Các Danh Mục

XƯỚNG HỌA 1: THẤY GÌ?
THƠ ĐƯỜNG CÓC K1
Bốn sáu năm rồi thôi chiến chinh
GC: *Công nhân: người lao động và là Lê thị Công Nhân
46 năm rồi dứt chiến chinh
Đã nói qua rồi buổi chiến chinh
Nhìn về quá khứ, cuộc trường chinh
Tháng tư buồn tủi cảnh vênh chinh
Đất nước vừa qua cuộc chiến chinh
Ta vẫn hận hoài thứ viễn chinh
Giải phóng miền Nam hết chiến chinh
Phạm Đồng, Lê Duẩn với Trường Chinh
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở XƯỚNG HỌA 1: THẤY GÌ?
CÂU CHUYỆN CHIẾN TRANH VIỆT NAM ÍT NGƯỜI BIẾT (ST)

SỰ KIỆN TRẠI DAVIS TRONG PHI TRƯỜNG TÂN SƠN NHỨT NGÀY 21/1/1974
Ngày 19/1/1974 hải chiến Hoàng Sa xảy ra, Trung cộng đã cưỡng chiếm những hải đảo của Việt Nam.
Ngày 21/1/1974 Ủy ban Liên hợp Quân sự bốn bên họp định kỳ ở trại Davis, bên trong phi trường Tân Sơn Nhứt.
Nghị trình của phía CS Bắc Việt đưa vào cuộc họp lần này vẫn là những luận điệu vu cáo và lên án VNCH vi phạm hiệp định Paris bằng miệng như thường lệ.
Họ cứ lải nhải tố cáo VNCH vi phạm tại Quảng Ngãi, Nam An Lộc…v.v.. Phái đoàn cộng sản không đả động gì tới sự kiện Hoàng Sa vừa diễn ra hai hôm trước.
Phái đoàn Việt Nam Cộng Hoà đưa vấn đề Hoàng Sa vào nghị trình. Vấn đề Hoàng Sa được viết bằng văn bản gồm có hai phần:
1) Đề nghị chính thức Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa cùng với Việt Nam Cộng Hoà ra thông cáo lên án hành động xâm lược lãnh thổ – lãnh hải của Việt Nam.
2) Yêu cầu phía quân đội VNDCCH cùng MTGPMN không tấn công phá rối các phi trường, quân cảng Đà Nẵng, Nha Trang thuộc Quân Đoàn I, II để VNCH phối trí tập trung lực lượng tái chiếm Hoàng Sa.
Đến phần bàn về Hoàng Sa, phái đoàn CS Bắc Việt và VC vẫn ngồi im thin thít không phát biểu gì. Mọi con mắt của đại diện quốc tế đều đổ dồn về phía họ. Phái đoàn cộng sản bí quá đành giở trò câu giờ… cho hết buổi họp.
Phái đoàn VNCH yêu cầu tiếp tục họp bất thường. Yêu cầu của VNCH được Uỷ ban Giám sát đồng ý, vì vấn đề có liên quan tới tình hình quân sự và vừa xảy ra trong phạm vi kiểm soát (lãnh thổ) VNCH.
Không thể thoái thác, Thiếu tướng Lê Quang Hòa trưởng đoàn CS Bắc Việt liền đánh điện về xin ý kiến Trung ương.
Lê Đức Thọ trưởng ban Miền Nam, Uỷ viên thường trực Bộ chính trị đã trả lời “Lập trường chính trị của các anh để đâu? Đang có chiến tranh, lại phối hợp hoạt động với địch à? Cuộc chiến tranh gay go của ta rất cần sự ủng hộ của Trung quốc, mà lại nói quay sang chống bạn. Họ có giải phóng giúp ta, thì sau này cũng trả lại cho ta thôi.’’
Trong phiên họp bất thường, Trung Tướng Ngô Du trưởng phái đoàn VNCH, người chủ trì cuộc họp đưa ra đề nghị:
“Trong phiên họp này, tôi đề nghị không cáo buộc, cãi nhau về những vụ xâm phạm lãnh thổ, vi phạm hiệp định Paris nữa. Trung cộng đã ngang nhiên xâm lược và chiếm giữ toàn bộ quần đảo Hoàng Sa. Đất của chúng tôi thì cũng như đất của các anh vì cùng là đất tổ tiên chúng ta để lại cả. Vì thế, chúng ta nên xếp ba bốn cái vụ tranh cãi lại, để ngồi cùng nhau bàn bạc về việc phối hợp hoạt động chống lại sự xâm lăng này. Yêu cầu VNDCCH cùng VNCH gửi công hàm lên án Trung cộng tại Liên Hiệp Quốc, VNDCCH nên vận động phe XHCN và cũng như thế giới lên tiếng phản đối (Trung Quốc)”
Mọi con mắt của các đại diện quốc tế trong uỷ ban đổ dồn về phía phái đoàn Cộng Sản. Họ tảng lờ…
Một lúc, tướng Ngô Du nổi nóng. Xen lẫn trong tiếng văng tục, ông chỉ thẳng mặt tên tướng CS Lê Quang Hòa: “… Chúng mày tảng lờ, là tiếp tay cho Trung Cộng, là bán nước mà còn tiếp tục định đánh, không cho chúng tao giành lại đất đai của tổ tiên”.
Tướng Ngô Du chụp lấy cái gạt tàn thuốc lá bằng thủy tinh ném thẳng vào mặt Lê Quang Hòa. Hắn né được, cái gạt tàn đập vào tường vỡ nát.
Cận vệ của Lê Quang Hòa lao tới tướng Ngô Du thì liền bị cận vệ của tướng Ngô Du ngăn cản và bẻ (khóa) tay.
(Sĩ quan bảo vệ an ninh tướng Lê Quang Hòa, và các cựu cán bộ của đảng CSVN kể lại).
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở CÂU CHUYỆN CHIẾN TRANH VIỆT NAM ÍT NGƯỜI BIẾT (ST)
Thắp nén hương lòng: Giữa núi rừng Việt Bắc…. (BĐQ Đoàn Trọng Hiếu)

(Viết để tưởng nhớ quý chiến hữu Quân, Cán, Chính VNCH đã gục chết tủi hờn và oan khiên trong lao tù khổ sai của bọn cộng sản vô nhân, và cũng để tuyên dương những người vợ lính VNCH, đặc biệt là chị quả phụ của cố Đại úy Cảnh Sát QG Trần Thiên Thọ Hải. ….)
… Tình hình sức khỏe anh em khi còn ở các trại do quân đội Việt cộng quản lý đã tồi tệ, thì nay càng tồi tệ hơn dưới sự hà khắc dã man của bọn công an, mà anh em tù quen gọi là bọn “chó vàng”. Tiêu chuẩn ăn uống thì bị bọn chúng cắt xén ăn bớt. Mỗi bữa ăn chỉ được một thìa cơm với hai khúc sắn tươi, hoặc gần chục lát sắn khô hay một chén sắn duôi (loại sắn được nạo thành sợi hay xắt thành cục phơi khô), vài muỗng canh đại dương (nước muối với vài cọng rau già), hoặc một vài miếng sắn được nấu với muối cho nhừ để làm canh. Họa hoằn, một đôi ba tháng vào các ngày lễ,
Tết thì được một chén cơm trắng với hai ba miếng thịt heo to bằng đốt ngón tay, hoặc một vài miếng thịt trâu từ một con trâu già đã không còn kéo cày nổi hay bị chết vì không chịu nổi cái lạnh mùa đông. Với chế độ ăn uống vô cùng thiếu thốn như vậy mà phải làm việc khổ sai cực nhọc, dẫn đến tình trạng kiệt lực, người nào cũng chỉ còn da bọc xương. Mỗi buổi chiều, hết giờ lao động, anh em tù cởi áo xuống ao tắm, trông như một bầy khỉ ốm đói tội nghiệp.
Tình trạng bệnh tật và không có thuốc men thật là đáng sợ, bệnh kiết lỵ, phù thủng và thổ huyết rất phổ biến. Đã có một số anh em chết mà anh em tù quen gọi là “quay đầu về núi” vì hầu hết tù nhân chết đều được chôn trên các sườn đồi.
Xin đơn cử một vài cái chết của vài anh mà tôi có dịp ở chung.
Thiếu Tá Hà Sỹ Phong, Phó Giám Đốc Đài Phát Thanh Tự Do, anh ở cùng đội với tôi, mấy ngày trước anh bị bệnh nên cho nghỉ ở nhà trực phòng, sau đó 2 ngày anh được mẹ ở miền Bắc lên thăm. Buổi tối anh cho tôi nửa chén cơm vắt và hai miếng thịt gà kho mặn, anh thì thầm tâm sự:
– Năm 54 tôi di cư vào Nam chỉ có một mình, ông bà cụ luyến tiếc tài sản không chịu đi, bố tôi bị đi tẩy não (tù cải tạo) trong đợt cải cách ruộng đất và chết trong tù, bây giờ mẹ tôi đã ngoài 70 tuổi lại phải đi thăm con ở tù. Đây là lần đầu gặp lại mẹ tôi sau hơn hai mươi năm xa cách.
Nói rồi hai hàng nước mắt anh lăn dài trên má. Tôi lí nhí cám ơn anh về món quà anh đã cho tôi. Sau gần 3 năm tù, đây là lần đầu tiên tôi được thưởng thức một món ăn quá sang trọng như vậy. Tôi xé từng sớ thịt, rồi lại liếm mấy ngón tay, tận hưởng cái hạnh phúc to lớn ấy rồi thiếp dần vào giấc ngủ.
Sáng hôm sau, khi ra khỏi phòng để điểm danh thì thiếu một người, tên thường trực thi đua (một tên tù được đưa lên phụ việc đóng mở cửa và kiểm soát anh em) đi vào thì phát hiện anh Phong đã mê man. Chúng tôi vội cõng anh lên trạm xá nhưng anh đã chết vài giờ sau đó.
Ít ngày sau lại đến anh Trung Tá Lạc, Phòng 2 Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II. Một buổi chiều sau khi lao động về, anh Lạc ghé sang khu tôi ở, móc trong túi ra một cái bánh chưng đưa cho tôi và nói:
– Hai cháu nó mới ra thăm, cả hai đều được đi dậy học lại và là “giáo viên tiên tiến” nên được cho ra thăm “lăng Bác”. Nó tìm lên thăm mua cho ít quà, chú dùng cái bánh chia vui với tôi, mấy ngày nữa các cháu sẽ lại lên thăm tôi lần nữa. Tôi đón cái bánh chưng to bằng cái bánh trung thu và lí nhí cám ơn anh rồi vội chia tay, vì sợ tụi cán bộ trông thấy sẽ ghép tôi quan hệ trái phép .v.v…
Quả thật, những lúc đói khát khó khăn thế này mới thấy cái tình dành cho nhau nó to lớn và sâu đậm. Nhưng rồi không may cho anh, hai hôm sau anh đã chết ngay tại hiện trường lao động không kịp gặp lại các con.
Giữa năm 78, vì đói khát suy dinh dưỡng, cộng thêm cơn sốt vàng da đã khiến tôi kiệt lực, thân thể chỉ còn trên 30kg. Tôi không còn bước đi được nữa, mà chỉ có thể bò được vài ba thước, tôi được đưa xuống trạm xá nằm trong “danh sách chờ”. Tại đây đã có anh Tư, anh là người hạm trưởng đã sang đến Singapore rồi lại quay về, anh bị bệnh phù thủng lại thêm phần ân hận vì đã quay về để rồi bị đi tù mút chỉ, nên chỉ ít ngày thì anh chết.
Rồi đến Trung Tá Mai Xuân Hậu, Tỉnh Trưởng Kontum, Thiếu Tá Đặng Bình Minh lái trực thăng cho Tổng Thống Thiệu, Trung Tá Lý. Dường như chẳng còn ai quan tâm đến cái chết, chả thế mà vẫn còn nói đùa: “Đ.M. mày qua mặt tao mà đíu bóp còi!”.
Cũng thời gian này, có một bài hát đã được anh sáng tác tôi vẫn còn nhớ được ít câu:
“Rồi một ngày mai không có anh, em không còn phải nhớ phải mong
– Rồi một ngày mai thân xác anh quay đầu về núi
– Cô đơn ngồi khóc một mình
– Không một lần kịp vuốt mắt anh
– Ôi mây lang thang về phía trời xa vời,
nhìn trông theo cánh chim từng đàn,
để mình ta với bao ngày tháng xanh rêu,
bụi thời gian lấp kín hồn mình,
đớn đau trong lòng mà nhớ về nơi xa,
ôi ngày về còn dài bao lâu
– Rồi một ngày mai anh chết đi, em không còn phải khóc phải thương
– Rồi một ngày mai thân xác anh đi vào lòng đất, cô đơn phủ kín đời mình.
– Không một lần kịp nói tiếng yêu.”
Nhưng rồi may mắn hơn, số tôi chưa tới, nên căn bệnh sốt vàng da không biết có phải nhờ ba cái lá ổi, lá xoan hay không, mà tự nhiên biến mất. Và may mắn thay, nhờ mảnh giấy tôi gửi lén về qua một chị ra thăm chồng, tuy bị tụi công an phát giác, nhưng chị cũng đã nhớ cái địa chỉ ở Biên Hòa, nên chị đã đi tìm báo cho gia đình tôi biết. Nhờ vậy, cuối năm 79, mẹ tôi và vợ con tôi ra thăm, tên Vinh, cán bộ giáo dục của trại, trước khi tôi ra gặp đã chỉ cho tôi gặp 5 phút vì tôi đã gửi lén thư, nhưng tên công an dắt tôi ra đã cho tôi gặp gần một giờ.
Gặp lại mẹ và vợ con sau hơn 4 năm chỉ biết khóc. Chỉ nói được vài câu thì đã hết giờ, tôi đứng dậy chào từ biệt, lòng buồn rã rượi, rồi chống gậy lom khom lết về trại, một tên tù hình sự được chỉ định giúp tôi đẩy cái xe cải tiến chở đồ thăm nuôi vào trại. Nhờ chuyến ra thăm này mà tôi dần dần hồi phục, lúc này mỗi tuần đều có một vài anh em “quay đầu về núi”. Cái đồi sắn ở phía đội 12 sau hơn hai năm đã có gần 300 anh em tù chính trị được chôn ở đó.
Gần tết năm 79, tôi chuyển sang đội 17 lâm sản, chuyên đi lấy củi để sử dụng cho bếp trại. Thời gian này, do áp lực của quốc tế, nên chúng buộc phải cho gia đình những người tù VNCH đi thăm nuôi, nên sức khỏe của đa số anh em đã dần dần hồi phục. Một số anh em “con bà phước” cũng được anh em đùm bọc, nên cái bóng thần chết đã bị đẩy lùi.
Hàng đêm tại các phòng, anh em lại tụ tập quanh ngọn đèn dầu với ấm trà cặm tăm, loại trà thật đặc được pha hoàn toàn bằng búp trà “hai tôm một tép” sao sấy cẩn thận, do anh em đội trà lén mang về. Các tay văn nghệ lại bắt đầu tổ chức ca hát nhạc vàng hàng đêm, khiến tụi cán bộ trại điên đầu, chúng bắt đầu cảm thấy hoang mang vì thấy tù càng bị nhốt lâu lại càng ung dung tự tại, không còn hoang mang lo sợ, lại thêm đám cán bộ nhí bắt đầu bị anh em tù thu phục.
… Anh em đã san sẻ thuốc men cho dân ốm đau trong vùng, khi đi lao động ngoài Bến Ngọc. Anh em thường gọi đây là công tác dân sự vụ. Một buổi tối cuối năm, sau khi đã điểm danh vào phòng, anh em đang tụ tập đàn hát như thường lệ, lúc kẻng báo tắt đèn đến giờ ngủ thì tên cán bộ trực tại trại đến cửa phòng nói vọng vào yêu cầu Phan Thanh đội trưởng lâm sản cử 4 người đi “lao động đột xuất”. Thanh, Diệp, Tân và tôi mặc quần áo cho thật ấm và cũng không quên mang theo tấm nylon đề phòng mưa, vì mùa đông miền Bắc thật lạnh, lại thường có mưa phùn.
Chúng tôi được lệnh xuống chỗ đội 12 lấy cuốc xẻng và thùng xách nước bỏ lên xe cải tiến đi về phía khu nhà tiếp tân. Tên cán bộ đi theo đưa cho tôi cái đèn bão leo lét. Ngang khu nhà tiếp tân thì đã thấy một thiếu phụ trong bộ đồ tang trắng đang đứng đợi.
Dường như đã được sắp xếp, người thiếu phụ lặng lẽ đi theo, tên cán bộ ra lệnh cho chúng tôi đi ra khu nghĩa địa. Đến nơi, hắn bảo chúng tôi đi tìm mộ của Trần Thiên Thọ Hải. Chúng tôi nhớ ra Đại Úy Hải đã chết vào đợt những anh em đầu tiên năm 1977, như vậy là nằm ở sâu trong cùng sát chân đồi. Sau gần 15 phút, chúng tôi đã tìm được ngôi mộ của anh với tấm bia chỉ nhỏ bằng tờ giấy học trò ghi lờ mờ, còn nắm đất thì chỉ cao hơn mặt đất chừng một tấc.
Chúng tôi được lệnh là đào để bốc cốt cho chị mang về trong Nam. Việc đầu tiên là tìm một ít cành khô để đốt một đống lửa sưởi ấm và lấy ánh sang. Chị bắt đầu lấy ra môt bó nhang đốt lên rồi quỳ xuống vái ba lạy. Cầm nguyên bó nhang chị thổn thức khóc và nằm phủ phục lên ngôi mộ. Dưới ánh lửa tôi thấy thiếu phụ còn rất trẻ chỉ khoảng dưới 30, nét mặt xương xương.
Chúng tôi đứng lặng yên tôn trọng nỗi đau của chị, cho đến khi tên cán bộ yêu cầu chúng tôi “khẩn trương” bắt tay vào việc, vì trời đã lâm râm mưa phùn. Chúng tôi dìu chị đứng dậy sang bên cạnh và bắt đầu đào. Chỉ không đầy 20 phút, chúng tôi đã đụng lớp ván đã mục, vì khi tù nhân chết thì chỉ được bỏ vào cái quan tài nhỏ vừa khít người được đóng bằng loại gỗ bạch đàn hay bồ đề, một loại cây được trồng để làm giấy, nên rất nhẹ xốp, được xẻ thành từng thanh và đóng hở như cái vạt giường, nên thấy cả xác nằm bên trong và đám tù hình sự khi đi chôn thì chỉ đào sâu khoảng 4 tấc rồi vùi lấp qua loa.
Gỡ lớp ván trên mặt, bên trong là bộ quần áo tù đã rữa nát. Tôi đi xách một thùng nước ở dưới ruộng để rửa cho sạch đất, người thiếu phụ cũng đã lấy ra một cái thau nhựa và đổ vào đó một ít rượu. Chúng tôi cẩn thận nhặt từng cái xương rũ cho bớt đất, rửa cho sạch rồi trao cho chị. Chị cầm từng cái rửa trong rượu, rồi bỏ vào cái bịch nylon hai lớp. Chị đưa cho chúng tôi mỗi người một gói thuốc Tam Đảo rồi vừa làm chị vừa tâm sự:
– Giữa năm 79, em có xin phép ra thăm, nhưng khi đến trại thì họ nói là không có anh Hải ở đây, nhưng ít tháng sau thì em được tin anh Hải đã chết từ năm 77, do một chị bạn ra thăm chồng về cho biết.
Như vậy là họ đã dấu nhẹm không báo cho gia đình. Mới đây, một người mách bảo cho em ra Bộ Nội Vụ ngoài Hà Nội làm đơn xin bốc cốt. Sau mấy lần làm đơn, cuối cùng họ đã phải cho. Nhưng khi đến đây thì họ chỉ cho làm vào ban đêm và sau khi xong, họ không cho em ở lại nhà tiếp qua đêm với lý do là ô uế.
Sau gần một giờ, thấy có thể đã không còn sót cái xương nào, chúng tôi bảo chị để tránh rắc rối chị không nên mặc bộ đồ tang này. Chúng tôi lấy bộ quần áo tang quấn quanh cái bao nylon đựng cốt bỏ vào cái bị cói lớn rồi lấy sợi dây chuối khô khâu miệng lại để không ai nhìn thấy.
Trên đường về trại, lúc đến chỗ rẽ, chị lý nhí vừa thổn thức khóc vừa cám ơn rồi dúi vào tay chúng tôi mấy gói thuốc còn lại. Nhìn người thiếu phụ tay xách cái bị cói đựng cốt chồng, lặng lẽ đi trong đêm, trên con đường rừng cô quạnh, khiến chúng tôi vô cùng thương cảm, ngậm ngùi, đứng trông theo. Bỗng, sự uất ức trào lên rồi không nén lại được, tôi thốt lên trong kẽ răng:
– Đ.M.! Rồi có ngày chúng mày sẽ phải trả giá cho hành động này! Chúng mày sẽ bị quả báo!
Chúng tôi đi vào theo cửa hông của cổng trại, rồi lặng lẽ đi về phòng. Tên thường trực thi đua đã đứng đợi sẵn để mở cửa.
Đã quá nửa đêm, cái lạnh của núi rừng Việt Bắc đã thấm sâu vào người, nằm co quắp dưới lớp chăn mỏng, tôi thầm ái ngại cho số phận của người đàn bà bất hạnh.
Chị mang hài cốt chồng đi giữa đêm trời giá lạnh rét mướt của vùng rừng núi Việt Bắc; như người vợ, người mẹ Việt Nam đang phải oằn mình mang nặng nỗi đau, nỗi bất hạnh của cả một dân tộc đi trong đêm tối bão bùng về một phương vô định…
Ôi, Dân Tộc tôi sao lắm nỗi đọa đày !!!
Đoàn Trọng Hiếu (BĐQ)
Bài do Hoàng Vũ chuyển
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Thắp nén hương lòng: Giữa núi rừng Việt Bắc…. (BĐQ Đoàn Trọng Hiếu)
HOÀI NIỆM MỘT THỜI: Tạp Chí Thế Giới Tự Do (St)

Đây là Bìa 1 của Tạp chí Thế Giới Tự Do, Tập XVIII, số 2, phát hành vào năm 1969 in ảnh của một cô sinh viên năm thứ 2, trường Quốc gia Cao đẳng Mỹ Thuật Sài Gòn đang tập vẽ.
Đây là vườn cây do trường xây dựng, là nơi để các sinh viên tập vẽ với cây cảnh xanh tươi, bên cạnh là đài phun nước và tượng điêu khắc…
Nội dung tạp chí số này khá đa dạng với những bài viết về thế giới như: nói về Hoạt động của Ngân hàng Châu Á, Đỉnh núi Kilabalu ở Mã Lai Á, Tân nội các của tổng thống Nixon…
Ngoài ra, tạp chí số này còn đề cập đến một số vấn đề trong nước như: Công cuộc tái thiết cố đô Huế (sau mậu thân), Trường QGCĐMT Sài Gòn, Lúa Thần nông tại VN…
Còn có một trang hình ảnh đặc biệt về: Cuộc gặp gỡ giữa thủ tướng Ấn Độ I.Gandhi và thủ tướng Tích Lan (Srilanka), hay hình ảnh cặp đôi J.Nixon (Con gái TT Nixon) và Chồng là David (CHáu nội của cựu TT Eisenhower)…
Đây là tờ tạp chí được phát miễn phí cho mọi người dân ở những nơi quận lỵ xa xôi. Ở cuối trang mục lục luôn có hàng chữ: “TẤT CẢ MỌI CÔNG DÂN TRONG XÃ HỘI MỚI CỦA CHÚNG TA NÊN CHUYỂN SỐ BÁO NÀY CHO ĐỒNG BÀO CÙNG XEM”
Ai sống ở MNVN đếu có ấn tượng tốt đẹp về tạp chí Thế Giới Tự Do và cả tờ Hương Quê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn. (ST)
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở HOÀI NIỆM MỘT THỜI: Tạp Chí Thế Giới Tự Do (St)
Đao Phủ Hoàng Phủ Ngọc Phan.
Mời các bạn nghe chuyện kể qua nhân chứng Nguyễn Thị Thái Hòa về tên đao phủ Hoàng phủ ngọc Phan.
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Đao Phủ Hoàng Phủ Ngọc Phan.
LƯƠNG TÂM VÔ GIÁ… (ST)

