Các Danh Mục

Phân Ưu Thân Mẫu K1 Ng. T Vân Hòa
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Phân Ưu Thân Mẫu K1 Ng. T Vân Hòa
Thư của Giám đốc Căn Nhà Nhỏ NCV
Thưa các bạn,
Giám đốc CNN Nguyễn Công Vinh đang có mặt tại VN vừa gởi về 1 lá thư có nội dung kèm theo 3 tấm hình như sau:
“Ông trời thương cho kẻ phương xa về thăm quê nên chiều chiều có một trận mưa rào để xua đi cái khg khí nóng bức ngày hè. Hai bạn già hẹn gặp nhau uống cà phê Đà Lạt Phố. Mấy tháng trước nghe tin mình bịnh làm cả nhà rất lo âu và khi nghe tin khỏi bịnh thì mấy em mua cho vé máy bay về VN thăm. Gặp Bửu mới biết BH cũng sắp về, rất tiếc khg có duyên gặp nhau. Thằng Bửu bị binh thần kinh toạ thấp nó đi đứng hơi khó khăn thật tội nghiệp. Nghĩ lại thấy mình thật may mắn đối với căn bịnh nầy. Vài tháng nữa BH về mua cho hắn lọ Flex ở Costco đang on sale có $18 . Hai tuần nữa mình về Trung thăm bà cô 98 tuổi bịnh nằm một chỗ sợ khi bà 100 tuổi khg về được.
Thăm các bạn nhé (NCV)“
Toán Nhữ (XLTV dám đốc CNN) tường trình
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Thư của Giám đốc Căn Nhà Nhỏ NCV
Những bức tường biên giới_sưu tầm
Những bức tường biên giới
Gần đây chúng ta vẫn nghe những bàn tán, bình luận về đoàn người di dân từ Nam Mỹ muốn vượt biên giới để tràn vào Hoa Kỳ khiến chính phủ muốn xây tường biên giới để ngăn chặn.
Tường biên giới không phải là điều mới lạ, mà đã có từ thời thượng cổ, với Vạn Lý Trường Thành của Trung Hoa được xây từ năm 771 trước Lịch La Mã và của người La Mã xây dọc chiều ngang của Anh Quốc từ thế kỷ thứ nhất.
Mời quý vị xem một số bức tường biên giới nổi tiếng trên thế giới để thấy rằng những bức tường biên giới không chỉ được dựng lên để phân chia lãnh thổ, bảo vệ quốc gia, mà còn được dùng để phân chia cộng đồng tôn giáo.
Với số lượng người nhập cư ngày càng tăng, hoạt động khủng bố, buôn bán ma túy, và các cuộc chiến kéo dài đã châm ngòi cho việc xây dựng các hàng rào biên giới tạm thời và vĩnh viễn ở nhiều khu vực trên toàn thế giới.
Trong số 51 ranh giới kiên cố được xây dựng giữa các quốc gia kể từ khi kết thúc Đệ Nhị Thế Chiến, khoảng một nửa được xây dựng từ năm 2000 đến 2014.
Dưới đây là một số ít rào cản nổi tiếng được biết đến trên thế giới.
Vạn Lý Trường Thành – Tàu
Hình chụp một phần của Vạn Lý Trường Thành gần Bắc Kinh. Vạn Lý Trường Thành là tập hợp của các hàng rào kiên cố được xây dựng qua hàng trăm năm để bảo vệ các đế chế khác nhau của Tàu ngăn ngừa sự tấn công của các bộ lạc du mục ở phía bắc.Tường Ngăn Morocco và Tây Sahara
Bức không ảnh chụp ngày 4 tháng 1 năm 2002 cho thấy một phần của một bức tường kiên cố chạy dài 1,700 dặm (2,735.885 km) qua biên giới của Morocco và Tây Sahara.
Bức tường và một bãi mìn rộng được xây dựng trong suốt thập niên 1980 để tách các khu vực phía tây do Morocco kiểm soát khỏi các khu vực ở phía đông do Mặt Trận Polisario kiểm soát. Polisario là một nhóm phiến quân đang cố gắng đẩy Morocco ra khỏi phía tây Sahara.
Rào Cản Giữa Bulgaria và Turkey
Tường Phân Chia Khu Vực ở Đông Jerusalem (Do Thái)
Hình chụp ngày 18 tháng 10 năm 2016 cho thấy bức tường ngăn cách giữa Jerusalem (Do Thái) và khu vực của người Ả Rập Palestinian thuộc thành phố Issawiya.
Tường Biên Giới Ấn Độ và Pakistan
Hình chụp từ Trạm Không Gian Quốc Tế (International Space Station) ngày 21 tháng 8 năm 2011 cho thấy bức tường biên giới giữa Ấn Độ và Pakistan được rọi sáng để dễ kiểm soát, nên có màu cam của ánh đèn.Tường Biên Giới Giữa Hoa Kỳ và Mễ (Mexico)
Hình chụp ngày 14 tháng 3 năm 2009 một phần tường biên giới từ thành phố Yuma, Arizona tới Calexico, California. Đoạn tường này cao 15 feet (4.572 m) được đặt trên những đồi cát, có thể di chuyển được trong trường hợp lâu ngày bị cát phủ lấp.
Hàng Rào Biên Giới Morocco và Melilla
Hình chụp ngày 13 tháng 8 năm 2014 cho thấy cảnh sát Spain (Tây Ban Nha) đang canh chừng những di dân Bắc Phi đang ngồi trên hàng rào có ý định vượt qua Tây Ban Nha.
Bức Tường Hadrian ở Anh Quốc
Hình chụp ngày 6 tháng 8 năm 2018 cho thấy di tích của bức tường Hadrian được người La Mã xây vào thế kỷ thứ Nhất dài suốt chiều ngang của nước Anh từ Irish Sea (Biển Ái Nhĩ Lan) đến North Sea (Biển Bắc) để chống lại sự tấn công của dân miền bắc.
Ngăn Chia Giữa Hy Lạp (Greek) và Thổ Nhĩ Kỳ (Turkey)
Hình chụp ngày 7 tháng 3 năm 2017 cho thấy chướng ngại vật được dùng để ngăn chia biên giới giữa thành phố Nicosia, Cyprus thành hai phần phía nam thuộc Hy Lạp và phía bắc thuộc Thổ Nhĩ Kỳ sau một trận chiến nhắn ngủi nhưng tàn khốc năm 1974.
Tường Biên Giới Hoa Kỳ, Mễ (Mexico)
Hình chụp ngày 31 tháng 10 năm 2012 cho thấy một chiếc xe của kẻ đưa người lậu tìm cách vượt qua rào cản ở gần Yuma, tiểu bang Arizona nhưng không thành công.
Rào Cản Giữa Tàu cộng và Bắc Hàn
Hàng rào ngăn cản người Bắc Hàn trốn qua Tàu cộng ở thành phố Dandong, đông bắc Tàu. Hình chụp ngày 14 tháng 10 năm 2006.
Tường Biên Giới Giữa Palestine và Do Thái
Hình chụp ngày 25 tháng 7 năm 2018 cho thấy một họa sĩ người Ý đang vẽ hình một thiếu nữ tên Ahed Tamimi người Palestinian đang bị giam cầm lên phần tường biên giới thuộc Bethlehem ở West Bank.
Hàng Rào Biên Giới Ấn Độ, Pakistan
Hình chụp ngày 2 tháng 8 năm 2012 cho thấy một đồn canh của Ấn Độ ở biên giới Ấn Độ – Pakistan gần Jammu, Ấn Độ. Hai quốc gia này đã có tranh chấp lãnh thổ từ năm 1947 và được xem là khu vực được quân sự hóa mạnh nhất trên thế giới.
Tường Biên Giới Giữa Hungarian và Serbian
Một người Serbian đang cố chạy để tránh xe cảnh sát sau khi vượt qua một hàng rào tạm thời ngăn cách hai quốc gia ngày 7 tháng 9 năm 2015.
Bức Tường Bá Linh (Berlin Wall)
Hình chụp ngày 9 tháng 11 năm 1989, sau khi có lời tuyên bố về việc cánh cửa biên giới giữa Đông và Tây Đức sẽ được mở rộng và chính phủ Tây Đức sẵn sàng nhận bất cứ người dân Đông Đức nào muốn tìm tự do ở Tây Đức. Người dân Đông Đức nóng lòng tìm tự do nên chỉ một vài giờ đã đập vỡ một phần của bức tường bằng dụng cụ riêng của họ, và bức tường bị phá xập chỉ vài ngày sau đó.Hàng Rào Biên Giới Hoa Kỳ, Mễ
Cư dân của Naco, Arizona, tham gia cùng cư dân của Naco, Sonora, Mexico, trong một trận đấu bóng chuyền giao hữu trong ngày “Fiesta Binacional – Lễ Hội Của Hai Quốc Gia” tại hàng rào ngăn cách Hoa Kỳ (trái) và Mexico (phải) vào ngày 14 tháng 4 năm 2007.
Bức Tường Phân Chia Cộng Đồng Tôn Giáo
Có lẽ đây là bức tường duy nhất được dựng lên vì lý do tôn giáo. Được gọi là “Bức tường hòa bình – Peace Wall” được dựng lên từ năm 1969 để phân chia cộng đồng Thiên Chúa Giáo (Catholic) và Tin Lành (Protestant) ở Belfast, bắc Ireland (Ái Nhĩ Lan). Bức tường được xem là cần thiết để tránh việc đụng độ vũ lực giữa hai cộng động tôn giáo, cho dù đã cùng ký kết Thỏa Thuận Thứ Sáu An Lành (Good Friday Agreement) từ năm 1998.
Hàng Rào Biên Giới Ukraine, Nga
Hình chụp ngày 18 tháng 4 năm 2015 tại biên giới Ukraine-Nga gần Hopunchka, khu vực Kharkov, miền đông Ukraine. Hàng rào mỏng manh bằng kẽm gai nhưng lại là tuyến phòng thủ đầu tiên để chống lại cuộc xâm lăng đáng sợ của Nga.
Hàng Rào Biên Giới Zimbabwe – South Africa (Nam Phi)
Một người dân Zimbabwean đang cố leo qua hàng rào để vượt qua Nam Phi. Hình chụp ngày 27 tháng 5 năm 2008.
Hàng Rào Biên Giới Nam – Bắc Hàn

Một du khách quay phim qua hàng rào được trang trí bằng những dải ruy băng mang thông điệp của du khách để lại mong muốn thống nhất hai miền Triều Tiên tại Imjingak gần biên giới Triều Tiên ở Paju, Hàn Quốc, vào ngày 15 tháng 4 năm 2016.
( Lâm Viên )
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Những bức tường biên giới_sưu tầm
Tạ Ơn Đời_Thơ (sưu tầm)
TẠ ƠN ĐỜI
Tạ ơn đời hôm nay Tôi còn sống
Mắt còn nhìn, còn đọc được Emails
Đời còn vui, đâu đến nỗi cô liêu.
Thêm kiến thức, thêm từ tâm hỷ xả !
Tạ ơn các bạn gần xa
Hằng ngày chia sẻ cùng ta đủ điều.
Emails nhận được bao nhiêu
Là bao tình cảm thương yêu nồng nàn.
Thăm hỏi Bạn, biết rằng người còn đó
Nỗi mừng vui tràn ngập cõi lòng tôi
Cuộc đời này bao sóng gió, nổi trôi
Vui được biết, Bạn bình an vui sống
Đời trần thế ví như là huyễn mộng
Kiếp nhân sinh là sinh tử, tử sinh
Quý nhau chăng chỉ ở một chữ Tình
Tình cha mẹ, tình vợ chồng, bè bạn
Tình cảm ấy ta không treo giá bán
Khi con tim không đơn vị đo lường
Bàn cân nào, cân được chữ Yêu Thương
Thế mới biết Thương Yêu là vô giá!
Cuộc đời dẫu đảo điên, nhiều dối trá
Nếu chúng ta thực sự mến thương nhau
Thì tiếc chi một lời nói, câu chào
Hãy trao gửi, sưởi ấm tình nhân thế
Có hơn không dù biết rằng chậm trễ
Vì con người ai cũng thích yêu thương
Được thương người và cũng được người thương
Hãy bày tỏ yêu thương dù có chậm
Bạn còn đó ! Tôi còn đây ! Mừng lắm !
Vì chúng ta còn cơ hội gặp nhau
Để trao nhau lời nói với câu chào
Đầy thân ái, đầy yêu thương, quý mến
Chuyện dĩ vãng, chuyện tương lai sắp đến
Hãy quên đi, xin nhớ hiện tại thôi
Nếu tâm bình trí lạc! Thế đủ rồi!
Người còn đó ! Tôi còn đây ! Phúc lắm
(Bài ST trên net, không rõ tác giả)
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Tạ Ơn Đời_Thơ (sưu tầm)
Lịch Ngủ để phục hồi nội tạng cơ thể_St

(copy từ Fb của bạn Nhi Nguyen)
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Lịch Ngủ để phục hồi nội tạng cơ thể_St
Dự Luật Trừng Phạt Biển Đông_GS Nguyễn Văn Canh (thuyết trình)
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Dự Luật Trừng Phạt Biển Đông_GS Nguyễn Văn Canh (thuyết trình)
TRUMP . . . NGU TOÀN DIỆN _ CÓC TÍA
CÓC TÍA : Trump-…NGU TOÀN DIỆN
(Ghi chú của CNN: Để tránh ngộ nhận, tác giả bài này là Cóc Tía do CNN lượm lặt được trên net, nhưng Cóc Tía này không phải là Cóc Tía của Nhóm Đường Cóc K1)
Thấy mọi người cứ tâng bốc lão Trump quá chừng, còn lãnh đạo thiên tài của nhà mình thì dè bỉu, chê bai đủ thứ, tui thấy bực mình. Bực thì tui phải phân tích cho mọi người thấy chớ nhịn quài ko chịu được.
Trước hết, lão Trump ko phải dạng con ông, cháu cha, chắt nội, chít ngoại của thằng tổ tiên là quan triều đình chó nào cả. Nên ko thể liệt vào loại tinh hoa quý xờ tộc, là hồng phúc của dân tộc khi được làm TT.
Thứ hai, lão cũng éo phải gs, ts, thạc sĩ…con mịe gì hết. Cũng chưa qua lớp ný nuận chính trị trung cấp hay cao cấp nào. Triết học Mác Lê chưa chắc đọc quá 5 trang.
Thứ ba, lão chưa từng được đảng đưa vào diện quy hoạch cán bộ nguồn hay cán cuốc cấp chiến lược một lần nào cả nhé.
Thứ tư, lão cũng chưa hề cống hiến cc. gì cho đất nước như đi nghĩa vụ quân sự hay một lần được làm cán bộ cấp xã hoặc cấp quận, huyện. Thậm chí đến chuyện làm tà lọt cho CA phường chuyên đi bắt, tịch thu hàng của mấy người mua gánh bán bưng, lấn chiếm vỉa hè, hoặc đi cưỡng chế nhà dân…như đám dân phòng, DQTV…lão cũng chưa từng tham gia một lần nào. Cho nên chuyện được luân chuyển cán bộ để trau dồi kỹ năng, học hỏi kinh nghiệm lãnh đạo…thì thành tích của lão là con số 0 to tướng.
Thứ năm, tui dám chắc rằng Bằng A, B, C…ngoại ngữ lão cũng không có. Bằng cấp PTTH hoặc ĐH giả lão cũng không dùng. Đoàn, Đảng gì cũng không chịu tham gia.
