. Đầu đại dịch COVID-19, Trung Cộng đã áp dụng các biện pháp hạn chế xuất khẩu tương tự đối với các sản phẩm dược phẩm và PPE. Điểm yếu chiến lược này phải được nhanh chóng loại bỏ, và việc sản xuất các sản phẩm thiết yếu phải được đẩy mạnh trở lại thông qua các yêu cầu của Mua hàng Mỹ, ưu đãi thuế và dự trữ quy mô lớn. 

Đầu tư của Hoa Kỳ đã trợ cấp cho sự trỗi dậy của Trung Cộng trong 30 năm. Mặc dù chúng ta hiện đang sàng lọc đầu tư vào từ Trung Cộng, nhưng chúng ta thiếu một quy trình tương tự đối với vốn đầu tư ra nước ngoài của Hoa Kỳ. Chúng ta nên thực hiện một quy trình xem xét cần thiết để ngăn chặn đầu tư của Hoa Kỳ vào các ngành chiến lược của Trung Cộng và nên ngăn chặn các công ty Hoa Kỳ sử dụng các đối tác thứ ba để chuyển tiền vào Trung Cộng. Tương tự, các biện pháp kiểm soát xuất khẩu mở rộng qua Trung Cộng cần áp dụng cho trí tuệ nhân tạo tiên tiến của Hoa Kỳ (AI), công nghệ viễn thông 5G và chất bán dẫn (semi-conductor). Các biện pháp kiểm soát xuất khẩu sẽ ngăn cản Trung Cộng đi tiên phong và thống trị những công nghệ quan trọng này trong tương lai. Công nghệ của ngày mai không thể được đóng dấu bằng dòng chữ “Sản xuất tại Trung Cộng”. 

Những hành động này và những hành động khác, được trình bày chi tiết trong báo cáo của tôi, báo cáo của tôi, sẽ tách rời thành công nền kinh tế Hoa Kỳ và Trung Cộng theo một cách có mục tiêu. Trung Cộng không giống Liên Xô – sức mạnh của họ chủ yếu đến từ sức mạnh kinh tế và sự khai thác tài chính, chứ không phải quy mô kho vũ khí hạt nhân hay quy mô của các sư đoàn xe tăng. Đế chế Ác Ma này dựa vào sự hào phóng, cởi mở và ngây thơ của chúng ta – và có thể sụp đổ nếu không có nó. 

What the U.S. Must Do to Beat China (yahoo.com)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Mỹ phải làm gì để đánh bại Trung Cộng (yahoo.com)

Tâm Thư của NT Trần Minh Công

TÂM THƯ CỦA NT TRẦN MINH CÔNG
ĐỀ NGHỊ GIẢI QUYẾT CÁC VẤN ĐỀ
LIÊN QUAN ĐẾN WEBSITE HV- CSQG

2.logo_Hoc_Vien cut

Thưa quý vị Giáo Sư, cựu Giảng sư và các bạn Cựu SVSQ Học Viện CSQG-VNCH :

Trong mấy ngày gần đây tôi đã nhận được emails nhận đinh và góp ý của  một số bạn cựu SVSQ/HV-CSQG liên quan đến Website HV-CSQG. Vì từ trước tới nay vấn đề này chưa được đặt ra nên có bạn đã lập một Egroup để liên lạc giữa thân hữu và đồng môn như bạn Dư Quang Nê K6. Bạn Nguyễn Văn Diệp K3 lập một Website – HV-CSQG cũng vì mục đích trên . Tôi không biết còn có egroups hay websites nào khác liên quan đến HV-CSQG hay không.

Qua những emails trao đổi trên NET, nay hầu như đa số đều đồng ý là chúng ta cần có  một Website chính thức chung cho các thành viên đã từng liên hệ đến HV-CSQG gồm các Giảng Sư, SQ Cán Bộ, Nhân viên và nhất là các SVSQ đã từng tốt nghiệp hay tu nghiệp tại HV. Mục đích là để chúng ta có một nơi chung để ghi lại lịch sử của Lực Lượng CSQG trong đó có lịch sử và sự hình thành của HV-CSQG (Cảnh sử mà Tổng Hội đã phát hành 2 năm trước đây). Cũng là nơi để chúng ta trao đổi và ghi lại những thành quả, kinh nghiệm phục vụ đất nước để mọi người trong và ngoài LL/CSQG biết rõ hơn về LL-CSQG mà chúng ta đã hãnh diện phục vụ. Cũng là nơi để con cháu chúng ta và các thế hệ sau này biết rõ về vai trò và trách nhiệm của LL-CSQG trong lịch sử của đất nước…

Tôi rất cám ơn những quan tâm và ý kiến mà một số khá đông các bạn đã chia sẻ với cá nhân tôi và với các đồng môn khác trên NET. Trong một tập thể lớn như tập thể HV-CSQG dĩ nhiên chúng ta có nhiều nhận định và ý kiến khác nhau. Nhưng chúng ta cùng đồng ý là nên có một Website chung cho mọi thành viên HV. Và đây sẽ là tiếng nói chính thức cho Học Viện-CSQG-VNCH.

Tôi đã tham khảo ý kiến với chiến hữu Trần Quan An là Chủ tịch Hội Đồng Quản Trị của Tổng Hội và đã từng là Trưởng Đoàn Giảng Sư của Học Viện một thời. Chúng tôi cùng đồng ý là những phương thức kết nối anh em trước đây (trước tháng 3/2021) là sáng kiến tốt của một số bạn. Những chi tiết quá khứ dù chúng ta đồng ý hay không bây giờ cũng không nên bàn tới nữa. Bây giờ là lúc nên chung sức để tạo một ngôi nhà mới (Website chính thức) cho Học Viện. Đề nghị của K3 Thái Văn Hòa kêu gọi Đại Diện Các Khóa găp nhau để góp ý và thảo luận thực hiên một Website chung và chính thức cho HV là một ý kiến hay và hợp lý. Việc nhờ K1. Nhữ Đình Toán là người đã có kinh nghiệm điều hành Website cũng là một ý kiến đáng lưu tâm. Tôi tin rằng chúng ta sẽ có sự tiếp tay của TS. Trần An Bài ,  một vị Giảng sư khả kính đã rất yêu thương HV , với nhiều bài viết giá trị liên quan đến ngành CSQG. Bài vở của các cựu SVSQ khác cũng sẽ làm phong phú website chung của chúng ta. Tôi chắc các bạn K3.Nguyễn Văn Diệp và K6.Dư Quang Nê và nhiều bạn khác nữa cũng sẽ vì Danh Dự chung của HV mà  tiếp tay trong nỗ lực chung này.

Bạn Trần Quan An và cá nhân tôi rất mong ý kiến của chúng tôi được các bạn cứu xét. Chúng ta có thể có nhiều ý kiến khác nhau nhưng chỉ có một Danh Dự chung của Học Viện cần được phát huy và bảo vệ.

Thân chào và cầu chúc An Lành đến tất cả các bạn và gia đình.

Thân kính,
Trần Minh Công.

HV-CSQG.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Tâm Thư của NT Trần Minh Công

Miền Nam Việt Nam Trước 1975

Tưởng Niệm Quốc Hận 30/4 1975 chúng ta hãy lắng lòng nhìn về quê hương đầy ắp những kỷ niệm khó quên qua các ca khúc buồn da diết.
(Video từ trên Youtube)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Miền Nam Việt Nam Trước 1975