Hoàng là lái xe chở hàng hoá, hôm nay xe đang bon bon chạy thì bị hỏng. Hoàng vác hai hòn đá to chặn bánh xe và chui vào gầm để sửa. Khi sửa xong, xe chuẩn bị đi tiếp thì một ông lão chạy đến nói: “Này anh lái xe, anh đã đánh rơi đồ kìa!” vừa nói, ông vừa chỉ về phía sau xe.
Hoàng nghĩ ông nhắc đến hai hòn đá anh đã bỏ lại. Anh cười nói quên mất, rồi cố ý nhấn ga phóng đi.
Ông lão đuổi theo quát to: ” Anh làm người thế à? Làm người phải có lương tâm chứ! Anh bỏ lại hai hòn đó trên đường như vậy à? “
Những lời trách cứ của ông lão bị bỏ lại cùng đám bụi phía sau xe. Hoàng cười thầm trong bụng: “Lương tâm giá bao nhiêu một cân?”
Chạy được một trăm cây số thì gặp một trạm kiểm tra của Cảnh sát, Hoàng tìm giấy tờ để xuất trình nhưng tìm mãi không thấy, nghĩ lại thì có thể đánh rơi lúc sửa xe. Anh đành để xe ở trạm kiểm tra rồi quay lại tìm.
Đến nơi, Hoàng thấy hai hòn đá anh bỏ lại đã được khuân sang vệ đường trên đó có dán mảnh giấy với dòng chữ xiêu vẹo: ” Muốn lấy lại giấy tờ thì phải vác hòn đá nầy lên trên đồi”.
Hoàng kêu to lên: ” Đừng bắt ép người ta như thế! Cần bao nhiêu tiền cứ ra giá đi”.
Khi vác hòn đá đến chân đồi, Hoàng thấy một cái mũ trên đó có kẹp một tờ giấy viết: ” Đừng nói đến tiền, xin mời lên đồi”.
Cứ như thế, theo sự chỉ dẩn trên giấy tờ, Hoàng vác hòn đá qua mấy quả đồi liền, mệt tưởng chết.
Cuối cùng Hoàng mới thấy cái ví của mình đặt trên một nấm mộ trơ trọi. Giấy tờ, tiền bạc đầy đủ cả không thiếu một xu. Dưới cái ví tiền, còn một tờ giấy viết: “Cái ví nầy là do tôi nhặt được, bây giờ nó đã trở về với chủ cũ. Anh có biết vì sao tôi lại bắt anh vác hòn đá nầy đến trước phần mộ nầy không? Đây là mộ của con trai tôi, một đêm hai năm trước, nó đi xe máy về nhà, vì vấp phải hòn đá của một kẻ nào đó không có lương tâm bỏ trên đường nên nó đã bị ngã mà chết. Tôi đưa anh đến tận mộ con trai tôi là mong anh hiểu rõ một đạo lý: “Lương tâm là vô giá. Làm người có thể mất cái gì thì mất nhưng nhất thiết không được để mất lương tâm”.
(st)
![]()
Bài do K1 Dương Mộng Oanh chuyển
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở LƯƠNG TÂM VÔ GIÁ… (ST)
Thơ đường của bạn Nguyễn Văn Suốt
NÓI VỚI THẾ HỆ “THB”
(Bạn Nguyễn Văn Suốt họa bài thơ của bạn Trần Bình Trọng, bút hiệu Nhà Quê)
Bạn hữu bây giờ tuổi đã cao
Người quê… kẻ lạc tự phương nào,
Nhớ khi nhập học còn xa lạ!!
Nghĩ lúc cạnh ngồi..gợi kết giao,
Xếp lại vòng đời, vùi bảo tố!!
Vượt qua Hồng thủy, nát mai đào!!.
Ba trăm sáu chục, dần thưa bớt!!
Cũng nhớ họp đàn…quý hóa sao!!
(13/3/2021. NHÀ QUÊ)..
(Bài họa của bạn NGUYỄN VĂN SUỐT).
Tâm thành khấn nguyện :có Thiên Cao!
Bằng Hữu, Đồng Môn..khắp chốn nào…
Sau trước vẹn toàn tình tri kỹ,
Trong ngoài (nước) giử lấy…nghĩa chi giao.
Hữu hình, sao khỏi vòng sinh, hóa?!
Nhân thế đâu qua luật thảy đào?!
“Tê Hát Bê” (THB) dù còn…mấy đứa!!.
Gìn lòng..không thẹn với Trăng Sao.
(13/3/2021.) Suốt Nguyên.
Gửi các “Bằng Hửu Đồng Môn”
(Niên khóa 1956…….Trường Trung Học Công Lập Kiến Hoà).
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Thơ đường của bạn Nguyễn Văn Suốt
NƯỚC MỸ SỐ MỘT VÌ “TOILET”? _ Phượng Vũ