Thứ 6, Ăn hông dám ăn, uống hông dám uống. Rượu nhấp một giọt sợ say. Thuốc lá rít một hơi sợ sặc. Ma tuý hít một phát sợ nghiện. Không đàn đúm, phe cánh, móc ngoặc với ai…vậy thì rõ ràng lão ko có một chút bản lĩnh của thằng đàn ông. Vậy mà hông hiểu cách gì lão ta lại leo tọt lên được tới chức Tổng Thống Hợp chủng Quốc Huê Kỳ phát một mới ghê chứ? Không chừng lão lại dùng tiền lo lót, hối lộ cũng nên?!
Khi làm được TT Mỹ rồi thì nói năng, phát biểu hùng hồn trước công chúng Thậm chí không soạn nổi một bài diễn văn cho ra hồn rồi cầm ê a đọc giống như ngừ ta.
Đã vậy, khi lên nắm quyền chưa hết nhiệm kỳ đã gây gổ tá lả, làm mấy thằng trùm khủng bố trên TG như Syria, Iran …mặt xanh như đít nhái. Còn mấy thằng độc tài cs phải lao đao lận đận sắp đi ăn mày cả đám như TQ, Bắc Hàn, Cuba, Vê nê….Gieo rắc kẻ thù khắp nơi sướng ích gì hông? Vợ đẹp, con ngoan hông chịu ở nhà mà hưởng. Tuổi cao sức yếu hông chịu nghĩ ngơi giữ sức phẻ…lại đâm đầu vô đi làm chính chị, chính em…để mấy thằng đảng dân chủ với cs chửi rủa suốt ngày. Hỏi như vậy thì có ngon lành gì đâu?
Còn nữa, cái dzụ này mới ngu nhất nè. Làm Tổng thống một đại cường quốc mà ngay cả mấy đồng tiền lương cũng hông dám nhận. Vậy thì có cửa nào dám tham nhũng, tơ hào một đồng nào của dân Mỹ.
Con cái thì không dám đưa sang VN du học. Tiền thì ko dám gửi nhà băng uy tín ở Venezuela. Không dám qua Bắc Hàn mua cái nhà để nghỉ mát…Thế thì làm TT để làm cái gì?
Kết luận: Nói chung, lão Trump là ngu toàn diện ngoại trừ việc lão chỉ giỏi cái chiện làm ăn đàng quàng nên thành tỷ phú đô la khi chưa làm TT.
Mà cái này cũng chưa chắc đâu nha? Biết đâu lão giàu cũng nhờ chạy xe ôm, nuôi lợn, buôn chổi đít, lá đót…hoặc làm đến thối cả mồm cả mũi thì sao nhễ. Vụ này lẽ ra phải thanh tra nè!
Còn khi lão thành TT rồi thì chỉ được mỗi một việc là làm cho nước Mỹ hùng mạnh thiêm. Dân Mỹ bớt thất nghiệp và KT Mỹ có phát triển hơn xưa thôi. Còn ngoài ra hông làm nên cái tích sự gì! Lời thật mất lòng. Tui thấy lão Trump là khùng nặng hết thuốc chữa rầu. Dzẩy á! Đứa nào còn đu càng, đem lão khùng này ra so sánh với lãnh đạo thiên tài của tui, tui lock luôn!
Cóc Tía
Copy từ fb Cóc Tía .
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở TRUMP . . . NGU TOÀN DIỆN _ CÓC TÍA
Để Trả Lời Một Câu Hỏi_ST (Vô Danh)
ĐỂ TRẢ LỜI MỘT CÂU HỎI
Có lần mình đã gặp một anh người Bắc, nói năng nho nhả cũng thuộc dạng trí thức, anh đã hỏi mình một câu như vầy: “Em người miền Nam sống ở Saigon từ nhỏ, anh hỏi thật em trả lời đúng sự thật với suy nghĩ của người Saigon nhé. Tại sao cũng là người Bắc, nhưng Bắc 54 di cư vô miền Nam, tới giải phóng là 21 năm. Anh vô miền Nam năm 75 đến giờ là 43 năm gấp đôi dân 54. Thế nhưng tại sao người SàiGòn. Lại coi Bắc 54 là một phần của họ gặp nhau tay bắt mặt mừng như ruột thịt, anh để ý riêng bản thân anh thôi nha. Có thân lắm có vui lắm dân SàiGòn vẫn luôn mang một khoảng cách khi tiếp xúc với anh, nếu họ biết anh đến với Sài Gòn năm 75”. Trời một câu hỏi khó cho thí sinh à nha. Em trả lời thật anh đừng giận em nói. Tách riêng 2 phần chính trị và văn hoá nghệ thuật ra đi ha. Phần chính trị, thật ra khi giải phóng vô em mới có gần 15 tuổi thôi về quan điểm thắng, thua em chưa đủ trình độ nhận xét. Nhưng nếu nói về cuộc sống của thời trước, và thời sau 75 khác nhau nhiều lắm sướng khổ rõ rệt. Má em chỉ là công chức nhỏ của tổng nha kiều lộ, bây giờ mấy anh gọi là cầu đường đó, nhưng hồi nhỏ em rất sướng đi học toàn trường dòng, em không biết ngoài Bắc, anh có không chứ thời đó mà học nội trú là mắc lắm đó, nhà em không giàu, cậu đi lính “ngụy” -lính Quốc Gia-, dì và ông ngoại đều dân Kiều lộ, nhưng sống rất thanh thản, mặc dầu lúc đó chiến tranh tràn lan, khắp nơi. Thời đó người Bắc di cư vô Nam, thường sống từng vùng do chánh phủ chỉ định, rồi từ từ lan ra, người miền Nam học được người Hà Nội nhiều điều : Cần kiệm, lễ giáo, nếp sống thanh lịch quý phái và trí thức. Người miền Bắc vô Nam học được của người Sài Gòn nói riêng và người miền Nam nói chung : Sự giản dị, chân thật, tốt bụng, phóng khoáng. Không câu nệ bắt bẻ, hay khó khăn. Và cả hai miền học được của miền Trung cái chịu thương chịu khó. Cái đùm bọc tình đồng hương. Cả ba miền hoà nhập với nhau, ảnh hưởng nhau lúc nào không hay… Hồi đó em đi học gặp mấy đứa bạn Bắc Kỳ rốn vẫn hay chọc tụi nó là Bắc Kỳ con bỏ vô lon kêu chít chít mà tụi nó cũng không giận, chọc lại em mày Nam Kỳ ga guộng bắt con cá gô bỏ dô gổ kêu gột gột, rồi lại khoác tay nhau chơi bình thường, trẻ con thì như vậy người lớn gặp nhau ba miền chung bàn nhậu là dô đi anh hai mình, là tay bắt mặt mừng. Em nói dài dòng để cho anh hiểu rõ hơn vì sao Bắc 54 trở thành người miền Nam. Chưa kể đến cái tình nha anh. Tình đồng đội khi chiến đấu chung. Ngoài anh chắc gọi đồng chí, trong đây em nói quen tiếng dân Sai Gòn xưa, lúc chiến tranh mà đi lính thì cũng phải đi chung cả ba miền gặp nhau giữa lúc thập tử nhất sinh thân nhau là chuyện bình thường, đó là lính, còn người dân giữa cái tang tác đau thương chạy loạn lạc chết chóc hầu như từ mũi Cà Mau đến sông Bến Hải nơi nào không có. Từ đó người ta thương yêu nhau và không ai nghĩ miền nào là miền nào. Người ta gọi đó là tình đồng bào, tình quân dân cá nước nói theo kiểu miền Nam của em. Đó là nói hơi thiên về chính chị chính em đó nha. Bây giờ bàn hơi sâu văn hoá nghệ thuật thời đó nha. Em nói với anh ngay từ đầu rồi nhé. Lúc đó em chỉ mới 15 tuổi làm sau đủ tư cách phê bình văn học. Em chỉ kể cho anh nghe theo cái hiểu biết nhỏ bé của em thôi. Người miền Bắc 54 vô miền Nam đem theo được gì nhỉ ? Người thì chắc cũng không có của cải gì nhiều rồi, đi giống như đi vượt biên mà có gì ! Sao anh cười ? Em nói thiệt mà, nhưng có một di sản khổng lồ. Mà người miền Bắc 54 đã đem cho miền Nam, đó là văn hoá, nghệ thuật. Nếu xét kỹ nhà văn thời đó của người Nam bộ vẫn ít hơn người Trung và Bắc. Những tác phẩm giá trị, từ dịch thuật đến thơ văn hầu như tác giả người Hà Nội, người Huế, Đà Nẵng, Saigon, v.v. toàn những tác phẩm để đời… Em xin lỗi giải phóng 42 năm rồi, nhưng nếu ai có hỏi em đã đọc được cuốn sách nào để lại ấn tượng trong em chưa… Xin chào thua giận em, em chịu, vì có đọc đâu mà nhớ. Chả có gì cho em ấn tượng, chắc một phần do em dốt anh ạ nên không hiểu nổi văn học thời này thôi. Nói đến nghệ thuật. Cái này thì em thích ca thích hát nên hơi rành một chút. Chắc anh không ít thì nhiều cũng phải có nghe Khánh Ly, hay Sĩ Phú, Duy Trác, Tuấn Ngọc… những người con Hà Nội, hát trước 75. Nói về văn học có thể anh không biết chứ hát hò anh phải biết sơ thôi. Vâng, Hà Nội 36 phố phường để lại cho người miền Nam nhiều ca khúc để đời của Phạm Duy, chắc anh không biết bài Việt Nam, Việt Nam, bài Tình ca, Con đường cái quan của bác ấy ? Em nói nhiều về Phạm Duy vì đúng là dân Hà Nội 45 đó anh. Oh, anh biết nhiều về Phạm Duy, như vậy chắc anh cũng biết rõ những nghệ sĩ nổi tiếng trước 75, đến bây giờ vẫn ăn khách, những người ca sĩ mà anh biết không, cái thời ngăn sông cấm chợ, muốn được nghe phải thức canh đài BBC hay đài VOA vừa nghe vừa khóc vì quá xúc động. Đó là lý do tại sao ca sĩ hải ngoại khi về nước người ta đi đón rân trời, một cái vé có khi nửa tháng lương người ta vẫn cắn răng để nghe cho bằng được thần tượng của mình hát. Đó là ca sĩ Hà Nội còn trong Nam hay ngoài Huế cũng rất nhiều ca sĩ nổi tiếng kiểu Chế Linh, Nhật Trường, Duy Khánh v.v. Em xin lỗi anh nhé. Có thể ca sĩ ngày xưa người ta hát không cần phải là học trường lớp thanh nhạc như cái cô Thanh Lam gì ngoài Bắc của anh bây giờ đâu, nhưng vẫn đi vào lòng người nghe mãi không quên, còn cô ấy học cao quá diva đi viếc gì đó, nói thiệt anh đừng cười em lạc hậu với thời cuộc quá anh ạ. Nhờ cái chuyện cổ chửi ca sĩ miền Nam thất học dư luận ồn ào quá em mới để ý chứ thiệt tình bình thường em mà biết cô này… em chết liền đó anh, chưa từng nghe giọng hát này bao giờ. Thì đó nhờ những tác phẩm giá trị của văn học nghệ thuật, những nhạc sĩ, ca sĩ, kịch sĩ đều có sự đóng góp của Huế, Saigon, Hà Nội… đã đưa ba miền Nam Trung Bắc, gần nhau hơn hoà quyện lại với nhau thành một. Cám ơn anh chịu khó nghe em phân tích một cách dài dòng xoay quanh câu hỏi của anh. Vì đây là lần đầu tiên em được nghe một câu hỏi rất thật của một người Bắc vào trong Nam… năm 1975. Thế cho nên em cũng trả lời rất thật lý do vì sao Bắc 54 lại là dân miền Nam dầu chỉ mới sống với nhau có 21 năm. Và dân Bắc 75 dầu sống trong Nam đến 42 năm vẫn mãi mãi là… người Bắc chứ không thể nào là người Hà Nội của dân miền Nam xưa. Với một ít kiến thức nhỏ nhoi, một ít kinh nghiệm sống từng trải qua những thăng trầm của đất nước. Em xin các cô bác, anh chị đã, đang và sắp đọc những giòng tự sự này một lời xin lỗi nếu như em có viết sai một ít chi tiết nào đó các bậc cao nhân, tiền bối làm ơn bỏ qua cho kẻ hậu bối này. Câu trả lời mơ hồ của em chắc chưa đủ sức thuyết phục cho anh bạn miền Bắc của chúng ta hiểu rõ hơn, nhưng sức người có hạn, em nói với tầm hiểu biết của em hạn hẹp bao nhiêu đấy thôi. Xin chỉ giáo thêm ạ.
Vô Danh (bài sưu tầm trên net)
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Để Trả Lời Một Câu Hỏi_ST (Vô Danh)
ĐNH Cám Ơn Anh Kỳ 12_YouTube
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở ĐNH Cám Ơn Anh Kỳ 12_YouTube
Người Việt Gốc Mỹ_Nguyễn Thế Thăng
Tác giả Nguyễn Thế Thăng tốt nghiệp khóa K2DH/DH/CTCT, định cư tại Mỹ 1992, diện HO 13, hiện là cư dân tiểu bang Oregon ..
Công việc: Sỹ quan điều hành tổ thông dịch viên của Lực Lựơng Phòng Vệ thuộc Vệ Binh Quốc Gia, Oregon , cấp bậc Thiếu Tá.
( Oregon Army National Guard/State Defense Force/Interpreters Team/X.O) (ORANG/SDF/Interp. Team/XO).
Bài viết về nước Mỹ đầu tiên của ông là chuyện về một người bạn cựu chiến binh Mỹ tự xưng là “người Việt gốc Mỹ”.
***
NGƯỜI VIỆT GỐC MỸ
Tôi biết Mike khoảng hai năm sau ngày đặt chân lên đất Hoa Kỳ. Dù hành trang sẵn có chút ít tiếng Anh từ trước 1975, tôi vẫn phải vất vả hội nhập vào xã hội mới bằng những bước chân chập chững, e dè trong độ tuổi “bất hoặc”.
Thật may mắn, tôi tình cờ được gặp và quen biết Mike. Anh đã cho tôi một cái nhìn khá bao quát nước Mỹ từ phong tục tập quán đến văn hóa xã hội lẫn chính trị. Mike đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ cả vật chất tinh thần để tôi có được một nghị lực, niềm tự tin, sự phấn khởi tràn trề khi bắt đầu nửa cuộc đời còn lại nơi tha phương, đất khách.
Trong buổi họp mặt cựu Chiến Binh nhân dịp Memorial Day của State Guards Association of U.S (SGAUS), bàn của tụi tôi rất ồn ào với đủ mọi vấn đề trên trời dưới đất, vui nhất là những chuyện tiếu lâm xoay quanh đời sống thường nhật của người Mỹ, đặc biệt lớp tuổi về hưu phải đương đầu với nhà dưỡng lão, bệnh tật, nhất là bệnh lãng trí Alzheimer… .
Hôm ấy, tôi kể chuyện một đôi vợ chồng già, Bác Sĩ nói với người vợ: tôi thấy sức khỏe ông nhà ngày càng khá hơn khi ông tìm được niềm vui nơi Thượng Đế, tin tưởng nhiều hơn vào Chúa Quan Phòng, đến nỗi, ông nghĩ Chúa đang theo giúp đỡ ông trong mọi việc, trong từng bước chân đi. Ông nói với tôi, đêm qua, khi ông vừa mở cửa nhà vệ sinh để đi tiểu thì Chúa bật đèn lên cho ông liền….
Bà vợ la lên, ngắt lời Bác Sĩ:
– Ôi lạy Chúa tôi, ổng lại đái vào tủ lạnh của tôi rồi!!!
Cả bọn cười bò lê bò càng. Cười lớn nhất là một chàng cao lớn, tóc vàng tên là Mike.
Anh vỗ vai tôi:
– Ê, bạn người gốc nước nào?
– Việt Nam.
Mike bật đứng dậy, bàn tay như hộ pháp chụp lên đầu tôi, nói thật lớn, nguyên văn bằng tiếng Việt đặc sệt giọng miền nam:
– Đ.M. nãy giờ sao hổng nói?
– Ủa, anh biết tiếng Việt hả?
Mike vênh mặt lên, tay phải vỗ bồm bộp vào cái ngực đang ưỡn, vẫn dùng tiếng Việt:
– Hai lần công tác Việt Nam, đem về Mỹ một cô giáo dạy tiếng Việt tại gia từ 1972, học và nói tiếng Việt từ hồi đó đến giờ, bộ ngu lắm sao mà không biết, biết rành quá đi chứ!!
Không ngờ trong bàn lại có một số cựu chiến binh Việt Nam khác, đua nhau xổ ra những câu tiếng Việt họ còn nhớ lõm bõm:
– Chòi đắt ui (trời đất ơi)
– chào cắc Ong, mành giỏi? (chào các Ông, mạnh giỏi)
– Con gái Viết Nàmdde.p lám (con gái VN đẹp lắm)
– Ngùi Viết Nàmtót lám, đi đi mao, đin – kí đàu (người VN tốt lắm, đi đi mau, điên cái đầu !)….
Riêng Mike nói tiếng Việt rất lưu loát, không hề sai một âm nào (giống như ca sĩ Delena hát tiếng Việt vậy), kể cả cách dùng chữ rất trí thức, đôi khi dí dỏm, có lúc thật tiếu lâm.
Tôi đã gặp một nhân viên Bộ Ngoại Giao rành tiếng Việt đến nỗi khi tôi đùa hỏi “Anh người gì mà nói tiếng Việt ngon lành vậy” Anh trả lời tỉnh bơ “Tôi người Bắc !”.
Tôi cũng đã gặp một số người Mỹ chính gốc, thuộc giáo phái Mormon, họ thảo luận Kinh Thánh, đi truyền đạo Tin Lành bằng tiếng Việt thật trôi chảy, nhưng đó là nghề của họ.
Còn Mike, anh nói tiếng Việt bằng cả tấm lòng: tên Mỹ của tôi là Micheal, tên Việt của tôi là Mai, theo giọng Việt Nam có nghĩa là hên, là may mắn, còn giọng Việt Bắc (?) hay Việt Trung (?) có nghĩa là hoa mai, một loài hoa rực rỡ mùa xuân !
Vợ tôi vẫn thích kêu tôi là Mai Cồ, hay Anh Cồ, hoặc Cồ ơi chỉ vì tôi bự con! Con rể của nước Đại Cồ Việt mà! Một ông thày bói VN nói số tôi phải cưới vợ họ Trần vì cả đời tôi không thích mặc áo..vv và vv … tôi há hốc miệng ngồi nghe một chàng mắt xanh, mũi lõ, tóc vàng 100% Anglo-Saxon đang chơi chữ bằng chính ngôn ngữ của tôi !!!
Một đêm hội ngộ tuyệt vời, vui như chưa từng thấy từ ngày sống kiếp lưu vong.
Một tuần sau, Mike điện thoại mời tôi đến nhà.
Từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác: gia đình Mike gồm vợ chồng và 2 con hoàn toàn sinh hoạt theo truyền thống Việt Nam và tự nhận là người VN. Mike nói: đúng ra tôi là người Việt gốc Mỹ! Người bản xứ khi nghe tôi giới thiệu là người VN, nói tiếng VN thì họ vui lắm, vài người lúc đầu cứ tưởng nước VN ở đâu đó bên Đông Âu nên mới tóc vàng, mắt xanh!
Người gốc VN lại tưởng tôi là Mỹ lai, càng vui hơn, gần gũi hơn vì có 50% máu Việt Nam trong người mà, ai cũng vui. Mike dùng chữ “vui cả làng”!
Cả gia đình dùng tiếng Việt làm ngôn ngữ chính.
Sống trên đất Mỹ, Mike tâm sự, nói tiếng Anh là việc đương nhiên, thế mà nhiều gia đình VN từ vợ chồng con cái đều ra vẻ hãnh diện với mớ tiếng Mỹ đôi khi trật giọng, sai văn phạm….hoặc nói đệm, câu nào cũng chêm thêm chữ Mỹ vào, trong khi cố tình lơ lớ tiếng mẹ đẻ của mình, dễ mất gốc quá, tủi hổ ông bà tổ tiên quá, uổng phí quá.
Lại có cả vài người viết văn, nhiều chữ thông thường không biết, hay giả vờ không biết, lại phải dùng tiếng Anh mới thấy dổm làm sao.
Tôi rất khâm phục những gia đình còn giữ vững truyền thống tốt đẹp VN. Tôi thấy những em bé VN thật dễ thương với tiếng Việt líu lo như chim hót nhưng tôi nhìn các em với cặp mắt bình thường nếu các em nói tiếng Anh, thật bình thường vì đây là nước Mỹ, sau này khi lớn lên phải học thêm một ngoại ngữ ngoài tiếng Anh, họ sẽ hối hận. Tiếc quá, Mike chặt lưỡi, lập đi lập lại, tiếc quá !!
Anh có biết “bà lang kẹt” là ai không? Thế mà một ông VN đã tuyên bố tự nhiên như người Sàigòn, vào mỗi mùa Đông, trên giường của ông phải có ít nhất hai bà lang kẹt ngủ mới đã, mới đủ ấm !?!?
Mai Liên, vợ anh, một sinh viên Đại Học Cần Thơ sinh quán Sóc Trăng.
Hai người quen nhau khi Mai Liên đi học thêm Anh ngữ trong một lớp do chính Mike phụ trách phần đàm thoại và luyện giọng. Thế rồi hai người yêu nhau nhưng không thể tiến đến hôn nhân vì gia đình hai bên đều không tán thành.
Mike phải xin trở lại Việt Nam lần thứ hai, kiên trì thuyết phục cha mẹ Mai Liên bằng chính tiếng Việt anh đã học được từ người tình. Cuối cùng không những cha mẹ, anh chị em của Mai Liên mà cả bà con xóm giềng cũng hài lòng với “thằng Cồ” vui tánh dễ thương lúc nào, nơi nào cũng pha trò được.
Riêng gia đình Mike lúc đầu vẫn chưa mấy thiện cảm với người dâu dị tộc. Hai vợ chồng son cố gắng sống hòa hợp với mọi người, không tỏ ra khó chịu mà còn thấy vui vui với cái tên Liên vài người cố tình đọc trại thành Alien (=người lạ).
Chẳng bao lâu sau tình thế hoàn toàn đảo ngược. Khi cha mẹ Mike dọn vô nhà dưỡng lão chỉ có vợ chồng Mike thăm viếng thường xuyên.
Ông bà rất cảm động, thỉnh thoảng lại công khai ngỏ lời xin lỗi Mai Liên và giới thiệu với mọi người Liên là đứa con gái yêu quý nhất.
Bốn gia đình anh chị của Mike tan vỡ hết ba, sự kiện phổ thông với trên 60% gia đình Mỹ bị rắc rối trong hôn nhân. Cứ một lần li dị lại một lần chia gia tài, riết giống như chuyện thường tình. Tuy nhiên, có điều lạ là sau khi chia tay, họ vẫn liên lạc qua lại với nhau, coi nhau như bạn, không ai ghen tuông gì hết.
“Tạ ơn trời đất (Mike không dùng chữ Chúa) tôi có được một bà vợ tuyệt vời. Liên lo lắng chăm sóc tôi kỹ lắm từ mọi sinh hoạt đến từng miếng ăn hàng ngày. Tôi đã quen và rất thích thức ăn Việt Nam. Rất hợp lý nếu ta không biết kiêng cữ, cứ ăn tầm bậy là đưa đủ thứ bệnh tật vào thân thể mình thôi. Anh ăn cái gì anh sẽ như thứ ấy (1).
Ăn nhiều rau, đậu, trái cây tươi, da thịt anh sẽ tươi. Anh ăn mỡ, cơ thể anh sẽ phải đeo mỡ (2).
Tốt nhứt nên ăn chay. Gia đình tôi ăn chay mỗi tuần một lần, nhiều nhất là các loại rau. Đồ chay Liên làm ngon lắm. Món nào cũng ngon, cũng tốt cho sức khỏe vì Liên chỉ dùng dầu olive thay cho mỡ động vật, không mặn lắm, không ngọt quá như đồ ăn Mỹ, nhất là hoàn toàn không dùng bột ngọt. Đặc biệt nước mắm ăn riết rồi mê luôn nhưng điều cần thiết nước mắm mua ở chợ về phải đem nấu cho sôi lên rồi đổ lại vô chai xài vì trong nước mắm có thể có nhiều siêu vi trùng, nhất là siêu vi bệnh gan, các loại mắm cũng vậy.
Chế độ ăn uống như thế làm sao bị phát phì như ba phần tư dân Mỹ hiện nay. Đến như con nít trên 6 tuổi thì phân nửa đã vượt quá trọng lượng được coi là mập rồi. Còn về thẩm mỹ, Anh thấy không, thông thường da người Mỹ trắng lại quá trắng, trắng nhễ nhại (?!)trắng như Bạch Tuyết nên trông có vẻ yếu đuối, bệnh tật, vì vậy họ phải đi phơi nắng ngoài biển hay vô các phòng nhuộm da trong các tanning clubs để cho da họ có màu đồng nâu hay màu bánh mật, nhìn rất khỏe mạnh, thể thao hơn, mốt thời thượng mà! Bà xã tôi được Trời Đất thương cho cái màu tự nhiên đó từ bé nên Ông Bà Ngoại sắp nhỏ mới đặt cho cái tên Mai Liên, anh đọc lái lại coi?!”
Nghe đến đây chính tôi đã phải kêu lên: chu choa mệ tổ ơi, mần răng mà cái chi mô anh cũng biết hết rứa chừ hết biết luôn.
Mike hiện nguyên hình một “chú Sam” há hốc miệng “Wh…what? What d’you say?”
Ngay sau khi dành thắng lợi đem được Mai Liên về Mỹ, Mike giải ngũ. Liên đi làm 2 nghề khác nhau cho phép Mike trở lại Đại Học lấy xong bằng Kỹ Sư Điện Tử.
Mike rất vui mỗi lần nhắc lại giai đoạn này:
Tôi sướng như Ông Trời con, ngày ngày đi học, còn Liên cực lắm, hy sinh vừa đi làm vừa lo cho tôi còn hơn Ba Má tôi ngày xưa, dĩ nhiên tôi yên tâm học xong rất nhanh.
Bên Mỹ này anh muốn học là phải được, muốn học gì cũng được, muốn lấy bằng gì cũng có, chỉ cần anh có ý thích và có ý chí. Anh có thể học toàn thời gian, bán thời gian, học hàm thụ hay học ngay cả trên online. Không có tiền thì Chánh Phủ hoặc một cơ sở, một công ty hay một tổ chức nào đó ứng tiền cho mượn nếu đủ tiêu chuẩn. Tuy nhiên khi nộp đơn xin việc làm, người chủ chỉ căn cứ một phần trên bằng cấp, còn phần lớn dựa trên kinh nghiệm việc làm đã qua và sự giới thiệu, phê bình của các chủ cũ.
Tôi là cựu chiến binh, gần lấy xong bằng Kỹ Sư thì hãng Điện Tử Intel đã nhận trước rồi.
Năm đầu tiên tôi đi làm Liên chỉ còn làm một nghề, đến năm thứ hai Liên nghỉ việc hoàn toàn để đi học ngành Y tá. Đó là lý do chúng tôi chậm có con và chỉ có hai đứa.
Bên Mỹ này nghe nhà nào có 3,4 con là thiên hạ lắc đầu, le lưỡi liền. Có bầu, sanh con thật dễ dàng nhưng khó nhất, đau đầu nhất là vấn đề giáo dục, không dạy dỗ con được thì lại đổ thừa “cha mẹ sanh con, Trời sanh tánh”, chưa chắc vậy đâu !
Có rất nhiều gia đình nuôi con đến 18 tuổi là bắt nó phải tự lập, nghĩa là đẩy nó ra ngoài xã hội, xét cho cùng điều này cũng có phần tốt.
Vì vậy, cũng rất công bằng khi bố mẹ già yếu, đến phiên chúng nó sẽ đẩy bố mẹ vô nhà hưu dưỡng thôi!
– Mai Lan ơi, ra chào chú đi con, Mike gọi.
Một cô gái Mỹ đẹp như tài tử điện ảnh Hollywood tươi cười bước ra, hai tay khoanh trước ngực, đầu cúi xuống, nói bằng tiếng Việt rất chuẩn:
– Cháu tên Mai Lan, cháu chào chú.
Tôi đứng dậy, Mai Lan bắt tay tôi bằng cả hai bàn tay:
– Chú tên là Long, Chú rất hân hạnh được biết cháu, được quen biết gia đình cháu, một gia đình tuyệt vời, cháu là một cô gái tuyệt vời. Cháu có về VN lần nào chưa?
– Dạ, cám ơn lời khen của Chú. Cháu đã về VN hai lần. Năm rồi cháu đi VN miễn phí.
– Sao vậy?
– Cháu có hai người bạn, hai chị em, bố mẹ họ là người Việt, hai bạn cháu không rành tiếng Việt nên bao cháu đi chung về VN để làm thông ngôn. Vui quá chừng. Bà con chòm xóm dưới quê cứ nhìn cháu chằm chằm: sao kỳ quá hè, Mỹ nói tiếng Việt còn Việt đặc thì bù trất, kỳ hén !
Lại nữa, Mỹ thì tên Việt còn Việt lại lấy tên Mỹ, ngộ ghê!!
Cháu dịch lại cho hai đứa bạn nghe, tụi nó mắc cỡ quá, về đến Mỹ bắt đầu học tiếng Việt ngay.
Ba má tụi nó kèm riết, cháu cũng dạy thêm, bây giờ nói được hơi nhiều rồi. Hè năm nay tụi cháu lại về VN nhưng lần này cháu phải trả tiền vé máy bay vì bạn cháu không cần thông ngôn nữa, thông ngôn thất nghiệp rồi !!
Ông bà ngoại cùng gia đình mấy Cậu, mấy Dì thương cháu lắm. Cũng có thể sẽ có anh Liêm đi cùng.
– Liêm là ai?
– Anh Hai cháu. Ảnh tên là Uy Liêm.
– Có phải đó là phiên âm tiếng Việt của chữ William không?
– Dạ đúng
– Thế anh cháu thích tên nào?
– Cả nhà cháu thích tên Uy Liêm hơn vì đa số tên riêng của Mỹ không có ý nghĩa gì hết, thường được bắt chước từ trong Kinh Thánh. Còn tên VN có lồng nghĩa trong đó, có khi mang cả ước vọng của cha mẹ đặt ở người con..
– Vậy Uy Liêm nghĩa là sao? Tôi giả vờ hỏi.
– Uy là uy phong, uy nghi, uy quyền, uy lực… còn Liêm là liêm chính, liêm sỉ, thanh liêm.
Người có quyền uy thì phải liêm chính. Người ta khi có chút quyền chức thường hay sanh tật xấu, rồi tham nhũng, rồi phách lối.
Ba má cháu muốn anh Hai khi nào có địa vị lớn thì phải sống thanh liêm.
– Anh hai cháu đã có địa vị lớn chưa?
– Dạ ảnh chỉ mới là Đại Úy Thủy Quân Lục Chiến đang chiến đấu ở Iraq . Còn 4 tháng nữa ảnh sẽ xong nghĩa vụ, khi trở lại Mỹ, được nghỉ phép, anh Hai sẽ theo tụi cháu về thăm Ngoại.
– Anh Hai có biết tiếng Việt không?
– Hết sẩy Chú ơi, dù dở nhứt nhà nhưng cũng gần ngang tầm với Ba cháu …
Mike ngồi nghe tôi khảo hạch cô con gái, miệng cứ tủm tỉm cười.