NƯỚC MỸ SỐ MỘT VÌ “TOILET”?
Lợi tức đầu người (GDP) dân Na Uy đứng hạng 3 trên thế giới: 65,500 USD 1 năm, Mỹ hạng 7 = 50,000usd, nhưng vật giá ở Na Uy cao hơn Mỹ gần 3 lần, xăng giá 11usd /1 gallon, sale tax 25%, nhà hàng không cho free nước đá lạnh như Mỹ, khát phải mua 1 chai nước nhỏ giá 24 Krone = 4USD, suy ra nếu so sánh GDP Mỹ với vật giá Âu Châu thì GDP Mỹ phải cao hơn 150,000 USD!
Ngay giữa thành phố Oslo là công viên tên Vigelandsparken Sculpture Park có những bức tượng điêu khắc mỹ thuật, rộng 80 mẫu, hàng triệu du khách đến mỗi năm… nhưng chỉ có 1 nhà vệ sinh bên cạnh quán nước ngoài cổng, phải nhét đồng 10 Krones (1.75USD) để sử dụng, nhìn đoàn người xếp hàng rồng rắn bên ngoài chờ là… nhịn luôn!
Nước Mỹ số một…
Các công viên, các khu “rest area” dọc các xa lộ, thậm chí ở những buổi meeting, hội chợ… cũng có những cầu tiêu tạm cho mọi người dùng khi cần đến và chẳng bao giờ phải tốn một xu nào.
“Đi cho biết đó biết đây
Ở hoài một chỗ, biết ngày nào “khôn”.
Ông bà ta từ ngàn xưa đã có cái “nhìn xa trông rộng” thấy được nhu cầu phát triển sự hiểu biết, sự “khôn” lên qua việc đi đó đây. Vì thế ngày nay du lịch là ngành “kỹ nghệ không khói” nhưng đem lại lợi nhuận lớn cho rất nhiều nước trên thế giới. Ngoài ra nhờ đi đó đây, ta mới có dịp mở rộng tầm nhìn, có dịp so sánh để “biết mình, biết người”.
Ở Mỹ lâu năm, quen hưởng những tiện nghi đời sống căn bản của mọi người trong xã hội (kể cả người nghèo), riết trở thành quen, thấy bình thường và xem đó là lẽ đương nhiên. Ví dụ như nhu cầu vệ sinh: ở Mỹ cầu tiêu công cộng có ở khắp nơi, giấy vệ sinh, giấy lau tay xài thoải mái, vòi nước uống cũng được thiết kế khắp nơi. Các công viên, các khu “rest area” dọc các xa lộ, thậm chí ở những buổi meeting, hội chợ… cũng có những cầu tiêu tạm cho mọi người dùng khi cần đến và chẳng bao giờ phải tốn một xu nào.
Nhưng khi du lịch ra nước ngoài khác mới “thấm thía”
Cái gì cũng phải trả tiền, kể cả nhu cầu vệ sinh (giá từ 1$ – 1.5$/1 lần, tùy nơi, tùy nước). Không phải chỉ tốn tiền mà còn “gian nan” khi hữu sự, để tìm cho ra “nơi cần đến”, ngay cả ở những thủ đô văn minh lẫy lừng lâu đời của thế giới!
Tôi nhớ có một lần khi thăm thủ đô Paris, một người trong đoàn cần toilet, bác tài chạy xuôi, chạy ngược, vòng vòng mãi mà vẫn không tìm ra! Cuối cùng một sáng kiến được nêu ra: tới một nhà hàng nào đó vô mua bất kỳ món gì đó để được đi toilet! Đó là nỗi khổ tâm lớn của các vị cao niên khi đi du lịch châu Âu, các vị phải nhắc nhau nhịn uống nước (điều này lại rất hại cho sức khỏe) để khỏi “khốn đốn” khi hữu sự!
Tôi nhớ một lần ở Rome, hướng dẫn viên dẫn một bà đi mãi qua đường này, tới ngõ nọ mà vẫn không tìm ra “nơi phải đến”, “bí” quá bèn hỏi:
– Bà có chịu tốn 10 Euro để vô restaurant kia mua thứ gì đó để được đi WC không?
– Nín hết nổi rồi, bây giờ không phải 10 Euro mà 20 Euro tôi cũng chịu luôn!
Có những WC có người ngồi thâu tiền còn đỡ, có những nơi, họ thiết kế sẵn phải bỏ đúng số tiền (cắc) quy định thì cổng mới mở cho vô. Khi đi du lịch đâu phải ai cũng có sẵn tiền cắc (Euro) trong túi, có một bà “mắc” quá nhưng không đổi được tiền cắc, nên phải mượn tứ tung trong đoàn, mỗi người thương tình móc hầu bao bỏ vô máy một ít, máy nuốt hết nhưng còn thiếu mấy xu, chưa đủ tiền, máy không mở cổng! Thật khốn đốn với máy móc vô tình!
Ở một số nước châu Á như Trung quốc, khách du lịch phải luôn thủ sẵn giấy vệ sinh trong bóp, vì trong toilet không có giấy vệ sinh. Tôi cứ bị ấn tượng mãi về một lần thăm Bắc Kinh (cách đây hơn 10 năm), đoàn du khách được một dàn các cô gái trẻ đẹp mặc xường xám đón chào tưng bừng ngay từ lối vào nhà hàng. Nhà hàng thiết kế rực rỡ sang trọng, đèn đuốc sáng choang như… cung đình. Sau bữa ăn khi cần đi WC, tôi ngạc nhiên khi bước vào thấy có một bàn trải khăn trắng bóc, trên bàn có một bình hoa tươi thật to, đẹp, và một cô gái xinh đẹp rực rỡ mặc xường xám ngồi đó chỉ để làm nhiệm vụ phát cho mỗi khách 1- 2 miếng giấy vệ sinh nhỏ.
Ôi “cung đình” mà không có giấy vệ sinh! Đúng là XHCN, hình thức trình diễn thì xôm tụ, nhưng nhu cầu căn bản thì không được đáp ứng. Trong đời sống có những nhu cầu xem ra có vẻ nhỏ nhặt, tầm thường, nhưng khi cần đến mà không có thì nó trở thành một trở ngại lớn, khiến người ta “điêu đứng” vì nó.
Nghe kể có một đoàn du khách nước ngoài viếng các lăng tẩm của triều đình Huế, đi từ lăng này đến lăng kia, cảnh đẹp hùng vĩ bao la…, bỗng một du khách cần đi WC, hướng dẫn viên tìm hoài không ra, bèn chỉ khách vào bụi cây xài đỡ, khách cương quyết không chịu! Vậy là cả đoàn phải ngưng tham quan, ra xe trở về khách sạn.
Phi trường ở Mỹ, ghế ngồi chờ đợi cho hành khách là ghế nệm dày và lúc nào cũng dư thừa, thậm chí lúc ít khách có thể nằm ngủ thoải mái. Toilet và vòi nước uống có khắp nơi, bây giờ lại có thêm những chỗ cho hành khách charge pin điện thoại, laptop, I pad, I phone…
Nhưng khi tới phi trường Paris (CDG) những nhu cầu căn bản đó hình như biến mất. Thực ra trước đây tôi đã đến phi trường Paris nhiều lần, nhưng đều đi ra ngay luôn. Lần này chuyến bay chuyển ở Paris trước khi tới Berlin nên tôi mới có cơ hội thâm nhập CDG. Trước hết khi máy bay đáp xuống CDG, tôi ngạc nhiên khi thấy phải đi cầu thang sắt xuống, với va li carry-on, nếu kéo đi thì nhẹ nhàng, nhưng phải xách nó lên và leo mấy chục bậc thang xuống thì không dễ chút nào! Sau đó, leo lên xe buýt chở vô phi trường.
Vô đây tôi lại tiếp tục chạy vòng vòng, mệt “bở hơi tai” vì phải xách carry-on lên xuống cầu thang nhiều lần đi từ khu này qua khu khác, phải qua khu x-ray (khám bằng tay là chính) rồi mới tới được cổng đổi chuyến bay! Khu nhà kiếng tương đối nhỏ nhưng có tới 12 cổng, mỗi cổng chỉ vỏn vẹn có một quầy nhỏ và một computer. Có một số băng ghế sắt trong khu vực cho hành khách ngồi đợi nhưng quá ít so với nhu cầu, nên hành khách ngồi la liệt dưới đất, khắp lối đi. Một số ông thì ngồi vắt vẻo trên các lan can, bờ tường. Tôi vừa mỏi chân, vừa mệt vừa khát nước, nhưng nhìn quanh cả khu vực không thấy có vòi nước uống nào, cả WC cũng không có, chỉ thấy toàn người là người
Khi lên được máy bay Air France, ngồi yên chỗ quan sát, tôi có cảm tưởng nó là “xe đò bay” thì đúng hơn (khi so sánh với máy bay Mỹ mà tôi vừa đi) vì ghế ngồi và thiết bị cũ kỹ như từ thế kỷ trước. Lúc máy bay cất cánh tôi nghe nó gầm gừ “phành phành” rồi “ạch ạch” như đang cố sức nâng cái thân già nua bốc lên khỏi mặt đất, tôi chỉ lo nó rớt (may là tôi có mua bảo hiểm rồi nên đỡ lo). Cuối cùng sau một hồi “lắc lư con tàu” nó cũng bay lên được… Yên tâm rồi, tôi mệt mỏi ngủ thiếp đi (vì chẳng có phương tiện giải trí nào: nhạc, tivi…).
Cơn khát nước làm tôi chợt tỉnh, thấy chung quanh ai cũng có ly nước, tôi bèn yêu cầu một nam tiếp viên cho xin ly nước, nhưng hắn trố mắt ra ngó tôi như tôi đang đòi hỏi một điều gì quá đáng, rồi hắn phớt lờ (đúng là tính “ga lăng” của đàn ông Pháp đã trở thành quá khứ). Có lẽ họ cho rằng họ chỉ phát nước theo giờ của họ, hết giờ là hết phát? Sau khi yêu cầu 2 lần không được, khát quá tôi đợi lúc bà tiếp viên trưởng đi ngang để lập lại yêu cầu, bà bảo tôi đợi một lát và mang đến cho tôi một ly nước nhỏ. Hình như nước trở thành hiếm quý và cách phục vụ lịch sự cũng hiếm quý luôn!
Ôi Air France! Một thuở mơ ước khi tôi còn học trung học ở Saigon, lúc nhìn những hình ảnh quảng cáo của Air France trên các tạp chí nước ngoài! Ôi mộng và thực đúng là “nghìn trùng xa cách”! Xin tạm biệt Air France và phi trường Paris (kinh đô ánh sáng một thời) mà không mong ngày gặp lại! Có lẽ từ đây nếu có du lịch châu Âu, tôi phải lo học thuộc lòng câu của William Shakespear: “I always feel happy, you know why? Because I don’t expect anything from anyone.”
Tới phi trường Berlin (TXL) lại cũng phải đi cầu thang sắt xuống, rồi đi xe bus vô phi trường, xem ra phi trường này còn nhỏ và thiếu tiện nghi hơn phi trường Paris, tôi lại tiếp tục xách carry-on mệt nghỉ, chứ không kéo đi nhẹ nhàng như ở các phi trường Mỹ. May mà hai nước Pháp và Đức là hai nước lớn lại có nền kinh tế vững mạnh trong khối châu Âu.
Đúng là có đi ra ngoài mới thấy tiện nghi ở nước Mỹ là số một, đó là chưa kể đến vụ so sánh giá cả hàng hóa ở Mỹ và châu Âu, hàng hóa ở Mỹ vừa nhiều vừa rẻ. Sau này về đến phi trường LAX tôi thấy thật nhẹ nhàng, thoải mái, tất cả đều được chuẩn bị phục vụ chu đáo nhanh gọn, lịch sự.
Đúng là “sweet home”. Ôi! “My beautiful America”. Bây giờ tôi mới cảm thấy thực sự yêu mến và tự hào về quê hương thứ 2 của tôi: Nước Mỹ yêu dấu! Quả là:
“Phải chờ đến xế chiều
Ta mới thấy ánh sáng ban ngày rạng rỡ biết bao!”
Nói đến niềm tự hào về nước Mỹ, tôi lại nhớ đến sự việc trên chuyến Cruise Coastal của Đức vừa đi. Ngày thứ hai lên tàu thì toilet trong phòng bị nghẹt, tôi gọi điện cho họ sửa mấy lần mà tình trạng vẫn không thay đổi, tôi phải xuống chỗ “Customer Service” để xếp hàng đi khiếu nại..
Thật ngạc nhiên khi họ “tỉnh bơ” cho biết không phải chỉ riêng phòng tôi mà các phòng ở tầng 2,5,8 đều bị như vậy, họ đang sửa, khi nào xong họ sẽ thông báo. Tôi bèn hỏi:
– Trong khi chờ sửa, thì khách giải quyết vụ toilet ra sao?
– Đi kiếm mấy cái toilet công cộng mà xài…
– Nhưng chúng ở đâu?
Sau một hồi thắc mắc tới lui, họ mới chịu lục sơ đồ ra để tìm và cho biết một cái ở lầu 9, một cái khác ở lầu 4. Nghĩa là khi hữu sự phải “ôm bụng” chạy vòng vòng mấy tầng lầu để đi tìm cái toilet công cộng và xếp hàng chờ tới phiên. Chắc là dân châu Âu quen kiểu này rồi nên không thấy phiền?
Trở về phòng, tôi bực bội kể lại cho chị bạn cùng phòng nghe, chị là bác sĩ hưu trí ở Đức. Sáng nay chị đã là nạn nhân “ôm bụng” chạy vòng vòng, may mà tình cờ tôi nhớ ra cái toilet công cộng ở lầu 9 cạnh bên nhà hàng, nên chỉ cho chị. Do đó tôi tưởng chị là “đồng minh” bèn nói:
– Hệ thống phục vụ trên tàu quá tệ! Đã vậy xem ra họ còn thản nhiên cho đó là chuyện nhỏ, không hề có một lời xin lỗi khách hàng. Ở Mỹ thì họ đã xin lỗi ríu rít rồi…
Không ngờ chị phản ứng mạnh:
– Mệt quá, Mỹ cái gì cũng tốt, cũng ngon lành hết! Dân Mỹ được nuông chiều quá hóa hư! Bởi vậy trên thế giới, Mỹ đi đâu cũng bị chúng ghét, bị khủng bố cho chết hết là đúng rồi! Lúc nào cũng đòi hỏi thứ này, thứ kia, còn đòi xin lỗi…“nhà giàu đứt tay bằng ăn mày đổ ruột”…
Chị mắng cho một hồi “tràng giang đại hải” mà vẫn chưa hả cơn giận. Tôi ngơ ngác vì bỗng dưng mình bị “giũa” một trận te tua chỉ vì là “dân Mỹ” mà nào tôi có đòi hỏi điều gì cao cấp đâu, chỉ là những nhu cầu căn bản thôi. Thôi “một sự nhịn chín sự lành”, nên tôi nín nhịn vì chị lớn hơn tôi nhiều, coi như mình nhịn “chị hai” trong nhà cho mọi chuyện êm xuôi tốt đẹp trong chuyến đi chơi!
Suy ra mới biết tinh thần “bài Mỹ” ở các nước Âu châu khá mạnh (ghé vô Nga 1 ngày tham quan cũng phải nộp tiền làm đơn xin visa).
Kiểu này qua các nước Trung Đông chắc bị “xơi tái” quá, nhưng tôi nhớ một lần cách đây 5, 6 năm dân Mỹ qua Ai cập thì lại được đối xử như VIP, đi đâu cũng được ưu tiên và có xe jeep hộ tống “tiền hô, hậu ủng” rất oai!
Hôm sau tâm sự với một chị bạn khác về nỗi ấm ức bị mắng oan. Chị trả lời:
– Chắc tại chị ấy ở Đức lâu, nên ngấm tinh thần “tự tôn dân tộc” của dân Đức, không muốn nước nào qua mặt, mà như vậy là tự ái dân tộc dỏm, vì dù gì mình cũng là người Viết Nam! (Chị cười) Ai bảo Mỹ giàu hơn, mạnh hơn nên dễ bị chúng ghét!
Tôi chán ngán:
– À thì ra vậy! Hèn gì em nghe người ta thường nói “ở đời mình thua chúng khinh, mình hơn chúng ganh ghét, mình bằng chúng nói xấu”.
Không biết đến bao giờ các dân tộc trên thế giới sẽ sống với nhau trong tâm trạng “để hận thù người người lắng xuống” hầu không còn ai cảm thấy:
“Đôi khi ta muốn thoát ly
Đi thật xa khỏi cuộc đời này
Xa lìa chuyện ganh đua với chê bai” (Lê Hựu Hà)
Dù sao nhờ có đi ra ngoài, có dịp mở rộng tầm nhìn, có dịp so sánh, tôi mới biết trân quý hơn những điều tôi đang được hưởng mỗi ngày ở xã hội này, mà đôi khi quá quen, tôi cứ xem đó là lẽ đương nhiên, là chuyện thường tình (giống như trong đời sống gia đình có nhiều người có phước có được những bà vợ, ông chồng rất tốt, rất tử tế, nhưng họ không hề biết quý và cứ nghĩ đó là chuyện đương nhiên và bình thường, cho đến khi không còn nữa mới hối tiếc thì đã muộn!).
Khi ý thức lại những tiện nghi của đời sống ở Mỹ mà tôi vẫn xem đó là chuyện bình thường, tôi mới biết đôi khi nó là niềm ước mơ của biết bao người trên thế giới nói chung và dân tộc Việt Nam nói riêng. Họ không chỉ cần những nhu cầu vật chất căn bản của đời sống nhưng còn cần những nhu cầu căn bản về tinh thần (quyền làm người, quyền tự do…) mà họ khát khao nhưng không hề được đáp ứng!
Xin cám ơn Chúa, xin cám ơn đời đã cho tôi có một cuộc sống tương đối an lành trên xứ Mỹ này, để từ đó tôi biết yêu thương và chia sẻ nhiều hơn với những mảnh đời bất hạnh khác nơi quê nhà, vì có thể “Một tình thương cho cuộc sống đang chờ đợi ta” bởi:
“Tình yêu là trái chín của mọi mùa
Nằm trong tầm với của mọi bàn tay” (Mẹ Theresa)
Phượng Vũ
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở NƯỚC MỸ SỐ MỘT VÌ “TOILET”? _ Phượng Vũ
Một chuyến ra bắc thăm Ba / tác giả Hùng Biên
MỘT CHUYẾN RA BẮC THĂM BA
ĐANG BỊ CS GIAM TÙ CẢI TẠO
Tác giả Hùng Biên
Đôi Dòng về Tác Giả
– Sinh trưởng tại Gia Định, Sài Gòn trong gia đình có 5 anh em và có ba là cựu thiếu tá phục vụ trong binh chủng Lực Lượng Đặc Biệt và Biệt Động Quân, QLVNCH. – Là con trưởng và sớm phụ giúp gia đình khi còn bé khi ba bị lao tù Cộng Sản. – Vượt qua số phận bị kỳ thị trong thi cử của chế độ CS, đã thi đậu điểm cao vào Đại Học Bách Khoa, Sài Gòn năm 1988. Đi dạy kèm và luyện thi đại học qua các môn toán, lý và hóa tại tư gia từ 1989 tới 1995.
– Đi tỵ nạn CS theo diện HO tới định cư tại Seattle , WA vào năm 1995. Đã tham gia các đoàn thể thanh niên, sinh viên và tôn giáo tổ chức các sự kiện cho Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia (CĐNVQG) tại tiểu bang Washington (WA) như: Hội Chợ Tết, Tết Trung Thu, Trại Hè, lớp Việt Ngữ, Seafair Parade v… v… Cộng tác với các hội đoàn của CĐNVQG tại WA trong việc tổ chức các lễ hội và kỷ niệm hằng năm. – Tốt nghiệp đại học ngành Computer Engineering tại University of Washington vào năm 2002 và đang là kỹ sư trong lãnh vực hàng không.
– Lập gia đình và có 3 con nhỏ, đang sinh sống tại thành phố Atlanta , Georgia.
Trong những kỷ niệm của đời người, kỷ niệm của tuổi thơ với gia đình, người thân và bạn bè là những kỷ niệm đẹp và mãi theo chúng ta trong suốt cuộc đời. Hạnh phúc thay cho những ai có được những kỷ niệm gia đình thật trọn vẹn bên cạnh sự yêu thương của cả cha lẫn mẹ trong suốt quãng đời thơ ấu. Thế hệ chúng tôi, thế hệ con em của những người lính Việt Nam Cộng Hòa (VNCH), đa số đã thiếu hẳn những hạnh phúc gia đình trọn vẹn này khi có cha bị lưu đày trong các ngục tù Cộng Sản (CS). Thay vào đó, chúng tôi có thật nhiều những kỷ niệm khó quên trong những chuỗi ngày dài tự học hỏi, tự vươn lên, và tồn tại trong xã hội Cộng Sản, mà chúng tôi bị kỳ thị và phân biệt đối xử. Một trong những kỷ niệm của tuổi thơ, đã mãi theo tôi tới hôm nay là cuộc hành trình gian truân cùng với mẹ đi thăm ba, bị giam tù ở Miền Bắc Việt Nam (MBVN).
Giờ đây, tôi vẫn còn nhớ nhiều kỷ niệm, hình ảnh, và ý nghĩ của tôi qua chuyến ra Bắc thăm ba. Qua bài viết này, tôi muốn đem lại cho quý độc giả, nhất là các bạn trẻ và những thế hệ nối tiếp, những sự thật về chế độ CS qua những gì tôi đã nhìn thấy ở tuổi thơ qua chuyến thăm ba này.
Tôi chào đời khi đất nước của tôi chìm trong lửa khói chiến tranh và khi Cộng Sản Bắc Việt (CSBV) theo chủ thuyết Cộng Sản Nga và Tàu xua quân đánh chiếm Miền Nam Việt Nam (MNVN). Thế nhưng, tôi quá nhỏ để nhận biết ra một cuộc chiến tàn khốc đang diễn ra trên quê hương mình. Tôi chỉ hồn nhiên vui cười quấn quýt bên ba khi thấy ông oai phong trong quân phục áo hoa rừng. Tôi nhớ có những lần theo mẹ lên các trại lính thăm ba, mẹ và tôi được di chuyển trên trực thăng chinook và tôi đã khóc vì bị đau nhức tai do áp suất không khí trên cao bị thay đổi. Tôi nhớ hình ảnh của các người lính súng trong tay di chuyển trong doanh trại và tôi có dịp ngắm nhìn những chiếc chinook câu xe và pháo bay về một hướng. Tôi thích nhất là những lần được đưa đón đi học bằng xe jeep khi ba tôi về phép. Hình ảnh tuổi thơ của tôi có ba bên cạnh là như thế đó, không nhiều, nhưng rất đẹp và mãi theo tôi đến hôm nay.
Đến một ngày, tiếng súng nổ rền vang vọng về thành phố Sài Gòn và mẹ tôi đã lùa anh em tôi xuống trốn ở bộ ván trong nhà. Không lâu sau ngày ấy, tôi đã không còn những kỷ niệm tuổi thơ nào với ba và mãi không nhìn thấy ba bên cạnh. Năm tháng dần trôi, tôi sớm nhận ra rằng ngày ấy là ngày 30-4-1975, là ngày đen tối của dân tộc Việt Nam (VN), khi CSBV đã cưỡng chiếm Miền Nam (MN). Từ ngày ấy, đất nước tôi bị cai trị bởi chế độ CS vô thần, dân tộc tôi bị đàn áp đọa đày và gia đình tôi đã bị ly tán và phân biệt đối xử. Là anh cả trong gia đình có 5 anh em, ba bị tù CS khi tôi mới vừa 5 tuổi, tôi đã sớm nhận ra những mất mát thiệt thòi trong tuổi thơ của anh em tôi và trong tuổi thanh xuân của mẹ tôi. Khác hẳn với những đứa trẻ cùng xóm, anh em tôi sớm biết tự lo cho mình từng miếng ăn, cái mặc, đến việc học hành khi mẹ tôi thường xuyên vắng nhà, để tần tảo buôn bán lo kế sinh nhai. Khác hẳn với những đứa trẻ cùng trang lứa, tôi đã sớm giúp mẹ từ việc nhà đến buôn bán, trông nom và bảo vệ các em tôi.
Đối với tôi, hình ảnh của mẹ giống như con cò lặn lội đồng gần, đồng xa kiếm mồi về nuôi đàn con nhỏ. Có những chiều, anh em tôi ra đứng ở thềm nhà trông chờ mẹ đi bán về. Còn vui nào hơn khi nhìn thấy mẹ, vì mẹ là tình thương và là chỗ dựa duy nhất của anh em tôi khi ấy. Nhớ những ngày tựu trường, mẹ tôi phải lo tiền mua sắm quần áo và tập vở cho 5 anh em tôi. Một mình mẹ chạy tới chạy lui để kịp buổi họp phụ huynh cho chúng tôi. Tôi thương mẹ nhiều hơn và cảm thấy sự thiếu vắng của ba tôi với gia đình.
Có những lần rong chơi cùng lũ trẻ trong xóm, tôi thường được cô bác láng giềng hỏi thăm về ba tôi, như: “Mẹ con có tin tức gì về ba không?”, “Ba con bị giam tù ở đâu?”, “Khi nào ba con về?”… v..v… và v…v… Những câu hỏi ấy luôn gợi cho tôi lòng thương nhớ ba mình và mong ngày được gặp lại. Tôi đã tìm hiểu nguyên do tại sao ba tôi bị giam cầm và tôi sớm nhận ra rằng ba tôi, cũng như các bác tôi, các anh họ tôi, và cậu tôi là những người lính VNCH, đã cầm súng chiến đấu bảo vệ nền tự do dân chủ cho MNVN, chống lại sự xâm lăng của CSBV. Thương nhớ ba, tôi thường hỏi mẹ, “Khi nào ba về?” hay “Khi nào mình gặp lại ba?”. Hỏi như thế, chứ tôi biết mẹ tôi còn nôn nóng ngày gặp lại ba nhiều hơn anh em tôi. Mẹ luôn trông ngóng những tin tức về ba. Khi được phép viết thư thăm chồng, mẹ luôn cho tôi viết vài hàng thăm ba. Những lá thư đầu tiên trong đời, tôi đã viết thăm ba trong ngục tù CS.
Mùa hè năm 1979, mẹ nhận tin là được phép ra thăm ba tôi, đang bị giam tù tại trại K3, Tân Kỳ, Nghệ Tĩnh. Mẹ sẽ dẫn tôi đi cùng. Tôi quá đỗi vui mừng và đã chạy đi khoe với các bạn cùng sớm và cô bác láng giềng. Mẹ tôi phải làm nhiều hơn và phải bán đi chiếc xe Honda Dame, là phương tiện di chuyển duy nhất của mẹ, hầu có đủ tiền mua vé xe lửa, mua thực phẩm, thuốc men, và quần áo làm quà cho ba. Mẹ báo tin đến bà con xa gần về chuyến đi thăm này. Mẹ và tôi nhận được những tình cảm thân thiết qua nhiều lời nhắn gởi thăm hỏi đến ba tôi từ bà con xa gần và ngay cả các cô chú bác láng giềng.
Sau những ngày chuẩn bị, ngày đi thăm ba tôi đã đến. Chiều hôm đó, sau khi gia đình tôi dùng cơm chiều sớm hơn mọi ngày, mẹ tôi căn dặn các em ở nhà thật ngoan và nghe lời dạy bảo của ông bà ngoại và các dì. Khi tiễn mẹ và tôi ra đến hiên nhà, bà ngoại nói với tôi:
– Con nhớ nói với ba là ngoại thương nhớ ba con nhiều lắm.
Tôi nhìn thấy những giọt nước mắt lăn dài trên đôi má gầy gò của ngoại. Tôi thương ngoại và hiểu rõ tình cảm của ngoại dành rất nhiều cho ba, cho người con, người lính VNCH. Ngoại tôi đã mất một người con, cũng là người lính VNCH, vào những ngày cuối của cuộc chiến VN. Bà tôi đã khóc thật nhiều và có những lúc bà vẫn tin rằng cậu tôi đang lẩn tránh trong rừng cầm súng chống lại chế độ CS đương quyền. Tôi may mắn hơn các anh em bà con, đã sống gần bên ngoại. Bà đã kể cho tôi nhiều về những gian nan của gia đình hay những dã man của Việt Minh (tiền thân của Cộng Sản), khi ông bà còn sống trong vùng Việt Minh kiểm soát mà hằng đêm dân lành bị quấy phá, cướp bóc, cắt cổ, hay đập đầu.
Khi những tia nắng chiều vừa khuất dạng bên những tàu lá dừa xanh ở căn nhà đối diện, cũng là lúc mẹ và tôi phải chia tay gia đình ra ga xe lửa Bình Triệu. Cùng đi thăm nuôi với gia đình tôi còn có dì Năm, người hàng xóm thân thiết. Dì Năm đi cùng với mẹ chồng ra thăm chú Nguyễn văn Năm, một cán bộ xây dựng nông thôn của VNCH, cũng bị giam giữ tại trại K1 Tân Kỳ, Nghệ Tĩnh.
Lần theo số toa ghi trên tấm vé, mẹ và tôi đến chỗ ngồi trên toa xe lửa. Đây là toa ngồi cho hành khách, với từng cặp băng ghế gỗ đối diện nhau, chen giữa là một cái bàn nhỏ, đặt bên cạnh cửa sổ. Mỗi băng ghế chỉ đủ cho 2 người ngồi. Giữa toa xe có treo một ngọn đèn bóng vàng với ánh sáng yếu ớt chỉ đủ cho người ta nhìn thấy mặt nhau. Ở cuối mỗi toa tàu là nhà vệ sinh mà tiêu tiện không có thùng đựng để rơi rớt tự do qua cái lỗ xuống mặt đường rây.
Xe lửa từ từ chuyển bánh. Ngồi bên cạnh cửa sổ, tôi có dịp ngắm nhìn thành phố vào đêm và tôi có dịp cảm giác những làn gió mát thổi vào mặt. Trong đầu tôi miên man với nhiều suy nghĩ, đó là sẽ được gặp lại ba tôi và sẽ được nhìn thấy những điều mới lạ trong đời. Đêm đã khuya, mẹ tôi phủ lên sàn tàu bên dưới băng ghế một lớp nylon và bảo tôi nằm ngủ trên đó. Nằm sát sàn tàu, tôi nghe văng vẳng tiếng kêu nhịp xình xịch, tiếng ma sát của bánh xe với đường rây kêu ken két, hòa lẫn tiếng còi hụ như hòa nhịp đưa tôi vào giấc ngủ từ lúc nào.
“Trà xanh đây, trà xanh đây”
– Tiếng rao của nhân viên trên tàu đã làm tôi thức giấc. Những tia sáng ban mai xuyên qua cửa sổ làm cả toa tàu sáng lên. Một phụ nữ, trạc tuổi mẹ tôi, và người con cũng trạc tuổi tôi đang ngồi cách chỗ chúng tôi vài dẫy ghế. Sau khi trao đổi đôi lời, dì ấy và mẹ tôi mới biết là giống nhau, cùng dẫn con đi thăm chồng ở cùng trại K3, ở Tân Kỳ, Nghệ Tĩnh. Vậy là có ba gia đình cùng trên một chuyến xe lửa đi thăm chồng, thăm con, và thăm cha bị lưu đày trên đất Bắc xa xôi. Cả dì ấy và mẹ tôi rất vui vì đã có người đồng hành, có thể nương vào nhau cho chuyến đi này. Tôi có hỏi thăm tên của người bạn trẻ ấy, nhưng thời gian từ ngày đó tới hôm nay đã hơn 35 năm, tôi đã quên mất tên bạn. Xin cho phép tôi gọi bạn ấy là Tuấn trong bài viết này.
Nhìn qua khung cửa sổ xe lửa, một bức ảnh quê hương tuyệt đẹp hiện ra trong mắt tôi. Những dãy núi đồi trùng điệp nối tiếp nhau, cùng những cây xanh mọc trên sườn và với những đám mây trắng lững lờ bay bay trên cao đã tạo thành một bức tranh sinh động của giang sơn Việt Nam, gấm vóc và hùng vĩ. Những hình ảnh xinh đẹp đó tiếp tục hiện ra trước mắt tôi, khi xe lửa uốn lượn theo sườn núi, chui qua hang, hay chạy sát dãy bờ biển xanh thẳm. Nhưng, có những đoạn đường, xe lửa băng qua những cánh rừng và chạy sát những khu dân cư với những căn nhà tranh vách đất thô sơ. Một số người dân đứng trước những căn nhà đó, trong quần áo rất đơn sơ, dõi mắt nhìn theo chiếc xe lửa chạy qua. Tôi đã nhìn ra được những hình ảnh nghèo nàn của các làng quê tương phản với hình ảnh thiên nhiên thật đẹp.
Nhìn vào danh sách các toa tàu in trên tờ lịch túi mà mẹ tôi mang theo, chúng tôi có thể biết trước những ga mà xe lửa sắp đến. Xe lửa vượt qua những ga nhỏ và dừng lại các ga lớn như: Nha Trang, Diêu Trì, và Đà Nẵng, thật lâu để đưa đón khách. Những lần vào ga lớn như thế, tôi có dịp nhìn thấy cảnh náo nhiệt của người đi, người đến, của người mua, người bán. Những người buôn hàng nhảy bổ lên và xuống các toa xe với các bao hàng. Những người bán hàng rong, trong tay với những bịch cơm, thúng bánh, trái cây, hay nước uống chạy dọc các cửa sổ rao bán. Và một lần, tôi đã nghe tiếng “Sim đây, sim đây”. Một thứ trái cây lạ, tôi chưa bao giờ biết. Mẹ tôi kêu người bán sim lại và mua một bịch. Thì ra, đó là trái sim tím có hình tròn, to cỡ đầu ngón tay cái, và có vị ngọt. Cậu thanh niên, ngồi ở băng ghế gỗ đối diện chúng tôi, cho biết rằng hoa của trái sim đã đi vào nhạc phẩm “Những Đồi Hoa Sim”, một bài hát mà tôi rất thích và CS đã cho là nhạc vàng cấm hát ở VN vào lúc đó. Khi xe lửa rời ga, đi ngang qua những đồi hoa tím, cậu thanh niên cho chúng biết đó là những đồi hoa sim. Được ngắm nhìn quê hương và được mẹ cho ăn trái cây lạ hay món ăn lạ không có ở Miền Nam , tôi cảm thấy thật là thú vị. Những cái thú vị đó đã không còn nhiều khi xe lửa tiến dần ra Miền Trung.
Tôi nhớ rất rõ, sau khi rời ga Nha Trang, xe lửa đổi đầu máy chạy ngược hướng lại. Xế trưa, xe lửa chầm chậm chạy qua cầu Đà Rằng, một cầu thật dài trên một cây số. Cây cầu thì dài mà xe lửa chạy thì quá chậm làm cho tôi có cảm giác là xe lửa sẽ không bao giờ rời cây cầu này. Bất thình lình, tôi nghe nhiều tiếng kêu la từ các toa tàu phía trước, “cướp, cướp, cướp”. Đang bàng hoàng, không biết cướp ở đâu thì tôi nghe tiếng va cạch cạch cạch của thanh gỗ vào các khung cửa sổ và đi ngang qua cửa sổ chỗ tôi ngồi. Khi tiếng kêu vừa xa dần, ngó ra ngoài tôi thấy nhiều người thanh niên đứng trên những thanh chéo zích zắc của thành cầu, tay cầm thanh cây quét đồ vật trên bàn hay chòm vào giật đồ tư trang của của các hành khách. Vô số đồ vật rơi xuống bên dưới dòng sông, vốn chỉ là dòng nước cạn chảy nhẹ qua các mỏm đá. Mùa hè là mùa khô hạn ở Miền Trung, các dòng sông như sông Đà Rằng rất cạn nước, nên những người cướp cạn trên cầu sẽ rất dễ lội xuống lòng sông vớt lên những đồ quơ rớt được.
Màn đêm dần buông, xe lửa vẫn tiếp tục lăn dài trên đường rây. Sau một ngày dài ngồi trên xe, mẹ và tôi ngả lưng sớm. Bất chợt, tôi nghe mẹ tôi hét lên thật lớn “ao…ao…”. Ngồi dậy, tôi thấy mẹ tôi ôm lấy bàn chân. Thì ra, khi xe lửa vào ga ban đêm, một số người bán hàng rong đánh thức hành khách dậy mua hàng, đã cầm thanh cây dài quét qua các khung cửa sổ, đập vào chân mẹ tôi đang gác chân lên thành cửa sổ trong khi ngủ. Sau đêm đó, để ngủ yên, mẹ tôi cũng như các hành khách khác đều đóng kín cửa sổ nơi mình ngồi. Ở một số ga, cả buổi trưa lẫn tối, người bán hàng còn tạt nước vào cửa sổ để đánh thức hành khách. Để tránh bị tạt nước vào trong toa ban ngày, hành khách phải ngồi sát cửa sổ để cho các người bán hàng trông thấy.
Tôi còn có dịp ngắm thêm vẻ đẹp của rừng núi Việt Nam khi xe lửa vượt qua đèo Hải Vân. Một bên xe lửa là vách núi, còn bên kia là vực sâu thăm thẳm. Ở những khúc đường quanh co, tôi có thể nhìn thấy các toa đầu và các toa đuôi của xe lửa và nó uốn lượn như một con rắn dài đang trườn trên sườn núi. Khi xe lửa ra đến Quảng Trị, tôi thấy nhiều chiếc xe tăng bị cháy hư vẫn còn nằm dọc theo những con đường. Cậu thanh niên ngồi đối diện cho mẹ và tôi biết đây là vùng địa đầu giới tuyến với vĩ tuyến 17 chia đôi đất nước VN. Khi xe lửa vượt cây cầu bắt qua sông Bến Hải, anh ta lại cho biết cây cầu này được xây lên sau 1975 để nối tuyến đường sắt Nam Bắc, mà CS còn gọi là tuyến đường sắt Thống Nhất.
Sau này lớn lên, tôi tự hỏi “Có thật sự là VN đã thống nhất không?” Khi mà vô số những cách biệt thành hình một cách rõ nét trong chế độ CSVN giữa những CS đỏ, giàu sụ chuyên đàn áp và cướp bóc dân lành, và người dân nghèo khó bị bóc lột, giữa nhiều từng lớp giai cấp thống trị qua hệ thống chiều dọc Đảng trị từ trên xuống và người dân thấp cổ bé miệng bị hà hiếp. CSBV đã lợi dụng chiêu bài thống nhất đất nước và giải phóng dân tộc để khích động lòng yêu nước từ già đến trẻ, cầm súng chống Mỹ, mà dã tâm của chúng là làm tay sai và vâng lệnh các đàn anh CS Nga Tàu, gieo rắc chủ thuyết CS lên cả hai mền Nam Bắc của Việt Nam. Vì thế xâm chiếm MN là điều CS Hà Nội, thái thú cho Nga Tàu, đã làm thay cho sự giả dối nói là thống nhất VN hay giải phóng MN.
Sau ba ngày ba đêm, xe lửa vào ga Vinh vào lúc xế chiều. Ga này là điểm dừng cho những gia đình đi thăm nuôi của các trại tù ở Tân Kỳ, Nghệ Tĩnh. Sau khi xuống xe lửa, ba gia đình chúng tôi được các thanh nhiên kéo xe mời chở hành lý và hướng dẫn về nhà trọ. Sau khi thỏa thuận giá cả, anh thanh niên bỏ các hành lý lên thùng xe, rồi ra phía trước choàng dây ngang cổ và hai tay nắm hai tay cầm dài kéo xe chạy, trong khi mẹ và tôi chạy theo sau. Tôi quá đổi ngạc nhiên vì không bao giờ nghĩ là có người kéo xe như thế trên đời này. Trong hơn một ngày lưu lại ở thành phố Vinh, tôi đã không thấy một chiếc xe mô tô, một chiếc xe xích lô, hay xe ba bánh mà tôi thường nhìn thấy ở Miền Nam .
Sau này, khi học sử nói về thời phong kiến và thời Pháp thuộc, học sinh chúng tôi được học những phương tiện thô sơ thời ấy như xe kéo, xe thồ, và xe lôi. Tôi thầm nghĩ, có ai trong đám bạn tôi có biết là tôi đã từng nhìn thấy xe kéo vẫn còn được dùng trên thiên đường CS ở đất Bắc. Hóa ra, chế độ CSVN đã tạo “thiên đường” ở đất Bắc ngày đó ngang bằng hoặc tệ hơn với các xã hội phong kiến ngày xưa qua những phương tiện vận chuyển thật thô sơ. Người phu xe kéo hành lý đưa chúng tôi tới căn nhà trọ nằm ở góc trái trong bến xe đò Vinh, về đêm thật vắng lặng. Căn nhà trọ chỉ là một gian nhà vách cây vuông vức, kê bốn bộ ván ở bốn góc nhà. Ba gia đình chúng tôi đã thuê ba bộ ván để ngủ qua đêm.
Sáng hôm sau, tôi thức dậy và không thấy mẹ tôi đâu. Hỏi qua bà cụ (mẹ của chú Nguyễn văn Năm) thì được biết là mẹ tôi và các dì đã ra ngoài mua vé xe đò đi lên Nghệ Tĩnh. Bước ra khỏi gian nhà, tôi nhìn thấy cảnh đìu hiu, khác hẳn với cảnh náo nhiệt buôn bán như những bến xe ở MN mà tôi biết, như Xa Cảng Miền Tây. Điểm chung mà tôi thấy ở bến xe này với những chỗ đông dân như bến xe và các chợ ở MN là những biểu ngữ đỏ hô hào tuyên truyền giăng khắp nơi với cái loa phát thanh thật lớn luôn ra rả ca ngợi Đảng CS vô thần suốt ngày. Gần trưa, mẹ và các dì mới mua được vé xe đò cho chuyến xe sáng hôm sau. Thế là chúng tôi phải ở lại bến xe Vinh qua một đêm nữa.
Không tìm thấy quán ăn nào hết ở bến xe, ba gia đình cùng nhau đi bộ tới chợ Vinh gần đó. Bước vào ngôi chợ, đập vào mắt tôi là một màu xanh, mọi người trong chợ đều mặc quân phục bộ đội CS. Chỉ có chúng tôi trong những tấm vải có màu khác nhau. Thoạt đầu, tôi nghĩ ai cũng là bộ đội CS vì trong họ có người còn đội nón cối bộ đội.
Nhưng sau đó, tôi biết họ chỉ mặc đồ giống nhau thôi, bởi vì họ không có quần áo nào khác. Tôi chợt nhớ lại, Sài Gòn sau năm 30-4-1975, tôi đã thấy nhiều thành phần xu nịnh và đón gió trở cờ, tìm mua quần áo, dép râu và nón cối của bộ đội CS để mặc. Dân MN chúng tôi rất ghét thành phần đón gió trở cờ này. Tôi lại tự hỏi, không lẽ tất cả người dân ở Vinh đều là thành phần xu nịnh CS. Tôi đã không có câu trả lời cho câu hỏi trong đầu khi đó.
Nói là ngôi chợ, nhưng cái chợ Vinh này đã khác hẳn với những ngôi chợ ở MN mà tôi biết. Chợ Vinh chỉ là một gian nhà rộng có bốn vách, không kiểu cách, với những người bán hàng ngồi bẹp xuống đất hay trên sàn gỗ rất thấp. Họ bán những món hàng đơn sơ hay nông phẩm của họ. Đảo quanh một vòng chợ, chúng tôi không thấy một quán ăn nào hết. Mẹ tôi mua một bịch trái hồng quân để ăn cho đở khát và đói. Qua hỏi thăm, chúng tôi được biết gần đó có một “cửa hàng ăn uống”, do CSVN làm chủ.
Dưới cái nắng nóng tàn khốc và những cơn gió khô và hắc, chúng tôi nhễ nhãi mồi hôi đi bộ tới “cửa hàng ăn uống”. Tôi nhớ con đường có nhiều cát bụi và những hạt cát cứ đua nhau chui vào đôi dép tôi mang, tạo nên cảm giác khó chịu. Vốn là đứa bé chân đất thích chạy nhảy, tôi xách dép đi chân không. Đi chân trần không lâu tôi cảm thấy như đi trên lửa và tôi phải mang dép vào. Sau này, qua sách vở tôi biết được tôi đã đi trong cái nóng do gió khô và nóng thổi từ Lào sang. Hơi nước trong gió đã bị chắn lại bên mạn Tây của dãy Trường Sơn và chỉ còn cơn gió khô nóng tỏa lên trên mãnh đất miền Trung.
Bước vào trong “cửa hàng ăn uống”, chúng tôi không thấy ai phục vụ cho khách ngồi ăn tại bàn cả. Khách phải tự đến quầy mua thức ăn để chọn món ăn. Sau khi trả tiền, khách được đưa cho tem phiếu rồi tự tới quầy nhà bếp để nhận thức ăn. Ngoài món ăn chính, mẹ tôi đã mua thêm “chè xanh” để ăn cho mát. Mẹ và tôi vô cùng ngạc nhiên khi thấy nhân viên trong bếp dùng cái giá làm bằng lon sửa bò để múc nước chè xanh cho vào cái tô. Chúng tôi cầm thức ăn tới bàn ăn, rất dơ, dính đầy đồ ăn, và có vô số ruồi. Cả mẹ và tôi điều ngạc nhiên, “chè xanh” chỉ toàn là nước, không có cái gì hết. Khi uống vào, thì chúng tôi mới biết đó là trà xanh. À ra, “chè xanh” của người MB lại là trà xanh của người MN!
Sau này, tôi suy ra rằng, CSVN theo học thuyết “chuyên chính vô sản” đã tạo ra “thiên đường” trên đất Bắc, khi chúng thi hành chính sách xóa bỏ giai cấp của người dân. Người dân trở thành vô sản, còn mọi tài sản đều nằm trong tay của người CS và đảng của chúng. Người dân được chúng ban phát mọi thứ, từ cái ăn cái mặc cho tới công ăn việc làm. Quần áo là những quân phục do Tàu Cộng cung cấp và lương thực thì được ban phát theo tiêu chuẩn. CSVN đã và đang thuần phục người dân MB qua sự ban phát, để trở thành những con người vô tri vô giác chỉ biết vâng thưa dạ bảo, chờ hưởng bổng lộc và tin tưởng tuyệt đối mù quáng vào đường lối lãnh đạo độc tài của Đảng CSVN. Sau ngày xâm chiếm MN, CS cũng đã đã thực hành những chính sách của chủ thuyết CS như vơ vét tài sản, cưởng bức và tập trung lao động và nắm quyền ban phát mọi thứ, v…v… và v…v… cho người dân MN. Người dân MN từ ấm no, tự do và dân chủ đã đi dần tới nghèo đói, lạc hậu, và mất hết mọi quyền làm người.
Khi ăn trưa xong, chúng tôi đi bộ về căn nhà trọ trong cái nắng gay gắt. Nơi đây không có phòng tắm, vì thế chúng tôi phải ra nhà tắm công cộng ở bến xe. Chúng tôi phải trả tiền cho từng thùng nước giếng, mà cũng chỉ đủ ướt người. Đó là lần đầu tiên tôi thấy nhà tắm công cộng trong “thiên đường” CS khi mà người dân thì quá nghèo nàn, lạc hậu, và bần cùng trong những nhu cầu căn bản sinh hoạt hằng ngày.
Khi trời còn tờ mờ sáng, chúng tôi đã lên chuyến xe đò từ Vinh đi Thanh Hóa. Dù đã mua vé xe, chúng tôi không có chỗ ngồi mà phải đứng trên xe đông nghẹt người, chen lẫn với cả hàng hóa. Xe đò chạy ngoằn ngoèo qua những con đường đầy cát bụi trong cái nắng oi bức và xe dừng lại nhiều lần để đón khách và hàng hóa dọc đường.
Xế trưa, xe dừng lại và người lơ xe cho biết đây là trạm dừng cho các gia đình đi thăm nuôi tại các trại tù ở Tân Kỳ, Nghệ Tĩnh. Cả ba gia đình chúng tôi xuống xe và tôi nhìn thấy một vách núi thật cao bên lề phải của xe. Bước qua bên kia đường, chúng tôi đi vào một con đường nhỏ. Đây là con đường đất thật dài và không có một bóng râm. Mẹ tôi và các dì với các hành lý nặng trĩu đôi tay, dẫn mẹ chồng và các con lê bước mãi trên con đường trong ánh nắng hực nóng của mùa hè. Chúng tôi phải dừng lại nhiều lần để mẹ và các dì nghỉ tay. Đi mãi trên con đường, cuối cùng chúng tôi tới một ngã tư với bản chỉ dẫn trên tấm gỗ, đi thẳng tới trại K1 và quẹo phải đi tới trại K3. Dì năm và bà cụ tiếp tục đi thẳng đến K1, còn gia đình tôi và Tuấn thì rẽ phải. Trên con đường này có những hàng cây khuynh diệp trồng dài trên bờ đê cao. Tôi đã chạy trên bờ đê này, bứt vài lá khuynh diệp vò lại và ngửi chúng. Đứng trên cao với tầm nhìn rộng, tôi thấy những cánh đồng trống không khô cạn, không một cây xanh. Những vùng đất trũng không có nước. Tôi cũng không nhìn thấy một ngôi nhà dân nào hết. Thật là vùng đất khô cằn không có sự sống, khác hẳn với miền quê MN với những ruộng lúa, ao mương có cá, cua và ốc, và có những cây xanh như bình bát và dừa mọc dại ven đê mà tôi có thể bắt hoặc hái khi về thăm quê nội hay ngoại.
Khi đi hết hàng cây khuynh diệp, chúng tôi tới căn nhà nằm bên lề phải của con đường và chơi vơi giữa vùng đất hoang vắng, xa xa là những dãy núi cao bao quanh. Căn nhà có ba gian, gian giữa dùng làm phòng thăm nuôi, hai gian còn lại dành cho các gia đình thăm nuôi ngủ lại. Mỗi gian chỉ rộng đủ để kê hai cái giường và không có một vật gì trong đó. Hai gia đình chúng tôi đã vào chung một gian nhà, vì gian nhà kia đã có một gia đình tới ở trước đó.
Ngay chiều hôm đó, qua trò chuyện, mẹ và tôi được biết là sẽ có buổi gặp thăm nuôi của gia đình ở bên gian nhà kia. Đó là người mẹ dẫn theo hai người con trai, lớn tuổi hơn tôi. Gia đình của dì ấy được gọi qua ngồi bên gian nhà giữa. Tôi đã chạy ra đứng trên con đường trước căn nhà và nhìn thấy một hình ảnh thật cảm động. Từ xa xa, tôi thấy hai người công an cầm súng đi bên cạnh hai người tù, mà những cánh tay choàng nhau làm kiệu khiêng một người tù thật yếu. Khi đoàn người tới gần, tôi nhìn thấy bác ngồi trên kiệu thật ốm và đôi chân hình như đã quá teo nhỏ, có thể do bị biệt giam quá lâu hay do bệnh. Một không khí thật buồn, khi tôi thấy cảnh gia đình xum họp và tôi biết rằng tôi sẽ gặp ba tôi cũng tại gian nhà này ngày mai.
Xế chiều, tôi nhìn thấy từng đội người tù đi lao động về ngang qua trước gian nhà từ trái qua phải, với những ánh mắt nhìn vào bên trong gian nhà. Các đội đi thành bốn hay năm hàng dọc và có một tên công an cầm súng đi sau cùng. Tôi chạy sát tới đoàn người tù và có nhiều tiếng nói từ trong đoàn người hỏi thăm với nhiều câu hỏi như: “Con ra đây hồi nào?” và “Ba con tên gì.” Tôi đã trả lời các câu hỏi như: “Con mới ra chiều nay.” và “Ba con tên Nguyễn minh Đường.” Tôi mong mỏi tìm trong đoàn người xem có ai nhận là ba tôi không? Nhưng không thấy ai kêu tên tôi cả.
Màn đêm phủ xuống dần trên vùng đồi núi Nghệ Tĩnh với những tiếng ễnh ương và bìm bịp kêu đêm. Quang cảnh thật buồn và ảm đạm. Mẹ và tôi nằm co ro trong đêm tối với những ngọn nến thấp sáng phất phơ trong gió. Trong gian nhà không đèn và không cửa, nhìn ra ngoài tôi chỉ thấy một màn đen phủ kín. Sáng hôm sau, tôi dậy thật sớm và đi bộ ngược lại con đường đất mà chúng tôi đã đi vào hôm qua vì tôi biết là các đội người tù sẽ đi về hướng này. Khi ra gần tới ngã tư, tôi đứng lại tại đó vì không biết là các đội sẽ đi hướng nào. Đứng trên bờ đê dưới hàng cây khuynh diệp, tôi thấy từng đội đi về hướng mình. Những ánh mắt trìu mến của các chú bác cùng nhìn về phía tôi, một đứa bé từ Miền Nam ra và có mặt duy nhất tại nơi đó. Các chú bác lại hỏi tôi rất nhiều câu hỏi như ngày hôm qua như: “Con bao nhiêu tuổi?”, “Con ra đây với ai?”, “Có mấy gia đình ra thăm nuôi vậy con?”, “Ba con tên gì?” hay “Đồng bào mình trong Nam thế nào hả con?” Hòa trong những câu hỏi, tôi nghe rất rõ những câu căn dặn: – Trưa nay, con nhớ ra ngã tư này lượm các thư tay nha con. Tôi đã trả lời các câu hỏi và hứa là sẽ ra lại đây trưa nay.
Tôi đứng đó nhìn các chú bác mà lòng cảm thương và quặn đau trong lòng. Các chú bác trong màu áo tù xám bạc đã cũ và không lành lặn, thân hình gầy gò, mặt bơ phờ và rạm nắng. Tôi đã đứng sát ngã tư đó nhìn từng đội người tù đi qua và các đội đã rẽ theo ba hướng khác nhau. Có nhiều chú bác đi qua đã vuốt đầu hay nựng lên khuôn mặt tôi. Tôi đã nhận được rất nhiều tình cảm yêu thương của các chú bác cho một đứa bé trạc tuổi con mình. Tôi đã cảm nhận được sự thương nhớ gia đình và Miền Nam của các chú bác khi ấy.
Sau đó, tôi chạy về gian nhà thì được mẹ cho biết là gia đình tôi và gia đình Tuấn sẽ được cho gặp ba chiều nay. Tôi rất vui và cũng hỏi xin mẹ mấy cái bao ny lon. Mẹ hỏi tôi để làm gì và tôi cho biết là con sẽ đi lượm thư tay trưa nay. Sau khi mẹ cho hai cái bao ny lon, tôi rủ Tuấn cùng thả bộ ra con đường cho vui. Trên đường đi, chúng tôi thấy có rất nhiều chú bác đứng bên trong một hàng rào cây. Tuấn và tôi bước tới thì được các chú bác kêu vào chơi. Nếu tôi nhớ không sai, thì đây là tổ làm đồ nguội vì các chú bác đã cho chúng tôi những cây lược kim loại làm bằng vỏ đạn. Các chú bác đã ôm hôn và tung hứng chúng tôi lên trên không rồi chụp lại. Chúng tôi cũng được các chú bác hỏi nhiều câu hỏi.
Sau khi chia tay với các chú bác, Tuấn và tôi tiếp tục đi xa hơn nữa để tìm xem các chú bác khác đang bị bắt làm việc ở đâu. Đang đi, chúng tôi phát giác ra một hàng rào với những cây xanh thật cao (cao hơn chúng tôi) che kín. Tuấn và tôi rón rén đi dọc theo hàng cây tới trước một cái cổng. Nhìn qua một sân đất, chúng tôi thấy một tên công an, từ bên trong căn nhà bước ra, rồi hét thật to: – Đ. M. chúng mày đi đâu đây? Tao sẽ bắt nhốt hết chúng mày. Gã công an chụp lấy chiếc xe đạp chạy về hướng chúng tôi. Cứ nghỉ là mình bị rượt đuổi bắt, tôi và Tuấn chạy một mạch thật nhanh về tới căn nhà thăm nuôi. Đứng bên trong căn nhà, tôi thấy tên công an đạp xe ngang và chạy về hướng trại K3.
Sau này, tôi nghỉ rằng tên công an này chắc là cán bộ cao cấp của trại nên được cấp nhà ở bên ngoài trại. Hơn nữa, trong khi các công an khác phải dẫn những đội người tù đi lao động thì hắn nhởn nhơ ở nhà. Trên ghế nhà trường hay qua tuyên truyền ở địa phương, chúng ta thường được nghe nói: “cán bộ là đầy tớ của nhân dân hay thế nào là đạo đức cách mạng”. Đó những tuyên truyền dối trá, tương phản với những gì tôi nhìn thấy: Một tên công an chửi thề và hăm dọa hai đứa bé 9 tuổi.
Với tính hiếu kỳ, tôi đã đi bộ một mình về hướng trại K3 mà tôi chưa đi tới đó. Đi mãi một đoạn đường, tôi thấy một bác thật già ngồi bên trong một cái chòi lá, bên ngoài là những líp cây cà chua mà trái còn non xanh. Tôi đã đến cái chòi và bác đã bảo tôi vào chơi. Tôi rất ngạc nhiên là chỉ có một mình bác ngồi đó không một người bạn tù hay một tên công an canh giữ. Bác cho tôi biết là bác già rồi nên không thể làm việc nặng, vì thế được giao chăm nom những líp cà này. Ngồi trò chuyện với bác, tôi đã quên bẵng đi là mình đã muốn đi tới sát trại K3. Bác cho tôi biết là đã tới giờ các đội sẽ về trại ăn trưa. Nghe tới đó, tôi liền chào tạm biệt bác và chạy nhanh về gian nhà để cùng ăn trưa với mẹ.
Trưa hôm đó, tôi rủ Tuấn cùng đi tới ngã tư để đứng chờ các đội ra đi lao động. Khi từng đội rẽ trái hay phải tại ngã tư, các chú bác đi trước liền liệng những mẫu thư giấy, được cuốn nhỏ, sang hai bên lề đường. Những mẩu giấy bay hàng loạt thật nhanh và rơi rãi khắp nơi. Sau khi các đội đi qua thật xa, Tuấn và tôi chạy sang hai bên lề đường cẩn thận tìm và nhặt hết những mẫu thư tay. Tôi đã cầm hết những bao thư nhặt được về cho mẹ tôi.
Thế rồi giờ phút mong chờ của mẹ và tôi được gặp lại ba tôi đã đến. Mẹ tôi xách các bao quà gởi cho ba dẫn tôi bước qua gian nhà thăm nuôi. Gia đình tôi và gia đình Tuấn được xếp ngồi chung vào một băng ghế ở giữa có cái bàn dài. Ba tôi và ba Tuấn, bị hai tên công an áp giải từ trại K3 ra, ngồi vào băng ghế đối diện. Một tên công an ngồi ở đầu bàn để quan sát buổi thăm nuôi. Khi nhìn thấy ba tôi trong thân hình gầy guộc và khuôn mặt khác lạ hốc hác, mẹ và tôi rất ngỡ ngàng và khóc thật nhiều. Mẹ và tôi đã chòm qua bàn để ôm và nắm tay ba, thì bị tên công an với giọng nói hống hách, hét lên:
– Bà và con bà ngồi xuống tại chỗ cho tôi.
Tôi cảm thấy căm hận về hành động kiểm soát và mất lịch sự của tên công an. Thời gian thăm nuôi chỉ diễn ra khoảng 30 phút dưới sự quan sát và lắng nghe của những tên công an có mặt tại đó, vì thế chúng tôi chỉ xoay quanh chuyện gia đình. Ba tôi đã hỏi thăm về các em tôi, về bà nội tôi, về ông bà ngoại tôi và về bà con xa gần. Mẹ tôi đã kể cho ba nghe về gia đình và mẹ báo cho ba tin buồn là bà nội tôi đã qua đời chỉ vài tháng sau khi ba tôi, các bác tôi và anh họ tôi đi tù CS. Ba tôi cho mẹ biết là qua các lá thư mẹ gởi cho ba tôi trước đây, cho dù mẹ tôi đã không báo tin nội mất vì sợ ba buồn, ba tôi đã có linh tính là bà nội tôi không còn trên cõi đời này.
Ba đã hỏi tôi:
– Con học lớp mấy rồi, học có giỏi không con? Các em con thế nào rồi?
– Con sẽ vào lớp 5 và con học giỏi. Các em rất ngoan và biết nghe lời mẹ. Tôi thưa lại với ba. Ba tôi đã căn dặn tôi:
– Con là con lớn trong nhà, ráng phụ giúp mẹ và trông em. Giúp các em trong việc học. Ba luôn thương nhớ các con nhiều.
– Dạ, ba. Tôi đáp lại trong lời nói nghẹn ngào không ra tiếng. Ba bảo mẹ tôi đi nhận lại những đồ vật ba tôi mang theo khi đi tù, vì tù CS không bị kêu án, không biết ngày nào về.
Hòa trong những tiếng khóc, tiếng nức nở cho chồng cho cha, tôi nghe những tiếng quát thật to của tên công an với ba của Tuấn:
– Anh phải nói chuyện với vợ con anh chứ. Nếu anh không nói, chúng tôi sẽ không cho vợ anh gửi thư, gửi quà hay ra thăm nuôi anh nữa. Mặc cho những lời khuyên và răn đe của tên công an lập đi lập lại, khi lên giọng khi xuống giọng, tôi vẫn không thấy ba Tuấn thốt ra một lời nào với mẹ con Tuấn.
Khi giờ thăm nuôi đã hết, ba Tuấn và ba tôi bị dẫn về trại K3, thì tên công an ngồi lại và nói với mẹ Tuấn là sẽ cho gia đình Tuấn gặp lại ba Tuấn thêm vài lần nữa để khuyên ông nói chuyện trở lại.
Tên công an kể là đầu năm nay (1979) khi ở Yên Bái, ba Tuấn đang đi lao động và đã bỏ chạy về hướng bộ đội Trung Cộng khi chúng đang đánh chiếm qua biên giới VN. Ba Tuấn bị bắt lại và bị đưa vào trại K3 này và từ đó ông không nói chuyện với bất kỳ ai.
Ngày hôm sau, mẹ dẫn tôi qua trại K1 làm đơn nhận lại một số tư trang cá nhân của ba như đồng hồ. Nhờ ở lại thêm một ngày, tôi lại chạy ra ngã tư cả buổi sáng và buổi trưa một mình để chờ và nhặt tiếp các lá thư tay mà các chú bác còn muốn gởi. Tuấn không đi nhặt thư với tôi vì gia đình Tuấn được cho gặp ba Tuấn vào buổi sáng và có thể vào buổi chiều hôm đó. Xế trưa, mẹ và tôi chào tạm biệt mẹ con Tuấn để ra đón xe đò về lại bến xe Vinh.
Mẹ tôi đã để lại những vật dụng mà có thể giúp cho những gia đình thăm nuôi sau này cần đến như những hột diêm quẹt và đèn cầy. Mẹ và tôi đi bộ ra con đường cái. Tới nơi thì trời đã sập tối và tôi thấy dì năm, bà cụ và vài gia đình khác đã ra ngồi chờ xe. Chờ mãi mà vẫn không thấy một chiếc xe nào chạy từ hướng Thanh Hóa về Vinh trong khi trời đã quá khuya, hơi sương lạnh đã xuống thấp. Không thể ngồi ở con đường hoang vắng không một bóng đèn, các gia đình chúng tôi cùng đi bộ ngược lại vào ngủ ở các gian nhà thăm nuôi. Đi trong đêm tối tĩnh mịch dưới một bầu trời không trăng không sao, tôi bắt gặp rất nhiều đom đóm tỏa sáng như mở lối cho chúng tôi về tới gian nhà thăm nuôi. Phần vì đói và khát, phần mệt lả vì chuyến đi bộ dài, một chị trong đoàn chúng tôi đang đi, đã ngã quỵ xuống. Các mẹ và các bà xúm lại xức dầu và giựt tóc mai để cho chị tỉnh lại. Chúng tôi đã đi trong đói khát và sương lạnh về đêm trên quảng đường đất trong vùng rừng núi Tân Kỳ, Nghệ Tĩnh.
Sáng hôm sau, các gia đình chúng tôi dậy sớm và đi bộ ra con đường cái và đã đón được chuyến xe về lại bến xe Vinh.
Ngồi trên xe lửa, tôi mãi mông lung hồi tưởng lại những giây phút, những hình ảnh và những kỷ niệm mà tôi đã ghi lại trong những ngày qua. Tôi đã nhìn thấy sự nghèo nàn đói khổ, đạo đức suy đồi, và tệ nạn cướp bóc dọc đường, sớm được hình thành không lâu sau khi CS cưỡng chiếm MN. Tôi nhận ra được sự dối trá của CS khi rêu rao ở MN là họ đã xây dựng thiên đường CS trên đất Bắc và cái thiên đường đó là những nghèo nàn và lạc hậu của người dân, qua từng cái ăn, cái mặc và những sinh hoạt hằng ngày.
Tôi đã tận mắt nhìn thấy nỗi nhục nhằn trong thân hình gầy guộc và khuôn mặt hốc hác của những người tù CS, bị đày ải làm việc khổ sai trên những vùng đất núi rừng khô cằn và hoang dại. Tôi nhận được tình yêu thương và thăm hỏi của ba tôi và của các chú bác, mà qua đó tôi đã cảm thấy nỗi thương nhớ gia đình của ba và của các chú bác cho gia đình vợ con và người thân ở Miền Nam .
Tôi đã nhìn thấy sự gian nan và vất vả của các mẹ, các con, và các bà trong hành trình đầy bất trắc và hiểm nguy lặn lội từ MN ra MB thăm chồng, thăm cha và thăm con bị tù đầy trong vùng rừng thiêng nước độc.
Khi xe lửa vượt qua dòng sông Bến Hải xuôi Nam, nhìn qua khung cửa sổ, tôi nhìn một đàn vịt bơi lội trên một dòng kênh. Bỗng chúng cất cánh bay lên, bay về một hướng theo một con vịt đầu đàn. Qua hình ảnh ấy, tôi đã cảm thương cho thân phận mình, cho anh em tôi, và những người bạn đồng cảnh đã không có cha bên cạnh để dìu dắt cất cánh bay lên trong những bước đường của tuổi thơ phía trước.
Khi ra thăm ba, đôi tay của mẹ tôi trĩu nặng hành lý với những món quà được đong đầy những tình yêu thương của mẹ, của anh em tôi, của bà con họ hàng và láng giềng gần xa gởi cho ba. Khi ra về, mẹ tôi đã mang về những lá thư tay, đong đầy những tình cảm thương nhớ của các chú bác, những người tù CS, gởi về cho gia đình vợ con và thân nhân ở quê nhà. Mẹ tôi đã lựa những lá thư ở Sài Gòn và đem đến giao tận tay cho gia đình. Những lá thư ở các tỉnh, mẹ tôi đã gởi tem thư đến cho các gia đình. Tôi rất vui là mẹ và tôi đã làm được điều có ý nghĩa khi giúp mang lại tin tức của các chú bác qua các lá thư về với gia đình.
…………………
Một chuyến ra Bắc thăm ba, đúng vậy, đó là một chuyến duy nhất mà mẹ tôi đã chạy tiền để dẫn tôi ra thăm trong suốt 10 năm ba bị tù đày trên đất Bắc.
Những năm tháng sau này, cuộc sống gia đình tôi dưới sự cai trị độc tài của CSVN, ngày càng nghèo túng, thiếu ăn, thiếu mặc thì lấy đâu ra tiền cho những chuyến thăm kế tiếp. Một chuyến thăm ba thôi cũng đủ để cho tôi nhìn thấy và ghi lại nhiều điều.
Tôi đã ngạc nhiên, đã học hỏi, đã ghi nhận, đã thương cảm, và đã khóc thật nhiều qua một chuyến ra Bắc thăm ba. Tôi đã trưởng thành hơn khi thấy rõ sự thực về Chủ Nghĩa Cộng Sản (CNCS), gian manh và giả dối. Cái chủ nghiã CS, qua tuyên truyền, đã gieo rắc hận thù cho người dân MB lên xã hội tự do và dân chủ của MNVN. Và tôi được biết, có những người dân MB đã ném đá và chửi bới những người tù CS từ Miền Nam ra. Không lâu sau, chính người dân này đã quý mến và thương yêu những người tù CS, cho thức ăn, nước uống và đã thốt ra rằng “Ước gì các chú bác ra đây giải phóng chúng tôi khỏi ách CS.”
Cái chủ nghiã CS, qua tuyên truyền cho sự nghiệp giải phóng MN, đã chiêu dụ và ép bức mọi tầng lớp người dân ở MB, từ già tới trẻ, ngay cả trẻ em 12, 13 tuổi, cầm súng giết hại dân lành cho ý định xâm chiếm MN. Và tôi được biết, rất nhiều người lính CS đã vỡ mộng khi nhìn thấy sự tự do và phồn vinh của phố thị MN sau khi CSBV đã vào xâm chiếm.
Cái chủ nghiã CS, qua tuyên truyền, đã chiêu dụ một số thanh niên MN vào bưng ra Bắc để chống Mỹ cứu nước. Và tôi được biết, rất nhiều người trong đám thanh niên này đã vỡ mộng khi nhìn thấy những sự thật trên đất Bắc qua sự hiện diện của lính CS Nga và Tàu và CSBV chỉ là ngụy quyền do CS Nga và Tàu điều khiển. Những thanh niên MN này càng vỡ mộng khi bị gạt ra khỏi guồng máy cầm quyền sau ngày CSBV đã thôn tính MN.
Cái chủ nghiã CS đã cướp bóc tài sản của dân chúng, đàn áp và thống trị người dân, và băng hoại luân thường đạo lý của dân tộc. Chính CNCS đã phân hóa xã hội VN qua nhiều tầng lớp thống trị do Đảng CSVN cầm quyền xuống tầng lớp bị trị là người dân không có cái quyền căn bản nào của con người. CNCS đã tự cho là xã hội không có giai cấp, nhưng thật ra là xã hội có nhiều giai cấp mà chúng đã ngồi trên đó.
Tôi viết bài này khi giỗ đầu của ba tôi sắp tới, một người lính VNCH đã suốt đời chiến đấu chống CSVN, từ khi trong quân đội VNCH tới lao tù CS, và cho tới những ngày tháng cuối đời.
Thương nhớ ba đã giúp tôi hồi nhớ nhiều kỷ niệm với ba và nhất là gặp lại ba trong tù.
Tôi đã được nghe ông kể nhiều những mẫu chuyện về đời lính kiêu hùng và những năm tháng tù đày gian khổ, trong đó có những người bạn tù bất khuất luôn giữ khí phách trước cường quyền, cai tù CS. Điển hình, bác Nguyễn văn Thuật đã can trường luôn lớn tiếng gọi tên những tội đồ của dân tộc VN ra nguyền rủa như: Hồ chí Minh, Lê Duẫn, Trường Chinh, và Phạm văn Đồng… v…v… và v…v… Ba tôi đã cho tôi hiểu nhiều về Quốc Gia và Dân Tộc và lòng vững tin vào sự thành công trong công cuộc đấu tranh chung của toàn dân VN, xóa bỏ chế độ và chủ nghĩa CS ra khỏi đất nước Việt Nam.
Dòng thời gian có dần trôi, tôi vẫn in đậm những gì đã xảy ra cho gia đình tôi và cho thế hệ chúng tôi trong cái ngục tù lớn của CS. Những mất mát trong tuổi thơ không có cha bên cạnh thì không có gì có thể đền bù được. CSVN đã hèn hạ trả thù bằng cách lưu đày các Quân-Dân-Cán Chính MNVN trong các trại tù khổ sai từ Nam ra Bắc mà chúng giả dối cho là trại “tập trung cải tạo”. Mẹ mất con, vợ mất chồng, và con mất cha đó là những gì CS đã làm cho cái tuyên truyền của chúng, là xóa bỏ hận thù sau khi chiếm MN. Chính CSVN đã, đang và mãi gieo rắc sự căm thù trong lòng của dân tộc VN lên trên vô số những hành động tồi tệ của chúng, nhất là dâng hiến đất đai bờ cõi của VN cho ngoại bang, quan thầy Tàu Cộng.
CSVN ngày nay đang run sợ trước những ngọn lửa đấu tranh của người dân Việt trong và ngoài nước, vì thế CSVN thẳng tay đàn áp và cầm tù các nhà đấu tranh. Liệu CSVN có đủ sức để dập tắt những ngọn lửa đấu tranh nếu cùng bùng cháy một lúc? Những ngọn lửa cùng bùng lên, quyện vào nhau, sẽ trở thành ngọn lửa thật lớn đốt sạch cái chế độ CSVN vô thần. Hơn ai hết, người CS thừa biết ngày ấy sẽ đến và chúng đã và đang tìm đường tháo chạy bằng cách gởi con em ra các nước phương Tây để bảo lãnh cho chúng sau này. Hiện tại, người CS bám víu vào chế độ CS chỉ vì quyền lợi cho cá nhân và an toàn của gia đình chúng. Vì ngày tàn của chế độ CS là ngày chúng bị đền tội trước dân tộc VN và trước nhân loại yêu chuộng tự do và hòa bình của thế giới.
Tôi tin chắc ngày ấy sẽ tới và bạn cũng hãy vững tin nhé!
Hùng Biên Atlanta , 10/14/2014
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Một chuyến ra bắc thăm Ba / tác giả Hùng Biên
Hồi ký của tác giả Nguyễn Trọng Hoàng
Ðại tướng Ðỗ Cao Trí và Tôi
(Hồi ký của tác giả Nguyễn Trọng Hoàng}
Sau khi Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa tan rã, cả nước Nam tan rã, chúng ta phải sống tha phương nơi đất khách quê người. Vì nơi dung thân là nước Mỹ, giầu có, nên tấm thân của mình, của gia đình mình, trông lên những người bản xứ thì chẳng bằng ai, nhưng trông xuống những đồng bào của mình đang còn ở quê nhà, thì quả một trời một vực! Tuy vậy, đối với một số người thì là một sự đổi đời, còn với nhưng người khác, niềm hoài vọng ngày trở về cố hương xa lắc cứ dần dần bị xói mòn, riêng những người lính trận chúng tôi. . . Mời bạn đọc tiếp:
Bản thân tôi thì không ra gì, dở chàng dở đục, nhưng bạn bè tôi, nhìn ngang nhìn ngửa đứa nào cũng nổi tiếng. Ngày trước, chúng nổi tiếng trên chiến trường, qua Mỹ chúng nổi tiếng bằng cái nghề tay trái: Làm báo viết văn! Tôi thích mang những sở trường của họ ra khoe với những người lạ, làm cứ như những ưu điểm của họ có thể lấp trống giùm cho tôi những nhược điểm của bản thân mình.
Ðại tướng Ðỗ Cao Trí lẽ dĩ nhiên không nằm trong trường hợp trên, vì nếu như bây giờ, ai người ta cũng có thể gọi bằng thằng, càng gọi khỏe càng lộ chất “Ông” trong người mình ra. Thì ngày xưa, cái móng tay của ông ấy tôi cũng không bằng, huống chi nói là bạn với bè?
Có điều, một vị tướng ngày xưa, thì thiếu gì thuộc hạ. Tôi có may mắn là thuộc hạ của ông Ðại tướng tài ba này.
Sau Tết Mậu Thân, Việt cộng ngậm ngùi suy ngẫm học thuyết quân sự cũ rích: Tiến công và nổi dậy! Ðó là sở trường mà chúng gọi là tổng công kích.
Công là đánh tới. Kích là bẩy lên, hay xúi giục ai nổi lên. Thành phần chủ lực ở ngoài tấn công vào. Ðám nằm vùng xúi dân nổi loạn. Khốn thay cho Việt cộng trong cuộc tấn công này, bộ đội chủ lực thì xâm nhập vào được nhưng chẳng có ma nào xúi được dân nổi lên cả, ngay cả những người dẫn đường cũng lặn luôn. Nên bọn cán ngố cứ như con dế bị ngắt mất cọng râu. Thế là làm mồi cho quân ta mà thôi!
Nhân đây, tôi cũng xin mở một dấu hỏi to tướng, về âm mưu “Thay ngựa giữa dòng” của người Mỹ. Họ đã biết trước cuộc tổng tiến công và nổi dậy của Việt cộng, nhưng họ lờ đi “ Ðể xem mày (Việt Nam Cộng Hòa) có chống cự nổi không, còn sức chống, tao giúp tiếp, dở quá, bỏ luôn.” Một bằng chứng là khoảng 26, 27 tháng Chạp là các cố vấn Mỹ ở các tiểu đoàn bộ binh và các đơn vị biệt lập đã cuốn gói trở về “hậu phương” rồi!
Thế rồi, thiên bất dung gian, kẻ gian đại bại. Ngay sau đó, trong khi ông Hồ mang cái hận ngàn thu ấy xuống âm ty địa phủ thì đám cán bộ mang tàn quân lết bên Căm Bốt để cùng nhau hát bài: “Dậy mà đi!”
Tôi tham gia cuộc hành quân Toàn-thắng của Sư đoàn 25 Bộ Binh, mục đích để tiêu diệt nốt đám tàn quân ấy! Chiến đoàn tôi mang tên 333 từ hướng mật khu Ba Thu, đánh xuôi xuống vùng Mõm Chó, Chi Phu. Bravet rồi theo quốc lộ 1 thọc thẳng lên Svayrieng (Xoài Riêng). Trận này, diễn tiến như thế nào, tôi sẽ kể sau.
Tôi có một thói quen mỗi khi sắp tham dự vào một cuộc hành quân xa, tôi thường xin về Sài Gòn một thoáng để thăm mẹ. Phần nghĩ đến một thời gian dài sắp tới phải nhá cái khẩu phần C. chết tiệt. Phải về với mẹ để được ăn một món gì cho khoái khẩu. Phần vì tôi luôn đeo đẳng cái cảm giác, sự sống của những người lính trận chỉ đếm bằng từng ngày một… “Mình không về gặp bả, ngộ có gì…”
Tôi lại không bao giờ dám nói với mẹ là mình sắp đi xa:”Con hành quân ở vùng ven biên ấy mà, tạt về thăm đẻ một chút thôi rồi con phải đi liền!”
“Một chút” của tôi thường bị kéo dài bởi nồi canh cua rau đay nấu với mướp hương hoặc những miếng thịt heo cháy cạnh mà chỉ tự tay mẹ làm thì mới vừa miệng tôi thôi.
Làn này, chính cậu “Tà loọc” đã làm hại tôi:
– Bà có hộp dầu ông hổ nào không, con xin cho Trung úy một hộp? Ở Miên nghe nói mùa này là mùa gió chướng, Trung úy lại chỉ hợp với loại dầu này!
Mẹ tôi ngừng têm trầu:
– Lại đi đánh nhau tận bên Miên cơ à?
Tôi thấy mẹ tôi lấy khăn lau nước mắt. Ăn cơm xong, mẹ ra divan ngồi nhai trầu, giọng bà như muốn khóc:
– Ðánh nhau như vậy đủ rồi, hay để đẻ nói với chú Hạ (thông gia nhà tôi), nói với bác Thuần xin cho con về văn phòng?
Biết sẽ phải nghe điệp khúc ấy, tôi đứng dậy vuông vai, lấy chiếc áo trận, vừa mặc vừa nói như hát vọng cổ:
– Mẹ ơi! Mai kia mốt nọ yên giặc con cũng trở . . . Dzề!.
Mẹ tôi chì chiết:
– Con người ta, cha mẹ bảo sao nghe vậy, chúng nó ăn trắng mặc trơn, nhơn nhơn ăn học. . . Còn cái thứ con nhà này. . . Ngu như bò!
Mẹ tôi đưa hộp dầu ông hổ cho chú lính, mẹ nói:
– Ở Miên họ hay dùng bùa ngải lắm đấy! Lại hay “thư” nữa đấy! Có người bụng cứ trướng lên, mổ ra một đống toàn răng với tóc không đấy nghe con! Con gái của họ, không phải như gái bên mình, đá gà đá vịt vào rồi không thích thì bỏ đâu đấy! Ðừng dại nghe con.
Khác với những lần trước, mẹ tôi đưa tôi ra tận cổng, hành động này của mẹ khiến tôi vừa xúc động vừa lo lắng. Mẹ tôi chỉ vào chiếc balô căng đầy mà chú lính đang để vào băng sau xe Jeep:
– Mẹ có cho mang cho con một cỗ bài chắn, đóng quân ở đâu, trong lúc rảnh rỗi, thày trò rủ nhau đánh cò con cho vui, nhớ đừng đi lang thang nghe con.
Hai mẹ con đang bịn rịn thì Hương phóng xe tới. Mặt cô đỏ au. Mẹ tôi giữ ý, chỉ Hương:
– Thôi cô cậu giã từ rồi lên đường cho sớm, mẹ vào..
Hương cầm lấy hai cánh tay tôi, chân dậm dậm xuống đất:
– Em vừa lên hậu cứ kiếm anh, anh sắp đi Miên hả?
Tôi cười:
– Việc binh cốt ở thần tốc và bất ngờ, anh chưa xuất phát mà ngã ba Ông Tạ đã biết, Hàng Xanh đã biết thì còn đánh đấm cái mẹ gì nữa?
Hương đưa ngón tay dí vào môi tôi:
– Sao lại nói tục với em? Hôm nọ hứa cái gì nào? Em có tin mừng mới phải lên báo cho anh chứ bộ!
Tôi sướng run lên, tôi biết ngay cái tin đó là gì rồi, nhưng cũng giả vờ hỏi:
– Tin gì vậy?
Nàng lại ghé sát vào má tôi, mái tóc có mùi bồ kết làm tôi ngây ngất:
– Em “ Có” rồi. Hú vía, hú vía! Mà này, anh qua bên Miên, ăn bánh trả tiền nhe! Con gái Miên ghê lắm đấy!
Ngày N. . .
Lần đầu tiên từ khi tôi ra trường, tôi được “đối đáp” với một vị Tướng, mà lại là vị tướng nổi danh mới oách chứ:
Trung tướng Ðỗ Cao Trí ngoái cổ lại hàng ghế phía sau hỏi to:
– Ông nào là Ðại đội trưởng Trinh sát đâu?
Tôi đứng bật dậy như lò xo bung:
– Có mặt.
– Nãy giờ ông có nghe kỹ diễn tiến của ngày N và N+1 không?
– Nghe rõ!
Ông Tướng đứng dậy, đưa tay ra hiệu cho Ðại tá Lều Thọ Cường, Chiến đoàn trưởng chiến đoàn 333, đưa que chỉ bảng cho ông.
Bây giờ tôi mới nhìn thấy rất rõ ngoại mạo một ông Tướng khét tiếng này. Vầng trán cao xám ngoét, đôi mắt sáng, đỏ au như mắt cá chầy (Người ta bảo con mắt ổng có cô hồn đấy! Nhất tướng công thành vạn cốt khô mà!) Phần từ đầu tới thắt lưng, tướng pháp không chê vào đâu được, nhưng từ thắt lưng xuống tới đôi giầy “Máp”, giống như củ khoai lang cắt đôi, dựng ngược, từ từ teo tóp. . . Tôi bỗng rùng mình, chua chát nghĩ đến chiếc bóng chênh vênh của Kinh Kha bên dòng Dịch Thủy:
Gió hiu hiu sông Dịch lạnh lùng ghê.
Tráng sĩ một đi không trở về!
Tướng Trì xòe nguyên bàn tay mum múp trên tấm bản đồ không ảnh, kéo một đường dài từ Gò Dầu Hạ, dọc theo quốc lộ 1 lên tận Svayrieng:
(Ôi! Những ai từng “đi” nhận lệnh hành quân, còn nhớ chăng cái cảm giác xương sống lành lạnh, mỗi khi thấy ông đơn vị trưởng của mình xòe tay trên một tấm bản đồ 1/25.000 trong đó một ô vuông nhỏ xíu nhưng ngoài thực tế là một cánh đồng bát ngàn, đi mù con mắt mà vẫn không tới?)
– Ông Chuyên, cho các mục tiêu vừa thuyết trình, giạt ra xa quốc lộ 1 chừng một cây số…
Bỗng ông ngừng lại:
– Ông Cường, thằng Tiểu đoàn 1 của ông đến đâu rồi?
Ðại tá Cường, rập hai chân lại trong một cữ chỉ vừa nghiêm trang, vừa như lấp ló có tin vui:
– Thưa Trung tướng, thằng 1 của tôi vừa làm chủ Chi-Phu.
– Tốt, như thế này nhá: Ông Cường cho Bộ chỉ huy Chiến đoàn của ông, dời từ đây lên Chi-Phu. Tôi nhắc các ông từ bây giờ bọn cố vấn Mỹ không theo mình vào Miên nữa đâu đấy!
Ông nhìn mấy cố vấn Mỹ, rồi bảo người thông dịch viên:
– Dịch nguyên văn cho “chúng nó” nghe câu này: “ Phải tập đánh độc lập đi, dựa mãi vào mãi thằng Mỹ mai kia mốt nọ, chúng qua cổng rút cầu thì sao?”
Ông lại xòe bàn tay ra, dùng ngón trỏ và ngón giữa căng theo quốc lộ 1, rồi ông dùng que chỉ bảng chỉ ngay vào mặt Thiếu tướng Nguyễn Xuân Thịnh, Tư lệnh sư đoàn 25, gốc Pháo Binh:
– Ông Thịnh, từ đây lên Xoài Riêng còn trong tầm bắn tác xạ của Tiểu đoàn 252 Pháo binh không?
Tôi thích thú nhìn tướng Thịnh, ông Tướng có mấy sợi lông tài trên nốt ruồi đen, trên khuôn mặt to đen lạnh lùng như ông thần đất, mà mọi khi chúng tôi rất hãi, cũng phải đứng bật lên :
– Thưa, tới!
Bất ngờ tướng Trí chỉ ngay vào tôi:
– Trung úy Hoàn, mở sổ tay ra.
Tôi rụng rời. . . Trong cái nóng hầm hập của phòng hành quân tạm, mọi người đổ dồn về phía tôi, một sĩ quan có cấp bậc nhỏ nhất, lại được tướng Trí nhớ tên. Tôi đỏ mặt, tính háo danh, và sự sung sướng lấn át hết cảm giác sợ hãi. Tự tin hơn là tôi đã chuẩn bị một quyển sổ tay, mà những sĩ quan nào, hơn một lần bị “ông Tướng sổ tay” hạch hỏi vì “Là cấp chỉ huy mà không có quyển các-nê-đờ-nốt là một sĩ quan tồi.”
Tôi cầm quyển sổ tay. A! Có một điểm đầu tiên rồi đấy! Tôi thấy Tướng Trí cười:
– Quân số hành quân của ông bao nhiêu?
– Trình Trung tướng: 102. Sĩ quan 9. Hạ Sĩ quan 15, binh sĩ. . .
Tướng Trí hét lên:
– Sao nhiều thế, sao sĩ quan nhiều thế, hạ sĩ quan ít thế? Bịa hả?
Ðại tá Cường đỡ cho tôi:
– Thi hành khẩu lệnh của Trung tướng trước đây, quân số các đơn vị Trinh sát phải luôn luôn bổ sung đầy đủ. Sĩ quan nhiều vì trong Trung đội viễn thám, mỗi Toán viễn thám phải có một sĩ quan trưởng toán.
Tướng Trí ngắt lời:
– Tôi biết rồi.
Rồi ông lại dùng que thuyết trình chỉ xuống phía dưới, giọng ông chắc nịch:
– Tất cả mở sổ tay ra.
Như cái máy, Tướng, Tá phía dưới đồng loạt để tay lên túi áo trận.
Tướng Trí đọc chính tả:
– Viết đi: Sức mạnh của một đơn vị bộ binh chiến đấu (phẩy) không phải ở lớp Sĩ quan chuyên chỉ tay năm ngón (phẩy) mà nằm trong lớp Hạ sĩ quan cốt cán (chấm) Tóm lại, bộ binh là hoàng hậu của chiến trường (phẩy) mà chiến trường thắng hay bại tùy thuộc vào cấp bậc từ Hạ sĩ nhất đến Thượng sĩ nhất, viết rõ chưa? (Chấm hết)
Rồi ông lại chỉ vào mặt tôi:
– Trung Úy lên đây.
Con người nhỏ con kia sao toát ra cái uy quyền lạ kỳ. Tôi đã vào sinh ra tử nhiều lần nhưng chưa bao giờ tôi lúng túng đến như thế. Tôi ríu tíu đỡ cây que chỉ bảng:
– Trung úy chỉ cho tôi xem đâu là Quốc lộ 1. Tốt. Ðâu là cây cầu chính vào thành phố. Tốt. Trung úy có thể chiếm thành phố này chỉ với một mình đại đội của Trung úy được không?
Cả sống lưng của tôi như bị điện giật. Một đại đội Trinh sát với một nhúm người như thế này, làm sao đây?
Tính háo danh của tôi lại bật dậy:
– Ðược, thưa Trung Tướng.
– Tốt, thế mới là trinh sát chứ! Như thế này nhá. Ông Cường cho . . .
. . . Máu háo thắng cùng niềm kiêu hãnh cứ dâng lên từng đợt trong con người phàm của tôi cho đến khi tôi tập họp đại đội dưới một thửa ruộng khô vừa xong mùa gặt. Tôi huênh hoang khoe:
– Ðích thân Trung tướng Tư lệnh Quân đoàn vừa chỉ thị, một mình Ðại đội ta sẽ chiếm Tòa thị sảnh Svâyriêng!
Từ sĩ quan cho tới lính mặt mày nhớn nhác. Có nhiều người nhẩy lên vì thích thú. Có người dơ cao khẩu M16 hét lên:
– Chơi luôn!
Có vài nét mặt đăm chiêu của sĩ quan, tôi lờ đi, nói lớn, ngất ngất hào khí:
– Mọi người có nửa tiếng để sắp xếp lại quân trang quân dụng, bỏ lại hết thực phẩm, quân trang nặng nề. Tóm lại chỉ mang súng đạn cá nhân. Hai Trung đội trưởng trinh sát và Trung đội trưởng viễn thám ra đây nhận lệnh.
Lệnh có gì đâu, nhưng nghe xong, mặt ai cũng như chàm đổ.
Sau đấy khoảng hơn một tiếng, hơn 10 chiếc xe vận tải dân sự từ Gò Dầu Hạ trở về Miên, bị chúng tôi trưng dụng. Trung đội trưởng kè súng vào hông người tài xế Miên, còn lính nằm ở phía sau. Ðạn lên nòng, xe cứ thế mà chạy. Trên quốc lộ phía bên Miên ngày ấy, cứ vài cây số lại có một cái bàn đặt ngay quốc lộ để đơn vị Miên nào đóng gần quốc lộ . . . thâu tiền mãi lộ!
Ðoàn xe của Ðại đội cứ thế mà chạy, qua trạm, chạy luôn, khiến những người lính Miên trên các trạm ấy xả súng vào đoàn xe, cũng may không có ai bị thương.
Tôi ngồi ngay xe thứ 2, xe trước tôi là Toán viễn thám 1 của Chuẩn úy Cừu.
Bỗng tôi thấy đoàn xe chạy chậm lại, cái dốc cầu vào thị xã cong cong làm tôi không quan sát được chiếc xe phía trước.
Có tiếng thằng Một:
– Hải Ðiểu, đây Một.
Tôi chụp máy:
– Tôi nghe đây!
Tiếng của Cừu gấp gáp:
– Trình Thẩm quyền trên đường tụi Miên giăng concertina nhiều quá, có cả mấy con ngựa gỗ nữa. . .
Một tràng súng xé không gian, tiếp theo là những tràng súng khác thi nhau vãi vào đoàn xe.
Tôi hét to trong máy:
– Cho xuống xe ngay, xung phong! Cả đại đội sẽ yểm trợ cho ông, chiếm ngay cái bốt canh kia kìa!
Một chiếc trực thăng xà ngay xuống, tôi thấy rõ Tướng Trí đội nón đỏ đang quần quần ngay trên cái đồn tôi vừa ra lệnh cho Cừu chiếm. Chiếc trực thăng đảo một vòng rồi bay lơ lửng ngay trên đồn Miên. Tôi vừa hô xung phong vừa kinh ngạc nhìn lên thấy
Tướng Trí đã ngồi vào vị trí của người xạ thủ đại liên. Ông xoay họng súng vào phía lô cốt, một tay khoác khóac như cổ động cho đám quân dưới đất. Có tiếng hét của Cừu:
– Tụi nó bắn lên máy bay của ông Tướng kìa.
Một khẩu đại liên phòng không từ một cái đồn nhỏ bên phải cầu đang khạc hung hãn lên hông bên kia của chiếc máy bay. Chiếc trực thăng chao nghiêng. . .
Tôi kéo trung sĩ Thuận trong toán Viễn thám, chỉ tay về hướng ổ đại liên phòng không:
– Cậu dẫn toán men theo bên này cầu, diệt phứt cái lô cốt kia đi cho tôi.
Thuận nhận lệnh, anh dẫn toán chạy lên, vừa dùng súng M97 hướng mũi trực xạ, một tiếng nổ làm bật tung khẩu súng phòng không, đồng thời biến mất những tên lính Miên, xạ thủ của khẩu phòng không ấy. .
Chiếc trực thăng chở Tướng Trí lại vòng tới, lần này ông lại bay thấp hơn, ông biến thành xạ thủ của chiếc “ gunship”, chĩa những lằn đạn về phía đồn chính.
Bỗng mọi người dưới đất xanh mặt khi chiếc máy bay rung lên, như con rồng chuyển mình, bốc lên cao. Một cái nón đỏ, đúng là nón của ông Tướng bay vụt ra, xoay vòng vòng như chiếc lá rồi bay vút về phía cây cầu. . .
Những người lính trinh sát vừa hò hét vừa tiến lên, đen kịt thành cầu, những tiếng la phát ra từ những trái tim nóng hổi:
– Việt Nam, Việt Nam!
Tôi kéo chú hiệu thính viên lao tới, hai mắt tôi rưng rưng. . .
Thuận hớn hở chạy về phía tôi giơ cao chiếc mũ đỏ có ba ngôi sao gắn chéo. Người ta bảo nóng giận thì mất khôn, nhưng vui mừng quá cũng mất khôn luôn, với lại tính háo danh nằm sẵn trong tôi, nó sai bàn tay tôi, ném cái mũ sắt đang đội, lấy cái nón đỏ đội vào đầu. Lại nghĩ: “Có ngày mày cũng được nằm vào đầu tao thôi!”
Tôi vừa đắc chí vừa chạy tới, chạy một quãng thì hiệu thính viên đưa cho tôi chiếc combiné:
– Mặt Trời gập Trung úy.
Tôi nghe tiếng Tướng Trí.
– Ðừng bắn, đừng bắn nữa, chúng nó từ chân cầu đang phất cờ trắng kia kìa.
Một hàng dài lính Miên, có cả đàn bà, con nít đang cầm những mảnh khăn trắng giơ cao trên đầu. Tôi vừa ra lệnh ngừng bắn thì hiệu thính viên lại đưa ống nghe cho tôi:
Tiếng tướng Trí:
– Tốt lắm, để một toán nhỏ lại giữ đầu cầu thôi, còn cậu tiếp tục đi.
Như những con gà chọi đang say đấu, chúng tôi lao cả đoàn xe về phía trung tâm thành phố. Dưới đường người ta vẫn thong thả đi lại, những người lính Miên vẫn đeo súng lơ ngơ ngắm phố. Chắc không có một ai hiểu việc gì đang sắp xẩy ra với họ.
Tiếng Cừu báo qua máy:
– Trình Thẩm quyền mục tiêu kia rồi
“Băng ga lo” hoành tráng, nơi tôi phải chiếm, đang ẩn mình dưới những tàn cây cổ thụ, mục tiêu diễm lệ của tôi kia rồi!
Xe của Cừu húc đổ ngay con ngưạ gỗ, tiếp theo xe của tôi và các xe sau trờ tối. . .
Cừu đưa khẩu colt vào ngay ngực tên lính gác, qua một người lính gốc Miên thông dịch.
– Văn phòng Tỉnh trưởng đâu?
Tên lính đưa tay chỉ về phía cổng lớn nơi có hai con ngựa đá rất to. Cả đại đội lại lao về phía đó. Chẳng có đội hình gì cả. Khi Ban chỉ huy của tôi chạy vào trong đại sảnh thì một cảnh tượng vừa tức cười, vừa thống khoái hiện ra trước mặt: Trung úy đại đội phó Trần Như Xuyên đang ghìm khẩu súng M16 về hướng những người mặc toàn lễ phục đang chắp tay lậy như tế sao!
Té ra tại đây đang diễn ra buổi đại tiệc!
Tiếng người thông dịch:
– Trong các ông, ai là Tỉnh trưởng?
Một người chắp tay xá xá. Bỗng có tiếng lao xao phía sau tôi. Có người lính hét to:
– Sao sẹt! Sao sẹt kìa!
– Vào hàng, Phắc!
Tướng Trí xông thẳng đến tôi, ông đến trước tôi khoảng ba bước, ông rập hai chân vào nhau rồi đứng nghiêm chào tôi. Tất cả quan quân mặt ai cũng xanh như tầu lá! Chết mẹ tôi rồi! Cái nón đỏ có hàng lon Trung tướng tôi đang đội trên đầu, chỉ đem cho tôi cái thích thú phù du, nhưng sẽ là một thảm họa khôn lường cho tôi.
Tôi vừa sợ hãi vừa xấu hổ, đưa tay lên đầu, giật ngay cái mũ xuống rồi bằng hai tay, trịnh trọng đưa trả nón, y như kẻ bại trận dâng cây kiếm quy hàng.
Tướng Trí, chìa cả hai tay lấy chiềc nón đỏ. . . Mọi người chờ con thịnh nộ của ông Tướng Sấm Sét. . .
Ông cúi xuống gỡ ba ngôi sao ra cười hiền từ:
– Giữ giùm cậu ba ngôi sao này, còn tặng cậu cái mũ làm kỷ niệm, làm kỷ niệm thôi nhé! Coi chừng quân cảnh bắt về tội tiếm phục quân hiệu đấy.
Mặt tôi nóng ran lên như người lên cơn sốt.
Tướng Trí đến ngay trước viên Tỉnh trưởng Miên, tính võ biền cố hữu của ông biến mất và y như một chánh khách chuyên nghiệp, ông dơ tay, bắt tay viên Tỉnh trưởng.
Ông nói một tràng tiếng Pháp, tôi nghe lỏm bõm, hình như ông ra lệnh cho viên Tỉnh trưởng phải kêu gọi các lực lượng dưới quyền quy hàng, bằng cách ra lệnh cho các đơn vị ấy, tháo hết các cơ bẩm của các loại súng rồi cho chở lên các bộ chỉ huy liên hệ.
. . Rồi y như ông chủ, chính tay ông khui whisky:
– Vào đây, Ðại đội trinh sát vào đây, các chú khá lắm, “moi” phải khao các “toi” một chầu mới được. Tôi bước ra trước, nhưng ông làm tôi quê hết sức khi ông hỏi lớn:
– Chú lính nào ít thâm niên nhất, cấp bậc nhỏ nhất vào đây.
Rồi cũng y như khi lúc xung phong, chẳng kể quan lính, mạnh ai nấy ùa tới vây quanh ông y như một người thân. Chính tay ông rót cho mỗi người một ly ruợu nhỏ.
Bỗng tướng Trí lấy tay đập vào trán:
– Chú nào bắn trái M79 trúng ổ đại liên cứu “moi” thế?
Tôi chỉ vào viên Trung sĩ viễn thám:
– Trình Trung tướng, Toán phó viễn thám, Trung sĩ Thuận !
– Thấy “moi” nói có đúng không? Nhớ đấy! Hạ sĩ quan mới là lực lượng nòng cốt của quân đội!
Ông rút trong túi ra quyển sổ tay, nhìn chăm chăm vào bảng tên của Thuận, ghi xong ông hất hàm hỏi:
– Trung sĩ nhất bao lâu rồi?
Thuận hớn hở trả lới:
– Thưa Trung tướng, gần hai năm.
Tướng Trí nghiêm nghị:
– Cho cậu lên Thượng sĩ.
Rồi ông quay lại phía tôi, nhắc lại điệp khúc:
– Phải nằm lòng, Hạ sĩ quan mới là nòng cốt. . .
Lần này không thấy ông bắt ai ghi vào sổ tay cả.
Một tháng sau, Tiểu đoàn tôi đang hành quân tại Kăm Pông Trapeck, vùng biên giới phía Ðông nam căn cứ Thiện Ngôn, trên một ngọn đồi trọc, một người lính hiệu thính viên chỉ về phía Trảng Lớn la to:
– Một em gẫy cánh rồi!
Tôi ngoảnh lại, một khối đỏ như một quả cầu, đang ôm một chiếc trực thăng xoay vòng vòng rồi đâm nhào xuống đất.
Ngay tối hôm ấy, tôi được biết chiếc máy bay ấy đã chở cố Ðại tướng Ðỗ Cao Trí về miền đất yên lành không bao giờ có tiếng súng trận nữa.
Tôi bước ra ngoài lều vải, chòm sao Hiệp sĩ (Orion) đêm nay có cái đầu bị mây đen che khuất, có thanh gươm mờ nhạt, nhấp nháy như muốn khóc.
Nguyễn Trọng Hoàn
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Hồi ký của tác giả Nguyễn Trọng Hoàng
XƯNG TỘI (Phim ngắn)
Một phim hay – Mời xem:
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở XƯNG TỘI (Phim ngắn)
10 Phút Vàng Sau Khi Thức Dậy (ST)