Tôi thật sự cảm động, nếu không nói là choáng váng, cứ ngây người ra. Giả sử có ai đó kể tôi nghe về một gia đình như thế này, về một cô gái Mỹ thế này, về một Đại Úy Đại Đội Trưởng TQLC Mỹ như vậy… chắc chắn tôi không thể tin vì tôi đã phải chứng kiến nhiều hoàn cảnh trái ngược.
Có lần, vừa bước vô nhà một người bạn VN, ngay tại phòng khách treo một tấm bảng bằng carton với chữ: “No Vietnamese!” tôi ngập ngừng, hơi tái mặt, rồi lẳng lặng, chẳng nói chẳng rằng bước ra ngoài. Chủ nhà chạy theo đon đả.
Tôi nuốt nước miếng cho dằn cái gì đó nghèn nghẹn trong cổ họng rồi chậm rãi: có phải ông không muốn tiếp khách người VN hay ông không cho phép ai ngồi trong phòng đó nói tiếng Việt ?
Anh ta phân bua: tôi chỉ muốn bà Xã và các cháu luyện tiếng Anh cho thật nhuyễn để mau thành dân Mỹ thôi !?!?
Vậy nếu ông vào một nhà hàng, một công viên, lên máy bay, xe lửa, xe buýt hay vô nhà một người Mỹ nào đó, ông thấy hàng chữ này, ông hiểu nó thế nào?!?!
Cách đây vài chục năm, khi tình trạng kỳ thị chủng tộc còn tồn tại trên đất nước Mỹ, người ta thường thấy trên xe buýt hay công viên có đeo bảng: No dogs and negroes (cấm chó và người da đen). Đến thập niên 60 mới chấm dứt. Bây giờ ông treo “No Vietnamese” trong phòng khách nghĩa là làm sao?!?!
Ông ta gỡ bảng xuống liền.
Ông bà này nghe nói qua Mỹ có mấy năm đã về VN xum xue, bà con bên nhà ngạc nhiên thấy ông và gia đình lột xác nhanh quá, sức mạnh một đại cường quốc có khác.
Bên này cả hai ông bà đi làm vệ sinh, quét dọn trường học, về VN khoe làm trong ngành giáo dục nên rất ít nói tiếng Việt.
Riêng dân Mỹ hay người VN tại Mỹ chỉ nghe âm Mít đặc, không cần nhìn, đều biết ngay ông chánh gốc là “dân địa phương” Alaska vì, mười câu hết chín, ông đều nhắc đến tên một thành phố lớn của Tiểu Bang này: Du nô (3).
Nhưng thôi, đây là đất nước tự do mà! Tự do dân chủ với lưỡng đảng đàng hoàng.
Mike thường nói đùa với tôi “coi dzậy chứ hổng phải dzậy mà còn quá cha dzậy nữa” khi đề cập đến hệ thống lưỡng đảng của Hoa Kỳ hiện nay.
Cứ nhìn vô gia đình Thống Đốc Tiểu Bang California : Ông chồng Schwarzenegger thuộc đảng Cộng Hòa trong khi bà vợ lại theo Dân Chủ. Khi làm việc, hai đảng kiểm soát lẫn nhau như vợ theo dõi chồng, như chồng để ý coi chừng bà vợ.
Nhưng khi có những sự kiện trọng đại liên quan đến an ninh đất nước, đến sự tồn vong của quốc gia, đến sự sống còn của dân tộc Hoa Kỳ thì hai đảng chỉ là một như sau vụ 9/11 mấy năm trước đây. Hình như có một thứ siêu chính quyền đâu đó quyết định tất cả, tương tự ảnh hưởng nội ngoại trên hai vợ chồng giữ cho hạnh phúc lứa đôi bền vững, từ đó nuôi dạy con cái thành công, kinh tế gia đình thịnh vượng, cho nước Mỹ chỉ mới hơn 200 năm lập quốc đã tiến lên bá chủ hoàn cầu. Nước Mỹ đang đứng nhất trên toàn thế giới về mọi phương diện nhưng rất tiếc, nhất luôn về vô luân thường, vô đạo lý và nhất luôn về cả lãnh vực tội phạm!
Đấy, Mike hướng dẫn cho tôi nhiều, rất nhiều điều, nhiều chuyện.
Chúng tôi ngày càng thân hơn khi biết tôi ngày xưa cũng có một thời gian đi dạy học. Vợ chồng Mike và cháu Lan lại thích tìm hiểu sâu xa tiếng Việt hơn qua những từ ngữ Hán Nôm mà tôi đã được Ông Ngoại, một Cử Nhân Hán Văn, khoa thi cuối cùng, dạy dỗ.
Nhờ vợ chồng Mike, tôi thực sự hội nhập vào xã hội Mỹ lúc nào không hay. Từ sự nhiệt tình giới thiệu của Mike, tôi được một chân Technician trong hãng Merix ở Forest Grove. Một năm sau, Mike khuyến khích và hướng dẫn vợ chồng tôi mua một cơ sở kinh doanh riêng ngay trung tâm thành phố Tigard đến nay đã tròn 12 năm.
Thời gian cứ lặng lẽ trôi nhanh như những áng mây ngoài khung trời rộng. Thênh thang như giấc mơ Hoa Kỳ của gia đình tôi liên tiếp nở hoa.
Cho đến một ngày… Tin như sét đánh ngang tai. Hai vợ chồng Mike vừa qua đời trong một tai nạn xe! Cháu Lan gọi báo cho tôi bằng tiếng được tiếng mất, tức tưởi, nghẹn ngào.
Một anh Mễ nhập cư bất hợp pháp say rượu lái xe vào đường cấm ngược chiều. Xe Toyota Camry của vợ chồng Mike nằm bẹp dí dưới gầm chiếc xe tải F350 chở đầy đồ nghề làm vườn cắt cỏ.
Toán cấp cứu phải cưa xe mới đem được hai người ra nhưng cả hai đều đã tắt thở vì sức va chạm quá mạnh và vì vết thương quá nặng….
Lại thêm một nhức nhối của người Mỹ trước làn sóng nhập cư bất hợp pháp… lại thêm một vết đen tệ nạn say rượu, say xì ke lái xe DUII (4) ngày càng nhiều….
Tang lễ thật đơn giản gồm đa số người quen gia đình, bạn bè làm chung Intel với Mike và đồng nghiệp trong bệnh viện của Mai Liên.
Cháu Uy Liêm được thông báo từ Iraq về để vừa kịp nhìn cha mẹ lần cuối trước khi đóng nắp quan tài.
Trời Oregon chiều nay mưa buồn day dứt. Nghĩa trang Finley Sunset Hills với những dốc thoai thoải quay về hướng Tây, về hướng Thái Bình Dương mà tận cùng bên kia bờ có một vùng đất mang tên VN, quê hương yêu dấu của Mike và Mai Liên suốt cả đời người. Gió buốt miên man như xoáy sâu vào tận xương tủy. Như chưa bao giờ.
Vài tia sáng yếu ớt long lanh trên những ngọn cỏ đầm đìa. Mắt tôi nhạt nhòa trong cái lạnh tái tê. Cũng xong một kiếp trong vô lượng luân hồi. Một chút gì đó có lẽ hai người đang hài lòng là vẫn còn được đi chung với nhau, vẫn còn được tay trong tay, cùng qua một thế giới khác, hy vọng sẽ tốt đẹp hơn.
Ít nhất về vật chất bây giờ xác hai người vẫn còn được nằm bên nhau, hai ngôi mộ song song, cùng nhìn về quê hương VN tít mù xa thẳm cuối chân trời.
Riêng tôi lòng trĩu nặng mối ân tình chưa thanh thỏa.
Trong suốt cuộc đời còn lại, dù còn sống trên đất Mỹ này, hay giang hồ đó đây, hình ảnh tươi vui khỏe mạnh, tràn đầy sinh lực, gương mặt dễ thương, cử chỉ ân cần, lời nói nhã nhặn nhiệt tình và đặc biệt ân nghĩa của vợ chồng Mike đã dành cho gia đình tôi chắc chắn sẽ khó phai mờ.
Cám ơn Michael Erickson. Cám ơn Mai liên Trần.
Xin tạm biệt.
NGUYỄN THẾ THĂNG
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Người Việt Gốc Mỹ_Nguyễn Thế Thăng
Hồi ký của Gà Mái Tre_ Sinh Con Đầu Lòng
Ba giờ sáng nghe đau bụng , khều chồng anh ơi đau bụng quá . Lấy dầu thoa bụng rồi ngủ lại đi . ….Bốn giờ ….anh ơi không bớt mà còn đau hơn . Em ráng ngủ đi . Bây giờ mới bốn giờ sớm quá làm sao đi bác sĩ . Mà chắc hồi chiều em ăn trúng món gì độc nên đau bụng đó . Thôi để anh thoa thêm dầu rồi ráng ngủ chắc sẽ bớt . Thoa dầu ….Chờ ….hai phút . Ba phút . Bốn năm phút ….Bớt chút xíu ….Nhắm mắt cố ngủ …Anh ơi , dậy . Dậy mau . Đau quá không chịu nổi rồi anh ơi ! Bị sao ? Đau lắm . Đau lắm …. Rên !
Thôi chết rồi anh ơi . Nước gì mà chảy ra nhiều lắm . Chạy kêu Mạ mua lên . Mạ vô . Con ơi , chở nó đi bịnh viện gấp . Con Oanh sao vậy Mạ . Nó sắp sinh rồi . Đi mau lên kẻo không kịp con ơi .
Thay áo quần cho vợ , cho mình xong . Mạ không kịp đưa áo quản khăn tã đã chuẩn bị sẵn …..Đưa vợ ra xe ( bồng ẵm gì nổi ! ) , rồ xe chạy . Thay vì chạy đường Gia Long cho mau tới bịnh viện Thánh Gia , lại không . Chạy qua Phan Bội Châu ! Vì Gia Long một chiều mình là trưởng phòng cảnh sát mà không làm gương cho dân thì còn nói ai nghe !
Ôi chở vợ đi sinh mà ! Không được . Rồ ga chạy ….Anh ơi , mau lên ….con nó đã chui đầu ra rồi ….Mau lên giùm . Đến nơi ……phải chạy bộ vô kêu mấy bà Soeur ra ….mang theo cái cáng …..Sao ông chở bà ấy đến trễ thế ……Dạ tại tui không biết . Vợ sinh mà không biết . Dạ không biết thiệt . Nhanh lên cô ( cô y tá ) . Chạy theo … cầm tay vợ ……không sao đâu . Có mấy cô y tá đây rồi , em đừng lo .
Chưa kịp đưa lên bàn sinh thì đã nghe tiếng tu oa của thằng con …..Ôi mừng đến khóc vì dù đau đớn cũng ráng chồm lên nhìn con đang nhắm mắt mà la ….Khi cô y tá tắm rửa , quấn con trong khăn xong , bồng tới đặt trên ngực Mẹ ….hạnh phúc ngút ngàn ôm con trong tay . Nó nghe hơi ấm của Mẹ không khóc nữa , nằm im . Nhưng nghe cu cậu chóp chép miệng như đòi ăn !
Nó đẹp trai lắm ! Nó ngoan lắm vì bú sữa xong là ngủ . Không quấy rầy Mẹ …..
Thời gian vun vút như thoi đưa , nó lớn . Nó đẹp trai và ngoan . Đứa con hiếu thảo vô vàn mà Ông Trời ban tặng cho tôi .
Và hôm nay là ngày tôi sinh . Nó ra chào cuộc đời này đã bốn mươi mấy năm ….vào lúc 5 giờ sáng ngày 19 tháng 7 năm 1971 !
Nó đây …
Nó đây , thằng Lê Quang Hoàng Đức .
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Hồi ký của Gà Mái Tre_ Sinh Con Đầu Lòng
Những điều nên biết để tránh cái chết đột ngột vào ban đêm_ST
Những điều nên biết để tránh cái chết đột ngột vào ban đêm
Tránh cái chết đột ngột vào ban đêm, một bác sĩ đưa ra lời khuyên.
Dành cho những ai thức dậy vào ban đêm để kiểm tra những vấn đề về đêm hay thường đi tiểu đêm. Mỗi người đều phải lưu ý ba phút rưỡi. Nó thường xảy ra: một người luôn có vẻ khỏe mạnh đã qua đời vào ban đêm. Chúng tôi thường nghe những câu chuyện của người ta nói: “hôm qua, tôi đang nói chuyện với anh ấy, tại sao anh ấy lại chết đột ngột? Lý do là khi bạn thức đêm đi vệ sinh, nó thường xảy ra nhanh chóng. Chúng tôi dừng ngay lập tức và não bộ không có máu lưu thông. Tại sao lại là” Ba phút rưỡi ” quan trọng lắm sao? Vào nửa đêm, khi việc buồn tiểu đánh thức bạn, mô hình ecg có thể thay đổi. Tự nhiên tăng lên, não sẽ bị thiếu máu và sẽ gây ảnh hưởng tới tim mạch vì thiếu máu.Bạn nên dành ra 3 phút rưỡi để làm những việc sau đây, đó là:
1. Khi bạn thức dậy, nằm trên giường một phút rưỡi.
2. Ngồi trên giường trong nửa phút tiếp theo;
3. Hạ chân và ngồi trên mép giường trong nửa phút. Sau ba phút rưỡi, não của bạn sẽ không còn bị thiếu máu và trái tim của bạn sẽ không làm suy yếu, mà sẽ làm giảm nguy cơ chết đột ngột.
Điều này có thể xảy ra bất kể tuổi tác. Trẻ hay già.
Gia đình bạn cũng nên theo dõi nó.
-st-
(Bài do Võ Thiệu chuyển)
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Những điều nên biết để tránh cái chết đột ngột vào ban đêm_ST
Văn Hóa Lon_Ng. Thị Cỏ May
Nói «Văn hóa lon» vì tiếng «LON» trong câu quảng cáo của Coca Cola «Mở lon Việt nam» bị bà Ninh thị Thu Hương, Cục Trưởng Cục Văn hóa Cơ sở, phê phán là «thiếu văn hóa. Vậy «Lon» vốn có sẵn tính văn hóa mà nay do dùng không đúng mà nó thiếu. Vì cách sử dụng làm thiếu văn hóa nên «Lon» bị Cục Trưởng Văn hóa lên án thêm là «phản cảm, trái thuần phong mỹ tục». Sẵn đà, bà Cục trưởng còn phán tiếp theo «trong tiếng Việt không có từ lon. Chưa kể bản thân chữ «lon» đặt cạnh cái khác…. Ví dụ như có thể thêm mũ thêm rất nhiều thứ. Nó mà ở các phương tiện quảng cáo ngoài trời, có nhiều tình huống có thể thêm mũ thêm dấu vào từ đó. Vì vậy nó rất là khủng khiếp nếu chữ đó nó chềnh ềnh ra trên biển quảng cáo ngoài trời» (Thanh Niên, 29/6/2019, Chu Mộng Long trích dẫn trong «Thân phận cái lon»).
Với vc văn hóa là vô cùng quan trọng bởi nó định hướng cho mọi sanh hoạt của chế độ và của nhơn dân. Không thấy sao ở Việt nam nhan nhản những tấm bảng lớn kẻ chữ đỏ lòm «Nếp sống văn hóa, Khu phố văn hóa, … ». Nghĩa là Việt nam dưới chế độ ta là nước đầy văn hóa. Không có ở đâu bằng!
Do tính siêu văn hóa đó nên tưởng nay có nói thêm đôi chút về câu chuyện «lon» của bà Cục Trưởng Thu Hương để hiểu quan niệm văn hóa của ta, chắc sẽ không đến nỗi bị bạn đọc quở. Vẫn biết không thiếu bạn đọc sẽ quát lên rằng «Thứ chuyện tào lao, hơi đâu làm mất thì giờ»!