Theo các danh y xưa, 10 phút đầu ngày sau khi thức dậy là thời gian “vàng” để chăm sóc sức khỏe. Nếu làm được 10 động tác này trong vòng 10 phút, kết quả vô cùng kỳ diệu cho sức khỏe.
1. Xoa nóng bàn tay
Khi bạn vừa tỉnh dậy, dùng 2 bạn tay úp vào nhau vào xoa đều khoảng 300 lần cho đến khi tay nóng lên, da lòng bàn tay đỏ hồng lên là được.
Lợi ích:
Khi 2 bàn tay hoạt động nhanh, cọ xát vào nhau nhiều lần liên tiếp sẽ tác động lên hệ thần kinh trung ương, làm thức dậy ý thức của bạn, giúp cho toàn cơ thể của bạn như được “đánh thức” sau một đêm ngủ dài. Hành động này sẽ giúp bạn không phải làm một việc nguy hiểm ngay sau khi thức dậy đó chính là lập tức ngồi dậy và rời khỏi giường – nguy cơ gây chóng mặt, choáng, thậm chí ngất xỉu.
Ngoài ra, khi xoa tay, các huyệt vị trên lòng bàn tay được kích thích, có thể mang lại những tác dụng tích cực cho cơ thể như thông lục kinh, khỏe nội tạng, điều hòa âm dương và khí huyết, làm mềm khớp, thư giãn vai, giảm mệt mỏi và làm cho mắt bớt áp lực, thị lực rõ ràng hơn.
2 . Chải tóc bằng tay
Bàn dùng lòng các đầu ngón tay (không dùng móng tay) xoa bóp đầu từ chân trán lên đỉnh đầu, mát xa tiếp ra vùng sau đầu. Mỗi giây xoa bóp khoảng từ 2-4 lần, thực hiện đều trên cả vùng đầu trong 1 phút là có thể dừng lại.
Lợi ích:
Việc dùng các ngón tay xoa bóp trên đầu có thể kích thích vỏ não, thúc đẩy sự trao đổi chất, cải thiện trí nhớ, làm tăng lưu lượng máu trong não, làm cho gốc chân tóc được cung cấp đầy đủ dinh dưỡng, tóc sẽ dày lên, đen và sáng bóng.
Trên đỉnh đầu chúng ta có huyệt Bách hội, nếu thường xuyên xoa bóp huyệt này sẽ mang lại nhiều tác dụng lên toàn bộ vùng đâu – nơi tập hợp các kinh tuyến. Chải đầu mang lại tác dụng làm lưu thông các kinh lạc, điều chỉnh sự cân bằng của chức năng bên trong cơ thể con người, là một cách tuyệt vời để duy trì sức khỏe và tăng cường sức mạnh cơ thể.
3 . Xoa bóp vành tai
Dùng các ngón tay của bạn, đặc biệt là ngón trỏ và ngón cái, xoa bóp day bấm vành tai từ trên xuống dưới rồi lại ngược từ dưới lên trên cho đến khi bạn cảm thấy tai nóng ấm lên, vành tai chuyển sang màu đỏ hồng. Thời gian tối thiểu là trong 1 phút.
Lợi ích:
Vành tai được xem là “cửa ngõ” của các cơ quan nội tạng bên trong cơ thể, có rất nhiều huyệt vị nằm trên vành tai. Nếu bạn chăm chỉ mát xa tai thường xuyên, có mang lại tác dụng khơi thông và nạo vét kinh tuyến, giúp máu lưu thông nhanh hơn, từ đó điều chỉnh các cơ quan bên trong cơ thể hoạt động hiệu quả hơn.
4 . Day bóp mũi
Bạn dùng 2 ngón tay của mình bóp vào vành mũi, rồi vuốt mũi từ trên xuống dưới, dọc theo sống mũi. Day bấm các huyệt xung quanh sống mũi. Tổng cộng khoảng 50 lần xoa ấn như vậy cho đến khi có cảm giác thông mũi.
Lợi ích:
Khi bạn sử dụng ngón trỏ xoa xoa vùng mũi có thể làm thông mũi, khai thông phổi, loại bỏ cách bệnh liên quan đến nhiễm khuẩn vùng mũi, đường hô hấp, viêm phế quản. Không những thế, đây còn là hành động tuyệt vời giúp bạn phòng ngừa bệnh tim, xơ vữa động mạch.
5 . Xoa rốn
Sử dụng lòng bàn tay của bạn để chồng lên nhau và xoa bụng vùng xung quanh rốn theo chiều kim đồng hồ, xoa đều vùng bụng như vậy trong 1 phút.
Lợi ích:
Việc xoa bụng xung quanh rốn nhẹ nhàng có thể giúp cho khí trong dạ dày và hệ tiêu hóa được lưu thông, thúc đẩy quá trình qua khí tiêu hóa và hấp thụ hiệu quả hơn, đồng thời đào thải được những khí thải ra khỏi cơ thể.
Mát xa vùng bụng vào buổi sáng sớm sau khi ngủ dậy cũng sẽ phát triển thói quen tốt cho ruột, giúp làm tăng sự hoạt động của ruột, xả chất thải và trao đổi chất một cách dễ dàng.
6 . Hóp chặt bụng nâng thắt hậu môn
Hóp bụng, thở ra từ từ, sau đó từ từ nâng hông lên cao, thắt chặt hậu môn và hóp bụng, giữa yên, nín thở trong vòng 3 giây, sau đó thả lỏng, nghỉ ngơi 3 giây, tiếp tục làm lại như vậy trong vòng 1 phút, hít thở sâu.
Lợi ích:
Hóp bụng và nâng hông, co thắt hậu môn lại lặp đi lặp lại có thể tăng cường lực co bóp của cơ vòng hậu môn và thúc đẩy tuần hoàn máu. Đây cũng là cách nâng cao khả năng tình dục, tạo điều kiện thuận lợi cho đại trực tràng hoạt động mạnh mẽ và hiệu quả hơn.
7. Xoay đảo mắt
Bạn nên duy trì động tác này như là một bài tập thể dục hàng ngày cho mắt. Quay nhãn cầu 30 lần theo chiều kim đồng hồ và ngược chiều kim đồng hồ, sau đó nhấp nháy 3-5 lần mỗi giây.
Lợi ích:
Xoay đảo mắt có thể giúp bạn trở nên tỉnh táo tinh thần, làm mới bản thân, tăng cường các cơ mắt, giúp ngăn ngừa và điều trị viêm giác mạc mạn tính, lão hóa mắt và các triệu chứng khác.
8 . Ưỡn người, co duỗi tay chân
Nằm ngửa trên mặt phẳng, hơi ngả đầu ra sau, ưỡn ngực lên, chân tay dang rộng ra và vươn dài hết mức có thể, kéo căng toàn bộ cơ thể.
Lợi ích:
Thông qua việc kéo dãn tay chân và toàn cơ thể sẽ làm cho máu lưu thông nhanh hơn đến tứ chi, giúp bạn nhanh chóng tỉnh lại, đồng thời máu tiếp tục quay trở lại tim với tốc độ nhanh hơn, cung cấp khí huyết cho tim và não, giúp cho bạn phòng ngừa tốt các bệnh về tim mạch. Đây cũng là cách tăng cường sức khỏe gân cốt, xương cơ đều trở nên linh hoạt hơn.
9 . Chà xát bàn chân
Bạn có thể nằm hoặc tốt nhất là ngồi, xoa hai chân vào nhau hoặc xoa bóp mát xa chân cho đến khi bàn chân nóng lên. Thực hiện với lòng bàn chân và toàn bộ vùng chân trong khoảng 1 phút.
Lợi ích:
Dưới lòng bàn chân có huyệt Dũng tuyền nổi tiếng, đây là điểm khởi đầu của trung tâm kinh tuyến thận. Huyệt này có tác dụng làm dịu các dây thần kinh, làm mới não bộ, giúp tỉnh táo nhanh, làm thông các giác quan, mở các “lỗ” trên cơ thể để đón khí mới, ổn định tâm thần và sức khỏe.
10 . Vặn mình
Bạn nằm ngửa trên giường, sau đó lật người sang trái rồi sang phải, xoay vai, hông, eo, lật qua lật lại nhẹ nhàng cho cơ thể vận động trong 1 phút.
Lợi ích:
Động tác này có thể làm cho các khớp cột sống và lưng cũng như cơ bắp trở lại hoạt động đầy đủ và hoàn thiện sau một đêm dài nghỉ ngơi. Khi ngủ, cơ bắp sẽ cứng lại, vận động này sẽ giúp cho cơ thể mềm mại trở lại. Kiên trì thực hiện trong thời gian dài sẽ có tác dụng tăng cường sức mạnh cơ bắp. (ST)
Bài do Tâm Nguyễn chuyển
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở 10 Phút Vàng Sau Khi Thức Dậy (ST)
Ý kiến về Website Học Viện CSQG
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Ý kiến về Website Học Viện CSQG
Có những kiệt tác không hạ giá. Đó là Tấm Lòng
CÓ NHỮNG KIỆT TÁC KHÔNG HẠ GIÁ,
ĐÓ LÀ “TẤM LÒNG”
Posted on February 23, 2021 by TamAn

(Trích từ Website Chính Nghĩa Việt Nam Cộng Hòa)
(Ảnh minh họa)
Thời buổi này còn cái gì không hạ giá nhỉ? Sách vở, quần áo, đồ điện tử… v.v… hạ giá!
Tôi cầm mảnh bằng Đại học, cạy cục mãi chưa tìm ra việc làm, cũng nhào ra vỉa hè bán sách đại hạ giá.
Từ Victor Hugo, Leon Tolstoy, Tagore, Dostoevsky… đến Khái Hưng, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng…. cả thảy đều bị “hạ” nằm la liệt.
Lắm lúc ngồi chồm hổm nhìn xuống các tên tuổi từng “vang bóng một thời”, tôi thầm hỏi:
– Nên cười hay nên khóc, thưa chư liệt vị?
Cách đây ít lâu, một ông lão hình dáng tiều tụy mang đến bán hai pho sách dày :
1 – Một cuốn là “Hán Việt Từ Điển” của Đào Duy Anh do Khai Trí tái bản.
2 – Cuốn kia là “Petit Larousse Illustré” in tại Paris năm 1973.
Sách còn tinh tươm lắm, hẳn chủ nhân đã xài rất kỹ. Thấy giá rẻ, tôi mua. Loại ấn bản này đây, gặp loại khách biên biết, bán cũng được lời!
Ngoài bìa và một số trang ruột của mỗi cuốn, đều có ấn dấu son hình ellipse: “Bibliothèque – Đô Bi – Professeur”.
À, té ra ông lão vốn từng là giáo chức. Thảo nào!
Cất tiền vào ví rồi mà ông cứ dùng dằng nuối tiếc, ngoảnh lại nhìn những tài liệu – tài sản phải đứt ruột bán đi. Ngoái mãi mấy lần rồi ông mới dắt chiếc xe đạp cà tàng đạp về.
Mắt ông đỏ hoe.
Lòng tôi chợt se lại!
Chiều 25 Tết.
Ngồi cạnh các danh tác, tôi vẫn lim dim, thấp thỏm, chồm hổm ra đấy.
Qua đường không ai thấy lá vàng rơi trên giấy. Sài Gòn chả có mưa bụi cho đủ khổ thơ Vũ Đình Liên. Nhưng bụi đường thì tha hồ, đủ khổ thứ dân lê lết vệ đường như tôi.
– Anh mua bánh bò, bánh tiêu?
Một chị hàng rong đến mời. Tôi lắc đầu.
Bỗng chị sững người chăm chú nhìn vào hai bộ từ điển. Chị ngồi thụp xuống, đặt sề bánh bên cạnh, cầm hết cuốn này đến cuốn kia lật lật. Rồi chị hỏi giá cả hai.
Ngần ngừ lúc lâu, chị nói:
– Anh có bán…. trả góp không?
– Trời đất ơi! Người ta bán trả góp đủ thứ, chứ sách vở, sách đại hạ giá ai đời bán trả góp? Vả lại, tôi nào biết chị là ai? ở đâu?
– Tôi cần mua cả hai – chị nói tiếp – Xin anh giữ lại, đừng bán cho người khác! Khi nào góp đủ, tôi sẽ lấy trọn. Anh thông cảm, làm ơn giúp tôi!
Thấy lạ, tôi hỏi chuyện mới vỡ lẽ. Đô Bi chính là thầy cũ của chị hàng rong.
Chị Tám (tên chị) bất ngờ thấy có dấu son quen, hiểu ra hoàn cảnh của thầy, bèn nảy ý chuộc lại cho người mình từng thọ ơn giáo dục.
Song, bán bánh bò bánh tiêu nào được bao nhiêu, lại còn nuôi con nhỏ, không đủ tiền mua một lần, nên chị xin trả góp.
Tôi cảm động quá, trao ngay hai bộ từ điển cho chị Tám:
– Chị hãy cầm lấy, kịp làm quà Tết cho thầy. Tôi cũng xin lại đúng số vốn mà thôi chị à!
– Nhưng…
– Đừng ngại, chị trả góp dần sau này cũng được!
Chị lấy làm mừng rỡ, cuống quít trả tôi một ít tiền:
– Chao ôi, quý hóa quá! Cảm ơn…. cảm ơn…. anh nhá!
Hôm sau quay lại, chị Tám trả góp tiếp. Chị kể:
– Thầy Bi thảm lắm… Gần Tết, cô lại ngã bệnh…Thầy nhận sách, mừng mừng tủi tủi tội ghê, anh à!… Thầy cũ trò xưa khóc, khóc mãi!
Tôi vụt muốn nhảy cỡn lên và thét to:
– “Hỡi ông Victor, ông Lev, ông Dostoievski…. ơi! Ông Khái, ông Vũ, ông Ngô… ơi! Có những thứ không bao giờ hạ giá được!
Có những người bình thường, vô danh tiểu tốt, nhưng có những kiệt tác không hạ giá nổi, đó là ‘Tấm lòng’ ”.
NGƯỜI VIẾT DẤU TÊN.
Thân mến
TQĐ
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Có những kiệt tác không hạ giá. Đó là Tấm Lòng
Thơ Đường Cóc Tưởng Niệm Quốc Hận 30/4
TƯỞNG NIỆM QUỐC HẬN 30/4
Thân mời quị lão họa bài cho ngày 30/4 sắp tới .
Cóc Chát
Xướng: ĐẦU DÊ THỊT CHÓ
Chủ nghĩa búa liềm lộng giả chân
Vỏ lê hồng táo ruột toàn bần
Lục lâm đóng kịch người hai mặt
Thảo khấu hiện hình thú bốn chân
Chính Trị ngôi cao nguyên lũ dốt
Trung Ương ghế cả một bầy đần
Đầu dê cộng sản bình phong bám
Thịt chó độc tài thống trị dân .
Cóc Chát
Họa 1: NHÂN NGÀY QUỐC HẬN
Nước Việt khi nào hết giả chân
Đi đâu cũng thấy cảnh cơ bần
Lọc lừa, mánh khóe che muôn mặt
Dối trá, cúi lòn dấu cặp chân
Biển đảo không còn vì lũ dốt
Tài nguyên mất hết bởi thằng đần
Nhân ngày Quốc Hận cùng lên tiếng
Chống bọn cường quyền áp bức dân.
Cóc Nhà (Quốc Hận 2021)
Họa 2: VIỆT NAM THỜI CỘNG SẢN
Cộng nô mới lộng giả thành chân
Lật lọng điêu ngoa lũ cán bần
Giải phóng trông lầu quên rớt mũ
Vào Nam thấy của quýnh đôi chân
Thiên tai khắp nước đâu cần giúp
Dịch bệnh quanh vùng chẳng đỡ đần
Tư bản đỏ lòm trông thấy rõ
Việt Nam đảng trị khổ người dân
Cóc Ươn
Họa 3: CHÂN TRẦN CŨNG ĐAU
Liềm búa làm chi có giả chân
Sao vàng cờ đỏ Bác thằng bần
Giao liên lải nhải môi khô miệng
Trợ lý lang bang háng rã chân
Du kích vùng lên lừa đứa dốt
Nằm vùng giải phóng gạt anh đần
Ăn mừng đại thắng lòi đuôi khỉ
Gom hết sang giàu hành hạ dân./-
Cóc Ớt TQN.
Họa 4: HẬN THÁNG TƯ
Lòng người khó biết giả hay chân
Tưởng tốt ngờ đâu lại quá bần
Cố vị hung hăng không bẽ mặt
Tham quyền hiếp đáp chẳng chùn chân
Quê hương rách nát vì thầy dốt
Đất nước tan hoang bởi chú đần
Mỗi tháng Tư về thêm uất hận
Căm hờn giăc Bắc ngập lòng dân.
CL (Thân hữu Không quân)
Họa 5: HÃY ĐỪNG SỢ
Xin đừng nói chuyện gỉa hay chân
Với lũ cộng nô vốn dĩ bần
Giải phóng phèng la tuồng rẻ mạt
Tự do bánh vẽ ghế ba chân
Khoe khoang trí tuệ đỉnh cao dỏm
Múa mép văn chương lộ mặt đần
Kắt mạng búa liềm gieo nỗi sợ
Hãy đừng sợ nữa hỡi người dân
CX
Họa 6: NHẮN VỚI BÊN KIA
Bao giờ mi đứng thẳng đôi chân
Để dụ thằng ngu, đứa cố bần
Chủ nghĩa tam vô đầy chuyện dối
Phong trào cải cách thiếu lời chân
Non sông điêu đứng do bầy ngố
Đất nước tan hoang bởi lũ đần
Bốn sáu năm làm trang sử rách
Thì sao thuyết phục được lòng dân
Cóc QT-TP
Họa 7: CHỈ KHỔ DÂN
Triều kiến bắc phương mọp bốn chân
Xum xoe nịnh bợ giống thằng bần
Cúi đầu vâng dạ khôn thành dại
Tráo trở gian manh giả hóa chân
Cắt bán đất đai phường phản quốc
Hiến dâng biển đảo lủ ngu đần
Một mai quê mẹ thân nô lệ
Chúng nó chuồn êm chỉ khổ dân
CH
Họa 8: GIẢ THÔI
Giả thôi chẳng có thứ gì chân
Hiện tại tương lai chỉ thấy bần
Mặc sức quơ quào quan thượng cấp
Tha hồ liếm láp lũ tay chân
Kẻ khôn muốn sống đành nên ngốc
Người giỏi cầu an phải hóa đần
Thấy việc bất bình không dám nói
Búa liềm cắt cổ đập đầu dân
CCR
Họa 9: LỘNG GIẢ THÀNH CHÂN (Nghịch Vận)
Giải phóng! Chúng làm khốn khổ dân,
Nghênh ngang khố rách, lũ ngu đần.
Thu Hương dậm cẳng kêu lầm lối,
Bùi Tín cúi đầu bước sái chân.
Bốn thập niên dư non nước mất,
Bảy mươi năm lẻ triệu người bần.
Cộng Hồ xã nghĩa là như thế,
Mọi việc đều thành lộng giả chân.
Cóc Chay
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Thơ Đường Cóc Tưởng Niệm Quốc Hận 30/4
TRUNG QUỐC VÀ KÊNH ĐÀO PANAMA _ Hồ Đắc Vũ