Lon của Việt nam
Bà Thu Hương, Cục Trưởng Văn hóa Cơ sở, cho rằng từ «lon» không có trong tiếng Việt nam. Cục Trưởng Văn hóa nói, lời của bà phải có trọng lượng về văn hóa. Cỏ May tôi thiệt tình không dám nói «Trong tiếng Việt nam có từ «lon» và càng không dám nói từ «lon đúng là tiếng Việt nam». Mà chỉ dám nêu ra vài trường hợp từ «lon» được người Việt nam, không lai căng Tàu hay Cu-ba hay Vénézuela, dùng rất phổ thông, trên đất nước Việt nam không xhcn và từ khá lâu, phải từ trước khi bà Cục Trưởng Thu Hương sanh ra đời.
Trẻ con từ trước 1950, từ thành thị tới thôn quê, có trò chơi tập thể «tạc lon». Chắc quí vị bạn đọc có mặt ở thời điểm đó còn nhớ hoặc cũng có chơi. Vì lúc bấy giờ Việt nam đang chiến tranh, đồ chơi của trẻ con, như xe hơi, banh, búp bế,… chỉ dành riêng cho con em nhà giàu, tây tà, … Muốn đá cầu, lấy lông gà, kết với những khoanh giấy cạt-tông mỏng cắt tròn, giây thung cột lại. Đá banh, lấy trái bưởi rụng, quấn thêm giấy hoặc rơm làm banh, …
«Tạc lon» là trò chơi khá phổ biến trong giới trẻ xóm lao động của thành phố. Lấy cái lon sữa bò (lon bơ hiếm, lon coca cola hay bia, nước ngọt chưa có), dĩ nhiên hết sữa, đặt giữa một vòng tròn, khoanh lớn nhỏ tùy theo sự đồng ý chung, cách mức qui định cho chỗ đứng của người chơi, cũng tùy sự đồng ý chung (chừng 3,4m). Tham dự trò chơi «tạc lon» phải từ 2 người tới 4, 5 người mới hào hứng. Chơi lần lượt từng người một. Người chơi đứng vào mức qui định, tay cầm chiếc dép của mình hoặc mượn dép nếu đi chơn không, mắt nhắm cái lon là mục tiêu, tay ném chiếc dép thẳng vào cái lon. Cái lon văng ra khỏi cái vòng tròn là thắng. Trò chơi «tạc lon» mang tính thuần văn hóa vô sản, vì chơi vui, không ăn tiền vì trẻ con nhà nghèo cũng không có tiền để cờ bạc.
«Lon – Gáo gì cũng vậy» mà, con ơi! Một bà già trầu từ xẻo rô lặn lội, khăn gói lội lên Sài gòn tìm thăm con gái. Bà tới xóm lao động bên Xóm Chiếu, Quận IV (Thời Tây là Quận VI), tay cầm tờ giấy có ghi địa chỉ của con gái. Bà tới đúng nhà nơi con gái của bà ở. Không thấy con, bà hỏi người trong nhà lạ hoắc với bà. Một cô gái, trạc tuổi con gái của bà, bước ra tiếp chuyện với bà, trả lời:
Bác ơi, ở đây, không có ai tên Gáo hết. Ở đây có chị tên Thanh Loan, quê ở Rạch giá, ở đậu ở đây được mấy tháng rồi, để đi làm. Mà tối chị ấy mới đi làm. Chị vừa ngủ dậy, đi ra ngoài trước đường ăn sáng, chút xíu về. Bác bước vô, ngồi nghỉ tạm, đợi chị ấy về, bác coi có phải con gái của bác không?
Bà già thấy cô gái nói chuyện tử tế, không ngần ngại, vào nhà ngồi chờ. Bà vừa uống xong tách nước, cô Thanh Loan cũng về tới.
Thấy mẹ, cô gái kinh ngạc, lo sợ mà không kịp mừng rở:
Trời ơi ! Má đi đâu vậy? Con đã dặn, con gởi tiền về cho má. Lâu lâu, con về thăm má. Đi chi vậy. Cho khổ thân.
Nói xong, cô gái ôm chầm lấy mẹ.
Bà già cảm động, mừng gặp con, cũng xụt xùi nước mắt. Kéo cái khăn trên cổ, chậm nước mắt, vuốt tóc con gái, vừa nói:
Má hỏi, may có cô chủ nhà nói ở đây có cô L…on, quê ở Rạch giá ở đậu …Má nghi nghi nên ngồi chờ. May ra. Đi bộ lâu, cũng mỏi cẳng rồi.
Ai ngờ là con ở đây. Mà con ơi, con đổi tên của cha mẹ đặt chi vậy?
«L…on – Gáo» gì, cũng vậy, chớ có gì khác đâu. Con đổi tên làm chi vậy, cho má khó kiếm con nữa. May mà có cô ở đây …tử tế … (Loan, bà già không phát âm được nên với bà, đó là LON).
Gáo là dụng cụ múc nước rất thông dụng ở nhà quê miền nam, làm bằng cái vỏ cứng của trái dừa khô, sau khi đã lấy uuớc và cơm dừa rồi. Hai bên, người ta đục 2 cái lổ thẳng hàng, xỏ vào một thanh tre làm cáng cầm khi sử dụng. Múc nước xong, gáo được móc lên cây đinh đóng vào cây cột hoặc vách ván cạnh lu nước.
Cái Gáo bên cạnh lu nước là hình ảnh quên thuộc của xóm nhà là ở nhà quê miền nam.
Lon và tiếng Việt
Trong thực tế đời sống xã hội Việt nam từ xa xưa, ít lắm cũng cách nay hơn nửa thế kỷ, đã có từ LON và rất phổ thông.
Từ LON được đem vào Từ điển Việt nam, nghĩa là nó đã trở thành chánh thức cho sử dụng. LON được Từ điển Việt nam (internet) định nghĩa rất chi tiết:
LON là danh từ có nghĩa như dưới đây:
– thú rừng cùng họ với cầy móc cua, nhưng nhỏ hơn.
– hộp đựng sữa hoặc nước giải khát, thường bằng kim loại
bia lon
lon nước ngọt
– bơ (phương ngữ)
đong mấy lon gạo nếp
nấu ba lon gạo
– vại nhỏ, chậu nhỏ bằng sành
lon nước gạo
nén một lon cà
-phù hiệu quân hàm (khẩu ngữ)
đeo lon đại uý. Xin nói thêm khi được lên Lon, được móc Lon, người này phải đãi bạn bè một chầu nhậu, gọi là «Rửa Lon».
Thông thường, khi một tiếng được đưa vào Từ điển, tiếng ấy đã trải qua một thời gian dài trong sử dụng. Tiếng LON được nhắc lại trong trò chơi của đám trẻ con nhà nghèo cách nay hơn nửa thế kỷ, như vậy tiếng LON phải xuất hiện trước đó khá lâu. Và chắc từ thời Tây ở Việt nam, dùng đồ hộp. Trước khi cái Bộ Văn hóa ra đời. Hay còn trước cả cái Việt nam Dân chủ Cộng hòa nữa kìa! Chắc chắn Lon là tiền bối của Cục Trưởng Cục Văn hóa Cơ sở!
Như người Bắc gọi cái cốc, dân Nam kỳ kêu cái ly. Cái «cốc» (cup – tasse) do người Hòa-lan đem tới Miền Bắc rất sớm, từ thế kỷ XVII.
Phản cảm, thiếu Văn hóa, trái Thuần phong mỹ tục
Đó là khẳng định của Cục Văn hóa cơ sở (Bộ VH-TT-DL) trong công văn gửi các Sở VH-TT-DL các tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương về việc chấn chỉnh hoạt động quảng cáo sản phẩm Coca-Cola, được đăng trên Cổng thông tin Điện tử của Bộ VH-TT-DL vào chiều 28/6/2019. Ngay lập tức công văn này vấp phải ý kiến trái chiều của dư luận. Một số nhà nghiên cứu ở Việt nam có ý kiến: «Không phản cảm, không thiếu Văn hóa, không trái Thuần phong mỹ tục».
Nhà nghiên cứu ngôn ngữ Hoàng Tuấn Công, tác giả sách “Từ điển tiếng Việt của GS Nguyễn Lân – Phê bình và khảo cứu” cho biết: Những cuốn từ điển trước năm 1930, ví dụ như cuốn “Việt Nam từ điển” của Hội Khai trí Tiến đức đã ghi nhận từ “lon”.
Giải nghĩa của chữ “lon” theo Từ điển này như sau: “Lon là một chậu lòng nông, thành cứng”. Ví dụ như “lon giã cua”, hay câu “Cái lon xách nước, cái lược chải đầu..”.
Trong các câu hát đồng giao thì từ lon cũng đã được sử dụng từ lâu trong dân gian và quá thông dụng.
Theo từ điển ghi nhận đến bây giờ từ “lon” cũng đã xuất hiện gần 100 năm. Và từ “lon” đã tồn tại từ trước đó rồi, không phải đến khi từ điển ghi nhận thì nó mới xuất hiện.
Trả lời câu hỏi của Phóng viên Báo NNVN về cụm từ “Mở lon Việt Nam” theo đánh giá của Cục Văn hóa cơ sở là “vi phạm thuần phong mỹ tục”, ông Hoàng Tuấn Công khẳng định: “Theo tôi, cụm từ “Mở lon Việt Nam” không có gì trái thuần phong mỹ tục cả, đấy đều là những từ thông dụng. Chẳng qua trong ngữ cảnh “lon Việt Nam” thì nghe nó lạ, đáng nhẽ nếu gọi là “lon Coca – Cola Việt Nam” thì sẽ không gây nên sự nghi ngại gì. Việc gọi tắt là “Mở lon Việt Nam” thì tự các nhà quản lý văn hóa nghĩ nó trái thuần phong mỹ tục thế thôi, còn về nguyên tắc cụm từ “Mở lon Việt Nam” không có gì là trái thuần phong mỹ tục cả”.
Còn PGS. TS Phạm Văn Tình, Tổng Thư ký Hội Ngôn ngữ học Việt nam khẳng định: Tổ hợp “Mở lon Việt Nam” của Coca – Cola không có vấn đề gì. Luật Quảng cáo được áp dụng cho tất cả người Việt Nam và những đối tác kinh doanh với người Việt Nam ở trên đất nước Việt Nam, cho nên sử dụng từ Việt Nam chẳng có vấn đề gì là vi phạm.
Honda họ sử dụng slogan “Tôi yêu Việt Nam”, Bitis có slogan “Nâng niu bàn chân Việt”, hay những chương trình khác vẫn dùng 2 chữ Việt Nam đi cùng đấy chứ. Một trong những nguyên tắc người ta làm slogan hay làm quảng cáo, người ta có quyền rút gọn hoặc tạo ra các cấu trúc mới, lạ, gây ấn tượng, miễn là nó không đi quá xa. Cho nên cấm không cho sử dụng từ Việt Nam, từ Hà Nội hay bất kỳ từ nào đi kèm trong quảng cáo sản phẩm nghe nó không ổn. Ông Tình, Tổng Thư ký Hội Ngôn ngữ học Việt Nam, quả quyết thêm: “Trong tất cả các từ “lon” tồn tại trong tiếng Việt thì không hề có nghĩa xấu” (Báo Nông Nghiệp, Khải Mông – Như Đông).
Thế mà khi thực hiện chỉ đạo của Cục Văn hóa cơ sở, Sở VH-TT-DL Hà Nội đã chỉ đạo tháo dở biển quảng cáo với slogan “Mở lon Việt Nam” ở khu vực Ô Chợ Dừa và phạt hành chính 25 triệu đồng với sự việc này (Báo Nông Nghiệp, Khải Mông – Như Đông).
Văn hóa LON
Bà Cục Trưởng Ninh thị Thu Hương cho rằng «mở lon là phản cảm, thiếu văn hóa, trái thuần phong mỹ tục» vì bà nghĩ khi nói LON là bà phải thêm dấu, đội nón cho nó. Làm Văn hóa tới Cục Trưởng Cục Văn hóa, bà không thể nghĩ gì khác hơn. Không nghĩ phải thêm dấu, đội nón chữ Lon là chệch hướng xã hội chủ nghĩa. Là tha hóa, là mất lập trường giai cấp.
Nhơn cơ hội này, tưởng cũng nên nhắc lại Người với vài «thành tích Lon» theo nghĩa «lon» của bà Cục Trưởng Thu Hương, để nhờ đó làm toát lên thêm nghĩa của từ «Lon và văn hóa lon» của bà.
Bác Hồ của Cục Trưởng, năm 1924 ở Quảng châu, được gia đình bên vợ cửa Lâm Đức Thụ cho ăn ở và qua sự giới thiệu của Lâm Đức Thụ, bác lấy cô Lý Huệ Khanh là em của bà Lý Huệ Quần, vợ của Lâm Đức Thụ, tuy Hồ đã có Tăng Tuyết Minh rồi. Số Hồ hên về Lon, có 2 Lon «ma – zê in china» cùng lúc.
Sau khi vượt ngục Hồng kông được tổ chức an toàn năm 1932, Hồ Chí Minh qua Nga dưỡng bịnh. Ở đây, Hồ có cô bồ người Nga, Vera Vasilievna, người đã hết lòng bảo vệ Hồ khi Hồ bị Ban Thẩm Tra ở Quốc Tế Cộng Sản điều tra, và bị bắt buộc học tập cải tạo tập trung, có thời gian khá dài, bị Staline cho đi lao động tại nông trường. Nơi đây, Hồ có bắt bồ với một nữ nông dân Nga, có với cô bồ này một người con trai. Khi Hồ làm Chủ tịch, người con trai này sống ở Nga và được Tòa Đại sứ Hà nội tại Moscou trợ cấp hàng tháng. Cứ mỗi đầu tháng, anh chàng tới Tòa Đại sứ lãnh tiền (Vũ Thư Hiên kể, do lúc Vũ Thư Hiên học ở Nga; nhờ bạn xắp xếp, được trông thấy 1 lần).
Theo địa chỉ tìm thấy trong cuốn sổ Voyageur Représentant Placier Cách mạng (VRP de la Révolution), cảnh sát Anh ở Hồng kông, vào 2 giờ sáng ngày 6/6/1931, đột nhập tầng lầu 2, nhà của T.V.Wong mướn tại số 168 đường Tam Công (Tam Kung), khu người Hoa ở Cửu Long. Nhà chức trách bắt được 2 người cùng nằm trên một giường, y phục thiếu, có lẽ vì Hồng kông oi bức do người đông đúc, nhà cửa chật hẹp. Người đàn ông khai tên là Sung Man Sho (Tống Văn Sơ). Người đàn bà trẻ tự khai là người Quảng Đông , tên Li Sam (Lý Tam). Cuộc thẩm vấn tại chỗ cho biết Wong, người thuê nhà, và Sung, người ngủ trên giường cùng người nữ, chỉ là một và đó là Nguyễn Ái Quốc tức Hồ Chí Minh sau này.
Về Li Sam, tên thật là Ly Ung Thuan (Lý Phương Thuận hay Lý Huệ Phương). Theo Nguyệt Tú (Chị Minh Khai, NXB Phụ Nữ, Hà Nội 1980, trang 42): “Từ ngày đặt chân lên đất Trung Quốc, với bộ quần áo cải trang làm người con gái Trung Hoa, dưới cái tên Duy, rồi Trần Thái Lan, rồi Lý Huệ Phương khác nhau, Minh Khai nhiều lần vượt qua lưới mật thám Anh, Pháp ”.
Thế là bác của Cục Trưởng Thu Hương có thêm 1 cái Lon “ma-zê in liên-xô ” và 1 cái Lon “ma–zê in Việt nam”. Sau đó, bác đẩy qua cho đồng chí Lê Hồng Phong. Từ đó, bác còn thêm bao nhiêu cái Lon nữa? Phải Bộ Chánh trị ở Hà nội mới biết.
Như vậy phải nói bác Hồ đúng là người của văn hóa lon. Nhưng vốn con người cộng sản tinh ròng, bác chỉ sử dụng Lon, mà không bao giờ giữ Lon. Vì giữ riêng Lon cho mình là nặng tinh thần sở hữu, thứ văn hóa tư sản, mất quan điểm giai cấp. Với cộng sản, tất cả là của ta cả mà!
Năm 1990, rất tiếc Unesco đã không chọn Hồ Chí Minh là nhà văn hóa. Nay Cục Trưởng Cục Văn hóa Cơ sở còn đợi gì nữa mà không suy tôn bác là nhà văn hóa Lon trác tuyệt?
Nguyễn thị Cỏ May
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Văn Hóa Lon_Ng. Thị Cỏ May
Chiếc Lá Cuối Mùa_Nhạc Lê Hữu Nghĩa
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Chiếc Lá Cuối Mùa_Nhạc Lê Hữu Nghĩa
“Việt Kiều Bay” tại Texas_Thạch Thảo
(FB Thạch Thảo): Ngạc nhiên, trong mấy trăm ngàn gia đình Mỹ sinh sống trên vùng đất này lại xuất hiện người Việt Nam nhập cư thời gian gần đây. Số lượng chiếm khá đông, hầu hết nói giọng Bắc người Hải Phòng, Hà Nội. Cùng làn sóng xuất ngoại với các hình thức khác nhau, họ đã thành công khi tiền rừng bạc biển. Chỉ cần một dự án, một phi vụ, một chữ ký thì đô la sẽ có cách vào tài khoản của người có quyền.
Mỗi căn nhà giá trị từ nửa triệu đến 2 triệu đô la trở lên. Mua nhà xong là một chuyện, điều quan trọng là tiền đâu để đóng thuế? Nếu bạn thu nhập cao mấy trăm ngàn đô hàng năm thì chỉ là chuyện nhỏ dù tiền thuế địa trạch rất cao (từ 20.000 Mỹ kim trở lên mỗi nhà /1 năm) với khu vực tương tự.
Vào cổng khu phố sang trọng khách phải trình giấy tờ, hoặc bấm số bảo mật mới được. Cuối tuần, hàng loạt chiếc du thuyền trên mặt nước. Là xứ tư bản, hưởng theo năng lực; nhiều người Mỹ giàu bằng tài năng công sức, lao động chân chính trong một số lãnh vực xứng đáng có một cuộc sống bình yên, hạnh phúc đúng nghĩa.
Tuy nhiên, không phải ai cũng được như vậy. Mỹ không phải là thiên đường, vẫn còn một số Việt kiều lâu năm sống trong chung cư, không mua nổi cái nhà nhỏ với nhiều lý do riêng tư. Đó là sự thật.
Vậy mà với thành phần “Việt kiều bay” không hiểu họ giàu từ đâu dễ dàng, mua nhà trả đứt tiền mặt, vui vẻ với mức thuế tuy không làm một ngày nào trên đất Mỹ. Đối tượng này bí mật đi qua đi về nhằm mục đích có lợi cho gia đình và bản thân trong tương lai.
Oái oăm thay, họ còn bắt tay với một số Việt kiều tại đây để rửa tiền dưới hình thức tinh vi. Các hệ thống kinh doanh ra đời bao gồm trung tâm thương mại, nhà hàng, hàng trăm tiệm Nails nguy nga như cung điện, có sự đầu tư quy mô trên 1/2 triệu đô la mục đích rửa tiền. Thực trạng nhiều địa điểm vắng hoe khách nhưng vẫn vô tư hoạt động để hợp thức hóa chuyển tiền.
Vấn đề quan trọng là tiền đâu ra mà một số “Việt kiều bay” mới đến đất Mỹ trong tình trạng tài chính triệu phú mà không ai biết. Một năm về bên vài tháng và rồi qua Mỹ trình diện để khỏi rắc rối nếu chưa có quốc tịch.
Khôn ngoan, một số cố tình giữ song tịch. Nhiều người vẫn làm việc tại Việt Nam, đang là đảng viên giữ chức vụ. Họ biết dọn đường cho con cháu qua Mỹ từ lâu. Con đến trường Mỹ, cha (mẹ) đi về Việt Nam hoạt động cho chính quyền hoặc kinh doanh cá nhân vì nơi ấy dễ kiếm tiền hơn.
Nghịch lý, trong khi ấy người ta khen chế độ, bắt người khác nghe, tin và sợ mình. Dân phải chịu cúi đầu im lặng dưới nguồn máy điều hành mà họ liên quan trực tiếp hay gián tiếp. Nhờ sức mạnh đồng tiền, người ta đã đạt giấc mơ Mỹ trong tầm tay.
Thật sự bất công cho những người không được may mắn phải chịu đựng thiệt thòi mọi hệ lụy, cùng tương lai không lối thoát sống với Trung Quốc.
Phải chăng đây là bi kịch cho một dân tộc chịu dưới tay của những người không có lòng tự trọng và biết làm người tử tế. Họ lợi dụng lòng tốt của nước Mỹ, con cháu hưởng nhiều quyền lợi xã hội, y tế cùng nền giáo dục miễn phí từ tiền thuế dân còng lưng đóng cho chính phủ.
Đất nước Hoa Kỳ đã tạo ra kẽ hổng pháp luật để con cháu cộng sản hưởng lợi, trong khi cá nhân và gia đình không phục vụ cho quốc gia này ngày nào. Suy cho cùng, sống không thật lòng, không trung thành Tổ Quốc nào là “Việt kiều bay” thời đại.
Có lẽ người ta qua mặt được người dân yếu thế, u mê; nhưng không qua mặt được người hiểu biết sống lâu tại Mỹ. Tất cả là góc tối phũ phàng. Người trong nước tôn sùng họ, nhưng nào có biết một khi hết thời hết nhiệm kỳ, họ đã có chỗ an toàn trú ẩn ấm thân, để lại phía sau một đất nước suy tàn.
Nếu ai từng đi qua những nơi người Việt mới nhập cư giàu hơn người Việt lưu vong vượt biển vượt biên lâu năm sẽ không khỏi ngậm ngùi tháng Tư buồn.
Thua trận chạy đã đành, nay thắng trận cũng chạy. Cuối cùng, dân chịu trận.
(Trích từ FB Thạch Thảo)
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở “Việt Kiều Bay” tại Texas_Thạch Thảo
ĐNH Cám Ơn Anh Kỳ thứ 12_Lê Tam Anh
(TVVN.ORG) Chúng ta lại chào đón “ĐẠI NHẠC HỘI” lần thứ 12 của Cộng Đồng Người Việt tị nạn Cộng Sản, mỗi người một tay góp sức, giúp đỡ những “Chiến Hữu” Thương Phế Binh đang vất vả ở quê hương! Đây là một điểm son được ghi nhận từ mười mấy năm qua. “Hội H.O. Cứu Trợ Thương Phế Binh” một lần nữa đứng ra tổ chức với sự góp mặt của hầu hết các Hội Đoàn, của các anh chị em cựu quân nhân thuộc các binh chủng của QLVNCH tại hải ngoại và các hệ thống Báo chí, TV truyền thông Việt Ngữ dịa phương và khắp thế giới.
Sự ra đi của Bà Chủ Tịch Hội, Trung Tá Nguyễn Hạnh Nhơn là một mất mát to lớn, làm đảo lộn toàn bộ những dự tính tương lai của Hội. Sau thời gian chấn chỉnh nội bộ, noi gương người tiền nhiệm, vị Tân Chủ Tịch đã cương quyết đứng thẳng trên đôi chân, tiếp tục con đường đã vạch phía trước. Thiên Nga Thiếu Tá Nguyễn Thanh Thuỷ, người từng là tù nhân 13 năm trong các trại tù Cộng Sản, sức khoẻ tuy không được tốt, vẫn cương cường nhận trách nhiệm!
Trước khi quyết định tiếp tục tổ chức Đại Nhạc Hội “Cám Ơn Anh”, chị Chủ Tịch và toàn thể những chiến hữu trách nhiệm trong Ban Tổ Chức đã họp hành liên tục, giải quyết nhiều sự kiện đau đầu từ trong nội bộ cũng như các bên, các hệ thống truyền thông, các cá nhận tự nguyện cộng tác mới và cũ, rút tỉa các ưu khuyết, rà xét lại toàn bộ hệ thống tổ chức… Vì thế cho nên chúng ta đã chờ đợi khá lâu, gần hai năm, Đại Nhạc Hội “Cám Ơn Anh” lại được tiếp tục! Hoan hô tinh thần dấn thân không nệ khó khăn của quý vị!
Bọn Cộng Sản và tay sai ở hải ngoại và trong nước rất ghét, rất sợ những phần quà hàng năm được gởi về cho các Thương Phế Binh VNCH còn sống trong nỗi uất hận bị chúng trù dập. Chúng đang tìm đủ mọi cách cản trở, ngăn cấm việc Dòng Chúa Cứu Thế khám bệnh và tổ chức vui Tết hàng năm cho các anh em Thương Phế Binh… Việc Hội HO Cứu Trợ TPB, năm nay tiếp tục tổ chức Đại Nhạc Hội để tiếp tục chuyển niềm vui hàng năm cho những Chiến Hữu của QLVNCH là nỗi nhục nhã của bọn cầm quyền. Sau bốn mươi mấy năm trời gọi là “Thống Nhất Đất Nước” nhưng vết thương chia rẽ dân tộc vẫn ngày đêm rỉ máu!
Ngày Chủ Nhật, 21 tháng 7 năm 2019, chúng ta nên bớt chút thì giờ riêng tư, hãy đến với nhau, cùng chia sẻ ngọt bùi và cùng hát, cùng thưởng thức những bài ca đấu tranh, cùng thưởng thức các ca nhạc sĩ hải ngoại tự nguyện hát cho quê hương, hát cho những thân phận đói khổ bị hà hiếp tại quê nhà!
Khu đất sân trường Los Amigos High School rất rộng và cũng đã có lần được tổ chức “Đại Nhạc Hội Cám Ơn Anh” mấy năm về trước. Quý vị có thể lái xe từ xa lộ 405, Exit vào đường EUCLID, chạy về hướng Bắc, gặp đường Heil quẹo phải, gặp đường New Hope là đến. Nếu đi trên Xa Lộ 22, Exit đường EUCLID, xuôi hướng Nam, gặp đường Heil quẹo trái, gặp đường New Hope là đến nơi!
Cuộc chiến đấu vì chính nghĩa tự do của chúng ta bị bức tử đã 45 năm, nhưng vết thương dân tộc chưa được vá, chưa được băng lại; ngày ngày vẫn rỉ máu. Là những người từng sát vai nhau trong chiến tranh 45 năm trước, là những người từng chịu ơn những anh linh đã nằm xuống, chúng ta còn nợ những người con dân Việt, hiện giờ là THƯƠNG PHẾ BINH đang đói rách tả tơi và uất hận dưới gót giày độc tài áp bức!
Hỡi những kẻ có lòng! Hỡi những tuổi trẻ thành danh, con em của Đồng Hương Tị Nạn Cộng Sản! Hỡi những ai còn nhớ đến niềm đau dân tộc!… Hãy đến cùng chung tay góp sức trong ngày ĐẠI NHẠC HỘI CÁM ƠN ANH LẦN THỨ 12. Hãy hăng hái vui vẻ đến với nhau cùng hướng về niềm đau dân tộc. “MỘT CÂY LÀM CHẲNG NÊN NON – BA CÂY CHỤM LẠI THÀNH HÒN NÚI CAO”
Hẹn gặp!
letamanh
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở ĐNH Cám Ơn Anh Kỳ thứ 12_Lê Tam Anh
Chiếc Áo Bà Ba In Hình Chữ Hỷ_Đoàn Xuân Thu
Mới đầu nghe ba em gọi, tôi tưởng tên em là Muỗi. Tôi ghẹo em: “Muỗi này! Đừng chích anh, đau lắm”. Em trề môi, vẻ không bằng lòng: “Tên em là Muội. Muội là em. Em là Muội”. À ra thế!
Ba Muội, chú Phu, người Quảng Đông. Phu là phú, phú là giàu. Tên chú giàu nhưng chú không giàu. Chú chỉ có chiếc xe hủ tiếu, bán điểm tâm dưới hai tàng me đại thụ, trên vỉa hè, bên hông rạp chớp bóng Định Tường
Má tôi đông con, cũng nghèo, có quầy bán cơm tấm gần bên.
Chủ nhựt được nghỉ học, hai đứa ra phụ chạy bàn. Em giúp ba em. Tôi giúp má tôi. Năm ấy tôi mười tám tuổi, học Đệ nhứt, năm cuối cùng của bậc Trung học Đệ nhị cấp. Cuối năm, tôi sẽ thi Tú tài hai. Đậu thì lên Đại học. Rớt thì vào Thủ Đức. Chiến trường đang hồi ác liệt. Bạn tôi, rớt Tú tài một, đi Đồng Đế, có đi mà chẳng có về. Muội, mười sáu tuổi, học Đệ tam, trường Tàu, sắp thi bằng Cao Trung.
Muội là cô giáo dạy tôi tiếng Quảng Đông. Dách là một, dì là hai, xám là ba, xập là mười. Bài xập xám là bài mười ba lá. Muội nói Muội không thích thanh niên đánh bài. Tôi đâu có ở không để đi đánh bài; vì tôi còn bận tơ tưởng đến Muội của tôi suốt ngày; ngay cả năm thi Tú tài hai, bài vở còn cả đống, tôi còn không để mắt tới nữa là.
Muôi dạy tôi tính tiền là xấu lúi. Kỷ tố là bao nhiêu. Dách cô phảnh là một tô hủ tiếu. Tôi hỏi: “Một dĩa cơm tấm bì, tiếng Quảng nói làm sao?” Muội nói: “Muội không biết”. Tôi nói: “Đi hỏi ba Muôi đi!”. Muội không dám. Muội sợ ba biết Muội quen với tôi, ba Muội rầy.
Ba Muội nói: “Con trai Việt Nam làm biếng lắm, đi chơi tối ngày, không lo buôn bán. Không buôn bán lấy gì ăn. Không có gì ăn, làm sao lấy vợ. Nếu lấy được vợ làm sao nuôi vợ, nuôi con”.
Tôi nói: “Muội đừng lo. Tôi sẽ rán học, thi đậu Tú tài hai, vào Đại học Sư phạm, được hoãn dịch, đi bán chữ, để có tiền nuôi Muội. Muội đi bán hủ tiếu, để tôi có hủ tiếu, ăn trừ cơm, trong những ngày mưa bán ế”.
Muội nói: “Muội còn nhỏ lắm, chưa biết yêu”. Tôi nói: “Tôi sẽ chờ vài năm nữa”.
Nhưng thời cuộc biến chuyển. Tôi không chờ được Muội mà ngược lại Muội phải chờ tôi. Chờ tôi suốt cả một thời con gái
Cuối năm đó tôi đậu Tú tài hai. Hai năm xa Mỹ Tho, đi học Đại học Cần Thơ, tôi không còn dịp gặp Muội mỗi sáng chủ nhựt, để nói chuyện tào lao bắc đế nữa. Tôi sắp ra trường, sẽ đổi về một quận lỵ buồn thỉu, buồn thiu nào đó của đồng bằng sông Cửu Long; để làm một ông giáo làng, hai mươi mốt tuổi. Tôi sẽ trở về Mỹ Tho nhờ má tôi nói với chú Phu, ba Muội, hỏi cưới Muội cho tôi. Bây giờ tôi đã có đủ chữ để đi bán rồi. Tôi sẽ có tiền nuôi Muội, để ba Muội không còn chê con trai Việt Nam làm biếng nữa. Tôi sẽ không còn ăn cơm tấm má nấu. Tôi sẽ ăn hủ tiếu Muội nấu, trừ cơm, trong những ngày mưa bán ế.