Dân Mỹ đã biết rằng Trung Quốc là mối đe dọa đáng sợ, nhưng có lẽ họ không đoán được nó chết người tới cỡ nào. Trung Quốc đã trở thành một cường quốc hung dữ và nguy hiểm. Rõ ràng là các tay chóp bu của họ muốn thâu tóm cả thế giới! Tham vọng này càng gia tăng vì TQ quan hệ chặt chẽ với Nga. Vấn đề sau đây có thể chứng minh cho âm mưu của TQ chống lại Mỹ và nó sẽ làm tan nát nước Mỹ trong tương lai rất gần.
Cần một kênh đào để nối Thái Bình Dương và Ðại Tây Dương xuyên qua Trung Mỹ là mục tiêu trong nhiều thế kỷ. Nhưng cho đến năm 1880, thương gia người Pháp mới hoàn thành ý tưởng này dưới thời Ferdinand de Lesseps. Họ đã chi cỡ 6 tỉ đô (giá hiện nay) và hủy bỏ công trình sau trận dịch lớn làm 22,000 công nhân mất mạng.
Nhưng vào năm 1903, Tổng Thống Mỹ Theodore Roosevelt đã thuyết phục Panama tách khỏi Colombia, tuyên bố độc lập và ký một hiệp ước với họ. Mỹ trả cho Pháp $40 triệu tiền thiết bị và công việc đã đào kênh, $10 triệu cho chính phủ Panama. Và người Mỹ tiếp tục công việc này.
Roosevelt là TổngThống đầu tiên nhìn thấy nước Mỹ thực sự trở thành cường quốc của thế giới.
Sau 10 năm vất vả, tốn hằng trăm triệu, với 5,600 người bỏ mạng, người Mỹ đã thành công xây dựng kênh đào Panama.
Thay vì phải đi một vòng 8,000 miles xuống vùng biển nguy hiểm của Cape Horn cuối Nam Mỹ, để tới Ðại Tây Dương, bây giờ tàu bè chỉ cần đi qua kênh Panama dài 51 miles là tới nơi.
Ðây là một trong “7 kỳ quan thế giới”. Kênh Panama không chỉ phục vụ cho người Mỹ mà mở rộng cho vận chuyển thương mại và các dịch vụ khác của bao nhiêu quốc gia.
Trong thế chiến 2, Mỹ có 9 đồn lính ở mỗi đầu kênh, và nhiều đồn dọc theo hai bên như căn cứ quân sự, Không Quân và Hải Quân. Căn cứ Quân đội Mỹ đã bao phủ chừng 90,000 mẫu đất, chừng 5,420 tòa nhà trị giá cỡ 4 tỉ đô. Thời gian cao điểm của thế chiến 2, Mỹ đã có 60,000 lính đồn trú khắp Panama để bảo vệ vị trí chiến lược vô giá với khả năng di chuyển chiến hạm, tiếp liệu, quân lính một cách nhanh chóng từ Ðại Tây Dương tới Thái Bình Dương.
Suốt thời kỳ chiến tranh lạnh, kênh đào Panama là cửa ngõ chiến lược, là Bộ Tư Lệnh Miền Nam của Mỹ. Binh sĩ Mỹ tại đây đã thúc đẩy tự do dân chủ ở vùng Tây Bán Cầu và chống lại sự lan tràn của chủ nghĩa Cộng Sản.
Không một con đường hàng hải nào trên thế giới lại rất quan trọng với Mỹ như kênh đào Panama.
Nhưng tiếc thay! Mỹ đã mất tiêu nơi này!
Dù rằng dân Panama đã hưởng lợi về kênh và khu vực kiểm soát của quân đội Mỹ chung quanh. Nhưng họ bắt đầu bất bình vì sự có mặt của người Mỹ trên đất nước mình, từ sau cuộc cách mạng Cuba 1959. Trong cuộc cách mạng đẫm máu này, những người cộng Sản do Fidel Castro lãnh đạo đã chiếm Cuba. Năm 1964 một số Cộng Sản tràn tới Panama và xách động dân chúng, học sinh, sinh viên đứng lên chống Mỹ (Giống tuồng ở miền Nam Việt Nam). Ðám này đã gây bạo loạn trong khu vực kênh đào và hơn 20 người đã thiệt mạng.
Chính quyền Panama tạm thời cắt bang giao với Mỹ và Tổng Thống Lyndon B. Johnson thấy bị áp lực phải giao trả kênh đào. Trong một diễn văn năm 1964, ông hứa hẹn một kế hoạch lâu dài và thay đổi quan trọng cho kênh đào Panama.
Ðó là một kế hoạch tồi tệ, ký năm 1977, lúc ấy nhà độc tài của Panama, Omar Torrijos đã ký một hiệp ước với Tổng Thống Mỹ Jimmy Carter, hiệp ước này thay thế hiệp ước năm 1903 của Roosevelt.
Theo các điều khoản mới, Carter đồng ý chuyển nhượng kênh Panama cho một nhóm chính trị côn đồ của Panama. Nói một cách khác thì Tổng Thống Carter đã bỏ đi “Viên ngọc chiến lược” này. Nhóm chính trị đã không điều hành nổi một đất nước nhỏ bé, biểu tình và bạo động đã làm gián đoạn giao thương qua kênh, cho nên Tổng Thống Carter đã bỏ cuộc hoàn toàn.
Thời gian cuối của hiệp ước Torrijos-Carter là 31-12-1999, Mỹ chấm dứt quyền kiểm soát. Nhưng chuyện này vẫn còn nhiều điều cho thế giới, đặc biệt là Mỹ.
Ngay cả trước ngày bàn giao kênh Panama, một điều xảy ra đáng lẽ phải làm rung động nước Mỹ, nhưng không ai để ý. Ngày 1-3-1997, một tập đoàn khổng lồ của Trung quốc nắm quyền quản lý 2 cảng do Mỹ xây ở 2 đầu kênh Panama.
Như các công ty lớn của Trung Quốc, Hutchison Whampoa (Bây giờ là CK Hutchison Holdings) đều dưới quyền kiểm soát của Ðảng Cộng Sản Trung Quốc (CCP). Có nghĩa là: Cuối cùng thì CCP có quyền lực để kiểm tra ai có thể ra vô kênh Panama.
Bất kỳ một ai, dù chỉ mới là học viên quân sự chiến lược, cũng thấy những điều đáng sợ trong thỏa thuận của Panama và Trung Quốc.
Ðó là doanh nghiệp thuộc nhà nước Trung Quốc, quốc gia có quân đội đông nhất thế giới, đang tích cực mở rộng không quân, hải quân, nắm quyền kiểm soát kênh đào Panama, cửa ngõ giao thương đường biển quan trọng nhất giữa Ðông và Tây. Nếu vì lẽ gì, Trung Quốc đánh đắm một tàu lớn ngay giữa kênh hoặc phá hoại nó, hoặc trong điều kiện cần thiết của chiến tranh, họ cũng có quyền từ chối Hải Quân Mỹ đưa chiến hạm băng qua khu vực này. Ðiều ấy đáng báo động!
Hiện nay Trung Quốc có một vị trí thương mại vững chắc tại kênh đào Panama, nên ngăn cản mấy cha Cộng Sản này mở căn cứ quân sự, chuyển quân đội, tàu ngầm, chiến hạm và phi cơ chiến đấu tới đó là điều không dễ. Thật ra thì trong hiệp ước Torrijos-Carter có một điều khoản là Panama “Hoạt động trong sự trung lập”, và nếu thế lực nào tấn công hoặc xây dựng căn cứ quân sự tại đây, họ sẽ bị Mỹ can thiệp. Nhưng Trung Quốc, liệu có canh me chờ nước Mỹ rối loạn, suy yếu để mà mưu đồ hay không? Câu trả lời là có.
Christopher R. O’Dea, Trợ lý tại viện Hudson đã viết “Chúng ta phải biết các hãng xây cất và vận tải biển do nhà nước Trung Quốc làm chủ đã thiết kế các cảng của mình trên khắp thế giới và họ có thể biến thành căn cứ quân sự, Trung Quốc sẽ quân sự hóa các cảng thương mại của mình, và họ đã có ý định đó tại vùng kênh đào Panama”.
Chiến hạm của Trung Quốc đã thăm cảng Panama, các năm gần đây, các chiến hạm mang cờ đỏ Trung Quốc đã neo ngoài khơi Cuba và Venezuela. Viện Hải Quân Mỹ đã viết về hiện tượng này vào tháng 6-2019 “Trung Quốc sẽ luôn tận dụng cơ hội để có mặt tại Châu Mỹ La tinh khi cần thiết”.
Trung Quốc là một nguy cơ cho Mỹ là có thật, khi cần, Trung Quốc sẽ chuyển quân tới Panama, không những họ cấm hải quân Mỹ vào kênh đào mà còn dùng Panama là căn cứ để tấn công Mỹ với chiến hạm, tàu ngầm, và oanh tạc cơ, chỉ có 900 miles để tới Miami. Ðây là một vị trí tốt cho Trung Quốc tấn công. Nếu Trung Quốc đưa chiến đấu cơ và hỏa tiễn tới Panama để bảo vệ quyền lợi của mình, thì nhiều thành phố chính của Mỹ sẽ nằm rất ngay trong tầm sát hại.
Mối đe dọa của Trung Quốc đã thành hình. Bạn có nghĩ là điều này sẽ ảnh hưởng nặng nề tới Mỹ trong tương lai?
Hồ Đắc Vũ
(Báo Trẻ Online)
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở TRUNG QUỐC VÀ KÊNH ĐÀO PANAMA _ Hồ Đắc Vũ
TÌNH NGHĨA và KIẾP NGƯỜI