Tôi không ao ước cao xa gì hết. Chuyện ấy dành cho con nhà giàu, quyền thế. Tôi chỉ ước được làm thầy giáo làng, có vợ bán hủ tiếu. Vậy mà cũng không được!
Mùa hè năm 72: mùa hè lửa đỏ. Các trận đánh lớn đồng loạt nổ ra ở Quảng Trị, Kon Tum, An Lộc. Tin chiến sự chiếm đầy mặt báo. Trang sau là cáo phó, phân ưu những người lính tử trận. Tôi tốt nghiệp, nhưng không được nhận nhiệm sở. Lệnh tổng động viên đã ban hành. Tôi vào trường Bộ Binh Thủ Đức.
Tôi thư về Muội bảo chờ tôi. Tôi còn quá trẻ để chết. Tôi sẽ trở về! Tôi sẽ trở về! Tôi vẫn còn muốn ăn hủ tiếu Muội nấu, trừ cơm, trong những ngày mưa bán ế. Hai năm xa Mỹ Tho, tôi đã ăn hủ tiếu nhiều nơi, nhiều chỗ nhưng không nơi nào, chỗ nào nấu hủ tiếu ngon bằng Muội của tôi.
Muội hứa sẽ chờ tôi về dẫu trời sập chăng đi nữa. Lời hứa ấy làm ấm lòng tôi suốt những ngày gian khổ giày sô, áo trận.
Tôi rời trường Bộ Binh Thủ Đức, về Thủy quân Lục chiến. Sư đoàn là lực lượng tổng trừ bị, nên tôi lội khắp nơi: từ Cà Mau, Chương Thiện, Bến Tre ra tận Thừa Thiên, Quảng Trị.
Một năm lính trôi qua, khi tiểu đoàn về Mỏ Cày, Bến Tre truy kích chủ lực miền của địch về quấy rối thì tôi đạp phải mìn. Sức nổ của trái mìn tự tạo bằng quả đạn pháo 105 lép, đẩy tôi văng tuốt xuống mương, mình dính đầy những miểng.
Tôi không chết, như đã hứa với Muội. Trực thăng phầm phập tải thương về Bịnh viện 3 Dã chiến Mỹ Tho. Tôi nằm trên băng ca, ngoài hành lang trên lầu, chờ ngày mai xe hồng thập tự chuyển tôi về bịnh viện Lê Hữu Sanh của sư đoàn ở Thị Nghè. Muội nghe tin tôi bị thương; tất tả cùng má đến thăm. Đã hết giờ thăm thương bịnh binh, má với Muội đứng dưới lề đường Trương Định nhìn lên nơi tôi nằm. Tôi thò cái tay, không bị dính miểng, vẫy vẫy. Má khóc. Muội cũng khóc. Vạt áo xẩm, Muội mặc, đẫm đầy nước mắt.
Muội sợ tôi chết, Muội khóc. Khóc cho giấc mộng tôi muốn làm thầy giáo đi bán chữ nuôi Muội; Muội đi bán hủ tiếu cho tôi ăn trừ cơm những ngày mưa bán ế đã không thành.
Tôi nằm bịnh viện cả tháng trời. Miểng trong người lâu lâu lại lòi ra. Tôi nghiến răng, rút miểng ra, máu lại chảy. Tôi được hai tuần phép để chờ ra hội đồng giám định y khoa.
Tôi trở về Mỹ Tho gặp má. Cởi giầy sô, áo trận, tôi mặc lại chiếc áo học trò năm cũ. Tôi ra vỉa hè, dưới hai tàng me đại thụ, bên hông rạp chớp bóng Định Tường, chạy bàn cho má tôi. Tôi gặp lại Muội. Đó là khoảng thời gian hạnh phúc nhứt đời tôi, khi bây giờ, tôi nhớ lại.
Tôi hỏi Muội: “Đẹp tiếng Quảng là gì?”. Muội nói: “Hụ len. Còn yêu là ói”. Vậy thì “Nị hụ len; ngọ ói nị”. Muội mắc cỡ, ửng hồng đôi má.
Cả tháng trời nằm bịnh viện, không có dịp xài, lương vẫn y nguyên. Tôi lãnh tiền ra, đưa cho má tôi một nửa. Má tôi không cầm tiền, má khóc.
Tôi nài nỉ: “Em con đang sức lớn, má ơi!”
Số tiền còn lại tôi dắt Muội xuống tiệm Văn Minh, gần rạp hát Vĩnh Lợi, mua vải cho Muội may áo. Tôi chọn một xấp gấm Thượng Hải có in chữ Tàu.
Tôi hỏi: “Chữ Tàu đó nghĩa là gì?”
Muội nói: “Đó là chữ hỉ. Hỉ là vui. Vải này dành cho người ta may áo cưới”.
Tôi hỏi: “Muội muốn màu gì?”
“Màu đỏ hên lắm! Muội xin Trời, Phật cho anh đi đánh giặc bình an, hết giặc, về với Muội”.
Tôi nói: “Thôi! Đời anh xui quá xá rồi còn gì, muốn đi bán chữ mà cũng không được, mới đi lính có một năm đã bị thương rồi, hên đâu hỏng thấy”.
Tôi chọn cho Muội vải áo màu xanh đọt chuối.
Tôi bảo: “Màu xanh là màu hy vọng. Anh hy vọng Muội sẽ chờ anh dù cho trời sập tới nơi.” Muội nói: “Muội sẽ chờ.”
Tôi may cho Muội một chiếc áo bà ba để bắt đền cho chiếc áo xẩm đẫm đầy nước mắt khi đến thăm tôi bị thương nằm ở Bệnh viện 3 Dã chiến ngày nào.
Muội nói: “Muội mặc chiếc áo bà ba giống hệt con gái Mỹ Tho.”
“Ba má sanh Muội ra ở đây thì Muội đã là con gái Mỹ Tho rồi; mà con gái Mỹ Tho chánh cống chưa chắc đã dám đọ với em”. Tôi nịnh Muội.
Hai tuần phép trôi nhanh, tôi ra hội đồng giám định y khoa tái khám, bị phân loại một, trở về tác chiến. Lại băng rừng, vượt suối, bạc màu áo trận, mốc thích giầy sô cho đến ngày tan hàng, sập tiệm.
Tôi chỉ là một sĩ quan cấp thấp, nhưng lại thuộc binh chủng rằn ri nên những người thắng trận cải tạo tôi hơi lâu; mãi năm năm sau mới thả tôi về.
Tôi trở về Mỹ Tho bèo nhèo như một chiếc áo rách. Má tôi đã mất khi tôi còn ở trong trại. Mấy đứa em giấu tôi tin buồn. Đứng trước bàn thờ má, đốt một nén nhang, tôi không còn khóc được nữa, nước mắt tôi đã cạn lâu rồi. Miệng tôi méo xệch như mếu, mắt chớp chớp, mặt nhăn nhúm, giựt giựt.
Má ơi!
Tôi nhớ lại nồi cơm tấm má nấu, nồi cơm tấm nuôi tôi ăn học. Tôi nhớ cái vỉa hè, bên hông rạp chớp bóng Định Tường, dưới hai tàng me đại thụ mà mùa thu lá me bay bay, rơi đầy trên tóc. Tôi nhớ những giọt nước mắt của má tôi, khi đến thăm tôi bị thương nằm ở Bịnh viện 3 Dã chiến năm nào. Tôi nhớ những giọt nước mắt của má tôi khi không chịu cầm số tiền lương tôi gởi. Bây giờ má tôi đã mất rồi; đàn em tôi vẫn còn nheo nhóc.
Cả nhà đói, ăn độn bo bo mà cũng không đủ. Ăn buổi sáng, phải chạy, lo buổi chiều. Việc chạy gạo dồn lên cả đôi vai khẳng khiu của em gái tôi đang tuổi thanh xuân. Nhưng tuổi thanh xuân của em tôi còn đâu nữa. Nước mất nhà tan! Chưa bao giờ tôi thấm thía câu nói ấy cho bằng bây giờ.
Tôi không tìm gặp lại Muội nữa. Tình thơ dại của tôi đã tan theo vận nước. Bây giờ tôi chỉ là một sĩ quan ngụy, đi cải tạo về, mỗi tuần phải trình diện công an phường một lần cho tới ngày xả chế. Tôi ra khỏi một nhà tù nhỏ, để vào một nhà tù lớn hơn! Tôi chỉ có chữ, mà chữ bây giờ chẳng ai mua. Chế độ này không cần chữ. Lúc tôi lên trình diện, lão phó công an phường lẩm nhẩm đánh vần lịnh tha của tôi mà nước miếng tràn ra cả khóe miệng. Chế độ này cần lý lịch. Mà lý lịch tôi hạng 15, nghĩa là hạng bét, tận cùng đáy xã hội, thì tôi làm được gì bây giờ?
Tôi không tìm gặp lại Muội không phải vì tôi mặc cảm. Tôi không có gì phải mặc cảm cả. Tôi chỉ đi lính, đánh giặc, tôi thua, giặc bắt tôi ở tù. Thế thôi!
Tôi không tìm gặp lại Muội chỉ vì tôi không muốn mình trở thành gánh nặng cho Muội. Yêu người, có ai muốn trở thành gánh nặng cho người mình yêu bao giờ đâu? Tôi cũng không muốn trở thành gánh nặng cho em tôi. Thương em, có ai muốn trở thành gánh nặng cho em mình thương bao giờ đâu?
Tôi đã sống sót suốt năm năm trời dưới chín tầng địa ngục. Tôi đã đói, đói đến mức phải ăn bất cứ cái gì động đậy: cóc, nhái, ễnh ương, bù tọt. Tôi phải sống sót để trở về, như đã hứa, với Muội. Kẻ thù muốn tôi quỳ xuống, van xin. Tôi không quỳ xuống, van xin. Kẻ thù muốn tôi chết. Tôi không chết. Tôi đã trở về, dù thân tàn ma dại.
Em gái tôi đem chiếc nhẫn cưới của má để lại, đến vợ tên công an khu vực cầm, để tôi có chút vốn đi buôn lậu dầu dừa. Ngày xưa nói đến buôn lậu là nói đến tiền tỉ, đến những vật phẩm đắt tiền, trốn thuế, chuyển hàng có xe quân cảnh hụ còi như vụ Long An. Còn bây giờ chỉ mười lít dầu dừa, bỏ vào cặp táp, từ cầu Ba Lai qua phà Rạch Miễu về Mỹ Tho, kiếm lời đủ mua lít gạo.
Đế quốc Mỹ, tàu to, súng lớn, không đủ sức đưa nhân dân ta trở về thời kỳ đồ đá. Nhà nước ta, đỉnh cao trí tuệ loài người, bằng ngăn sông, cấm chợ, rào đường, chặn ngõ dễ dàng đưa nhân dân ta trở lại thời kỳ đồ đá, thời kỳ hái, lượm, thời kỳ của nền kinh tế tự cung, tự cấp; bởi buôn bán, dù năm mười lít gạo, mười, hai chục lít dầu dừa là không lao động, không sản xuất, là bóc lột, là chủ nghĩa tư bản xấu xa.
Tôi cắt tóc ngắn lên, cho gọn gàng, cho có vẻ thầy giáo. Phần thì để né mấy tay du kích bên Cầu Bắc Tân Thạch, quê hương Đồng Khởi. Mấy tay du kích VC này có kiểu làm tiền rất láu cá, bằng cách làm nhục khách bộ hành qua phà, dùng súng, chận họ lại, bắt vào hớt tóc. Tóc dài là tàn dư Mỹ Ngụy. Ngồi trước gương của ông thợ hớt tóc đầu đường, thấy tóc mình đã điểm vài sợi bạc, dù tôi chưa đầy ba mươi tuổi. Tôi mặc lại chiếc áo sơ mi trắng năm học đệ nhứt, đã ố vàng. Chiếc quần xanh được nhuộm đen. Mặc áo bỏ vô quần, mang giày với đôi vớ rách. Tôi xách chiếc cặp táp cũ nhưng không để đựng sách vở. Sách vở ích gì cho buổi ấy. Chiếc cặp đựng cái can nhựa mười lít dầu dừa. Tôi nhập vai thầy giáo, dù ước mơ làm thầy giáo làng, có vợ bán hủ tiếu để tôi ăn trừ cơm những ngày mưa bán ế, đã chết tự lâu rồi, từ Mỹ Tho qua Bến Tre dạy học, canh giờ đến lớp hay tan học, hòa vào đám học trò để vượt qua trạm Cầu Bắc.
Tôi đi buôn lậu dầu dừa được chừng sáu tháng thì thằng bạn học cũ thời trung học cũng ở tù về, rủ tôi hùn tiền mua chiếc xích lô đạp. Nó chạy sáng, tôi chạy chiều hoặc ngược lại. Thằng bạn tôi nói, cay đắng: “Thằng Mỹ quýnh quáng bỏ chạy, còn làm rớt lại cái tên Mỹ, Xô xích Le, xe xích lô”. Tôi thì lại nói: “Mấy ông tai to, mặt lớn của tụi mình thì hô hào tử thủ, để có thời giờ tom góp vàng bạc, đô la rồi dông, còn làm rớt lại chức dân biểu. Xô xích Le, dân biểu. Dân biểu đâu, mình chạy đó”
Một buổi chiều sau khi chở khách ra bến xe cổng thị xã, tôi thả xe không về chợ Vòng Nhỏ thì thấy một ông cắc chú đội chiếc nón mây đan, rộng vành, như Khương Đại Vệ trong phim kiếm hiệp tàu trước 75. Ông mặc chiếc quần tiều lỡ, quá gối, chiếc áo thung tay dài gần tới cùi chỏ, bỏ vô quần, gánh hai cái cần xé không, đi lủi thủi. Tướng đi ngờ ngợ, quen quen. Chú Phu rồi chứ chẳng ai!
“Đi xích lô hông? Chú ba!” Chú Phu nhìn lên, ngơ ngác, ngờ ngợ một lát, rồi nhận ra tôi. Tôi đã đổi thay nhiều quá.
“Chèn ơi! Vậy mà ngộ tưởng nị chết rồi.”
“Chết sao được! Sống nhăn răng ra đây nè.”
Tôi chở chú Phu về nhà. Cũng căn nhà lợp ngói âm dương ở đường Huyện Toại, nhưng có vẻ tiêu điều, u ám. Chiếc xe hủ tiếu xập kỷ nìn, năm xưa, ngày cũ, còn đậu trước hàng ba, xẹp bánh, bụi bám, nhện giăng.
“Nị ở chơi, ngộ nấu hủ tiếu cho nị ăn. Lâu quá ngộ cũng không có ăn hủ tiếu.”
“Vậy chứ chú thôi bán hủ tiếu rồi sao?”
“Thôi lâu rồi! Giờ ai cũng mạt, tiền đâu ăn hủ tiếu.”
“Thì bán cho mấy ổng.”
“Ổng nào? À mấy ông cách mạng hả? Ờ mấy ổng đâu có thèm ăn hủ tiếu. Mấy ổng ăn vàng không hà.”
Chú Phu đem ra một tô hủ tiếu và một lít rượu. Tô hủ tiếu, chú Phu vừa mới nấu, cũng chịu cùng số phận tang thương theo vận nước, chỉ nước lèo, bánh và lèo tèo những lát thịt mỏng như tờ giấy quyến.