Tôi đang ngồi xem tin tức thế giới trên màn hình chiếc máy tính Bảng hiệu Apple, cái máy ấy tuy là thứ vô tri vô giác, thế nhưng bây giờ lại chính là bạn, là con, là cháu của tôi trong những tháng ngày còn lại , của cuộc đời trong cái Viện dưỡng lão Club Health care này đây, tôi sống trong một phòng riêng vì là còn tự chăm sóc bản thân được, không như những người khác lú lẫn , mất tự chủ thì phải sống chung phòng lớn 2-3 người, để còn tiện hổ trợ nhau trong việc bấm chuông gọi điều dưỡng khi cần giúp.
Bổng chuông điện thoại reo vang :
– Hello.
Đầu dây bên kia giọng cô con gái thứ của tôi lên tiếng :
– Con chào Ba , Ba có khoẻ không ?
– Ba khoẻ, ăn uống ngon miệng, ngũ tốt, nói chung là Ba khoẻ tụi con đừng lo lắn , ở đây Ba sống thấy rất thoải mái.
– Ba ơi ! Ba còn nhớ câu chuyện về đứa bé lai Mỹ đen , mà khi xưa Ba kể Ba tính nhận nuôi , khi người Mẹ muốn bỏ ở Quân Y Viện Nha Trang , nhưng Mẹ không chịu vì thằng bé là lại Mỹ đen, nên Mẹ sợ người đời dị nghị đó không B .
– Ừ Ba nhớ, nhưng sau hả con ?
– Hôm nay, con có khám mắt cho một người, khi đọc hồ sơ thì con khá ngạc nhiên là anh ta có ngày tháng năm sinh trùng với con và cả nơi sinh luôn. Cho đến khi gặp anh, thì Ba biết không anh ấy là người Việt lai Mỹ đen luôn, thật quá trùng hợp phải không Ba.
– Trời, không lẽ quả đất tròn đến vậy sao?
– Trong khi thăm khám mắt, chúng con có hỏi chuyện nhau, thì anh ấy cũng rất ngạc nhiên và muốn được gặp Ba, nên con gọi điện để hỏi ý Ba đây.
– Ồ tốt thôi, con cứ nói anh ấy có thể đến gặp Ba bất cứ lúc nào nha.
– Dạ, để con thông báo lại cho anh ấy.
– Nè con, thằng Kevin và con Tina tụi nó vẫn chơi đùa khoẻ chứ?
– Dạ , hai cháu khoẻ và quậy phá lắm Ba à, để con sắp xếp cuối tuần nào đó sẽ chở hai cháu vào thăm Ba nghen.
– Ừ, vậy đi, chớ Ba nhớ tụi nó lắm rồi.
– Vậy thôi con tiếp tục làm việc đây, Ba nhớ giữ gìn sức khoẻ đó nghen, con chào tạm biệt Ba.
– Ừ.
Tiếng đặt máy đánh “cộc“ khô khan từ phía bên kia vọng lại , như tiếng gõ của vị quan toà khi kết án một người, nó gọi bằng điện thoại bàn của Bệnh Viện Mắt đó mà.
*
Tôi năm nay mới 67 vừa mới đúng tuổi về hưu năm ngoái, vợ của tôi đã mất cách đây 5 năm Năm ngoái sau khi về hưu, đêm đó bị tôi bị tai biến mạch máu não, nên đưa vào Bệnh Viện nằm điều trị , sau một thời gian tôi phục hồi hẳn, chỉ bị liệt nhẹ một bên cơ mặt , nhưng không hiểu sao .. sau đó tôi lại được chuyển thẳng vào cái Viện dưỡng lão này , chứ không được về nhà … thật là tủi thân! Sau đó tôi có hỏi nhân viên Văn phòng tại đây để biết lý do, thì mọi sự mới vớ lẽ… đến bẽ bàng cho đời tôi.
Số là tất cả mọi người già được người thân gởi vào đây, chủ yếu là do nguyên nhân lú lẫn, hay quên hoặc mất tự chủ trong vấn đề vệ sinh cá nhân. Họ vào đây từ nhà của họ và sau khi họ đã trò chuyện với con cái, rồi thống nhất đi đến quyết định .. vậy họ đỡ tủi hơn tôi rồi, vì họ được một phần quyền quyết định.
Riêng tôi, khi ở Bệnh Viện chuẩn bị xuất viện, thì con cái tôi đã nói chuyện với Bác Sĩ và than phiền rằng tôi hay lú lẫn, quên trước quên sau .. ôi trời ! tụi nó còn trẻ mà đôi khi còn quên tắt bếp nấu , quên nồi nước đang sôi, chứ huống hồ tôi .. luật ở Mỹ nó thế, Đất mước văn minh mà, nghe vậy là hợp lệ rồi , đây là người cần sự chăm sóc và theo dõi thường xuyên, vậy thì các cơ sở Viện dưỡng lão mới mọc như nấm , ăn nên làm ra được chớ và rồi con được tiếng là Đất nước có chế độ chăm sóc người già tốt nhất nhì thế giới nửa chứ .. ôi ! cái sự đời đầy nghịch cảnh chát .. chua .
Tôi có đến ba đứa con , 2 trai , 1 gái .. con trai đầu là kỹ sư đang làm việc cho NASA , đưa con gái thứ hai là Bác Sĩ Mắt và thằng con trai út CEO của tập đoàn Dầu khí ESSO MOBIL và hai cháu ngoại , bốn cháu nội tất cả còn nhỏ , đứa lớn nhất chỉ 7 tuổi … một gia thế khủng , được chăm lo nuôi nấng ăn học từ đôi tay của người Ba già nua này , nhưng già mà sức khoẻ tôi còn rất tốt , đi đứng nhanh nhạy , đầu óc minh mẫm … thế mà thật cay nghiệt .
Ba ngày sau , tôi được thông báo có người muốn gặp , đã biết trước nên tôi đồng ý .
Bước ra , tôi trông thấy một người đàn ông trung niên , ừ tuổi bằng con gái tôi là 39 đúng rồi , anh ta là Mỹ lai đen , thân hình khá phốp pháp , cao to như di truyền của Cha anh ta vậy .
Gặp tôi anh đứng dậy bắt tay :
– Con chào Bác , rất mừng vì Bác đã cho phép con được gặp mặt .
– Chào Cậu , Cậu có muốn uống cafe , hút thuốc để nói chuyện được lâu và thoải mái không ?
– Ôi quí quá , mới gặp Bác lần đầu mà con đã cảm thấy nhẹ nhõm , thoải mái với sự ân cần của Bác rồi đấy . Dạ như vậy cũng được ạ .
– Vậy để tôi thông báo với người chịu trách nhiệm ở đây , về yêu cầu của mình nha .
Tôi đi vào trong nói chuyện với nhân viên , để họ cho phép khách của tôi bào phòng riêng và sau đó ra vườn đi dạo .
Tôi dẫn chàng trai đi vào phòng mình , để pha cafe xong :
– Bác cháu mình đem cafe ra ngoài sân vườn uống và nói chuyện nha .
– Dạ .
Chúng tôi song bước ra ngoài vườn , đi trong im lặng như để cho đối phương đủ thời gian để cảm nhận về nhau và suy nghĩ về những gì cần nói .. ra đến nơi có bàn ghế đá và bóng râm , gió mát , chủng toii ngồi xuống , đốt điếu thuốc tôi hỏi :
– Sao ? bây giờ tôi có thể giúp anh điều gì nào ?
– Bác có thể kể cho cháu nghe về tất cả những gì Bác biết không ạ .
Nhìn về xa xăm , như một cuộc phim quay chậm đang được tua lại cách đây 39 năm …
– Sáng hôm ấy vào thăm vợ của tôi đang nằm ở Bệnh Viện Quân Y Nha Trang , nghe vợ kể đêm qua có một người phụ nữ vừa sanh một bé trai lai Mỹ đen , đang muốn cho .. tôi đi qua nhìn thấy một đứa bé da ngâm đen nhưng thật dễ thương , trông nó còn đẹp hơn cả đứa con gái mà vợ tôi mới sinh , trán có ba nếp nhăn giống tôi , trán vồ , mũi gãy .. tôi nói với vợ hay xin nó về nuôi luôn một thể , có gì thuê người trông nom phụ , nhưng vợ tôi không chịu vì sợ người ngoài đàm tiếu sanh đôi mà một đứa đen , một đứa trắng , vậy là đi lang chạ sao ? thế nên chịu .. Mẹ cậu là một người đàn bà cao đẹp , nghe nói có chồng thường xuyên đi công tác xa , có lẽ bà có cuộc sống phóng túng nên khi sanh , phải từ Đà Nẳng vào tận Nha Trang để sanh , nếu là đứa con thuần Việt thì bế về nuôi , còn không thì … chứ làm sao ăn nói với chồng đây , lúc đó thời chiến nên những đứa trẻ như cậu sẽ được đưa vào Trại cô nhi viện chăm nuôi , nếu có ai nhận làm con nuôi thì cho … Tôi chỉ biết có vậy thôi , không biết còn giúp gì được cho cậu nữa không ?
– Thưa Bác , suốt thời gian qua cháu chỉ thắt mắc về lý do tại sao Mẹ lại bỏ cháu mà thôi. Bây giờ qua chuyện Bác kể cháu đã biết lý do rồi .. cháu cũng vì thắc mắc lý do đó, mà đem lòng thù hận đàn bà và chấp nhận sống độc thân cho tới tận bây giờ.
Bỗng bất ngờ không kiềm chế được, tôi bật cười vang .. ha .. ha .. ha .. tiếng cười chất chứa một sự chua chát, khinh thường cái sự đời, như luôn chớ trêu phận người.
– Có gì mà Bác cười nghe cảm giác chua chát đến vậy ạ.
– Tôi cười vì chợt nhận ra anh suy nghĩ ấu trĩ và tôi thì ngu muội đến phũ phàng .. anh thử nghĩ mà xem, sau giải phóng tôi vượt biên sang Mỹ , một thân một mình đi cày bán mạng để dành dụm tiền bạc gởi về phụ vợ nuôi con và lo mua nhà để bảo lãnh vợ con sang đoàn tụ .. bảo lãnh vợ con sang , thì phải cày bán mạng hơn nửa để lo cho con ăn học .. nay ba đứa con đã lo cho yên bề gia thất, học vị kỹ sư, Bác Sĩ, Tổng gián đốc .. nhưng rồi sao? tụi nó thông đồng quyết định tống khứ Ba của tụi nó vô đây, mặc dù tôi tỉnh táo không lú lẫn, khoẻ mạnh nhanh nhẹn không mất tự chủ trong sinh hoạt cá nhân, mặc kệ người Ba đã tận tuỵ dầy công , hy sinh nuôi chúng khôn lớn thành đạt như hôm nay .. nhưng cũng lỗi ở tôi , vì đi làm nhiều quá không có thời gian để dạy bảo chúng thành người trước .. thay vì thành danh .
Thế nên , anh hãy quẳng cái suy nghĩ hận thù đàn bà ấy đi , cho tâm trí nó nhẹ nhàng và vui vẽ sống những năm tháng còn lại của cuộc đời , đừng quá đau đầu về nó mà uổng phí tuổi trẻ , nghe không ?
Tôi mà biết trước cái sự đời như thế vậy, tôi đã mặc kệ vợ con ở Việt Nam , mà ăn chơi bay nhảy cho khỏi uổng phí tuổi trẻ của tôi rồi.
Tiếng cười chua chát lại vang lên nghe thắt ruột , nhưng lần này là kèm theo hai dòng lệ tuôn rơi đầy đau xót.
Anh cám ơn và từ giã Bác ấy ra về, anh thầm cảm ơn buổi nói chuyện nay , chẳng những giúp anh biết rõ lý do vì sao Mẹ bỏ mình, mà còn chứng kiến và hiểu hơn về mãng đời còn tăm tối hơn cả mình, thế mà chính người đang mang mãng đời đầy cay nghiệt đó , vẫn cố tiếp sức cho anh đi tiếp quãng đời còn lại bằng chính câu chuyện của đời mình . Nhưng Bác ấy đâu biết rằng, anh đã không kể hết về đời mình .. rằng anh đi ghép với một GĐ cũng có ba con nhỏ , khi qua Mỹ anh xem họ như GĐ mình , vì là anh lớn .. anh không đi học mà đi làm luôn để phụ giúp GĐ nuôi các em , cho đến khi các em học xong Bác Sĩ , kỹ sư và sắp chuẩn bị kết hôn , thì Cha Mẹ bảo anh ra riêng sống .. chỉ vì sợ mang tiếng với thông gia .. thế là anh đành xách valy ra đi, với vốn tiếng Anh ít ỏi lụm lặt từ cuộc sống khi đã gần 40.
Bổng anh chợt bật cười khanh khách một mình .. mắt cay nồng , tim đau nhói .. cho kiếp người của Bác ấy và cho anh!!!
KD (viettudomunich.org)
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở TÌNH NGHĨA và KIẾP NGƯỜI
CUỘC HÀNH TRÌNH CUỐI CÙNG _ Nguyễn Hùng K10

Cuộc hành trình cuối cùng
Khóa 10 SQ/CSQG không có đêm lễ gắn Alfa truyên thống dưới ánh lửa bập bùng trong bộ tiểu lễ quỳ ở vũ đình trường TTHL/CSQG Vũng Tàu vì phải khẩn cấp di chuyển về Học Viện tránh tình trạng hoang mang của dịch bệnh đau màng óc làm khóa sinh lo sợ (có khóa sinh đột tử). Về Học Viện, K10 chúng tôi được lệnh tự…gắn Alfa cho mình .
Tất cả đã sắp đặt những toan tính rộn ràng cho buổi ấy…thằng về miền tây, thằng về miền trung hỏa tuyến, kẻ về nẻo phố hay cao nguyên. Hãy tưởng tượng vòng tay thương yêu của cha mẹ già em gái, ánh mắt rạng rỡ hạnh phúc của người yêu nụ cười chia sẻ reo vui của bạn bè…vv cũng đủ làm tâm hồn người trai trẻ bâng khuâng héo hắt bởi hụt hẫng tương phùng sau bao ngày cách biệt cho cuộc dấn thân đầu đời vào binh lửa .
Thế mà , sau kỳ hiến máu (mỗi svsq hiến 150cc) chúng tôi được 48 giờ phép sau khi được hưởng một bữa ăn thịnh soạn có bò bít tết trứng ốp la săn quých trét bơ cà phê sữa và một trái chuối… Thằng Sinh phóng lên chuyến xe tốc hành về cao nguyên Pleiku (chắc chắn nó hạnh phúc với gia đình) trở xuống nó mang cho tôi một chiếc áo thổ cẩm của người Thượng mà tôi thường ao ước và một bịch cà phê chưa xay gần 2 ký (thiệt là phiền phải năn nỉ mấy em ở CLB xay cho hoài, và trong Đại Đội chỉ một ít thằng ghiền nên ngày xập tiệm tôi phải bỏ cà phê chạy lấy người) .
Mới hơn 10 giờ sáng, ánh dương quang rực rỡ mang một bầu không khí ấm áp lan tỏa đến không gian tưng bừng náo nhiệt của đám sinh viên đang rộn ràng hạnh phúc với gia đình người thân bên bánh mứt của ngày mùng 2 tết ở vườn tao ngộ. Trốn thực tại lẻ loi bên ly cà phê khói thuốc ở Câu Lạc Bộ trong tiếng hát Ngọc Cẩm Nguyễn Hữu Thiết thả hồn đưa tôi về hoài niệm của tình tự quê hương nào đó xa xưa. Thằng Hải ùa vào vực tôi dậy như một cơn lốc xoáy …”mày ra vườn tao ngộ với tao ngay bây giờ…nhanh lên…” thấy gương mặt hắn có vẻ rạng rỡ nghiêm trọng “có gì… vậy mày?” “còn hơn trời sập, tao mới quen 2 em rất đẹp, tụi nó chờ ngoài kia, tao để mày con chị tao xí con em rồi nhé “.
Tâm tư chúng tôi cũng rộn ràng xao xuyến với ánh nhìn triu mến buổi tương phùng khi nàng hất ngược cặp kính đen lên mái tóc dài óng ả phủ bờ vai trên chiếc ao thung vàng bó sát eo thon với chiếc quần hippy ống rộng cùng chiếc thắt lưng to bản của bộ đồ thời trang theo hình tượng hiện sinh của ca sĩ Pháp nào đó. Để từ đó chúng tôi có những buổi chan hòa hạnh phúc nơi phố phường Sài Gòn hoa lệ cùng nàng thay đổi hình tượng theo mong muốn của tôi trong những chiếc áo dài tha thướt nhu mì bên bộ tiểu lễ kaki dày cộm tuôn đổ mồ hôi của tôi giữa trời trời Sài Gòn nóng bức, dìu nhau nhẹ bước trên những con đường cây dài bóng mát , dừng lại ở những quán kem rạp xi nê hay len lỏi vào hẻm nhỏ thưởng thức nhũng món ăn bình dân.
Và bộ mặt thật của niềm hạnh phúc chan hòa mà các chàng tuổi trẻ vốn dòng hào kiệt đều mơ ước chiêm ngưỡng đó là cái giá phải trả cho “hạnh phúc tăng cao nỗi buồn đến mau mau” khi chàng tuổi trẻ vung tay bạt mạng xua đuổi những đồng tiền ít ỏi trong túi ra đi không hối tiếc để phải trả giá cho những lần ký vào sổ vàng đại đội của ông chủ nhà mồ (chủ cho vay) với 15% phân lời (tối đa 4 ngàn và phải thanh toán trong kỳ lương tháng tới mới được mượn tiếp, để rồi ông chủ đã mất số tiền khổng lồ vì ngang nhiên bị quịt nợ từ hàng trăm SV/K10 của ngày xập tiệm mắc toi).
Gần 2 giờ sáng, từ vòng đai phòng thủ chúng tôi kéo quân về cao ốc đại đội để tạm ngả mình lên chiếc giường nệm êm ái với nguyên trang phục tác chiến còn thấm đẫm sương đêm để nhanh chóng thiếp đi trong giấc ngủ mệt mỏi rã rời. Bỗng còi báo động rú lên thảng thốt xé màn đêm làm chúng tôi bật dậy với động tác nhanh nhẹn thuần thục trong bóng đêm dày đặc, đồng thời cùng tiếng nổ dồn dập giòn tan của các loại súng và tiếng pháo nổ chụp ầm vang từ hướng bắc gần kề đâu đó (Biên Hòa). Tôi phóng lại tủ dựng cây M16 lên giá chụp cây M79 với túi đạn 6 viên chống chiến xa (mới được sử dụng lần đầu) cài thêm 4 trái lựu đạn M67 gọn nhẹ (thay M26) trong tiếng soàn soạt hối hả của những bước chân ngoài hành lang với âm vang vũ khí đạn dược va chạm lách cách rộn ràng .
Băng qua Vũ Đình Trường thắp thoáng hàng trăm chiếc nón sắt của những chàng trai trẻ vũ khí tận răng vùn vụt chạy về vị trí chiến đấu của các SV 2 khóa 10 và 11 với hàng ngàn tay súng trong ngoài vòng đai phòng thủ. Phút chốc không gian trở nên im vắng khi bóng người mất hút trong sương đêm mờ mịt và chỉ còn là thời gian chờ đợi hiểm nguy đe dọa gần kề khi tiếng súng tiếng pháo vẫn đì đùng xa xa với những ánh chớp lóe sáng bùng lên từng hồi để thấy mọi vật sẽ tan vở nơi chiến trường khốc liệt … Nhìn quanh những chàng chiến binh không khó phát hiện sự thất vọng trên những gương mặt đăm chiêu tư lự, trên bước đi uể oải cúi đầu cùng ánh mắt nhìn xa vắng, ánh lửa lặp lòe của điếu thuốc rít liên tục trên môi. Tất cả tắt hẳn những nụ cười hồn nhiên của những ngày qua cùng nhau chia sẻ những niềm vui thú hoan lạc hay khó khăn của đề tài học tập hóc búa với bộ luật hình sự tố tụng hay điều tra tư pháp…vv , nhất là nỗi thất vọng đớn đau của những SV miền giới tuyến trong cơn lốc của biệt ly bất ngờ cùng gia đình người thân trong một sớm mai …!
Trời đã sáng tỏ, ánh dương quang rụt rè ẩn mình trong làn mây xám chiếu tia sáng yếu ớt phủ chụp một bầu không khí bi thảm xuống đất nước đang đi đến cuối đường oan nghiệt tang thương …9 giờ sáng tôi kéo quân rời bỏ vị trí phòng thủ như có linh tính (thật sự như vậy) để chừng 10′ sau hàng loạt đạn pháo từ những chiếc T54 của địch rền vang cày xới tan hoang khắp nơi trong Học Viện kể cả tuyến phòng thủ của tôi, những cao ốc 3 tầng là nơi chúng tôi trú ẩn an toàn cho loại đạn pháo nổ cao.
Có lẽ tôi là thằng SV cuối cùng rời Học Viện sau khi lệnh buông súng của tổng thống Dương văn Mình để về phòng trút bỏ bộ hoa màu đất thân yêu, ngậm ngùi vuốt nhẹ chồng sách mà tôi mua mỗi tuần về phép, tôi nghẹn ngào…thôi chúng mày hãy ở lại bình yên tao đi phép vĩnh viễn đây…và tôi nhét vào túi vải cuốn “the longest day” mới mua cùng chai dầu gió xanh mà má tôi dặn dò phải luôn mang theo mình bất cứ khi nào ….Rời Học Viện đúng 10 giờ 30 sáng 30 tháng 4 năm 1975 .
K10 Nguyễn Hùng
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở CUỘC HÀNH TRÌNH CUỐI CÙNG _ Nguyễn Hùng K10
Chuyện Đái Đường ở Mỹ _ Dương Chi Lan

Tôi là một bà già quê dốt đặc cán mai, nửa chữ bẻ đôi mà hỏi tui còn hổng biết, làm sao mà nói được tiếng Mỹ. Những người quen biết, ai gặp tui cũng hỏi thăm sao tui hay quá vậy.
Thật ra, chuyện tui “tự nhiên “ được chữa khỏi con mắt bị hỏng, lãnh tiền trợ cấp và được ở nhà housing thiệt hoàn toàn ngoài sức tưởng tượng của tui và tất cả những người quen biết với tui.
Tui qua Mỹ theo làn sóng vượt biên, cũng nhờ gia đình tui là nghề đánh cá, một chiếc tàu vượt biên lớn sợ “bể” đã cho tui đi “chùa” nghĩa là không phải đóng “cây”. Thuyền tui đi lại gặp may nên chẳng gặp một thằng cướp biển nào, khi đến đảo lại được “bốc” vô Mỹ rất nhanh.
Thế là tui được ở một đất nước mà mọi người đều mơ ước. Tui nghe nói nhiều người có tiền mà đi hoài không được, nhiều khi còn bị bắt giam cả mấy năm, ở tù phải lao động cực khổ không thua mấy ông sĩ quan học tập cải tạo.
Một hôm, cũng như mọi ngày, tui đi bộ để vừa chiêm ngưỡng những nhà cửa sang trọng với những bãi cỏ xanh và đủ loại hoa đẹp rực rỡ như cảnh tiên. Đang đi bỗng mắc đái không chịu được, sẵn thấy chân cầu có vẻ kín đáo, tui bèn bước vội đến đó, nhìn trước nhìn sau thấy coi bộ hổng có ai dòm, chỉ có xe hơi chạy nườm nượp hàng hàng lớp lớp, yên chí lớn, ai mà thèm dòm đít bà già. Thì tui đã quen làm như vậy khi ở Việt Nam mà!
Tui ung dung ngồi chồm hỗm xuống, khoai khoái dễ chịu vô cùng. Vừa đứng lên thì xe cảnh sát ở đâu bất ngờ trờ tới, thắng nghe một cái réec, ra dấu biểu tui để hai tay lên xe, tui vừa để lên thì nó lấy hai tay tui bẻ quặt ra đàng sau, tui nghe một tiếng “cắc” rồi cảm thấy hai cổ tay lạnh ngắt, thì ra tui đang bị còng tay.
Tui sợ điếng người nhưng đành chịu vì có biết tiếng Mỹ nào đâu mà nói với chẳng nói. Mấy ổng dìu tôi vô xe, thật ra mấy ổng vừa dìu vừa đẩy thì đúng hơn vì tui thấy sợ quá, không muốn vô xe cảnh sát chút nào.
Mấy ông cảnh sát đưa tui tới một chỗ gì mà thấy rùng rợn lắm, chỗ nào cũng có máy móc thấy ngộp, muốn xỉu. Một ông đi đâu một hồi rồi trở lại với một ông khác, nhìn thấy ông này tui càng sợ hơn vì ổng mặc cái áo choàng màu xanh và lại còn đeo mặt nạ màu xanh, không biết họ sẽ làm gì tui đây!
Tự nhiên tui nổi gai ốc khắp người. Ông mới ra dấu biểu tôi nằm vô giữa máy rồi ấn hết nút này đến nút khác, một hồi cái đầu tui bị kẹp chặt, tui cố cựa quay mà hổng ăn thua gì.
Tui nhắm mắt lại thật chặt, bụng nghĩ là chắc tụi nó cho tui lên máy chém, tui niệm Chúa niệm Phật lung tung. Biết vậy thà ở Việt Nam cho sướng hơn, muốn đái đâu cũng được, cùng lắm thì bị chọc quê chứ làm gì mà tới phải lên máy chém!
Nhớ lại hồi còn ở Việt Nam, mỗi lần đi xe đò, lâu lâu xe đậu lại là mấy ông mấy bà mạnh ai nấy đái: mấy ông thì cứ đứng đái đại lề đường, còn mấy bà thì kiếm lùm cây.
Tui tưởng mình đã chết, chợt nghe hai bên đầu được nới rộng dần, rồi có người lay tôi dậy. Thì ra tui vẫn còn sống! Để chắc ăn, tui lắc thử cái đầu và sờ vào cổ không thấy máu me gì cả. Hú hồn!
Rồi có một người Việt Nam đến, ông ta tự giới thiệu là thông dịch, họ đua nhau hỏi tại sao tui có sẹo trên mặt phía trên con mắt bên phải, họ nói trong óc của tui có dấu vết tổn thương nặng. Hèn chi tui nhức đầu hoài. Họ hỏi tui nhiều câu lắm. Tui giải thích là do bị VC đánh bằng báng súng trong lúc họ đuổi tui đi kinh tế mới mà tui hổng chịu, tui cho họ biết con mắt phải của tui bị hư là do lần bị đánh đó.
Kết quả gởi về tận nhà cho biết tui bị thần kinh và bị mù một mắt. Họ còn gởi cho tui nhiều giấy tờ khác nữa. Nhờ những giấy tờ này mà sau này tui được hưởng đủ thứ giúp đỡ: được Mỹ chữa khỏi con mắt bị hư, được cấp thuốc uống không mất tiền, rồi lại còn được ở nhà housing đến bây giờ, mỗi tháng tui còn được lãnh một món tiền nho nhỏ, tui xài tiện tặn, lâu lâu gởi về chút đỉnh cho bà con,hàng xóm.
Nếu tui còn ở Việt Nam thì giờ này vẫn còn ngày hai bữa ăn cơm với rau muống luộc chấm nước mắm, một giỏ cá nục phải chia ra ăn cho đủ hai ngày.. Con mắt của tui làm gì mà có tiền chữa, mà có tiền chưa chắc đã chữa được.
Cái đầu của tui bây giờ không còn bị giựt giựt như trước khi được Mỹ mổ. Thiệt không uổng công tui vượt biên đi Mỹ chút nào.
Nhưng xin bà con đừng bắt chước tui mà đái ngoài đường à nghen! May mà họ tưởng tui điên. Người không điên làm sao dám làm chuyện đó ở xứ văn minh lịch sự này!
Tui nghe người ta nói tội đái bậy bị phạt rất nặng mà còn bị ghi vào lý lịch suốt đời. Nước Mỹ có nhà vệ sinh sạch và tiện nghi lắm, bởi vậy nên nó được đặt tên là “Rest room” là “nhà để nghỉ” đó mà.
Nghe nói đi xa vài chục dặm là có một “rest area” để khách du lịch đi vệ sinh và nghỉ ngơi thoải mái không những thế còn có những bàn ghế bằng đá, có thùng đựng rác khắp nơi và nhất là có phong cảnh rất hữu tình. Vậy thì đái bậy bị phạt nặng cũng phải.
Tui cũng muốn nói thêm điều này, vì đây là điều tui rất khoái: người nào đến xứ Mỹ cũng biến thành người lịch sự, đi đâu làm gì cũng “get line” chớ không có thói quen chen lấn như ở nước mình nên bà con cứ yên tâm. Tui bây giờ cũng lịch sự lắm.
Mỗi lần kể chuyện này, tui chỉ muốn đi tìm lại hai ông cảnh sát Mỹ để nói lời cám ơn đã còng tay tui lúc đó. Nếu không thì làm gì tui có ngày nay.
Dương Chi Lan
(VVNM/Việt Báo – Viết theo lời kể của một người quen tình cờ)
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Chuyện Đái Đường ở Mỹ _ Dương Chi Lan
ĐIỂM BÁO PHÁP QUỐC NGÀY 05/03/2021: Trung Cộng Thách Thúc Lớn Nhất Của Hoa Kỳ
TRUNG QUỐC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
HIỆN ĐẠI ĐỘC TÀI
THÁCH THỨC LỚN NHẤT CỦA MỸ
Ảnh minh họa : Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình trong buổi khai mạc kỳ họp Quốc Hội tại Đại sảnh đường Nhân Dân, được chiếu lên màn hình lớn trên đường phố Bắc Kinh ngày 05/03/2021. REUTERS – TINGSHU WANG
Thụy My
Trung Quốc đặt ra mục tiêu đến năm 2035 thì GDP tính theo đầu người sẽ tăng gấp đôi để trở thành « một đất nước xã hội chủ nghĩa hiện đại ». Đàn áp Tân Cương, Tây Tạng, Hồng Kông, hung hăng với Đài Loan… đối với Washington, Bắc Kinh hùng mạnh và độc tài là thách thức địa chính trị quan trọng nhất của thế kỷ.
Chuyến tông du Irak của Đức giáo hoàng Phanxicô, việc phân phối vac-xin chống Covid ở châu Âu, kỳ họp Quốc Hội Trung Quốc là những chủ đề chính của báo chí Pháp ngày 05/03/2021.
Những đường lối kinh tế cho năm năm tới được Bắc Kinh công bố trong dịp này. Les Echos nhận định : « Trung Quốc tiến lên mạnh mẽ hậu Covid-19 », trong một thế giới bị rung chuyển bởi đại dịch và sự đối địch Mỹ-Trung.
Mục tiêu biến Trung Quốc thành quốc gia « xã hội chủ nghĩa hiện đại »
Tuy không loan báo một trường hợp dương tính nào từ một tháng qua, tất cả đại biểu đều phải xét nghiệm và đoàn đại biểu từ Hồng Kông còn được tiêm chủng. Họ chỉ được di chuyển từ khách sạn đến Đại sảnh đường Nhân Dân bằng những xe đã được khử trùng và tài xế đã chích ngừa. Các nhà ngoại giao và những nhà báo hiếm hoi được mời dự lễ khai mạc phải xét nghiệm và qua đêm tại một địa điểm được chỉ định.
Kỳ họp Quốc Hội lần này có tầm quan trọng đặc biệt vì là dịp « để bày tỏ sự tự tin và sức mạnh vào lúc khởi đầu một năm kỷ niệm 100 năm thành lập đảng Cộng Sản Trung Quốc » – theo Viện Merics. Đây cũng là năm đầu của kế hoạch 5 năm lần thứ 14.
Sau khi tránh được suy thoái trong năm 2020, kế hoạch 2021-2025 sẽ đưa ra « tầm nhìn biểu lộ những thách thức chính mà các nhà lãnh đạo Trung Quốc cho rằng sẽ phải đối đầu » – theo nhà quan sát Mark Williams của Capital Economics. Quan trọng nhất là « một môi trường thế giới mang tính thù địch hơn ». Trong bối cảnh đó, Trung Quốc muốn tự chủ được công nghệ, trông cậy vào tiêu thụ nội địa, và đặt ra mục tiêu đến năm 2035 thì GDP tính theo đầu người sẽ tăng gấp đôi để trở thành « một đất nước xã hội chủ nghĩa hiện đại ».
Lờ đi việc đàn áp Tây Tạng, Tân Cương, bóp nghẹt dân chủ Hồng Kông

Le Monde ghi nhận thủ tướng Lý Khắc Cường không hề nhắc đến Tây Tạng lẫn Tân Cương, còn về Đài Loan thì nhắc lại muốn « xúc tiến việc phát triển quan hệ giữa hai bờ eo biển một cách hòa bình ». Hồi năm 2020, các nhà quan sát đã lo lắng khi từ « hòa bình » biến mất, nay đã tái xuất hiện, vào lúc quân đội Trung Quốc bắt đầu tập trận trên Biển Đông trong một tháng kể từ ngày 01/03.
Tiếp tục dọn đường cho một nhiệm kỳ thứ ba năm 2022, bóp nghẹt những tiếng nói chỉ trích, Tập Cận Bình làm ngơ khi thế giới lên án việc đàn áp người Duy Ngô Nhĩ và biểu tình Hồng Kông. Tám tháng sau khi luật an ninh mới có hiệu lực và những khuôn mặt hàng đầu của phong trào dân chủ Hồng Kông đã bị khởi tố, Bắc Kinh muốn hoàn tất việc thâu tóm đặc khu bằng việc sửa đổi luật bầu cử địa phương để đè bẹp những dạng thức đối lập cuối cùng.
Nguyên tắc « Nhất quốc, lưỡng chế » bị vĩnh viễn chôn vùi

Một nhà ngoại giao châu Âu nói với Les Echos, khi quyết định chỉ để cho những người « yêu nước » – có nghĩa là trung thành với đảng Cộng Sản – được tham chính, « Tập Cận Bình đã chôn vùi vĩnh viễn nguyên tắc một đất nước, hai chế độ. Đó là hồi kết của nền dân chủ, dù không hoàn hảo, của Hồng Kông ».
Tương tự, trang web Le Monde nhận định « Trung Quốc ra lịnh mới cho Hồng Kông : phải yêu nước ». Ông Tập đã đích thân tuyên bố hồi tháng Giêng, nên hôm nay người Hồng Kông không ngạc nhiên khi nghe loan báo tại Quốc Hội là sẽ « cải thiện hệ thống ». Đó là nhằm loại hẳn đối lập ra khỏi đời sống chính trị, trong khi Hiến Pháp của đặc khu ghi rõ « Hồng Kông được lãnh đạo bởi người Hồng Kông » và không hề nói đến xu hướng đảng phái.
Hồi năm 2019, đối lập đã giành được chiến thắng tại 17/18 quận nhờ sự ủng hộ của 1,6 triệu cử tri Hồng Kông. Nay theo báo chí Hồng Kông, ủy ban bầu cử để bầu ra trưởng đặc khu, từ 1.200 người được mở rộng thành 1.500 để làm loãng đi vài tiếng nói dân chủ còn sót lại, và các cố vấn cấp quận mà 90% là đối lập sẽ không còn được bỏ phiếu bầu ủy ban này. Về tư pháp, hầu như toàn bộ các cựu dân biểu ủng hộ dân chủ đều đã bị tạm giam tối qua sau năm ngày câu lưu. Họ nằm trong số 47 người đã tham gia tổ chức cuộc bầu cử sơ bộ không chính thức, bị cáo buộc « âm mưu lật đổ ».
Tập Cận Bình muốn biến đảo Hải Nam thành Hawai châu Á
Về kinh tế, Le Monde có bài phóng sự nói về đảo Hải Nam « Một Hawai châu Á, giấc mơ của Tập Cận Bình ». Ông Tập muốn hòn đảo nằm giữa Hồng Kông và Việt Nam trở thành địa điểm du lịch và thương mại hàng đầu châu Á.
Trước đây là một trong những nơi mà các hoàng đế Trung Hoa đày ải thần dân, nay hòn đảo 9 triệu dân có vị trí chiến lược ở Biển Đông còn là một căn cứ quân sự quan trọng hàng đầu. Hải Nam không có những bãi biển xinh đẹp bằng Thái Lan và các khách sạn không thể địch nổi với Hồng Kông, nhưng 30 năm sau Thâm Quyến, hòn đảo này sẽ là một biểu tượng mới cho sự mở cửa của Trung Quốc. Kể từ năm 2025, toàn bộ Hải Nam sẽ được coi là khu vực Duty Free Shop – một công thức từ đầu thế kỷ đã được người Nhật áp dụng thành công tại đảo Okinawa và người Hàn tại đảo Jeju.
Hoa Vi, vũ khí chiến lược của Bắc Kinh để đàn áp Tân Cương

Trên lãnh vực nhân quyền, ở trang Ý kiến của Le Monde, chuyên gia Adrian Zenz khẳng định « Hoa Vi là vũ khí chiến lược của Nhà nước Trung Quốc để đàn áp người Duy Ngô Nhĩ ».
Chỉ vì ở trong toa-lét quá thời gian cho phép là 20 giây, Gulzira Auelhan đã bị chích điện vào đầu. Vâng, vào đầu, bởi vì theo các quản giáo, cú sốc này sẽ để lại dấu vết sâu hơn so với các bộ phận khác của cơ thể. Câu chuyện của Auelhan, một phụ nữ người Kazakhstan ở Tân Cương, không phải xảy ra vào thời Cách mạng văn hóa, mà năm 2018. Vùng đất này là phòng thí nghiệm quy mô chưa từng thấy trong chính sách đàn áp của Bắc Kinh, với sự trợ giúp của Hoa Vi (Huawei).
Tuy các lãnh đạo tập đoàn đã hai lần lên tiếng chối cãi, nhưng các bằng chứng vẫn rành rành. Hoa Vi cung cấp hệ thống giám sát cho toàn bộ Tân Cương từ năm 2014, và vào thời đó, tất cả các dữ liệu của mạng lưới camera dày đặc đã được lưu trữ trong các cloud nhờ công nghệ Hoa Vi. Một brochure của Hoa Vi tháng 11/2017 còn khoe ra việc hiện đại hóa hệ thống theo dõi ở thành phố Kashgar, nơi 90% cư dân là người Duy Ngô Nhĩ, giúp trung tâm chỉ huy của công an có thể xử lý nhờ trí tuệ nhân tạo.
Đến tháng 5/2018, nhiều trại tập trung được mở rộng trong đợt bắt bớ thứ hai, Hoa Vi ký « hợp đồng hợp tác chiến lược » với bộ Công An ở Tân Cương, và tháng 12/2018 đến lượt hợp đồng hợp tác với công an thủ phủ Urumqi về « chiến lược số hóa toàn bộ », đóng vai trò chính trong việc giám sát các mục tiêu cụ thể và tống giam người sắc tộc thiểu số.
Nhà nghiên cứu người Đức kết luận, Hoa Vi không chỉ là vũ khí chiến lược của Bắc Kinh để đàn áp Tân Cương, và có thể là con ngựa thành Troie đe dọa an toàn viễn thông trên thế giới. Nên chăng để mặc cho Trung Quốc múa gậy vườn hoang ? Adrian Zenz cho rằng vào lúc một số ngôi sao như cầu thủ Antoine Griezmann của Pháp đã chủ động hủy hợp đồng quảng cáo cho Hoa Vi, và ngày càng nhiều chính phủ tố cáo các tội ác chống nhân loại ở Tân Cương, cần khẩn cấp đặt lại vấn đề về quan hệ với tập đoàn Trung Quốc này.
Mỹ chủ trương hợp tác với các đồng minh để ngăn chận Trung Quốc
Về phía Washington, Les Echos nói về chiến thuật của Biden để đối phó với Trung Quốc toàn trị : củng cố sức mạnh kinh tế và dân chủ của Mỹ, với sự hỗ trợ của các đồng minh.
Trung Quốc rõ ràng là thách thức lớn nhất đối với Hoa Kỳ. Báo cáo công bố hôm thứ Tư 03/03 về các chọn lựa chiến lược và an ninh quốc gia, cũng như bài diễn văn đầu tiên của ngoại trưởng Antony Blinken đều nhấn mạnh Trung Quốc là « nước cạnh tranh duy nhất có thể phối hợp cả sức mạnh kinh tế, ngoại giao, quân sự lẫn công nghệ » trong một hệ thống quốc tế ổn định và rộng mở. Đó là « thử nghiệm địa chính trị quan trọng nhất » của thế kỷ.
Washington muốn hợp tác với các đồng minh, đồng thời tái đầu tư vào các tổ chức quốc tế mà Bắc Kinh đang lũng đoạn. NATO sẽ được hiện đại hóa để đối phó với cả Trung Quốc chứ không chỉ nhắm vào Nga.
Các đối tác được nêu tên cụ thể trong bản báo cáo an ninh quốc gia. Liên minh với Úc, Nhật Bản, Hàn Quốc được coi là « các nhân tố chiến lược », còn quan hệ với Ấn Độ, New Zealand, Singapore và Việt Nam, ASEAN sẽ được đào sâu. Mỹ cũng nhìn nhận « lợi ích sống còn » khi kết nối chặt chẽ với khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương, châu Âu và khối phương Tây. Cuối cùng, vấn đề dân chủ, nhân quyền quay lại trong các bài diễn văn : Đài Loan, Hồng Kông, người Duy Ngô Nhĩ và Tây Tạng sẽ được Mỹ cùng với các đồng minh bênh vực.
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở ĐIỂM BÁO PHÁP QUỐC NGÀY 05/03/2021: Trung Cộng Thách Thúc Lớn Nhất Của Hoa Kỳ





Bạn phải đăng nhập để bình luận.