Tôi nhớ tô hủ tiếu Muội nấu cho tôi ăn trong những ngày mưa bán ế. Tô hủ tiếu với bánh bột lọc làm bằng gạo Gò Cát, trụng với nước thật sôi, dai mà không bở như hủ tiếu Sài Gòn, nước lèo nấu bằng xương heo, tôm khô, khô mực, cải bắc thảo, thêm vài tép mỡ, điểm xuyến vài cọng sà lách non xanh với mấy cọng hành luộc, một nhúm giá, vài lát ớt sừng trâu xắt mỏng, rắc chút tiêu, ăn với xì dầu và dấm đỏ. Tô hủ tiếu, người thương mình nấu, ly cà phê sữa nhỏ, xây phé nại, do chính tay mình pha, trong những ngày bão rớt, mưa dầm, bán ế giờ đã trở thành kỷ niệm.
Tôi không tiện hỏi thăm về Muội, dù rất muốn.
Tôi hỏi: “Chú bây giờ làm gì để sống?”
“Thì nị thấy đó, ngộ đi mua ve chai, lông vịt về bỏ cho vựa. Nghề ve chai lông vịt mà, nghề móc bọc, móc bọc ny lon đem xuống sông rửa, rồi cân ký. Bây giờ khổ quá! Nhớ hồi xưa mình vui quá!”
Lít rượu ngâm ô môi, cho có màu, chú, cháu cưa hai gần hết.
Chú Phu, chưn nam đá chưn chiêu, lảo đảo bước vào nhà trong, lấy ra cái bọc ny lon.
Chú nói: “Con Muội! Nó gởi cho nị. Con Muội! hu hu! Nó chết rồi!”
“Muội ơi!”
“Ngộ biết nó thương nị. Lúc nị đi ở tù, nó nói nó chờ nị được tha về, nó sẽ đi bán hủ tiếu nuôi nị. Nhưng có được đâu! Tụi nó đánh ăn tụi mình rồi lại giành ăn, đánh lẫn nhau. Thiệt hết biết! Hết Pol Pot, Bành Trướng Bắc Kinh, rồi Nạn Kiều. Ngộ sợ tụi nó sẽ đuổi cha con ngộ về Trung Quốc. Tưởng thống chế bỏ ngộ chạy ra Taiwan. Mao xếnh xáng rượt ngộ chạy tuốt đến đây. Mỹ Tho đất lành chim đậu. Rồi sanh ra con Muội. Ngộ nói với con Muội: “Mỹ Tho bây giờ đất dữ rồi, thôi bay đi con!”
Muội ngần ngừ, có ý đợi nị về. Ngộ nói: “Nị làm quan, mà lại rằn ri nữa, tù biết đến lúc nào ra? Nếu không đi; sợ không còn có dịp. Cái cột đèn còn muốn đi nữa mà.”
“Suốt cuộc đời bán hủ tiếu, ky cỏm được hai cây vàng, ngộ xuống năn nỉ mấy xì thẩu dưới chợ Mỹ Tho cho con Muội một chổ.”
“Tàu nó ra cửa được ba ngày đêm thì bơm nhớt bị hư, máy lột dên, trôi giạt. Ở hải phận quốc tế, tàu buôn qua lại nườm nượp mà không ai vớt. Ba tuần linh đinh trên biển, tuyệt vọng quá, mấy người đi trên tàu gom quần áo, giày dép lại, đốt. Cuối cùng có chiếc tàu buôn tội nghiệp dừng lại, thả thang dây xuống. Ba tuần trên biển, nị nghĩ coi, sức đâu nữa mà leo. Nó sút tay, rớt xuống biển. Chết chìm. Hu hu.”
Chú Phu không còn nước mắt nữa để khóc, chú chỉ kêu hu hu, tiếng kêu của con thú bị một vết thương trí mạng, bị ví vào đường cùng, không lối thoát thân.
“Đêm trước khi đi, nó đưa cho ngộ cái này, nói nếu nị còn sống sót trở về, thì đưa lại cho nị. Hu hu!”
Trong cái bọc ny lon, chú Phu đưa cho tôi, là chiếc áo bà ba hình chữ hỉ tôi may cho em ngày cũ.
Muội ơi! Xác em giờ ở phương nào. Trôi vào đất Thái hay vào Nam Dương. Áo bà ba, Muội yêu, hòa biển tím. Tình còn đây trời đày ta mất nhau.
Tôi không còn khóc được nữa, nước mắt tôi đã cạn lâu rồi. Miệng tôi méo xệch như mếu, mắt chớp chớp, mặt nhăn nhúm, giựt giựt.
“Muội ơi! Anh sẽ đem chiếc áo bà ba hình chữ hỉ của chúng mình theo, ra biển!”
Đoàn Xuân Thu
(Người chuyển: Dương Mộng Oanh)
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Chiếc Áo Bà Ba In Hình Chữ Hỷ_Đoàn Xuân Thu
Vùng Khổ Thấy Mẹ (KTM)_Sưu tầm
Vùng Khổ Thấy Mẹ, tức là vùng kinh tế mới.Sau năm 1975, bọn việt cộng lùa hàng trăm ngàn người ở Sài Gòn lên các vùng mà chúng nó gọi là kinh tế mới. Các tỉnh thành của miền Nam cũng đồng loạt thi hành cái quyết định này của thằng chó đẻ Lê Duẫn và bộ chính trị của cộng đảng.
Mục đích của chúng là gì?
-Chiếm đoạt nhà cửa, tài sản của người dân miền Nam, phân tán những thành phần có thể kết hợp chống lại chúng nó. Đưa thành phần cán bộ chủ chốt của chúng từ Bắc vào trám chỗ, để sống lẫn lộn với người dân miền Nam ,cho dễ bề cai trị.
– Đối tượng là người Hoa, gia đình của các người có dính líu đến chế độ VNCH .Những người dân tỵ nạn chạy từ miền Trung vào ở thời điểm cuối của cuộc chiến. Những thành phần vô gia cư hay không có chỗ ở nhất định, cũng nằm trong diện này.
— Dùng mọi thủ đoạn, từ dụ dỗ tới đe dọa, tuyên truyền bịp bợm bằng những hình ảnh cò mồi, để đạt được mục tiêu trên 1 triệu người phải được di dời ra khỏi Sài Gòn, dù dân số Sài gòn lúc đó chưa đầy 3 triệu.
Các tỉnh thành cũng thế, các con số được đưa ra ,để bọn cán bộ thi hành. Cái luận điệu thường nghe nhất là hãy đi xây dựng vùng kinh tế mới là xây dựng nếp sống mới.
Hay là đi kinh tế mới, thì sẽ được cứu xét để chồng con đang bị “cải tạo” sớm được thả về.
Và sống dưới chế độ “Mỹ Ngụy” ăn bám, chây lười lao động, bây giờ nhà nước tạo cơ hội để tự làm lại cuộc đời, đóng góp cho đất nước…bla bla..
Nếu cuối cùng không thuyết phục được thì chúng dùng bạo lực.
— Chúng nó dồn dân lên xe rồi, thì từng đoàn xe, chất đầy những con người ngơ ngác vô tội, cứ thế mà chạy,mặc kệ người già ói mửa, con nít kêu gào.
Những con người thất thanh ngơ ngác, cho đến khi xe dừng lại giữa rừng đêm.
Xuống..xuống.. từng đoàn người bồng bế, dắt dìu nhau nhảy xuống, những đoàn thanh niên xung phong được lịnh ra giúp họ.
Những người này cũng chẳng khá gì hơn những người mới đến, họ bị tập trung đưa lên đây từ vài tháng trước, để chặt cây, dựng nhà, họ sống thành từng đại đội, xanh xao ,bịnh hoạn vì nước độc rừng thiêng.
Trước đó họ chỉ là những người học trò ,chưa một ngày cầm con dao, cây cuốc,cây rựa.
Những “căn nhà ” được họ dựng lên chỉ có cái sườn, và những người lưu dân tội nghiệp mới đến này phải tự mình lo che nắng, che mưa cái chòi trống rỗng đó.
Cái căn nhà ấm êm với bao nhiêu kỷ niệm của một thời bây giờ chỉ là kỷ niệm, thực tại là rắn rết, bò cạp ,muỗi mòng, đi vệ sinh phải đem theo cái cuốc.
Tắm giặt ăn uống gì cũng xuống suối để làm. tội nghiệp biết bao nhiêu những cụ già ,những đứa trẻ con, những bà mẹ với một đàn con, tội biết bao nhiêu những người con gái tuổi thanh xuân, một mình lo cho mẹ già em dại, bố thì tội tù, tội biết bao nhiêu những người thiếu niên mới lớn bây giờ thay thế cha mình để bảo bọc gia đình..
Họp hành, thi công ,chấm điểm. Lương thực nhỏ nhoi được cấp phát, vơi theo tháng ngày, ốm đau không thuốc.Cái đói và bịnh tật đã giết chết biết bao nhiêu con người của thời đại đó ?
Có bao nhiêu bà mẹ trẻ đành đoạn bỏ thuốc trừ sâu, thuốc độc vào nồi cháo khoai mì, để mấy mẹ con cùng ăn, chấm dứt một kiếp người đày đọa? Có bao nhiêu người con gái thơ ngây phải đem thân xác mình để đánh đổi tí dầu lửa thắp đèn, vài ký gạo,vài nhu yếu phẩm với những thằng cán bộ nắm quyền sinh sát.
Và từng đêm khuya khi ánh trăng dọi sáng rừng đêm , những người thanh niên thiếu nữ ,tương lai mịt mù, tìm đến nhau, với tiếng đàn, lời ca , bàn tay tìm nắm bàn tay.. cho nhau hết vì biết đâu ngày mai em chết..
Con số người bỏ trốn về lại Sài gòn và các tỉnh thành không phải ít.. các nghĩa trang, công viên ,lề đường ,gầm cầu là nơi cư ngụ của họ..
Bọn cộng sản đã hoàn toàn thất bại trong mục tiêu của chúng nó..
Các quận mới ở Sài gòn hình thành cũng từ những lưu dân bị đọa đày,bị cướp giựt nhà cửa này, họ về bám lại Sài gòn, và họ đã làm cho Sài gòn sống lại..
Những người ở lại các vùng khóc ra máu mắt đó, họ đổ mồ hôi, sôi nước mắt để sống còn.
Chế độ cộng sản liên xô xụp đổ, bọn cộng sản bắt buộc phải nới lỏng,thay màu son phấn để sống còn.
Những vùng kinh tế mới ngày xưa đó bây giờ đã thành thị trấn ,rừng đã lùi xa vì một thời đã bị chặt, dùng làm chất đốt cho người đô thị.
Chuyện cũ của vài chục năm xưa, chuyện của một thời hung hăng, ngu muội, hận thù mà bọn cộng sản gây nên, chỉ là dĩ vãng, trẻ con lớn lên không bao giờ được biết, vì bọn cộng sản chúng nó biết phủi tay chối bỏ tất cả mọi tội ác mà chúng đã gây ra, và lớp trẻ ngày nay lớn lên có cha mẹ nào kể lại cho họ nghe một thời như thế? Và đối với chính họ, chỉ là chuyện rất xưa..
Nhưng rồi tới đời con họ, những chuyện đã xảy ra và còn sẽ xảy ra, nếu chế độ cộng sản này còn tồn tại..
Những mảnh đất khai hoang bằng máu và nước mắt của ông bà, cha mẹ họ ngày xưa..bây giờ là miếng mồi ngon béo bở cho bọn cộng sản, vì chúng đang cần đất để bán cho bọn tàu.
Bọn tàu chiếm nước Việt bằng tiền mua đất, mà đất thì thuộc quyền “quản lý ” của bọn chó đẻ việt cộng. Cái nhà mình đang ở, nó tự nhiên đo đạc bảo là đất quy hoạch, thế là mình bị dồn vào cửa tử..
Vỉa hè mà ông bà cha mẹ họ bám trụ để dựng thành những khu phố, bây giờ bọn việt cộng sẽ tìm đủ mọi cách để chiếm.
10 triệu người ở sài gòn, hơn 5 triệu sinh sống bằng buôn bán vỉa hè.. bây giờ bị dẹp, thì sống bằng gì?
Đấy, một thời đã qua và vẫn còn tiếp diễn…cái thời cộng sản chó chết.
(Bài sưu tầm trên net)
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Vùng Khổ Thấy Mẹ (KTM)_Sưu tầm
Danh Sách K1 ủng hộ ĐNH “Cám Ơn Anh” Kỳ 12

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Danh Sách K1 ủng hộ ĐNH “Cám Ơn Anh” Kỳ 12
Bài thơ của một anh thương binh VNCH …
Bài thơ của một anh thương binh …
Cay đắng, ngậm ngùi !
Tao bị thương hai chân,
Cưa ngang đầu gối !
Vết thương còn nhức nhối.
Da non kéo chưa kịp lành…
Ngày ” Giải phóng Miền nam “
Vợ tao ” Ẵm ” tao như một đứa trẻ sơ sanh…!
Ngậm ngùi rời ” Quân-Y-Viện “
Trong lòng tao chết điếng,
Thấy người lính Miền bắc mang khẩu súng AK !
Súng ” Trung cộng ” hay súng của ” Nga ” ?
Lúc này tao đâu cần chi để biết.
Tao chiến đấu trên mảnh đất tự do Miền nam
-Nước Việt,
Mang chữ ” NGỤY ” thương binh.
Nên ” Người anh,em phía bên kia…”
Đối xử với tao không một chút thân tình…!
Mày biết không !
Tao tìm đường về quê nhìn không thấy ánh bình minh.
Vợ tao: Như ” Thiên thần” từ trên trời rơi xuống…
Nhìn hai đứa con ngồi trong căn chòi gió cuốn,
Bụi đất đỏ mù bay !
Tao thương vợ tao yếu đuối chỉ có hai tay,
Làm sao ” Ôm ” nổi bốn con người trong cơn gíó lốc.
Cái hay là: Vợ tao giấu đi đâu tiếng khóc.
Còn an ủi cho tao,một thằng lính què !
Tao đóng hai cái ghế thấp,nhỏ bằng tre,
Làm “Đôi chân” ngày ngày đi lại
Tao quét nhà; nấu ăn; giặt quần; giặt áo…
Cho heo ăn thật là “Thoải mái” !
Lê lết ra vườn: Nhổ cỏ, bón phân
Đám bắp vợ chồng tao trồng xanh tươi
Bông trổ trắng ngần !
Lên liếp trồng rau,thân tàn tao làm nốt.
Phụ vợ đào ao sau vườn,rồi thả nuôi cá chốt.
Đời lính gian nan sá gì chuyện gíó sương…
Xưa, nơi chiến trường
Một thời ngang dọc.
Cụt hai chân. Vợ tao hay tin nhưng không “Buồn khóc”!
Vậy mà bây giờ…
Nhìn tao…nuớc mắt bả….rưng rưng !
Lâu lắm, tao nhớ mầy qúa chừng.
Kể từ ngày, mày “Được đi Cải tạo”!
Hàng thần lơ láo – Xa xót cảnh đời…
Có giúp được gì cho nhau đâu khi:
Tất cả đều tả tơi !
Rồi đến mùa “H.O”
Mầy đi tuốt tuột một hơi.
Hơn mười mấy năm trời…
Không thèm quay trở lại
Kỷ niệm đời Chiến binh
Một thời xa ngái.
Những buổi chiều ngồi hóng gió nhớ…buồn hiu !
Mai mốt mầy có về thăm lại Việt nam
Mầy sẽ là “Việt kiều”!
Còn “Yêu nước” hay không – Mặc kệ mầy.
Tao đếch biết !
Về, ghé nhà tao.Tao vớt cá chốt lên chưng với tương…
Còn rượu đế tự tay tao nấu
Cứ thế, hai thằng mình uống cho đến…điếc !
Trang Y Hạ
(Bài do Trần Pháp sưu tầm & chuyển)
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Bài thơ của một anh thương binh VNCH …


























Bạn phải đăng nhập để bình luận.